The words you are searching are inside this book. To get more targeted content, please make full-text search by clicking here.

VIỆT NAM THIÊN SỬ BI HÙNG 1945-1975
Max Hastings
Trần Quang Nghĩa dịch

Discover the best professional documents and content resources in AnyFlip Document Base.
Search
Published by fireant26, 2022-11-04 00:35:46

VIỆT NAM THIÊN SỬ BI HÙNG 1945-1975 Max Hastings Trần Quang Nghĩa dịch

VIỆT NAM THIÊN SỬ BI HÙNG 1945-1975
Max Hastings
Trần Quang Nghĩa dịch

buồn thảm về tình trạng trốn tránh nghĩa vụ đầy yếm thế, một sự băng
hoại về mục tiêu giáo dục, một sự bôi nhọ tinh thần dân tộc’.
Quân nhân bị gọi vào lính Don Graham nhớ lại thế hệ của cha mình
thường phân biệt với nhau ai có tham dự, ai không tham dự Thế Chiến
II: ‘Cha tôi không thể quên việc Hubert Humphrey (phó tổng thống)
thuộc diện 4F nên ở lại trong nước. Vì vậy ở Việt Nam gần như tôi
không gặp ai từng vào đại học … Tôi chợt nhận ra rằng người thắng
cuộc vào thế hệ tôi chính là người học trường luật.’ Mark Rudd, lãnh
đạo hội Sinh viên cho một Xã hội Dân chủ, ra sức vận động hoãn thi
hành nghĩa vụ với lý do mình là một nhà cách mạng chuyên nghiệp. Sau
này anh được tuyên bố không đủ sức khỏe, mặc dù chắc chắn ban tuyển
mộ sợ nếu buộc anh mặc quân phục sẽ có tác động tiêu cực đối với quân
đội.
Phụ huynh của một trong bốn sinh viên đại học khuyến khích con trai họ
trốn tránh nghĩa vụ. Một số thoát được vì họ có thể tuyên bố mình thuộc
diện ‘cá tính có nghi vấn về đạo đức’, chẳng hạn bị kết tội ăn trộm gia
súc, chơi cần sa hoặc giết một con chim ưng. Các người đồng tính cũng
được miễn. Các vệ binh quốc gia cũng khỏi phải đi nghĩa vụ – một lộ
trình được George W. Bush ưng ý, cùng với 10 cầu thủ của đội bóng
Dallas Cowboys, được ban quản lý sắp xếp cho họ vào đơn vị Vệ binh
địa phương. Một số bác sĩ lanh lợi tham gia Bộ phận Dịch vụ Sức khỏe
liên bang, trở thành- như họ tự gọi đùa – ‘Mũ Nồi Vàng’: 9 người như
thế sau này đoạt giải Nobel. Các nhân viên kiểm tra y tế quen biết hoặc
chịu nhận hối lộ có thể giúp bọn trẻ giàu có khỏi đi quân dịch, một đại lộ
mà Donald Trump cũng lợi dụng. Có thể giả vờ bị ung thư bộ phận tiêu
hóa bằng cách trích ra một số máu, rồi uống nó trước lúc kiểm tra y tế.
Một số ban tuyển mộ thành phố được nhận diện là quá dễ dãi với trường
hợp miễn giảm, như Seattle, Washington, và Butte, Montana. Hội đồng
các thành phố Berkeley, California chấp nhận một nghị quyết cấm cảnh
sát bắt giữ những người bỏ ngũ.
Lawrence Baskir và William Strauss, tác giả của một nghiên cứu về việc
nghĩa vụ thời chiến, viết: ‘Những người bị gọi đi quân dịch chiến đấu và
hy sinh ở Việt Nam chủ yếu là “những kẻ thất thế” trong xã hội, cũng
giống những kẻ đứng chót lớp, giữ công việc thấp kém nhất hoặc đứng ở
bậc thang cuối cùng trong mọi cạnh tranh xã hội.’ Chỉ 7 phần trăm

những người từ các gia đình có lợi tức cao hoặc trung bình là tham gia
tác chiến; 9 phần trăm người tốt nghiệp đại học, đối với 14 phần trăm
người bỏ học ở trung học. Năm 1965 người da màu chiếm một phần tư
số người đi lính bị chết trong chiến đấu, một sự kiện khiến Bộ Quốc
phòng bối rối, phải điều chỉnh sự phân phối có tuyển chọn để giảm bớt
đáng kể tỷ lệ này. Tướng Westmoreland sau này nói rằng thay vì nhân
dân Mỹ ‘mang lấy gánh nặng … những người duy nhất … chịu trả giá
và sẵn sàng hy sinh là những người có mặt trên chiến trường, chủ yếu là
con trai của những gia đình nghèo’.
Vì vậy nhà sử học Quân đội Hoa Kỳ Conrad Crane đã tái khảo sát thống
kê về việc phục vụ tại Việt Nam để làm sáng tỏ quan điểm này. Ông
trích dẫn một nghiên cứu năm 1992 cho thấy rằng trong khi 30 phần
trăm của tổng số binh sĩ chết trong chiến đấu đến từ một phần ba giới có
lợi tức thấp nhất, 26 phần trăm đến từ nhóm có lợi tức cao nhất. Mặc dù
12.5 phần trăm của tổng số binh sĩ chết trong chiến đấu là da màu và 5
phần trăm gốc Mỹ Latinh, những con số này biểu thị các tổn thất thấp
hơn một chút so với các tỷ lệ số nam thanh niên đến tuổi gọi lính của
nhóm thiểu số đó. Những người hiếu chiến da màu vốn thuyết phục với
thế giới, cũng như với chính mình, rằng họ đang gánh chịu phần đóng
góp xương máu bất công trong cuộc chiến so với người da trắng đã
cường điệu hóa tình huống của mình.
Một số thanh niên mới lớn chọn lập trường nguyên tắc chống lại việc bắt
lính: nghi thức đốt thẻ quân dịch đầu tiên xảy ra vào năm 1964. 50,000
người cự tuyệt trở thành kẻ lẩn trốn, và một số chấp nhận mưu chước kỳ
lạ. Một người về miền núi, và sống 6 năm trong căn nhà gỗ. Một người
Minnesota trốn lính bị bắt ở Eureka, California, trong khi làm công việc
là đóng vai ông già Noel tại một cửa hàng bách hóa. Một số sử dụng
chứng minh thư giả. Vùng New England được đặt tên ‘Canada nhỏ’ vì
có quá nhiều người lẩn trốn ở đấy lảng vảng trong các trang trại hay
công viên. Đối với bọn lưu vong, thì Mexico là nơi nhiều cảm tình nhất,
nhưng kiếm tiền thì rất căng. Một số nơi đến mới là Thụy Điển – cùng
với Canada là lựa chọn hàng đầu của kẻ lẩn trốn Mỹ – nhưng họ buộc
phải trở thành hành khất, vì phúc lợi chỉ cấp 15 đô mỗi tuần; nhưng rồi
một chính quyền Thụy Điển thương cảm tăng phụ cấp lên gấp đôi –
khiến quốc hội Mỹ nổi giận.

Một người đào ngũ trải qua toàn bộ thời kỳ chiến tranh Việt Nam bằng
cách đạp xe vòng quanh Canada, sống bằng của bố thí. Một người khác
lập luận, ‘Tôi không trốn nghĩa vụ – tôi là một nô lệ trốn thoát của thế
kỷ 20.’ Một anh lính trẻ đào ngũ đến Canada trong khi được nghỉ phép
trước khi lên đường, từ đó anh viết cho người bạn đang phục vụ ở chiến
trường: ‘Tao không phải là người chủ hòa, nhưng vào quân đội tao bỗng
nhận thức chiến tranh đó là gì – một cuộc chiến kỳ thị sắc tộc được tiến
hành vì lợi ích của bộ máy chiến tranh khổng lồ của Mỹ … Bọn mầy ở
trong tư thế thuận lợi nhất để cho nhân dân Mỹ hiểu rõ thứ rác rưởi nào
đang được tiến hành nhân danh họ.’ Một số kẻ trốn tránh ắt hẳn sau đó
sẽ tự hỏi liệu cuộc sống lưu vong lâu dài có đáng không, bởi vì hệ thống
tư pháp Mỹ đối xử độ lượng với hơn nửa triệu người trốn nghĩa vụ: chỉ
25,000 người bị truy tố, và 3,250 bị tống giam. Trong số những kẻ
chống đối có tiếng tăm, vào năm 1967 Muhammad Ali bị kết án 5 năm
tù, nhưng chưa hề ngồi tù một ngày nào cả.
Dù sao đi nữa, về phương diện này người da màu thường xui xẻo, nhận
các mức án lâu hơn bọn vi phạm da trắng. Bang Mississippi và
Louisiana trở nên tai tiếng vì sử dụng luật nghĩa vụ như một vũ khí
chống những người tranh đấu nhân quyền. Chỉ một trong 7 người bị gọi
nghĩa vụ ra chiến trường. Tất cả trừ 3 phần trăm những người này cuối
cùng trở về nhà, 10 phần trăm bị thương cần bệnh viện chăm sóc. Nhiều
người cũng chịu các gánh nặng tâm lý về ký ức khiến cuộc sống họ bất
hạnh hơn sau chiến tranh.
Xứng đáng ghi nhận rằng đại đa số những thanh niên yêu nước không hề
mong muốn ra trận nhưng vẫn đến phục vụ ở Việt Nam không hề than
phiền hay ăn vạ, bởi vì họ tin đó là bổn phận của mình. Trên một nông
trại ở South Dakota, ông thân của Larry Pressler bảo với các con trai
không nên tìm cách trốn nghĩa vụ. Nếu họ thoát được, một người nào đó
nghèo hơn họ sẽ phải thế chỗ, ‘và con sẽ phải hối tiếc điều đó đến suốt
đời.’ Hai anh em nhà Pressler ra đi, chiến đấu, và bình yên trở về. David
Rogers, con trai một nhà nghiên cứu hoá học ở New Jersey, học Anh
ngữ và lịch sử tại Đại học Hamilton. Dù cha ông là một người theo giáo
phái Quây-cơ kịch liệt chống đối chiến tranh, nhưng anh là một chàng
trai trẻ biết suy nghĩ, không thể cho phép mình ở lại nhà: ‘Không lựa
chọn nào dễ dàng. Tôi xuất thân từ một thị trấn nhỏ. Tôi cảm thấy không

đúng khi để người khác thế chỗ của mình. Rồi tôi bắt gặp một tấm ảnh
chụp một quân y sĩ đang chăm sóc người bệnh và nghĩ, “Việc này mình
làm được. “‘ Anh thách thức cơn nóng giận của cha để phục vụ như một
y tá bộ binh. Rất nhiều thanh niên Mỹ nghe theo tiếng gọi hơn là cự
tuyệt nó, cho dù bọn cự tuyệt lại gần như được công chúng biết đến.
Một điểm nữa về phong trào phản chiến cần được xem xét: người Mỹ sẽ
chấp nhận gần như bất cứ điều gì trừ sự thất bại. Cuộc chiến thử thách
quá sức chịu đựng lòng kiên nhẫn của nền dân chủ hùng mạnh nhất thế
giới. Nhiều công dân của nó trở nên cáu kỉnh không phải vì chính nghĩa
của mình có vẻ sai lầm về mặt đạo lý, nhưng chỉ vì nó dường như chắc
chắn chịu số phận bi thảm.

2 Người Cầm Súng

Ở Việt Nam, vào mùa xuân 1967 Frank Scotton thuộc số người suy sụp
sâu sắc: ‘Rõ ràng chúng ta đang phạm nhiều sai lầm, đặt cơ sở tiến hành
chiến tranh trên việc hủy diệt khủng khiếp môi trường của những con
người chúng ta đến để bảo vệ.’ Vào ngày 21 tháng 2, nhà báo Pháp gan
dạ Bernard Fall chết vì giẫm phải mìn khi tháp tùng một cuộc càn quét
trong ‘Đường phố Không Vui Thú ‘gần Đà Nẵng. Anh được các kẻ hoài
nghi ca ngợi như là người có tầm nhìn, vì luôn khăng khăng cho rằng
Mỹ đang lặp lại tất cả lỗi lầm của Pháp trong thập niên 1950, chỉ khác là
có hỏa lực dữ dội hơn. Lực lượng ‘Thế giới Tự do’ giờ lên đến 1.3 triệu
quân Miền Nam và Hoa Kỳ, một người lính cho mỗi 15 dân, với 2,000
máy bay chiến thuật được yểm trợ bởi các B-52 của Bộ Tư lệnh Không
quân Chiến lược. Trong khi sân bay O’Hare của Chicago khoe là có đến
690,000 máy bay lên xuống một năm, thì Tân Sơn Nhất có thể đến
804,000, Đà Nẵng 846,000 và Biên Hòa phá kỷ lục là 857,000 – và các
con số này không kể các trực thăng.
Scotton giữ mãi một xác tín rằng chiến lược đáng tin cậy duy nhất là
triển khai các lực lượng Mỹ có chiều sâu và thường trực dọc theo chiến
tuyến giữa Quảng Trị và Cửu Long. ‘Nếu chúng ta không làm điều này,
chúng ta lâm vào cảnh ngộ một cuộc chiến kéo dài, loại chiến tranh mà
người Mỹ rất kém.’ Tuy vậy vẫn còn nhiều nghi ngờ liệu việc đóng kín
Đường mòn Hồ Chí Minh có khả thi hay không; hơn nữa, cho dù có

thành công cũng sẽ không thể chữa được sự yếu kém của chế độ Saigon.
Quan điểm của Scotton dù sao cũng được các cựu binh chia sẻ rộng rãi.
Ở ngoài chiến trường hoặc đúng ra một trăm chiến trường trên các đồi
cao, trên đồng ruộng bằng phẳng và trong rậm rạp, theo chỉ thị của
người Mỹ QĐVNCH đã trở thành người đứng bên lề, trong khi các lực
lượng Mỹ tiến hành hàng loạt các cuộc hành quân đẫm máu, hỗn loạn để
tìm kiếm, giao tranh và hủy diệt cả các đội hình Miền Bắc lẫn du kích
Việt Cộng – vào năm 1967-1968 vẫn còn có nhiều VC hơn bộ đội Miền
Bắc. Westmoreland thúc ép các chỉ huy của mình hãy luôn cho binh sĩ di
chuyển, luôn cho kẻ địch vào thế bất lợi. Sau một trận đánh gần biên
giới Cao Miên vào ngày 31 tháng 3 – 1 tháng 4, trong đó một trung đoàn
VC bị Bộ binh 1/26th của Trung tá Alexander Haig gây tổn thất, thủ lĩnh
của MACV cằn nhằn tư lệnh quân đoàn Bruce Palmer vì không truy kích
quân địch đang rút lui.
‘Một trong những nỗi thống khổ bạn trải qua,’ Fred Weyand nói, lúc đó
đang chỉ huy Sư đoàn 25, ‘là bạn tiến hành một chiến dịch càn quét …
có thể giết được 15 tên. Rồi, sau chiến dịch, chúng tôi phải rút ra khỏi
đó . . . và khi quay lại một tháng sau, chúng tôi lại gặp vấn đề như cũ lần
nữa.’ Weyand cực lực chỉ trích niềm tin của Westmoreland cho rằng
Quân đội Mỹ có thể đè bẹp kẻ địch bằng cuộc chiến tiêu hao: ‘Nghe
đúng là khôi hài. ‘ Người Mỹ không có đủ bộ binh để giữ vững thứ gì
vượt quá tầm pháo binh từ mạng lưới các căn cứ yểm trợ pháo giờ được
đào đắp và củng cố trên khắp đất nước, hầu hết trên đỉnh đồi đắt đỏ, trơ
trụi thảm thực vật. Bộ binh xông tới, chiến đấu, di chuyển tiếp, để lại
phía sau những hộp lương thực đựng khẩu phần tác chiến và đạn dược bị
vứt bỏ mà du kích VC trở lại thấy hầu hết còn sử dụng được.
Các sĩ quan và binh lính biết sợ từ ‘đếm xác’, nhưng trong một cuộc
chiến không có viễn cảnh dựng cờ trên thủ đô quân địch, dường như
không có thước đo nào khác khả thi hơn. Trái với tin tưởng thông
thường, đây không phải là một khái niệm nguyên gốc: mỗi quân đội
trong mỗi cuộc chiến đều phán xét mức phát triển của mình một phần
bởi số quân địch giết được hay bắt sống được. Tuy nhiên, ở Việt
Nam, việc này trở thành nỗi ám ảnh đến nỗi các chỉ huy đày đọa cấp
dưới phải giao nộp đủ số xác chết. Thái độ của họ khiến cấp dưới sinh ra

tính cẩu thả, có khi một tính còn tệ hơn, không phân biệt trong số xác
chết, xác nào là xác Việt Cộng, xác nào là xác nông dân bất hạnh.
Đại uý Vince Felletter của Dù 101 than phiền rằng các cấp trên của ông
‘hơi nhạy cảm về trò đếm xác’. Có lần, đại đội ông bắt đầu đào hố hầm
thì bắt gặp một hố chôn tập thể của bộ đội Miền Bắc: ‘Lữ đoàn thực sự
muốn chúng tôi đào lên hết mọi xác và báo cáo cho họ số xác chết để họ
ghi vào thành tích của lần chạm trán trước đây.’ Sư đoàn 9 trong vùng
Cửu Long đặc biệt mang nhiều tai tiếng: tại bộ chỉ huy của nó, một biểu
đồ trên tường đo lường ‘tính hiệu quả’ bằng ‘số địch bị loại mỗi đại đội
mỗi ngày trên chiến trường ‘. Lực lượng Địa phương quân và Nghĩa
quân đạt điểm 0.30 mỗi binh chủng, QĐVNCH 0.75 và binh sĩ Mỹ 1.50.
Một đồ thị trên tường cuối cùng cho thấy số xác đếm của sư đoàn 9 tăng
lên từ 1,998 trong quý 2 năm 1967 đến 2,671 trong cùng thời kỳ trong
năm 1968, 8,138 trong quý 2 năm 1969. Abrams sau này chỉ trích gay
gắt ‘tính tôn thờ các biểu đồ … Nó cuối cùng đưa đến việc coi các biểu
đồ quỷ tha ma bắt chính là toàn bộ cuộc chiến, thay vì con người thật,
việc thật.’ John Vann chất chứa sự khinh miệt lên phương thức theo đó
số xác đếm lấy được, bảo với Frank Scotton về ‘một hành vi điên cuồng
đáng hổ thẹn của Sư đoàn 9’. Hai tỉnh trong đó áp dung phương thức
này trung bình mỗi tháng gây ra 500 dân thường thương vong, trong khi
12 tỉnh khác của Quân đoàn IV chỉ có 400 thương vong. Vann nói về tư
lệnh sư đoàn 9 sau này, Julian Ewell, rằng y ‘có thể giết chết cả bà mình
nếu có thể kể bà ấy vào số xác đếm của y.’
Ewell cung cấp một hình mẫu cho vai chính là Tướng Lemming quái
đản trong tiểu thuyết The Lionheads của Josiah Bunting, một đả kích hư
cấu về cách tiến hành chiến tranh của Hoa Kỳ, được viết bởi một sĩ
quan chuyên nghiệp trước đây của Sư đoàn 9.
Vậy mà sai lầm khi xem năm 1967-68 là thời điểm thất bại chiến thuật
của Mỹ: bất cứ khi nào binh sĩ của Westmoreland có thể dồn kẻ thù vào
đường cùng, họ giáng trả những thương vong nặng nề. Các tài liệu bắt
được cho thấy một tình trạng sa sút trong tinh thần của nhiều đơn vị VC
và bộ đội. Một tài liệu trình bày các nỗ lực tuyên truyền của Sư đoàn 2
cộng sản nhằm chống lại ‘nỗi sợ hãi một cuộc chiến kéo dài, miễn cưỡng
chiến đấu … và chấm dứt tình trạng đào ngũ, phản bội, đầu hàng và tự
tử.’

