The words you are searching are inside this book. To get more targeted content, please make full-text search by clicking here.

VIỆT NAM THIÊN SỬ BI HÙNG 1945-1975
Max Hastings
Trần Quang Nghĩa dịch

Discover the best professional documents and content resources in AnyFlip Document Base.
Search
Published by fireant26, 2022-11-04 00:35:46

VIỆT NAM THIÊN SỬ BI HÙNG 1945-1975 Max Hastings Trần Quang Nghĩa dịch

VIỆT NAM THIÊN SỬ BI HÙNG 1945-1975
Max Hastings
Trần Quang Nghĩa dịch

Những thành viên khác của hành pháp, tuy nhiên – ngay cả những người
mà lòng tin vào cuộc chiến vẫn không lay chuyển- giờ nghi ngờ rằng
tính thiết thực về mặt quân sự của việc đánh bom Hà Nội biện minh cho
chi phí chính trị cao của nó. McNamara lại xuất hiện như một người hoài
nghi tái sinh, cũng như phần đông thành viên của một nhóm thảo luận có
ảnh hưởng gặp nhau mỗi chiều thứ năm tại văn phòng thứ trưởng ngoại
giao Nicholas Katzenbach. Họ bao gồm Cyrus Vance, William Bundy,
đôi khi Rusk và Richard Helms của CIA, thỉnh thoảng có chính bộ
trưởng quốc phòng. Họ tự gọi mình là ‘Ủy ban Không ‘, bởi vì sự tồn
tại của họ bị phủ nhận. Họ chủ trương tập trung không lực vào các
tuyến đường tiếp tế trực tiếp vào Miền Nam.
Một số bày tỏ sự lo lắng trước động thái của Nhà Trắng khi chuyển các
đề xuất hoà bình: qua Liên Hiệp Quốc; qua thủ tướng Anh Harold
Wilson, người ve vãn với Nga vào tháng 2 1967; sử dụng những người
trí thức Pháp ngưỡng mộ Hồ Chí Minh và chức vụ của giáo sư Harvard
Henry Kissinger. Johnson ồn ào công khai về lập trường thỏa thuận với
Hà Nội, và thỉnh thoảng đưa ra các đề xuất ấn tượng của riêng
ông. Nhưng nước cờ hay lặp lại này luôn đi kèm kèm với việc dội bom
tăng cường cho thấy ông rắp tâm đạt được một lợi thế quân sự trước khi
nghiêm chỉnh ngồi vào bàn đàm phán. Vì Hà Nội cũng tính toán như
vậy, không có ‘sáng kiến hoà bình’ nào có nhiều triển vọng thành công.

Giới quân sự Hoa Kỳ chống đối chủ nghĩa chủ bại đang bao vây bản
thân một số chính trị gia, và nhất là McNamara. Họ bực bội về việc họ
rón rén, họ đi tới từng bước: và giờ đây họ đang đứng bên trong việc
này, và muốn một kết quả. Tại mũi nhọn cuộc chiến, các phi công đặc
biệt bất mãn việc tấn công có hạn chế vào các phần tử lực lượng phòng
không cộng sản. Đại tá Jack Broughton là một sĩ quan tốt nghiệp West
Point, gốc gác New York mà từ 1945 đã bay mọi loại chiến đấu
cơ. Ông phục vụ hai thời hạn chiến đấu ở Triều Tiên, tại đó nhận được
nhiều huy chương, cao quý nhất là Huy chương Thập tự Không Lực, bay
102 sứ mạng F-105 trên bầu trời Miền Bắc. Vào mùa hè 1967 Broughton
đã trở nên bực tức trước cách các xếp của ông điều hành chiến tranh trên
không: “Tôi đang tìm kiếm một cuộc chiến đấu,” ông viết trong một hồi

ký sau này.

Ông tìm được điều đó vào ngày 2 tháng 6, khi đang phục vụ với chức
quyền chỉ huy cánh. Hai trong số các phi công của ông trở lại từ một sứ
mạng trong đó một người báo cáo là anh ta có thể đã bắn một tàu Nga
neo đậu ở cảng Hải Phòng. Ngày hôm sau, Moscow đưa ra lời cáo buộc
chính thức về vụ bắn vào tàu buôn Turkestan của mình, giết chết một
thủy thủ.
Đô đốc Sharp, Tư lệnh Trưởng Thái Bình Dương, lúc đầu trấn an với
Washington rằng cáo buộc của Xô viết là không có căn cứ. Sau đó
Không lực Hoa Kỳ tiến hành một cuộc thẩm tra, trong đó Broughton can
thiệp: bản thân ông tiêu hủy các phim tự hành quay cảnh bắn pháo, để
giải cứu họ khỏi bị kết tội. Việc này khiến ông bị kết tội tại tòa án binh
và phạt 40 đô. Mặc dù sau này được thư ký không lực lật ngược, sự kiện
này cũng chính thức kết thúc sự nghiệp của người New York gan lỳ, ông
vẫn còn căm giận cho đến cuối đời, một chiến binh chuyên nghiệp được
đúc theo một khuôn phép quen thuộc: đối mặt với cái oái oăm là quần
nhau với kẻ thù của đất nước mình, nhưng lại không thể ép mình tuân
theo một cuộc chiến có hạn chế.
Trong khi đó, vào ngày 29 tháng sáu 1967 các chiến đấu cơ hải quân lại
bắn phá một tàu Xô viết khác, khiến hành pháp phải áp đặt Quy tắc Giao
tranh gắt gao hơn quanh Hải Phòng.
Và còn một phe cánh trong giới quân sự, trong đó bao gồm Đô đốc
Sharp và Tướng Wheeler, tiếp tục ép buộc phải tăng cường không
chiến. Thượng nghị sĩ Richard Russell, trong hàng thập niên là người
hậu thuẫn cho sự nghiệp tổng thống, lập luận rằng Hoa Kỳ nên hoặc
khởi phát cuộc chiến để đạt thắng lợi, hoặc từ bỏ Việt Nam. Vào cuối
tháng 81967 tiểu ủy ban Stennis của Thượng viện cho ấn hành một báo
cáo yêu cầu leo thang không kích, để ‘chấp nhận mọi rủi ro cần phải
chấp nhận, và vận dụng sức mạnh cần thiết để kết thúc công việc ‘. Các
buổi điều trần Stennis phơi bày hố sâu chia rẽ đã mở ra giữa
McNamara, tổng thống, và các Tham mưu trưởng Liên quân. Trở về
trước 18 tháng, bộ trưởng quốc phòng đã bảo với các thông tín viên tại
một buổi trình bày riêng tư rằng ‘không có số lượng bom bỏ nào có thể
chấm dứt chiến tranh.’ Vào cuối năm 1967 các bạn bè của ông thắc mắc
tại sao ông không nộp đơn từ chức theo đúng nguyên tắc, thay vì đợi
phán quyết đến muộn vào tháng 11, khi ông phát hiện ra rằng mình sẽ

chuyển về giữ chức chủ tịch Ngân hàng Thế giới, một bổ nhiệm do
chính tổng thống chỉ định mà không tham vấn với người được bổ
nhiệm.
Trong khi đó các diều hâu không quân, mà dẫn đầu là Rostow, tiếp tục
đang lên ngôi: Johnson cấp quyền cho một danh sách còn dài hơn các
mục tiêu ở Miền Bắc. Vào sáng ngày 11 tháng 8 1967 lần đầu tiên các
oanh tạc cơ đánh sập cầu Doumer của Hà Nội. Các cuộc tấn công mới
dữ dội nổ ra trên sân bãi tàu hỏa Yên Viên, nhưng gánh chịu tổn thất
lớn: 5 chiếc F-4 bị bắn hạ bởi hoả lực phòng không và MiG, thình lình
hùng mạnh trở lại, lần đầu tiên tấn công từ phía sau. Các phi công luôn
được cảnh báo ‘kiểm tra sáu’ – trông chừng kẻ thù hướng 6 giờ phía
sau – nhưng họ quá quen thuộc với tình huống thấy MiG phía trước đến
nỗi chiến thuật mới bất ngờ gây tổn thất. Robin Olds, dẫn đầu phi đội
tấn công trong đó có 2 phi công chiếc F-4 bị bắn hạ, sau này cay đắng
viết: ‘Tôi nghe họ thét lên. Tôi quay lại, và tất cả gì mình nhìn thấy là
hai vật thể bốc cháy.’
‘Sáng kiến hoà bình Kissinger’ là một tờ giấy môi giới vào mùa thu
1967 giữa Hà Nội và Washington, sử dụng người Pháp làm trung gian,
mà vị giáo sư Harvard xoay sở theo khả năng riêng của mình, lợi dụng
mối quen biết những nhân vật có ảnh hưởng trong chính quyền. Sau khi
nó thất bại, vào giữa tháng 10 Johnson tán thành các cuộc đánh bom trực
tiếp đầu tiên vào căn cứ MiG ở Phúc Yên. Tuy vậy tổn thất của Mỹ vẫn
không hề giảm. Trong một cuộc đánh phá ngày 17 tháng 11 vào ổ phòng
không bên ngoài Hà Nội, chiếc F-105 của Thiếu tá Charles Cappelli bị
một tên lửa hủy diệt. Một đồng đội sau đó đã buồn rầu nhớ lại ‘Cappy’
đã vi phạm một điều cấm kị mà mọi phi công đều tin tưởng, là buột
miệng nói trước khi cất cánh mình sẽ giải quyết công việc giấy tờ nào đó
khi trở về. Bạn anh nói, ‘Không được nói trở về. Đó là điều cấm kỵ.’
Trong giai đoạn cuối cùng của Sấm Rền, bắt đầu vào tháng 11 1967, các
nhân viên phi hành Mỹ đối mặt với thời tiết tệ hại nhất mà họ từng
gặp. Vào tháng 12 các phi công địch, thể hiện tài năng đã vượt trội,
buộc các phi cơ tấn công phải vứt bỏ hơn 10 phần trăm tải trọng bom
trước khi đến mục tiêu. Vào ngày 17, nhân viên phi hành báo cáo trông
thấy 20 MiG trên bầu trời cùng một lúc; hai ngày sau là 14 chiếc. Vào
ngày 2 tháng 12 năm máy bay của không lực và ba của hải quân bị bắn

hạ, tất cả trừ 3 chiếc đều bị trúng tên lửa SAM. Bỏ bom bằng ra đa vẫn
không chính xác một cách mãn tính. Trong năm 1968, 100,000 lượt xuất
kích đánh phá Miền Bắc, nhưng sau khi Lyndon Johnson ra chỉ thị vào
tháng 3 kết thúc mọi không kích phía bắc Vĩ tuyến 19, những cuộc
không kích này xảy ra trong một vùng giới hạn nơi quân cộng sản có thể
tập trung 2,600 súng phòng không.
Chiến dịch trên không đôi khi dường như bị nguyền rủa: những nỗ lực
ngăn cản lưu thông trên sông gây ra bức xúc khi mìn từ tính thả xuống
từ máy bay nổ quá xa các con tàu chạy qua. Vào tháng 3 1968 các F-111
bước vào trận đánh mang theo hy vọng cao, nhưng hỏng hóc kỹ thuật
gây ra một loạt máy bay rơi, và trong các cuộc xuất kích ban đầu phi cơ
hoạt động nghèo nàn. Vào ngày 11 tháng 3 quân cộng sản tiến hành một
chiến dịch biệt kích thành công ngoạn mục: các đặc công Miền Bắc của
Tiểu đoàn 41 tràn đánh Trạm 85 của Không Lực Hoa Kỳ trên đỉnh núi
Pha Thi ở Lào, trung tâm điều khiển nhiều sứ mạng Sấm Rền. 12 trong
số 18 nhân viên Mỹ bị giết chết, và Không lực buộc phải ném bom các
kho thiết bị bị địch chiếm, để tiêu diệt các máy móc nhạy cảm. Trong
thời gian còn lại của nhiệm kỳ Johnson công việc chính của phi hành
đoàn là hạn chế việc quân xa cộng sản vận chuyển về phía nam.
Chính sách đánh bom thăm dò mà Nhà Trắng khởi sự vào tháng 2 1965
chỉ có thể thu được thắng lợi đối với một kẻ địch yếu kém ý chí, trong
khi bộ chính trị Hà Nội thì không thế; hoặc đối với một dân tộc được
quyền chọn lựa, mà nhân dân Miền Bắc thì bị khước từ. Phần lớn những
gì đi sai lệch trong chiến dịch 1965-68 phản ánh sự thiếu khả năng của
không lực không thể vượt qua được một xã hội nguyên sơ nhưng ngược
lại được phòng thủ vững mạnh, qua các kiểu dạng thời tiết thất
thường và bất lợi, sử dụng các kỹ thuật nhắm không hoàn hảo. Lyndon
đơn giản chỉ là một trong số hàng dài các lãnh đạo quốc gia trong suốt
thế kỷ vừa qua phát hiện ra tính hạn chế của oanh tạc.

2 ‘Bắc Tiến’
Khi chiến dịch không kích bắt đầu, tinh thần chiến đấu lên cao trong các
phi công Không lực Hoa Kỳ, Hải quân và Quân đoàn TQLC. Chỉ một số
ít chùn bước khi bà xã gửi đến tối hậu thư, “Em hoặc cuộc chiến: anh
chọn đi!” Hầu hết người trẻ – và một số người kỳ cựu xấp xỉ 40 – đã

dâng trọn sự nghiệp mình cho việc huấn luyện chiến đấu, rất phấn chấn
được giao cho cơ hội chiến đấu thực sự, để kiểm tra mình và các máy
bay tuyệt vời của mình ngay vòng ngoài cùng của nỗi hiểm nguy, không
cần số tiền 2.16 đô hào phóng mà một nhà nước tri ân đã thưởng cho họ
mỗi ngày có đánh nhau. Sau một đợt chiến dịch, các chàng trai Không
lực lại hướng về Bangkok, trong khi tàu sân bay ngoài khơi lại quay mũi
về Philippin để nghỉ ngơi và lấy lại sức. Trên bờ trong câu lạc bộ sĩ quan
Cubi Point tại Vịnh Subic lại mở ra tiệc tùng cuồng nhiệt: nào karaoke,
nào giành thức ăn, đánh nhau, rồi đánh chén, chơi gôn, bơi lội, lặn biển.
Hưởng vui thú năm ba ngày rồi trở về vượt qua Biển Nam Hải, hướng về
kẻ thù.
Vì các mục đích không kích Không lực, hải quân và MACV được phân
vùng trách nhiệm cho các khu vực khác nhau ở Miền Bắc. Các phi công
tàu sân bay tấn công ‘Các Gói Tuyến Đường 2, 3, 4 và 6B’, mở rộng từ
Vĩ tuyến 18 phía bắc đến Trung Quốc; không lực sở hữu Gói Tuyến
Đường 5 và 6A, bao gồm Hà Nội và đường tàu hỏa Bắc-Tây; MACV
mượn Gói Tuyến Đường 1 của Không lực Hoa Kỳ. Phần đông phi cơ
chiến thuật Không lực Hoa Kỳ, cùng với một số B-52, được bố trí tại các
căn cứ ở Thái Lan, nơi vào năm 1966 Hoa Kỳ có 34,000 nhân viên phục
vụ, hơn hai phần ba mặc đồng phục màu xanh không lực, và hầu hết đều
phục vụ chiến tranh, mặc dù cũng chơi bời chút ít: các trạm y tế tại mỗi
căn cứ không quân điều trị cho một ngàn ca bệnh giang mai mỗi năm.
Chính quyền Bangkok, băn khoăn về tính phức tạp của hoạt động ném
bom, lúc đầu khăng khăng ra điều kiện phi cơ cất cánh từ Thái Lan
không được tấn công các mục tiêu trên lãnh thổ của Sài Gòn, và các máy
bay hướng ra bắc phải làm như đã cất cánh từ Miền Nam, một việc hư
cấu chỉ được bãi bỏ vào năm 1967.
Không có phi cơ thời Chiến tranh Lạnh nào còn dùng được thích hợp tốt
để tấn công mặt đất. Loại F-105 ‘Thud’ kềnh càng của Không Lực Hoa
Kỳ có thể giáng đòn, nhưng thiếu tính cơ động và đòi hỏi phải bảo trì
tốn kém: hơn 300 chiếc F-105 đã rút cục bị tiêu diệt. Các Phantom F-4,
được thiết kế để đánh chặn, đều tuyệt vời mọi thứ trừ việc hoạt động ở
tầm thấp trên bầu trời Miền Bắc nơi các khói đen dày phun ra từ các
động cơ làm lộ vị trí của chúng cho các MiG cách xa hàng dặm, và rất
dễ tổn thương đối với hỏa lực mặt đất. Khi các chiến dịch chống Miền

Bắc bắt đầu, Không lực Hoa Kỳ sở hữu 600 F-105 và khoảng cùng số
đó các Phantom. Nhưng trong khi mỗi năm 200 Phantom còn lăn ra
khỏi đường dây sản xuất thì loại Thud không còn được chế tạo nữa. Do
đó các Thud được giao các sứ mạng nguy hiểm nhất, một phần bởi vì
mỗi chiếc rơi chỉ mất một phi công, trong khi các F-4 mang phi đội 2
người – thế nên có lời nói đùa chua chát là phải cần người ngồi ghế để
đọc Quy Tắc Giao Tranh trên lãnh thổ địch.

Phi cơ tốt nhất của hải quân là A-4 Skyhawk, nhỏ hơn Phantom
nhiều. Do Ed Heinemann thiết kế, nó đơn giản, gồ ghề và dễ bảo trì –
thích hợp cho các hoạt động tác chiến tăng cường. Nhiều phi đội A-4
bảo toàn 100 phần trăm tỷ lệ hoạt động. Skyhawk rốt cục bay nhiều sứ
mạng tác chiến hơn bất kỳ phi cơ đánh nhau nào khác của hải quân. Các
chiếc F-8 Crusader cũ hơn có cấu hình kỳ lạ, với phi công ngồi trước
bánh xe đáp dưới mũi phi cơ đến 6 bộ. Nó là máy bay đánh chặn tốt với
vũ khí chính là súng, nhưng trở ngại là ra đa tồi và tỷ lệ tai nạn cao.
Douglas Skyraiders cánh quạt, cũ, lực lưỡng, bay nhiều sứ mạng buổi
đầu – chẳng hạn ghi được 2 trong số 10 MiG bị hải quân bắn rơi đầu
tiên – nhưng vì chậm chạp nó được chuyển về làm nhiệm vụ ECM và
giải cứu săn tin.
Các phi công nói: ‘Tốc độ là sinh mạng.’ Phi cơ bay đến Miền Bắc được
chỉ đạo từ Trạm 85 ở Lào, hoặc từ một trung tâm kiểm soát trên Núi Khỉ
– mật danh là ‘Motel’ – tọa lạc tại Đà Nẵng, giữa đường từ Hà Nội và
Sài Gòn; Udorn ở Thái Lan cung cấp phương án dự phòng. Tuy
nhiên, trong tất cả địa điểm này không địa điểm nào có thể nhìn thấy
những gì xảy ra bên trên sông Hồng với đủ độ chính xác để hướng dẫn
đánh hiệu quả. Các phi công tấn công thường nhờ vào sức mình, hoặc
đúng hơn lệ thuộc vào các phi cơ dẫn đạo trên không, một đại tá hay chỉ
huy tùy theo tình hình. Thời tiết là một yếu tố quan trọng đối với hiệu
quả tác chiến, thường suy giảm mạnh trong các tháng có gió mùa, và tổn
thất, tăng cao ngất trong cùng mùa đó. Hết lần này đến lần khác, các phí
công trải qua những nỗi khủng khiếp khi tiến sâu vào lãnh thổ địch, chỉ
thấy mình phải buộc đổi hướng hoặc hủy nhiệm vụ bằng cách vứt bỏ
bom, giữa các tầng mây thấp tại mục tiêu.

