The words you are searching are inside this book. To get more targeted content, please make full-text search by clicking here.

VIỆT NAM THIÊN SỬ BI HÙNG 1945-1975
Max Hastings
Trần Quang Nghĩa dịch

Discover the best professional documents and content resources in AnyFlip Document Base.
Search
Published by fireant26, 2022-11-04 00:35:46

VIỆT NAM THIÊN SỬ BI HÙNG 1945-1975 Max Hastings Trần Quang Nghĩa dịch

VIỆT NAM THIÊN SỬ BI HÙNG 1945-1975
Max Hastings
Trần Quang Nghĩa dịch

Quốc bắt đầu đổ về với số lượng lớn và chở vào nam, trong khi 7,850 bộ
đội làm cuộc hành trình hùng tráng đến ‘Chiến trường B’, tên Hà Nội
đặt cho Miền Nam. Cuộc họp uỷ ban trung ương Đảng kết thúc với cam
kết nhất trí cho một chiến dịch quân sự mới, chủ động, tiến công. Lê
Duẩn và các đồng chí nghĩ rằng chế độ Sài Gòn mới nhanh chóng nổ
tung và do đó người Mỹ không chắc sẽ gửi bộ binh đến hậu thuẫn cho
một lý tưởng đã mất. Lo lắng khoảng trống quyền lực ở Miền Nam sẽ
sớm được lắp đầy, họ quyết định leo thang khẩn cấp, và thế là ra đời
Nghị quyết 9, được soạn vào tháng 12 1963 và gồm hai văn bản mà một
được ban hành vào 20 tháng 1 1964, văn bản kia là tối mật: ‘Nỗ lực
Chiến đấu, Tiến Nhanh đến Thắng Lợi Mới ở Miền Nam’. Trong khi đó
trong nước, phe cuồng tín phát động một cuộc thanh trừng mới ‘bọn
khuynh hữu’, một số là các người hùng của kỷ nguyên Việt Minh: hàng
ngàn các viên chức, nhà báo và trí thức được gửi đi cải tạo.
Nghị quyết 9 biểu thị một quyết tâm lịch sử phát động một cuộc đấu
tranh vũ trang đến kết cục đắng cay. Trong khi Moscow và Bắc Kinh
băn khoăn về hậu quả có thể xảy ra của cuộc chiến, và trong vài tháng
viện trợ của Xô viết gần như bằng 0 và người Nga không có đại sứ ở Hà
Nội, cả hai trở nên miễn cưỡng tin tưởng rằng họ phải thể hiện sự hậu
thuẫn chính nghĩa của cách mạng và giải phóng với viện trợ vũ khí hào
phóng hơn.
Hà Nội cổ vũ những người hậu thuẫn mình: ‘Thời cơ đã đến cho Miền
Bắc để gia tăng trợ giúp Miền Nam … Kẻ thù … đang sử dụng lực
lượng vũ trang của họ để giết và cướp bóc nhân dân … Cách duy nhất
để đập tan họ là bằng cuộc đấu tranh vũ trang, mà sau đây sẽ trở nên có
tính quyết định.’
Mặc dù đồng bằng Cửu Long chứng kiến sự gia tăng tức thời nhất trong
hoạt động du kích, trọng tâm của cuộc chiến dời về Cao nguyên Trung
phần và vùng tây-bắc Sài Gòn. Mục tiêu mới đầy tham vọng của cộng
sản là giao tranh, đập tan và phá vỡ quân đội Miền Nam.
Một số sử gia cho rằng trong năm 1962-63 nhiều cơ hội quan trọng để
thương lượng hoà bình đã bỏ lỡ. Điều này có thể đúng, tới chừng mực
mà người Miền Bắc, và chính Lê Duẩn, trong một thời kỳ cân nhắc việc
đàm phán cho Mỹ rút đi, theo sau là sự trung lập hóa. Tuy nhiên, hoàn
toàn không chắc Tổng thống Diệm chấp nhận đàm phán liên quan đến

việc chia sẻ quyền lực với MTDTGP. Hơn nữa, nếu một cuộc mặc cả đã
quyết, điều này chỉ cho ta một thời tạm ngưng ngắn ngủi nhất trước khi
Việt Nam trở thành một nhà nước cộng sản thống nhất: Hà Nội và Trung
ương Cục Miền Nam, không ai từ bỏ nỗ lực để đổi lấy bất cứ điều gì
kém hơn. Nhìn lại cho ta thấy một kết quả như thế, một cuộc đầu hàng
như thế dẫu sao cũng tốt hơn là chịu đựng thêm một thập niên biển máu
núi xương sông lệ cho cả ba bên đã xảy ra sau đó. Phần đông người
Miền Nam, và nhất là giới lãnh đạo Phật giáo, ắt đã chọn hoà bình với
bất cứ điều khoản nào; chính các người Mỹ bảo trợ đã bác bỏ một kết
quả như thế, lập luận rằng đày đọa Miền Nam phải chia sẻ số phận ảm
đạm về kinh tế, xã hội và chính trị với anh em Miền Bắc của họ sẽ là
một sự phản bội lịch sử. Người cộng sản và Hoa Kỳ phải chia sẻ trách
nhiệm cho những nỗi kinh hoàng đã rơi xuống Việt Nam sau cái chết
của John F. Kennedy, bởi vì cả hai đều muốn không ngừng tung ra bạo
lực bừa bãi, thay vì nhượng bộ ý chí của đối thủ mình. Sĩ quan pháo
binh dã chiến Mỹ Doug Johnson nói: ‘Điểm ngoặt chủ yếu đầu tiên
trong cuộc chiến là vụ ám sát Diệm. Từ ngày đó, chúng ta đã đánh mất
cơ sở đạo lý. Mọi người đều hiếu rằng chúng ta là đồng lõa. Ai còn tin
cậy chúng ta? Phục vụ ở Việt Nam, tôi nghĩ; “Tôi sẽ làm tốt nhất có
thể, và tôi chúc những người dân này tốt đẹp, mà không còn được hy
vọng nhiều cuộc chiến này rồi sẽ kết thúc tốt đẹp.’

Đếm xác

Thể hiện lòng trắc ẩn, người Mỹ vẫn không ngăn cản được người Việt
đổ tội cho họ gây ra thảm cảnh đất nước mình

Hình anh em làm què quặt chính nghĩa Mỹ tại Việt Nam: một nhà sư tự
thiêu trên đường phố Sài Gòn

Diệm bị bắt và bị sát hại

CHƯƠNG 8: MÊ LỘ

1 ‘Có Đủ Chiến Tranh cho Mọi Người ‘
Một vị tướng vỗ về Trung úy Don Snider nóng lòng đến Việt Nam, nói,
‘Con trai, sẽ có đủ chiến tranh cho mọi người.’ Snider, sinh năm 1940,
ra đời từ một gia đình chăn nuôi gia súc ở Ohio. Anh đã yêu West Point,
‘bởi vì nó đại diện cho các giá trị tôi đã được nuôi dưỡng’, và vào năm
1964 thấy mình huấn luyện và cố vấn các lực lượng đặc biệt Việt Nam.
Tất cả người Mỹ phục vụ trong những ngày đó đi do mình chọn, tìm
thấy phấn khích cũng như thất vọng. Snider thực hiện những chiến dịch
nhảy dù xuống vùng ba biên giới Việt, Lào và Cao Miên: ‘Khi tôi nhảy
ra khỏi máy bay vào ban đêm tôi không thể nói cho các bạn biết chúng
tôi đang lơ lửng trên xứ nào.’ Họ đáp xuống cánh rừng ba vòm, rồi buộc
dây hạ xuống tiếp đất. Anh yêu quý một số đồng đội Mỹ, nhất là một hạ
sĩ quan ghê gớm là trung sĩ Zahky. ‘Thật là một cơ hội đặc biệt, đi chiến
đấu với những người như thế!’ anh nói một cách thỏa mãn.
Sau những ngày đêm thăm dò lãnh địa kẻ địch, phần khó khăn là hẹn
với trực thăng nhổ cỏ.
Snider không hề kết thân được với binh sĩ dưới quyền, vốn hầu hết là
người Nùng – thuộc sắc tộc Trung Quốc: ‘Trong ba đợt tôi thực sự
không hề hiểu được họ, không tìm ra ai có thể tin cậy. Họ là lính đánh
thuê. Họ nói, “Nếu ông trả tiền, tôi sẽ chiến đấu. “‘ Tuy nhiên, cuối
cùng số tiền trả không đủ.’ Snider hoàn tất bảy sứ mạng trinh sát sâu vào
vùng địch trước khi chuyển về vùng đồng bằng để huấn luyện và cầm
đầu lực lượng phòng vệ địa phương trên biên giới Cao Miên. Họ đụng
độ một số trận phục kích tệ hại trong khi đi tìm kiếm Trung uý Nick
Rowe, thuộc Lực lượng Đặc biệt, gốc Texas bị Việt Cộng bắt giữ năm
năm rồi. Snider có lần phải vác một thông dịch viên bị thương trên lưng
chạy ra khỏi trận địa, với đạn bắn lỗ chỗ trên máy truyền tin của họ:
‘Binh lính Việt đi với tôi không có ý chí chiến đấu. Tôi nghĩ: nếu đây là
cách chúng ta chiến đấu, trận chiến này sẽ không thể có thành quả.’ Vào
cuối nhiệm kỳ công tác, ‘tôi không muốn tiếp tục công tác với lực lượng
đặc biệt hoặc với người Việt. Tôi không vỡ mộng vì cuộc chiến – trải
nghiệm vừa dạy tôi rằng những gì tôi đã làm thật là vô ích.’

Snider đến mức tin rằng các cố vấn duy nhất có thể thành tựu những
điều có giá trị là những người, không giống như mình, vun đắp mối quan
hệ với dân địa phương. Frank Scotton, sau khi đến Miền Nam, ngồi xe
jeep với một tài xế trung sĩ có thói quen vẫy tay và mỉm cười thả ga với
mỗi người dân mà họ đi qua. Scotton hỏi tại sao có vẻ khoa trương thế?
Trung sĩ trả lời, ‘Nếu em bị bắt, em muốn người Việt nhớ em là người
Mỹ lù khù, to xác, thân thiện.’
Xạ thủ tại cửa trực thăng Erik Dietrich quý mến đồng đội Việt Nam của
mình, trong đó anh mang nhiều người bị thương ra khỏi trận địa: ‘Họ
chết lặng lẽ, đôi khi tôi thấy họ muốn nói một lời tạ lỗi vì những điều bất
tiện và phiền toái mà họ gây ra.’ Tuy vậy Dietrich cũng nhìn nhận mình
bối rối khi một người lính dù nhỏ con mà anh làm bạn cố nắm lấy tay
anh. ‘Lá thư cuối cùng của anh lang thang khắp xứ một thời gian trước
khi tìm được tôi: “Một tháng nhớ anh. Em không sao quên được những
ngày chúng ta làm việc bên nhau. Em chúc anh gặp may mắn trong
nhiệm vụ. Và khi chúng ta gặp nhau lại, em sẽ kể cho anh nghe nhiều
chuyện hay. “‘
Dietrich suy nghĩ buồn bã sau đó: ‘Chuyện hay đã hứa không bao giờ
được kể. Nguyễn Chánh Sự, Võ Văn Có, Nguyễn Hữu Bông. Các em ra
sao rồi? Phạm Gia Cầu, chiến binh quả cảm từng tham chiến tại Điện
Biên Phủ đi về nam sau khi chia cắt, mà năng lực của anh tôi không hề
do dự giao phó sinh mạng của mình, tôi lúc nào cũng cầu nguyện cho

anh …’

Vậy mà một số người Mỹ bị xô đẩy đến cảnh tuyệt vọng. Vào ngày 1
tháng 3 1964 sĩ quan ngoại vụ Doug Ramsey viết thư về nhà cho cha mẹ
mình: ‘Cơ cấu chính quyền này đã mục nát đến xương tuỷ, và từ đầu đến
chân. Mình kéo một đòn bẩy thì thấy không có dây cáp nối với nó; và
nếu mình xoay sở nắm được đầu dây cáp, thì mới thấy đầu dây bên kia
cũng không có gì hết … Trừ khi chúng ta muốn xúc tiến một thay đổi
cách mạng thực sự, con sợ con phải đồng ý với những người cho rằng
chúng ta không có việc gì phải làm ở đó. Nếu chúng ta không thể ban
cho nhân dân Việt Nam bất cứ thứ gì tốt hơn một cuộc chiến kéo đài…
Nếu chúng ta chỉ nâng đỡ một chế độ phong kiến chắc chắn bị hủy
diệt. … chúng ta không thể mong đợi một sự hậu thuẫn thực sự. ‘

Những con người có suy nghĩ như Doug Ramsey lần lượt bực tức trước
thất bại của chính sách Mỹ và ghê tởm trước các hành động dã man của
người cộng sản – thói tàn bạo của họ xảy ra hàng ngày: ‘bắn vào sân
trường có ba binh sĩ Miền Nam giữa 50 em học sinh, hoặc giết hàng
chục dân thường trong các tiệm ăn trên đường phố để giết hai người Mỹ;
nã súng cối vào thị trấn vô tội vạ để khủng bố; ám sát các giáo viên
không vũ trang và sát hại các tù binh đã bị tước vũ khí; giết bạn gái các
viên chức chính quyền, cũng như chính các viên chức đó’. Ramsey kêu
gọi chương trình bình định nông thôn phải hoạt động qua các nhóm cố
vấn địa phương nhỏ, không ngại bắt chước mô hình các chi bộ cộng sản.
Ông và Frank Scotton có lần đến một ấp không báo trước, và bước vào
sân một Trưởng Ấp và tìm thấy một nhóm nhỏ những người mặc pijama
đen, rõ ràng là người của MTDTGP, đang bàn bạc bên trong. Họ trừng
mắt nhìn hai người mới đến, nhưng không dám có hành động thù địch vì
cả hai người Mỹ có vũ trang. Trưởng Ấp trấn an hai bên rằng nếu người
nào lo việc nấy, thì không có gì lộn xộn xảy ra. Nhóm VC cuối cùng
nhận ra tính khôi hài của tình hình và chịu cho chụp ảnh. Dù sao khi
người Mỹ lái xe đi, họ thở phào vì không có gì xảy ra. Và tỉnh táo chứng
kiến sự tự do mà kẻ địch thương lượng công việc ngay giữa ban ngày,
chỉ cách Saigon một giờ lái xe về phía tây nam.
Với tất cả khó khăn và thất vọng Ramsey, như Scotton, vẫn yêu quý
cuộc sống.
Frank Snepp của CIA đến Miền Nam sau đó, nhưng được đúc cùng một
khuôn. Anh là con trai của một cựu đại tá Thủy quân Lục chiến và sau
đó là thẩm phán, mối quan hệ giữa cha con không mấy tốt đẹp. Mối gắn
kết thân ái nhất trong thời thơ ấu của anh ở North Carolina là với bà vú
da đen. Về các khẳng định tốt nhất của anh để được nhận vào CIA sau
khi tốt nghiệp Trường Quan Hệ Quốc Tế của Columbia, anh viết, là
‘huyết thống Aryan, trí lực cỡ câu lạc bộ đồng quê, và một khả năng vô
biên về che giấu ý định’. Hai tuần tham gia chuyến công tác đầu tiên với
Snepp như một nhân viên tình báo, chiếc Pilatus Porter chở anh bay trên
đồng bằng Cửu Long bị nhiều loạt đạn bắn trúng cánh từ súng nhỏ của
cộng quân phía dưới, và chàng trai 26 tuổi hớn hở, thì thầm với chính
mình, ‘Tôi thích quá! Ôi trời, tôi thích quá!’ Anh nói sau đó: ‘Đúng là
tuyệt vời. Tôi yêu nước Việt và người Việt. . . Tôi tin rằng nếu CIA khai

thác được tình báo đúng và đưa nó đến đúng người, chúng ta có thể thực
sự tạo ra sự khác biệt cho điều tốt đẹp hơn.’
Harry Williams bắt đầu làm việc với vai trò chuyên viên nghe lén vô
tuyến vào tháng 4 1964, và nhận lấy nhiệm vụ một cách hăng hái: ‘Đây
là một cuộc chiến tốt đẹp, một cuộc chiến tuyệt vời. Chúng ta là những
chàng cao bồi. Tôi yêu thích công việc, và cảm thấy Big Minh đóng góp
thực sự. Tôi tin chắc vào sự đúng đắn của chính nghĩa chúng ta, và
chúng ta sẽ thắng.’ Anh rời người vợ đang mang bầu Peggy ở lại Mỹ, và
thuê một căn hộ ở Sài Gòn. Bởi vì anh có thể nói tiếng Việt, các hàng
xóm gọi anh là ‘ông Tây’. Anh đi nhiều trong xứ tán gẫu với dân địa
phương trong một thời gian trước khi đi lang thang trở nên nguy hiểm
cho an ninh mình. Một hôm tại một ngôi làng gần Đà Nẵng, một ông
lão thắc mắc hỏi anh, ‘Tại sao họ giết Kennedy?’ William nhận ra rằng
nhiều người Việt có quan niệm là tổng thống Mỹ đang tìm cách giúp đỡ
họ, và hồ nghi là cái chết của ông có dính líu đến việc này. Anh quả
quyết là tư thế chính trị mặc định của phần đồng dân địa phương là lãnh
đạm với cả hai phe, mà chỉ muốn sống an lành.
Người Mỹ nhạy cảm nào ở lại càng lâu thì họ càng kêu ca về đổi thay
xảy ra ở Sài Gòn. Những cây tiêu huyền cao trên đường Tự Do bị chặt
đốn, và xe cộ tăng gấp đôi. Già Howard Simpson nói, ‘Thủ đô thuộc địa
ngái ngủ đã trở thành một nơi đô hội thời chiến bẩn thỉu, chen chúc.’ Cố
vấn Đại tá Sid Berry viết: ‘Sài Gòn đã biến đổi ghê gớm … Nó đã trở
nên đông đúc, thiếu thẩm mỹ, hào nhoáng, sính thương mại, tham
lam, bẩn thỉu, chát chúa. Nhiều người Mỹ. Quá nhiều người Mỹ. Những
người khiến giá cả tăng vọt, lôi cuốn sự rẻ tiền và tính lòe loẹt và sự vô
vị.’
Nhịp độ cuộc chiến tăng cao. William thường ăn tối tại Brasserie, một
nhà hàng nhỏ đằng sau rạp chiếu bóng Rex do một phụ nữ lai Pháp tên
Helene điều hành. Một đêm tháng 8 khi ông bước vào, bà đến chào ông
và nghiêm nghị nói, ‘Ngài nên ăn chỗ khác.’
Và thật đúng, một giờ sau nhà hàng bị đánh bom. Mùa hè đó Williams
được điều vào một đội giám sát hoạt động xâm nhập của Miền Bắc trên
Đường Mòn Hồ Chí Minh. Họ thiết lập một căn cứ tại Khe Sanh, sát mút
phía tây của Khu Phi Quân Sự, cách biên giới Lào không tới 3 dặm, nơi
Đội A thuộc Lực lượng Đặc biệt đã ẩn mình. Nhân sự chủ chốt là các kỹ

thuật viên của Tổ hợp Nghiên cứu Đại học Syracuse, một bộ phận do
Tình báo Phòng Hải quân thành lập. Công nghệ của họ có tên là
POSSUM: Portable Signal Unscramble Monitoring System (Hệ thống
Cầm tay Giám sát Phục hồi Tín hiệu).
Kế hoạch là lắp đặt những thiết bị cảm biến trên Đồi 1701 gần đó.
Một số ít lính Việt xoay sở yêu thích cuộc chiến, trong đó có Nguyễn
Văn Út, người đã có 6,000 giờ bay trực thăng. ‘Tôi thích bay,’ anh
nói, ‘và lấy làm mãn nguyện khi được toại ý mà không gặp lsự cố gì.’
Tuy nhiên, phần đông đồng đội anh có một quan điểm u ám hơn. Một
buổi sáng tháng 8 1964, Trung uý Phan Nhật Nam thuộc Sư đoàn Dù thứ
7 của Sài Gòn tiến gần lối vào một boongke tại một ngôi làng hoang
vắng. ‘Có ai dưới đó không?’ một binh sĩ của anh quát lên, rồi quay
sang Nam. ‘Trung uý, để em ném một quả lựu đạn vào.’ Nam, 21 tuổi
và đang trải nghiệm cuộc hành quân đầu tiên của mình, bảo anh lính nên
bắn một phát từ cây Thompson của mình.
Việc này khiến một ông lão chầm chậm bước ra, vừa khóc nức nở vừa
mang một bà lão bị thương nặng ở đầu. Ông đặt bà xuống đất rồi váy lạy
tứ phương. Nam bị choáng váng trước cảnh tượng, cùng với xác hai VC
còn thiếu niên nằm trong cái mương gần đó, những xác chết đầu tiên của
kẻ địch anh gặp. Đây là một cộng đồng Công giáo, và trong nhà thờ của
họ anh tìm thấy thêm 5 thi thể nữa – của hai vợ chồng ghì chặt ba đứa
con vào ngực họ, tất cả đều chết do một vụ nổ, cũng như thi thể một bé
gái anh bắt gặp gần đó, chiếc áo cánh màu tím phấp phới trong gió. Nam
viết: ‘Tôi thấy sững sờ và nghẹt thở, trong nỗi uất hận và sầu khổ vô

biên.’