Các chỉ huy cộng sản nổi giận trước các báo cáo binh sĩ quay lưng đi
trong khi đụng độ. Robert Komer, giám đốc công tác bình định hóa, viết
cho tổng thống vào ngày 28 tháng 2 1967: ‘Phung phí đắt đỏ, nhưng
không thể chối cải, chúng ta đang trên đà chiến thắng ở Miền Nam. Một
số ít các chương trình của chúng ta – dân sự hay quân sự – rất có hiệu
quả, nhưng chúng ta đang nghiền nát kẻ thù chỉ bằng sức nặng và khối
lượng.’
Sau một trận đánh giữa năm 1967 trong đó Tiểu đoàn 514 VC trong
vùng châu thổ bị đánh bằng lực lượng trực thăng vận lẫn thủy vận, một
chiến binh cộng sản còn sống than thở rằng trong khi họ được học tập là
‘bọn mũi lõ’ đánh đấm rất tồi, thì giờ đây họ thấy ‘lính Mỹ chiến đấu ác
liệt … giỏi hơn bọn lính ngụy nhiều ‘. Các Tham mưu trưởng Liên quân
viết cho McNamara vào ngày 17 tháng 10: ‘Các hoạt động chiến lược và
quân sự hiện thời đang tạo ra các tiến bộ vững chắc … Kẻ địch ắt hẳn
đang gặp khó khăn lớn hơn nhiều so với các thống kê mà chiến trường
hiện thời và tình báo cứng chỉ ra.’ Giữa cả núi các sai sót đang ngự trị
trong kho tài liệu của cuộc chiến, thì đánh giá này không phải không có

lý.

Tại các buổi thảo luận ở bộ chính trị Hà Nội, ‘các ý kiến khác biệt mô tả
tầm vóc của thắng lợi có thể đạt được ‘. Vào cuối năm 1967 Sân Rồng
ước tính rằng họ có 232,000 chiến binh ở Miền Nam – 190 tiểu đoàn –
so với 204,000 người vào năm trước. Sự gia tăng do nhiều đơn vị bộ đội
chính quy Miền Bắc chuyển vào nam, và chấp nhận không chùn bước
trước các tổn thất.
Theo chiến sử Hà Nội, các lãnh tụ của nó nhìn nhận đây là thời điểm
khó khăn và thất vọng: ‘Trừ các tiểu đoàn Mỹ mà chúng ta đã tiêu diệt
trong thung lũng la Drang vào tháng 11 năm 1965, từ đó đến nay chúng
ta chưa có một trận đánh nào có thể hoàn tất các mục tiêu đề ra.’ Trừ khi
họ theo đuổi một sáng kiến ngoạn mục nào đó. Miền Bắc thấy mình lâm
vào cảnh ngộ phải mãi mãi kẹt trong một cuộc chiến bế tắc: sức kiên
nhẫn của họ không phải, như họ hay hô hào, là không có giới hạn. Kế
hoạch chiến lược tháng bảy 1967 của Hà Nội kêu gọi ‘một sự tập trung
tối đa nỗ lực nhằm đạt được một thắng lợi quyết định qua một cuộc tổng
công kích-nổi dậy, dù phải trả giá thế nào ‘. Đây là nguồn gốc của trận

công kích Tết 1968, một cú đánh thoát thai một phần từ các hy vọng hão
huyền – và một phần vì muốn nôn nóng cho nhân dân thấy thành quả.
Nhưng người Mỹ cũng có vô vàn khó khăn của riêng mình. Phong trào
phản chiến đang gia tăng sức kéo nhanh hơn mức độ tiến bộ của Quân
đội Mỹ ở Đông Nam Á. Các nhà hoạch định chính sách chín chắn chợt
hiểu ra rằng đó là một điểm yếu, chứ không phải điểm mạnh, khi Miền
Bắc biết mở rộng các mục tiêu đến chân trời, thì mục tiêu của người Mỹ
lại rất bó hẹp. Điều này hạn chế các phương thức có thể chấp nhận được
để hoàn thành chúng, trên hết là hạn chế phương thức xâm lăng Miền
Bắc. Earle Wheeler viết vào ngày 9 tháng 8 1967: ‘Chính quyền chúng
ta cứ lặp đi lặp lại làm rõ là … chúng ta không đem quân ra để hủy diệt
chế độ Hà Nội … cũng không đem quân hủy diệt Miền Bắc. Chúng ta
chỉ đơn giản muốn Miền Bắc ngừng chỉ đạo và hậu thuẫn cuộc nổi dậy
của Việt Cộng ở Miền Nam và rút bộ đội về bắc.’
Hơn nữa, Hoa Kỳ không hề giải quyết các vấn đề gây ra do một chuỗi
lệnh hỗn loạn của các đồng minh. Tình báo là một điểm yếu mãn tính.
Khi có lần Fred Weyand trách cứ Bill Colby vì CIA không có khả năng
dự đoán các vụ chuyển quân của địch, Colby trả lời, ‘Ngài biết
không, tôi sẵn sàng đổi lấy mọi lợi thế của chúng ta ở Miền Nam để lấy
chỉ một lợi thế của Miền Bắc.’ Weyand bình luận: ‘Tôi chỉ biết kinh
ngạc là xứ sở này của chúng ta, với tất cả sức mạnh mà chúng ta có, lại
không có được lợi thế đó. Nó cho bạn biết một điều gì đó về sức mạnh
của hệ thống cộng sản, một sức mạnh có thể giữ chặt chúng ta trong
bóng tối như thế đó. Mỗi gia đình Miền Bắc ắt hẳn phải có người thân bị
tử trận hay bị thương, hoặc một người mà họ biết, vậy mà chính quyền
đó có thể duy trì quyền kiểm soát đối với họ, còn chúng ta thì không thể
duy trì quyền kiểm soát ngay cả đường phố New York. ‘Giữa người Mỹ
và người Miền Nam ít có tin cậy nhau, và thật ra ngay giữa bên trong lực
lượng của chế độ Sài Gòn, bởi vì cộng sản xâm nhập quá sâu. Trung
tướng Bruce Palmer kinh ngạc khi một tư lệnh sư đoàn QĐVNCH cứ
khăng khăng kéo ông ra khỏi phòng, tránh xa các sĩ quan tham mưu,
trước khi bàn chuyện chiến sự quan trọng. Rồi vị tướng Việt Nam giải
thích rằng sĩ quan tình báo của mình bị nghi ngờ là một đặc vụ của địch
cài vào. Palmer là một trong số nhiều quân nhân phẫn nộ trước sự hậu
thuẫn chính trị sa sút ở Washington, cho dù những người của Quân đội

Mỹ rộng lớn đang ngày đêm chiến đấu và hy sinh để hoàn thành các
mong muốn mà chính quyền tuyên bố. Vị tướng viết sau chuyến viếng
thăm của McNamara vào tháng 6 1967: ‘Chuyện đã rõ mười mươi là các
lãnh dạo quân sự và chính trị của chúng ta đang xa cách nhau.’
Người Mỹ đến càng đông càng làm ô nhiễm Việt Nam một cách đau
đớn. Một nhà báo mô tả một cảnh tượng đặc thù ở Đà Nẵng: ‘Trên phố
chính cạnh bãi biển … Từng đống núi quân nhu được xáp nhập với từng
dải đống núi thùng và công-tan-nơ thực phẩm đóng hộp, nước ngọt, giày
bốt nhựa, máy thu thanh bán dẫn, máy phát điện, máy điều hòa, các
mảnh tháo rời của pháo hạng nặng, xe tăng, xe tải, gậy đánh bóng chày,
bánh ngọt và tạp chí lá cãi. Mỗi công ty ở Mỹ có vẻ như đều đổ vào đây
các hàng hoá dư thừa của họ, chẳng bao lâu đã trở thành rác.’ Dây kẽm
gai chất đống cạnh các khối bê tông; các bà già ngồi xổm cạnh các thùng
quân nhu, trong khi bọn trẻ xin xỏ thuốc lá từ bọn lính canh, thực tập nói
tiếng Anh ba rọi giữa các đống thừa mứa hàng hoá đe dọa chôn lấp xã
hội của chúng. Hơn nữa, nhiều tư lệnh ngày càng ngờ vực liệu các tiện
nghi xài phung phí cho binh lính Mỹ, điển hình là việc phát kem cho vài
đơn vị trên chiến trường, có vực dậy tinh thần chiến đấu như dự
kiến, hay chỉ bào mòn tinh thần chiến đấu.
Phần đông truyền thông thế giới không còn tin vào những gì giới quân
sự nói cho dù hôm nay thứ hai hay thứ ba. Vào ngày 3 tháng 9 1967
Richard Harwood của tờ Washington Post, vốn trước đây là cựu binh
TQLC của trận Iwo Jima, viết một bài báo có nhan đề ‘Cuộc Chiến
Không Như Báo Cáo ’. Ông nêu ra một ví dụ về điều mà ông nhận thức
là sự lừa đối chính thức. MACV, Harwood viết, đã báo cáo thành tích
chiến đấu ‘được cải thiện nhiều’ trong năm 1966 tại trung đoàn xe bọc
thép Miền Nam đóng tại Saigon. Vậy mà làm sao xác nhận này
khớp với sự kiện là Phân đoàn 8 của nó báo cáo chỉ giết được 1 kẻ
địch; Phân đoàn 5, 12; Phân đoàn 10, 23; Phân đoàn 9, 148 – trong khi
tất cả phân đoàn này chỉ mất 14 người? Việc MACV phun ra các con số
để chứng tỏ tình hình đang diễn tiến tốt hơn dường như chỉ có thể tin
được đối với những người viết thư gửi Ông già Noel hy vọng nhận được
một câu trả lời chính xác.
Nhưng tinh thần của những người phản chiến, của kẻ trốn tránh nghĩa vụ
và của Seeger, vẫn chưa lan đến phần đông người Mỹ ở điểm đầu chiến

tuyến. Marine Walt Boomer hăm hở: ‘Nếu có một thời điểm nào tốt đẹp
để chiến đấu ở Việt Nam, thì đó là năm 1967. Không có ma túy, không
có vấn đề chủng tộc. Dù có bất cứ việc gì xảy ra ở Đà Nẵng, ở chiến
trường chúng tôi không hay biết gì về nó.’ Boomer, con trai một doanh
nhân nhỏ ở North Carolina và là người tốt nghiệp đại học Duke, trở
thành một trong các chiến binh xuất sắc nhất của đất nước mình. Một sĩ
quan như thế ít suy nghĩ về chiến tranh rộng lớn: anh chỉ tận hưởng việc
làm tròn vai trò anh đã được huấn luyện, chỉ huy một đại đội mà các
thành viên trong đó anh tôn trọng một cách sâu sắc như ‘những chàng
trai quả cảm. Chúng tôi hoạt động trong môi trường khép kín của Quân
đoàn. Tôi không hay biết chuyện gì xảy ra bên ngoài. ‘
Đại uý Jim Williams, con trai một giám thị trường ở Winona,
Minnesota, nhất trí: ‘Đó là thời điểm của lòng ái quốc chân thực, thấm
đẫm tình cảm và tự hào hậu Thế Chiến II.’ Williams trải nhiều thời gian
trong năm 1967 chỉ huy một đơn vị trinh sát gần biên giới Lào, giữa
những người Thượng cưỡi voi mang hàng hoá ra chợ bán. Đây là thời
điểm trước khi bộ đội Miền Bắc vây hãm Khe Sanh, và vùng đất này
còn đủ yên tĩnh cho anh dự lễ Mét trong ngôi giáo đường địa phương
được một giáo sĩ truyền giáo cử hành.

3 Kỹ năng tác chiến
Nếu một binh sĩ muốn được yên lành, cách tốt nhất là tuyệt đối bất
động, tốt hơn là nằm trong một hố cá nhân: mỗi sự xê dịch sẽ khiến y dễ
bị tổn thương. Nhưng nhiệm vụ của bộ binh là di chuyến. Họ dành
nhiều thời gian trên chiến trường tìm kiếm kẻ địch trong đội hình trung
đội, đại đội, hoặc tiểu đoàn. Đối với 50,000 lẻ người Mỹ hoàn thành vai
trò như thế tại bất cứ thời điểm nào, thiên nhiên Á châu xa lạ trở thành
cảnh tượng bình thường mới: màu xanh lá rực rỡ của đồng lúa, màu
xanh thẫm của rặng dừa, các bé quê lùa trâu ra đồng, nông dân lầm lũi
với lòng nhẫn nại của hàng thế kỷ bước theo sau chiếc cày gỗ do trâu
kéo. Hoàng hôn các người lính nhìn đàn trâu được lùa về chuồng, mình
mẫy đóng cứng bùn vì suốt ngày dầm mình trong vũng lầy, không khác
chính họ. Và đâu đó lấp ló bên trong vẻ duyên dáng thôn dã này là bóng
dáng kẻ thù.

Walt Boomer nói: ‘Mỗi ngày chúng tôi đón chờ một trận giao đấu, hy
vọng theo điều kiện của mình. Chẳng bao lâu tôi nhận ra rằng, “Tên
đang ngồi kia đang theo dõi. Y chỉ đợi bạn một phút giây lơ đãng là y sẽ
xông tới thịt bạn.” Y rành địa hình còn chúng tôi thì không. Tôi nhớ
một ngày khủng khiếp lúc đó chúng tôi đang tiến xuống một thung lũng
rất hẹp đầy bụi rậm, và chúng tôi bị đánh khá rát: chúng phục kích một
trung đội, giết chết 3 người; tôi mất một chàng trai có huy chương Thập
tự Hải quân. Chúng tôi nghĩ mình được pháo và phi cơ yểm trợ – chỉ cần
cầm chân chúng, là chúng tôi có thể dập chúng. Nhưng chúng đã rút
nhanh. Hoạt động đó không phải là một phần của điều gì rộng lớn
hơn, mà chỉ là của tôi và đại đội đi qua vùng quê và càn quét – dù điều
đó có nghĩa là gì. Chúng tôi đã giết được bao nhiêu địch? Tôi không
biết. Các chỉ huy luôn tức tối vì tỷ số tiêu diệt địch quá kém.’
Binh sĩ chịu thử thách nghiệt ngã khi vác một tải trọng trên lưng vượt
qua địa hình hiểm trở dưới cái nóng gay gắt, thậm chí trước khi quân
địch xuất hiện. Mỗi người mang một vũ khí, một hộp quân nhu bằng
thép, được sử dụng để giấy và đồ linh tinh được khô ráo; ít nhất 8 băng
đạn và đạn lấp đầy băng; bốn lựu đạn phân mảnh và hai lựu đạn khói;
bốn bi đông nước, ít khi đủ dùng – tại những vùng khô ráo một người lo
xa thường lên đường với khoảng 8 lít nước. Một số chịu thêm gánh
nặng bằng phần cứng mang theo, có lẽ một khẩu 0.45. Về phần lương
thực, Andy Finlayson mang theo trong chuyến tuần tra trinh sát 5 ngày
một hộp đậu với xúc xích xông khói, một hộp mỳ Ý với thịt viên, bốn
họp trái cây, ba hộp nhỏ thức ăn nhẹ. David Rogers sống nhờ vào bơ đậu
phộng và bánh quy phết mứt, trái cây, và bánh ngọt. Vì vậy không có gì
ngạc nhiên khi hầu hết bộ binh đều sụt cân, sụt nhiều cân. Walt Boomer
vào Việt Nam cân nặng 180 cân, khi đi ra chỉ còn 155 cân.
Đại uý Chuck Reindenlaugh viết cho bà xã: ‘Không nơi nào trên trái đất
kém thích hợp để tiến hành một cuộc chiến quy ước hơn ở đây. . . Nước
sình ngập đến đầu gối; cây và bụi rậm chằng chịt quấn lấy nhau, nhiều
nơi không thể cho một thân người chui qua lọt; những vòm cây cao đan
bện vào nhau che hết ánh sang mặt trời.’ Những người cận thị vừa bước
đi vừa sợ cành lá dây leo quẹt rớt mắt kính xuống mặt đất tối âm u và
mất tăm. Sĩ quan Anh Freddy Spencer Chapman đặt tựa đề cho hồi ký cổ
điển viết về chiến dịch Mã Lai 1942 ‘Rừng Đứng Trung Lập’, và điều

này cũng đúng ở Việt Nam một thế hệ sau: những chàng trai nông thôn
đương đầu tốt nhất, được nuôi dưỡng không biết sợ cảnh hoang dã –
vòm lá ba tầng, rắn rết, vượn hú. Tuy nhiên, nhiều người Mỹ lớn lên
trong thành phố. Thật khó cho họ phải đi dễ dàng qua rừng rậm, trong
đó các đường mòn thường có đặt bẫy mìn. Tại nơi mà tầm nhìn chỉ một
đến hai mét, mỗi người phải dòm chừng người trước mặt: kẻ nào bất cẩn
sẽ lạc đường và biến mất. Đại đội của Walt Boomer mất một TQLC
trong một cuộc càn quét: ‘Chúng tôi phải dừng cuộc hành quân và đổ xô
đi tìm anh trước khi bộ đội Miền Bắc bắt được anh.’
Phần đông người Mỹ di chuyển ồn ào. ‘Cách tốt nhất để bị giết,’ Andy
Finlayson viết, ‘là đơn giản cứ nói chuyện vô tư với giọng nói bình
thường … Bạn thường không hề nhìn thấy kẻ địch của mình, nhưng một
tiếng nói vang lên giống như một nam châm bắt dính đạn.’ Một đơn vị ra
sức đi nhanh sẽ gây ra tiếng động như một đàn voi, đạp gãy cành khô và

tre.

Trong một xứ sở nặng nề và thù địch, người dẫn đầu thận trọng có thể
tiến lên từng bước mỗi 5, 6 giây, 10 bước một phút, 300 mét một giờ.
Một đội tuần tra tầm xa, muốn che giấu triệt để, có khi cả ngày chỉ đi
được một dặm, với người đi sau cùng phải xóa đi dấu vết.
Mặc dù sĩ quan di chuyển theo bản đồ và la bàn Lensmatic, một người
được chỉ định đếm bước họ đã tiến lên bao xa. Người dẫn đầu chỉ đơn
giản tiến lên với sự đề phòng nghiêm nhặt, giao phó cho người đi sau sử
dụng rựa. Walt Boomer luôn chọn người đi đầu là ‘tay săn thành thạo
nhất, với giác quan thứ 6’. Reg Edwards trở nên ít sợ sệt khi dẫn đầu vì
anh học được từ kinh nghiệm là người dẫn đầu luôn sống sót khi đụng
độ – những người ngay phía sau chắc chắn bị thịt hơn. Khoảng cách ít
nhất 4 mét giữa các binh sĩ là cấp thiết, nhất là trong các vùng nhiều bẫy
mìn: chen chúc nhau nghĩa là nhiều thương tật tàn phế và chết chóc hơn.
Hành động ít khi bắt đầu ngay giữa hàng quân, thành ra đó là nơi được
binh sĩ ưa thích. ‘Cầm đèn đỏ’ cũng đòi hỏi phải nhiều kỹ năng sinh tồn
như người dẫn đầu – anh ta là người bọc lót, có nhiệm vụ phát hiện kẻ

thù lén lút phía sau.

