The words you are searching are inside this book. To get more targeted content, please make full-text search by clicking here.

VIỆT NAM THIÊN SỬ BI HÙNG 1945-1975
Max Hastings
Trần Quang Nghĩa dịch

Discover the best professional documents and content resources in AnyFlip Document Base.
Search
Published by fireant26, 2022-11-04 00:35:46

VIỆT NAM THIÊN SỬ BI HÙNG 1945-1975 Max Hastings Trần Quang Nghĩa dịch

VIỆT NAM THIÊN SỬ BI HÙNG 1945-1975
Max Hastings
Trần Quang Nghĩa dịch

Việt Nam thiên sử bi hùng 1945-1975- Bài 1

Max Hastings
Trần Quang Nghĩa dịch

GIỚI THIỆU

Cuộc đấu tranh cho Việt Nam, một xứ nghèo ở Đông Nam Á có kích cỡ
bằng California, có núi non, rừng rậm và ruộng lúa mê hoặc các du
khách thế kỷ 21 nhưng không thân thiện đối với các chiến binh Tây
phương thế kỷ 20, kéo dài ba thập niên và hi sinh khoảng 2 đến 3 triệu
sinh mạng. Trong con mắt thế giới, và ngay cả con mắt của những nhà
sản xuất vũ khí Trung Quốc và Liên Xô của phe cộng sản, trong 20 năm
đầu đó là một vấn đề bên lề. Tuy nhiên, trong giai đoạn cuối cùng, cuộc

chiến đã chiếm lĩnh óc tưởng tượng, khơi dậy cơn kinh hoàng và đúng ra
nỗi ghê tởm của hàng trăm triệu người Tây phương, trong khi hủy hoại
một tổng thống Hoa Kỳ và góp phần vào sự rơi đài của một tổng thống
thứ hai. Trong làn sóng phản đối chính quyền của giới trẻ quét qua nhiều
quốc gia trong những năm 1960, hành động chối bỏ đạo đức tình dục
xưa cũ và tận hưởng lạc thú cần xa và chất gây nghiện LSD bỗng hóa ra
trộn lẫn với những cuộc lao tới chống chủ nghĩa tư bản và đế quốc, mà
Việt Nam là một thể hiện tồi tệ bất thường của nó. Hơn nữa, nhiều người
Mỹ lớn tuổi hơn vốn không có cảm tình với chính nghĩa đó nổi lên
chống đối cuộc chiến bởi vì nó được tiết lộ là một nguồn cội các dối trá
có hệ thống của chính quyền họ, và cũng dường như chắc chắn nó sẽ
thảm bại. Thất thủ 1975 của Saigon biểu thị một nỗi ô nhục cho cường
quốc hùng mạnh nhất hành tinh: những người nông dân cách mạng
khống chế ý chí, của cải và sắt thép của Mỹ. Bức ảnh chụp chiếc thang
in bóng đen lên bầu trời vào chiều ngày 29/4 mà người tị nạn bước lên
để leo vào lòng chiếc trực thăng, như đi về phía Calvary (ngọn đồi bên
ngoài Jerusalem nơi Giêsu bị đóng đinh), đã giành được một chỗ đứng
trong số các bức ảnh biểu tượng của kỷ nguyên đó. Việt Nam tác động
một ảnh hưởng văn hoá vào thời đại mình lớn hơn bất kì cuộc xung đột
nào khác kể từ 1945.
Phẩm chất của các chính nghĩa đối kháng không bao giờ tuyệt
đối. Thậm chí trong Thế Chiến II, cuộc đấu tranh của đồng minh Tây
phương chống chủ nghĩa phát xít cũng bị tổn hại vì phải dựa dẫm vào sự
chuyên chế của Stalin để đóng góp phần lớn xương máu cho công cuộc
tiêu diệt nền chuyên chính của Hitler. Chỉ có kẻ khờ khạo về chính trị
khuynh hữu và khuynh tả mới dám cho rằng ở Việt Nam bên này hay
bên kia sở hữu một độc quyền về đạo lý. Các tác giả của mọi tác phẩm
có thẩm quyền về cuộc xung đột đều là người Mỹ hay Pháp. Không ít
tác giả Mỹ viết như thế đó là câu chuyện của đất nước mình. Vậy mà
đây chủ yếu chính là một bi kịch Á châu, phủ trên đó một ác mộng Hoa
Kỳ: khoảng mỗi 40 người Việt cho 1 người Mỹ. Mặc dù quyển tường
thuật của tôi theo thứ tự biên niên, tôi không cố gắng biên niên ký hoặc
thậm chí đề cập mỗi sự kiện, nhưng thay vào đó nắm bắt bản chất của

trải nghiệm về Việt Nam qua ba thập niên. Như trong mọi cuốn sách tôi
viết, trong khi kể câu chuyện chính trị và chiến lược tôi cũng cố trả lời
câu hỏi: ‘Cuộc chiến là như thế nào? – cho các công binh miền
Bắc, nông dân đồng bằng Cửu Long, các phi công trực thăng từ Peoria,
lính bộ binh từ Sioux Falls, cố vấn phòng không từ Leningrad, công
nhân đường sắt Trung Quốc, gái bán ba tại Sài Gòn.
Tôi sinh năm 1945. Là một phóng viên trẻ, tôi sống gần hai năm ở Mỹ,
và sau đó thăm Đông Dương nhiều lần. Vốn hiểu biết của tôi quá sơ sài,
nhận thức của tôi quá non nớt, đến nỗi trong văn bản tiếp theo tôi sẽ
không viện dẫn đến trải nghiệm cá nhân của mình, mà chỉ tóm lược
chúng ở đây. Trong năm 1967-68, tôi đi nhiều ở Hoa Kỳ, đầu tiên trong
khóa học bổng về báo chí, sau đó làm phóng viên trong chiến dịch tranh
cử tổng thống. Tôi dự các cuộc gặp gỡ ngắn ngủi với nhiều vai chính,
trong đó có Robert Kennedy, Richard Nixon, Eugene McCarthy, Barry

Goldwater, Hubert Humphrey, Ronald Reagan … và Harrison Salisbury,

Norman Mailer, Allen Ginsberg, Joan Baez. Vào tháng giêng 1968, tôi

có mặt trong nhóm các nhà báo nước ngoài đến thăm Nhà Trắng. Ngồi
trong phòng báo chí, chúng tôi phải nghe Tổng thống hô hào khoảng 40
phút lời cam kết của mình về Việt Nam, nhiều tuần trước khi ông làm
choáng váng dân Mỹ khi tuyên bố mình không ra tái tranh cử. Sáng hôm
đó tính cách của ông khủng khiếp không kém tranh biếm họa. “Một số
bạn thích các cô tóc vàng, một số thích tóc đỏ, và một số các anh có thể
không thích phụ nữ nào cả,’ ông phát biểu trong cái giọng nhừa nhựa đó,
múa may liên hồi để nhấn mạnh ý mình và khoát các đường nét vẽ chì
trên cuốn sổ tay trước mặt. ‘Tôi ở đây để báo cho các bạn biết tôi thích
loại nào. Tôi chuẩn bị đi gặp Hồ Chí Minh bất cứ lúc nào tại một khách
sạn sang trọng với thức ăn sang trọng và chúng tôi có thể ngồi lại và trao
đổi để giải quyết cho xong việc này.’
Sau khi cao giọng gã to con này đột ngột rời phòng, không đợi câu hỏi
các phóng viên có thể đưa ra.
Vào năm 1970, tôi trình bày một loạt phóng sự cho chương trình 24 Giờ
của BBC TV từ Cao Miên và Việt Nam, rồi năm sau trở lại để thực hiện

tiếp chương trình, phỏng vấn Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và cũng
viếng thăm Lào.
Trong số các chủ đề khác của những phim này, tôi tháp tùng binh lính
Sư đoàn 23 Hoa Kỳ trong một chuyến càn quét tại thung lũng Hiệp Đức,
bay trên một chiếc Skyraider Việt Nam trong một sứ mạng oanh
kích, và báo cáo về trận đánh cho Căn cứ Hoả lực 6 ở Cao nguyên
Trung phần. Cuối năm đó, trọng Đại Sảnh đường Nhân dân Bắc Kinh tôi
được bắt tay với Chu Ân Lai.
Vào năm 1973 và 1974 tôi lần nữa đến Việt Nam, và năm 1975 làm
phóng sự các chiến dịch cuối cùng, trong đó có vụ hỗn loạn ở Đà Nẵng
trước khi thất thủ, sau đó các chiến dịch quanh Sài Gòn. Tôi dự định ở
lại cùng với một số thông tín viên viết bài về việc quân miền Bắc tiếp
quản. Tuy nhiên, vào buổi chiều ngày cuối cùng, tôi mất hết tinh thần,
xô vẹt một lối đi qua đám đông người Việt hoảng loạn vây quanh sứ
quán Mỹ, và trèo qua tường sứ quán nhờ sự trợ giúp của lực lượng
phòng vệ Thủy quân Lục chiến. Một vài giờ sau tôi ngồi trên chiếc trực
thăng Jolly Green Giant được di tản đến tàu USS Midway. Những năm
sau đó tôi gặp Robert McNamara, Henry Kissinger và các ông lớn khác
của kỷ nguyên Việt Nam. Arthur Schlesinger trở thành một người bạn.
Mọi cuộc chiến đều khác nhau, mà cũng giống nhau. Một huyền thoại
đã nổi lên, it nhất là ở Mỹ, rằng Việt Nam đã giáng những nỗi khủng
khiếp có một không hai lên những người tham chiến, được minh chứng
bằng những dò dẫm thống thiết vào thi ca của vô số cựu binh. Vậy mà ai
từng sống qua các trận chiến Carthage của La Mã, Trận Chiến 30 Năm ở
châu Âu, chiến dịch của Napoleon ở Nga hoặc các trận Somme năm
1916 ắt sẽ chế giễu ý kiến cho rằng Đông Dương mang đến các trải
nghiệm tồi tệ hơn. Bạo lực mà con người gây ra bằng gươm giáo, hoặc
trút lên đầu người vô tội vô tình có mặt trên đường hành quân, cũng kinh
hoàng trong thế kỷ 2 TCN như trong thế kỷ 20. Một lính công thành bốc
cháy khi hứng đầu sôi từ mặt thành đổ xuống tại thời trung cổ cũng đau
đớn khủng khiếp như bị trúng bom lửa napan. Cướp bóc, hãm hiếp, chợ
đen, bạo lực tuỳ tiện đối với dân chúng và tù binh, là điều không thể
tránh khỏi trong mọi cuộc xung đột. Các thành phố 1939-45 ở châu Âu

chứa nhiều gái gọi cũng như Sài Gòn sau này. Tuy nhiên, khi thời gian
trôi qua, ít điều được nói cho những người ở hậu phương biết về những
biểu lộ bẩn thỉu như thế. Những thước phim được duyệt cho công chúng
xem thường bị cắt bỏ các hình ảnh được xem là phản cảm, vì quá lộ liễu.
Trong tâm thế bóc trần mới của thập niên 1960, tuy nhiên, thế giới bất
ngờ chứng kiến hàng đêm trong giờ vàng trên TV những cảnh tượng thái
quá và xấu xa mà các lực lượng Mỹ và Miền Nam vi phạm. Trong số các
hình ảnh gây tổn thương đặc biệt cho các mục tiêu của Hoa Kỳ là hình
ảnh một cảnh sát trưởng Sài Gòn xử tử một tù binh Việt Cộng ngay trên
đường phố trong cuộc công kích Tết 1968; và ảnh một bé gái trần truồng
vừa chạy vừa la hét trong cơn kinh hoàng sau một trận ném bom napan
1972. Hà Nội không trưng ra các tấm ảnh chân thực tương tự như thế về
việc các cán bộ hành huyết các đối thủ ở địa phương bằng cách chôn
sống họ, hoặc hình ảnh các Việt Cộng bị làm cỏ trong các đợt tấn công
thất bại. Thay vào đó, họ chỉ phát sóng các bài tường thuật anh hùng,
cùng với các thước phim nhói lòng về cảnh tàn phá do không lực tư bản
giáng xuống. Sự tương phản hình ảnh giữa việc tham chiến của một siêu
cường, triển khai công nghiệp cực kì độc ác biểu tượng bởi máy bay
ném bom B52, và việc tham chiến của những nông dân đội nón lá hoặc
mũ cối, di chuyển trên đôi chân mang dép hoặc đi xe đạp, đã vô tình trao
một lợi thế tuyên truyền ngất ngưởng cho người cộng sản. Trong con
mắt nhiều người trẻ phương Tây, ‘các chiến sĩ tự do’ của Hồ Chí Minh
bỗng dưng lấp lánh một ánh hào quang lãng mạn. Dường như là sai lầm
khi, như một số diều hâu cách đây 50 năm, cho rằng chính truyền thông
đã làm Hoa Kỳ thua trận. Nhưng TV và báo chí khiến người Tây
phương không thể phớt lờ chi phí sinh mạng hoặc phủ nhận lỗi lầm quân
sự.
Vài giờ trước khi tôi, 24 tuổi, bay đến Sài Gòn lần đầu tiên, tôi được
Nicholas Tomalin, một phóng viên tờ British Sunday Times cố vấn. Anh
cho tôi địa chỉ một hiệu sách người Ấn trên đường Tự Do có đổi đô la ra
tiền Việt với giá tốt nhất trên thị trường chợ đen. Rồi anh nói, ‘Hãy nhớ
– tụi nó đều nói dối, nói dối, nói dối.’ Ý anh chỉ Hoa Kỳ, tất nhiên, và
anh nói đúng. Tuy nhiên, như nhiều các tác giả Tây phương khác lúc đó

và từ đó, Nick không biết điều quan trọng là Hà Nội cũng làm như vậy.
Điều này khiến không sao chấp nhận được những lừa dối mà MACV
(Bộ Chỉ huy Viện trợ Quân sự tại Việt Nam) và JUSPAO (Văn phòng
Truyền thông Hỗn hợp Hoa Kỳ) vi phạm, nhưng nó cung cấp một bối
cảnh thường vắng mặt khi xem xét cái gọi là ‘khoảng cách tín nhiệm’.
Hơn nữa, mặc dù các phát ngôn viên Mỹ và Miền Nam bán rong những
điều tưởng tượng, MACV ít khi ngăn cản giới phóng viên ra ngoài đó và
tự tìm kiếm cho mình. Trong một phong cách chưa từng gặp trong bất kì
cuộc xung đột nào trước đây hoặc từ đó, các nhà báo và phóng viên ảnh
được cho phép lên các phi cơ có cánh cố định và trực thăng, nhiều người
trong số họ cực kỳ thù địch với chính nghĩa của những phi công chở họ
đi. Sự cởi mở tương đối về phía Mỹ tương phản với chính sách kín như
bưng của người cộng sản, theo quan điểm của tôi hình thành một xác
nhận về một phân khúc của nền tảng đạo lý cao. Sự sai lầm quá trớn mà
các chính khách Mỹ và các chỉ huy quân sự phạm phải không phải là
việc nói dối với thế giới, mà đúng hơn là tự dối mình.
Tại Việt Nam hiện nay các chính sách kinh tế tập thể hóa phần lớn đã bị
loại bỏ, tuy vậy tính hợp pháp của chính quyền chuyên chế của nó chỉ
xuất phát từ thắng lợi năm 1975. Do đó, không được có vết nhơ nào
được phép bôi bẩn câu chuyện đó: ít người còn sống cảm thấy yên tâm
khi nói tự do về những gì xảy ra. Trong khi không chắc các kho lưu trữ
Mỹ còn giấu giếm các bí mật quan trọng gì hay không, thì nhiều bí mật
phải bị khóa kín trong hồ sơ Hà Nội. Nước Mỹ tự do đã chấp nhận một
thái độ gần như làm khó cho mình, đã bóp méo việc viết sử cũng chắc
chắn như các tác phẩm sô vanh cực đoan mà bọn xét lại bảo thủ đã làm.
Gần đây tôi có hỏi một thông tín viên nổi tiếng của kỷ nguyên cuộc
chiến, ‘Nếu những người biểu tình đòi hoà bình được Hà Nội cho phép,
liệu có bao nhiêu người tham gia?’ Ông trả lời không do dự, ‘Không ai
hết. Miền Bắc 100 phần trăm ủng hộ cuộc chiến.’
Điều này nghe dường như ngây thơ một cách đởm lược: hầu hết con
người bình thường đều khao khát thoát khỏi một trải nghiệm gâ đau khổ
và nhọc nhằn cho chính mình và người thân yêu. Nhiều người ở phương
Tây chống đối cuộc chiến xác quyết một cách có cơ sở rằng Hoa Kỳ