Hải quân tấn công Miền Bắc từ các tàu sân bay rẽ sóng đến chỗ này chỗ
kia trên ‘Ga Yankee’ tại Vịnh Bắc Việt trong phạm vi cách bờ biển từ 60
đến 150 dặm. Hoa Kỳ sở hữu tàu sân bay nhiều hơn tất cả các nước khác
cộng lại – 16 tấn công và 10 biến thể chống tàu ngầm. Tàu sân bay
75,000 tấn lớp Forrestal an toàn hơn nhiều so với các Essex cũ hơn: kích
cỡ của chúng duy trì tính ổn định ngay khi biển động. Cả hai đều chở
khoảng 70 phi cơ – mỗi chiếc hai phi đoàn chiến đấu cơ, hai hoặc ba đơn
vị tấn công mặt đất, cùng với các phân đội cảnh báo sớm, trinh sát quang
học và trực thăng. Vào tháng 6 1965 tàu sân bay Independence đến, với
một lực lượng phi cơ bổ sung gồm các A-6A Intruder, nhiều người nói
giống cái chảo chiên hoặc con nòng nọc, trang bị DIANE – Thiết bị Tấn
công và Điều hướng Tích hợp Kỹ thuật số – hoạt động được dưới mọi
thời tiết. Vào tháng 11 tàu sân bay Kittyhawk chở đến một phi đội A-6A
thứ hai.
Với hết công suất, các tàu sân bay có thể tung một sức chiến đấu áp đảo:
một ngày tháng 12, Enterprise xử lý 165 lượt xuất kích. Trọn một năm
ròng đầu tiên của chiến dịch hải quân tiến hành 57,000 lượt xuất kích,
mất hơn 100 máy bay và 80 phi hành viên. Người cộng sản khôn ngoan
tránh xa việc tiến hành không kích vào các tàu chiến Mỹ, chắc chắn sẽ
nếm mùi tổn thất nặng nề dưới tay của CAP, đội tuần tra không chiến.
Trên mỗi tàu sân bay, 5,000 thủy thủ và kỹ thuật viên duy trì hoạt động
của hơn 100 phi công.
Trong khi với những nhiệm vụ hộ tống và không kích của tàu hải quân
ven biển các nhân viên trên tàu làm việc theo một thông lệ thoải mái và
gần như không gặp rủi ro, thì các phi công tấn công chịu một áp lực và
hiểm nguy rất lớn, thậm chí trước khi kẻ địch đến nghênh chiến. Các số
đo mức độ stress cho thấy các phi công căng thẳng khi đáp xuống tàu
sân bay ban đêm nhiều hơn cả khi bay qua bầu trời Hà Nội. Các tàu đánh
cá giám sát của Nga, muốn kiếm chuyện, thường băng ngang đầu tàu sân
bay trong khi tàu tiến hành tấn công. Các MiG của Trung Quốc từ đảo
Hải Nam bay vù vù ra đề phòng.
Trên sàn tàu và nhà kho lúc này cũng nhộn nhịp tất bật. Nhân viên được
nhận diện nhờ các màu sắc y phục khác nhau: vàng cho các dẫn đạo viên
máy bay, xanh lam cho nhân viên thao tác thang nâng và tay nắm, xanh

lá cây cho nhân viên phóng máy bay và hãm máy bay, nâu cho phi công

trưởng, đỏ cho phi hành viên ném bom và xạ thủ. Đó là một cuộc đấu
tranh thường xuyên để tạo không gian cho máy bay bổ sung đầy đủ:
phòng điều hành có một biểu đồ cho thấy vị trí của mọi phi cơ đang đỗ,
đổi chỗ theo lệnh qua điện thoại với nhân viên trực. Các tài xế xe kéo,
phần đông chỉ 18, 19 tuổi, gánh một trách nhiệm nặng nề. Các phi công
vào trận cũng vậy, buộc phải ngồi trong hai hoặc ba giờ trên ghế dưới
cái nắng thiêu đốt, sẵn sàng lăn bánh bất cứ lúc nào tới máy phóng bốc

khói.

Tai nạn, một số rất trầm trọng, không thể tách rời khỏi các hoạt động tàu
sân bay. Vào tháng 10 1966, sau khi hai phi hành viên đùa nghịch đốt
pháo sáng thả dù bên dưới boong tàu, tàu sân bay Oriskany chịu một
trận hỏa hoạn làm chết 44 người Tàu sân bay. Forrestal tiến hành 150
lượt xuất kích trong bốn ngày không mất một phi cơ, rồi một chiếc F-4
đỗ ở cuối sàn bay làm rớt một tên lửa Zuni vào khu đậu máy bay, gây
ra hậu quả nghiêm trọng: một thùng xăng của Phantom bắt lửa, và gió
thổi làm bùng ngọn lửa. Trong vòng vài phút pháo đạn nổ tung, và khu
sinh hoạt bên dưới ngọn lửa trở thành cái bẫy chết người. Các nhân viên
hộ tống khép chặt quanh ngọn lửa và phun nước, nhưng các ngọn lửa
phụ cháy bên dưới thêm 12 tiếng đồng hồ nữa. Một quả bom bị ngọn
lửa liếm đã phát nổ khi một hạ sĩ quan tiến đến gần, giết chết anh và vài
người khác. Điều này không ngăn cản những hành động dũng cảm tương
tự: một trung uý trẻ vóc người mảnh mai lăn một quả bom khác sang
một bên. Khi ngọn lửa cuối cùng bị dập tắt 134 người đã chết, 21 phi cơ
bị phá hủy và 53 chiếc khác bị hư hại. Chi phí tu sửa tàu Forrestal lên tới
72 triệu đô.
Các tàu sân bay thường tiến hành ba trận công kích mỗi ngày, cách nhau
khoảng một giờ. Các tham mưu sư đoàn phân bổ mục tiêu; văn phòng
chiến dịch truyền lệnh đến các cánh; các nhóm quân vụ và sĩ quan tình
báo phác họa lộ trình ném bom. Các phi công đầu tiên ăn sáng lúc 04:30,
rồi ‘hâm nóng’ và được hướng dẫn trước khi xuất phát lúc 06:00. Khi có
thể, các phi công mới vào nghề được giao các mục tiêu sát bờ biển, để
nếu bị bắn trúng họ có nhiều cơ may nhảy dù xuống biển. Các phi công
khá mê tín, nhiều người mân mê chân thỏ hoặc nắm đồng đôla bạc trong
lòng bàn tay khi họ bước lạch bạch đến buồng lái trong bộ đồ bay. Sau
khi máy bay lên boong, chốt an toàn của đạn pháo được rút ra, ghế

phóng được gài, vòm kính buồng lái khóa chặt, cánh giang rộng. Các
nhân viên hướng dẫn máy bay vào vị trí, động cơ thét lên êm ả: một A-4
chỉ cân nặng 20,000 cân (khoảng 9,000 kí) với xăng và bom, nhưng
máy bay chở xăng loại KA-3 nặng gần 73,000 cân. Trên máy phóng,
trong ba giây máy đẩy tới từ tốc độ đứng yên vọt đến 160 hải lý (gần
300 km/h). Tiếng ồn không dứt; kỹ năng đòi hỏi từ mọi bên liên quan,
kể cả phi công, thủy thủ, đều rất lớn.
Một lực lượng oanh kích điển hình có thể gồm 20 oanh tạc cơ – có thể
16 chiếc A-4 và 4 chiếc F-8, được yểm trợ bởi hai phi cơ truy kích
phòng không ‘Bàn tay Sắt’.
Các phi cơ hộ tống Crusader chiếm các vị trí bên ngoài đội hình, chọn
phía sườn chắc chắn chạm trán MiG. Một phi cơ ECM ở lại ngoài
khơi, cũng như một cặp máy bay tiếp nhiên liệu. Hai trực thăng bay theo
đội hình, trong tư thế sẵn sàng vớt lên các phi công nhảy xuống biển
hoặc trong khu vực đất liền gần bờ biển. Có lần trên không, đội hình bay
qua một đoàn thuyền địch trinh sát, ngụy trang là xuồng đi câu và tam
bản: họ băng qua bờ biển biết rằng kẻ địch trên đất liền đã nhận được tin
và đang sẵn sàng ứng chiến. Vào năm 1944 một sứ mạng tác chiến của
hải quân Thái Bình Dương trung bình kéo dài 4 giờ: 20 năm sau, nó rút
ngắn lại còn 90 phút. Dù sao, bay qua Miền Bắc nguy hiểm hơn nhiều so
với ở Bắc Triều Tiên. Khi họ tiến gần bờ biển ở độ cao 20,000 bộ, tiếng
rên rỉ của động cơ câm lặng vì mũ sắt và tai nghe, các phi công bật nút
lên đạn súng, bom, tên lửa. Họ bắt đầu xuống thấp dần, cao độ xác định
bởi khoảng cách tới mục tiêu sắp đến: Skyhawk có thể bay với tốc độ
350 hải lý (khoảng 630 km/h), trong khi các Crusader nhanh hơn chạy
chậm lại.
Họ có thể nghe tiếng rít cao của ra đa Fansong của địch, cảnh báo SAM
trên đường tới. Sau đó sự im lặng của sóng radio có thể bị phá vỡ, nhưng
họ trao đổi ít như có thể. Các phi công được dặn, ‘Nếu bạn bị trúng đạn,
nhớ tắt tần số liên lạc!’ Các chỉ huy không muốn kênh hoạt động bị đầy
ứ các tiếng kêu báo nạn của các phi công tuyệt vọng. Các MiG có thể
bắt đầu vờn quanh đội hình, và họ có thể nghe được lời cảnh báo tác
chiến bất tử trên sóng: ‘Cô hồn ở 9 giờ’ – hoặc 4, hoặc bất kỳ giờ nào.
Kẻ địch thường dẫn dụ phi cơ hộ tống bay về hướng dàn hoả tiễn SAM,
tuy nhiên họ đã được dặn dò phải bám sát nhiệm vụ của mình. Các phi

công tiêm kích mặt đất ra sức nhào xuống mục tiêu với bồn xăng trên
cánh đã trút cạn, vì không ai muốn mang nhiên liệu dư vào sân chơi với
súng phòng không. Họ đồng loạt tiến đến mục tiêu từ vài hướng, để
phân tán hỏa lực của kẻ thù.
Một khi Miền Bắc nhận ra được các mục tiêu mà người Mỹ ưa thích, họ
tập trung pháo quanh các cây cầu, doanh trại. . . Các phi công kỳ cựu
xác nhận hoả lực ở Miền Bắc tệ hại hơn họ từng trải nghiệm ở mặt trận
Đức hồi Thế Chiến. Người cộng sản phát triển sự điêu luyện đáng sợ tại
các hàng rào pháo hình hộp: ‘Họ có thể lấp đầy một cột năm dặm vuông
với hỏa lực phòng không chết người từ 3,000 đến 20,000 bộ,’ Chỉ huy
John Nichols viết. ‘Nó thật đáng sợ. Nó thật ngoạn mục, nó gần như đẹp
một cách hiểm nghèo. Súng nhẹ, 23 mm và 37mm, nổ tóe khói trắng.
Pháo 57mm nổ trong khói xám đen và trọng pháo 85mm và 100mm nổ
tỏa mây đen. Pha trộn trong đó thỉnh thoảng là những vệt pháo chỉ
đường đầy màu sắc bay vòng cung lên đến 5,000 bộ, và bạn có thể tưởng
tượng tất cả các đám mây tạp sắc này bùng nổ đâu đó trong hình nón
không gian đó mỗi giây trong vài phút.’ Các chỉ huy thúc giục phi công
không được né tránh, vì như thế không ích lợi gì khi tránh một hàng rào
pháo hình hộp, thay vào đó hãy tập trung vào việc đánh mục tiêu: hãy
phó thác số phận cho thần may mắn.
Các MìG-17 lần đầu xuất hiện trong trận không kích gồm 50 phi cơ vào
Hà Nội ngày 3 tháng 4 1965, và ngày hôm sau Không lực Hoa Kỳ mất 2
chiếc F-105. Vào ngày 17 tháng 6 tên lửa Sparrow hạ được 2 MiG đầu
tiên. Các phi công thử nghiệm các chiến thuật. Có một thời gian họ ưa
chuộng cách tiếp cận tốc độ cao, bay thấp cho đến một điểm định
trước họ chuyển qua lộ trình khác, tăng cao độ rồi phóng xuống mục tiêu
– phương án ‘pop-up’. Hạn chế của nó là đòi hỏi các phi công khi đạt
500 knot (900 km/h) phải nhận diện được vài điểm mốc, và cũng khiến
phi cơ dễ tổn thương với pháo phòng không nhẹ. Họ mang theo một
mạng khủng các thiết bị phòng thủ điện tử trong các vỏ bọc gắn trên giá
treo ở cánh máy bay. Hải quân cũng triển khai các Skywarrior EA-3B
và Skynight EF-10B như các phi cơ ECM – Biện Pháp Đối phó Điện tử.
Các phi cơ tấn công rải các mảnh nhỏ kim loại để làm nhiễu xạ ra đa liên
lạc, và bắn các tên lửa Shrike AGM-45A vào các bộ phận điều khiển của
địch. Cả hai bên đều chơi trò đánh lừa: đôi khi những người Mỹ chặn tín

hiệu sóng tưởng mình đã nhận diện được tần số truyền lệnh của phi công
địch, hóa ra nó chỉ phát các cuộc tán gẫu của phi công, trong khi liên lạc
tác chiến giữa các MiG được truyền qua một kênh khác. Phe phòng thủ
cũng học cách tắt bộ phận ra đa theo dõi cho đến vài giây cuối cùng
trước khi tên lửa SAM được phóng đi để tránh thu hút một tên lửa
Shrike tiến đến.
Mối đe dọa của chiến đấu cơ địch khi trồi khi sụt, nhưng không đáng sợ
bằng hoả lực phòng không.
Các phi công Miền Bắc được kiểm soát chặt chẽ từ mặt đất, được hướng
dẫn thậm chí khi nào đốt thùng chất đốt phụ. Các MiG-17 nhanh nhẹn
tuyệt vời, MiG-21 thì kém hơn, nhất là ở tốc độ chậm. Chúng chỉ thường
tấn công khi có một lợi thế chiến thuật rõ ràng, nhất là về cao độ, bắn
các tên lửa Atoll của họ – tương đương với Sidewinder của Mỹ – rồi cút
chạy về nhà chỉ sau một lần chạm trán duy nhất.
Vào ngày 21 tháng 6 1966 Trung uý Phil Vampatella người New York
đang bay một trong bốn chiếc Crusader, bảo vệ một phi công RF-8 bị
bắn rơi cho đến khi một trực thăng cứu nạn bay đến. Bất ngờ máy bay
anh rùng mình – anh đã trúng đạn súng phòng không. Dầu chảy ra, anh
bẻ lái định đi tìm một máy bay tiếp nhiên liệu. Rồi qua máy anh nghe
cảnh báo, ‘Ê, MiG tới!’ – các phi cơ còn lại đã bị MiG-17 tấn
công. Anh quay lại để yểm trợ họ, bỗng thấy phía sau mình một phi cơ
địch đang đuổi theo một phi cơ Mỹ. Anh gọi khẩn cấp, “Rẽ phải!”
Nhưng đã quá muộn: chiếc Crusader rơi xuống. Vampatella trông thấy
một MiG-17 khác áp sát đuôi anh, anh liền chúc xuống, phi cơ anh rung
lắc với tốc độ hơn 1000 km/h. Rồi anh bay vọt lên khi hầu như đến thấp
ngang ngọn cây, hy vọng cắt đuôi máy bay địch. Chiếc MiG vẫn còn
phía sau anh, nhưng rồi quay đi, rõ ràng hướng về nhà. Bất chấp phi cơ
mình hư hỏng, Vampatella cả gan cùng mình rượt đuổi nó. Anh phóng
một Sidewinder, nhìn chiếc MiG nổ tung, rồi nhanh chóng tìm máy bay
tiếp nhiên liệu bơm anh đủ xăng bay 60 dặm về Hancock. Màn thể hiện
lòng dũng cảm của
Vampatella sau đó được thuật tại các trung tâm huấn luyện, nhưng kiên
trì chiến đấu khi máy bay bị hư hỏng luôn là cách nhanh nhất để người
thân ở nhà nhận được một tin điện ‘Mất tích’.

Hải quân nhiều năm liền băn khoăn vì các chiến đấu cơ của mình bắn hạ
máy bay địch ít hơn nhiều so với bên Không lực, một phần bởi vì các tên
lửa Sparrow không-đối-không của họ bắn trật. Tên lửa Sidewinder hiệu
quả hơn nhiều, đại bác – mà chỉ có các F-8 của hải quân chở theo – còn
tốt hơn. Những kẻ ta đây tuyên bố rằng tên lửa khiến súng trở thành dư
thừa là sai lầm. Thành tích không chiến của hải quân được cải thiện chỉ
trong giai đoạn sau cùng của cuộc chiến, khi trường chiến thuật và học
thuyết tại Miramar, California, mở ra khóa học Top Gun, mà những
người tốt nghiệp chứng tỏ là các sát thủ MiG ấn tượng.
Vào lúc phi cơ tập kích rút khỏi các mục tiêu trở về biển, theo lời một
phi công ‘khoảng 3 phút – và một hoặc hai vĩnh cửu – đã trôi qua’. Khi
họ tiến gần đến nơi che chở của tàu sân bay mẹ, tiếng loa của sĩ quan
tiếp đất oang oang về tình trạng của boong tàu: ‘Boong kẹt … boong
kẹt … boong kẹt … lắp bánh răng, Skyhawk. Boong kẹt … Boong
trống!’ Đó là một lời kêu gọi phán đoán lịch sự liệu phi công lái máy
bay hư hỏng nên thử đáp xuống hoặc phóng ra khỏi máy bay cho nó rơi
xuống biển: một phi cơ rớt trên boong không chỉ giết chết một phi công,
mà còn gây hư hại trên khắp sàn tàu. Các phi cơ lành lặn chạm sàn tàu
một cách thích thú, nhồi một chút trước khi ngừng đột ngột nhờ dây
hãm. Một ngày vất vả đã qua.

