tăm của y sẽ bị tan vỡ. Thay vào đó, trong trường hợp Việt Nam, nó chỉ
đẩy nhanh sự sụp đổ của địa vị tổng thống Lyndon Johnson, và ý chí
quyết thắng của nhân dân Mỹ. Tết trở thành một minh chứng choáng
váng cho chân lý hệ trọng về chiến tranh hiện đại: thành công hay thất
bại không thể được xét đoán chỉ, hoặc thậm chí chủ yếu, bằng chuẩn
mực quân sự. Nhận thức có tính then chốt, và sự kiện tháng 2 1968 trở
thành một thảm họa về nhận thức cho lực lượng vũ trang Mỹ.
Phe cộng được xem như đã gặt hái một cuộc khải hoàn, chỉ bằng cách
phô trương sức mạnh nhấn chìm Miền Nam vào sự hủy diệt và chết
chóc, cho dù sự chết chóc phần lớn rơi xuống các chiến binh của chính
họ và dân chúng bất hạnh ở bên lề.
Câu chuyện Tết Mậu Thân khởi sự vào đầu mùa hè 1967, với sự giằng
co quyết liệt trong nội bộ các thành viên của uỷ ban quân sự trung ương
ở Hà Nội. Vì năm trước đã có sự nhất trí rằng ‘một cuộc tổng tấn công-
nổi dậy’ chỉ được phát động ở Miền Nam khi điều kiện chín muồi. Lê
Duẩn, Lê Đức Thọ và Nguyễn Chí Thanh – chỉ huy Trung ương Cục
Miền Nam – tin tưởng rằng thời cơ này giờ đã đến: họ xuất hiện như
những người chủ trương to mồm cho một trận đánh quyết định. Trong
khi đó Giáp, cùng với một tướng lĩnh cao cấp khác và Hồ Chí Minh đã
suy yếu, chủ trương duy trì nhịp độ chiến đấu, đồng thời mở ra các cuộc
đàm phán với người Mỹ. Sự thận trọng của Hồ bắt rễ trong nỗi sợ hãi bị
tổn thất nghiêm trọng, àm yếu đi vị thế chiến lược của người cộng sản
trong một cuộc chiến lâu dài mà ông tin còn nằm ở phía trước. Hiện giờ
đã có 492,000 binh sĩ Mỹ ở Miền Nam, cùng với 61,000 binh lính đồng
minh khác, 342,000 binh sĩ VNCH và 284,000 Nghĩa quân và Địa
phương quân – số sau này chiếm hơn phân nửa thương vong của cuộc
chiến. Tất cả lực lượng này được yểm trợ bởi 2,600 máy bay cánh cố
định, 3,000 trực thăng và 3, 500 xe bọc thép.
Nhưng những người chủ trương ‘đánh lớn’ của Miền Bắc được cổ vũ
bởi một báo cáo của ngoại trưởng nhấn mạnh đến làn sóng rầm rộ của
phong trào phản chiến đang quét qua nước Mỹ: những truyền đơn cộng
sản in lại các tranh biếm họa phản chiến lấy ra từ báo chí Mỹ. Ông cũng
hậu thuẫn chiến lược hai mặt giáp công ‘vừa đánh vừa đàm’. Lê Duẩn
không bác bỏ thương thuyết; ông ta chỉ lập luận rằng tiến trình như thế
chỉ nên bắt đầu sau một thi triển ngoạn mục của phương tiện và ý chí
cộng sản. Một thành viên của đoàn công tác MTDTGP tại Hà Nội bảo
với một nhà ngoại giao Nga: ‘Đàm sẽ bắt đầu khi người Mỹ đã giáng
cho chúng ta một trận thảm bại hoặc khi chúng ta đã giáng cho chúng
một trận thảm bại. Mọi chuyện sẽ được giải quyết trên chiến trường.
Tướng Văn Tiến Dũng, 15 năm làm phó cho Giáp, là một quân nhân ít
học gốc nông dân, đã trải qua thời trẻ làm việc trong một hãng dệt. Bực
bội vì phải phục tùng thượng cấp độc đoán, giờ đây ông thách thức Giáp
bằng cách hậu thuẫn kế hoạch công kích Tết của Lê Duẩn, và sau đó
bày binh bố trận – vốn khá lộn xộn.
Vào tháng 6 ‘nhân tố tiến lên’ thắng thế, với sự nhất trí vào ‘Kế hoạch
67-68’. Nghị quyết 13 của uỷ ban quân sự chỉ thị ‘một nỗ lực toàn bộ…
để đạt được một thắng lợi quyết định’. Cả người Nga lẫn người Trung
Quốc cảnh báo chống lại một hành động như thế, nhưng một sĩ quan
Miền Bắc sau này nói: ‘Nếu bạn muốn chiến thắng, cuộc chiến du kích
phải tiến hóa thành chiến tranh quy ước quy mô lớn.’ Lê Duẩn dự đoán
rằng ‘nửa triệu dân chúng sẽ cầm vũ khí cho chúng ta’. Vào ngày 6
tháng 7, chỉ huy Trung ương Cục Miền Nam Thanh ngã bệnh và chết tại
Quân Y viện Hà Nội, gần như chắc chắn vì suy tim sau một bữa tiệc chia
tay hồ hởi trước ngày lên đường trở lại Miền Nam.
Giáp khởi hành đi Hung không lâu sau đó để chữa bệnh sạn thận, và vào
ngày 5 tháng 9 Hồ Chí Minh bay đến Bắc Kinh để ‘nghỉ dưỡng ‘. Không
có lý do để cho rằng những vắng mặt này là một phần của kế hoạch đánh
lừa; chúng chỉ nhấn mạnh sự khống chế của Lê Duẩn. Lúc Hồ trở về
nước vào ngày 21 tháng 12, kế hoạch chi tiết cho cuộc tổng công kich
‘Qusng Trung’ gần như đã hoàn tất.
Trong mùa đông 1967 Việt Cộng phát động các cuộc tấn công có ý
nghĩa, nhằm mài nhọn mũi tiến công và kiểm tra kẻ địch trước ‘trận
đánh thúc lớn’. Vào ngày 29 tháng 10 mở cuộc tấn công kéo dài vào Lộc
Ninh, và một trận khác chẳng bao lâu sau đó đánh vào Dak To. Vào đêm
4 tháng 11, hai tiểu đoàn VC được yểm trợ bởi súng cối đột kích vào
trung tâm tỉnh lỵ Cai Lậy, một hành động phải trả giá bằng 36 sinh mạng
của mình và lấy đi 56 mạng sống lính phòng thủ và dân thường.
Những VC đào ngũ khai với các thẩm vấn viên chính quyền là người
cộng sản đang tuyển tân binh rất gắt, chuẩn bị cho một cuộc công kích
trong đó ‘vinh quang sẽ mỉm cười với MTDTGP’. Ba Me, một chiến
binh dốt nát khoảng tứ tuần, bảo với một nông dân đồng bằng là năm
1968 sẽ là năm quyết định. Me là người tai tiếng, luôn gặp rắc rối với
các chỉ huy của mình vì tội biển thủ quỹ công và ve vãn phụ nữ trong
làng, nhưng thường được bỏ qua không bị trừng phạt vì y chiến đấu giỏi.
Các sĩ quan tình báo nghe được lời khoác lác của y có thể nhún vai cho
rằng bọn VC thường quen vênh váo những lời hứa cuội như thế mỗi
năm.
Các tay chân của Giáp mang xuống mồ niềm tin rằng vị tướng của họ
nấn ná ở lại Hung vì sợ mất tự do nếu trở về nước: những tháng sau đó
trong năm 1967 chứng kiến những biến động ở Hà Nội trong đó một số
phụ tá của ông bị mất đi ảnh hưởng. Một đại tá lớn tuổi, Tham mưu
trưởng riêng của Giáp, bị giam giữ; giám đốc quân vụ và giám đốc tình
báo bị cách chức cùng với 30 nhân vật quan trọng khác, kể cả thư ký
riêng trước đây của Hồ Chí Minh và thứ trưởng quốc phòng, bị kết tội
là ‘theo chủ nghĩa xét lại ‘ và ‘âm mưu chống bộ chính trị’. Ba làn sóng
thanh trừng 1967, liên tiếp trong tháng 7, 10 và 12, có vẻ liên quan đến
rạn nứt ý thức hệ Trung-Xô hơn là do tranh cãi về Tết, nhưng kết quả là
hầu hết các tay chân của Giáp đều bị thuyên chuyển. Chính vị tướng tuy
vẫn giữ được ghế trong bộ chính trị, nhưng tầm ảnh hưởng giảm đi
nhiều.
Điều tương tự cũng đúng với Hồ Chí Minh, giờ đã 77 tuổi. Vào ngày 28
tháng 12 tại tòa nhà kế bên nhà sàn của Hồ xảy ra buổi họp đặc biệt về
cuộc Nổi Dậy. Một nhân chứng nhìn thấy ông cụ chập chững bước về
nhà sàn sau này nói rằng ông trông gầy yếu và khổ sở. Ba ngày sau ông
trở lại Bắc Kinh để chữa bệnh tiếp, vắng mặt trong buổi họp thượng
đỉnh trước cuộc tổng công kích, được tổ chức vào tháng giêng 30 dặm
ngoài Hà Nội, tại đó Lê Duẩn trình bày kế hoạch. Chỉ đến ngày 15 quyết
định cuối cùng được chốt là tấn công vào dịp Tết, ngang nhiên bẻ gãy
lời cam kết của MTDTGP hưu chiến vào ngày lễ truyền thống. Với sự
bất cẩn đáng kể, Sân Rồng không lưu ý rằng dưới sự sắp xếp cách mạng
vào giờ chót có sư khác biệt 24 giờ giữa trận công kích bắt đầu vào Năm
Mới ở phía Bắc – 29 tháng giêng – và ở phía Nam – ngày 30. Tình
trạng hoang mang xảy ra khiến cho các cuộc tấn công Tết mất đi tính
đồng bộ: một số bắt đầu sớm, một số nổ ra muộn.
Vào ngày 25 tháng giêng 1968 Giáp đáp máy bay từ Budapest đến Bắc
Kinh để tham vấn với Hồ, nhưng nội dung cuộc trao đổi không được tiết
lộ. Vị tướng cuối cùng bay về Hà Nội năm ngày sau đó, và được giám
đốc quân vụ mới tường trình. Ông chấp thuận kế hoạch, nhưng vẫn tỏ
ra cay cú vì vai trò lu mờ của mình. Giấy bạc MTDTGP mới được in và
chở về nam. Lê Đức Thọ được phái đến Trung ương Cục Miền Nam giữ
chức phó Bí thư Đảng, một chức vụ ông giữ cho đến tháng 5. Hai tướng
lĩnh được cử vào nam để chỉ đạo các đơn vị VC.
Mục tiêu chính của ‘Tổng Công kich và Nổi dậy’ là tiêu diệt 3 đến 4 sư
đoàn QĐVNCH, và cùng với họ là uy tín của chế độ Sài Gòn. Kế hoạch
của họ, còn tham vọng hơn bất kì kế hoạch nào mà Ngũ Giác Đài hoặc
MACV ấp ủ, kêu gọi ‘hủy diệt’ 300,000 ‘lính tay sai’ và 150,000 lính
Mỹ , cùng với việc ‘giải phóng’ từ 5 đến 8 triệu người trong các vùng đô
thị Miền Nam. Phải tiến hành các vụ tấn công kịch liệt trước Tết ở vùng
quê, nhằm dẫn dụ QĐVNCH và lực lượng Mỹ ra khỏi các thành phố.
Bốn sư đoàn bộ đội Miền Bắc được điều động đến khu vực phía bắc, từ
Khe Sanh ở phía tây để tiếp cận bờ biển, có nhiệm vụ ‘hủy diệt’ 20 đến
30 ngàn quân địch, bao gồm 7 tiểu đoàn bộ binh Mỹ. Một số sĩ quan
khăng khăng nhấn mạnh sự khó khăn khi phải đương đầu với hỏa lực số
lượng lớn. Tướng Trần Văn Trà sau này nói: ‘Các mục tiêu chiến lược
chúng ta đặt ra … là không hiện thực: họ đánh giá thấp phản ứng và
năng lực của Hoa Kỳ.’ Nhưng Lê Duẩn không lay chuyển, và biểu lộ sự
coi thường nguy cơ các cuộc tấn công sẽ thất bại trong việc thúc đẩy
cuộc nổi dậy của dân chúng. Thực tế sẽ tự minh chứng điều đó, ông
nói: ‘Lực lượng Đồng chí Fidel Castro tấn công các thành phố (Cuba) ba
lần trước khi họ cuối cùng chiến thắng.’ Cho dù nếu lực lượng nổi dậy
không chiếm được các thành phố Miền Nam, thì ‘toàn bộ vùng quê và
vùng rừng núi sẽ thuộc về chúng ta’.
William Westmoreland bước vào năm 1968 hoàn toàn biết rằng phe
cộng sản dự tính điều gì đó lớn lao, nhưng không chắc chắn về bản chất
của nó. Một tin điện MACV cảnh báo về việc địch phô bày ‘một chiều
hướng bất thường về hoạt động tích cực’ và rõ ràng đang lên kế hoạch
‘một cuộc công kích phối hợp’. Nhưng vấn đề luôn giống nhau: phân
biệt giữa cơn thác lũ quen thuộc của tu từ học cách mạng và ý định thực
của Hà Nội: người Mỹ dường như mù tịt về việc Giáp bị gạt ra bên lề.
Nhưng trở lại thời gian tháng 11 Joseph Hovey của CIA, một nhân viên
kỳ cựu với gần ba năm làm phân tích viên ở Sài Gòn, đưa ra một bản
đánh giá có tính dự báo một cách xuất sắc. Ông nghiên cứu chứng cứ từ
các tài liệu thẩm vấn tù binh, sự di chuyển gia tăng đồ tiếp tế của địch,
việc Miền Bắc gọi nghĩa vụ thiếu niên từ 14 tuổi. Có những dấu hiệu cho
thấy cộng sản quan tâm nhiều hơn đến tình báo trong QĐVNCH, nổi bật
là việc phá vỡ ổ gián điệp 7 người đã xâm nhập một đơn vị Địa phương
quân. Người Mỹ biết rằng đã có các vụ chuyển giao vũ khí lớn của
Trung Quốc – lần này là quà tặng, thay vì mua – và một hiệp ước viện
trợ mới với Moscow, được ký vào ngày 23 tháng 9.
Hovey sắp xếp các sợi chỉ này và kết luận rằng người cộng sản sẽ duy trì
sức ép tại những khu vực biên giới để cầm chân các lực lượng đồng
minh và để ‘giải trừ sức ép lên các hoạt động của VC và bộ đội tại
những vùng đông dân cư’. Tuy nhiên, mục tiêu thực sự, nhân viên CIA
này viết, là phát động “cuộc tổng nổi dậy” đã hứa hẹn từ lâu. Để hoàn
thành điều này VC/Quân Miền Bắc đã đặt ra nhiệm vụ đánh chiếm một
số trung tâm đô thị ở Miền Nam và cô lập nhiều trung tâm khác … việc
này sẽ bẻ gãy ‘ý chí gây hấn ‘ của người Mỹ và buộc họ chấp nhận rút
quân khỏi Miền Nam.’ Hovey nói mình nhìn nhận các mục tiêu của phe
cộng sản là phi thực tế, nhưng điều đó không có nghĩa họ sẽ không thử
sức. Ông cho rằng cho dù nếu nó thất bại về mặt quân sự, một cuộc công
kích như thế trong năm bầu cử tổng thống Mỹ có thể gây ra một thiệt hại
chính trị choáng váng cho nỗ lực chiến tranh đồng minh.
Vào ngày 17 tháng 11 MTDTGP đề nghị hưu chiến Tết 7 ngày, mà
Saigon lý giải là họ muốn có thời gian để tổ chức hậu cần trước một trận
lớn khác. Trong tháng 12 máy bay trinh sát phát hiện số quân xa đi lại
trên Đường Mòn Hồ Chí Minh phía bắc tăng gấp đôi so với tháng trước.
Một cán bộ sau này tuyên bố rằng trong tháng 12 và tháng giêng VC mở
‘chiến dịch sát hại các tên ác ôn và gián điệp hạ được 300 tên ‘ – viên
chức hoặc người ủng hộ chính quyền Miền Nam. Vào ngày 19, phân
tích viên MACV James Meacham viết: ‘Có tiết lộ là VC chuẩn bị một
nỗ lực khủng bố toàn diện chống lại người Mỹ ở Sài Gòn từ bây giờ đến
sau Tết. Đối tác QĐVNCH của chúng ta thực sự quan tâm – lần đầu tiên
như tôi còn nhớ. Đây là một dấu hiệu xấu, vì họ hiểu VC nhiều hơn
chúng ta vô kể.’ Miền Nam càng tăng cường cảnh giác hơn khi bắt được
một tài liệu tiết lộ VC biết rõ không chỉ phòng tình báo Sài Gòn, mà còn
sơ đồ bên trong bộ chỉ huy của nó – từ tháng 8 trước các đặc vụ cộng
sản, phần nhiều là phụ nữ, đã dày công thu thập tin tức về các cơ sở lớn
của chính quyền.
Ngày 1 tháng giêng 1968 Đài Hà Nội phát đi bài thơ của Hồ Chí
Minh: ‘Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua/Thắng trận tin vui khắp nước
nhà/Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ/Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta!
Vào ngày 5, MACV đưa ra một tài liệu bắt được hồi tháng 11 cho biết:
‘Thời cơ đã đến cho một cuộc tổng công kích và cơ hội cho một cuộc
tổng nổi dậy ở trong tầm tay … Tiến hành các trận tấn công quân sự rất
mạnh mẽ phối hợp với nổi dậy của nhân dân địa phương để làm chủ
quận lỵ và thành phố.’ Cùng ngày đó người Mỹ bắt được các mệnh lệnh
cho cuộc công kích Tết vào tỉnh Pleiku. Ngày 22 tháng giêng
Westmoreland cảnh báo Nhà Trắng rằng phe cộng sản có thể biểu dương
sức mạnh trước Tết. Ngày hôm sau tàu Bắc Triều Tiên bắt giữ thủy thủ
đoàn của tàu giám sát điện tử Pueblo của Hải quân Mỹ hoạt động ngoài
khơi bờ biển của họ. Sự cố tiến nhanh thành một khủng hoảng đánh lạc
hướng sự chú ý của chính quyền Mỹ. Người ta vẫn tiếp tục suy đoán
rằng phe cộng sản đã cố tình dàn dựng việc đánh lạc hướng này, một
điều cũng có thể tin được: Bắc Kinh ắt hẳn đã xúi giục Bình Nhưỡng
khiêu khích Washington.