Tim O’Brien, trong số các nhà biên niên sống động nhất của trải nghiệm
bộ binh, viết: ‘Nếu bạn không mang ba lô, bạn đang chờ đợi. Đào hố cá
nhân. Đập muổi. Mặt trời và cái nóng và ruộng lúa bát ngát. Thậm chí

trong bụi cây rậm dày, nơi bạn có thể chết bằng bất cứ cách nào, cuộc
chiến buồn tẻ một cách trần trụi và gây hấn … Bạn đang ngồi trên đỉnh
đồi cao, ruộng lúa phẳng phiu trải rộng bên dưới, và ngày trôi qua bình
lặng và nóng bức và hoàn toàn trống rỗng, và bạn cảm thấy nỗi chán
chường nhỏ giọt xuống tâm hồn bạn như một vòi nước rò rỉ . . . Bạn cố
được thư giãn. Bạn lơi lỏng ngón tay và để đầu óc lan man. Vâng, bạn
nghĩ, điều đó không quá tệ. Và ngay lúc đó bạn nghe tiếng súng nổ sau
lưng và gan ruột bạn như muốn dội ngược lên cuống họng và bạn kêu
en éc lên như heo bị chọc tiết.’
Một số cuộc giao tranh bắt đầu với việc phi cơ oanh kích lên một vùng
tiếp đất nóng, nơi kẻ thù đang chiếm đóng. Họ phản pháo ngay trước khi
bộ binh từ trực thăng nhảy xuống trận địa. Phil Caputo viết rằng một
cuộc hành quân như thế ‘tạo ra các sức ép xúc cảm khốc liệt hơn một
cuộc tấn công quy ước trên bộ. Nó là khoảng không gian khép kín, tiếng
ồn, tốc độ, và trên tất cả, ý thức của sự bất lực hoàn toàn. Có một chút
phấn khích đối với việc đó ngay lần đầu, nhưng sau đó, nó là một trong
các trải nghiệm khó chịu hơn mà chiến tranh hiện đại mang đến.’ Thật
hào hứng khi cưỡi con chim đầu tiên bay đến trận địa, nhưng con chim
thứ hai thường là đích nhắm lựa chọn của kẻ thù. Fred Childs đang đứng
trên rìa một chiếc Huey lơ lửng một vài bộ bên trên vùng tiếp đất, thình
lình hai người bên phía đối diện cùng nhảy xuống, khiến trực thăng
nghiêng đi và Childs rớt khỏi cửa trực thăng và đụng đầu xuống đất. Bị
chấn động, anh không nhớ gì về trận đánh diễn ra sau đó.
Một hôm gần Chu Lai, một binh sĩ da màu tên Davis nhận một viên đạn
khi anh chạm đất, nhưng vẫn bắn trả. Khi một binh sĩ bị thương khác,
Taylor, chỉ biết nằm đấy nức nở, Davis chế nhạo anh ta không thương
tiếc, thúc giục anh chiến đấu: ‘Mầy khóc vì biết mình sẽ chết. Vậy thì
tiến lên để mang vài tên gook theo bọn mình.’ Taylor hờn dỗi đáp, ‘Tao
không chết,’ khiến Davis liền khích anh lần nữa: ‘Mầy không chết, vậy
tại sao ngồi đó khóc? Mầy khóc vì mầy là tên nhớt chúa.’ Sau đó cả hai
tiếp tục bắn trả cho đến khi một trực thăng đến tải thương. Đại đội
trưởng 29 tuổi Vince Felletter có lần mất 6 người khi nhảy ra khỏi một
trực thăng Huey trúng đạn, xác trực thăng rơi ngay xuống đầu họ, cánh
quạt quay phành phạch, cắt đứt tứ chi những người sống sót một cách
ghê rợn, thảm khốc. Đêm sau tiểu đoàn gửi xuống một gà tây nóng hổi

cho đại đội – ‘Có lẽ để chia buồn với chúng tôi, tôi đoán thế.’ Nhưng cử
chỉ này lại hóa ra hỏng bét: toàn bộ đại đội bị trúng độc thực phẩm, và
đến bình minh 14 người được trực thăng y tế chở đến bệnh viện quân y
với nhiệt độ 40 độ C. Felletter nói: ‘Đó là thời gian chỉ huy tồi tệ nhất
của tôi.’
Trên bộ, mùi hương cũng có thể giết hại một cách chắc chắn như tiếng
động. Hai bên đều trân trọng các trinh sát viên của mình, một số người
trong đó sở hữu các giác quan cực kì bén nhạy. Một bộ đội Miền Bắc
tên Nga được đặt cho biệt danh ‘chó chăn cừu Đức bởi vì, theo lời một
đồng chí, ‘Mũi anh đã trở thành huyền thoại. Mỗi lần anh nói anh “ngửi”
được lính Mỹ, thì y như rằng anh đều đúng.’ Một số sĩ quan Mỹ, nhất là
những người lãnh đạo đội tuần tra xâm nhập sâu, cấm hút thuốc lá, chỉ
được nhai thuốc thay thế.
Thật khó để cường điệu hóa sự căng thẳng của các trận càn quét, trong
đó những ngày thiếu thốn, bẩn thỉu, gắng sức và cảnh giác có thể kết
thúc bằng việc ngồi túm tụm lại với nhau làm mồi cho một trận phục
kích. Đại uý Julius Johnson cho rằng vấn đề lớn nhất của anh là ‘giữ cho
binh sĩ lúc nào cũng tỉnh táo, sau một hai tuần không đụng độ, để duy trì
sự nhạy bén cho phép họ chỉ bị bất ngờ ở phát súng đầu tiên, là bật dậy
đánh trả phát súng thứ hai ‘. Họ thường nhại lại Thánh Thi 23: ‘Dầu khi
tôi đi trong thung lũng của bóng tối và cái chết, Tôi sẽ chẳng sợ tai họa
nào; vì Chúa ở cùng tôi … Pháo của Chúa và B-52 của Chúa nghe lời
kêu gọi sẽ đến an ủi tôi.’ (Thay vì ‘cây gậy và cây trượng của Chúa sẽ an
ủi tôi’).
Ẩm độ thường trực làm rỉ sét chốt lựu đạn, hộp sắt, súng ống, dây điện.
Cách tốt nhất để xua đuổi côn trùng là nhúng quần áo và giày bốt vào
dung dịch chống côn trùng, nhưng chẳng được bao lâu. Không có cách
phòng ngừa đỉa: binh lính mặc vớ bó sát ống quần, nhưng con vật ngọ
nguậy khủng khiếp vẫn chui vào được, đầu chúng đục một lỗ nhỏ xíu
qua lớp da trước khi bạn thấy đau. Có thể gỡ chúng ra bằng một đầu
thuốc lá đang cháy chỉ khi dừng quân vào buổi chiều.
Bẫy mìn được phát hiện thường nhất vào buổi sáng sớm, khi binh sĩ còn
khỏe khoắn. Trung sĩ Mike Sutton đang bì bõm qua một đầm lầy ngập
mặn đến thắt lưng đến giữa một đống ống tre anh bỗng thấy mình vướng
phải một dây bẫy; anh không bao giờ quên cái giây phút toát mồ hôi

lạnh trước khí anh lùi lại … và còn sống. Thời điểm nguy hiểm nhất đến
vào chiều tối, khi binh sĩ bẩn thỉu, đói khát, mình mẩy đầy vết cắn chích
của sâu bọ, mệt mỏi sau khi leo đồi, vượt đầm. Đó là lúc cần thay đổi
người dẫn đầu, nhằm làm mới lại sự cảnh giới. Một tiếng hét điên cuồng
‘ĐỤNG RỒI!’ có nghĩa là, luôn là quá muộn màng, có người nghe một
tiếng ‘pop!’ khi quả mìn bị kích nổ, thế là cả toán lao chúi xuống đất.
Gần như luôn luôn kẻ địch là người khởi phát giao tranh, với một loạt
đạn và một trận mưa lựu đạn Trung Cộng giết chết một, hai, ba lính Mỹ
trước khi họ có thể phản ứng. Một TQLC viết: ‘Đang mệt mỏi và chán
chường vì phải ráng sức và chống lại cái nóng, chỉ cần một tiếng hét,
hay ai đó xê dịch thật nhanh là bạn liền phản ứng sống động như chưa
từng thấy. Mũi bạn, tai bạn, mắt bạn, thình lình trở nên bén nhạy hơn
hẳn. Đó là một cuộc xung kích thực sự.’
Người Mỹ có hoả lực áp đảo, nhưng điều này không có nghĩa nhiều đối
với binh sĩ đang đương đầu với.một kẻ thù gần như vô hình trong một
vùng quê khép kín. David Rogers nói: ‘Chúng tôi cảm thấy mình ngang
sức với kẻ địch. Các B-52 sẽ không giải quyết được vấn đề của bạn khi
bạn bị đánh úp; tôi không bao giờ thấy mình có sức mạnh vượt trội.
Súng chống tăng của Liên Xô tốt hơn súng chống tăng của Mỹ. Khẩu
AK-47 của địch tốt hơn khẩu M-16 của chúng tôi.’ Tại trung tâm của
mỗi toán quân là súng máy M-60, một vũ khí siêu đẳng bắn ra một hoả
lực khủng khiếp, chỉ có điều vác trên vai khá nặng – hơn 13 ký kể cả dây
đeo – và lắp đạn thì nặng hơn. Một số mang súng phóng lựu M-79, trông
giống một khẩu súng lục bị cưa bớt và bắn đạn 40mm. M-79 và súng
chống tăng là các yểm trợ tức thì có sẵn.
Rogers nói rằng trong một cuộc trao đổi hỏa lực ‘đôi khi chúng tôi khai
hỏa súng chống tăng LAW vì nó gây âm thanh rất oách’ – vực dậy tinh
thần binh sĩ. Lựu đạn cay cũng nhằm xua đuổi kẻ địch ra khỏi vị trí cố
thủ lì lợm, hoặc kiểm tra sự có mặt của địch trong các hệ thống đường
hầm được phát hiện.
Binh sĩ kinh khiếp trước yểm trợ không kích và pháo 105mm của lực
lượng mình được gọi đến: ‘Chỉ cần nói một vài lời trong máy truyền tin
hai chiều, tôi đã thi triển được một kỳ tích hủy diệt ma thuật,’ một sĩ
quan sững sờ cho biết. Pháo thủ bắn thử cách đó 5, 6 dặm đạn khói để
đánh dấu mục tiêu của mình, rồi đợi quan sát viên tiền tiêu tháp tùng

trung đội hoặc đại đội điều chỉnh hỏa lực. Đây là lý do tại sao các binh sĩ
thông cảm cho các sai lầm của sĩ quan, nhưng không bao giờ tha thứ cho
sự đọc tọa độ sai, khiến pháo bên ta giết chết lính phía mình. Các FO
hướng dẫn phi cơ trên một lộ trình phía bên kia tiền tuyến, bởi vì nếu họ
tấn công từ phía sau, vũ khí ngắn sẽ bắn hạ người Mỹ. Walt Boomer nói:
‘Chúng tôi khoái bom napam. Tôi không biết nó lợi hại cỡ nào, nhưng
chắc chắn nó làm bốc lên tinh thần binh sĩ.’ Một số lượng khổng lồ bom
từ phi cơ ném xuống rơi hoang phí trên vùng đất hoang dã không người
ở. Khi Andy Finlayson dẫn đầu một toán tuần tra được trực thăng chở
vào một cánh rừng để khảo sát tác động của một vụ đánh phá bằng B-52,
họ nhận thấy cảnh hoang tàn thường lệ, cùng với chứng cứ cho thấy gần
đây có nhiều người đi qua khu vực mục tiêu. Tuy nhiên, các vũng máu
duy nhất có vẻ như của một con voi hay trâu.
Trong một trận giao chiến nhiều bộ binh Mỹ – nếu súng trường họ hoạt
động tốt – không thể cưỡng lại việc xã đạn bắn vào cây xanh như thể đó
là ngày Bốn Tháng Bảy (Quốc Khánh Mỹ). Tiền tiêu Bill Hardwick viết:
‘Kỷ luật tác xạ kém là điểm đặc hữu. Đôi lúc cảm thấy khoan khoái…
khi được ria một vài tràng đạn … dấu hiệu của một tay nghiệp dư. Kẻ
địch luôn có kỷ luật tác xạ tuyệt vời.’ Một phần bởi vì Việt Cộng mang
theo tương đối ít đạn dược, đôi khi không hơn hai băng đạn, và điều này
có thể tạo cho người Mỹ hoặc người Miền Nam một lợi thế trong trận
giao tranh kéo dài. Đại uý Joe Tenney than phiền nhiều binh sĩ trong đại
đội của anh dường như không nhắm bắn gì cả: ‘Có lần tôi chính mắt
trông thấy một chiến binh địch chạy qua vùng đạn lửa trong một vụ phục
kích mà không hề lãnh một viên đạn nào, mặc dù có đến 9 người bắn y.’
Về phần viên đạn đang đến, Tim O’Brien viết về ‘tiếng thịch nặng nề
của viên đạn, như một quả đấm, cách nó làm bạn hết thở và khiến bạn
ho, cách thức âm thanh của viên đạn đến khoảng 10 năm sau, và mùi
của chính con người bạn, những điều bạn nghĩ về và nói ra và làm ngay
sau đó , cách thức đôi mắt bạn tập trung vào một hòn sỏi trắng nhỏ xíu
hoặc một lá cỏ và bạn bắt đầu nghĩ ngợi. Ôi, đó là vật cuối cùng mình
nhìn thấy, hòn sỏi đó, lá cỏ đó, khiến bạn muốn khóc.’
Cụm từ.gây tranh cãi nhất trong mỗi tự điển của bộ binh là ‘bị ghim
xuống’. Nó có thể nghĩa là một tiểu đội, trung đội, đại đội bị mắc kẹt
trong một hoả lực ác liệt của địch ngay trước mặt, tiến lên là tự sát.

Thường hơn, nó có nghĩa hôm đó không ai cảm thấy đủ dũng khí đáng
thưởng một Huy chương Danh dự; dường như biết khôn thì hãy nằm sấp
và gọi pháo kích hoặc không kích, đó là lý do tại sao đa phần chiến tranh
Việt Nam là chiến tranh của lính truyền tin. Phần nhiều các trận giao
tranh là ngắn ngủi: trong một vụ kéo dài đúng 30 giây, 15 trong số 35
TQLC tuần tra bị thương vong. Thường một toán VC sử dụng vũ khí chỉ
trong một hai phút, trước khi pháo binh vào cuộc. Vince Felletter nói,
‘Họ có thể “nghỉ chơi” dễ dàng hơn chúng ta nhiều.’
Đối với các chỉ huy cấp bậc thấp thật gay go khi truyền lệnh cho binh sĩ
trong trận địa rậm rạp bụi cây, nơi dấu hiệu tay không thể nhìn thấy và
tiếng la hét không thể nghe được bên trên tiếng ồn ào điếc tai của lựu
đạn, súng máy, tiếng kêu thét đau đớn và sợ hãi. Một số chỉ huy tiểu
đoàn ra lệnh cho các đơn vị của họ từ các trực thăng Huey vần vũ trên
không, một việc làm ít gây ấn tượng đối với binh sĩ của mình. Đại tá và
sĩ quan hành quân của Đại uý Ken Moorefield có thể lơ lửng ở cao độ
1,000 bộ, lữ đoàn trưởng ở cao độ 1,500 bộ, tư lệnh sư đoàn 25,000, ‘và
tôi thề có Chúa có ngày tôi sẽ tham dự một trận đánh trong đó tư lệnh tất
cả lực lượng Hoa Kỳ (tức tổng thống) sẽ ở cao độ 3,500 bộ … Theo
quan điểm của một số bộ binh ở dưới đất đang toát mồ hôi đực mồ hôi
cái, đối diện với đạn lửa cận kề, không thể nào tôn trọng hoặc nhìn nhận
người lãnh đạo của mình ở tuốt trên cao trong bộ quân phục mới gột hồ.’
Các đại đội trưởng đôi khi điên tiết vì các sĩ quan cấp trên luôn ra sức
quản lý vi mô các trận đánh. Vince Felletter nói: ‘Tôi bực mình vì tiểu
đoàn trưởng cứ hết đẩy rồi xô khiến tôi gắt gỏng bảo ông ra chỗ khác
chơi cho đến khi trận chiến đã qua. Tôi hơi mất bình tĩnh … và điều đó
gây nhiều phiền phức.’
Bất cứ chuyện gì cũng có thể xảy ra trong một vụ đụng độ: các tay súng
trong trung đội của Charlie Shyab bắn vài phát đạn lướt qua đầu các
binh sĩ nào lùi lại sợ xáp chiến. Mỗi trung đội đều có những kẻ như thế.
Shyab phải thay thế một quân y không dám ra trận địa nữa, và bị chuyển
về làm tại căn cứ. Khi đại đội gặp rắc rối trên Núi Chu Moor, những
binh sĩ sống sót bị sốc khi phát hiện trung sĩ của mình, vốn được xem là
anh chàng tử tế, ‘bỗng phát hoảng. Ông không có mặt ở đấy cùng với
chúng tôi.’ Người hạ sĩ quan đi biệt tăm, cõng một lính bị thương ra phía

sau.

Mọi lính bộ binh đều xưng với y sĩ quân y của mình là ‘Bác sĩ’, biết
rằng nếu mình bị dính đạn thì anh ta cũng gần như là một bác sĩ thực thụ
mà họ có được trước khi thượng đế phán xét liệu họ sẽ sống hay chết.
Trong những chuyến trinh sát David Rogers mang theo vật dụng y tế
trong một túi dùng đựng chất nổ C4: các viên muối, vải băng bó, moc-
phin giảm đau, 2 hộp lòng trắng trứng, dịch truyền tĩnh mạch, lựu đạn
khói để gọi trực thăng. Trong những nhiệm vụ chiến trường bình thường
lại bổ sung một áo vét chống đạn AK-54, chứa đầy ống moc-phin và các
vật dụng cứu thương khác. Anh cũng mang theo kéo gắn vào khoen chữ
D. Anh nói: ‘Hầu hết vết thương có lỗ nhỏ đi vào cơ thể và một lỗ lớn
đạn chui ra. Tôi thực tình không biết xử trí ra sao với một anh chàng
lãnh một vết thương không gọn ghẽ: một số mảnh pháo ắt đã lọt vào cơ
thể anh. Anh còn sống khi chúng tôi khiêng anh lên trực thăng, nhưng
tắt thở trước khi đến Củ Chi.’ Fred Hillyard, một sĩ quan West Point 26
tuổi, nhận thấy rằng thường cường độ tấn công giảm xuống vì ưu tiên
dành cho việc tản thương, ưu tiên này biến mất nếu người này mất. Anh
kể ‘nỗi xúc động người ta cảm nhận đối với một thương binh và rồi điều
đó thay đổi khi anh ta trở thành KIA (Killed in Action: Chết khi thi hành
nhiệm vụ). Ánh sáng bên trong một cơ thể quá trọng đại đến nổi khi nó
tắt đi, bạn tràn ngập một cảm xúc hoàn toàn khác … Sau đó là gánh
nặng hậu cần.’ Jim Williams nói rằng khi binh sĩ bỏ dở chiến đấu để
cõng đồng đội bị thương, ‘một phần việc đó chỉ là cái cớ để y ra khỏi
vùng lửa đạn, và điều đó làm tụi tôi tiêu đời – theo nghĩa đen – bởi vì
một khi bạn mất ưu thế hỏa lực thì kẻ địch giành được nó và thế là bạn
bị ghim xuống.’ Anh bảo với đại đội mình: ‘Tôi không quan tâm cho dù
người ngã xuống là mẹ các anh, cứ để bà nằm đấy còn các anh thì cứ
tiến lên.’
Một sĩ quan cộng sản biểu lộ ngờ vực về năng lực của binh sĩ Mỹ vì các
lý do thông thường – ‘Họ mang theo nhiều đồ xa xỉ, quá nặng nề, quá
chậm chạp. Từ xa đã thấy họ rồi.’ Dù sao, kỹ năng tác chiến của bộ đội
không phải lúc nào cũng vượt trội: các lính Mỹ phục kích có thể được
đánh động trước một kẻ thù đang đến gần bởi cùng các âm thanh chính
họ đã gây ra – tiếng kim loại va vào nhau, tiếng hộp đựng thức ăn
kêu, tiếng chít chát bất cẩn. Có lần trong một trận đánh giữa lúc quân
Mỹ đang mất nhuệ khí, thì tinh thần họ bỗng trỗi dậy khi một binh sĩ bắt