Phi công bay trung bình từ 16 đến 22 lượt xuất kích mỗi tháng, một số
lên đến 28 lượt: một vài người cuối cùng tổng cộng đạt đến 500 lượt
xuất kích. Vào mùa thu 1966, áp lực của chiến dịch phát sinh thiếu hụt
quân nhu- nhất là bom – cũng như trang thiết bị và phi hành đoàn.
Một số quá nhiều phi hành đoàn sợ rằng thời hạn phục vụ sẽ kết thúc với
một vé đi không về. Jack Broughton viết về cái ngày mà một tên lửa
SAM không ai chú ý đã cướp đi một trong những đồng đội F-105 của
mình: ‘Dấu hiệu đầu tiên của rắc rối là một quả cầu lớn màu rỉ sét bao
trùm phi cơ anh … phi cơ có vẻ còn nguyên, nhưng anh bắt đầu bay thấp
xuống với chiếc cánh trái hơi nghiêng thấp. Anh chỉ truyền được tin
“Mình phải phóng ra thôi. Hẹn gặp các bạn sau.”‘ Nói xong, anh kéo
tay nắm và chúng tôi thấy một chiếc dù và nghe tiếng máy nhắn tin kêu
khi anh nhảy dù hướng về Hà Nội’

Thiếu tá Không lực Fred Cherry là con trai của một công nhân nông trại
da đen ở Virginia, đã đến được trường bay vào năm 1951 chỉ bằng kiên
trì bản thân, sau nhiều phen bị bác đơn, và bay 53 sứ mạng ở Triều
Tiên. Vào buổi sáng ngày 25 tháng 10 1965 ông đang dẫn đầu một phi
đội F-105 trong sứ mạng thứ 50 thì, một vài phút trước khi đến mục
tiêu, ông nghe một tiếng ầm dữ dội. Ông tắt điện và bộ phận thủy lực,
nhưng máy bay đầy ngập khói. Ở cao độ thấp ông phóng ra và cầu
nguyện, ngay khi chiếc Thud phát nổ, dàn điều khiển chém mặt
ông. Ông đang ở cách Hà Nội 40 dặm về phía đông tây, chỉ cách bờ
biển và bờ bến an toàn đúng hai phút bay. Ông tiếp đất giữa một đám
dân quân và trẻ em: ‘Tôi nghĩ họ sẽ chặt bầm tôi ra từng mảnh với tất cả
công cụ đó của nông trại, nhưng họ chỉ đứng lùi lại nhìn và cười khúc
khích.’ Khi bị ra lệnh giơ tay lên, ông chỉ vào vai trái bị dập nát, mắt cá
nứt vỡ. Phi công Mỹ thứ 43 bị bắt, đám đông đi theo ông khi ông bước
khập khiễng ra đường cái. Một bộ đội nói, ‘Mi là tội phạm.’ Ông được
đưa về nhà tù Hỏa Lò, ‘Khách sạn Hilton Hà Nội ‘. Sau đó ông được
chuyển về một nhà tù mà các tù bình gọi là ‘Sở Thú’, tại đó ông ở cùng
xà lim với một phi công hải quân Bắc Carolina tên Porter Halyburton,
người lúc đầu hắt hủi ông vì không tin một người da đen có thể là một
thiếu tá Không lực, và chụp mũ ông là bọn do thám Pháp. Vậy mà tình
thân, nỗi cơ cực được chia sẻ, đã nuôi dưỡng giữa hai người không chỉ
lòng kính trọng, mà còn điều gì đó gần như là tình ruột thịt. Sau khi vết
thương Cherry bị nhiễm trùng nặng, ‘Hally’ săn sóc ông tận tình. Khi
các quản tù chuyển người bạn phương Nam ra khỏi xà lim của ông, ‘Tôi
chưa hề khổ sở khi xa một người nào nhiều đến như vậy trong đời

mình.’

Norm McDaniel, sinh năm 1937, là một trong tám người con của một tá
điền da đen Bắc Carolina, và lớn lên với các câu chuyện trải nghiệm
khủng khiếp của gia đình thời Suy thoái, khi cha ông hái bông vải với
tiền công 1 đô mỗi ngày. Trong thời niên thiếu, Norm thường đi ngủ với
cái bụng rỗng: ‘Nếu cha tôi đi đến tiệm rượu trước khí đến tiệm tạp
hóa, là chúng tôi gặp rắc rối.’ Mẹ tôi, một người mồ côi, có niềm tin
điên cuồng vào học vấn và sống theo thần chú ‘Sống tốt nhất với những
gì bạn có.’ Thật là một thành tựu đáng kể khi vào năm 1959 con trai bà
tiến lên từ bậc kỹ sư cơ khí tại Đại học A&T ở North Carolina để trở

thành một nhân viên phi hành được ủy nhiệm trong Không lực . Ông yêu
cuộc sống không lực, và bay vài năm với cánh Pháo đài bay. Chỉ khi
ông và bà xã Jean-Carol ra khỏi căn cứ vấn đề kỳ thị chủng tộc mới làm
họ phiền hà: ‘Ở Mississippi và thậm chí Utah, khách sạn và tiệm ăn cũng
không tiếp chúng tôi.’
Vào mùa thu 1965, McDaniel được thuyên chuyển khỏi B-52 để về phục
vụ như sĩ quan chiến tranh điện tử với một phi đội EB66C bay ra khỏi
Thái Lan. ‘Tôi không có nhận thức gì về việc thuyên chuyển. Tôi chỉ
nghĩ mình phải làm gì người ta yêu cầu.’ Tuy nhiên, phi cơ của họ quá
yếu, chạy hết đường băng mới cất cánh lên được, nhất là vào một ngày
nóng nực. McDaniel cầu nguyện mỗi ngày, ‘không phải cho tôi, mà cho
gia đình tôi’. Thường thường sứ mạng kéo dài khoảng ba giờ, 25 phút
được dành cho đi quanh vùng mục tiêu ở độ cao 25,000 bộ, giám sát và
ngăn chặn việc phát sóng ra đa của địch. Khi một tín hiệu đe dọa được
phát hiện, họ báo cho các phi công tấn công, ‘Báo động Đỏ, máy bay
địch, ‘ ‘Tên Lửa theo dấu’ hoặc bất cứ thứ gì, rồi sau đó báo cáo, ‘Tất
cả không có gì.’
McDaniel là một trong số 4 ‘con Quạ’ nhìn chằm chằm vào dải màn
hình trong buồng EW của chiếc B-66 của họ, một gian phòng không
cửa sổ phía sau buồng lái.
Chiến dịch trở nên thường nhật: một phi công được yêu cầu hoàn thành
100 chuyến ‘Bắc Tiến’, trước khi được quay về nhà. Trở lại căn cứ tiện
nghi của mình, McDaniel đọc nhiều, tập thể dục, chơi bóng bàn. Ông
nói: ‘Tôi không lo sợ nhiều. Chúng tôi hình dung mớ rắc rối này sẽ tiếp
tục nhiều năm liền. Nhưng phần chúng tôi chỉ nghĩ đến việc kết thúc cho
xong 100 sứ mạng của mình, sau đó sẽ về nhà trong 8 hoặc 9 tháng.’
Trong sứ mạng 29, gần Hà Nội họ bị một SAM-2 khóa chặt và phải đưa
ra hành động tránh né dữ dội. Chỉ sau khi một khoảng thời gian quặn
thắt dài như vô tận thì phi hành đoàn mới nghe được những lời trấn an
vô giá ngắn gọn trên máy bộ đàm: ‘Bẻ khóa.’ Họ bất giác gạt mồ hôi rịn
trên chân mày và bay về nhà đến xứ Thái Lan nóng bức, nhớp
dính, thoải mái. McDaniel nghĩ, ‘Hề, mình đã qua cơn sợ hãi khủng
khiếp.’
Nhưng hai sứ mạng sau đó, vào ngày 20 tháng 7 1966, tiến đến gần một
mục tiêu gần Hà Nội máy bay ông bỗng lắc lư dữ dội, “như bay qua một

túi khí lớn”. Phi hành đoàn hỏi nhanh với nhau các câu hỏi đáng
sợ, bùng nổ, và phi công Bill Means đáp lại một cách trấn an, “Đó là
một cú bắn hụt thật gần, nhưng chúng ta còn bay được” Nhưng không
lâu. Chỉ vài giây sau Means mất kiểm soát, và máy bay bắt đầu đâm
xuống lảo đảo. Khi nó thăng bằng trở lại, họ đợi trong vô vọng thêm tin
tức tứ phi công.
Tuy nhiên, liên lạc đã mất, cùng với dưỡng khí. Khói bắt đầu tràn ngập
buồng EW. Bốn ‘Con Quạ’ được yêu cầu phóng ra lần lượt, và
McDaniel, trong vị trí trái trước, phải ra trước tiên. ‘Đó là giây phút
quyết định. Buồng chúng tôi có lửa và khói, và tôi nghĩ, “Mình phải ra
thôi.”‘ Ông theo đúng thủ tục, kéo kính che mắt trên mũ xuống, kích
hoạt chai dưỡng khí cá nhân, quắp chặt người lại trước khi giật cần để
vứt bỏ cửa sập, rồi một giây sau phóng mình vào bầu trời.
Mọi thứ hoạt động hoàn hảo cho đến khi, lúc treo mình trên dù, ông nhìn
thấy nhiều lỗ xuất hiện trên tán dù: họ đang bắn vào ông. Lúc mà đặt
chân được lên mặt đất ông thấy mình bị các nông dân, binh lính, dân
quân bao vây. Họ lột quần áo ông, chỉ còn độc một quần đùi và áo thun.
Lúc đó là 8:30 a.m., và ông đang cách Hà Nội 30 dặm về phía tây
bắc. Lúc đầu họ cố xô đẩy ông xuống một cái hố, ông tưởng chắc là
mình sắp chết. Rồi, thay vào đó, ông bị bịt mắt, dẫn đến một ô tô, và
cuối cùng chở về ‘Hà Nội Hilton’ vào lúc chiều tối.
Ông có thời gian ám ảnh bởi nỗi hồ nghi mình là người duy nhất trong
phi hành đoàn nhảy dù ra máy bay; những người còn lại đã bình yên trở
về Thái Lan chế nhạo ông đã quá hãi nên phóng ra quá vội. Tuy
nhiên, về sau chẳng bao lâu ông biết rằng tất cả phi hành đoàn trừ một
người chết sau khi bị bắt, đều cũng là tù binh cho đến năm 1973.
Ở nhà, sau khi gia đình nghe tin ông mất tích, số phận không biết rõ, mẹ
ông bảo với Jean-Carol: ‘Mac không sao. Mẹ đã đến thăm nó trong một
giấc mơ. Nó đang nằm trong một căn phòng nhỏ. Mẹ gọi “Mac, con có
bình yên không?” Và nó nói, “Có, thưa mẹ. Mẹ hãy tự giữ gìn sức
khỏe.”‘ Câu chuyện của bà mẹ McDaniel chứng tỏ một phần đúng. Có
nhiều gia đình khác có người thân mất tích cũng có những ảo giác thoát
tục như vậy, nhưng không là hiện thực.
Chỉ sau 18 tháng căng thẳng gây thống khổ Miền Bắc mới tiết lộ một
cách muộn màng là viên phi hành là một tù binh.

Tại Hà Nội, McDaniel sống tốt hơn nhiều người khác: ‘Mặc dù thức ăn
là rác rưởi, nhưng là rác rưởi hoàn toàn tốt cho sức khỏe, và từ hồi còn
nhỏ tôi đã quen bị bỏ đói.’ Như phần đông đồng đội, ông theo định kỳ bị
đối xử tàn tệ, trong một số trường hợp gần như bị tra tấn. Chứng cứ từ cả
nguồn tin Việt Nam lẫn Nga gợi ý rằng người cộng sản thụ đắc được
nhiều dữ liệu tác chiến từ việc thẩm vấn phi hành đoàn, nhưng mục đích
chính là đạt được sự khống chế về ý thức hệ, để giáng đòn trừng phạt lên
những kẻ thù địch bị tóm được. Trở lại Mỹ, những trò dã man đối với
tù nhân, khá xác thực, dấy lên những cơn phẫn nộ trong dân
chúng. Nhưng phải công bình nhấn mạnh rằng các tù nhân cộng sản lọt
vào tay người Mỹ lẫn Miền Nam cũng chịu những điều bằng hoặc tồi tệ
hơn, thường trước khi bị giết hại. Khi cuốn sách bóc trần về Việt Nam
của nhân viên CIA Frank Snepp Khoảng cách Tử Tế trở thành quyển
sách bán chạy nhất trong năm 1977, tác giả kinh ngạc khi có quá ít độc
giả bức xúc trước tường thuật của ông về “các cuộc thẩm vấn tăng
cường” và trò tra tấn những người bị bắt, sự chính xác của chúng chưa
hề bị thẩm tra.
Doug Ramsey cũng viết với vẻ ghê tởm về các đồng nghiệp mình hay
‘bỏ qua vô tư các trò lạm dụng tù nhân’. Sự phẫn nộ về việc Hà Nội đối
xử tàn bạo với tù nhân của mình có thể được biện minh chỉ bởi giả định
là các nhà tư bản Mỹ kỳ vọng kẻ địch đối xử nhân đạo với tù bình hơn
người cộng sản Việt Nam kỳ vọng.
Norm McDaniel, vào tháng 7 1966 là vị khách mới nhất tại Hilton Hà
Nội, sở hữu một tính khí điềm đạm, lúc nào cũng vui vẻ, giúp cuộc sống
ông dễ chịu qua gần suốt 7 năm sau đó. Trong khi một số tù binh khác
nuôi dưỡng lòng căm thù với các quản tù Miền Bắc, ông cho rằng điều
này là phản tác dụng: ‘Tôi luôn xem mình là người lạc quan. Chúng tôi
biết rằng các tù nhân Mỹ ở Việt Nam là thuộc tầng lớp ưu tú so với cách
thức các tù binh Mỹ ở Triều Tiên bị đối xử. Bạn phải vượt qua chính
mình: tôi có lòng tin ở Chúa Trời và gia đình tôi.’
Một thiểu số kha khá các phi công là các cựu binh với kinh nghiệm đầy
mình. Chỉ huy Richard Bengler đã 42 tuổi. Ông đã lái các B-17 và B-25
trong thời Thế Chiến II, rồi chiến đấu ở Triều Tiên. Vào tháng 7 1966
ông phóng ra khỏi máy bay xuống biển khi chiếc F-8 của mình bị một
chiếc MiG bắn trúng. Bốn tháng sau ông lật ngược thế cờ, bắn rơi chiếc

MiG-21 đầu tiên cho hải quân bằng tên lửa Sidewinders. Trở về tàu sân
bay ông hớn hở nói, ‘Tôi đã đợi 20 năm cho điều gì đó giống như điều
này. Thật là một cảm xúc choáng ngợp. ‘
Đại uý Jack Nolan từ Freeport, Long Island, đã 36 tuổi khi ông ra
trận. Ông là con trai một luật sư và một thời là sinh viên y khoa: ‘Có
một cô gái bước vào. Tôi cưới cô ta, ôi trời.’ Nhưng trái tim ông dành
cho nghề bay. ‘Tôi bị máy bay làm cho mê hoặc sau khi được ngồi trong
một chiếc Stimson hồi 5 tuổi.’ Vào năm 1952 Nolan gia nhập Không lực
Hoa Kỳ, được chở tàu đến Triều Tiên, và đang lênh đênh giữa Thái
Bình Dương khi hiệp ước đình chiến được ký kết. Sau một thập niên
làm người huấn luyện, và nuôi 5 đứa con, cuối năm 1966 ông được cử
đến cánh Thud đặt căn cứ, như các EB-66 của Norm McDaniel,
tại Takhli ở Thái Lan. ‘Vợ tôi nghĩ gì về chuyện này ư? Tôi chưa từng
hỏi cô ta.’ Tại căn cứ rộng lớn họ sống trong các tòa nhà gạch khối tiện
nghi, hai giường một phòng. Hai mươi phi công của phi đội bay bất kì
máy bay nào mình được phân bổ ngày đó – máy bay không có tên cá
nhân, không vẽ vời, chỉ một màu ngụy trang xanh-nâu trên bề mặt phía
trên, xanh lam bên dưới. Các F-105 bay rất thoải mái, ó tốc độ siêu
thanh ở cao độ thấp. Trong các sứ mạng chống Miền Bắc nó thường
mang theo sáu quả bom 750 cân, một máy phá sóng ECM và các tên lửa
Sidewinders, mặc dù Jack Nolan chưa hề bắn một quả nào.
Vào những ngày tác chiến họ có thể thức dậy bất cứ lúc nào trong
khoảng từ 02:30 đến 07:00 để ăn sáng và chuẩn bị dụng cụ tỉ mỉ, mất thì
giờ. Một phi công kỳ cựu có lần bước vào phòng chỉ thị trước một sứ
mạng Bắc Tiến nói, ‘Ai nói không hề khiếp đảm là không hiểu rõ vấn
đề.’ Cũng buổi sáng đó trong phòng vệ sinh, Jack Broughton nghe có
tiếng nôn ói, và biết đó là một phi công bạn. Broughton viết về sự chờ
đợi mòn mỏi trước khi cho phi cơ đi xuống đường băng cất cánh tại căn
cứ thiêu đốt ở Thái Lan đông đúc phi cơ: ‘Bạn đổ mồ hôi nhiều đến nỗi
có lúc không nhìn được. Đường bay là một nơi hỗn loạn có tổ chức khi
hết phi cơ này đến phi cơ khác nhấn nút khởi động và xả đầy không khí
mùi nồng nặc và khói của động cơ. Âm thanh điếc cả tai … Tôi trầm
ngâm, Sẽ là ngày gì đây – ngày SAM hay ngày MiG?’
Khi Jach Nolan lên không với 16 chiếc quen thuộc và 2 chiếc ứng trực
dự trữ, họ bay với tốc độ 450 hải lý theo hàng 4, ‘ở cao độ 15,000 bộ,