Ngày hôm sau, khi tiểu đoàn anh càn quét một ngôi làng gần như bỏ
hoang giữa những phát đạn hạn hữu của kẻ địch, anh bắt gặp một thiếu
nữ trẻ ngồi câm lặng trên nền nhà bằng gạch trong ngôi nhà bị hư hại,
tay ôm một giỏ mây: ‘mắt cô nhìn thẳng ra trước, ngơ ngác, trống rỗng’.
Cô đứng dậy khi binh lính bước vào và Hiếu, người lính truyền tin, vượt
qua cô đi vào gian bếp bị tàn phá, để tìm thức ăn. Nam hỏi cô gái tại sao
còn lẩn quẩn giữa trận địa. Khi anh vẫy súng lục về phía cô, ‘cô vẫn
câm lặng, đôi mắt sững sờ phát ra một lóe khiếp sợ. Thình lình, như
đang biểu diễn một động tác thể dục, cô chìa giỏ mây về phía tôi. Trong
đó là hai bộ quần áo, áo cánh và quần, một khăn choàng đầu và một hộp

giấy nhỏ buộc chặt bằng dây thun. Khi mở hộp , tôi nhìn thấy hai dây
chuyền vàng và một cặp bông tai. Hiếu lẩm bẩm sau lưng tôi: “Con nhỏ
này điên rồi. Nó sợ quá nên phát khùng.” Rồi anh ta bắt gặp dây chuyền
vàng lấp lánh. “Vàng! Phải hơn hai lượng! Lấy đi , trung úy.” Anh ta ra
hiệu cho cô gái lùi ra. Cô quay đi và bắt đầu bước ra cửa như một xác
không hồn.’
Nam mô tả anh đã gọi cô trở lại và trả lại giỏ ra sao. Bàn tay cô run rẩy
dữ dội vì sợ hãi đến nỗi không cầm lấy được, và rồi cô bắt đầu mở nút
chiếc áo cánh, trong tiếng khóc nức nở. Chàng thanh niên vô cùng bối
rối – cô ta có lẽ đã lý giải anh không thèm tài sản quý giá của cô ắt hẳn
anh ta muốn thân xác mình:
‘Cô ta đã trải qua cuộc sống như thế nào mà trong nỗi khiếp sợ lại phải
cởi chiếc áo cánh và dâng hiến thân xác mình cho một anh lính đáng tuổi
em mình, trong khi nước mắt đầm đìa trên má?’ Nam thuyết phục cô gái
đi theo trung đội của mình đến con sông gần đó, chen chúc các con
thuyền tam bản chở đầy dân tị nạn ra khỏi trận địa. Dân chúng gọi nhau
để nghe ngóng tin tức của nhà cửa và người thân mình. Rồi từ đám đông
một tiếng gọi cất lên, ‘Lài! Con đó hả, Lài!’ Đó là một bà lão đã nhận ra
người kích động đi theo sau Trung uý Nam. Cô gái dừng lại ‘như thể cố
gắng nhớ lại quá khứ ‘. Rồi cô khóc òa. ‘Mẹ! Mẹ! Nhà mình đã cháy rồi!
Nhà mình mất rồi.’ Nam mô tả cô gái đi về phía bờ sông ‘như một người
đi trong cơn mê sảng’.
Câu chuyện này xứng đáng được lưu ý trên một vài khía cạnh. Thứ nhất,
mặc dù một số đơn vị Miền Nam chịu đựng tai tiếng ghê gớm là cướp
bóc và hiếp dâm, thì cũng có những người như Nam, tràn đầy tình cảm
với quê hương và người dân nghèo khổ. Nhiều người Mỹ tin rằng
‘Người châu Á không cảm nhận về cái chết theo cách chúng ta’. Sid
Berry xúc động trước tính ngoan cường của những binh lính chiến đấu
bên cạnh mình: ‘Người thương binh Việt không kêu la hoặc rên rỉ hoặc
than thở. Họ lặng lẽ chịu đựng một cách nhẫn nhục. Tôi chưa hề thấy
điều gì như thế. Lòng bạn tan nát khi trông thấy họ – và nhìn họ lặng lẽ
ra đi.’
Một phóng viên Anh đi dọc theo một con đê gần Cần Thơ cùng với một
hàng lính, một người trong hàng huyên thiên về gia đình mình ở Nha
Trang, và mời vị khách đến chơi nhà mình tại đó. Anh lính Việt chỉ một

cách thèm thuồng vào đôi giày da của người ngoại quốc: ‘Giày anh, số
một.’ Chủ đôi giày nói anh có thể nhận được nó sau cuộc hành quân: ‘Ồ,
không. Anh rất lớn. Tôi nhỏ.’ Ngay giữa cơn mưa như trút, một quả đạn
cối đơn độc nổ tung giữa họ, ném người phóng viên Anh xuống đất.
Trước nét mặt sửng sốt của anh, không có quả pháo nào dội tiếp. ‘Tay
tôi run và tim đập thùm thụp, và tôi nghe một âm thanh người kỳ lạ sát
bên tôi; nửa nức nở, nửa thở hổn hển. Một chiếc mũ sắt nằm trên mặt đất
như một con ốc biển bị bỏ rơi và gần đó là anh bạn quê Nha Trang mới
của tôi. Anh một tay ôm lấy bụng, một tay chống mặt đất … Mắt anh
trợn ngược, và nước mưa đổ tràn trề xuống mặt anh, và tôi thình lình
ngửi thấy một mùi kinh khủng. Tôi mở áo ướt sũng của anh, và thấy bên
dưới xương ức của anh không có gì trừ một mớ nhầy nhụa tối đen, lấp
lánh – quần áo bị xé nát ướt đẫm nước mưa, máu, mật và mọi thứ xổ ra
từ bụng dưới bị miểng đạn xé rách toang. Mắt anh nhấp nháy mở ra và
anh cau mày nói, ‘Giết tôi đi,’ anh nói yếu ớt. Và chẳng bao lâu sau đó,
anh chết.
Các quận trưởng cắt xén khẩu phần gạo của binh sĩ dưới quyền. Cảnh sát
trưởng làm giàu nhờ bán giấy phép hoạt động thương mại – điều hành
khách sạn, đánh cá, khai thác gỗ. ‘Trong văn hoá gia đình mở rộng bạn
sẽ chắc chắn bị coi là có tội nếu không biết lợi dụng cơ hội trợ giúp gia
đình mình,’ Edward Brady nói, người đã trải nhiều năm làm cố vấn. Một
vị tướng sẽ long trọng xác nhận ông không hề bán chức, và thật ra ông
không làm thế – thay vào đó bà vợ hay nhân tình ông sẽ làm phi vụ đó
thay ông: ‘(Các sĩ quan) tự tách mình ra khỏi thực tế đó. Người Việt
tuyệt vời như thế. Họ có khả năng trí óc này là tự tách ra và tuyên bố
mình vô tội. Nguyễn Cao Ky chua chát viết, ‘Phần đông các sĩ quan cao
cấp Việt chỉ bận tâm đến việc làm vui lòng cố vấn Mỹ của họ.’
Giờ sang phe bên kia. Do rạn nứt với Nga, Mao Trạch Đông bỗng thay
đổi giọng điệu, nhìn thấy ưu điểm trong việc tăng cường cuộc chiến của
Miền Bắc. Ông đẩy mạnh đợt viện trợ mới cho Lê Duẩn, và đề nghị hội
nghị các người cộng sản Á châu không có Liên Xô. Các thành viên bộ
chính trị bắt đầu phân biệt danh xưng với Trung Quốc là ‘đồng chí’, với
Nga chỉ là ‘bạn’. Căng thẳng ý thức hệ quá chua chát đến nỗi cán bộ
Miền Bắc đang làm việc hoặc học tập tại Nga – nhiều người trong số đó
là người của Giáp – xin ở lại tị nạn. Người nước ngoài nhận xét rằng

các tác phẩm Nga bị loại ra khỏi các hiệu sách ngoại văn ở Hà Nội. Lê
Duẩn dù vậy quay lưng với mưu mô hội nghị của Mao: ông không muốn
nhanh chóng chia tay đột ngột với Gấu Nga, vốn có thể cung cấp những
vũ khí tinh vi hơn Rồng Tàu. Ông và Lê Đức Thọ cầm đầu một phái
đoàn tới Moscow để trấn an người Nga rằng họ sẽ không phá vỡ chính
sách toàn cầu về sống chung hoà bình của Xô viết.
Tại một hội nghị vào tháng 3 1964 ở Hà Nội, Hồ Chí Minh đưa ra lời
yêu cầu cá nhân đáng lưu ý cho tiến trình ôn hòa, nhấn mạnh quyết định
của giới lãnh đạo không gửi các quân đoàn chính quy của Quân đội
Nhân dân vào nam. Dù vậy một số lượng ngày càng tăng các cán bộ, cố
vấn và chuyên viên khởi hành xuống Đường Mòn, chịu đựng bao gian
khổ do sự ngăn chặn của Mỹ thì ít mà do địa hình, thiếu thốn lương thực
và tiếp tế thuốc men, thời tiết và sốt rét thì nhiều. Việt Cộng nhận được
mỗi ngày từ Miền Bắc 15 tấn quân nhu bằng đường bộ và đường
biển, để phục vụ một lực lượng ước tính đến 170,000 quân, kể cả
30,000 bộ đội chính quy được triển khai. Nhóm cuồng tín Miền Bắc và
người Miền Nam tại Trung ương Cục Miền Nam vẫn còn cảm thấy cay
đắng trước nhận thức hèn nhát của phe cánh Hồ, trong khi Việt Cộng
đang hy sinh chiến đấu.
Việc phát động chiến tranh mà Lê Duẩn và Lê Đức Thọ thúc giục, giờ
đang được dẫn truyền mức độ khẩn trương mới, một quyết tâm không
phải đợi đến 20 năm mới thống nhất. Trong những tuần của mùa xuân
1964 Nghị quyết 9 được ban hành tại Hà Nội, ở Miền Nam các sự cố địa
phương do VC ra tay tăng lên 40 phần trăm và các cuộc công kích lớn
hơn tăng đến 75 phần trăm. Du kích quân bắt đầu áp dụng luật nghĩa vụ
của họ, khiến nỗi khổ của dân quê càng tăng lên tại những vùng họ kiểm
soát. Trong một làng tại đồng bằng Cửu Long 300 thanh niên bỗng
thấy mình bị bắt buộc cầm vũ khí cho cách mạng, trong khi chỉ có 80
người phục vụ trong lực lượng Sài Gòn. Tía một anh trai bị bắt đi lính
cho VC xỉ vả các cán bộ, nói, ‘Các anh lúc nào cũng chỉ trích đế quốc,
nhưng các anh còn tệ hơn đế quốc. Trả con tôi lại cho tôi.’
David Elliott đã viết: ‘Bạo lực và thủ đoạn là các phương thức chính để
lôi kéo các tân binh miễn cưỡng vào một nghĩa vụ mà thanh niên nông
thôn đã bắt đầu sợ chẳng khác một bản án tử.’ Trong khi đó thuế
suất của MTDTGP còn cao hơn thuế suất của Sài Gòn, buộc một nông

dân trung bình phải nộp ít nhất 20 phần trăm thu hoạch của mình. Một
nông dân, sống trong một ngôi làng trên danh nghĩa thuộc chính quyền
Sài Gòn kiểm soát, nói rằng trong năm 1964 mình phải nộp 125 đồng
cho chính quyền nhưng nộp đến 900 đồng cho MTDTGP, từ lợi tức bán
xoài 17,000 đồng. Năm sau, tai họa ụp xuống, lợi tức giảm chỉ còn 3,000
đồng, nhưng người cộng sản vẫn không xiêu lòng thu hết chỉ chừa cho
ông 200 đồng.
Những đơn vị thiện chiến nhất của VC giờ được triển khai ở Cao nguyên
Trung phần và khu vực được gọi là Tam giác Sắt, 125 dặm vuông vùng
nông thôn dày đặc cây cối cách Sài Gòn 15 dặm về phía bắc. Hầu hết
các cuộc hành quân của họ đều tiến hành quy mô đại đội, bởi vì khó tập
trung các đơn vị lớn hơn. Tinh thần chiến đấu cao nhất trong binh chủng
đặc công – các trung đội chuyên phá hoại. Khi du kích nhắm vào các
mục tiêu mềm họ tấn công xe cộ dân sự, nhất là xe khách, thường với
các hậu quả chết người cho hành khách. Các đơn vị VC ở địa phương
và làng xã được chỉ thị thiết lập ‘vành đai hủy diệt chống Mỹ’ để bảo vệ
các vùng kiểm soát của cách mạng.
Một số dân quân – như Địa phương quân và Nghĩa quân – bán vũ khí lấy
tiền, và VC ấn định mức giá cả: 2,000 đồng một các-bin M-1; 8 đồng
một viên đạn; 20,000 đồng toàn bộ vũ khí trong đồn. Một chỉ huy đồn
còn làm tốt hơn, y xuất hiện trong bóng đêm giơ lên khỏi đầu một chiếc
đèn bão, nhận 30,000 đồng từ các du kích địa phương. Rồi họ xông qua
cổng đồn do y đã mở, khiến binh lính đồn bỏ chạy tán loạn, để lại phía
sau 5 người chết và 2 bị thương.
Chỉ trừ khi các đơn vị VC đóng quân tại các căn cứ hẻo lánh và an ninh
như Đồng Tháp Mười, hầu hết đều phải chuyển trại mỗi 72 tiếng, lội bộ
suốt 18 dặm một ngày trong mùa khô, 15 dặm trong mùa mưa. Họ dễ bị
tổn thương nhất khi băng qua quốc lộ. Những dấu chân sình lầy để lại
những vết tích tố giác, do đó các du kích mang theo túi nhựa để bọc vào
giày khi vượt qua những điểm nhạy cảm trên quốc lộ. Các chi bộ xã có
nhiệm vụ dự trữ lương thực cho các đơn vị đóng quân với họ. VC cũng
liên tục mất một số quân đào ngũ trong chương trình của Miền Nam gọi
là ‘chiêu hồi’, nhưng chính quyền thường đối xử với họ không sao tưởng
tượng được.

Chương trình phun thuốc từ máy bay làm trụi lá cây, được đẩy mạnh từ
năm 1964, gây khó khăn thực sự cho VC vì đã triệt tiêu màn che tự
nhiên của họ; hơn nữa, trong khi các lực lượng chính quyền tuy thường
chịu nhiều thất bại, đôi khi cũng gặt hái được thành công. Một hôm
trong vùng đồng bằng, Tiểu đoàn 514 huyền thoại của VC chịu đựng
một cục diện đảo ngược trong một trận đụng độ với QĐVNCH tại Ấp
Bắc, nơi trước đây kế hoạch đầy tham vọng của John Vann đã phá sản
thảm hại. Lần này, năm 1964, VC bị thảm bại, và cũng như Tướng
Harkins một năm trước, họ cũng lặp lại trò lừa bịp, nói dối về những gì
đã xảy ra. Các cán bộ loan tin rằng họ đã giết được 100 binh sĩ chính
quyền trong khi chỉ hy sinh 12 người mình. Tuy nhiên, dân chúng địa
phương không chỉ nhìn thấy xác VC rải rác trên con đường gần đó; họ
còn nhận ra trong số đó có các con trai mình. Các bậc cha mẹ đi lên
xuống tìm kiếm xem thi thể con mình nằm ở đâu, để họ có thể đào lên
và cải táng những người thân yêu trong phần mộ của gia đình. Một cán
bộ viết trong hồ sơ của đơn vị, ‘Sau trận đánh Tiểu đoàn 514 bị suy thoái
nghiêm trọng.’ Trong một dịp khác ba tiểu đoàn tập trung tấn công vào
một sân bay, một lần nữa chịu đựng một cuộc đẩy lui đẫm máu, và một
lần nữa lại ra sức nói dối với dân chúng về những gì xảy ra.
Khoảng cách tín nhiệm này khiến MTDTGP tạm thời giảm đi sự hậu
thuẫn của dân chúng địa phương. Tuy nhiên, cũng không được lâu dài
vì một lý do đơn giản: hỏa lực chính quyền thổi bay bất kì cơn gió thiện
chí nào. Dân thường chịu nhiều tang tóc và khổ ải từ các vụ không kích
và pháo kích bất cẩn hơn cả các chiến binh VC, nhất là nếu họ có đào
hầm thì chẳng hề hấn gì. Một nông dân kể với một phỏng vấn
viên RAND: ‘Người Mỹ các ông oanh kích và hủy diệt quá nhiều.
Nhưng họ chỉ giết chết dân thường, chứ không nhiều VC.’ Cán bộ bảo
nông dân: ‘Chính quyền sẽ giết chết các bạn cho dù các bạn không
chống lại họ, vậy thì các bạn chiến đấu chống lại họ trước khi chết còn
hơn.’ Quá nhiều người Miền Nam nhất trí. Trong khi người cộng sản
chia sẻ những thất bại trong năm 1964, chủ đề xuyên suốt là họ đạt được
tiến bộ và sự hậu thuẫn của quần chúng, trong khi lực lượng Sài Gòn
đánh mất các điều đó.