đang tiến hành một việc mà không chắc sẽ thành công, sử dụng bạo lực
bừa bãi gieo đau thương. Một số còn đi xa hơn, nhìn nhận một quan
điểm rằng nếu quốc gia họ đã theo đuổi một ngụy nghĩa, thì phía bên kia
ắt hắn là chính nghĩa. Vậy mà bộ chính trị ở Hà Nội và Mặt trận Dân tộc
Giải phóng chỉ đổi cho nhân dân Miền Nam sự áp bức của tướng lĩnh và
địa chủ lấy sự tuân phục còn khắc nghiệt hơn từ các đệ tử của Stalin.
Dân chủ chủ trương người đi bầu có quyền lật đổ chính quyền mà họ bất
mãn. Tuy nhiên, một khi chế độ cộng sản đã hình thành, không có cuộc
bầu cử công khai tiếp theo nào được chiếu cố, cũng không được Hà Nội
tán thành từ 1954. Trong công cuộc tiến hành chiến tranh, bộ chính trị
Miền Bắc hưởng được các lợi thế đáng kể. Các lãnh đạo của họ mặc tình
trả một giá đáng sợ cho sinh mạng con người, mà không sợ giới truyền
thông hoặc các cuộc bầu cử gây rắc rối. Họ có thể chịu đựng các thảm
bại liên tiếp trên chiến trường mà không sợ thảm bại hoàn toàn, vì Hoa
Kỳ đã phản đối một cách mạnh mẽ chủ trương xâm lược Miền
Bắc. Ngược lại, một khi Miền Nam thua trận, số phận của họ không thể
đảo ngược được. Có sự giống nhau đầy ý nghĩa giữa cuộc đấu tranh của
người cộng sản Việt Nam và nỗ lực chiến tranh 1941-45 của Liên bang
Xô viết: Stalin áp đặt chủ nghĩa yêu nước, ý thức hệ, và cưỡng bách theo
cách mà một thế hệ sau Hồ Chí Minh và Lê Duẩn bắt chước. Không còn
hoài nghi gì nữa, người cộng sản chứng tỏ mình là những chiến binh
thiện chiến hơn hẳn các binh sĩ Sài Gòn, nhưng đừng vội phong thánh
cho họ trong thiên sử thi này. Nhiều phần trong tường thuật dưới đây mô
tả những cảnh tàn bạo và điên cuồng, vậy mà trong khung cảnh rộng lớn
nhiều cá nhân, Việt Nam lẫn Mỹ, thuộc mọi lứa tuổi và giới tính, quân
sự lẫn dân sự, xử sự rất tử tế. Tôi cố gắng kể lại câu chuyện của những
người như thế, bởi vì sẽ là điều lỗi lầm nếu cho phép nỗ lực phẩm hạnh
tan biến trong lò luyện lửa bom, sự bạo tàn và trò phản trắc mà phần
đông những ghi chép của cuộc chiến thường đề cập đến. Tôi quyết định
không tiến hành các nghiên cứu chính trị chủ yếu: các kho lưu trữ Mỹ đã
được các học giả vét sạch hàng thập niên; những ghi chép cặn kẽ về các
quyết sách của các bên tham gia phương Tây, nổi bật trong số đó là của
Fredrik Logevall. Việc giới thiệu và phân tích các băng từ Nhà Trắng

của Ken Hughes vào năm 2015 đã hình thành một nguồn tư liệu gần như
không thể chối cãi được … về suy nghĩ và ra quyết định của Nixon và
Kissinger kết thúc là Hiệp định Paris tháng giêng 1973, và thay thế
nhiều lời tự thuật được trình bày trong các hồi ký của các người tham
gia. Tuy nhiên, tôi đã bỏ nhiều giờ nghiên cứu chứng cứ tại Trung Tâm
Giáo dục và Di sản Quân sự của Quân đội Hoa Kỳ ở Carlisle, Pa., và
Lưu trữ của Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ tại Quantico, Va. Tôi đã truy
cập trên mạng tư liệu từ Trung Tâm Nghiên cứu Chiến tranh Việt Nam
của Đại học Texas Tech tại Lubbock, và tiến hành gần 100 cuộc phỏng
vấn với những người còn sống đủ mọi lứa tuổi và giới tính, người Mỹ và
Việt. Nhờ sự giúp đỡ vô giá của Merle Pribbenow, tôi đã đọc hàng ngàn
trang hồi ký, tài liệu và lịch sử tiếng Việt được dịch ra. Bất kì sử gia nào
như chính bản thân tôi, xuất bản một nghiên cứu về Việt Nam vào năm
2018, nên nhìn nhận mình nợ rất nhiều đến loạt phim tài liệu truyền hình
gần đây của Burns-Novick, đã đánh thức lại nhận thức trên khắp thế
giới về cuộc đấu tranh trọng đại này. Tôi hy vọng tác phẩm của tôi
chuyển tải điều gì đó về mức độ khủng khiếp của trải nghiệm mà nhân
dân Việt Nam đã chịu đựng hơn ba thập niên, mà những hậu quả của nó
họ vẫn chưa thoát khỏi cho đến tận ngày này.
MAXHASTINGS

Chilton Foliat, Berkshire, và Datai, Langkawi, Malaysia

Tháng 5, 2018

CHƯƠNG 1
NGƯỜI ĐẸP VÀ NHIỀU QUÁI VẬT

1 Bám lấy một đế chế
Ta hay bắt đầu câu chuyện dài bi thảm này trong vô số thảm kịch của
chiến tranh, không bằng một người Pháp hay một người Mỹ, mà bằng
một người Việt. Đoàn Phượng Hải sinh năm 1944 tại một ngôi làng trên
Quốc lộ 6 chỉ cách Hà Nội 18 dặm, nhưng hoàn toàn là vùng quê. Trong
các ký ức xa xưa nhất của Hải là hình ảnh dây thép gai rỉ sét bao quanh
đồn lính Pháp trên một mô gò gần chợ làng, và phong cách họ hát trong
làn gió thổi qua. Phía sau vòng rào kẽm gai và bên dưới lá cờ tam sắc

phấp phới có một người Việt thổi kèn tên Viên đóng quân, mà cậu bé rất
quý. Viên cho cậu các lon bơ rỗng và các nắp hộp kim loại, mà cậu dùng
để làm ra món đồ chơi ô tô cậu yêu thích. Hải thường ngồi giữa nhóm
các bạn nhỏ ngưỡng mộ lắng nghe Viên kể về các trận đánh mình đã
tham gia, trố mắt nhìn vào vết sẹo ở chân từ một vết thương mà anh đã
dính trong một trận đánh ở Núi Vôi, tại đó anh thổi kèn xung phong cho
đoàn quân Lê Dương Pháp, tuyên bố đã hạ sát 100 tên cộng sản. Các đứa
trẻ mân mê sọc huy chương của viên trung sĩ và cất giữ các vỏ đạn mà
anh thỉnh thoảng cho các đứa trẻ. Thỉnh thoảng Viên cất tiếng hát bằng
giọng trầm buồn sâu lắng, có lẽ về người mẹ đã mất năm trước. Rồi, như
để chiêu đãi đặc biệt, anh dẫn đám trẻ con ra bờ sông và thổi cho chúng
nghe liên tiếp các hồi kèn quân sự, ‘một số khiến các trái tim chúng tôi
xúc động theo từng nốt nhạc, một số quá buồn khiến chúng tôi muốn bật
khóc’. Rồi đến một ngày gia đình Hải phải chuyển ra Hà Nội, đem theo
mọi tài sản lên chiếc xe khách xập xệ. Viên đang chỉ huy một hàng rào
cọc ven đường, và trao cho em quà chia tay là hai miếng kẹo cao su và
một cái véo tai âu yếm. Khi chếc xe khách lăn bánh, thằng bé còn trông
thấy anh vẫy tay qua đám bụi đỏ phía sau, khi nhà cửa, ruộng đồng, rặng
tre và cây đa đầu làng biến mất khỏi cuộc đời em mãi mãi. Hải dấn thân
liên tiếp vào các cuộc hành trình, các chuyến lưu đày, một it niềm vui và
nhiều hiểm họa, như một trải nghiệm được nhân dân Việt Nam chia sẻ
trong nửa thế kỷ. Mặc dù chính anh đã trở thành một người lính, trong
con mắt anh các chiến binh không bao giờ toát lên ánh hào quang lãng
mạn mà Trung sĩ Viên và tiếng kèn anh đã khơi gợi.
Việt Nam đã cam chịu một ngàn năm bị người Trung Quốc đô hộ trước
khi đẩy lùi họ ra khỏi đất nước vào năm 938; họ trở lại vài lần, và cuối
cùng chỉ bị đánh đuổi vào năm 1426. Sau đó, đất nước được hưởng nền
độc lập, mặc dù không lúc nào bền vững hoặc thịnh trị. Các triều đại
nam và bắc đối kháng nhau cho đến năm 1802, Hoàng đế Gia Long
thống nhất đất nước, cai trị từ kinh thành Huế. Trong cuộc chạy đua
tranh giành đế chế vào cuối thế kỷ 19, Pháp để mắt đến Đông Dương,
bằng sức mạnh của vũ khí đã triển khai nền thống trị, lúc đầu ở phía
nam, Nam Kỳ. Vào tháng 5 1883 khi Quốc Hội Pháp ở Paris đồng ý cấp

5 triệu quan cho cuộc viễn chinh để củng cố vùng đó như ‘vùng bảo hộ’,
chính trị gia bảo thủ Jules Delafosse tuyên bố, ‘Thưa quý vị, chúng ta
hãy gọi đúng tên sự vật. Vùng bảo hộ không phải là điều mà chúng ta
muốn, mà là vùng sở hữu.’ Tất nhiên, điều đó là như thế. Người Pháp
điều động 20,000 quân để đánh chiếm Bắc Kỳ – miền Bắc Việt
Nam. Đạt được điều này sau một năm chiến đấu cam go, họ áp đặt một
nền cai trị cứng rắn. Trong khi họ bãi bỏ tập quán trừng trị tội thông dâm
của các bà bằng hình phạt voi giày, thì hình phạt trảm thủ, trước kia chỉ
dành cho bọn thảo khấu, nay mở rộng cho bất cứ ai thách thức tính bá
quyền của người Pháp. Nạn hút á phiện tăng vọt sau khi chính quyền
thuộc địa mở nhà máy tinh luyện ở Sài Gòn.
Việt Nam rộng 126,000 dặm vuông, rộng hơn nước Ý hoặc nước Pháp
một chút, đa phần là núi non và phủ một hệ thực vật nhiệt đới, còn lại là
đồng bằng với ẩm độ theo mùa và độ màu mỡ phi thường. Hầu hết mọi

du

khách thoát khỏi hình phạt phải làm việc trong cái nóng ơi bức sẽ bị vẻ
đẹp của nó hớp hồn và dệt nên các miêu tả nên thơ, ca ngợi phong cảnh
‘các cánh đồng lúa với đàn trâu gặm cỏ, trên lưng mỗi con trâu là con cò
trắng đang bắt sâu cho nó; cây cỏ xanh tươi rực rỡ làm choáng ngợp cả
mắt; những lần đợi phà bên bờ các con sông lớn màu cà phê sữa; các
ngôi chùa hoa mỹ và những căn nhà sàn, bao quanh là chó và vịt; bầu
không khí hừng hực, mùi lúa chín và sông nước ở mọi nơi, tạo một cảm
nhận của sự phì nhiêu, của thiên nhiên sinh sôi, chín mùi trên cái nóng’.
Người Tây phương vui mắt trước các tay nghề siêu tuyệt của thợ đan lát,
thể hiện trong các ngôi nhà lợp bằng rạ, giỏ rổ và nón lá. Họ nhìn trố
mắt các sinh vật kỳ lạ bày trên quày thức ăn bên đường, nhan nhản
người coi bói, bọn chơi sóc đĩa, các món gia vị. Các bướm rừng to bằng
con dơi. Tồn tại một nền văn hoá nước đầy màu sắc: thuyền tam bản
lướt trên sông và kênh đào nơi xe ngưa không thể kêu lóc cóc; đánh cá
vừa thú vị, vừa cung cấp một nguồn thực phẩm dồi dào. Du khách miêu
tả các vụ chọi gà và ổ cờ bạc; các nghi lễ lấp lánh trong kinh thành Huế
nơi bọn Pháp đang o bế một hoàng đế bù nhìn, tổ chức các yến tiệc có cả
chim công quay, được cho là có mùi vị của trừu dai. Vùng ven biển

quanh cố đô bị cư dân đồng bằng Cửu Long nhìn với vẻ ngờ vực thành
kiến, cho rằng đó là nơi ‘Núi không cao, sông không sâu, trai đa trá, gái
đa dâm.’ Một người Tây phương yêu quý người Việt cho rằng tiếng Việt
nói có thanh cao thấp, có âm điệu bổng trầm, ‘tôi nghe líu lo như tiếng

chim’.

Trong số 50 sắc tộc, các bộ tộc hoang dã nhất chia sẽ những vùng hoang
dã nhất của An Nam với cọp, báo, voi, gấu, heo rừng và một ít tê giác Á
châu. Hai đồng bằng lớn, đồng bằng sông Hồng phía bắc và đồng bằng
Cửu Long phía nam, đem đến lượng nông sản phi thường. Xuất khẩu
gạo cao ngất nhắc nhở mức thiệt hại mà việc chiếm đất của người Pháp
gây cho người bản xứ, có thể so sánh với việc người Mỹ chiếm đoạt
miền Tây của dân Da Đỏ hoặc thực dân Anh ở các vùng đất Phi châu.
Người dân Đông Dương bị đánh thuế để tài trợ cho sự phục tùng của
mình, và vào những năm 1930 70 phần trăm nông dân chỉ còn là tá điền
hoặc chủ nông nhỏ. Các chủ đồn điền Pháp – khoảng vài trăm gia đình
thu gom tài sản đồ sộ của Đông Dương thuộc địa – vào thế kỷ 20 khoác
một thái độ hống hách đối với người Việt, theo lời một du khách Anh,
‘không khác thái độ của giới quý tộc ngày xưa sở hữu nô lệ. Đó là một
thái độ khinh bỉ tồi tệ nhất; nếu không có nó ắt hẳn khó mà bóc lột hiệu
quả được.’
Giới chủ đồn điền Pháp, các đại gia cao su, các chủ mỏ than thi hành các
trò bạo ngược mà nhà nước thuộc địa cho phép đối với lực lượng lao
động. Nhà nước cũng áp đặt một tỉ lệ hối đoái cao một cách giả tạo cho
đồng quan Pháp so với đồng bạc Đông Dương làm giàu thêm cho quốc
khố Paris.
Bọn xâm lược thành công trong việc đồng hóa nhiều người Việt bằng
ngôn ngữ, giáo dục và văn hoá của họ. Một học sinh còn nhớ mình được
dạy tổ tiên mình là người Gaul (người Pháp cổ). Anh học tốt hơn chỉ khi
cha anh, một hạ sĩ quan trong quân đội Pháp, nghiêm nghị và kiêu hãnh
bảo với anh ‘Tổ tiên con là người Việt.’ Một bác sĩ giải phẫu Úc nói về
ý thức của người dân ‘về lịch sử và nền văn hiến lâu đời không gián
đoạn của họ’, thậm chí trong tầng lớp tương đối thấp kém,

Tình cảnh của họ hơi tốt hơn dân Congo bị Bỉ cai trị, phần nào tệ hơn
dân Ấn dưới ách đô hộ của Anh. Có sự mâu thuẫn trong cuộc sống của
người Việt thuộc tầng lớp trung và thượng lưu. Bị ép buộc sống trong
văn hoá và ngôn ngữ Âu châu, nhưng họ vẫn ít khi trông thấy người
Pháp ngoài giờ làm việc. Nguyễn Dương, sinh năm 1943, lớn lên với
niềm say mê truyện tranh Tintin và tiểu thuyết gián điệp Pháp. Như mọi
người Á châu, một cú tát vào mặt là điều sỉ nhục tồi tệ nhất, ở trường
anh co rúm người trước những cái tát mà các ông thầy Pháp thường
giáng vào mặt các trò tối dạ. Norman Lewis mô tả Sài Gòn như ‘Một thị
trấn Pháp trong một xứ nóng, có thể gọi nó là Paris vùng Viễn đông. . .
Hai mươi ngàn người Âu sống biệt lập trên các đường phố rợp bóng cây
me. Cuộc sống thực dân dường như vô cùng tiện nghi và dễ chịu – trong
một thời gian. Tuy nhiên, những ai nán lại quá lâu có nguy cơ mắc các
bệnh tồi tệ hơn cả sốt rét và tiêu chảy: bênh uể oải mụ mẫm của phương
Đông, kết hợp giữa nha phiến và lệ thuộc quá nhiều vào phục dịch của
tôi tớ. Các lão già Pháp của Đông Dương nói về họa da vàng. Làm chủ
không tránh cho họ bị cư dân bản địa tầng lớp trên khinh thị. Người Việt
có truyền thống nhuộm đen răng bằng men, nên họ tỏ ra coi thường
người có nanh trắng: một hoàng đế hỏi, khi tiếp kiến một đại sứ Âu
châu, ‘Người này là ai mà có hàm răng như chó thế?’ Norman Lewis
viết: ‘Họ quá lịch sự nên không nhổ vào mặt một tên da trắng, nhưng họ
hoàn toàn lãnh đạm. Thậm chí người kéo xe – để được an toàn – chỉ tăng
gấp đôi tiền lộ phí, lấy tiền trong câm lặng nặng nề rồi quay phắt đi.
Thật không thoải mái chút nào khi cảm thấy mình là một đối tượng bị
mọi người chán ghét, một thứ bạch quỷ.’
Ít người Việt xem sự cai trị của người Pháp một cách bình thản, và các
cuộc quật khởi xảy ra thường xuyên. Vào năm 1927 ngôi làng Vĩnh Kim
ở đồng bằng Cửu Long sản sinh một ban hát nổi tiếng gồm các diễn viên
của đội văn nghệ có tên Đoàn Phụ Nữ Đoàn Kết, chuyên trình diễn các
vở kịch chống thực dân. Những năm 1930 chứng kiến các cuộc biểu tình
ở nông thôn, đốt kho thóc, nổi dậy. Những vụ xiết nợ nghiệt ngã khiến
một số nông dân lâm vào cảnh tù tội vì không tiền đóng thuế, những
người khác bị bọn cho vay nặng lãi quấy nhiễu đến nỗi vào năm 1943