phi vụ chết tiệt nào cũng vậy’. Trước khi bay vào vùng địch, họ đóng
một hoặc hai thùng xăng KC-135 để được đầy tràn trong 10 phút, rồi
tách ra thành đội hình chiến thuật khi tiến gần Điểm Đầu Tiên. Các phi
cơ F-4 có nhiệm vụ tiêu diệt hỏa lực phòng không nhắm đến các mục
tiêu 15 đến 30 giây trước các oanh tạc cơ, tấn công bằng đại bác và tên
lửa Zuni vào mỗi đốm lửa lóe sáng từ nòng pháo địch ở mặt đất họ phát
hiện được, cho đến khi tiêu tốn hết quân nhu họ đẩy cần tiết lưu sang
một bên để đốt lò đốt phụ. Việc này cung cấp thêm năng lượng, khiến
phi cơ có thể lao vút đi, với mức tiêu thụ nhiên liệu tăng vọt ấn
tượng. Các Thud tấn công tiếp sau, phóng xuống một góc 45 độ trước
khi bỏ bom từ độ cao 5,000 bộ , ‘rồi chạy như điên ‘ – hay đúng hơn,
cảm thấy sức mạnh từ 4 đến 6 G (lực của trọng trường trái đất) khi họ
bay đi.
Các mục tiêu có thể là cầu, kho bãi tàu hỏa hoặc phi trường. Luôn là
pháo phòng không, gây tổn thất có lẽ một phi cơ mỗi ngày cho mỗi phi
đoàn, và đôi khi vệt trắng của một tên lửa SAM, mà các phi công không
biết trừ khi họ nhận được cảnh báo trong bộ đàm rằng nó đang dò đường
đến họ. ‘Tôi nhìn thấy một phi cơ bạn rớt xuống, theo dõi phi công nhảy
dù ra, nhưng không bao giờ nghe nói về anh ta nữa.’ Chiến thuật tốt nhất
sau khi một SAM phóng đi là quẹo rất gắt cắt ngang đường đi của nó –
tên lửa sẽ cuối cùng bẻ khóa ra đa và phát nổ.
Nolan, như nhiều phi công, xem vai trò của mình với vẻ lãnh đạm pha
lẫn những cơn sợ hãi: ‘Tôi không nghĩ nhiều về những gì xảy ra trên mặt
đất. Tôi chỉ đang làm một công việc, ráng còn sống và lên chức thiếu tá
– điều không xảy ra.’ Họ nhìn nhận nhiều bom không trúng đích, nhất là
bom 3,000 cân họ ném xuống cầu: ‘Thật là bực mình khi thấy phà đậu
dài trên bờ, sẵn sàng ráp nối lại nhịp bị chúng tôi đánh sập.’ Một hôm
khi Nolan chúc xuống một nhịp cầu gần biên giới Trung Quốc anh chợt
bắt gặp một đốm lửa súng máy lóe lên dưới cánh phải khiến ống thủy
lực tê liệt, khiến nó không thể cặp đôi với một máy bay tiếp nhiên liệu
để bay về căn cứ. Anh vứt bỏ bom xuống sông và lếch chiếc máy bay to
lớn về đến Đà Nẵng, được chỉ huy mình hộ tống an toàn. Sau đó anh bắt
một chiếc C-123 trở lại Thái Lan, và đến quán rượu. Chẳng bao lâu, anh
được thuyên chuyển về bộ tham mưu Hành quân Tác chiến của Không
Lực 7, phân tích dữ liệu mục tiêu: ‘Trải nghiệm đó củng cố thêm cảm

nhận của tôi rằng nhiều bom rơi không trúng mục tiêu, nhưng không ai
buồn quan tâm. ‘
Hồ sơ tác chiến của Nolan tương đối buồn tẻ, nhưng phi công khác trải
nghiệm những bi kịch bất thường. Vào ngày 20 tháng tư 1967 Trung uý
chỉ huy gan dạ của hải quân Mike Estocin cầm đầu một phi đội ba máy
bay đánh Hải Phòng, tại đó họ phá hủy ba dàn SAM nhưng chiếc
Skyhawk A-4 của anh trúng đạn. Anh rút lui, tin rằng mình có thể bay
về, nên bắn tên lửa Shrike cuối cùng vào một mục tiêu mặt đất trước khi
quay về, xăng chảy ra rất nhanh. Với xăng còn đủ bay trong 5 phút, anh
cặp được vào máy bay tiếp nhiên liệu KA-3 đang bay về tàu sân bay
Ticonderoga. Khi cách sàn tàu hai dặm anh tách ra, và tiếp cận tàu sân
bay chỉ còn đủ xăng cho một lần đáp mà thôi. Chiếc phi cơ bốc cháy khi
anh đáp xuống hoàn hảo.
Estocin kéo mở cửa buồng lái khi đội cứu hỏa phun bọt trắng, nhảy
xuống, ném chiếc mũ vào giá treo và bước đi mà không ngoái lại nhìn
đằng sau. Thật là thể hiện ngang tàng của tính vô tâm, nhưng 6 ngày sau
anh không còn may mắn nữa. Một SAM-2 bắn trúng phi cơ của anh khi
anh tấn công các kho dầu gần Hải Phòng, và xác máy bay lao xuống đất.
Étocin được truy tặng Huy chương Danh dự.
Một trong những đặc điểm xúc động nhất và thường hào hùng của cuộc
không chiến là nỗ lực bền bỉ nhằm giải cứu các phi công mà máy bay họ
bị bắn rơi. Khoảng một phần ba nhà phi hành nhảy dù xuống được giành
lại vào tay người Mỹ; một tỷ lệ nhỏ hơn bị cộng sản bắt làm tù binh;
phần còn lại bị chết. Trong phạm vi hải quân, các đội giải cứu ngoài
khơi trải qua nhiều tuần lễ buồn tẻ, bay tìm kiếm trên biển trong những
trực thăng HH-3E bọc sắt nặng nề, lắng nghe một lời kêu gọi ít khi đến
tai: rồi một lời cầu cứu gọi đến khiến họ như bị điện giât, xông vào hiểm
nguy cháy bỏng, cuồn cuộn nỗi xúc cảm. Thường là một sự rượt đuổi
giữa các ‘Thiên thần’ và các ngư dân, những người sẽ nhận được 200 đô
tiền thưởng kếch xù của chính quyền cộng sản cho mỗi người Mỹ nào họ
bắt được từ biển cả và giao nộp.
Vào ngày 27/4/1966, sau khi một chiếc A-6A bị phòng không bắn rơi,
nhân viên ném hom Brian Westin thấy phi công Bill Westerman bị
thương mặt xám ngắt, tay trái anh mềm rũ, mặt nạ dưỡng khí rớt ra, phi
cơ bay lên chập choạng. Westin mở móc khóa yên, dựa qua để cầm cần

lái và hướng máy bay về phía bờ biển đồng thời gọi điện cầu cứu.
Westerman cựa mình, ráng sức tàn cầm lái để đưa chiếc phi cơ loạng
choạng bay về Kittyhawk, trong khi chỉ huy phi đội bay kè kế bên.
Họ không dám thử đáp xuống, thay vào đó phóng xuống biển. Một phần
ba số người chọn phương án này chết đuối trước khi cứu hộ đến kịp.
Westin được kéo lên trực thăng, nhưng rồi thấy phi công của mình quá
yếu vì mất quá nhiều máu không thể trườn mình vào vòng dây kéo. Viên
phi hành một lần nữa nhảy xuống nước, giúp Westerman đến nơi bình
yên. Anh vẫy tay cho chiếc trực thăng Sea King bay đi, vội vã đưa người
bị thương về hỗ trợ y tế. Còn anh được một trực thăng khác đến giải
cứu, đúng lúc cá mập ngửi được mùi máu bắt đầu vây quanh vùng nước
đỏ máu. Anh nhận được huy chương Thập tự Hải quân.
Một phi cơ thám thính có lần bị bắn rơi trên bờ biển, phi công bị chết.
Khi nhân viên phi hành đứng trơ trọi trên bãi biển bị đám dân địa
phương vây quanh, anh bỗng thoáng thấy một trực thăng giải cứu bay
đến, máy nhắn tin của anh có tín hiệu. Kéo phéc-mơ-tuya bộ đồ bay, anh
rút ra khẩu súng lục, bắn người dân quân canh giữ anh, rồi phóng vào
làn sóng biển, bơi về hướng trực thăng giải cứu thành công. Vào một
dịp khác một trực thăng
Seasprite bay trong bóng đêm từ một tàu khu trục để bốc lên hai phi
hành F-4 đang ẩn nấp trong đám lau sậy trên vùng quê Miền Bắc. Các
xạ thủ trực thăng bắn ngăn không cho bộ đội địch đến bắt và bốc được
hai người Mỹ lên dưới làn mưa đạn ác liệt, rồi bay về tàu vừa kịp chỉ
còn lại chừng chục lít xăng. Một phi công khác trôi dạt ngoài khơi hàng
giờ liền trong khi hai trực thăng ra sức tìm kiếm, bị hỏa lực đối
phương tấn công dữ dội làm tử thương một nhân viên phi hành. Trên
cao, các chiến đấu cơ xoay sở để ngăn cản địch bắt được người phi công
lâm nạn đang ở ngoài biển, cho đến khi ánh sáng cuối cùng sắp tắt, trực
thăng mới bốc được anh. Một phi công viết: ‘Đối với các phi công tham
dự cuộc chiến điên rồ này hết năm này sang năm khác, thì đây quả là
một thắng lợi không ai chối cãi.’ Chỉ tính riêng năm 1967, 7 trực thăng
hải quân bị bắn rơi khi đang làm nhiệm vụ giải cứu.
Không Lực cũng đạt được một số kỳ tích phi thường. Khi các binh đội
Miền Bắc tiến đến gần một phi công Crusader đã nhảy dù xuống một
vùng cây rậm phía tây-nam Hà Nội, một nhân viên trực thăng hạ thấp

dây cáp hết cỡ nhưng còn cách bàn tay giơ ra của phi công gần 10 bộ.
Dưới làn hỏa lực, và với một nhân viên phi hành bị giết chết, trực thăng
phải xuống thấp vào vòm lá, dùng cánh quạt phạt một lối đi xuống qua
các tán cây cao cho đến khi phi công bên dưới có thể nắm được dây
quàng, và được kéo lên cao. Trực thăng hư hại quá nặng đến nỗi buộc
phải hạ cánh cách đó vài dặm, và được một trực thăng Jolly Green Giant
kéo hết đội đi.
Trung uý Dieter Dengler là phi công Skyraider của hải quân, người gốc
Đức bị rơi máy bay tại Lào khi trúng đạn phòng. Anh bị bắt và bị phe
Pathet Lào giam giữ trong bốn tháng trước khi trốn thoát với một phi
công không lực, Duane Martin. Họ sống bằng trái cây, dâu rừng và một
ít cơm nhiều ngày liền cho đến khi đến được một con sông. Họ làm bè
và trôi theo sông về phía hạ lưu cho đến khi bắt gặp một ngôi làng bỏ
hoang, tại đó họ tìm được một ít bắp. Dengler đang bị bệnh vàng da và
sốt rét. Khi họ đến một ngôi làng khác, một người dân cầm rựa tấn công
họ, giết chết Martin. Dengler loạng choạng đi một mình, cho đến ngày
thứ 22 kể từ khi trốn thoát anh không còn sức đi tiếp. Khi anh nằm chờ
chết, anh xếp đá tạo thành chữ ‘SOS’.
Mầu nhiệm thay, chữ đá này được một phi công Không lực Hoa Kỳ đi
ngang qua phát hiện, liền hướng dẫn một trực thăng đến để bốc người
khốn khổ. Dengler xuất hiện chỉ còn nặng 98 cân (khoảng 44 kí), đã sụt
mất 60 cân (27 kí)
Trong khi không lực và hải quân ồn ào phản kháng các hạn chế do phe
chính trị áp đặt, họ buộc phải chấp nhận những thiếu sót của các phi vụ
tấn công thậm chí vào các mục tiêu được uỷ quyền. Chẳng hạn, giữa
tháng 3 1965 và tháng 11 1968, gần 700 lượt xuất kích được tiến hành
đánh cầu tàu hỏa Thanh Hóa, cách Hà Nội 80 dặm về phía nam. Vào
tháng 3 1967, ba mục tiêu bị đánh trúng với bom lượn Walleye điều
khiển qua tivi. Vậy mà cây cầu và kết nối đường ray, vẫn thông thương
một cách thách thức. Cầu Paul Doumer của Hà Nội bị đóng cửa trong 6
tháng từ tháng 8 1967, nhưng chỉ tiếp sau một chuỗi dài các tấn công
thất bại.
Năm đó, một sự cải tiến vượt bậc trong trong kỹ năng tên lửa của địch
gây tổn thất chết người cho phía Mỹ. Mỗi lượt xuất kích đều bị một hành
lang SAM nghênh chiến: chỉ riêng ngày 21 tháng tám 80 tên lửa SAM

được bắn ra. Một tướng lĩnh Nga than phiền rằng đồng minh Miền Bắc
của ông bắn các món đồ chơi cực kì đắt tiền này ‘như thể chúng là pháo
hoa.’ Trong tháng 8 hải quân mất 16 phi cơ. Chung quanh Hà Nội, gần
600 súng phòng không AA và 15 dàn SAM được triển khai. Trung tướng
Palmer viết: ‘Cái giá để các lực lượng tấn công của chúng tôi được nhìn
nhận cuối cùng trở nên rất cao, gần như là bị ngăn cấm.’ Vào năm 1967
hải quân tuyên bố phá hủy 30 dàn SAM, 187 vị trí phòng không và 955
cầu – số sau này biểu thị số lần đánh phá lặp lại – cùng với số lượng lớn
toa tàu hỏa. Nói chung, ước tính rằng việc đánh bom đã gây thiệt hại trị
giá 300 triệu đô la cho Miền Bắc – nhưng với giá 922 phi cơ bị hủy
diệt, mà trị giá tiền mặt của chúng lớn gấp ba lần. Lực lượng phòng
không mặt đất giờ triển khai đến 8,000 súng phòng không và 200 dàn
tên lửa. Năng lượng điện Miền Bắc đã bị sụt giảm đến 85 phần trăm,
vậy mà xứ sở ấy vẫn tiếp tục hoạt động bằng máy phát điện xách tay.
Tình báo Mỹ về kỹ nghệ và hạ tầng của địch vẫn còn nghèo nàn. Có ít
dấu hiệu cho thấy không kích đang gây cản trở cho nỗ lực chiến tranh
của Miền Bắc. Tinh thần các phi công đi xuống trước các tổn thất và
nhận thức được mức thành tựu kém cỏi. Họ chế nhạo gọi các nhà lên kế
hoạch và các tư lệnh của mình là ‘Câu Lạc Bộ Du thuyền Vịnh Bắc Việt
‘. Các phi hành đoàn tiếp tục bay, bỏ bom, và đổi khi hy sinh, nhưng
càng ngày càng khó tin tưởng các kết quả tương xứng với công lao mình
mặc dù các chỉ huy của họ vẫn ương ngạnh chống đối mọi ám chỉ cho
rằng Việt Nam đánh dấu hạn chế của sức mạnh không lực Mỹ. Ấn bản
1984 của Cẩm nang Học thuyết Cơ bản của Không Lực vẫn khăng
khăng xác quyết rằng ‘Lực lượng không trung có sức mạnh xuyên thấu
trái tim của lực lượng địch mà không cần trước tiên phải đánh bại các
lực lượng phòng thủ linh tinh.’ Sức mạnh như thế, các ông trùm đánh
bom tuyên bố, khiến các phi cơ tấn công có thể công kích ‘một loạt các
mục tiêu sinh tử được tuyển chọn mà, nếu bị hủy diệt, sẽ đập tan năng
lực và ý chí chiến đấu của kẻ thù. Năm 1986 người phỏng vấn Curtis
LeMay hỏi liệu chiến tranh Việt Nam có thể đã thắng được không, thì
nhận được câu trả lời:
‘Trong thời hạn 2 tuần nếu anh muốn biết, qua một chương trình dội
bom không hạn chế.’

Đây là quan điểm mà LeMay, cũng như Tướng William Momyer và Đô
đốc Ulysses Grant Sharp, mang theo xuống mồ. Trong con mắt của hậu
thế, tuy nhiên, nó dường như là một điều ảo tưởng. Các cuộc không kích
chiến thuật ở Miền Nam, nhất là trên Đường Mòn HCM, gây ra vô vàn
khó khăn cho nỗ lực chiến tranh của người cộng sản. Tuy nhiên, chi phí
chính trị của Sấm Rền đối với người Mỹ thì lớn hơn nhiều so với thiệt
hại gây ra cho Miền Bắc. Điều này gần như chắc chắn không thay đổi
thậm chí cho dù các ông trùm không quân của Mỹ được cho phép mở
rộng quy mô như họ luôn kêu gào.

F-4 Phantom bắn FFAR vào một vị trí bị nghi ngờ là Việt cộng. F-4 trở
thành máy bay bị bắn rơi nhiều nhất sau chiếc Huey. (445 tổng cộng,
382 trong chiến đấu)

F-4 bắn FFAR khác

A-1D Skyraider thả bom phốt pho WP (willie pete)
Một chiếc A-1D khác Thả bom phốt pho (vị trí khác)
A-1D đang thả bom napalm

CHƯƠNG 15: DỒN HẾT TÂM TRÍ

1 HỒI THÁI LAI, CƠN BĨ CỰC
Vào tháng giêng 1966 thứ trưởng ngoại giao Ba Lan đến Hà Nội mang
một thông điệp về thiện chí đàm phán của Mỹ, nhưng bị Hà Nội miệt thị
bác bỏ; vào tháng 6, một sứ giả Canada cũng gặp cảnh ngộ tương tự.
Một tháng sau Jean Sainteny, đại biểu Pháp trong đàm phán tháng 3
1946 với Hồ Chí Minh, đưa ra các đề xuất mới. Ông thúc giục Miền
Bắc biến thế thượng phong thành hiệp ước hoà bình, cho rằng khát vọng
duy nhất của người Mỹ là không muốn bẽ mặt. Thậm chí khi ông đang
trao đổi với Phạm Văn Đồng, chính Hồ bước vào phòng. Ông bảo vị
khách đi về và báo lại với Washington rằng nhân dân ông hoàn toàn
không sợ và sẽ chiến đấu đến phút cuối cùng ‘cho dù chúng tôi phải hy
sinh tất cả’. Người cộng sản đã cương quyết chống lại bất cứ giải pháp
nào kéo đài sự tồn tại của chế độ Sài Gòn: họ chỉ muốn thắng lợi, và

không có gì khác.