Một tù binh Mỹ bị giải đi phía bắc trên Đường Mòn Hồ Chí Minh bắt
gặp các đơn vị bộ đội Miền Bắc đi ngược chiều vô nam để tham gia trận
công kích mặc quân phục xanh rêu mới tinh và mang giày bố chứ không
dép râu như thường thấy: ‘Họ có vẻ tươi tắn, khỏe mạnh, đĩnh đạc và tự
tin.’ Một người trong số đó, mang các bánh xe của lựu pháo 75mm,
tuyên bố mình là cựu binh Điện Biên Phủ – ông ta nhìn nhận các ngọn
đồi ở đây hơi dốc hơn hồi năm 1954. Ông tự hào một số người trẻ mang
vác hơn 100 cân, cho rằng hơn hẳn các người khuân vác Việt Minh
trong chiến dịch đánh Pháp. Người tù binh Mỹ hỏi gặng người bộ đội
nghĩ gì về các đồng đội Mỹ của anh trong vai trò kẻ địch. Người linh trả
lời rằng binh sĩ Mỹ dường như năng nổ khi khởi phát trận đánh, nhưng
thiếu sức mạnh duy trì. Ông cho rằng TQLC Mỹ ấn tượng, nhưng tin
rằng không người Mỹ nào sánh được với động lực và kinh nghiệm của
quân đội Miền Bắc. Khi người tù binh bị đẩy đi tiếp, anh ấn tượng khi
ông ta không tỏ ra thù địch gì với mình. Anh suy nghĩ có thể một trận
bom B-52 sẽ thay đổi điều đó.
Khi một lực lượng TQLC Mỹ đến để yểm trợ cho lực lượng đồn trú của
một căn cứ hỏa lực Mỹ lớn sát biên giới Lào, hạt cà phê trĩu nặng trên
cành trong đồn điền cặp theo một bên căn cứ. Những người mới đến
chào một tay súng bước bên cạnh đường băng lót ván đục lỗ. ‘Này bồ,
chỗ này tên gì vậy?’ Người TQLC trả lời, ‘Đây là Khe Sanh, rồi bồ sẽ
không bao giờ quên nó đâu.’ Sự kiện có ý nghĩa đầu tiên trong năm 1968
là một cuộc tập trung lực lượng của cộng quân chung quanh nơi trống
trải đất đỏ đó ‘đau buốt như một vết thương giữa rừng’, được đồn trú
theo lệnh cá nhân của Westmoreland, chống lại lời khuyến cáo mạnh
mẽ của các chỉ huy TQLC, người phụ trách lãnh thổ đó.
Mặc dù cuộc chiến đã kéo dài khá lâu, khi Sư đoàn 304 Miền Bắc di
chuyển vào nam vào tháng 11 1967, trói buộc cùng một số phận được
chia sẻ với những binh lính Mỹ đó, ít sĩ quan và binh sĩ có nhiều kinh
nghiệm tác chiến. Vào đêm 2 tháng giêng, nhóm chỉ huy Trung đoàn 9
thử một một chuyến trinh sát táo bạo phi thường: ngụy trang quân phục
Mỹ, họ tiến về phía tiền đồn Khe Sanh tọa lạc trên Đường 9 bên cạnh
của thời Pháp xưa từ Lào đến bờ biển. Họ nói chuyện ồn ào, và một
đồng chí hát lên. Họ quàng súng lên vai. Gần sông Tchepone, người Mỹ
hô họ đứng lại bằng tiếng Anh. Không nhận được trả lời, họ khai hỏa,
giết chết một tham mưu trưởng trung đoàn và tiểu đoàn phó tiểu đoàn
đặc công. Trung đoàn trưởng biến mất không dấu vết, và sau đó được
tìm thấy bị thương nặng nằm trong một bụi cây, vì giẫm phải mìn.
Xa hơn về phía đông, Đường 9 chứng kiến những đụng độ thường xuyên
khi cộng quân phục kích các đoàn xe hộ tống của Mỹ và
QĐVNCH hoặc quấy nhiễu chuỗi căn cứ hỏa lực dọc theo Đường 9:
Khe Sanh buộc phải lệ thuộc vào không vận. Hai sư đoàn Miền Bắc
được điều động đến nơi có mục đích kéo các lực lượng Mỹ ra xa khỏi
phía đông, và nhất là giảm sức mạnh của họ quanh Huế, một mục tiêu
chủ chốt của cuộc công kích đang lù lù tiến tới, vì Huế là một biểu tượng
của quốc gia Việt Nam. Thêm hai sư đoàn được triển khai tại khu Cửa
Việt gần bờ biển. Lần đầu tiên trong cuộc chiến, Sân Rồng phái một số
xe tăng yểm trợ cho đội hình này. Kế hoạch lúc đầu ấn định tấn công
vào cuối tháng 2. Nhưng các chỉ huy cộng sản bối rối khi nhận được
lệnh dời sớm hơn một tháng: họ chưa tích trữ đủ lương thực và quân
nhu.
Hai sư đoàn Miền Bắc quanh Khe Sanh pháo kích không ngừng vào lực
lượng đồn trú TQLC Mỹ, giờ đã lên quân số 6,000, làm đường băng hạ
cánh quá hiểm nghèo. Trong suốt tháng giêng và tháng 2, việc quấy
nhiễu căn cứ trở thành một nguồn tin lớn trên toàn thế giới.
Westmoreland cho rằng Giáp dự tính biến Khe Sanh thành một Điện
Biên Phủ mới, một sự so sánh nắm bắt trí tưởng tượng của giới truyền
thông, mặc dù vị tướng nói thêm là cộng sản chắc chắn không thể sánh
được với thắng lợi của Việt Minh. Ngày qua ngày, căn cứ bị dội hỏa
lực. Phim tin chiếu trên TV cho thấy các phóng viên nói vào máy quay
khi đang núp trong hầm, mình mặc áo chống đạn trong khi các TQLC
nhảy ra khỏi máy bay giữa cơn mưa pháo. Trước, trong và sau Tết, các
B-52 được đài ra đa Combat Skyspot hướng dẫn bay 2,548 lượt xuất
kích và ném 60 ngàn tấn bom, một số cách các vị trí TQLC trong
khoảng 1,000 ya. Căn cứ trở thành khung cảnh của những bi kịch lặp đi
lặp lại, chẳng hạn bi kịch xảy ra khi Chuẩn úy Henry Wildfang đáp một
chiếc C-130 đã tê liệt do hỏa lực cộng sản, cánh nó bốc cháy, nhưng anh
vẫn quẹo thành công tránh đụng các phi cơ đang đậu trên đường băng.
Kỳ công của Wildfang giúp anh được thưởng Huy chương chương
Distinguished Flying Cross lần thứ 5 và cũng có nhiều phô diễn gan lì
tương tự.
MACV tạo nên nỗi ám ảnh ảnh với Khe Sanh, và Lyndon Johnson
khiến nó càng nổi tiếng với một bức tranh tường treo ở Nhà
Trắng. Nhưng mặc dù có những trận đánh tàn khốc quanh các vị trí của
Mỹ trên các ngọn đồi bao quanh – được đặt tên theo độ cao của chúng
950, 881, 861 and 558 – vành đai chính chưa hề bị tấn công nghiêm
trọng. Điều này khiến một số nhà bình luận kết luận rằng Westmoreland
tự cho phép mình trở thành nạn nhân của một đòn hư binh xuất sắc của
địch. Mặc dù như thường lệ cộng quân trả giá sinh mạng cao hơn người
Mỹ, James Wirtz cho rằng tại Khe Sanh họ có thể ‘gây ra đủ tiếng động
để khỏa lấp những dấu hiệu rò rỉ cho việc chuẩn bị cuộc tổng công kích
đô thị đang đến gần’. Một đại tá Miền Nam viết: ‘Khả năng việc Khe
Sanh trở thành một mục tiêu tranh chấp quyết định như Điện Biên Phủ
trước hết ở trong tâm trí các phân tích viên tình báo chúng tôi. Rất ít chú
ý, nếu không muốn nói là không, được dành cho các thành phố như các
mục tiêu khả dĩ. … Các chuyên gia chúng tôi tất cả đều tin, vì thành kiến
hay tự tôn, rằng kẻ địch không sở hữu khả năng.’
Westmoreland ban bố cho Khe Sanh một tầm quan trọng mà nó không
xứng đáng: như Điện Biên Phủ, nơi này đáng ra không bao giờ nên đóng
quân đồn trú. Tệ hơn, ông cho phép cả thế giới nhìn vào nơi ông đang
chăm chăm theo dõi, khiến ông trông như kẻ điên rồ – đúng ra, khiến
ông tiêu tan tiếng tăm – khi mà kẻ địch đánh vào nơi khác. Tuy
vậy, dường như là sai lầm khi nghĩ rằng quân Miền Bắc triển khai hai sư
đoàn chỉ để đánh lừa. Hoàn toàn chắc chắn là họ cũng muốn thử đánh
chiếm nếu pháo binh và trên hết không kích Mỹ đã khiến điều này là
không thể. Sau này các sĩ quan cộng sản đã than vãn rằng đáng lẽ hai đội
hình được chuyển xa hơn về phía đông, tốt nhất là đến Huế.
Những nhân viên MACV không phải là những người duy nhất so sánh
Khe Sanh với Điện Biên Phủ. Các cựu binh Miền Bắc thảo luận về trận
đánh 1954, và buồn rầu nhận xét là người Mỹ đã không lặp lại sai lầm
của người Pháp là không chiếm được thế đất cao bao quanh. Phòng thủ
của Mỹ cũng ấn tượng hơn nhiều, còn tài nguyên thì gần như vô tận.
Việc quân Miền Bắc tập trung quân trên biên giới Lào gây thiệt hại cho
chiến lược của họ thậm chí nhiều hơn đáp ứng của Westmoreland gây
tổn thương cho chính nghĩa Mỹ, nhưng phán xét sai lầm của Hà Nội
không xuất hiện trên trang nhất của báo chí, trong khi của MACV thì
có. Westmoreland và ban tham mưu của mình tưởng rằng đây là cuộc
chiến của người Mỹ, nên loại bỏ đi ý niệm là phe cộng có thể chọn các
lực lượng Miền Nam làm mục tiêu chính của mình.
Trong khi đó Washington chia sẻ phần trách nhiệm của mình cho quyết
định tệ hại – vốn đã có nhiều tin tình báo về hoạt động của kẻ thù –
không hủy bỏ đề nghị hưu chiến Tết. Bộ máy hành pháp tơi tả của
Johnson nuốt các chỉ dấu là Hà Nội sắp sửa mở cửa đàm phán. Do đó họ
khăng khăng đề nghị hưu chiến nên được tôn trọng, cho phép nhiều binh
sĩ QĐVNCH về nhà ăn Tết. Hơn nữa, cho dù Westmoreland có nhận ra
phe cộng chuẩn bị xả láng, ông khước từ hủy bỏ kế hoạch công kích
riêng của mình và bực tức vì Washington không cho phép ông thúc quân
vào đất Lào và Cao Miên. Tham mưu của ông phớt lờ việc phát hiện
những hầm cất giấu vũ khí mới tính của địch, kể cả một hầm lớn gần Sài
Gòn, cùng với chứng cứ cho thấy các đặc công VC đã có các hoạt động
trinh sát Tân Sơn Nhất.
Trung tướng Fred Weyand, một người California nói năng chậm rãi chỉ
huy Lực lượng Tác chiến II, thường được ca tụng như sĩ quan cao cấp
duy nhất có chuẩn bị ứng phó cho sự bất trắc, di chuyển các đơn vị vào
Sài Gòn và hủy bỏ các cuộc hành quân đã lên kế hoạch. Chắc chắn là
nhờ ở Weyand, nguyên một sĩ quan tình báo quân đội, mà 27 tiểu đoàn
cơ động Mỹ được triển khai trong tầm với Saigon khi VC tấn công. Nỗi
lo sợ của ông tập trung vào khu vực đó: ông không dự kiến các cuộc tấn
công ở nông thôn. Sau Tết Westmoreland và các phụ tá cao cấp biện hộ
cho mình khi xác nhận là họ đã tiên liệu biến động; nhưng họ cho thấy
không nắm vững được quy mô của nó. Hơn nữa, từ mùa hè trước nhiều
đơn vị đã cảnh giác cao độ ít nhất bán thời gian, nên bây giờ họ thấy
không có gì đặc biệt phải cho rằng một trận đại hồng thủy lù lù đến. Các
tư lệnh Mỹ phạm sai lầm xưa cũ nhất trong cẩm nang quân sự: họ bất
chấp cách lý giải các dự tính của Lê Duẩn mà Joseph Hovey và người
của mình đã làm, bởi vì nó không phù hợp với lôgic của MACV.
2 KHÚC HỢP TẤU
Kẻ đánh bom tự sát thường được coi là hiện tượng của thế kỷ 21. Nhưng
cuộc công kích của Lê Duẩn hoàn thành xuất sắc các mục đích của ông
ta bởi vì các du kích quân VC được bộ đội chính quy Miền Bắc yểm trợ
cho thấy sẵn sàng đối mặt với cái chết gần như không tránh khỏi để hoàn
thành nhiệm vụ Tết. Phe cộng tung khoảng 67 ngàn chiến binh tấn công
vào 36 trong số 44 thủ phủ tỉnh lỵ và 64 trong số 245 trung tâm huyện
lỵ, trong khi vẫn tiếp tục các trận đánh ở Khe Sanh và nơi khác. Bằng
cách biểu dương sức mạnh phối hợp các chiến dịch trên một quy mô như
thế, để vận động quá nhiều người nam cũng như nữ nhằm theo đuổi các
mục tiêu mà ngay cả phần đông các tư lệnh Miền Bắc đều cho là bất khả
thi, họ bịt mắt thế giới không cho thấy tính tàn nhẫn của một dàn lãnh
đạo có thể gây ra những nỗi kinh hoàng mà người dân Miền Nam vô tội
phải trả giá nhiều nhất.
Vào sáng 27 tháng giêng binh sĩ Miền Nam bắt được những băng thu âm
được MTDTGP chuẩn bị phát trên các đài phát sóng họ dự định đánh
chiếm, loan báo cho dân chúng là đã chiếm được Sài Gòn, Đà Nẵng và
Huế. Phe cộng do đó đánh mất yếu tố bất ngờ, trong khi các cuộc tấn
công của họ cho thấy là thiếu hẳn sự chuẩn bị và phối hợp nhịp
nhàng, bởi vì ưu tiên cho việc giữ bí mật nên mệnh lệnh bị đình hoãn
càng lâu càng tốt. Vào ngày 28 một số cán bộ chóp bu của Miền Nam
tập hợp tại ‘Văn phòng Đỏ’, một nơi ẩn náu giữa một đầm lầy mênh
mông giáp với Đồng Tháp Mười, mà họ gọi là ‘Đại Tây Dương’. Họ
sống tương đối tiện nghi, thưởng thức thuốc lá và rượu được đưa xuống
từ Sài Gòn, ăn cá tươi mới bắt. Các chỉ huy Liên quân VC Võ Văn Kiệt
và Trần Bạch Đằng đang ngồi xếp bằng trên chiếu, tay cầm đũa, thì một
người đưa tin chạy xe máy tới. Anh trao cho họ một bao thư ngoài bìa
ghi TỐI KHẨN CẤP VÀ TỐI MẬT’, đọc thấy: ‘A7 đến A404: Ngày D.
Bắt đầu trận giữa mùng 1 và mùng 2 Tết Âm lịch. Giờ H: 12 giờ đêm.
Đây là quyết định của Bác Hương’ – mật danh của bộ chính trị.
Họ sửng sốt và thảng thốt, vì họ kỳ vọng giờ H là 5 ngày sau. Giờ thì chỉ
còn 3 ngày đêm để đến tiền tuyến bên ngoài Sài Gòn. Đằng, một cựu
binh 42 tuổi sinh tại đồng bằng, nhớ lại một cách dứt khoát: ‘Không ai
thiết ăn uống gì nữa.’ Ngay lập tức họ nhổ trại và khởi hành, mặc quân
phục nhưng mang theo thường phục, tiền bạc, và thẻ căn cước được
làm giả tại Sài Gòn bởi các cảm tình viên cảnh sát. Một số chiến binh
đốt rụi lều tranh của mình như một thái độ biểu tượng cho quyết tâm
chiến thắng hay là chết. Chẳng mấy chốc 1,000 người theo chân đạo
quân của Kiệt và Đằng trong số hàng chục đạo quân tương tự hội tụ về
mục tiêu đô thị của mình: ‘Toàn bộ phần phía bắc của Đồng Tháp Mười
đông đảo những nhóm người di chuyển.’ Vì bây giờ là mùa khô, đạo
quân đồng bằng thường chuyên chở bằng xuồng chứa đầy vũ khí và
quân nhu.
Tổng Công Kích Tết
Nhóm chỉ huy hẹn gặp nhau với du kích quân địa phương bên ngoài Sài
Gòn. Trong cái nắng thiêu đốt họ di chuyển chậm chạp, ngạc nhiên vì
gặp may mắn không bị phi cơ nào phát hiện. Ban đêm hàng quân di
chuyển càng chậm hơn, trong khi Đằng và Kiệt thỉnh thoảng lẩm bẩm
trao đổi ý kiến qua một bản đồ rọi sáng bằng đèn pin. Tâm trạng phấn
chấn lan tỏa khắp mọi người, từ cấp lãnh đạo đến chiến binh có tuổi đến
các tân binh mới nhập ngũ: hầu hết các thanh niên nam nữ này đều là
những tín đồ đích thực. Trước bình minh ngày 29 họ dừng lại và giấu
mình trong các lều tranh của bộ chỉ huy quận ủy, tại đó họ được ăn bánh
tét. Rồi gặp trục trặc: trực thăng và phi cơ bắn rốc kết và đánh phá khu
vực. Kiệt và Đằng, nhìn thấy các chiếc Huey vần vũ quá thấp đến nỗi có
thể trông rõ mặt các xạ thủ án ngữ cửa, dặn kỹ không ai được bắn trả.
Đến trưa, tình hình trở lại yên tĩnh: người Mỹ đã phát hiện động
tĩnh, nhận diện chính xác kẻ địch, nhưng không thể biết có bao nhiêu
tên. Với tất cả âm thanh và cuồng nộ, cuộc không kích chỉ làm thủng vài
chiếc tam bản.
Đêm 29-30, những trận công kích đầu tiên được phát động, trước thời
hạn vì có lầm lẫn ngày giờ. Đà Nẵng, thành phố duyên hải của Nha
Trang và các trung tâm phía bắc khác, trở thành sân khấu của những trận
đánh ác liệt. Các đơn vị VC phía nam còn lầm lũi đi về hướng Sài Gòn
hoang mang khi nghe đài phát thanh chính quyền loan báo lúc 9:45 sáng
thứ ba ngày 30, hủy bỏ hưu chiến Tết tiếp sau những trận tấn công của
địch vào đêm trước. Một cán bộ cao cấp ở tỉnh Long An mô tả sự hoang
mang: ‘Không ai có thể hiểu được sao có chuyện này xảy ra. Liệu có
phải mọi sự chuẩn bị của chúng tôi chỉ là một sự đánh lừa tinh vi? Liệu
có thể nào chiếm được ưu thế quân sự trong việc bắt đầu cuộc công kích
theo kiểu này hay không?’ Họ mong đợi thông điệp trên máy trả lời
được câu hỏi này, nhưng không thấy tới. Sáng sớm hôm đó Kiệt và
Đằng đến không thông báo trước tại điểm hẹn gần Sài Gòn, ở đầu hàng
quân. Họ đột ngột thông báo với các đồng chí tụ họp: ‘Tình hình cực kì
khẩn cấp. Phải tấn công Sài Gòn ngay hôm nay!’