đầu chế nhạo địch. Lại Andy Finlayson: ‘Tức thì tất cả bọn tôi đều cười
lớn và la hét khích quân địch nhào vô ăn thua… Tôi không biết có phải
vì hỏa lực nặng chúng tôi rót vào, hay vì tiếng cười vang và những quả
lựu đạn, hay một lý do nào khác, khiến kẻ địch rút đi.’
Sau một trận giết chóc, binh sĩ cố ngồi lại và cầu nguyện cho các đồng
đội ngã xuống, mặc dù thói quen đó phải bị bãi bỏ khi số thương vong
tăng lên. Việc cắt xén thi thể địch làm kỷ niệm được bắt chước lan tràn.
Một chương trình truyền hình tháng 10 1967 đem lại ô nhục cho giới
truyền thông: một nhà quay phim đài CBS trao cho một người lính một
con dao và bảo y cắt tai một thi thể VC để câu khán giả truyền hình. Cả
người quay phim lẫn phóng viên trốn khỏi xứ sở hơn là ra làm chứng tại
tòa án binh sau đó xét xử người lính. Tuy nhiên, người ta biết rằng binh
sĩ cũng thường tìm kiếm những vật kỷ niệm như thế. Một hôm quân y
tiểu đoàn của Walt Boomer dẫn Đại uý qua một bên và cảnh báo rằng
người của anh đang sưu tập tai người. Boomer tập hợp đại đội quanh
ông tối hôm đó và nói, ‘Nếu các anh tiếp tục làm việc này, tôi sẽ giết các
anh. Mẹ các anh sẽ nói sao về việc làm này?’ Ông tin rằng việc chỉ huy
nghiêm khắc là cách duy nhất để kiểm tra sự thái quá: Từ việc cắt tai bạn
có thể bị cuốn vào những hành động tàn bạo hơn. Mỹ Lai xảy ra vì các sĩ
quan thất bại.’ Một số người thay vào đó mãn nguyện với việc để lại một
lá ách bích lên xác một VC.
John McNamara viết thư về nhà nói rằng mình hãi hùng trước việc bàn
luận vô tội vạ về nhu cầu sử dụng các chiến thuật khủng bố chống lại
các tên khủng bố. Với Không Kỵ 1, Don Graham cảm thấy ‘thực sự tự
hào’ khi anh thấy một vị đại tá cách chức một đại đội trưởng ngay tại
chiến trường khi lính của y đốt bừa bãi nhà dân.
Cho dù niềm tin tôn giáo là khẩu phần khan hiếm – ít hơn một phần năm
tham dự đều đặn các thánh lễ, và hai phần ba không hề đi – nhưng phần
đông đều siêng năng cầu nguyện. Trong Chiến dịch Swift tháng 9 1967,
tuyên úy Vincent Capodanno an ủi một thương binh, ‘Hãy bình tâm, anh
TQLC. Sẽ sớm có người đến đây giúp đỡ. Hôm nay Chúa sẽ ở cùng tất
cả chúng ta.’ Người thương binh sau này xác nhận rằng sự hiện diện của
Capodanno đã trao tặng cho anh một cảm giác bình an phi thường. Vị
tuyên úy bị tử thương chẳng bao lâu sau đó, được truy tặng Huy chương
Danh dự, và được Giáo hội Thiên Chúa tuyên bố là một ‘Tôi Tớ của

Chúa Trời’. Chỉ sự hiện diện của Capodanno tại thời điểm hệ trọng đã
chiếm được lòng kính trọng của đàn chiên mình, mặc dù việc này có thể
hơi quá lời. James May mô tả vị đại điện Chúa trong đơn vị anh tìm cách
phô diễn tình huynh đệ với binh sĩ bằng cách phát ra những lời nguyền
rủa thô bỉ như, ‘Xin Chúa Trời làm ơn cho bom rơi thẳng xuống bọn
chó đẻ da vàng.’ Một vị tuyên úy khác được chụp ảnh đang mang một
khẩu súng trường và vài quả lựu đạn, trong khi một người khác thích
thay ca với xạ thủ ở cửa trực thăng.
Một đơn vị trên chiến trường thường dừng chân vào chiều tối, trên nơi
đất cao nếu có thể, để được tầm nhìn bao quát. Binh sĩ kết thúc một ngày
với quần áo bám cứng đất đỏ trộn với mồ hôi, và khoan khoái biết bao
khi được gội sạch bằng cát trên dòng sông, nếu có. Walt Boomer bắt
binh lính cạo râu – ‘Tôi muốn họ suy nghĩ với tính xảo quyệt của thú
vật, nhưng tôi không muốn họ trở thành thú vật.’ Tuy nhiên, ít sĩ quan
nào dám cưỡng chế loại kỷ luật như thế, nhất là khi chiến tranh kéo dài
hơn và tồi tệ hơn.
Phần nhiều ban đêm họ phải đào hố, công việc mà họ căm ghét, mặc dù
việc đó thường tạo nên sự khác biệt giữa sống và chết. Các đơn vị tốt
đào hố hai người sâu đến 1 mét, vừa đào vừa chửi thề vì thường gặp đá
và rễ cây bên dưới lớp đất mỏng ở bề mặt. Khi mưa xuống, một điều rất
thường, nước trút như thác làm sụp hố và mái lợp bằng poncho, lại kích
hoạt một tràng chửi tục tĩu khác. Đào hố xong là nấu ăn, thường trên một
lò tự chế bằng hộp thiếc đựng khẩu phần tác chiến đục nhiều lỗ, đốt
bằng những miếng nhỏ chất nổ dẻo C-4, rít và bùng ra tia lửa nóng
trắng. Mọi người đều thích trái cây đóng hộp và bánh ngọt, trong khi
không ai thích thịt heo và đậu lima trừ Walt Boomer. Các đơn vị bộ binh
được phát khẩu phần tác chiến, trừ lính trinh sát thì nhận khẩu phần trinh
sát, được ưa chuộng hơn. Một số người chịu khó chế biến, chẳng hạn lấy
khoai tây từ hộp thịt-hầm-khoai tây, nghiền nát nó với chất thay thế kem
khô, trong khi nấu thịt hầm và nước thịt trong một hộp nhôm. Họ pha cà
phê hoặc ca cao, rồi ăn bánh quy có thể phết với phô mai chảy, rắc nhúm
rau thơm hoặc củ hành khô.
Sau hai tuần, mọi thứ đều có vị giống nhau, và đôi khi họ tự hỏi mình
may mắn mới được còn sống để ăn: nếu thời tiết khép chặt vòng
vây, ngày tiếp tế bằng trực thăng, cùng với thư và có khi bia, bị hủy bỏ.

Phần đông đơn vị đôi khi cũng lâm vào cảnh đói meo, mặc dù không hề
đói đến ngấu nghiến như địch thủ của mình. Điều hiểm nghèo tệ hại nhất
là cạn kiệt pin trong máy truyền tin, một hiểm họa đặc biệt cho các
chuyến tuần tra thâm nhập sâu. Nếu đường liên lạc cắt đứt, cũng có
nghĩa là cắt đứt yểm trợ hỏa lực, giải cứu, và thậm chí sự sống còn. Gần
như ai cũng hút thuốc lá, và thuốc lá đi kèm trong khẩu phần tác chiến
cùng với kẹo, lưỡi lam cạo râu, kem và bàn chải đánh răng, giấy trắng và
viết chì. Thuốc viên đóng một vai trò lớn: họ ngậm các viên muối cục,
thanh lọc nước bằng các viên Halizone khiến nước có mùi vị như chất i-
ốt, và nếu họ vẫn còn bị tiêu chảy thì phải uống hai viên Lomotil, bốn
lần một ngày. Họ phải nuốt viên thuốc chống sốt rét mỗi ngày trước mặt
quân y, bởi vì một số người muốn lên cơn sốt để khỏi hành quân. Vào
năm 1967-68, tuy việc lạm dụng ma túy có tăng lên, phần nhiều chỉ hạn
chế ở hậu phương: các sĩ quan và hạ sĩ quan vẫn còn có đủ uy quyền để
làm sạch quân nhân tại mặt trận.
Vào những buổi chiều tối nằm trên võng, hoặc nằm dài trên những giấy
bìa thùng đựng khẩu phần trải phẳng ra, một số lấy các cuốn sách đã
bầm vập ra đọc. Andy Finlayson đọc ngấu nghiến trên những chuyến
tuần tra quan sát. Anh nuốt các sách lịch sử, khoa học chính trị, nhân
chủng học, Conrad, Hardy, Hemingway, Updike và tác phẩm cổ điển
Nhật như Thuyện Kể Genji. Tuy vậy, truyện tranh khôi hài được ưa
chuộng hơn. Harold Bryan đôi khi chỉ đọc Kinh Thánh mà mẹ anh gửi
cho anh, ‘khi tôi không tìm thấy cuốn Playboy (cuốn sách ảnh tươi mát
rất được phổ biến thời đó) nào. Ai không thích đọc thì nói chuyện
phiếm. David Rogers: ‘Bạn sẽ nghỉ ngợi về gia đình – “Họ giờ này đang
làm gì?”‘ Tôi có một thằng bạn, một trung sĩ, vốn thích chơi ô chữ.
Chúng tôi đã trải qua nhiều, và giờ rất gần gũi nhau.’ Sớm muộn gì mọi
câu chuyện đều quay về đề tài ám ảnh mọi người: DEROS – ‘Date
Estimated Return from OverSeas’ (Ước tính Ngày về từ Nước ngoài),
mà mỗi người đều khao khát cháy bỏng trong tim, nhất là khi y gần đến
ngày đó. Bài hát ‘Boonierat’ biểu tượng của Dù 101 bắt đầu như sau:
‘Tôi đặt chân lên xứ sở này/Dâng hiến một năm cho nơi đây/Bạn thân
duy nhất là khẩu súng/Nguyện cầu duy nhất là được sống.’ Một số người
mang ra mặt trận các ‘gậy tính ngày về’ – các gậy chống được chạm
khắc tỉ mỉ; những người khác quay sang dùng lịch và tranh dân gian để

đánh dấu ngày tháng. Tuy vậy, một tân binh được cho là xui xẻo khi hỏi
một người lính cũ y đã ở VN bao lâu rồi, trước khi y thấy thích hợp để
trả lời.
John Del Vecchio viết: ‘Đối với nhiều binh sĩ Việt Nam là nơi sầu não,
tuyệt vọng, một thung lũng của nỗi khủng khiếp. Phần nhiều nỗi lo lắng
không đến từ bộ đội địch, cũng không từ rừng rậm … mà vì hoàn cảnh
phải rời bỏ vợ con, bạn bè và người thân và hoàn toàn phó mặc cho số
phận.’ Một số viết thư, số khác thu âm. Một ít tên khá ba trợn thu cả
tiếng súng cối và pháo 105mm. Băng nghe dĩ nhiên là sống động, nhưng
làm kinh hãi bỏ mẹ các người thân bất hạnh ở nhà. Trong khi đó nhiều
binh sĩ rảnh rỗi làm trò hề chọc cười. Tim O’Brien viết: ‘Tuổi trung bình
trong trung đội chúng tôi là 19 hoặc 20, và kết quả là họ xem mọi việc
đều có thể đùa giỡn được, như một sự kiện thể thao tại một trường cải
huấn. Trận tranh đua có thể nguy hiểm chết người, nhưng vẫn chứa nỗi
hân hoan trẻ thơ trong đó, với lắm trò đùa giỡn ầm ĩ. Một số, do cố tình
hoặc thiếu suy nghĩ, mang tính bông đùa vào cả trận địa, và phải trả
giá. Một chàng trai ‘lúc nào cùng đùa giỡn được’, cho đến một buổi sáng
anh chàng làm trò phía ngoài vòng đai, và giẫm phải mìn, mất một chân.
Trong giờ giấc ban đêm, giấc ngủ mọi người đều bị gián đoạn khi đến
phiên mình canh gác, hoặc nếu xui xẻo đi ra ngoài với đội tuần tra, đi
nhón gót sợ phải giẫm lên thứ gì đó chết người, cố gắng tránh vấp phải
rễ cây đước hoặc rơi xuống một bờ ruộng. Ai cùng ghét việc tuần tra
đêm, biết rằng kỹ năng xê dịch không gây tiếng động của mình còn kém,
nhất là vào mùa khô khi cây khô và lá khô nào cũng kêu răng rắc dưới
đôi giày. Vào ban đêm VC có thể đi lại tự do trong ấp và làng, tin chắc
là mình không hề gặp bọn Mỹ hoặc Ngụy. Walt Boomer: ‘Ban đêm
chúng tôi không ở đó, còn VC thì luôn ở đó.’
Thường nhất, các chỉ huy tự bằng lòng với việc ra ngoài phục kích, cách
căn cứ từ 100 đến 1,000 ya. Trung sĩ Jerry Ledoux nói: ‘Tôi luôn tỉnh
thức, nhưng tôi hoảng kinh khi gặp các anh chàng ngái ra trò ngay lúc có
nhiệm vụ cảnh giác. Một số người đúng là không nhận ra rằng đây
không phải trò đùa, mà là vấn đề sống-chết.’ Đại uý
Joe Tenney nhất trí: ‘Có quá nhiều người ngủ gật khi cảnh chừng, mà
không có sĩ quan hoặc hạ sĩ quan kiểm tra.’ Thậm chí nếu một tiểu đội
phục kích tỉnh táo, khi gặp một số lớn binh địch xuất hiện, phải có sự

đồng tình bắn hay không bắn. Wayne Miller đôi khi quá lạnh, ẩm ướt và
khổ sở đến nỗi anh phải đi tiểu ra quần, một phần cái ướt nóng hổi khiến
anh dễ chịu, một phần đứng lên đi tiểu thì quá nguy hiểm – nhiều người
bị bắn bởi chính đồng đội yếu bóng vía. Trong một tá vụ đụng độ trong
thời gian 8 tháng phục vụ trên chiến trường, anh không bao giờ biết liệu
anh có bắn trúng ai không, nhưng một đêm anh đang canh chừng một
mìn Claymore trong một vụ phục kích thì ba VC đi qua. Anh đã được
dặn dò là không làm gì trước khí có tiếng súng nổ. Rồi súng nổ, địch
phóng chạy trở lại con đường mòn, một anh tạm dừng ngay trước nơi ẩn
nấp của Miller. Anh liền bật hộp kích nổ, và trông thấy với sự mê hoặc
hãi hùng khi những thân người này tan rã trước mắt anh.
Là một đại đội trưởng 1967, Walt Boomer nói: ‘Tôi nhận thấy rằng mình
chỉ tiến bộ sau một vài tháng. Nhưng ngay khi điều đó xảy ra, bạn đã
chuẩn bị ra khỏi cuộc chơi.’ Trong những tuần lễ cuối của anh, ở phía
bắc gần vùng Phi Quân sự, ‘sứ mạng của chúng tôi là tìm bộ đội Miền
Bắc. Đó là một con đường sống tàn nhẫn. Chúng tôi luôn di chuyển –
có lần hành quân suốt 45 ngày đêm không tắm gội. Chúng tôi sống
không khác loài cầm thú – và không gặt hái nhiều thành quả. Khi thì kẻ
địch tìm thấy chúng tôi với thế thượng phong, khi thì chúng tôi tìm thấy
địch trong thế áp đảo: Bộ đội Miền Bắc hiểu rằng nếu họ đương đầu trực
diện với chúng tôi họ sẽ chết. Chúng tôi không hiểu ra rằng cho dù
chúng tôi có bắn giết được bao nhiêu đi nữa, vẫn không bao giờ đủ.

4 Súng Ổng
Trong một vùng quê chật hẹp hỏa lực Mỹ không phát huy tính vượt trội.
Ở đó, vũ khí cá nhân của bộ binh mới là thứ đáng kể, và Westmoreland
phải trả giá bằng sự khủng hoảng lòng tin cậy trong quân đội mình.
Quốc gia có nền công nghệ tiên tiến nhất trên mặt đất lại trang bị cho bộ
binh mình một khẩu súng thấp kém hơn thứ mà hầu hết bộ đội Hà Nội
trang bị. Xác nhận này cần phải được làm rõ: trên trường bắn, khẩu súng
Mỹ tốt hơn nhiều. Nhưng tại vùng quê hoang vu hẻo lánh thì không.
Phẩm chất vượt trội của khẩu AK cộng sản nằm ở chỗ một nông dân tay
mơ nằm vùi cùng với khẩu súng AK của mình trong đất, bùn lầy hoặc
nước đầm, có thể đứng dậy bắn một tràng đạn tự động ngon lành, điều
mà chỉ một sự bảo trì sơ sài cũng gây trục trặc cho hầu hết khẩu M-16.

AK-47, được đánh số theo năm ra đời của nguyên mẫu, là sáng chế của
đội thiết kế do Trung sĩ Mikhail Kalashnikov cầm đầu, ông là một cựu
binh xe tăng Hồng Quân bị thương vào năm 1941 và sau đó được sử
dụng như một chuyên gia vũ khí cá nhân. Niềm cảm hứng cho khẩu AK
là vỏ đạn trung gian 7.62 x 39mm do người Đức sáng chế bắn ở cự ly
trung bình – 50 đến 200 yards.
Kalashnikov và nhóm hợp tác lấy viên đạn tương đối nhẹ này và xây
dựng quanh nó một khẩu súng tấn công đơn giản không thể tin được, cơ
chế khai hỏa của nó có điều gì đó giống khẩu M-1 của Mỹ. Độ tin cậy
của nó nhờ vào sự kiện nó chỉ có 8 bộ phận chuyển động lớn, nặng nề,
ráp với nhau lỏng lẻo đến nỗi bụi bặm không làm chuyển động gặp trở
ngại. Lớp crôm của nòng, buồng hơi và pít tông làm tăng độ bền của
súng. Các khuyết điểm duy nhất của súng là nó bắn hơi lệch về bên trái,
và tiếng ‘clack’ khá lớn khi kéo cần lên đạn
Độ không chính xác của AK-47 không quan trọng; vì nó có thể khiến du
kích quân tạo ra hỏa lực ác liệt, thường là bán tự động hay từng loạt
ngắn. Gần 100 triệu khẩu đã được sản xuất từ năm 1947, tại những nhà
máy trên khắp thế giới cộng sản. Tác phẩm của Kalashnikov đã chứng tỏ
là vũ khí có tầm ảnh hưởng lớn nhất trong lịch sử, vũ khí được chọn của
người cách mạng từ Angola đến Philippin, được nhận diện lập tức bởi
băng đạn hình quả chuối. Vào năm 1963 Trung Quốc bắt đầu cung cấp
cho Miền Bắc biến thể Norinco-56 của họ, trở thành công cụ chịu trách
nhiệm cho việc sát hại hoặc gây thương tích cho binh sĩ Mỹ và
QĐVNCH nhiều hơn bất cứ vũ khí nào trên mặt trận.
Trong thời kỳ Triều Tiên Quân đội Mỹ xem AK với vẻ khinh thị, chỉ là
khẩu súng máy tầm thường. Ngũ Giác Đài bác bỏ một đề nghị của Anh
vào năm 1953 muốn trang bị NATO một vũ khí tấn công hạng nhẹ
tương tự cỡ .280, vì thích M-14 bán tự động, tầm xa, thân dài 4 bộ và
nặng 12 cân của mình hơn. Tuy nhiên, vào tháng 10 1962, McNamara
viết cho thư ký quân đội Cyrus Vance: ‘Tôi đã bắt gặp chứng cứ … có
vẻ cho thấy với khẩu M-14, chúng ta đang trang bị cho các lực lượng
của ta một vũ khí rõ ràng thấp kém về hỏa lực và hiệu quả tác chiến hơn
khẩu súng trường mà Liên Xô trang bị cho họ và các lực lượng chư hầu
của họ trên khắp thế giới từ năm 1950.’