Cũng như cuộc không chiến chớp nhoáng của Luftwaffe Đức vào nước
Anh năm 1940 đã khiến cho Winston Churchill động viên tinh thần của
nhân dân Anh đương đầu với Đức, thì việc Mỹ dội bom chứng tỏ là một
món quà trời ban cho các nhà lãnh đạo Miền Bắc, khiến họ tăng thêm
sức mạnh tập hợp nhân dân mình chống lại mối đe dọa thấy được từ các
tầng trời, hơn là chỉ cho mục tiêu chính trị duy nhất là thống nhất đất
nước. Các khẩu súng cũ được phân phát, giúp cho dân làng có thể bắn
vào máy bay kẻ thù, dù đóng góp ít ỏi cho việc phòng không, nhưng rất
nhiều cho tinh thần chiến đấu của lực lượng phòng không.
Nghệ sĩ Văn Ký nói, ‘Đối với nhân dân chúng tôi, việc đánh bom không
phải là điều bất ngờ hoặc kỳ lạ – chúng tôi đã chuẩn bị tâm lý cho việc
đó. Bác Hồ đã dặn dò chúng tôi ngay từ đầu, ‘Chiến tranh có thể kéo dài
rất lâu, và thủ đô Hà Nội của chúng ta có thể bị hủy diệt, nhưng chúng ta
không sợ.”‘ Một thiếu niên nói rằng em được mẹ khuyến khích bỏ
trường trung học mà gia nhập quân đội, trái với ngăn cấm bình thường
của đấng sinh thành, sau khi một quả bom đi lạc rơi xuống một sân
trường làng, giết chết vài học sinh trong đó có hai em họ của em.
Một cán bộ trung kiên cho đến ngày cuối cùng của đời mình vẫn hoài
niệm về những ngày tháng hồ hởi đó khi bà là đảng viên trẻ dưới bom

đạn của đế quốc Mỹ: ‘Chúng tôi có một lý tưởng, một khát vọng, một
điều gì đó để cống hiến. Chúng tôi thi đua hăng hái hoàn thành nhiệm
vụ, và tôi còn nhớ mình đôi khi bật khóc khi bạn bè làm tốt hơn mình.
Không ai đợi gọi nghĩa vụ – họ chỉ hăng hái đăng ký phục vụ. Và lúc đó
không có tham nhũng.’
Điều này chưa phải là toàn bộ sự thật. Cho dù nhân dân Miền Bắc đúng
là phơi bày tính khắc kỷ vượt bậc, nhưng dường như vô lý khi làm ra vẻ
họ ôm lấy một cách nồng nhiệt thử thách của máu lửa. Một cựu binh
người sau này trở thành một giáo sư văn chương nói vào năm 2016:
‘Nhiều năm liền người Việt đã được kể về chiến tranh như là điều gì đó
rất lãng mạn. Một số chúng tôi mệt mỏi về cách tiếp cận này.’ Một giáo
viên trung học đồng ý: ‘Đó là một thời gian khủng khiếp. Không có gì
gọi là sung sướng – chúng tôi tuyệt đối có rất ít về mọi thứ. Các nam
thanh niên biết mọi người đều phải gia nhập quân đội, nhưng không ai
muốn đi. Tôi nhớ một học trò của mình, bị gọi đi trước khi hoàn tất
trung học, trở lại trường trước khi đi vào Nam, và xin phép được ngồi
thêm một lần nữa tại bàn học cũ của mình.
Pham Hưng, sống tại một thị trấn duyên hải phía đông, có một người
bạn tên Hưởng, đẹp trai và đá bóng hay. Hưởng sống rất âm thầm vì cha
và phần đông gia đình đều trốn vào Miền Nam năm 1954. Nhiều năm
sau khi Hưởng đến tuổi nghĩa vụ, anh bị bác không cho nhập ngũ vì cha
mẹ trước đây có liên hệ với người Pháp. Cuối cùng chính quyền rất ấn
tượng trước nhiệt tình cho chính nghĩa cách mạng của anh nên họ gửi
anh xuống Đường Mòn. Thật ra nhiệt tình chiến đấu của anh là giả đò:
anh chỉ muốn tìm cách đoàn tụ với cha mình. Anh bị bỏ tù sau một vụ
đào ngũ bất thành. ‘Câu chuyện của anh là bi kịch đời thực,’ Hưng nói.
Một loạt các sự kiện tương tự mở ra khi quân đội đến tận làng mạc xa
xăm để bắt thanh niên đi nghĩa vụ cho đúng chỉ tiêu: một gia đình bảo
con trai cả của mình trốn vào rừng. Các viên chức cảnh cáo rằng trong
ba ngày nếu chàng thanh niên không ra trình diện, cha mẹ.anh phải bị
thu hồi sổ lương thực.
Thế là anh phải vào quân ngũ, nhưng đào ngũ ngay cơ hội đầu tiên vào
Nam, với sự cổ vũ của gia đình. Khi còn nhỏ, Hưng thường thắc mắc tại
sao cha mình quá lo lắng đến mức ám ảnh cho việc học hành của hai cậu
con trai: ông đánh roi và thúc ép họ phải kiếm cho được một chỗ trên đại

học. Một hôm Hưng trốn học để tham gia đi tìm xác máy bay Mỹ rơi, vì
đó mà anh bị một trận đòn nhớ đời. Chỉ sau này anh mới vỡ lẽ nguyên
nhân: sinh viên đại học, như ở Miền Nam và Mỹ, đều khỏi đi nghĩa
vụ. Cha Hưng cố bắt con vào đại học để khỏi phải ra trận. Mỗi người
Việt Nam đều nhớ mãi lần đầu tiên mình gặp phi cơ Mỹ: Hưng, khi là
đứa bé 10 tuổi, quá hoảng sợ khi nhìn thấy một cây cầu gần đó nổ tung
đến nỗi em phải chạy đi giấu ba lô đi học và sách vở thân thương sợ
rằng chúng sẽ bị phá hủy. Sau đó, em tự cười với mình vì quan tâm đến
vật sở hữu trẻ thơ hơn là để ý đến mạng sống của mình. Tuy nhiên, em
không còn cười nhiều nữa một ít năm sau đó khi vợ và con gái một vị
đại tá quân đội, tản cư khỏi Hà Nội, đến cư ngụ tại ngôi nhà nhỏ của cha
mẹ em. Em đâm ra yêu cô con gái, cũng vào tuổi thiếu niên như mình.
Một hôm khi mẹ em đang trên đường từ một thị trấn gần đó về nhà thì
bà bị một quả bom đánh phá cầu giết chết.
Gia đình Hưng sống trong một cộng đồng Phật giáo nhỏ, không xa một
cộng đồng Thiên chúa giáo. Các đứa trẻ của hai thị trấn hay đánh nhau
kiểu trẻ con vì lý do tôn giáo, chúng ném các quả lựu đạn bằng đất sét
vào nhau, bắn những khẩu súng bằng cành cây, đào hố hầm. Người lớn
đôi khi rất bực mình nhưng đây là thói quen của mọi đứa trẻ trong một
đất nước có chiến tranh.
Các tranh biếm họa lớn treo dọc các con đường làng, vẽ Lyndon
Johnson rồi sau đó Richard Nixon là những quái vật, thè lưỡi dài ngoằn
làm đường bay cho các oanh tạc cơ. Tại trường mỗi buổi sáng, các học
sinh tập thể dục tập thể trong khi hô các khẩu hiệu quen thuộc. Phần
đông dân Miền Bắc chỉ biết được tin tức qua mạng lưới loa phóng thanh
nhà nước đặt ở ngoài đường.

Tuyên truyền xác nhận rằng nhân dân Miền Nam đang sống đói khổ, bị
bọn Mỹ bóc lột như các nô lệ. Thậm chí ở nông thôn, dân chúng bỏ
nhiều thời gian trong hầm trú ẩn – và học cách phải nán lại vài phút sau
khi tiếng còi hụ báo an toàn, để cho phép những đạn pháo cuối cùng đã
nổ và các mảnh vụn từ trên trời rơi xuống hết. Chó thường được đặt tên
là Johnson, và sau đó người kế vị ông. ‘Tên Nixon được dùng để hù dọa
bọn trẻ con, như thể ông là một quái vật trong cổ tích. ‘

Vì phần nhiều các vụ tập kích xảy ra vào ban ngày, người Việt thích ứng
với cuộc sống, làm việc, đi chợ vào ban đêm. Tàu hỏa có thể đến Hà Nội
từ biên giới Trung Hoa vào ban đêm. Tài xế xe tải học cách làm quen
với việc lái xe trên những đoạn đường mà không cần bật đèn pha ôtô.
Các kỹ sư thể hiện năng lực và kỹ năng vô hạn trong việc sửa chữa cầu
và đường tàu bị đánh phá hư hại. 600,000 lao động, hầu hết là phụ nữ,
cuối cùng được sử dụng để tu bổ các thiệt hại do oanh kích: sau khi các
phi công tấn công kho bãi tàu hỏa Kép trên tuyến đường Trung Quốc
huyết mạch, nó hoạt động trở lại trong vòng 24 tiếng. Thêm 145,000
người phục vụ các phương tiện phòng không. Khi hầu hết đàn ông đều
ra trận, phụ nữ gánh chịu phần lao lớn lao dịch nặng nhọc. Ký ức đầu
đời của một thằng bé nông dân là nghe thấy mẹ thức dậy từ 3 giờ sáng
trong mùa trồng lúa và thu hoạch, để hoàn thành công việc căng thẳng
nhất trước khi mặt trời đứng bóng. Có những ngày người phụ nữ bất
hạnh kiệt sức đến nỗi bà chìm vào giấc ngủ ngay giữa ruộng lúa.
Quen thuộc với oanh kích không nuôi dưỡng sự khinh thị, mà chỉ làm
giảm đi nỗi sợ. Nhiều người thành phố lợi dụng thời gian nghỉ dội bom
mà chính quyền Mỹ nhượng bộ trong các ngày lễ quốc gia, nhanh chóng
đổ về miền quê. Một nhà ngoại giao Nga mô tả không khí mọi người vội
vã trở về nhà trong các giờ phút cuối cùng trước khi thời hạn ngưng
đánh phá kết thúc: ‘Từng hàng vô tận xe tải và xe nhiên liệu nêm kín các
con đường chật hẹp, bị tàn phá, trên đó các hố bom đã được vội vàng vá
víu. Đến nửa đêm, tình hình sát Hà Nội trở nên căng thẳng, với từng
hàng xe cộ nối đuôi, kẹt cứng. Tôi phải ra khỏi xe để đánh thức một tài
xế Việt rất trẻ đã ngủ quên tại vô lăng.’
Vì khẩu phần lương thực thiếu thốn, dân chúng lúc nào cũng tranh thủ
kiếm thêm thức ăn bổ sung. Ở vùng quê thức ăn này bao gồm thịt chuột
cà ri, thịt chuột nướng lá chanh, châu chấu, dế, bọ hung, ếch
nhái, nhộng … Không thú cưng nào được an toàn. Khi bé trai 11 tuổi
được cho biết cả nhà sẽ rời đi, em ôm con chó cưng thân yéu mà em phải
bỏ lại. ‘Một số người lạ bắt nó đi vào sáng sớm và tôi biết thế nào họ
cũng làm thịt nó.’ Thịt chó được cho là ngon nhất nếu người ta đánh vào
nó và làm thịt mềm trước khí con vật bị giết thịt.

.

Đổ thị Thu và bạn học tại Đại học Hà Nội cũng đói ăn như các bộ đội
dọc Đường Mòn HCM. ‘Các bạn trai chịu đựng nhiều nhất,’ cô nói. Thịt
và rau củ không nhiều; khoai và sắn đôi khi độn với gạo. Thậm chí
nước tắm giặt cũng thiếu thốn. Buổi chiều tối thay vì vui chơi hoặc xem
hát thì lại phải hội họp Đoàn Thanh Niên để thảo luận làm cách nào trở
thành một đoàn viên tiên tiến. Thời đó không có hút thuốc, không rượu
chè và gần như không hề quan hệ tình dục. ‘Chúng tôi là những chàng
trai tốt. Dân chúng không phàn nàn nhiều – chúng tôi chỉ chấp nhận
hoàn cảnh thực tế.’
Là một thiếu niên Hà Nội, Phạm Phương không hận thù gì người Mỹ.
Rồi chiến dịch không kích bắt đầu. Với cơn lũ bom đạn là nỗi kinh
hoàng: vụ nổ đầu tiên khiến cô chạy núp dưới một gốc cây. Sau đó, các
biện pháp đối kháng làm thay đổi cuộc sống được chấp nhận. Phương và
gia đình cô là trong số hàng trăm ngàn người phải di tản khỏi thành phố
về vùng quê, nơi dân quê đón tiếp họ, nhưng lương thực luôn thiếu thốn.
Gia đình tản cư bị sống chia tách, mỗi người cư trú tại những hộ khác
nhau, thành ra đám trẻ ngơ ngác chạy tới lui, khóc lóc, đi tìm mẹ mình.
Nhà tranh chỉ đốt đèn dầu, lũ trẻ quây quần dưới ánh sáng vàng vọt học

hành.

.

Phương, một nữ học sinh trẻ đẹp và rồi một nhân viên thủ thư, trải
nghiệm những nỗi gian khổ vượt quá tưởng tượng của phần đông người
Tây phương. Cô đi bộ mỗi ngày đến trường tiểu học 2 dặm, và sau đó
đến trường trung học 5 dặm mỗi ngày – tất nhiên, trên đôi chân trần. Là
một thiếu niên, thay vì lãng mạn trong mơ tưởng trai-gái, cô thêu dệt
những ước mơ bí mật về quần là áo lụa – và trên hết về thức ăn ngon
hơn và nhiều hơn. Cha cô ngăn cấm cô xem chiếu bóng ngoài trời các
phim Trung Quốc hoặc Nga, hầu hết có đề tài chiến tranh: vé xem phim
đắt kinh khủng. Cô thỉnh thoảng vào quán giải khát sau giờ học, đến
thăm bác để nghe các chương trình phát thanh trên chiếc đài nhỏ xuất xứ
Trung Quốc; cô chỉ được tận mắt nhìn thấy tivi sau khi chiến tranh kết
thúc. Vậy mà Phương là con gái của một gia đình tương đối có đặc
quyền, tự hào về truyền thống hàn lâm của mình – cha cô đọc thông thạo
tiếng Anh, Pháp và Nga. Kỹ năng giao tiếp chuyên môn khiến ông lúc

nào cũng có việc làm, nhưng khi đến lúc cô nộp đơn vào đại học thì bị
bác vì có lý lịch ‘không rõ ràng, vì là con của một ‘trí thức’.
Một vết nhơ duy nhất trên lý lịch một người có thể hủy hoại một sự
nghiệp. Khi Nguyễn Đình Kiên nhận giấy gọi nghĩa vụ, cha mẹ anh xoay
sở cho anh được tạm hoãn vì anh là đứa con trai duy nhất còn sống, sau
khi anh trai của anh bị tử trận ở mặt trận Lào. Hồ sơ lý lịch của anh có
ghi chép sự kiện cha anh từng là bảo vệ an ninh cho người Pháp, và xác
nhận rằng ‘anh làm chưa đủ tốt trong cuộc đấu tranh ý thức hệ của bản
thân’. Kiên viết sau đó: ‘Những lời cay đắng, phũ phàng này gây ra
không biết bao nhiêu vấn đề không sao nói được trong suốt cuộc đời
tôi.’ Việc anh xin vào Đảng bị bác bỏ. Cho dù có thành tích học tập tốt
anh bị ngăn trở cơ hội anh ao ước nhất – đi du học nước ngoài. Khi anh
tình nguyện vào lớp huấn luyện phi công, cho dù anh qua được các bài
kiểm tra anh vẫn bị từ chối vì ‘không đáng tin cậy’. Nhiều năm liền anh
bị từ chối vào phục vụ trong quân ngũ.
Sau khi các chàng trai trẻ vận lên bộ quân phục, mọi người thân yêu đều
có chung cảm nghĩ là họ đã bị một con rồng nuốt chửng, nói một cách
bóng gió. Gia đình chịu đựng khủng khiếp, nghe ngóng tin tức về số
phận của chồng và con cái từ mặt trận: suốt năm tháng sau khi bộ đội
Nguyễn Hiến Định tử trận vào năm 1965, người thân của anh không hay
biết gì. Mẹ Hiến chạy ra ngoài ngõ để đón ông phát thư mỗi khi ông đến
ngôi làng heo hút của họ – và chỉ nhận một cái lắc đầu.
Họ biết tin lần đầu về thảm kịch là nhân một dịp họp mặt mừng Xuân
của trung đoàn, thư được gửi cho người thân trực tiếp của những người
đã hy sinh, nhưng tên Hiến bị viết sai. Họ chỉ nhận được thông báo
chính thức về cái chết của anh chỉ sau ba tuần sau đó.
Lê Duẩn và các đồng chí mình đạt được thành tựu phi thường trong việc
động viên Miền Bắc và duy trì ý chí chiến đấu của nhân dân mình.
Nhưng công lý, sự mãn nguyện, hạnh phúc cá nhân không có chỗ trong
lịch trình của họ, dù có hay không có vụ dội bom của người Mỹ.

2 Những Người Bạn
Ngay từ khi bắt đầu Sấm Rền, sứ quán Mỹ ở Moscow có ý kiến rằng sự
can thiệp trực tiếp của Nga vẫn không là điều chắc chắn chừng nào mà
sự tồn tại của Miền Bắc như một nhà nước xã hội chủ nghĩa chưa bị đe

dọa. Trong khi điều này chứng tỏ là xác thực, việc dội bom thúc giục cả
người Xô viết lẫn người Trung Quốc tăng cường viện trợ trên một quy
mô chưa từng thấy. Dàn Sam-2 được thiết lập tại đông-nam Hà Nội vào
tháng 4 1965. Một dàn điển hình gồm từ 4 đến 6 bệ phóng triển khai ở
khoảng cách khoảng 50 mét quanh một ra đa và van liên lạc. Mỗi tên
lửa dài 35 bộ (10. 6 mét) giống một cột điện thoại đang bay với cánh
nhỏ bầu bĩnh – một tên lửa hai tầng bay cao vút đến kích trần gần
60,000 bộ (hơn 18 km), để lại phía sau một vệt khói trắng do dầu hôi và
nhiên liệu axit nitric. Một bộ khuếch đại đốt cháy trong 5 giây sau khi
phóng, rồi một bộ phận duy trì đảm nhiệm lực đẩy trong 20 giây tiếp
theo. Tên lửa thường được bắn cặp hay từng nhóm bốn chiếc, và một
đầu đạn 350 cân thuốc nổ gần như lúc nào cũng gây ra chết người ở
khoảng cách trong vòng 100 mét đối với phi cơ. Vào năm 1965 một máy
bay rơi cho mỗi 17 tên lửa SAM được phóng đi, nhưng khi các biện
pháp đối phó điện tử được tăng cường, tỷ lệ này giảm có lợi cho phía
Mỹ chỉ còn 35 so với một. Đến năm 1972 trung bình 60 tên lửa mới hạ
thủ được một phi cơ.

.

Một vài kỹ thuật viên và phi hành đoàn Nga phục vụ tại Miền Bắc như
hướng dẫn viên và cố vấn, và hầu hết đều hưởng thụ trải nghiệm. Đại tá
Yury Kislitsyn, sinh tại Kazakhstan năm 1934, là một chỉ huy nhiều kinh
nghiệm về SAM-2 khi công tác ở phương đông: ‘Tôi rất hăng hái – nó
pha chút lãng mạn, bạn biết đấy.’ Petr Zalipsky từ Vintnitsa, một hạ sĩ
21 tuổi, là người trẻ nhất trong số 100 người lên chuyến tàu hỏa đường
như vô tận ngang qua Nga và Trung Quốc. Mỗi người Nga mới đến đều
được phát một chứng minh thư bằng tiếng Việt ghi rõ đương sự là một
công dân Xô viết, ‘đến hỗ trợ nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh
chống người Mỹ gây hấn, cần được hết sức giúp đỡ’.
Trung uý Valery Miroshnichenko 21 tuổi khi anh đến Việt Nam, một
chuyến bay 24 giờ ngừng năm trạm tiếp nhiên liệu. Các cấp trên của anh
làm rõ là công tác này là một đặc quyền: để che giấu vị thế quân sự của
mình anh và các đồng đội mặc quần áo dân sự, được chọn lựa từ một
kho y phục lớn ở Moscow những bộ vét cắt theo mốt Đông Đức, ‘rất
điệu đà vào thời đó’.