gần phân nửa diện tích đất Việt Nam nằm trong tay không đến 3 phần
trăm điền chủ. Uy quyền thực dân đáng tin cậy đến nỗi việc áp bức là
phương thuốc hiệu nghiệm nhất. Một sĩ quan an ninh Việt chế nhạo một
chiến sĩ cách mạng: ‘Châu chấu mà đòi đá xe!’
Các nhóm du kích và băng đảng dù sao cũng chết mòn trong chốn rừng
rậm. Trên đảo tù Côn Sơn, xà lim ít khi bỏ trống. Có it chứng cứ cho
thấy việc xét xử được diễn ra đúng luật ở đây đối với các tù nhân Việt bị
giam giữ, và đảo ngục tù sớm được biết dưới tên ‘Trường đại học cách
mạng’. Nhiều người sau này đóng vai trò quyết định trong cuộc đấu
tranh giành độc lập đã từng ngồi tù ở đó. Nhưng người sau này trở thành
lãnh tụ của họ, một trong những nhà cách mạng lừng lẫy của thế kỷ
20, thuộc số it người không bị giam giữ ở đó. Hồ Chí Minh ra đời với
tên Nguyễn Sinh Cung trong một ngôi làng ở miền Trung nước Việt vào
năm 1890. Thân phụ ông là con bà vợ thứ và trở thành một quan triều,
nhưng sau đó từ quan lui về dạy học. Hồ, như Võ Nguyên Giáp, Phạm
Văn Đồng và Ngô Đình Diệm sau này, theo học tại trường Quốc Học
Huế rất tiếng tăm, được thành lập vào năm 1896. Vào năm 1908 ông bị
đuổi vì hoạt động cách mạng. Ông cắt đứt liên hệ gia đình, và sau một
thời gian dạy học ngắn ngủi tại một trường làng, năm 1911 trở thành thợ
đốt lò và phụ bếp trên một tàu hàng Pháp. Trong ba năm ông đi khắp thế
giới, rồi trải qua một năm sống ở Mỹ, trước khi nhận công việc phụ tá
bếp trưởng bánh ngọt tại Nhà hàng Cartton ở London. Ông tích cực tham
gia hoạt động chính trị và gặp gỡ các nhà dân tộc chủ nghĩa đủ quốc tịch
– Ái Nhĩ Lan, Trung Quốc, Ấn Độ. Ông nói trôi chảy tiếng Anh và
tiếng Pháp, cùng với vài phương ngữ Trung Hoa và sau này tiếng Nga.
Năm 1919 ông soạn lời kêu gọi gửi đến Tổng thống Mỹ Woodrow
Wilson tại hội nghị hoà bình Versailles, khẩn khoản xin được giúp đỡ
cho nền độc lập của Việt Nam: ‘Mọi dân tộc thuộc địa đều tràn trề hy
vọng trước viễn ảnh một kỷ nguyên công lý và công chính sẽ mở ra cho
họ . . . trong cuộc đấu tranh của văn minh chống lại sự man rợ.’ Ông dự
hội nghị đảng xã hội Pháp 1920, tại đó ông đọc một bài tham luận sau
này trở nên nổi tiếng: ‘Trong một vài phút tôi không thể nào kể hết với
các ông tất cả thói tàn bạo mà các băng đảng tư bản chủ nghĩa vì phạm

tại Đông Dương. Nhà tù nhiều hơn trường học. . . Chúng tôi không có
tự do báo chí và ý kiến . . . Chúng tôi không có quyền di dân hoặc đi ra
nước ngoài . . . Họ làm hết sức để khiến chúng tôi mê muội bằng thuốc
phiện và biến chúng tôi thành kẻ hung dữ bằng rượu. Họ … tàn sát hàng
ngàn người… để bảo vệ lợi ích không phải của người Việt. ‘Hồ trở
thành một người viết tiểu luận sung sức, đóng góp nhiều bài báo cho các
tờ báo cánh tả, thường trích dẫn Lenin. Năm 1924 ông đến Moscow, gặp
gỡ các lãnh đạo mới của Nga và trải qua vài tháng tại Đại học Đông
Phương cho người Lao Động trước khi di chuyển đến Quảng Đông, tại
đó ông trở thành thông dịch viên cho cố vấn Xô viết của Tưởng Giới
Thạch. Ba năm sau, sau khi Tưởng quay lưng lại với người cộng sản, Hồ
bay về châu Âu. Một người Pháp quen biết kể lại lần chuyện trò trên cây
cầu bắc qua sông Seine, trong đó chàng thanh niên Việt đăm chiêu tâm
sự, ‘Tôi luôn nghĩ mình sẽ trở thành một học giả hoặc tác giả, nhưng tôi
đã trở thành một người cách mạng chuyên nghiệp. Tôi qua lại nhiều xứ
sở, nhưng tôi không tìm thấy gì. Tôi nghiêm ngặt tuân thủ lệnh, và lộ
trình của tôi được vạch ra kỹ lưỡng, và bạn không thể đi lệch lộ trình, có
phải không?
‘Lệnh’ của ai? Có nhiều điều bí ẩn trong cuộc đời Hồ. Ông không hề
lập gia đình, và nhu cầu tình cảm của ông có vẻ đã được lấp đầy bởi việc
hiến dâng cho cuộc đấu tranh chính trị. Ai tài trợ cho những chuyến đi
nước ngoài của ông? Ông có phải là cán bộ ăn lương của Moscow, hay
ông chỉ nhận sự trợ giúp tài chính đặc biệt từ các bạn đồng hành chính
trị? Không có gì ngạc nhiên khi ông trở thành một người cộng sản, bởi
vì các nhà tư bản thế giới kiên quyết thù địch với các mục tiêu của ông.
Ông ít nổi bật về tác phẩm và tư tưởng, vốn không mấy độc đáo, cho
bằng một năng lực phi thường biết khêu gợi nơi người khác niềm tin,
lòng trung thành và tình yêu. Một sinh viên Việt Nam viết về lần gặp gỡ
đầu tiên với Hồ một vài năm sau ở Paris: ‘Ông toát ra một dáng vẻ mảnh
khảnh, xanh xao như người bệnh. Nhưng điều này chỉ làm nổi bật
phong thái điềm tĩnh bao trùm ông như thể một loại y phục. Ông chuyển
tải một sức mạnh nội tâm và một lòng độ lượng về tinh thần tác động lên
tôi với sức mạnh của một quả đấm.’

Năm 1928, Hồ xuất hiện ở Bangkok, điểm hẹn của những người quốc
gia Đông Dương lưu vong. Năm sau ông đến Hồng Kông, tại đó ông chủ
tọa một buổi họp các nhà lãnh đạo các phe phái Việt Nam cạnh tranh,
được tổ chức trong một sân bóng đá đang thi đấu để tránh dòm ngó của
cảnh sát. Ông thuyết phục các đồng bào yêu nước của mình đoàn kết
dưới lá cờ Đảng Cộng sản Đông Dương, mà đến năm 1931 được Quốc
tế Cộng sản Moscow chính thức công nhận. Trong những năm tiếp sau,
một loạt các cuộc khởi nghĩa bùng nổ ở Việt Nam. Quân Pháp đáp trả
bằng cách ném bom các làng bị nghi là nổi dậy và cho lên máy chém
những người cầm đầu lộ diện bị bắt. Mặc dù Hồ không trực tiếp liên can
đến các cuộc nổi dậy, nhưng ông giờ đang bị truy nã, bị săn lùng khắp
các thuộc địa của các cường quốc Âu châu. Sau một loạt các cuộc mạo
hiểm, ông trốn sang Trung Quốc bằng cách thuyết phục một nhân viên
bệnh viện Hồng Kông xác nhận là mình đã tử vong. Sau đó ông qua lại
giữa Trung Quốc và Nga, trải qua vô vàn kham khổ và bệnh tật tái đi tái
lại. Một đặc vụ cộng sản Pháp từng gặp ông trong cuộc phiêu lưu mô tả
ông ‘căng thẳng và run lẩy bẩy, trong đầu óc ông chỉ có một ý nghĩa: xứ
sở mình’.
Đầu năm 1941, sau khi vắng mặt ba thập niên, ông bí mật trở về Việt
Nam, đi bộ hoặc thuyền tam bản, và lấy tên giả sau này được lịch sử
biết đến – Hồ Chí Minh, tức ‘Người Mang Ánh sáng’. Ông lập căn cứ
trong một hang động trong vùng đồi phía bắc, tại đây ông gặp gỡ các
thanh niên đi theo ông và gọi người đàn ông 50 tuổi này là ‘Bác Hồ’,
một số sau này là các người hùng của cách mạng như Phạm Văn Đồng
và Võ Nguyên Giáp. Giáp lần đầu tiên giới thiệu Hồ với đoàn quân du
kích nhỏ, ‘Các đồng chí, đây là một lão nông thuộc địa phương vùng
này, một nông dân yêu quí cách mạng.’ Nhưng họ nhanh chóng nhận ra
ông lão không phải người địa phương, và chắc chắn cũng không là nông
dân. Hồ vẽ bản đồ Hà Nội cho những ai chưa bao giờ biết đến nó, và cố
vấn họ đào hố xí. Một cựu quân nhân nhớ lại: ‘Chúng tôi tự nghĩ, “Ông
già này là ai thế? Trong mọi thứ ông có thể dạy bảo chúng tôi, ông ta lại
khuyên phải đi cầu thế nào!”‘ Dù vậy Hồ được sẵn sàng nhìn nhận là
lãnh đạo của nhóm, và đúng ra là của một phong trào mới, mà họ gọi là

Việt Nam Độc lập Đồng mình Hội, gọi tắt là Việt Minh. Các nhà lãnh
đạo Việt Minh không ngụy trang ý thức hệ của mình, nhưng chỉ rất lâu
về sau họ mới công khai thừa nhận chủ nghĩa cộng sản là chủ nghĩa duy
nhất được mình cho phép
Việc Quốc Xã thống trị phương Tây làm xói mòn trầm trọng quyền hành
của Pháp ở các thuộc địa, và làm gia tăng nỗi khổ nhọc của giới nông
dân. Ở Đông Dương người Pháp trưng thu để thỏa mãn các nhu cầu
riêng của họ về nhu yếu phẩm như diêm quẹt, vải vóc, dầu lửa. Trong
vùng đồng bằng Cửu Long năm 1940 một cuộc nổi dậy ngắn ngủi do
người cộng sản cầm đầu nổ ra trong đó một vài viên chức Pháp bị giết
chết, đồn bót bị đánh chiếm. Dân chúng phá kho thóc, đem gạo phân
phát cho dân nghèo, cầu bị phá vỡ bởi lực lượng nổi dậy tay vẫy cờ búa
liềm. Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ chỉ kéo dài đúng 10 ngày, và chỉ có một
thiểu số dân địa phương tham gia, nhưng nó nói lên lòng căm hờn tiềm

tàng trong vùng thôn quê.

Từ mùa hè 1940 trở đi, Tokyo khai thác sự thống trị trong khu vực để
triển khai binh sĩ tại Đông Dương, trước tiên để cắt đứt đường tiếp tế của
Tây phương cho Trung Hoa, sau đó dần dần chiếm đóng, buộc Tổng
thống Franklin Roosevelt phải áp đặt lệnh cấm vận nghiêm ngặt dầu khí
vào tháng 7 1941. Người Pháp duy trì quyền hành trên danh
nghĩa, người Nhật tiếp sau đó tác động quyền lực thực sự. Họ khao khát
hàng hóa để cung ứng cho các ngành kỹ nghệ nội địa, nên ra lệnh người
Việt hạn chế trồng lúa thay thế trồng bông vải và đay. Việc này cùng với
cưỡng bách xuất khẩu lương thực, tạo ra nạn đói không ngừng tăng lên
trong một đất nước sản xuất lúa gạo nhiều nhất Đông Nam Á.
Vào năm 1944, một cơn hạn hán tiếp theo là một trận lũ lụt mở ra một
thảm kịch nhân loại vô cùng thê thảm. Có ít nhất một triệu người Việt,
một phần mười dân số Bắc Kỳ, chết trong một nạn đói cũng thảm khốc
như tai họa xảy ra đồng thời tại Đông Bengal ở Ấn Độ thuộc Anh. Có
các báo cáo đáng tin cậy về hiện tượng ăn thịt người, nhưng không có
người Pháp nào phải chết đói. Nạn đói in sâu trong ký ức của nhiều
người bắc như trải nghiệm khủng khiếp nhất của đời mình, kể cả những
cuộc chiến sau đó. Một nông dân từng sống trong một ngôi làng gần Hà

Nội vẫn còn nhớ khi còn nhỏ thường nghe mẹ la rầy con cái mỗi khi
chúng phí phạm thức ăn: ‘Các con sẽ không làm vậy nếu nhớ lại năm
1945.’ Một nông dân khác mô tả những ngôi làng vắng tanh và những
con người tuyệt vọng: ‘Những thân hình chỉ còn da bọc xương mặc y
phục rách rưới lang thang khắp đường quê và đường phố. Rồi những thi
thể bắt đầu xuất hiện dọc lề đường và sân chùa, sân nhà thờ, chợ búa,
công viên thành phố, ga xe đò và tàu hỏa. Từng nhóm đàn ông, đàn bà
đói khát bồng bế con nhỏ trong tay với các đứa con khác lẽo đẽo bên
cạnh xâm nhập mọi cánh đồng và vườn tược xục xạo mọi thứ có thể ăn
được: chuối còn xanh, vỏ chuối, củ chuối, măng tre. Dân chúng làng tôi
phải bảo vệ đất đai của mình bằng vũ lực.’ Xe bò mang đi thi hài về
chôn trong các ngôi mộ tập thể. Một hôm đứa em ba tuổi của anh đứng
trước nhà đang ăn bánh gạo thì một thanh niên gầy đét ‘trông như một
thây ma trong bộ đồ rách bươm’ xông tới, giật phắt miếng bánh từ tay
em tôi và vọt đi. Trong một số vùng các bếp ăn tập thể từ thiện được lập
ra để phân phát cháo cho dân chúng, đứng xếp nhiều hàng dài trước
quầy. Văn Ký, một thiếu niên miền Bắc sẽ trở thành một nhạc sĩ ban-lat
Việt Minh nổi tiếng, sau này nói, “Khi sáng ra bạn mở cửa trước, bạn có
thể thấy một xác chết nắm trước nhà. Nếu bạn thấy một đàn quạ lớn, có
nghĩa là có một xác chết nằm bên dưới.’
Không có gì ngạc nhiên khi các trải nghiệm như thế đã sinh ra những
con người cách mạng, trong đó có Ký. Ông sinh năm 1928 trong một gia
đình nông dân, nhưng trưởng thành trong gia đình học rộng của người
cậu. Ở đó ông đọc chuyện ngụ ngôn La Fontaine và diễn các vở kịch nhỏ
dựa trên chúng. Ông đọc nhiều tiểu thuyết Pháp như Les
Misérables của Victor Hugo. Vào tuổi 15 Ký đã bắt đầu phát truyền đơn
cho những người cộng sản. Ông trở thành chỉ huy lực lượng dân quân bí
mật tại địa phương, công tác cho đến khi cấp trên nhận định ông có năng
khiếu văn nghệ cần cho Cách Mạng hơn là công tác quân sự.
Bộ máy tuyên truyền Cộng sản khai thác âm nhạc rất có hiệu quả, cải
biên những bài hát dân ca truyền thống cho phù hợp với thông điệp của
mình, được các đoàn dân công đi lưu diễn. Ký sau đó có viết một bài
ban-lát tựa đề ‘Bài Ca Hy Vọng’ – trở thành một trong những giai điệu

được ưa chuộng nhất của Kháng Chiến. Trải nghiệm của ông minh
chứng một khía cạnh đáng chú ý của công cuộc đấu tranh giành độc lập:
rằng việc yêu quý văn hoá Pháp không phải là rào cản cho một quyết
tâm tiễn người Pháp về nước.

2 Chặn Đường Hành Quân của Việt Minh
Giai đoạn cuối cùng của Thế Chiến đem lại các hậu quả trọng đại cho
khu vực. Vào tháng 3 1945 người Nhật tiến hành đảo chính, hạ bệ chính
quyền bù nhìn của Pháp và nắm quyền bá chủ toàn cõi Đông Dương.
Chủ nghĩa thực dân chỉ bền vững chừng nào đối với các thần dân nó có
vẻ như là một trật tự không thể tránh khỏi, một nhận thức thay đổi mãi
mãi ở Đông Nam Á. Người Việt run sợ trước các hành động tàn bạo của
kẻ cai trị mới, nhưng đồng thời ấn tượng trước cảnh người bạn châu Á
da vàng chiếm lĩnh quyền lực: một số cho rằng người Nhật trông thật
oai. Vào tháng 7 Cơ quan Tình báo Chiến lược Hoa Kỳ (OSS) – cơ quan
tài trợ cho cuộc chiến tranh du kích – phái đến Đông Dương một đội đặc
vụ bán quân sự do Thiếu tá Archimedes Patti chỉ huy, tìm cách hỗ trợ
Hồ Chí Minh. Các chàng trai trẻ mới lớn, như quá nhiều người Mỹ Anh
cùng lứa trong các xứ sở bị chiếm đóng trên thế giới, cảm thấy phấn
khích muốn kết bạn trong một môi trường thù địch: họ đâm yêu hương
vị lãng mạn của hoàn cảnh mình, và các chủ nhà của mình. Một anh du
kích 22 tuổi nói đùa với một đặc vụ OSS rằng anh ta không nên chường
mặt ra ngoài láng trại của họ ở Tân Trào, ‘bởi vì nếu bọn Nhật bắt được
anh, bọn chúng sẽ làm thịt anh ăn như thịt heo quay!’ Khi anh du kích
vừa cười giòn giã vừa kể lại câu nói đùa cợt của mình với Giáp, tuy
nhiên, anh liền bị quở trách: ‘Chúng ta là người làm cách mạng, còn các
thành viên trong đội này là bạn đồng minh của chúng ta, vì thế chúng ta
phải nói chuyện với họ một cách có văn hoá và văn minh.’
Quyết sách về Đông Dương của Washington có tính dò dẫm và thất
thường. Các tướng lĩnh đồng minh bận bịu hoàn tất việc đánh bại Đức
và Nhật. Tuy nhiên, từ Nam Tư cho đến Miến Điện, và từ Hy Lạp đến
Việt Nam, các người quốc gia bản xứ tập trung tham vọng của mình gần
như độc nhất vào công cuộc chiếm được quyền kiểm soát chính trị, một

khi lực lượng phe Trục mất đi. Các thần dân xứ thuộc địa không thấy
đáng bỏ công sức giải phóng khỏi quyền bá chủ phát xít, chỉ để khom
mình lần nữa dưới ách của các ông chủ trước đây, hoặc là Pháp, Anh,
hoặc Hà Lan. Đội OSS theo Hồ trở nên bị thu hút trước cá tính của ông,
và tự cho phép mình nghĩ rằng vũ khí mà họ cung cấp cho ông đang
được sử dụng để quấy nhiễu bọn Nhật. Đúng ra, Việt Minh cũng dàn
dựng một ít hoạt động nhỏ
trình diễn chống bọn Nhật chiếm đóng, nhưng tập trung xây dựng tổ
chức của mình và dành dụm vũ khí để chống lại Pháp. Chỉ huy quân sự
được Hồ bổ nhiệm là Giáp. Người cựu giáo viên và sinh viên say mê
môn sử này không được đào tạo về quân sự ở đâu cả, vào ngày
22/12/1944, ông thành lập cái gọi là Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải
phóng Quân, chỉ đúng 34 người, trong đó có 3 phụ nữ. Vào ngày
15/5/1945 bộ phận này được sáp nhập thành ‘Quân đội Giải phóng’ phôi

thai.

