The words you are searching are inside this book. To get more targeted content, please make full-text search by clicking here.

VIỆT NAM THIÊN SỬ BI HÙNG 1945-1975
Max Hastings
Trần Quang Nghĩa dịch

Discover the best professional documents and content resources in AnyFlip Document Base.
Search
Published by fireant26, 2022-11-04 00:35:46

VIỆT NAM THIÊN SỬ BI HÙNG 1945-1975 Max Hastings Trần Quang Nghĩa dịch

VIỆT NAM THIÊN SỬ BI HÙNG 1945-1975
Max Hastings
Trần Quang Nghĩa dịch

tán u. Vào những ngày lễ chúng có thể thưởng thức mứt đủ loại, kẹo
bánh đủ loại, đậu phọng, trứng chim. Tuy nhiên, phần lớn dân chúng chỉ
biết đến gạo và rau củ – và biết ơn vì điều đó. Một số người Việt sau này
lý tưởng hóa sự bình dị của đời sống nông thôn trước khi chiến tranh
giáng xuống. Một người nói: ‘Ở quê tôi không cần đóng cửa, hàng xóm
tối lửa tắt đèn có nhau.’ Cô tô đắp thêm tính trữ tình vào nét đẹp của tình
đùm bọc lối xóm, cùng chia sẻ các công việc và niềm vui Nhưng nỗi
hoài cổ thật ra rất hiếm hoi, đại đa số chỉ nhớ những năm tháng nhọc
nhằn, bức hại, và đói ăn. Nguyễn Thị Thanh Bình ra đời tại phía đông
Hà Nội vào năm 1948, con gái một nông dân nghèo chỉ có một công
ruộng để cày cấy. Cả gia đình gồm cha mẹ và sáu đứa con sống chung
trong một túp lều tranh trong ấp chỉ có non 30 nóc gia, không có người
nào sắm nổi một chiếc xe đạp hoặc một chiếc ra-dô (chiếc đài). Ít người
biết đọc: khi tình cờ có ai đó nhặt được một tờ báo, lối xóm ngồi bu
quanh dưới gốc cây, trong khi một dân làng biết đọc có giọng tốt ngồi
vắt vẻo trên một cành rủ xuống và đọc to các mục hấp dẫn cho mọi
người cùng nghe.
Những người như thế lớn lên mà không có ảnh chụp của ba mẹ hoặc con
cái, bởi vì không ai có máy chụp ảnh. Bộ quần áo ngủ đàn ông (miền
nam gọi theo phiên âm tiếng Pháp là pi-gia-ma), và áo bà ba cho nữ,
miền bắc màu chàm, miền nam màu đen là y phục của nông dân, tình cờ
trở thành đồng phục của du kích quân. Tử xuất ở trẻ em cao khủng
khiếp, một phần bởi vì có thói quen cắt dây rốn bằng mảnh thủy tinh vỡ.
Nhiều làng phải bị bỏ hoang vì lũ lụt hay nạn đói. Bình không có ký ức
về tuổi thơ hạnh phúc: cuộc sống chỉ là cuộc đấu tranh không ngừng
nghỉ để tồn tại, trong đó các đứa trẻ đi bắt ốc để phụ thêm khẩu phần cho
gia đình. Đến tuổi 20, cô trở thành thành viên suốt đời của Đảng Cộng
sản, xem Hồ Chí Minh là ‘lãnh tụ cần thiết và không thể thay thế’ với
lòng nhiệt thành như đối với thần thánh.
Mặc dù phe vũ trang của Hồ ở phía tây-nam không bao giờ sánh được
với các đội hình của Giáp ở phía bắc với các chiến tích ngoạn mục,
phong trào của ông tranh thủ được sự hậu thuẫn rộng rãi chỉ bằng một
biện pháp duy nhất là cải cách ruộng đất. Thậm chí các tá điền khấm khá
cũng ao ước được làm chủ ruộng đất: nhiều tá điền khổ sở phải nộp tô
cho điền chủ có khi bằng phân nửa số thu hoạch. Tá điền có thể trở

thành nô dịch, buộc phải đưa võng cho gia đình điền chủ. Họ hồ hởi hậu
thuẫn kế hoạch tái phân phối ruộng đất bí mật của Việt Minh, một cán
bộ của họ nói với Norman Lewis vào năm 1950: ‘Kẻ thù của chúng tôi
dần dần hướng chúng tôi về chủ nghĩa cộng sản. Nếu chỉ thành người
cộng sản chúng tôi mới được tự do, thế thì chúng tôi sẽ trở thành người
cộng sản.’
Một sử gia đã mô tả binh sĩ của Giáp là ‘những người giản dị mà thế
giới quan của họ hoàn toàn hình thành bởi trải nghiệm trực tiếp của
chính họ và gia đình họ … thêm màu sắc của sự áp bức và gian khổ hết
đời này đến đời khác’. Sức mạnh tiên quyết của chiến binh Việt Minh là
kỷ luật, kiên nhẫn, tinh tháo vát; một thiên tài về kỹ năng tác chiến và
nhất là ngụy trang; chịu đựng gian khó và hi sinh. Trên tất cả là động
lực: họ khao khát chia sẻ hoa trái của một cuộc cách mạng chính trị,
kinh tế và xã hội. Các cán bộ tuyên giáo đi khắp nơi phát động các
chương trình chính huấn và sáng tác các bài hát dân gian để giúp dân
làng xóa mù chữ. Trẻ em thì có chương trình ‘Chơi mà học’.
Nói nghe có vẻ đạo đức, nhưng mỗi khi học thuyết cộng sản được áp
đặt, các nạn nhân thường được nhắc nhở đây là hành động trừng phạt có
mục đích, vì điều tốt đẹp tối hậu của Nhân Dân. Về phần các hình phạt
quyết liệt hơn, thậm chí lịch sử Đảng chính thức sau này thú nhận
‘không ít nhân dân vô tội bị giết oan’. Dân quê bình dị phục vụ cho Việt
Minh cho rằng người nào mặc quần xanh và áo sơ mi trắng có gắn nhãn
hiệu nhà may phải là gián điệp của Pháp. Trong khi Mafia sử dụng tiếng
lóng ‘cho ngủ với cá’ để chỉ việc thủ tiêu một kẻ thù thì người cộng sản
có cụm từ lóng tương tự là ‘cho đi mò tôm’. Giết chóc được tiến hành
với mức độ tàn nhẫn tối đa và công khai: đội hành quyết của Việt Minh
chuộng cách chôn sống nạn nhân hoặc mổ bụng trước mặt các láng
giềng tụ họp. ‘Thà giết oan một người còn hơn bỏ sót kẻ phạm tội,’ là
khẩu hiệu của Đảng. Trong ‘các vùng giải phóng ‘Việt Minh lập các trại
trừng trị nổi tiếng. Khi cha của Nguyễn Công Luận chết trong một trại
thuộc loại đó, một cái bật lửa là vật sở hữu duy nhất mà các cán bộ trại
giam miễn cưỡng trao trả lại cho người mẹ góa bụa.
Vào năm 1947 Việt Minh tiến hành một chiến dịch ‘thanh trừng’ ý thức
hệ, trong đó một số lớn nhưng chưa hề được định lượng ‘các kẻ thù của
giai cấp’ bị tàn sát. Bất kì điền chủ hoặc viên chức chính quyền thuộc

địa đều có nguy cơ bị án tử, có khi liên lụy đến người thân. Đạo Thiên
Chúa mang vết nhơ là đạo của bọn thực dân, và do đó các giáo dân dễ bị
tổn thương. Các buổi đấu tố tại địa phương – được tổ chức tại sân đình
hoặc nhà của điền chủ, kích động nỗi khiếp sợ mà phe tổ chức có chủ
định. Các nông dân hoặc trại chủ bị thúc bách phải miễn cưỡng đứng ra
vạch các tội ác mà các địa chủ được cho là đã gây ra trước các tòa án
nhân dân, do cán bộ Việt Minh điều hành. Nếu án tử được tuyên nạn
nhân có thể bị bắn, ném đá đến chết, treo cổ, hoặc đối mặt một cái chết
tàn khốc hơn. Tại Mỹ Thạnh trong châu thổ Cửu Long một viên chức
Cao Đài, sắp sửa bị chôn sống, khẩn khoản xin được một phát súng ân
huệ. Bọn sát nhân khinh bỉ phán rằng đạn được dành cho ‘bọn thổ phỉ’ –
tức bọn Pháp.
Là con một nhà nông, Nguyễn Thị Thanh Bình nhớ các địa chủ trốn
những kẻ tố cáo họ bằng cách lặn xuống con ao gần nhất và phủ lên đầu
đám lau sậy, trong khi những người khác chọn cách ngụy trang thô
thiển. Một số bị bại lộ và cô đứng chung với đám dân làng chứng kiến
họ bị ‘nhân dân’ xét xử. Cho dù là một cán bộ trung thành của Đảng, cô
sau đó thừa nhận rằng ‘nhiều người bị kết án oan sai’. Ở ngoài bắc một
‘tòa án nhân dân’ thường được tiến hành như một sự kiện trình diễn, tổ
chức về đêm trong một khu vực có kích thước một sân bóng, đuốc tre
được thắp lên khắp nơi. Một bàn chủ tọa gồm 7 thẩm phán là các nông
dân nghèo, dưới sự dự khán của một cán bộ Cải cách Ruộng đất và đôi
khi các cố vấn Trung Quốc. Phía sau bàn chủ tọa có treo chân dung của
Hồ, Mao và Stalin, cùng với các khẩu hiệu như ‘Đả đảo bọn Địa chủ
Phản động Phản bội’
Nói về những vụ hành quyết không qua xét xử pháp lý, một nông dân
lưu giữ một ký ức trẻ thơ không bôi xoá được về lần Việt Minh đến
thăm ngôi làng miền bắc vào năm 1952, bắt hai binh sĩ không vũ trang
làm việc cho Pháp vừa về làng để thăm người thân trong năm mới, rồi
chặt đầu họ ngay sau nhà của nạn nhân. Cậu bé 12 tuổi sau này nói, ‘Tôi
còn có thể nghe thấy tiếng cổ họng họ bị cắt lìa.’ Rồi bọn du kích bỏ đi,
và quân Pháp đến. Họ kết tội hàng xóm chịu trách nhiệm cho cái chết
của hai người lính – rồi thẳng tay đốt cả xóm. Vào năm 1953 Việt Minh
bắt thằng bé phải vào trại cải tạo hai tuần, tiến hành tự kiểm điểm: ‘Mọi
chuyện tôi làm sai, hoặc cha mẹ tôi làm sai hoặc ông bà nội ngoại tôi

làm sai đều phải khai ra hết. Ai cũng phải căng óc ra suy nghĩ.’ Khi
Stalin chết, mọi tù nhân đều bị bắt đeo băng tang. Ngay sau đó, một lực
lượng Pháp tấn công, buộc bọn du kích phải tháo chạy, giải thoát cho
thằng bé. Cậu và gia đình mình nhanh chóng trở về nhà, rồi thoát ra Hà
Nội.
Cục diện chiến tranh lên xuống như chiếc bập bênh gây ra căng thẳng
liên tục. Một nông dân nghèo trong vùng Cửu Long bày tỏ nỗi vui mừng
trong thời kỳ Việt Minh đảo ngược tình thế, khi phong tỏa kinh tế được
dỡ bỏ và ông một thời gian được tự do buôn bán sản phẩm của mình:
‘Như tôi từng nói nhiều lần, “Tôi hi vọng mình chỉ bị một phe kiểm soát
– phe nào cũng được. Sống mà phải bị cả hai phe kiểm soát chịu không
nỗi.”‘ Ánh, con gái một một gia đình có ruộng đất, tham gia Việt Minh
bởi vì cô nhắm đến việc đánh đuổi bọn Pháp, cưới một đồng chí, hạ sinh
một con trai, và chia sẻ cuộc sống nhọc nhằn và hiểm nguy của một du
kích quân trong vùng đồng bằng Cửu Long. Vào năm 1952, tuy
nhiên, cô thoát ly: ‘Tôi chứng kiến quá nhiều cảnh tượng đáng sợ. Người
cộng sản nắm trọn quyền lực và thủ tiêu các người quốc gia.’ Cô cho
rằng sở dĩ mình thoát chết chỉ vì còn quá trẻ để có thể đe dọa họ.
Trong vùng giải phóng ở miền bắc, hơi giống một số người Anh trong
tuổi già thường hoài niệm trận oanh tạc dữ dội năm 1940 huyền thoại
(mà người Đức dội xuống London trong Thế Chiến II), Việt Minh sau
này nhìn lại thời chiến tranh như một kỷ nguyên thanh bình. Nhạc sĩ
Văn Ký, trở thành người du kích hát rong, tâm sự, ‘Tinh thần thật kì
diệu! Chúng tôi như sống trong một đại gia đình.’ Các căng-tin tình
nguyện được thành lập, được biết dưới tên nhà hàng mẹ chiến sĩ, tại đó
các phụ nữ địa phương cung cấp thức ăn miễn phí cho các chiến sĩ. Ký
và đội văn nghệ của ông đi hàng trăm dặm để biểu diễn: ‘Có điều gì đó
rất thú vị và tuyệt vời về điều này. Cho dù chúng tôi đang ở trong vùng
chiến sự rất ác liệt, mỗi đêm chúng tôi đều tổ chức biểu diễn, thu hút rất
đông khán giả. Bài hát tôi hát không hay lắm và hòa âm cũng tệ, nhưng
chúng tôi có thể kể chuyện, đọc thơ.’ Thường ánh sáng sân khấu phải
được che kín để tránh máy bay Pháp phát hiện. Ký biểu diễn xa đến tận
Huế, ở đó ông ngủ bên bờ sông Hương, ăn khẩu phần từ thành phố đem
ra, hút thuốc Philip Morris và chẳng bao lâu yêu một cô gái thuộc đám
khán giả của mình.

Ký năn nỉ bạn diễn Hải Châu đọc cho mình những tiết mục trong tập san
Reader’s Digest, để giúp ông học tiếng Anh, chuẩn bị cuộc sống sau
chiến tranh. Thỉnh thoảng trong chuyến đi họ thình lình bị đánh thức
bởi tiếng la ‘Tây càn!’ Mỗi khi bọn địch đến gần, các chiến sĩ Việt Minh
sẽ uể oải nói, ‘Trâu bò ra chuồng.’ Hải Châu có viết một bài hát mang
tựa đề đó, mà binh sĩ rất thích vì nó chế giễu quân chiếm đóng. Ký là
một trong số nhiều người cách mạng tìm được tính lãng mạn trong trải
nghiệm cùng chia sẻ của mình. Nó đem đến cho người Việt điều mà
người Pháp trong một thế kỷ đã khước từ họ: lòng tự trọng. Hơn nữa, hết
tháng, rồi qua năm, càng củng cố niềm tin của hàng triệu người Việt
rằng lý do tôt nhất để hậu thuẫn cho người cộng sản là thế nào họ cũng
chiến thắng. Một bé gái nông dân thức thật khuya cùng với mẹ và chị
trong túp lều tranh gần Huế, may cờ Việt Minh, ‘cờ đỏ sao vàng, bởi vì
chúng tôi biết rằng dân chúng muốn có cờ để chào mừng… chiến
thắng’.
Tuy vậy dường như sai lầm để chấp nhận quá dễ dãi hình ảnh những
năm chiến tranh như một khung cảnh thơ mộng đầy lãng mạn như Văn
Ký: những thiếu thốn và hy sinh thật khủng khiếp. Căng thẳng tăng cao
giữa giới nông dân hậu thuẫn cách mạng và tầng lớp tiểu tư sản. Nguyễn
Đức Huy, sinh năm 1931, con trai một nhà nông nghèo, được gửi đi học
tại học viện quân sự mới của Việt Minh tại Trung Quốc, nơi anh thấy
không khí ngột ngạt do đấu tranh giai cấp và những buổi tự kiểm điểm
không ngớt. Một khóa sinh đã được huân chương vì lòng dũng cảm
trong chiến đấu tự tử sau khi bị tra vấn về ý thức hệ. Huy cũng bị kết tội
điều hành một mạng lưới gián điệp của Pháp và một đội ám sát của
người quốc gia, rồi bị tống vào xà lim ngầm trong 7 tháng. Anh viết
trong hồi ký của mình: ‘Sự bất công của tất cả điều này là không thế mô
tả được.’ Điều phi thường là sau các trải nghiệm như thế anh trở lại giữ
chức đại đội trưởng đánh Pháp, rồi sau đó chỉ huy một tiểu đoàn đánh
Mỹ, không hề mất lòng tin vào Đảng.
Trong suốt những năm tuổi trẻ của Nguyễn Thị Ngọc Toàn với Việt
Minh cô luôn bị sách nhiễu vì lý lịch quan lại giàu có. Cha cô là một
thành viên của hoàng gia đã từng phục vụ trong nội các của hoàng
đế. Với quân đội Giáp, lúc đầu cô chỉ được coi như bộ đội nhóc. Tuy
nhiên, về sau, mặc dù cô một lòng với lý tưởng, các đồng chí khinh thị

nói, ‘Đứa con gái này đã học trường Tây- tại sao họ lại gửi nó đến đây?
Làm sao tiểu thơ một quan triều có thể sống chung với Kháng
Chiến được?’ Sau này Toàn nói: ‘Họ gây khó dễ cho tôi. Tôi rất khổ sở.’
Dù vậy cô cũng trung thành với Việt Minh, trong khi nhiệt tình dành cho
quân du kích của một tiểu tư sản khác, Nguyễn Cao Kỳ vừa 16 tuổi, xẹp
đi: ‘Đối với họ phong trào Kháng chiến không chỉ để đánh đuổi ngoại
bang. Mà còn để xoay chuyển tình thế, trở thành kẻ cai trị, trả thù.’ Kỳ
cuối cùng làm nhiệm vụ quân sự với người Pháp, trở thành một phi

công.

Dù chịu tổn thất nặng nề trong các cuộc giao tranh quanh Hà Nội, Việt
Minh tiếp tục mở rộng ‘vùng giải phóng’ phía bắc. Vào 1952 ước tính
họ kiểm soát một phần tư dân số miền nam; ba phần tư dân số miền
trung; hơn nửa miền bắc. Người Pháp tốn tiêu tài nguyên khổng lồ để
xây dựng đồn lũy. Cái gọi là ‘phòng tuyến De Lattre’, được xây dựng để
bảo vệ bình nguyên sông Hồng đổ xuống gần 50 triệu tấn mét khối bê
tông vào trong 2,200 công sự ngầm, mỗi công sự được đánh số đi đầu là
cụm ‘PK’ – poste kilométrique (cột cây số). Việc này thích hợp với
chiến lược gậm nhắm của Việt Minh ăn mòn dần sức mạnh của Pháp: họ
dần dần loại bỏ những vị trí biệt lập như thế, luôn luôn vào ban đêm.
Việc đầu tiên mà lực lượng phòng thủ biết nữ thần báo thù đã đến là một
cột hàng rào kẽm gai phát nổ, và tiếp theo là tiếng hô ‘Xung phong!’ của
bộ đội cộng sản. Đến hừng sáng Việt Minh đã rút đi, chỉ để lại xác chết,
thường bị phanh thây và những vết ố đen do đạn súng cối hoặc tên lửa
phát nổ trên mặt đất hoặc nền bê tông. Và ở Hà Nội hoặc Hải Phòng, các
sĩ quan tham mưu Pháp sẽ rỉ tai nhau, ‘Mầy nghe những gì xảy ra ở
PK141 đêm qua chưa?’
Cuộc chiến lấy đi sinh mạng nhiều người Pháp nổi tiếng, như vị Đại tá
Paul Vanuxem râu đỏ, dềnh dàng, một chiến binh trí thức, đủ tư cách
làm giáo sư triết học. Thiếu tá Marcel Bigeard đã bước vào Thế Chiến
II với cấp bậc trung sĩ, và nhảy dù vào Pháp năm 1944. Đại tá Christian
de Castries là một kỵ binh và thích ăn diện bảnh bao, lúc nào cũng quấn
quanh cổ chiếc khăn lụa đỏ, nổi tiếng là con người đào hoa. Cũng có
các phụ nữ tiếng tăm – những người như Valérie André, một bác sĩ đồng
thời là một phi công trực thăng, và điều dưỡng viên nhảy dù được huy
chương Paule Dupont d’Isigny.