Họ bước vào một khách sạn Miền Bắc đăng ký với chức danh ‘kỹ sư
tham quan ‘. Chúng tôi nhìn quanh quất, cười nói, trao đổi nhận xét về
những điều đáng yêu và thú vị ở khắp nơi, rồi thình lình Bang!Bang!
Đó là tiếng nói và hoả lực đại pháo – hai chiếc Phantom đánh phá kho
dầu dự trữ. Họ qua lại ba lượt, súng phòng không bắn lên ác
liệt. Chúng tôi nhào xuống đất, quần áo mới tinh lấm lem bùn đất. Khi
cuộc oanh kích đã qua, chúng tôi bước lên xe buýt, và không ai cười đùa
nữa. ‘Chuyến đi đến dàn tên lửa phải qua một con phà, và qua 45 phút
ngồi trên phà họ nơm nớp lo máy bay Mỹ sẽ quay lại, tấn công họ khi ở
giữa dòng sông.
Năm 1966 Trung uý Valery Panov trở thành sĩ quan cao cấp tại một bộ
phận liên lạc Hải Phòng, có nhiệm vụ truyền các cảnh báo phi cơ cất
cánh từ các tàu sân bay Mỹ mà các tàu đánh cá Nga gửi về. Phân đội
Nga mặc quân phục Việt không có dấu hiệu phân biệt, sống khép kín và
thiếu tiện nghi trong doanh trại đổ nát của Pháp. Họ bị nổi sảy kinh niên
vì khí hậu nóng bức, và thiếu thốn nước nôi, khiến họ phải tắm rửa phần
nhiều trên biển. Trong quá trình cuộc chiến chỉ có 18 người Nga chết vì
máy bay Mỹ, nhưng Panov có lần ở gần một quả bom nổ phải mất hai
ngày bị chấn động vì một khối gạch vỡ bắn trúng mũ sắt của mình. ‘Đó
là một thời khắc đặc biệt, ‘ông nói một cách trầm ngâm, ‘khi bạn chỉ có
thể trông cậy vào chính mình và người kế bên.’
Một sĩ quan của Thiếu tá Viktor Malevanyi nằm trú ẩn dưới một hố bom
mới tinh, tin rằng cùng một hố bom không thể bị pháo hai lần. Hóa ra
ông sai lầm, và bị thổi tan xác.
Phần đông người Việt trong trung đoàn 1,000 người được đơn vị Petr
Zalipsky huấn luyện nói được một chút tiếng Nga, và một số kỹ thuật
viên từng đi học ở Nga. Từ tháng 7 1965 dàn SAM của ông phóng tên
lửa it nhất hai ngày một lần, thỉnh thoảng thường hơn: ‘Lúc nào cũng
sống trong căng thẳng.’ Do nhu cầu khẩn cấp, thời gian huấn luyện rút
ngắn từ 6 tháng xuống còn 3 tháng, ba người Nga chia sẻ với người Việt
lòng căm thù sâu đậm đối với người Mỹ. Tiểu đoàn trưởng Thiếu tá
Ilinykh, một con người tình cảm, được nhiều người yêu mến, cổ vũ ba
kiểm soát viên của mình trước khi họ phóng lần đầu tiên: ‘Các bạn thân
mến, làm ơn đánh trúng bọn chó đó và tiêu diệt chúng, chứng tỏ chúng
ta là người Xô viết ái quốc!’ Dân chúng địa phương, vốn xem sĩ quan

nước ngoài như những người giải cứu họ, đón chào mỗi khi thấy xe ‘dê’
KAZ-59 của ông xuất hiện với tiếng reo hò ‘Ilinykh! Ilinykh!’
Khi người Nga đổi địa điểm, dân làng tặng họ nào thơm nào chuối, và
giúp họ đào công sự – một công việc nặng nhọc vì đất nhiều sỏi đá.
Truyện kể rằng các phi công Mỹ bị bắn rơi sẽ được an toàn nếu rơi vào
tay bộ đội, nhưng chắc chắn bị phân thây nếu dân chúng và dân quân
bắt được trước tiên, như thường là cảnh ngộ của phi hành đoàn đồng
minh trong nước Đức thời chiến. Valery Panov xác nhận với vẻ khoan
khoái: ‘Nông dân sẽ giết hại họ bằng xẻng và chôn họ dưới hố bom gần
nhất.’
Valery Miroshnichenko nói, ‘Tất cả chúng tôi đều giận sôi lên muốn
bắn bọn Mỹ, để cho chúng biết ai là chủ nhân đất này.’ Viktor
Malevanyi, người đã sống qua Thế Chiến II lúc còn là một thằng bé ở
Ukraine bị chiếm đóng, nói: ‘Người Việt căm ghét người Mỹ còn cay
đắng hơn cả chúng tôi căm ghét người Đức.’
Một kiểm soát viên ra đa nhìn chăm chăm vào đội hình Mỹ đang tiến
đến gần và suy tính một điểm nhắm thích hợp cho SAM-2 của mình. Do
người Mỹ làm nghẽn tín hiệu, Petr Zalipsky nói, ‘tất cả gì chúng tôi nhìn
thấy là một vệt nằm ngang, trong khi vệt thẳng đứng nhấp nháy ánh
sáng. Phi cơ dẫn đầu đang ném các mảnh kim loại nhiễu xạ chùm tia của
chúng tôi. Chúng tôi phải cố hình dung ra phi cơ nào làm nhiễu xạ. Có
hai nhóm gồm 15 phi cơ – F-4D và F-105. Bản năng tôi mách bảo phải
bắn ngay trung tâm đội hình. Tôi cho Thiếu tá Ilinykh toạ độ. Ông nói,
‘Được rồi, cứ thử xem sao. Có thể chúng ta sẽ bắn trúng cái gì đó ngay
giữa khối ánh sáng đó.”‘ Họ khai hỏa, và như thường lệ tuyên bố đánh
trúng, mặc dù thông thường điều này không chắc đúng như việc MACV
đếm xác địch.
Mười trung đoàn tên lửa Việt Nam chấp nhận khẩu hiệu ‘Di chuyển hay
là chết,’ bởi vì kinh nghiệm phũ phàng cho thấy rằng ở yên một địa điểm
trên 24 giờ là mời mọc phi cơ Mỹ đến phá hủy. Họ có thể tháo dàn
phóng trong vòng một giờ, chuyển đến địa điểm mới thường cách chỗ cũ
5 dặm. Họ tập kích hoạt dò tìm ra đa chỉ từ 5 đến 7 giây trước khí bắn
đi. ‘Hai điểm sáng hiện ra rất sát nhau trên màn hình, ’theo lời của
Nguyễn Kiên Định, người vã cả mồ hôi trong cái nóng oi bức của toa
điều khiển. ‘Ba vận hành viên đọc tốc độ phi cơ, la lên đồng thời “Mục

tiêu!” … Rồi tiểu đoàn trưởng ra lệnh, ‘Phóng hai tên lửa, tầm …”‘ Một
luồng ánh sáng lóe lên, một đám mây trắng , và một tiếng nổ như Sấm.
Vệt sáng của tên lửa có thể được nhìn thấy bay về phía phi cơ địch, và
toa điều khiển hơi run lẻn. Sáu giây sau một SAM-2 thứ hai bay vọt lên
trời, và sau đó cả đội chỉ còn nghe tiếng nói của sĩ quan vận hành đang
đọc tầm truyền đạt. Khi hai tín hiệu gặp nhau trên màn hình một đốm
sáng bừng nở bao phủ tín hiệu trả về của mục tiêu. Cả ba vận hành viên
đồng la lên ‘Đầu đạn nổ rồi!’
Nhưng thành công thường hiếm gặp: tiểu đoàn tên lửa của Kiên hoạt
động hai năm nay trước khi đạt được kỹ năng thành thạo. Lợi thế trong
chiến tranh điện tử hết nghiêng bên này lại sang bên kia trong suốt quá
trình chiến dịch Sấm Rền. Khó mà nói quá tác động mà tên lửa Shrike tự
điều khiển gây ra cho lòng quả cảm và tinh thần của đội phòng thủ tên
lửa. Khi quân Miền Bắc nhận ra rằng kích hoạt ra đa dò tìm của họ sẽ
mời gọi tên lửa đến xoá sổ, đôi khi chỉ trong vài giây, một số rõ ràng trở
nên miễn cưỡng khai hỏa. Họ viện cớ là không thể nhận diện mục
tiêu, khiến các chỉ huy nổi sùng. Một ngày gần Hải Phòng vào năm
1966, đối diện với cái cớ để xao nhãng này, một sĩ quan cao cấp đến
thăm đột xuất một toa điều khiển của dàn phóng nổi giận phừng phừng:
‘Thậm chí cặp mắt lão của tôi còn có thể nhìn thấy mục tiêu trên màn
hình của các anh! Đi phóng tên lửa đi, mẹ kiếp! Chúng nó đang tấn công
nhà máy điện Uông Bí kìa!’ Vào tháng 12 1967 phe phòng thủ đối mặt
với một khủng hoảng: người Mỹ bắt đầu làm nghẽn thành công kết nối
sóng của kênh điều khiển giữa toa điều khiển tên lửa và dàn phóng SAM
kết hợp với chúng. Tuy nhiên, cán cân nghiêng trở lại khi một tù binh bị
thẩm vấn khai hết chi tiết về loại bom Walleye mới điều khiển bằng tivi
này, cùng với các mục tiêu được ấn định trước. Hai tháng sau, vào ngày
lễ Tình Nhân 1968, một phi cơ F-105 gần như còn nguyên vẹn lọt vào
tay cộng sản, phơi bày trần trụi mọi bí mật của bộ phận làm tắc nghẽn

sóng.

Người Nga không thể chịu nỗi cái nóng bức mùa hè ở Việt Nam, thậm
chí họ mặc quần đùi và cứ vài giờ là phải xối nước cho mát. Đường phải
chảy ra. Thuốc lá được phân phát theo khẩu phần. Họ ít khi nhận thư, và
các đài của họ không bắt được trạm ở quê nhà. Báo chí xuất hiện từng
bó, trễ hàng tuần. Binh lính gần sát ngày mãn hạn nhận được các gói

bưu phẩm – chứa có lẽ trứng cá, salami, bánh mì đen, vodka và xâm
banh Nga – là một sự kiện lớn. Sĩ quan cũng nhận được rượu mạnh.
Người Nga đến từ một xã hội không giàu có gì, vậy mà họ vẫn sốc trước
cảnh nghèo khó chân lấm tay bùn của Miền Bắc, và tính cần cù, lam lũ
của giới phụ nữ. Người Nga cũng bị mê hoặc nhự Người Mỹ trước vẻ
đẹp của họ, nhưng quy tắc bất tương thân được cưỡng chế chặt chẽ. Các
cô gái làng bên tạt qua trò chuyện với đơn vị của Petr Zalipsky ‘và có
thể ôm thắm thiết một chút, nhưng nếu bạn đặt bằng tay không đúng
chỗ, hoặc ra sức ép cô vào một góc vắng, cô ta sẽ đấm bạn – nhẹ nhàng
thôi, nhưng như thế là quá đủ. Họ rất khỏe.’ Bạn của Zalipsky Ivan yêu
một cô gái lai Pháp rạng ngời làm việc trong một căng tin, và họ xin
phép cưới. Thế là cô gái biến mất, còn Ivan lập tức được cho về nước.
Khi Valery Miroshnichenko nhìn thấy các phụ nữ đang khuân vác đá
dưới sự canh gác của bảo vệ, anh hỏi họ là ai, người thông dịch của anh
lạnh nhạt cho biết, ‘Họ là tội phạm bị trừng phạt vì giao du với người
nước ngoài.’
Phần đông người Nga đều thấy mình được chào đón. Một người Nga
làm bọn trẻ làng thích thú với trò tráo bài. Trong một xã hội không có
máy ảnh cá nhân, người nước ngoài tranh thủ được cảm tình dễ dàng
bằng cách chụp ảnh gia đình và phân phát các tấm hình. Nhưng chính
quyền giám sát mọi động tỉnh của các vị khách, thậm chí khi họ đi vệ
sinh, và rõ ràng miễn cưỡng mới cho các đồng minh này học ngôn ngữ
của họ.
Người Nga ghét muổi, ‘to như B-52’ theo cách nói ngộ nghĩnh của một
người lính. Họ mê những biến hoá trong thực đơn. Chủ nhân của họ
khoản đãi họ các khẩu phần phong phú hơn nhiều so với khẩu phần dân
chúng nhận được, cùng với số lượng bia thừa thãi, nhưng thịt thì luôn
thiếu. Đơn vị của Petr Zalipsky dùng châu chấu làm mồi câu được các
con ếch tổ chảng – ‘ngon, có thịt trắng ngọt như thịt gà … đến bây giờ
tôi còn thích thịt ếch hơn hải sản.’ Nhiều người tập thưởng thức thịt rắn,
theo họ ngon hơn thịt heo bản địa, lông cứng còn bám vào da. Kiến thì
lúc nào cũng xâm lăng các chén bát, à sữa ít khi có sẵn. Valery Panov
cảm thấy may mắn khi ở Hải Phòng, anh còn được câu cá ngoài biển,
thỉnh thoảng dùng lưới cá bắt vịt trời. Yury Kislitsyn nói: ‘Đây là đất
nước rất nghèo đói: chúng tôi có một câu nói ví là người Việt ăn bất cứ

thứ gì bò được trừ xe tăng, bất cứ thứ gì lội được trừ tàu sân bay, mọi
thứ bay được trừ B-52.’ Một hôm anh nựng nịu chú chó cưng của mình,
Kao-Kee – và ngày hôm sau ăn thịt nó, với vẻ khoái trá thông cảm được.
Thiếu tá Petr Isaev dẫn đầu nhóm cố vấn hàng không Xô viết vào những
năm cuối thập niên 1960, khi lực lượng phòng thủ của Miền Bắc được
MiG-21 làm mũi nhọn tấn công. Isaev bất mãn vì kiểu cách mà ý thức
hệ xâm lấn vào việc huấn luyện: một uỷ ban ra chỉ thị người Việt phải
hoàn thành một sứ mạng đề ra, mặc dù phân nửa không hội đủ điều kiện
bay. Khi ông muốn thay đổi cách thi hành như thế và đưa vào lối phân
tích sau tác động, ông liền bị chính ủy trung đoàn phê phán nghiêm
khắc, qua một người thông dịch, ‘Đồng chí, đồng chí đã đến đây giúp đỡ
chúng tôi trong cuộc đấu tranh chống bọn Mỹ gây hấn. Còn vấn đề khác
tuyệt đối không phải chuyện của đồng chí.’
Khi mối quan hệ giữa Trung Quốc và Liên Xô trở nên gay gắt hơn, Nga
tạm ngưng chở hàng tiếp tế theo đường sắt qua lãnh thổ của Mao.
Một cuộc cạnh tranh dữ dội nổi lên giữa các kỹ thuật viên và nhà ngoại
giao Trung Quốc và Nga, để giành giật công nghệ từ phi cơ Mỹ bị bắn
rơi, mà người Việt thường nói dối với cả hai về địa điểm các mảnh vỡ.
Nhà ngoại giao Xô viết Anatoly Zaitsev nhớ một bài hát mà một đồng
nghiệp của ông sáng tác, nói về các cuộc chạy đua nhốn nháo qua rừng
rậm và ruộng lúa để tìm đến pháo bom chưa nổ hoặc xác phi cơ rơi trước
khi người Trung Quốc đến phỏng tay trên:

Hãy đến với tôi như đã hẹn trước
Lúc 6 giờ chiều sau chiến tranh
Tôi sẽ đợi bạn ở Quảng trường Arbat
Cặp dưới cánh tay tôi là một mảnh F-105

Dân làng chiếm đoạt nhôm, một kim loại quý cho các sản phẩm trong
nước. ‘Vào buổi sáng sau một vụ rơi máy bay,’ một người Nga chuyên
việc thu gom xác máy bay ngạc nhiên nói, ‘không còn lại gì từ đống đổ
nát. Dân chúng đã lấy nhôm để làm lược và nhẫn.’ Sứ quán Xô viết ở Hà
Nội báo cáo chua chát về Moscow vào năm 1967: ‘Các chuyên gia quân
sự của chúng ta làm việc trong một không khí cực kì khó khăn …
thường bị các đồng chí Việt Nam làm tệ hơn một cách không cần thiết…