Một cán bộ than vãn gần như tuyệt vọng, ‘Ôi trời! Ôi trời!’ Tham mưu
của ông chỉ có vỏn vẹn 24 giờ để triển khai 10 tiểu đoàn phân tán khắp
vùng nông thôn, với hệ thống liên lạc mỏng và một số sĩ quan vắng mặt
vì nghỉ phép Tết. Lương thực và quân nhu phải được phân phát, các giao
liên phải được bố trí. Đằng hiệu triệu binh sĩ bằng một bài diễn văn
khích động nhuệ khí trước trận đánh, kết thúc bằng nắm tay giơ lên và
hô to khẩu hiệu, ‘Quyết tiến! Tấn công! Tấn công!’ Chính ông sau đó
nhìn nhận rằng 3,000 tiếng hô đồng thanh đáp lại một cách hồ hởi. Đây
là khoảnh khắc phấn khích nhất trong cuộc chiến, ông nói, khi hy vọng
dâng cao ngất trời. Nhưng một sĩ quan khác bực tức vì cơn hồ hởi của
Đằng, mà ông xem là một thay thế nghèo nàn cho một kế hoạch hiện
thực.
Cuộc hành quân ngày cuối cùng là nỗi thống khổ của những chậm trễ và
nôn nóng nung nấu. Họ lội qua kênh, vội vã băng ruộng, lắng nghe các
tin tức của Sài Gòn về trận đánh diễn ra ở phía bắc, ngạc nhiên tại sao
phi cơ bay qua mà vẫn dường như không biết đến họ. Khi bóng đêm rơi
xuống, dân chúng địa phương đứng trước nhà, nhìn đoàn quân vũ trang
bước qua. Một số người nói, ‘Tại sao không ăn Tết ở đây?’ Họ được dân
cho bánh tét, cải chua, thịt kho để nhâm nhi trên đường ra mặt trận.
Lúc 21:00 họ đến nơi đóng quân của một tiểu đoàn VC. Trước sự phẫn
nộ của ông, Đằng bắt gặp một cán bộ cao cấp của tiểu đoàn đang nằm
dài trên ván, say xỉn. Thấy Đằng, y lật đật đứng lên, vào thế nghiêm và
chào, nói, ‘Thưa đồng chí! Tôi là chỉ huy phó!’ Đằng nổi giận hỏi: tiểu
đoàn trưởng và chính ủy đâu?’ ‘Thưa đồng chí! Tiểu đoàn trưởng đã đi
cưới vợ và chính ủy là khách dự đám cưới.’ ‘Bộ các đồng chí chưa nhận
được lệnh sao?’ ‘Chưa, thưa đồng chí.’ Tiểu đoàn nhanh chóng được
giao nhiệm vụ đánh tổng nha cảnh sát quốc gia tại Saigon. Nhưng cũng
đêm đó, một số trận tấn công phía bắc đã bị đập tan: tại Nha Trang, 377
VC thiệt mạng và 77 người bị bắt làm tù binh. 88 binh sĩ chính quyền đã
ngã xuống bảo vệ thành phố, cùng với 32 dân thường. 600 ngôi nhà bì
phá hủy, một hương vị nếm trước của một cuộc tàn phá sẽ sớm quét qua
đất nước.
Tướng Trần Độ, người nắm quyền chỉ đạo chính trị trong các chiến dịch
Tết của VC, sau này nói rằng tai họa của nỗ lực chiến tranh của họ là do
thừa thãi lý thuyết ý thức hệ, và việc hoạch định kế hoạch không đủ tỉnh
táo. Một cán bộ cao cấp trong chiến dịch chính phía bắc nhớ lại nhiều
năm sau nỗi thất vọng trong giới lãnh đạo khi nghe lệnh cộc lốc từ Hà
Nội: ‘Phát động tổng công kích và Nổi dậy để giải phóng Huế.’ Ông nói
rằng điều này nhắc ông nhớ lại câu nói của Lenin, ‘Không nên đùa với
cách mạng.’ Để có cơ may thành công, cán bộ này nói, VC địa phương
cần hậu thuẫn của hai trung đoàn Miền Bắc, hai tiểu đoàn pháo, 400 tấn
quân nhu. Mặc dù du kích quân thực ra được yểm trợ bởi một lực lượng
bộ đội Miền Bắc, nhưng họ tập kết không đủ điều kiện tác chiến khi họ
hành quân đến Huế.
Thành phố lớn thứ ba của Miền Nam, với dân số 140,000 người, là một
mục tiêu mang lợi thế nổi bật: du kích quân chỉ đi mất một đêm từ nơi
trú ẩn địa phương để đến trình sát. Họ đã đào các boongke quan sát và
tích trữ một ngàn tấn gạo trong tầm tay. Vào chiều ngày 30 tháng giêng,
đạo quân bắt đầu tiến về thành phố. Bài tường thuật của người cộng sản
xác nhận có một binh sĩ bị nước cuốn
đi khi vượt sông mà không kêu cứu, nhằm tránh cho đồng đội xao nhãng
nhiệm vụ của mình; nhóm người mỉa mai thì muốn tin rằng vì miệng y
đầy nước. Nhưng rồi một đạo quân khác bị QĐVNCH phát hiện tại
sông Dương Hòa. Họ gọi pháo bình, kết quả gây 32 thương vong cho
địch. Một số đơn vị VC bị lạc đường, khiến họ đến tiền tuyến muộn.
Đường đây liên lạc của Mỹ bị bão hoà, vì vậy các thông điệp ưu tiên đến
nơi nhận muộn màng. Ngày đó, 30 tháng giêng, nhân viên chặn tin ở
Phú Bài bắt được các tín hiệu Miền Bắc về cuộc công kích vào Huế
đang đến gần, nhưng vào lúc các tin này đi tới chuỗi lệnh, các cơ sở Mỹ
trong thành phố đã hứng hỏa lực, và 400 người trong đó đang chiến đấu
cho sự sống còn của mình. Mặc dù sau này MACV tuyên bố rằng các
chỉ huy Mỹ không bất ngờ – họ kể việc tướng Fred Weyand cảnh giác
đã vào vị trí vào lúc 20:37 ngày 29 – thái độ của nhiều người Mỹ không
cho thấy là họ biết khủng hoảng đang đến gần. Vào đêm 30 trưởng tình
báo của Westmoreland, Chuẩn tướng Phil Davidson, lui về phòng mình
nghỉ ngơi. Một người lính bình thường tên Louis Pumphrey gốc
Panesville, Ohio, đang nằm trên giường tầng tại Dĩ An, gần Tây
Ninh. Là một người mê thu băng, trước khi ngủ anh làm một cuốn băng
cho gia đình, thu cả tiếng khèn khẹt do Charlie, con khỉ nhện của anh,
phát ra. ‘Tôi chuẩn bị lên giường ngay sau khi nộp báo cáo đêm. Họ
đang mong đợi một cuộc tấn công Tết. Không có gì xảy ra. Chắc chắn
không có gì xảy ra.’ Rồi tên lửa bắt đầu đánh vào căn cứ.
Vào những giờ đầu ngày 31 tháng giêng, người dân Huế bàng hoàng
trước cảnh tượng và âm thanh của các đạo quân VC, đồng hành cùng hai
tiểu đoàn bộ đội trong quân phục tươm tất do Trung Quốc sản xuất, đi
theo hướng bắc qua các đường phố trong màn sương mù ẩm ướt, về
hướng cổng kinh thành, được xây dựng năm 1802. Sư đoàn I QĐVNCH,
đặt bộ chỉ huy ở góc đông-bắc, đã được báo động hai giờ trước, sau khi
một đội tuần tra báo cáo có địch tiến đến: chẳng bao lâu pháo sáng thả từ
máy bay bay dạt qua thành phố, lằn đạn chỉ đường xanh đỏ vạch ngang
bầu trời. Dù sao phe tấn công không gặp sức kháng cự dữ dội nào. Bob
Kelly của Cục Thông tin Hoa Kỳ ghi lại ngắn gọn: ‘Charlie đến thành
phố … Không gặp kháng cự! Quân Miền Bắc được VC địa phương hộ
tống vào thành. Địa phương mang băng tay trắng, lực lượng chính mang
băng tay đỏ và bộ đội mang băng tay vàng.’
Ngô Thị Bông và gia đình bà đang ngủ tại nhà 103 đường Trần Hưng
Đạo, khi cộng quân tấn công. Họ đã quá quen với tiếng súng thành ra
không thấy ngạc nhiên nhiều cho đến khi bà và các con trai xuống lầu và
nhìn qua cửa sổ chớp thấy khoảng 20 tên VC rất trẻ. Một người đàn bà
trung niên đã mất chồng trong thời chống Pháp, rồi một con trai trong
QĐVNCH bị giết vào năm 1966, bà nói: ‘Tôi biết chúng tôi sắp phải
chịu khổ rồi.’ Trong một trận đánh khởi đầu một cách miễn cưỡng trong
những giờ đầu thứ tư, 31 tháng giêng, phe cộng sản chiếm hầu hết thành
phố Huế, kinh thành đồ sộ và các cung điện bên trong tường thành. Tuy
nhiên, họ không chiếm được sở chỉ huy Sư đoàn I đóng tại Mang Cá,
hay phức hợp của cố vấn Mỹ, một dặm về phía nam bên kia sông
Hương. Nhiều lính Miền Nam tháo chạy hoặc tìm chỗ ẩn nấp, khiến phe
tấn công tịch thu được một số lượng lớn vũ khí và quân nhu, một số
được phân phát cho hàng trăm VC vừa được giải thoát khỏi nhà tù thành
phố. Đặc công làm nổ tung một bãi xe tăng ở gần Tam Thai, và bộ đội
thiết lập một vị trí phòng tỏa vững chắc phía bắc thành phố.
Trung uý Trần Ngọc Huế 26 tuổi nghe tiếng súng nổ trong thành phố
Huế khi anh đang ăn tết với gia đình trong Thành nội. Anh dẫn cha
mẹ, vợ và con gái xuống hầm trú ẩn trong nhà, như nhiều gia đình Miền
Nam thận trọng đều xây cất, rồi lấy xe đạp chạy qua đường phố tối tăm
trong thường phục dân sự để đến với đồng đội. Huế chỉ huy đội Hắc
Báo, lực lượng phản ứng nhanh của Sư đoàn I mà các phần tử đang ở rải
rác quanh thành phố. Anh thình lình thấy mình đang đạp xe giữa đạo
quân Miền Bắc, họ quá chú tâm đến sứ mạng của mình nên không chú ý
đến anh.
Đến đại đội teo tóp người trên đường băng nhỏ bên trong Thành nội, anh
lập tức được điện báo phải về gấp sở chỉ huy Sư đoàn I. Đại đội đến
được sở chỉ huy ngay trước khi bộ đội Miền Bắc tấn công – và bị đẩy
lùi. Một trung đội trưởng của Huế, dàn quân tại nhà tù tỉnh phía nam con
sông, gửi thông điệp cuối cùng trước khi bị địch tràn ngập và anh tử
trận, nhờ Huế chăm sóc vợ và 7 đứa con của mình. Suốt ngày đó, ngày
31 tháng giêng, trận chiến khi lên khi xuống quanh sở chỉ huy
QĐVNCH và phức hợp Mỹ, với pháo súng cối và tên lửa 122mm của
địch nã vào, súng chống tăng nhẹ của Mỹ bắn ra. Tại một thời điểm binh
lính cộng sản đột nhập vào được bên trong phòng tuyến của quân Miền
Nam; nhưng rồi bị đẩy lui sau khi quân phòng thủ gọi pháo bắn ngay
xuống boongke của mình. Lực lượng Miền Nam tiếp tục giữ vững qua
những ngày sau đó, mặc dù phe cộng sản thành lập một trạm chỉ huy
trong Điện Thái Hòa gần đó, và cán bộ đi khắp thành phố trên các xe
jeep chiếm được, bắt giữ nhân viên thuộc mọi lứa tuổi và giới tính được
xem là ác ôn vì có liên hệ với chế độ hay người Mỹ.
Chỉ một trong 5 người thuộc Bộ binh 2/3rd của Thiếu tá Phạm Văn Định
bên ngoài Huế đang nghĩ phép Tết khi cuộc công kích xảy ra. Đại uý Cố
vấn Mỹ thấy mình không thể gọi được yểm trợ pháo và không kích. Lúc
trưa ngày 31 Định được lệnh tiến vào Thành nội. Anh và 260 lính đến
Sông Hương lúc giữa trưa, rồi bị kẹt trong một trận đụng độ tại góc chợ,
tổn thất 10 người và nhiều người bị thương. Phần đông binh lính của
Định nôn nóng một cách tuyệt vọng vì gia đình họ đều sống trong khu
vực giờ nằm dưới sự kiểm soát của phe cộng – riêng anh mãi sau này
mới biết tin vợ và con mình đã trốn đi sơ tán. Sáng sớm hôm sau, một số
binh sĩ Định trèo lên bức tường đồ sộ của kinh thành, chỉ để rơi xuống vì
đạn của quân địch. Trong trận đánh nhau ngoài đường phố diễn tiến sau
đó, Joe Bolt len lỏi đến được phức hợp Mỹ, từ đó ông trở lại với một xe
jeep đầy đạn và khẩu phần. Ông cũng kiếm được hai khẩu pháo không
giật 106mm, cho thấy là vô giá để thổi bay các vị trí bắn tỉa.
Mọi nỗ lực của QĐVNCH nhằm tiến vào thành nội đều thất bại. Phe
cộng sản và Miền Nam thóa mạ nhau qua tần số phát sóng chung. Người
Mỹ quả quyết rằng binh lính chế độ Sài Gòn không tác chiến hiệu
quả, nhưng số thương vong nói lên là không phải tất cả họ đều hèn nhát.
Nằm ngoài đường trên vũng máu trước nhà bà Ngô Thị Bông là một
thương binh Miền Nam, nhưng không ai dám ra giúp đỡ. Cuối cùng một
binh sĩ cộng sản bước nhanh đến bên thân người sóng soài và bắn một
viên đạn kết liễu vào y. Ngay sau đó, kẻ địch bước vào nhà bà. Y không
đưa ra lời đe dọa nào – chỉ đơn giản phát biểu rằng vì họ đang là người
chiến thắng, nếu khôn ngoan thì hãy giúp đỡ họ. Suốt những giờ phút và
những ngày sau đó, du kích quân ăn và ngủ tại đó, phát truyền đơn tuyên
truyền và hát những bài ca cách mạng. Một số dân đen địa phương –
phu xích lô chẳng hạn – khuân vác vũ khí và đạn dược cho họ, nhưng
những gia đình trung lưu như bà Ngô chỉ làm ít như có thể.
Phe chiếm đóng lầm lì dường như bối rối tại sao các Phật tử này, mà họ
biết là không thích chế độ Sài Gòn, lại tỏ ra cũng thờ ơ với chính nghĩa
của phe đối thủ. Sau này những người cộng sản nhìn nhận rằng ‘nếu
chúng ta muốn quần chúng nổi dậy, điều thiết yếu là triển khai lực lượng
quân sự đủ mạnh để hứa hẹn chiến thắng’. Nói cách khác, nhiệt tình
cách mạng thôi chưa đủ: nhân dân cũng cần tin tưởng binh sĩ Hà Nội có
dáng dấp của một kẻ chiến thắng – còn bây giờ thì chưa, trong mắt của
phần đông dân Huế.
Dân lánh nạn khiếp đảm trốn vào nhà thờ, trường đại học, và chẳng bao
lâu phức hợp MACV bị quá tải hết mức chịu đựng, khi nước thiếu khiến
người tị nạn phải uống soda thay nước. Chủ đề chính của trận chiến kéo
dài suốt tháng hai, tàn phá phân nửa thành phố và giết chết hàng ngàn
dân thường, là phe cộng sản chiến đấu kiên trì để bám đất họ đã chiếm
được trong ngày đầu tiên, còn các lực lượng Mỹ và QĐVNCH thì muốn
chiếm lại với sự chậm chạp đến nhức nhối. Đạo quân tiếp viện đầu tiên
của Mỹ, được điều về bắc hướng phức hợp MACV từ ‘Lực lượng Tác
chiến X-ray’ ở Phú Bài, mắc sai lầm khi đụng với các lực lượng hùng
hậu Miền Bắc, và bị đánh tơi bời. Sau đó một dòng tiếp viện nhỏ giọt
tiếp tục len lỏi đến với người Mỹ đang bị vây hãm, phần đông là chở tới
bằng đường sông. Tuy nhiên, hết lần này đến lần khác các sĩ quan cao
cấp đưa ra những lệnh ngớ ngẩn không thực tế, chẳng hạn, lệnh cho
Trung tá TQLC 1 Ernie Cheatham từ trung đoàn trưởng của ông vào thứ
bảy, 3 tháng 2: ‘Tôi muốn anh tấn công qua thành phố và quét sạch bọn
Miền Bắc ra ngoài!’
Một nỗ lực tự sát đầu tiên tiến quân về hướng bắc băng qua cầu Trường
Tiền vào thành nội tổn thất 10 người chết, 56 bị thương trong số 100
TQLC. Họ không được huấn luyện chiến thuật tác chiến trên đường phố,
một nghệ thuật đặc biệt. Trước khi lãnh hội được phương thức tác chiến
cam go suốt các tuần sau đó, họ đã chịu nhiều thương vong liên tục từ
các tay bắn tỉa và vũ khí tự động của địch bởi vì họ không giấu mình cẩn
thận, cứ xông tới trên các con đường lớn nơi các tòa cao ốc và các đống
gạch vụn biến thành nơi che chắn lý tưởng cho kẻ thù. Không có lúc nào
các sĩ quan cấp tá trở lên nắm được tình hình trận đánh: các tướng lĩnh
phát đi những chỉ thị không thực tế theo thứ tự từ Trại Evans ra phía bắc,
từ Phú Bài ra phía nam.
Trong 10 ngày đầu tiên, sợ ảnh hưởng đến công trình văn hoá các cuộc
không kích và pháo kích không dám đánh vào thành nội nơi quân Miền
Bắc đang tập trung. Trong các khu phố cư trú, ngược lại, hỏa lực súng
không giật 106mm được triển khai, tiếp theo là pháo hơi cay và lựu đạn.
Trong vùng địch chiếm đóng, người cộng sản ‘tàn sát bọn ác ôn và loại
trừ những tên tội đồ’, sử dụng cách nói của họ nhằm che đậy hàng ngàn
tội thảm sát. Điện nước bị cúp, và đài phát thanh thành phố im bặt. Ngày
và đêm, dân Huế chịu đựng các cảnh tượng và âm thanh của cuộc chiến
không thương tiếc.
Trong gần trọn tháng 2 Westmoreland đánh giá thấp một cách nghiêm
trọng quy mô của địch trong và chung quanh Huế, một phần bởi vì ông
còn bị ám ảnh bởi Khe Sanh, và một phần vị bộ máy chỉ huy và kiểm
soát bị đổ vỡ, nhất là tình báo. TQLC và các chỉ huy quân đội tin rằng
phe cộng dàn quân ở đó không hơn 2,000, trong khi quân số thực sự của
họ gấp 5 lần hơn. Người Mỹ vì vậy chỉ châm liên tục những đạo quân
tương đối yếu vào trận, tạo điều kiện cho địch giao tranh và đánh cho tan
tác. Trong nhiều ngày bộ tư lệnh cao cấp tự lừa dối mình cho rằng Huế
chỉ biểu thị một trong nhiều thảm bại Tết của phe cộng sản. Thực tế, nó
trở thành thành tựu lớn nhất của họ. Bộ đội Miền Bắc và VC có thể tạo
dựng từ đó một huyền thoại có thể sánh được với trận phòng thủ của Mỹ
tại Corregidor 1942, thất bại nhưng hào hùng.