Vào mùa thu năm 1952 Giáp tập trung ba sư đoàn trên bờ đông sông
Hồng, được giao nhiệm vụ đánh chiếm Nghĩa Lộ, một chỏm cao có tầm
quan trọng về mặt chiến lược. Nhờ hành quân đêm và sử dụng xuất sắc
che giấu vào ban ngày, mỗi người nhìn vào ba lô người đi trước, họ triển
khai đội hình mà người Pháp không nhận biết. Rồi, trong một loạt công
kích bắt đầu vào ngày 17 tháng 10, họ tràn ngập một chuỗi đồn bót. Tiểu
đoàn nhảy dù của Marcel Bigeard yểm trợ lực lượng còn sống sót rút lui
về hướng sông Đà, trong một loạt hành động sẽ trở thành huyền thoại
đầy ác mộng. Họ buộc phải bỏ lại những binh sĩ bị thương và dân địa
phương sau đó báo cáo đã tìm thấy đường tháo lui của Bigeard được
Việt Minh trang trí bằng hàng cọc thủ cấp của những binh sĩ Pháp bị bỏ
lại. Vị thiếu tá và binh sĩ còn sống được chào đón như những người
hùng khi cuối cùng họ đến được phòng tuyến Pháp, nhưng các trận đánh
Nghĩa Lộ là một thảm họa có ý nghĩa.
Vào tháng 4 1953 quân cộng sản mở một mặt trận mới ở Lào để phân
tán lực lượng của Pháp. Vào tháng 6, số thiết bị và quân nhu mà Trung
Quốc viện trợ đã tăng từ 250 tấn trong cùng thời kì năm trước đến 2,000
tấn mỗi tháng, cùng với xe tải Molotova và xe ủi đất. Trong khi đó lực
lượng Pháp thiếu sĩ quan và hạ sĩ quan, nhiều binh lính Bắc Phi chỉ được
huấn luyện sơ sài, và không ai còn tin cậy vào tinh thần chiến đấu của
110,000 binh lính tuyển mộ tại địa phương. Tướng ‘Iron Mike’
O’Daniel, sĩ quan cao cấp Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương, đến thăm
Saigon vào mùa hè 1953, ngay sau khi Tướng Henri Navarre trở thành
tổng tư lệnh. Với tính khoa trương đặc trưng viên tướng Mỹ hối thúc
người Pháp hãy rung cây nhát khỉ – nắm lấy một tư thế gây hấn quân sự
hơn. Kinh nghiệm ở Triều Tiên đã chứng minh rằng khi quân Trung
Cộng trang bị nhẹ chạm trán với lính Mỹ ở giữa trận địa trống trải, họ
thường thắng thế. Nhưng nơi nào tình huống được sắp xếp trong đó lực
lượng Mỹ nắm giữ các vị trí đã được chuẩn bị có máy bay và hỏa lực
yểm trợ, thì họ gần như là vô địch. Tại sao người Pháp không lợi dụng
những thực tế tương tự? Navarre đồng ý. Ông sàng lọc một chiến trường
trên đó sức mạnh Pháp và điểm yếu của Việt Minh có thể phơi bày trước
thế giới. Và ông chọn Điện Biên Phủ.

‘Cuộc chiến bẩn thỉu’ Lính Pháp với một nghi can Việt Minh.
Các binh lính Pháp mệt mỏi cõng một thương binh
Điện Biên Phủ, tháng 11, 1953

Hồ và Giáp

Cogny, de Castries và Navarre cùng các thuộc hạ

CHƯƠNG 3: KHÔNG BAO GIỜ LÀ PHÁO ĐÀI

1 Đợi Giáp
Có quá nhiều ‘quyết định chết người’ đến nỗi sẽ xúc phạm nếu chỉ ra cái
nào là chủ yếu, nhưng quyết định đưa ra vào tháng 11 1953 loại bỏ bất
kỳ mối hoài nghi nào còn phân vân về việc ai sẽ trở thành người chiến
thắng, ai là kẻ bị khuất phục.
Điện Biên Phủ là một trận tương đối nhỏ, giao tranh với phía thực dân
chỉ vỏn vẹn một sư đoàn. Vậy mà nó nắm giữ tầm ý nghĩa tinh thần
quyết định, bởi vì nó được tiến hành theo sáng kiến của Pháp,với mục
tiêu rõ ràng là dụ Việt Minh vào trận, và rồi thua vì các lý do phản ánh
sự vụng về ấn tượng. Các ông chủ của Navarre ở Paris trong ngày tháng

đó gần như hoang mang như chính vị tướng, không biết nên bỏ cuộc hay
đánh tiếp. Ủy ban Quốc Phòng Pháp kết luận tại một phiên họp vào
tháng 11 rằng mục tiêu chiến lược là ‘buộc kẻ địch phải thừa nhận là
không thể đạt được một kết quả quân sự có tính quyết định.’ Điều này
chỉ có thể đạt được bằng cách giáng các quả đấm trừng phạt cho một số
hoặc tất cả sáu đội hình chính quy của Giáp, triển khai ở phía bắc. Vậy
mà Đô đốc Georges Cabanier được phái đi đến Sài Gòn, mang theo chỉ
thị cho Navarre là không làm gì quá tham vọng: mọi việc quan trọng từ
nay trở đi nên để cho các nhà chính trị.
Vào ngày 2 tháng 11, tuy nhiên, vị tướng đã quyết đinh tái chiếm bằng
võ lực một căn cứ cũ tại Điện Biên Phủ, cách Hà Nội 175 dặm về phía
tây và sát với biên giới Lào. Quyết định được đưa ra mà không có nhiều
tin tức tình báo về vị trí hoặc dự tính của địch: Giáp luôn được thông tin
tốt hơn đối thủ Pháp của mình, một phần qua các người cộng sản được
cài hiệu quả ở Paris, mà lòng trung thành của họ trước tiên là Đảng hơn
là cho lá cờ tam sắc. Tuy thế, Navarre nói sau này, ‘Chúng tôi tuyệt đối
tin vào ưu thế của mình trong các vị trí phòng thủ được củng cố.’ Người
phó của ông về vấn đề Bắc Kỳ, Thiếu tướng René Cogny, 49 tuổi, to
con, luôn coi mình là quan trọng, từng bị Gestapo bắt giam thời Thế
Chiến II. Cogny chuộng giải pháp tập trung quân phòng thủ đồng bằng
sông Hồng, nhưng cũng miễn cưỡng đồng ý với kế hoạch mới của

Navarre.

Bằng cách tạo một căn cứ cho không lực và bộ binh xa về phía tây, họ lý
luận rằng lực lượng đồn trú có thể xông ra ngăn cản Việt Minh chuyển
quân, và cho kẻ địch chảy máu mũi nếu chúng dám tấn công căn cứ.
Đánh chiếm một cụm các ấp có tên Điện Biên Phủ sẽ cản đường Giáp
tiến vào vùng trồng lúa và cây thuốc phiện lớn. Mặc dù đường bay của
nó nằm xa Hà Nội, Cogny có thể nhờ đến 69 chiếc C-47 Dakota đáp
ứng yêu cầu 80 tấn hàng cung cấp mỗi ngày. Phần lớn mối nguy hiểm
cho lực lượng Pháp được xem là nằm ở cú nhảy dù đầu tiên xuống vùng
đất DZ (vùng phi quân sự) ‘nóng’, tại đó được biết là có một tiểu đoàn
Việt Minh đang đóng quân.
Navarre, một cựu binh thời Thế Chiến I, cho là có thể chấp nhận được.
Ông là một sĩ quan lạnh lùng, táo bạo và đẹp trai rạng ngời, không mấy
kinh nghiệm ở chức vụ tư lệnh cao cấp, nhưng có dáng dấp ghê gớm, và

thật ra rất tự phụ. Ông đã đến Đông Dương vào tháng năm vừa qua
mang theo một mệnh lệnh sẽ trở nên thân thiết một cách nghiệt ngã đối
với những người Mỹ kế vị ông: tạo điều kiện cho một thỏa thuận ra đi
trong thế mạnh. Ở Washington ngoại trưởng Foster Dulles, vị luật sư 65
tuổi nghiêm khắc, không khoan nhượng, kể về tiền lệ ở Triều Tiên, nơi
lực lượng Liên Hiệp Quốc đã chiến đấu dữ dội đến phút cuối – chỉ 6
tháng trước – để thêm sức mạnh cho phái đoàn đàm phán của Liên Hiệp
Quốc tại Bàn Môn Điếm. Bất cứ điều gì các phụ tá của Navarre nói sau
đó, không có chứng cứ thuyết phục cho thấy có ai cho rằng nhược điểm
có nguy cơ của Điện Biên Phủ chỉ là các đau đầu về chiến thuật – chắc
chắn không thể dẫn nhanh đến thảm họa.
Hai tiểu đoàn dù đầu tiên của Pháp và Việt Nam nhảy xuống vào lúc
10:35 thứ sáu ngày 20/12, ngay trước khi Navarre tiếp Cabanier, vị
khách của ông từ Paris. Vị tướng gần như biết chắc chắn nội dung của
chỉ thị mà vị đô đốc mang tới – đừng cố mà liều lĩnh – nên đã cố tình
chặn đầu trước.
Rủi thấy, sáng kiến của Pháp phù hợp hoàn toàn với mong đợi của Hồ
Chí Minh, Giáp và nhà ý thức hệ dẫn đầu Trường Chinh. Tại cuộc họp
tháng 10 trong một căn nhà tre giản dị sâu trong núi, họ đã nhất trí rằng
tranh chấp đồng bằng sông Hồng chỉ khiến quân Pháp thi triển lực lượng
và hỏa lực ngay sát căn cứ của họ. Mục tiêu của Việt Minh là phải dụ
cho được địch thay vì phân tán chúng, rồi đánh khi chúng liều lĩnh tiến
xa nhất. Với một cử chỉ đặc trưng và hình thái tu từ, Hồ giơ cao nắm tay
siết chặt tượng trưng cho sức mạnh của Pháp ở phía đông, rồi nói,
‘Nhưng nếu ta xòe bàn tay ra, bẻ gãy từng ngón một thật dễ dàng.’
Navarre, bằng cách chỉa một ngón tay về phía tây đến Điện Biên Phủ, đã
hoàn thành vai trò mà Hồ kỳ vọng cho mình.
Nước cờ đầu tiên khởi động khi lính nhảy dù Pháp và Việt bắt đầu nhảy
xuống các mục tiêu định sẵn từ các chiếc C-47, khi nhận được khẩu
lệnh ‘Nhảy! Nhảy! Nhảy!’ và bị đẩy ra từ thân máy bay tối mờ giữa
tiếng gầm rú của động cơ, bắn ra không khí mát lạnh rực rỡ ánh mặt trời
bên trên vùng đổ bộ ẩm thấp khoảng 600 bộ. Tiên phong trong số các sĩ
quan Pháp dạn dày lắc lư bên dưới tán dù là Đại tá Pierre Langlais,
người quê quán tỉnh Breton 44 tuổi, vô cùng gan dạ nhưng kém hiểu biết
và mang tiếng xấu tính. Họ đáp xuống vùng hoả lực mà họ chờ đợi: một

sĩ quan quân y, lần đầu tiên nhảy dù, hứng một viên đạn vào đầu trước
khi chân chạm đất. Đến chiều tối thì lực lượng tấn công đã buộc Việt
Minh rút lui với tổn thất khá nặng: họ giữ được phòng tuyến vành đai,
với tổn thất 15 người của Langlais chết và 34 bị thương. Ông chửi thề
nhiều hơn thường lệ, vì ông vỡ mắt cá chân khi chạm đất như nhiều
người nhảy dù thường gặp, và phải di tản để nằm bó bột một tháng.
Ngày hôm sau các máy bay C-119 của Mỹ lượn trên đầu, thả xuống
trang thiết bị nặng và quân xa – máy bay chưa thể đáp xuống đường
băng vì lỗ chỗ hố đạn do Việt Minh bắn phá. Lúc mà trận Điện Biên Phủ
cuối cùng kết thúc, người Pháp đã sử dụng ở đó gần 60,000 dù, đến nỗi
những đốm trắng và có màu, như những nốt bệnh dịch, gần như lấn át
trên các không ảnh. Sau khi xe ủi đã san bằng các đường băng, một dòng
thác đồ tiếp viện đến, mở rộng lực lượng đồn trú đến đỉnh cao hiện thời
là 12,000 người.
Chỉ huy của căn cứ là Đại tá Christian de Castries, một nhà quý tộc quân
sự 51 tuổi, từng huênh hoang trong dòng họ mình có đến một thống chế,
một đô đốc và 9 tướng lĩnh. Một kỵ sĩ nổi tiếng từng thắng nhiều giải
thưởng và từng bị hành hạ vì vết thương trúng mìn ở Đông Dương, ông
sau đó bị chỉ trích là hèn nhát bởi những kẻ cho rằng ở Điện Biên Phủ
ông luôn núp dưới boongke. Theo hồ sơ của de Castries lời vu cáo ấy là
không có căn cứ. Tuy nhiên, về khía cạnh đạo đức, lời buộc tội ấy ít bảo
đảm hơn: ông ta thiếu tài năng lãnh đạo gây cảm hứng. Khi tình thế khó
khăn nghiêm trọng hơn, ông gần như buông xuôi cho số mệnh. Đổ tội
cho ông về hậu quả cuộc chiến là bất công – Navarre và Cogny mới
chính là kiến trúc sư của trận đánh. Nhưng ông cũng phạm nhiều lỗi lầm
chiến thuật, cả về nhiệm vụ lẫn sự thiếu sót.
Danh từ ‘pháo đài’ thường được lặp đi lặp lại để mô tả Điện Biên Phủ,
vậy mà nó không hề như thế. Đúng hơn, nó là dãy đồi thấp giữa một
bình nguyên nhìn qua những ngọn núi rậm rạp cây cối, và bây giờ được
đào chiến hào chung quanh với sự cẩu thả đáng kinh ngạc. Hiếm có vị
trí phòng thủ nào được tạo ra trong những tháng trước cuộc tấn công của
Việt Minh là đủ vững chắc: nhiều binh sĩ đồn trú khá dũng cảm, nhưng
coi thường việc đào công sự. Chỉ huy của họ ỷ lại vào sự kết nối hàng
không 24/7 với Hà Nội.

Trong khi đó, xa tận trong vùng đồi, Giáp biết được sự triển khai của
địch: báo chí Pháp, mà ban tham mưu của ông kiên trì đọc, báo cáo về
chủ định của Navarre quyết đứng vững và chiến đấu. Quyết định của vị
tướng Việt Minh trực tiếp thách thức vị tổng tư lệnh của kẻ thù – tung
lực lượng lớn tấn công căn cứ – được hình thành dựa vào sự thay đổi
trong cán cân quân sự, lúc đầu bộ chỉ huy Pháp tại Hà Nội không hay
biết. Trung Quốc đã cung cấp cho Việt Minh các pháo tự hành M2A1
105mm do Mỹ chế tạo mà họ đã tịch thu được của bọn Quốc Dân Đảng
tháo chạy, cùng với súng cối 120mm và súng phòng không 37mm. Các
vũ khí này giúp tăng cường hoả lực của đội pháo thủ Giáp, và trên hết là
tầm bắn – một quả pháo 105mm có thể bay đến mục tiêu từ ụ pháo cách
đó 12,000 ya (khoảng 11,000 mét).
Lời kêu gọi quan trọng nhất, và thật ra có tính lịch sử, mà Giáp đưa ra là
về hậu cần, trong đó các cố vấn Trung Quốc của ông đóng một vai trò có
thể gây ảnh hưởng, tuy chưa được minh chứng: tự tin thuyết phục bộ
chính trị rằng binh sĩ ông có thể kéo các khẩu pháo này, mỗi khẩu nặng
hơn 2 tấn, vượt 500 dặm qua một số địa hình hiểm trở nhất của châu Á,
và duy trì hàng tiếp tế hàng tháng trời cho lực lượng vây hãm gồm 4 sư
đoàn. Để đạt được điều này, vào ngày 6/12 lệnh tổng động viên được
ban hành trên toàn ‘vùng giải phóng’, để huy động một số lớn nông dân
khuân vác, thay phiên nhau mỗi người phải phục vụ ít nhất một tháng
trước khi loạng choạng trở về nhà, kiệt sức, hốc hác, bệnh tật hành hạ.
Để động viên các nam nữ này, Việt Minh loan báo cải cách ruộng đất
sắp đến gần, để thưởng công họ góp phần vào thắng lợi. Thêm vào khẩu
hiệu chiến đấu quen thuộc ‘Tất cả cho chiến trường, tất cả cho thắng lợi’
xuất hiện một khẩu hiệu mới: ‘Đất về tay nông dân!’
Giáp dời bộ chỉ huy tiền phương 300 dặm, đến một nhóm hang động
tránh được bom và đào những đường hầm cách căn cứ Pháp 9 dặm, tại
đó ông bày ra bàn bản đồ của mình vào ngày 5 tháng giêng 1954. Bộ
tham mưu của ông bắt đầu phát hành bản tin cho binh sĩ. Trong số các
báo cáo mới và lời hô hào là các tranh biếm họa khủng khiếp. Một bức
tranh như thế mô tả nước Pháp là một mụ đàn bà xấu xí thô lỗ hạ sinh ra
Điện Biên Phủ, và nằm đó bao vây bởi những nhân vật nhỏ xíu vận đồ
đen đang cắt dây rốn là đường liên kết hàng không – đúng như việc họ
sẽ làm, chỉ độ vài tuần nữa thôi.