đưa ra các cớ khác nhau để che giấu địa điểm rớt máy bay và trì hoãn
chuyến đi. Trong nhiều trường hợp phi cơ bị bắn rơi đã được xem xét
trước khi các chuyên gia Xô viết đến bởi không ai khác hơn là người
Trung Quốc . . . và lấy đi.mọi chi tiết có giá trị.’
Vào tháng 7 1966 người Nga giận dữ gửi thư cho chính quyền Miền
Bắc, ám chỉ rằng tình trạng đình hoãn bốc dỡ hàng hoá ở cảng Hải
Phòng Phòng phản ánh mong muốn neo tàu Xô viết ở Hải Phòng, để cản
trở Mỹ tấn công. Sứ quán Xô viết báo cáo với Moscow rằng người Việt
không tỏ lòng biết ơn những sản phẩm công nghệ mà họ tiếp tế, nhiều
hàng hoá chỉ đơn giản giữ lại trong kho. Người nhận cũng than phiền về
chất lượng kém cỏi của vật liệu Nga. Trong tháng 3 1968 họ đưa ra một
sắc luật ‘trừng phạt các hoạt động phản cách mạng ‘, trong đó bao gồm
lệnh cấm việc đi lại của các nhà ngoại giao Xô viết, và cấm tất cả các
trao đổi không được cho phép với dân chúng địa phương. Một thành
viên đoàn ngoại giao Nga đã bị trục xuất vì liên lạc với phe của Giáp
đang yếu thế. Bộ Chính trị Hà Nội nói vói sứ quán một cách tức
giận, xem Liên bang Xô viết chỉ là ‘sân sau’ cung cấp trang bị cho nỗ
lực chiến tranh của mình, và coi thường nỗi lo lắng của Nga nhằm tìm
kiếm hoà bình với Mỹ. Một tướng lĩnh Miền Bắc bảo với tùy viên Xô
viết, ‘Nếu chúng tôi bị đánh bại, chúng tôi sẽ không có chọn lựa nào
khác trừ ra đồng ý đàm phán. Nhưng thực tế là chúng tôi đang tiếp tục
giành thắng lợi có tính quyết định. Thế thì thương thảo có nghĩa lý gì
với chúng tôi? Mất tất cả, trên hết là tình hữu nghị với Trung Quốc, vốn
cũng hoàn toàn chống đối với việc đàm phán.’
Tuy nhiên, tại những địa điểm dàn SAM, có mối quan hệ công tác dễ
chịu giữa cố vấn Nga và các học trò Việt Nam của mình. Trung uý
Valery Miroshnichenko nói: ‘Bạn bảo họ học tập điều gì đó và họ làm
thế, cho dù họ không thấu hiểu điều mình đã học. Việc họ luôn sống
trong nỗi sợ hãi, không đáng ngại như việc họ bị khép vào kỷ luật, yêu
cầu phải chu toàn, phải phấn đấu cho thắng lợi. Họ đang xây dựng một
xã hội cộng sản.’ Ông và đồng đội của mình phục sát đất với khẩu phần
èo uột – chỉ một vài thìa gạo tầm thường – mà người Việt thành tựu
được nhiều kỳ tích biết bao . . . Họ lấy sức mạnh từ đâu? Họ như lũ kiến,
chỉ biết toàn tâm toàn ý hoàn thành nhiệm vụ được giao phó.’ Các chỉ

huy Miền Bắc bất đắc dĩ cho phép tăng thêm một ít khẩu phần cho các
chiến sĩ tên lửa, trong hy vọng cải thiện được kỹ năng quan sát của họ.
Vào tháng 6 1965, để đáp ứng một yêu cầu của Lê Duẩn, Trung Quốc cử
một lực lượng các kỹ sư và hậu cần quân sự. Hơn 170,000 binh sĩ – hầu
hết là lính lục quân hoặc kỹ sư – đi tiếp theo vào năm sau , và giữa
những năm 1965 và 1968 tổng cộng có đến 310,011 người Trung Quốc
phục vụ ở đây, cùng với 346 cố vấn.
Đại tá Guilin Long 57 tuổi là một chuyên viên đường sắt đã từng phục
vụ qua hai thời kỳ nội chiến và chiến tranh Triều Tiên. Ông được triệu
tập đến bộ Tổng tham mưu Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc ở
Bắc Kính vào một ngày tháng 4 1965, và được ra lệnh tham gia một ban
chỉ huy 10 người bay lập tức đến Việt Nam. Vai trò của họ là chỉ đạo
công trình sửa chữa mạng lưới đường tàu hỏa bị máy bay Mỹ đánh phá,
nhờ đó đẩy nhanh tiến độ vận chuyển vũ khí và hàng tiếp tế từ Trung
Quốc. Trách nhiệm đặc biệt của Long là phần đi ngang qua biên giới tại
Hữu Nghị Quan và khu vực Hà Nội-Lào dài 150 dặm. Dẫn đầu nhóm là
một tướng lĩnh cao cấp, vừa đến Việt Nam họ được Phạm Văn Đồng và
các thành viên khác trong bộ chính trị đón tiếp. ‘Tình hình cực kì
nghiêm trọng,’ Long viết trong hồi ký của mình. ‘Nếu mạng lưới đường
sắt Việt Nam hư hỏng nhiều hơn nữa, toàn bộ nỗ lực chiến tranh sẽ bị

lâm nguy.’

Ông có thể lợi dụng kinh nghiệm 1950-53 của mình trong việc duy trì hệ
thống đường tàu ở Bắc Triều dưới trận mưa không kích. Tuy nhiên, đi
không ngừng nghỉ suốt thời tiết tệ hại nhất của giai đoạn gió mùa, ông
cảm thấy tác hại của tuổi già. Trong cái nóng ban ngày khi nhiệt độ
thỉnh thoảng lên đến 38 độ C, ‘chúng tôi thấy choáng váng và quần áo
ướt đẫm mồ hôi. Khi trời mưa, chúng tôi lấm lem bùn đất từ đầu đến
chân … Chúng tôi sống không tốt.’ Vào tháng 6 lực lượng lao động đầu
tiên đến – 5 trung đoàn của Quân đoàn Đường Sắt Quân Giải
phóng, thêm một trung đoàn pháo phòng không. Long giữ chức giám
đốc điều hành cho Phân đoàn 1 Quân đoàn Kỹ sư Chí nguyện Nhân dân
Trung Quốc’. Long thiết lập bộ chỉ huy ở tỉnh Lạng Sơn, các công nhân
cắm trại quanh đường tàu. Người Trung Quốc thất kính khi biết rằng đài
phát thanh Sài Gòn đã loan tin về việc họ đến Miền Bắc. Khi máy bay
thám thính Mỹ vần vũ trên khu vực, vào ngày 3 tháng 7 Miền Bắc thuyết

phục họ dời vị trí. Tuy nhiên, điều này không tránh cho họ khỏi bị đánh
phá với nhiều thương vong. Long viết: ‘Chúng tôi thấy mình lâm vào
tình cảnh khó khăn như hồi ở Triều Tiên 12 năm về trước…
Tất cả địa điểm của chúng tôi đều bị kẻ thù biết rõ.’ Các cán bộ Việt gợi
ý là bộ đồ cotton màu xanh lam của công nhân Trung Quốc đã tiết lộ
quốc tịch của họ.
Khi mùa hè đến, vượt hơn nỗi khổ gây ra do Mỹ đội bom, là nhiệt độ đôi
khi lên đến 49 độ, với độ ẩm 85 phần trăm. Thợ làm lụng trên đường sắt
tiêu thụ đến 15 lít nước mỗi ngày, vậy mà một số công nhân bị sốc
nhiệt. Bệnh tật bùng phát và lây lan qua vi trùng hiện diện trong mỗi
dòng nước và ao đầm. Công nhân-binh lính Trung Quốc làm mồi cho
các bệnh ngoài da đặc hữu và bệnh mất ngủ. Thực phẩm thiếu thốn:
người Việt chỉ cung cấp bí rợ và rau muống, cùng với một ít chuối.
Trung đoàn của Long phải nhập thực phẩm đóng hộp và rau củ khô từ
Trung Quốc. Binh lính ghét bọn rết rít, đỉa và muỗi không khác đối tác
Mỹ cách đó vài trăm dặm về phía nam. Họ phát hiện rắn bò vào nhà bếp
ăn trứng, và trườn vào khu phòng ngủ – đã có một người chết vì bị rắn
độc cắn. Hàng ngàn người bị sốt rét hành hạ. ‘Mặc dù chúng tôi người
của Quân đoàn Đường Sắt đã chịu đựng mọi loại gian khó trong cuộc
nội chiến và ở Triều Tiên, trước đây chúng tôi chưa hề làm việc trong
một môi trường thù địch như thế,’ Long viết.
Rồi các oanh tạc cơ lại đến, làm tăng thêm nỗi cơ cực của họ. Cuộc
không kích ngày 9 tháng 7 1965 trên tuyến đường phía tây phá hủy nhà
ga và cầu cống. Vào ngày 23 tháng 8, phi cơ Mỹ đánh phá tuyến phía
bắc và người Trung Quốc đang làm việc tại đó. Cuộc tấn công rầm rộ
ngày 20 tháng 9 xuống cầu bắc qua sông Thanh Hoa giáng 20 trận công
kích và gây thiệt hại nghiêm trọng; tiếp theo là 5 vụ đánh phá thêm
nữa. Người Trung Quốc tự hào trong việc người mình thi công sửa chữa
nhanh chóng: tuyến giao thông đến Trung Quốc không bao giờ bị cắt đứt
quá lâu. Tuy nhiên, xa hơn về phía nam, các cây cầu quan trọng trong
tỉnh Bắc Giang, gần Hà Nội, bị đánh phá lần nữa – một binh sĩ Trung
Quốc lái một xe tải bốc cháy ra khỏi một nhịp cầu dưới đạn lửa, e nó nổ
tung gây thêm thiệt hại. Pháo phòng không được gửi thêm từ Bắc Kinh;
hào hố và boongke được đào; trại lính phân tán và giảm nhỏ kích
thước. Các đội phòng không tuyên bố các kỳ tích ngoạn mục, như các

pháo thủ luôn làm thế, cho rằng mình đã bắn hạ 11 máy bay Mỹ trong
bốn cuộc oanh kịch tháng 10, và gây hư hỏng cho 17 chiếc khác.
Khi người Trung Quốc thoạt đầu đến họ chỉ có hai nhân viên tình báo
giám sát các hoạt động của người Mỹ. Hai năm sau mạng lưới phòng
không mở rộng đến 31 bàn theo dõi oanh kích và một hệ thống cảnh báo
điện thoại tinh vi. Để cải thiện các điều kiện vật chất khó khăn cho binh
sĩ, Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc cho phép các hỗ trợ chưa
từng có: thêm một bộ quần áo lao động dự trữ cho mỗi người, sandal
nhựa thay vì giày bố, thuộc chống muỗi, thuốc trị nọc rắn độc, cố vấn y
tế. Người Việt miễn cưỡng cho phép các vị khách của mình được trồng
rau củ cải thiện bữa ăn.
Tuy nhiên, các hiểm họa vẫn không giảm. Vào chiều ngày 21 tháng ba
1966, Guilin Long đang lái xe đến thanh tra một địa điểm xây dựng trên
Quốc lộ 1 gần núi Ngọc Long thì phi cơ Mỹ đánh phá. Vì tiếng xe quá
ồn, ông không hay biết mối hiểm họa cho đến khi thấy binh sĩ chạy tứ
tán tìm chỗ ẩn nấp trong cánh rừng gần đó. Ông và phụ tá ngừng xe và
nhảy xuống giữa một quả báo phát nổ. Sức thổi từ vụ nổ ném Long bay
xuống một con mương gần đó. Chỉ huy của ông bị giết chết cùng với
người tài xế của họ; người thông dịch Việt Nam bị thương. Người cận vệ
của ông, bị đứt động mạch cánh tay do mảnh pháo cắt, ngã ra ngất lịm
khi cố kéo người xếp bất tỉnh của mình ra khỏi con mương. Khi Long
tỉnh dậy, ông thấy người ướt đẫm máu của cận vệ. Vị đại tá sau đó được
đưa về nước, bị chấn động và hư cột sống. Ông trở thành một trong số
1,675 người Trung Quốc bị thương, cùng với 771 người chết, trong
chiến dịch Sấm Rền.
Theo như được biết, không có phi công nào của Nga hay Trung Quốc
bay tác chiến chống người Mỹ. Tuy nhiên, theo một hiệp ước tháng ba
1967 giữa Hà Nội và Bình Nhưỡng, Bắc Triều Tiên thoạt đầu cam kết
gửi 10 phi công MiG-17, sau đó tăng đến 20, đặt căn cứ tại sân bay Kép
phía đông-bắc Hà Nội, và được biết dưới tên ‘Nhóm Z’. Tổng số 87
người Bắc Triều bay cho Miền Bắc vào lúc này hay lúc khác giữa đầu
năm1967 và cuối năm 1968 khi họ rút về nước. Họ mất 14 phi công, và
tuyên bố đã bắn rơi 26 phi cơ Mỹ.
Vào ngày 23 tháng 12 1966, phó quản lý biên tập báo New York Times
Harrison Salisbury đến Hà Nội trong một chuyến viếng thăm với kết quả

tuyên truyền rầm rộ. Ông được chọn trong số đông người thuộc giới
truyền thông xin được cấp giấy nhập cảnh, vì ông là một đối thủ chống
ném bom được công nhận. Salisbury được dẫn đi tham quan các địa
điểm tại Hà Nội được cho là có 300 nhà cửa bị phá hủy và 10 dân
thường bị giết – năm dặm cách các mục tiêu gần nhất được cho phép của
Không lực Hoa Kỳ. Trường trung học Hữu Nghị Việt Nam-Ba Lan được
cho là bị phá hủy. Ông cũng được chở 60 dặm đến Nam Định, và được
cho biết là bị đánh phá 52 lần, giết chết 89 người và phá hủy hơn một
phần mười nhà cửa của thành phố. Ông báo cáo rằng phi cơ Mỹ ‘bỏ
xuống một khối lượng thuốc nổ khổng lồ lên các mục tiêu thuần tuý dân
sự ‘.
Salisbury gặp các khó khăn quen thuộc với mọi vị khách được ban đặc
quyền tiếp cận một nhà nước chuyên chế. Ông xúc động mạnh trước trải
nghiệm, và đồng cảm với một dân tộc Á châu nghèo khó hứng chịu oanh
kích vì một lý do đáng ngờ bởi một quốc gia hùng mạnh nhất trên thế
giới. Tuy nhiên, trong các bài viết và quyển sách sau đó của mình, ông
đưa ra những dữ kiện không đủ sức nặng do không có khả năng kiểm tra
bất cứ điều gì mà chủ nhà nói với ông, tin tưởng một số xác nhận của
chính quyền Miền Bắc thật ra là không đúng – chẳng hạn, rằng người
Mỹ đã có chủ tâm muốn phá hủy đê sông Hồng và nhà máy dệt Nam
Định. Chính quyền Mỹ bác bỏ một số phát hiện của Salisbury bằng cách
làm nổi bật viêc ông ta sử dụng các thống kê thương vong hiện diện
trong các sổ tay tuyên truyền của cộng sản. Salisbury cho in một bức ảnh
chụp một nhà thờ Thiên Chúa bị tàn phá mà việc điều tra sau đó phát
hiện nó không bị hư hại. Các bài viết sống động và giàu cảm xúc
của nhà báo, cũng như các báo cáo tương tự sau đó của các vị khách Tây
phương cánh tả đến Miền Bắc, thể hiện sự dễ tin quá đáng. Dù sao,
chính quyền Mỹ không thể phủ nhận một cách thuyết phục những sự
thật không được chào đón, mà trước tiên trong số đó là một tỷ lệ không
nhỏ các vụ ném bom sai địa chỉ. Chẳng hạn, trong các cuộc tập kích vào
nhà máy điện Nam Định, bom rơi xuống các nhà máy dệt kế cận.
Các chiến đấu cơ hải quân đánh phá các ổ pháo trên đê. Có lần, phi cơ
có nhiệm vụ tấn công một kho bãi tàu hỏa lại đi bỏ bom một kho bãi
khác, sát Hà Nội. Một trong các nhà biên niên Không lực Hoa Kỳ tiên
phong nhất của cuộc chiến, Wayne Thompson, nhìn nhận trong lời

tường thuật của mình: ‘Cho dù một phi công nhận diện đúng một mục
tiêu, phần đồng bom của anh ta có thể đánh sai.’ Theo ước tính của
không lực, chỉ phân nửa bom do F-105, thường mang 6 bom 750
cân, ném xuống đánh trúng trong vòng 500 bộ cách điểm nhắm. Điều
này cấu thành sự chính xác hợp lý, nhưng để lại một bờ lề rộng cho điều
thường được gọi là ‘tổn thất ngoài dự kiến’. Hơn nữa, các bom bị vứt
bỏ, các thùng xăng, các tên lửa không-đối- đất và một số lượng lớn các
mảnh đạn pháo và tên lửa của Miền Bắc phải rơi xuống đâu đó. Không
thể tranh cãi là các tổn thất to lớn đã giáng xuống các phương tiện và
nhà cửa phi quân sự, một số không nhỏ dân thường bị thiệt mạng.
Salisbury chuyển tải đến thế giới – vì các báo cáo của ông đạt được số
lượng độc giả đông đảo, tạo một tác động vượt quá mức mong đợi của
bộ chính trị Hà Nội – hai thông điệp quan trọng. Thứ nhất, việc đánh
bom của Mỹ đã giết hại người dân vô tội; thứ hai, dân chúng đang đáp
ứng với quyết tâm và lòng quả cảm.
Các nỗ lực vụng về của Lyndon Johnson nhằm hạn chế vì lý do nhân
đạo chẳng đem lại ích lợi gì, bởi vì Salisbury gặng hỏi tại sao quá nhiều
mục tiêu tầm thường ở nông thôn bị tấn công, trong khi nhà máy năng
lượng Hà Nội và cây cầu lớn Paul Doumer vẫn còn nguyên không bị
đánh – tại thời điểm đó. Nhưng không ai được điều mình muốn từ
chuyến di của nhà báo New York Times. Một cuộc thăm dò tháng 2
1967 cho thấy trong khi có 85 phần trăm người Mỹ được hỏi nhìn nhận
dân thường đang bị sát hại, thì có 67 phần trăm tiếp tục hậu thuẫn đánh

bom.

Các tháng tiếp theo chứng kiến cuộc không chiến leo thang ác
liệt. Trong sáu tháng cuối cùng của Thế Chiến II, dưới sự điều hành
của Curtis LeMay Không lực Hoa Kỳ đã bỏ 147,000 tấn bom xuống
Nhật Bản, giết chết 330,000 người Nhật. Chiến dịch Sấm Rền sử dụng
một số lượng bom pháo gấp 4 lần, mà chỉ giết chết 52,000 trong số 18
triệu dân Miền Bắc. Phân nửa người dân Hải Phòng bỏ đi; dân số Hà
Nội chỉ còn một phần ba. Vào năm 1966 chiến dịch không kích tốn phí
Hoa Kỳ 6.6 đô la cho mỗi đô la tổn thất nó gây ra, và tăng gần 10 đô la
một năm sau đó. Mùa xuân trước, khi Tư lệnh James Stockdale được các
phi công hỏi, ‘Tại sao chúng ta lâm chiến?’ Ông trả lời: ‘Làm thế là vì
lợi ích của Hoa Kỳ.’ Việc đánh bom càng kéo dài, tuy nhiên, tổn thất

càng tăng cao, và người tiến hành công việc càng hoài nghi. Trung uý
Eliot Tozer, một phi công A4, viết trong nhật ký của mình: ‘Nỗi thất
vọng xảy ra dưới mọi mức độ. Chúng tôi bay một phi cơ có giới
hạn, ném bom hạn chế, trên các mục tiêu hiếm hoi trong một số lượng
thời gian hạn chế. Tệ hơn hết, chúng tôi làm tất cả điều này trong một
cuộc chiến không được nhiều người ủng hộ và bị hạn chế gắt gao.’
Cảm nghĩ của Tozer được chia sẻ tại giới chóp bu tư lệnh. Vào cuối
buổi trao đổi 1967 một tướng lĩnh tuyệt vọng John McConnell của
Không Lực lấy hai tay ôm đầu, than vãn, ‘Tôi không thể nói với các ông
tôi cảm thấy thế nào . . . Tôi quá chán chường việc này. Tôi chưa bao
giờ từng thất vọng khốn kiếp như thế.’ Sấm Rền đã hủy diệt 65 phần
trăm khó dầu của Hà Nội, 59 phần trăm nhà máy năng lượng, 55 phần
trăm các cây cầu chính, 9821 xe cộ và 1,966 toa tàu. Vậy mà Hà Nội vẫn
có thể lợi dụng sự dội bom để tạo một hiệu quả ghê gớm, dẫn dụ được
Moscow và Bắc Kinh tăng cường viện trợ hơn nữa. Vào năm 1968
Trung Quốc mỗi ngày chở đến 1,000 tấn hàng xuống đường sắt bắc-
nam. Miền Bắc đã nhận tổng cộng gần 600 triệu đô la viện trợ kinh tế
và 1 tỷ đô la viện trợ quân sự, một số tiền khổng lồ cho một nước Ấ
châu tương đối nhỏ và nguyên sơ.
Nghiên cứu mật JASON 1966 của Ngũ Giác Đài cho thấy sự minh bạch
đáng chú ý về các hậu quả không dự liệu của Sấm Rền: ‘đánh bom rõ
ràng làm tăng sức mạnh hậu thuẫn nhân dân cho chế độ bằng cách tạo ra
nhiệt tình ái quốc và dân tộc ‘. Nghiên cứu cũng nhìn nhận rằng ‘những
người dính líu trực tiếp nhiều hơn trong cuộc oanh tạc trải qua gian khổ
và lo âu cá nhân . . . Tinh thần chắc chắn bị tổn thương bởi việc bị đánh
bom trực tiếp ít hơn bởi các hiệu quả gián tiếp, như việc tản cư dân đô
thị và gia đình ly tán. ‘
Tuy nhiên, ‘một cuộc tấn công trực tiếp và trực diện vào một xã hội có
khuynh hướng củng cố mối ràng buộc xã hội của quốc gia, làm gia tăng
hậu thuẫn của nhân dân đối với chính quyền hiện hành, tăng cường
quyết tâm phản kháng của cả giới lãnh đạo lẫn quần chúng nhân dân.’
Vậy mà các Tham mưu trưởng Liên quân vẫn không dao động trong
nhiệt tình đánh bom mạnh hơn nữa. Trong một bản ghi nhớ gần như có
tính cách răn đe hạt nhân ngày 16 tháng 6 1967, Tướng Earle Wheeler
thúc giục tăng cường tấn công Hà Nội-Hải Phòng, nói rằng ‘có một khả

