The words you are searching are inside this book. To get more targeted content, please make full-text search by clicking here.

VIỆT NAM THIÊN SỬ BI HÙNG 1945-1975
Max Hastings
Trần Quang Nghĩa dịch

Discover the best professional documents and content resources in AnyFlip Document Base.
Search
Published by fireant26, 2022-11-04 00:35:46

VIỆT NAM THIÊN SỬ BI HÙNG 1945-1975 Max Hastings Trần Quang Nghĩa dịch

VIỆT NAM THIÊN SỬ BI HÙNG 1945-1975
Max Hastings
Trần Quang Nghĩa dịch

lầm, lẽ ra phải châm thêm đều đặn những thay thế cá nhân. Lực lượng
đặc nhiệm 7 của Úc ghi chép lại chuyến viếng thăm của Trung tướng
Julian Ewell, người chỉ trích ‘lối tuần tra cần mẫn của đơn vị … Ông
nhấn mạnh tầm quan trọng của số thống kê và đếm xác. Không khí của
buổi thảo luận của ông với giới chỉ huy tiểu đoàn Úc rất lạnh nhạt và bất
hoà đến mức không chịu được. Chuyến viếng thăm của ông sẽ không
được nhớ đến với niềm tôn trọng hoặc cảm tình.’ Người Úc tin rằng
Ewell không quen với tranh luận thẳng thắn, cởi mở: thay vào đó ông
chỉ nhắm đến sự tuân phục không thắc mắc như cách quốc gia họ không
hề tán thành, ít nhất là trên chiến trường.
Các thành tích của người Úc không đạt được bằng sự phô trương dũng
khí tự sát, mà bởi các chỉ huy trẻ biết chọn lựa thời cơ. Giữa một trận
thư hùng trước một hệ thống boongke của VC, chỉ huy đoàn tuần tra của
lực lượng đặc nhiệm Úc Andrew Freemantle đưa ra quyết định: ‘Tôi
nghĩ – nếu chúng tôi đứng lên và tiến tới, xung phong liều chết, sẽ có
nhiều người thiệt mạng, và điều này có đáng không?’ Thay vào đó anh
ra lệnh rút quân. Đêm đó, một binh sĩ của anh bước vào phòng anh và
nói, ‘Xếp, em nghĩ xếp phải cảm thấy rất tệ về những gì xếp đã làm. Tụi
em muốn xếp biết rằng tụi em thực sự biết ơn. Tụi em giờ này chắc
không còn ở đây nếu xếp không làm như vậy.’ Viên sĩ quan trẻ thấy lòng
được an ủi, nhưng đây là quyết định chiến thuật khiến một số tướng Mỹ
ngờ vực người Úc là nhát gan.
Vào tháng giêng 1967 Chuẩn tướng Stuart Graham ít được yêu quý
chuyển trọng tâm từ chiến thuật thận trọng bao vây-và-tìm sang chiến
thuật hung hăng hơn tìm-và-diệt, gây tổn thất thương vong tăng vọt.
Quân địch dễ dàng tránh né các trận càn quét tìm-và-diệt, như họ đã làm
trong Chiến dịch Paddington tháng 7 1967, một nỗ lực bởi 9 tiểu đoàn
Mỹ, Úc và Việt nhằm gài bẫy một trung đoàn VC. Mùa xuân sau, một
chiến dịch lớn khác Pinnaroo, thành công trong việc hủy diệt các hệ
thống boongke và tịch thu vũ khí, nhưng người Úc thiệt hại nặng nề vì
mìn bẫy. Đạo quân của họ thiếu lực lượng để có thể quét sạch Khu Căn
cứ Địa Minh Đạm trong vùng đồi Long Hải, khiến nó vẫn là khu cứ địa
của VC cho đến hết chiến tranh.
Một người Úc mô tả một cuộc hành quân bằng những lời lẽ bất cứ binh
sĩ Mỹ nào cũng nghe quen thuộc: ‘Luôn luôn là cùng một cuộc tuần tra

kiệt sức và ảm đạm, mang trên vai ba lô nặng chịch đi trên những đường
mòn cỏ gai, làm rơi nón hàng 50 lần, lạc mất số đếm bước, không bao
giờ có đủ thời gian để pha trà, tiếp tục tìm kiếm những nơi các thần linh
Bộ binh cho là những vùng “hứng thú”, và bị giẫm đạp trong cuộc lặn
lội qua suối qua đầm 24 giờ một ngày.’
Câu trả lời định mệnh của Chuẩn tướng Graham cho việc thiếu hụt binh
sĩ là tận dụng công nghệ để chia tách kẻ địch khỏi dân chúng và lương
thực của họ: một rào cản, dài 8 dặm, chạy dài từ vùng đồi xuống bờ
biển. Trong khoảng cách 100 ya giữa hai hàng rào kẽm gai song
song, các kỹ sư đặt 22,000 mìn. Graham ra lệnh cho người Úc tuần tra
một bên, trong khi binh sĩ Miền Nam xử lý bên kia. Trong một vài tháng
việc này cho thấy có hiệu quả: một số đơn vị VC, bị cắt đứt khỏi nguồn
lương thực, phải ăn đến củ rễ và lá rừng. Nhưng rồi họ quan sát thấy bãi
mìn được giám sát bất cẩn.
Du kích quân mò vào, và bằng sự khéo léo quen thuộc của mình lấy đi
hàng ngàn mìn, rồi gài lại nơi khác. Trong các năm sau đó, Liên quân
Úc-Tân Tây Lan chịu đựng nhiều tổn thất – một trong mười mọi thương
vong – từ các quả mìn này. Chỉ một tiểu đoàn đã dính đến 64 sự cố mìn,
48 trong số đó gây bởi khí tài của chính mình trong tay địch. Họ gặp
thêm vấn đề khi nhận ra sự thất bại của bãi mìn, và tìm cách dẹp bỏ nó:
xe tăng và kỹ sư thiệt hại quá nặng nề đến nỗi họ phải bỏ cuộc. Thảm
họa đáng sợ này trở thành tít lớn như một xì căng đan trong giới truyền
thông trong nước. Các chính trị gia chống đối tố cáo việc này là ‘một
minh họa bi thảm của sự hoang phí và vô vọng của việc Úc tham chiến ‘.
‘Đúng là nơi buồn cười, Việt Nam đó,’ Trung uý Rob Franklin trầm
ngâm. ‘Trong Thế chiến I, bạn đi tới và bạn biết kẻ thù đang ở đó.
Nhưng trong rừng rậm bạn không hề biết chúng ở đâu. Bạn có thể đi
hàng tuần liền mà không nghe một tiếng súng. Vô cùng khó khăn để có
thể lúc nào cũng cảnh giác cao độ. Rồi thình lình, địa ngục đổ sụp
xuống.’ Gần như ngay ngày đầu tiên của Franklin, một sứ mạng hoả lực
trục trặc suýt gây ra thảm họa: súng cối 82mm mà anh có trách nhiệm
khai hỏa nổ xuống khu vực chỉ cách đại đội Tân Tây Lan phối hợp với
tiểu đoàn anh trong vòng 15 ya. Vị trung uý cảm thấy mình già hơn 10
tuổi sau khi biết được lỗi lầm kinh khủng của mình. Anh nghĩ: ‘Tôi
không tin là mình có thể đối mặt với việc này.’ Sau một đêm trăn

trở, đầu gối anh như khuỵu xuống khi được lệnh phải báo cáo với đại
đội trưởng Tân Tây Lan. ‘Nhưng ông ấy thật tuyệt, chỉ nói: “Hãy thận
trọng.”‘ Và từ đó về sau, Franklin không dám sơ ý.
Mặc dù tiểu đoàn của anh đã chuẩn bị kĩ càng trước khi rời căn cứ
Townsville trong nước, nhưng trong rừng rậm Miền Nam họ thay đổi
chiến thuật. ‘Khi huấn luyện, nếu bạn gặp hoả lực súng máy nhảy sang
phải, súng trường nhảy tót sang trái. Nhưng sau vài lần chạm trán chúng
tôi xử lý hoàn toàn khác: triển khai bình sĩ trên một chiến tuyến rộng
như có thể, với tất cả ba trung đội súng máy nhả đạn mỗi súng 100 viên
đạn nhanh như có thể để dập tắt hỏa lực. Bạn học cách cắm quân vào bụi
cây rậm rạp nhất có thể tìm được. Bạn càng ngày càng lanh lợi hơn, gan
lì hơn.’ Có một số người xông xáo hơn: một pháo binh súng cối của
Franklin xin được chuyển về trung đội súng trường vì anh muốn nhiều
pha hành động hơn. Anh nhanh chóng tử trận trong một cuộc chạm
trán, bỏ lại người bạn gái mang bầu.
Mặc dù có tình trạng căng thẳng truyền thống giữa nước Úc to lớn, xấc
xược và nước Tân Tây Lan khiêm tốn trên vùng biển giữahai nước, trên
chiến trường binh sĩ của hai quốc gia cùng theo đuổi một chính
nghĩa, như họ luôn thế. Quân địch được cho là đặc biệt sợ các binh sĩ
người Maori, thổ dân Tân Tây Lan, mà họ tin là dân ăn thịt người.
Các đơn vị Úc chứa nhiều sĩ quan và hạ sĩ quan chuyên nghiệp đã từng
phục vụ trong Thế Chiến II, Triều Tiên hoặc Mã Lai. Cũng có một số
người nước ngoài, trong số đó có cựu binh Anh như Andrew
Freemantle. Anh trải qua 3 năm với lực lượng đặc nhiệm Úc, một năm ở
Việt Nam. Anh yêu thích nó – ‘một môi trường thực sự hào hứng cho
một người chuyên nghiệp’. Anh đặc biệt tôn trọng kẻ địch, nhất là sau
khi vô tình phát hiện một trong nhiều hệ thống địa đạo của họ. ‘Chúng
tôi ngồi xuống lắng nghe, luôn là một điều tốt đẹp để làm trong một
chuyến tuần tra, và rồi chúng tôi phát hiện ống thông hơi ló ra. Chúng
tôi bỏ một quả lựu đạn khói xuống, lấy nón đậy ống lại, và một vài phút
sau thấy các lọn khói thoát ra khỏi một bụi cây gần đó. Anh và một đồng
đội bước xuống cửa hầm và thám sát: may thay địa đạo không có người
ở, nhưng đường hầm chạy dài 500 ya. Freemantle nghĩ: ‘Ôi trời, ai có
thể làm được chuyện này chẳng phải là tay vừa.’ Phải mất đến hai tấn
thuốc nổ C4 mới phá hủy được phức hợp.

Trong những ngày cuối của cuộc chiến đạo quân Úc cũng gặp một số
vấn đề về kỷ luật như người Mỹ, mặc dù bị khích động do rượu hơn là
do lạm dụng ma túy. Binh lính mỗi ngày chỉ được uống chính thức 2 lon
bia, nhưng vì quyền lợi này được tích lũy, sau cuộc hành quân kéo dài
20 ngày họ được phép uống 40 lon bia. Một trong số tương đối ít tòa án
binh Úc là phiên tòa xét xử một trung uý đánh một binh nhì bằng khẩu
súng lục trong một cuộc tranh cãi vì bia. Vào ngày Giáng sinh 1970 một
binh nhì say xỉn xả hết đạn vào đám trung sĩ hỗn loạn ở Núi Đất, giết
chết hai người và làm bị thương nặng người thứ ba. Các vụ ném lựu đạn
trước đây đã giết chết 2 sĩ quan. Gần như lập tức sau khi Neil Smith đến
anh ngủ với một người bạn trong một căn lều kế cận căn lều của Trung
uý Bob Convery. Một tiếng nổ như sấm làm hai người mới đến phải nằm
sắp xuống đất, tưởng rằng bị pháo kích súng cối. Khi không nghe tiếng
nổ tiếp theo, họ chồm đây đi xem xét, thì phát hiện một binh sĩ uất ức
đã bỏ một quả lựu đạn lên giường của Convery, giết chết ông ngay lập
tức. Việc ném lựu đạn trong quân đội Úc cũng có xảy ra nhưng là một
vấn đề ít nghiêm trọng hơn nhiều so với Mỹ.
Trở lại quê nhà Úc, bạo lực của nhiệt tình phản chiến dâng cao. Sau khi
một lính bộ binh bị giết, những kẻ phản chiến gọi điện cho cha mẹ anh,
nói, ‘Y chết là đáng.’ Cuối năm 1970, bộ binh Úc rút quân khỏi một
chiến dịch trong vùng núi Long Hải sau khi chịu nhiều tổn thất do mìn,
và do tình hình nhạy cảm trong nước đã lên cao độ. Khi một đơn vị
chuẩn bị trở về Úc vào cuối năm đó, Chỉ huy dặn dò các sĩ quan: ‘Hãy
theo sát binh sĩ. Tôi không muốn binh sĩ nào của chúng ta ra tay với đám
dân chúng chế giễu họ.’
Một trong những quân nhân của ông nói rằng khi họ trở về nhà và chứng
kiến cơn phẫn nộ của nhóm vận động phản chiến, ‘Chúng tôi vô cùng
sửng sốt. Chúng tôi nghĩ mình làm đúng khi đã ra đi, đúng khi làm
những gì đã làm.’ Vào năm 1972, một trong những cương lĩnh của chiến
dịch tranh cử thành công của lãnh tụ đảng Lao động Úc Gough Whitlam
là kết thúc việc gọi nghĩa vụ, rút quân khỏi Việt Nam: những người lính
Úc và Tân Tây Lan cuối cùng thực sự ra khỏi vào cuối năm. Xét
chung, có 60,000 người Úc phục vụ tại Việt Nam, trong đó có 521
người thiệt mạng; 37 trong tổng số 3,890 người Tân Tây Lan cũng ngã
xuống.

Tuy vậy, tác giả Úc Peter Edwards bào chữa cho chính quyền 1965 của
đất nước ông: ‘Việt Nam không phải là trường hợp tiến hành “cuộc
chiến của dân tộc khác”; mà trong tâm trí Menzies và các cố vấn chính
của ông, đó là tình huống được Hoa Kỳ tham chiến cho an ninh của
nước Úc.’ Ông bổ sung một hệ luận, rằng vị trí chiến lược của Úc, Thái
Lan, Mã Lai, Indonesia đối với mối đe dọa cộng sản vào năm 1975
mạnh hơn nhiều so với một thập kỷ trước đó. Trong tâm trí một số
người có suy nghĩ của các xứ sở này, nỗ lực chiến tranh của đồng minh
đã đóng góp quan trọng cho các thực thể chính trị đó bền vững hơn. Lý
Quang Diệu của Singapore thường bảo với người Mỹ: ‘Nếu các ông
không chiến đấu, chúng tôi đã mất từ lâu. ‘
Liên quân Úc-Tân Tây Lan thi triển với sự tài tình ở Việt Nam, nhưng
sẽ là sai lầm khi cho rằng, như một số người ngưỡng mộ họ, kết cuc
cuộc chiến có thể đã khác nếu mọi người khác hoạt động như họ. Kẻ
địch vẫn duy trì sự hiện diện vũ trang năng nổ trong vùng Úc hoạt động
như ở mọi nơi khác, cho dù phải đổ máu để được đặc quyền đó. Hơn
nữa, trong số các chủ đề của quyển sách này là việc thách thức hàng đầu
cho đồng minh không phải là đánh thắng các trận đánh, mà là liên hiệp
được với một trật tự xã hội và chính trị Việt Nam đáng tin cậy. Bác sĩ
Norman Wyndham, một nhà giải phẫu Úc 60 tuổi cầm đầu một đội y tế
tình nguyện tại bệnh viện Vũng Tàu, là một con chiên sùng đạo, tự học
nói lưu loát tiếng Việt. Ông viết vào năm 1967 về người dân bản xứ:
‘Phần đông đều muốn một Việt Nam thống nhất, nhưng không phải do
người cộng sản kiểm soát … Người ta càng cảm nhận mạnh mẽ … rằng
mọi thứ đều sẽ tốt hơn cuộc sống hiện giờ.’ Hai năm sau, thứ tình cảm
như thế đã vững mạnh trên khắp Miền Nam.

3 Các Thần Lính
Trong con mắt của lịch sử, và chắc chắn của Hollywood, cuộc chiến
được xác định bởi trực thăng Huey. Dĩ nhiên cũng có Sea Knights và
Jolly Green Giants, Chinooks, ‘Chuối Bay’ … và nhiều thứ khác, nhưng
trực thăng Huey là hình ảnh lấn át. Đây là một trong những máy bay vĩ
đại của mọi thời, do công ty Bell phát triển vào thập niên 1950 là chiếc
Iroquois, được thiết kế đầu tiên là HU-1, rồi UH-1. Nó trở thành một
biểu tượng của sức mạnh tuyệt vời và vô địch của Hoa Kỳ, rồi sau đó

cũng là biểu tượng của sự yếu kém đi. Chiếc D, thông dụng nhất của các
biến thể liên tiếp, là một quái vật 4 tấn bay đầu tiên ở Việt Nam vào năm
1963, động cơ đẩy là động cơ Lycoming với tốc độ tối đa 130 dặm/giờ.
Khi nhận vai trò vận chuyển, nó mang được 9 binh sĩ vũ trang đầy đủ;
trong sứ mạng tản thương chở được 6 cáng; khi tác chiến, phối hợp
nhiều rốc kết, súng nhỏ và các vũ khí tự động khác. 16,000 chiếc cuối
cùng được chế tạo, và trong các thời kỳ tồi tệ, mỗi năm 1,000 chiếc bị
hỏa lực địch bắn rơi, hỏng hóc hoặc lỗi phi công. Thậm chí những người
không ưa chiến tranh cũng yêu thích Huey; không khí lạnh thuần khiết
thổi thốc vào khi họ ngồi tại cánh cửa mở rộng với giày ống đặt trên
rãnh trượt và một cánh tay lơ đãng choàng quanh cột chống, nhìn xuống
Đông Nam Á theo cách tốt nhất có thể – với tất cả màu đỏ, màu nâu mờ
đục và màu xanh lá cây rực rỡ từ một độ cao hai ngàn bộ, mà it khi buồn
thắt dây an toàn.
Cố vấn Mỹ Trung uý Brian Walrath viết: ‘Ngồi trên nền cứng của trực
thăng, chúng ta bị tràn ngập tiếng ồn. Tiếng động cơ phía sau, tiếng hộp
số rên rỉ khi nó chuyển năng lượng từ động cơ đến các cánh quạt chính
và quạt đuôi, cánh quạt quay lạch bạch và gió huýt sáo qua tai bạn.
Chúng ta đặt sinh mạng trong tay các phi công, không có khả năng tự vệ
với một kẻ địch muốn nhắm bắn chúng ta ngồi trong một vỏ nhôm
mỏng. Bên dưới tấm chăn ghép bằng những mảnh ruộng và cánh đồng
hình dáng khác nhau lướt qua, chẳng mấy chốc nhường chỗ cho vòm lá
rậm rạp khi chúng tôi hướng về tây ra phía vùng núi.’
Những người dưới đất nhìn lên máy bay như những thuật sĩ, đôi khi như
những vị cứu tinh. Trung uý Mel Stephens của Hải quân Mỹ không bao
giờ quên được trải nghiệm một chuyến tản thương đêm từ các xuồng tấn
công ven bờ sông trên đó anh đang bị thương, lòng anh trỗi lên một
niềm khâm phục và biết ơn đối với phi hành đoàn đến cứu nạn anh:
‘Những phi công đó đối với chúng tôi dường như là các thần linh.’ Ấn
tượng này càng tăng lên bởi tính phi cá tính và các đặc điểm nhận dạng
được che giấu dưới cặp kính mát của các phi công. ‘Tôi chưa hề nhìn
thấy ánh mắt phi công,’ Brian Walrath nói, vốn chỉ thấy phần lưng trên
của phi công từ khoang hành lý, nhô ra phía trên ghế ngồi góc cạnh bọc
sắt màu xanh lá, bàn tay mang bao tay bấm nút và đẩy tới lui thanh điều
khiển.