Lực lượng hậu cần và kỹ sư Cộng sản vất vả trên lộ trình tiếp vận, một
số đoạn đường có khả năng thích ứng với xe tải Molotova của Xô viết
hoạt động tiếp sức, bốc hàng và dỡ hàng bởi đám khuân vác. Gạo được
chở phà nửa đoạn đường từ Trung Quốc đi theo sông Đà. Giáp yêu cầu
kho dự trữ chiến trường gồm một ngàn tấn đạn dược – mỗi quả pháo
105mm nặng hơn 20 ký. Bộ đội Việt Minh bắt đầu di chuyển về hướng
Điện Biên Phủ, khi đến nơi họ được phát xẻng để sử dụng và dây thừng
để kéo. Dọc theo lộ trình, điều cần chú ý sát sao dành cho công tác ngụy
trang. Trong rừng, các chòm cây được buộc vào nhau để tạo thành một
đường hầm, trong khi cầu được dựng lên vô hình bên dưới mặt nước
sông. Ở vùng quê lộ thiên từng đoàn người đi theo xe, dùng lá cây quét
sạch dấu vết bánh xe tố giác mình. Khi phi cơ Pháp có phát hiện ra họ,
thì việc cứu trợ duy nhất mà người bị thương nhận được là các sinh viên
y khoa, chỉ có giẻ rách và thuốc giảm đau dân gian.
Về phần pháo, sĩ quan Việt Minh Trần Độ mô tả công việc thường nhật
lặp lại nhiều tuần liền: ‘Mỗi đêm khi sương mù dày đặc buông xuống
thung lũng, từng nhóm người tụ tập… Đường mòn quá hẹp, và chẳng
bao lâu bùn ngập đến mắt cá chân, trơn trượt đến nỗi bánh xe chỉ đi lệch
một chút có thể khiến pháo lao xuống khe vực. Chỉ bằng mồ hôi và
nước mắt chúng tôi mới kéo được chúng vào vị trí từng khẩu một, sức
người thay thế xe tải… Chúng tôi sống nhờ cơm gạo gần như lúc nào
cũng sống sượng hoặc khê khét, bởi vì nhà bếp không được bốc khói vào
ban ngày và không có tia lửa vào ban đêm. Khi lên núi, hàng trăm
người kéo pháo bằng dây thừng dài, với cái tời ở trên đỉnh để ngăn
không cho chúng trượt xuống. Đoạn xuống dốc thì gay go hơn, pháo trở
nên nặng hơn, đường mòn uốn khúc và quanh co. Đội pháo thủ bẻ lái và
chèn nêm, trong khi bộ đội điều khiển dây thừng và tời. Trọn một đêm
dưới ánh đuốc lập lòe chỉ di chuyển một khẩu pháo đi được 500 hoặc
1,000 mét.’ Bộ phận tuyên truyền Việt Minh phong tặng anh hùng cho
một bộ đội liều lấy thân mình chèn bánh xe một khẩu pháo sắp trượt
xuống vực. Tình báo Pháp, ra sức theo dõi hoạt động sôi nổi này ở vùng
tây-bắc, ước tính Giáp chỉ có thể huy động 20,000 phu khuân vác, và chỉ
có thể nuôi ăn số binh sĩ lớn chừng ấy. Trong thực tế, tuy nhiên, cộng
sản động viên đến 60,000 người. Những chiếc xe đạp thồ được gia cố trở
thành mắc xích quyết định trong dây chuyền tiếp tế, mỗi xe đạp thồ chở

được 120 cân, lúc khẩn cấp có khi đến 200 cân. Các chỉ huy cộng sản cổ
vũ không chỉ các chiến binh của họ mà còn động viên các nông dân
khuân vác, đạt đến một mức độ nỗ lực thể xác và hi sinh mà ít người
Pháp hoặc lính đánh thuê nào có khả năng bì kịp. Một tù binh có ấn
tượng sâu sắc khi chứng kiến 10 chiến sĩ Việt Minh giơ tay khi một cán
bộ kêu gọi người tình nguyện đi vứt bỏ những quả bom nổ chậm của

Pháp.

Chiến dịch triển khai chậm chạp, trong khoảng thời gian hơn 100 ngày
giữa thời điểm nhóm lính dù đầu tiên nhảy xuống ngày 20/11 và đợt tấn
công đầu tiên của Giáp vào tháng 3. Ngay từ đầu, những cuộc tuần tra
của Pháp vượt quá vành đai phòng thủ đều bị trừng phạt: vào tháng 12
hai tiểu đoàn dò dẫm về hướng một ngôi làng xa 9 dặm bị Việt Minh bao
vây và xé nát, buộc phải rút về. Navarre phát đi lệnh mới cho de
Castries: chỉ phải giữ vững căn cứ bằng bất cứ giá nào. Sau khi người
Pháp đã chở đến bốn khẩu 155mm cũng như pháo tự hành 105mm và
súng cối 120mm, họ cảm thấy yên tâm là đã có hỏa lực vượt trội. Nhưng
thật bực bội khi xác định rất khó khăn mục tiêu: chất lượng kém của bản
đồ khu vực gây khó khăn cho quan sát viên không lực và pháo binh; vũ
khí hạng nặng của địch thì ít khi nhìn thấy.
Qua tháng 12 tư lệnh tối cao Pháp chỉ nhận được tin tình báo nhỏ giọt
khiến Navarre Cogny rất bực mình – mặc dù không trầm trọng như
đáng ra phải thế. Họ bây giờ biết rằng bốn sư đoàn Việt Minh đang
chuyển quân lên vùng núi phía bắc, nhưng vẫn không chắc chúng đến
đâu – lực lượng nghi bình của địch tại Cao nguyên Trung phần và châu
thổ sông Hồng gây hoang mang cho Hà Nội. Trong suốt cuộc chiến từ
trước đến giờ, cuộc tấn công của Việt Minh nào gặp phải sức kháng cự
mạnh mẽ của Pháp đều thất bại: các tướng lĩnh do đó tin rằng quân Giáp
gặp phải một cuộc đẩy lui đắt giá tại Điện Biên Phủ ắt sẽ cuốn giáp chạy
dài. Một thông tín viên của báo Le Monde đến thăm căn cứ bảo với độc
giả là tinh thần lấn át của binh sĩ Điện Biên Phủ là “On va leur
montrer!” – ‘Chúng tôi sẽ cho chúng biết tay!’
Khi năm sắp hêt, Navarre mới biết tin Việt Minh đang triển khai pháo tự
hành: ngày 31 tháng 12 ông báo cáo về Paris rằng có thể căn cứ không
thể bảo vệ được. Vậy mà trong suốt những tuần đầu năm 1954, không
khí buồn chán là kẻ thù chính của quân đồn trú. Đại tá Langlais trở lại từ

bệnh viện với một mắt cá bó cứng, cưỡi một chú ngựa con đi lững thững
chung quanh. Đội tuần tra chịu nhiều thương vong. Nhiều người khao
khát Việt Minh tấn công, để có thể ném chúng trở về chốn ẩn náu rừng
núi, cởi trói cho họ được về bù khú với gái gú Hà Nội. Nhưng cũng có
một số dự cảm u ám: Trung tá Jules Gaucher viết cho vợ vào ngày 11/1:
‘Thời gian trôi qua chậm chạp và không có gì thú vị xảy ra. Họ kháo với
bọn anh là khó khăn sẽ đến, sẽ giật phắt bọn anh ra khỏi cuộc sống
thường nhật. Có tin đồn bọn anh thế nào cũng bị hi sinh.’
Trong những tuần sau đó, lực lượng đồn trú phát động một số cuộc xuất
kích nhắm vào pháo binh địch, nhưng đều thất bại. Nỗ lực cắt đứt đường
tiếp tế của Giáp từ trên không cũng không thành công, một phần cũng vì
hạn chế của phi đội B-26 Marauder của Pháp: Langlais có lần thấy các
vị trí của mình dường như bị phi đội Trung Quốc tấn công, rồi sau đó
mới phát hiện chúng bị đánh bom bởi một phi cơ Pháp bị lạc địa chỉ.
Không có gì ngạc nhiên khi nhiều bom được thả xuống từ độ cao 12,000
bộ. Cách xa Điện Biên Phủ, Việt Minh tiến hành các cuộc tấn công biệt
kích đêm nhằm làm tiêu hao không lực Pháp và đánh lạc hướng sự chú ý
của Navarre. Hai mươi máy bay, phần lớn là C-47 quý giá, bị phá hủy
trong các cuộc đột kích vào sân bay quanh Hà Nội và Hải Phòng. Từ
tháng 12 trở đi Navarre và các chiến hữu của ông nhận được đầy đủ tin
tình báo, được chia sẽ với các cấp trên của mình ở Paris, để chứng tỏ
rằng họ đối đầu với một viễn cảnh của một thảm họa đầy máu đổ. Vậy
mà họ vẫn bền lòng bởi vì một ly cốc tai của lòng kiêu hãnh, thuyết định
mệnh, sự ngu muội và tinh thần yếu đuối ngăn cản họ nhận ra lỗi lầm
của mình. Nếu quân đồn trú Điện Biên Phủ đã được di tản, không ai ở
ngoài Việt Nam sẽ nghe biết về nó. Đó sẽ chỉ là một cuộc rút quân địa
phương thuộc loại đã hóa thân thuộc. Navarre chịu trách nhiệm chính,
nhưng toàn bộ giới lãnh đạo quân sự và chính trị Pháp đáng phải chia sẻ.
Đó là vận xui của đất nước bị trị vì và chỉ huy bởi những con người đã
đeo nặng sự sỉ nhục của thập niên trước đây, và do đó bị hạn chế trong
mọi quyết định bởi lòng khao khát phục hồi danh dự quốc gia, phục sinh
vinh quang của tổ quốc. Trong một tinh thần thách thức họ phạm vào
một trong những tai họa quân sự dễ tránh khỏi nhất của thế kỷ 20.
Trong tuần cuối của tháng giêng, phe phòng thủ bị đặt trong tình trạng
báo động cao: Tình báo báo cáo địch sẽ tổng tấn công trong vài giờ tới.

Tin tình báo rất đúng: đó là kế hoạch; nhưng giờ cuối Giáp đổi ý. Nền
tảng các thắng lợi gần đây của vị tư lệnh Việt Minh là nhờ vào chuẩn bị
tỉ mỉ. Trước sự bực bội của các phụ tá, Giáp xác định các điều kiện ở
Điện Biên Phủ chưa chín mùi. Quân lính đầy đủ nhưng dự trữ đạn pháo
và súng cối còn chưa như Giáp muốn. Ông cho hoãn lại trận tấn công đã
lên kế hoạch.
Thời khóa mới được duyệt lại có nghĩa là trận đánh sắp đến phải tiếp tục
vào mùa mưa, mà trong vùng đó sẽ rất ẩm ướt. Giáp tính toán bộ đội của
mình, dàn quân trên các ngọn đồi, chịu đựng ít hơn quân địch đồn trú
trên đồng bằng. Ở Paris một sĩ quan cao cấp có cùng ý kiến, nhận xét u
ám rằng vào tháng 4, tại bộ chỉ huy căn cứ de Castries sẽ lội trong ba tấc
nước: ‘Chúng ta tưởng mình có thể tiêu diệt ba sư đoàn tinh nhuệ Cộng
sản. Nhưng thay vào đó kẻ địch đã trói buộc một phần quan trọng lực
lượng chúng ta, và chính địch mới là người điều khiển chúng ta.’ Có
thêm cuộc bàn cãi về di tản, nhưng một lộ trình như thế có nghĩa là bỏ
lại kho dự trữ khổng lồ vật liệu và gần như chắc chắn là đội hậu quân sẽ
bị tiêu diệt. Thay vào đó, Navarre củng cố.
Trong bảy tuần sau đó, dường như bất tận với người vây hãm cũng như
với người bị vây hãm, các đối thủ đăm đăm nhìn nhau qua rặng cây và
đồi núi. Phi cơ bay đến rồi bay đi. Xảy ra các vụ đột kích bên ngoài căn
cứ, và một dòng khách quan trọng đến thăm – những ông lớn quân sự và
chính trị, tiểu thuyết gia Graham Greene, Mike O’Daniel của quân đội
Hoa Kỳ – tất cả bọn họ đều ra đi bình yên.
Trong khi đó không kích vào đường tiếp tế của Việt Minh không tác
động nhiều. Phi hành đoàn còn non nớt, họ gọi các máy bay cũ tơi tả của
mình là ‘cái bẫy chết người’. Nhiều người trong số 650 phi công Pháp
tử trận ở Đông Dương là nạn nhân của hỏng hóc kỹ thuật hoặc lỗi vận
hành hơn là do kẻ địch. Việt Minh biết rằng tuy các trận không kích của
địch ồn ào, chúng gây it thương vong một cách đáng ngạc nhiên. Một
thanh niên sống sót trong một trận oanh kích ngôi làng mình đã viết:
‘Ném bom và pháo kích làm dân chúng khiếp đảm hơn là nó thực sự gây
thương vong… Ném bom thường xuyên có thể khiến dân chúng bớt sợ.’
Hơn nữa phi cơ Pháp ngày càng đương đầu với hỏa lực ác liệt của súng
phòng không 37mm của Xô viết. Vào tháng 12, 53 phi cơ bị trúng đạn it
nhiều nghiêm trọng. Sau đó, khi thời tiết ít nhiều bị ảnh hưởng của mùa

màng, các phi công trông cậy vào công nghệ phi hành của Thế Chiến II
đối mặt với rủi ro càng lớn hơn, tổn thất càng gia tăng.
Theo quan điểm của Navarre, đáng báo động hơn cả câu chuyện chiến
trường là tin tức từ châu Âu qua một đêm đã nâng cao tiền đặt cược vào
Điện Biên Phủ: phải có một hội nghị thượng đỉnh các Siêu Cường; một
thỏa hiệp. Binh lính Pháp cảm nhận trong không khí một mùi quen thuộc
đầy khốn khổ đối với người Pháp: mùi của sự phản trắc lù lù bốc lên.
Không muốn nhìn nhận những nỗ lực bắn và pháo của mình, con đường
đi đến chiến thắng ở Đông Dương, đang thất bại, họ bỗng thấy mình sắp
sửa trở thành nạn nhân cho các mưu mô của bọn chính trị gia mà họ
khinh bỉ.
Ở Hoa Kỳ và châu Âu, tình trạng hoảng hốt đã lớn dần theo chiến sự
Đông Dương. Trong những năm đầu tiên của Thế Chiến Dự án
Manhattan nhằm tìm cách chế tạo các quả bom nguyên tử đầu tiên, thủ
tướng Anh Winston Churchill biểu lộ sự ngây thơ và thậm chí vô tư về
các hàm ý của nó. Một thập niên sau, tuy nhiên, cho dù ở tuổi lão suy, vị
chính khách già nua còn nhạy cảm về rủi ro trong việc sử dụng vũ khí
hạt nhân hơn cả nhiều người Mỹ, kể cả Tổng thống Dwight Eisenhower.
Churchill và ngoại trưởng Anthony Eden của ông hiểu rằng bom H vừa
mới chế tạo không chỉ là một món đồ chơi chiến tranh khác; thậm chí
răn đe sử dụng nó để hoàn thành các mục tiêu trong chính sách đối ngoại
là một dự định cực kì hệ trọng.
Khi hành pháp Hoa Kỳ xét đến các lựa chọn, nổi bật trong số đó là bỏ
bom hạt nhân Trung Quốc, để trừng phạt Mao Trạch Đông vì việc hậu
thuẫn Việt Minh. Viễn ảnh như thế làm khiếp đảm người Anh. Mặc dù
chỉ một ít người Mỹ – một số mặc quân phục có gắn sao tướng lĩnh – nói
toạt ra việc bỏ bom hạt nhân Trung Quốc, một khi xung đột bắt đầu
không biết nó sẽ đi đến đâu. Người Anh tin vào chính sách ngoại giao
của mình mà chính quyền Eisenhower không chia sẻ, và ngày càng tỏ ra
khinh bỉ sự nhút nhát của đồng minh lớn nhất của mình. Phe bảo thủ
Mỹ lên án ý muốn của Anh tham gia đàm phán ngoại giao với Trung
Quốc và Liên bang Xô viết, coi đó là hành động nhân nhượng.
Tiến trình ra khỏi Đông Dương của Pháp được đẩy nhanh hơn sau một
phiên họp căng thẳng và khó khăn vào tháng giêng 1954 giữa các ngoại
trưởng tại Berlin. Vyacheslav Molotov, đại diện cho Nga, thúc giục

triệu tập hội nghị mà Trung Cộng – từ trước đến giờ bị gạt ra khỏi các
hội nghị quốc tế do Mỹ áp lực – sẽ được tham dự. Hội nghị sẽ giải quyết
các vấn đề nổi cộm ở châu Á, nhất là Triều Tiên và Đông Dương.
Ngoại trưởng Mỹ John Foster Dulles khựng lại. Khái niệm tham dự một
hội nghị với phe cộng sản đã lật đổ Trung Quốc là điều đáng nguyền rủa.
Vậy mà Eden hậu thuẫn ý tưởng này, với sự chống lưng của Churchill.
Về phần Pháp, Georges Bidault nhất trí: chính quyền chập chững mà
ông là ngoại trưởng rất muốn mở cuộc đối thoại với Bắc Kinh về việc họ
hậu thuẫn Việt Minh. Dulles phải bất đắc dĩ chấp nhận. Vào ngày 18/2
các ngoại trưởng thông báo hội nghị sẽ bắt đầu ở Geneva vào ngày 26/4,
tại đó mọi bên liên quan sẽ được mời, đồng chủ tọa là Anh và Nga.
Cả hai quân đội ở Đông Dương giờ bị thúc ép trước tình hình khẩn
trương mới, phải đạt cho được vị thế chiến trường mạnh nhất có thể
trước bàn hội nghị. Navarre và các phụ tá bỏ đi các dự đoán bập bênh họ
đã đưa ra từ tháng 12 và bày tỏ niềm hy vọng trống rỗng của chiến
thắng. Táo bạo hẳn lên nhờ vào lòng tin cậy của binh sĩ, chính quyền
Paris bác bỏ thẳng tay một đề nghị của nhà lãnh đạo Ấn Độ Jawaharlal
Nehru cho một cuộc ngừng bắn lập tức ở Đông Dương. Không chắc là
Việt Minh sẽ chấp nhận một cuộc hưu chiến như thế, nhưng người Pháp
đã bác bỏ một cơ hội – cơ hội cuối cùng có thể nghĩ ra – để rút lại tiền cá
cược của mình đã đặt trên bàn Điện Biên Phủ.