Quân đội không có gì trên ngăn tủ của mình để dùng nó đáp ứng với lời
kêu gọi cho một vũ khí Mỹ mới. Họ quay sang Colt, nhà sản xuất một
khẩu súng cỡ nhỏ đặt tên AR-15 hay ArmaLite. Khẩu súng này gốc
được chế tạo trong một xưởng tại một gara Hollywood của George
Sullivan, một kỹ sư hàng không hãng Lockheed mê say vũ khí nhỏ.
Sullivan thuê Eugene Stoner, một cựu TQLC có trình độ súng ống, cầm
đầu một nhóm thiết kế. Fairchild Aviation mua lại công ty của họ, vốn
đã sản xuất một vài khẩu súng tuy chưa đi vào sản xuất đại trà, nhưng
khiến quân lực quan tâm. Khẩu AR-15 của Stoner tiến hóa thành một vũ
khí cỡ 5.56mm tiện lợi chỉ cân nặng 6.35 cân chưa có đạn, dài 39 in-xơ,
vỏ ngoài bằng nhựa màu đen. Vào năm 1959 Fairchild bán ArmaLite
cho hãng Colt, và Colt bắt đầu xúc tiến tiếp thị khẩu AR-15, được sản
xuất tại nhà máy Hartford, Connecticut.
Những thử nghiệm đầu tiên tại Việt Nam gây ra phấn khởi, nhất là ở tính
chính xác và nhẹ nhàng của nó, nhưng có vấn đề là đạn có tốc độ quá
cao dễ bị vỡ ra nhiều mảnh khi đụng vào mục tiêu, tạo ra hiệu ứng đum-
đum và do đó có thể vi phạm luật quốc tế về chiến tranh (vì ở đầu ra của
viên đạn vết thương tan hoác một lỗ rất to nên bị cấm dùng trong chiến
tranh vì trông khá vô nhân đạo:ND). Các thí nghiệm thực địa bí mật
rùng rợn được tiến hành ở Trường Bắn Aberdeen của Quân đội
tại Maryland vào các con dê angora còn sống, cắt đứt đầu người và tứ
chi tuồn vào từ Ấn. Thí nghiệm kết luận với tin tốt đẹp là AR-15 gây tổn
thương xương sọ nhiều hơn AK-47 hoặc M-14. Vào tháng giêng 1963
Earle Wheeler báo cáo rằng súng mới rõ ràng vượt trội hơn khẩu
Kalashnikov. Ông nhìn nhận còn một số hoài nghi về độ tin cậy của nó,
nhưng cho rằng những khuyết điểm này có thể ‘sẵn sàng được điều
chỉnh’. Vào tháng 12 Ngũ Giác Đài ký hợp đồng lớn đầu tiên mua
104,000 khẩu, giờ được gọi là M-16.
Đến 1965 M-16 vẫn còn được thử nghiệm thực địa, và báo cáo cho các
kết quả lẫn lộn. Trung tướng Hal Moore duyệt xét và mê tơi khẩu súng
sau khi Kỵ binh 1/7th sử dụng nó tại trận thung lũng Drang, và việc này
thuyết phục Westmoreland ủng hộ nó. Trong khi đó Colt lốp-bi cho Đồi
Capitol (tức Quốc Hội Mỹ), khai thác các báo cáo của giới truyền thông
cho rằng binh sĩ ở chiến trường cảm thấy bị thua thiệt khi đấu với AK-
47 bằng M-14 đã lão. Thượng nghị sĩ có ảnh hưởng Richard Russell điện

thoại cho McNamara vào ngày 7 tháng 12 và nói ngắn gọn, ‘Mua
100,000 khẩu súng hôm nay đi, không tôi loan chuyện này cho báo chí.’
Hợp đồng liền được ký kết. Colt đã công bố thâm thụt tài chính trong
năm 1963, nhưng M-16 đã đẩy nó lên thời kỳ tăng vọt: vũ khí mới rốt
cục sẽ bán được 8 triệu khẩu.

Nhưng vấn đề nơi thực địa bao quát bắt đầu ngay khi các sai sót thiết kế
khó chịu trở nên hiển hiện. Quân đội yêu cầu một vũ khí có khả năng
bắn tầm xa, hiệu quả ở khoảng cách 500 ya, tạo áp lực căng thẳng lên
các bộ phận hoạt động của một vũ khí tự động nhẹ, nhất là thuốc súng
dạng bội bi trong vỏ đạn gây ra sức nổ siêu năng lượng và làm dơ nòng
súng nặng nề. Tờ The Shooting Times, cẩm nang của những người say
mê súng dân sự, gặp sự cố hỏng hóc của M-16 lặp đi lặp lại trong bài
kiểm tra. Các báo cáo của nó được in ra cho rằng những khuyết điểm
này nên được điều chỉnh trước khi giao cho quân đội – nhưng chúng vẫn
không được điều chỉnh. Nhà sử học về súng C.J. Chivers đã viết: ‘Quân
đội và Công ty Colt thực tế đã sản xuất hàng loạt khẩu súng nguyên
mẫu, và đang tinh chỉnh nó khi nó trục trặc trong tay binh sĩ.’
Qua năm 1966, binh sĩ đang chiến đấu ở Việt Nam gặp các vấn đề dai
dẳng với vũ khí mới của mình, vốn nhanh chóng bị bào mòn trong điều
kiện nhiệt đới. Sau khi một viên đạn được bắn đi, vỏ đạn thường kẹt
trong ổ đạn. Lúc đó người lính phải dùng một cây que đẩy nó – nếu ý
may mắn tìm được que – xuống nòng súng, dưới hỏa lực của địch. Luôn
có tình trạng thiếu hụt công cụ bảo trì kinh niên, khiến mọi người sử
dụng dây điện thoại hoặc dây nylon thay thế. Một số viết thư về nhà,
nhờ người thân gửi ra chiến trường các que chùi. Trong số 2,000 khẩu
M-16 kiểm tra đầu tiên bởi hãng chế tạo vũ khí, 384 khẩu trục trặc.

Tai tiếng thực sự của khẩu súng bắt đầu ở đây. Sau những cánh cửa đóng
kín, Quân đội Hoa Kỳ biết rằng mình đối mặt với một vụ khủng hoảng:
nó đang trang bị cho bộ binh một công cụ không thích hợp để tác chiến
sống còn. Tuy nhiên, hàng tháng trời, nó ra sức giấu nhẹm vụ này.
‘Những rắc rối mới nhú lên’ bị đổ lỗi cho binh sĩ sử dụng thao tác lau
chùi cẩu thả. Đại tá Richard Hallocks của Cục Phát triển Nghiên cứu
Cao cấp của quân đội cầm đầu một chiến dịch nhằm che giấu các khiếm

khuyết của M-16, trước hết là đối với Quốc Hội. Ông đặt con dấu ‘BÍ
MẬT GIỮ KÍN’ trên một bảng ghi nhớ của Cục về khẩu súng. Một vụ
bưng bít có tính thể chế được phát động, để bảo đảm cho việc tung ra
thị trường của khẩu M-16 có thể tiếp tục không bị gián đoạn. Vào tháng
2, TQLC bắt đầu nhận vũ khí tại Việt Nam. Khi binh lính sử dụng khiếu
nại về tình trạng kẹt, người ta lại đổ lỗi cho người sử dụng vụng về. Tại
một cuộc họp báo ở Đà Nẵng, Trung tướng Lew Walt nhấn mạnh rằng
binh lính ông ‘100 phần trăm chịu khẩu súng mới. MACV cảnh báo các
sĩ quan thông tin của mình không nhìn nhận gì về sự trục trặc của M-16.
Các TQLC và binh sĩ nổi giận dù sao đi nữa cũng bắt đầu viết thư về
nhà. Vào ngày 26 tháng 3 1967 Tờ Washington Daily News vạch trần
câu chuyện, xác nhận một lòng tin lớn mạnh trong các binh sĩ là loại
súng cũ của người cộng sản ưu việt hơn súng mới của Mỹ. Các câu
chuyện bất thường bắt đầu rỉ rả về các trận đụng độ trong đó hàng chục
người bỗng thấy mình đấu vật với các khẩu súng bị kẹt đạn. Sau một
trận đánh một TQLC được trích dẫn trong một tờ báo địa phương Mỹ
Asbury Park Evening News, nói: ‘Bạn biết cái gì giết chết phần đông
binh lính chúng ta không? Chính khẩu súng trường của chúng ta …
Thực tế là mỗi binh sĩ bị tử trận của chúng ta đều được tìm thấy với
khẩu súng bị tháo rời nằm cạnh anh nơi anh đang bận sửa chữa nó.’ Điều
này chắc chắn là cường điệu, nhưng Quốc Hội bắt đầu chú ý. Vào ngày
20 tháng 5 1967 một dân biểu từ New Jersey gửi mục tin trong tờ
Asbury Park đến McNamara, để sau đó không thể nói là mình không hay
biết.
Đây là thời điểm TQLC đang giao tranh trong cái gọi là trận đánh Trên
Đồi, trong đó hơn 150 người chết – một số họ mang súng nhưng không
bắn được. Vào tháng 7, các TQLC 2/3rd chịu các tổn thất to lớn giữa
những khó khăn tiếp tục với khẩu M-16. Đại uý Gerry Turley mô tả việc
đổi vũ khí cho tiểu đoàn anh là ‘một thảm họa … Chúng tôi vừa được
lệnh, “Bỏ các M-14 vào đống này, và nhận M-16 từ đống kia.” Tỷ số
súng trục trặc tăng lên 75 phần trăm. Chúng tôi phản ánh và họ chỉ nhún
vai “Chùi sạch hơn nữa.”‘ Khi tiểu đoàn mất tất cả năm đại đội trưởng
trong 30 ngày giao tranh ác liệt, một số sĩ quan đổ lỗi công khai sự
thương vong cao là do vũ khí mới. Turley nói: ‘Bạn có thể tưởng tượng

điều đó gây ảnh hưởng thế nào cho tiểu đoàn bộ binh hay không? Nhân
tố tinh thần binh sĩ thật là thảm hại.’
Một Trung uý 23 tuổi tên Michael Chernevak viết về nhà mô tả chi tiết
cách nào trong một trận đánh 40 vũ khí của đại đội trục trặc mà anh lại
là sĩ quan điều hành. Anh gửi bản sao bức thư cho dân biểu của mình,
cho Bobby Kennedy, và cho cánh báo chí đứng đầu là Washington Post,
công bố bức thư vào ngày 29 tháng 10. TQLC phản ứng bằng cách xem
xét không phải khiếm khuyết của khẩu súng, mà thay vào đó tội của
người viết thư. Chernevak nhận một lời khiển trách chính thức.
Nhưng một đại diện của Colt ở châu Á, Kanemitsu Ito, viết cho giám
đốc của mình phát biểu rằng các cáo buộc về khiếm khuyết của sản
phẩm đã được xác minh. Chính ông đã dự một buổi họp với các TQLC
mà ông mô tả như đứng trước mặt ‘một lồng sư tử đang gầm gừ phẫn
nộ’. Ito nói rằng hầu hết binh sĩ đều thù ghét khẩu súng mới,’ và có
quyền thù ghét nó. Colt đáp ứng với các tin tức nội bộ và với các bài viết
được đăng tải bằng các che chắn chứa đầy dối trá. Họ ương ngạnh cự
tuyệt nhìn nhận khẩu súng họ bị sai sót. Đến cuối năm 1967 các M-16
được trực thăng đổ đống xuống cho các tiểu đoàn TQLC ngay trên mặt
trận, mà không được huấn luyện làm quen trước. Walt Boomer nói: ‘Đó
quả là một ác mộng. Trong một cuộc phục kích nửa số súng bị trục
trặc. Tôi đã luôn yêu quý Quân đoàn TQLC, nhưng tôi cũng cho họ chịu
trách nhiệm cho các hành động ngu ngốc.’ Tương tự như vậy, Judd
Kinne luôn cho rằng M-14 là vũ khí tốt hơn.
AK-47 không phải lúc nào cũng được mọi người ngưỡng mộ: một sĩ
quan Miền Nam cho binh sĩ mình kiểm tra súng, báo cáo rằng phần đông
cuối cùng buông bỏ chúng, cho rằng nó khó thay băng đạn khi đang
chạy, chúng dễ rỉ sét, và trở nên nhanh chóng giảm tác dụng khi khai
hỏa thật rát. Quân đội Hoa Kỳ và Quân đoàn TQLC phải học cách sống
chung với M-16, và chiến đấu với nó; nhiều phụ tùng lau chùi được
phân phát. Hai năm sau một phiên bản cải tiến với một bộ phận giảm sốc
mới và một nòng mạ crôm hoạt động tốt hơn. . Nhưng điều cơ bản vẫn
giữ nguyên là trong khi M-16 là một vũ khí tinh tế hơn AK-47
nhiều, thì ngược lại nó không cứng cáp bằng.
Như nhiều người ngây ngô, William Westmoreland thích làm ngôi sao,
ít nhất cho đến khi ánh lóe sáng rực của nó hủy hoại tiếng tăm của

ông. Một hôm khi vị thủ lĩnh MACV đi thăm Không Kỵ 1, Don Graham
tháp tùng một vài giờ với ông lớn và ba phụ tá. Anh hỏi một phụ tá,
‘Thưa ngài, chính xác ngài làm việc gì cho tướng quân?’ Câu trả lời là:
‘Tôi mang theo quân phục mới ủi sạch sẽ cho ông để ông trông không tệ
hại khi gặp binh sĩ.’ Vào tháng 11 1967, theo yêu cầu của Lyndon
Johnson vị tướng làm một chuyến về nước thu hút sự chú ý của công
chúng, để góp thêm sức nặng của ông cho bảo đảm cuộc chiến đang
trên chiều hướng tốt đẹp.
Trong chốn riêng tư, Westmoreland không nghĩ điều gì như thế – ông
luôn yêu cầu thêm, thêm nhiều quân nữa. Dù sao đi nữa thì ông cũng
làm tròn công việc mà tổng tư lệnh muốn. Tờ Washington Star sử dụng
lời lẽ của ông trong phóng sự ngày 7 tháng 11 có tựa đề ‘Theo Một Ý
Nghĩa Quân Sự Cuộc Chiến Sắp Sửa Thắng Lợi’. Bob Considine của
tờ Philadelphia Inquirer vang dội bài hát của vị tướng khi ông viết: ‘Hãy
thôi nhằn nhì. Chúng ta đang chiến thắng cuộc chiến tồi tệ này. Nó
không, xin lặp lại không, bế tắc.’ Vào ngày 21 tháng 11 Westmoreland
bảo với Câu lạc bộ Báo chí Quốc gia: ‘Địch đã không thắng một trận
đánh lớn nào trong hơn một năm … Lực lượng lớn của họ chỉ có thể
chiến đấu tại rìa khu vực ẩn náu của họ … Lực lượng du kích của họ
đang suy giảm với tốc độ đều đặn. Các vấn đề về tinh thần chiến đấu của
họ đang phát triển.’ Even James Reston, một kẻ hoài nghi mãn tính, giờ
cũng cảm thấy buộc phải xem sự bày tỏ niềm tin của Westmoreland với
sự tôn trọng. Sau lần xuất hiện tại Câu lạc bộ Báo chí Quốc gia, phe
trung thành và ái quốc trên khắp nước Mỹ tập kết sau lưng vị tổng tư
lệnh và vị tướng của họ. Hơn nữa, họ còn hô hào lớn tiếng hơn lên án
những kẻ nói không. Tại hội nghị Liên đoàn Lao động và Đại hội các Tổ
chức Công nghiệp Hoa Kỳ vào ngày 2 tháng 12, ngoại trưởng Dean
Rusk so sánh bọn phản chiến với quân đoàn bão táp của Hitler.
Nhưng Đại uý John McNamara viết thư về nhà: ‘Giữa VC/Bộ đội và cá
nhân tôi có một sự tôn trọng chân thật và cùng chia sẻ… Chúng ta đang
tiến gần đến một tình huống đáng sợ như người Pháp – bất khuất về
quân sự nhưng phân mảnh một cách tuyệt vọng về chính trị.’ Sau này
anh viết: ‘Lúc đó tôi hoang mang về những gì lẽ ra chúng ta nên làm, và
giờ này tôi cũng còn hoang mang. Vào thời gian tôi về nước (tháng 7
1968) tôi cảm tạ Chúa cho tôi ra khỏi đó, và tôi sẽ không khuyên ai khác

nên đi. Chúng ta có thể ở đó suốt 20 năm mà không tạo ra sự khác
biệt. Thực tế trung tâm là chúng ta không thế tìm ra kẻ thù.’
recommended to anyone else that they should go. We could be there
twenty years without making any difference. The central fact was that
we couldn’t find the enemy.’ Graham viewed the war from what might
be called a privileged low level, but he was right
Như nhiều sĩ quan Miền Bắc ngay thẳng Phạm Phú Bằng không giấu
được nỗi ngán sợ trước các cuộc tấn công của Mỹ ở tỉnh Tây Ninh vào
tháng 8 1967 trong Chiến dịch Junction City: ‘họ cứ tiến lên và tiến lên’.
Bộ đội anh thấy mình cạn kiệt lương thực, đồ dùng y tế, vũ khí, quân
nhu. Bằng tin rằng giờ phút cuối của mình đã đến khi đơn vị anh được
giao nhiệm vụ hậu quân trong một cánh rừng hừng hực lửa hỗ trợ cho sư
đoàn rút ra. Hết giờ này đến giờ khác họ sấp trên vũ khí của mình chờ
đợi chiến đấu và chết. Nhưng quân Mỹ cứ vượt qua mặt họ. Chầm chậm
gần như không tin được, Bằng và đồng đội nhận ra rằng mình còn sống
để chiến đấu vào một ngày khác – đứng ra nhiều ngày khác.
Năng lượng và tính dã man của cộng sản dường như không hề giảm sút
sau tất cả trận càn quét, tuần tra, không kích với mật danh thật mỹ
miều. Vào tháng 12 1967, đã chiếm được cộng đồng đồng bào Thượng
Đak Son ở Cao nguyên Trung phần, họ giết hơn 250 trong số 2,000 dân
trước khi đốt rụi làng. Và tại Sân Rồng, các tướng lĩnh Miền Bắc đang
lên kế hoạch cho những sự kiện to tát hơn.

CHƯƠNG 17: CHÀNG TRAI CHÚNG TA, CHÀNG TRAI
CỦA HỌ: CHIẾN TRANH VIỆT NAM

1 ‘Chỉ Biết Sống Cho Qua Ngày‘

Doug Ramsey, trước khi bị bắt thường lái xe dạo chơi với John Vann
trên một xe tải nhỏ mui trần vàng sáng, lỗ chỗ vết đạn, để được vui thích
ngắm nhìn vùng quê Việt Nam. Anh viết: ‘Khi chúng tôi chạy qua hết
cánh đồng này đến cánh đồng khác vàng rực lúa chín, chúng tôi ngắm
nhìn các hạt lúa no tròn chầm chậm, rồi nhanh chóng chuyển từ màu
vàng rơm đến vàng nghệ của buổi hoàng hôn đến màu đồng sáng bóng

của ánh tà dương. Chúng tôi tận hưởng không khí phần phật, tươi mát,
toàn cảnh thơm ngát và bắt mắt với mùi vị thôn dã nồng nàn như thể
mình là các cậu bé thành phố lên đường đi cắm trại lần đầu tiên. Thỉnh
thoảng, chúng tôi dừng lại dăm ba phút trong một ấp có nhà tranh hay
ngói đỏ, nơi đó dân chúng tụ tập chờ đêm đến như tổ tiên họ đã làm
hàng trăm năm nay – còn chúng tôi trong phút chốc cố quên đi những ký
ức chết chóc và những thi thể vô hồn và khám phá lại đâu là cuộc sống
bình dị và vẻ đẹp bình dị và chân lý trong con người bình dị.’ Ramsey
buồn bã nói thêm: ‘Tất nhiên, tôi biết tất cả những điều này rồi sẽ tan
biến khỏi khung cảnh một ngày nào đó – chắc hắn là khá sớm, và được
thay thế bằng tài sản của thế kỷ 18, nếu không phải thế kỷ 20. Tôi cũng
hiểu rằng dưới những hình ảnh bâng khuâng, đầy lãng mạn của mình là
những thực tế phũ phàng của một đời nhọc nhằn, lam lũ, nghèo khó triền
miên, mê tín lạc hậu, và đa số có tuổi thọ ngắn ngủi.’ Qua một thập niên,
cuộc chiến làm tăng gấp đôi số cư dân thành thị, đến 40 phần trăm vào
năm 1970.
Cuộc sống là điều mà bạn quen thuộc. Giới trẻ Việt Nam chấp nhận
xung đột như là môi trường tự nhiên của họ, cùng với ruộng lúa và rặng
dừa. Nguyễn Khiêm nói về những ngày còn đi học, ‘Chúng tôi học cách
chạy ẩn nấp khi nghe pháo kích, ngoài ra chả lo lắng gì nhiều.’ Nhưng
chiến tranh đã quyết định hướng đi của mọi cuộc đời trừ những kẻ có
đặc quyền nhất. Phan Tấn Ngưu ôm ấp giấc mơ làm việc trong ngành
dược vì có năng khiếu hoá học. Tuy nhiên, ở Miền Nam 1966 anh không
có lựa chọn nào khác trừ việc gia nhập một ngành lực lượng an ninh, và
vì thế trở thành một sĩ quan ngành Lực lượng Cảnh sát Đặc biệt. Mãi
mãi sau này anh luôn hối tiếc đã bỏ lỡ sự nghiệp đó: ‘Tôi đã rất thành
công trong công tác, nhưng nghề cảnh sát thường bị xã hội khinh
miệt …’
Nơi nào quân đội Mỹ kiểm soát, ở đấy dân địa phương kiếm được đô la,
nhưng bù lại phải trả giá: các tài xế quân xa của một đơn vị pháo binh
chạy đêm trên đường đi Qui Nhơn trước tiên cán chết một bé gái người
dân tộc 6 tuổi, rồi đụng một bà lão ở ngoại ô Kon Tum. Một tài xế lấy
làm vui khi nhấn kèn điếc tai sát phía sau một người đi xe đạp, khiến
người này giật mình, luống cuống thọc một bàn chân vào căm xe, gây