2 Tránh Né Quyết Định
Tổng thống Lyndon Johnson nói rất lâu sau đó về Việt Nam: ‘Tôi biết
ngay từ đầu là tôi sẽ bị đóng đinh dù tôi có động thái nào. Nếu tôi bỏ
người phụ nữ mà tôi thành thật yêu – chương trình Xã Hội Vĩ Đại – để
dính líu với cuộc chiến khốn nạn đó tại đầu kia quả địa cầu, thế nào tôi
cũng đánh mất tất cả tại quốc nội … Nhưng nếu tôi bỏ cuộc chiến đó và
để cộng sản nuốt trọn Miền Nam, thế thì tôi bị xem như một tên hèn
nhát và quốc gia tôi sẽ bị xem như một kẻ nhu nhược và chúng ta sẽ hóa
ra không thể hoàn thành bất cứ điều gì cho bất cứ ai tại bất cứ nơi đâu
trên toàn thể địa cầu.’ Mỗi vị tổng thống đều thừa hưởng một chuồng
ngựa từ vị tiền nhiệm – khởi đầu cưỡi các con ngựa của người khác.
Cuộc chiến là điều Johnson ít có thể trả giá nhất. Sự sáng tạo huyền
thoại Camelot bắt đầu trong tích tắc khi các viên đạn xuyên vào John F.
Kennedy. Bảo đảm đầu tiên mà người kế nhiệm ông đưa ra trước Quốc
hội và nhân dân Mỹ là mình sẽ duy trì di sản, và không thể hứa hẹn điều
gì khác được. Dù Johnson hãnh diện là trại chủ Texas chưa gọt dũa;
người đàn ông này bị chế giễu vì dùng chữ quê mùa – ‘Đừng nhổ nước
miếng vào súp, chúng ta còn phải ăn nó ‘- vì được cho là thích ăn đậu
bắp với đậu đũa; và vì bị chụp ảnh khi xách chú chó săn thỏ lên bằng hai
tai, ông bị phàn nàn vì thiếu tinh tế bên cạnh vợ chồng Kennedy và triều
đình của mình. Johnson nói nhiều sau đó, trong một cơn ta thán về việc
bị người của Kennedy bỏ rơi, rằng vào năm 1964 ông đã ‘giữ lại 11 tay
nuôi bò’ – tức nội các Kennedy.
Gạt sang bên con voi Việt Nam, vị phó tổng thống trước đây là chính trị
gia hiệu quả hơn vị chỉ huy thời chiến của con tàu PT-109 (tức
Kennedy) nhiều. Tuy nhiên, mỗi người cần được thoải mái với chính
mình. Trong khi Jack Kennedy có thể tạo ra tình đoàn kết, còn Lyndon
Johnson thì không, điều đó dẫn đến giải thích bi kịch của người
sau. Những nhân vật quân sự chóp bu Hoa Kỳ e dè với ông, ít nhất
không phải vì ông hay nói dông dài ra ngoài đề về thành tích phóng đại
trong thời thế chiến II.
Không có mệnh lệnh di sản nào buộc vị tổng thống mới đánh bom Miền
Bắc, cũng không có mệnh lệnh gửi nửa triệu binh lính đến Miền
Nam. Tuy nhiên, không thể nghĩ được là trong năm đầu nhậm chức –
năm mở chiến dịch tái tranh cử – ông lại bảo những người Mỹ đang ở

Đông Dương khăn gói về nhà. Không có gì xảy ra sau đó lại không thể
tránh được, nhưng mọi thứ xuất phát từ sự kiện 16,000 người đã ở Miền
Nam, bởi vì John F. Kennedy đã cử họ đến đó. Ngay trước khi David
Nes lên đường để trở thành tuỳ viên cho trưởng sứ mạng tại Sài
Gòn, tổng tư lệnh của ông bảo ông, ‘Lyndon Johnson sẽ không đi vào
lịch sử như một tổng thống để mất Việt Nam. Anh đừng quên điều đó.’
Vào cuối tháng 11 1963 MACV phát động một sáng kiến mới nhằm
củng cố sự kiểm soát của chính quyền trong vùng đồng bằng Cửu
Long. Việc này liên quan đến pháo kích mở rộng các vùng nông
thôn, tuyên bố ‘Vùng Pháo Kích Tự Do’, trong đó mọi vật di chuyển
đều được xem là thù địch. Làng mạc bị bỏ hoang, và dân cư về nương
náu tại các thị trấn tồi tàn dọc theo Quốc lộ 4. Một số nông dân đổi qua
ăn mặc quần áo trắng thay vì màu đen truyền thống, bởi vì họ cho rằng
các phi công Mỹ xem quần áo đen là đồng phục của quân du
kích. Chính sách gây hấn mới phát huy hiệu quả làm giảm nhuệ khí
của VC, làm xói mòn sự hậu thuẫn của dân chúng đối với họ, và tranh
thủ sự trung thành đối với chính quyền Sài Gòn.
Rồi các vị tướng lĩnh khởi đầu điều gì đó mới mẻ. Big Minh đã tiếp
quản đất nước không tới ba tháng, nhưng một số đồng đội ông mất lòng
tin ở ông. Người Mỹ cũng vậy. McNamara đến thăm Sài Gòn và khiếp
đảm trước tình hình hỗn loạn. Sứ giả Mỹ tin rằng Minh, như Nhu trước
đó, đã trở nên quan tâm một cách nguy hiểm đến việc đàm phán với Hà
Nội. Vị tướng cũng hoài nghi về chương trình ấp chiến lược và lợi ích
của việc đánh bom. Vào ngày 28 tháng 1 1964, Tướng Nguyễn Khánh
37 tuổi đến Sài Gòn trên chuyến bay Air Vietnam đã định trước, mặc
thường phục, được cho là đi khám nha sĩ. Trong những giờ đầu tiên của
ngày 30 ông thay quân phục và lái xe đến bộ tổng tham mưu QĐVNCH
với một phụ tá. Khánh có hẹn tại đó với lực lượng nhảy dù và một đồng
nghiệp thân cận, Tướng Trần Thiện Khiêm, nhằm tiến hành một cú đảo
chính nhằm hạ bệ nhóm của Minh.
Thay vào đó ông thấy tòa nhà tối thui, bèn điện thoại cho Khiêm hỏi sao
không có động tĩnh gì. ‘Ồ, chắc tôi đã quên dặn đồng hồ báo thức,’
người đồng mưu ngái ngủ này đáp. ‘Nhưng đừng lo, chúng ta nắm tình
hình trong tay.’ Cuộc đảo chính tiến hành trơn tru. Lúc bình minh vị
lãnh đạo mới Miền Nam lên đài, loan báo với quốc gia rằng mình đang

nắm lấy quyền lực vì Tướng Minh và phe cánh ông ta đang tiến hành
cuộc chiến một cách tồi tệ. Không tốn một viên đạn. Ngài Lou Conein
đã báo kế hoạch cho cấp trên, và họ quyết định đồng ý vì họ nhìn nhận
tuyên bố của Khánh là Minh đã quá hăng hái trung lập hóa Đông
Dương, một quan điểm không chấp nhận được ở Washington.
McNamara và Lodge cho rằng người mới lên là ‘vị tướng có khả năng
nhất’. Thành tựu nổi bật nhất của ông trong những ngày đầu chấp chính
là việc thủ tiêu Thiếu tá Nguyễn Văn Nhung, người đã giết Diệm và
Nhu. Tên hành hình chuyên nghiệp này chính y cũng bị hành hình một
cách chuyên nghiệp, bị ra lệnh quỳ gối trong khu vườn một biệt thự ở
Sài Gòn, rồi lãnh một viên đạn duy nhất sau ót.
Miền Nam và quân đội trở nên hoang mang và mất tinh thần dưới quyền
một quân nhân mạnh mẽ nhưng mau chóng yếu ớt đi. Đại sứ Anh
Gordon Etherington-Smith cho rằng đáng ra Hoa Kỳ nên ngăn cản cú
đảo chính: việc Washington sẵn sàng hạ bệ Big Minh cho thấy việc
thống trị Miền Nam giờ có thể ở trong tầm tay của bất kì sĩ quan nào có
thể ra lệnh cho một số trung đoàn.
Etherington-Smith gửi về London: ‘Dường như ngày càng chắc chắn
rằng ngay chính các phẩm chất khiến Khánh thu hút binh lính Mỹ’ –
‘tính khoác lác và ăn nói lưu loát’ của ông – ‘khiến phần đông dân
chúng không ưa.’
Khánh nhanh chóng bắt đầu vận động một cuộc xâm lăng Miền Bắc, lấy
cớ việc để chết chóc và phá hủy chỉ giới hạn ở Miền Nam là không thể
chấp nhận được. Ông không phải người duy nhất chủ trương ý nghĩa kỳ
quặc này: một số quân nhân và chính trị gia Sài Gòn sau này cũng lập
luận rằng họ có thể đã chiến thắng, nếu người Mỹ cho phép họ đánh ra
Miền Bắc. Bùi Diễm, cựu đại sứ của Sài Gòn ở Washington, xác nhận
rằng chính nghĩa Miền Nam phải chịu số phận bi đát từ lúc Hoa Kỳ loại
bỏ lựa chọn này: người cộng sản có thể nắm chắc thắng lợi cuối cùng chỉ
cần họ không bỏ cuộc. Những người lạc quan như thế rất đúng khi cho
rằng Hà Nội hưởng được lợi thế quan trọng, bởi vì họ chỉ cần cung cấp ít
ỏi là có thể thỏa mãn một cuộc tấn công chủ yếu, trong khi binh lính họ
tự do đi khắp nơi qua Lào, Cao Miên và chẳng bao lâu là Miền
Nam. Nhưng chính quyền Mỹ thể hiện sự sáng suốt khi thề bỏ việc đi
quá mức như MacArthur đã vi phạm khi đuổi đến biên giới Bắc Triều và

Trung Quốc vào tháng 11 1950. Hơn nữa các tướng lĩnh Sài Gòn tự lừa
dối mình khi tưởng rằng không được hỗ trợ QĐVNCH vẫn có thể tiến
hành cuộc xâm lược thành công: trong kết cục họ chắc chắn bị đẩy lùi.
Chủ nghĩa phiêu lưu của Khánh làm tồi tệ thêm sự khó chịu vốn đã lấn
ất tại Washington. Những người hoạch định chính sách bắt đầu thấy rằng
tính lưu loát và niềm nở của ông là các phẩm chất chủ yếu. Ông không
được sáng suốt như Tướng Minh đã bị thay thế, với kiến thức ít ỏi về
nhân dân mình. Thậm chí những người Mỹ nào chủ trương Miền Nam
nên được các tướng lĩnh cai trị giờ cũng ra sức nhận diện một số người
mới khôn khéo, hiệu quả, liêm khiết – và dễ bảo. Yêu cầu cuối cùng này
khó thực hiện, bởi vì cách duy nhất cho bất kì lãnh đạo Việt nào muốn
được lòng dân thì ông phải xa cách với người Mỹ. Khóa sinh sĩ quan 21
tuổi Đoàn Phượng Hải bối rối, thất vọng, và đâm ra ngày càng yếm thế
trước bốn lần thay đổi chỉ huy trường võ bị Đà Lạt trong thời gian anh
học ở đó, tiếp sau vụ đảo chính liên tiếp: ‘Chúng tôi các khoá sinh trẻ
bắt đầu nhận ra các sĩ quan cao cấp của chúng tôi, thay vị thấm nhuần
tinh thần huynh đệ chi binh, lại quay ra đấu đá nhau để mưu lợi ích
riêng tư, quyền lực, tiếng tăm.’
Trong những tháng đầu tiên sau khi thay đổi tổng thống Mỹ, hầu hết mọi
lựa chọn quân sự đều đặt trên bàn tại Washington, tại sứ quán của Lodga
và MACV. Câu hỏi chủ chốt là: ai là kẻ thù của chúng ta? Mục tiêu
đúng đắn cho người Mỹ có thể là lực lượng du kích cộng sản đang chiến
đấu ở Miền Nam hay không? Hoặc, thay vào đó, là Miền Bắc, vốn được
xem – nửa đúng, nửa sai – là suối nguồn của cuộc đấu tranh? Các tham
mưu trưởng liên quân Mỹ, giờ cầm đầu là Maxwell Taylor, thiên về
quan điểm thứ hai. Trong số này có hai người yếu đuối hoặc ít ra là quá
thận trọng – Tướng Earle Wheeler của bộ binh và Đô đốc David
McDonald của hải quân – và hai người mạnh mẽ, những người ấp ủ một
tầm nhìn sáng sủa. Những người sau này là Tướng Curtis LeMay của
Không Lực, người chỉ đạo chiến dịch oanh tạc B-29 1945 xuống nước
Nhật, sát hại nhiều người hơn cả các quả bom nguyên tử, và Tướng
Wallace Greene của binh chủng Thủy quân Lục chiến. Cả hai đều tán
thành việc triển khai lực lượng áp đảo, hoặc không làm gì hết. LeMay là
người chủ trương cực đoan, bị ám ảnh bởi lực lượng không quân chiến
lược, tranh luận mỗi tình huống ông tán thành ‘với một giọng nói khàn

khàn đôi khi kéo dài như tiếng rú của động cơ ‘, theo lời một đồng
nghiệp. Chẳng hạn, ông cực lực chống đối yêu cầu của binh sĩ được
phép vận hành trực thăng chiến đấu của họ, một hôm cất bỏ điếu xì gà
quen gắn chặt trên môi để lên tiếng thách thức thi đấu tay đôi với vị
tham mưu trưởng lục quân: ‘Anh lái một chiếc Huey khốn kiếp đó, còn
tôi lái chiếc F-105, và xem ai sống sót. Tôi sẽ bắn con diều ẻo lả của
anh rơi xuống tơi tả trên mặt đất!’ McNamara phán quyết cuộc tranh cãi
đặc biệt này về phe lục quân, khiến thái độ xem thường ngài tổng trưởng
quốc phòng của LeMay không thuyên giảm.
Cung cách trầm tĩnh, chuyên nghiệp của Greene tạo cho ông biệt danh
‘Học trò’. Ông không chịu đựng được thói thận trọng bản năng của các
chính trị gia, và thậm chí nhiều hơn với bản chất của chiến tranh có giới
hạn, mà tán thành ‘hành động nhanh, dứt khoát, ấn tượng và nhất
quán … được theo đuổi với sức mạnh phối hợp toàn bộ các tài nguyên
Hoa Kỳ’. Như LeMay, ông tin rằng Miền Bắc có thể nhanh chóng bị
đánh khuỵu xuống bằng cách phá hủy các thiết chế và hạ tầng của nó.
Greene bảo với Lyndon Johnson vào ngày 4 tháng 3 1964 rằng không
kích có thể đưa nhanh đến trận xung đột kiểu Triều Tiên, với nguy cơ
leo thang thành chiến tranh toàn cầu: ‘Tuy nhiên, sự kiện cay đắng là
chúng ta sắp sửa phải chọn một thế đứng ở đâu đó và cái quyết định mà
ông ta sắp sửa phải đưa ra, với tư cách một tổng thống, là liệu Việt Nam
có phải là nơi mà thế đứng này nên được chọn hay không.’
Maxwell Taylor, người giữ chức chủ tịch cho đến tháng 7
được Wheeler thay thế, thay đổi ý kiến thường đến nỗi sau này ông cho
rằng đã chủ trương ít nhất 5 chính sách khác nhau, tùy theo khẩu vị và
ngày tháng. Vị tướng ngày càng tin rằng, vì đánh bại VC ở Miền Nam
là nhiệm vụ khó khăn, Mỹ nên tập trung vào việc trừng phạt Miền Bắc.
Ông vì vậy trở thành người tiêu biểu cho chủ trương dội bom.
Tác động của các tham mưu trưởng lên việc hoạch định chính sách khá
giới hạn, một phần bởi vì các chủ tịch ban tham mưu nối tiếp chuyển tải
đến Nhà Trắng các hình thức xoa dịu của các quan điểm của Tham mưu
Trưởng Liên Quân, và một phần bởi vì tổng thống bỏ thời gian nhiều
hơn với các cố vấn dân sự, trong số đó McNamara là nặng kí nhất. Một
ảnh hưởng ít được chờ đợi hơn là luật sư và sớm trở thành thẩm phán
Tối cao Pháp viện Abe Fortas, người không biết gì về Việt Nam nhưng

là cố vấn thân cận nhất của tổng thống, trao đổi với ông gần như mỗi
ngày. Những ai nhắm đến việc đổ tội cho các tham mưu trưởng về lựa
chọn chính sách 1964-65 dường như sai lầm, bởi vì tất cả quyết định
hòa hay chiến đều tối hậu thuộc chính trị. Thậm chí sau khi trải nghiệm
Triều Tiên hầu hết các sĩ quan cao cấp Mỹ đều phơi bày một sự am hiểu
không hoàn hảo về giá trị của sự xung đột có giới hạn. Nếu giới quân
nhân được phép quyết định lộ trình của biến cố, họ có thể đã phát lệnh
một cuộc leo thang khốc liệt hơn những gì đã thực sự xảy ra.
Vậy mà khía cạnh nổi bật nhất của tranh luận Washington là rằng nó gần
như hoàn toàn dồn vào việc xác định mức độ thích hợp để vận dụng sức
mạnh, hơn là xem xét tình huống bằng những giải quyết chính trị. Điểm
yếu của Dean Rusk, mặc dù là người có trách nhiệm với các nhà ngoại
giao Mỹ, là ông chưa hề bao giờ đặt lòng tin vào ngoại giao. Lyndon
Johnson ít khi giao tiếp với các nhà lãnh đạo nước ngoài, và càng ít bị
ảnh hưởng hơn bởi các ý kiến của họ.
Trong suốt năm đầu tiên trị vì của ông người đứng đầu thể hiện mình e
sợ một cách bệnh hoạn ảnh hưởng của Pháp, tin rằng nhiệt tình của Tổng
thống Charles de Gaulle cho sự trung lập hóa Việt Nam phản ánh một
khao khát cay nghiệt muốn thấy Hoa Kỳ bị mất mặt.
Các cường quốc có sở thích đáng ngạc nhiên là ưa giao chiến loại xung
đột thích hợp với các phương tiện của mình, hơn là cuộc xung đột mình
đang đương đầu. Ở Việt Nam, những người hoạch định chính sách tại
Washington cho rằng công nghệ và hỏa lực Mỹ có thể thay thế sự vắng
mặt được thừa nhận của cấu trúc chính trị và xã hội có thể thực hiện
được. Trung tướng Andrew Goodpaster có lần cảnh báo với Robert
McNamara: ‘Thưa ngài, ngài đang cố lập trình kẻ địch và đó là một điều
chúng ta đừng nên bao giờ làm.’ Một tù binh Mỹ bảo với các thẩm vấn
viên cộng sản rằng anh nghĩ sự hiện diện của đồng bào mình trong xứ
Việt Nam là 10 phần trăm có liên quan đến người Việt, phần còn lại vì
quyết tâm ngăn cản Mao Trạch Đông. Nghe thế, những người bắt anh
ngạc nhiên hỏi, ‘vậy sao các anh không đi đánh ông ta ở Trung Quốc?
Chúng tôi cũng không thích người Trung Quốc.’
Vào mùa xuân 1964 Walt Rostow, giám đốc hoạch định chính sách tại
Bộ Ngoại giao, lặp lại chủ trương của LeMay cho việc vận dụng không
lực áp đảo. Không có nghiên cứu đáng tin cậy nào được thực hiện về chi