2 Thảm Họa Ra Dấu

Ở xa Paris, giữa các giao thông hào đất đỏ, các xe jeep chạy nhốn nháo
khi đạn pháo bất ngờ chụp xuống tiền đồn hoang vu ở phía tây Bắc Kỳ,
người Pháp nhận ra một diễn tiến không ngờ khác bên phe địch. Theo
kiến thức quy ước dàn pháo nên được bố trí trên bờ nghiêng ngược
lại, ngoài tầm nhắm trực tiếp của địch. Vậy mà Giáp, đặt ra quy luật
mới, đặt các pháo tự hành của mình trên mặt dốc phía trước, để nòng
pháo chĩa thẳng xuống các cứ điểm của de Castries, với sức vươn tới đầy
đủ để cào cấu nhiều nhất. Dù ở vị trí đó, các khẩu pháo của Giáp gần
như không thể bị tổn thương bởi các vụ phản pháo của Pháp, bởi vì
chúng được cất giữ trong đường hầm chỉ được kéo ra khi lâm trận. Đồng
bằng Điện Biên Phủ nằm trên độ cao 1,000 bộ so với mặt nước biển; vị

trí cao nhất của Pháp cao hơn 600 bộ (khoảng 180 mét). Vậy mà chỉ
cách đó 5,000 ya (khoảng 4,500 mét), cộng quân án ngữ một phòng
tuyến trên đồi ở độ cao trung bình 3,600 bộ (khoảng 1,100 mét). Pháo
của Giáp sẽ sớm có thể tàn phá mọi di chuyển của quân Pháp.
Pháo và súng cối của de Castries đứng trong hố, phơi bày lộ liễu một
cách kinh khủng. Một ít xe tăng Chafee 18 tấn được tháo rời chở đến
căn cứ bằng máy bay rồi ráp lại, cung cấp hỏa lực cơ động. Nhưng các sĩ
quan Pháp sẽ sớm hiểu rằng mình đối mặt với một thử thách khốc liệt
bởi pháo kích mà không mấy ai đã từng trải nghiệm. Pháo kích ngày một
tăng dần có nghĩa là ít người ở vị trí tiền tiêu có thể hưởng được thú vui
tại hai nhà thổ dã chiến ở căn cứ.
Vào giữa tháng 2, mặc dù không có cuộc tấn công nào của Việt
Minh, 10 phần trăm quân số đồn trú đã bị thương vong. Tần suất sử
dụng các C-47 đã sút giảm gây thiếu thốn trong việc vận chuyển đồ tiếp
tế và quân nhu.
Vào ngày 11 /3, Việt Minh bắt đầu pháo kích vào các máy bay đổ cạnh
đường băng Điện Biên Phủ. Từ ngày 13 mỗi chuyến cất cánh và đáp
xuống đều nằm trong hỏa lực: không phận bên dưới 7,000 bộ trở thành
không an toàn. Vào ngày 12 René Cogny đến thăm, không ngờ là
chuyến thăm cuối cùng của mình: máy bay của ông khởi hành giữa mịt
mù đạn pháo, và vị tướng ba hoa may mắn thoát chết. Hàng tuần liền
quân Giáp chỉ đào, đào và đào trên một quy mô mà không quân đội nào
sánh được kể từ Mặt trận Phía tây thời Thế Chiến I. Một người trong
nhóm viết: ‘Chiếc xẻng trở thành vũ khí quan trọng nhất của chúng tôi.’
Họ đào chung quanh vành đai phòng tuyến địch một mạng lưới hầm và
hố vừa để che chở vừa để che giấu sự tiếp cận. Các cứ điểm của Pháp
tập trung trên 9 ngọn đồi, mỗi đồi được gắn một tên của phái
đẹp. Isabelle và Béatrice được xem là mạnh nhất, mặc dù một sĩ quan
nhảy dù mới đến nhận ra một cách khiếp đảm tính không an toàn của các
hố cá nhân và ụ pháo: quân đồn trú có thể đã ở tình trạng tốt hơn nếu
binh sĩ trong các tuần trước chịu khó đào hăng hái như phe vây hãm.
Vào buổi sáng 13/3, Sư đoàn 312 của Giáp được nghe đọc thông điệp
của Hồ Chí Minh, rồi đồng thanh hát quốc ca Việt Minh. Chiều đó, binh
sĩ Giáp tập kích Béatrice, cứ điểm phía đông của Pháp, cách đường băng
không đến 2 dặm. Lúc 17:05, khi lực lượng phòng thủ trông thấy Việt

Minh bắt đầu chuyển quân, họ chuẩn bị ra lệnh súng cối phòng vệ và
hỏa lực pháo thì Giáp đã ra tay trước. Một trận bão lửa của pháo và đạn
súng cối hạng nặng ập xuống không chỉ Béatrice, mà còn vào các mục
tiêu phân tán rộng khắp căn cứ, nhất là các vị trí pháo và bộ chỉ huy.
Cuộc oanh kích vô cùng chính xác, ắt hẳn đã được các cố vấn Trung
Quốc đi theo đội pháo thủ trợ giúp, mà suốt nhiều tuần lễ rảnh rỗi đã
mặc tình tính toán tầm bắn và xăm xoi các điểm mạnh của de Castries.
Lực lượng tuần tra Việt Minh đã thám sát địa hình với lòng dũng cảm và
kiên nhẫn vô song, bò hàng giờ trong bóng đêm giữa hàng rào kẽm gai
và công sự Pháp. Đặc biệt, họ xác định chính xác đài anten vô tuyến
đánh dấu trung tâm chỉ huy. Nhóm của Pierre Langlais thoát chết chỉ
nhờ phép màu. Vị đại tá đang đứng trần truồng dưới vòi nước hoa sen
làm bằng thùng phuy đục lỗ khi pháo kích bắt đầu, ông chạy thụt mạng
vào boongke, không kịp mặc quần áo, vài giây trước khi một quả pháo
rơi trúng nóc hầm. Ông và các sĩ quan choáng váng giữa một đống hỗn
loạn các thanh gỗ, mảnh vụn, đất cát và máy móc vỡ vụn rơi xuống;
chưa kịp định thần thì một quả thứ hai rơi xuống, may mà không nổ. Ở
đằng xa, một quả cầu lửa màu cam đỏ đánh đấu kho xăng và kho bom
napan phát nổ. Tất cả chỉ trừ một máy bay chỉ điểm của de Castries đều
bị phá hủy.
Khi ánh sáng phai nhạt vào ngày 13/3, các chỉ huy Pháp bỗng thấy mình
bị tê liệt. Nhiều dây điện thoại bị cắt đứt, và các đài phát hoạt động chập
chờn trong không khí đặc sệt thường lệ của buổi chiều tối. Tiểu đoàn Lê
Dương Viễn Chinh 450 người chống giữ Beatrice đã xuống sức và thiếu
sĩ quan. Các chỉ huy chờ đợi một cuộc tấn công, nhưng chỉ khi đêm
xuống. Việt Minh đã đào các hầm hố chỉ cách chu vi Béatrice khoảng
50 ya (khoảng 45 mét) và từ những vị trí này bộ bình của họ tràn về phía
trước giữa tiếng la hét và tiếng kèn xuất quân, theo sau là các ngư lôi
bangalore (thuốc nổ nén trong các ống tre) phát nổ bên dưới hàng rào
kẽm gai của địch. Pháo tung ra những quả đấm chết người: lúc 18:30
một quả pháo nổ trúng đài chỉ huy của Béatrice. Khi bóng đêm sâu dần,
những binh sĩ trong mỗi boongke trên đồi buộc phải chiến đấu đơn độc
dưới ánh lóe sáng của hỏa châu. Một số Lê Dương giáng cho bọn tấn
công những tổn thất nặng nề trước khi bị khuất phục. Tuy nhiên, trong
vòng một giờ, bất chấp thương vong, coi thường mạng sống, Việt Minh

chiếm được các vị trí sâu bên trong phòng tuyến. Một chỉ huy đại đội
Pháp tiếp tục gọi điện đài kêu yểm trợ pháo thậm chí khi công sự của
ông đã bị tràn ngập: ‘Bên phải 100 … 100 gần hơn ..50 gần hơn… Cứ
pháo lên người tôi! Địch đang tràn lên đầu chúng tôi!’ Rồi chỉ còn tiếng
rít của tĩnh điện, khi tiếng người câm lặng. Đại tá Gaucher, người đã dự
đoán u ám với vợ rằng mình và đồng đội ‘thế nào cũng hy sinh’, bị tử
thương. Langlais được lệnh thay thế, nhưng thiếu điện thoại và điện đài.
Ngay sau nửa đêm Việt Minh chiếm quyền kiểm soát Béatrice, giết hơn
100 binh sĩ phòng thủ và bắt tù binh gấp hai lần số đó, phần đông là bị
thương. Chỉ 100 người do một thượng sĩ dẫn đầu thoát được. Khi mặt
trời lên lúc 06:18 vào ngày 14, một sự tĩnh lặng kỳ lạ bao trùm lên trận
địa, dưới cơn mưa rả rích rồi trở nên nặng hạt. Đội y tế căn cứ ra khỏi
boongke ngột ngạt, mắt nhấp nháy và mệt phờ, suốt đêm qua đã xử lý 10
ca bụng dưới và 10 ca vùng ngực, 2 chấn thương sọ não, 15 gãy xương
và 14 cắt chi. Mảnh vỡ rải rác khắp nơi: xe cộ cháy đen và cháy rụi, phi
cơ và thiết bị vỡ nát. Một cuộc không kích muộn màng và vô ích được
tiến hành chống lại các vị trí pháo của Việt Minh.
Rồi một tù binh sĩ quan bị thương, Trung úy Frédéric Turpin, loạng
choạng bước từ Béatrice đến Dominique, mang một đề nghị hưu chiến
của Việt Minh để di tản người chết và bị thương, và bộ chỉ huy Cogny
cho phép. Đây là một chiêu trò tâm lý chiến sắc sảo của Giáp, vì nó giao
lại cho quân đồn trú trách nhiệm chăm sóc 8 người bị thương nặng , và
nhìn nhận quân ông là người chiến thắng. Turpin khá may mắn được di
tản hàng không đến Hà Nội. Về phần những người ở lại, Pierre Rocolle
viết: ‘Một tâm trạng sững sờ buông xuống những người không tham gia
vào nhiệm vụ khẩn cấp. Sĩ quan và binh lính không thể ngừng tự hỏi:
“Làm sao một đơn vị Lê Dương đã bị quét sạch quá nhanh chóng như
vậy?”‘ Đáp ứng của Cogny là củng cố đội quân đồn trú thêm một tiểu
đoàn dù nữa.
Giáp chuẩn bị lặp lại thắng lợi, tấn công Gabrielle, xa hơn về phía bắc,
được lực lượng Tirailleurs Algeria thứ 7 phòng thủ. Họ đã ăn súp sớm
để dự phòng một đêm bận rộn. Đúng như dự đoán, lúc 18:00 giờ ngày
14, ngay trước khi mặt trời lặn, bộ đội Việt Minh thuộc Sư đoàn 308
xung phong. Một trận đánh ác liệt kéo đài đến tận đêm, dưới ánh sáng
hỏa châu máy bay Dakota bay vòng thả xuống. Trong vài giờ đầu lực

lượng phòng thủ bám vững trận địa, với sự yểm trợ của pháo gây khổ sở
cho bộ binh Việt Minh. Tuy nhiên, lúc 03:30 giờ ngày 15, hoả lực cải
tiến của cộng sản rơi trên đồi, dội trúng đồn chỉ huy giết và làm bị
thương gần hết người trong đó. Quân Pháp hy vọng phản công vào rạng
sáng, và các sĩ quan phấn chấn hẳn lên khi nghe tin xe tăng và lính dù
tập trung đang sẵn sàng. Tuy nhiên, binh lính Algeria đã chịu hết thấu.
Lúc 07:00 ngày 15 các binh sĩ Việt Minh đầu tiên đã xuất hiện trên đỉnh
Gabrielle. Lực lượng Tirailleurs, trong đó có một đại đội không giao
tranh, bỏ chạy tán loạn ra khỏi hố và chạy hỗn loạn xuống đồi. Việt
Minh chiếm đồi, và tìm thấy vị đại tá choáng váng của tiểu đoàn trong
số 350 tù binh và 80 người chết. Tiểu đoàn người Việt mới đến tăng viện
có nhiệm vụ phản kích trên trận địa trống trải, nhưng đối mặt với hoả lực
pháo liền nao núng: cuộc tấn công bị bỏ dỡ khi các Tirailleur trốn thoát
lần lượt lẻ tẻ bước vào vành đai phòng thủ đã thu hẹp. Các lãnh đạo
Pháp lảo đảo dưới quả đấm thứ hai này trong vòng 24 giờ, và tìm cách
đổ lỗi việc Gabrielle thất thủ cho các sĩ quan của nó. Navarre nhận xét
trong một bức thư gửi cho Thống chế Juin ở Paris rằng tinh thần sụp đổ
là điều ‘thấy rõ nhất trong hàng ngũ chỉ huy, vốn trước đây đã thể hiện
một niềm tin tưởng cao độ (quá cao là đằng khác) và đã xoay chiều từ
thái cực này sang thái cực khác’. Vị tướng phái hai đại tá tình nguyện
đến Điện Biên Phủ để thay thế những người ngã xuống. Với không lực
rõ ràng không thể ngăn trở đường tiếp tế của Giáp, Navarre thay vào đó
đề xuất một kế hoạch lố bịch là tạo mưa nhân tạo trên vùng rừng rậm
gây lũ lụt cho bọn cộng sản. Trong căn cứ, một số sĩ quan trong bộ chỉ
huy của de Castries có những dấu hiệu sụp đổ tinh thần: tham mưu
trưởng ngồi bất động trong boongke của mình, không chịu bỏ mũ sắt.
Chính de Castries ban hành lệnh nhưng không thi triển sự lãnh đạo: ông
không hô hào hùng hồn cũng không cổ vũ tình đồng đội với các binh sĩ
dưới quyền, mà rõ ràng chỉ biết buông xuôi cho thảm họa rơi xuống.
Pháo tự hành của Cộng sản quay hướng chú ý vào các ụ pháo của Pháp,
khiến các pháo thủ chịu đựng khủng khiếp: một phần ba pháo đội
155mm và hơn phân nửa đội súng cối 120mm của Pháp thương vong.
Sang ngày thứ ba của trận đánh, phân nửa kho đạn 27,000 quả pháo của
quân đồn trú đã xài hết. Người Pháp đã mất các vị trí quan sát tiền tiêu,
thành ra các khẩu pháo còn lại buộc phải bắn gần như mù, lệ thuộc vào

các mục tiêu trên các không ảnh chụp phòng tuyến của Giáp và in ra
giấy ở Hà Nội, rồi thả dù xuống căn cứ.
Chỉ huy pháo binh của De Castries, Đại tá Charles Piroth vui tính, đã
hấp tấp hứa rằng mình có thể dập tắt bất kì khẩu pháo nào mà người
cộng sản bố trí. Giờ thì ông phải đón nhận những lời đay nghiến của
Langlais về thất bại của dàn pháo của ông trong hai trận đánh đêm vừa
qua. Viên đại tá rút về boongke của mình, bật khóc một cách tuyệt vọng,
‘Tôi bị sỉ nhục hoàn toàn.’ Sự thật, chính các cấp trên của ông mới đáng
bị sỉ nhục, vì đã chọn một trận địa như thế, và xua 12,000 binh lính
Pháp và thuộc địa chống lại một quân số gấp 5 lần của Việt Minh, được
một tướng lĩnh cự phách cầm đầu. Dù vậy, Piroth cũng chụp lấy một quả
lựu đạn siết chặt vào lồng ngực và rút chốt. De Castries tìm cách lấp
liếm vụ tự tử của viên đại tá, nhưng tin tức nhanh chóng tiết lộ ra ngoài,
và xuất hiện trên mặt báo Le Monde. Vào đêm 14 vài quả pháo rơi
trúng phòng băng bó, giết 14 người trong phòng sàng lọc bệnh và 9 ca
hậu phẩu, cũng như phá hủy phòng X-quang. Từ đó về sau thương binh
chịu đau đớn khủng khiếp: trước khi kết thúc cuộc chiến, bác sĩ và phẫu
thuật viên điều trị cho 2,665 người, giải phẫu 934 ca và theo dõi 319
người chết. Đường băng của căn cứ tiếp tục bị cào nát bằng hỏa lực tiêu
hủy 10 máy bay bị kẹt lại vì thời tiết xấu.

.

Hai ngày sau, 15-16 tháng 3, trôi qua không có sự cố gì. Các loa tuyên
truyền của Việt Minh phát đi lời kêu gọi đầu hàng cho lực lượng phòng
thủ bằng tiếng Pháp, tiếng Việt, tiếng Ả Rập và Đức. Việc này không
phải là không có tác dụng: Cogny đã bổ sung vào lực lượng đồn trú Điện
Biên Phủ một tiểu đoàn Việt và hai tiểu đoàn Thái được cho là không
đáng tin cậy, mặc dù de Castries đã mạnh mẽ bày tỏ không mong muốn.
Các sĩ quan Pháp đã từng sợ rằng thỏa hiệp hòa bình sẽ khiến các lực
lượng bản địa buông lỏng và đi nhanh đến thảm họa, thực sự đúng như
vậy: Theo sau loan báo về cuộc hội nghị Geneva sắp tới, nhiều người
Việt làm cho Pháp nhìn biết ai đang thắng cuộc chiến Đông Dương – và
đó không phải là bọn thực dân. Trong đêm 15/3, đầu tiên là nhỏ giọt rồi
ào ạt thành sông lớn các vụ đào ngũ xảy ra từ tiểu đoàn Thái Lan án ngữ
cứ điểm Anne-Marie, cách Gabrielle một dặm rưỡi về phía tây-nam: một
cứ điểm mạnh hoàn toàn bị bỏ trống. Không lâu sau đó một trận pháo

kích đẩy nhanh tiến độ tháo chạy trên diện rộng. Một quan sát viên tiền
phương điện về cụt ngũn: ‘Tụi Thái giông rồi.’ Anne-Marie 1 và 2 rơi
vào tay Giáp gần như không tốn một giọt máu, và ông nhanh chóng
dựng lại ở đó dàn súng cối và súng không giật. Tinh thần chiến đấu của
quân đồn trú vỡ vụn đến nỗi lực lượng Giáp có thể tiến lên đánh chiếm
toàn bộ căn cứ – như các phụ tá của ông nôn nóng muốn làm. De
Castries về sau viết về khoảng cách to lớn giữa tinh thần của người
phòng thủ và tinh thần kẻ địch như ‘giữa quân đội nhân dân chiến đấu
giành độc lập … và một lực lượng lính đánh thuê thuê thực hiện một
hợp đồng.’ Tuy nhiên, Giáp không muốn hấp tấp. Sự chuẩn bị kiên trì,
có phương pháp đã có kết quả.
Hơn nữa, các đội hình của ông đã tổn thất nặng nề trong các thắng lợi
ban đầu: một phần tư bộ đội tấn công Béatrice được cho là đã hy sinh, và
một tiểu đoàn tấn công Gabrielle tổn thất 240 người. Sáu nhân viên y tế
Việt Minh đang được đào tạo phải gồng mình chăm sóc cho 700 thương

binh.