Hầu hết phi công đều là những người trẻ hăm hở, khéo léo, gan lì, dĩ
nhiên không quan tâm đến sinh mạng mình như sinh mạng những người
khác. Hạ sĩ Úc Roy Savage có lần đứng trên đường trượt của một chiếc
Huey, vừa kéo xong một đồng đội cuối cùng của tiểu đội mình lên trực
thăng, thì bất ngờ nó bay vọt lên trời. Khiếp đảm khi mặt đất lùi xa bên
dưới, anh thấy tấm áo lưới của mình bị giật mạnh bởi một xạ thủ da màu
to con kéo anh trở lại vào khoang hành lí. Chàng phi công ngoái đầu
qua vai, hét lên vui vẻ, ‘Suýt chút nữa bỏ lại anh rồi nhé!’
Một phi công Huey ở đây phải làm nhiệm vụ cho hàng ngàn
người. Dan Hickman thoạt đầu lái trực thăng khi mới 20 tuổi vào năm
1967, và yêu chúng mãi mãi sau đó. Anh xuất thân từ một nông trại
thuốc lá ở Bắc Carolina ‘nơi cha tôi đẩy tôi vào trường biệt kích’. Vào
ngày đầu tại Đồn Walters, Texas, vị đại tá chỉ huy nói với 200 khóa
sinh: ‘Nửa số các anh sẽ bị loại ra. Một trụ lại đây. 99 người khác sẽ đến
Việt Nam.’ Họ trải 5 tháng tại Walters, và 120 giờ mỗi người với các
huấn luyện viên chiếc Hughe nhỏ trước khi chuyển đến Savannah và
chiếc Huey 1,300 mã lực. Hickman nói: ‘Nó lớn và mạnh, trông đồ sộ
so với Hughes – nó thật khủng khiếp. Học lái trực thăng giống như học
cưỡi xe đạp: có giai đoạn nghiêng ngả, rồi thình lình vô khớp.’ Anh trải
qua bốn tháng ở Savannah trước khí dự khóa chiến thuật kéo dài một
tháng đưa anh vào một mạng chết chóc gồm các vũ khí trên trực thăng.
Suốt khóa học, anh cứ nơm nớp cuộc chiến Việt Nam sẽ chấm dứt trước
khi anh đến đó. Tất nhiên, nó chưa kết thúc. Hickman đến vào tháng 9
1968 và được cử đến Dĩ An, gần Tây Ninh. Anh phấn khởi khi được ở
giữa những người hiểu rõ việc họ làm, nhưng hơi choáng vì đột ngột bị
đẩy vào tác chiến. Một chỉ huy phi hành nói: ‘Anh có thể ngủ trên
giường ở đây. Anh có muốn lãnh sứ mạng ngày mai không?’ Vâng,
anh.muốn. ‘Vậy anh có thể phụ bay trên một trực thăng giải cứu Cobra.’
Sáng hôm sau khi anh bước ra đường bay với các đồng đội mới, anh
nghe người này hỏi người kia, ‘Hôm qua giết được mấy tên?’ ‘Vâng, ba
tên.’ Hickman nghĩ: ‘Các anh này điên rồi.’
Sau đó, anh đôi khi bay 13 giờ một ngày: ‘Bạn luôn luôn bị quá tải, và
đáp xuống luôn là vấn đề bởi vì trong vài bộ cuối cùng bụi bốc một lớp
nâu vàng che mất mặt đất. Bạn phải nhìn miếng kính chịu lực dưới giày
bốt cho đến khi một lỗ xuất hiện.’ Trong lực lượng kỵ binh ở đó có 10

trực thăng giám sát nhẹ OH-6 trang bị súng nhỏ; 6 trực thăng binh vận
cửa lắp súng máy MM-60 phun ra 550 viên đạn mỗi phút; 10 Cobra tấn
công; 1 trung đội bộ binh không vận. Họ bay hoặc ở độ cao 1,500 bộ
hoặc sát mặt đất, quét vòm lá và nhảy qua mái nhà. ‘Chúng tôi sống
bằng phản xạ của mình – tôi không sử dụng bất cứ loại thuốc nào. Một
thùng xăng phản lực J-4 giữ cho chiếc Huey bay được trong vòng 150
phút. Hickman nhận thấy trực thăng ở đây được bảo trì kỹ lưỡng hơn ở
trường bay: các màng lọc động cơ, dễ bị nghẹt do bụi, được kiểm tra
mỗi ngày: máy mỗi 25 giờ bay được kiểm tra trung cấp và sau 100 giờ
được kiểm tra toàn bộ – kiểm tra toàn bộ mất đến 8 tiếng.
Họ sống bằng bột trứng, thịt bò muối, bột sữa, bánh mì khô: uống rượu
vào các buổi tối, khi rảnh rỗi. Về đêm Hickman thường viết thư cho một
cô gái tên Carol back ở Savannah. Là một thượng sĩ không quân anh
được trả lương $500 một tháng: đi Giải trí và Hồi phục ở Hồng Kông
anh tiêu $1,700 trong bốn ngày, một số dùng để sắm 6 bộ vét, 6 đôi giày
và một dàn máy nghe nhạc nổi. Họ tắm nước lạnh buổi sáng, và ghét
mùi đốt rác nồng nặc mỗi buổi sáng. Họ thèm thức ăn Mỹ, và khi nghe ở
Sài Gòn có tiệm làm bánh mì kẹp thịt đúng điệu, một hôm một nhóm
bạn liều lĩnh một cách điên rồ lái xe jeep đi 30 dặm để đến đó. Ngày
hôm sau họ một phen nôn mữa ra mật xanh, quặn thắt ruột phải ngồi
suốt ngày trong nhà vệ sinh vì bị trúng độc. Hickman tưởng mình có thể
chết đi vào hôm đó.
Khác với lính bộ binh, không ai đến gần trận địa hơn các phi hành đoàn
Huey. Một tỷ số không nhỏ các bạn đồng khóa bay của anh bị giết hoặc
bị thương – tóm lại, có 4,000 phi hành đoàn trực thăng thiệt mạng tại
Việt Nam. Có lần, mũ sắt của đội trưởng Hickman bị bắn vỡ nát. Viên
phi công tưởng ông ta đã tiêu đời, nhưng viên đạn chỉ sướt qua sọ đầu

ông.

‘Bạn thân nhất của tôi là Jim Newman và Elmore Jordan, một người da
màu ở Washington DC. Chúng tôi giao ước bông đùa với nhau nếu ai
biết mình không về được, thì ném chiếc ví tiền cho người kia.’ Một hôm,
Hickman nghe tin Jordan trên sóng báo cáo trực thăng anh bốc cháy, rồi
khi anh cố lết về căn cứ, anh lại lên tiếng: ‘Tôi đã mất bộ phận thủy lực.’
Đội trưởng của anh chèn người vào ngồi cùng với các phi công, và chiếc
Huey để lại một vệt khói đen sau đuôi. Cuối cùng Jordan đánh điện,

‘Động cơ chúng tôi hư rồi.’ Hickman khổ sở nghĩ: ‘Ôi, chắc Elmore sắp
ném ví tiền cho mình rồi.’ Thình lình họ nhìn thấy một cột khói đen
bùng phát ở phía sau một hàng cây, nơi chiếc Huey đâm sầm xuống cách
đường bay vài trăm ya. Tuy nhiên, kỳ diệu thay Jordan vẫn sống sót: đội
trưởng của anh nhảy ra khỏi trực thăng khi nó chạm đất, rồi chạy trở lại
để kéo hai phi công ra khỏi máy bay đang bốc lửa. Phí công tài giỏi
nhất của đơn vị là Harley Goff, nhưng mọi kỹ năng của anh cũng không
cứu được anh khi bộ truyền động hư hỏng và trực thăng rớt xuống tan
tành. Goff được lôi ra không còn nhận dạng được, gãy ba trong bốn chi
và mất hết hàm răng- một minh chứng cho thấy may rủi đóng một vai trò
lớn trong mọi sự cố của chiến tranh.
Trên mỗi chiếc Huey đội trưởng sử dụng súng ở cửa, một bộ binh ở cửa
kia. Họ là đôi mắt của chúng tôi,’ Hickman nói. Các M-16 thường kẹt
đạn nếu không lau chùi tỉ mỉ, và người bên trái cần bảo vệ chống
luồng gió tạt thổi bay các băng đạn đi khắp xứ.
Mặc dù Cobra và Huey đều có tải trọng xấp xỉ 9,500 cân, Huey êm hơn
và mướt hơn trong vai trò tiêm kích, mang được 62 rốc kết và 4,000 đạn
mini. Không bao giờ trong lịch sử có quá nhiều trực thăng chiến thuật
được triển khai như thế – tương lai chắc cũng không.’ Có lúc có hơn 100
chiếc vần vũ trên không chỉ trong một trận đánh,’ Hickman nói. ‘Khi
bạn thấy một lần tung 10 chiếc vào trận đánh với 4 chiếc yểm trợ và một
chiếc thả bom khói, đã thấy đáng sợ rồi.’ Thời tiết nóng rít của Việt Nam
không làm bận tâm chàng trai Bắc Carolina, vốn lớn lên không quen
máy điều hòa. Tuy nhiên, vào một đêm thả pháo sáng, sự tương phản
giữa cái nóng lúc khởi hành với cái lạnh giá ở độ cao 6,000 bộ làm anh
run rẩy. Hơn nữa, chở các pháo sáng Mk24 triệu-nến rất nguy
hiểm. ‘Tôi ghét các sứ mạng này,’ Hickman nói: vài tàu đã mất khi
pháo sáng bốc cháy trong khoang hành lí.
Sau một thời gian tương đối im ắng trong mùa đông 1968, khi tìm kiếm
địch rất khó, ‘vào tháng giêng cuộc chiến quay trở lại một lần nữa’. Đôi
khi Hickman bay các sứ mạng ba ngày về hướng biên giới Miên, được
hướng dẫn đáp xuống trong đêm bằng thùng cát tẩm xăng bốc cháy; ngủ
trên mặt đất bên cạnh trực thăng. Rồi, thình lình, sự việc trở nên nghiêm
trọng, và lần nữa họ trải nghiệm trong không trung điều họ gọi là ‘dội
nước sôi ‘. Một đêm họ được gọi đi giải cứu một đội trinh sát đường dài,

bị địch ép rất sát. Họ gọi điện một trực thăng Miền Nam đang bay vòng
vòng hãy dập tắt hỏa lực áp đảo, nhưng máy bay Không lực Việt Nam
thoái thác đến gần. Hai Cobra cũng đang bay yểm trợ, nhưng vì cho dù
chắc tay vũ khí của họ cũng có mức độ bắn sai đến 20 ya, họ không thể
liều lĩnh giao chiến trong bóng đêm. Hickman mất một giờ bay vòng, cố
gắng điều phối cuộc giải cứu. Cuối cùng binh sĩ bị bao vây bật đèn hiệu
dấu trong mũ sắt, để hướng dẫn các Huey vào trong một khoảng hở nhỏ
hẹp trong rừng: đội của Hickman bốc các lính Biệt kích ra khỏi. Một
đêm khác họ đánh chìm 23 tam bản xuất phát từ Cao Miên: ‘Chúng tôi
đánh dấu chúng bằng đạn chỉ đường, rồi Cobra lao xuống từ phía trên
và bắn rốc kết. Tại các buổi thuyết trình, họ bảo với chúng tôi chúng tôi
gây tổn thất cho địch nhiều hơn phần còn lại của Sư đoàn 9.’
Trong số 300 người ở đơn vị, khoảng 40 phi hành đoàn bay trong các sứ
mạng. Cấp bậc không quyết định ai là người chỉ huy: ‘Ít khi xưng hô
thưa gởi – chúng tôi hầu hết những người 21 tuổi cố gắng làm những
điều đúng đắn không cần sự giám sát của người lớn.’ Hickman bay hầu
hết các sứ mạng ban ngày trên chiếc Huey, ban đêm trên Cobra. Có lần
anh được gọi bay đi qua bóng đêm để cứu một đội thám sát lạc
đường, anh hỏi vị chỉ huy, ‘Tại sao tôi?’ Anh nở phồng mũi khi nghe trả
lời: ‘Vì anh có cơ hội tốt nhất sống trở về.’ Cobras có tỉ suất thương
vong nhỏ nhất, LOH cao nhất. ‘Chúng chiến đấu từ độ cao 20 bộ.’
Mặc dù đơn vị gặp một ít trường hợp bị thương tự mình gây ra và phi
công yêu cầu được chuyển về phục vụ trên bộ, ‘Phần đông có thể gồng
mình và làm những gì phải làm.’ Hickman vẫn giữ niềm tin Việt Nam sẽ
thắng: ‘Nhưng vào năm 1969 rõ ràng là chúng ta hoặc phải tiến ra Miền
Bắc, hoặc quên nó đi. Tôi cảm thấy thất vọng trước phong trào phản
chiến. Chúng là một lũ sinh viên nhí không hiểu gì. Tôi tin tưởng vào
quân đội. Bên trong nó, còn nhiều cá nhân đang ra sức làm những điều
đúng đắn.‘

4 Việt Nam Hóa Chiến Tranh
Trong những tháng đầu tiên của nhiệm kỳ tổng thống, Nixon và các cố
vấn của ông mày mò những tiếp cận mới để chấm dứt cuộc chiến. Bộ
trưởng quốc phòng Melvin Laird, một dân biểu Wisconsin trước đây,
bảo với Creighton Abrams trong chuyến viếng thăm tháng 3 1969 đến

Sài Gòn rằng nền hành pháp mới đã mang đến không gian dễ thở: ‘Tôi
nghĩ chúng ta đã có thời gian, và … Chúng ta phải phát triển một quốc
sách mà nhân dân Mỹ tán thành.’ Phải có một chương trình, ông nói,
‘để giảm sự đóng góp của người Mỹ, không chỉ dưới dạng con người,
mà còn dưới số thương vong và vật liệu và tiền bạc … Tôi chuẩn bị bị
cật vấn nhiều về việc sử dụng các B-52.’ Abrams, hoảng sợ, lập tức biện
hộ cho vũ khí cực kì hiệu quả này: ‘Không có vũ khí nào thực sự có tính
đáp ứng như thế … Chỉ cần một vài giờ là có thể thay đổi toàn bộ cục
diện và gọi nó đến bất cứ nơi nào bạn muốn, với bất cứ số lượng nào bạn
muốn. ‘
Vai trò của cố vấn an ninh quốc gia nắm giữ tầm quan trọng chưa có tiền
lệ, lúc đầu không được giới truyền thông và cả Washington nhận thức
đúng. Cho đến kỳ bầu cử, Tiến sĩ Henry Kissinger vẫn còn là người ủng
hộ đối thủ của Nixon là Nelson Rockefeller thuộc Đảng Cộng Hoà. Giờ
thì ông trở thành công cụ chính sách đối ngoại chủ yếu của tổng thống.
Kissinger chưa bao giờ cho rằng Việt Nam có khả năng chiến thắng.
Ông chia sẻ với Nixon niềm xác tín rằng dù giá trị của lý tưởng đồng
minh thế nào, cuộc chiến đang rút cạn quá mức mối quan tâm chính
trị, tài nguyên vật chất và quyền hành đạo đức ra khỏi công cuộc theo
đuổi các lợi ích sống còn của Mỹ ở nơi khác. Nhân vật xuất sắc, thu hút
này chinh phục được ông chủ của mình vốn không ưa gì người Do Thái
và trí thức bằng cách thể hiện trước nhất lòng trung thành của mình, rồi
tính vô nguyên tắc có thể sánh kịp với phẩm chất đó của tổng
thống. Mặc dù về cơ bản là một con người lạnh như băng, ông có kỹ
năng khơi dậy sự ấm áp và tình thân thiết. Arthur Schlesinger viết trong
những ngày đầu đó của Nixon: ‘Tôi rất yêu quý Henry, và tôn trọng
ông, dù tôi không khỏi lo sợ rằng ông nói một điều với tôi và một số
điều khác với chẳng hạn [nhà tư tưởng bảo thủ] Bill Buckley.’
Tham mưu trưởng Nhà Trắng H.R. Haldeman có lần lưu ý: ‘Henry nhấn
mạnh rằng lộ trình tốt nhất của Tổng thống là tính bất ngờ tàn nhẫn.’
Đây là quan điểm của Nixon mà ngay từ đầu Kissinger nhằm thực thi tại
Hà Nội. Ông tin tưởng rằng chỉ có thể dẫn dụ người Miền Bắc vào thỏa
hiệp ‘bằng cách cho họ đương đầu những trở lực không thể vượt qua
được trên chiến trường.’ Bước đầu tiên là phát động việc dội bom ồ ạt
nhưng bí mật của B-52 vào các căn cứ địa của cộng sản. Vào chiều chủ

nhật, ngày 16 tháng ba, Haldeman ghi chép không chút gì mỉa mai rằng
sau khi dự lễ nhà thờ, Nixon ra lệnh bỏ bom Cao Miên: ‘Ngày lịch
sử, “Chiến dịch Breakfast” của K[issenger] cuối cùng xảy ra lúc 2:00
p.m. giờ Mỹ. K thực sự phấn khích, cũng như T[ổng thống].’
Trong ba năm tiếp sau Không lực Hoa Kỳ đổ xuống 108,823 tấn bom
xuống đất nước bất hạnh của Sihanouk. Khi một phi hành đoàn B-52
phạm sai lầm khiến một ngôi làng Cao Miên gần như bị hủy diệt, đại sứ
Mỹ đến thăm khu vực và phát $100 mỗi người còn sống. Nhân viên phi
hành tính sai tọa độ bị phạt $700.
Nhà Trắng nổi cơn phẫn nộ trước sự hung hăng của cộng quân khi làm
mới lại cuộc công kích vào Tết 1969, khi hơn 100 thành phố và quận lị
Miền Nam chịu các cuộc tấn công châm chích. Nixon xem các sự kiện
này gần như là một sỉ nhục cá nhân, một cử chỉ được dựng lên để cho
thấy Hà Nội dự tính đối xử với ông không khác với Lyndon Johnson. Vì
thế dội bom trở thành điều Kissinger gọi là ‘ngoại giao cưỡng bức’.
Trong tinh thần đó, Hội đồng An ninh Quốc gia đề xuất giải pháp có tên
Chiến dịch Duck Hook, một trận đánh chớp nhoáng phủ đầu kéo dài 4
ngày vào Miền Bắc có thể sử dụng các vũ khí hạt nhân chiến thuật.
Kissinger thông báo với đại sứ Xô viết Anatoly Dobrynin về khái niệm
Duck Hook, và vào tháng 7 Nixon gửi một bức thư riêng cho Hồ Chí
Minh, đe dọa ‘các biện pháp có hậu quả và sức mạnh to lớn’ nếu Hà Nội
thoái thác thương thảo. Vào ngày 13 tháng 10 1969 ông khởi động một
báo động hạt nhân đến khắp các lực lượng Hoa Kỳ trên khắp thế giới,
được dựng lên để thuyết phục khối cộng sản rằng ông một tổng tư lệnh
thích bấm nút hạt nhân, thích hành động nguy hiểm – thậm chí không
kềm chế – nếu bị cản đường. Nhưng người Nga không quan tâm nhiều
đến báo động đỏ, và không có động thái nào khác của tổng thống có vẻ
gây được ấn tượng với kẻ địch. Họ không nhận thức Nixon như một tên
điên, nhưng là một chính trị gia biết suy nghĩ, nhưng tuyệt vọng đi tìm
cách tránh né không phải sự thảm bại của người Mỹ, mà tránh nhìn nhận
dứt khoát là mình thảm bại.
Quá nhiều đã được nói về ‘thiên tài’ của Kissinger nhằm làm nổi bật sai
lầm của ông ta và Nixon khi cho rằng con đường đi đến hoà bình phải đi
qua Moscow. Tổng thống trong mùa thu đầu tiên nhậm chức bảo với
Dobrynin: ‘Tôi muốn ngài hiểu rằng Liên Xô sắp sửa dính chùm với tôi

suốt 3 năm và 3 tháng tới … Chúng tôi sẽ không ở yên để bị lừa gạt vào
chỗ chết tại Việt Nam.’ Nhưng đó cũng là một nỗi bực dọc triền miên
đối với người Xô viết khi tốn nửa tỉ đô la hành năm mà không dạy bảo
được nhiều cho Hà Nội.
Trước khi Phạm Văn Đồng bay sang Moscow vào năm 1970, đại sứ Xô
viết tại Hà Nội tha thiết bày tỏ với người Miền Bắc ước muốn của Nga
là phái đoàn Miền Bắc nên thể hiện mình ‘có tính xây dựng hơn
nữa … và thành thật hơn nữa’ tại hòa đàm Paris. Ông chỉ tốn nước bọt

vô ích.