Đại uý Charles Krohn, sĩ quan tình báo của Kỵ binh 2/12th, so sánh số
phận của đơn vị anh, được phái đi một cách vô tâm theo hướng nam về
phía Huế vào ngày thứ 4, với số phận của Lữ đoàn Ánh Sáng trong
Chiến tranh Crimea: ‘Không có lý do thỏa mãn và thuyết phục nào cho
một tiểu đoàn Mỹ tấn công một lực lượng Miền Bắc được củng cố qua
một bãi đất trống trải.’ Krohn viết về cuộc chạm trán của họ vào ngày 4
tháng 2 tại một thôn ấp cách Huế 4 dặm về phía bắc: ‘Khoảng 400 người
chúng tôi tiến lên tấn công. Một số không đi được bước thứ hai. Lúc
chúng tôi đến được phía bên kia của bãi đất trống, 9 người bị giết và 48
bị thương … Chúng tôi chỉ giết được 8 bộ đội (nhiều nhất) và bắt được 4
tù binh . . . Chúng tôi báo cáo con số lớn hơn cho lữ đoàn, dựa trên suy
nghĩ như thế sẽ khiến bản thân mình cảm thấy dễ chịu hơn. Nhưng giữa
chúng tôi với nhau đều hiểu rằng kẻ địch chỉ như bị trầy xước.’
Krohn đưa mắt nhìn thi thể của một quân y có tên Johnny Lau được đưa
lên trực thăng: ‘Chúng tôi đã nói chuyện với nhau trước khi cuộc tấn
công xảy ra, và anh ấy bảo tôi mình ở Sacramento, California. Anh nói
gia đình mình làm nghề buôn bán thực phẩm. Chúng tôi đang trao đổi về
cách thức tốt nhất để nấu thịt bò với gừng thì cuộc tấn công nổ ra và hứa
với sẽ trở lại vấn đề này’ – nhưng họ không bao giờ làm được. Số hố cá
nhân của tiểu đoàn rơi từ 500 xuống còn ít hơn 200 trong vòng 6 tuần.
Krohn viết một cách cay đắng: ‘Quân đội Miền Bắc có giới lãnh đạo cao
cấp tốt hơn chúng ta.’ Tiểu đoàn tơi tả của anh may mắn rút lui được để
về liếm láp vết thương của mình.
Các trận đánh Tết lan xuống đất nước, cho đến khi gần như mọi tiểu
đoàn của Westmoreland đều giao tranh. Khi trận công kích vừa bắt
đầu, trung đội trưởng dù John Harrison đang cầm đầu một đội tuần tra
gần Nha Trang, ngụy trang sơ sài như người đi săn vì tôn trọng lệnh hưu
chiến Tết. Bất ngờ máy truyền tin cảnh báo: ‘Anh về ngay. Tôi nói lần
nữa, anh về ngay. Nghe rõ không?’ Trung đội quày quả trở về căn cứ
hành quân tiền tiêu Betty, từ đó họ lập tức được phái đi lần nữa càn quét
VC trong khu vực. Họ không phải tìm lâu, gây bất ngờ cho một nhóm du
kích đang tập hợp để chuẩn bị tấn công. Một du kích chạy thẳng về phía
binh lính Mỹ, nâng khẩu súng lục lên bắn. Binh sĩ đi đầu quá đỗi sửng
sốt trước cuộc tấn công vô vọng và đáng thương này nên không kịp phản
ứng. Viên trung uý xả hết 16 viên đạn vào người du kích cho đến khi y
ngã xuống, bụi pha lẫn máu phun vọt ra khỏi các vết thương của y.
Lúc 21;00 ngày 30 tháng giêng một VC có vũ trang bị bắt ở Sài Gòn,
khai rằng 6 giờ nữa nhiều mục tiêu sẽ bị tấn công bên trong và chung
quanh thành phố. Nửa giờ sau đó một du kích khác bị bắt, đang mang
hai khẩu AK-47. Quá muộn cho lực lượng phòng thủ triển khai đội hình,
nhưng hầu hết đơn vị đều được báo động trước khí cuộc tổng công kích
bắt đầu. Nhiều du kích, chưa bao giờ đặt chân vào thành phố, bị lạc
trong mê lộ đường phố Sài Gòn: dân chúng giao nộp cảnh sát một chiến
binh nông dân mới lớn mà họ bắt gặp đang ngồi khóc trên lề đường, vì
đã để mất liên lạc với đồng đội mình.
Trần Bạch Đằng, giận dữ vì sự chậm trễ của tiểu đoàn mình, thấy mình
và binh sĩ gần như chạy những dặm cuối cùng xuyên qua bóng đêm
hướng về Sài Gòn. Ông trải bản đồ ra trong một ngôi đình làng ở ngoại
ô, khi âm thanh những loạt đạn đầu tiên vọng đến từ trung tâm thành
phố. Một tiểu đoàn trưởng báo cáo rằng mình được lệnh tấn công kho
xăng Nhà Bè, nhưng không biết nó ở đâu, mà binh lính thì đã kiệt sức.
Khi Đằng vặn đài phát thanh Sài Gòn và Quân đội, ông thấy chúng đều
im tiếng, ông hớn hở hẳn ra, tưởng rằng đài phát sóng đã lọt vào tay phe
mình. Một dòng người dân địa phương viếng đình mang dưa hấu, pháo,
trà, thuốc men, bánh tét. Cho đến giờ, mọi chuyện đều tốt.
3 Sự bẽ mặt mang tính biểu tượng
Lúc 01:30 ngày 31 tháng giêng, các phần tử dẫn đầu của toàn bộ lực
lượng gồm 4,000 VC – bộ đội đứng bên ngoài thủ đô – đánh vào nhiều
mục tiêu Sài Gòn, trong đó mục tiêu đầu tiên là dinh tổng thống: nhưng
dinh không người ở, vì Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đang nghỉ Tết ở
Mỹ Tho. Phe tấn công, 13 người nam và 1 phụ nữ, nhanh chóng bị đẩy
lùi, và rút lui đến một tòa nhà gần đó, rồi tuần tự bị giết chết trong cuộc
chạm súng kéo dài 15 giờ.
Các du kích khác đánh chiếm đài phát thanh quốc gia với sự giúp đỡ của
một cảm tình viên là nhân viên đài ra mở cửa. Họ chiếm giữ đài trong 6
giờ, nhưng kế hoạch phát sóng lời hiệu triệu tuyên truyền bị thất bại vì
dây cáp nối với máy phát bị cắt đứt.
Cộng sản cũng tấn công cầu Tân cảng, khu Chợ Lớn, và các căn cứ nằm
bên ngoài ở Long Bình, Biên Hòa và Tân Sơn Nhất. Phó Tổng thống
Nguyễn Cao Kỳ ban bố thiết quân luật, để bất kỳ ai xuất hiện trên đường
phố có thể xem là kẻ thù.
Người Việt đã trở nên quá yếm thế đến nỗi một số người nghe đài Hà
Nội loan tin chế độ Sài Gòn đang bị lật đổ nghĩ rằng Kỳ ắt đang dàn
dựng một cú đảo chính chống Thiệu. David và Mai Elliott, qua đêm tại
cơ sở RAND ở đường Pasteur, tỉnh giấc khi nghe tiếng nổ rất lớn. Họ
bật đèn, nhưng bị một đại tá TQLC hét lớn, ‘Tắt đèn! Chúng ta bị tấn
công rồi!’ Vợ chồng Elliot cũng nghĩ đây là cú đảo chính – chuyện độc
quyền của người Việt – nên quay ra ngủ tiếp. Thực ra, tiếng nổ là do
các đặc công VC gây ra nhằm phá một lỗ ở vòng tường ngoài của sứ
quán Mỹ gần đó, đẩy tới một chương kịch tính nhất của cuộc chiến.
19 biệt kích của tiểu đoàn C-10 cộng sản tiến đến sứ quán trong một xe
tải Peugeot nhỏ và một taxi. Họ đã trải qua đêm trước giấu mình trong
một hãng sửa ô tô. Họ xông ra khỏi xe và khai hỏa vào hai cảnh sát Mỹ.
Hai người này liền phản ứng rất tỉnh táo, khóa cổng sứ quán và bắn hạ
người dẫn đầu toán VC và phụ tá của y. Lúc 02:47 họ đánh điện mật mã
dành cho tình huống bị đột kích, ‘Tín hiệu 300!’ Một người Mỹ nói
thêm, ‘Tụi nó đến rồi, tụi nó đến rồi! Cứu! Cứu!’ trước khi bị giết. Khi
lực lượng QĐVNCH bảo vệ sứ quán bỏ chạy, phe tấn công bò qua lỗ
hổng tạo bởi 15 cân bộc phá đựng trong túi ghết. Tuy nhiên, khi đã vào
được bên trong, nhóm biệt kích ngập ngừng. Họ bắn hai rốc két vào tòa
nhà văn phòng sứ quán, thổi bay huy hiệu quốc gia Hoa Kỳ khỏi
tường, làm bị thương một TQLC và khiến một nhúm cư dân khác sợ
khiếp vía, trong khi không giết người nào. Sau đó họ núp sau các vách
bê tông bao quanh một số bồn hoa lớn, và trong một ít giờ sau chỉ trao
đổi hoả lực rời rạc với một nhúm TQLC và Quân cảnh trong các tòa nhà
bao quanh.
Allan Wendt, một chuyên gia kinh tế 33 tuổi, một viên chức ngoại
giao, tỉnh giấc vì tiếng nổ rầm trời. Phản ứng đầu tiên của anh là chui
xuống gầm giường, phản ứng thứ hai là điện thoại cho một TQLC ở tầng
trệt, người này báo với anh là sứ quán đã bị đột nhập. Khôi hài đen tiếp
diễn. Sứ quán không có vũ khí trừ vũ khí trong tay ba bảo vệ, một người
đã nhanh chóng bị thương. Wendt thấy không có lý do tại sao bọn tấn
công không tràn vào bên trong: ‘Tôi nghĩ mình đang sống những giây
phút cuối cùng.’ Anh gọi cú điện thoại thứ nhất trong số vài cú đến
MACV từ phòng mật mã có bọc thép, được anh khóa chốt cửa. Nhân
viên của Westmoreland trấn an anh lực lượng giải cứu sẽ đến ngay,
nhưng chỉ ra rằng họ cũng đang giải quyết nhiều vụ tấn công khác quanh
khu vực Sài Gòn. Wendt phản đối, một cách bực bội nhưng đúng đắn:
‘Nhưng nơi này chính là biểu tượng quyền lực Mỹ ở Việt Nam.’ Một sĩ
quan MACV hứa sẽ gửi một đoàn xe bọc sắt đến ngay – nhưng không
thấy. Nhà ngoại giao cũng nhận các cuộc điện thoại từ Trung tâm Hoạt
động của Bộ Ngoại giao và Phòng Tình Huống Nhà Trắng, anh giơ cao
ống nghe điện thoại để họ nghe được tiếng tạch tạch của cuộc đấu súng.
Đáp ứng thoạt đầu của Sài Gòn thậm chí còn lộn xộn hơn phần đông các
cuộc tấn công của VC. Tiểu đoàn Quân cảnh 716, đơn vị Mỹ duy nhất ở
trung tâm thành phố, được lệnh tăng viện cho sứ quán. Sĩ quan của tiểu
đoàn thoái thác không chịu đi cho đến khi xe bọc sắt và trực thăng tháp
tùng. Phần đông người Mỹ – TQLC và Quân cảnh – dần dần bắn hạ
các biệt kích VC trong những giờ sau đó. Họ như làm công việc riêng
của mình hơn là hoàn thành các mệnh lệnh. Họ cũng giết 4 tài xế người
Việt của sứ quán, mặc dù một trong số họ chắc chắn hỗ trợ phe tấn
công.
Người hùng của lực lượng phòng thủ là Trung sĩ TQLC Ron Harper,
người bảo vệ đã nhanh chóng đóng và khóa cánh cửa gỗ tếch nặng nề
của văn phòng sứ quán ngay trước khi VC ép sát vào. Trong cuộc đấu
súng kéo dài xảy ra sau đó, hàng tá phóng viên TV và báo chí tụ tập gần
đó để mô tả một bi kịch khó cưỡng diễn ra chỉ ít trăm mét từ khách sạn
của họ. Chuẩn tướng John Chaisson, giám đốc Trung tâm Hành quân
Tác chiến của Westmoreland, thấy mình đứng cạnh một lính gác bên
ngoài phòng ngủ của mình cách sứ quán một dãy nhà, đang theo dõi
cảnh tượng và lắng nghe âm thanh: ‘Có điều gì đó kỳ lạ về việc tác chiến
trên đường phố. Mọi thứ đều như diễn ra tứ phía và tiếng đạn pháo được
khuếch đại vì dội qua lại giữa các bức tường.’
Mặt trời vừa ló dạng, các trực thăng Huey không vận một trung đội của
tiểu đoàn Dù 502 đến giải cứu sứ quán một cách muộn màng. Đại uý
Jack Speedy viết: ‘Buổi sáng đẹp một cách ngoạn mục khi mặt trời lên
cao trên bầu trời. Sương mù bốc lên từ Sông Sài Gòn. Đường phố vắng
tanh khi họ nhìn xuống sứ quán; rồi họ bắt đầu hứng hỏa lực từ kẻ thù vô
hình – các biệt kích VC – làm bị thương một xạ thủ ở cửa trực thăng,
máu ra lênh láng. Với tính nhát gan đáng kinh ngạc viên phi công, thay
vì đáp trên mái sứ quán, lại quay đi về phía Long Binh, tại đó khi họ tiến
đến gần lúc 06:30 một phần kho quân nhu phát nổ – một thành tích khác
của các đặc công cộng sản liều chết. Steve Howard, một nhân chứng,
nói, ‘Như thể có ai đưa vũ khí hạt nhân vào Việt Nam.’ Lính dù nhảy
xuống giữa cơn hoảng loạn: ‘Tết này rõ ràng đang có một hiệu quả lan
truyền.’
Trong khi xạ thủ bị thương được mang đi lính dù chạy tới một trực thăng
Huey khác, bay trở lại sứ quán, và đáp trên mái hơn 6 giờ sau khi người
tấn công đầu tiên đã đột nhập sứ quán. Khi họ nhảy xuống, một lính bảo
vệ TQLC và một liên lạc viên quân đội nắm lấy cơ hội leo lên và biến
mất. Những lính dù mới đến chạy xuống tầng trệt, gặp một nhân viên sứ
quán – ắt là Wendt – ‘với ánh mắt nói rằng chúng tôi là những người vĩ
đại nhất trên mặt đất’. Các trực thăng tiếp theo chở thêm các lính dù đến.
Hai VC bị thương bị bắt làm tù binh được trao cho chính quyền Miền
Nam.
Đại tá George Jacobson là một sĩ quan hồi hưu chiếm một biệt thự trong
phức hợp, và giữ chức vị phối hợp sứ mạng – cố vấn dân sự của đại sứ.
Jacobson đã tổ chức một buổi tiệc pháo Tết trong vườn mình vào tối
hôm trước, rồi trải qua những giờ tiếp theo nằm sát đất và bấu chặt một
quả lựu đạn, vũ khí duy nhất của ông: sống bên trong phức hợp của sứ
quán được củng cố, dường như là điều khôi hài để giấu một khẩu súng
dưới gối. Ánh sáng đầu tiên mang đến cho vị đại tá một bi kịch không
kém phim viễn tây Hollywood: ông nghe tiếng một VC – người biệt kích
cuối cùng còn tự do – ở dưới tầng trệt, liền gọi nhỏ ra bên ngoài cửa sổ
cho một TQLC mà ông chợt thấy, xin một khẩu súng. Người lính ném
lên cho ông khẩu súng lục, và một khoảnh khắc sau đó, lúc 06:45,
Jacobson nã hết băng đạn vào chiến binh địch khi y xông vào phòng ngủ
bắn khẩu AK-47.
Lúc 09:15 sứ quán tuyên bố an toàn. Tom Speedy nói: ‘Xác các VC tử
thương vẫn chưa lạnh hẳn khi đoàn nhà báo Mông Cổ ùa vào phức
hợp … Vấn đề cấp bách nhất của tôi là nhà báo.’ Một lính dù bảo người
mới đến là kẻ tấn công đã xâm nhập tòa nhà văn phòng. Tin tức giật gân
này, dù sai, được phát đi khắp thế giới, khiến chuyện đã tồi tệ, càng tồi
tệ hơn.
Tướng William Westmoreland đã được báo động ngay khi sứ quán bị
tấn công lúc 03:00, nhưng không rời khu cư ngụ của ông cho đến khi
được chở trực tiếp đến sứ quán ngay sau khi nó đã an ninh. Những gì
ông nói sau đó gây tổn hại lâu dài cho tiếng tăm của ông. Trước tiên
ông gây khó chịu cho binh sĩ của mình, quát tháo Speedy và người của
anh râu ria không cạo, bảo họ về chỉnh đốn lại tác phong, ‘rồi ông quay
đi quở trách các con người đáng thương khác … Có đủ những
Westmoreland và loại người như ông khiến nhiều người trong chúng tôi
đâm ra thù ghét một số người thuộc phe ta.’ Allan Wendt, nhân viên
ngoại giao người đã chịu đựng đủ một đêm khủng khiếp, thậm chí còn
kém ấn tượng hơn. Không có lời giải thích cho việc chậm trễ 6 giờ trước
khi Ngài Hiệp sĩ đến, nói một cách bóng gió. Thay vào đó, sau khi nhìn
khắp những đổ nát và các xác chết bên ngoài, vị tướng biểu lộ sự ghê
tởm vẻ bừa bãi khó coi. ‘Tôi đề nghị các anh dọn sạch nơi này hoàn
toàn,’ ông bảo với sĩ quan trực, ‘và bảo mọi người quay lại làm việc vào
trưa nay.’
Westmoreland bảo với các nhà báo địch đã chịu một thảm bại lớn lao.
Nói như một giáo sĩ bị sốc vì đĩa tiền lạc quyên đã bị cướp mất, ông nói:
‘Kẻ địch, rất tráo trở, đã lợi dụng hưu chiến Tết để gây sự bất ngờ tối
đa.’ Sau đó ông cho rằng cuộc công kích của VC vào thủ đô là đòn nghi
binh cho nỗ lực chính là ở tỉnh Quảng Trị. Peter Braestrup của tờ
Washington Post hỏi một cách đầy khinh miệt, ‘Làm sao có nỗ lực nào
tấn công vào … thủ đô Sài Gòn lại có thể là một đòn nghi binh?’