Giữa trận mưa đạn pháo và miển đạn súng cối, lực lượng vây hãm phải
trả giá đắt vì thiếu thốn mũ sắt, và vì các vụ tấn công ‘biển người’ ban
đầu.
Giáp mỗi ngày đều kiểm tra số lượng tiếp tế. Một buổi sáng ông hỏi chỉ
huy hậu cần tại sao đêm trước chở đến thiếu một tấn gạo, và được trả lời
do có mưa như trút nước. Vị tướng phán, ‘Dù có mưa hay bão, chúng ta
không cho phép bộ đội ta chiến đấu với cái bụng rỗng!’ Đây chỉ là ngôn
từ chính trị: ông hẳn hiểu rõ là nhiều binh sĩ mình đang đói. Họ hiếm hoi
mới nhận được thịt thà hoặc rau củ, vào giữa tháng 3 phải ăn ‘gạo hẩm
đến nỗi chúng tôi không biết nấu thế nào ‘, theo lời một người thuộc Sư
đoàn 312. Họ không còn lãnh được thuốc lá, phải lặn lội tìm lá hoặc rễ
cây rừng ăn được.
Vậy mà Giáp vẫn khăng khăng chọn lối tấn công theo kiểu ban đầu, kiên
trì bảo đảm thành công mọi mũi tấn công, không cho kẻ địch hy vọng
sống còn nào. Pháo phòng không 37mm của ông giáng đòn chí mạng
cho không lực địch, vì thế hiếm có máy bay nào trở về từ căn cứ mà lành
lặn. Suốt những ngày rồi những tuần theo sau sự thất thủ của 3 trong 9
ngọn đồi của de Castries, pháo binh Việt Minh không ngừng quấy phá
đường băng. Mỗi lần phi cơ sơ tán y tế đáp xuống đường băng là các

hành khách thương bình hoảng sợ phải chạy ùa tới khoang máy bay để
nó nhanh chóng cất cánh thoát khỏi vùng tử thần. Phóng viên ảnh
Jean Péraud mô tả cảnh tượng mà ông cho là không khác Đức 1945:
‘Nhũng tiếng la hét. Những giọt nước mắt. Những người bị thương chạy
rầm rập về phía cửa máy bay. Chưa hề thấy cảnh nào như thế kể từ trại
tập trung.’ Vào ngày 17, Việt Minh lại có một ‘hành động nhân đạo’
được sắp xếp khéo léo, giao cho quân đồn trú 86 tù binh bị thương. Tất
nhiên, điều nầy chỉ làm tăng sức ép cho bộ phận y tế vốn đã quá tải:
trong số các lúng túng của bác sĩ có việc không biết phải vứt bỏ cả núi tứ
chi đứt lìa ở đâu. Vào ngày 23/3 một trực thăng H-19 không theo lệnh
đáp xuống một địa điểm trống trải nguy hiểm. Trong lúc thương binh
được chuyển lên phi hành đoàn tránh đi chỗ khác, nhờ đó thoát khỏi một
quả pháo rơi trúng phá hủy máy bay và những người bên trong, trong đó
có con trai một vị tướng.
Tinh thần quân đồn trú xuống thấp. Không chỉ lính dù người Nam
không chịu lấy lại Gabrielle vào ngày 15 mà một tiểu đoàn Algeria đã bỏ
rơi vị trí, lẻn đi vào bụi rậm và xóm làng bên ngoài vành đai phòng
tuyến, nơi có khoảng vài trăm ‘con chuột Nậm Rốn’, tên họ được gọi,
sống lây lấy cho đến khi cuộc chiến kết thúc bằng đồ tiếp tế cướp được.
Các pháo thủ và kỹ sư Bắc Phi vẫn kiên định một cách ấn tượng, dù chịu
tổn thất 50 thương vong mỗi ngày.
Không phải de Castries là linh hồn của công cuộc phòng thủ, mà chính
là Langlais, theo lời kể một đồng đội Lê Dương, ông ‘hát Marseillaise
(quốc ca Pháp) 56 ngày liền. Ông không hề thối chí.’ Vào ngày 16
Langlais được Thiếu tá Marcel Bigeard, một đồng đội cũ mới đến tiếp
tay, người sẽ trở thành một huyền thoại khác của cuộc vây hãm. Nhưng
cả ông và Langlais thích hợp trong vai trò chịu hình phạt đóng đinh trên
thập giá hơn là khởi xuống một cuộc phục sinh.
Một vài chuyến xuất kích thành công gây phấn khích đôi chút cho tinh
thần quân đồn trú, nhưng de Castries buộc phải cân nhắc lợi ích của các
hành động như thế, và ngay cả của việc tuần tra thường lệ, với giá sinh
mạng bỏ ra. Cơn thống khổ của thương binh tồi tệ hơn: một trung sĩ
Leroy nào đó bị trọng thương bởi một mảnh pháo trên đồi Isabelle vào
ngày 16 tháng 3, và đang nằm hồi phục tại phòng hồi sức thì bị pháo,
làm anh bị thương lần nữa. Anh được xe tải chở về Isabelle đúng lúc

một cuộc pháo kích mới, giết chết tài xế xe tải. Sau khi cứu sống từ đống
đổ nát anh trải qua một cuộc giải phẫu dạ dày, rồi trải qua ba đêm sau đó
trong một mương thoát nước trước khi được máy bay chở về Hà Nội vào

ngày 25/3.

Từ ngày 13 đến ngày 27, 324 thương binh được di tản, nhưng vào ngày
28 pháo Việt Minh phá hủy một máy bay Dakota trên đường băng. Pháo
của Giáp giờ có thể vươn đến đâu theo ý muốn, và thiếu tá Bigeard dẫn
1,200 lính dù trong một trận xuất kích tuyệt vọng chống lại họ. Trong
trận giao tranh đó Việt Minh được tính là đã mất 350 người, cùng với
nhiều dàn phòng không bị phá hủy. Nhưng phía Pháp chịu 110 thương
vong- một đại đội bị xoá sổ mà không đạt được kết quả quyết định nào.
Đường băng không còn hữu dụng gì nữa: ‘Cầu không vận’, trên đó toàn
bộ kế hoạch Điện Biên Phủ được xây dựng, đã tan tác. Binh sĩ bắt đầu
tháo dỡ những tấm thép từ đường băng để lợp nóc hầm và boongke: máy
bay không còn cần đến chúng nữa.
Từ lúc này trở đi, nỗi khổ của thương binh trở nên khủng khiếp thực sự.
Đồ tiếp tế thiếu hụt rượu vang nặng, chất kích thích đã từng ăn vào máu
bao thế hệ binh lính Pháp. Vào ngày 29 tháng 3 nỗi khốn khổ của cả hai
phe càng tăng thêm do trận mưa như thác, kéo dài qua các tuần lễ còn lại
của cuộc chiến: người ta chiến đấu và giết chóc nhau giữa biển bùn lầy.
Giờ thì quân đồn trú lệ thuộc vào đồ tiếp tế thả dù, tình trạng thiếu hụt
hỗ trợ hàng không phơi bày trần trụi. Phòng không địch quá lợi hại buộc
phải bãi bỏ những chuyến vận tải tầm thấp vào ban ngày, mà chỉ thả dù
tầm cao xuống về đêm, khiến một số lớn hàng tiếp tế rơi vào tay địch. Vị
tư lệnh Việt Minh nhận xét khô khan rằng ‘những chuyến thả dù của
địch tạo thành nguồn tiếp tế không phải không đáng kể, chẳng khác quà
từ trên trời rơi xuống!
Phòng tuyến Pháp lừng danh nhất của thế kỷ 20 là phòng tuyến Verdun
vào năm 1916, nơi các lực lượng của Tướng Philippe Pétain giữ vững
được nhờ vào con đường tiếp tế mỏng manh đơn lẻ đi vào lịch sử dưới
tên ‘con đường thiêng liêng’. Vào ngày 20 tháng 3 Đại tá de Castries
nhận xét trong một bức thư riêng gửi Tướng Cogny rằng Điện Biên Phủ
đang trở thành một Verdun của Đông Dương, với một khiếm khuyết
trầm trọng: không có con đường thiêng liêng.

CHƯƠNG 4: NHỮNG DẤU CHÂN ĐẪM MÁU

1 Bỏ Cuộc – Hay Dội Bom

Giáp tung ba phần tư lực lượng chính quy của mình vào Điện Biên Phủ.
Tuy nhiên, cho dù trận chiến đang tiếp diễn, lực lượng du kích vùng
miền của Việt Minh vẫn duy trì sức ép ở nơi khác, để phân tán sức mạnh
Pháp. Có đọ súng xảy ra trong vùng châu thổ sông Hồng và xa hơn về
phía nam ở Annam: giữa tháng 2 và giữa tháng 5 nhiều đồn Pháp bị
đánh chiếm. Nhiều vùng ở đồng bằng Cửu Long rơi vào tay cộng quân,
khi binh lính Pháp rời đi để triển khai xa hơn về phía bắc. Navarre và
Cogny ra sức phòng thủ các vị trí trên khắp Việt Nam và sâu vào đất
Lào.
Trong lúc họ đối mặt với thảm bại lù lù ở Điện Biên Phủ, chính quyền
Pháp loạng choạng trên khắp Đông Dương. Chỉ có một quyền lực trên
trái đất được xem sở hữu sức mạnh đảo ngược cục diện: Hiệp Chủng
Quốc Hoa Kỳ.
Trong gần hai tháng vào mùa xuân 1954, Tổng thống Eisenhower và
những nhà hoạch định chính sách tiên phong của mình xiển dương một
can thiệp quân sự mà họ mong muốn, và trong một vài trường hợp hăng
hái xúc tiến. Như sẽ thường xảy ra trong những toan tính
của Washington trong suốt 20 năm sắp tới, họ không đếm xỉa gì đến lợi
ích hoặc nguyện vọng của nhân dân Việt Nam. Họ chỉ nhận thấy hiện ra
lù lù ở châu Á một khúc khải hoàn cộng sản mới sẽ nâng cao uy tín của
Trung Quốc và hạ thấp uy tín của phương Tây. Một hậu quả như thế sẽ
làm khiếp đảm cử tri Cộng Hoà trong xứ, mà cơn sốt kiểu McCarthy sẽ
biến họ ngang bướng và nguy hiểm.
Tranh cãi về các lựa chọn càng trở nên cấp bách khi tham mưu trưởng
Pháp Tướng Paul Ely đến Washington vào ngày 20 tháng 3, một tuần
sau khi Giáp tiến hành cuộc tấn công đầu tiên tại Điện Biên Phủ. Ely
đưa ra lời cảnh báo thẳng thừng: không có Hoa Kỳ tiếp cứu, căn cứ sẽ
thất thủ. Người Mỹ đồng ý cung cấp một thay đổi nhỏ – 20 oanh tạc cơ
Marauder và 800 chiếc dù. Tuy nhiên, Ely trông đợi nhiều hơn, và nhanh
chóng tìm được một người đối thoại nhiệt tình. Đô đốc Arthur Radford,
chủ tịch uỷ ban Tham mưu Trưởng Liên Quân, là một diều hâu của các

diều hâu. Ông lập tức đề xuất 60 Siêu Pháo đài bay B-29 ở căn cứ
Philippin sẽ oanh tạc quân đoàn vây hãm của Giáp. Một nhóm nghiên
cứu ở Ngũ Giác Đài đi xa hơn, đề nghị ba vũ khí hạt nhân chiến
thuật, ‘được sử dụng thích hợp’, chỉ một đòn có thể loại trừ mối đe dọa
cộng sản. Radford cũng ôm lấy điều này như một lựa chọn khả thi. Tuy
nhiên, Bộ Ngoại giao gây áp lực buộc không được thốt ra từ hạt nhân
cho dù chỉ thì thầm, cho rằng nếu kế hoạch đến tai người Pháp nó sẽ rò
rỉ, với những hệ lụy dữ dội.
Tướng Matthew Ridgway, tham mưu trưởng Quân đội Hoa Kỳ và là
người hùng tiên phong của chiến tranh Triều Tiên, chống đối một cách
kiên trì, quyết liệt bất kì sự can thiệp nào, như dự cảm đó là một cuộc
chiến sai lầm tại một nơi sai lầm. Tuy nhiên, Tổng thống Eisenhower lại
có quan điểm khác. Ông tán thành điều động sức mạnh Mỹ, với hai
thông báo trước, cho thấy là quan trọng, và thực ra có tính quyết định:
hậu thuẫn của quốc hội và cả đồng minh cần được động viên. Mỹ phải
huy động bạn bè, nhất là Anh. Ngoại trưởng Dulles chia sẻ với Radford
và Phó tổng thống Richard Nixon một bầu nhiệt huyết về đề xuất Chiến
dịch Kền Kền B-29. Trong suốt các tuần sau đó, trong khi de Castries
chiến đấu, ở Washington, London và Paris các cuộc thảo luận và đúng
ra là tranh cãi nảy lửa xảy ra khi người Mỹ ra sức vận động số đại biểu
tối thiểu cho một nỗ lực chiến lược chủ yếu mới.
Vào ngày 30 tháng 3 tại Điện Biên Phủ, các trận tấn công liên tiếp với 5
trung đoàn Việt Minh đánh chiếm các mục tiêu trên và chung quanh
Eliane 1, do binh sĩ Algeria trấn giữ mà ngay tên các sĩ quan họ cũng
không biết. Đối với binh lính thuộc địa, sự chỉ huy là tất cả. Nếu binh sĩ
quen biết và tin cậy sĩ quan của mình, họ chắc chắn sẽ chiến đấu. Nếu
chỉ huy nản lòng hoặc ngã xuống, họ sẽ buông xuôi. Việt Minh khai hỏa
đợt pháo kích đúng giờ thông lệ 17:00, và phát động bộ binh một giờ
sau. Mưa nặng hạt đã làm ngập úng các chiến hào và khiến yểm trợ
không lực gần như không thể thực hiện được. Trong khi đó, xa hơn về
phía bắc, Dominique cũng bị bao vây: Langlais buộc phải theo dõi một
cách tuyệt vọng qua ống dòm khi vị trí bị đục đẽo. Tiếp theo là bốn cuộc
giao tranh riêng biệt giữa bộ binh hai bên, cả bốn quân Pháp đều bị dồn
ép. Lính Algeria ở

Eliane 1 bắt đầu tháo chạy, buộc một sĩ quan dù phải bắn bỏ vài tên
nhằm dẹp yên cơn hoảng loạn. Nhưng chẳng ích gì, và một lỗ hổng tan
hoác mở ra trong vành đai phòng tuyến. Sau gần bốn giờ giao tranh ác
liệt, cứ điểm sụp đổ. Cảnh tượng tương tự xảy ra ở Dominique 2: một số
lính Algeria chạy vù về phía địch giơ cao tay đầu hàng. Vào 22:00 vị trí
đó cũng bị đánh chiếm. Một số chiến sĩ dũng cảm chiến đấu đến phút
cuối cùng, trong đó có trung sĩ gốc Eurasia 18 tuổi tên Chalamont, điều
khiển súng máy cho đến khi bị bao vây và bắn ngã. Dominique 3 được
giữ vững, nhờ nỗ lực của một sĩ quan 27 tuổi tên
Paul Brunbrouck, một cựu binh của phòng tuyến Nasan 1952, một căn
cứ Pháp bị vây hãm khác. Giờ đây, ông lần nữa huy động lính phòng thủ
và duy trì hỏa lực của pháo 105mm, cuối cùng ra lệnh bi tráng cho pháo
bắn trực diện: ‘Débouchez à zéro!’ Langlais điện cho Brunbrouck hãy
bỏ lại pháo. Chàng pháo thủ trẻ trả lời: ‘Không bao giờ!’ Sớm ngày 31
anh và các xạ thủ gốc Senegal bất khuất của mình rút lui với ba khẩu tự
hành còn sử dụng được, đã bắn ra tất cả 1.800 viên đạn Brunbrouck
được thưởng huân chương Bắc Đẩu Bội Tinh, hai tuần sau đó ông mất vì
các vết thương sau một hành động dũng cảm không kém khác.
Eliane 1 nhanh chóng thất thủ, cùng với một cứ điểm có tên kiêu hãnh
Champs Elysées. Sáng ra hai bên đều rã rời. Một trung đoàn tấn công
của Việt Minh chỉ còn thưa thớt khiến Giáp phải rút khỏi chiến tuyển.
Người Pháp mất một số lượng đáng kể pháo và xài hết phân nửa quân
nhu dự trữ còn lại, 500 tấn. Navarre từ Saigon đến Hà Nội và biết được
các tin tức mới xui xẻo này – và phát hiện Cogny vắng mặt ở bộ chỉ huy
suốt đêm qua, ắt hẳn là ngủ với gái. Điều này nhanh chóng làm nổ ra
trận đấu khẩu giữa hai tướng lĩnh, mà tình thế nan giải của họ không
đáng thèm chút nào.
Mike O’Danie thuộc quân đội Mỹ đưa ra một đề nghị lố bịch, là Pháp
nên phái một lực lượng thiết giáp thẳng tiến về tây từ Hà Nội để chiếm
lại căn cứ Điện Biên Phủ. Đề nghị này phớt lờ cả sự can thiệp của vùng
quê hoang vu, và các vụ tấn công ác liệt của Việt Minh vào các đoàn xe
trên đường đã được ghi lại trong hồ sơ. Tổng thống Eisenhower tuy vậy
sau này cũng bày tỏ ngạc nhiên tại sao kế hoạch của O’Daniel không
được làm thử.

Navarre và Cogny theo đuổi các động thái vô vọng hơn: sáng ngày 31,
một tiểu đoàn dù khác nhảy xuống căn cứ. Cho dù giờ số phận căn cứ đã
được định đoạt, trong số các động thái vô vọng đó vẫn có một đám
người tình nguyện – Đại úy Alain Bizard, chẳng hạn, bỏ cuộc sống yên
lành của một tùy viên cho tham mưu trường quân đội ở Paris để gia nhập
lực lượng đồn trú của de Castries. Dường như khá đúng để ước đoán
rằng những binh sĩ trẻ theo quân nghiệp tìm cách chuộc lại nỗi ô nhục
cho sự sụp đổ của đất nước mình vào năm 1940; nhằm chứng tỏ rằng
một thế hệ mới quân nhân Pháp khao khát được hy sinh, điều mà cha
anh họ không làm được.
Vào cuối ngày 31, cuộc phản công của Pháp ngắn ngủi chiếm lại
Dominique 2 và Eliane 1, để rồi nhìn chúng rơi trở lại trong cuộc tái tấn
công của Việt Minh. Cuộc công kích đêm của địch bị đẩy lui vào ngày 1
và 2 tháng 4, nhưng vào buổi sáng Huguette 2 bị bỏ lại để binh sĩ rút về
củng cố tuyến phòng thủ trên các ngọn đồi còn lại. Niềm tin của lực
lượng phòng thủ đặt vào Lê Dương Viễn Chinh nhận một cú đấm vào
ngày 3 tháng 4, khi 12 trong số họ, những người sống sót của cứ điểm
Béatrice đã hết chịu nỗi, rời bỏ cứ điểm đầu hàng. Như mọi kẻ đào ngũ
lọt vào tay Giáp, họ bị cắt cử đào hầm và khiêng đạn. Vào 7 tháng 4, các
phẫu thuật viên cật lực chăm sóc cho 590 thương binh. Các tiểu đoàn Lê
Dương và nhảy dù tập trung không tới 300 người mỗi binh chủng. Giáp
phớt lờ đề nghị hưu chiến để cho phép máy bay tản thương – và tội gì
ông ta phải nghe lời?
Cuộc tranh cãi ở Washington về một sự can thiệp của Mỹ – không phải
để giải cứu Pháp, mà để dằn mặt cộng sản – trở thành quan trọng đối với
lịch sử hơn là số phận Điện Biên Phủ. Từ cuối tháng 4 trở đi, Dulles
tiến hành một trận chiến truyền thông chớp nhoáng nhằm vực dậy dân
Mỹ. Ngoại trưởng đặc trưng hóa kẻ địch như là tay sai của Trung
Quốc. Chính quyền Hoa Kỳ, ông nói, sẽ không đứng khoanh tay khi
bọn Đỏ đắc thắng, mặc dù ông khá mơ hồ về động thái tiếp theo sẽ là gì.
Nhưng câu chuyện trên trang nhất chuẩn bị cho độc giả đón nhận việc
can thiệp. Tờ US News and World Report nói: ‘Lưu ý thẳng thừng được
đưa đến người cộng sản rằng Hoa Kỳ không có ý định để Đông Dương
bị nuốt trọn.’ Phần đông thế giới còn cho rằng, tại Điện Biên Phủ, hoả
lực vượt trội sẽ cuối cùng thắng thế: tờ British Spectator nhận xét vào