Và thậm chí khi Nhà Trắng nhắm tìm điểm tựa để bẫy người cộng sản
đi, nó lại xác định một mệnh lệnh đối nội không thích hợp: giảm bớt
quân số Mỹ tham chiến. Trước Hội đồng An ninh Quốc gia, Kissinger
ra sức thuyết phục những thành viên khác, và có lẽ cả chính mình, rằng
một lộ trình như thế không biểu thị một sự nghịch lý với phần còn lại
của chính sách hành pháp. Cắt giảm lực lượng, ông nói, ‘bằng cách làm
sự hiện diện của Mỹ bền vững hơn, có thể là một hình thức gây sức ép.’
Điều này là vô lý, mặc dù Kissinger đúng khi ông cũng xác tín rằng
quốc gia của mình không thể chỉ quay lưng khỏi Miền Nam ‘như thể
chúng ta chuyển một kênh truyền hình.’
Trong khi cả Nixon và cố vấn an ninh quốc gia của ông đối xử với Bộ
trưởng quốc phòng không mấy trân trọng, nhưng chính Melvin Laird
mới là người phát biểu rõ ràng sự thay đổi quyết định, thậm chí quyết
liệt trong chiều hướng của Hoa Kỳ, và cũng đặt cho nó một cái tên chết
luôn, cho dù người Miền Nam ghét nó: Việt Nam hóa. Hành pháp từ bỏ
chiến lược đã vận dụng từ 1965, là giao việc giao tranh hệ trọng cho
người Mỹ. Thay vào đó, MACV chỉ sẽ yểm trợ QĐVNCH trong cuộc
chiến đấu riêng của mình. Vào ngày 14 tháng 5 1969 Nixon lên truyền
hình quốc gia đọc bài phát biểu trong đó ông xác đinh sẽ tiếp tục tham
chiến để bảo đảm nhân dân Miền Nam có thể chọn lựa vận mệnh theo ý
mình. Để thành tựu điều đó, và để bảo đảm hoà bình, điều cần thiết là
mọi lực lượng nước ngoài – cũng có nghĩa là Quân đội Miền Bắc cũng
như người Mỹ – phải rời khỏi Miền Nam. Những thành quả đầu tiên của
cuộc Việt Nam hóa sẽ là việc rút từ 50 đến 70 ngàn binh sĩ Mỹ. Nhà
Trắng chỉ thị số thương vong Mỹ phải giảm xuống ngay lập tức, mặc dù
tháng 5 1969 chứng kiến hành động điên rồ nhất của Chiến dịch Apache

Snow, những trận tấn công liên tiếp vào Núi Ấp Bia – tức Đồi 937, hay
quen thuộc hơn là Đồi Thịt Băm – trong đó 72 người của Sư đoàn 101 bị
giết chết, hơn 372 bị thương, ngoài các tổn thất của QĐVNCH, chỉ để
xác nhận quyết tâm của các chỉ huy Mỹ muốn giành ưu thế. Hậu quả
chính yếu chỉ làm tăng cường cơn sốt phản chiến lên cao hơn nữa:
Thượng nghị sĩ Edward Kennedy dán cho trận đánh nhãn hiệu ‘điên
cuồng’.
Việt Nam hóa chính thức được phát động vào ngày 8 tháng 6 tại một
cuộc họp giữa Thái Bình Dương giữa hai tổng thống, Nixon và Thiệu.
25,000 binh sĩ Mỹ đầu tiên rút về nước được ấn định vào tháng 8. Nhà
bình luận bảo thủ Joseph Alsop so sánh hành động này với việc làm
đáng trách của một phụ nữ Nga ném còn mình ra khỏi xe trượt tuyết
đang chạy băng qua tuyết trắng, để đánh lạc hướng đàn sói đang rượt
đuổi.

Henry Kissinger, Nguyen Cao Ky, Ellsworth Bunker, Nguyen Van
Thieu and Richard Nixon in (VA004679, Douglas Pike Photograph
Collection, The Vietnam Center and Archive, Texas Tech
University)
Creighton Abrams cất giọng lo âu tại một buổi họp của Hội đồng An
ninh Quốc gia tháng 9 1969 có Nixon tham dự: ‘Chúng ta nằm ở vị trí

nào tại Việt Nam là do việc vận dụng một sức mạnh ác liệt … Khi anh
ngưng đi sức mạnh, anh có được một trận cầu hoàn toàn mới.’ Abrams
nhìn thấy vào năm 1969 những gì sử gia Ken Hughes nhận xét lâu sau
đó: Việt Nam hóa chiến tranh không phải là chiến lược mà Nixon theo
đuổi một cách nghiêm túc; đó là một sự gian lận ông ta vi phạm.’ Vào
ngày 19 tháng 11 Melvin Laird bảo với Ủy ban Quan hệ Đối ngoại
Thượng viện rằng chính quyền Sài Gòn đã được tham vấn trước khí
chính sách được đưa ra. Ông nói dối, như Kissinger cũng nói dối cùng
nội dung: Thiệu chỉ được báo tin sau khi đã quyết định xong.
Vào ngày 4 tháng 8 tại Paris, Kissinger bắt đầu điều sẽ trở thành vòng
đàm phán bí mật kéo dài vô tận với Miền Bắc. Averell Harriman, vẫn
còn tiến hành các đàm phán chính thức, không hy vọng một kết quả thỏa
đáng chừng nào mà các hành pháp Mỹ kế tiếp vẫn bám vào chủ trương
duy trì cả chế độ Thiệu và Quân đội Mỹ ở Miền Nam. Kissinger gần
như không nắm lá bài nào. Ông đã chống đối các cuộc rút quân đơn
phương, bởi vì ông biết điều này ắt khiến người cộng sản không thấy bó
buộc phải nhượng bộ. Nhưng vị cố vấn an ninh quốc gia không chịu
trách nhiệm nào – ở giai đoạn này, dù sao đi nữa – cho quỹ đạo chính trị
trong nước của hành pháp, và do đó bị bác bỏ.
Kissinger trong phút chốc ôm lấy ảo tưởng rằng cái chết của Hồ Chí
Minh vào ngày 2 tháng 9 sẽ làm lung lay lòng tự tin, tính vững chắc và
tinh thần của người Miền Bắc. Nhưng, trong khi người khai sinh đất
nước này được than khóc tiếc thương, ông từ lâu đã không còn chỉ đạo
vận mệnh của nó. Sự vĩ đại của ông dường như không thể tranh cãi,
được đo lường bằng ảnh hưởng của mình lên các sự kiện lớn lao. Một
phần điều này phát sinh từ thái độ, sức thu hút và phẩm cách đã thuyết
phục phần đông thế giới về lòng nhân từ của mình. Tuy nhiên, thật ra
như với mọi nhà cách mạng thành công nào khác, tính nhẫn tâm của ông
là tuyệt đối, năng lực ban bố lòng trắc ẩn của ông cần đem ra tránh luận,
xét vì những trò tàn bạo, tình trạng thiếu thốn và việc tước đoạt quyền tự
do cá nhân có hệ thống mà ông đã chủ trì từ năm 1954.
Lê Duẩn đã nắm vững quyền lực một cách chắc chắn. Tiếp sau các xáo
trộn đẫm máu dịp Tết, ông không còn kỳ vọng đạt được thắng lợi quân
sự trước khi người Mỹ rời Việt Nam. Nhưng ông tin ttưởng vào ý chí
của nhân dân mình mạnh mẽ hơn của họ, nhất là sau các cuộc biểu tình

rầm rộ trên khắp nước Mỹ ngày 15 tháng 10 nhân danh Vietnam
Moratorium, cao điểm của nó là cuộc tập hợp 100,000 người tại Boston
Common. Một mảnh vụn nhỏ dễ chịu cho các viên chức đàm phán ở
Paris là người Miền Bắc thôi không cố tình hành hạ – mặc dù họ vẫn
duy trì tình trạng thiếu thốn cho – các tù binh Mỹ bị giữ tại Hà Nội. Một
tiêu chuẩn tối thiểu về phúc lợi sau đó được cho là thiết thực: số phận tù
binh hiển nhiên là chìa khoá trong các cuộc đàm phán. Theo chỉ thị 10
tháng 6 MTDTGP đổi tên mình là Chính phủ Cách Mạng Lâm thời
(CPCMLT) – nhân sự hóa bằng một quy tụ các bộ trưởng đứng xếp hàng
sâu trong rừng trên biên giới Cao Miên. Các cán bộ được bảo rằng cho
dù sau khi Mỹ đã ký hiệp ước, ‘cuộc chiến vẫn sẽ tiếp tục’. Tóm lại, như
lúc nào cũng vậy, chỉ có thắng lợi cộng sản mới là đủ.
Abrams nói: ‘Địch đang đổ thêm tài nguyên vào, còn chúng ta thì rút tài
nguyên ra … Chỉ với sự kiện cơ bản đó họ chắc chắn làm tốt hơn, và
chúng ta chắc chắn làm tệ hơn. ‘ Trung uý Landen Thorne, giờ bay như
một giám sát viên pháo binh trong một chiếc trinh sát L-19, thình lình
thấy lượng quân nhu phân bố cho các khẩu súng của mình bị cắt giảm.
Anh nghĩ: ‘Trong một cuộc chiến bạn được cho là phải thắng, bạn phải
được mọi thứ mình cần.’ Hoàn toàn như thế.

CHƯƠNG 22: Thua Vì Các Loạt Bài Đăng Báo

1 Móc Câu và Mỏ Vẹt
Trở lại tháng 3 1969, Creighton Abrams và xếp tình báo của ông họp
bàn về khả năng và triển vọng của việc được cấp phép tấn công các căn
cứ địa của cộng sản ở Cao Miên. Một năm sau, Henry Kissinger cần cấp
thiết mạnh tay hơn trong các cuộc đàm phán bí mật. Ông nói, ‘Chúng ta
phải cứng rắn.’ Vào ngày 29 tháng 4 các lực lượng đồng minh, mà đỉnh
cao lên đến 19 300 binh lính Mỹ và 29,000 binh lính Việt, phát động
một chuỗi các mũi tiến công vào các vùng biên giới Cao Miên được biết
từ hình dáng trên bản đồ như Mỏ Vẹt và Móc Câu. Abrams nhìn nhận
rằng binh sĩ mình không mấy hồ hởi tham gia chiến dịch: ‘Phải vận động
một ít để khiến binh sĩ Mỹ có tâm trạng tiến công.’ Trong khi đó một
cuộc không kích mới bằng oanh tạc cơ được tiến hành ở Miền Bắc.

Những cuộc xâm nhập vào Cao Miên được đẩy nhanh nhờ cú đảo chính
của quân đội tại Phnom Penh ngày 18 tháng 3 do Tướng Lon Nol cầm
đầu cùng một nhóm sĩ quan thân tín trong khi Hoàng thân Sihanouk
đang trên đường đến Bắc Kinh – mỉa mai thay, trong hy vọng nhờ vả
Trung Quốc kêu gọi Miền Bắc kềm chế các hoạt động tại miền đông
Cao Miên, mà họ đối xử như thái ấp của họ.
Thật ra, hành vi của Hà Nội bất chấp các biện minh đạo lý như hành vi
của Washington: hai bên đều phớt lờ các lợi ích của nhân dân Cao
Miên, vốn bị người Việt khi dễ. Không có chứng cứ về sự đồng
lõa trực tiếp của người Mỹ trong vụ đảo chính, và lối cai trị thất thường
và lệch tâm của Sihanouk đối với đất nước nhỏ bé thất thường, lệch tâm
của ông nhiều năm liền đã rất bấp bênh. Lon Nol và nhóm quân sự đảo
chính là một phần do căm phẫn trước sự chiếm đóng của Miền Bắc và
các cuộc dội bom của Mỹ do bị họ khiêu khích, phần khác do hoàng gia
Sihanouk chiếm đoạt quá nhiều tài sản của quyền lực, còn các tướng
nhận được quá ít. Nếu Washington đã làm rõ đối với nhóm lật đổ rằng
mình sẽ không ủng hộ họ, chưa chắc họ đã dám lật đổ ông hoàng.
Tuy nhiên, trong thời gian đó, cán bộ VC cao cấp Trần Bạch Đằng tình
cờ đến Phnom Penh từ Trung ương Cục Miền Nam ngay sau khi đảo
chính, và giật mình khi khám phá mình và các đồng chí, vốn nhiều năm
qua đã đến và đi tùy ý, thì nay thình lình là kẻ bị truy nã. Chỉ sở hữu một
áo thun và quần sọt, ông vào sứ quán Cuba lánh nạn, từ đó ông đi nhanh
về Hà Nội qua ngõ Thượng Hải, đến đúng dịp dự khán cảnh các kỹ thuật
viên Xô viết rã đông thi thể ướp lạnh của Hồ Chí Minh để ướp xác.
Các nhà cai trị mới của Cao Miên kêu gọi Mỹ viện trợ. Washington đáp
ứng với vũ khí và tiền mặt đủ cho Lon Nol duy trì được chế độ của mình
đến 5 năm sau đó, nhưng không đủ để đập tan Khmer Đỏ cộng sản
trong xứ, mà dường như qua một đêm đã trở thành một lực lượng quân
sự hùng mạnh. Quân đội rệu rã của Cao Miên, vốn chỉ có đúng 20 bác
sĩ quân y, bị vồ một cách tàn bạo. Vào mùa thu Khmer Đỏ đe dọa
Phnom Penh, nơi dân tị nạn trốn khỏi các trận đánh bom của Mỹ và
khủng bố của VC cuối cùng làm dân số phồng lên hai triệu người cùng
khổ. Sau hội nghị 24-25 tháng 4 tổ chức trên biên giới Viêt-Lào, Pathet
Lào, Khmer Đỏ và Bắc Việt tuyên bố một cuộc đấu tranh chung.
Sihanouk, với tất cả hạn chế của ông, có sẵn uy tín to lớn đối với nhân

dân. Khi điều này được sắp xếp theo ý của người cộng sản tiếp theo sau
việc ông bị lật đổ, ông hoàng trở thành một công cụ lợi dụng được.
Hoa Kỳ và Miền Bắc chia sẻ trách nhiệm tạo ra thảm kịch nhấn chìm
Cao Miên hàng thập niên sau đó trong một cuộc đấu tranh không khoan
nhượng thậm chí theo chuẩn mực duy trì ở Đông Dương từ năm 1945.
Nhà báo Jon Swain mô tả cuộc gặp gỡ hai thương binh Miền Bắc, bị
quân đội Cao Miên bắt gần Kompong Cham: ‘Bộ quân phục xanh ô liu
tồi tàn của họ phủ các lớp bùn pha máu khô cứng. Thân thể bị chặt chém
khủng khiếp, trong cơn thống khổ, họ rên rỉ như những con thú bị sập
bẫy. Thình lình biết có người nước ngoài hiện diện, họ cựa mình, và
quắc mắt nhìn tôi với vẻ căm thù dữ dội trong bóng tối lờ mờ.’ Swain
hỏi một thiếu tá Cao Miên liệu y có thể đưa họ đến bệnh viện hay không.
Viên sĩ quan chỉ chọc cây gậy của y vào vết thương của họ rồi nói, ‘Cứ
để chúng chết. Chúng tôi không mời họ đến xứ sở chúng tôi.’ Một người
là trung uý quân Miền Bắc tên Đào An Tuất. Swain lật qua các trang sổ
tay của anh, lưu ý một bức ảnh đã phai mờ của Hồ Chí Minh, và những
dòng chữ tiếng Việt nguệch ngoạc của chủ nhân cuốn sổ:

Sống là hy sinh thân mình cho tổ quốc,
Là hiến dâng cho đất nước, núi sông,
Là nghiến răng trước mặt kẻ thù chung,
Sống là giữ vững can trường khi gian khó,
Là cười lên trong thời khắc căm hờn.

Ta phải uống say sưa máu kẻ thù.

Tuất, tắt hơi thở trong túp lều hôi hám, hiển nhiên là một cán bộ trung
kiên; người Miên đổ xăng ròi đốt thi thể của anh và người đồng chí
trước khi ném xác cháy xuống sông Cửu Long. Nếu vận số cuộc chiến
đảo ngược, những người Miền Bắc này có thể – còn Khmer Đỏ tàn bạo
không kể xiết sẽ chắc chắn – cũng sẽ làm như vậy đối với tù binh gây
chướng ngại của mình.
Về phần các cuộc xâm nhập của Mỹ và Miền Nam, dù một số binh lính
Mỹ vui mừng vì đã hoàn thành một thế tấn công mà họ đã chủ trương
nhiều năm rồi, các cuộc thăm dò cho thấy 60 phần trăm dân chúng Mỹ

chống đối, trong đó có ngoại trưởng William Rogers. Số lượng đáng kể
quân nhu và lương thực bị tịch thu: một báo cáo của MACV bảo với
Abrams vào ngày 12 tháng 5 rằng bên xâm lược đến giờ đã chiếm được
‘số lượng gạo một người có thể sử dụng trong 6,500 năm’. Nhưng vị
tướng bản thân ông không mấy dễ chịu: ‘vũ khí tịch thu được ngoài đó
tôi thấy toàn là đồ bỏ . . . Những gì bạn tích luỹ được chỉ là một sự lừa
gạt lớn, và đó là điều họ sẽ gán cho bạn. .. Đúng là bực mình khi ngồi
quanh đây và thấm thía việc chúng tôi đang chiếm được một giỏ đựng
sương mù.’ Như thường lệ, tình báo tiền trạm quá đỗi nghèo nàn – để
giữ bí mật, quân đội Miền Nam không được tham dự vào quá trình lên
kế hoạch. Mặc dù bộ đội Miền Bắc chịu đựng các tổn thất kha khá,
nhưng số lớn lực lượng địch đã rút về tây, không thèm đọ súng với quân
xâm lược.
Doug Ramsey, một tù binh của cộng sản, sau nay nhận xét là việc Mỹ
xâm nhập dường như biểu thị ‘hoặc một cú nhảy vọt mù quáng vào cõi
mộng hoặc một nỗ lực chộp lấy cơ hội đáng xấu hổ không phải để thắng
cuộc chiến ở Việt Nam, mà chỉ để giúp đình hoãn tổn thất của Mỹ …
với cái giá vô lương tâm cho người Cao Miên ‘. Ông cho rằng can thiệp
có thể là nước đi hợp lý bốn hoặc năm năm trước, nhưng vào 1970 thì
không: ‘Chúng ta đang hy sinh các lợi ích sống còn dài hạn của một đất
nước bé nhỏ, xa xôi, trước đây quan ngại không muốn can thiệp vào
xung đột Đông Dương, với những lợi ích thoáng qua, phiến diện của một
hay hai thế hệ các nhà hoạch định chính sách của chúng ta … Chúng ta
đã tự khoác cho mình quyền hành phi thường mà mình không hề
cho.phép người khác làm thế.’
Ngay từ đầu hành pháp đã xác nhận rằng chiến dịch Cao Miên có hạn
chế thời gian và không gian – rằng phe xâm lược sẽ không thọc sâu quá
18 dặm qua biên giới, và không dừng lại quá tháng 6. Nixon nói trên
truyền hình quốc gia: ‘Tối nay các đơn vị Mỹ và Miền Nam sẽ tấn công
các sở chỉ huy của toàn bộ chiến dịch quân sự của cộng sản tại Miền
Nam.’ Nhưng Trung ương Cục Miền Nam chỉ là một nhóm các con
người đi đây đó, chứ không phải là một phức hợp cơ sở như tổng thống
có vẻ hình dung: những thành viên cầm đầu của CPCMLT chỉ bỏ lại một
số nhà tranh để dựng lại cái khác vượt khỏi giới hạn tự ấn định của Mỹ.
Phil Davidson u ám nói với Abrams vào ngày 19 tháng 5, ‘Tôi cho rằng