Lịch sử Hà Nội hiện đại hân hoan ghi lại cách mà các cán bộ cộng sản
lợi dụng vũ khí và sự huấn luyện Tây phương để theo đuổi mục đích của
riêng mình. Vào năm 1943, theo chân Đồng minh chiếm lại Madagascar
thuộc Pháp, Cục Điều hành Chiến dịch Đặc biệt (SOE), một tổ chức
chiến tranh bí mật của Anh, tuyển mộ 7 tù bình Việt mà họ tìm thấy
đang nằm mòn mỏi trong một nhà tù của chính quyền Vichy. Các người
này bảo đảm với những người đến giải phóng họ là họ sẽ hồ hởi hồi
hương chiến đấu chống phát xít, mà không đề cập đến việc họ cũng kể
người Pháp là kẻ thù phát xít. Một tường thuật sau đó của Việt Minh
cũng xác nhận: ‘Bảy tình báo viên bề ngoài là các đặc vụ Đồng minh,
nhưng trái tim và khối óc họ thuộc về chủ nghĩa cộng sản.’ Sau khi được
đào tạo thường lệ trong ngành tình báo họ được thả dù trở lại Việt Nam.
Họ sợ mình sẽ bị đảng khai trừ vì đã nhận công tác với SOE. Thay vào
đó họ được chào đón nồng ấm, và nhanh chóng nhận lệnh đánh điện về
Calcutta xin thêm vũ khí, máy vô tuyến và vật dụng y tế.
Chiến tranh kết thúc bất ngờ vào tháng 8 1945 tạo thời cơ cho Hồ chiếm
được thế tiến công, lấp đầy chỗ trống quyền lực mở toang hoác ở phía
bắc. Ông phái đặc sứ đến thuyết phục Bảo Đại, vị hoàng đế trẻ bù

nhìn, lười nhác và thất thường, viết cho chính quyền Paris khẳng định
rằng cách duy nhất để giữ gìn vị thế của Pháp là ‘phải thẳng thắn và
công khai nhìn nhận nền độc lập của Việt Nam’. Tướng Charles de
Gaulle, ông chủ lâm thời ở Paris, từ chối trả lời công văn này, nhưng
buộc phải bực mình lưu ý là trước khi thoái vị vào ngày 25/8 Bảo Đại đã
mời Hồ đứng ra thành lập chính phủ. Lãnh tụ Việt Minh cùng với các
đồng chí của mình tuần hành về Hà Nội, thủ phủ của Bắc Kỳ, và vào
ngày 2/9/1945, trước đám đông dân chúng ngây ngất tụ tập tại vườn hoa
Ba Đình, ông tuyên bố thành lập một nhà nước Việt Nam. Ông tuyên
bố: Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các
xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gầy dựng nên nước Việt Nam
độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên
chế độ Dân chủ Cộng hòa và Việt Nam đã là một quốc gia độc lập.’
Tin tức lan truyền khắp đất nước, và một học sinh sống ở phía nam
thành phố Huế sau đó nhớ lại: ‘Các thầy chúng tôi quá đỗi vui mừng. Họ
bảo chúng tôi ra khỏi lớp và ăn mừng độc lập. Họ nói khi chúng tôi lớn
lên … chúng tôi phải nhớ về ngày này như một ngày lễ kỷ niệm.’ Hồ
trong bài diễn văn của mình trích dẫn Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ, và
thắng được một cú tuyên truyền khi nhóm OSS tự cho phép mình đứng
chụp ảnh dự lễ chào cờ Việt Minh. Tình cờ, ngay lúc đó một số chiến
đấu cơ P-38 của Không lực Hoa Kỳ gầm thét trên đầu: trong con mắt
của hàng ngàn người đứng nhìn, dường như nước Mỹ đang chúc phúc
cho chính quyền mới. Tất nhiên, đúng ra, một nhóm người trẻ chuộng lý
tưởng thuộc Bộ Ngoại giao và OSS chỉ lợi dụng Washington thiếu đối
sách để tự tiện bày tỏ tâm trạng của mình.
Patti, mà tính tự phụ của ông bị Hồ sử dụng như cây đàn, mô tả nhà
lãnh tụ Việt Minh là ‘một tâm hồn thanh cao’, và một người Mỹ khác
nói, ‘Chúng tôi cảm thấy trước nhất ông là một người quốc gia, sau đó
mới là người cộng sản.’ Rất lâu sau đó viên thiếu tá nhìn nhận, ‘Có lẽ tôi
phần nào ngây thơ đối với ý đồ và mục đích khi sử dụng những lời lẽ
(của Tuyên ngôn 1776) . . . Nhưng tôi cảm nhận rất mạnh mẽ là người
Việt Nam có quyền hợp pháp để nắm quyền tự trị thực sự. Suy cho cùng
(Thế Chiến II) là để làm gì?’

Tài thu hút của lãnh tụ là yếu tố quyết định trong hầu hết cuộc đấu tranh
cách mạng – hãy xét Gandhi và Nehru của Ấn Độ, Kenyatta của Kenya,
Castro của Cuba. Hồ Chí Minh xác lập một tính hợp pháp cho thấy là bất
khả xâm phạm cho dù chế độ ông chứng tỏ còn đầy thiếu sót và sắt máu,
bởi vì vào năm 1945 ông chiếm lĩnh quyền sở hữu độc nhất phong trào
độc lập Việt Nam. Nguyễn Cao Kỳ khi đó 16 tuổi sau này nhớ lại vào
những ngày đó ở Hà Nội ‘cái tên duy nhất trên đầu môi tôi, cũng như
trên đầu môi hầu hết những người của thế hệ tôi, là Hồ Chí Minh. Nhiều
hộ gia đình bắt đầu treo chân dung của ông: theo lời một người Việt trẻ
khác, ‘Chúng tôi khao khát một anh hùng để tôn thờ.’ Người Pháp đã
không ra sức nuôi dưỡng một tầng lớp chính trị bản xứ có cảm tình với
những khát vọng của nhân dân mình: những người Việt giàu có và học
thức tồn tại trong một thế giới hoàn toàn xa lạ với thế giới của giới nông
dân. Dù Hồ và các đồng chí thân cận của mình biết rằng không có nhiều
người hậu thuẫn mình nếu công khai thừa nhận chiêu bài cộng sản, ông
vẫn có thể đoàn kết nhiều tầng lớp dân chúng đằng sau công cuộc đánh
đuổi người Pháp. Trong những năm tiếp theo, ông đạt được một vị thế
thần kỳ mà không đồng bào nào có được. Trong những năm đầu đấu
tranh giành độc lập, ở ‘những vùng giải phóng’ đất đai cưỡng bách
chuyển từ địa chủ sang quyền sở hữu của nông dân. Hồ và phe đảng
mình không tiết lộ rằng họ xem sự tái phân phối ruộng đất chỉ là sự dừng
lại chuyển tiếp, chính sách tập thể hóa được treo lại. Các cán bộ chính trị
vẽ ra hình ảnh nước Nga như thiên đường trên mặt đất, mà Việt Nam
phải khát khao vươn tới. Hồ chính ông cũng toát ra một phẩm cách và
một trí sáng suốt gây ấn tượng tất cả ai gặp gỡ ông, và cho thấy mình là
một người thao túng chính trị xuất sắc. Bên dưới lớp vecni của lòng độ
lượng, ông sở hữu một phẩm chất cốt yếu đối với mọi người cách mạng:
tính nhẫn tâm tuyệt đối đối với giá sinh mạng con người trong các lộ
trình ông thấy là thích hợp với nhân dân mình. Dường như là một trắc
nghiệm công bình để truy vấn đối với bất kì phong trào chính trị nào dù
của tư bản, cộng sản hay phát xít, là xem nó nhân đạo cơ bản cỡ nào.
Một phát biểu được cho là của Giáp trả lời câu hỏi này cho phong trào
Việt Minh: ‘Mỗi phút, trên trái đất có hàng trăm ngàn người chết. Sống

hay chết của hàng trăm, hàng ngàn, hàng vạn sinh mạng, cho dù của
đồng bào ta, không có nghĩa lý gì.’
Tư cách của Hồ Chí Minh cũng phản ánh cùng xác quyết, dù ông là một
nhà chính trị quá sắc sảo để biểu lộ cho người Tây phương nhận biết. Đã
từng có nhiều tranh luận về việc liệu ông là người cộng sản ‘thực thụ’,
hay chỉ là một người dân tộc chủ nghĩa vì nhu cầu chính trị mà phải đi
theo tín điều của Lenin. Chứng cứ hình như lấn át ngã theo nhận định
trước. Ông chưa hề là người theo chủ nghĩa Tito (Tổng thống Cộng hòa
Liên bang Xã hội Chủ nghĩa Nam Tư 1953-80, độc lập với khối Liên
bang Xô viết) như một số nhà biện hộ đề nghị: ông nhiều lần lên án Nam
Tư khi vào năm 1948 cắt đứt quan hệ với khối Xô viết. Ông thừa nhận
niềm ngưỡng mộ không lay chuyển đối với Stalin, mặc dù nhà lãnh đạo
Nga chưa hề đáp lại hoặc bằng sự tin cậy nhà lãnh tụ Việt Minh hoặc
bằng viện trợ đáng kể cho ông.
Dường như có khả năng không nhiều là việc Việt Nam đi theo chủ nghĩa
cộng sản đã có thể tránh được nếu Pháp vào năm 1945 đã tuyên bố ý
định rời bỏ Việt Nam, và bước vào tiến trình chuyển tiếp cấp tốc để
nhận diện các nhà lãnh đạo bản xứ có thể tin cậy được và chuẩn bị cho
họ quản trị xứ sở, giống như người Anh đã làm trước khi rút khỏi Mã
Lai. Tuy nhiên, thay vào đó, người Pháp chọn cách soạn một bức thư
tuyệt mạng dài, tuyên bố sẽ chống đối sắt đá với độc lập đến cùng. Tính
ngoan cố của bọn thực dân tạo cho Hồ Chí Minh lợi thế tinh thần trong
cuộc chiến đấu giờ bắt đầu mở ra.
De Gaulle chịu trách nhiệm chính cho lỗi lầm này. Vào tháng 3 1945
ông gạt phắt quan điểm của Pierre Messmer, tùy viên liên lạc của ông ở
Viễn đông, người cho rằng cần phải đàm phán với Việt Minh. Thay vào
đó, vị tướng hống hách giao việc phục hồi quyền hành nước Pháp cho
Đô đốc Thierry d’Argenlieu vốn có đầu óc thực dân khó chữa. Ông này
lên nắm quyền tổng cao ủy ở Sài Gòn. Trong một số nơi trên thế
giới, đáng kể là Phi châu, sự khan hiếm phong trào quốc gia đáng tin
cậy khiến các đế quốc Âu châu có thể bám riết vào quyền lực và đặc
quyền của mình thêm một thế hệ nữa. Tuy nhiên, ở Việt Nam cũng như
ở nơi khác ở châu Á, tính bá quyền ngoại bang trở nên không thể bền

vững một khi các lãnh đạo bản xứ tìm thấy tiếng nói không thể bắt câm
lặng, cùng với số thính giả chịu lắng nghe. Đây là thực tế mà nước Pháp
mất cả thập niên tiếp theo tìm cách phủ nhận.
Vào ngày 12/9/1945, không đến một tháng sau khi Việt Minh cướp
chính quyền ở Hà Nội, quân Anh và Ấn đổ bộ vào Sài Gòn. Họ giải
thoát cho các tên thực dân Pháp tức tối ra khỏi nhà tù, và đuổi cổ các cán
bộ Việt Minh nắm quyền sau các xung đột lộn xộn và đẫm máu, trong
đó một số lính Nhật được triển khai cùng với quân đồng minh. Chỉ huy
Anh, Thiếu tướng Douglas Gracey, xác nhận: ‘Vấn đề chính quyền
Đông Dương là độc quyền của người Pháp.’ Một sĩ quan của ông mô tả
lần gặp gỡ đầu tiên với Việt Minh: ‘Họ đến thăm tôi và nói, “xin chào”
và đại loại như thế. Đó là một tình cảnh khó chịu và tôi nhanh chóng
tống cổ họ ra. Họ rõ ràng là những tên cộng sản.’ Gracey đôi khi bị chỉ
trích vì sử dụng binh sĩ để đàn áp lực lượng của Hồ. Tuy vậy ông chỉ là
một chức quan tương đối nhỏ, không phải Caesar cũng thậm chí không
phải Mountbatten (Đô đốc Anh, Phó vương Ấn Độ năm 1947), được
lệnh làm y như các người ngang chức với mình khắp nơi trên thế giới
vào thời kỳ đó: sử dụng lưỡi lê để phục hồi trật tự như trước chiến tranh.
Theo mệnh lệnh của Washington 150,000 binh lính Trung Quốc của
Tưởng Giới Thạch, tiến xuống miền bắc Việt Nam góp phần vào vai trò
lực lượng chiếm đóng của đồng minh. Người Việt gọi họ là tàu phù bởi
vì hình như tên nào cũng có bàn chân xưng phù, có thể bị beriberi (rối
loạn dinh dưỡng do thiếu vitamin B1.) Bọn tàu mới đến xử sự như châu
chấu hơn là chiến binh, bóc lột vùng quê mọi thứ ăn được hoặc mang đi
được. Họ ít can thiệp đến nỗ lực mở rộng quyền lực chính trị của ông, và
sốt sắng bán vũ khí cho Việt Minh. Đầu tháng 10 1945 những binh lính
Pháp đầu tiên xuất hiện ở Sài Gòn, nhưng sau đó hơn một năm trôi
qua – thời gian đình hoãn vô giá cho người cộng sản và chết người cho
phe đế quốc – trước khi họ tái xác lập quyền kiểm soát ở miền bắc.
Ở tuổi 16, học sinh Phạm Phú Bằng là một người cách mạng nhiệt huyết
xem Việt Minh là một phong trào độc quyền giành độc lập: ‘Tôi không
biết gì về chủ nghĩa cộng sản.’ Khi người Nhật càn quét đất nước, lúc
đầu anh thấy phấn khích khi thấy người bạn Á châu lăng nhục quyền lực

của thực dân Pháp – ‘như hai con trâu khóa sừng nhau’. Sau khi Nhật
đầu hàng, Bằng khởi đầu sự nghiệp cách mạng của mình, lấy cắp vũ khí
từ bọn lính Tàu bất cẩn, viết bích chương và biểu ngữ ‘Hoan hô Hồ Chí
Minh’, ‘Việt Nam Tự Do Vạn Tuế’. Một hôm anh đáp tàu hỏa chở gạo
ra miền bắc đến những vùng cứu đói. Tàu bị kẹt tại đầu cầu bị đánh sập
bởi máy bay đồng minh. Đoàn Việt Minh hộ tống tàu vận động dân làng
đắp bao cát bắc qua sông, nhưng sớm tìm thấy tàu hỏa bị đám đông dân
đói bao vây. Anh chàng Bằng bị một người da bọc xương níu kéo. Anh
vừa phát một lon gạo cho y, nhưng y van nài xin thêm một lon nữa cho
con mình. ‘Chúng tôi tranh luận xem phải đổ lỗi cho ai gây ra thảm họa
khủng khiếp này – người Nhật đang cai trị; người Pháp lấy đi thực phẩm
nhiều tùy thích để nuôi sống dân mình; hay người Mỹ đã đánh bom
đường sắt. Chúng tôi kết luận lỗi cả ba. Chúng tôi hỏi nhau: tại sao một
đất nước nhỏ bé, gầy còm như đất nước chúng tôi lại có quá nhiều kẻ

thù?’