CHƯƠNG 19 : CUỐN PHIM THỜI SỰ KHỔNG LỒ
1 Phản Công
Cuộc công kích vào sứ quán Mỹ chỉ là trận đụng độ đáng chú ý nhất
trong số hàng trăm trận đụng độ dữ dội nổ ra trong những giờ phút đầu
tiên của ngày 31 tháng giêng. Trần Tấn là một học sinh trung học, sống
với cha mẹ và 9 đứa con khác của họ trong một mái nhà tranh nằm ở
ngoại ô Sài Gòn. Cậu được mẹ đánh thức dậy. ‘Bên ngoài có nhiều tiếng
nổ nghe không phải tiếng pháo,’ bà nói. Tấn mặc quần áo vội
vàng, trong khi cha cậu, trước đây đi lính cho Pháp, ra ngoài xem xét.
Ông trở lại và buột miệng, ‘VC ở khắp nơi – tụi con tốt hơn phải chạy ra
ngoài thôi.’ Tân chở em trai trên xe Honda và vọt theo hẻm sau để đến
nhà chú. Cha mẹ họ cùng lối xóm ẩn nấp trong một ngôi trường gần đó,
và trở thành nơi nương náu trong sáu tháng sau đó, cho đến khi được
chuyển đến một trại tị nạn.
Trong cảnh hủy diệt của hầu hết khu vực hứng chịu trận thư hùng Tết,
ngôi nhà nhỏ của gia đình Trân đã ra tro, khiến họ lâm vào cảnh quẫn
bách.
Phía dưới vùng châu thổ, một sinh viên mời vào nhà uống trà một cán bộ
đi vào thị trấn Cai Lậy cùng với du kích VC. Người cộng sản không có
thời gian cho việc đó: ‘Giờ thì hãy vui sướng chào đón hoà bình. Tôi hy
vọng cậu sẽ đóng góp để mang đến điều đó.’ Chàng trai được nhờ viết ra
tên và địa chỉ của mọi viên chức chính quyền, cảnh sát hoặc sĩ quan cao
cấp. Anh làm theo nhưng loại ra các bạn thân. Hai tuần lễ đánh nhau ác
liệt diễn ra sau đó, dân chúng núp trốn trong nhà, phe tấn công cuối cùng
bị đẩy lui khỏi trung tâm hành chính thị trấn.
Tại Sài Gòn, chỉ huy VC Huỳnh Công Thân viết: ‘Các sự kiện trong
ngày đầu trận đánh hoàn toàn khác với những gì chúng tôi kỳ vọng. Các
tiểu đoàn mũi nhọn không thể tiến nhanh vì họ chỉ có vũ khí nhỏ và
thiếu đạn dược, trong khi lực lượng địch thì đông và khai thác mạng lưới
rối rắm của đường phố và ngõ hẻm để tiến hành các cuộc kháng cự ác
liệt. Dân chúng đón chào chúng tôi nồng ấm, nhưng chúng tôi không
thể … hậu thuẫn một cuộc tổng nổi dậy.’
Hệ thống liên lạc giữa các tiểu đoàn xung kích vào thành phố và bộ chỉ
huy bên ngoài bị đứt gãy, khiến họ phải lệ thuộc vào tin tức trên đài phát
sóng Sài Gòn, vừa mới hoạt động trở lại. 35 tiểu đoàn VC được xung
vào khu vực, 11 trong số đó vào trong thành phố. Tình báo nghèo nàn
làm hỏng mục đích cuộc tấn công vào trung tâm thiết giáp của các chiến
binh đồng hành với các tài xế được huấn luyện sử dụng các vũ khí nặng
chiếm được: họ thấy các xe tăng đã đi hết, các tấm thép đóng khóa nòng
súng các lựu pháo 105mm đã được tháo ra. Một mũi dùi chủ yếu thọc
vào bộ chỉ huy quân sự tại Tân Sơn Nhất. Phó Tổng thống Kỳ, người
đang có mặt trong căn cứ, trang bị vũ khí cho vợ và ba con lớn bằng
súng trường và súng lục. Trung tá Glen Otis trở thành một trong các
người hùng Mỹ của trận chiến khi ông chỉ huy Kỵ binh 3/5th tiến hành
một mũi tiến công từ Củ Chi, tập kích phe cộng từ phía sau. Đơn vị của
ông bị tổn thất đáng kể khi ông dẫn đầu trên một chiếc Huey, chỉ điểm
các vị trí phục kích của địch và ra lệnh phân tán, nhưng Kỵ binh đóng
góp phần quan trọng trong việc làm thất bại cuộc đột kích Tân Sơn Nhất.
Trong một ngôi nhà gần đó, sinh viên Trần Văn Đệ thận trọng nhìn
chăm chăm qua khe cửa và thấy một người lính đội nón cối không thể
lầm lẫn được đang hét lớn cho cả phố nghe, ‘Ra đường hết đi, mọi
người. Quân đội cách mạng đến đây để giải phóng đồng bào.’ Tuy
nhiên, Đệ và gia đình vẫn nán lại, bởi vì là những người Công giáo tốt
họ đã được dạy dỗ từ bé là phải thù ghét và biết sợ người cộng sản.
Trong tình hình đụng độ sắp xảy ra, anh lùi lại đến chỗ mẹ và bốn em
đang ngồi túm tụm sợ hãi. Anh đặt ngón tay lên môi, và ra dấu cho mọi
người chui xuống gầm giường. Những giờ phút khủng khiếp tiếp theo:
đạn rít qua cửa trước của họ; họ nghe trực thăng bắn rốc kết, một trái
trúng nhà hàng xóm bốc lửa. Cuối cùng cả nhà chạy ra một bãi đất
hoang cách nhà vài trăm mét, và nấp dưới một con mương trong ba ngày
sau đó. Mỗi sáng sớm Đệ trở về để kiểm tra xem nhà có còn không. Vào
sáng ngày thứ ba anh bỗng thấy một mũi súng đang chĩa vào người,
người cầm súng là một lính Mỹ to con. ‘Tôi là một sinh viên,’ Đệ nhanh
miệng nói bằng tiếng Anh. Người lính hạ vũ khí, nhưng chàng trai Việt
có thể nhìn thấy mắt y tỏ vẻ chưa tin còn ngờ vực.
Các tướng lĩnh cảm thấy thoải mái nhất khi xử lý các lực lượng lớn
trong các trận đánh quy ước. Fred Weyand tự hào vì đã bảo đảm đường
liên lạc năng động, khiến ông có thể nhanh chóng gửi quân tiếp viện
thuộc Lực lượng Dã chiến II của ông cho các trận đánh quanh Sài Gòn.
Số các tướng lĩnh còn lại của MACV, tuy nhiên, dường như không có
quân do sự hỗn loạn đang khống chế xứ sở. Liên lạc giữa Mỹ và Miền
Nam thật nghèo nàn. Nhiều chỉ huy địa phương buộc phải làm theo sáng
kiến của mình.
Trong những giờ phút đầu tiên ở Sài Gòn, quân cảnh Mỹ chịu nhiều
thương vong bởi vì họ đương nhiên không được chuẩn bị tốt để chiến
đấu như một bộ binh. 16 quân cảnh bị giết và 21 bị thương, nhiều người
họ cùng ở trên một xe tải bị nổ tung. Tại Chợ Lớn, đánh nhau ác liệt kéo
dài hàng tuần. Một nhóm binh sĩ Úc đánh đuổi một cuộc tấn công của
VC vào doanh trại của họ trong đó một xạ thủ rốc kết bị một đầu bếp
Úc, Binh nhì ‘Pop’ Clement giết chết. Sau đó anh nói theo kiểu đặc
trưng của xứ sở anh: ‘Tôi đã biết tỏng khi nhìn thấy hắn giơ cái ống
thoát nước đó lên là hắn không phải đến đây để sửa ống nước.’ Về đại
cục, các lực lượng chính quyền giữ vững hầu hết trận địa của mình, và
giáng cho địch số thương vong cao hơn họ gánh chịu, nhưng những
người trên đường phố chỉ thấy máu đổ và cảnh đổ nát.
Phần lớn công việc thường ngày của Bệnh viện Dã chiến số 3 của Hoa
Kỳ ở ngoại ô Sài Gòn là nhổ răng sâu cho dân, và phát cho họ các giả
dược nhiều màu mà họ ưa thích. Giờ đây, thình lình, cơ sở lún sâu vào
vũng nước xoáy. Các bác sĩ giải phẫu Mỹ đang mổ cho một VC bị
thương khi một nam y tá ló đầu qua cửa, nói, ‘Chúng vừa đánh sứ quán.’
Những tiếng lẩm bẩm ngờ vực. ‘Vâng, thực đấy.’ Rồi người y tá nói một
cách nghiêm túc, ‘Quên ca này đi. Chúng ta có nhiều ca khác đáng làm
hơn.’
Có những quyết định phũ phàng khi đành phải bỏ rơi các ca tệ hại, bởi vì
tài nguyên phải dành cho ưu tiên. Những thương bình có thể bước đi
được xe buýt chở ra Tân Sơn Nhất di tản đến Hawaii. Một ít nhân viên
không chịu nỗi: Drummond mô tả sự suy sụp của trưởng khoa giải phẫu:
‘Ông ấy bù đầu vì công việc tràn ngập. Ông ta dường như một người
thiếu năng lực không thể giải quyết tình hình.’ Chính ông ta bước ra
ngoài để giải quyết một quân xa 2 tấn rưỡi chở xác lính Mỹ, ước chừng
cả chục người. Khu vực cấp bậc thấp được trưng dụng làm nhà xác, có
lúc chứa đến 600 thi thể, Việt có và Mỹ có. Bệnh viện có 150 giường, và
tại cao điểm Tết chứa đến 500 bệnh nhân. Bên trong cơ sở không cửa sổ
‘bạn như nằm trong nhà mồ’: thỉnh thoảng bác sĩ quân y bước ra ngoài
giây lát để xem trời sáng hay tối.
Drummond thấy công việc ở giữa những người thập tử nhất sinh là gay
go nhất: ‘Thật đau lòng khi phải nhìn ai đó có thể cùng tuổi với em
mình, nói chuyện với mình mà mình biết là đang hấp hối.’ Trưởng y tá
bệnh viện và phụ tá của bà như các mẹ hiền trong tuổi ngũ tuần. Một
người trong họ nhìn thấy một TQLC đi xuống quân xa với xương khuỷu
tay nhô ra, phần cánh tay bên dưới không còn. Người y tá nói, ‘Tội
nghiệp con trai, con mất cánh tay rồi.’ Anh đáp lại, ‘Không sao đâu bà
chị, chúng còn bắn vào bìu tôi nữa đó!’ Tiến độ chỉ chậm lại vào ngày
thứ ba, khi dung dịch vô trùng của bệnh viện hết sạch.
Ở trong nước nhân dân Mỹ choáng váng, và thường nhận được thông tin
sai lệch. Chet Huntley của NBC bảo với khán giả rằng các lính bắn tỉa
VC đã đột nhập tòa nhà sứ quán và từ mái nhà bắn vào binh sĩ giải cứu
trong sân. Sarah McClendon nói trên tin tức DC: ‘Tình hình rất, rất tồi
tệ, và tôi cho rằng nhân dân nên biết điều này.’ Ôn hòa hơn, Tom
Buckley của New York Times bày tỏ sự lo sợ rằng ‘sau nhiều năm chiến
đấu và 10,000 thương vong, VC còn có thể tìm ra hàng ngàn người sẵn
sàng không chỉ để đánh về đêm rồi chuồn đi, mà còn đảm nhiệm các sứ
mạng trong đó chết là con đường duy nhất có thể’. Mike Wallace của
CBS nói rằng các cuộc tấn công ‘phá hủy huyền thoại cho rằng đồng
minh đang kiểm soát Miền Nam về mặt quân sự.’ Thượng nghị sĩ John
Stennis của Mississippi bảo với các phóng viên rằng cho dù các cuộc tấn
công gây cho địch tổn thất thương vong nặng nề, chúng cũng biểu thị
một sự bẽ mặt cho cá nhân Lyndon Johnson. Tổng thống thực ra thấy
sốc một cách dữ dội: niềm tin của ông vào giới quân sự, cụ thể với
Westmoreland, không bao giờ phục hồi.
Và trận chiến vẫn còn đang gầm thét. Tại Sài Gòn lúc 06:00 ngày 1
tháng 2, chỉ huy VC Đằng và tham mưu leo lên các xuồng lớn gắn máy
treo cờ MTDTGP, chạy về phía thượng lưu và đậu trong thành phố. Rồi
họ bước đi dưới tiếng súng lác đác đến cầu Bà Tàng qua các đường phố
trong đó nhiều nhà treo cờ của họ. Đằng là một cựu bình Việt Minh đã
biết Sài Gòn những năm 1945-46. Ông dừng lại ngôi nhà của Bà Chín
nào đó, nơi Đảng ủy đặt sở chỉ huy trong những ngày xa xưa đó. Một du
kích nói ông cảm thấy quá tuyệt vời khi được ở trong thủ đô đến nỗi ông
cởi đôi giày sandal, để cảm nhận đường phố tốt hơn bằng chân trần.
Chiều hôm đó tại MACV, Chuẩn tướng John Chaisson viết với sự
ngưỡng mộ miễn cưỡng: ‘Đây thực sự là một nỗ lực phi thường. Kẻ địch
đã đánh gần như mọi sân bay và thủ phủ tỉnh lỵ trong xứ cùng một lúc.
Đến giờ họ đã gây cho chúng ta thiệt hại đáng kể, không quá nhiều
thương vong, nhưng họ đã trả một giá to lớn. Nếu chúng ta có thể
khống chế việc này và chúng ta sẽ làm được) tôi không nghĩ họ còn
nhiều lực lượng dự trữ. Họ hoặc đạt được thắng lợi hoặc họ đã rút ngắn
cuộc chiến cho chúng ta.’
Tại sở chỉ huy dã chiến của phe nổi dậy, tinh thần đã sa sút. Các cán bộ
báo cáo rằng mọi biệt kích VC tại trung tâm thành phố đã bị giết
chết. Đằng lập một trạm chỉ huy mới tại một ngôi chùa gần cầu Bình
Tiên, và phái ‘những đội chiếm đóng’ qua đường phố, gọi dân chúng
tham gia nổi dậy – phần lớn là vô ích. Ông nghe tin một quả bom đã rơi
xuống nhà của Bà Chín bạn ông, giết chết những người trong đó. Suốt
những ngày đêm sau đó là những ngày đêm không ngủ, dồn vập những
tin tức xấu đổ về do phần lớn nữ giao liên gan dạ đương đầu với đường
phố đạn lửa mang về. Các lực lượng đồng minh đang tiến lên, tung càng
lúc càng nhiều hỏa lực, thu hẹp dần phạm vi của người cộng sản. Trực
thăng vần vũ trên đầu, bỏ trái sáng vào ban đêm. Các máy dò hướng của
Mỹ định vị được nơi phát sóng của Đằng, để pháo bắt đầu đóng khung
địa điểm của ông. Thương binh lũ lượt được mang vào, nhưng không
làm được gì nhiều cho họ. Các du kích quân chỉ sống nhờ khẩu phần
thịt vịt và trứng vịt, riết rồi ngán cả hai. Đằng yêu cầu khẩn thiết và vô
vọng xin viện binh.
Trong khi đó, trên khắp đất nước, gần như mọi đơn vị tác chiến Mỹ đều
tham gia giao tranh đâu đó. Đại uý Myron Harrington 30 tuổi gốc
Augusta, Georgia, người đã đảm nhiệm một đại đội 1/5th TQLC 5 ngày
trước Tết, cảm thấy bối rối khi từ trước đến giờ đã phục vụ 8 năm mà
không gặp hành động nào: ‘Tôi rất ý thức là mình còn tay mơ.’ Một it
giờ sau khi tổng công kích bắt đầu, anh và binh sĩ được điều động lập
tức đến phía nam Huế dọc theo đường sắt duyên hải cũ, tại đó họ nhanh
chóng đụng độ với một số bộ đội, và một trận đấu súng hỗn loạn nổ ra
trong một ngôi làng bỏ hoang. Sau một đêm vị trí của họ bị súng cối nã
cầm chừng, lúc bình minh Harrington được lệnh dẫn hai trung đội băng
qua vùng quê để tiếp sức cho phần còn lại của tiểu đoàn – cách đó 11
dặm. Đây là một tình huống chỉ huy lúng túng và rối loạn cổ điển: đúng
là vô lý khi điều một lực lượng nhỏ hành quân trên một đoạn đường
hiểm nguy như vậy. Harrington hỏi tiểu đoàn, ‘Có gì giữa anh và tôi?’
Không có gì, họ trả lời. Nhưng Đại đội Delta của anh chỉ di chuyển
chừng vài trăm mét thì đã gặp hoả lực địch. Họ mất 4 giờ để thoát ra và
di tản 8 người bị thương, được hỏa lực hải quân yểm trợ.
Harrington có thể nhìn thấy quân Miền Bắc đang dồn lực lượng, ra lệnh
bằng các dấu hiệu tay và thổi còi: ‘Tôi nhận ra tình thế trở nên nghiêm
trọng rồi.’ Chỉ sau 36 giờ nữa là họ có thể tái triển khai dưới bóng đêm,
đến được tiểu đoàn lúc nửa đêm ngày 2 tháng 2. Trung uý John Harrison
của đại đội Dù đóng bên ngoài Nha Trang được lệnh tiến lên qua các
cánh đồng trống trải về hướng hai ngôi nhà và một nghĩa trang tại đó họ
được bảo là có VC đang đợi. Harrison nói: ‘Thình lình nhiều địch xuất
hiện phía sau lưng chúng tôi, bắn rốc kết và súng cối thùm-thùm-thùm.’
Anh và ba người đến ẩn núp trong một túp lều tranh, chỉ để thấy đạn rít
lên xuyên qua vách lá. Họ chiến đấu suốt ngày, phần còn lại của đại đội
bị ghim chặt lùi lại 1,000 ya. ‘Trận đánh trở nên giằng co – xem ai giỏi
hơn ai. Trong hầu hết lần chạm trán việc mất quân chỉ xảy ra trong 30
giây đầu tiên, nhưng trận này cứ tiếp diễn và tiếp diễn.’ Người lính đi
đầu của anh bị bắn chết tại cổng ngôi nhà tranh kế cận. Harrison gọi
không kích, bắn quá gần đến nỗi thổi bay mái nhà anh đang ẩn nấp,
khiến anh chảy máu cam và máu tai. Có lúc có đến 6 chiếc F-4 xếp
hàng trên đầu, lần lượt chúi mũi xuống.
Vậy mà hỏa lực VC vẫn tiếp tục. Một bé gái chạy ra khỏi một túp lều,
chụp lấy khẩu súng nằm trên mặt đất và phóng lại vào trong. Sĩ quan bảo
với xạ thủ M-60, ‘Nếu lần sau nó làm vậy nữa, cứ bắn.’ Mặc dù ngay
trước khi đêm xuống một đại đội khác đến tiếp ứng, họ mất thêm 3
người trong quá trình giúp một thương binh lùi về. Thật là một ngày ác
liệt và cam go. Harrison nói: ‘Đó là lần đầu tiên ở Việt Nam mà tôi
không thể lập được thế hỏa lực áp đảo. Chúng tôi sử dụng nhiều M-60
vậy mà không thể khiến hỏa lực họ chậm lại. Chúng tôi hiếm khi nhìn
thấy kẻ địch, chỉ thoáng thấy ánh sáng lóe ra từ nòng súng AK của họ.’