rõ ràng ai cũng thấy là Trung ương Cục Miền Nam đã dời đi trước khi
chúng ta vượt qua biên giới.’
Đúng là như thế: gần hai tháng trước, giới lãnh đạo cộng sản đã tiên liệu
một trận càn như thế và đã chuyển sâu hơn vào đất Miên. Các cán bộ rút
dọc theo các lộ trình đã sắp xếp trước, được sự yểm trợ của Sư đoàn 7.
Cuộc rút chạy bị phi cơ Mỹ và các cơn mưa trút nước quấy rầy. Một
bộ trưởng trong CPCMLT viết: ‘Các nỗ lực của chúng tôi thấm đẫm
không chỉ nỗi tuyệt vọng của những người trốn chạy móng vuốt của
quân thù không thương xót, mà còn nỗi lo sợ sự tồn vong của cuộc đấu
tranh. ‘Một lãnh đạo CPCMLT khác, Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa, đang
mang bầu 7 tháng: bà hạ sinh trong tình trạng căng thẳng của cuộc trốn
thoát, được một hỏa lực pháo và vũ khí hạng nhẹ hộ tống. Hài nhi ra đời
an toàn, nhưng chết vì sốt rét rừng vài tháng sau đó. Giới lãnh đạo đến
thị trấn Kratie của Miên không có thương vong, mặc dù Trương Như
Tảng nhận biết rằng ‘Toàn bộ sự việc gây cho chúng tôi nỗi sợ
hãi, không kể một thời kỳ gian khổ cùng cực.’
Tảng mô tả cuộc phiêu lưu vào Cao Miên của Nixon là ‘một món quà
lâu dài cho cách mạng Việt Nam… vì nó giúp chia cắt giới lãnh đạo Mỹ
với quần chúng trong nước và tiêm nhiễm trong nhiều người Mỹ sự
hoài nghi về khía cạnh đạo lý của chính quyền họ’. Chiến dịch hình
thành một yếu tố trong chính sách ngoại giao cưỡng bức ‘ của Kissinger,
nhưng lại không giáng cho kẻ thù nỗi đau chiến lược đủ để bù trừ cho
tổn hại chính trị mà Nixon gánh chịu ở trong nước giữa một cơn bùng nổ
ấn tượng các cuộc biểu tình phản đối chiến tranh, vào ngày 4 tháng 5
1970 tại Đại học Kent State của Ohio, Vệ binh Quốc gia bắn chết 4 sinh
viên không vũ trang, hai trong số chỉ là người qua đường, và làm bị
thương 9 người khác. Thêm hai sinh viên nữa bị giết bởi cảnh sát và 12
người bị thương tại Cao đẳng Jackson State tại Mississippi.
Tiếp theo đợt xáo trộn Đông Dương mới nhất, một MACV phân loại
các cuộc xung đột riêng biệt nhưng có liên quan với nhau thành các
vùng: nội chiến ở Bắc Lào; cuộc đấu tranh của bộ đội Miền Bắc nhằm
giữ vững các tuyến đường hậu cần ở Nam Lào và Cao Miên; nội chiến
Cao Miên; đấu trường biên giới Trung ương Cục Miền Nam ở Miền
Nam; mặt trận ở đồng bằng; vùng chiến sự trung và bắc.

Sâu trong phía Nam, bác sĩ Miền Bắc Đặng Thùy Trâm viết: ‘Chó dại
Nixon đã điên cuồng mở rộng chiến tranh … Ôi! Tại sao có những con
người tàn bạo, khủng khiếp như thế chỉ muốn tưới những cây vàng của
họ bằng máu của chúng ta? … Ôi, đất nước tôi! … Có nước nào trên
mặt đất chịu đựng đau thương nhiều như thế? Có dân tộc nào chiến đấu
ngoan cường, dai dẳng và không mệt mỏi như dân tộc chúng ta? … Tôi
còn là một người lính trong cuộc đấu tranh này. Tôi luôn mỉm cười…
cho dù tàu bay địch bắn rốc kết lên đầu tôi … nhớ lời nói của Lenin,
“Những người cách mạng có trái tim nồng ấm nhất.” Đó là tôi.’ Vào
buổi sáng ngày 22 tháng 6, một đội tuần tra bộ binh Mỹ 4/21st nghe
tiếng nói và âm thanh của chiếc đài đang phát nhạc Việt Nam. Những
thành viên của đơn vị lập tức báo động, sau đó bắt gặp gần đó bốn người
đang tiến về phía họ dọc theo một đường mòn trong rừng. Đây là vùng
oanh kích tự do nơi mà mọi di chuyển của con người đều được xem là
thù địch: hai bộ đội tẩu thoát những loạt đạn M-16 bắn theo, nhưng hai
người ngã xuống. Một trong hai, mặc pyjama đen và mang dép râu, là
Trâm khi ấy vừa 27 tuổi. Lục tìm trong trong số đồ vật ít ỏi của cô là
một đài Sony, một sổ tay y tế, hộp thuốc Novocain, băng y tế, một tấm
ảnh của chàng đại uý yêu dấu của cô và các bài thơ anh viết, cùng với
cuốn nhật ký của cô.
Những cuộc xâm nhập của Mỹ cùng với Chiến dịch Menu – ném bom
bằng B-52 – gây khó khăn về hậu cần nghiêm trọng cho quân Miền
Bắc. Tuy nhiên, họ không phải là người thay đổi cục diện mà Nixon và
Kissinger nhằm tới: Kissinger tức tối chỉ trích sự bất lực của Không lực
Mỹ trong việc phong tỏa Đường Mòn Hồ Chí Minh, Quốc Hội thoạt
đầu dành cho Nhà Trắng của Nixon sự tôn trọng đáng kể, và hài lòng về
quyết tâm của tổng thống không muốn được coi là kẻ bỏ cuộc. ‘Một
quốc gia vĩ đại,’ ông phát biểu hùng hồn, ‘không thể đi ngược với lời
cam kết của mình.’ Ông xác nhận lại lập trường quen thuộc của chính
quyền Mỹ, rằng bỏ rơi Miền Nam sẽ dấy lên lòng ngờ vực khắp thế giới
giữa cả bạn bè và kẻ thù của quốc gia. Melvin Laird nhắc lại các mục
tiêu của hành pháp: tiến hành thành công công cuộc Việt Nam hóa, giảm
tối thiểu thương vong Mỹ, tiếp tục rút quân, và thúc đẩy những đàm
phán có ý nghĩa.

Tuy nhiên, trong suốt năm đó, chịu ảnh hưởng của kết quả không rõ
ràng của việc đánh vào Cao Miên, càng ngày càng có nhiều người Mỹ
khao khát ra khỏi Đông Dương gần như với bất kì điều kiện nào, hoặc
thậm chí vô điều kiện. Thượng nghị sĩ Dân chủ Mark Hatfield của
Oregon và George McGovern của South Dakota dẫn đầu cuộc tấn công
chống tài trợ tiếp tục cho chiến tranh. Đại sứ Ellsworth Bunker trở về từ
chuyến thăm nhà để bảo với Abrams tại Sài Gòn vào ngày 23 tháng 5:
‘Điều khó nghĩ, theo tôi, là một số người từng hậu thuẫn tích cực’ – ông
kể trường hợp của Dean Acheson – ‘giờ đây nói rằng, “Vâng nếu việc
này sẽ sâu xé đất nước thì như vậy không đáng.”‘ Trên một bối cảnh như
thế điều ngạc nhiên không phải là binh lính Mỹ trở nên miễn cưỡng hơn
trong việc đánh liều mạng sống của mình, mà là một số vẫn còn muốn
làm thế.
Nixon và Kissinger có thể đã được chút mảnh vụn thoải mái nếu họ biết
nhiều hơn về các khó khăn của phía bên kia. Quy mô của bộ máy tình
báo Mỹ thật hùng hậu, vậy mà thật kì lạ Washington lại biết ít xiết bao
về Miền Bắc, và nhất là bộ chính trị Hà Nội. CIA phụ thuộc tình báo
con người gần như độc quyền từ trạm SIS (Cục Tình báo Mật) của Anh
đặt tại tòa tổng lãnh sự Anh tại Hà Nội, lúc đó được điều hành bởi
Daphne Park, mỗi hai tháng bay xuống Sài Gòn để báo cáo với ‘anh em
họ’. Người Anh không thể điều hành các đặc vụ, gửi điện mã hóa hoặc
sở hữu máy truyền tin vô tuyến. Dù sao đi nữa họ có thể trò chuyện tự
do với các chính khách Đông Âu, đặc biệt đại sứ Xô viết – Park có thể
nói trôi chảy tiếng Pháp và Nga. Khi người Mỹ nhờ SIS tổ chức một hộp
thư chết, họ nhận lời từ chối thẳng thừng: các nhân viên lãnh sự bị theo
dõi rất gắt gao. Họ ít có dịp tiếp cận với các nhân vật chóp bu Miền
Bắc, mặc dù có lần một thành viên bộ chính trị đến không báo trước, và
nói chuyện trên ban công của tòa lãnh sự trong 6 giờ liền.
Các điệp viên Anh ngắm nhìn những người Việt ‘tụ tập quanh lò sưởi
gia đình trên vỉa hè, ăn cơm, hoặc đang ngủ. Trong các tháng nóng bức
nhất già trẻ, như các đống quần áo cũ, ngủ trên các bậc thang của Bộ
Thương mại, trên vỉa hè, trong khung cửa, bất cứ nơi đâu ở bên ngoài
sân nhà ngột ngạt và ngôi nhà nơi họ sinh sống, mỗi gia đình mội phòng.
Chuột chạy qua người họ khi họ ngủ, cắn xé giành các mẩu rác thực

phẩm và đôi khi chết chìm trong vũng nước tích tụ dưới các hố trú ẩn lộ
thiên bằng bê tông. … Thậm chí trong rạp chiếu bóng cũng có chuột.’
Julian Harston, một sĩ quan SIS khác, mô tả cách thức họ thử ước tính số
lượng của việc động viên quân nhân mới nhất bằng cách đếm những ống
tiêm chủng đã dùng rồi trong các thùng rác bên ngoài quân y viện. Khi
nhân viên người Việt của tổng lãnh sự Anh dám nhận quà của chủ, họ
quá nghèo đến nỗi họ chọn bộ dụng cụ sửa xe đạp, dạo cạo râu, thuốc
aspirin – thậm chí các chai không. Tất cả những điều này tạo thành dữ
liệu mỏng từ đó tạo thành bức tranh tình báo, mặc dù thú vị thay, vào
cuối năm 1970 Daphne Park là một trong số những người cho rằng chế
độ đang gặp rắc rối.
Việc người Trung Quốc rút nhân sự về nước – dù các chuyến tàu chở
hàng thì không – làm xứt mẻ uy tin của Lê Duẩn và Lê Đức Thọ, những
người trung thành với Mao. Tại Hội nghị Toàn thể Ủy ban Trung ương
lần thứ 18, một nghị quyết được thông qua xác nhận rằng đất nước ‘phải
đáp ứng với những cuộc tấn công của kẻ thù không chỉ bằng đấu tranh
vũ trang và hoạt động chính trị, nhưng cũng bằng chính sách ngoại giao
‘. Lời bình phẩm mơ hồ này không biểu thị sự đứt gãy ở thượng tầng –
không có con chim bồ câu đủ lông đủ cánh nào dám cất cánh bay ở Hà
Nội – nhưng cho thấy rõ là nhiều người Miền Bắc khao khát hoà bình.
Căng thẳng tăng cao giữa bộ chính trị và người cộng sản Miền Nam.
Những bộ trưởng trong CPCMLT như Trương Như Tảng và Nguyễn
Văn Kiệt thấy mình bị ‘các vô sản’ Hà Nội nhạo báng là có nguồn gốc
tư sản. Tảng bộc bạch: ‘Nhiều người trong chúng tôi xuất thân từ các gia
đình giàu có và đã quen với cuộc sống đầy đủ trước khi gia nhập cộng
sản. Động lực của chúng tôi thay đổi, nhưng chúng tôi tự xem mình là
những người đã hi sinh nhiều cho đất nước, và sẵn sàng để hi sinh tất
cả.’ Tảng tuyên bố mình không bao giờ xem mình là người cộng
sản, nhưng nhận ra rằng ‘ngay từ 1920, đồng minh duy nhất mà chủ
nghĩa dân tộc Việt Nam biết đến là Cộng sản Quốc tế. Hồ Chí Minh
nhìn nhận sự hậu thuẫn của nó với tất cả hừng hực nhiệt huyết của một
người sắp chết chìm.’ Dù vậy, Tảng càng ngày càng khó chịu với tính
nghiêm ngặt ý thức hệ của Lê Duẩn và các đồng chí của ông ta, viết: ‘họ
đã hy sinh lương tâm và tính thực tiễn cho các xác tín của tôn giáo chính

trị của mình. Giữa tính xấc xược sắt đá của họ, không có chỗ trống cho
sự thỏa hiệp.’
Quân đội Miền Bắc đang chịu khủng hoảng nhân lực, hậu quả của nó
lan tỏa toàn bộ xã hội: công an diễn tập một vụ trấn áp theo định kỳ các
biểu tình phản chiến. Tình trạng quân đội thiếu hụt các tân binh tuyển
mộ nhiều đến nổi họ buộc phải chấp nhận vào hàng ngũ những người
như Nguyễn Hải Định 33 tuổi, vốn hàng thập niên bị gạt bỏ vì là con
trai của một điền chủ. Định chỉ có một tham vọng quân sự – đào ngũ:
‘Ở Miền Bắc, tôi không có gì.’ Anh ôm ấp một ước mơ xa vời là đi đến
Mỹ. Anh chịu đựng gian khổ thường lệ trên Đường Mòn với Tiểu đoàn
28, và học tập chính trị cật lực đến nỗi được chỉ định làm quyền sĩ quan
chính trị: ‘Tất cả ở trong đầu tôi, nhưng không ở trong trái tim tôi. Ai
biết nghĩ cho mình và muốn sống còn trong một xã hội cộng sản đều
phải trở thành một diễn viên tốt. ‘
Định bị lủng màng nhĩ trong một vụ đánh bom B-52 trước vụ rối loạn
Cao Miên tạo cơ hội cho anh chuồn khỏi đơn vị và ẩn nấp trong một
ngôi trường. Vào ngày 23 tháng 5, vẫy khăn trắng, anh thận trọng ló
mặt ra đầu hàng Sư đoàn 25 Mỹ. Anh không ăn uống hai ngày rồi,
nhưng khi được đưa cơm và thịt hộp, anh nuốt không vô. Được giao cho
trung tâm chiêu hồi tại Sài Gòn, anh cảm thấy không thoải mái giữa
đám nông dân chiếm đa số người cư trú tại đó: ‘Một số là người chống
cộng thứ thiệt, nhưng nhiều người chỉ đơn giản sợ đánh nhau.’ Sau khi
được cải huấn một năm, họ được trả tự do 6 tháng trước khi bắt buộc
phải gia nhập QĐVNCH. Định không thiết đến việc chiến đấu tiếp cho
phe này hoặc phe kia. Bị từ khước hi vọng di cư sang Mỹ, anh nhờ mối
liên hệ gia đình được giới thiệu đến một chủng viện Công giáo. Tại đó
bốn năm sau, phục vụ công việc lễ sinh và huấn luyện để trở thành một
giáo sĩ. Một người làm trò hề, khi anh đọc Kinh Thánh, giờ đây anh đã
quá quen thuộc, anh thích thú khi chủng viện tọa lạc sát phía sau nhà
của xếp CORDS (Hoạt động Dân sự và Hỗ trợ Phát triển Nông thôn)
Bill Colby. Quan trọng nhất, ‘lần đầu tiên từ năm 1954 tôi có đủ thức
ăn’: Định tăng trọng đến 60 cân, biến anh trở thành một trong số ít
người hưởng lợi từ cuộc phiêu lưu của Nixon vào Cao Miên.

2 Phản Khủng Bố
Đến năm 1972 có hơn 200,000 bộ đội Miền Bắc và Việt Cộng chiêu
hồi, hầu hết trong tinh thần của Định, vì lý do muốn ra khỏi cuộc
chiến, hơn là yêu mến chế độ Sài Gòn. Một buổi chiều Frank Snepp
của CIA và một thông dịch viên dẫn một anh chiêu hồi mà ông đang dụ
dỗ đến một quán ba ở Sài Gòn, nơi tấp nập gái gú và lính Mỹ say sưa.
Một lúc sau, người cộng sản lẩm bẩm gì đó. Sau một phút do dự người
thông dịch bảo với người Mỹ là y đã nói: ‘Tôi đã chọn sai. Tôi không
thuộc nơi này.’ Snepp từ đó không bao giờ mắc sai lầm về việc đi đêm
như thế nữa: ‘Y không muốn rượu, gái và nhạc. Trải nghiệm chỉ thuyết
phục y là phía ta không có những gì y mong muốn.’
Một lực lượng hiệu nghiệm hơn trong việc làm suy yếu hệ thống giao
liên là Phượng Hoàng do William Colby thai nghén như một chương
trình tình báo/hoạt động, nhằm tăng cường sức mạnh bắt bớ và tàn sát
các cán bộ chủ chốt cho người Miền Nam. Giữa 1969 và 1972 các chỉ
huy Phượng Hoàng tuyên bố đã vô hiệu hóa 80 ngàn, một phần tư số đó
bị giết. Các đơn vị gọi là Trinh Sát Tỉnh của Phượng Hoàng gồm toàn
người Miền Nam do CIA tài trợ và trả lương cao gấp ba lương quân
nhân. Một số người Mỹ xác nhận rằng nếu đồng minh tiến hành các
chương trình như thế sớm hơn, đối chọi với chủ trương khủng bố có mục
tiêu của Việt Cộng, họ có thể đã thay đổi cục diện. Đại uý TQLC Andy
Finlayson yêu thích thời gian ông làm việc với Trinh Sát Tỉnh, đặt căn
cứ tại một biệt thự tại Tây Ninh nơi thực phẩm và điều kiện sống ngon
lành: ‘Tôi nghĩ mình đang sống như trong tiểu thuyết của Graham
Greene.’ Các đội ‘tổ chức tình báo ở mức độ địa phương theo cách thức
chưa từng được thi hành trước đó’, và khai thác việc này để phá vỡ các
chi bộ của MTDTGP. Frank Scotton cũng nhất trí Phượng Hoàng rất
hiệu quả, ‘mặc dầu tôi thích một cách tiếp cận ít gây chết người hơn’.
Phượng Hoàng có tiếng là tàn nhẫn: Sĩ quan cục tình báo SAS
Úc Andrew Freemantle mô tả họ đúng là ‘dã man tuyệt đối … Tôi có lần
chứng kiến họ dùng kéo tỉa cây cắt ngón tay đeo nhẫn của một tù nhân.
Điều chắc chắn là khi các hành động thái quá của Phượng Hoàng bị bại
lộ, chúng đóng thêm một chiếc đinh khác vào quan tài của lực lượng hậu
thuẫn trong nước Mỹ.