ngày 19/3 rằng: ‘Người Pháp phải thắng trận chiến này, và nếu họ thắng,
đó là lần đầu tiên có thể nhìn thấy ánh sáng ở cuối đường hầm Đông
Dương.’ Bài chính luận của tạp chí một lần nữa vào ngày 9/4: ‘Dù cuộc
chiến không được nhiều người ủng hộ, cuộc vây hãm Đại tá de Castries
và 11,000 quân của ông đã nhắc nhở cho nước Pháp rằng họ còn có thể
chiến đấu và còn được sự ngưỡng mộ của thế giới.’ Những nhận xét như
thế phản ánh cả mong muốn và lòng yêu thích nước Pháp quá đáng,
nhưng nhấn mạnh rằng dường như không có gì về cuộc chiến mà không
thể tránh khỏi nếu chưa ngã ngũ.
Vào ngày 3 tháng 4 ngoại trưởng Mỹ chủ tọa một cuộc họp các lãnh đạo
quốc hội bao gồm các nhà Dân chủ Lyndon Johnson của Texas, Richard
Russell của Georgia, Earle Clements của Kentucky; nhà Cộng
Hoà Eugene Millikin của Colorado và William Knowland của
California. Radford tóm tắt cho họ về tình thế khó khăn thậm tệ của
Điện Biên Phủ. Dulles nói rằng tổng thống muốn một cách giải quyết
liên kết với hậu thuẫn của Quốc hội cho việc khai triển không lực và hải
lực của Hoa Kỳ. Radford nói rằng nếu mất Đông Dương, ‘thì chỉ là vấn
đề thời gian cho đến khi toàn bộ Đông Nam Á đều thất thủ, cùng với
Indonesia ‘. Dưới chất vấn hoài nghi của các chính trị gia, vị đô đốc
buộc phải thú nhận rằng ông là người độc nhất trong số các lãnh đạo tán
thành hành động quân sự. Một vị khách hỏi, tại sao thế? Bởi vì tôi biết
nhiều về châu Á hơn các đồng nghiệp tôi, Radford đáp lại. Ông tuy
không phải là con dao sắc nhất trong hộp, nhưng không hề thiếu tự tin
Rồi họ đề cập đến biện pháp chủ chốt là hành động đơn phương hay
hành động đa phương.
Lyndon Johnson nói: ‘Chúng ta không muốn có thêm Triều Tiên nữa với
người Mỹ cung cấp 90 phần trăm nhân lực.’ Bài học nội bộ của chiến
tranh Triều Tiên 1950-53 vốn đã tàn hại sự nghiệp tổng thống Harry
Truman là, mặc dù người Mỹ muốn trả tiền cho người khác chết để đánh
‘bọn Đỏ’ trong các xứ sở Á châu xa xôi, họ chống lại việc nhìn các
chàng trai của mình hi sinh. Dulles được hỏi thẳng thừng: người Anh có
phối hợp với hoạt động của người Mỹ ở Việt Nam không? Ông nhìn
nhận rằng điều đó còn nghi vấn. Kết quả của buổi họp, không làm ngoại
trưởng và Tổng thống hài lòng, là họ có thể đảm bảo quyết tâm của quốc
hội chỉ nếu những quốc gia khác cũng đồng lòng theo. Tại Nhà Trắng

vào chiều tối hôm sau ngày 4 tháng 4, Eisenhower nói rằng đã rõ ràng là
thái độ của Anh sẽ có tính quyết định. Đến khuya, người Pháp chính
thức yêu cầu Mỹ viện trợ không lực cho Điện Biên Phủ. Navarre đưa ra
đề nghị hữu ích là các máy bay này có thể không mang ký hiệu quốc tịch
hoặc mang quốc tịch Pháp, điều này càng chứng tỏ ông không nắm vững
thực tế.
Vào chiều ngày ngày 5 tháng 4, Winston Churchill nhận một bức thư cá
nhân sôi nổi từ Eisenhower, gợi nhớ các bóng ma quen thuộc của Hitler,
Hirohito, Mussolini – ‘Bộ không phải các quốc gia chúng ta đã học được
điều gì đó từ bài học ấy sao?’ – trong việc hậu thuẫn cho yêu cầu Anh
tham gia vào Đông Dương. Ngày hôm sau Eisenhower bảo với Hội
đồng An Ninh Quốc gia rằng cuộc chiến vẫn còn ‘có thể thắng được một
cách vẻ vang’. Tại cuộc họp báo ngày 7 tháng 4, lần đầu tiên vị tổng
thống công khai làm rõ điều trở nên tai tiếng dưới tên ‘thuyết domino’.
Nếu Đông Dương thất trận, ông nói, phần còn lại của của Đông Nam Á
sẽ ‘ngã theo rất nhanh chóng’. Còn người Pháp thì đã cất tiếng về biến
thể của mình – thuyết ‘mười con ky’, như trong trò chơi lăn bóng gỗ.
Các tàu sân bay Boxer và Essex được phái đến Vịnh Bắc Bộ, sẵn sàng
nếu Eisenhower chấp nhận lời yêu cầu của Pháp. Vậy mà vẫn còn có
nhiều người ngờ vực. Trên Đồi Capitol thượng nghị Dân chủ từ
Massachusetts thúc giục đã đến lúc phải nói cho dân Mỹ biết sự thật:
không có sự can thiệp nào của Mỹ có thể đạt được điều gì hữu ích, John
F. Kennedy nói, trừ khi Pháp giao quyền độc lập đầy đủ cho các thuộc
địa của mình: ‘Đổ tiền của, vật chất và con người vào rừng rậm Đông
Dương’ chắc chắn không thể mang lại thắng lợi trong một cuộc chiến
tranh du kích của kẻ thù có mặt khắp nơi mà không thấy đâu, và ‘nhận
được cảm tình và sự hậu thuẫn giấu giếm của nhân dân ‘. Eisenhower dù
sao vẫn còn gân để chiến đấu – nếu người khác cũng làm theo thế. Kiên
nhẫn, hăm hở, ông chờ đợi kết quả các toan tính ở London.
Tại Điện Biên Phủ, lực lượng tiếp viện vẫn được gửi đến. Một quyết
định kịch tính được đưa ra, nhằm phái quân tình nguyện không cần đào
tạo nhảy dù xuống. Thật khó tưởng tượng một màn khởi đầu nào cho
một cuộc hành quân không vận khủng khiếp hơn là một cú nhảy xuống
một vành đai phòng tuyến chật hẹp bao quanh bởi kẻ thù. Khi máy bay
tiến gần đến vùng nhảy, binh lính được nhắc chỉ có thời gian cho sáu

người nhảy ra mỗi lần phi cơ bay qua. Đường đạn đánh đấu từ dàn
phòng không cộng sản vạch nát bầu trời và một trong mười lính không
dám nhảy – và hành động khựng lại lây lan đến những người khác giữa
tiếng gầm thét của động cơ, tiếng la hét của nhân viên đẩy xuống, tình
trạng bấp bênh mù mờ bên dưới. Tuy vậy, hầu hết tiểu đoàn đều quả
cảm nhảy xuống vào bóng đêm, và tiếp đất xuống phòng tuyến Pháp với
tổn thất ít. Bằng một hành động nhỏ nhen tệ hại mang tính quan liêu,
những người sống sót sau đó bị khước từ huy hiệu lính dù, trên cơ sở họ
vẫn chưa hoàn tất khóa học theo nguyên tắc.
Giờ đã là 1 tháng 4, một thời điểm thích hợp cho một động thái khôi hài
đen khác của Navarre: một màn thăng cấp tập thể cho các sĩ quan đồn
trú, bao gồm de Castries được thăng cấp chuẩn tướng. Trong khi các
chiến sĩ bao vây của Giáp tiếp tục đào hào hầm tiến gần đến các mục
tiêu tiếp theo, vào buổi sáng ngày 10 tháng 4 vị đại tá mới cắt chỉ Marcel
Bigeard chỉ huy một cuộc phản kích vào Eliane 1. Binh sĩ vừa hát vừa
tiến lên, dẫn đầu là lính mang súng phun lửa được hai tay súng máy yểm
trợ tiến vào cơn bão lửa của hoả lực cộng sản. Lúc 11:30, sau trận đánh
ác liệt họ đến được đỉnh đồi – rồi khựng lại, tổn thất 60 thương vong.
Vào hoàng hôn ngày 18 tháng 4 lực lượng đồn trú 100 người của
Huguette 6, giờ được cho là không thể giữ được, nhảy khỏi công sự và
chạy thụt mạng, thậm chí nhảy qua hố cá nhân của Việt Minh về hướng
phòng tuyến Pháp. 60 người thoát được.
Trên khắp các buổi họp giải quyết khủng hoảng Anh-Mỹ xảy ra vào
tháng 4 1954, Dulles buộc phải che giấu sự khinh thị đối với Anh như
một quốc gia, và đặc biệt đối với các lãnh đạo của nó. Tình cảm này có
tính hỗ tương: Churchill cho vị ngoại trưởng là ‘một người chậm
hiểu, thiếu óc tưởng tượng, và kém hiểu biết ‘. Ở London vào ngày 11-
12 tháng 4, vị khách một lần nữa duyệt lại các lập luận quen thuộc về
nhu cầu chiến đấu bên nhau chống lại mối đe dọa chuyên chế. Eden lịch
sự một cách bền bỉ, hoài nghi không mệt mỏi. Kết quả là hai người chia
tay nhau trong sự lịch sự lạnh lùng. Vị khách Mỹ cũng không khá hơn ở
Paris, nơi ngoại trưởng Georges Bidault khước từ đề xuất Pháp nên giao
lại quyền độc lập cho Đông Dương, một điều kiện tiên quyết của Mỹ để
họ can thiệp. Vậy mà các diều hâu ở Washington vẫn tha thiết muốn
hành động. Vào ngày 16 tháng 4 Phó Tổng thống Richard Nixon bảo các

chủ biên báo chí, ‘Hoa Kỳ phải đi đến Geneva và chiếm một thế đứng
tích cực cho một hành động đoàn kết của thế giới tự do’. Xa kia ở Đông
Dương, người Pháp nghe được những lời của ông, và nuôi dưỡng những
ngọn lửa lay lắt của hy vọng.

2 ‘Một Thắng Lợi của Ý Chí’

Giữa 14 và 22 tháng 4, lực lượng đồn trú Điện Biên Phủ mất 270 người.
‘Tàn sát bằng lựu đạn’ bởi những người bất bình không phải là phát
mình của người Mỹ: một đêm một binh sĩ ném một quả lựu đạn vào một
boongke đầy hạ sĩ quan và bị tử hình lập tức cho hành động của
mình. Ngày 14 tháng 4, de Castries tập hợp 3,500 bộ binh còn khả năng
chiến đấu; 2,000 lính đào ngũ trốn quanh bờ căn cứ, mỗi đêm lại lẻn ra
ngoài giành giựt lương thực tiếp tế thả dù xuống. Lúc đầu cuộc chiến
vành đai phòng tuyến rộng đến 1200 mẫu; bây giờ rút còn phân
nửa. Chiến trường giống như một mảnh của Mặt trận Phía Tây 1917:
một vùng hoang địa trơ trọi, ngập bùn, vương vãi đống đổ nát, vũ khí bị
phá vỡ và vỏ đạn, thùng quân nhu, cày nát và cháy đen bởi pháo. Ban
ngày ít binh sĩ nào ở hai bên liều lĩnh ló mặt ra.
Năng lực phi hành của người Pháp vẫn hỡi ôi. Vào ngày 13 tháng 4 de
Castries báo cáo với Cogny ba oanh tạc cơ tấn công nhầm vào quân
mình, cùng với 800 quả pháo thả dù vào tay địch. Thông điệp này kết
thúc với một cụm từ ‘Miễn bàn’ chua chát, khô khan. Việt Minh thể hiện
năng lượng và tài khéo đáng kinh ngạc trong việc đào hào và hầm dẫn
vào các cứ điểm Pháp, cùng với lòng quả cảm vô biên trong các trận
xung phong. Tất nhiên lực lượng phòng thủ giáng cho họ nhiều thương
vong hơn mình chịu đựng. Đến năm 2018 Hà Nội vẫn chưa đưa ra con
số đáng tin về tổn thất ở Điện Biên Phủ, cho thấy chắc chắn rất lớn. Các
tù binh rơi vào tay Pháp khai về nỗi chán nản phổ biến trong nhiều tiểu
đoàn Việt Minh, trong đó bệnh sốt rét là đặc hữu. Khó khăn của các sĩ
quan cộng sản đủ nghiêm trọng khiến họ phải bỏ các cuộc tấn công biển
người và thay thế bằng các chiến thuật có tính toán hơn, và tiến hành
một loạt các buổi tuyên truyền và tự kiểm. Các cán bộ tuyên giáo tìm
cách cổ vũ các bộ đội và dân công gốc nông dân chiếm đại đa số bằng
lời hứa hẹn rằng việc cải cách ruộng đất- tịch thu điền sản của chủ đất –

sẽ được áp dụng trong những ‘vùng giải phóng’ trong vòng vài tuần sau
khi thắng trận này. Tuy nhiên, tác động mạnh nhất chắc chắn là khi biết
rằng những hi sinh của mình, không như những hi sinh của binh lính đồn
trú, không phải vô ích. Họ đang đi đến chiến thắng.
Vào đêm 22-23 tháng 4, bộ đội Giáp đánh chiếm Huguette 1 sau khi
xung phong từ đường hầm đào sâu vào trong vành đai của nó. Sĩ quan
cao cấp của nó cuối cùng được nhìn thấy chiến đấu đến chết giữa đám
Việt Minh tràn ngập. De Castries yêu cầu phản công, vì nếu mất
Huguette 1 sẽ không còn không gian để thả dù tiếp tế. Lính dù được lệnh
mở đầu hành quân vào lúc 14:00 ngày 23 tháng 4, nhưng một giờ trước
rõ ràng là họ chưa thể sẵn sàng. Hỗn loạn xảy ra sau đó: không thể hủy
bỏ cuộc không kích đã lên kế hoạch do bốn chiếc Marauder và một tá
chiến đấu cơ thực hiện, đã tập kích lúc 13:45, khi hầu hết đạn pháo có
được cũng đã dùng hết. Việt Minh trên Huguette chịu tổn thất nghiêm
trọng, nhưng rồi được yên tĩnh trong 45 phút trong thời gian đó viện
binh được đưa tới vội vã.
Lúc hai đại đội Pháp nhảy từ vị trí của mình thì gặp hoả lực ác liệt, hết
nửa đoạn đường đến mục tiêu ngay trên vùng đất trống trải thì đã kiệt
sức, và lúc 15:30 thì bị ghim chặt và chịu thương vong nặng nề. Một giờ
sau đó những người sống sót rút lui, mất 76 người chết hoặc bị thương
nặng. Một người bị thương là Trung úy Garin, thấy chân mình bị bắn
nát, liền bắn vào đầu để ngăn không cho ai phải liều mạng đến cứu
mình. Quân Việt Minh giờ đã chiếm được nửa sân bay, và phòng băng
bó của căn cứ vật lộn với 401 ca trầm trọng, 676 ca ít nặng hơn. Một sĩ
quan bảo các thương binh không có chỗ trú ẩn: ‘Ai không đứng hoặc
ngồi được tốt hơn nên nằm tại hào của mình.’
Khi hội nghị Geneva đến gần, một lần nữa Dulles bay đến châu Âu, lần
này có Đô đốc Radford tháp tùng, nhằm làm mới lại yêu cầu của mình
với chính quyền của Winston Churchill, và để tham vấn với Pháp. Rõ
ràng trước cặp mắt của thế giới là nếu không có hành động của Hoa Kỳ
số phận của Điện Biên Phủ đã được định đoạt, và tờ Spectator phản ánh
nhiệt tình của một số nhà bảo thủ dành cho một lộ trình như thế ‘nếu Hồ
Chí Minh và Trung Quốc phải bị thuyết phục bằng một biện pháp quân
sự có nghĩa là hoà bình đáng ao ước’. Vào ngày 22 tháng 4 Dulles và
ngoại trưởng Bidault gặp nhau lần nữa tại Paris để tìm một chính sách

chung cho Geneva; Ely và Navarre trong khi đó thúc giục thêm phi cơ
Mỹ. Khi người Anh tham gia đối thoại, Bidault trở nên tình cảm hơn,
có lẽ vì uống nhiều rượu: ông sau đó tuyên bố rằng Dulles hỏi riêng ông
liệu ông có cho rằng vũ khí hạt nhân sẽ có hiệu quả tại Điện Biên Phủ
hay không; dường như ít ra biện pháp này được đưa ra một cách không
chính thức.
Cả Eisenhower và ngoại trưởng của ông đều mệt mỏi với người châu
Âu: với người Pháp, bởi vì họ muốn được viện trợ mà không bị giật dây;
với người Anh, bởi vì họ không chịu nhìn nhận giá trị của việc tham
chiến ở Đông Dương trước khi người Pháp khăn gói về nước. Anh cũng
được cho là lo lắng một cách đáng thương trước mối đe dọa của Trung
Quốc lấy lại thuộc địa Hồng Kông. Vị thủ tướng già và ngoại trưởng của
ông Anthony Eden tuy vậy vẫn bám vào lộ trình đã chọn của mình. Họ
bác bỏ ‘thuyết domino’ của Eisenhower, và khước từ hậu thuẫn bất cứ
hành động quân sư nào trước hội nghị Geneva, mà Eden đồng chủ tọa
với ngoại trưởng Xô viết Molotov. Về phần Churchill, khi Radford bỏ
hết khả năng ra thuyết phục nhà lãnh đạo nước Anh tại một buổi chiêu
đãi ở Điện Chequers, vị thủ tướng bảo với người Mỹ: ‘phải đối mặt với
việc thất thủ pháo đài’. Sau khi Anh không thể cứu được Ấn Độ cho
mình, ông nói thêm, thì không chắc Anh có thể cứu được Đông Dương
cho Pháp. Dulles điện về nước vào ngày 29 tháng 4: ‘Thái độ của Vương
quốc Anh là một trong những điểm yếu đang tăng lên. Anh dường như
cảm thấy chúng ta đang sẵn sàng chấp nhận rủi ro một cuộc chiến với
Trung Quốc và điều này, cộng với nỗi lỗ sợ chúng ta có thể bắt đầu sử
dụng vũ khí hạt nhân, đã khiến họ lo sợ tệ hại.’ Đóng góp của Anh là
đóng góp có ảnh hưởng nhất và tốt đẹp nhất trong tiến trình của mọi
cuộc chiến ở Việt Nam. Nếu Churchill đã đưa ra câu trả lời khác, cho
dù vẫn không chắc Eisenhower sẽ mở kho vũ khí hạt nhân, đồng minh
phương Tây ắt hẳn đã tung lực lượng hậu thuẫn một tình huống gần như
là tuyệt vọng của Pháp. Các tin điện của Eisenhower gửi Dulles làm rõ
rằng, trong khi ông từ chối triển khai đơn phương sức mạnh Hoa
Kỳ, ông không chỉ muốn mà còn tha thiết làm thế nếu ông có thể có
được vỏ bọc chính trị mà người Anh có thể cung cấp, được hậu thuẫn
bởi việc phái đến một cách tượng trưng các oanh tạc cơ RAF (Không
Lực Hoàng Gia).