Trong quá trình 1945-46 Việt Minh chiếm quyền kiểm soát tổ chức
Thanh niên Tiền phong phi-cộng sản và đàn áp các nhóm đối lập khác.
Nhiều lãnh tụ đối thủ bị bỏ tù, và ở vùng quê hàng ngàn người bị chụp
mũ là ‘kẻ thù nhân dân’ bị thủ tiêu. Việt Minh hối hả tuyên bố chiến
thắng của họ trong cuộc bầu cứ quốc gia ngày 4/1/1946, chắc chắn là
gian lận như bất kì cuộc đầu phiếu nào khác ở Đông Dương suốt nhiều
thập niên tiếp sau. Trong một mùa ngắn ngủi khi quân đội Trung Quốc
và các đại diện đồng minh nhan nhản ở miền bắc, một điều gì đó giống
như là tự do ngôn luận được chấp nhận. Tuy nhiên, vào giữa tháng 6,
phần đông lính Tàu đã về nước, cuộc thanh trừng tiếp tục. Người của Hồ
hành động nhanh chóng và hiệu quả để nắm lấy quyền kiểm soát vùng
nông thôn, nhất là trong khu vực heo hút sát biên giới Trung Hoa. Trái
lại, trong vùng đồng bằng Cửu Long, đầu năm 1946 người Pháp đã xác
lập sự hiện diện vững chắc của mình, buộc các cơ cấu khởi nghĩa phải
rút vào vòng bí mật, bên cạnh chính quyền thuộc địa. Trong số cán bộ
Việt Minh trở về từ lao tù có Lê Duẩn, người mà hai thập niên tới sẽ trở
thành người cai trị đất nước mình. Khi người Pháp đánh đuổi Việt Minh
ra khỏi vùng đô thị , ông thuộc số người cắm chốt trong vùng nông thôn

châu thổ, nơi du kích bắt đầu hoạt động và lực lượng thực dân bắt đầu
phản đòn.
Việc Pháp chấp nhận lộ trình địa ngục này thoát thai từ một nguyên
nhân dễ hiểu là họ bị mất mặt trong Thế Chiến II. Một tai họa tương tự
đã tránh được ở Ấn Độ, chắc chắn chỉ vì các cử tri Anh trong cuộc bầu
cử 1945 của họ đã biểu lộ sự sáng suốt khi bầu cho một chính quyền xã
hội, đưa ra một quyết định lịch sử là từ bỏ tiểu lục địa (tức Ấn Độ) và
Miến Điện (tức Myanmar bây giờ). Ngược lại, ở Paris vào mùa hè 1945
một đại biểu cho phe hắc ám từ Guyana, Gaston Monnerville, xác nhận:
‘không có Đế quốc, Pháp ngày nay không hơn một xứ sở được giải
phóng. . . Nhờ có Đế quốc, Pháp là một đất nước chiến thắng.’ Những
chính phủ đến rồi đi liên tiếp của Đệ Tứ Cộng hòa cho thấy mình yếu
đuối trong mọi việc trừ đồng lòng triển khai lực lượng tại các vùng đất
sở hữu hải ngoại của Pháp, với tính sắc máu hiếm hoi xứng tầm với
người Xô viết. Tiếp theo cuộc khởi nghĩa Hồi giáo 1945 ở Algeria trong
đó một trăm người Âu bị giết chết, ước tính có khoảng 25,000 người dân
bị binh lính Pháp tàn sát. Sau cuộc vùng dậy tháng ba 1947 ở
Madagascar, nơi 37 ngàn tên thực dân ngồi trên đầu hơn 4.2 triệu thần
dân da đen, quân đội sát hại 90,000 người dân. Chỉ trong thời buổi suy
đồi của một thế giới đã cạn kiệt sức phẫn nộ đạo lý thì việc tạo ra những
núi xác chết như thế bởi một cường quốc Âu châu mới không đánh động
mọi người. Algeria và Madagascar cung cấp một bối cảnh cho trận đổ
máu ngang tầm cỡ trút xuống Đông Dương. Khó hiểu hơn cả tính nóng
nảy và bất nhân của người Pháp là sự đồng lòng của Mỹ hậu thuẫn họ.
Không có viện trợ quân sự, chính sách thuộc địa của Pháp sẽ sụp đổ qua
đêm.
Fredrik Logevall nhận xét rằng sẽ không có gì nghịch lý nếu Mỹ quyết
định hỗ trợ công cuộc phục hồi quốc nội Pháp, trong khi rút lại sự hậu
thuẫn cho những hành động đế quốc điên rồ. Washington hành động trái
ngược một phần bởi vì, thậm chí trước khi Chiến tranh Lạnh trở nên
lạnh giá, những người làm chính sách hoảng sợ khi thấy cộng sản đã đạt
được chiến lợi phẩm lãnh thổ mới.

Trong khi các trí thức cấp tiến Mỹ ghét cay ghét đắng chế độ thực dân,
trong một kỷ nguyên mà một bộ phận lớn đất nước họ còn kỳ thị chủng
tộc, thì cảnh tượng người da trắng làm chủ nhân ông “các chủng tộc thấp
kém hơn” dường như không ghê tởm như sau này được cảm nhận. Vào
những năm cuối thập niên 1940, chính sách Pháp it liên kết chặt chẽ với
chủ nghĩa chống cộng của Mỹ như về sau này, nhưng lợi ích của nhân
dân Việt Nam – hay của các dân tộc anh em Malagasy, Algeria v…v…
xếp thứ yếu trong danh sách ưu tiên của Tổng thống Harry Truman.
Một số người Việt Nam lúc đầu xem việc trở lại của người Pháp là tiện
lợi tạm thời chấp nhận được, để loại bỏ dùm họ bọn lính Tàu cướp bóc
miền bắc. Hồ Chí Minh được công nhận một cách biểu tượng như là
người chủ của Bắc Kỳ, trong khi việc Bảo Đại cai trị trên danh nghĩa đất
nước được thừa nhận. Vào tháng 7 1946, khi Hồ đến viếng thăm Paris để
đàm phán về tương lai hợp hiến, ông được đón tiếp trọng thể với nghi lễ
dành cho người đứng đầu nhà nước. Tuy nhiên, việc này chỉ là bày vẻ bề
ngoài. Trong các cuộc thương lượng tại Fontainebleau diễn ra sau đó,
chính quyền Paris làm rõ là ông đã được mời tới chỉ để nhận những chỉ
thị của các ông chủ của mình, chứ không phải để thương thảo giao lại
quyền lực. De Gaulle nói: ‘Thống nhất với các lãnh thổ hải ngoại mà
nước Pháp giúp mở cửa đến văn minh, nước Pháp là một quốc gia vĩ
đại. Không có các lãnh thổ này nước Pháp có nguy cơ không còn là một
quốc gia vĩ đại.’
Người đứng đầu phái đoàn Pháp khinh thị bảo một đại diện Việt Minh:
‘Chúng tôi chỉ cần một cuộc hành quân cảnh sát bình thường trong tám
ngày là tống cổ được tất cả các ông.’ Trong vài tuần, Hồ bực bội nán lại.
Trương Như Tảng, người mà gần ba thập niên sau sẽ trở thành bộ trưởng
cách mạng miền Nam, có mặt trong nhóm sinh viên đang du học tại
Pháp được dịp gặp gỡ người hùng của mình ở Paris. Họ vô cùng xúc
động khi vị lãnh tụ quốc gia đầy khát vọng bảo họ hãy gọi mình là ‘Bác
Hồ’ thay vì ‘Ngài Chủ tịch’ . Ông hỏi ý kiến họ về tương lai Việt Nam,
dành trọn một buổi chiều để chuyện trò với họ: ‘Thật khó tìm một nhà
lãnh đạo thế giới nào khác mà trong hoàn cảnh tương tự có thể hành
động giống như vậy.’ Khi Hồ nhận thấy trong nhóm sinh viên đều có đại

diện đủ ba miền nam, trung và bắc, ông nói, ‘Voilà! Tuổi trẻ của đại gia
đình chúng ta. . . Các anh phải nhớ, nước Việt Nam là một, dân Việt
Nam là một, sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng chân lý ấy không
bao giờ thay đổi.’ Lời nhận xét của ông gây ấn tượng sâu sắc cho các
đồng bào của mình, bởi vì những lời ấy khơi gợi thứ ngôn ngữ của khẩu
hiệu và có tính thi ca mà các lãnh tụ Việt Nam luôn sử dụng để hiệu
triệu nhân dân. . . ‘Từ buổi chiều đó tôi đã là đảng viên nhiệt thành của
Hồ Chí Minh. Tôi đã bị chinh phục bởi tính giản dị, nét duyên
dáng, thân thiện của ông. Lòng yêu nước cháy bỏng của ông ấy là tấm
gương tôi sẽ noi theo suốt cuộc đời.’
Hồ trở lại Bắc Kỳ biết rằng không cách nào dàn xếp được hoà bình.
Người Pháp ương ngạnh xử sự hai mặt: đợi khi máy bay, tàu chiến và
thêm nhiều binh sĩ đã được điều động đến, họ bèn xiết chặt miền nam,
rồi vươn ra bắc. Mùa hè 1946 đó vị quân nhân tối cao của họ, Tướng
Philippe Leclerc, chỉ đạo các chiến dịch quân sự: ông dán cho Hồ nhãn
hiệu kẻ thù của nước Pháp, và không mấy khôn khéo khi tuyên bố cuộc
xung đột gần như đã chiến thắng. Vị tướng xử sự khinh thị với Giáp,
trưởng phòng tình báo trước đây của Hồ, nay đoán chừng là ‘bộ trưởng
quốc phòng’ Việt Minh. Cái cười toét miệng, lây lan sự vui tính của
Giáp khiến một số người Tây phương lầm tưởng ông thân thiện và mềm
dẻo hơn vị lãnh tụ của mình. Thật ra, tính tự phụ của Giáp không kém
tính sắt đá của ông: những lời sỉ nhục thiếu suy nghĩ của người Pháp
càng làm ông thêm ghê tởm bọn thực dân.
Leclerc đổi ý khá muộn màng về Đông Dương, giờ tin rằng không thể
giữ được Đông Dương khi đương đầu với mối thù địch được người cộng
sản và phi cộng sản chia sẻ. Tuy vậy không lâu sau khi ông tử nạn trong
vụ rơi máy bay ở châu Phi,
Thierry d’Argenlieu sau đó khống chế quyền ra quyết định của xứ sở
mình. Vị tổng cao ủy Đông Dương là một nhân vật ngoan cố và xảo
quyệt, thuyết phục chính quyền Paris rằng có thể nghiền nát Việt Minh:
‘Từ giờ trở đi chúng ta không thể thỏa hiệp với Hồ Chí Minh. . . Chúng
ta phải tìm người khác mà chúng ta có thể thương thảo.’ Người Pháp
tính đến việc ve vản cựu hoàng Bảo Đại trẻ tuổi. Nhưng tại Việt

Nam, cũng như trong nhiều quốc gia bị áp bức, một làn sóng đang dâng
lên mạnh mẽ nghiêng về phe Tả. Không người Việt nào khác chiếm lĩnh
được trí tưởng tượng của quần chúng mà Hồ đã giành được.
Vào tháng giêng 1946, tiếp theo sự sụp đổ của hội nghị, người Pháp tiến
hành một vụ oanh kích tàn nhẫn từ tàu chiến và phi cơ vào các căn cứ
của Việt Minh trong và quanh cảng Hải Phòng. Vài ngàn dân thường tử
vong, chỉ có khu Âu châu trong thành phố là thoát khỏi trận tàn phá. Vào
ngày 19 tháng 12 d’Argenlieu phát đi tối hậu thư kêu gọi Việt Minh từ
bỏ, và họ đáp trả bằng một cuộc nổi dậy vũ trang tại Hà Nội, giữ vững
trong 60 ngày. Khi cuối cùng họ bị đẩy lui giữa cảnh hoang tàn ngổn
ngang, người Pháp tự lừa dối mình khi cho rằng đã chiếm lại quyền
kiểm soát Bắc Kỳ.
Tuy nhiên, các quan sát viên nước ngoài hoài nghi. Một thông tín viên
tờ The Times of London viết vào tháng 12: ‘Bất kỳ chính quyền thực dân
nào tự đặt mình trong một tình thế phải đương đầu với khủng bố này đến
khủng bố khác đều có thể đã phủi tay khỏi chuyện này. Chúng ta sắp sửa
chứng kiến quân đội Pháp tái chinh phục phần lớn hơn của Đông Dương
nhưng không thể để thương gia hoặc chủ đồn điền nào có thế sống ngoài
chu vi của vòng rào kẽm gai.’ Hồ và Giáp, chuẩn bị cho một chiến dịch
lâu dài, cần đến các căn cứ địa nằm ngoài vùng hoạt động các sân bay và
trọng pháo của Pháp.
Vì vậy, đạo quân chủ lực của họ, khoảng 30,000 người, phải rời bỏ thị
trấn và thành phố và hành quân đến Việt Bắc, vùng tây-bắc xa xôi. Các
lãnh đạo Việt Minh, giờ cư trú trong lều tranh hoặc hang động, không hề
tự lừa dối mình là có thể đạt được thắng lợi quân sự tuyệt đối. Thay vào
đó, họ chỉ nhắm làm cho địch phải cai trị với một giá đắt đỏ. Với mục
tiêu này, các nhóm địa phương giấu mặt phát động cuộc chiến tranh du
kích, trong khi lực lượng chính quy tiến hành các trận đánh trình diễn
khi điều kiện có vẻ thuận lợi. Họ trông cậy phần lớn vào vũ khí tịch thu
được, nhưng cũng bắt đầu chế tạo vũ khí cho riêng mình, dưới sự trợ
giúp của khoảng 3,000 lính đào ngũ Nhật Bản. Với sự khéo léo vô hạn,
họ sục tìm các vỏ đạn của Pháp để nạp lại thuốc súng, chế tạo mìn từ vỏ
pháo và đạn súng cối. Ngay từ đầu, họ đã vận dụng quyền kiểm soát bí

mật hoặc công khai khoảng 10 triệu người, phần đông đều nộp thuế cho
họ, và thi hành nghĩa vụ lao động hoặc quân dịch. Mặc dù Việt Minh tố
cáo nạn buôn lậu nha phiến như một biểu hiện bóc lột của thực dân, Hồ
đẩy mạnh doanh thu của phong trào theo cùng một phương tiện.
Gia đình gần như là trung tâm thiêng liêng của xã hội Việt Nam, vậy mà
trong những ngày đó nhiều gia đình bị xé nát. Ông thân của em Trần Hội
10 tuổi là một doanh nghiệp nhỏ ở Hà Nội vẫn tiếp tục thừa nhận quyền
cai trị của Pháp. Ông nói, ‘Nếu chúng ta phải chọn giữa chế độ thuộc
địa của Pháp và chủ nghĩa cộng sản, tôi sẽ chọn chế độ thuộc địa, vì nó
dẫn đến văn minh Tây phương.’ Trận cãi vã chua chát nổ ra khi chú của
Hội, một bác sĩ, tuyên bố quyết tâm đi theo Hồ Chí Minh của mình.
Những chia rẽ trong gia đình Hội, cũng như của bao nhiêu gia đình
khác, vẫn không thể hàn gắn qua nhiều thập niên xung đột giờ đang bắt
đầu diễn ra.

Năm 1896: Cổng chùa Đại Phật

‘Sứ Mạng Khai Sáng’ – Bắc Kỳ 1908: Sĩ quan Pháp với thủ cấp những
nghi can Việt trong vụ đầu độc lính Pháp

1945: Nạn nhân trong nạn đói thảm khốc quét qua Bắc Kỳ

Các sĩ quan OSS ngồi với các nhà lãnh đạo Việt Minh Hồ và Giáp

CHƯƠNG 2: ‘CUỘC CHIẾN BẨN THỈU’

1 Những tên xe lu

Vào những tháng đầu năm 1947 Charles Trenet (nhà văn, ca sĩ, nhạc sĩ
nổi tiếng người Pháp sau Thế Chiến II) hứng chí ngâm nga, nhắc lại thế
giới huy hoàng của ngôn ngữ Pháp: ‘La mer, qu’on voit danser la long
des golfes claires’, nhưng khi dịch ra tiếng Anh nghe rất đỗi tầm thường:
‘Biển cả, mà chúng ta trông thấy đang nhảy múa dọc theo bờ vịnh sáng
lóa’. Công ty thời trang Christian Dior nắm bắt óc tưởng tượng của giới
nữ chuộng thời trang với mẫu thiết kế New Look, mở ra vạt vải bên dưới
một eo thon và vạt trên bó sát, làm bay đi những năm tháng chiến tranh
khắc khổ đã qua. Văn hoá, phong cách, nét đẹp tự nhiên lẫn nhân tạo
của Pháp một lần nữa lên ngôi. Từ Paris nhà văn Nancy Mitford chế
giễu không mệt mỏi đồng bào Anh của mình không có khả năng sánh
được với nghệ thuật ẩm thực, tính sắc sảo, nét tao nhã của chủ nhà mình.
Vậy mà cũng những con người khôn lanh, tự phụ, dễ dao động này lại
chọn con đường lún sâu vào một cuộc chiến thực dân tàn bạo cách nhà
8,000 dặm, một cuộc chiến cuối cùng lấy mất của họ hơn 90,000 sinh
mạng, và người Việt còn nhiều nhiều hơn nữa. Phần đồng dân thành
phố xem cuộc đấu tranh nhằm gìn giữ đế quốc hải ngoại của họ là – la
sale guerre, ‘cuộc chiến bẩn thỉu’ – với sự lạnh nhạt, nếu không muốn
nói là chế nhạo thẳng thừng. De Gaulle, giờ đang trong chốn lưu đày

chính trị, bày tỏ mối ngờ vực muộn màng, chẳng bao lâu sẽ trở thành
chắc chắn, rằng Pháp không có lợi ích sống còn tại Đông Dương, và
không thể thắng thế ở đó. Vậy mà một thiểu số om xòm lại hăng hái
quan tâm, và hô hào một cuộc phiêu lưu quân sự đắt giá không sao
tưởng tượng được.