Trước một uỷ ban Thượng viện vào tháng 2 1970, Colby phủ nhận đây
là chiến dịch phản khủng bố, nhưng hiếm có ai tin ông. Frank Snepp
nhất trí rằng nó ‘thực sự gây tổn thất cho người cộng sản ‘,
nhưng ‘Colby nói dối và nói dối, khi ông tuyên bố rằng Phượng Hoàng
chủ yếu bắt bỏ tù những người Việt. Nó luôn là một chương trình sát
nhân.’ Có thể là đúng khi cho rằng VC còn làm những điều tồi tệ hơn:
nhà nghiên cứu Mỹ Guenter Lewy tuyên bố rằng Ban An Ninh cánh tay
‘an ninh’ hoặc khủng bố của MTDTGP đã giết 36,725 người Việt và bắt
cóc 58,499 người, và các con số này có thể tin được. Nhưng người Mỹ
muốn tin rằng bên phía mình xử sự tử tế hơn. Như Trung uý Bob
Kerrey, chẳng hạn.
Kerrey, một ngôi sao bóng bầu dục trước đây từ cao đẳng Nebraska, tự
hào hợp lý khi anh tốt nghiệp là một thành viên của Đội 1 SEAL ưu tú
của Hải quân Mỹ vào mùa hè năm 1968. Tuy vậy anh hi vọng cuộc
chiến Việt Nam sẽ kết thúc trước khi anh buộc phải tham gia: ‘Lý do của
tôi mang tính cá nhân và không có tính địa chính trị… Tôi chỉ muốn lỡ
việc này mà không cần phải từ chối đi Việt Nam … Tham vọng lãng
mạn thực sự của tôi là chỉ huy một khu trục hạm.’ Tuy nhiên, anh cũng
chấp nhận làm nhiệm vụ. Kerrey 25 tuổi khi anh đáp xuống Vịnh Cam
Ranh với trung đội anh vào đầu năm 1969. Chỉ huy của họ không biết
phải làm gì với các chàng trai SEAL. Trung uý trẻ chỉ hiểu rằng anh
được giao nhiệm vụ giúp đỡ chính quyền Sài Gòn đánh bại người cộng
sản theo cách Phượng Hoàng đã làm đúng điệu, bằng cách giết
người. Bằng sáng kiến của mình, Kerrey phát động một chương trình
đổ bộ các thuyền Swift lên các bờ biển phía đông, từ đó họ tuần tra và
nằm phục kích trong đất liền. Khi không có chạm súng, họ chuyển về
đồng bằng Cửu Long, tại đó họ lên kế hoạch tuần tra từ Cát Lò vào địa
phận tỉnh Kiến Hòa [ngày nay là Bến Tre] do VC kiểm soát. Tình báo
cho biết, vào một ngày cho trước, các cán bộ cộng sản sẽ họp tại Thạnh
Phong khoảng 75 dặm đông nam Sài Gòn, giờ được xác định là địa
điểm nhận đồ tiếp tế của VC. Kerrey và đội mình đã ở trong địa phận 5
tuần: Mike Ambrose, một thành viên được tuyển mộ có kinh nghiệm từ
thời hạn nghĩa vụ trước, khuyên đừng tiến hành chiến dịch – người
thám báo/thông dịch viên của họ đang nghỉ phép. Kerrey quyết định cứ

thế mà làm; anh sau này mô tả trong hồi ký của mình anh được quận
trưởng bảo đảm rằng Thạnh Phong nằm trong vùng hỏa lực tự do.
Vào đêm 25 tháng 2 1969, một thuyền Swift chở nhóm SEAL theo một
con kênh đến nơi đổ bộ cách thôn ấp 1,000 ya. Khi họ đến ngôi nhà đầu
tiên, ‘Tôi chưa ra lệnh thì họ đã bắn giết rồi, đáng ra tôi có thể đã gọi
ngừng lại nhưng tôi không làm. Thật ra, tôi nhớ rất ít về những gì đã xảy
ra một cách rõ ràng và đáng tin cậy.’ Sau khi trừ khử những người ở túp
lều thứ nhất, ‘Chúng tôi chắc chắn có cán bộ vũ trang núp trong ngôi
nhà thứ hai giờ đang cảnh giác. Chúng tôi có hai lựa chọn: rút lui hoặc
tiếp tục lục soát các ngôi nhà trong bóng đêm. Trước khi quyết định, thì
có ai đó bắn ra về hướng các phụ nữ và trẻ em, khiến họ kẹt giữa lằn
đạn. Chúng tôi bắn trả dữ dội, và bắt đầu rút lui. Chúng tôi nhìn thấy
các phụ nữ và trẻ em ngay trước mắt bị bắn nát ra từng mảnh. Tôi nghe
họ kêu thét pha lẫn với những tiếng nói khác trong bóng đêm khi chúng
tôi lui quân.’ Người Mỹ đến điểm hẹn với thuyền, và trở lại Cát Lò trong
vòng một giờ. Kerrey viết sau này: ‘Hành động của chúng tôi không
được xem là ngoài lệ thường của một cuộc chiến kiểu du kích vốn gây
nhiều thương vong.’ Anh nhìn nhận: ‘Tôi cảm thấy ghê tởm trong lòng
cho việc chúng tôi đã làm,’ nhưng lại được xác nhận trong một báo cáo
chính thức của hải quân sau trận đánh rằng anh và binh sĩ đã hạ được 21
VC, một chiến công giúp anh được thưởng Ngôi Sao Đồng.
Một tuần sau, đội SEAL nghe tin một VC chiêu hồi muốn dẫn lính Mỹ
đến trại của nhóm đặc công đang cắm quân trên đảo Hòn Tầm, ngoài
khơi Nha Trang. Họ đổ bộ trong bóng đêm dày đặc vào ngày 14 tháng
3, và sau đó leo một vực đá cao 350 bộ, tiến hành đúng kế hoạch. Người
chỉ đường dẫn binh lính Mỹ đến một phân đội địch đang say giấc.
Kerrey để 4 người ở lại canh giữ, còn anh dẫn 3 người còn lại đi tìm
nhiều VC hơn họ biết ở gần đấy. Họ gặp địch tiến đến một vài phút sau
đó, và Kerrey chỉ kịp bắn một phát đạn thì bị thổi ngã bởi một quả lựu
đạn phát nổ. Anh rút lui, biết mình bị thương nặng. Trong cơn đau nhói,
anh sờ soạng xuống chân phải, và biết rằng bàn chân đã bị cắt đứt. Quân
y tá của anh cũng bị mảnh đạn bắn trúng một mắt, thành ra chỉ biết bó

tay.

Viên trung uý buộc dây garô ở trên đầu gối trong khi đạn lửa và tiếng nổ
gầm thét quanh anh, rồi với sự khó nhọc anh rướn người đứng dậy để chỉ

đạo binh sĩ. Khi cuộc chạm trán cuối cùng giảm xuống, anh tiêm một
mũi móc phin vào chân; một đồng đội gắn vào môi anh một điếu Camel.
Lính truyền tin gọi một trực thăng cứu thương. Họ đợi trong bầu không
khí im lặng chỉ thỉnh thoảng bị phá vỡ bởi tiếng xe cộ từ Nha Trang
vẳng lại. Khi cuối cùng trực thăng đến, một chiếc cáng được hạ xuống,
và Kerrey được kéo lên. Đến bình minh anh đáp xuống nửa mê nửa tỉnh,
mơ hồ biết rằng cuộc chiến của mình, sự nghiệp SEAL ngắn ngủi của
mình, đã kết thúc chỉ sau 50 ngày.
Một buổi sáng tại Nhà Trắng hơn một năm sau, chàng trai Nebraska ít
nói có mặt trong số 12 cựu binh nhận Huy chương Danh dự từ Tổng
thống Richard Nixon. Anh viết rằng mình cảm thấy áy náy khi tổng
thống gọi họ là các người hùng, bởi vì lúc đó cuộc chiến đối với anh
dường như là điều lỗi lầm. Dù sao thì anh xác định cũng có điều gì đó
anh hùng ‘về những người Mỹ còn muốn đi đến xứ sở xa lạ đó và chiến
đấu cho tự do của một dân tộc họ không biết hoặc hiểu rõ’.
Quá nhiều bài tường thuật về Kerrey được in khi anh đã trở nên một
người Mỹ rất nổi tiếng – cựu thống đốc Nebraska, Thượng nghị sĩ và
người yêu của ngôi sao màn bạc Debra Winger. Người hùng đẹp trai này
đã biến thành một chiến sĩ dày dạn lừng danh của phong trào phản chiến.
Chỉ lâu sau đó phần ký ức bị đánh mất của Kerrey mới được phát
hiện. Vào tháng 4 2001 tờ New York Times cho đăng, phối hợp với Đài
CNS TV, một bài điều tra về sự kiện Thạnh Phong, khác nhiều với
tuyên bố đương thời của Kerrey. Trước tiên, họ chứng tỏ rằng anh
không trung thực khi cho rằng mình không biết về ngôi làng mà đội của
anh đã tấn công: đội SEAL của anh đã trinh sát nơi này 10 ngày trước
đó. Sau đó, hành động giết người có hệ thống dường như đã xảy ra,
trong đó không có nỗ lực nào được thực hiện để phân biệt nạn nhân.
Kerrey bảo với tờ New York Times: ‘Thủ tục Hành quân Tiêu chuẩn là
loại bỏ những người chúng ta phát hiện.’ Binh sĩ anh đã giết những
người ở trong túp thứ nhất bằng dao, để không gây tiếng động. Khi họ
tiến đến thôn ấp đã dự tính một thành viên tuần tra gốc Đức Gerhard
Klann khai rằng đội SEAL họp nhau giết thêm 15 cư dân khác, hầu hết
là đàn bà và trẻ em. Một đứa bé khóc thét là người cuối cùng bị giết
chết. Klann nói: ‘Máu me khắp mọi nơi.’ Một lính SEAL khác, William
Tucker, bảo với New York Times rằng trên con thuyền về trại y đã quay

sang Kerrey và khổ sở nói, ‘Tôi không thích chuyện này chút nào,’ và
Kerrey đáp lại , ‘Tôi cũng không thích.’
Những thành viên tuần tra khác tranh cãi với tuyên bố của tờ báo cho
rằng người Việt bị tàn sát khi không có hành động khiêu khích, xác
nhận rằng họ đã nghe tiếng súng bắn tới trước khi bắt đầu trận tàn sát.
Dù sự thật là gì, một báo cáo ngày 27 tháng 2 1969 được phát hiện, ghi
chép trường hợp một ông lão người Việt đã đi đến trước các sĩ quan Mỹ
yêu cầu được bồi thường cho hành động tàn bạo được viện dẫn ở Thạnh
Phong, trong đó những người Mỹ không biết tên đã sát hại 24
người, trong đó có 13 phụ nữ và trẻ em. Cũng tài liệu quân sự ấy ghi
nhận những SEAL hải quân được biết là đã hành quân trong vùng đó.
Sau khi đối mặt với chứng cứ này, Kerrey nói: ‘Chuyện đó còn lớn hơn
là tội lỗi. Đó là nỗi hổ thẹn. Bạn không bao giờ, không bao giờ trốn
tránh khỏi nó. Tôi tưởng chết cho đất nước mình là điều tồi tệ nhất có
thể xảy ra cho bạn, nhưng giết người cho đất nước bạn có thể tồi tệ hơn
nhiều.’ Trong sự nghiệp chính trị của Kerrey, các đồng nghiệp trên Đồi
Capitol thường thắc mắc về các bí ẩn của anh mà họ không thể gỡ rối
được. Ba mươi năm sau các sự kiện đó ở Việt Nam, một lời giải thích
trở nên rõ ràng.
Các chi tiết chính xác về những gì xảy ra tại Thạnh Phong vẫn còn gây
tranh cãi, nhưng cái cơ bản dường như rất đơn giản. Một nhóm các lính
biệt kích xông xáo đột kích vào một cứ điểm VC trong một vùng mà họ
biết sơ sài, và họ nhận được giấy phép giết người, thuộc loại không hiếm
bị lạm dụng bởi các lực lượng đặc nhiệm thuộc đủ mọi quốc tịch trong
mọi cuộc chiến. Họ sử dụng quyền này để sát hại dân thường, rồi khai
dối về những gì họ đã làm. Hải quân Hoa Kỳ như một thể chế từ câu
chuyện đó hiện ra tồi tệ hơn cả những người đã đột kích ngôi làng. Nó
ban sức mạnh cho các SEAL của mình được hành động như họ đã làm,
rồi ban bố huy chương theo kiểu đề cao người hùng hơn là hiến dâng
cho việc đóng góp có trách nhiệm và văn minh vào các hoạt động chống
lại kẻ địch.
Hơn nữa, những hoạt động như Thạnh Phong – và nhiều nơi khác – bắt
phải trả giá bằng một tổn thất về chính trị cũng như đạo lý. Việt Cộng
lợi dụng mạng lưới tình báo địa phương để loại bỏ kẻ địch, thường bằng
hành động dã man. Nhưng không dân làng nào tụ họp để chứng kiến

cảnh chặt đầu và chôn sống nghi ngờ nguyên do tại sao các nạn nhân bị
giết: vì chống đối cách mạng. Ngược lại, khi người Mỹ hoặc quân đội
Sài Gòn sát hại dân chúng, dù một số hoạt động hoặc có cảm tình với
cộng sản – gần như chắc chắn là trường hợp ở Thạnh Phong – nhưng
người khác thì không. Bản chất bừa bãi của hành động gieo rắc khiếp
đảm do người Mỹ không biết nhận diện nhân dạng, nói chi đến lòng
trung thành, của những người mà chiến binh Mỹ giết hại, giáng thiệt hại
cho các mục tiêu chiến lược của Hoa Kỳ không kém cho tính hợp pháp
đạo lý trong nỗ lực chiến tranh của họ.
Những hành động của đội SEAL của Kerrey được Đại uý Roy Hoffman
thuộc Hải quân Mỹ giám sát, người có nhiệm vụ theo dõi biểu đồ treo
trên tường ghi lại số quân địch bị giết. Theo lời của Kerrey, ‘họ cần thi
thể’: các đô đốc đang tìm cách gia tăng cổ phiếu thị trường trong cuộc
chiến, và trong bất kì vinh quang nào có được. Anh nói rằng anh gần
như muốn trả lại Huy chương Danh dự của mình, cảm thấy không xứng
đáng sau khi vụ lùm xùm về Thạnh Phong xảy ra trong năm 2001,
nhưng nói thêm, ‘Tôi không cầu mong thông cảm. Tôi chịu đựng được.’
Anh cũng nhấn mạnh rằng dù bất cứ việc gì đội SEAL đã làm hay không
làm ở Thạnh Phong, thì các thuyền tuần tra của Hải quân Mỹ cũng đang
xuôi ngược trên vùng sông nước hỏa lực tự do của miền đồng bằng, bắn
giết bừa bãi, còn trên đầu thì phi cơ Mỹ tiếp tay. Rõ ràng trong lời phát
biểu này là ngụ ý việc lên án hành động quá trớn của anh và binh sĩ
mình khi đối diện với kẻ thù là điều bất công, trong khi bộ máy chiến
tranh Mỹ đang giết bừa bãi hàng trăm mạng người mà không ai ở bánh
lái thuyền tuần tra hoặc buồng lái phi cơ bị cho là có trách nhiệm, còn
anh thì cứ bị săn đuổi để gán tội suốt nhiều năm sau đó.
Khi Andy Finlayson thẩm vấn một tù binh cộng sản cao cấp bắt được tại
Cao Miên, y mô tả sự khó khăn của người cộng sản là nghiêm trọng, đặc
biệt do chiến dịch Phượng Hoàng. Người Mỹ hỏi liệu điều đó có nghĩa
là các lực lượng Hà Nội sắp sửa bị thảm bại. Viên sĩ quan địch mỉm
cười, lắc đầu và trả lời: ‘Ông quá xa nhà và không hiểu các thực tế chiến
lược của đất nước này. Dân chúng nước ông rồi sẽ mệt mỏi khi họ thấy
càng ngày càng có nhiều lính Mỹ chết mà không có triển vọng gì. Tổng
thống ông cũng đã nói các ông đang rút đi. Chúng tôi sẽ đợi cho các ông

đi hết rồi sẽ tấn công, tấn công, tấn công cho đến khi chế độ bù nhìn sụp
đổ. Thắng lợi của chúng tôi không thể khác được.’
Vào tháng 11 1979, Fred Weyand tham dự lễ giao lại cho QĐVNCH bộ
chỉ huy Sư đoàn 25 cũ của ông, và thú nhận nỗi buồn rầu sâu sắc:
‘Chúng tôi ra đi, và họ chưa sẵn sàng tiếp nhận. Chúng tôi không còn
nhiều đòn bẩy đối với Miền Bắc một khi chúng tôi bắt đầu rút quân.’ Địa
phương quân và Nghĩa quân gánh chịu tổn thất nặng nề hơn anh em
chính quý của họ, mất đến 15,783 chết trong khi QĐVNCH chỉ mất
5,602 người trong năm 1970, và đến năm sau còn tệ hơn nữa. Lực lượng
vũ trang Miền Nam lớn thứ tư thế giới, nhưng ý chí và kỹ năng của họ
vẫn còn có vấn đề.
Tại mỗi bước ngoặt, người Mỹ dường như thế nào cũng gặp vận xui.
Nixon tha thiết bày tỏ mối quan tâm đến số phận các tù binh bị bắt giữ
tại Miền Bắc, một vấn đề càng ngày càng gây xúc động trong nước: ông
sợ rằng một số gia đình các tù binh sẽ về phe với phong trào phản chiến.
Vì vậy ông ra lệnh một trận đột kích xuống Sơn Tây vào tháng 11 1970,
cách Hà Nội 20 dặm về phía bắc, hi vọng giải phóng được một số người
Mỹ được cho là bị giam giữ ở đây. Ba ngày trước khi tiến hành sứ mạng
giải cứu, máy bay giám sát cho thấy phức hợp trống rỗng – tù binh đã
được chuyển đi. Washington tuy vậy cũng ra lệnh cuộc đột kích trực
thăng phải được thi hành, vào đêm 20-21. Các nhóm đột kích trở về tay

không.

Những người ngưỡng mộ Tướng Creighton Abrams xác nhận rằng vào
cuối năm 1970 cuộc chiến đi theo đường lối Mỹ, và rằng chỉ có sự sụp
đổ của ý chí chính trị quốc nội mới cản trở sự tận dụng của thế áp đảo
mới được thiết lập trên trận địa. Sử gia Lewis Sorley, người cầm cờ tiên
phong cho giới lãnh đạo MACV, đã viết: ‘Cuộc chiến chưa kết thúc,
nhưng thắng lợi đã đến.’ Thậm chí ở lằn tên mũi đạn, còn có một số
người tin tưởng chân thành. Trung uý Mel Stephens rời Việt Nam vào
cuối năm 1969 đã được thưởng Ngôi Sao Bạc, Ngôi Sao Đồng, 2 huy
chương Trái Tim Tím và nhiều bằng khen cho các chiến dịch ven sông
của Hải quân Mỹ, và sau đó trở thành phụ tá riêng của Đô đốc Bud
Zumwalt với vai trò chỉ huy các chiến dịch hải quân. Sau khi rời quân
ngũ anh cùng với Kerrey và một số cựu binh khác công khai hậu thuẫn
cuộc chiến của Mỹ tại Việt Nam, và thật ra lên tiếng cho chủ trương đó

trước uỷ ban Quan hệ Đối ngoại Thượng viện. Anh nói: ‘Đối với tôi, đó
là một cuộc chiến tốt đẹp. Tôi đã trải qua các trải nghiệm phi thường, và
hồ sơ tác chiến của tôi mở ra những cánh cửa phi thường cho tôi. Tôi tin
Việt Nam hóa có thể thành tựu và tất cả đều sẵn sàng.’
Điều có thể đúng là với lực lượng VC teo tóp do chiến dịch Phượng
Hoàng và bị tiêu hao trên chiến trường, Miền Nam có thể đã vững mạnh
dưới quyền kiểm soát của chế độ không cộng sản, cho dù không được
dân yêu mến, nếu không có sự tham chiến tiếp tục của quân đội Miền
Bắc, cùng với sự vỡ mộng của nhân dân Mỹ.
Tuy nhiên, đối với chính quyền Nixon, Lê Duẩn và Quân đội Miền
Bắc là các thực thể bất biến như gió mùa và bò cạp. Abrams, nhớ về
các trải nghiệm 1944-45, phát biểu một cách buồn rầu rằng người Miền
Bắc ‘giống như dân Đức – bạn cho họ 36 giờ và, quỷ tha ma bắt, bạn
phải bắt đầu cuộc chiến lại từ đầu.’ Vào cuối năm 1970 ông đang tìm
cách đạt được điều này với một quân đội nhỏ hơn nhiều so với quân đội
ban đầu: 140,000 binh sĩ Mỹ đã về nước. Tại Paris, Kissinger rút lại yêu
cầu Quân đội Miền Bắc phải rút quân tương xứng: ông không còn tin
tưởng Ông già Noel.