Từ năm 1940 người Anh đã phô diễn nhiều tài vận động ngoại giao để
tránh đoạn tuyệt với Hoa Kỳ. Cho nên hiện giờ họ thấy rất bứt rứt khi
phải bất đồng với Washington về một vấn đề mà hành pháp của họ gán
một tầm quan trọng như thế. Vậy mà cũng khó nghi ngờ là sự thận trọng
của London là có cơ sở. Churchill thường được cho không sai là một cái
bóng của chính mình trong thời gian làm thủ tướng 1952-55. Tuy nhiên,
về vấn đề này, ông thể hiện một sự minh bạch và cố chấp đáng khen.
Người Anh sợ rằng mục tiêu thực sự của bất kì hành động nào của Hoa
Kỳ sẽ là để trừng phạt Trung Quốc. Sự phẫn nộ của chính quyền Mỹ về
viện trợ quân sự của Trung Quốc cho Việt Nam dường như là kỳ cục khi
chính Mỹ cũng đã cung cấp nhiều vũ khí và trang thiết bị cho Pháp.
Trong mắt người Anh cuộc xung đột Triều Tiên với người cộng sản biểu
thị một trận đấu vật trong bùn kéo dài không thể chịu được. Việc xông
vào Đông Dương có thể nhanh chóng biến thành điều gì đó tồi tệ hơn –
một cuộc đại chiến chẳng hạn. Churchill bảo với người Mỹ rằng mình
không muốn câu kết trong việc hướng dẫn sai Quốc Hội Mỹ bằng việc
hậu thuẫn hành động quân sự Tây phương mà không thể cứu được Điện
Biên Phủ, nhưng có thể có các ám chỉ chưa nói ra cho hoà bình.
Radford điên tiết, và Eisenhower cũng vậy, vốn ao ước nhìn thấy bọn
cộng sản ‘ăn một cái tát ở Đông Dương’. Vậy mà không có hành động
nào của Tây phương vào mùa xuân 1954 có thể đã cứu được Điện Biên
Phủ, trừ việc tung ra một hoả lực quy ước áp đảo điên cuồng hoặc thậm
chí hạt nhân. Sự can thiệp sau này của Mỹ vào Việt Nam bị phần đông
thế giới nhìn là có tính thực dân ẩn tàng: hành động như thế vào năm
1954 sẽ là thực dân trắng trợn. Trong mọi cuộc tranh luận ở Washington
không một ai ghi nhận rằng tương lai của Đông Dương sẽ được xác định
chủ yếu bởi các lực lượng chính trị, xã hội và văn hoá.
Thảo luận chỉ tập trung vào sức mạnh hoả lực nào nên được triển khai.
Vào năm 1954, cũng như một thập niên sau đó, ai cũng nghĩ là đương
nhiên nếu Hoa Kỳ quyết định triển khai sức mạnh của mình chống lại
các nông dân mang dép râu của Giáp, thì quân Giáp sẽ hứng chịu thảm
bại, thậm chí bị xoá sổ.
Nếu người Pháp để mất Đông Dương, người Mỹ lý luận rằng đó là bởi
vị họ là – vâng, người Pháp.’ Vì không có sự can thiệp quân sự nào của
người Mỹ vào mùa xuân 1954, các sự kiện xảy ra ở vùng tây-bắc xa xôi

của Việt Nam diễn biến theo lộ trình của chúng. Một tranh biếm họa
trong tờ Le Figaro vẽ các bộ trưởng trong chính quyền ở Paris sử dụng
những viên đạn cuối cùng để tự tử. Nếu phần đông dân chúng Pháp đều
đã tỏ ra cam chịu với sự thất thủ Điện Biên Phủ, trong giới ưu tú điều
này được cho là có nghĩa nước Pháp đã không còn là một cường quốc.
Navarre và Cogny bám vào các hy vọng hoặc thời tiết mùa mưa tệ hại
hơn sẽ khiến Giáp khó giữ vững nhịp độ tấn công vì lý do hậu cần, hoặc
một cuộc ngừng bắn tại chỗ có thể được áp đặt bởi các Cường quốc tại
hội nghị ở Geneva. Hai vị tướng thúc giục Paris rằng tiếp viện nhiều hơn
sẽ cải thiện cơ may của quân đồn trú: ‘Cũng như danh dự quân đội, it
nhất có được hy vọng về một kết quả thuận lợi sẽ biện minh cho việc hy
sinh thêm nữa.’ Tất nhiên, điều này là vô lý. Không mấy người trong số
phi hành đoàn còn muốn làm ra vẻ gắng sức, họ tống đại hàng tiếp tế ra
khỏi máy bay từ 10,000 bộ, thành ra gần như phân nửa rơi vào tay Giáp.
Phần nhiều trận dội bom được tiến hành mù, qua các đám mây. Vào
ngày 28 tháng 4 một phi đội báo cáo sĩ quan chỉ huy, phụ tá của ông và 8
phi công về mặt sức khoẻ không thích hợp để bay. Vị đại tá của họ nói
một cách thách thức: ‘Việc tôi từ chối gửi họ đến Điện Biên Phủ vào
ban ngày, ở cao độ thấp, để đi đến cái chết chắc chắn, là vấn đề giữa tôi
và lương tri tôi. Sự hy sinh sẽ là vô ích.’
De Castries phàn nàn chua chát với Hà Nội về tình trạng phi hành đoàn
chùn bước, trong khi binh sĩ của mình đang đi theo bước chân của

Chúa.’

Với sự bất cẩn về an toàn, vào ngày 24 tháng 4 tờ Le Monde tiết lộ việc
tiến hành Chiến dịch Condor, một cuộc hành quân băng rừng gồm 3,000
người khởi hành từ Lào để chiếm lại Điện Biên Phủ. Rõ ràng Condor
không có mảy may cơ hội thành công trên một địa thế bất khả và chống
lại sức đối kháng của Việt Minh, mặc dù tin đồn về vụ giải cứu đó tiếp
tục giữ sống một vết tích hy vọng giữa một số ít người lạc quan. Phần
đông quân đồn trú, trái lại, giờ đã cam chịu chết hoặc bị bắt. Có sự khác
biệt giữa một thiểu số người đối mặt với số phận một cách gan dạ, và
những người gục ngã trước cơn phần uất và niềm tuyệt vọng. Binh lính
giữ các vị trí gần trung tâm của vòng đai đã teo tóp tiếp tục nhận được
khẩu phần để ăn và rượu vang để giải sầu. Những người khác ở các
boongke phía ngoài đôi khi vài ngày không được tiếp tế lại, phải sống

cầm chừng bằng bánh mì ôi thiu và sốt cà chua. Trong bệnh viện, BS
Grauwin trấn an thương binh ghê tỡm khi thấy có vòi nhung nhúc trong
vết thương mình, bảo rằng chúng chỉ thịt vào những màng nhầy bị phân
huỷ mà thôi. Vào ngày 26 tháng 4 lính Algeria kinh hoảng khi đánh
nhau tại Isabelle – sau đó nổi loạn. Đại tá của họ muốn bắn các tên cầm
đầu, nhưng de Castries không cho phép. Vào ngày 30 tháng 4 binh
chủng Lê Dương trân trọng kỷ niệm trận đánh quyết tử 1863 tại
Camerone ở Mexico đến hơi thở cuối cùng. Buổi lễ diễn ra trong cơn
mưa bão, càng làm tăng nỗi thống khổ của binh sĩ đồn trú kiệt sức, bẩn
thỉu, sống dỡ chết dỡ.
Vào đêm sâu ngày 1 tháng 5, bộ đội Giáp tiến đánh Eliane 1, và chiếm
được sau 90 phút đánh cận chiến. Trong khi đó, trên Dominique 3, quân
phòng thủ Thái và Algeria chống đỡ gan lì trước khi ngã quỵ. Trong trận
Eliane 2, de Castries thiệt hại 331 người chết hoặc mất tích và 168 người
bị thương, và bây giờ chỉ còn hơn 2,000 bộ binh chống lại 14,000 bộ đội
của Giáp. Việt Minh tung ra vũ khí mới: Katyusha của Xô viết, dàn
phóng tên lửa đa nòng, với tiếng rít gây chấn động tinh thần. Khi quan
hệ giữa Navarre và Cogny ngày càng nóng lên, vị tổng tư lệnh đe dọa
đưa thuộc hạ mình ra tòa án binh vị tội rò rỉ những lời phàn nàn chủ bại.
Bóng tối đang khép lại trên Điện Biên Phủ, nơi mùi nồng nặc của phân
người, xác chết chưa chôn và tình nhân loại đang phân huỷ càng trở nên
không thế chịu đựng được. Viện trợ rỉ rả, lẻ tẻ người tình nguyện muốn
ôm lấy thảm họa, tiếp tục được thả dù xuống, với mục đích duy nhất là
giúp phái đoàn Pháp ở Geneva tranh cãi tình trạng không thể tránh được
của sự thất trận. Thương binh đi được được kêu gọi trở lại đơn vị; họ
núp trong các chiến hào mà băng quấn đóng cứng bùn đất. Langlais và
Bigeard bàn bạc một kế sách theo đó các toán quân đội hinh hàng dọc có
thể xông ra đi xuyên rừng: nhưng rồi họ kết luận, không thể khác được,
mọi xuất kích đều vô phương.
Rồi đến một cuộc tấn công khác của Việt Minh. Vào sáng ngày 4 tháng
5 bộ phận vô tuyến của lực lượng đồn trú nghe được một loạt các tin dữ
từ một trung úy đang nắm quyền chỉ huy đơn vị Ma Rốc trên Huguette 4
sau khi chỉ huy đại đội bị trúng đạn: ‘Chỉ còn lại 10 người chúng tôi
trong chốt chỉ huy…Chúng tôi đang đợi tiếp viện… Tiếp viện đâu? …
Bọn Việt đang tấn công… Tôi nghe chúng … Chúng đang tiến đến từ

giao thông hào … Chúng đây rồi … Aaah!’ Vào chiều tối ngày 5 Cogny
gửi cho ngài de Castries khốn khổ một tín hiệu hống hách yêu cầu ‘kéo
dài cuộc kháng cự tại chỗ để giữ vững sứ mạng vinh quang của ông’.
Trong 24 giờ tiếp theo quân đồn trú nhận được quân tiếp viện 383 người
thả dù xuống, trong đó có 155 người Việt. Vào buổi sáng ngày 6 tháng
5, tình báo cảnh giác cho de Castries chuẩn bị một trận tấn công lớn đêm
đó. Đại úy Yves Hervouet yêu cầu BS Grauwin cắt bỏ lớp băng bột bọc
cánh tay gãy của mình để ông có thể lên xe tăng. Vào lúc 21:30 một quả
mìn Việt Minh phát nổ bên dưới Eliane 2, và rồi nó bị đánh chiếm trong
một trận đánh chớp nhoáng dưới cơn mưa tầm tã; Đại úy Jean Pouget
dẫn đầu một cuộc phản công bất thành. Một trận hỗn chiến dã man cũng
nổ ra trên Eliane 4 và Eliane 10, khiến Langlais và Bigeard phải điện đài
không kích ngay trên đầu mình, hủy bỏ một cuộc nhảy dù tiếp viện:
vành đai phòng thủ bây giờ quá chật chội đến nỗi lính nhảy dù chắc chắn
tiếp đất ngay trong tay địch. Thông điệp cuối cùng của sĩ quan chỉ huy
Eliane 4, thất thủ ngay sau 21:00, thúc giục đừng pháo kích vào vị trí đã
thất thủ, vì hào chứa đầy thương binh Pháp. Trong khi đó quanh phòng
băng bó, thêm vào số người chết và bị thương, chen chúc những người
nằm lay lắt ngủ vùi qua nhiều giờ dài bởi vì – thiếu vũ khí hoặc nhiệm
vụ quân sự – họ không thể làm gì khác.
Lúc 17:00 ngày 7 tháng 5 de Castries điện đàm với bộ chỉ huy của
Cogny, nói, ‘Chúng tôi đã làm tất cả những gì có thể. Đúng 17:30 tôi sẽ
phái sứ giả.’ Cogny chính mình lên sóng, tìm cách ngăn cản một cuộc
đầu hàng chính thức: ‘Ngài không được giơ cờ trắng. Ngài nên để trận
đánh lụi tàn tự nhiên.’ De Castries biểu lộ sự đồng ý: ‘Vâng, thưa đại
tướng.’ Tư lệnh của ông nói, ‘Thôi, tạm biệt ông bạn già.’ Rồi, từ
boongke nhớp nhúa, ngột ngạt, De Castries ra lệnh phá hủy nhiều vũ khí
như có thể để khỏi lọt vào tay địch trước khi chính thức đầu hàng. Đại
úy Pouget viết, ‘dưới ánh sáng đèn điện chói gắt, trần trụi, trông ông già
hơn 10 tuổi so với tháng 3’. Vị chỉ huy Điện Biên Phủ, người của ông ít
khi được nhìn thấy, không thể hiện phẩm chất có thể khiến ông là một
anh hùng. Nhưng sẽ là hoàn toàn lầm lẫn khi cho ông chịu trách nhiệm
với việc thất thủ căn cứ, đã được an bài kể từ lúc lực lượng đồn trú
không thể nhận được sự hậu thuẫn vững chãi. Việt Minh đặt tiền cược
nhiều hơn người Pháp có thể theo được, và giờ họ quơ hết tiền cược.

Trận đánh từ từ tắt lịm. Một nhân viên điện đàm hủy bỏ một vụ tấn công
của chiến đấu cơ và oanh tạc cơ đang tiến đến, gọi đến với mật danh
César 5: ‘Chúng tôi đang phá hủy mọi thứ – gửi lời tạm biệt đến với gia
đình chúng tôi.. . Vĩnh biệt César.’ Một cứ điểm, Isabelle, cầm cự vài
giờ nữa: 1,200 binh sĩ của nó tìm cách chạy thoát nhưng hai đại đội bị
cắt ra từng mảnh trong một trận đánh đêm hỗn loạn. Một xạ thủ Ma Rốc
tên Mohammed ben Salah được cho là người chết cuối cùng, điều khiển
súng tự hành 105 mm hàng giờ sau khi de Castries bỏ cuộc.
Việt Minh bỗng thấy mình có đến 5,500 tù binh, tất cả trừ một ngàn
người đều bị thương. Chỉ huy Pháp đã chính thức ghi chép 1,161 người
đào ngũ, giờ họ gia nhập hàng ngũ tù binh: tổng cộng, 16 tiểu đoàn Pháp
và lính thuộc địa bị quét sạch theo lệnh chiến đấu của Navarre. Cán bộ
văn công Văn Ký nói như mơ: ‘Đây quả là một thắng lợi không thể ngờ
được, một điều gì đó vượt xa sức tưởng tượng của chúng tôi. Không ai
có thể hình dung làm sao chúng tôi có thể đánh bại một sức mạnh lớn
như thế.’ Đại tá Trần Trọng Trung xác quyết một cách đúng đắn rằng
thắng lợi này trên hết là ‘một chiến thắng của ý chí’.
Số người của de Castries chết trong cảnh tù tội nhiều hơn số người chết
trong chiến đấu. Một khi đến được trại tù binh cộng sản – một số người
không bao giờ đến được đó – một chính uỷ nói với các tù binh sĩ quan
Pháp theo phong cách đặc trưng: ‘Các ông ở đây trong một thời gian
không xác định, để được học tập lại bằng lao động. Các ông sẽ sống
cuộc sống của người bị các ông áp bức, các ông sẽ chịu khổ như họ, để
hiểu được họ. Chúng tôi sẽ hướng dẫn các ông trong việc tìm kiếm chân
lý.’ Khoảng 3,900 thành viên của lực lượng đồn trú Pháp cuối cùng
được đưa trở về với đồng bào họ, 43 phần trăm số người bị bắt. 60 người
Thái và 19 người Âu thoát khỏi trận địa và lủi qua 100 dặm rừng rậm
đến nơi bình yên. Câu hỏi đầu tiên mà de Castries nói với vị sĩ quan hải
quân đến tiếp nhận ông khi ông được thả vào cuối năm 1954 là: ‘Có thật
là họ muốn bắn tôi không?’
Chỉ một phần mười trong số 14,324 binh sĩ Việt bị bắt làm tù binh trong
quân phục Pháp trong diễn tiến của cuộc chiến còn sống trở về. Nói cho
công bằng với Việt Minh, ngay người của họ còn thiếu thốn hỗ trợ y tế,
và sống trên bờ chết đói. Dù sao thì cũng dễ hiểu nếu Giáp và các đồng
chí của mình không thiết gì đến sự sống còn của đồng bào đã chọn theo

phía thua trận. Làm sao khác được, khi họ đã hy sinh ước chừng 25,000
người đi theo họ để đạt được thắng lợi tại Điện Biên Phủ? Nguyễn Thị
Ngọc Toàn, cô con gái của viên quan lại đã trở thành một người cách
mạng nhiệt thành, phục vụ như một nhân viên y tế 21 tuổi trong quân
đội Giáp. Ngay sau chiến thắng, bà lấy Cao Văn Khánh, Sư đoàn Phó
Sư đoàn 308, trong một lễ cưới tổ chức ngay trong boongke chỉ huy của

de Castries.

Trên giấy tờ, trận chiến không cần thiết đã là sự kiện quyết định của
chiến tranh, bởi vì người Pháp còn sở hữu các lực lượng hùng mạnh.
Quân Giáp đã kiệt sức, và không có năng lực biến thắng lợi địa phương
này thành một tổng công kích thành công. Vậy mà chính quyền và nhân
dân Pháp lại không thể chịu đựng thêm được nữa. Pierre Rocolle đã viết:
‘Điện Biên Phủ trở thành lời mời mọc cấp thiết để kết thúc cuộc bắn
giết, bởi vì ý chí theo đuổi cuộc chiến đấu không còn tồn tại.’ Các sĩ
quan hậu cần Mỹ của Pháp có tâm trạng tồi tệ nhất: họ đã cung cấp viện
trợ quân sự đầy đủ để tiến hành cuộc chiến, vậy mà vẫn không đủ sức
thắng.
Thường kết cục các bi kịch lịch sử khó thể nào dự đoán trước, nhưng bi
kịch Đông Dương của Pháp giữa 1945 và 1954 thì tuyệt đối không có
cốt truyện hồi hộp: nền cai trị thuộc địa ở đó trở nên không thể giữ vững
giữa sức mạnh đối kháng dân tộc cùng với sự yếu kém của phe chính trị
phi cộng sản – ‘Lực lượng Thứ Ba’ huyền thoại mà nhiều người Mỹ
khao khát để nhận diện. Doug Ramsey, một viên chức ngoại vụ Mỹ,
người sẽ trở thành một nhân vật có ý nghĩa ở Việt Nam trong thập kỷ
tới, nói: ‘Tôi tự hỏi giá mà chúng ta có thể dấn thân vào đó, một mạch
nhiều năm liền. Nó trở lại với việc Roosevelt dàn xếp các thỏa thuận với
các cường quốc thực dân. Nghĩ về các trò ngớ ngẩn của John Foster

Dulles.’

Đã từng có suy đoán về việc thành công của Giáp phụ thuộc vào các cố
vấn Trung Quốc đến đâu. Người của Mao tất nhiên cung cấp các hướng
dẫn kỹ thuật. Tuy nhiên, phần lớn lịch sử tiếp theo cho thấy người Miền
Bắc – mặc dù nhiều nhà lãnh đạo cộng sản đến từ miền nam và miền
trung – cần và nhận rất ít hướng dẫn từ người khác. Trải nghiệm của một
thập niên chiến tranh đã biến Giáp và các đồng chí của mình thành các
chiến sĩ giỏi giang, thậm chí hồ hởi, gan lì không chùn bước trước hy

sinh, một đặc điểm chung của các quân đội cộng sản: người ngoại quốc
ngưỡng mộ sau này gán cho lính Miền Bắc là ‘Lính Phổ Đông Dương ‘.
Các sách sử Hà Nội dành công lao tràn trề cho vai trò cá nhân của Hồ
Chí Minh. Các tuyên bố như thế bắt rễ theo yêu cầu của một huyền
thoại chính thức của một nhà nước chuyên chế. Ít ra đến giờ chúng cũng
có giá trị: Giáp không thể thành tựu những gì mình đã làm, cũng không
thể trụ vững với quá nhiều thất bại xương máu trong vai trò tổng tư
lệnh, nếu không có Hồ hậu thuẫn trong những thời điểm tốt và xấu. (Chú
thích: Có lần trong một cuộc phỏng vấn, một phóng viên ngoại quốc hỏi
Hồ tại sao phong chức tướng cho Giáp khi ông không qua trường lớp
quân sự nào và không đi lên thang cấp bậc theo thứ tự như nguyên tắc,
Hô trả lời Giáp xứng đáng làm tướng vì ông ta đánh thắng một vị tướng:
ND). Chính vị tướng cũng được tôn trọng, nhưng tính vị kỷ của ông
khiến ông ít được yêu mến. Trong những bài viết sau này về trận Điện
Biên Phủ, và đúng ra các cuộc chiến Việt Nam, ông chỉ kể một câu
chuyện về Giáp, Giáp, Giáp, hiếm khi gật đầu nhìn nhận các công lao
của phụ tá ông. Dù sao thì thắng lợi của ông tại Điện Biên Phủ nổi lên
như một trong các thiên hùng ca của thế kỷ 20.