Lính Dù rút quân ngay trước hoàng hôn, rồi sau đó viên trung uý dẫn
một đội tuần tra trở lại trận địa để thu hồi xác chết. Họ đi lạc trên đường
về căn cứ, và phải điện đàm cho căn cứ Dù nhờ bắn các đạn chỉ đường
lên không trung để hướng dẫn đường về.
Những ký ức sống động và đôi khi đầy xúc động của những cộng quân
tham gia trận công kích Tết rõ ràng làm quên khuấy đi những trò tàn bạo
đầy dẫy mà họ vi phạm trong các khu vực họ chiếm đóng. Cán bộ
Nguyễn Văn Lém được cho là đã bắt được một sĩ quan QĐVNCH và gia
đình ông, rồi tự tay cắt cổ Trung tá Nguyễn Tuấn, vợ ông, 6 đứa con và
người mẹ 80 tuổi. Không lâu sau đó, vào ngày 1 tháng 2, Lém rơi vào
tay Biệt động QĐVNCH. Khi y bị điệu ra trước Cảnh sát trưởng Sài
Gòn, Chuẩn tướng Nguyễn Ngọc Loan lạnh lùng rút ra khẩu Smith &
Wesson và bắn vào đầu y.
Điều không thể lường trước được là bức ảnh mà Eddie Adams của AP
chụp cảnh Loan bắn tên tù binh thắng giải thưởng danh giá Pulitzer, đã
gây thiệt hại hủy diệt cho chính nghĩa Mỹ và Miền Nam, một hậu quả
chính người chụp cũng phải ân hận: ‘Tôi tuyệt đối không suy nghĩ gì
cả. Ông ấy bắn y, thì sao chứ? … Còn tôi lần này chỉ vô tình đang đứng
đó.’ Adams than thở là mình không thể chụp được bức ảnh ‘của tên VC
đó gây tan nát cho gia đình Tuấn’. Nhà sử học Ed Moise tin rằng toàn bộ
câu chuyện Lém giết sạch gia đình Tuấn là bịa đặt thời hậu chiến. Sự
thật không bao giờ được biết, nhưng Phó Tổng thống Kỳ viết một cách
chua chát: ‘Chỉ cái click của màng trập máy ảnh, cuộc tranh đấu cho độc
lập và tự quyết đã biến đổi thành hình ảnh vụ hành hình tàn nhẫn và
dường như vô nghĩa. ‘
MACV thúc giục giới truyền thông hãy xem xét vô vàn hành động tàn
bạo mà phía bên kia vi phạm, nhưng họ lại không thể đưa ra những hình
ảnh có thể so sánh được dù một chút. Cũng câu chuyện tương tự sau này
trong trận chiến, khi báo chí trình bày các bức ảnh của AP chụp một
TQLC Miền Nam bắn một tù bình. Một cố vấn Mỹ được trích dẫn đã
nói, ‘Chúng tôi thường giết các VC bị thương nặng vì hai lý do. Một là
bệnh viện quá đầy lính chúng ta và dân chúng thành ra không còn chỗ
cho kẻ thù. Thứ hai là khi bạn đã gặp những bé gái 5 tuổi với mắt bị bịt
khăn, tay bị trói ngoặt sau lưng, và lãnh đạn vào đầu, bạn khao khát
được trả thù. Tôi đã nhìn thấy hai bé gái chết như thế hôm qua. Nên
cách đây một giờ tôi đã bắn một tên VC.’
Tại MACV, Chuẩn tướng John Chaisson đối mặt với thử thách phải
trình bày với giới phóng viên – ‘đám ruồi bu đó’. Thông tin quân đội
chậm hàng giờ sau khi sự kiện xảy ra, thành ra vào buổi sáng ngày 1
tháng 2 nhân viên của Westmoreland thông báo rằng tại Huế một đại đội
VC chỉ mới tấn công một cây cầu và chuẩn bị phóng rốc kết thì bị đẩy
lùi. Chiều đó Quân đội Hoa Kỳ phát hành bản tin báo cáo chỉ có hai đạn
súng cối bắn vào kho quân nhu tại Phú Bài, chín dặm về phía
nam, trong khi vào thời gian đó phần lớn thành phố Huế đều rơi vào tay
cộng quân. Vơ vét tin tức tốt lành, các phát ngôn viên nhấn mạnh việc
nhiều binh sĩ Miền Nam tình nguyện trở về khi đang nghỉ phép, cùng với
sự kiện chỉ có ít dân chúng tập kết nghe theo lời kêu gọi của cộng sản.
Chính Chaisson bảo với các phóng viên rằng việc quét sạch Huế ‘chỉ là
vấn đề thời gian’, một tiến trình sẽ được hoàn tất ‘trong vòng một vài
ngày’. Trong thực tế, trận chiến giành giật thành phố kéo dài trong ba
tuần.
Tờ Christian Science Monitor ngày hôm đó xác nhận rằng Mỹ đứng
trước nguy cơ thảm bại về mặt quân sự. Tờ Wall Street Journal có bài
chính luận cho rằng có điều gì đó ‘sai lầm ghê gớm. Chính quyền Miền
Nam, với tất cả viện trợ khổng lồ của Mỹ, đã phơi bày sự bất lực không
thể bảo đảm an ninh cho tập thể lớn dân chúng ở thôn quê và thành phố.’
Một số sĩ quan cao cấp Miền Nam xử sự tốt, nhưng những người khác
suy sụp vì quá hoảng sợ. Westmoreland bảo với Ngũ Giác Đài rằng chỉ
huy Quân đoàn IV đã lánh nạn trong lâu đài của mình phía sau một hàng
chắn xe tăng, trong khi một sĩ quan cao cấp khác đã dùng đến biện pháp
mặc thường phục bên dưới lớp quân phục của mình. Trung tướng
Creighton Abrams phàn nàn với Tham mưu trưởng QĐVNCH rằng ở
Huế ba tiểu đoàn TQLC Việt Nam chỉ tiến lên được nửa khu phố mà mất
đến ba ngày: ‘Trong thời gian khẩn trương này … Nếu TQLC không thể
đáp ứng với tình hình … họ đã đánh mất quyền là một bộ phận lực
lượng vũ trang của ngài.’ David Brannigan của đài NBC cho rằng binh
lính Miền Nam cướp bóc nhiều hơn là chiến đấu. Fred Weyand sau này
nói, ‘Một số họ làm rất tốt – không kém chúng ta – còn một số thật tệ
hại … Trong quá nhiều trường hợp, khi họ cảm thấy có nguy cơ bị địch
tràn ngập, họ liền tan rã.’
Đến ngày thứ 5 của trận chiến tại Sài Gòn, ngày 4 tháng 2, chỉ huy vùng
của VC đề xuất rút quân toàn bộ, một lời kêu gọi lập tức bị bí thư Đảng
bác bỏ. Các cán bộ cao cấp sau này phê bình kịch liệt một số chỉ huy
mặt trận thiếu quyết tâm, mặc dù lời phê phán như thế chắc chắn là
nhằm tránh né trách nhiệm đã phát động một cuộc tổng công kich dựa
trên cơ sở của nhiều giả định sai lầm. Cũng ngày 4 tháng 2 đó, sau khi
chính thức làm lễ kỷ niệm lần thứ 38 ngày thành lập Đảng, Đằng dời
trạm chỉ huy. Ông và ban tham mưu đạp xe đạp đến một bến phà, rồi rút
về bên kia Sông Sài Gòn. Khi pháo Mỹ tăng cường và số thương vong
của họ lên cao, ngày 5 tháng 2 họ bỏ cuộc. Trung ương Cục Miền Nam
ra lệnh cho các đơn vị rút khỏi trung tâm thành phố để tiếp tục chiến đấu
ở vành đai ngoại ô, nhưng một tiểu đoàn trưởng thốt ra một câch tuyệt
vọng, ‘Ngoại ô là máy nghiền thịt: nếu chúng ta bám vào đó chúng ta sẽ
mất rất nhiều người.’ Dòng người sống sót lác đác khởi hành trên
chuyến đi dài chậm chạp thểu não về hướng nương náu Đồng Tháp
Mười.
John Chaisson viết thư về nhà vào ngày 6 tháng 2: ‘Tướng
Westmoreland chịu đựng rất đáng khâm phục, nhưng ông đang bị báo
chí đập tơi bời.’ Thủ lĩnh của MACV vẫn duy trì chú tâm vào vùng tây
bắc. Vào ngày 8 tháng 2 ông điện cho Ngũ Giác Đài: ‘Mặc dù tôi cảm
thấy chúng ta có thể giữ được Khe Sanh, nhưng có khả năng chúng ta sẽ
không quá may mắn. Nếu chúng ta để mất nó, điều thiết yếu là chúng ta
lấy lại nó và đó là lý do tại sao tôi đã đặt Sư đoàn Kỵ binh 1 vào khu
vực… Chỉ cần thận trọng dự trù tình huống xấu nhất.’ Đến tận ngày 10
ông còn nhắn tin cho Đô đốc Sharp rằng mình còn tin Miền Bắc ‘dự tính
biến Khe Sanh thành một Điện Biên Phủ thứ hai’.
Giới truyền thông nương theo dẫn dắt của vị tướng. Trong tháng 2 và
3 căn cứ trên Đường 9 chiếm 38 phần trăm trong tất cả tin tức của hãng
thông tấn AP về Việt Nam, và một phần năm trong tất cả ảnh chiến tranh
được đăng trên các tờ New York Times và Washington Post. Các đài TV
phát lặp đi lặp lại lại các phim về thương vong và tổn thất trong hàng
ngũ TQLC – phân nửa tiết mục về chiến tranh hàng đêm quay cảnh bao
vây – nhưng không thể cho thấy cảnh thiệt hại nặng nề hơn ở bên hàng
ngũ địch. Vào ngày 16 tháng 2 phóng viên CBS Murray Fromson xác
nhận một cách chán chường: ‘Ở đây quân Miền Bắc quyết định ai được
sống và ai phải chết … và sớm hay muộn họ sẽ tung ra động thái để
niêm phong số phận của Khe Sanh.’ Mặc dù có nhiều phi cơ cất cánh
hoặc đáp xuống an toàn, TV cứ châm bẩm quay xác ba chiếc C-123 và
một chiếc C-130 trên đường băng. Walter Cronkite của CBS, đến tthăm
Việt Nam, được cho là đã nói rằng ít ai nghi ngờ việc người cộng sản có
thể chiếm Khe Sanh nếu họ thực sự muốn chiếm.
Giữa làn sóng chỉ trích gay gắt này, các phân tích viên của CIA nâng cấp
đánh giá toàn bộ quân số của cộng sản tại Miền Nam từ 515,000 đến
580,000, mặc dù con số thực chắc chắn gần hơn 300,000. Nỗi sợ hãi của
MACV lan đến Nhà Trắng – làm sao giải thích khác được lời nhận xét
Johnson đưa ra với Earle Wheeler vào ngày 3 tháng 2 rằng cho dù ông
không muốn bỏ bom hạt nhân lên Khe Sanh, kẻ thù có thể buộc ông
phải quyết định làm vậy? Westmoreland trấn an tổng thống điều này là
không cần thiết – một trong số rất ít cuộc trao đổi trực tiếp qua điện
thoại giữa hai người xảy ra trong dịp Tết. Nhưng rồi chính vị tướng nói
rằng nếu Quân đội Miền Bắc giờ đây mở cuộc xâm lược đại quy mô vào
Miền Nam, Hoa Kỳ nên sẵn sàng sử dụng bất cứ điều gì cần thiết để
ngăn chặn, kể cả các vũ khí hoá học và hạt nhân.
Vào ngày 5 tháng 2 một phụ tá của William Fulbright nhận một cuộc gọi
nặc danh đề nghị vị Thượng nghị sĩ nên hỏi tại sao một trong chuyên gia
tiên phong về hạt nhân chiến thuật, Giáo sư Richard Garwin, gần đây đã
đến thăm Việt Nam. Lời cảnh báo này khơi dậy sự suy đoán căng thẳng
và báo động: vào ngày 8 tháng 2 Eugene McCarthy, giờ là người của
Đảng Dân chủ chống Johnson muốn làm ứng cử viên trong cuộc bầu cử
tổng thống 1968, xác nhận rằng quân đội đã yêu cầu quyền tiếp cận các
vũ khí hạt nhân. Nhà Trắng và Ngũ Giác Đài lập tức tố cáo các phát
biểu của McCarthy là suy đoán không đẹp, đúng là như vậy. Nhưng tại
một hội thảo tin tức Earle Wheeler cự tuyệt việc loại bỏ khả năng sử
dụng vũ khí hạt nhân nếu Khe Sanh có nguy cơ bị đánh chiếm; còn
Johnson thì xem xét việc xâm lăng Miền Bắc.
Sự dai dẳng của cuộc thảo luận sôi nổi như thế phản ảnh trong một câu
chuyện của New York Times ngày 17 tháng 2 về tổng thống nhan đề
‘Johnson Phủ nhận Việc Sử dụng Nguyên tử tại Việt Nam được Xem
Xét’. Việc thảo luận này làm các đồng minh của Mỹ khiếp đảm. Thủ
tướng Anh Harold Wilson nói trên chương trình Đối Diện Quốc Gia của
CBS rằng việc sử dụng vũ khí hạt nhân là ‘điên rồi … hoàn toàn điên
rồ’. Thật ra, không ai thực sự muốn tháo xiềng xích cho một ác mộng
như thế; phần đông các phát biểu trắng trợn của các tướng lĩnh phản ánh
ý muốn tung hoả mù cho Hà Nội, hơn là ý định thực sự. Vào ngày 12
tháng 2 Đô đốc Sharp ra sức ngăn cản biện pháp bằng cách ra lệnh cho
Westmoreland loại bỏ việc lên kế hoạch cho tình huống bất trắc hạt
nhân. Tuy nhiên, tổn thất đối với sự tin cậy quốc tế đã gây ra, không thể
cứu vãn được.
Phe cộng dàn 60,000 quân trên các chiến trường phía bắc. Sớm ngày 7
tháng 2 một tiểu đoàn của sư đoàn 304, được yểm trợ không hiệu quả
bởi xe bọc sắt phát động một cuộc công kích vào căn cứ lực lượng đặc
biệt tại Làng Vây, cách Khe Sanh 5 dặm về phía tây bên kia vùng núi.
Xe tăng PT-76 của quân Miền Bắc lần đầu tiên đưa vào trận địa nhanh
chóng bị bắn bốc cháy, nhưng bộ binh chọc thủng phòng tuyến. Quân
đội ra sức ép lệnh cho TQLC tại Khe Sanh phái một đạo quân đi cứu
viện, một đề xuất bị bác bỏ một cách khôn ngoan: quân Miền Bắc đã dàn
quân phục kích cho một hành động như thế. Tại Làng Vây phe tấn công
bắn trúng vào các boongke của phe phòng thủ bằng các rốc két B-40, đổ
xăng vào một boongke còn chống trả và châm lửa đốt, sau đó dựng cờ
của họ lên với giá 30 phần trăm thương vong. Các trực thăng di tản các
binh sĩ Mỹ còn sống sót trước khi bỏ rơi căn cứ.
Mặc dù cộng quân mặc sức gáy lên thắng lợi của mình, nhưng tổn thất
của họ trong khu vực đó thật là kinh khiếp. Bệnh hoạn gieo tai ương
trước khi các B-52 can thiệp: một phần năm binh sĩ mắc sốt rét rừng,
càng trầm trọng thêm khi mùa mưa đến. Trong một cuộc tấn công thất
bại một trung đoàn mất một phần tư quân số, rồi một trung đoàn khác
mất một phần năm quân số khi tấn công Đồi 382. Trung đoàn 9 của quân
Miền Bắc chịu đựng khổ nạn điển hình: vào chiều tối ngày 6 tháng 2, bộ
đội cắm quân dọc một con suối cách Đường 9 một dặm. Sáng hôm sau
khi đoàn quân tiếp tục hành quân, phi cơ thình lình xuất hiện trên đầu:
sáu B-52, buông xuống một lớp chăn hủy diệt. Phân nửa trung đoàn
bỗng thấy mình trực tiếp nằm bên dưới những cột bom vang rền chấn
động.
Khi binh sĩ chạy túa ra giữa các xác chết, ra sức cứu giúp các đồng đội
bị thương, một đợt sóng thứ hai rồi thứ ba lao tới oanh kích. Khi các B-
52 cuối cùng đã biến mất ở chân trời, các thi thể dập nát vương vãi khắp
nơi giữa đám cây cối bật gốc và dòng suối đỏ ngầu vì máu. Trung đoàn
đã tổn thất gần 300 thương vong, 15 phần trăm quân số, trước khi bắn ra
một viên đạn trên trận địa. Một đại đội trưởng suy sụp tinh thần. Lịch
sử sư đoàn nhìn nhận nhuệ khí binh sĩ xuống thấp.
Trở lại Đường Mòn Hồ Chí Minh gần 200 tấn quân nhu, vận chuyển về
nam biết bao gian khổ, cũng bị hủy diệt bởi không kích.
Sau các tuần đầu cuộc vây hãm Khe Sanh, những ngọn đồi xanh quanh
căn cứ đã bị bom cày nát thành bãi đất đỏ hoang tàn, phủ liệm trong bụi
và khói. Sau mỗi cuộc không kích bộ đội đào bới như điên để cứu những
người bị chôn sống. Một quả bom nổ cạnh một boongke chỉ huy, giết
chết 5 người mới đến, vừa từ trung học ra. Các lính bắn tỉa hai bên giao
đấu tay đôi không dứt, nhưng hầu hết các nỗ lực của bộ đội dành cho
việc đào hố hầm càng ngày càng tiến sát hơn phòng tuyến Mỹ. Tính
khẩn trương của việc đào bới là do họ biết rằng chỉ khi tiến sát binh sĩ
Mỹ họ mới có thể tránh khỏi không kích. Vào tháng 3, một số đại đội
Miền Bắc chỉ còn vỏn vẹn 30 người.
Binh sĩ Mỹ trấn giữ các vị trí ở đó không bao giờ quên được trải nghiệm.
Hạ sĩ Orville Fulkerson nhận xét một cách lạ lùng là các thi thể lính Mỹ
và bộ đội nằm lẫn lộn trên Đồi 881 ‘giật nẩy lên như thạch’ khi chúng bị
trúng đạn hết lần này đến lần khác bởi các hỏa lực nhẹ của cả đôi bên.
Jeff Anthony, trong số người phòng thủ Đồi 861, không hề tin rằng quân
Miền Bắc có thể chiếm được Khe Sanh, bởi vì họ bị ngăn chặn mỗi lần
đột kích vào các vị trí mà đại đội anh trấn giữ.
Hết lần này đến lần khác trong bóng đêm TQLC nhìn ra những bóng đen
trong tầm 60 yards, rồi 40 yards, rồi 30 yards – gần hơn bất cứ các trải
nghiệm từ trước của phần đông lính Mỹ ở Việt Nam. Nhưng nhờ pháo
sáng trên trời, các chiến sĩ phòng thủ tàn sát bộ đội Miền Bắc, xài hết
băng đạn này đến băng đạn khác, hết thắt lưng đạn này đến thắt lưng đạn
khác, ‘nhưng chúng tôi cũng chịu nhiều thương vong do đạn súng cối
địch.’ Sau một trận đụng độ vào sáng ngày 25 tháng 2, quân Bắc dở
chiêu trò chiến tranh tâm lý cũ đã sử dụng ở Điện Biên Phủ, mời người
Mỹ di tản người chết dưới lá cờ trắng. TQLC phớt lờ đề xuất này và
địch mất dịp có được một hình ảnh tuyên truyền vô giá.