phí và hậu quả; nó chỉ giả định rằng người Miền Bắc sẽ tìm thấy trải
nghiệm bị dội bom tàn phá và bị mất tinh thần đủ để họ sửa chữa đường
lối của mình. Một số đông sĩ quan cao cấp tán thành đi xa hơn: phái các
lực lượng bộ binh vào Lào – để cắt đứt Đường mòn Hồ Chí Minh –
hoặc vào tận Miền Bắc. Cụm từ ‘Bắc tiến’, lặp đi lặp lại trong các cuộc
họp và bản ghi nhớ trong thời kỳ tranh luận 1964, chủ trương biện pháp
dội bom, hoạt động lén lút, xâm lăng đại quy mô. Vào tháng 4 Curtis
LeMay hỏi Tư lệnh Trưởng Thái Bình Dương phải cần những gì để
thắng cuộc chiến. Đô đốc Harry Felt trả lời rằng Hoa Kỳ ‘sẽ phải tiến ra
Bắc một thời gian’. Từ mùa xuân 1964 trở đi McNamara rõ ràng bi quan
về Việt Nam. Thay vì khiến ông phải chủ trương rút quân, sự bi quan
lại thúc đẩy ông từ từ và miễn cưỡng tiến về chủ trương leo thang, cuối
cùng là hăng hái nồng nhiệt. Vào tháng 4 một phóng viên buột miệng
nói rằng Thượng nghị sĩ Wayne Morse gọi Việt Nam là ‘cuộc chiến của
‘McNamara’. Vị bộ trưởng quốc phòng đốp chát lại: ‘Tôi không buồn để
ý việc nó bị gọi là cuộc chiến của McNamara. Thật ra tôi hãnh diện
được liên kết với nó.’
Các nhà báo bảo thủ như William F. Buckley, Marguerite
Higgins,Rowland Evans và Robert Novak khăng khăng đòi chiến đấu
đến thắng lợi cuối cùng. Joseph Alsop chế nhạo Johnson nhát gan, thốt
ra những lời công kích ông đã nhân nhượng. Vậy mà trong khi tổng
thống ắt hẳn sẽ nhận được tên và ná từ những người như thế nếu ông lùi
bước, thì cũng có nhiều người trong giới truyền thông hiểu rõ sự rối rắm
mà Hoa Kỳ đã dính vào. Vị thế cá nhân của Johnson đủ cao để ông vẫn
có thể được tin tưởng nếu ông bảo với nhân dân Mỹ rằng họ đang hậu
thuẫn cho phe thua cuộc ở Việt Nam. Ông ắt hẳn sẽ nhận được sự ủng
hộ có ảnh hưởng cho sự thú nhận như thế từ những người như Walter
Lippmann, New Republic and the New York Times, vốn đã dự đoán
thảm họa nếu quốc gia gửi quân tham chiến.
Bên trong chính quyền, từ tháng 5 1964 thứ trưởng George Ball biểu lộ
sự bi quan dự cảm. Ông bác bỏ quan điểm cho rằng Mỹ có lợi ích sống
còn đang lâm nguy, và nói rằng ông không thấy tại sao tấn công Miền
Bắc sẽ vực dậy tinh thần của chính quyền Miền Nam. Ông lập luận rằng
cuộc chiến là không thể thắng được, cho dù hành pháp gửi đi bao nhiêu
quân. Cộng đồng tình báo có chung ý kiến, và cảm thấy lo lắng về sự

bền vững của chế độ Khánh. Tại sứ quán Mỹ, sau hai tháng ở Sài Gòn,
vào ngày 17 tháng 2 David Nes báo cáo đến Lodge rằng ông tin de
Gaulle nói đúng: Hoa Kỳ nên rút lui, hoặc bắt buộc phải leo thang thật
cao. Willard Matthias, một phân tích viên của Ban Đánh Giá Quốc Gia
của CIA, mô tả Việt Cộng là ‘chịu sự chỉ đạo của Hà Nội nhưng phần
lớn trông cậy vào tài nguyên của riêng họ’. Ông ta cũng đề xuất một giải
pháp chính trị.
Tùy viên Ngũ Giác Đài McNaughton thì tin hoàn toàn vào tính ích kỷ
trong mục đích của Hoa Kỳ ở Đông Dương. Một vài tháng sau ông liệt
kê những con số này: ’70 phần trăm sợ mất mặt vì thảm bại (trong tư thế
là người bảo hộ) – 20 phần trăm để giữ Miền Nam (và lãnh thổ lân bang)
khỏi rơi vào tay Trung Quốc – 10 phần trăm để cho phép nhân dân
Miền Nam hưởng một cuộc sống tự do hơn, tốt đẹp hơn’.
Hiếm có ai ở Washington trong thâm tâm nghi ngờ rằng chính quyền Sài
Gòn đang thối rữa, rằng cuộc chiến đang uể oải. Tuy nhiên, trước khi
đến 3 tháng 11, lúc mà nhân dân Mỹ đã khẳng định chọn lựa Lyndon
Johnson làm tổng thống của họ, thì tin tức xấu là không thể chấp nhận
được: chúng phải được neo giữ lại ở đó. Vào tháng 3 McNamara đến
thăm Việt Nam với Max Taylor, và đưa ra lời yểm trợ Tướng Khánh rõ
ràng. Chuẩn tướng William DePuy viết thư về nhà từ Sài Gòn: ‘Mọi
người ở Washington sẽ sớm đến Việt Nam và sẽ không còn chỗ nào cho
người Việt. Đó có lẽ là một cách để thắng cuộc chiến.’
Trong bộ tổng tham mưu QĐVNCH, Rufus Phillips bắt gặp một Thiếu
tá Việt đang ngồi tại bàn viết chất đống sách. Vị khách hỏi ông ta đang
làm gì. ‘Tôi đang giúp viết lại hiến pháp.’ Bên cạnh viên sĩ quan la liệt
các sách về hiến pháp của Mỹ và Pháp và phiên bản các hiến pháp Việt
Nam trước đây. Tướng Khánh đã giao cho ông nhiệm vụ này, ông ta nói.
Một bản thảo được gửi đến sứ quán Mỹ, và được phê chuẩn chấp
thuận. Khánh thông báo cho các tướng đồng đội, một số bất đồng, rằng
đây là điều người Mỹ muốn: do đó được cơ cấu hợp lệ. Rồi hiến pháp
mới khiêu khích Phật tử và sinh viên phản đối. Max Taylor trách Khánh
làm mọi chuyện rối lên. Dân chúng phẫn nộ là dễ hiểu: không phải ông
đã làm chính xác những gì người chi tiền của mình yêu cầu hay sao?
Rufus Phillips tức tối về khuôn khổ tư duy mà chương hồi này phản ánh:
‘Chúng ta đã thận trọng, khổ nhọc gần 10 năm trời ra sức dựng lên quốc

gia mới mong manh này. Rồi chúng ta dẹp bỏ mọi thứ ổn định. Và mỗi
lần một ông tướng nổi lên đảo chính, tất cả người thời trước đều bị đá ra
ngoài. Chúng ta để những người nắm quyền lực mà không hiểu thực tế
của hoàn cảnh. Và chúng ta càng dính líu nhiều vào đó để bù trừ cho
tình trạng hỗn loạn, chúng ta càng chiếm quyền lãnh đạo của người
Việt. Chúng ta quả quyết chúng ta sắp sửa đánh thắng cuộc chiến và sau
đó sẽ trao đất nước lại cho người Việt. Đó là phát súng ân huệ dành cho
tinh thần dân tộc của người Việt … Và điều này trở thành vấn đề cơ bản
mà người cộng sản khai thác.
Bộ trưởng quốc phòng đệ trình lên tổng thống một báo cáo mà
McNamara đã soạn thảo trước khi thăm Sài Gòn, nói rõ nhận thức của
mình về các mục đích của Hoa Kỳ: ‘Chúng ta tìm kiếm một Miền Nam
phi Cộng sản độc lập. Trừ khi chúng ta có thể đạt được mục tiêu này …
phần lớn các quốc gia Đông Nam Á chắc chắn sẽ rơi vào ách thống trị
của Cộng sản.’ Điều này trở thành cơ sở cho NSAAM288 của Hội đồng
An ninh Quốc gia, nhấn mạnh cam kết của Hoa Kỳ. Sau đó hành pháp
tiến hành giả định rằng các mục tiêu của nó có thể hoàn thành bằng cách
vận dụng sức mạnh quân sự, không cần đếm xỉa tới thái độ của nhân dân
Miền Nam. Phẩm chất duy nhất được xem là cần thiết ở một người lãnh
đạo Việt xứng đáng được Mỹ hậu thuẫn là ông ta phải thề từ khước việc
đàm phán với Hà Nội.
Phía sau các cánh cửa đóng kín, McNamara sẵn sàng nhìn nhận rằng
tình hình ở Việt Nam là ‘một đống lộn xộn’, và rằng một cú đảo chính
có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Nhưng cả ông và tổng thống đều bác bỏ sự
cố vấn có tính độc đoán, cả từ những người tán thành bỏ rơi Miền Nam,
và từ những người nhắm đến việc đặt cược quá mức. Johnson bày tỏ
hoài nghi liệu việc đánh bom Hà Nội có đạt được hiệu quả. Trong những
tháng đầu của chiến dịch tranh cử 1964, cả hai đều nhấn mạnh sự cam
kết của mình đối với chế độ, nhưng không muốn đi quá những bước nhỏ
dần dà trong việc xử lý chiến tranh, để không gây chú ý không mong
muốn đối với cử tri. Khi đại sứ Xô viết Anatoly Dobrynin ra mắt tổng
thống vào ngày 17 tháng 4, ông ngạc nhiên khi không thấy tổng thống đề
cập đến Việt Nam.
Tháng tiếp theo, ở Lào chiến tranh nổi lên, khiến cho Pháp, Ấn, Cao
Miên và Liên bang Xô viết kêu gọi tái triệu tập hội nghị Geneva 1962.

Người Mỹ bác bỏ đề nghị, e rằng việc trung lập hóa Việt Nam sẽ lại trở
thành một vấn đề trên bàn hội nghị. Tiếc là nếu họ muốn bước chân ra,
thì diễn đàn đó hẳn đã mở ra một cánh cửa. Vào đầu năm tiếp theo Mỹ
sẽ chịu quá nhiều thất bại và mất mặt, cả về quân sự lẫn chính trị, đến
nỗi việc rút quân không tránh khỏi bị thế giới xem là bại trận, không
chính quyền nào có thể chấp nhận. Vào đầu mùa hè 1964, tuy nhiên,
vấn đề chưa tồi tệ như thế.
Sự quanh co của bộ trưởng quốc phòng – theo như các Tổng tham mưu
Liên quân nhìn thấy – đặc biệt làm LeMay và Greene bực tức, họ cho
rằng chỉ kiên trì với chính sách hiện hành sẽ không đủ để xoay chuyển
cục diện mà, tất cả các phe phái đều nhất trí, là cộng sản đang thắng
thế. Họ cũng mất kiên nhẫn với chủ tịch Taylor, người mà họ cảm thấy
không muốn kể cho tổng thống và McNamara những sự thật phũ phàng
mà họ không muốn nghe. Suốt mùa xuân tâm trạng các tướng lĩnh càng
cay đắng hơn. Tùy viên quân sự của Johnson Thiếu tướng Chester
Clifton viết vào ngày 27/3: ‘Tôi cảm nhận một tình thế khó khăn có tính
tiềm năng và thậm chí nguy cấp … Các Tham mưu trưởng chia rẽ trầm
trọng.’ Greene viết một cách khinh bỉ vào ngày 18/5: ‘Chúng tôi nhìn
thấy cả McNamara và Taylor đang đắn đo mò mẫm một lộ trình hành
động.’ Greene không chỉ khinh thường bộ trưởng quốc phòng, mà còn
tin rằng các tham mưu trưởng bị ngăn trở hoàn thành vai trò thích đáng
của mình, như là các cố vấn quân sự cho tổng tư lệnh quốc gia. Tuy
nhiên, ông ta và LeMay lúc đó, và một số sử gia sau đó, đều thể hiện
sự ngây thơ khi không thể nhận ra rằng trong mọi xứ sở vào bất cứ thời
nào, thái độ bực tức với các nhà lãnh đạo chính trị là thái độ mặc định
của các chiến binh chuyên nghiệp, vốn lúc nào trời cũng phú cho họ sự
kém sáng suốt hơn họ tưởng.
Vào cuối tháng đó, tại Washington vấn đề đã đi rất xa, McNamara thảo
luận với các tham mưu trưởng liên quân về khả năng tung bộ binh Mỹ,
và cũng uỷ nhiệm ban nghiên cứu các mục tiêu đánh bom ở Miền
Bắc, cho ra bảng danh sách 94 điểm. Được hiểu là một hoặc cả hai biện
pháp này sẽ được chấp nhận trừ khi Hà Nội lùi bước: các chuyến bay
thám thính chỉ ra rằng việc sử dụng Đường mòn Hồ Chí Minh tăng vọt.
Sự hậu thuẫn của Quốc hội được nhìn nhận là cần thiết nếu quyết định
dội bom hoặc đem quân đến Miền Nam – một động thái mà bộ trưởng tư

pháp Nicholas Katzenbach gọi là ‘tương đương vè chức năng như hành
động tuyên chiến’. Vào cuối tháng 5 William Bundy của bộ ngoại giao
soạn một nghị quyết trao quyền cho tổng thống điều động lực lượng Hoa
Kỳ, nhưng bản nháp của ông chỉ được cất vào ngăn tủ: chưa cần phải đối
mặt với ê kíp vụng về của Thượng viện do Mike Mansfield và Wayne
Morse cầm đầu.
Trong chiến dịch tranh cử tổng thống giờ đang bao trùm quốc gia, lời
hùng hôn phần lớn đều dành cho hứa hẹn của Johnson về chương trình
Xã hội Vĩ Đại hơn là cho Việt Nam. ‘Kennedy đã yêu cầu hy sinh, còn
Johnson thì hứa hẹn hạnh phúc,’ nhà biên niên về tranh cử tổng thống
Theodore White viết trong năm 1965. ‘Thậm chí quả địa cầu run rẩy
dường như cũng lắng xuống trong mùa xuân và hạ để cho phép Johnson
điều hành các vấn đề đối ngoại từ điều có thể được gọi là một vị thế
thoải mái. Việt Nam là vụ khủng hoảng duy nhất, chầm chậm tệ hơn
từng tuần – nhưng tổng thống tạm thời sắp xếp để triệt sản nó về mặt
chính trị.’
Dù sao Nhà Trắng cũng quyết định thay máu ở Sài Gòn: cả đại sứ và tư
lệnh MACV bị thay thế. Lodge đã hết sáng kiến, và hiếm khi đồng tình
với Harkins. Các tên Robert Kennedy, McGeorge Bundy và Robert
McNamara được đặt trên bàn cân như là người kế nhiệm tiềm năng
trước khi lựa chọn rơi vào Max Taylor, người quân nhân được tổng
thống tin cậy nhất. Taylor được phái đi vào tháng 7 không để làm ngoại
giao, mà để điều hành một cuộc chiến thông minh hơn. Nếu vị tướng
không nghiện chức vụ, vị thế, quyền lực, ở tuổi 62 ông ắt hẳn đã từ
khước chiếm một chiếc giường đầy đinh như thế. Khó mà tin được rằng
làm sao ông có thể cho rằng nắm lấy trách nhiệm toàn quyền như thế tại
một nơi như thế sẽ làm thăng hoa danh tiếng của ông. Dù sao đi nữa,
Taylor đã nhận chức đại sứ, khẳng định quan điểm của những kẻ hoài
nghi trong số các đồng đội của ông thời Thế Chiến II, những người nhận
định rằng tính tự phụ và khuynh hướng vận động chính trị lén lút rõ ràng
vượt quá tài năng và khả năng phán đoán của ông. Vị trí chủ tịch tham
mưu trưởng liên quân của ông được giao lại cho Tướng Earle Wheeler.
Với Taylor ở Sài Gòn, chắc chắn Wheeler sẽ không hề có được tiếng
nói áp đảo trong việc hoạch định chính sách Việt Nam, nhưng cá tính
yếu ớt của vị chủ tịch mới sẽ sớm hiển hiện.