hậu quả đau lòng. Dân chúng nói, ‘Đó là cung cách xử sự của một số
người Mỹ.’
Các thủ đô của hai miền đối thủ khoác cùng một bộ mặt mục nát, Hà Nội
thê thảm hơn. Vào những năm cuối thập niên 1960 cuộc sống người
Miền Bắc càng thêm kham khổ vì thấm nhuần tinh thần Cách mạng Văn
Hoá của Mao Trạch Đông. Trẻ em vào các trường mẫu giáo nhà nước;
nông nghiệp tập thể bị cưỡng bách nghiêm ngặt; tư hữu càng ngày càng
bị phê phán. Các biện pháp như thế sẵn sàng được biện minh cho nhân
dân của Hồ Chí Minh là bởi sứ mạng đấu tranh thống nhất, và do tội ác
của đế quốc Mỹ. Liên Xô giờ công khai bị dán nhãn hiệu ‘bọn xét lại’.
Điều kiện của Sài Gòn phản ánh mối bận tâm với cuộc chiến thành ra
gần như không quan tâm đến việc gì khác, kể cả vệ sinh đường phố. Vào
những năm 1930 trường đua Phú Thọ của thủ đô từng duyên dáng không
kém Longchamps của Paris. Vào cuối những năm 1960, tuy nhiên, khán
đài sọc vàng-đỏ đã rệu rã; ruồi bu đầy các chuồng ngựa. Thỉnh thoảng
vào chủ nhật vẫn còn tổ chức các trận đua ngựa, các dô kề khoảng 36 kí
cưỡi các chú ngựa không ưa trời nóng không kém các bộ binh Mỹ,
nhưng cũng làm khuây khỏa những kẻ mê cá ngựa. Nhưng sẽ là hấp tấp
để đặt tiền cá cược vào phe nào cho dù phe đó được vị khán giả hào
nhoáng nhất hậu thuẫn. Xét trường hợp Trương Như Tảng, tổng giám
đốc Công ty Đường Việt Nam, thuê mướn 5,000 nhân viên. Ông sống
một cuộc sống xã hội thượng lưu, sở hữu một biệt thự sát bờ biển Vũng
Tàu, nghĩ hè ở Đà Lạt, chơi quần vợt và bài tứ sắc tại những gia đình
máu mặt nhất, vậy mà ông lại là cán bộ cao cấp bí mật của MTDTGP.
Ông sống sót sau khi bị tố giác vào năm 1965, và may mắn được phóng
thích sau 6 tháng bị giam để trở về giữ chức vụ cũ tại Công ty. Tuy
nhiên, hai năm sau, ông bị Ba Trà phản bội. Y là một cán bộ về chiêu
hồi với chính quyền Sài Gòn và sau này bị VC ám sát.
Tảng vẽ nên một bức tranh sống động về nhà tù Sài Gòn nơi ông bị giam
giữ: ‘Cảnh tượng phơi bày khiến tôi hãi hùng và khiếp đảm đến nỗi mất
cả hồn vía. Nằm sóng soài trên sàn hành lang là những con người bị
xiềng xích ở mắt cá dính chùm với nhau. Nhiều người mặt mày đầy máu
và xưng vù; đây đó chân tay thò ra quặt quẹo. Một số oằn oại vì đau
đớn. Số khác chỉ nằm yên, nhìn chung quanh với ánh mắt vô hồn. Từ
đống ngổn ngang của thân người phát ra tiếng rên rỉ và kêu khóc. Không

khí tràn ngập tiếng kêu gào day dứt, nặng nề. Tim tôi đập liên hồi. Một
bên hành lang là hàng dài các cửa ra vào hiển nhiên là dẫn đến các
phòng hỏi cung. Từ trong các phòng này vẳng ra tiếng chửi thề và tiếng
thét thất thanh vì đau đớn.’ Tảng, một người có đặc quyền trong mắt của
cả hai phe, có nhiều tiền bạc, nên thoát tội nhẹ nhàng. Vợ ông phải hối
lộ chánh thẩm vấn viên 6,000$ để khỏi bị nhục hình. Sau đó bà trả
5,000$ cho chủ tịch phiên tòa xét xử vụ án của ông – một người mà sau
này trở thành trưởng cố vấn an ninh của Thiệu – để được một bản án chỉ
hai năm tù. Ra tù Tảng thoát ly đến với các đồng chí MTDTGP trong
bưng.
Trong đời sống Miền Nam, mối ràng buộc gia đình quan trọng không
kém ý thức hệ. Sĩ quan CIA phục vụ lâu năm ở Sài Gòn Frank Snepp
yêu quý và khâm phục con người Việt Nam, nhưng phủ nhận quan điểm
lý tưởng hóa của
Frances Fitzgerald: ‘Cô ta không viết về Việt Nam mà tôi đang đối
phó. Tôi không thấy họ hừng hực tinh thần chống thực dân. Họ dường
như cực kì thực tiễn: Miền Nam là một chuỗi những thích nghi vô tận.’
Trùm tâm lý chiến của Thiệu cho trú ẩn trong nhà mình một cô em vợ
cầm đầu một chi bộ cộng sản ở Huế. Tham mưu trưởng quân đội bảo vệ
cho hai đứa cháu vợ có cha là một cán bộ cộng sản cao cấp. Con gái của
Tảng là bạn thân của con gái Tuấn Anh của Thiệu: tổng thống vẫn tiếp
tục tiếp đón cô gái đến nhà chơi cho dù sau khi Tảng bị bại lộ là một tên
phản bội, và – khá khen thay cho Thiệu – cuối cùng ông bảo trợ cho
Loan đi học khoa học máy tính tại Pennsylvania.
Trong khi đất nước còn giữ được những vẻ đẹp tự nhiên không đâu sánh
kịp, nhưng phần nhiều đã bị ô nhiễm bởi chiến tranh, bằng chứng là có
đến 77 viện mồ côi và 200,000 trẻ phạm pháp. Một số trại chủ, buồn rầu
nhìn các ruộng lúa mình bị giẫm nát bởi các quân xa qua lại, đành bỏ
ruộng vườn trôi giạt về thành phố sinh nhai. Một màn bụi hoá học lơ
lửng trên bầu trời Sài Gòn và vùng ngoại ô quân sự lân cận như Long
Bình và Tân Sơn Nhất. Gần như mọi đường phố đều lún sụt và đầy ổ gà
vì thiếu chăm sóc, khí hậu khắc nghiệt và dòng xe cộ đông đúc, nhất là
xe máy Honda từ 1967 trở đi tràn về như cơn sóng thần. Hàng đống xi
măng và rác rến có mặt khắp nơi như các vòng cua an ninh, hàng rào
kẽm gai và khói đen của dầu diesel do xe tải thải ra.

Các xóm ổ chuột mọc lên hỗn loạn dọc Sông Sài Gòn và mạng lưới các
kênh rạch. Khắp nơi các thợ thủ công đục, đóng, cưa tại các xưởng thợ
ngoài trời, trong khi đường phố thủ đô san sát các cửa hàng bày bán đủ
mọi thứ hàng hóa thượng vàng hạ cám: đồ dùng nhà bếp, quạt điện, máy
điều hòa, xe đạp, xe máy, quần áo, sách vở, máy ảnh, quân phục bắt
chước cho trẻ em, nước mắm, rau củ quả, trái cây … Đâu đâu cũng có
gái: vô số các cô thật xinh đẹp, chưng diện và cung cách đủ các mức độ
từ đon đả sỗ sàng đến thùy mị kín đáo. Sài Gòn cũng còn có những ốc
đảo lãng mạn, nhưng sự bẩn thỉu thì lấn át. Đó là vấn đề của khẩu vị
thuộc ý thức hệ, liệu sự ảm đạm xã hội chủ nghĩa đồng nhất có được Hà
Nội ưa chuộng hơn hay không. Chiến tranh đang nổ ra ở vùng quê. Dân
làng thường nói với các chiến binh VC: ‘Các anh thì dễ rồi. Các anh chỉ
có súng và ba lô. Các anh có thể đi và sống tại bất cứ nơi đâu. Nhưng
tụi tôi còn có vợ con, ruộng vườn, và tụi tôi không thể mang những thứ
ấy đi theo. Dắt trâu đi theo không phải chuyện chơi. Vì vậy tụi tôi phải ở
lại thôi.’ Nhiều người chấp nhận sống theo phương châm an bày Chỉ biết
sống cho qua ngày. Một yếu tố quan trọng trong các thành công của
người cộng sản là họ hoạt động bằng cơm gạo của xã hội nông thôn một
cách hiệu quả hơn chế độ Sài Gòn. Họ tung tin đồn là các chương trình
tiêm chủng thực ra là sự trừng phạt cho hành động ủng hộ VC, và sẽ
khiến cho trẻ em vô sinh.
Một sáng kiến của người Mỹ nhằm cải thiện khẩu phần binh sĩ bằng
cách thay thế nước mắm, một nước chấm mà mọi người Việt Nam yêu
thích, bằng nước tương nhập cảng từ Hàn quốc, mà họ rất ghét. ‘Gạo
thần kỳ’ làm tăng vọt thu hoạch, trước nỗi vui mừng ban đầu của nông
dân: chẳng bao lâu hơn nửa sản lượng gạo của Miền Nam xuất xứ từ các
dòng gạo cách mạng này, được gọi đùa là ‘giống gạo Honda’ vì các lợi
nhuận người trồng lúa kiếm được dùng để sắm xe máy Honda. Rủi thay,
các giống gạo ‘thần kỳ’ cũng đòi hỏi phải được ăn phân hoá học và
thuốc trừ sâu rất nhiều: sau này khi viện trợ Mỹ bị cắt giảm trong khi giá
xăng dầu và phân hoá học tăng vọt, các nhà sản xuất gạo Miền Nam
khốn đốn.
Ít có dân quê nào trông chờ ở chính quyền như một lực lượng tốt đẹp,
mà chỉ xem nó là một thực thể xa xôi chỉ biết đánh thuế và bắt con trai
họ vào lính. Người cộng sản cũng làm như thế, nhưng khéo léo hơn khi

bày tỏ hành động đóng góp của dân chúng là nghĩa cử cao đẹp đối với
cách mạng. Trong khi binh lính QĐVNCH ngang ngược ngắt hái trái
cây và bắt gà vịt của nông dân, một tù binh Mỹ lấy làm lạ trước việc VC
tôn trọng sản vật ăn được của người khác: ‘Đường chúng tôi đi qua một
vườn cây ăn trái. Nhưng vì vùng này thuộc quyền cai quản của một đơn
vị bạn, nên không người lính canh giữ nào xiêu lòng ngắt vài bắp cải cải
thiện bữa ăn, cho dù phần đông họ không được ăn rau quả tươi hơn một
năm trời.’ Bác sĩ Úc Norman Wyndham viết tại Vũng Tàu: ‘Giới nông
dân không muốn gì khác hơn là hòa bình. Họ không có gì để mất, cho
nên họ không sợ bất kì chính quyền mới nào lấy đi bất kì thứ gì của họ.’
Creighton Abrams mô tả các quận trưởng của Sài Gòn đều là ‘bọn bất tài
thành ra ám sát họ là hành động phản tác dụng’. Hầu như các cư dân
nông thôn Miền Nam nghĩ tốt về chính quyền của mình là một thiểu số
đã từng trải nghiệm cuộc sống ở Miền Bắc, trong đó có một trưởng làng
già tên Ngô Đình Hộ. Năm 1967 ông kể cho một nhà báo Anh thời trẻ
sống dưới sự cai trị cộng sản 10 năm ‘địa ngục trần gian’. Nhiều người
láng giềng của ông trên đảo Phú Quốc, ngoài khơi vùng châu thổ Cửu
Long, cũng là các ngư phủ ra đi khỏi nhà nước cộng sản. ‘Vùng đất đỏ
này rất phì nhiêu,’ Họ nói. ‘Giá mà chúng ta có thể loại bỏ bọn VC thì ở
đây quả là thiên đường – đúng như là nằm mơ gặp được phụ nữ … Tôi
rất biết ơn sự giúp đỡ của người Mỹ.’ Nếu có nhiều người Việt Nam hơn
chia sẻ cùng trải nghiệm với họ, thì cuộc chiến có thể sẽ có kết quả khác.

2 Các Chiến Binh
1967 là một năm cam go đối với các lực lượng cộng sản ở Miền
Nam. Một bộ đội của Sư đoàn ‘Sao Vàng’ 3 mô tả các đơn vị của anh
đã khổ sở vì các tổn thất to lớn như thế nào: ‘Bước vào trận đánh mạnh
mẽ, khí thế, nhưng khi trở về toàn bộ một đại đội có khi chỉ còn 4 đến 7
người ngồi ăn chung một mâm cơm.’ Sau khi bị một cú tơi bời dưới tay
của Không Kỵ 1, ‘bộ đội chúng ta không tránh khỏi sợ hãi và hoang
mang ‘. Cũng người bộ đội ấy xác nhận rằng sau một trận đánh vào mùa
xuân 1967, tiểu đoàn của anh – ‘bị đánh tan tác’ – từ 240 người chỉ còn
38. Nhưng họ vẫn buộc phải tiếp tục chiến đấu. Sự hiện diện của binh
lính Mỹ tăng lên một cách ấn tượng tạo thêm áp lực cho VC ở đồng
bằng Cửu Long, nơi mà phần đông địa hình ít thích hợp cho hoạt động

du kích hơn vùng rừng núi phía bắc: không địa đạo nào có thể đào được.
Các nỗ lực của MTDTGP nhằm duy trì sự thống trị của họ, một phần
qua việc ám sát trở lại các thành phần cảm tình viên của chính quyền,
đôi khi có mùi vị của tình trạng tuyệt vọng. Các vụ tuần tra duyên hải và
ven sông của lực lượng hải quân gần như cắt đứt đường tiếp tế trên biển
từ Miền Bắc vào của người cộng sản, vốn từ năm 1963 đã đóng một vai
trò huyết mạch trong chiến dịch. Từ đây trở đi các tỉnh phía bắc và Cao
nguyên Trung phần, nơi dễ xâm nhập bằng Đường Mòn Hồ Chí
Minh, sẽ tạo thuận lợi cho các trận đánh lớn mà người Cộng sản ưng ý.
Rừng rậm hoang dã của xứ sở quá rộng lớn, cho nên dù Mỹ có trình độ
tinh vi của công nghệ giám sát, địch vẫn có thể duy trì các căn cứ doanh
trại vĩnh viễn.
Andy Finlayson mô tả một láng trại như thế mà đội tuần tra dài ngày
của anh bắt gặp gần biên giới Lào, được che giấu bởi các vạt rừng vòm
cây cao đến 30 mét phủ kín, bao bọc bởi hàng rào tre, hầm chông, và
boongke: ‘Tại mỗi góc làng được củng cố là một tháp canh dựng trên
các cột cao hơn 3.mét. Tôi đếm có đến 8 nhà tranh, mỗi nhà rộng chứa
đủ một tiểu đội địch
Có chuồng lớn nuôi heo, có nhà bếp, một sân khấu ngoài trời có bục cao
và lợp mái, và một tòa nhà hai tầng bằng gỗ xẻ, tre và lợp tranh với một
hàng hiên. Kích cỡ và nét công phu tinh tế của nó khiến chúng tôi đứng

hình.’

Trong những nơi như thế, theo chu kỳ bị giải đi giữa những năm 1966 và
1973, Doug Ramsey và một nhóm tù binh Mỹ khác lợi dụng cơ hội để
nghiên cứu các chiến binh cộng sản. Ramsey viết: ‘Thành phần tốt nhất
của VC và Quân đội Miền Bắc … chịu đựng các khiếm khuyết của tính
hồ hởi tuổi trẻ, tính xấc xược của các Tín đồ Đích thực, và sự dốt nát
hoàn toàn về phương Tây.’ Anh nhận ra cùng một tính hỗn tạp như trong
bất cứ quy tụ nhân loại nào. ‘Có người thực sự tốt đẹp và loại người phê
tính ác-thống dâm; có những mọt sách khẳng khiu và loại người luôn
giành trọn sân khấu; có người to mồm và người rụt rè; có người tao nhã
thành thị và kẻ quê mùa; có bọn hóm hỉnh trí thức và người thông minh
thực sự quan tâm đến việc theo đuổi chân lý. … Tôi cảm thấy yên tâm
khi bị giam giữ trong tay VC hơn là trong tay một nhóm thù địch Mỹ

thuộc phái cực tả nào đó. Có đủ bằng chứng để kết luận chúng ta là một
dân tộc bạo lực hơn người Việt.’
Những người bắt giữ anh tốt tuyệt vời với trẻ em, dã man không tả xiết
với thú vật: các khách Tây phương đến thăm sở thú Sài Gòn lưu ý sự
khoái trá của khán giả khi xem rắn ăn thịt các chú vịt con còn
sống. Như nhiều người Mỹ, Ramsey nhận xét có sự khác biệt giữa
người Miền Bắc rất mê học thuyết chính trị mà họ đã tập quen từ nhỏ, và
sự lãnh đạm của người Miền Nam, vốn chỉ toàn tâm đánh đuổi ngoại
bang và một cuộc sống tốt đẹp hơn cho giới nông dân. Thẩm vấn viên tù
binh Bob Destatte đồng ý rằng ý thức hệ phần nhiều phụ thuộc vào lòng
hận thù bị ngoại bang áp bức: ‘Thậm chí nhiều đảng viên gia nhập Đảng
chỉ vì đó là việc thực tiễn phải làm.’ Phần đông du kích quân mà Doug
Ramsey gặp có tuổi trong khoảng 25 và 40, nhưng có kinh nghiệm chiến
đấu hơn nhiều binh sĩ Mỹ đồng trang lứa. Họ nhún vai như muốn phó
mặc cho số mệnh, ‘Thôi kệ mẹ nó. Nói đến khô nước miếng thì cũng
phải tiếp tục đánh thôi.’ Nhiều người khát khao một trận quyết đấu nào
đó – một trận xả láng, dù có nguy hiểm thế nào – điều này giải thích vì
sao họ hồ hởi tham gia cuộc tổng công kích Tết.
Ta có thể nhìn thấu suốt tận tâm trí của một người cách mạng nhiệt
thành qua nhật ký của một bác sĩ trẻ ở vùng núi Quảng Ngãi. Không
giống các tự thuật của những người cộng sản khác, tư liệu này không bị
kiểm duyệt tại thời điểm đó cũng không được tô chuốt lại về sau này.
Đặng Thùy Trâm là con gái 24 tuổi của một bác sĩ giải phẫu tiếng tăm
Hà Nội. Năm 1967, là một bác sĩ, cô lên đường vào chiến trường Miền
Nam trên một hành trình dài 10 tuần xuống Đường Mòn để công tác tại
một bệnh viện dã chiến của Việt Cộng. Nhiệt tình cháy bỏng của đời cô
là tình yêu đơn phương dành cho người sĩ quan bộ đội mà cô quen biết
từ thời tuổi teen, và mối căm thù đối với ‘bọn cướp’ Mỹ. Cô viết về nỗi
khát khao được kết nạp vào Đảng, và sự buồn phiền khi cô cho rằng
chính lai lịch ‘trí thức’ đã ngăn cản trở tham vọng này: ‘Tại sao họ lại
chất đầy chông gai lên con đường của người tiểu tư sản?’ Cô than vãn.
‘Cho dù bạn có thi thố bao nhiêu nỗ lực bằng những thành tích của
mình … bạn vẫn còn ở dưới lớp người thuộc tầng lớp lao động chỉ mới
bắt đầu hiểu các lý tưởng của Đảng.’ Cô sung sướng ngây ngất khi cuối
cùng cũng được đeo huy hiệu đảng viên mà cô hằng ao ước.