Các chỉ huy cộng sản bố trí một đoàn văn công đến biểu diễn để giải trí
cho bộ đội giúp họ khuây khỏa sau thời gian kiệt sức và khiếp đảm. Một
kịch tác gia tên Chu Nghị viết một tác phẩm có tựa đề Tại Hàng Rào
Kẽm Gai Vành Đai Tà Côn, được trình diễn rất hợp. Tác dụng nâng cao
nhuệ khí phần nào giảm xuống khi chính tác giả bị giết chết trong cuộc
không kích, và làm bị thương một nam và một nữ kịch sĩ. Báo cáo Hà
Nội công bố các số thống kê bất thường về thương vong Mỹ, bao gồm
được cho là đếm được 3,055 xác lính Mỹ trong khi thực sự chỉ là 500, và
tuyên bố tiêu diệt 279 phi cơ Mỹ. Một tiểu đội báo cáo giết được 40 lính
địch cho mỗi người của tiểu đội hy sinh: ‘bọn Mỹ cao, to, chậm chạp
chết hàng loạt’. Khe Sanh được mô tả là ‘một thắng lợi huy hoàng ‘. Tuy
nhiên, không bộ đội cộng sản nào bản thân tin vào điều vô lý như thế.
Lịch sử Sư đoàn 304 nhìn nhận rằng các đơn vị của mình chịu đựng ‘sự
tiêu hao đáng kể trong trận thư hùng ác liệt này’, gây ra những vấn đề …
trong suy nghĩ và ý thức hệ của các cán bộ và quân nhân của sư đoàn’.
Số đào ngũ và tự gây ra thương tích cho.mình tăng vọt. Phải sử dụng
hành động kỷ luật đối với 399 người, bao gồm 186 đảng viên và 85 cán
bộ, vì các lỗi vi phạm trong đó có ‘thiếu tinh thần tiến công ‘.
Quân Miền Bắc xác nhận 45 phần trăm tổng số tổn thất là do không
kích, một tỷ lệ tương tự do pháo kích, không đến 10 phần trăm là do vũ
khí cá nhân. Vào thời điểm các trận đánh Tết kết thúc , phe cộng sản ở
khu vực phía bắc đối diện với một danh sách bệnh lên tới 12,000 và
nhìn nhận có 6,000 người chết và 15,000 người khác bị thương trong
chiến đấu. Cuộc vây hãm Khe Sanh lụi tàn qua suốt mùa xuân. Nhận
thức một cách khách quan, đó là một thảm bại chủ yếu của Quân đội
Miền Bắc, mất ít nhất 10 người so với một người Mỹ mà họ giết.
Nhưng Westmoreland và giới báo chí cùng giật được một thảm bại tâm
lý: MACV được xem là đã trở thành nạn nhân của một đòn đánh lừa
cộng sản – theo một mức độ nào đó, quả đúng là như vậy.
Tại Huế, vào đêm 4-5 tháng 2 phe công kích đã chịu đựng trên một ngàn
người chết và bốn ngàn bị thương, và đối mặt với tình trạng thiếu hụt
quân nhu và lương thực. Vậy mà khi các chỉ huy bộ đội xin phép được
rút quân liền bị khước từ. Họ được thông báo rằng đồ tiếp tế sẽ được thả
dù sớm và họ nên chuẩn bị dùng hỏa pháo đánh đấu; rằng vào ngày 18
tháng 2, một đợt công kích mới toàn quốc sẽ được phát động; rằng lực
lượng tiếp viện đang đến gần. Một cán bộ sau này bày tỏ nỗi chua chát
của y về tất cả trò lừa dối này, hành động phản bội lòng tin cậy bằng
những lời tuyên truyền tráo trở các hy vọng hão huyền. Ít có người cộng
sản cao cấp nào dám công khai nhìn nhận các tin tức xấu. Theo lời Đại
tá Nguyễn An của Quân đội Miền Bắc, ‘Mọi người đều không dám nói
vì sợ bị kết tội hèn nhát hoặc thiếu lập trường ý thức hệ.’
Phó Tổng thống Kỳ được cho biết người Mỹ ngại dội bom vào các đền
đài và cung điện Huế, nơi hiện giờ bọn cộng sản đang tập trung. Ông trả
lời với giọng điệu thẳng thừng quen thuộc: ‘Những công trình này do
con người xây dựng. Chúng có thể được xây dựng lại bởi tay con người.
Cứ dội bom!’ Pháo binh và phi cơ đánh xuống kinh thành bất cứ khi nào
thời tiết xấu dai dẳng cho phép. Nhưng việc tái chiếm thành phố vẫn tiến
hành với mức độ chậm chạp đến nhức nhối, chỉ giành được một vài trăm
thước gạch vụn mỗi ngày.
TQLC đâm ra khinh thị các đồng minh Miền Nam. Một lính Mỹ trèo
lên một xe tăng QĐVNCH tính sử dụng súng máy trên tháp pháo xe
tăng. Anh đập mạnh vào nắp xe tăng để xin đạn nhưng vô ích: chiến sĩ
xe tăng đã trốn trong xe tăng và khóa kín nắp.
Từ một hố cá nhân phía bắc Huế, Trung uý Andy Westin viết cho vợ
mình Mimi: ‘Em yêu, lần đầu tiên kể từ khi anh đến đây, đêm qua, anh
đã khóc. Anh không phải là người duy nhất. Từ sĩ quan chỉ huy trở
xuống, các chàng trai của tụi anh đã khóc … Toàn bộ tiểu đoàn của tụi
anh bị kẹt trong một bẫy sập của địch … Đúng là một trận tàn sát! Tất cả
sĩ quan cao cấp nghĩ rằng bọn cộng sản đã rút đi, vì thế bọn anh nhảy
nhót giữa chốn hoang vu này … Anh chưa hề thấy điều gì như thế và
anh hy vọng không làm lại chuyện ấy nữa.’ Khi tổn thất tăng lên, người
Mỹ đâm ra càng bất cẩn với hiểm họa gây ra cho dân chúng trên đường
pháo, bom, đạn. Ý thức nhức nhối về viễn cảnh ảm đạm của mình, họ
đâm ra tàn nhẫn trong việc khinh bỉ tài sản: tình trạng phá hủy bừa bãi
nhiều vô kể. Phải mất bốn ngày chiến đấu gan lì, bắn phá kẻ địch bằng
hỏa lực từ xe tăng, súng phun lửa và pháo không giật, mới chiếm được
một dải đất dài một dặm ở phía nam thành phố giữa phức hợp và kênh
Phú Cần. Trong khi đó bên kia sông, nỗ lực của QĐVNCH nhằm tái
chiếm kinh thành vẫn còn chậm như rùa.
Vào ngày 11 tháng 2, tiểu đoàn TQLC của Myron Harrington được điều
lên Đường 1 đến Huế: ‘Không ai biết việc gì xảy ra.’ Anh được hướng
dẫn qua loa về chiến thuật tác chiến trong đường phố, ‘về chuyện này tôi
mù tịt’. Vào ngày 13, Đại đội Alpha của tiểu đoàn tổn thất nặng nề khi
nỗ lực tiến vào kinh thành. Ngày hôm sau, đại đội Alpha hoang mang
tiến về phía thượng lưu sông bằng xuồng đổ bộ và thuyền mành, mặc
tình hứng hỏa lực địch. Tối đó Harrington được lệnh bất chợt, ‘Luôn
tiện, ngày mai anh phải chiếm lấy cổng Đông Ba,’ khiến ‘lòng tôi đâm
ra biết kính sợ Chúa’.
Anh trải qua một đêm không ngủ, một phần vì lo lắng và một phần vì
tiếng gầm thét không ngừng của pháo. Buổi sáng ngày 15 tháng 2 chứng
kiến anh dẫn đầu một trăm người trườn về hướng tây lên một con
mương bên trong tường thành nội, may mắn gặp được một đống đổ nát
làm chỗ che chắn: ‘Thình lình không khí bỗng yên ắng, như các bãi biển
Thái Bình Dương ở Nhật Bản hình như yên bình đó trong Thế chiến II.’
Rồi địch bắt đầu khai hỏa, nhanh chóng làm bị thương người chạy việc
của Harrington. ‘Hoả lực ác liệt đến nỗi tôi không biết mình đang suy
nghĩ gì nữa. Một trung đội trưởng nằm trên một ban công, bị thương do
một súng phóng lựu, máy truyền tin của anh bị rơi xuống. Tôi phái một
số người chạy đến chỗ anh, tất cả đều bị bắn trúng thương.’ Harrington
bảo với Trung sĩ Maury Whitmar dẫn một tiểu đội tiến đến tường thành.
‘Anh ta nhìn tôi như không tin vào tai mình – rồi làm theo.’
TQLC bắt đầu tiến về mục tiêu của họ là móng của kỳ đài, ở giữa đoạn
đường xuống bờ phía tây. Một xe tăng rùng rùng tiến lên, do một trung
uý trẻ tên Morris chỉ huy, bắt đầu khai hỏa yểm trợ: ‘Anh ta thật tuyệt
vời.’ Một TQLC da đen chạy đến bên Harrington và nói đùa, ‘tôi vừa
được huy chương Purple Heart thứ ba!’ Vị đại uý viết, ‘Đó chỉ là một
vết xước nhỏ trên ngực anh, và thế là tôi bảo anh làm người chạy việc
cho tôi, và anh tiếp đạn dược cho các binh sĩ đang giao tranh tại tường
thành. Tôi còn không nhớ tên nhiều binh sĩ của tôi, sống hay chết. Tôi
chỉ phải ra lệnh cho họ đi về hướng thần chết. Mùi tử khí thật kinh
khủng, nồng nặc khắp mọi nơi. Khi bạn dùng khẩu phần của mình,
chẳng khác đang ăn cái chết.’
Có một thời khắc lạ lùng ngay giữa trận tàn sát: một trung uý trẻ tên Joe
Allen chạy dưới làn mưa đạn đến bên Harrington, báo cáo mình là người
thay thế, và liến thoắng, ‘Đại uý, em đã gặp vợ và con gái cách đây một
tuần.’ Giữa tiếng súng nổ và đạn rít, Harrington viết, ‘Nó khiến tôi phải
nín thở khi buộc phải suy nghĩ chuyện khác ngoài việc đánh nhau, và đó
là một ý nghĩa tồi.’ Chiều tàn trước khi có thêm nhiều người tiến lên
được tường thành cao của thành nội, dẫn đầu là Hạ sĩ Bob Thoms, một
chiến binh kinh khủng với bộ quân phục tả tơi. Lúc 16:30 khu vực đã
được chiếm lĩnh với cái giá 6 tử trận và 40 bị thương trong số 100 lẻ
TQLC mà đại uý đã dẫn vào trận vào đầu ngày. Lúc 04:00 sáng hôm
sau, ngày 16, bộ đội Miền Bắc phản công. Lại thêm nhiều cuộc trao đổi
hỏa lực mới trước khi kỳ đài một lần nữa được chiếm giữ: 24 lính địch
được tìm thấy trong đống đổ nát.
Harrington còn lại 39 người, ngay lập tức được giao nhiệm vụ quét sạch
từng nhà, một công việc cân não, khổ đau và chậm chạp. ‘Địch đã có 2
tuần chuẩn bị các vị trí. Chúng tôi tiến đến một địa điểm nơi chúng tôi
gần như bị vô hiệu hóa, khi chúng tôi bất cần sống hay chết. Tâm trí
chúng tôi hoàn toàn bị xoá sạch. Không ai trân trọng những gì đang xảy
ra. Các bộ chỉ huy trên cao cứ hỏi: “Tại sao các anh mất quá nhiều thì
giờ chỉ để hạ vài tên bộ đội?” Sĩ quan chỉ huy của họ, Thiếu tá Bob
Thompson, khiến Creighton Abrams nổi cơn thịnh nộ vì đơn vị của anh
tiến lên quá chậm, liền bị cách chức trước khi các sĩ quan cao cấp TQLC
được lệnh hủy bỏ lệnh trước.
Harrington cảm thấy choáng váng khi nghe tin mình được thưởng huy
chương Thập tự Hải quân: ‘Tôi thấy mình không xứng đáng.’ Binh sĩ tôi
xứng đáng hơn.
Lức 06:30 ngày 22 tháng 2, những bộ đội Miền Bắc còn lại bị kẹt trong
kinh thành bắt đầu liều chết xông ra. Một số binh lính Miền Nam hoảng
sợ tháo chạy, phớt lờ lời đe dọa bắn bỏ của trung uý họ. Đội Hắc Báo
cuối cùng hạ cờ MTDTGP và kéo cờ của Miền Nam lên kỳ đài Hoàng
Cung vào lúc 05:00 ngày 23. Ngay lúc đó, một người gần như trần
truồng từ dưới hồ trang trí chường mặt ra – y là binh sĩ Miền Nam đã ẩn
nấp ở đó suốt 20 ngày, ban đêm bỏ ra ngoài săn lùng lương thực.
QĐVNCH mất 458 chết tại Huế, và hơn 1,000 bị thương: một số đã thể
hiện ý chí chiến đấu đáng nể phục. Quân đội Hoa Kỳ mất 75 chết và 507
bị thương, Quân đoàn TQLC 142 chết và 857 bị thương. Ước tính có
6,000 dân thường bị thiệt mạng, một tỷ lệ không nhỏ do hỏa lực phe ta.
Phe cộng tổn thất đâu đó từ 2,500 đến 5 000 – họ không bao giờ tiết lộ
con số đáng tin – nhưng trong những ngày cuối tháng 2 lực lượng còn
lại rút lui về phía tây không bị quấy nhiễu, một thước đo về sự rối loạn
trong hàng ngũ Hoa Kỳ và QĐVNCH. Trận đánh Huế là nhỏ so với tiêu
chuẩn Thế chiến 1939-45, nhưng là một trận đánh đơn lẻ đẫm máu nhất
của Chiến tranh Đông Dương Lần II.
Vào ngày 26 tháng 2 một ngôi mộ tập thể đầu tiên trong số vài ngôi mộ
được phát hiện tại Huế: trong thời gian cai trị ngắn ngủi
của MTDTGP, các cán bộ của mặt trận đã tàn sát có hệ thống mọi viên
chức chính quyền và người hậu thuẫn, trí thức, tiểu tư sản và ‘kẻ thù của
nhân dân ‘ mà họ có thể nhận diện được, cùng với gia đình của những
nạn nhân ấy. Mặc dù trên một mức độ nhỏ hơn, những vụ tàn sát như thế
cũng xảy ra ở nơi khác. Một người cộng sản tìm cách biện minh cho
những hành động tàn bạo của quân đội mình: ‘Nhân dân thù oán những
tên ác ôn này đến mức họ đối xử với chúng như đối xử với bọn rắn độc –
phải tiêu diệt để ngăn trừ chúng hãm hại nhân dân tiếp tục.’ Trong số
các nạn nhân có Nguyễn Tất Thống 53 tuổi, giám đốc cơ quan vụ xã hội
của chính quyền. Ông đã về quê ăn Tết với gia quyến – cùng với 6 thân
nhân, bao gồm hai anh em sinh viên, cũng bị sát hại. Cũng bị sát hại là
một phụ nữ góa chồng Nguyễn Thị Lào 48 tuổi, làm nghề bán thuốc lá
dạo, cũng như các giáo sĩ Thiên Chúa, các giáo sư đại học người Đức,
dân thường Hoa Kỳ. Hàng trăm người bị thủ tiêu mà tội lỗi duy nhất là
có mặt trên danh sách những người được cho là có cảm tình với chính
quyền. Khoảng 2,810 thi thể cuối cùng được tìm thấy, và tổng số nạn
nhân thực sự gần như chắc chắn là cao hơn. Đại uý Denis Campbell, một
cố vấn Úc, viết: ‘Ta có thể hiểu được lòng căm thù khiến người cộng
sản siết cổ các binh lính Sài Gòn bằng kẽm gai và trang trí các tường
thành bằng các thi thể, nhưng chôn sống toàn bộ các gia đình kể cả trẻ
em không dựa trên nguyên cớ nào mạnh hơn là không chịu cầm vũ khí
đúng là điều quá mức tưởng tượng. Tôi đã từng luôn ngưỡng mộ một
cách đố kỵ VC . . . nhưng giờ chuyện đó đã không còn.’
Vụ tàn sát đã nhạo báng thái độ hợm hĩnh của những người cộng sản
thường huênh hoang cho rằng mình đại diện cho các lực lượng vượt trội
về mặt đạo đức hơn hẳn chế độ Sài Gòn. Tuy nhiên, giới truyền thông
chậm báo cáo câu chuyện bi thương đó, một phần bởi vì chỉ đến ngày 9
tháng 3 MACV mới loan báo việc phát hiện ra các ngôi mộ tập thể, lúc
đó thì độ tin cậy của câu chuyện đã rách tả tơi.
Westmoreland chỉ trích các TQLC ở chốn riêng tư, ông cho rằng họ đã
gây ra tình trạng rối loạn trong các trận đánh ở Huế. Đúng là họ đã làm
thế, nhưng lỗi là do các sĩ quan cao cấp, cứ lặp đi lặp lại đưa ra những
lệnh bất khả thi về phương diện chiến thuật cho binh sĩ của mình, kể cả
các chỉ huy trong MACV cũng không kém gì. Hàng tuần liền toàn bộ
ban chỉ huy Hoa Kỳ đánh giá sai lầm tình hình, cung ứng các tài nguyên
thiếu thốn một cách đau xót.
Trong những ngày cuối cùng của tháng 2 và đầu tháng 3, những ổ kháng
cự còn lại của VC lần lượt bị quét sạch khỏi các thành phố Miền
Nam. Giờ có đến 636 thông tín viên chính thức có mặt trong đất nước
thống khổ, đối với họ chiến sự Tết đã khoản đãi họ một bữa tiệc tin tức
thịnh soạn. Một số phóng viên viết các bản tin nhanh và được phát
thanh với một giọng điệu gần như là điên cuồng. Số khác phơi bày sự
dũng cảm tuyệt vời, và sản sinh những tản văn sống động nhất của cuộc
chiến. Giọng điệu nói chung bày tỏ sự kính sợ đối với kỳ tích của người
cộng sản, và thể hiện it đối với những gì binh sĩ nhận thấy như là thực tế
trung tâm – rằng kẻ thù đã bại trận. Tường thuật về giới truyền thông
của William Hammond trong quân sử chính thức của Hoa Kỳ là một
hình mẫu của tính vô tư, nhưng ông viết: ‘Họ quá dễ dàng nuông chìu
theo áp lực của nghề nghiệp. Cạnh tranh với nhau từng mẩu tin, dưới sự
đòi hỏi của công luận phải là tin giật gân, họ hy sinh chiều sâu và sự
phân tích để đổi lấy màu sắc, họ bịa ra những tin không hề tồn tại.’