Tướng William Westmoreland nhậm chức MACV vào ngày 20/6/1964,
nói: ‘Tôi thừa hưởng sự hỗn loạn chính trị này … Giống như cố nuốt trôi
mì ý vậy. Harkins được phép về hưu trong danh dự, mặc dù thất bại của
ông đặc biệt nghiêm trọng và phán đoán của ông sai sót rõ ràng.
Westmoreland từ đó thường được chế giễu như là ‘trung đoàn trưởng ấn
tượng nhất mà Quân đội Hoa Kỳ từng sản sinh’, và khó để nói một cách
hợp lý rằng ở Việt Nam ông thể hiện mình là một trong những thuyền
trưởng vĩ đại của lịch sử.
Một nhân viên của ông, một Thủy quân Lục Chiến, viết thư gửi về nhà:
‘Ông nắm toàn bộ bức tranh, nghe thấy rõ những điểm rối rắm nhưng
ông để óc tưởng tượng của mình chạy đi mất. Một số kế hoạch của ông
thật là điên rồ.’ Westmoreland sau này nói: ‘Tai tôi và tất cả sĩ quan tôi
vào thời điểm đó vang vọng bài diễn văn nhậm chức thật xúc động của
Kennedy: “Chúng ta sẽ gánh vác bất kì sức nặng nào và đương đầu với
bất kì gian khổ nào, nâng đỡ bất kì bạn bè nào, chống lại bất kì kẻ thù
nào, nhằm đảm bảo sự sống còn và thành tựu của tự do.’ … Chúng tôi
cảm thấy rất phấn khởi đi đến Việt Nam để chiến đấu cho nguyên tắc
cao cả đó.’
Tuy nhiên, cái giá của thái độ như thế là trong quá trình theo dõi của
Westmoreland tính hiện thực bị loại bỏ, như dưới thời Harkins. Bố già
thời Đông Dương Howard Simpson được giữ lại sứ quán Mỹ tại Sài Gòn
vào thời điểm này. Trong thời gian chuyển tiếp , ông được tham dự hội
nghị thượng đỉnh chiến lược Honolulu, có mặt các vai chính McNamara,
Rusk, Taylor, Westmoreland và giám đốc CIA John McCone. Simpson
ghi nhận một cách khiếp đảm rằng không nhân vật hiện diện nào có kiến
thức thực sự về Việt Nam, và tinh thần của ông càng chùng xuống khi
ông theo dõi sự thăng trầm của tiến trình thảo luận: ‘Tôi sớm biết rằng
các bài học về lịch sử gần đây không có trong nghị trình. Người Pháp đã
bại trận. Chúng ta sẽ thắng … Tôi có thể nhắm mắt và tưởng tượng ra
mình đang nghe thuyết trình tại bộ chỉ huy cao cấp Pháp vào năm 1953.’
Simpson không dám nói ra, chỉ biết lắng nghe mà không tin vào tai mình
khi các kế hoạch và dự án được giải thích mà ông biết không người Việt
nào sẽ chịu thực hiện. Thật ra, còn tệ hơn: binh sĩ và sĩ quan Sài Gòn sẽ
chấp nhận chiến thuật quen thuộc của họ là nhất trí với mọi điều, nhưng
không định làm gì cả. ‘Người Việt bị ném ra bên lề như bọn trẻ không

có mặt ở đó. Đối với mọi ý định và mục đích họ có vẻ như những kẻ
đứng bên lề trong cuộc đấu tranh cho đất nước mình.’ Điều này là có
thật một cách sâu xa, quan trọng một cách sâu xa. Người Mỹ, quá kiêu
hãnh vì di sản và tâm thế chống thực dân của mình, có khuynh hướng
tiến hành một cuộc chiến chính xác theo phong cách các chính quyền
thực dân qua các thời kỳ. Frank Scotton xác định thái độ của một người
Mỹ trung bình đối với dân Việt là ‘coi thường sống sượng. Người Mỹ đủ
mọi tầng lớp nói đùa về công nghệ Việt Nam được xác định bằng việc
gắp một thứ bằng 2 chiếc đũa hoặc mang hai vật bằng một đòn gánh. …
Chúng ta là các đồng minh hiểu về nhau quá ít.’
Tại Miền Nam, lực lượng thường là đủ để giáng cho cộng sản những
thảm bại về mặt chiến thuật. Vậy mà những người Mỹ nhạy cảm như
Scotton, Simpson, Vann và Ramsey hiểu ra rằng thắng lợi trên chiến
trường thật ra đóng góp ít ỏi đến mức ngạc nhiên. Có lẽ điều mỉa mai
trước hết của cuộc chiến, nhất là đối với những ai đã hy sinh, là chiến
đấu là phần ít quan trọng nhất của nó, nếu so sánh với mặt trận tranh
chấp xã hội và văn hoá giữa Hà Nội và Sài Gòn. Bằng cách giao cho
Max Taylor vai trò trung tâm trong sứ mạng Hoa Kỳ, chính quyền Mỹ
đã ra lệnh cho một thợ điện sửa chữa một vụ rò rỉ hơi ga chết người, mặc
dù Taylor lại sử dụng một nhân vật khác để mô tả về mình: ‘Nhiệm vụ
của tôi như nhiệm vụ của một chàng trai Hà Lan với con đê rò rỉ, anh ta
chỉ biết lấy ngón tay cái bịt chặt.’ William DePuy viết cho gia đình mình
khi Westmoreland lên nhậm chức: ‘Chúng ta không thể thắng, nhưng
chúng ta có lẽ có thể giữ không để thua.’
Mùa hè đó, khi trên khắp trận địa, những ngày tương đối yên tĩnh tại Sài
Gòn khích lệ các cơn lạc quan ở Washington cho rằng các quyết định
lớn có thể tạm hoãn. Westmoreland, được Lodge ủng hộ, bảo với hội
nghị ‘tình thế đã xuống đến mức thấp nhất, đang chững lại, và sẽ bắt
đầu chầm chậm đi lên … Sẽ không có sụp đổ ở Miền Nam trừ khi có sự
cố dữ dội bất thường xảy ra chẳng hạn một cú đảo chính hoặc ám sát.
Ở Washington, tâm trạng dần dần diều hâu hơn một cách kín đáo nhưng
không ngừng tăng lên. McGeorge Bundy, Dean Rusk và John McCone
tán thành đem quân đến Việt Nam sau khi bầu cử xong, mặc dù Rusk tại
hội nghị Honolulu nhấn mạnh ‘công luận Mỹ vẫn chưa sẵn sàng tiêu hóa

hành động quân sự leo thang’. McNamara vẫn còn e ngại gửi bộ binh,
nhưng giờ đây tán thành việc đánh bom Miền Bắc.
Khi các tham mưu trưởng liên quân gặp nhau tại Nhà Trắng vào ngày 31
tháng 7, Wallace Greene tái xác nhận Hoa Kỳ phải mang chiến tranh đến
Miền Bắc để hy vọng đạt được một kết quả khả quan tại Miền Nam.
Chính sách hiện thời, người lính Thủy quân Lục chiến cứng rắn nói, ‘vi
phạm nguyên tắc quân sự cơ bản, tức là cho phép kẻ địch ưu tiên chọn
lựa chiến trường để ta giao tranh.’ Mặc dù tổng thống bảo với các tướng
lĩnh là sẽ không có do dự gì về mặt chính trị trong việc tiến hành hoạt
động quân sự khẩn cấp, không ai hiện diện tin lời ông nói: mọi việc,
tuyệt đối mọi việc, sẽ phụ thuộc vào việc giành được thắng lợi trong
cuộc bầu cử tổng thống, giờ chỉ cách không đến 100 ngày.

CHƯƠNG 9: VÀO VỊNH

1 Những Lời Dối Trá

Luôn là vấn đề gây tranh cãi liệu Lyndon Johnson có nhắm tìm một cơ
hội để biểu dương sự mạnh mẽ của mình trước khi dân chúng Mỹ đi bầu
vào tháng 11 1964, hay vụ khủng hoảng như một quả bóng tình cờ bị
đẩy về phía ông. Vào tháng 8, hai tuần trước Hội nghị toàn quốc Đảng
Dân chủ, cuộc chiến ở Đông Nam Á rẽ qua một bước ngoặt mới. Từ
tháng giêng người Mỹ đã tiến hành các sứ mạng lén lút xâm nhập Miền
Bắc với mật danh che đậy OPLAN34-A. Chúng được thiết kế để làm

Hà Nội mất ổn định qua việc thả dù các đặc vụ và biệt kích đánh phá
Miền Bắc. Ngoài việc có thể bị phán xét là nguyên nhân gây ra chiến
tranh mở rộng, OPLAN34-A đã hy sinh mạng sống hoặc tự do của
khoảng vài trăm người, không vì mục đích nào. Từ năm 1961 tình báo
cộng sản đã chơi ‘trò vô tuyến’ với các chỉ huy hành quân bán quân sự
của Mỹ, sử dụng các binh sĩ truyền tin ‘đã giác ngộ cách mạng từ các
nhóm đặc vụ bị bắt. Việc này, phối hợp với sự xâm nhập các điệp viên
nhị trùng vào Miền Nam, bảo đảm mỗi vụ bắt được dọn đường cho vụ
bắt được tiếp theo. Trong năm 1963 có 80 nhóm xâm nhập Miền Bắc
bằng nhảy dù hoặc thuyền nhỏ. Gilbert Layton thuộc CIA nói: ‘Khi tôi
bắt đầu tuyển mộ những người Việt, có người hỏi, “Bộ anh không sợ
Việt Cộng có thể chui vào hàng ngũ của anh sao?” Tôi nói, “Chúng tôi
ước tính khoảng 10 phần trăm, nhưng như vậy chúng tôi áp đảo quân số
9 đến 1.”‘
Bill Colby nhìn nhận thất bại sau khi báo cáo cho biết nó không hiệu quả
và xin ngừng lại. Vào mùa xuân 1963 ông trình bày như thế với Robert
McNamara, và ông ta không trả lời. Vị bộ trưởng quốc phòng tin rằng
hoạt động ngầm có thể duy trì sức ép với Hà Nội, nếu đặt dưới quyền
kiểm soát của MACV và được yểm trợ bởi gân cốt cốt quân sự. Ông lập
luận điều này với Lyndon Johnson vào tháng 12, và chẳng bao lâu sau
đó một loạt OPLAN34-A được phát động. Gần 200 người Miền Nam
được huấn luyện nhảy dù, chèo thuyền, bơi lội vào Miền Bắc. Tuy
nhiên, quá trình huấn luyện cho họ không hoàn hảo: các đặc vụ được
giao nhiệm vụ tiến vào các thị trấn, khẩn trương tìm cho ra các linh mục
Công giáo, ắt được bảo đảm là có tinh thần chống cộng. Đúng là như
vậy, nhưng nhà thờ lại bị giám sát gắt gao. Một số đặc vụ nhảy dù xuống
bị phát hiện bởi vì họ mang giày, thay vì mang dép như mọi người. Một
người bị bắt khi mặc quần jean xanh của Mỹ – nhanh chóng bị tịch thu
quần bởi người lính bắt được anh. Nhiều người đầu hàng ngay khi chân
chạm đất.
Chính quyền Miền Bắc thỉnh thoảng đưa các đặc vụ Sài Gòn ra xét xử
trước dân chúng, trong khi đội hành quyết xử bắn những kẻ xâm nhập
kháng cự. Phần đông thành viên OPLAN34-A bị bỏ tù vô thời hạn, mãi
đến năm 1995 những người cuối cùng mới được phóng thích.

Nhưng những vụ đột kích vẫn tiếp tục bởi vì một số quân nhân và viên
chức, trong số ưu tiên có McNamara, tưởng rằng loại hoạt động này có
chi phí thấp, khó bị phát hiện, có thể gây khó khăn cho địch. Các thành
viên trên các thuyền tuần tra siêu tốc tiến hành các vụ đột kích ven bờ
khoái được làm người hùng – cùng với tiền công hậu hĩnh do người Mỹ
chi trả. Hầu hết các sứ mạng, xuất phát từ Đà Nẵng, chỉ kéo dài một ít
giờ trong đêm tối. Thuyền hoạt động từng cặp, trung bình mỗi tuần một
lần, các sĩ quan đặc nhiệm được người Mỹ chỉ dẫn bằng cách sử dụng
không ảnh. Hai thuyền đổ các đội đặc nhiệm SEAL, gồm những biệt
kích sắc tộc Nùng, bắn phá vào các cơ sở ven bờ biển. Đôi khi cũng có
những vụ đụng độ với pháo thuyền Miền Bắc, một số thuyền này họ
giao chiến với pháo 40mm. Không có vụ xâm nhập Miền Bắc nào được
ghi chép trung thực – chúng xuất hiện trong nhật ký hải hành có mật
danh ‘US liaison’. Thuyền viên Việt ngây ngất vì được lái pháo thuyền
55-hải lý, mà không pháo thuyền cộng sản nào đuổi kịp, và – theo lời
một sĩ quan – ‘Thật sướng khi mang chiến tranh đến cho Miền
Bắc, thay vì chỉ tự vệ thụ động trên lãnh thổ của mình.’
Phe Cộng đã quen với việc đẩy lùi bọn đột kích, thành ra lực lượng
phòng thủ duyên hải luôn trong tư thế cảnh giác cao độ. Vào ngày 28/7,
sau một trận công kích trên đảo Hòn Gió, các tàu tuần tra lớp Swatow do
Trung Quốc chế tạo truy đuổi bọn tấn công suốt 45 dặm. Hai ngày sau,
nhóm Biệt kích bị đẩy lùi khi toan tính tràn lên một đài ra-đa trên đảo
Hòn Me; họ chỉ ria súng máy bắn ngang qua đài. Lực lượng phòng thủ
vì vậy tỉnh táo ứng trực ba ngày sau khi khu trục hạm Maddox, đang tiến
hành sứ mạng nghe lén điện tử ‘Desoto’ cách các đảo này trong vòng vài
dặm, đi vào vùng nước mà Miền Bắc tuyên bố chủ quyền, mặc dù vượt
quá giới hạn mà người Mỹ công nhận. Một trong những nhiệm vụ của
Maddox là thu nhặt tình báo cho MACV, bao gồm việc ‘xác định hoạt
động tuần tra duyên hải của VNDCCH … khiêu khích và ghi chép các
phản ứng của Miền Bắc trong hậu thuẫn cho nỗ lực Tình báo Tín hiệu
của Hoa Kỳ.
Vào ngày 1 tháng 8, các nhân viên đánh chận tín hiệu cảnh báo cho
Thuyền trưởng Hải quân John Herrick, chỉ huy sứ mạng trên biển, về tin
sóng của Miền Bắc cho biết các chỉ huy hải quân của họ đã ‘QUYẾT
ĐỊNH ĐÁNH ĐỊCH TỐI NAY ‘, khiến tàu Maddox phải lùi vào vùng

nước ít tranh chấp hơn. Sau đó cộng sản ra lệnh cho các thuyền ngư lôi
P-4 và tàu Swatow 67 tấn tập trung bên ngoài đảo Hòn Me ngày hôm
sau, ngày 2, mà người Mỹ lý giải là địch dự định giao đấu với khu trục
hạm Hoa Kỳ. NSA (Cục An ninh Quốc gia) phát cảnh báo khẩn cấp theo
hướng nội dung đó đến MACV và các tư lệnh hải quân – mặc dù không
đến chính chiếc tàu chiến – vào sáng sớm ngày 2 tháng 8: ‘MỨC ĐỘ
PHẢN ỨNG ĐƯỢC GHI NHẬN VỀ PHÍA VNDCCH CŨNG NHƯ
SỰ SẴN SÀNG PHẢN CÔNG GHI NHẬN ĐƯỢC CỦA HỌ, PHẢN
ỨNG CỦA VNDCCH ĐỐI VỚI TUẦN TRA DESOTO CÓ THỂ
NGHIÊM TRỌNG HƠN TIÊN LIỆU.’ Tiếp theo tin điện này là một
thông điệp khẩn cấp từ một đơn vị đánh chặn tín hiệu tại Phú Bài lúc
11:44G (giờ địa phương Vịnh Bắc Việt), báo cáo bắt được lệnh tấn công
của tàu Swatow. Dù cho xảy ra tất cả chuyện này, khu trục hạm vẫn
được phép tiếp tục sứ mạng Desoto gần bờ. Khoảng trưa ngày 2,
Maddox bắt gặp 5 pháo thuyền cộng sản bên ngoài Hòn Me, nhưng vẫn
giữ nguyên lộ trình.
Sĩ quan chỉ huy ứng trực tại Hà Nội chiều đó là Thượng tá Trần Quý
Hai, phó tổng tham mưu trưởng. Các đồng đội sau này xác nhận rằng,
khi nhân được điện thoại của bộ chỉ huy hải quân báo cáo có sự hiện
diện của tàu Maddox và xin chỉ thị, ông nói, ‘Cái gì? Họ hỏi chúng ta
phải đáp ứng sao à? Khi tàu địch xâm phạm vùng nước thuộc lãnh thổ
chúng ta chúng ta phải tấn công nó! Họ còn đợi cái quái gì nào?’ Phó
phòng hành quân tác chiến gọi cho chỉ huy hải quân ứng trực, để ra lệnh
cho ba pháo thuyền thuộc Nhóm Ngư lôi 135, được hai tàu tuần tra yểm
trợ, ra giao tranh với Maddox. Tại phi trường Tân Sơn Nhất ở Sài Gòn
Harry Williams, sĩ quan ứng trực tại trạm đánh chặn tín hiệu NSA, nhận
được một cảnh báo tình báo tín hiệu hải quân từ San Miguel, Philippin,
cho biết một cuộc tấn công vào các tàu chiến Mỹ đang tới gần. Bên
trong chuỗi lệnh Miền Bắc cũng có chứng cứ cho thấy có sự hoang
mang: các tín hiệu giải mã trong đó có một lệnh thu hồi được phát đi đến
thuyền P-4, thất bại trong việc ngăn cản sự đụng độ ngắn ngủi xảy ra sau
đó. Lúc 14:00G Maddox định vị được các pháo thuyền Miền Bắc, liền
quay sang hướng đông và gia tăng tốc độ đến 25 hải lý. Bốn mươi phút
sau Herrick đánh tín hiệu cho bộ chỉ huy bờ biển là ông sẽ sử dụng pháo
của mình để tự vệ nếu thấy cần thiết. Bốn chiếc chiến đấu cơ F-8, đang

bay tuần tra phía trên hàng không mẫu hạm Ticonderoga, trực chỉ đến
yểm trợ cho khu trục hạm. Lúc 15:05G, và tuyệt đối ngược với tuyên bố
sau này của chính quyền Mỹ cho rằng cộng sản khai hỏa trước, các
pháo 5-in xơ của Maddox bắn ba phát cảnh cáo, rồi bắt đầu bắn vào các
pháo thuyền, đang chạy với tốc độ 40 hải lý, cỡi sóng tiến về phía
Maddox. Phát súng của Mỹ bắn trượt cũng như các ngư lôi bắn ra của
bên tấn công, nhưng lúc 15:20G các Crusader đến, nhào xuống và khai
hỏa vào các chiếc P-4: cả ba chiếc bị trúng đạn hư hại, bốn thuyền viên
chết và sáu bị thương. Maddox kết thúc cuộc chạm trán chỉ với một lỗ
đạn trên mũi tàu; một chiếc Crusader bị hư hại, nhưng đáp an toàn
xuống Đà Nẵng.
Vào ngày 3 tháng 8 Tổng tham mưu trưởng Miền Bắc, Văn Tiến Dũng,
bay đến bờ biển. Các pháo thuyền vẫn chưa trở về, đang trú ẩn bên cạnh
một hòn đảo gần bờ để sửa chữa thiệt hại. Vị tướng bày tỏ lời khen ngợi
đối với hải quân. Nhưng trên trực thăng bay về thủ đô, Dũng bảo với
một sĩ quan tháp tùng rằng theo ông vụ tấn công là một sai lầm, ‘tại một
thời điểm khi chúng ta đang ra sức giới hạn xung đột’; ông cho rằng các
sĩ quan chỉ huy ứng trực đã vượt quá quyền hạn của mình.
Phản ứng ban đầu của Washington đối với vụ va chạm là câm
lặng, nhưng theo chỉ thị của tổng thống một cảnh báo nghiêm khắc được
chuyển đến Hà Nội nói rằng bất kì cuộc tấn công ‘không được khiêu
khích’ nào tiếp theo đối với các tàu chiến Mỹ sẽ lãnh ‘hậu quả’ nghiêm
trọng’. Vào ngày 2 tháng 8 McNamara đang hộ tống Jackie Kennedy
đến dự thánh lễ Mét thì được triệu hồi đến Ngũ Giác Đài. Hôm sau ông
chủ toạ một buổi họp với các Tổng tham mưu Liên quân, tại đó họ thảo
luận một báo cáo mới khẩn cấp có vẻ u ám từ Sài Gòn. Bộ trưởng
nói, ‘Chúng ta đang thua trận … Chúng ta không thể chấp nhận điều
này và chúng ta sẽ không chấp nhận.’ Có báo cáo về một sư đoàn không
lực Trung Cộng tiến vào Miền Bắc. McCone của CIA cảnh báo khả
năng Trung Quốc tấn công Sài Gòn; người Nga cũng có thể góp
phần, có lẽ bằng phi cơ chiến đấu và không thừa nhận, như họ đã làm ở
Triều Tiên. Một hàng không mẫu hạm thứ hai, Constellation, được phái
đến ngoài khơi bờ biển Miền Bắc để yểm trợ Ticonderoga. Một khu trục
hạm khác, Turner Joy, được phái đến để tiếp tay cho Maddox. Thuyền
trưởng Herrick, ngoài biển, không nghi ngờ gì cho là vấn đề đã trở nên