Trâm thường khóc trước cái chết của các chiến binh VC mà cô chăm
sóc: ‘Hôm nay một đồng chí nằm xuống, ngày mai một đồng chí khác.
Những nỗi đau thương thế này bao giờ mới chấm dứt? Từng đống xương
thịt cứ chồng chất cao lên mãi thành một ngọn núi căm thù trong trái tim
chúng ta … Khi nào ta có thể đánh đuổi hoàn toàn bọn khát máu ra khỏi
đất mẹ chúng ta? … Nếu một ngày nào đó chúng ta thấy mình sống giữa
rừng hoa thơm ngát của chủ nghĩa xã hội, chúng ta sẽ nhớ lại cảnh này
mãi mãi, nhớ lại sự hy sinh của những người đã ngã xuống cho chính
nghĩa chung.’ Nếu các đoạn văn nghe như có vẻ nhại lại các sáo ngữ rặc
mùi tuyên truyền, nhưng ở hoàn cảnh của cô, cô viết với một tâm hồn
chân thật chứa chan tình cảm. Khi một đồng chí tỏ tình với cô, cô cứng
rắn trả lời: ‘Trái tim tôi đã xua đuổi mọi ước mơ riêng tư để toàn tâm
cho nhiệm vụ … Có gì khiến ta tự hào hơn là một thành viên trong gia
đình những con người cách mạng này?’
Một trong số các đồng chí trẻ của cô tên Lực khá đa cảm trước vẻ đẹp
của thiên nhiên đến nỗi anh thích nghêu ngao hát:

Ôi sông núi ta, tươi đẹp vô ngần,
Đồi trăng soi sáng, mây bay dưới chân

Nhưng Lực cũng đeo khăn quàng đỏ ghi dòng chữ ‘Quyết Tử cho Tổ
Quốc Quyết Sinh’ , và vẫn còn mang nó khi anh hy sinh trong trận tấn
công trung tâm quận Đức Phổ.
Hào khí của những người cách mạng như Lực và Trâm gây ấn tượng cho
một số người Mỹ. Jack Langguth, một phóng viên chiến tranh của tờ
New York Times, viết trong một cuốn sách ra sau đó: ‘Các lãnh đạo
Miền Bắc … xứng đáng chiến thắng. Các lãnh đạo Miền Nam đáng bị
thua trận.’ Quan điểm này, vốn được rộng rãi thông tín viên nhìn nhận,
chi phối bởi vì ngày nào họ cũng chạm mặt với các thói tàn bạo và hành
động cẩu thả của chế độ Sài Gòn và người Mỹ giám hộ, trong khi những
việc như thế của người cộng sản xảy ra ngoài tầm mắt. Các công dân của
các nền dân chủ tự do hiện đại, nhiều người trong số họ sử dụng đặc
quyền tự do của mình để quan tâm đến số phận của đội bóng ruột của
mình nhiều hơn cho chính trị, thường ấn tượng trước các Tín đồ Đích
thực ở các nền văn hoá khác. Nhưng các phong trào kém nhân đạo nhất

trong lịch sử cũng đã từng lôi kéo và cũng làm hư hỏng các cậu trai và
cô gái đã hy sinh tất cả nhân danh chúng. Không lấy gì làm ngạc nhiên
khi người nước ngoài ở Miền Nam đối chiếu một cách thuận lợi giữa
tinh thần xả thân của người cộng sản với sự hủ bại và trì trệ của chế độ
Sài Gòn. Nhưng đây chỉ là phân nửa của câu chuyện.
Thành công của Hà Nội trong cuộc tranh đua tuyên truyền trên phạm vi
toàn cầu một phần bắt rễ trong chính sách omertà, luật im lặng giống
như của tổ chức Mafia. Sự áp bức chính nhân dân họ và sự thất bại trong
chính sách kinh tế bị lược bỏ bởi kiểm duyệt. Không hình ảnh về tội ác
chiến tranh nào được phép tồn tại. Chỉ các cảm tình viên nước ngoài mới
được cho phép nhìn thoáng qua các cảnh tượng họ ấn định. Tác giả Pháp
Jean Lacouture, một người biện hộ nổi tiếng cho Hồ Chí Minh, bảo với
tờ báo Milan trong một cuộc phỏng vấn khá lâu sau này: ‘Đối với Việt
Nam, thái độ của tôi đôi khi là của một chiến sĩ hơn là một nhà báo. Tôi
che giấu một vài khía cạnh của Miền Bắc trong cuộc chiến … vì tôi tin
rằng chính nghĩa … là đủ tốt đẹp và công chính để tôi không nên vạch ra
các lỗi lầm của họ. Tôi không tin sẽ thuận lợi để bóc trần bản chất
Stalinit của chế độ Miền Bắc.’
Chính sách tuyên truyền buộc phải loại ra khỏi đài phát thanh và báo chí
mọi làn sóng không phù hợp với cuộc đấu tranh dân tộc. Do đó, xướng
ngôn viên ‘Hanoi Hannah’ (chương trình tuyên truyền tiếng Anh của đài
Hà Nội dành cho binh sĩ Mỹ) không đề cập đến chiến tranh Trung Đông
1967, cũng không việc Nga xâm lăng Tiệp Khắc năm 1968 hoặc việc
người Mỹ đổ bộ lên mặt trăng 1969. Tù binh Doug Ramsey không ưa
Đài Hà Nội cứ ra rả những bài hát chiến tranh, ‘thật đáng sợ trong thói
yêu chuộng bạo lực, quan điểm hẹp hòi, hô hào chói tai, chỉ hay đi tìm
các nhân vật anh hùng và những tên côn đồ ở Washington và cả Miền
Nam’. Ông bực bội vì phải nghe hoài hành khúc của MTDTGP:

Giải phóng Miền Nam
Chúng ta thề quyết tiến bước
Diệt Đế quốc Mỹ, quét tan bè lũ bán nước

Nhưng cuốn tiểu thuyết hồi ký của Bảo Ninh Nỗi Buồn Chiến
Tranh giúp xua tan ý niệm là bộ đội cộng sản là những con người máy

đã bị tẩy não. Ninh – tên thật là Hoàng Âu Phương – sinh năm 1952, và
trải qua 4 năm làm bộ đội chiến đấu ở Miền Nam. Tự thuật đau lòng của
ông cho thấy con người ở cả hai bên chiến tuyến đều bị dằn xé bởi cùng
những cảm xúc: tình đồng đội, khao khát được sống, đau buồn vì bạn bè
lần lượt ra đi, nỗi ám ảnh vì bỏ lại người yêu ở hậu phương. Trong một
đoạn văn vai chính Kiên, cũng là cái tôi khác của tác giả, một sĩ quan
trẻ, cự tuyệt một cách dằn vặt khi một đồng chí trẻ muốn kết thân với
mình: ‘Anh ghét bất cứ thứ gì riêng tư … Thật chết tiệt, nếu có ai trong
trung đoàn đến bên anh để thổ lộ những khó khăn cá nhân sau những
trận đánh kinh hoàng đó, anh chỉ muốn ném mình qua một con thác.’
Kiên hết lòng cho cuộc đấu tranh của Miền Bắc, nhưng bĩu môi châm
biếm trước thực tế là gánh nặng chủ yếu của đạn lửa chỉ do các thành
niên nông thôn chung vai mà lại không được phép có tiếng nói trong các
quyết định về cuộc sống và cái chết của mình. Chính anh, một thanh
niên học rộng, có đặc quyền tiêu chuẩn trong xã hội, yêu quý ‘những
chiến binh của đồng ruộng giản dị, thân tình đó, mà những phẩm chất
phi thường của họ đã tạo nên sức chiến đấu gần như vô địch.’ Các bộ
binh Mỹ chơi cần sa có bạn đồng hành ở phía bên kia: Kiên và binh sĩ
mình hút thử nghiệm bông và rễ cây hồng dại, đến mùa mưa thì nở hoa
trắng, ‘hương thơm tràn ngập không khí, nhất là về đêm … sản sinh
những giấc mơ gợi tình đầy ám ảnh. Khi chúng tôi thức giấc hương
thơm đã bốc hơi, nhưng chúng tôi vẫn còn vương vấn một cảm xúc
nồng nàn âm ỉ, vừa đau đớn vừa ngất ngây.’
Khi họ hút hoa và rễ xé nhỏ trộn với thuốc lá, ‘chỉ sau một vài hơi rít họ
cảm thấy mình bay bổng, trôi nổi lặng lẽ như một làn khói lãng đãng
trong gió. .. Họ có thể quyết định mình thích mơ điều gì, hoặc thậm chí
trộn lẫn các giấc mơ, như chuẩn bị một món cốc tai. Với hoa hồng dại
người ta hút để quên đi địa ngục thường nhật của đời lính, đói rét và đau
đớn. Cũng để quên đi cái chết. Và hoàn toàn, không gì ngoài hoàn toàn,
quên đi ngày mai.’ Tiểu thuyết của Ninh chế giễu cái vòng lẩn quẩn của
sự truyền thụ: ‘Chính trị mải miết. Chính trị buổi sáng, chính trị buổi
chiều, lại chính trị buổi tối. “Chúng ta nhất định thắng, địch nhất định
thua. Miền Bắc được mùa bội thu. Nhân dân sẽ đứng lên và chào đón
các bạn. Ai không làm thế là người thiếu ý thức. “‘

Người Mỹ có thể mặc nhiên nhận khẩu phần lương thực mỗi ngày,
nhưng kẻ địch của họ thì không. Sĩ quan Miền Bắc nhắc nhở với nhau
rằng ‘Gạo là thống soái của quân đội chúng ta.’ Một người trong họ,
Phạm Phú Bằng, mô tả các cuộc đối thoại đầy ám ảnh về lương thực với
bạn thân của mình Thanh Giang. Hết tháng này qua tháng khác và cuối
cùng hết năm này qua năm khác, họ cũng chia sẻ các chuyện khôi hài –
‘vâng, chuyện khôi hài’ – và tất nhiên cả các chuyện tình quá khứ của
mỗi người. Khi cuối cùng Bằng bị thương nặng trong cuộc không kích
gần Tây Ninh, chính Giang là người đã dìu anh ra khỏi trận địa, cắt bỏ
quần áo ướt đẫm máu, và mặc cho anh một bộ y phục từ ba lô của mình.
Băng chỉ sau này mới biết rằng bộ quần áo này bạn mình cất giữ tinh
khôi, dự định dành mặc trong ngày cưới. Thanh Giang sau này trở thành
một nhà văn thành công, được tặng danh hiệu ‘Ernest Hemingway của
Việt Nam ‘.
Đại tá Nguyễn An là một người mê say săn bắn, thường bắn nai khi có
dịp, và đôi khi bắt gặp các con thú to lớn hơn. ‘Có lần khi chúng tôi di
chuyển,’ Ông viết, ‘phía trước hàng quân thình lình truyền tin xuống:
“Chúng ta có thịt voi ăn rồi. Nhanh chân lên!”‘ Mọi người bước nhanh
chân. Khi An và nhóm mình đến nơi con voi bị làm thịt, họ phát hiện
binh sĩ đã dùng một lượng thuốc nổ nhỏ để làm vỡ tung cái mông voi ra,
vì dao không thể nào cắt qua lớp da dày cứng của nó. ‘Một người bò ra
khỏi bụng voi mang ra từng mảng thịt lớn, binh sĩ xô đẩy đua nhau xẻ
thịt từ bộ xương sườn của nó, người khác thì cố sức lóc thịt từ mông
voi. Những phần ngon nhất – vòi voi và bốn bàn chân – đã được lấy đi.
Chỉ sau một ít giờ, tất cả còn lại chỉ là da và xương.’ Địa điểm hạnh
phúc này lưu lại trong ký ức của họ, được ghi chú trên bản đồ Quân đội
Miền Bắc như là ‘Cánh đồng Voi ‘.
Nhưng người Miền Bắc dù thiếu ăn cũng không hẳn ăn mọi thứ: Người
kể chuyện Kiên của Bảo Ninh kể bằng cách nào đồng đội của anh Thịnh
‘Cồ’ một hôm bắn được một con đười ươi, và kêu gọi tiểu đội hè nhau
kéo về lều một cách đắc thắng: ‘Nhưng, ôi trời, khi lột da con vật trông
như một phụ nữ béo phì có lớp da bị ung loét, cặp mắt, nửa trắng dã,
nửa xám ngoẹt, vẫn còn trợn lên. Toàn tiểu đội kinh hoảng, la hét và bỏ
chạy, để lại cả dụng cụ phía sau.’ Thay vì ăn thịt con vật, cuối cùng họ
phải chôn nó bên dưới một mộ bia.

Cái đói cũng không phả là điều tệ hại nhất của bộ đội Miền Bắc. Các tai
họa tự nhiên như rắn, rết và các sinh vật độc hại khác không phải chỉ
hành hạ người nước ngoài như người Mỹ đôi khi tưởng thế. Về phần
thời tiết, thật là ngạc nhiên khi các chiến binh ở cả hai bên còn có thể
nghỉ ngơi giữa rừng trong mùa mưa, khi quần áo luôn sũng nước, thác
nước tung tóe vào mặt mũi. ‘Nhưng,’ theo lời Bằng, ‘khi bạn đã lội bộ
18 dặm ngày hôm đó, và ắt hẳn ngày trước đã hơn 18 dặm rồi, bạn rơi
vào giấc ngủ ngay khi dừng chân, dù mưa hay không mưa.’
Họ làm mồi cho bệnh tật mà các bác sĩ quân y của họ ít có biện pháp
chữa trị. Một ngày năm 1967 một binh nhì Miền Bắc đầu hàng quân đội
Sài Gòn. Y bị sốt rét ác tính, và đã được điều trị tại một căn cứ ở Cao
Miên bởi một bác sĩ may mắn lại là bà con. Ông này bảo với y nên ‘ra
chiêu hồi’ nếu y muốn còn sống.’: tiếp tục cuộc sống trong rừng sẽ giết
chết y. Y được nhận vào một bệnh viện dã chiến của Quân đội Mỹ, cần
phải được truyền máu số lượng lớn: số máu này được 20 người Mỹ độ
lượng tài trợ bằng tiền túi của mình. Khi sức khoẻ được phục hồi y tham
gia một đại đội tuyên truyền có vũ trang của chính quyền, reo lên với
một người bạn, ‘Thiệu, Kỳ và đế quốc Mỹ muôn năm!’ Y nói rằng người
cộng sản duy nhất mà y còn coi trọng là vị quân y đã khuyên y ra chiêu
hồi.
Bệnh tật mãn tính – sốt rét và các bệnh sinh ra do thiếu vitamin – giáng
xuống thậm chí các cán bộ cao cấp tại Trung ương Cục Miền
Nam. Trương Như Tảng trải hai tháng mỗi năm trong thời gian 6 năm
trong lán trại trong rừng nằm dán lưng, chiến đấu với cơn sốt rét hành
hạ: ‘Hầu hết các cư dân ở rừng đều có chung dấu hiệu là nước da mét
chằn bệnh hoạn của chứng vàng da.’ Bộ trưởng y tế Hà Nội đi vào nam
để khám phá cách thức chống bệnh sốt rét, nhưng chính ông lại chết vì
bệnh sốt rét. Một số đông VC và bộ đội chịu sự hành hạ của bệnh trĩ.
Nếu bộ binh Mỹ cảm thấy ở quá xa tổ ấm, thì bộ đội Miền Bắc chịu
đựng cảnh ngộ xa cách gần như tuyệt đối: họ thực sự không biết chuyện
gì đang xảy ra trên thế giới vượt quá trải nghiệm trực tiếp của mình.
Băng qua Đường Mòn không hề ít hiểm nguy hơn, cho dù giờ đây có
nhiều đoạn xe chạy được. Đại tá An, được triệu tập về Hà Nội, cho ta
một minh họa: ‘Mỗi đêm hàng trăm xe tải và xe cộ xếp một hàng
dài. Có lần, khi đang lái, toàn bộ dòng xe thình lình ngừng lại và tắt hết

đèn. Máy bay địch gầm thét trên đầu, và chúng tôi có thể nhìn thấy
những chớp lóe sáng trên bầu trời ở xa phía trước. Chúng tôi ngồi đợi
hàng giờ liền. Tôi lo lắng nhìn đồng hồ tay và thấy đã 4 giờ sáng – bình
minh sắp đến rồi. Tôi đi về phía đầu hàng xe để xem có gì xảy ra. Đêm
yên tĩnh một cách kì lạ. Dường như không có sinh vật nào còn sống
trong khu vực và âm thanh duy nhất tôi nghe thấy là tiếng côn trùng
đêm. Tôi đập cửa vài thùng xe tải và hỏi lớn, ‘Có ai ở đó không?’ nhưng
không có ai trả lời. Tôi lắng nghe chăm chú một lúc và nghe được tiếng
ngái. Xe tôi lùi lại và lái tới vượt qua đầu đoàn xe.’ Chỉ một lát sau An
bị thương nặng khi một cây cầu đổ xuống dưới bánh xe ôtô ông. Thành
ra ông cuối cùng đến Hà Nội mình mẩy đều bị băng bó. Một đại tá đồng
đội nói đùa, ‘Cuối cùng sau bao năm ở Cao nguyên Trung phần, ông
cũng có cơ hội về nhà với vợ. Nhưng cặp môi xưng vù thế kia làm sao
hôn được bà xã đây? Phải tính sao bây giờ?
Cứ sau một khoảng thời gian quy định quân bưu lại khởi hành xuống
Đường Mòn mang theo khoảng 60 cân thư từ. Đó là một điều kì diệu
nho nhỏ khi số thư thoát khỏi bom đạn và thời tiết để đến tay bộ đội.
‘Rất thường nước mưa khiến những lá thư nhoà mực đi không đọc
được,’ một người lính nói, nhưng dù sao chúng cũng được vô cùng trân
trọng. ‘Nếu may mắn, chúng tôi có thể nhận thư hai lần mỗi năm. Khi
một lá thư đến tay người nhận, nó không hề thuộc sở hữu riêng của y:
toàn tiểu đội quây quần nghe y đọc lớn lên cho mọi người cùng nghe.’
Các chiến dịch của Mỹ và Miền Nam buộc các đơn vị bộ đội Miền Bắc
và VC phải chuyển quân thường xuyên, và vội vã. Bác sĩ trẻ Đặng Thùy
Trâm mô tả nỗi buồn khổ của mình khi buộc phải rời bỏ vùng núi bình
yên. Thật là lãng mạn, cô đã đâm yêu cái bệnh xá nhỏ nguyên sơ: ‘Có lẽ
không có gì buồn hơn một cảnh tượng di tản – nhà cửa bị bỏ hoang, đồ
đạc bị cướp sạch, sự sống bị tước đoạt. Chiều đó khi tôi từ rừng trở về
trạm xá quân thù đang ở cách đó không xa – tôi ngắm nhìn các ngôi nhà
xinh xắn, và trái tim ngập tràn căm thù … Biết bao mồ hôi đã đổ xuống
trên từng viên đá đặt xuống, từng mái tranh lợp nhà. Nếu phải rời bỏ nơi
này, khi nào mới có thể tìm được các tiện nghi như thế một lần nữa?’
Sáng sớm hôm sau một hàng dài các chiến binh, người khuân vác và
nhân viên y tế lên đường, mang theo thương bệnh binh trên cán, cùng
với càng nhiều công cụ y tế càng tốt: Chúng tôi lê bước lên đồi, mồ hôi

tuôn đầy xuống mặt, không dám dừng lại nghỉ ngơi. Chúng tôi quá kiệt
sức đến nỗi tôi phải đùa ghẹo với vài anh chàng để nhờ họ trở lại và
mang ra ba chiếc cán cuối cùng. Kiêm, người thương binh gãy
chân, nằm trên chiếc cáng cuối cùng … Tôi gọi một sinh viên, Lý –
một cô gái nhỏ nhắn – giúp tôi mang anh đi. Nhưng anh nặng quá – quá
sức cho hai đứa chúng tôi mang đi. Chúng tôi chỉ có thể kéo anh đi một
đoạn ngắn.’ Cô tìm được hai du kích quân mang Kiêm đến một nơi che
giấu. Hôm sau, cô quay lại nhìn bên kia ngọn núi và khóc nức nở khi
trông thấy những cột khói cuồn cuộn bốc lên từ đống tro tàn của bệnh

xá.