năng nào đó mang tính quyết định … mặc dù không phải là chuyên gia
về công luận thế giới và quốc nội, tôi tin rằng một hành động nhiều
mãnh liệt hơn thay vì ít mãnh liệt hơn sẽ mang lại sự hậu thuẫn tăng
cường, trừ ra từ người cộng sản mà chúng ta chỉ sẽ nhận được thêm sự
tôn trọng. Cuối cùng tôi không tin việc này sẽ dẫn đến sự rủi ro nghiêm
trọng’.
Tuy nhiên, ngay trước khi Sấm Rền khép lại vào tháng 3 1968, các kết
quả xoàng xĩnh của nó đã đẩy nhanh sự rút lui, sự bội giáo, sự lật ngược
chính trị: của Robert McNamara. Trước khi ra đi cuối cùng khỏi nhiệm
sở vào ngày 29 tháng 2, tại một bữa ăn trưa cá nhân ông xúc động xác
nhận bằng lời lẽ đầy tình cảm nỗi phiền muộn của mình về ‘tính vô vọng
nghiền nát’ của hành động dội bom. Ông, như một số chỉ huy quân sự
‘giác ngộ’ hơn Earle Wheeler, đã đến nước hiểu ra rằng thắng lợi bằng
cách thức này chỉ có thể đạt được bằng cách áp đặt một sự tàn phá trên
một quy mô hoàn toàn không thích hợp với các giá trị của Hoa Kỳ.
Mong muốn thể hiện sức mạnh và quyết tâm của Lyndon Johnson trong
vấn đề Việt Nam bị trói buộc bởi những nghi ngại không dứt khoát: sợ
chương trình Xã hội Vĩ đại bị ảnh hưởng; lo ngại khiêu khích Nga và
Trung Quốc sẽ nhảy vào; lo lắng duy trì được hậu thuẫn của đồng minh
trong lập trường leo thang của mình; hy vọng bảo vệ nền tảng chính trị
trong nước và hình ảnh Hoa Kỳ trước mắt thế giới. Tổng thống không
chịu nhìn nhận rằng không thể đánh bom một kẻ thù theo kiểu tử tế, với
nhiều triển vọng đập gãy ý chí của họ. Hơn nữa, các yêu cầu tiếp tế của
người cộng sản quá nhỏ bé đến nỗi không chắc chiến dịch không kích
tăng cường mà các Tham mưu trưởng chủ trương sẽ sinh ra một kết quá
khác. Giữa sự đối đầu Trung-Xô của cuối thập niên 1960, khó mà tưởng
tượng một kịch bản trong đó có cường quốc cộng sản chủ chốt nào trong
hai sẽ bỏ rơi đồng minh của minh, cho dù nếu các phi công Mỹ đã biến
Miền Bắc thành rác rến – hoặc, lịch sự hơn, thành vỏ bào và rơm rạ.

Dân chúng xẻ thịt một phi cơ Mỹ bị bắn rơi

CHƯƠNG 16: BÙN NGẬP ĐẾN THẮT LƯNG

1 Người Yêu Hòa Bình

Hai cuộc chiến Việt Nam song hành diễn tiến vào năm 1967: cuộc chiến
thứ nhất tất nhiên là cuộc chiến tăng cường diễn ra trên chiến trường
Việt Nam; cuộc chiến thứ hai là cuộc đấu tranh ngày càng dữ dội chống
lại cuộc chiến thứ nhất diễn ra ngay quốc nội Mỹ. Tivi đài CBS bắt đầu
phát thanh chương trình phim hài Anh Em Nhà Smothers, một sô trở
thành ăn khách bất ngờ của mùa diễn. Mặc dù các câu nói châm biếm
đối với tiêu chuẩn thế kỷ 21 là tương đối mềm, một sự huyên náo bùng
nổ về việc liệu nhạc sĩ dân ca Pete Seeger có nên được phép xuất hiện
với vai trò một khách mời. Ông cuối cùng trình diễn một bài hát gây
kích động trong đó cao trào vang lên ‘Chúng tôi bùn ngập đến thắt
lưng/Mà thằng điên to xác cứ bắt chúng ta tiến lên.’ Bài hát được cho là
nói về một trung đội diễn tập vào năm 1941 tại Louisiana, nhưng không
một khán giả nào nghi ngờ hoặc tỏ ra nghi ngờ, rằng thực sự bài hát nói
về Việt Nam và sự lãnh đạo của Lyndon Johnson.

Mùa xuân đó, sự chống đối trong nước đối với việc Mỹ đem quân tham
chiến bùng nổ để trở thành một phong trào rộng khắp, dính chùm
với, dù không chỉ bó hẹp trong, phong trào hippy và thế hệ tàu điện
ngầm mới sử dụng cần sa và tự do luyến ái. Thủ lĩnh hippy râu tóc xồm
xoàm Jerry Rubin nói, ‘Tồn tại một cuộc chiến đang xảy ra giữa người
trẻ và người già đang điều hành đất nước này.’ Một thiên hà các ngôi sao
và người nổi tiếng xuất hiện chống chiến tranh, dẫn đầu là phần đông
thành viên trong gia đình Kennedy và các bạn thân của họ như J.K.
Galbraith và Arthur Schlesinger, và cũng bao gồm Joan Baez và Bob
Dylan, Norman Mailer và Jane Fonda, Bác sĩ Nhi Benjamin Spock, triết
gia Anh Bertrand Russell, nhiều nghệ sĩ, học giả và kẻ tả khuynh ở cả
hai bên bờ Đại Tây Dương, cùng với các lãnh tụ các phong trào đòi
nhân quyền cho người da màu. Martin Luther King tuyên bố vào tháng
8 1967: ‘Những lời hứa hẹn về Xã hội Vĩ đại đã bị bắn chết trên chiến
trường Việt Nam.’
Tại cuộc điều trần xác nhận hồi tháng 4 của nhà ngoại giao kỳ cựu
Ellsworth Bunker trước khi kế vị Henry Cabot Lodge, vị đại sứ Mỹ tại
Sài Gòn mới được bổ nhiệm tái xác nhận mục tiêu của chiến tranh là
một Miền Nam tự do và bền vững. Thượng nghị sĩ Fulbright cật vấn
‘liệu quyền tự quyết của 15 triệu người Việt có xứng đáng với các thiệt
hại nó gây ra cho đất nước chúng ta’. Hết tháng này đến tháng khác, các
cuộc biểu tình càng tăng quy mô cho đến tháng 10 50,000 người phản
chiến tụ tập tại Washington, tại đó 10,000 binh sĩ được triển khai để bảo
vệ Ngũ Giác Đài.
Thượng nghị sĩ Edward Kennedy tuyên bố: ‘Không có một quốc gia vĩ
đại nào có thể dám tuyên bố mình đã giành được tự do và dân chủ cho
một dân tộc khác nếu . . . nỗ lực của quốc gia đó chỉ làm hủy hoại đất
nước họ và lối sống họ.’
Những người hậu thuẫn chiến tranh tự xem mình là người yêu nước
cũng như là kẻ thù của chủ nghĩa cộng sản. Tờ New York Times ghi lại
những lời lẽ đanh thép của một giáo sĩ phái Cải Cách, mới trở về từ Việt
Nam, xác nhận rằng những kẻ tấn công vào nền hành pháp ‘là tiếp tay
kéo dài chiến tranh … làm những gì “bọn diều hâu” ở Hà Nội mong
muốn nhất’ là mô tả Hoa Kỳ như là ‘người gây hấn và Việt Cộng và bọn
Miền Bắc là những nạn nhân vô tội’. . Carl McIntire, người sáng lập

giáo phái Bible Presbyterian, tuyên bố cuộc đấu tranh là ‘chính nghĩa
công chính và thiêng liêng ‘ trong khi nhà truyền giáo Billy James
Hargis lập luận rằng người Mỹ đang chiến đấu cho ‘tự do … an ninh
Hoa Kỳ ‘. Các biên tập viên của Christianity Today, một tuần san truyền
giáo, thúc giục dội bom nhiều hơn nữa.
Trong khi đó, tại đầu mút đối nghịch của quang phổ, phong trào phản
chiến ngày một điên cuồng. Nhiều người Mỹ thân thiết với Việt Nam
phàn nàn cung cách mà quốc gia họ đang tiến hành cuộc chiến. Tuy
nhiên, họ cũng nhìn nhận sự tàn bạo của người cộng sản và bản chất
chuyên chế của chế độ Hà Nội, và do đó bất bình trước những người
phản chiến sử dụng các bài hát để kể tội tổng thống mình – ‘Này, này,
LBJ, bao nhiêu đứa trẻ ông đã giết chết hôm nay?– mặc nhiên xác nhận
tính tốt đẹp của kẻ thù. Khi Frank Scotton nói chuyện với sinh viên, ông
thất vọng nhận ra rằng họ mặc nhiên nhìn nhận tính hợp pháp của cuộc
chiến phát động nhân danh Hồ Chí Minh: ‘Khi tôi phản bác điều đó, họ
không hiểu tôi đang nói gì – như thể tôi bắt đầu nói về toán học cao
cấp.’ Chủ tịch Ban Tham mưu Liên quân rất sốc khi nghe một người
phản chiến, đối mặt với chứng cứ tù binh Mỹ bị tra tấn, tuyên bố rằng
lỗi là ở các phi công Mỹ, vì đã đánh bom.
Henry Kissinger có lần tỏ vẻ khinh miệt đối với ‘chủ nghĩa khổ dâm vô
hạn của trí thức Mỹ, đối với họ đó là một biểu tượng của niềm tin khiến
họ cho rằng mọi khó khăn của mối quan hệ (Đông-Tây) là do sự ngu
ngốc và ngang ngạnh mà người Mỹ gây ra’. Đây là thời kỳ quái đản
trong lịch sử khi mà một phần không nhỏ tuổi trẻ Tây phương tuyên bố
mình ngưỡng mộ Mao Trạch Đông, Fidel Castro, Che Guevara và những
người cách mạng khác, không cần biết đến sự áp bức và bạo lực mà các
người hùng của họ xiển dương – và, trong trường hợp Mao, hành động
giết người tập thể do y chủ trì, tồi tệ không sao sánh được hơn bất kỳ nỗi
kinh hoàng hiện đại nào mà Hoa Kỳ có thể nhận lãnh trách nhiệm.
Hậu quả của làn sóng hỗn loạn đang dâng lên trong nước thật là sâu sắc,
nhất là trên sân trường đại học. Kể từ khi bắt đầu cuộc chiến, cho dù
trên chiến trường một số quân nhân, thủy thủ và phi công đã tỏ ra vụng
về và nhiều người đã cho thấy mình thật vô cảm, nhưng tinh thần dấn
thân vẫn lan tỏa vào một nhiệm vụ không được chào đón nhưng cần
thiết. Từ 1968 trở đi, tuy nhiên, tình trạng này thay đổi. Khi các cựu

binh trở về nhà, họ được người mới thay thế, nhiều người trong số này
lây bệnh bất đồng chính kiến, hút sách và không có niềm tin. Khi một
sĩ quan hướng dẫn của MACV báo cáo rằng trong tiểu đoàn sắp đến một
số người có trình độ đại học, Tướng Creighton Abrams cho rằng nghe có
vẻ tốt. Tuy nhiên, một sĩ quan của ông nói một cách u ám, ‘Càng học
nhiều càng dễ viết thư cho quốc hội.’
Robert Holcombe là một người New York da đen đã trốn quân dịch một
năm và cuối cùng đọc lời tuyên thệ quân sự với tay bị còng. Con trai một
giáo viên, y là một tên nổi loạn bẩm sinh, thành viên cực đoan của các
cuộc biểu tình ngồi và thảo luận trong đại học, chuyện ngấu nghiến sách
đỏ Mao Tuyển và bị tống cổ khỏi đại học Tennessee vì tham gia bạo
loạn. Sau này y nói, ‘Tôi đã đọc hàng tấn sách chính trị từ Cuba, Trung
Quốc, và cả Hà Nội. Chiến tranh thực sự chỉ tiến hành vì của cải. Theo
tôi nhìn thấy, chúng ta đặt một chân vào một xứ nhỏ ở phương Đông chỉ
vì nó có đồn điền cao su, lúa gạo, gỗ và có thể có dầu. Và dân chúng ở
đó. Một nguồn lao động rẻ mạt.’ Vậy là ở cuối cuộc chơi dài húc nhau
với chính quyền, y tỏ vẻ không muốn phục vụ quân đội Mỹ ở Việt Nam.
Holcombe, dù trong năm 1967 vẫn chưa đến gần cuộc chiến, là một hình
mẫu của điều đang đến. Một cuộc khảo sát binh sĩ đến Việt Nam trong
năm đó cho thấy một trong năm người đã chơi cần sa, một tỷ lệ mà ba
năm sau tăng đến phân nửa. Tỷ lệ trong nước những người chơi thuốc
tăng lên từ một phần tư năm 1967 đến hai phần ba năm 1971. Một nhóm
quân nhân đọc mà không tin vào mắt mình những lời độc hại từ phong
trào phản chiến Mỹ, trong các tờ báo gửi từ quê nhà đến ruộng lúa hoặc
vùng cỏ voi. Trung sĩ của Trung uý Andy Finlayson phẫn nộ khi đơn vị
của anh nhặt được các truyền đơn cộng sản viết bằng tiếng Anh trích lại
các lời lên án chiến tranh của Eugene McCarthy và của Robert Kennedy.
‘Khổ thay tôi không thể đưa cho trung sĩ lý lẽ xác đáng tại sao các chính
trị gia này lại thốt ra những điều như thế,’ người sĩ quan TQLC chuyên
nghiệp này nói. Một số chiến binh Mỹ sau này hóa ra tin tưởng rằng –
đúng ra, mãi mãi sau này khăng khăng cho rằng – thay vì đánh thua trên
chiến trường, họ đã bị phản bội bởi tinh thần hèn yếu ở quê nhà, ‘cú
đâm sau lưng chiến sĩ’.
Đại uý người Texas John McNamara viết từ Đà Nẵng, nhận xét rằng
mình và phần đông đồng đội bị ‘tổn thương bởi các chứng cứ bất đồng

dân sự (ở Hoa Kỳ) … Tôi đã nhìn thấy một xe khách bị trúng mìn Việt
Cộng ngày hôm đó: phụ nữ, trẻ em, và thú vật vương vãi khắp nơi.’
Nhưng ông nhìn nhận mình hoang mang: ‘Chúng tôi không làm việc đó.
Câu hỏi lớn lao hơn là, tôi và chính quyền tôi và nói rộng ra nền văn
minh Tây phương có tạo ra các điều kiện nuôi dưỡng các tên khủng bố
Á châu hay không? Ngay cả người cộng sản còn kinh ngạc trước sự thái
quá của phong trào phản chiến Hoa Kỳ. Nhà hoạt động cực đoan Tom
Hayden, người sau này lấy Jane Fonda, thăm viếng Hà Nội và trở thành
người bênh vực nhiệt thành cho Miền Bắc. Một trong ít khoảnh khắc
khôi hài trong thời gian bị giam giữ trong rừng của Doug Ramsey xảy ra
khi tên của Hayden được nhắc đến trong một cuộc hỏi cung. Người tù
hỏi các cán bộ thẩm vấn cho biết ý kiến về ông ta. Một cán bộ trả lời
lạnh lùng, ‘Chúng tôi ngưỡng mộ ý thức hệ của ông, nhưng khinh bỉ ông
với tư cách một con người. Làm sao anh có thể tôn trọng một người đã
phản bội đất nước mình?’
Một đề tài gây tranh cãi là việc chống đối chiến tranh trong nước bị ảnh
hưởng bao nhiêu bởi nguyên tắc, bao nhiêu bởi việc sợ phải đi nghĩa vụ,
vốn là một động lực cá nhân quan trọng hơn hết khiến người trẻ lao vào
cuộc thập tự chinh chống lại một cuộc chiến có thể tiêu hao hai năm tuổi
trẻ, và tệ nhất tước đi mạng sống của mình.
Thống kê cho thấy tương đối ít người Mỹ chiến đấu trái với ý muốn của
mình. 25 trong số 27 triệu người ở tuổi nghĩa vụ của thời chiến không hề
bắn một viên đạn. Tuy nhiên, trong số những người đi lính – bao gồm
một phần tư của khoảng 2.15 triệu người Mỹ phục vụ tại Việt Nam –
17,725 đã chết. Một cuộc khảo sát Harris phát hiện rằng người Mỹ xem
họ là ‘những thằng khờ, đánh liều mạng sống trong một cuộc chiến sai
lầm, tại một nơi sai lầm, vào một thời điểm sai lầm ‘.
Phe hậu thuẫn cuộc chiến nhấn mạnh sự kiện là chỉ có 1 phần trăm
người Mỹ ở tuổi nghĩa vụ không chịu đăng ký, và một tỷ lệ nhỏ tương tự
từ chối thủ tục nhập ngũ. Tuy nhiên, điều này không tính đến một loạt
rất nhiều các trường hợp miễn nghĩa vụ mà những anh chàng lanh lợi có
thể lợi dụng. Trước năm 1966 thanh niên có gia đình được miễn nghĩa
vụ, khiến số hôn nhân ở tuổi vị thành niên tăng lên 10 phần trăm. Những
người khác được miễn vì đang đi học – như lựa chọn của Bill Clinton và
Donald Trump: Hiệu trưởng Yale Kingman Brewster phát biểu cách


Click to View FlipBook Version