3 Trận Lam Sơn 719
Có điều kỳ cục là trong khi Bắc Việt là một xã hội toàn trị kỷ luật sắt
hiểm ác, nó lại được trị vì bởi một chế độ dân sự, thì Miền Nam, có chủ
định là một nước dân chủ, lại do các tướng lĩnh cai trị, những người
không có tài năng về chính trị lẫn quân sự. Lewis Sorley trong tiểu sử về
Creighton Abrams đưa ra nhận xét nổi bật là Nguyễn Văn Thiệu ‘có thể
nói là một con người lương thiện và tử tế hơn Lyndon Johnson, và – dù
có sự khác biệt trong các tình huống tương ứng – hoàn toàn chắc chắn
là một tổng thống hiệu quả hơn của đất nước mình’. Ông cũng so sánh
với vẻ ưu ái tham mưu trưởng QĐVNCH thời 1965-75 Tướng Cao Văn
Viên với Earle Wheeler, cho rằng người trước thích hợp hơn.’ Nhưng
Thiệu thể hiện sự khéo léo trong việc duy trì sự tin cậy và thiện chí của
người Mỹ, chủ yếu vì ông chìu theo ước muốn của họ, hơn của nhân dân
mình. Viên là sĩ quan có năng lực hợp lý, nhưng không thể phát huy vì
tổng thống của ông cứ khăng khăng bổ nhiệm những tư lệnh trung thành
chứ không có tài năng chỉ huy.

Việt Nam hóa ấn vào tay hai người và vây cánh của họ một gánh nặng,
thình lình họ được giao quyền cai trị đất nước mình và điều hành cuộc
chiến thay thế người Mỹ. Vậy mà thật nghịch lý, ngay sự tồn tại tiếp tục
của chế độ Thiệu vẫn còn đang được tranh cãi tại Paris giữa Miền Bắc
và một người Mỹ – Henry Kissinger – mà không có bất cứ đại diện nào
của Sài Gòn đủ tư cách để tham dự nghiêm túc: người cộng sản không
hề chính đáng khi dán nhãn hiệu Thiệu và các phụ tá là ‘bù nhìn của Hoa
Kỳ ‘. Trong khi đó, tuy quan điểm về bộ chính trị Hà Nội có khắt khe
đến đâu, không ai ngoài Nhà Trắng và giới truyền thông bảo thủ Hoa
Kỳ còn coi Lê Duẩn và các đồng chí của ông chỉ là tay sai của Xô viết
và hoặc người Trung Quốc.
Không có gì ngạc nhiên khi việc tung QĐVNCH vào một kiểm tra chiến
trường lớn không được quyết định tại Sài Gòn, mà tại Washington. Tuy
tiền lãi từ cuộc xâm nhập vào Cao Miên năm 1970 là nhỏ nhoi,
Washington vẫn khăng khăng ra lệnh duy trì áp lực quân sự vào quân
đội Miền Bắc hòng có được hi vọng rút ra các nhượng bộ từ họ ở Paris.
Kissinger bảo với Arthur Schlesinger: ‘Tôi đã suy nghĩ nhiều về việc từ
chức,’ nhưng rồi nói thêm ông đã tham gia vào một việc mà ông không
thể nói ra, nhưng phải đi tới cùng.
Schlesinger giả định rất đúng việc này chính là các buổi hội đàm bí
mật. Về bản thân Nixon, Kissinger nói ‘ông ta là một người rụt rè, cần
lòng trắc ẩn’. Ông nói thêm rằng khi cuộc bầu cử 1972 sắp đến gần
trong lúc phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam đang rầm rộ, ‘Nixon
có đủ hậu thuẫn để thắng cử, nhưng không đủ để trị vì.’
Hành động mới của Quốc Hội – luật sửa đổi Cooper- Church tháng 12
1970 – ngăn cấm hành pháp gửi thêm bộ binh Mỹ quá biên giới Miền
Nam. Nhưng vấn đề đồ sộ vẫn là ngăn chặn dòng người và đồ tiếp tế đi
xuống Đường Mòn Hồ Chí Minh. Năm 1970 Miền Bắc nhận được hàng
tiếp tế tăng tốc, ước tính hai triệu tấn rưỡi, bao gồm 500 quân xa một
tháng. MACV báo cáo: ‘Cuộc chiến hậu cần của nam Lào và đông bắc
Cao Miên giờ được xem như là cuộc xung đột sinh tử đối với VC/Quân
Miền Bắc.’ Vào đầu năm 1971, Chỉ huy Không Lực 7 Tướng Lucius
Clay mô tả các chỉ thị từ Creighton Abrams: ‘Ông muốn Đường Mòn
phải ở trong tình trạng mà một con quạ phải mang khẩu phần của nó khi
bay qua đó.’ Tham mưu của Clay nhận diện 4 ‘nút chặn’ – đèo Mụ Già,

Ban Karai và Ban Raving, cùng với một địa điểm khác ngay phía tây
vùng Phi Quân sự. Các máy cảm biến chuyển động mới được lắp
đặt, do máy bay không người lái giám sát. Mỗi ‘nút chặn’ được chỉ định
để nhận mỗi ngày hoặc mỗi 60 ngày ít nhất 27 lượt xuất kích B-52 và
125 lượt của máy bay chiến thuật. Bom và mưa thật ra đã làm những
đoạn Đường Mòn không thể đi xe được trong hàng tuần liền, vậy mà bộ
đội Miền Bắc ở trong Nam vẫn nhận được vừa đủ hàng tiếp tế và quân
nhu để tiếp tục chiến đấu.
Trong khi đó ý muốn tài trợ cho việc Việt Nam hóa của quốc hội mỏng
dần, và các vụ xuất kích của Không lực Mỹ ngày càng bị hạn chế nhiều
hơn – 14,000 mỗi tháng giờ đây được cho phép không bằng phân nửa
chỉ tiêu 1969. Vào cuối năm 1970, Nixon và Melvin Laird đối mặt với
viễn ảnh tài trợ cuộc chiến cho năm sau chỉ với 11 tỉ, so sánh với 30 tỉ
năm 1969.
Trước bối cảnh này, hành pháp Mỹ quyết định liều lĩnh dấn sâu vào một
chiến trường: tung ra một lực lượng lớn QĐVNCH, được hỏa lực không
quân và pháo binh yểm trợ, chống lại quân Miền Bắc ở Lào. Vào tháng
12 1970 phụ tá quân sự của Kissinger, Chuẩn tướng Alexander Haig
càng ngày càng có ảnh hưởng, được phái đến Sài Gòn để giải thích đề
xuất này cho Abrams.
Việc tranh cãi vẫn còn tiếp tục xem ai là người đề xướng chiến dịch có
phần vụng về mang mật danh Lam Sơn 719: Lewis Sorley, người tiên
phong của Abrams, nói đó là Haig; Haig sau này xác nhận rằng nó xuất
xứ từ Nixon và Kissinger.
Xếp của Abrams, Tổng tư lệnh Thái Bình Dương Đô đốc John McCain,
người mà chủ trương chiến tranh càng thêm mạnh mẽ khi con trai phi
công hải quân của ông bị bắt làm tù binh ở Hà Nội, đã ưng thuận việc
xâm nhập Cao Miên, và giờ hậu thuẫn cho một cuộc thọc sâu vào Lào,
dù ông bảo với Abrams, ‘Tôi nhận thấy chiến dịch có thể vướng nhiều
vấn đề.’ Vị tướng đến báo cho Thiệu, và ông đồng ý tung QĐVNCH cho
một mũi thọc sâu mà mục tiêu cuối cùng là thị trấn Lào Tchepone. Vào
ngày 10 tháng 12 Đô đốc Thomas Moorer, người kế nhiệm Earle
Wheeler trong vai trò chủ tịch Tham mưu trưởng Liên quân, chuyển cho
Abrams lệnh của tổng thống cho chiến dịch. Moorer nói nó sẽ chống đỡ
cho việc Việt Nam hóa: ‘Sự thiếu cơ động của địch khiến chúng ta có

thể cô lập chiến trường và bảo đảm thắng lợi cho QĐVNCH.’ Người Mỹ
tin rằng nếu quân đội Miền Nam có thể gây tổn thất cho các tuyến
đường tiếp tế của quân Miền Bắc họ có thể được rảnh tay trong một
năm. Abrams lo lắng quân Miền Nam không đủ năng lực thực thi chiến
dịch, và cảnh báo rằng ở Lào ‘quân địch có thể được kỳ vọng sẽ phòng
thủ khu căn cứ địa và các trung tâm hậu cần của họ, không như ở Cao
Miên. Tuy nhiên, ông không tìm cách áp đặt một phủ quyết, và thật ra
còn chấp nhận trách nhiệm toàn bộ. Abrams do đó phải gánh lấy sự đổ
tội nặng nề cho những gì xảy ra.
Tại một cuộc họp các đại điện vùng tại Sài Gòn vào ngày 17, xếp trạm
CIA Ted Shackley báo cáo rằng phe cộng sản mong đợi các đồng minh
phát động một mũi tiến công vào căn cứ địa của mình. Quân đội Miền
Bắc triển khai các lực lượng hùng mạnh ở nam Lào; trong khu rừng rậm,
có ít chỗ để trực thăng đáp xuống được. Vào ngày 26 tháng 1 1971 CIA
cũng nhận được tín hiệu địch được giải mã cho biết họ đã tiên liệu cuộc
tấn công, và tín hiệu kết luận: ‘Sẵn sàng động viên và đánh trả địch
mạnh mẽ. Hãy cảnh giác.’ Một nghiên cứu hậu chiến của Hà Nội thẳng
thắn nhìn nhận vị thế yếu đuối của họ tại Miền Nam vào thời điểm đó:
‘Năng lực phòng thủ của chúng ta đã sút giảm,’ các hoạt động du kích
đã giảm bớt. Ở Lào, ngược lại – ngay trên ngưỡng cửa của mình – họ
cảm thấy tự tin hơn nhiều: ‘Chúng ta nắm giữ thế tiến công chiến
lược và mạnh hơn kẻ thù.’ Hà Nội, gần như chắc chắn được một người
đưa tin trong quân đội Sài Gòn mật báo cho biết, tiên liệu là Saigon sẽ
mở một chiến dịch với sự tham gia của 15 đến 20 tiểu đoàn. Bộ chính trị
ra chỉ thị: ‘Đây sẽ là một trận có tầm quan trọng chiến lược quyết định.’
Sân Rồng xác định khu vực Bản Đông-Tchepone là chiến trường thuận
lợi cho binh sĩ họ – sát với Miền Bắc, rừng rậm cho họ sự che chở an
toàn trên đầu khỏi phi cơ Mỹ. Các nhà hoạch định Cộng sản tuyên bố
mục tiêu giết được 12,000 binh lính Miền Nam và phá hủy 300 phi cơ và
trực thăng.
Tại Sài Gòn, khi ngày tấn công ấn định vào tháng 2 1971 đến
gần, Abrams trở nên càng lo lắng hơn, băn khoăn về QĐVNCH: ‘Chúng
tôi hối thúc họ quá căng … đi quá xa quá nhanh.’ Vào ngày 29 tháng
giêng ông cảnh báo với Moorer rằng địch đang chờ đợi, vậy mà vẫn
không yêu cầu hủy bỏ chiến dịch. Sai lầm đau buồn nhất, trong đó toàn

bộ giới lãnh đạo Mỹ là đồng lõa, là không nhận ra được nguy cơ của
Lam Sơn 719 vượt xa bất kì lợi thế nào nếu có. Nếu người cộng sản
đánh bại một cuộc tấn công quy mô này, như nhiều sĩ quan Mỹ nghĩ là
chắc chắn, thì toàn bộ mặt tiền của công cuộc Việt Nam hóa phải
nghiêng ngả. Việc này, tại một thời điểm khi khí hậu chính trị đang tồi
tệ: vào tháng giêng Nixon đã ký Đạo luật Ngoại Thương được đính kèm
lệnh bãi bỏ Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ, mặc dù Nhà Trắng phủ nhận rằng
đạo luật này không áp đặt hạn chế mới nào lên quyền tiếp tục chiến đấu
bên trong Việt Nam.
Trong tầm với các cuộc thọc sâu dự kiến của Sài Gòn, quân Miền Bắc có
thể tung vào khoảng 60,000 quân, với 8 tiểu đoàn đặc công, đầy đủ
pháo, và thậm chí xe tăng. Quân đội Sài Gòn phải được trực thăng vận
và chở xe bọc thép đến 9 mục tiêu kế cận, giữa 20 và 40 dặm phía tây
Khe Sanh. Tư lệnh Quân đoàn I, Hoàng Xuân Lãm, mà năng lực yếu
kém đã rõ ràng, nắm quyền chỉ huy tổng quát. Trung tướng ‘Jock’
Sutherland, dẫn đầu Quân đoàn XXIV, điều khiển lực lượng Mỹ yểm trợ
chiến dịch, cùng với 53 trực thăng Chinook, 500 trực thăng Huey, 18 lựu
pháo 155mm, 16 pháo 175mm, 8 lựu pháo 8-inch. Cách biên giới Lào
100 ya là một bảng hiệu: ‘CẢNH BÁO, KHÔNG CÁ NHÂN MỸ NÀO
ĐƯỢC VƯỢT QUA ĐIỂM NÀY’. Thiếu tá Trần Ngọc Huê, người đã
chỉ huy ‘Hắc Báo’ trong trận đánh Huế 1968, có linh cảm không tốt về
chiến dịch quá tham vọng này: trước khi dẫn bộ binh 2/2nd vào trận địa
anh nói nghiêm túc với Dave Wiseman, cố vấn tiểu đoàn ở lại phía sau:
ông có nhận con cái mình làm con nuôi không?
Lam Sơn 719 khởi sự vào 8 tháng 2 1971. Một đoàn xe bọc thép gồm 62
xe tăng và 162 M-113 tiến theo hướng chính phía tây dọc theo Đường 9,
trong khi lính Dù và Biệt động bảo vệ sườn phía bắc, Sư đoàn 1 Bộ binh
phía nam. Huey được cả phi công Mỹ lẫn Việt cầm lái chở binh sĩ Sài
Gòn vào trận địa. Người cộng sản quá tin chắc địch thế nào cũng mò tới
đến nỗi họ đã chuẩn bị sẵn các đường mòn quanh chiến trường dự kiến,
tích trữ quân nhu, củng cố một số ngọn đồi và cầu. Họ tiến hành thám
sát địa hình cẩn thận, và một số đơn vị đã diễn tập ngay trên trận địa.
Tuy vậy quân Sài Gòn cũng đạt được bất ngờ chiến thuật tạm thời: quân
cộng sản choáng váng trước số lượng của đoàn trực thăng đang tiến đến,
nên đáp ứng chậm chạp. Ít sĩ quan Miền Bắc nào đã trải nghiệm một trận

giao tranh quy mô với đủ loại vũ khí: thiếu hụt máy truyền tin cũng gây
trở ngại cho chỉ huy và kiểm soát.
Qua một ít ngày đầu tiên, không có gì khủng khiếp xảy đến cho bên tấn
công; dưới thời tiết tồi tệ, các xe tăng Sài Gòn kết nối với một tiểu đoàn
Dù tại Bản Đông (A Lưới trên bản đồ Mỹ), 12 dặm sâu vào đất Lào. Bộ
binh thiết lập ụ pháo và đào hố. Hà Nội sau này nhận rằng một số chỉ
huy của họ bị bất ngờ: ‘Chúng tôi không nắm vững tất cả hoạt động của
địch … Nhiều đơn vị triển khai trận đánh quá sớm.’ Vào ngày 13,
Tướng Viên bảo với Abrams rằng Tổng thống Thiệu đã chỉ thị các lực
lượng không được tiến sâu hơn về phía tây. Tin đồn, không hề được
kiểm chứng, cho rằng Thiệu cũng bí mật ra lệnh chiến dịch phải hủy bỏ
nếu hoặc khi số thương vong của quân đội Sài Gòn vượt quá 3 000.
Tại Lào, cán cân trận địa từ từ nghiêng dù chậm nhưng luôn tiếp tục về
phía bất lợi cho Sài Gòn khi cộng quân tập trung ngày càng nhiều hơn
các lực lượng hùng mạnh chung quanh 16 tiểu đoàn của phe xâm lấn.
Abrams thúc giục một cách vô vọng binh sĩ Sài Gòn tiếp tục dấn tới,
cảnh báo rằng nếu họ chỉ ngồi túm tụm, kẻ thù có thể pháo họ tan xác
dễ như chơi. Vào đêm 18 tháng 2, hai tiểu đoàn bộ đội đột kích vào tiểu
đoàn 39th Biệt động, khiến tiểu đoàn này nhanh chóng rút lùi. Các ụ
pháo của QĐVNCH bị hỏa lực địch đánh phá tơi bời – một ụ bị bỏ lại
sau khi tất cả pháo ở đấy đều bị bắn lật. Ba trăm dặm về phía nam, vào
ngày 23 tháng 2 vị tướng lĩnh đáng nể Đổ Cao Trí thiệt mạng trong tai
nạn rơi trực thăng. Cái chết của ông tác động lớn đến Lam Son 719, vì
người ta đồn rằng ông sẽ được cử đến để thay thế Tướng Lãm, mà sự bất
tài của ông đã trở nên quá sức chịu đựng.
Một tuần sau, một Sutherland hốt hoảng bảo với MACV qua điện thoại:
‘Địch ở khắp mọi nơi trên khu vực chết tiệt đó và dường như ngày càng
mạnh lên … Đúng là đụng độ lớn trên đó.’ Abrams nổi dóa với vị phụ tá
của mình, người mà ông kết tội là không nắm vững một tình hình đang
trở nên tồi tệ. Lần đầu tiên trong cuộc chiến, xe tăng đấu với xe tăng.
Yểm trợ không lực chỉ gặt hái hiệu quả hạn chế, vì thiếu các trinh sát
tiền tiêu Mỹ ở mặt đất – ít có sĩ quan Miền Nam có đủ kỹ năng tiếng
Anh để liên lạc với phi công Mỹ; lực lượng phòng không từng ngày
càng tệ hơn, gây tiêu hao đến mức báo động; không ngờ đến nhất và gây
bối rối nhất là khả năng phục vụ của trực thăng Mỹ xuống dốc thê thảm