George Orwell nhận xét rằng cách nhanh nhất để kết thúc một cuộc
chiến là chịu thua, trong khi thật tai họa cho nước Pháp phải mất gần
một thập niên mới đạt được điều này. Cuộc chiến Đông Dương có nhiều
hình thức khác nhau, tùy theo vùng miền. Ở miền bắc, các lực lượng quy
mô điều động và đánh với các đội hình cộng sản cuối cùng tập họp được
60,000 quân, được hỗ trợ bởi các kíp luân phiên của lực lượng khuân
vác nông dân. Một tài liệu của Việt Minh nêu rõ mùa khô từ tháng 10
đến tháng 4 là ‘thuận lợi nhất để chiến đấu’, trong khi những tháng mưa
nhiều từ tháng 5 đến tháng 10, khi việc chuyển quân rất khó khăn,
thường dành để dưỡng quân, huấn luyện, tái triển khai, lên kế hoạch.
Trong khi đó ở thị trấn và thành phố, người Pháp ra sức đánh lại các
cuộc tấn công khủng bố- bom ném vào quán cà phê đông người, xả súng
vào các viên chức. Những sự cố như thế trở thành một phần của sự bình
thường mới: tại một buổi chiêu đãi ở dinh thị trưởng Hải Phòng, khách
dự một phen hoảng vía khi nghe nhiều tiếng súng nổ và tiếng la hét gần
đó, nhưng buổi tiệc và cuộc trò chuyện tiếp tục khi biết tin đó chỉ là một
phần tử Việt Minh bị bắn chết sau khi ném một quả lựu đạn tại một trạm
cảnh sát. Trong một vụ tấn công tàn bạo và thành công bất thường, các
du kích xông vào một buổi liên hoan tối tổ chức tại nhà một gia đình
Pháp ở Cap St Jacques (Vũng Tàu ngày nay). Chúng ra tay bằng lựu đạn
và súng máy nhẹ của Anh, sát hại 8 sĩ quan, hai phụ nữ, 6 đứa trẻ và 4
tôi tớ người Việt.
Trên khắp vùng quê, một mạng lưới gần một ngàn đồn và tháp canh –
vây quanh là mìn, hàng rào an ninh, các súc gỗ, bao cát, kẽm gai và hào
có cắm chông tre – được dựng lên để bảo vệ làng mạc và đường xá.
Những thứ này không mấy thành công trong việc ngăn chặn Việt
Minh, vì họ dễ dàng gỡ mìn đem về xài, và thường có thể tràn vào một
đồn lính địa phương nếu họ rắp tâm. Các tàu chiến nhỏ Pháp giao tranh

những trận dữ dội trên sông Đà với các đội du kích khai hỏa từ hai bên
bờ.
Trong khi đó, trên núi cao và trong rừng sâu, các lực lượng đặc biệt
Pháp của GCMA – Groupement de Commandos Mixtes
Aéroportés (Binh đoàn biệt kích hỗn hợp nhảy dù) – cầm đầu các chiến
binh bộ tộc vùng cao vốn căm ghét người cộng sản vì nguyên cớ riêng
của họ. Vì việc tiếp quân hoặc rút quân đều phụ thuộc vào đường bay ,
nên một số GCMA phải hòa nhập vào bản xứ vì họ không có lựa chọn
nào khác; không ít người không bao giờ trở về với đời sống văn minh.
Điều này trở thành trận xung đột cuối cùng trong đó quân nhảy dù thực
hiện liên tiếp các cuộc nhảy dù hành quân, có khi thường xuyên đến một
tuần một lần. Tuy nhiên, đối với phần đông các đơn vị Pháp, đây là cuộc
chiến mà đường xá khống chế, trong đó trực thăng chỉ đóng vai trò hạn
chế: thậm chí trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến, lực lượng
thực dân chỉ sở hữu 23 trực thăng. Bộ binh tiến hành liên tiếp bất tận các
trận càn trên khắp vùng nông thôn, với các mật danh thi vị như Citron,
Mandarine, Mercure, Artois, Mouette and Nice I & II. Kết quả chỉ là
một vài xác chiến binh Việt Minh, nhưng đổi lấy một chi phí khủng
khiếp nỗ lực và gây phiền hà cho người nông dân.
Giáp không theo học cao đẳng quân sự nào, nhưng đọc rất nhiều: ông trở
nên ám ảnh với Napoleon, Clausewitz và chiến thuật du kích chiến của
Mao. Lực lượng ông đạt được một chiến tích lừng lẫy đầu tiên vào ngày
27/1/1947, phục kích một đoàn hộ tống chở các chính trị gia Việt Nam
làm việc cho Pháp trong một chuyến thanh sát miền bắc. Mười bốn ô tô
bị phá hủy, bộ trưởng giáo dục và một kỹ sư Pháp bị giết. Cuộc tấn công
gây ấn tượng cho giới chính quyền vì tính táo bạo và hiệu quả của nó, và
còn nhiều vụ tương tự tiếp diễn. Quốc lộ 5 từ Hà Nội đi Hải Phòng được
biết dưới tên ‘con đường máu’. Một ngôi làng trên Quốc lộ 1 nối nam
bắc là một địa điểm phục kích nổi tiếng đến nỗi người Pháp cho san ủi

nó.

Hai bên cạnh tranh mức độ nhẫn tâm. Việt Minh hành hình các trưởng
làng nào không thuận theo ý muốn của họ, thường bằng cách chôn sống
trước sự chứng kiến của dân làng, sau khi tra tấn nạn nhân bằng những
trò tinh xảo kiểu trung cổ. Khi Việt Minh giết một binh lính Việt làm
cho Pháp, một du kích mượn một chiếc kềm từ một ngôi nhà gần đó,

dùng nó để nhổ ra chiếc răng bịt vàng của người chết. Một đứa trẻ chứng
kiến sự việc viết: ‘Tôi đã trông thấy nhiều xác chết bị chặt đầu, phanh
thây, mổ bụng, thậm chí lột da, vậy mà không cảnh nào ghê tởm bằng
cảnh tên du kích dơ lên hai chiếc răng vàng, gương mặt rạng rỡ.’
Người Pháp sử dụng hỏa lực phung phí trên chiến trường, và cho phép
binh sĩ mình gần như mặc tình hành động phía sau nó. Nhà văn Norman
Lewis mô tả chuyến bay đầu tiên đến Sài Gòn. Người ngồi cạnh ông
trên chuyến bay Air France là một đại tá Lê Dương Viễn Chinh. Ông ta
chăm chăm nhìn xuống đồng bằng Cửu Long bên dưới với cái nhìn hằn
học quen thuộc. Khi họ bay qua một cụm lều tranh bên dưới hai ngàn
bộ, ánh mắt non nớt của Lewis tập trung vào vật gì đó giống như một
cuộn khói hương cuộn lên. Rồi ông nhận ra đó chính là một cuộn khói
cuồn cuộn. Khi những đốm lửa bắn ra bắt đầu thấy được, người sĩ quan
Lê Dương ngồi cạnh nhận xét ra vẻ hiểu biết, ‘Une opération (Một cuộc
hành quân.’ Bên dưới cặp mắt chúng tôi bạo lực đang được thực thi,
nhưng chúng tôi cảm thấy tách biệt khỏi chuyện đó như tách biệt khỏi
lịch sử. Chúng ta có thể hiểu được cỗ máy ném bom từ trên cao có thể
khiến cho việc giết người trở nên trơn tru và lãnh đạm biết bao.’ Tính
tàn nhẫn của người Pháp một phần bị thúc đẩy do thói quen thống trị
chủng tộc, một phần vì cho rằng dù nhiều nông dân không phải là kẻ
địch trực diện, thì chúng cũng biết rõ kẻ thù ẩn nấp nơi đâu, trốn trong
cống ngầm nào hoặc trên đường nào có đặt chông chờ đợi các binh sĩ bất
cẩn. Bọn thực dân và đồng minh của họ là phe Cao Đài và Hòa Hảo –
các giáo phái miền nam có lực lượng quân đội riêng kinh khủng – được
cho là sẽ giết 5 thường dân cho mỗi người trong phe họ bị sát hại. Trận
tàn sát tháng 11 1948 hơn 200 phụ nữ và trẻ con tại Mỹ Trạch, thuộc
tỉnh tận mút phía nam của vùng đất sau này sẽ là Miền Bắc, ít được biết
đến với nước Pháp bấy giờ, tuy tội ác dường như có đầy đủ chứng cứ
không thể ngờ vực. Trong khi đó, theo sau các sự cố như trận phục kích
sát hại giáo chủ sáng lập đạo Hòa Hảo, để trả thù, ‘Người Hòa Hảo thích
trói các cảm tình viên với Việt Minh lại với nhau rồi ném họ xuống sông
cho chết chìm cả chùm,’ theo lời kể của Bernard Fall, ‘và trôi theo sông
như đám lục bình, mặc tình sóng nước cuốn đi.’
Một người Mỹ, Bob Miller của tờ United Press, đang ngồi trên một
xuồng bọc sắt Pháp tuần tra trên kênh về đêm thì chiếc đèn pha của

xuồng bắt gặp ba tam bản vi phạm lệnh giới nghiêm. Hai chiếc phớt lờ
lệnh bắt đừng lại liền bị quạt nhiều tràng đạn súng máy. Chiếc thứ ba
chở hai lão nông và một con trai họ, với một khoang đầy gạo. Anh thanh
niên đang đứng trên các bao gạo phóng xuống nước tẩu thoát. Nhưng
một quả lựu đạn được ném theo phía sau y, giết chết y. Một sĩ quan trẻ
người Pháp lịch sự giải thích với Miller rằng ‘đó chỉ là cách cho dân
chúng biết rằng vi phạm các quy định sẽ bị trừng phạt nghiêm khắc để
người Pháp có thể hy vọng nắm thế thượng phong.’ Thế thượng phong
ư? Ngay trong những năm tương đối yên ắng 1947-48, một tiểu đoàn Lê
Dương Viễn Chinh đơn lẻ tổn thất 200 thương vong từ mìn, đột kích và
phục kích.
Lê Dương đã trở thành một phần huyền thoại anh hùng của Đông
Dương. Vậy mà các binh lính Pháp khác chế giễu họ là genre rouleau
compresseur – ‘những tên xe lu’.
Các đơn vị của họ – có cả một số thành viên từng là SS và Wehrmacht
của Hitler – có tiếng đáng sợ là hãm hiếp và cướp bóc thường dân Việt.
Dương Vân Mai, xuất thân từ gia đình quan lại truyền thống, mô tả cảnh
các tên lính Lê Dương xông vào nhà cô, dùng lưỡi lê rạch toạc các vali
và lấy đi mọi tài sản mà chúng ưng ý. Khi gia đình cô lội bộ ra khỏi
vùng chiến sự phía bắc, lính Pháp lột sạch vàng bạc và tiền mặt họ mang
theo, như thể đó là đặc quyền hợp pháp của bọn chiến binh. Các binh
lính thực dân da đen ít khó tính hơn, chúng tóm lấy bất cứ thứ gì ngay cả
của dân nghèo, không từ muối và nước mắm. Như trong châu Âu thời
Thế Chiến II, bọn Ma Rốc là những người khách it được chào đón nhất
mà một quận lỵ có thể chịu đựng.
Trong khi đó Việt Minh có thể tàn ác có tiếng, nhưng cũng nổi danh
lương thiện. Các tác phẩm của nhà văn và thám hiểm Pháp sinh ra tại Úc
viết về chiến tranh Đông Dương của quốc gia mình thường được xem là
các tác phẩm kinh điển: chúng kể các tường thuật sống động, một số khá
đáng tin, và các phân tích sắc sảo về những khó khăn trong việc tiến
hành nỗ lực chống nổi dậy. Tuy vậy chúng thường nhìn quân đội Pháp
theo một quan điểm cơ bản là anh hùng, mà giữ thái độ câm lặng về
những trò dã man mà binh lính Pháp phạm phải, ắt hẳn Fall, một nhân
chứng đương thời, phải biết rõ.

Người Việt làm cho Pháp thể hiện tính nhạy cảm nhiều hơn một chút:
Người Mỹ Howard Simpson chứng kiến các lính nhảy dù hứng chí
phóng xe jeep bạt mạng xuống đường phố, hất tung và cán nát các mẹt
đựng ớt phơi khô. Sau khi xe vút qua, hai bà lão lom khom chịu khó
nhặt nhạnh những gì còn sót lại sau vụ phá phách. Đây chỉ là một sự cố
nhỏ nhoi trong một thảm kịch rộng lớn, vậy mà
Simpson cũng tự hỏi, làm sao điều ấy không tác động đến tâm trí của
các nạn nhân, hai bà lão buôn bán trên vệ đường?

Vào đầu năm 1948 một nỗ lực nửa vời được đưa ra nhằm thành lập một
mặt trận chính trị chống cộng dưới sự bảo trợ của Bảo Đại, vừa trở về từ
chốn lưu vong không lâu sau đó ở tuổi 34. Nhưng vị hoàng đế, lười nhác
và hư hỏng, sớm sa đà vào việc làm tiền với sự cộng tác của các chinh trị
gia Pháp. Xa lạ với uy quyền đạo lý lẫn chính trị, mối quan tâm duy nhất
của ông là gái gú, săn bắn và du thuyền. Vì vậy người Pháp quyết tâm
giải quyết khó khăn bằng các biện pháp quân sự, và cuối cùng triển khai
ở Đông Dương 62 tiểu đoàn bộ binh bao gồm 13 tiểu đoàn Bắc Phi, 3
tiểu đoàn nhảy dù, và 6 tiểu đoàn Lê Dương Viễn Chinh. Thêm vào đó
là vài trăm ngàn dân quân không mấy đoàn kết, bảo vệ thôn ấp và đường
xá.

Cho đến giai đoạn cuối cùng của cuộc chiến, người Pháp không hề thiếu
lính tình nguyện bản xứ, vốn cần tiền sinh nhai. Một số binh sĩ Việt Nam
trong quân đội Pháp thể hiện sự dũng cảm, thiện chiến, xứng đáng với
đãi ngộ. Tuy nhiên, đa số miễn cưỡng chiến đấu, thiếu sự quyết tâm
được mong đợi. Hơn nữa, các chỉ huy Pháp không bao giờ giải quyết
được vấn nạn kinh niên: làm sao tập trung sức mạnh siêu đẳng chống lại
các đội hình chủ lực của Giáp ở miền bắc, trong khi bảo vệ được cả ngàn
mục tiêu tiềm năng ở nơi khác. Người Pháp và các đồng minh của họ và
cả người cộng sản không ai có đủ sức mạnh thống trị toàn cõi Đông
Dương. Theo lời Christopher Goscha: Thay vào đó tất cả họ điều hành
các khu vực giống như một quần đảo, cạnh tranh nhau mà quyền làm
chủ và kiểm soát dân chúng và lãnh thổ có thể mở rộng hay thu nhỏ lại
tùy theo quân đội đổ vào hoặc rút đi và thế cân bằng quyền lực dịch
chuyển.’ Đối với một số sử gia dường như khá kỳ lạ việc người
Pháp, vốn mới đây phải chịu đựng ách chiếm đóng bạo tàn của Đức

Quốc Xã tại quê hương họ, lại không chịu nhìn nhận những hành động
dã man sẽ khiến dân bản xứ xa lánh. Vậy mà một số người Pháp rút ra
một thông điệp khác từ kinh nghiệm của mình: là sự hà khắc của Quốc
Xã đã tỏ ra có tác dụng, đã làm khiếp sợ đại đa số đồng bào họ mãi đến
giữa năm 1944.
Vào tháng 10 1949 cuộc chiến leo thang dữ dội. Trung Hoa, nước láng
giềng khổng lồ ở phía bắc của Việt Nam, dưới sự chỉ đạo của Mao Trạch
Đông, giành được chính quyền theo chủ nghĩa cộng sản, và để bành
trướng chủ nghĩa này, họ hậu thuẫn Việt Minh. Bất ngờ, Hồ và Giáp
bỗng nhận được lối vào bến bờ an toàn và kho vũ khí Mỹ tịch thu được
của quân đội Quốc Dân Đảng bại trận của Tưởng Giới Thạch. Các
trường huấn luyện của Việt Minh mọc lên bên kia biên giới Mao. Hàng
trăm cố vấn quân sự Trung Quốc đi theo binh sĩ Giáp. Tại mặt trận tây
bắc, quân Pháp chịu nhiều tiêu hao thảm hại. Họ đang ra sức giữ gìn xứ
sở bằng các lực lượng chủ yếu trấn giữ đường xá, chống lại một kẻ thù
của rừng rậm và núi non. Một vụ phục kích trên Quốc lộ 4, chạy ngoằn
ngoèo qua núi non ngay bên dưới biên giới Trung Quốc, làm tiêu hao
một đạo quân gồm 100 xe cơ giới, phân nửa số đó và hầu hết binh lính
trên xe đều bị làm cỏ. Người Pháp buộc phải buông bỏ nhiều vùng lãnh
thổ.
Một trong những câu chuyện đời thường ấn tượng vào thời kỳ đó liên
quan đến Lê Duẩn, người sau này kế vị Hồ Chí Minh. Sinh năm 1907
tại miền Trung, ông là nhà cách mạng cộng sản kiên trì một thập niên
trước khi Hồ trở về từ chốn lưu vong, bị ở tù hai lần. Ông bây giờ là bí
thư của Trung ương Cục Miền Nam, bộ phận điều hành phía nam của
Việt Minh. Trong khi các lãnh đạo khác có lều riêng, cận vệ và anh nuôi
riêng, Lê Duẩn chọn cách ngủ trên một chiếc tam bản neo sâu trong châu
thổ Cửu Long, tại đây ông làm việc với hai phụ tá.
Trong số các giao liên của ông có một cô gái học trường Tây xinh đẹp
tên Nguyễn Thụy Nga. Cô có người yêu là một cán bộ cách mạng khác,
nhưng Xứ ủy đã chấm dứt mối quan hệ vì anh chàng này đã có gia đình
ở nơi khác. Một hôm vào năm 1950 Lê Duẩn mời Nga đến ăn sáng với
mình. Cô hơi lo ngại vì tính khí sôi nổi của anh chàng có biệt danh ‘ông
200 bougies (nến)’ này. Cao gầy, quắt queo, áo quần rách bươm. Hút hết
điếu này đến điếu khác, ông dường như không nghĩ điều gì khác ngoài