nghiêm trọng, đánh điện, ‘VNDCCH ĐÃ THÁCH ĐẤU VÀ GIỜ TỰ
COI LÀ TUYÊN CHIẾN VỚI CHÚNG TA.’ Ông thúc giục cung cấp
yểm trợ tàu chiến trọng tải nặng hơn cho sứ mạng Desoto – đã được lệnh
tiến sát bờ biển một lần nữa vào ngày 3.
Vào đêm 3-4 tháng 8, các biệt kích Miền Nam tiến hành một vụ đột kích
OPLAN-34A khác, trong đó bốn pháo thuyền bắn phá các cơ sở ven
biển tại Vinh Sơn, và một chiếc bị cộng sản săn đuổi. Hành động này
diễn ra nhiều dặm cách các vị trí quân Miền Bắc còn đang phấn đấu cứu
chữa ba pháo thuyền bị hư hại vào chiều hôm đó. Tuy nhiên, trạm đánh
chặn Phú Bài lý giải sai liên lạc vô tuyến của địch, cho rằng nó dự báo
một cuộc tấn công sắp đến khác vào tàu chiến Mỹ; vì vậy lúc 16:56G
Phú Bài phát đi một cảnh báo ‘Khẩn cấp’ mới. Cùng ngày đó, ngày 3,
một tàu Swatow đúng là đã theo dõi các tàu Mỹ bằng ra-đa, nhưng từ
một khoảng cách an toàn. Mặc dù tình hình trên biển khá căng thẳng,
không có phát súng nào được bắn ra gần Maddox hoặc Joy.
Không ai ở Washington đề nghị rút đi sứ mạng Desoto. Sáng hôm sau,
ngày 4, hai khu trục hạm tiếp tục nghe lén gần bờ. Lúc 18:40G Phú Bài
lại phát đi một cảnh báo mới: ‘KHẢ NĂNG HOẠT ĐỘNG HẢI QUÂN
VNDCCH ĐƯỢC LÊN KẾ HOẠCH CHỐNG TUẦN TRA DESOTO
TỐI NAY.’ Không tới hai giờ sau, trong thời tiết xấu đi Maddox báo cáo
phát hiện hai ‘skunks’ – các tín hiệu trên mặt biển – và ba ‘bogies’ –
tín hiệu trên không – hiện trên màn hình ra-đa của tàu, trong khoảng
cách 100 dặm.
Herrick sau này ước đoán rằng tín hiệu thứ hai có thể là ‘tín hiệu địa
hình dội lại’ từ đảo Hải Nam của Trung Quốc đã bị nhận diện sai. Lúc
20:45G Herrick báo cáo mất ‘skunk’ trên mặt biển, nhưng lúc 21:08G
bắt được một tín hiệu tiếp xúc khác. Các Skyhawks của hải quân báo cáo
nhìn thấy các đường rẽ nước trắng xóa của các khu trục hạm trong bóng
đêm, nhưng không thấy bất kì tàu thuyền địch nào. Lúc 21:34G mọi
chuông báo động vang lên trên tàu Maddox tiếp sau một tín hiệu ra-đa
mới cách 9,800 ya, rõ ràng tiến đến gần ở tốc độ 40 hải lý; bộ phận
truyền tin của Turner Joy cũng báo cáo hoạt động. Rồi đội định vị sonar
bắt gặp thứ gì đó dưới nước, mà Trung tâm Thông tin Tác chiến của
Maddox – mặc dù không phải là chuyên viên vận hành sonar – nhận
diện là một ngư lôi đang tiến gần. Lúc 21:40G Herrick báo cáo rằng các

tàu của mình đang khai hỏa vào ‘kẻ tấn công’, nhưng cho biết các khu
trục hạm thấy khó khăn duy trì việc khóa chặt ra-đa lên họ. Điều này
không có gì ngạc nhiên, bởi vì đó chỉ là những tưởng tượng của người
Mỹ.
Các báo cáo từ các tàu chiến – ‘tôi hứng chịu tấn công ngư lôi liên tục’
– chuyển đến Ngũ Giác Đài đêm đó, lúc đó vẫn còn sớm ở
Washington, phản ánh sự sai lầm của các nhân viên kỹ thuật trên tàu, và
phản ứng dễ bị kích động của cấp trên. Đô đốc Ulysses Grant Sharp ở
Hawaii nhanh chóng thừa nhận các báo cáo sai lầm là ‘hành động thù
địch làm mới lại’. Nhật ký hoạt động tác chiến Miền Bắc, được xuất bản
nhiều năm sau này và gần như chắc chắn là xác thực, cho thấy họ không
triển khai tàu nào gần người Mỹ. Dù sao đi nữa, các khu trục hạm đáp
ứng với tín hiệu ra-đa mới bằng các hành động lẫn tránh điên cuồng.
Maddox không thể nhận diện một mục tiêu cho pháo của mình, vậy mà
Turner Joy lại tốn hơn 300 đạn 5-in xơ, và ghi nhận có hai tá ngư lôi tiến
đến – tất cả việc này, dù phi cơ bỏ pháo sáng không phát hiện kẻ địch
nào. Lúc 23:35G ‘hành động’ cuối cùng ngừng hẳn, và Herrick báo cáo
có hai pháo thuyền địch bị chìm và một bị hư hại. Vậy mà một số phụ tá
của ông vẫn ngờ vực có va chạm nào xảy ra. Chẳng bao lâu sự việc rõ là
hiệu ứng ‘ngư lôi tiến đến’ được các chuyên viên sonar phát hiện gây ra
do chuyển động dữ dội của bánh lái khi khu trục hạm vận hành. Trong
vòng một giờ Herrick phát đi tín hiệu ‘TOÀN BỘ HOẠT ĐỘNG
NHIỀU NGHI VẤN,’ và chẳng bao lâu sau đó, ‘KHÔNG HỀ NHẬN
DIỆN XÁC ĐỊNH MỘT THUYỀN NHƯ THẾ.’
Vậy mà ở Washington, nghe theo cảnh báo ‘Khẩn cấp’ từ Phú Bài,
McNamara đã cảnh báo tổng thống về một nguy cơ tấn công của Miền
Bắc đang đến gần. Ba giờ sau ‘trận đánh ‘ kết thúc, Johnson ra lệnh một
trận không kích giáng trả vào các căn cứ Miền Bắc. Năm giờ trước khi
phi cơ cất cánh, Đô đốc Sharp cảnh báo Ngũ Giác Đài rằng ‘xem xét lại
hành động cho thấy nhiều tín hiệu ra đa và ngư lôi bắn ra được báo cáo
có vẻ đáng ngờ’. Nhưng rồi bộ phận tình báo đánh chặn tín hiệu đưa ra
một tín hiệu chặn được trong đó Miền Bắc tuyên bố đã ‘bắn hạ 2 máy
bay trong vùng giao tranh … chúng ta đã hy sinh 2 tàu và số còn lại đều
an toàn … Tàu địch cũng bị gây hư hỏng.’ Thông điệp này thuật lại,

trong thực tế, các sự kiện của ngày 2, mà chính người cộng sản cũng

còn hoang mang.

Tuy vậy, McNamara bám vào đó khẳng định là cuộc tấn công mới vào
ngày 4 tháng 8. Cùng với ‘các báo cáo có bằng chứng mắt thấy’ hời hợt
từ các khu trục hạm, bộ trưởng quốc phòng cảm thấy tin tưởng là mình
hiểu đủ để cho phép tổng thống phát động cuộc không kích.
Lúc 6 p.m ngày 4 một phát ngôn viên Ngũ Giác Đài tuyên bố trước thế
giới ‘một cuộc tấn công thứ hai có tính toán’. Rusk bảo với các phụ tá tại
Bộ Ngoại giao phủi bụi bản thảo tháng 5 của Bundy về một nghị quyết
gửi quốc hội. Johnson hùng hổ quát McNamara: ‘Tôi không chỉ muốn
các thuyền ngư lôi đã tấn công Maddox này bị hủy diệt, mà còn mọi thứ
trong cảng đều phải bị hủy diệt … Tôi muốn cho chúng một liều lượng
đích thực.’ Bộ trưởng quốc phòng không làm gì để kìm nén cơn nóng
giận của tổng thống, chỉnh đốn sự hiểu lầm của mình, cho dù chứng cứ
sờ sờ để làm được việc ấy.
McNamara sử dụng tin tình báo đánh chặn một cách có tính toán. Cả lúc
đó và trong chứng cứ tiếp theo trước Quốc hội, bộ trưởng quốc phòng
chọn cách trước tiên là phớt lờ, sau đó là triệt tiêu, một khối lượng dữ
liệu cho thấy Miền Bắc đang bận bịu việc cứu chữa các thuyền bị hư hại,
và rành rành được lệnh không dính vào người Mỹ lần nữa. Những điều
cơ bản rất đơn giản về cái mà lịch sử gọi là Sự kiện Vịnh Bắc Bộ:
Maddox đang đi dọc bờ biển trên một sứ mạng liên kết rõ ràng
với OPLAN-34A. Biết các vụ đột kích ven biển được các biệt kích lặp đì
lặp lại đang xảy ra, không có gì ngạc nhiên khi Miền Bắc xiết chặt cò
súng. Quyết định tung pháo thuyền chống lại tàu chiến Mỹ là lệnh của
một sĩ quan cộng sản quá nhiệt huyết, mà sau đó nhiều sĩ quan cao cấp,
mặc dù trong đó không có Lê Duẩn và Lê Đức Thọ, lấy làm tiếc – và
sớm được biết tại Washington. Không có ‘cuộc tấn công thứ hai’ nào
xảy ra.
Tuy nhiên, McNamara nóng lòng muốn hành động. Tổng thống, tại một
thời điểm nguy ngập trong chiến dịch bầu cử, lo lắng không muốn tạo
kẻ hở nào cho Đảng Cộng Hoà kết tội mình là hèn yếu. Ông nhận được
lời ca tụng cho đáp trả nhanh chóng và cứng rắn của mình chống lại
cuộc tấn công vào lá cờ Hoa Kỳ. Sau đó, gần như là không sao tránh
khỏi, chính quyền Mỹ phải nói dối và nói dối lần nữa, để che giấu các

lỗi lầm và vi phạm các lừa dối liên tiếp để biện minh cho các vụ không
kích vào Miền Bắc. Tổng thống đình hoãn buổi nói chuyện trên truyền
hình quốc gia ngày 4 tháng 8 cho đến 11:36 p.m. giờ Đông, khi Đô đốc
Sharp bảo với ông rằng các phi cơ của Ticonderoga và Constellation đã
cất cánh. ‘Sự gây hấn của bọn khủng bố vào các làng mạc thanh bình
của Miền Nam,’ Johnson nói với nhân dân mình, ‘giờ đã được chấp
thêm sự gây hấn công khai trên biển cả … những hành động bạo lực
được lặp lại chống lại lực lượng vũ trang Hoa Kỳ phải được đương đầu
không chỉ bằng sự phòng thủ cảnh giác mà còn bằng đáp trả tích cực .. .
Chúng ta biết rõ, cho dù người khác có vẻ đã quên, những rủi ro khi mở
rộng xung đột. Chúng ta không tìm kiếm việc mở rộng chiến tranh.’
Lệnh của Tham mưu Trưởng Liên Quân đến hải quân bắt đầu: ‘Lúc
07:00 giờ địa phương tiến hành một nỗ lực tối đa một lần … với mục
đích bảo đảm tối đa đến mức cao sự hủy diệt mục tiêu.’ 64 lượt bay lên
xuất kích, phá hủy một số tàu thuyền Miền Bắc với tổn thất hai phi cơ
Mỹ. Một trong các phi công, trung úy Everett Alvarez, nói rằng ‘nó
giống như một giấc mơ’ khi thình lình thấy chính mình lao vào sứ mạng
tác chiến sau nhiều năm giả bộ. Cuộc khiêu vũ của anh với ảo tưởng
bỗng biến thành ác mộng: anh trải qua 8 năm tiếp theo trong một nhà tù
Miền Bắc.
Đáp ứng của tổng thống đối với Sự kiện Vịnh Bắc bộ phản ánh cơn
thịnh nộ của nhà nước, một cơn phát cáu khi một nước cộng hoà cộng
sản Á châu cà mèn dám thách đấu Hoa Kỳ. Chi tiết không thành vấn đề
với ông: vào buổi sáng 4 tháng 8 Johnson đã cho thấy ý định khai thác
‘vụ tấn công thứ hai’ được tình báo đánh chặn ức đoán để lấy được một
nghị quyết từ Quốc hội hậu thuẫn cuộc leo thang. Các cố vấn của
ông, và trên hết là McNamara, đã thất bại trong việc điều chỉnh các
thông tin sai lầm trước đó, hoặc xoa dịu vị tổng tư lệnh. Họ đã cho phép
ông nâng một vụ va chạm nhỏ trên biển, có thể dễ dàng bỏ qua như
không đáng kể, lên thành một bi kịch lớn.
Lý giải chắc chắn duy nhất là chính vị bộ trưởng quốc phòng cũng nóng
lòng muốn có hành động gây hấn để hợp lý hóa việc biểu dương ý chí và
năng lực. Vào đầu mùa hè đó Washington đã gửi một thông điệp cho Hà
Nội theo đường của phái đoàn ICC, cảnh báo Phạm Văn Đồng về ‘sự tàn
phá khủng khiếp’ nếu Miền Bắc tiếp tục nhúng tay vào Miền Nam. Sau

Sự kiện Vịnh Bắc bộ người Mỹ nhờ phái viên Canada nhắc lại cho Hà
Nội sẽ có thêm nhiều bom nữa sau những quả bom ngày 4 tháng 8. Để
trả lời Đồng ‘giận dữ’ nói, ‘Mỹ càng mở rộng chiến tranh, sẽ nhận lãnh
thảm bại cuối cùng càng lớn.’
Theo sau vụ xung đột Vịnh Bắc bộ, McNamara đưa ra lời nói dối quan
trọng trước Thượng viện: ‘Hải quân chúng ta tuyệt đối không có vai trò
nào trong, không liên hiệp với, không hay biết gì về các hoạt động ở
Miền Nam (trong cùng vùng hoạt động như Maddox), nếu có.’ Cái gọi là
Nghị quyết Vịnh Bắc bộ, theo sát với bản thảo của Bill Bundy, giờ được
đặt trước mặt Quốc hội. Nó trao quyền cho hành pháp ‘thi hành tất cả
biện pháp cần thiết nhằm đẩy lùi mọi cuộc tấn công vũ trang nào chống
các lực lượng Hoa Kỳ và ngăn cản hành động gây hấn xa hơn.’ Chỉ có
Thượng nghị sĩ Dân chủ Ernest Gruening và Wayne Morse bỏ phiếu
chống Nghị quyết 7 tháng tám, cung cấp thẩm quyền cho Hoa Kỳ lâm
chiến tại Đông Nam Á.

2 Diều Hâu Bay Lên

Lúc 13:30G ngày 5 tháng 8, uỷ ban quân sự Đảng Cộng Sản họp tại bộ
tổng tham mưu, được biết dưới tên ‘Sân Rồng’ vì có các rồng đá cặp hai
bên 9 bậc thang dẫn đến lối vào. Họ vừa bắt đầu duyệt lại biến cố 2
tháng 8 khi họ nghe tin Mỳ không kích bờ biển. Theo sau lần lượt là tin
2 máy bay bị bắn rơi và một phi công bị bắt, làm dấy lên không khí vui
mừng khiến buổi họp phải hoãn lại, cũng như các cáo buộc lẫn nhau về
vụ va chạm Vịnh Bắc bộ. Các cuộc không kích đầu tiên ngay lập tức
khích động các cuộc biểu tình trên đường phố Hà Nội – theo lời một nhà
ngoại giao Anh chứng kiến – ‘gần như tức thì, theo cách mà những sự
kiện như thế luôn xảy ra trong các xứ cộng sản’. Việc dội bom giúp cho
người Miền Bắc đoàn kết với nhau nhiều hơn là những lời hô hào tuyên
truyền. Một thiếu niên theo dõi từ làng mình khi phi cơ đánh phá các
kho xăng gần đó lúc đầu chỉ biết sốc và bối rối. Rồi, ‘tôi bắt đầu nhận ra
rằng cuộc sống những người trẻ như tôi sẽ sớm rẻ qua bước ngoặt, khi
chúng tôi sẽ phải chiến đấu cho độc lập và tự do của dân tộc mình.’ Bom
đạn không những không làm họ khiếp sợ, mà còn khiến họ tin dân tộc

mình là nạn nhân của hành động khủng bố không bị khiêu khích: anh
sau đó trở thành một sĩ quan phòng không.
Max Taylor có lần xét đoán rằng người Mỹ biết ít về giới lãnh đạo cộng
sản, và càng ít hơn về các tính toán của họ. Lãnh sự quán Anh ở Hà
Nội, chủ yếu có vai trò là trạm Công tác Tình báo, báo cáo với dự cảm
nổi bật là các loạt đánh bom đầu tiên này ‘sẽ không làm nhụt chí được
các lãnh đạo Miền Bắc. Họ cũng không thay đổi chí hướng. Đường xá sẽ
được tu bổ, cầu cống sẽ được thay thế bằng kết cấu tre nứa đơn giản
hơn, và nhà kho sẽ lại được chất đầy … không kích chỉ củng cố lòng
quyết tâm của họ.’ Bộ chính trị thật ra ít nao núng vì bị đánh bom hơn
phải nghe những lời bày tỏ đầy giận dữ từ Bắc Kinh và Moscow về vụ
tấn công Maddox. Hồ Chí Minh đang nghỉ hưu bán thời gian phải xuất
hiện trở lại, chủ toạ một phiên họp tại đó ông cật vấn nghiêm khắc, ‘Ai
ra lệnh?’ Giáp đòi kỷ luật những người có trách nhiệm, nhất là Thượng
tá Trần Quý Hai. Hai nói rằng trước khi ra lệnh cho pháo thuyền nghênh
chiến ông đã hội ý với một thành viên trong bộ chính trị; ông từ chối nói
tên đồng chí chịu trách nhiệm, nhưng mọi người đều nghĩ đó là Lê
Duẩn. Mặc dù Hai bị chính thức khiển trách, tham mưu trưởng Dũng
gạt bỏ chuyện hối tiếc hoặc đổ lỗi cho nhau, nhún vai, ‘Cho dù nếu
chúng ta không tấn công chúng, thì chúng cũng sẽ tấn công chúng ta. Đó
là bản chất của bọn đế quốc.’ Một sĩ quan Quân đội Nhân dân nổi tiếng
đào ngũ vào năm 1990 khẳng định rằng cuộc tấn công ngày 2 tháng 8
được Lê Duẩn ủy quyền, người đã từng chế giễu Giáp lo lắng không
muốn ăn thua đủ với người Mỹ, nói, ‘Hắn nhát như thỏ đế.’
Vì người Mỹ đã dựng lên vụ va chạm 4 tháng 8 nhằm biện minh cho
việc dội bom Miền Bắc, Hà Nội không thấy cần phải kiềm chế hành
động quân sự nhiều hơn nữa. Đây là nơi mà Washington phải trả giá cao
nhất cho các vụ không kích sau Sự kiện Vịnh Bắc bộ; bằng cách biến
mối hăm dọa đánh bom thành hiện thực, nó đã đánh xuống lá bài uy lực
đang giữ trong tay. Tiếp sau kỳ họp của trung ương Đảng ngày 25-29
tháng 9, Nguyễn Chí Thanh được bổ nhiệm làm bí thư Trung ương Cục
Miền Nam, và một lệnh được phát đi cho đội hình Quân đội Nhân dân
Việt Nam chính quy đầu tiên hãy chuẩn bị lên đường vào Nam. Các
thành phần của Sư đoàn 325 khởi hành vào tháng 11, sau thời gian hoãn