– chỉ một phần tư số trực thăng tác chiến Huey còn bay được. Trung
tướng Fred Weyand bốc hoả: ‘Các ông được một tư lệnh quân đoàn trên
đó chắc để theo dấu chân vịt chết tiệt hay sao mà chẳng làm nên trò
trống gì. Ở trên đó chắc có gì sai rồi … Y chả biết tình hình chó má nào
đang diễn ra.’ Abrams cũng nộ khí xung thiên với Sutherland: ‘Toàn bộ
khái niệm chiến lược quốc gia đang lâm nguy ở đây!’
Nhà Trắng càng lúc càng báo động. Kissinger nói vào cuối tháng 2: ‘Tôi
không hiểu nổi Abrams đang làm gì.’ Trung tướng Bruce Palmer, phó
tổng tham mưu quân đội chua chát viết: ‘Kissenger muốn nắm quyền đại
nguyên soái khi tình hình diễn biến thuận lợi, nhưng không hiểu rõ bản
chất của chiến tranh và các bấp bênh khó lường của nó, cho nên mới tức
tối và khó chịu khi Lam Son 719 sa lầy.’ Trong khi đó xếp của MACV
còn níu kéo hi vọng: ‘Chúng ta có một trận đánh thực sự ác liệt. Chúng
ta phải bám lấy nó và sẽ thắng … Chúng ta đã bị nhấn chìm bởi các tên
tiên tri tai họa trước rồi.’ Tinh thần lạc quan của Abrams vẫn giữ vững
vào ngày 9 tháng 3; ông ‘càng lúc càng tin tưởng rằng những gì bạn đã
đạt được ở đây có lẽ là trận đánh quyết định duy nhất của cuộc chiến, có
thể thắng được bằng hỏa lực vượt trội. Khó khăn chủ yếu cho các chỉ
huy Mỹ là họ không thể chứng kiến những gì đang xảy ra trên thực địa,
cũng không thể cử đi những người mà họ tin cậy biết quan sát theo ý
họ.
Creighton Abrams đích thân đến Thiệu, người duy nhất có quyền thay
đổi đội hình quân đội, thúc giục ông tung Sư đoàn 2 vào trận để xoay
chuyển cục diện. Tổng thống trả lời: chỉ khi nào một đội hình Mỹ cũng
được triển khai như vậy. Trong khi trận đánh tiếp tục gầm thét, các
tướng lĩnh của Thiệu khuyên ông rút quân khỏi đất Lào.
Trái lại, Alexander Haig đến Việt Nam vào ngày 18 tháng 3 và bảo với
Sutherland rằng Nhà Trắng muốn QĐVNCH giữ vững trận địa qua hết
tháng 4. Tại Washington, tinh thần đang lên theo các báo cáo không lực
đang gây tác hại cho quân địch. Mỗi tám phút một chiếc C-130 lại đáp
xuống Khe Sanh chở quân nhu và đồ tiếp tế, trong khi ba máy bay thả
pháo sáng và ba trực thăng tác chiến vần vũ trên mặt trận trong suốt
đêm. Trong quá trình trận đánh phi cơ chiến thuật của Mỹ bay 8,000
lượt xuất kích, gần 150 lượt mỗi ngày, trong khi các B-52 1,280 lượt
ném bom. Đại tá An Miền Bắc viết về khu vực chung quanh trạm chỉ

huy của ông cạnh Sông Sa Mu: ‘Lau sậy và cỏ cao trên đồi bị bom
napan đốt cháy rụi. Cánh rừng của chúng tôi trở thành một ốc đảo nhỏ
cô lập giữa đại dương cháy đen điêu tàn.’
Nhưng Miền Nam đã chịu tổn thất 5,500 thương vong. Chuẩn tướng
Haig đột ngột thay đổi ý định, nói rằng dường như đã đến lúc kết thúc
chiến dịch. Vào ngày 18 tháng 3 quân Miền Bắc tấn công ráo riết để cắt
đứt một số đơn vị Miền Nam không được che chắn. Một bộ đội của An,
một tiểu đội trưởng từ Hà Nội, viết: ”Đêm đó trăng rất sáng. Chúng tôi
lên đường ngay sau khi đêm xuống. Quân địch di chuyển hàng rào pháo
từ con đường lên sườn đồi đến vị trí phòng thủ củng cố của chúng
tôi, rồi đi xuống một lần nữa, rồi lên xuống hết lần này đến lần khác.
Chúng tôi bị thương hai người, chỉ còn 7 người còn sức chiến đấu. Mỗi
người đào một vị trí tác xạ nhanh như có thể, một số núp dưới hố bom
hoặc hố cá nhân cũ mà địch đã đào trước đây. Rồi tôi nằm xuống, kéo
võng choàng qua người, và ngủ như một khúc gỗ. Tôi tỉnh dậy ngay
trước bình minh. Mưa đã thấm sũng nước quần áo tôi. Trời rét cóng đến
nổi tôi không thể không nghiến răng run lập cập. Người càng lạnh, bụng
càng đói cồn cào … Năng lượng của một nắm cơm to hơn nắm tay một
chút, mà chúng tôi ăn chiều quá đã tiêu hết khi chúng tôi phóng mình
qua hàng rào pháo.’ Rồi một người lính của ông chạy đến sau một cuộc
săn lùng vội vàng ôm một mũ sắt đựng đầy cơm mà y đã tìm được trong
một boongke bỏ lại của địch: ‘Tôi hạnh phúc tưởng như đánh thắng một
trận!’
Đúng là anh đã thắng: cộng quân đang cô lập các vị trí liên tiếp của
Miền Nam, rồi pháo kích họ tan tác, sử dụng pháo 122mm với tầm bắn
gần 14 dặm, 130mm bắn tới 17 dặm; họ dường như thờ ơ với số thương
vong của riêng mình. Quân Miền Bắc đang chơi trò phá sóng năng động,
vừa làm nghẽn sóng liên lạc của địch vừa phát đi tuyên truyền: hai bên
thóa mạ nhau trên máy truyền tin; TQLC Miền Nam hoang mang khi
nghe giọng một phụ nữ truyền lệnh tác chiến. Một bộ đội mô tả làm thế
nào anh bảo tiểu đội đi tìm các khẩu M-79, rồi vội vàng thực tập tác xạ
với chúng. ‘Chúng tôi bắn khá chính xác.’ Trong một giờ họ say sưa nã
các viên pháo 40mm vào đoàn hộ tống QĐVNCH. Chiến trường cuối
cùng im tiếng sau khi quân Miền Nam rút lui. Cộng quân thận trọng tiến

xuống con đường, đếm xác địch, giữa các quân xa bị bỏ lại máy vẫn
còn nổ.
Sĩ quan Miền Nam Trần Ngọc Huê được thăng chức đại tá thậm chí khi
tiểu đoàn của anh chịu một trận pháo kích của của Miền Bắc ngay vị trí
trên Đồi 660. Chính anh cũng bị thương vì mảnh đạn súng cối, khi binh
sĩ sống sót rút lui muộn màng anh bảo họ để anh ở lại phía sau – chỉ
một đại uý và 60 lính quân dịch tẩu thoát được. Sau khi rơi vào tay địch
Huê thất thiếu đi theo Đường Mòn Hồ Chí Minh thiếu mất vài ngón tay ,
vòi bọ gậm nhấm vết thương trên cơ thể anh. Anh 29 tuổi khi đến Hà
Nội, và trải qua 13 năm tiếp theo trong chốn giam cầm, như nhiều người
khác tham gia chiến dịch Lam Son. Thiệu đưa ra một quyết định cá
nhân, vì lý do uy tín, khăng khăng lệnh cho binh sĩ phải đến cho bằng
được mục tiêu đã định Tchepone, bằng một cuộc trực thăng vận mới
phát động vào ngày 3 tháng 3. Sau một trận đánh ác liệt các mũi nhọn
của quân Miền Nam đến được thị trấn, chỉ để nhanh chóng lui quân.
Trong lúc binh sĩ Miền Nam chiến đấu cho mạng sống của mình, các
tướng lĩnh của họ thể hiện tính khí nóng nảy và vô tích sự quen
thuộc. Lãm, tư lệnh quân đoàn, dường như tê liệt, và chỉ huy Dù chóp
bu không thèm thảo luận về chiến dịch với ông ta; vị tướng TQLC cao
cấp nhất từ khước rời Sài Gòn. Lam Sơn, Đại tá Nguyễn Duy Hinh viết,
‘bị tác hại bởi các mối bất hoà tiến gần đến tình trạng bất tuân giữa một
số chỉ huy chiến trường. Tổng thống Thiệu và Tướng Viên ắt hẳn biết rõ
những bất hoà, nhưng không có hành động sửa sai … có lẽ vì các tướng
lĩnh này được xem là cột trụ của chế độ.’ Trên chiến trường, trong lúc 5
trong số 9 tiểu đoàn trưởng Dù bị giết hoặc bị thương, một vị không hề
hấn gì lại xô đẩy để leo lên trực thăng tản thương ra khỏi trận địa. Vào
ngày 27 tháng 3 Fred Weyand bảo trong một buổi họp các tư lệnh Mỹ
rằng dường như đã đến lúc đối mặt với sự thật là thế giới xem Lam Sơn
719 như một thảm bại: ‘Chúng ta gặp một vấn đề về quan hệ quần chúng
hoặc một vấn đề tâm lý … rất, rất là trọng đại.’ Abrams phùng mang
trợn má với cách báo chí xét xử trận đánh: ông đặc biệt kích bác gay gắt
Gloria Emerson của tờ New York Times – ‘còn ngựa cái đó’ – và nói
gần như tuyệt vọng về mối quan hệ Mỹ-Việt: ‘Tồn tại một kẻ nứt văn
hoá khá lớn, và đối với một số người Mỹ dường như không thể vượt qua
được.’

Cuộc rút quân đầu tiên của Miền Nam ra khỏi đất Lào đã xảy ra vào 3
tháng 3, và tiếp tục cho đến hết tháng, trong sự hỗn loạn ngày càng tồi
tệ. Không tới nửa số tăng và hơn một phần ba một chút số xe bọc thép
chở quân của Sài Gòn còn hoạt động được: số còn lại bị hư hại, hết xăng
hoặc bị hỏa lực địch phá hủy. Người Mỹ mất hơn 100 trực thăng, thêm
544 chiếc bị hư hại. Một phúc trình của họ nói nhẹ đi: ‘Khái niệm về
tính cơ động của không lực nhận được một bài kiểm tra khắc nghiệt
trong chiến dịch này.’ Vì cuộc di tản trở nên gấp rút do quân địch ép sát,
nỗi hoảng loạn bao trùm nhiều binh sĩ Thiệu, thành ra hình ảnh lưu
truyền mãi về Lam Sơn 719 phần lớn lấy ra từ các ảnh chụp những
người trốn chạy bu quanh trực thăng, một số rơi xuống phải bấu vào
càng đáp trực thăng. Lúc mà chiến dịch đã đi đến hồi kết tơi tả, xơ
xác, thì Miền Nam đã chiến đấu ở Lào trong 42 ngày và mất gần nửa
lực lượng tham chiến, khoảng 8,000 người, bao gồm nhiều người bị bắt

làm tù binh.

MACV ước tính 13,000 bộ đội đã bị giết, nhưng điều này dường như là
quá phóng đại. Miền Bắc thời hậu chiến xác nhận tổn thất gồm 2,163
người chết và 6,176 bị thương, những con số đáng tin lên đến 13 phần
trăm lực lượng tham chiến. Tường thuật của người cộng sản gán cho nửa
số thương vong là do pháo binh và súng cối; hơn một phần ba là do phi
cơ oanh kích, bao gồm một tỉ số thấp đến kinh ngạc là 2 phần trăm là do
bom napan, vốn rất ấn tượng đối với người Mỹ và binh sĩ Miền Nam;
phần còn lại là do vũ khí nhẹ. Quân sử của họ cho biết gần phân nửa tổn
thất gánh chịu phía sau mặt trận, ắt hẳn có nghĩa do quân đội Mỹ hơn là
hỏa lực Miền Nam. Họ nhìn nhận tổn thất vật tư nặng nề: 670 súng
phòng không, 600 xe tải, một phần năm súng cối, 88 xe tăng.
Sĩ quan CIA Merle Pribbenow đã trở nên thân thiết với hai binh nhì Dù
Việt Nam, thường đến thăm căn hộ anh mỗi khi họ có dịp đến Sài Gòn.
Sau trận Lam Sơn, chỉ có một người đến không báo trước, đượm vẻ đau
buồn vì mất người bạn thân nhất và hầu hết đồng đội trong đơn vị ở Lào.
Pribbenow nghĩ: nếu đây là tình cảnh của một quân nhân thuộc binh
chủng ưu tú nhất giờ đây lâm vào ‘thì phần còn lại của QĐVNCH đủ
biết phải ở trong tỉnh cảnh khó khăn thế nào’. Bob Destatte, nguyên là
thẩm vấn viên tù binh nói tiếng Việt, hằn học nói: ‘Nếu có tội phạm nào
trong trận Lam Sơn 719, thì đó không phải là những người lính bình

thường, đã chiến đấu hết lòng, mà là những tên đã đẩy họ vào đó.’ Đại tá
Nguyễn Duy Hinh buồn rầu viết: ‘Lực lượng Sài Gòn phải bỏ lại trên đất
Lào rất nhiều người chết và bị thương. Điều này trở thành nỗi đau khủng
khiếp cho những gia đình bất hạnh đó, vốn theo truyền thống thờ cúng
và gắn kết với người thân quá vãng của họ, họ sẽ mãi mãi sống trong nỗi
đau buồn và day dứt. Đó là hành động xâm phạm đến tín ngưỡng và lễ
giáo gia đình mà người Việt sẽ không bao giờ quên hoặc tha thứ.’ Frank
Snepp của CIA nói: ‘Lam Sơn 719 báo với chúng ta mọi thứ chúng ta
cần phải biết về nơi Việt Nam hóa sẽ thực sự đi tới – và nó cũng báo cho
Hà Nội điều tương tự.
Thảm bại dấy lên cơn phẫn nộ trong Nhà Trắng, mặc dù Nixon buộc
phải làm mặt trơ trẽn, phát biểu trên truyền hình ngày 7 tháng 4: ‘Miền
Nam đã chứng tỏ rằng không có các cố vấn Mỹ họ cũng có thế chiến đấu
một cách hiệu quả chống lại binh sĩ thiện chiến nhất mà Miền Bắc có thể
tung vào chiến trường.’ Tuy nhiên, trên thực tế kết quả của chiến dịch
đảo ngược lại những gì đã được dự định: nó làm yếu đi thay vì làm
mạnh thêm, cánh tay của Hoa Kỳ trong đàm phán Paris. Trong khi yêu
cầu của chính trị nội bộ có nghĩa là rút thêm quân không dừng lại, niềm
tin cậy vào chế độ Thiệu, và quân đội ông ta như là một lực lượng chiến
đấu, đã bị đập vỡ tan.
Hành pháp tìm cách đổ lỗi một phần cho người Việt – tiêu điểm cơn
thịnh nộ của Kissinger – nhưng chủ yếu lên giới quân sự Mỹ. Alexander
Haig nói: ‘Tổng thống và những người chúng tôi ở Nhà Trắng liên quan
đến việc lên kế hoạch đã rất khiếp đảm trước cách điều hành chiến dịch
của Bộ Quốc phòng.’ Trong cơn giận dữ của mình, bản năng ban đầu
của Nixon là cách chức Abrams và thay thế ông bằng một người thân
cận bên mình. Ông bảo với Haig: ‘Bắt chuyến phi cơ sớm nhất và bay
đến Việt Nam. Anh nắm quyền chỉ huy.’ Haig sau này nói rằng mình
thuyết phục tổng thống kìm nén và hít thở cho sâu trong 24 giờ rồi hãy
ra quyết định như thế. Sau đó, tất nhiên, Nixon dịu lại. Kissinger nghi
vấn lời tường thuật của Haig, nhưng chuyện đó có thể tin được. Vị cố
vấn an ninh quốc gia nói rằng mình sẽ không bao giờ tin một lời nào nữa
từ miệng Abrams thốt ra.
Chiến dịch tranh cử tổng thống đang lù lù đến trong các tính toán của
Nhà Trắng. Vào ngày 19 tháng 3 1971 Kissinger nói: ‘Chúng ta không

thể để Miền Nam bị đánh đổ – một cách phũ phàng – trước cuộc bầu
cử.’ Nixon: ‘Nói đúng lắm.’ Kissenger xác nhận rằng nếu tổng thống
biểu lộ thái độ bỏ rơi Việt Nam trước khi người Mỹ đi bầu, ông sẽ
không tái đắc cử được; ông ra sức chống lại ‘việc mọi người đồng tình’
là rút hết quân tham chiến về nước trong năm đó. Nixon, Kissinger và
Haldeman không hề có vẻ là đã thảo luận liệu việc tiếp tục cuộc chiến
qua hết ngày bầu cử vào năm 1972 sẽ ảnh hưởng có ý nghĩa gì đến dân
tộc Việt Nam hay không. Nhà Trắng giờ đây đành cam chịu hi sinh họ.
Thách thức là duy trì cho đến một thời điểm thích hợp để làm việc đó.
Vấn nạn của gần 600 tù binh Mỹ trong tay cộng sản vẫn không ngừng
khống chế sự tranh cãi trong nước: người Mỹ mua 50 triệu nhãn dán và
135 triệu con tem bày tỏ sự hậu thuẫn đối với tù binh. Hành pháp liên
tục kêu gọi Quốc Hội cung cấp ngân sách cho nỗ lực chiến tranh còn lại,
vốn là điều duy nhất có thể gia tăng vị thế đàm phán tại Paris. Vậy mà
sau một phiên điều trần tại Quốc Hội trước buổi phát thanh truyền hình
quốc gia của tổng thống ngày 7 tháng 4, một thượng nghị sĩ yêu cầu
được trả lời tại sao, nếu nửa triệu quân trước đây đã thất bại thuyết phục
Hà Nội trao đổi tù binh, thì việc giờ đây giữ lại 50,000 quân phỏng có
ích lợi gì cho ai. Ngày hôm sau Nixon bảo với Kissinger, ‘Tất nhiên tôi
không thể trả lời với ông ấy, “Xem này, khi chúng ta rút xuống còn 50
ngàn, lúc đó chúng ta sẽ ra giá sòng phẳng – 50 ngàn đổi lấy tù binh
chiến tranh” – và họ sẽ đồng ý ngay lập tức, vì họ muốn đá đít chúng ta
ra khỏi đó cho rồi.’ ‘Nói đúng lắm,’ Kissenger nhất trí. Nixon cười lớn:
‘Anh biết hả? Ôi trời!’
John Paul Vann, xếp bình định hóa vủa mới được bổ nhiệm và là viên
chức dân sự Mỹ cao cấp ở Cao nguyên Trung phần, có chức vụ tương
đương với tướng hai sao, nói sau trận Lam Sơn: ‘Cuộc chiến dần dần
chuyển đến các khu vực của hai quân đoàn phía bắc, và hướng đến một
sự đối đầu quy ước hơn giữa Miền Bắc và Miền Nam.’ Đây là một đánh
giá chính xác. Vào ngày 7 tháng 4, máy bay trinh sát cho thấy việc lưu
thông xe cộ trên Đường Mòn Hồ Chí Minh trên đất Lào phục hồi nguyên
trạng mật độ như trước trận Lam Sơn 719.