cách mạng, và tuổi gấp đôi Nga. Tuy nhiên, chẳng bao lâu, ông báo tin
mình đã chọn Nga làm cô dâu. Cô phản đối rằng, chính ông, như người
yêu trước đây của mình, cũng đã có vợ con ở miền bắc. Lê Duẩn nhún
vai bảo rằng mình là nạn nhân của một cuộc hôn nhân sắp đặt, và đã 20
năm nay không biết tin gì về ‘vợ’ mình. Đám cưới họ được tổ chức tại
bộ chỉ huy Trung Ương Cục ở trong rừng với đồng chí thân cận của Lê
Duẩn là Lê Đức Thọ đóng vai người mai mối.
Chú thích: Theo một hồi ký thân cận, cuộc gặp đầu tiên của bà Bảy Vân
(tức Nga) và ông Ba Duẩn là vào năm 1948, lúc ông Ba Duẩn là Bí thư
Xứ uỷ Nam Kỳ, bà Bảy Vân là Tỉnh uỷ Viên – Đoàn trưởng phụ nữ cứu
quốc tỉnh Cần Thơ. Họ gặp nhau khi ông Ba Duẩn tham dự Hội nghị
Tỉnh uỷ Cần Thơ – Hội nghị mà bà Bảy Vân bị đưa ra kiểm điểm và bị
buộc chuyển công tác về Sài Gòn khi tổ chức phát giác ra chuyện bà đã
đem lòng yêu một người đàn ông có vợ suốt 9 năm trời – kể từ khi bà 14
tuổi.
Suốt hội nghị đó, ông Lê Duẩn im lặng.
Sáng hôm sau, khi bà Bảy Vân được Tỉnh uỷ giao nhiệm vụ lên kiểm tra
bữa sáng của đồng chí Bí thư Xứ uỷ xem có gì sai sót hay không, ông Lê
Duẩn mời bà cùng ăn sáng và hỏi bà nghĩ sao về cách xử lý của Tỉnh uỷ.
Bà trả lời: “Tổ chức phân công công tác mới, dù nguy hiểm và khó
khăn, nhưng em vui vẻ chấp nhận, không băn khoăn gì. Chi xin đừng
cấm em yêu người em đã yêu. Xa nhau thì được, nhưng yêu là do trái
tim em. Em không thể ép buộc trái tim mình”.
Một lần nữa, ông Lê Duẩn lại im lặng! Khi gặp bà Bảy Vân lần đầu tiên,
ông mặc chiếc quần thủng lỗ chỗ, áo rách cùi chỏ không có ai mạng, chỉ
nặng 47 ký, người cao gầy, quắt queo vì thiếu bàn tay chăm sóc của
người đàn bà.
Sau bữa ăn sáng với bà Bảy Vân, ông Ba Duẩn trở về cơ quan Xứ Ủy ở
Đồng Tháp, nói với ông Lê Đức Thọ:
– Nếu có cưới vợ, thì tôi thích lấy người tình nghĩa thủy chung như chị

Nga!

Sau này, khi ông Sáu Thọ có dịp xuống Cần Thơ công tác, ông Sáu Thọ
đã giúp ông Ba Duẩn ngỏ ý với bà Bảy Vân:
– Anh Ba muốn hỏi chị làm vợ. Chị hãy nghĩ kĩ và nên ưng anh ấy. Anh
ấy xa gia đình 20 năm nay, hầu như không có tin tức gì. Anh Ba trong

lớp lãnh đạo hiện nay là người rất thông minh, sáng suốt, được gọi là
ông “200 bougies” (200 ngọn nến). Nếu có người ở cạnh chăm sóc thì
anh sẽ trở thành “400 bougies”. Chị lấy anh ấy cũng là vì Đảng, vì cách
mạng.
Một năm sau kể từ lời đề nghị của ông Sáu Thọ, bà Bảy Vân chính thức
thành vợ ông Ba Duẩn.
(Theo Tô Lan Hương)
Cuộc sống mới của cặp vợ chồng ít khi ở yên một chỗ: không có nhiều
tư trang, cô dâu chỉ sở hữu hai bộ quần áo. Khi họ chuyển chỗ ở, mang
theo hết những gì họ có trong các chiếc tam bản, thường chính Nga phải
nhảy xuống nước bên cạnh cánh đàn ông để giúp đẩy xuồng qua những
chỗ cạn. Họ luôn ăn không đủ no và ít khi tìm được hơn một ít măng
rừng và rau cải để góp thêm vào khẩu phần lương thực đạm bạc. Suốt
những năm 1951-52 Nga làm việc hăng say với tư cách thư ký chính trị
cho Lê Duẩn, và hạ sinh một bé gái tên Vũ Anh. Chồng bà yêu bà, và có
lần làm bà ngạc nhiên bằng một cử chỉ đùa cợt hồn nhiên không e thẹn
khi bà đang bước về Văn phòng Trung ương Cục qua một vạt cỏ
voi. Thoáng thấy bà ông chạy tới, nắm chặt hai bàn tay bà và ôm bà
nhấc bổng và quay vòng trong tiếng cười vui vẻ. Đây gần như khoảnh
khắc độc nhất biểu lộ sự yếu đuối rất người mà người ta chợt bắt gặp
trong cuộc sống của con người sắt đá lạnh lùng sẽ đóng trong chiến
tranh Việt Nam một vai trò đứng thứ hai chỉ sau Hồ.
Từ 1951 trở đi, Việt Minh càng ngày càng nhấn mạnh tính ý thức hệ
trong bộ máy Trung ương tập quyền, mà những năm trước Hồ giảm nhẹ.
Trung Quốc không chỉ cung ứng huấn luyện quân sự, mà còn cố vấn
chính trị về cách thức hình thành một xã hội cộng sản, trong đó mệnh
lệnh chủ chốt là đàn áp bất đồng chính kiến: trong hai năm đầu trong chế
độ Mao Trạch Đông, ông giết ước chừng hai triệu người dân. Bây giờ,
trong nhiều vùng do Việt Minh kiểm soát, đài bị cấm nghe, để nông dân
không nắm được tin tức trừ các tin được Đảng phát ra. Hầu hết tri thức
và người trung lưu đi theo phong trào Việt Minh trở thành kẻ bên lề.
Bởi vì những mặt trận ác liệt nhất nằm ở miền bắc, dân chúng ở vùng đó
chịu đựng khổ đau từ cả hai bên. Nguyễn Công Luận lớn lên trong một
ngôi làng nhỏ gần Hà Nội, bất đắc dĩ phải nhìn nhận sự khống chế của
người Pháp. Kết quả là cha ông bị Việt Minh bắt, tra tấn, và cuối cùng

chết trong trại giam của họ. Vậy mà binh lính thực dân nhiều lần bắt giữ
ông và một vài lần ông tưởng mình sắp bị hành hình. Tuyên bố của nước
Pháp về vai trò của mình ở Đông Dương là một mission civilisatrice (sứ
mệnh khai sáng) bị thực tế chế giễu. Luân viết: ‘Việc chúng tôi khuất
phục trước quyền lực quân sự Pháp không bảo vệ được cho chúng tôi
khỏi nạn bị cướp bóc, hãm hiếp, tra tấn, hoặc sát hại. Mỗi binh nhì, dù là
người Pháp, Phi châu, hoặc Việt Nam gần như có thể làm bất cứ điều gì
y muốn đối với dân thường mà không sợ bị xét xử ở tòa án hoặc bị cấp
trên trừng trị. . . Một trung sĩ … có quyền hành một tể tướng thời Trung
cổ… Dân chúng một hai thưa gởi “Ngài”, như xưng với quan lớn.
Đặc quyền lộ liễu của bọn thực dân được Việt Minh khai thác như một
vũ khí tuyên truyền khi so sánh với cuộc sống kham khổ của họ. Trung
tướng Sir Gerald Templer, trùm an ninh của Anh trong thời kỳ Mã Lai
nổi dậy, nhận xét với sự hóm hỉnh khô khan: ‘Giờ thì bạn có thể thấy
cách mà người cộng sản hoạt động. Họ ít khi đi xem đua ngựa. Họ
thường không đi dự tiệc tối. Và họ không chơi gôn.’ Vì các lính quân
dịch Pháp không bắt buộc phải phục vụ tại Việt Nam, hầu hết hàng ngũ
của quân đội đều là lính đánh thuê – lính Bắc Phi, Tây Phi hoặc Việt
Nam. Phân nửa lính Lê Dương là người Đức. Tình trạng vô kỷ luật
được dung túng trong số binh lính ngoài giờ nhiệm vụ, với tình trạng
nhậu nhẹt lan tràn. Người nào bốc mùi đường caramen người ấy là tay
chơi thuốc phiện lâu năm, một dấu hiệu cũng chắc chắn như nước da
vàng và một vết ố dầu trên ngón tay trỏ trái. Khi Tướng Jean de Lattre
de Tassigny nắm quyền Tổng chỉ huy Quân đội Viễn Chinh kiêm cao ủy
thuộc địa vào tháng 12 1950, ông bắt đầu cưỡng bách quân dịch thanh
niên Việt Nam. ‘Việt Nam hóa’ trở thành một từ bẩn thỉu vào năm 1971,
nhưng người Pháp đã áp dụng nó sớm hơn 20 năm với thuật ngữ dành
cho chính sách của de Lattre – ‘jaunissment’ – ‘vàng hóa’ cuộc chiến,
hoặc ít nhất vàng hóa các xác chết. Không ai đánh giá cao lực lượng
Việt Nam mới này, một phần bởi vì chỉ cần hối lộ 50 ngàn đồng (?!) là
có thể thoát khỏi nghĩa vụ. Giáp giờ triển khai ở phía bắc Việt Nam sáu
sư đoàn với 60 ngàn quân, trang bị vũ khí nhẹ, mặc dù thiếu hụt lương
thực, quân phục, vũ trang thiết bị. Trong những năm đầu Việt Minh
không có áo chống thấm hoặc vật dụng bảo hộ thời tiết. Chỉ đến
năm 1952 mới được cấp tấm bạt ny lông mỏng, dường như thần kỳ đối

với các nông dân quê mùa. Theo lời một chiến sĩ cộng sản, ‘Chúng tôi
kinh ngạc làm sao người ta có thể chế tạo ra một loại giấy để nước mưa
chảy tuột ra hết.’
Quân Pháp tiếp tục gặt hái thắng lợi: pháo thuyền trong vùng châu thổ
sông Hồng bóp nghẹt các chuyến chở gạo cho các lực lượng cộng sản xã
hơn ở phía bắc. Vào ngày 25/5/1950, sau khi quân địch bắn phá một căn
cứ Pháp ở Đông Khê, cách biên giới Trung Quốc một vài dặm, quân tiếp
viện nhảy dù đánh đuổi kẻ tấn công cút chạy vào rừng. Dù vậy, lực
lượng đồn trú thực dân ở vùng núi xã phía bắc, chiếm giữ những vị trí
được kết nối bằng những ruy băng đường chạy dọc các thung lũng nhỏ
hẹp, vẫn còn dễ tổn thương, nhất là sau khi các đơn vị chính quy của
Giáp có được súng cối và pháo. Người Pháp khá hấp tấp khi vươn dài
các tua vòi yếu ớt – các lực lượng tương đối nhỏ – vào các ổ kiến lửa
nhun nhúc Việt Minh. Trong khi lực lượng thực dân bố trí nhiều binh sĩ
ở vùng quê hơn, ở khu tây-bắc Giáp đôi khi có thể áp đảo quân số địch.
Sáng sớm ngày 16/9, năm tiểu đoàn Việt Minh, được pháo binh yểm
trợ, một lần nữa tấn công căn cứ Pháp ở Đông Khê. Người Cộng sản bỏ
ra hàng tuần chuẩn bị và điều nghiên kế hoạch, một dấu ấn của mọi cuộc
hành quân quan trọng của họ. Vừa mới vào trận bộ chỉ huy Giáp phát
hoảng vì nhận được tin cấp báo rằng một trung đoàn đã đi lạc đường,
không đến được phòng tuyến xuất phát, và số thương vong khởi đầu rất
nặng nề. Nhưng Hồ Chí Minh, người đã đi bộ nhiều dặm đường để theo
dõi trận tấn công, khuyên mọi người bình tĩnh và kiên trì. Sau 52 giờ
giao tranh ác liệt, phe tấn công thắng thế: Đông Khê thất thủ vào lúc 10
giờ sáng ngày 18. Một sĩ quan và 32 lính Lê Dương tẩu thoát ngay trước
khi kết thúc trận đánh, ló mặt ra khỏi rừng để họp lại với lực lượng Pháp
sau cuộc lội bộ kinh khủng một tuần dài trong rừng rậm. Giáp giờ bước
vào một buổi đại tiệc ăn mừng các tổn thất của kẻ thù trong vùng biên
giới núi non phía bắc. Quân Pháp phải buộc lòng bỏ một căn cứ khác tại
Cao Bằng, cách Đông Khê 20 dặm về phía bắc. Vào ngày 3 tháng 10 chỉ
huy xấu mồm nhưng được binh sĩ yêu mến là Trung tá Pierre Charton
cầm đầu một đạo quân xe tải rút đi chở theo 2,600 binh sĩ chủ yếu là Ma
Rốc, 500 dân thường có cả nhân sự của nhà thổ thị trấn, cùng với pháo
binh và trang thiết bị nặng khóa đuôi. Charton đã phớt lờ mệnh lệnh hãy
bỏ lại quân trang quân dụng: nhưng ông quyết tâm rút quân trong phẩm

cách và danh dự, một thái độ ngoan cố phải trả giá hàng trăm sinh mạng.
Trong hẻm núi cách Cao Bằng 9 dặm về phía nam đoàn xe ngổn ngang
của ông bị cản trở bởi liên tiếp nhiều cây cầu bị đánh nổ tung và các trận
phục kích. Trong vòng 24 giờ cuộc rút quân bị chặn lại, giữa các lực
lượng địch đông đúc bắn rát từ vạt rừng dày đặc ở trên cao.
Tuy nhiên, tình thế hiểm nghèo của Charton chỉ thể hiện phân nửa câu
chuyện kinh hoàng. Một lực lượng thứ hai, có tên Lực lượng Tác chiến
Bayard và gồm 3,500 binh lính chủ yếu người Ma Rốc được củng cố
bằng một tiểu đoàn dù tinh nhuệ, được phái đến về hướng bắc để đón
đạo quân Cao Bằng và hộ tống họ rút về an toàn. Bayard rời Thất Khê
vào ngày 30 tháng 9, do Đại tá Marcel Le Page chỉ huy. Khi lực lượng
tiến đến gần Đông Khê nó cũng bị Việt Minh chặn lại, cày và nện đạo
quân bằng súng máy và súng cối. Sở chỉ huy ra lệnh cho Le Page chấp
nhận các biện pháp tuyệt vọng: đốt xe, bỏ lại pháo, lẫn vào rừng, đi vòng
qua đám Việt Minh để gặp Charton. Trải nghiệm tiếp sau đó quả là hãi
hùng. Theo sát chỉ thị gần như là loạn trí, Le Page dẫn quân ra khỏi
phòng tuyến Pháp, đi sâu mãi vào chốn hoang dã, để bắt tay với một lực
lượng khốn đốn khác.
Binh sĩ lội bộ bắt đầu rụng dần và biến mất, không bao giờ thấy trở về:
ai bị thương là coi như tận số. Mỗi lần lên xuống dốc đèo là cực hình
cho bộ binh vác nặng, lặn lội dưới những cơn mưa khiến cho yểm trợ
không lực cũng bó tay. Việt Minh cũng mệt phờ sau nhiều ngày truy
đuổi căng thẳng, nhưng họ hưởng được sự phấn khích không thế so sánh
được của thắng lợi: họ biết quân Pháp đang ở bước đường cùng. Giáp
ban hành mật lệnh 6 tháng 10 đầy hoan hỉ: ‘Kẻ thù đói và lạnh hơn các
bạn!’
Charton và Le Page gặp lại nhau ngày hôm sau, đạo quân của họ đều teo
tóp vì tổn thất, thiếu nước, lương thực, đạn dược. Rồi Việt Minh hạ thủ
lần nữa – 15 tiểu đoàn đồn hết hoả lực lên đầu kẻ thù đã rệu rã. Lính Ma
Rốc chạy tán loạn trong nỗi kinh hoàng. Các chỉ huy ra lệnh phân tán
theo đội hình nhỏ, một lệnh gần như theo nghĩa đen là ‘Sauve qui peut!’
(Hồn ai nấy giữ!) Charton bị trúng thương và bị bắt làm tù binh, phần
đông binh lính bỏ chạy đều bị tàn sát từng người một. Chỉ còn 600 người
về được các vị trí Pháp ở xa hơn về phía nam; khoảng 4,800 người được
liệt kê là chết hoặc mất tích, trong khi tổn thất vật chất thật khổng lồ:

450 xe tải, 8,000 súng trường, 950 súng máy, và 100 súng cối. Giáp ăn
mừng chiến thắng bằng một chầu say khướt với các cố vấn Trung
Quốc, sau này ông kể đó là lần đầu tiên trong đời ông.
Vào ngày 18 tháng 10 người Pháp lại bỏ một căn cứ phia bắc khác ở
Lạng Sơn, nơi kho quân nhu khổng lồ rơi vào tay cộng sản. Việt Minh
cũng trả giá cao cho các trận đánh này – ước tính có đến 9,000 thương
vong. Nhưng trong khi thế giới nhanh chóng phát hiện quy mô của thảm
họa Pháp, hiện giờ cũng như trong tương lai người cộng sản giấu nhẹm
tin tức có thể làm lu mờ vinh quang và làm thối chí những người hậu
thuẫn họ. Không phải mọi trận đánh đều đi theo một chiều: trong các
tháng đầu năm 1951 Giáp liên tiếp thảm bại trong các cuộc tấn kích quy
mô lớn. Tháng giêng khi Việt Minh tấn công một căn cứ cách Hà Nội 30
dặm về phía tây-bắc, không lực Pháp và đặc biệt bom napan giáng
những tốn thất nặng nề- 6,000 người chết, 8,000 bị thương. Bài học cho
nhà chỉ hủy cộng sản là ông còn phải chịu thảm bại nếu ông tung các lực
lượng lớn vào trong tầm bắn của không lực và hỏa lực Pháp.
Một tướng lĩnh Tây phương chịu liên tiếp những thảm bại như tướng
Giáp đã làm trong mùa xuân 1951, gây ra chết chóc quá lớn cho binh sĩ
mình, ắt sẽ đối mặt với một cơn bão chính trị và truyền thông, gần như
chắc chắn bị cách chức. Tuy nhiên, bộ chính trị Việt Minh không phải
chịu đối mặt với xăm xoi của công luận. Hồ Chí Minh, người trọng tài
duy nhất có thẩm quyền, vẫn một mực đặt lòng tin vào vị tướng của
mình. Giáp, như Thống chế Zhukov của Liên Xô trong Thế Chiến II,
chưa hề buộc phải chiết tính ‘các hoá đơn choáng váng của người đồ tể’
để trả giá cho các thắng lợi quân sự của mình. Điều này khiến cho ông
được lợi thế quan trọng hơn kẻ thù mà dân chúng của y có thể đọc hàng
ngày, trên các nhật báo ở mẫu quốc Pháp, tin tức về nỗi thống khổ của
binh sĩ ở Đông Dương.