Nhưng Hammond cũng nhận xét trong một đoạn văn tàn phá gần như
phủ định sự khe khắt của ông ở phần trên: ‘Không thể phủ nhận … là
các phóng sự của báo chí thường còn chính xác hơn những công bố của
chính quyền.’ Ắt hẳn ông nghĩa đến các bài tin nhanh về Tết của Gene
Roberts của New York Times. Phóng viên này, chỉ mới đến trận địa Huế
gần đây, nhưng đã đánh giá tình hình của lực lượng Mỹ tại Huế tốt hơn
bất kì chỉ huy cao cấp nào trong vùng chiến trường phía bắc. Đây quả là
sự xoa dịu đầy ấn tượng cho sự khiếm khuyết của giới truyền thông, và
lời kết án Quân đội Hoa Kỳ và giới lãnh đạo TQLC.
2 Sự Đầu Hàng của một Tổng Thống
Sau Tết, tinh thần binh sĩ Miền Bắc và VC sa sút, nhìn nhận một thảm
bại quân sự khiến họ tổn thất khoảng 20,000 sinh mạng. Lịch sử chính
thức của Hà Nội thừa nhận rằng ‘cục diện chiến trường tạm thời xoay về
có lợi cho địch … Vị thế và sức mạnh của chúng ta bị suy yếu nghiêm
trọng.’ Theo đánh giá riêng của người cộng sản, hứng chịu hỏa lực Mỹ
đã gây thiệt hại cho một số đơn vị du kích đến 60-70 phần trăm quân
số. Chỉ huy VC tỉnh Long An viết: ‘Không có lúc nào trong toàn bộ sự
nghiệp quân sự của tôi mà tôi cảm thấy hoang mang và bất lực như trong
thời kỳ này… Tôi còn không thể lý giải các sự kiện ra làm sao.’ Sự thật,
lịch sử chứng tỏ rằng sự nổi dậy của quần chúng gần như đều thất bại –
hãy xem xét sự kiện Warsaw 1944, Budapest 1956, Prague 1968 – trừ
khi có sự sụp đổ ý chí của chế độ cai trị và lực lượng của nó. Một đại tá
Miền Bắc nói, ‘Chúng tôi biết rằng một cuộc tổng nổi dậy là không thể.’
Một số người Miền Nam có thể nghe theo chính nghĩa của phe nổi dậy
nếu phe đó trông có vẻ tất thắng, nhưng trường hợp này thì không. Ông
mô tả sự xâm nhập ban đầu vào sứ quán Mỹ và vài trung tâm đô thị như
là ‘một thắng lợi vang dội.’ Lỗi lầm, ông thừa nhận, là sau đó ta tìm
cách giữ chúng: ‘Tốt nhất là rút lui để củng cố sự chiếm đóng vững chắc
ở nông thôn.’ Một số sĩ quan Mỹ toàn tâm đồng ý rằng đương đầu trực
diện với lực lượng lớn của địch thích hợp với MACV hơn là đánh với du
kích quân nhiều. Một tư lệnh sư đoàn nói vài tháng sau đó: ‘Điều duy
nhất cứu vớt chúng ta là Trung ương Cục Miền Nam là một nhóm sĩ
quan quân phiệt muốn đánh thắng chúng ta trong trận đánh quy mô lớn.’
Những người cộng sản sống sót chán chường trở về căn cứ nơi họ bỏ lại
phía sau những tài sản cá nhân, để đi tìm kiếm điều không được thừa
nhận và cái không hề thuộc về mình. Họ biết rằng cuộc công kích đã
được lên kế hoạch một cách đáng chê trách. Lãnh đạo VC Trần Độ
nói, ‘Tết rõ ràng thay đổi toàn bộ bản chất của cuộc chiến … Đó là một
cuộc tấn công “ăn cả ngã về không”. Chúng ta đặt ra những mục tiêu
không thích hợp, xa tầm tay … Cụm từ “tiêu diệt chúng” nghe quá tuyệt
vời. Chúng tôi bước vào một thời kỳ cực kì khó khăn trong những năm
1969, 1970, 1971. Khi được hỏi chúng tôi kiểm soát bao nhiêu phần
trăm dân số, chúng tôi đáp “hầu hết”, nhưng sự thật chúng tôi gần như
mất tất cả.’ Độ ôm ấp sự chua xót lâu dài đối với Trung ương Cục Miền
Nam và Hà Nội về việc họ lợi dụng ý chí hy sinh của những người hậu
thuẫn họ hết lòng.
Đại tá An Miền Bắc viết: ‘Nhiều người chúng tôi đâm ra ngã lòng …
Họ tin rằng giờ kẻ thù đang vượt xa họ.’ Tổn thất của VC tăng lên hơn
nữa, tới khoảng 50,000 người chết, trong các trận ‘Tết mini’ thứ 2 và thứ
3 đều gặp thảm bại ngoạn mục vào tháng 5 và 8 1968. Lực lượng
MTDTGP giờ sút giảm chỉ còn là các nhóm du kích địa phương như
trước đây; từ đây về sau gánh nặng chiến tranh phần lớn đặt trên vai
Quân đội Miền Bắc.
Tổng cộng, người Mỹ mất khoảng 4,000 người chết trong trận chiến Tết,
quân đội Sài Gòn gần 6,000, nhưng hậu quả – một sự sụt giảm ấn tượng
trong tình hình giao tranh ở nông thôn – gây phấn khởi lạc quan cho
binh sĩ. Fred Weyand nói: ‘Chúng ta đạt được nhiều tiến bộ. Dân chúng
có thể lái xe ban đêm. Các vụ ám sát hiếm xảy ra.’
Creighton Abrams chế giễu kẻ địch: ‘Hãy nhìn vào Khe Sanh. Lão Giáp
tội nghiệp – và tôi thực sự tin vào điều này – lão Giáp tội nghiệp. Tôi
thực sự cảm thấy tiếc cho ông ấy. Ông ta cứ giữ lấy vật đó, cứ giữ lấy
vật đó, và nhai hết các sư đoàn đó để không còn thứ chó chết nào ở lại.
Nhưng, nếu ông ta là một tư lệnh chiến thuật xuất sắc như báo chí Mỹ
nói – và nhà chiến lược – nếu ông ta điều một hoặc hai sư đoàn đó
xuống bờ biển, tôi không biết làm thế nào để đánh đuổi họ ra khỏi đó
đây!’
Robert McNamara, trong những ngày cuối cùng tại Ngũ Giác Đài, cho
rằng một bài học thấy rõ là binh sĩ Miền Nam từ bây giờ nên chiến đấu
dưới sự chỉ huy trực tiếp của Hoa Kỳ. Westmoreland đủ nhạy cảm để
phủ quyết đề xuất này, lưu ý rằng điều đó sẽ là quà tặng cho cộng sản
tuyên truyền. Vị tướng bảo với Washington ông giờ nhận ra những cơ
hội lớn: ông được chủ tịch Tham mưu trưởng Liên quân Earle Wheeler
khuyến khích hối thúc tăng thêm quân ào ạt. Vào ngày 10 tháng 3 tờ
New York Times phát giác một yêu cầu quân sự tăng thêm 206,000
người, cần đến việc gọi nhập ngũ lực lượng dự trữ. Sự việc này về sau
được mô tả như là sự kiện rò rỉ gây thiệt hại nhất trong nhiệm kỳ tổng
thống Johnson, mà sự dè bỉu và thậm chí chế nhạo đều đổ xuống đầu
Westmoreland. Cùng tháng đó ông được thông báo rằng ông sẽ được
thay thế bởi Creighton Abrams, và ba tháng sau được kéo về nước và
được thăng chức trở thành tham mưu trưởng quân đội. Tiếng tăm ông lu
mờ một phần phản ảnh các thất bại trong tiến hành chiến tranh, nhưng
quan trọng hơn là do ông đã đánh mất lòng tin cậy
Tết giáng một sự tàn phá khủng khiếp, tiêu hủy 48 ngàn ngôi nhà và tạo
thêm gần nửa triệu dân tị nạn mới. Câu trích dẫn được một nhà báo gám
cho một sĩ quan Mỹ không nêu tên trong những ngày đó – ‘Có khi cần
phải hủy diệt thị trấn để cứu nó’ – giờ được tin là đã được bịa ra; nhưng
cụm từ dường như phản ảnh chính xác sự nghịch lý ghê tởm về cuộc
chiến của người Mỹ ‘nhằm gìn giữ tự do cho nhân dân Miền Nam’.
Weyand tự hào nói với Abrams về ‘công cuộc phòng thủ thành công’
thủ đô, nhưng khi Abrams bay đi từ bộ chỉ huy của Weyand ông nhìn
thấy ‘khói đang cuồn cuộn bốc lên ở Sài Gòn, lửa bắn lên trên không
trung. Tôi đã ước tính chúng ta có thể phòng thủ thành công Sài Gòn
thêm 7 lần nữa, và rồi chúng ta sẽ đối mặt với tình trạng khốn khổ là
không còn lại thành phố nào hết.’
Trận đánh khiến nhiều người trước đây hậu thuẫn tích cực đâm ra chán
ngấy. Tờ Wall Street Journal tuyên bố: ‘Nhân dân Mỹ nên sẵn sàng nhìn
nhận, nếu họ vẫn chưa sẵn sàng, triển vọng rằng toàn bộ nỗ lực ở Việt
Nam có thể thảm bại.’ Nhà bình luận NBC nói: ‘Chúng ta phải quyết
định liệu tàn phá Việt Nam để cứu nó có thể được biện minh hay
không.’ Nhiều người Mỹ trên chiến trường cũng khiếp đảm trước cảnh
giết chóc như các khán giả truyền hình trong nước.
Jerry Dodson của CORDS viết cho Frank Scotton vào ngày 20 tháng 2:
‘Trận bóng đã kết thúc và chúng ta có thể ném khăn vào. Cách đây một
vài ngày tôi đã ở Kontum và Ban Mê Thuộc. Kontum bị tàn phá 20 phần
trăm còn BMT 55 phần trăm sau khi không kích và pháo kích được gọi
tới để quét bọn VC ra. Sự hủy diệt thật rộng khắp trong Quân đoàn I và
vùng đồng bằng Cửu Long. Đối với những người yêu quý Việt Nam, rút
quân là giải pháp duy nhất. ‘Scotton nói: ‘Với cái giá trả lớn lao, Miền
Bắc đã chứng minh là mình sẽ không bao giờ bỏ cuộc.’ Ở Thượng viện
uỷ ban Fulbright thiếu điều muốn cho rằng Quốc Hội và nhân dân Mỹ đã
bị lừa vào một cuộc chiến dưới các chứng cứ giả đối qua Nghị quyết
Vịnh Bắc bộ, mà đúng là thế thật. Gần như động thái đầu tiên của Clark
Clifford khi lên thay thế McNamara ở chức vị Bộ trưởng Quốc phòng là
ban hành một sắc lệnh cho giới quân sự: sẽ không có dự báo thắng lợi
đến gần nào nữa.
Một sự can thiệp tệ hại đến từ Walter Cronkite của CBS, một cựu binh
Thế chiến II được dân chúng Mỹ yêu quý. Vào tháng 2 ông đến thăm
Huế, rồi bảo với Fred Weyand: ‘Tôi đã trông thấy hàng ngàn thi thể đó.
Và tôi đã quyết định rằng… Tôi sẽ làm mọi điều có thể để mang cuộc
chiến này sớm đến hồi kết thúc.’ Vị tướng nói: ‘Việc này đặc biệt gây
rắc rối… vì sự kính trọng không thể tin được mà dân chúng Mỹ dành
cho Walter.’ Weyand bất bình vì Cronkite nói như thể người Mỹ và
người Miền Nam chịu trách nhiệm cho các vụ tàn sát Huế: ‘Tôi có hiểu
tại sao người ta có thể nói, “Vâng, cuộc chiến này quá khủng khiếp, phải
chấm dứt nó thôi.” Nhưng làm sao bạn có thể quay ngược 180 độ và xử
sự như là người Miền Bắc nên được phép thắng, như vậy là quá sức chịu
đựng của tôi.’
Weyand thắng một điểm, nhưng vào ngày 27 tháng 2 Cronkite bảo với
hàng triệu khán giả: ‘Nói chúng ta gần hơn với chiến thắng hôm nay là
tin tưởng vào bề mặt của chứng cứ … những kẻ lạc quan vốn đã sai
lầm … Nói chúng ta sa lầy bế tắc dường như là một kết luận hiện thực
nhưng không thỏa mãn … Đối với người phóng viên này càng ngày
càng rõ ràng là lối thoát hợp lý duy nhất là thương thảo – không như
một nạn nhân, mà như một dân tộc trọng danh dự đã sống theo lời cam
kết thắng lợi và dân chủ và đã làm hết sức có thể.’
Lời lẽ của Cronkite thể hiện sự khôn ngoan, và không thành viên nào
trong số khán giả đông đảo của ông bị choáng váng vì những lời lẽ ấy
hơn Lyndon Johnson. Không rõ tổng thống có thốt ra những lời sau này
được gán cho ông sau khi nghe Cronkite: ‘Nếu tôi mất Walter, tôi đã
đánh mất thành phần trung lưu của nước Mỹ,’ nhưng lời này phản ánh
chính xác tấm vải liệm u ám đang buông xuống Nhà Trắng.
Ngay sau Tết, người Mỹ tập kết chung quanh quốc kỳ. Một cuộc thăm
dò ý kiến của Louis Harris cho thấy số người ủng hộ đánh bom giảm, từ
26 phần trăm trong tháng 10 xuống còn 15 phần trăm trong tháng 2.
Khoảng 74 phần trăm người trả lời bày tỏ tiếp tục tin tưởng. Chỉ 3 phần
trăm tin rằng Mỹ sẽ thua ở Việt Nam, trong khi 39 phần trăm tin là bế
tắc và 43 phần trăm cho rằng nước Mỹ còn có thể thắng. Nhưng bên
dưới lớp sơn bóng loáng của sự vững vàng, thậm chí những con người ái
quốc cũng mệt mỏi trước cuộc phiêu lưu vô ơn ở nước ngoài. Tại
Washington, càng ngày càng có nhiều nhân vật có quyền quyết định chín
chắn hơn nhận ra sự khập khiễng ở Đông Dương giữa một bên là phe
cộng sản – sẵn sàng đặt cược mọi thứ kể cả con số vô hạn các sinh mạng
của nhân dân mình – và bên kia là Hoa Kỳ, mà mối quan tâm quốc gia
thực sự dường như héo quắt từng ngày. Vào ngày 1 tháng 3 bộ binh
Gary Young nhận được lá thư từ cha mẹ mình phản ảnh tình cảm rộng
khắp trong nước: ‘Con trai thân yêu, Không có lý gì bảo ba má đừng lo
lắng; con biết đấy ba má chỉ là con người và ba biết những gì đang xảy
ra ở đó … Cathy đang vô cùng phấn khích về buổi khiêu vũ Cotton
Blossom tại trường trung học vào đêm mai … Dân chúng trong nước
chán ngấy tình hình cù cưa chúng ta đang đối mặt tại Việt Nam. Nó
dường như là một sự hoang phí vô nghĩa mạng sống. Thôi ba không
khơi lại đề tài này nữa kẻo ba sẽ không thể dừng được. Hãy tự chăm sóc
mình, nếu điều đó có thể, cả nhà gửi đến con tình thương và hy vọng
rằng tất cả chàng trai của chúng ta sẽ sớm trở về nhà, Thương con, Ba
Má và các cô gái.’
Vào ngày 5 tháng 3, Myron Harrington và những TQLC 1/5th sống sót
đã từng chiến đấu ở Huế được phái vào lực lượng dự phòng, tại một căn
cứ có thiết bị vòi hoa sen. Đến lượt đại uý, nó bỗng hư. Thay thế anh
khoan khoái ném mình xuống Biển Đông gần đó, trước khi nhận lệnh
tiếp tục vào trận. Joe Allen, chàng trung uý trẻ đã gia nhập Đại đội Delta
giữa trận đánh Huế, và đã chứng tỏ là một sĩ quan cừ khôi – đang hẹn hò
với em vợ của Harrington là Perrin. Sau này Harrington buồn rầu kể:
‘Đáng lẽ tôi nên yêu cầu chú ấy chuyển khỏi đại đội tôi.’ Một đêm tháng
5, anh phái trung đội của Allen ra ngoài phục kích. Một lực lượng cộng
sản đụng phải đại đội Mỹ kế bên, lùi lại, và đâm sầm vào vị trí của
Allen. Trung đội của Allen bị tràn ngập và chàng trung úy tử trận.
Harrington nói, ‘Quan hệ giữa tôi với em vợ không bao giờ như cũ nữa.’
Chính anh cũng suy sụp trong một trạng thái xúc động dữ dội, đầm đìa
nước mắt, đến nỗi gần như không thể cầm quyền chỉ huy được. Khi anh
rời Việt Nam vài tháng sau đó, ‘Tôi cảm thấy nhẹ nhõm, trách nhiệm
nặng nề thình lình cất khỏi người tôi, nhưng đồng thời cũng thấy mình
có tội.’
Rõ là nhân dân Mỹ và Quốc Hội không ai ủng hộ việc gia tăng quân số
khổng lồ mà phe quân sự yêu cầu. Người bạn cũ của tổng thống và là
người hậu thuẫn chiến tranh trước đây Clark Clifford chỉ ngồi vào chiếc
bàn giấy cũ kỹ của McNamara tại Ngũ Giác Đài một ít tuần rồi từ chức
để gia nhập hàng ngũ những người hoài nghi. Vào ngày 25 tháng 3
‘những Lão Già Khôn Ngoan’, trong đó có George Ball, Henry Cabot
Lodge, cùng với Generals Ridgway, Taylor và Bradley, tụ họp theo yêu
cầu của tổng thống để nghe chỉ thị mới nhất, sau đó cho ý kiến. Dean
Acheson dẫn đầu nhóm trong thông báo việc thay đổi lập trường của
nhóm: hầu hết không còn tin có thể thắng cuộc chiến. Chỉ có Abe Fortas,
Max Taylor và Omar Bradley tán thành tiếp tục chiến đấu.
Vào tối ngày 31 tháng 3 Lyndon Johnson nói chuyện trên đài truyền
hình quốc gia, bắt đầu: ‘Chào buổi tối đồng bào Mỹ của tôi. Tối nay tôi
muốn nói với các bạn về hòa bình tại Việt Nam … Không có vấn đề nào
khác làm bận tâm đến nhân dân ta đến thế.’ Ông thông báo việc ngừng
dội bom đơn phương phía trên vĩ tuyến 20, và cam kết mở ra đàm phán.
Trước đó khi người soạn diễn văn Harry McPherson nhìn thấy tổng
thống sửa lại bản nháp, ông hỏi một đồng nghiệp Nhà Trắng, ‘Bộ ông ta
sắp sửa nói sayonara rồi sao?’ Vâng, ông ta làm vậy. Johnson kết thúc
bài diễn văn truyền hình: ‘ … Tôi sẽ không dự tính, và sẽ không chấp
nhận, việc đề cử tôi cho một nhiệm kỳ khác làm tổng thống của các
bạn.’
Nhiều khán giả đâm ra ngờ vực về thủ lĩnh hành pháp của mình. Họ lắng
nghe trong câm lặng choáng váng, rồi một số tin rằng đó chỉ là một trò
lừa, cú né tránh, hư chiêu, màn trình diễn. Không phải thế. Đêm đó,
Johnson nhìn nhận nhiệm kỳ tổng thống của mình đã sụp đổ, một nhiệm