3 Geneva

Tin tức về cuộc đầu hàng được phát đi tại Paris vào lúc 4:45 p.m. ngày 7
tháng 5, và được đón nhận ở Geneva muộn hơn một chút, một ít giờ
trước khi các ngoại trưởng nhóm họp bắt đầu thảo luận về tương lai
chính trị của Việt Nam. Georges Bidault, phát điện thông báo, nêu công
lao không thể tin được cho vai trò ‘khai sáng’ của người Pháp tại Việt
Nam, nói về ‘cuộc xung đột này bị áp đặt cho chúng tôi’. Điều bất
thường về các sự kiện tiếp theo tại bàn hội nghị là cuộc bại trận muối
mặt của Pháp không đem lại khải hoàn cho Việt Minh. Sau khi tiêu tốn
bao nhiêu xương máu để củng cố thế đứng của mình tại bàn hội nghị, rốt
cục họ buộc ra về với nửa ổ bánh mì. Làm sao thế được?
Câu chuyện Geneva bắt đầu khi hai phái đoàn đầu tiên đến, vào ngày 24
tháng 4 1954. Đại biểu của giới truyền thông thế giới vây kín nhóm
Trung Quốc 200 người, dẫn đầu là ngài Chu Ân Lai lịch lãm, đẹp trai,
cực kì tao nhã, hậu duệ 56 tuổi của một dòng họ học giả. Chu mang

xuống mồ sự kính trọng của cộng đồng quốc tế, cho dù phục vụ như một
công cụ của Mao Trạch Đông quá nhiều thập niên tàn sát tập thể. Người
Nga đến mang theo một lượng lớn trứng cá muối nhằm chiêu đãi trong
các buổi tiệc tùng họ dự định tổ chức để tỏ lòng hiếu khách, mặc dù cuối
cùng không có buổi tiệc nào xảy ra.
John Foster Dulles vẫn giữ chuẩn mực thường lệ của ông trong phép lịch
sự ngoại giao, quay lưng lại với Chu khi Chu chìa tay ra. Người Anh
bồn chồn với ngoại trưởng Mỹ còn hơn cả với người cộng sản: họ sợ sự
hiềm thù của Dulles có thể khiến ông phá hoại tiến trình. Sự khống chế
rõ ràng của Trung Quốc và Nga càng củng cố xác quyết của người Mỹ là
Hồ Chí Minh là con cờ của họ: tại Geneva phái đoàn của Chu và
Molotov được bắt gặp ở mọi nơi, còn phái đoàn Việt Minh chỉ xuất hiện
trong các phiên họp.
Dulles cầm đầu phe duy nhất nóng lòng một cách bướng bỉnh muốn duy
trì cuộc chiến Đông Dương. Ông bày tỏ sự ghê tỡm rằng mình được mời
tham dự một vụ bán đứng ngoại giao cho phe cộng sản, tương tự như
hội nghị Yalta 1945. Nhà viết chuyên mục kỳ cựu Walter Lippmann
nhận xét: ‘Vị thế người Mỹ ở Geneva là một vị thế bất khả thi, chừng
nào mà các thượng nghị sĩ Cộng Hòa cầm đầu không có điều kiện gì
khác cho hoà bình ngoại trừ đầu hàng vô điều kiện của kẻ thù và không
có điều kiện cho lâm chiến trừ với tư cách một hành động tập thể mà
hiện thời không ai muốn tham gia.’
Vậy mà sự cứng rắn của ngoại trưởng Mỹ đóng một vai trò tối thiết
trong việc đưa ra hướng giải quyết ít thuận lợi cho phe cộng sản hơn là
thắng lợi Điện Biên Phủ đáng lẻ làm được. Vào năm 1972, Tổng thống
Richard Nixon sẽ thất bại khi tìm cách thuyết phục Miền Bắc rằng ông
đủ liều lĩnh để xả láng hành động quân sự – ‘Thuyết Thằng Điên’.
Nhưng mà vào năm 1954, cả hai phái đoàn cộng sản ở Geneva đều sợ
chết khiếp việc Mỹ tung quân vào châu Á. Người Trung Quốc và Nga đã
thích thú với chiến tranh Triều Tiên thậm chí ít hơn các Cường quốc Tây
phương. Họ đọc báo, và ý thức một cách sâu sắc các lực lượng bảo thủ
đang nắm quyền bên trong nước Mỹ. Họ biết rằng chính quyền
Eisenhower chỉ cần một chút khiêu khích là tung ra hỏa lực – và có thể,
các vũ khí hạt nhân. Hơn nữa, dù Việt Minh thường được tung hô là sở

hữu một năng lực hy sinh vô hạn, vào thời điểm tháng năm 1954 giới
lãnh đạo biết rõ binh sĩ và dân quân đã mệt mỏi.
Từ ‘chia đôi’ dường như phát ra từ môi người Nga trước hơn bất cứ ai.
Việt Minh thống trị miền bắc, trong khi còn yếu ở miền nam. Việc chia
cắt Triều Tiên tại vĩ tuyến 38, được Dean Rusk uỷ thác một cách vô tư
vào 1945, đã tạo ra một tiền lệ. Vào ngày 3 tháng 5, trước khi các phiên
họp chính thức mở ra ở Geneva, chính quyền bù nhìn Bảo Đại đe dọa
tẩy chay hội nghị nếu người Pháp không đảm bảo việc chia cắt không có
trên nghị trình. Cùng ngày, Dulles hờn dỗi trở lại Washington, giao cho
tùy viên Walter Bedell Smith, tham muu trưởng thời chiến của
Eisenhower, cầm đầu phe Mỹ. Mọi người thở phào nhẹ nhõm, vì Smith
thì biết lý lẻ, còn Dulles thì không. Các cuộc đối thoại song phương
riêng tư nhộn nhịp tiến hành, liên quan đến mọi phái đoàn, trước khi
họp chính thức bắt đầu vào ngày 8 tháng 5, dưới bóng đổ của Điện Biên
Phủ thất thủ.
Trong tuần lễ đầu, Trung Quốc vẫn giữ thái độ câm như hến: hai ngoại
trưởng duy nhất tỏ ra mất kiên nhẫn là Eden và Molotov. Vào ngày 10
tháng 5 Phạm Văn Đồng đọc bài phát biểu mở đầu, tuyên bố Việt Minh
chủ trương một nền độc lập đầy đủ cho ba nước Đông Dương. Ông hứa
những người Việt nào từng chống lại Hồ Chí Minh sẽ ‘không bị áp bức’.
Rồi, trước sự kính ngạc của người Tây phương, ông bày tỏ ý muốn xem
xét việc chia cắt. Gần như chắc chắn Việt Minh đã bị người Trung Quốc
và người Nga gây áp lực mới đưa ra một đề nghị như thế.
Một khi phe cộng sản đã đề xuất việc đó, kết quả coi như đã xong. Việc
tiếp theo ai cũng rỏ là cắt ở đâu để chia hai miền Bắc và Nam. Người
Pháp lúc đầu ưng ý việc phân bố lãnh thổ kiểu ‘da beo’, nhận diện
những vùng đất nào nên nhượng cho cộng sản, đặc biệt Hà Nội và Hải
Phòng bị loại ra. Vào ngày 12 tháng 5, phái đoàn Bảo Đại tái xác nhân là
mình bác bỏ bất kì sự chia cắt nào. Nhưng các cuộc đối thoại song
phương về cách thức và phương tiện bắt đầu giữa các đại biểu Pháp và
Việt Minh, do Anh động viên.
Ở Hoa Kỳ Dulles cố ý lánh mặt, và giới truyền thông bảo thủ quậy lên
điên cuồng. Tờ Time nói rằng các lãnh đạo Anh ‘trông như những kẻ
xoa dịu đáng lo ngại ‘. Bedell Smith bảo trong một cuộc họp báo rằng sự
chia cắt là không thể chấp nhận được, và trong chốn riêng tư tỏ ra ngày

càng bực bội khi thấy Eden hồ hởi một cách lộ liễu nuông chiều tham
vọng của cộng sản. Trong các cuộc trao đổi song phương bí mật,
Washington tìm cách gia tăng sự đối kháng của Paris, nhưng người
Pháp trả lời rằng chỉ có hành động quân sự tức thời của Mỹ mới thuyết
phục họ không hoàn tất việc thương thảo. Một lần nữa, Eisenhower và
Dulles khảo sát các khả năng thành lập liên minh cho dù không có Anh.
Tuy nhiên, Úc và New Zealand từ chối tham gia, thế là tắt ngấm cơn
dãy dụa cuối cùng của nhiệt tình hiếu chiến của Mỹ. Tờ Spectator mô tả
những cuộc trao đổi ban đầu tại Geneva là ‘lộn xộn khủng khiếp’, và
không phe tham gia nào nhất trí. Để hiểu rõ các sự kiện vài tuần sau
đó, cần nhận thức rằng việc đầu hàng tại Điện Biên Phủ không ngăn
được hai bên đánh nhau và giết hại ở nơi khác trên khắp Việt Nam:
người Pháp tiếp tục bị trừng phạt, vì dòng người đào ngũ từ các lực
lượng tân binh địa phương của họ thành cơn lũ. Vào ngày 4 tháng 6
Navarre bị cách chức, nhường chỗ cho Paul Ely trở thành toàn quyền
Đông Dương. Hai thảm họa quân sự mới xảy ra. Nhóm Cơ động 100,
trong khi tiến hành một cuộc rút quân khỏi An Khê ở Cao nguyên Trung
phần, rơi vào hàng loạt bẫy phục kích bắt đầu vào ngày 24 tháng 6.
Khoảng nửa quân số Nhóm Cơ động 100 bị tàn sát và 4 phần 5 xe cơ
giới bị phá hủy; một trong các trung đoàn thiện chiến nhất, ‘Triều Tiên’
1 bị xoá sổ. Vào ngày 12 tháng 7 Nhóm Cơ động 42 chịu chung số phận.
Trong khi đó người ta được biết Giáp đang chuẩn bị một trận công kích
lớn vào đồng bằng sông Hồng: tuyến đường sắt Trung Quốc nối với biên
giới phía bắc của ‘vùng giải phóng’ hiện giờ giao cho Việt Minh đến
4,000 tấn quân nhu và trang thiết bị mỗi tháng.
Việc kéo đài thương lượng giữa các Cường quốc khiến dư luận thế giới
bất mãn và mất kiên nhẫn. Tại quán Café de Paris ở London, Noël
Coward giới thiệu ngôi sao điện ảnh Marlene Dietrich bằng cách ngâm
nga một vần thơ dí dỏm ca tụng nét quyến rũ phụ nữ qua các thời đại.
Tiếng cười lên đến đỉnh cao khi nghe đến đoạn thơ về Cleopatra: ‘Con
Rắn Sông Nile/có thể đạt được bằng một nụ cười/các kết quả nhanh hơn
Geneva nhiều.’ Vậy mà thình lình, có hy vọng: giữa những đảo ngược
cục diện chiến trường đang tiếp diễn của Pháp, ở Washington người ta
bỗng hiểu rằng có thể có những kết quả tệ hơn là chia cắt. Vắng mặt sự
can thiệp của Mỹ, toàn bộ Việt Nam có thể bị cộng sản đánh chiếm.

Bedell Smith nhìn nhận cần thiết phải giải quyết. Trong khi đó tại
Geneva, vào ngày 15 tháng 6 phe cộng sản tổ chức một phiên họp chiến
lược kín: Chu ép Việt Minh hãy thực tế hơn, nhất là đừng tiếp tục nói
dối là mình không có lực lượng ở Lào và Cambodia. Molotov phụ họa
người đồng cấp Trung Quốc.
Ba ngày sau hội nghị phát triển một cách kịch tính: Joseph Laniel rời
chức thủ tướng, và được Pierre Mendès-France thay thế. Vị thủ tướng
mới lập tức tuyên bố rằng ông cũng sẽ từ chức nếu trong 30 ngày ông
không đạt được lệnh ngừng bắn ở Đông Dương. Như vậy là ông đã đặt
ra kỳ hạn chót cho hòa đàm Geneva, và Chu bảo Eden và những người
khác rằng ông tha thiết nhìn thấy điều này hiện thực. Vào ngày 23 tháng
6 tại Bern ông gặp riêng với Mendès-France, ở đó hai người đạt được
nhiều tiến bộ. Chu không vòng vo nói thẳng mục tiêu chính của mình:
không muốn lực lượng Hoa Kỳ đóng ở Đông Dương. Để đạt được điều
này, họ đồng ý phải chia cắt.
Các đại biểu Việt Nam chống cộng, do thủ tướng mới của họ Ngô Đình
Diệm cầm đầu, người được Bảo Đại chọn một cách bất thường, vẫn tỏ
thái độ thù địch. Vậy mà chỉ duy nhất một người bất đồng có tiếng nói
quyết định: liệu Washington có áp đặt quyền phủ quyết hay không?
Churchill viết cho Eisenhower: ‘Tôi nghĩ Mendès-France đã quyết định
giải quyết cho xong với điều kiện tốt nhất có thể. Nếu là như thế, tôi
nghĩ ông ta đúng.’ Vào ngày 24 tháng 6, Dulles bảo với các lãnh đạo
quốc hội rằng Hoa Kỳ sẽ nhìn nhận một chính sách mới: bảo vệ Miền
Nam, Lào và Cambodia không cho cộng sản đánh chiếm – ‘Giữ gìn lãnh
thổ này và chiến đấu chống sự lật đổ với tất cả sức mạnh chúng ta có.’
Phát biểu của ông ám chỉ họ nhìn nhận đã để mất Miền Bắc.
Trong khi đó, các lãnh đạo Trung Quốc và Việt Nam duyệt xét lại vị thế
của họ, trước vòng đàm phán tiếp theo quan trọng tại Geneva. Tại một
cuộc họp ngày 3-5 tháng 7 tại thành phố Liễu Châu Trung Quốc, thủ
tướng Chu Ân Lai nhớ lại sự kiện lật ngược cục diện trong vụ cộng sản
xâm lăng Nam Triều Tiên vào mùa hè 1950. Chu bảo Hồ Chí Minh và
phái đoàn: ‘Chìa khóa đối với vấn đề Triều Tiên nằm trong sự can thiệp
của Mỹ … Hoàn toàn vượt quá sự tính toán của chúng ta là việc quân
tiếp viện (của MacArthur) đã có thể đến nhanh như vậy … Nếu không
có sự can thiệp của người Mỹ, Quân đội Nhân dân Triều Tiên đã có thể

đánh đuổi các lực lượng của Syngman Rhee ra biển.’ Đây là phản ánh
nỗi sợ hãi người Mỹ: người Trung Quốc nhận thức được rằng nếu Việt
Minh quá tay, như Kim Nhật Thành của Bắc Triều Tiên đã từng làm,
một thảm họa địa chiến lược có thể mở ra.
Vào năm 1954 thắng lợi của Mao Trạch Đông trong nội chiến, cùng với
sự bẽ mặt của người Mỹ và thân chủ Quốc Dân Đảng của họ, chỉ mới
xảy ra cách đó 5 năm. Một số người Mỹ bảo thủ vẫn còn ôm ấp hy vọng,
đúng ra là ảo vọng, về thế lật ngược lại ‘việc đánh mất Trung Hoa của
Tưởng ‘. Bốn năm trước, Trung Cộng đã bước vào cuộc chiến Triều
Tiên bởi vì họ cảm thấy không thể tha thứ được quân đội chiến thắng
của MacArthur đến được biên giới sông Áp Lục. Tại thời điểm Geneva,
Mao cảm thấy ít chắc chắn hơn về sự trường tồn của chế độ mình. Ưu
tiên của Chu Ân Lai là an ninh của Trung Quốc. Điều này dường như
được làm tốt nhất bằng cách xoa dịu tính nhạy cảm của người Mỹ: y có
thể sống với một Miền Nam phi cộng sản, nếu việc này có thể làm an

tâm Dulles and Eisenhower.

Vậy là hội nghị Liễu Châu tiếp theo lộ trình của nó. Nếu chiến tranh
Đông Dương tiếp tục không có kết quả – điều này có thể, với người
Pháp còn triển khai khoảng 470 ngàn quân so với 310 quân Việt Minh –
và mối căng thẳng Đông – Tây tồi tệ hơn, Washington có thể ra đòn.
Mọi thứ đạt được trong một thập niên chiến đấu có thể mất hết. Giáp
hiểu rằng, nếu không có giải pháp chính trị, phải mất hai đến năm năm
để đạt được thắng lợi quân sự tuyệt đối, một quan điểm được các cố vấn
Trung Quốc chia sẻ. Sau đó Pháp đề xuất chia cắt xa hơn về phía bắc
ngay vĩ tuyến 18, ngay phía nam thành phố Vinh. Đề nghị ban đầu của
Việt Minh là vĩ tuyến 13 ngay chính giữa Cao nguyên Trung phần
của AnNam. Người Trung Quốc đề nghị mức trung bình tại vĩ tuyến 16,
mà Hồ Chí Minh có vẻ tỏ ra không ngần ngại. Khi Chu báo cáo với Mao
vào ngày 7 tháng 7, vị chủ tịch nhìn nhận nhu cầu phải nhượng bộ và
giải quyết nhanh chóng. Người Nga đồng ý, vì những lý do địa chính trị
tương tự.
Dulles bực bội không dự các buổi họp đầu tiên của phiên cuối cùng của
hội nghị Geneva vào ngày 10 tháng bảy. Ông xem sự thỏa thuận đang
điều đình là biểu thị một sự đầu hàng nhục nhã và hèn nhát không khác
với thỏa thuận thập niên 1930 với bọn phát xít: nó sẽ chắc chắn cho thấy

chỉ là trạm dừng chân tiến tới việc cộng sản chiếm đóng toàn bộ Việt
Nam. Sự thể này, sau khi Hoa Kỳ đã tiêu tốn 2.5 tỉ đô la tài trợ cho.một
nỗ lực chiến tranh chống cộng, nhiều hơn Pháp đã nhận được trong viện
trợ kinh tế từ năm 1945. Trong khi đó Mendès-France đã không băn
khoăn gì báo cho Bảo Đại biết tin về tiến độ của đàm phán. Ở Sài Gòn vị
thủ tướng mới dựng lên, Ngô Đình Diệm, vẫn còn phản đối sự chia cắt ,
cho dù người Mỹ thúc giục ông chấp nhận phân nửa đất nước còn tốt
hơn không có gì. Diệm chỉ thị cho ngoại trưởng của mình đang ở
Geneva theo đuổi điều huyễn hoặc là giữ Hà Nội và Hải Phòng dưới sự
cai trị của Sài Gòn. Ông nhấn mạnh việc phải chính thức ghi chép quan
điểm của chính quyền ông, rằng sự chia cắt là phớt lờ ‘nguyện vọng
trước sau như một của nhân dân Việt Nam cho sự thống nhất đất nước’.


Click to View FlipBook Version