lại một phần do nhu cầu trần tình với Moscow và Bắc Kinh, một phần vì
thiếu trang thiết bị.
Trung Quốc, phấn khởi vì thử thành công một vũ khí hạt nhân vào ngày
16/10 gây gia tăng căng thẳng Đông-Tây, tăng viện trợ vũ khí một cách
ấn tượng. Quân đội Miền Bắc bắt đầu nhận được súng trường AK-47,
súng máy 7.62mm, súng cối 82mm, súng phóng lựu tên lửa đẩy và súng
không giật. Cho lực lượng phòng thủ, Bắc Kinh cung cấp 34 chiến đấu
cơ MIG-17, mà các phi công đã được tập huấn tại Trung Quốc trong hai
năm: các cố vấn Trung Quốc vẫn ở lại với đơn vị trong những đợt xuất
kích ban đầu. Tại Hà Nội, súng phòng không được triển khai trên các
mái nhà; phân nửa dân chúng được cắt đặt đào hố hào.
Vào chiều ngày 5 tháng 10 tại Bắc Kinh, Mao Trạch Đông và Chu Ân
Lai thảo luận về chiến tranh với một phái đoàn Hà Nội. Mao nói mình
tin rằng Johnson không muốn xâm lược Miền Bắc, nhưng ông chống đối
việc khiêu khích bừa bãi người Mỹ. Phạm Văn Đồng nhất trí, bảo với
các nhà lãnh đạo Trung Quốc, ‘Chúng tôi sẽ cố gắng hạn chế mức xung
đột trong phạm vi “chiến tranh đặc biệt” và đánh bại kẻ thù trong giới
hạn này.’ Tuy nhiên, ông nói thêm: ‘Nếu Mỹ dám đưa quân ra Bắc,
chúng tôi sẽ chiến đấu và sẽ chiến thắng.’ Họ thảo luận về các đàm phán
khả dĩ qua trung gian LHQ, mà tổng thư ký U Thant đã đề xuất. Mặc dù
Mao đổi ý vài tháng sau đó, chiều tối hôm đó ông nói: ‘Đàm phán cũng
không tệ. Các anh đã được lợi thế mặc cả. Nếu thỏa thuận thành công thì
là chuyện khác.’ Lê Duẩn đã lập tức đến Bắc Kinh sau Sự kiện Vịnh Bắc
bộ, để thông báo cho Mao ý định của mình gửi một sư đoàn chính quy đi
nam: giờ thì vị lãnh tụ Trung Quốc thúc giục ông cân nhắc thận trọng
thời điểm của việc triển khai này trước khi đội hình xuất phát.
Về phía Lyndon Johnson, trong những tháng theo sau bi kịch tháng 8, sự
lựa chọn vừa ý của ông vẫn là giữ thấp nhiệt độ ở Đông Nam Á cho đến
sau ngày bầu cử. Sẽ không đánh bom Miền Bắc nữa: tổng thống đã sử
dụng đường dây nóng để trấn an Moscow.
Xung đột Vịnh Bắc bộ và Nghị quyết chỉ xuất hiện lù lù trong lịch sử
khá lâu sau đó, khi các dối trá của hành pháp bị bóc trần. Giờ thì nước
Mỹ đang quan tâm và ấn tượng nhiều hơn với việc ban hành Đạo luật
Nhân quyền; Đạo luật Giao thông Công cộng bốn ngày sau; Đạo luật Trả
Lương Ngang Bằng và Đạo luật Chống Nghèo – đợt sóng đầu tiên của

đạo luật Xã hội Vĩ Đại. Johnson lấy làm tự hào một cách chính đáng
trong đề xuất 45 chủ điểm được thông qua tại phiên họp, thứ hai của
Quốc hội thứ 88 với một tỷ lệ vượt xa hơn nhiều so với dự tỉnh của

Kennedy.

Việt Nam cho thấy là một vấn đề nằm bên lề bầu cử. Tình trạng rối loạn
ở Sài Gòn đã trở thành điều kiện mặc định được chấp nhận của thành
phố. Vậy mà khi Tướng Nguyễn Khánh nắm quyền hành nhiều
hơn, ông gặp thách thức trên đường phố do các cuộc biểu tình của Phật
tử và sinh viên. Khánh khiến tình trạng tồi tệ hơn khi hứa hẹn sẽ bàn
luận các yêu sách của họ với Max Taylor, một thú nhận mình là thân
phận tay sai. Vào ngày 25 tháng 8 vị tướng được cho là đồng ý chia sẻ
quyền lực với hai nhân vật quân sự quen thuộc khác, Trần Thiện Khiêm
và Dương Văn Minh.
Rồi binh sĩ nổ súng vào đám đông chống đối, giết chết 6 người. Thủ đô
lại rơi vào cơn hỗn loạn mới, trong khi VC tiếp tục tạo ra lộn xộn trong

vùng quê.

Suốt mùa thu đó một dòng liên tục các tin tức xấu về cả khủng bố lẫn
đấu tranh chính trị đổ về.
Người Mỹ tin rằng nhóm biểu tình Phật tử là công cụ của cộng sản. Cựu
thông tin viên Anh Gavin Young có một cái nhìn nhiều sắc thái hơn.
Ông thấy Phật tử ‘là người tin cộng sản là dã man và hiểm ác, cũng như
họ xem việc Mỹ hóa xứ sở họ là làm hạ cấp nó. Lạ thay … Họ chỉ khao
khát cách thức tiến hành một cuộc chiến thành công hơn chống người
cộng sản. Vì họ tin rằng người Mỹ tài trợ cho các tướng lĩnh cai trị đất
nước chỉ biết có tham nhũng và bất tài. . . Còn họ mới là những người
quốc gia thuần tuý, tự hào về lịch sử và văn hoá của mình. Họ lo sợ và
ngờ vực các ảnh hưởng của ngoại bang dưới bất kì hình thức nào.’
Người Phật tử ắt hẳn là ngây thơ – nhưng không hơn các tướng lĩnh chủ
trì ở Sài Gòn.
Tại một cuộc họp ngày 9 tháng 9 tại Nhà Trắng Max Taylor nói, ‘Cuối
cùng chúng ta phải Bắc tiến vì chúng ta không thể để thua cuộc chiến
này.’ Johnson trả lời rằng phải có một chính quyền Sài Gòn ổn định
trước khi thử làm điều gì lớn lao ở đâu đó, có nghĩa là hoãn lại các quyết
định chiến lược lâu hơn nữa, khiến các thành viên trong Tổng tham.mưu
Liên quân phàn nàn. Tướng Greene của Thủy quân Lục chiến tố cá việc

tổng thống từ chối đem đại quân đến trước bầu cử là ‘một canh bạc
khủng’. Thay vào đó ông thúc giục hành pháp nên hậu thuẫn Khánh 100
phần trăm, tuyên bố thiết quân luật, đàn áp bạo loạn và biểu tình, ủy
quyền cho QDVNCH tấn công Đường Mòn Hồ Chí Minh ở Lào và Cao
Miên với sự yểm trợ của không lực Mỹ – và tấn công Bắc Việt để họ
ngưng viện trợ VC hoặc thiết lập cơ sở để mặc cả và rút các lực lượng
Mỹ. Vào tháng 9 MACV ước tính có đến 66,000 VC đã bị giết trong ba
năm vừa qua – nhưng nhìn nhận thậm chí đối với những người nuốt trôi
số thống kê này là có đến phân nửa dân Miền Nam giờ đang đóng thuế
cho cộng sản. Trưởng Phòng tin Hoa Kỳ Ev Bumgardner bảo với Frank
Scotton rằng vai trò ngắn ngủi của Nguyễn Khánh như một nhà lãnh đạo
chế độ đang đến hồi cáo chung: ‘Người Mỹ đang bu lấy ông, như
ruồi, và mặt trời của ông đang lặn.’ Bumgardner khuyên Scotton gặp Sư
đoàn trưởng Sư đoàn 5 Tướng Nguyễn Văn Thiệu, là nhân vật đang lên.
Scotton hỏi bày tỏ vẻ ngạc nhiên – chắc chắn Thiệu là võ sĩ hạng nhẹ.
Bumgardner cười lớn, ‘Có thể là hạng nhẹ, nhưng có thể nổi lên đến
tận đỉnh. Không ai thấy bị ông ta đe dọa, nhưng khi thấy được thì có thể
quá muộn.’ Đúng là như vậy, khi các vị lãnh đạo quân sự xào bài một
lần nữa, lần đầu tiên Tư lệnh phó Không quân 34 tuổi Nguyễn Cao Kỳ,
cũng với Nguyễn Văn Thiệu, lộ diện là các tay chơi quan trọng trong
cái gọi là Hội đồng Quân lực. Vào ngày 20 tháng 10 một chính quyền
dân sự được thông báo, dẫn đầu là Trần Văn Hương; tuy nhiên không ai
hy vọng chính quyền này trụ được lâu, và quả vậy.
Trong khi đó VC đánh tới tấp vào mọi thứ thuộc Mỹ và Chính quyền. So
sánh với những gì xảy ra sau đó, QĐVNCH tổn thất tương đối thấp –
không đến 6,000 người bị giết trong năm 1963 và không nhiều hơn trong
năm tiếp theo. Nhưng các diều hâu Washington hốt hoảng trước vụ tấn
công ngoạn mục vào ngày 31 tháng 10 trên đường băng B-57 tại Biên
Hòa, trong đó 8 người Mỹ bị giết, và Washington không tán thành một
vụ đánh bom giáng trả khác lên Miền Bắc. Vào ngày 1 tháng 11 Earle
Wheeler chính thức báo cáo với McNamara quan điểm của Tham mưu
Trưởng Liên Quân, rằng Hoa Kỳ nên hoặc tăng cường hành động quân
sự, hoặc rút quân.
Ngày hôm sau bộ trưởng quốc phòng mô tả tình hình là ‘nghiêm trọng…
nguy ngập ‘. Nhưng ông vẫn cảm thấy rằng giáng trả Miền Bắc, như các

Tham mưu trưởng đề xuất, ‘sẽ không mang lại thay đổi đáng kể nào
trong thái độ của VC ở Miền Nam.’ Ông khẳng định lại quan ngại của
mình làm như vậy Trung Cộng có thể bước vào, và nói rằng tổng thống
muốn hành động, ‘nhưng ông ta muốn bảo đảm chắc chắn trước khi làm
thế’. Hầu hết người Mỹ đi bầu vào sáng hôm sau đều tin chắc bằng cách
hậu thuẫn Johnson thay vì Barry Goldwater, họ sẽ bầu cho người thoát
khỏi cuộc leo thang chiến tranh Việt Nam: Ứng viên Dân chủ được hoan
hô nồng nhiệt khi ông bảo với đám đông mình sẽ không gửi ‘các chàng
trai Mỹ để chiến đấu một cuộc chiến mà các chàng trai Á châu phải tự

mình gánh vác.’

Vào ngày 3 tháng 11 cuộc bầu cử cuối cùng kết thúc. Johnson đạt được
thắng lợi long trời lở đất, tỉ lệ lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ. Sự ủy
thác lớn lao này mà nhân dân Mỹ trao cho dâng hiến cơ hội cuối cùng,
tốt nhất để ra lệnh rút quân khỏi Việt Nam. Vậy mà trong nhiều
tuần, bên trong nội bộ hành pháp người ta cho rằng tiếp theo thắng lợi
sẽ là leo thang. Chỉ một cuộc đầu hàng hiệu quả của Miền Bắc mới có
thể ngăn cản một cuộc tung quân. McGeorge Bundy, Robert McNamara
và những người còn lại mặc nhiên thừa nhận nếu kẻ thù tiếp tục không
khoan nhượng, y sẽ phải hứng chịu một sức mạnh tăng cường thích
đáng. Quyết tâm hỗ trợ nhân dân Miền Nam của Johnson dù thế nào
cũng được củng cố bởi chỉ số khảo sát đánh giá Louis Harris của ông
tăng lên sau cuộc không kích tháng 8. Tổng thống vận động Quốc hội
bằng sự khéo léo quen thuộc của mình. Trong khi các trọng tải chủ chốt
về chính sách đối ngoại – các Thượng nghị sĩ William Fulbright, Mike
Mansfield và Richard Russell – bản thân tỏ ra hoài nghi về chính sách
Việt Nam của hành pháp, Johnson thuyết phục họ hãy giữ kín mối hoài
nghi của mình chỉ đến khi các quyết định lớn đã thành lịch sử. Đây là
một khía cạnh bất thường của cuộc chiến, khi mà nhân dân và luật pháp
Mỹ thừa nhận mà không lưu ý nhiều vào một cam kết quá rộng lớn cho
một xứ sở xa xôi, bất chấp sự kiện là phần còn lại của thế giới, kể cả
Anh, Pháp, Nhật, Canada – gần như mọi nước dân chủ phát triển trừ Úc
– đều cho rằng chính sách Mỹ liều lĩnh điên rồ đến cùng cực.
George Ball, thứ trưởng của Rusk, trong những năm 1964-65 trở thành
đối thủ nội bộ hùng biện nhất của chủ trương leo thang. Ông bày tỏ quan
điểm của mình trong bản ghi nhớ dài 67 trang ngày 5 tháng 10 1964, chỉ

được tổng thống đọc 5 tháng sau đó. Lý do là vì McNamara, người nhận
trước tiên, xem thường tài liệu – theo lời Ball ‘như một con rắn độc …
chỉ đứng liền sau sự phản trắc’. Thứ trưởng lập luận rằng rút quân, còn
xa mới làm suy giảm uy thế Hoa Kỳ, vì tất cả đồng minh đều chống đối
chiến tranh. Thay vì tranh luận không dứt về các lựa chọn quân sự, ông
thúc giục, cũng năng lượng ấy tốt hơn nên dùng để triển khai tìm kiếm
một lối thoát chính trị. Ông thấy kỳ cục là khi ‘điều mà chúng ta độ
lượng gọi là chính quyền Sài Gòn đang tan rã, chúng ta lại phải đánh
bom Miền Bắc như một hình thức liệu pháp chính trị’.
Ball sau đó trở thành người bất đồng được cấp phép trong chính quyền,
được lắng nghe trân trọng thậm chí bởi tổng thống – nhưng không thay
đổi gì.
Tại sao có quá ít tranh luận? Người Mỹ đã không hề có nhiều ấn tượng
với với các quan điểm của người nước ngoài hoặc các tri thức Bờ biển
Đông nói về các vấn đề của họ. Vào những năm 1964-65 chủ nghĩa bảo
thủ của tầng lớp trung lưu Mỹ vẫn còn biểu lộ mong muốn tin cậy sự
lãnh đạo quốc gia, tin tưởng những gì tổng thống của họ nói, thậm chí
thuộc đảng đối lập. Lòng yêu nước giúp bóp nghẹt tranh cãi khi các
chàng trai Mỹ đã hy sinh. Mặc dù các báo New York Times và
Washington Post đã bắt đầu phê phán cuộc chiến, tương đối ít người lấy
tin từ các báo chí cấp tiến. Trong khi đó, lý do tiên phong cho tình trạng
thụ động của công chúng ắt hẳn là vì không ai nghe thấy tiếng súng nổ,
tiếng đạn pháo hoặc bom rơi trên lục địa của mình. Có sự khẩn
cấp, thậm chí sự tuyệt vọng, trong thái độ của người Việt đối với vấn
nạn của mình, vì họ đã góp phần xương máu mỗi ngày. Không có gì hằn
sâu vào tâm trí – không phải lúc nào cũng hợp lý nhưng chắc chắn là
rất mạnh mẽ – quá nhiều như cảnh tượng tàn phá và chết chóc trên
đường phố và ruộng đồng. Bộ máy hành pháp Johnson, ngược lại, có thể
đưa ra những quyết định miễn là, cho dù có hậu quả gì cho Đông Nam
Á, không thiệt hại vật chất nào rơi xuống lãnh thổ Hoa Kỳ. Trong những
năm 1964-65 tiền cược cao nhất có vẻ là những món tiền tương đối nhỏ,
cùng với những cái tôi của tổng thống và bộ sậu chung quanh ông, mà
họ khéo léo bọc lại trong lá cờ mà tiếng tăm cá nhân dường như, trong
thời kỳ đó, dính liền với uy tín toàn cầu của quốc gia. Nếu rác rưởi trên
đường phố Sài Gòn, nước mắt nông dân trên ruộng đồng đồng bằng Cửu