2 Washington Trả Chi Phí

Có lẽ những dòng chữ nổi tiếng nhất trong cuốn tiểu thuyết của Graham
Greene lấy bối cảnh ở Sài Gòn trong cuối kỷ nguyên Pháp được vai
chính của ông Thomas Fowler, một nhà báo Anh cay độc phát biểu, nói
về Người Mỹ Trầm Lặng Alden Pyle: ‘Tôi chưa hề biết ai có những

động lực tốt hơn cho tất cả rắc rối mà hắn gây ra được bọc lớp sắt bất
khả xâm phạm bởi các thiện ý và sự dốt nát của hắn.’ Xu hướng quan
trọng nhất của lịch sử trong cuộc chiến là khi người Pháp lảo đảo trước
chi phí tăng vọt, họ quay sang người Mỹ nhờ trả tiền. Điều mà từ 1950
trở đi họ làm thế. Ở tận Washington xa xôi, những người hoạch
định chính sách càng ngày càng cảnh giác trước viễn ảnh là Đông Nam
Ấ có thể theo gương Trung Quốc, bị nhận chìm trong cơn lũ cộng sản.
Hơn nữa, Hoa Kỳ nhằm đến một đòn bẩy nhằm điều đình một nước
Pháp miễn cưỡng chua chát chấp nhận tái vũ trang nước Đức. Đô la,
không phải đồng quan Pháp chẳng bao lâu trả cho gần như mọi quả bom
và đạn trên chiến trường Việt Nam. Sự hào phóng của người Mỹ được
cổ xúy do mối đe dọa cộng sản đối với sự ổn định và các định chế dân
chủ của nhiều quốc gia, nhất là Hy Lạp, Ý, Pháp, Thỗ Nhĩ Kỳ. George
Kennan, người đứng đầu của ban hoạch định chính sách thuộc Bộ Ngoại
giao và tác giả của cuốn sách 1946 nổi tiếng Tin Điện Dài Từ
Moscow, đặc trưng tính quyết đoán Xô viết như một ‘dòng chảy’ luôn
tìm cách lấp đầy ‘mọi ngỏ ngách và khe hở có được trong lưu vực của
quyền lực thế giới’. Stalin và sau này Mao hậu thuẫn các phong trào
cách mạng bất cứ nơi đâu chúng dường như bền vững. Vào ngày
12/3/1947 tổng thống Mỹ tuyên bố trước Quốc hội điều được biết là học
thuyết Truman: ‘Ngay lúc này trong lịch sử thế giới gần như mọi quốc
gia phải chọn giữa các lối sống khác nhau. Sự lựa chọn đôi khi không
được tự do … Tôi tin tưởng rằng chính sách của Hoa Kỳ phải hậu
thuẫn các dân tộc tự do kháng cự lại các thiểu số có vũ trang hoặc các
sức ép từ bên ngoài tìm cách khuất phục họ.’
Vậy mà trong khi mối đe dọa của cộng sản quốc tế là có thực, và quyết
tâm của phương Tây kháng cự nó xứng đáng sự ngưỡng mộ lịch sử, nó
lại khiến cho Hoa Kỳ và đồng minh phạm phải một số bất công đau
buồn. Trong gần hai thế hệ Washington nhìn nhận chế độ phát xít bạo
ngược của Tướng Francisco Franco ở Tây Ban Nha, và cũng nâng đỡ
các chế độ độc tài ở Trung và Nam Mỹ mà công trạng duy nhất của họ là
tuyên bố chống cộng. Ở Nam Phi, Anh và Mỹ nuông chiều thiểu số da
trắng cai trị hàng thập niên sau khi khả năng không thể tự vệ được đã trở
nên rõ ràng. Và ở Đông Dương người Pháp thuyết phục nhà nước-
Croesus của phương Tây (Croesus một ông vua vô cùng giàu có thời cổ

đại, ám chỉ Mỹ: ND) rằng chính nghĩa của chủ nghĩa thực dân cũng là
chính nghĩa của chủ nghĩa chống cộng. Sau khi lực lượng Mao Trạch
Đông quét qua Trung Quốc, phe bảo thủ Mỹ khiếp đảm khi để mất quốc
gia Á châu ưa thích của mình yêu cầu có những biện pháp cứng rắn bảo
đảm hậu quả như thế sẽ không tái diễn ở nơi khác. Henry Luce, chủ tờ
báo Time-Life và là một người hậu thuẫn nhiệt tình phe Quốc Dân Đảng
Trung Hoa, ném sức nặng của đế chế truyền thông của mình ủng hộ
chính nghĩa chống cộng ở Việt Nam, một lòng hậu thuẫn trong suốt hai
thập kỷ.
Hiệp ước Trung-Xô vào tháng 2 1950 dường như tạo ra mối đe dọa thực
sự về một châu Á đỏ. Nhà bảo thủ Mỹ Michael Lind đã viết trong
nghiên cứu có tính xét lại về Việt Nam: ‘Vào chiều ngày 14/2/1950,
trong một phòng khánh tiết ở Điện Kremlin, ba người mà kế hoạch của
họ sẽ đưa Việt Nam vào nửa thế kỷ chiến tranh, sự bạo ngược và trì trệ
kinh tế, và xúi giục bất ổn chính trị tại Hoa Kỳ và châu Âu, đứng cạnh
nhau: Stalin, Mao Trạch Đông, và Hồ Chí Minh . . . Có một âm mưu
cộng sản quốc tế và Hồ Chí Minh là một thành viên vạch ra kế hoạch
cho nó.’ Cuộc xâm lăng vào tháng giêng của Kim Il-sung xuống Nam
Hàn làm phương Tây phát hoảng. Lực lượng Hoa Kỳ và đồng minh vội
vã đến bán đảo Triều Tiên nơi họ chiến đấu trong ba năm, giai đoạn sau
có chống lại quân Trung Cộng. Trải nghiệm Triều Tiên giải thích tại sao
người Mỹ dồn hết sức hậu thuẫn cho chủ nghĩa thực dân của Pháp ở
Đông Dương, mà không giảm bớt tính hấp tấp của chính sách. Tại bộ
Ngoại giao Dean Acheson và thư ký phụ tá Dean Rusk bị ám ảnh bởi ký
ức về các các thảm họa theo sau sự nhân nhượng của các nền dân chủ
đối với các nhà độc tài phát xít vào thập niên 1930. Hành pháp Dân chủ
đối mặt với sức ép tăng cao từ quốc hội muốn họ tỏ ra sắt thép đối với
‘trục Moscow-Bắc Kinh’. Thượng nghị sĩ William Fulbright sau này
nhận xét rằng cấp thiết phải xem xét các chính sách đương đại của Hoa
Kỳ trên bối cảnh của chủ nghĩa bành trướng Xô viết không thể chối cãi:
‘Ở đây chúng ta đang ở trong sự đối đầu chết người này với người Nga,
và chúng tôi cho rằng bổn phận chúng ta là ngăn chặn họ ở mọi nơi.’
Cuộc săn phù thủy kiểu McCarthyite (tức kiểu chụp mũ mọi đối thủ
chính trị, nhất là thuộc phe tả, là theo phe đỏ, hay cộng sản: ND) dành
cho các cảm tình viên cánh tả trong chính quyền Mỹ khiến các viên chức

công tác hải ngoại am hiểu nhất về châu Á bị sàng lọc khỏi Bộ Ngoại
giao, để lại đằng sau sự dốt nát đáng sợ, đặc biệt về Việt Nam. Tuy
nhiên, không phải mọi người ở Đáy Sương Mù (Tiếng lóng chỉ Bộ
Ngoại giao) đều muốn nhìn Mỹ đi theo nước Pháp thực dân.
Raymond Fosdick ở Bộ Ngoại giao ngay từ đầu năm 1950 như biết
trước đã thúc giục chống lại việc lặp lại sai lầm Trung Quốc của Mỹ, trở
thành ‘đồng minh với phản động’. Dù ảo tưởng còn sót lại của Paris là
gì, Fosdick viết, Đông Dương cũng sẽ sớm được độc lập. ‘Vì vậy, tại sao
chúng ta phải tự trói buộc mình vào đuôi một con diều tơi tả?’ Người
Pháp đang để thua cuộc chiến chủ yếu không phải vì họ thiếu súng đạn,
mà bởi vì họ không đưa ra cái gì mà bất cứ người Việt biết suy nghĩ nào
cũng muốn.
Trong năm tiếp theo một nghị sĩ trẻ từ Massachusetts đến thăm Saigon
và viết trong nhật ký du hành của mình: ‘Chúng ta càng ngày càng trở
thành những tên thực dân trong tâm trí dân chúng. Bởi vì ai cũng tưởng
rằng chúng ta điều khiển Liên Hiệp Quốc và bởi vì của cải chúng ta
được cho là vô tận, chúng ta sẽ tiêu đời nếu chúng ta không làm những
gì các quốc gia mới khao khát.’ Đây là sự sáng suốt của John F.
Kennedy, nhưng người Mỹ không trong tâm trạng chịu lắng nghe.
George Kennan khi về già than vãn cách mà sự hậu thuẫn của ông cho
việc kiềm chế Xô viết, và sau này Trung Quốc, bị hiểu lầm ở
Washington để biện minh việc sử dụng cho cứu cánh này gần như độc
quyền bằng các công cụ quân sự, trong khi các công cụ chính trị, văn
hoá, kinh tế và ngoại giao thường thích hợp hơn

Trong cơn hoảng loạn mùa đông Triều Tiên 1950, khi thắng lợi dứt
khoát cho các lực lượng Liên Hiệp Quốc là có khả năng, Washington tán
thành tăng viện trợ khủng cho Đông Dương. Sau đó, khi ý chí chiến đấu
của Pháp suy giảm, ý chí chiến đấu của Mỹ cứng rắn thêm: quân đội
thực dân ngày càng trở thành lực lượng uỷ nhiệm của Mỹ.
Truman và Acheson chẳng những không còn ép buộc Paris thỏa thuận
với Việt Minh, mà còn thúc giục họ không nên làm thế. Đây là lỗi lầm
lớn đầu tiên của Washington ở Đông Dương, từ đó việc hoạch định
chính sách của Mỹ không bao giờ phục hồi. Đóng góp viện trợ quân sự
lên như bóng bay đến 150 triệu đô, được giao mà gần như không kèm

điều kiện ràng buộc – người Pháp hãnh tiến từ chối không cung cấp cho
người chi trả cho mình các kế hoạch hành quân. Vào đầu năm 1951 mỗi
tháng họ nhận hơn 7,200 tấn trang thiết bị quân sự. Quân đội đế quốc
tiến hành chiến tranh đội mũ sắt Mỹ, sử dụng nhiều vũ khí Mỹ, lái xe
jeep Mỹ và xe tải, bay hầu hết máy bay Mỹ. Trong những hoàn cảnh như
thế, không gì ngạc nhiên khi binh lính Mỹ một thập niên sau đến Việt
Nam, đối với dân chúng họ chẳng khác nào con cái của bọn áp bức trước
đây.
Vào tháng 9 1951 đối với các quan sát viên khách quan thật rõ ràng là
người Pháp không có triển vọng thực tế nào giữ được Đông Dương. Vậy
mà sau khi lãnh đạo quân sự Tướng de Lattre de Tassigny
dàn dựng một sứ mệnh cá nhân đầy ấn tượng đến nước Mỹ, trong vòng
bốn tháng, Washington chở đến cho lực lượng ông 130,000 tấn trang bị,
bao gồm 53 triệu viên đạn, 8,000 xe tải và xe jeep, 650 xe chiến đấu,
200 máy bay, 14.000 súng máy và 3,500 máy truyền tin. Đây là đóng
góp quan trọng cuối cùng của de Lattre trước khi ông đột ngột rời khỏi
Đông Dương, và qua đời vì bệnh ung thư.
Vào cuối năm 1953, nền hành pháp của tổng thống mới thuộc đảng
Cộng Hòa là Eisenhower chi trả 80 phần trăm chiến phí, một tỷ đô la
mỗi năm. Người Anh, vẫn còn là đồng minh quan trọng và ngày càng
khéo léo rút quân khỏi đế quốc, phàn nàn thế này: họ tin rằng dù súng
đạn nhiều cỡ nào cũng không tránh được việc người Pháp bị đánh đuổi
khỏi Đông Dương. Chính quyền của
Winston Churchill báo động trước điều họ coi là một ám ảnh sai hướng
của Hoa Kỳ. Selwyn Lloyd, bộ trưởng Bộ Ngoại giao, viết vào tháng 8
1953: ‘Hiện giờ ở Hoa Kỳ có một xúc cảm về Trung Cộng và với một
mức độ kém hơn về Nga gần như là chứng cuồng trí.’ Việt Minh bị dán
nhãn, tất nhiên, là công cụ của các lực lượng sa tăng đang thi triển.

3 Nông Dân

Một thiểu số nhỏ người Việt đủ trình độ giáo dục để suy nghĩ vượt quá
thôn làng của mình chứng kiến sự tàn bạo của Việt Minh, và chào đón
lời hứa hẹn đến cứu giúp của ngoại bang. Một nam sinh ở ngoài bắc viết:
‘Từ các quyển sách tôi đọc, tôi tin rằng người Mỹ ít ra cũng tốt hơn

người Pháp… Tôi tin chắc rằng như bất cứ xứ nào khác thì người Mỹ ắt
phải có quyền lợi nào đó khi giúp đỡ các đồng minh, nhưng… người Mỹ
dường như hào phóng trong việc giúp đỡ các nước nghèo.’ Tuy nhiên,
cũng dễ hiểu tại sao có nhiều người Việt Nam thừa nhận một quan điểm
trái ngược, và hậu thuẫn phong trào cách mạng vốn hứa hẹn sẽ dỡ bỏ chế
độ thực dân áp bức, cùng như tấn công vào giai cấp địa chủ người Pháp
lẫn người bản xứ đã bóc lột giới nông dân nhiều thế hệ nay. Nông thôn
nghèo khổ đến nỗi một người có bằng tiểu học cũng được kính trọng
như một người ‘trí thức’. Một số vợ chồng chỉ có mỗi một bộ quần
áo, mà vợ và chồng phải thay phiên nhau mặc. Lao động hàng ngày của
nông dân gồm tát nước vào ruộng lúa, thường vào ban đêm có trăng cho
mát vì ban ngày rất nóng, những khi cao hứng họ vừa tát vừa hát hò. Lúa
phải được bón phân một lần, làm cỏ ba hoặc bốn lần, cắt hai lần. Vụ
xuân đạt đến ba phần tư thu hoach vì có mưa nhiều hơn. Dân làng nghèo
có thể thêm thu nhập bằng cách vào rừng lấy củi đốt gánh ra chợ bán,
hoặc đi làm mướn trong khi chờ đợi thu hoạch. Một số ra thị trấn kiếm
việc làm, phần lớn là lao động tay chân, làm bữa nào, xào bữa nấy.
Gia đình và làng thôn là định chế xã hội thống trị. Trước mỗi túp lều
tranh thường có một bàn thờ bằng gỗ, chứa lễ vật cúng gồm trái cây
hoặc bánh kẹo: gia đình càng giàu thì bàn thờ càng hoành tráng. Ít cha
mẹ nào cảm thấy lúng túng về tập quán đứa con nào giỏi giang hơn và
hiếu thảo hơn thì được thương yêu nhiều hơn. Lời của người cha là
mệnh lệnh, mặc dù có thể nói rằng các bà mẹ mới là người nắm quyền
thật sự. Dân gian có câu: ‘Con không cha ăn cơm với cá, con không mẹ
liếm lá mà ăn.’ Vượt ra gia đình, người nông dân nói, ‘Phép vua thua lệ
làng.’ Phần đông cộng đồng Thiên Chúa giáo có một tháp chuông, còn
cộng đồng Phật giáo có một ngôi chùa và một cây bồ đề. Cũng có một
nơi để họp hành gọi là đình, và có thể có một tiệm thợ mộc và tiệm hớt

tóc.

Làng được chia nhỏ thành ấp trong đó nhiều sinh hoạt và lao động được
chia sẻ. Vào năm mới dân chúng cùng làm bánh chưng hấp quá đêm. Họ
tụ tập để chúc cha mẹ sống lâu, sức khỏe và tài lộc dồi dào. Như hầu hết
người Á châu, người Việt cũng tin rằng thêm tuổi là thêm sáng suốt. Sau
khi heo đã mổ các đứa trẻ thường xin bọng đái heo để làm bong bóng đồ
chơi. Chúng chơi trò trốn tìm, bắn nhau bằng ống thụt bằng tre, hoặc trò


Click to View FlipBook Version