Giữa cuộc giết chóc, cũng có vài phen khôi hài: Abrams được thuyết
trình về việc triển khai tại Vịnh Cam Ranh năm cá heo, được huấn luyện

để tấn công bọn phá hoại dưới nước. ‘Kẻ thù,’ người thuyết trình nói,
‘đã được hướng dẫn để tin rằng cá heo được huấn luyện để tấn công bộ
phận kín của người bơi lặn nam giới. Thông tin mới nhất là kẻ địch lên
kế hoạch phản công bằng cách sử dụng thợ bơi lặn phái nữ trong tương
lai.’ Vị tướng được thông báo là có một cá heo bị xổng đi. Trong khi đó,
sự sụp đổ tinh thần tại một trại lực lượng đặc biệt tại Bu Prang cho thấy
do những căng thẳng giữa người thượng và người Miên đang phục vụ tại
đó. Người thượng tôn thờ một con mãng xà sống trong khu rừng gần đó,
mà họ cứ theo định kỳ lại đến dâng cúng vật tế cho đến một ngày bọn
người Miên đến giết và ăn thịt. Các cố vấn Mỹ đứng ra hòa giải một
cách khó khăn, cuối cùng đôi bên đồng ý người Miên bồi thường bằng
việc hiến tế một con trâu trắng. Các sĩ quan lực lượng đặc biệt bèn đi lục
soát khắp vùng đất cho đến khi tìm được một con vật thích hợp, họ mua
lại, và vận chuyển về trại bằng cách treo nó bên dưới một trực thăng C-
7.

Rủi thay dây treo quấn quanh bìu dái con vật, thành ra trong chuyến
bay nó xiết con vật đến chết khi đến nơi và do đó không thể hiến tế
được. Sau khi đàm phán tiếp tục rất công phu người thượng đồng ý chấp
thuận vật tế thay thế là 200 con gà, được ‘trực thăng vận’ đến Bu Prang,
được hiến tế và ăn thịt.
Một hôm không lâu sau trận thảm bại ở Lào, Abrams đi dự một lễ tưởng
niệm tại nghĩa trang quốc gia bên ngoài Sài Gòn. Trực thăng của ông
chưa quay lại đón ông trước khi buổi lễ kết thúc, và vì vậy ông phải nán
lại chờ sau khi quan chức, binh lính, ban quân nhạc đã giải tán và ra về.
Cuối cùng chỉ còn mình ông và cận vệ ở lại, nóng ruột vì phải chờ đợi.
Rồi ông thấy từ xa bước đến nghĩa trang là một trung sĩ QĐVNCH, cùng
với vợ và các con: ‘cô ấy đang có mang. Và họ có ba con nhỏ. Chú ấy
đang bồng một đứa … Vâng đó là một đoạn đi bộ dài. Và rồi còn có cậu
con trai. Tôi đoán cậu chừng 9 tuổi. Cậu bé đang mang một chiếc túi to,
túi nhựa, một túi xách. Và có một bó nhang ló ra khỏi miệng túi, và tôi
đoán bên trong túi có thức ăn cúng hay gì đó. Họ đang trên đường
đến … tôi suy đoán, một người thân.’
Abrams, như nhiều chiến binh không phải lúc nào cũng chai đá, chợt
thấy đột ngột dâng lên một niềm thương cảm sâu xa.

CHƯƠNG 23: THIỆT HẠI NGOÀI DỰ KIẾN

1 Mary Ann

Trong năm 1971, nhiều đơn vị Bộ binh và TQLC Mỹ bị teo tóp, giữa
những căng thẳng sinh ra bởi sự bất bình, kỳ thị chủng tộc, chơi ma túy
và việc cạnh tranh để không trở thành người Mỹ cuối cùng chết cho một
chính nghĩa mà đông đảo người cho là đầy tai tiếng. Một ảo tưởng lan
truyền cho rằng binh sĩ được phép từ khước chiến đấu nếu như họ muốn
thế. Vào tháng 3, 53 TQLC gần Khe Sanh không chịu ra trận, nhưng
không lãnh hình thức kỷ luật nào; binh lính ở căn cứ yểm trợ hỏa lực
Pace chống lại lệnh đi tuần tra. Tin tức về các hành vi đó lan đi, gây tiêm
nhiễm cho các đơn vị khác. Một biểu hiện cực đoan là tai họa diễn ra tại
Căn cứ Hỏa lực Mary Ann vào đêm 27-28 tháng 3 1971, trong đó có 30
lính đồn trú – ít người có thể được coi là làm tròn nhiệm vụ phòng thủ –
bị giết chết và thêm 82 người bị thương. Mary Ann, được đặt tên theo
em gái của vị chỉ huy đầu tiên, là căn cứ lụp xụp thường lệ đầy những
côngtenơ thép và bao cát, bao vây bởi hàng rào kẽm gai và trang trí với
một rừng cây ăng ten, trên một dãy đồi cằn cỗi ở giữa tỉnh Quảng
Trị, cách biên giới Lào 30 dặm. Nó được Đại đội C thuộc 1/46th Bộ
binh đồn trú, một bộ phận của Sư đoàn 23, mà tiếng tăm đã xuống thấp
trong vụ thảm sát Mỹ Lai, trong đó Trung uý William Calley gần đây đã
bị kết án. Binh sĩ Đại đội C không nghiêm túc thi hành nhiệm vụ của
mình, vì còn vài tuần nữa là căn cứ được chuyển giao cho QĐVNCH, họ
đã cử người quản lý các vị trí pháo.

Bình nhất Ed Voros nói: ‘Cuộc chiến không còn ý nghĩa gì nữa. Tất cả
bọn chúng tôi đều cho nó là thứ chết tiệt … Chúng tôi chỉ ở đó, và căn
bản là phải ráng đừng cho chết và giúp đồng đội còn sống.’ Binh nhất
James Creaven nhất trí: ‘Chúng tôi không ngu ngốc. Chúng tôi biết
mình đang rút quân, và chúng tôi cũng biết cả lính Saigon cũng không
muốn chiến đấu cuộc chiến của mình. Tại sao phải liều mình cho những
người thậm chí không trân trọng việc bạn có mặt ở đây? Những người

duy nhất muốn ở lại đây là các sĩ quan chuyên nghiệp. Bất kì ai sốt sắng
và muốn giết bọn gook đều khả nghi đến khó tin.’ Ra ngoài phục kích,
Creaven và đồng đội thỏa thuận cho kẻ địch đến rồi đi không xây xát.
‘Bọn này không hề làm gì xằng bậy với tụi tôi.’

Kỷ luật trong 1/46th phần nào đó, dù không đến nỗi quá đáng, tồi tệ hơn
nhiều đơn vị khác. Liên tiếp lặp đi lặp lại việc thoái thác tác chiến, có
lần toàn thể đại đội đều không nghe lệnh. Trung uý Brian Magrath, cố
vấn cho một đơn vị Miền Nam gần đó, nghe trao đổi trên máy truyền tin
liên quan đến quân đồn trú Mary Ann ‘trong đó lính tuần tra từ chối đi
vào một số vùng có tiếng đặc biệt nguy hiểm’. Một người lính của tiểu
đoàn đã chết, và ba người khác gần như đi theo, sau khi cậy nắp lưng
của một quả mìn Claymore để lấy thuốc nổ dẻo C-4 ăn, vì nghe tin đồn
nói ăn vào sẽ phê. Đại uý Paul Spilberg viết thư về nhà kể về 1/46th:
‘Đại đội này quả là một mớ tạp nham … Binh lính ngồi túm tụm đọc
báo, đánh bài… hầu hết thời gian họ không mang súng.’ Người viết
được nhìn nhận là một quân nhân chuyên nghiệp cừ khôi, mạnh
mẽ, nhưng một trung đội trưởng của anh nói: ‘Spilberg cứ nhắc nhở bọn
trung uý chúng tôi hãy chỉ huy cho tốt binh sĩ, nhưng nếu chúng tôi có
thái độ ta đây là trung uý và các anh phải làm theo những gì tôi bảo, thế
nào rồi cũng ăn lựu đạn.’

Các sĩ quan cao cấp thường nói những gì xảy ra tại Mary Ann biểu thị
một sự thất bại trong việc lãnh đạo. Trung tá Bill Doyle, người gốc Ái
Nhĩ Lan, lùn thấp, chắc nịch, 39 tuổi, Chỉ huy tiểu đoàn, gan dạ đến
mức bất cẩn. Các sĩ quan và hạ sĩ quan chuyên nghiệp của Doyle là một
nhóm bung xung, một số có năng lực, một số chả ra gì. Trong một cuộc
đấu pháo tháng 2, một trung uý Đại đội C điều chỉnh pháo trúng ngay
trung đội mình, giết chết một người. Một vấn nạn nền tảng đối đầu với
tất cả chỉ huy: họ dám yêu cầu binh sĩ mình tới đâu mà không sợ bị ăn
lựu đạn, và tệ nhất là khước từ tác chiến tập thể – tức là nổi loạn, mặc
dù quân đội ngại sử dụng danh từ đó? Mỗi ngày đều có thỏa thuận, gây
bẽ mặt cho các chỉ huy tài giỏi, về chiến dịch nào binh sĩ muốn hoặc
không muốn đảm nhiệm. Đại đội D của 1/46h có lần không chịu càn
quét trừ khi có quân khuyển, trực thăng tác chiến Cobra và một chiếc
Huey tản thương vần vũ trên đầu. Chỉ sau khi được Trung tá Doyle giải
thích cặn kẽ binh sĩ mới bất đắc dĩ chịu ra khỏi trại.

Một tháng sau sự kiện đó, vào đêm không trăng 27 tháng 3 tiểu đoàn
trưởng đang say ngủ tại trung tâm hành quân của Mary Ann, Đại uý
Spilberg cũng thiu thiu trong một khu ở khác. Nhiệm vụ phòng thủ nằm
trong tay Đại đội trưởng C Đại uý Richard Knight, một người đeo kính
cận 24 tuổi đã bỏ đại học để gia nhập quân đội. Là con trai một chủ nhà
hàng Florida, Knight là một sĩ quan năng nổ đang trải qua thời hạn thứ
hai, sau khi bị thương nặng vào năm 1968. Nhưng anh không đủ cứng
rắn và uy quyền để thuyết phục binh sĩ mình, bảo vệ vành đai chiều dài
500 ya và rộng 200 ya, và cắt người canh giữ tất cả 22 boongke. Hoặc để
đặt lại thiết bị nhả pháo sáng và mìn Claymore. Hoặc làm mới lại hàng
rào kẽm gai. Hoặc tỉnh thức canh gác. Hoặc nhịn rượu và ma túy. Tập
thể sĩ quan, nhân viên điện đài, đội súng cối, pháo binh, bộ binh, đầu
bếp và các bộ phận linh tinh trên căn cứ hỏa lực gồm tất cả 231 người
Mỹ và 21 lính QĐVNCH.

Một phần tư quân số được cho là đang canh gác. Tuy nhiên, một sự tự
mãn gần như điên rồ khiến cho hầu hết những người được giao nhiệm vụ
theo dõi vành đai Mary Ann, vốn chưa hề nếm đòn bị tấn công, điềm
nhiên ngái ngủ, đánh bài, nhậu rượu hoặc phê cần sa – việc tiêu thụ

rượu thả giàn thì không thể tranh cãi, còn vụ phê ma túy thì vẫn còn
được bàn luận. Knight giao việc giám sát cho các trung đội trưởng và hạ
sĩ quan chuyên nghiệp lè phè. Lúc 02:00 một đèn pha 23-inxơ gắn trên
xe jeep quét qua khu vực vượt quá hàng rào kẽm gai của căn cứ, như
binh lính thường làm mỗi đêm. Không thấy gì, sau 20 phút họ tắt đèn, tắt
máy phát điện, trở về phòng ngủ.

Một hôm cũng vào giờ này, tại một căn cứ hỏa lực khác một cựu đặc
công Miền Bắc đã chiêu hồi thị phạm cho các sĩ quan Mỹ cách vượt qua
hàng rào kẽm gai bảo vệ vành đai căn cứ hỏa lực. Creighton Abrams
nói: ‘Đây quả là một trải nghiệm gây sốc. Họ nhìn thấy một nhân vật
nhỏ thó bước ra và vượt qua thứ quái quỷ đó như thể nó không có ở
đó, và không gây ra một tiếng động.’ Và đó là những gì họ làm trên quy
mô lớn tại Mary Ann lúc 02:40 ngày 28 tháng 3: khoảng 50 đặc công chỉ
mặc quần đùi xanh rêu, thân thể trần trụi bôi đen bằng dầu và than, tiến
hành một cuộc đột kích được lên kế hoạch tỉ mỉ. Họ đến từ phía tây-
nam, trườn người tiến tới cắt bốn lỗ hổng lớn trước tiên, tại vòng rào
kẽm gai ngoài cùng, rồi tiếp theo là hai hàng rào bên trong, không được
bảo trì tốt. Họ nằm chờ một thời gian ngay trước các boongke, đợi loạt
đạn súng cối làm hiệu lệnh xung phong. Việc đầu tiên người Mỹ nhận ra
được sự xuất hiện khủng khiếp này là một cơn địa chấn các túi ghết
thuốc nổ, lựu đạn, các hộp khí hơi cay CS và hỏa lực AK-47 trong bóng
đêm, gây kinh hoàng và tê liệt. Đại uý Knight bị giết một cách ô nhục
trong boongke mình cùng với trung sĩ truyền tin. Bộ đội xung phong vào
căn cứ, bắn và đánh bom với sự hiệu quả lạnh lùng, lần lượt ném thuốc
nổ vào trong mỗi khu vực nghỉ ngơi, trong khi hai đội phá hoại chạy đến
các ụ pháo trên đỉnh đồi.

Đặc công đột kích tuyển ra từ tiểu đoàn Đặc công 409, và trận tấn công
tiến hành sau hai tháng thám sát Mary Ann. Họ tiến hành thăm dò vành
đai vào ban đêm, để vạch ra lộ trình đột phá qua hàng rào. Những chỉ
dẫn được thể hiện trên mô hình trận địa, và mỗi tiểu đội trưởng nghiên
cứu các mục tiêu của mình từ một trạm quan sát. Vào buổi chiều trước
đêm hành động, sự xuất hiện bất ngờ của các trực thăng và máy bay chỉ
điểm L-19, cùng với các báo cáo về các cuộc tuần tra của lực lượng đặc

nhiệm Mỹ gần đó, khiến các đặc công sợ rằng chiến dịch của mình bị
phá hỏng. Cho dù khi báo động này cho thấy không có căn cứ, sau khi
đêm xuống ánh đèn pha của Mary Ann chợt lóe sáng thình lình khiến cả
bọn đứng tim trong phút chốc, trong lúc 8 mũi tiến công nằm bất động
trong đám kẽm gai rối rắm. Một số, không nghi ngờ gì nữa, suy nghĩ
trên chiếc bụng rỗng của mình: các đặc công đã ăn khẩu phần thiếu thốn
nhiều ngày liền, và tiến hành cuộc công kích sau một bữa súp khoai mì.

Quân đồn trú đáp ứng trước cơn mưa chất nổ bằng cách nằm co rúm im
thin thít trong boongke, hoặc do hoảng sợ hoặc tưởng chỉ là loạt súng
cối. Trái với mệnh lệnh hiện hành của lữ đoàn, Trung tá Doyle không cắt
người bảo vệ bên ngoài trung tâm hành quân. Vì vậy ông hết hồn khi
một túi thuốc nổ ném vào phát nổ, thổi bắn ông xuống sàn và làm bị
thương nhẹ ở chân. Đại uý Spilberg xuất hiện tay nắm chặt khẩu súng
lục, vừa ho sặc sụa vừa nói, ‘Thưa ngài, họ xài hơi cay CS!’ Vị trung tá
há hốc, ‘Không phải chứ, mẹ kiếp!’ Hoảng loạn tăng lên khi họ sờ soạng
tìm mặt nạ.

Các đặc công chạy tới chạy lui, biết chính xác điều mình đang làm, trong
khi quân đồn trú thì không. Người Mỹ chạy tán loạn ra khỏi phòng liên
lạc khi phòng đầy khói vàng. Gần như mọi đường kết nối vô tuyến đều
bị sập, mặc dù một điện đài viên trên một tần số pháo còn lại yêu cầu
bắn pháo sáng. Tuy nhiên, anh không báo cáo Mary Ann đang bị tấn
công trên bộ, thành ra sở chỉ huy cấp trên vẫn còn hoang mang. Một bộc
phá làm nổ tung thùng lựu đạn lân tinh trắng, làm bắt lửa boongke hành
quân. Doyle vẫn còn tỉnh nhưng tâm thần chấn động, hoặc có lẽ chỉ bị
sốc. Trong 30 phút tiếp theo hầu hết nhân sự Mary Ann đều nằm im thin
thít, cầu nguyện kẻ thù không tìm ra. Ít người lấy được súng, vì thế hoặc
họ tay không hoặc, tốt nhất là bấu được súng lục. Đặc công ria hàng loạt
đạn AK-47 bất cứ chỗ nào thấp thoáng bóng lính Mỹ. Một số binh sĩ
Mỹ nghe được tiếng kẻ địch kháo chuyện với nhau, nhìn họ ném các lon
Coca-Cola lựu đạn trước khi đóng sầm cửa boongke để nén lực công
phá.

Một số đặc công giựt phắt đồng hồ đeo tay khỏi cổ tay các binh lính Mỹ
nằm sấp, hoặc chết hoặc giả chết. Một tên cúi xuống nói với một lính
Mỹ bị thương bằng tiếng Anh – ‘Mầy ổn chứ, GI? Mầy chết rồi sao,
GI?’ – trước khi đá vào người y với vẻ khinh bỉ. Người lính nín thở và
nằm bất động trong khi ví tiền và đồng hồ của y bị nẫng mất. Trung uý
Jerry Sams đã chỉ huy trung đội mình cả tháng trời mà không nghe thấy
một tiếng súng bắn ra. Giờ, khi anh đang ra sức xỏ đôi giày bốt thì một
quả lựu đạn phát nổ làm một mắt anh mù vĩnh viễn và thân thể bị nhiều
vết thương do mảnh pháo ghim. Anh nằm ôm lấy nỗi thống khổ trong
một côngtenơ: ‘Tôi có thể nghe họ đang tàn sát đồng đội của tôi!’ Tại
một đầu mút căn cứ là dàn lựu pháo của QĐVNCH chưa hề bắn một
phát nào. Bị nhấn chìm giữa luồng khí cay CS trong khu bếp ăn tập thể,
các đầu bếp la thét kinh hoàng, và nỗi sợ hãi càng tăng thêm khi một
trận mưa lựu đạn tiếp nối.

Chỉ có một số ít người chống trả. Người ta cho rằng Trung uý Barry
McGee, một sĩ quan West Point, vốn là một võ sĩ quyền anh Găng Tay
Vàng, không được binh lính mình ưa thích, giết một đặc công bằng tay
trần trước khi bị bắn hạ. Tony Jorgensen dùng súng lục bắn một kẻ tấn
công đá vào anh, nhưng rồi bị thương bởi quả lựu đạn của y, và nằm bê
bết trên vũng máu lẫn lộn của Mỹ và Việt. Hai người tiếp tế, Louis
Meads và William Meek, choáng vì tiếng lựu đạn nổ, nhưng cũng ráng
ngóc đầu qua đống đổ nát để nhìn thấy hai tên tấn công thì thầm với
nhau, sẽ bắn ai. Meek nói, ‘Tôi khấp khởi mừng thầm vì tôi biết thằng
chó đẻ sẽ không truy lùng tôi.’ Lời tường thuật của Miền Bắc mô tả cuộc
đấu vật tay đôi giữa Binh nhì Trung nhỏ con của họ với một tên Mỹ to
còn cố hết sức xiết họng anh, kết thúc với việc anh cho nổ một quả lựu
đạn kết liễu y. Một đặc công khác được cho là đánh vỡ sọ một lính
phòng thủ bằng một đoạn ống tuýp thép của một bộc phá gậy.

Đại uý Spilberg mô tả Trung tá Doyle và hai người khác đấu vật với
chiếc máy truyền tin vô dụng giữa đám cháy trong boongke chỉ huy.
Một sĩ quan bị thương Ed McKay điên cuồng hét lên, ‘Chúng ta sẽ bị
chết hết!’ Vị tá tát vào mặt y và quát to, ‘Câm cái mồm chết tiệt anh
lại, trung uý!’ Hơi nóng trong boongke không thể chịu đựng được:


Click to View FlipBook Version