Long, đã nằm trên Đại lộ Pennsylvania hay rơi trên cánh đồng thuốc lá
Bắc Carolina, người Mỹ có thể đã biểu tình mạnh mẽ như các Phật tử
Miền Nam. Tiến trình sự kiện sau thắng lợi bầu cử của Lyndon Johnson
có thể sẽ rất khác.
Tổng thống lựa chọn cách từ chối lựa chọn, quả quyết rằng kết quả duy
nhất chấp nhận được là một thắng lợi quân sự mà người Miền Nam đang
rõ ràng thiếu thốn. Ngày 21 tháng 11 William Bundy đệ trình một bản
ghi nhớ đề nghị từng bước leo thang. Mười ngày sau Johnson chính
thức phát động Chiến dịch Barrel Roll – bí mật đánh bom Đường Mòn
Hồ Chí Minh nằm bên trong đất nước Lào trung lập. Việc này được coi
là an toàn về mặt chính trị, bởi vì tránh xa những cặp mắt soi mói, và
thật ra chỉ đến Giáng sinh mới rò rỉ. Tổng thống hỏi thẳng Taylor ở Sài
Gòn liệu ông có muốn bộ binh Mỹ không, và có thể đã bất mãn khi vị
đại sứ tiếp tục chống đối việc triển khai quân. Vào 1 tháng 12 1964, mặc
dù thế giới ngỡ rằng các quyết định trọng đại về Việt Nam còn nằm ở
tương lai, tranh luận nghiêm túc duy nhất trong bộ máy hành pháp chỉ là
về việc liệu phát động một chiến dịch không quân rầm rộ chống Miền
Bắc, gửi bộ binh, hoặc cả hai. Tổng thống tin rằng chiến đấu đến cùng,
gần như bất kể chi phí, là con đường quả cảm, con đường danh dự, con
đường duy nhất xứng đáng danh hiệu Người Đàn Ông của Năm do báo
Time trao tặng.
Từ tháng 12 trở đi VC tiến hành một loạt các cuộc tấn công phá hoại sát
Sài Gòn, và gần như một ngàn vụ khủng bố nhỏ trong vòng hai
tuần. Tại một cuộc họp các tham mưu trưởng Hoa Kỳ có Westmoreland
tham dự một vị tướng nổi sùng hỏi, ‘Tại Sao lính Miền Bắc có vẻ rất kỷ
luật còn binh sĩ Miền Nam có vẻ bát nháo vô kỷ luật?’ Ông trùm
MACV nói MTDTGP sở hữu một dàn lãnh đạo mạnh. Phải làm gì về
vấn đề các tướng lĩnh đấu đá nhau? Westmoreland cho rằng ‘người
Việt – ít nhất tại Sài Gòn – ngày càng cảm thấy họ có thể trông cậy vào
người Mỹ lo lắng cho mình về Việt Cộng, trong khi họ rảnh tay tranh
giành quyền lực chính trị.’
Đầu tháng 12 tổng thống chỉ thị cho Bộ Ngoại giao bắt đầu bắt đầu hối
thúc các đồng minh của Mỹ hợp tác trong chiến tranh, và ông không ý
nói là chỉ đem đến một tuyên giáo và một nữ y tá’. Khi William Bundy
gặp gỡ các đại sứ Úc và Tân Tây Lan, vị đại sứ thứ hai thú nhận sự thận

trọng của chính quyền mình. Vào ngày 7, trong các cuộc họp với vị thủ
tướng mới đảng Lao động của Anh, Johnson nhắm tìm kiếm sự hậu
thuẫn của Harold Wilson, nhấn mạnh rằng một ít binh sĩ trong quân
phục Anh … sẽ gây một tác dụng tâm lý và có ý nghĩa chính trị rất lớn.’
Nhưng Wilson tạm thời tránh né Johnson khi nói rằng các binh lính của
Nữ hoàng đang bận bịu khối việc ở châu Á giải quyết vụ gây hấn ở
Indonesia về phía Borneo và Mã Lai. Ông không được thông báo về các
kế hoạch leo thang của Mỹ vì rõ là chính quyền ông không muốn tham
gia về việc đó. Dean Rusk chua chát bảo với một nhà báo,Anh, ‘Nếu
người Nga có xâm lược Sussex, các anh đừng hy vọng chúng tôi đến
giải cứu. ‘
Vào ngày 20 tháng 12 giữa lúc Phật tử và sinh viên tiếp tục biểu tình
một cuộc đảo chính mới xảy ra tại Sài Gòn – Hội đồng Quân lực được
xáo trộn giờ do Khánh, Thiệu và Kỳ. Hành động này khiến Maxwell
Taylor và các tướng lĩnh nổi trận lôi đình. Họ được triệu tập tới sứ quán
để nghe lên lớp dông dài về thiệt hại mà hành động chính trị bừa bãi của
họ gây ra cho nỗ lực chiến tranh. Taylor khởi đầu bằng câu hỏi, ‘Tất cả
các ông đều biết tiếng Anh chứ?’ rồi nói tiếp, ‘Hiện giờ các ông làm rối
tung cả lên. Chúng tôi không thể cõng các ông mãi mãi nếu các ông cứ
làm những chuyện như thế này.’
Những lời sỉ nhục của Taylor làm các người Việt phẫn nộ. Kỳ sau này
viết: ‘Chúng tôi nhóm Young Turks biết rõ ràng quân đội là định chế
duy nhất có khả năng lãnh đạo đất nước. Chúng tôi đối mặt với thử thách
phải liên tục chịu sức ép của Hoa Kỳ buộc phải đưa vào nền lãnh đạo
dân sự.’
Tiếp theo các vụ đảo chính liên tiếp, các tin đồn về các mưu toan của
CIA, một số là có thật, trở thành nguyên liệu trong các cuộc tán gẫu của
Sài Gòn. Một sĩ quan trẻ viết: ‘Trong những năm tôi phục vụ trong
QĐVNCH, các sự kiện vào cuối năm 1964 gây cho tôi niềm tuyệt vọng
sâu xa nhất.’ Các giai điệu hành khúc phát trên đài Saigon trong thời
gian đảo chính trở thành trò cười cho dân chúng. Khi một người lính xin
một vài giờ phép về thăm nhà, trung đội trưởng của anh hỏi làm cách
nào anh biết mình cần đến trình diện lại cho nhiệm vụ. Anh lính trả lời
vui vẻ, ‘Trung úy đừng lo, khi nào em nghe trên đài trỗi dậy khúc quân
hành là em biết đến giờ trình diện.’ Thậm chí một số người Miền Nam

chống cộng quá khích cũng đến nước xem Sài Gòn là trung tâm của mọi
thứ họ căm ghét về sự bẩn thỉu và yếm thế của xã hội họ. Một tháng ở
thủ đô, một sĩ quan Không quân viết, ‘đủ để hủy hoại tâm hồn con
người, để thấy được chúng ta bị phản bội thế nào bởi một hậu phương
hai mặt được xây dựng trên máu và nước mắt của binh sĩ. . . Tôi ước gì
có một trận lũ lớn cuốn phăng tất cả… cái bẩn thỉu mà thủ đô chúng tôi
đã bôi bẩn trên bộ mặt bi thương của quê hương chúng tôi.’
Trong tháng 12 các cuộc tấn công phối hợp của Việt Cộng lên đến đỉnh
cao thành cuộc tấn công ngay đêm Noel tại Khách sạn Brink ở Sài
Gòn trong đó hai người Mỹ chết và 58 người bị thương. Vụ đánh bom
Brink xảy ra khi đại sứ Taylor đang đưa Bob Hope đến một khách sạn
khác chỉ cách đó vài khu phố, sau khi vị vua hài đặt chân xuống Sài Gòn
cho tua trình diễn Giáng sinh hàng năm. ‘Đây là cuộc tiếp đón nồng ấm
nhất mà tôi từng nhận được, ‘ Hope pha trò, nhưng các quan chức cao
cấp Mỹ thì nổi giận. Taylor thúc ép giáng trả bằng không kích xuống
Miền Bắc, và McGeorge Bundy cũng thế. Tổng thống còn ngần
ngại, nhưng một vài ngày sau người Mỹ nhận được một cú sốc mới khi
cộng sản tấn công một ngôi làng phía đông nam Sài Gòn, nơi một ngàn
giáo dân người Bắc di cư đến lập nghiệp một thập niên trước. Vào ngày
28 tháng 12 hai trung đoàn VC bằm nát binh lính QĐVNCH, rồi bắn 4
trực thăng Mỹ. Trong một trận phục kích vào ngày 31 họ gây 60 phần
trăm thương vong cho một tiểu đoàn TQLC Việt Nam, giết hầu hết các
sĩ quan của nó. Chỉ trong vòng một vài ngày Miền Nam đã mất 300
người. Vào năm mới 1965 Lyndon Johnson vẫn còn thể hiện sự dao
động về hướng đi tới. Sài Gòn đã sống chung với sự bất ổn chính trị. Có
khoảng 26,000 người Mỹ ở Việt Nam, phần đông là cố vấn. Nếu cần
củng cố nhiều hơn, Johnson ưu tiên gửi các lực lượng đặc biệt, Biệt
kích đại loại thế .
Điều mà phe diều hâu nhìn ra rõ ràng mà phe bồ câu không thấy là việc
theo đuổi giải pháp chính trị – việc trung lập hóa, một hội nghị Geneva
mới, đàm phán song phương với Hà Nội – có nghĩa là chấp nhận một lộ
trình chỉ có kết cục là một Việt Nam cộng sản thống nhất. Không lực
lượng chính trị hay quân sự ở Miền Nam sở hữu ý chí – phương tiện thì í
quan trọng hơn – đủ lâu để kháng cự lại những con người sắt đang cai trị
Miền Bắc. Và vì kết cục như thế đối với Robert McNamara, McGeorge

Bundy và trên hết tổng thống, là trái đắng, vì vậy việc mở rộng mạnh mẽ
chiến tranh Việt Nam về phần người Mỹ hóa ra không sao tránh khỏi.

CHƯƠNG 10 : ‘CHÚNG TA HOANG MANG KHÔNG
BIẾT TIẾN THOÁI THẾ NÀO’

1 Xuống Đường Mòn

Giới lãnh đạo Miền Bắc, cho rằng thắng lợi đang kề bên, bước vào 1964
trong tâm trạng phấn chấn dữ dội. Lê Duẩn viết cho bí thư Trung ương
Cục Miền Nam Nguyễn Chí Thanh: ‘Đây là thời khắc để nắm lấy thời cơ
của chúng ta.’ Tổng bí thư Hà Nội giờ hình dung một cuộc tổng nổi dậy
tại các thị trấn và thành phố Miền Nam. Sĩ quan Miền Bắc Đại tá
Nguyễn An hồ hởi viết về một làn sóng vùng dậy đang dâng cao quét
qua các vùng đồng bằng nông thôn và miền núi’. An là người đã chỉ huy
trung đoàn Việt Minh đánh chiếm đồi Eliane 2 tại Điện Biên Phủ vào
năm 1954. Mười năm sau, người cựu quân nhân tóc đã hoa râm này giờ
chỉ huy Sư đoàn 325, được dành để trở thành đội hình QĐND đầu tiên
vào nam. Ông bị bệnh trĩ hành hạ, và bảo với Sân Rồng, ‘Cho tôi một
tuần để tôi chữa lành bệnh.’ Ông được nghỉ phép lâu hơn: việc triển khai
được dời lại đến tháng 11 ‘vì yêu cầu của cuộc chiến đấu trên mặt trận
ngoại giao ‘.

An được cho biết là gạo nuôi quân đã dự trữ trong các kho bãi dọc
Đường Mòn Hồ Chí Minh. Một sĩ quan hậu cần động viên, ‘Gạo đã dự
trữ lâu rồi, đã có mọt, nhưng còn ăn được.’ Vị tướng bỏ ra hai tháng sau
đó trong bộ chỉ huy sư đoàn lợp tranh tại Đồng Hới, lao động cực lực
dưới cái nóng gay gắt để vét cho đủ số trang thiết bị cho sư đoàn. Mỗi
người được cấp phát một ba lô ‘con cóc’, võng, hai bộ quân phục ka
ki, và một ít tiền mặt Sài Gòn. Tuy nhiên, không có áo thun, và đối đầu
với cái giá rét của đêm ‘tình trạng thiếu thốn chăn đắp ảnh hưởng không
tốt đến sức khỏe và tinh thần bộ đội trên bước đường trường chinh’ ra
chiến trường.
Vào đầu tháng 11, An dẫn đầu đoàn tiền trạm 100 người xuôi nam. Đầu
tiên ông thấy gạo dự trữ tại các kho bãi dọc đường đều mốc và bốc mùi,
‘nhưng mùi vị không quá tệ’. Tuy nhiên, đường hành quân là một thiên
hùng ca, và sẽ mãi như thế đối với mọi bộ đội Miền Bắc cho đến cuối
cuộc chiến, khi xe tải gánh bớt phần nhọc nhằn. Một hôm họ lặn lội qua
một con sông rộng, rồi theo một con đường dọc bờ sông đi về hướng căn
cứ ‘1001 Ngọn Núi ‘, sườn núi cao đầu tiên trên đường từ đông sang tây.
Các đội tiên phong đã đẽo các bậc thang và định vị các chỗ bám giữ,
nhưng An than vãn là ‘dây thừng và cành cây dùng để nắm giữ đã mòn
nhẵn và trơn trượt vì có quá nhiều bàn tay nắm giữ trước đây. Tôi có thể
cảm thấy sức nặng của mỗi con ruồi đậu trên ba lô của mình.’ Có những
chỗ đường mòn quá hẹp đến nỗi chỉ chứa đủ người leo đi theo hàng một.
Khi Bảo Ninh, con trai một giảng viên, sau này trải nghiệm gian khổ
trên Đường Mòn, anh cảm thấy ghen tị với sức mạnh dẻo dai của đồng
đội nông dân của mình, và biết ơn khi họ thỉnh thoảng cất dùm anh gánh
nặng của một phần hành lí.
Khi An và đồng đội tiến lên, khẩu phần cạn dần. Mỗi người khởi đầu
nhận hai lon gạo hẫm mỗi ngày, sau rút lại còn một lon, trộn với sắn đã
mốc và có mùi, thêm một nhúm muối. Họ bắt đầu thèm thịt, rau dền
luộc, nước mắm, nước ngọt. Các anh nuôi lắc đầu khi họ vo gạo cũ
trong dòng suối và chỉ thấy nó biến thành bột, tan hết chỉ còn lại một
đám mọt. Cuối cùng mọi người phải ăn cháo trộn với rau rừng hái được.
An cảm thấy chua chát khi Hà Nội đã để tình trạng thiếu thốn này xảy ra
cho đội hình của ông trước khi lâm trận: ‘Nhìn những gương mặt xanh
xao, hốc hác của sĩ quan và binh sĩ, tôi bỗng thấy phiền não bèn ngồi

xuống viết một bức thư… để bộ chỉ huy tối cao có thể rút kinh nghiệm.’
Cuối cùng họ cũng đến được một trạm ngay sát Cao nguyên Trung phần
của Miền Nam, do một đại tá cùng học một khóa tiếng Nga như ông chỉ
huy. Chủ nhà đãi ông một bữa ăn có canh chua cá, khiến An phấn chấn,
‘Tôi đã dự nhiều tiệc chiêu đãi, nhưng chưa có tiệc nào ngon như thế!’
Đên tháng 12 họ đến tỉnh Kon Tum. An và bộ tham mưu hành quân đến
bộ chỉ huy mặt trận địa phương, tại đó họ tìm được dồi dào thức ăn, và
có thời giờ nghỉ ngơi trong khi đợi đại quân tới. Mỗi ngày họ nhận được
3 lon gạo; măng tre và khoai rừng; thỉnh thoảng binh sĩ bắt được cá.
Lệnh từ Hà Nội ban xuống: hai trung đoàn của Sư đoàn 325 phải chuyển
về phía nam, trong khi An ở lại Cao nguyên với trung đoàn thứ ba, như
chỉ huy phó mặt trận. Ông chỉ đạo một loạt các trận tấn công địa
phương giúp binh sĩ ‘nổi máu anh hùng’ trước trận đánh chủ yếu đầu
tiên vào thủ phủ quận. Kế hoạch cũng khai thác các chiến thuật cộng sản
quen thuộc: họ bao vây và pháo kích mục tiêu, sau khi đã phục kích sẵn
lực lượng tiếp viện QĐVNCH tiến đến từ Tân Cảnh. Sau cuộc trao đổi
hỏa lực dữ dội vào ban đêm kéo dài vài giờ, vẫn không thấy dấu hiệu
chuyển quân từ Tân Cảnh, vì thế An buộc lòng phải ra lệnh cho đặc
công tiến lên. ‘Chỉ huy của họ cuống quýt trả lời trên máy truyền tin:
‘Đồng chí! Đại đội trưởng Lương, sĩ quan điều hành Mô và tất cả sĩ
quan khác của Đại đội 9 đều đã hy sinh!’ An đáp lại, ‘Câm mồm và tấn
công.’ Điều cấp thiết là đặc công phải tiến lên, để giải toả áp lực cho các
bộ phận khác của trung đoàn, đang bị pháo kích nặng nề. Khi bình minh
lên binh lính ông chiến thắng, bộ chỉ huy quân sự quận đầu tiên của
Miền Nam đã rơi vào tay cộng quân.
Đường Mòn Hồ Chí Minh
Qua ba ngày đêm tiếp theo, đói và nóng ruột, họ phục kích đạo quân tiếp
viện của QĐVNCH. Cuối cùng quân Miền Nam ép vị đại tá Hà Nội
bằng cách liều lĩnh dấn tới dọc theo con đường vào tận vị trí của ông –
và bị nghiền nát. Sau đó, sư đoàn 325 đánh chiếm một loạt các ấp chiến
lược mà không tốn một viên đạn, và nhanh chóng chiếm Dakto. Một
buổi khao quân diễn ra mà tâm điểm là một chú cọp vừa bị hai bộ đội hạ
gục. ‘Thịt hổ thật là ngon,’ Vị đại tá viết, trong hồi ký đầy ắp những
món ăn. Khi Sài Gòn bắt đầu đáp trả sự hiện diện của quân đội Bắc

Việt, họ rút lui vào rừng, đem theo chiến lợi phẩm quý giá nhất là hai
khẩu bích kích pháo 105mm được tháo rời.
Trong những tuần đầu của năm 1965 VC tăng cường mức độ tấn công
trên khắp Miền Nam. Trong một thời gian Lê Duẩn ghim hy vọng vào
triển vọng cú đảo chính chính trị do một đặc vụ cộng sản ‘ngủ’, Đại tá
Miền Nam Phạm Ngọc Thảo, lên kế hoạch. Khi một cán bộ cao cấp
Miền Bắc đã đi xuống Đường Mòn và đến Trung ương Cục Miền
Nam, các sĩ quan tham mưu hớn hở bảo ông hãy nhanh chân lên, ‘vì
nếu chúng ta không đưa người xuống nhanh có thể sẽ hóa ra muộn màng
‘ – chế độ Sài Gòn sẽ đã sụp đổ. Giấy bạc cộng sản mới đã in xong và
chở đến Miền Nam trong những thùng ghi nhãn ‘Hàng hóa 65’.
Mặc dù cú đảo chính của Phạm Ngọc Thảo thất bại, buộc vị đại tá phải
đào tẩu và bị ám sát trong những tình huống bí ẩn, tình trạng khủng bố
vẫn tăng cao. Ở Cao nguyên, chẳng hạn, hai công nhân chống sốt rét
phun thuốc diệt muỗi DDT bị bắt và bị đưa ra xét xử trước ‘tòa án nhân
dân’. Bị kết tội ‘làm gián điệp cho Mỹ Ngụy’, họ bị hành quyết bằng mã
tấu. Hai y tá lo việc tiêm chủng trong chương trình ngừa dịch tả, một
người có bầu, bị bắt và bị kết tội ‘làm việc nhân danh đế quốc Mỹ và là
công cụ tuyên truyền’. Cô có bầu được tha, nhưng người đồng nghiệp
nam bị chém chết trước mắt cô. Gia đình các binh sĩ và dân quân Miền
Nam cũng hứng chịu hậu quả: VC bắt cóc vợ và đứa con một trung sĩ
Địa phương quân đặc biệt năng nổ. Khi anh khước từ đề nghị của họ
phải quay về theo phe họ, du kích cắt họng đứa con. Trong cuộc chiến
không khoan nhượng này, tra tấn và giết người tuỳ tiện là chuyện
thường ngày. Một sĩ quan Miền Nam viết: ‘Tình hình quá phức tạp đến
người Việt cũng không thể hiểu nỗi.’ Sau khi một cô gái nông thôn tên
Phùng thị Lệ Lý bị hãm hiếp, đánh đập và lạm dụng bởi cả hai bên, trở
thành một người bị xóm làng ruồng bỏ với một hài nhi phải dưỡng
nuôi, cô phải kiếm từng đồng bạc bằng cách bán hàng và bán thân mình
cho người Mỹ. Rất lâu sau đó cô kể lại nỗi thống khổ của đời mình cho
độc giả nước ngoài: ‘Bạn không biết để sống còn là gian khổ đến thế

nào.’

Nền nếp gia đình truyền thống căng thẳng đến giới hạn, và đôi khi bị
vượt qua. Một thành viên nữ của MTDTGP là con gái duy nhất của
người cha lâm bệnh còn mẹ thì đã qua đời. Bà thấy khó lòng chu toàn


Click to View FlipBook Version