Trong suốt cuộc chiến, chế độ Mỹ và Sài Gòn dồn hết nỗ lực to lớn
nhưng vô ích nhằm phá hủy cơ quan đầu não của MTDTGP, thường tọa
lạc trong các một số cụm lều ngay sát biên giới Cao Miên. Sau khi
Trương Như Tảng được phóng thích ra khỏi tù ông mô tả hai tuần lội bộ
qua vùng đồng bằng Cửu Long để đến Trung ương Cục Miền Nam, khi
đó tọa lạc trong đồn điền cao su Mimot, giạng chân qua biên giới trong
một khu vực gọi là Móc Câu: ‘Dấu hiệu đầu tiên của nó là một hàng rào
gỗ cản ngang đường mòn và một điểm kiểm soát gồm 10 lính gác. Từ
đây các binh lính được triệu tập bằng xe đạp dẫn đường cho những
người mới đến đến nhà khách, ẩn mình kín đáo dưới tán cây rừng.’ Tòa
nhà của cơ quan đầu não chỉ là một gian nhà tranh giống như túp lều của
người nông dân: ‘Đến gần bạn có thể nhìn thấy hệ thống địa đạo và
boongke nhô ra từ tòa nhà. Trung ương Cục Miền Nam là, và luôn từng
là, một tập thể hơn là một nơi chốn… một nhóm người lãnh đạo thi hành
các mệnh lệnh của Bộ Chính trị và phối hợp các hoạt động của Đảng và

MTDTGP. ‘

Các ngôi sao sáng đô thị của Đảng như chính ông thấy khó thích ứng với
lối sống ‘như những con thú bị săn đuổi’. Tài sản duy nhất của ông là
hai bộ đồ ngủ màu đen, áo quần lót, mùng, một tấm nhựa rộng vài mét
vuông dùng che mưa khi đóng quân hoặc áo đi mưa. Các du kích quân
cũng sở hữu những thứ đó thêm một ruột tượng chứa gạo mà họ thường
vắt qua vai trên đường hành quân.
Đói ăn liên tục, họ trồng thêm rau củ và săn thú rừng để cải thiện bữa ăn
đạm bạc của mình. Khi họ đóng quân đủ lâu tại một chỗ, họ nuôi thêm
heo gà, sử dụng bếp Hoàng Cầm để nấu ăn, đặt theo tên một chỉ huy du

kích chế tạo bếp có ống khói nằm ngang để khói khuếch tán đi. Lúc này
khi khác các lãnh đạo MTDTGP ăn thịt voi, cọp, chó rừng, khỉ, không
loại thịt nào nói trên một người được nuôi dưỡng chăm chút như Tảng
có thể ăn ngon miệng. Không giống Đại tá An, ông chê thịt voi là ‘một
chất như cao su, dai nhách như giày cũ’. Ông có thiện ý hơn đối với
bướm rừng to xác, bay chập chờn quanh đèn đầu và binh lính bắt, cắt bỏ
cánh và nướng lên ngọn lửa.
Tảng trong số nhiều người cộng sản- cùng với các nông dân
Việt, Miên, Lào bất hạnh – là những người có chung ký ức chiến tranh
nặng nề là ký ức khủng khiếp về các cuộc không kích mang tên Vòng
Cung Ánh Sáng của B-52. Trung ương Cục Miền Nam và các đơn vị bộ
đội chính quy luôn nhận được cảnh báo B-52 sắp đến từ các thuyền đánh
cá của Tình báo Xô viết ở ngoài khơi đảo Guam và Okinawa có nhiệm
vụ giám sát các vụ cất cánh của máy bay Mỹ; các ra đa Miền Bắc thì thu
tín hiệu các đội hình tiến đến gần từ Thái Lan. Nhờ đó các cán bộ cao
cấp và tham mưu của họ có thể vơ lấy cơm và một ít vật sở hữu trước
khi chạy bộ hoặc đi xe đạp ra khỏi khu vực được cho là mục tiêu sắp
đến. Đôi khi, tuy nhiên, bom cũng vô tình chụp xuống đầu họ. Tảng
viết: ‘Tiếng bùm-bùm-bùm chấn động đến càng lúc càng gần hơn, di
chuyển theo một đường thẳng về hướng chúng tôi. Rồi, khi cơn địa
chấn dội lên đầu chúng tôi, mọi người ôm lấy mặt đất – một số thét
không ra tiếng, những người khác cố hết sức đè nén cơn run rẩy dữ
dội. Chung quanh chúng tôi mặt đất co giật từng cơn, và chúng tôi bị
nuốt chửng.’ Ít ai cầu nguyện đến Lenin hoặc ‘Bác Hồ’, mà hầu hết đều
cầu nguyện Đức Phật.
‘Cách một ngàn ya tiếng gầm thét của vụ nổ xé rách màn nhĩ, khiến
nhiều nạn nhân điếc vĩnh viễn, trong khi các cơn sóng chấn động làm
một số người bất tỉnh. Bom rơi trong vòng 500 ya làm sụp đổ tường các
boongke chưa gia cố, chôn sống những ai núp bên trong … Một vài lần
đầu trải nghiệm cuộc dội bom B-52, tôi cảm thấy như bị kẹt trong Ngày
Khải Huyền: cơn khủng khiếp là tuyệt đối. Người ta mất hết kiểm soát
các chức năng của cơ thể trong khi tâm trí la hét các mệnh lệnh vô nghĩa
phải chạy ra khỏi boongke.’ Có lần B-52 đánh trong lúc một phái đoàn
Liên Xô ghé thăm Trung ương Cục Miền Nam: các vị khách Xô viết
sau đó rất bối rối vì bị phát hiện ướt sũng cả đũng quần. Tảng viết: ‘Các

vị khách có thể đã không còn xấu hổ nếu biết trước các chủ nhà của
mình cũng đã quen với trải nghiệm như thế.’
Tảng và đồng chí của mình đôi khi trở lại Trung ương Cục Miền Nam
sau một cú đánh của Vòng Cung Ánh Sáng và không tìm thấy gì còn lưu
lại: ‘Như thể một lưỡi hái khổng lồ đã phạt qua cánh rừng, cắt rạp như
cỏ các cây gỗ tếch đại thụ, xé nát chúng thành hàng tỷ mảnh vụn vương
vãi khắp nơi. Khu liên hợp cơ quan bị hủy diệt; thực phẩm, quần áo,
hàng tiếp tế, tài liệu, mọi thứ. Theo một cách đáng sợ nào đó chúng đã
ngừng tồn tại … các hố bom thật là khổng lồ – rộng gần 10 mét và
chừng ngần ấy chiều sâu. Trong mùa mưa chúng đầy nước, dùng để làm
ao nuôi vịt hay cá.’
Nhưng người cán bộ kỳ cựu này lưu ý rằng một khi ông và các đồng chí
đã quen với các oanh tạc cơ, cú sốc và nỗi khiếp đảm được thay thế bằng
‘thuyết số mệnh an bày. Các B-52 phần nào đặt cuộc sống vào trong một
phối cảnh mới. Nhiều người đã từng sống sót qua trận dội bom bỗng
thấy mình sau đó nhìn mọi việc theo một góc nhìn quang đãng hơn,
đượm chất triết lý hơn.’ Bài học này vẫn còn lưu lại, và nhiều hơn một
dịp sau này giúp tôi bình tâm đương đầu với cái chết.

3 Binh Sĩ Sài Gòn
Sau khi chiến tranh kết thúc, một tướng lĩnh Mỹ viết rằng cái bí ẩn to
lớn là tại sao ‘kẻ thù rõ ràng chiến đấu tốt hơn nhiều người Miền Nam ‘.
Doug Ramsey nói, ‘Nếu bạn so sánh một sĩ quan QĐVNCH trung bình
với người đồng cấp VC – vốn có nhiều động lực hơn – bạn dư biết người
Miền Nam ít có cơ hội hơn.’ VC dè bỉu xác nhận rằng người hưởng lợi
duy nhất trong chế độ Sài Gòn là thầy tu, gái bán hoa, người Mỹ và các
tướng lĩnh. Nhưng cũng có một số người Miền Nam nhiệt tình tin tưởng
vào chính nghĩa, chiến đấu hăng say, quý trọng người Mỹ. Phí công
Trần Hội nói, ‘Tôi kính sợ trước lòng hào hiệp của họ, và nhất là của
Không lực Hoa Kỳ. Chúng tôi cần bất cứ thứ gì họ đều sẵn lòng
giúp, thậm chí đến cả đồ chơi cho con cái chúng tôi.’
Hội bay các chuyến xuất kích bảo vệ trên không và tiêm kích mặt đất
trên một phi cơ cánh quạt Douglas A-1 Skyraider trang bị hỗn hợp tên
lửa 2.75 inch và bom 250 cân, thêm vào 4 pháo 20mm. Vào những ngày
nắng buồng lái và các phụ kiện kim loại nóng kinh khủng khi anh leo lên

và mở máy trước khi cất cánh. Tuy nhiên, khi bay trên không thì mát mẻ
ngọt ngào ngự trị. Hội chỉ cần được bay là thích thú rồi, có khi anh lướt
vòng nhiều dặm đường, cách mặt đất chỉ 50 bộ. Anh tuyên bố không gặp
rắc rối khi bắn phá mỗi ngày, vì anh tin là mình đứng về phía chính
nghĩa. Có lần, được lệnh tấn công một cụm nhà tranh, anh gọi về căn cứ
cho biết mình không thấy kẻ địch nào dưới đất cả, chỉ thấy một gã đàn
ông dắt chó đi dạo. Máy truyền tin đáp lại tình báo tin chắc Việt cộng
vừa vào đó. Kiểm soát viên hối thúc, ‘Làm đi!’ Hội bỏ quả bom napan
mà không ngần ngại: ‘Tôi biết bọn cộng sân ranh ma lắm.’
Lần khác anh và người bay yểm trợ được lệnh tấn công một thuyền
mành lớn đang đi lên cửa sông Cửu Long. Họ nhanh chóng nhận diện
mục tiêu, dù đang treo cờ Sài Gòn. Thây kệ nó, người kiểm soát nói –
chỉ là trò ngụy trang. Hội lượn vòng, chúc mũi xuống và bắn hai tên lửa
làm nổ tung vỏ thuyền. Ngay lập tức, những tên mặc quần áo đen xuất
hiện và nhảy xuống nước. Hội chúc xuống lần nữa, bắn vào các tên
sống sót đang bì bõm trong dòng nước đục ngầu. Tuy nhiên, phi công
yểm trợ anh chỉ bay qua mà không bắn một phát nào. Vì đây là sứ mạng
tác chiến đầu tiên của y nên y kêu lên một cách xúc động, ‘Em không
bắn được! Thấy nhẫn tâm quá!’ Hội quở trách y trên máy bộ đàm khi họ
trên đường về căn cứ. ‘Đây là nhiệm vụ của chúng ta. Chúng ta không
coi đó là trò đùa. Trừ khi em đổi ý, nếu không em nên xin đổi công tác
khác.’ Người phi công đồng hành trẻ tuổi của anh không bao giờ chùn
tay lần nữa.
Là một phi công của Không Lực Việt Nam, Trần Hội là một người có
đặc quyền. Tuy nhiên, gánh nặng chủ yếu của cuộc chiến đặt trên vai
các binh sĩ, những người phần đông chỉ chủ yếu quan tâm đến việc được
sống. Các sĩ quan của họ trả lời với các đề xuất tấn công của cố vấn Mỹ:
‘Không, không thể nào. Nguy hiểm lắm.’ Trung sĩ Mike Sutton có lần đi
chiến dịch đêm với một nhóm Địa phương quân. Họ xách theo các con
gà sống kêu oang oác và nồi niêu kêu leng keng theo mỗi bước chân.
Khi anh ép buộc họ phải để đồ nhà bếp ở nhà, sĩ quan của họ khăng
khăng là mình phải đem theo lương thực và phương tiện nấu ăn. ‘Tất
nhiên, thực sự họ muốn tạo ra đủ tiếng động để VC nghe và tránh đi.’
Preston Boyd, lính cứu thương của Sutton, là một người da đỏ bộ tộc
Sioux, mang súng tiểu liên K Thụy Điển, rất khoái sử dụng súng. Sau

đôi ba trận đụng độ đêm trong đó Địa phương quân chỉ đơn giản quăng
súng và bỏ chạy, Boyd răn đe họ, ‘Tối nay mà các anh lại dở trò cũ thì
chính tay tôi sẽ hạ các anh đó.’
Nhưng có ai ngạc nhiên trước hành vi của họ đâu? Một chủ đề trong tác
phẩm Catch-22 của Joseph Heller là bất cứ khi nào một phi công nghĩ
rằng mình sắp hết hạn hoàn thành nghĩa vụ chiến đấu, thì các chỉ huy
điên tiết thường gia tăng chỉ tiêu. Lính quân dịch Miền Nam đối mặt với
một biến thể tệ hơn: không có chỉ tiêu thời hạn: họ phải đánh tiếp và
đánh tiếp, bên cạnh những người Mỹ được trả lại giày bốt sau một
năm. Bộ máy huấn luyện Sài Gòn cho ra 159,138 tân binh trong năm
1966, 503,740 bốn năm sau đó. Đào ngũ là bệnh đặc hữu, và như trong
mọi cuộc chiến, phần đông những binh sĩ ‘nghỉ chơi’ là người đối mặt
với nơi hiểm nghèo nhất – bộ binh. Những lính đào ngũ bị bắt lại viện
những lý do theo thứ tự giảm dần: nhớ nhà, không muốn chiến đấu, ghét
cấp chỉ huy, không đủ tiền nuôi sống gia đình. Mọi cấp bậc đều nhận
được đồng lương hẻo – một bình nhì kiếm được số lương bằng phân nửa
lương dân lao động; chỉ một quả pháo 105mm có giá cao hơn lương
hàng tháng của một thiếu tá. Giữa năm 1964 và 1972 giá tiêu thụ tăng
gấp 9 lần, giá gạo tăng 12 lần, nhưng lương lính chỉ tăng gấp đôi. Một
trung uý nói, ‘Tôi không bao giờ dám nghĩ đến chuyện lấy vợ vì không
biết mình chết lúc nào, và tôi không muốn gây khổ đau cho người thân
yêu. Cũng vì lý do đó, ít cô gái nào có quyền lựa chọn muốn lấy lính làm
chồng.’
Người Việt giàu có có thể ăn cua biển hoặc súp nui thịt bầm, cá
chiên, bít tết, vịt tiềm với cơm, tiếp theo là chè sen. Những đồng bào khó
khăn hơn của họ ít khi phải đói ăn, nhưng những người gầy còm nhất là
những người phục vụ đất nước trong bộ quân phục. Thậm chí trong
doanh trại binh sĩ cũng không no đủ, vì sĩ quan thường ăn chặn khẩu
phần gạo của họ. Nhiều quân nhân làm thêm ban đêm nghề lái taxi, dạy
kèm, công nhân xây dựng. Một cố vấn Mỹ phát hiện bất cứ khi nào ông
vắng mặt ở trận địa, người lính tài xế của ông lại cho thuê xe jeep của
ông. Sĩ quan cũng như binh lính đều nói, ‘Làm sao đánh đấm với cái
bụng đói meo được? … Có thực mới vực được đạo.’ Khẩu phần tác
chiến của Mỹ cho mỗi bữa ăn cung cấp 3,800 calo, gần như gấp hai lần

lượng calo của khẩu phần binh lính Miền Nam, cho dù không chắc họ
nhận đủ.
Một tướng lĩnh mô tả các trung uý mang về nhà gần hết khẩu phần được
lãnh để nuôi sống gia đình: ‘Tôi thấy các sĩ quan huấn luyện bộ binh
nhét một ổ bánh mì hoặc vài vắt cơm nắm vào túi ghết mang theo ra bãi
huấn luyện. Đó là tất cả thức ăn họ cần cho buổi ăn sáng và trưa …
Nhiều sĩ quan lâm vào cảnh nợ nần chỉ để nuôi ăn gia đình.’ Ở trên chóp
thang là những người có bổng lộc xum xuê: một số tướng lĩnh bán máy
đánh chữ, thuốc lá, xe Honda, thậm chí mìn Claymore và lựu đạn, cho
kẻ địch. Theo lời một cán bộ MTDTGP: ‘Không ít lính Mỹ bị giết bởi
mìn mua của đồng minh QĐVNCH của họ.’ Người cộng sản không ham
các khẩu M-16, chia sẻ quan điểm của lính Mỹ là AK-47 ngon hơn,
nhưng họ mua mọi máy truyền tin PRC-25 có thể vớ được.
Về phần sức khoẻ của binh lính Sài Gòn, họ dễ mắc bệnh dịch tả và sốt
rét hơn là tử trận. Nữ y tá Phyllis Breen, một hôm đút một ống thông cho
một binh sĩ Miền Nam, kinh hoảng khi trông thấy một con giun to chui
ra. Năm 1966 cả nước chỉ có 1,000 bác sĩ, 700 trong số đó phục vụ quân
y. Nhưng nhiều thương binh thà đi cà nhắc về nhà còn hơn chịu đựng
các điều kiện khủng khiếp ngự trị hầu hết các bệnh viện quân đội.
Ngược lại, tại trung tâm bại liệt quân đội ở Vũng Tàu, giường bệnh nằm
đầy các thương phế binh bán thường trực khoảng 500 người. Họ cứ ở
nán lại vì không còn nơi nào khác để về. Người có thân nhân chết trận
đối diện với các nỗi đau thậm chí vượt quá nỗi đau mất mát những người
thương yêu. Khi bà Ngô Thị Bông đi nhận lại thi thể người con trai lớn
hy sinh trong lúc thi hành nhiệm vụ cho QĐVNCH, bà nhận ra rằng con
trai mình đã không toàn thây vì trúng pháo cối, và phải tự mình đi nhặt
từng mảnh thi thể cho vào túi đựng rác. Dù cố sức thế nào bà cũng
không tìm được cánh tay trái của con. Mà theo tín ngưỡng, như vậy oan
hồn của anh Vân con trai bà sẽ lang thang vất vưởng mãi mãi, than khóc
vì cánh tay bị mất.
Nhà báo Anh Richard West viết vào năm 1967: ‘Khi bạn lắng nghe các
chỉ thị hành quân do người Mỹ, người Đại Hàn hoặc Úc đưa ra, rồi lắng
nghe người Việt, bạn ngạc nhiên nhận ra ngay sự khác biệt vượt trội.
Người ngoài cuộc thì hăng hái, năng nổ, còn người Việt trong cuộc lại
thờ ơ. Những ngoại bang thuộc mọi sắc thái đã đè đầu họ quá lâu đến

nỗi người Việt đều chán ngấy bọn họ.’ Điều này đúng không thể chối cãi
– đối với người Miền Nam. Nhưng trong hàng ngũ Miền Bắc cũng có
những con người cách mạng kiên gan như Bác sĩ Đặng Thùy Trâm. Cô
thấy mình một buổi chiều ngồi trong một ấp hoang tàn vừa mới bị lính
Mỹ tiêu hủy. Dân làng cùng cô đang cắm quân thiếu cả dầu để nấu sôi
nồi cơm. Vậy mà Trâm viết một cách ngoan cường: ‘Chúng ta chưa bại
trận; kẻ thù đốt nhà này, thì ta sẽ xây nhà khác. Có khó gì đâu. Một ít lá
dừa là đủ. Người ta cần rất ít để sống trong thời chiến, khi sống chỉ là
chiến đấu và lao động. Chúng ta chỉ cần một nồi cơm với khô; một tấm
nhựa để nằm tại hầm tránh bom; quần áo và muối, sẵn sàng trong cặp
xách để mang đi trên vai khi địch tấn công.’
Đặng Thùy Trâm dường như hân hoan trong cảnh gian khổ mà cô chịu
đựng, cảm xúc cô dâng tràn, như nhiều người trẻ trong mọi cuộc chiến,
nhờ trải nghiệm được chia sẻ trong nỗi nhọc nhằn, tình đồng chí, cảnh
hiểm nguy. Ai có thể tranh cãi tính lãng mạn trong cảnh ngộ gian khổ
của cô. Cô cũng đã được điều kiện hóa về phương diện chính trị ngay từ
lúc nằm nôi, thành ra người thiếu nữ trẻ này không thắc mắc gì về cuộc
cách mạng ‘của cô’. Nhưng khía cạnh gây bất an nhất của nhật ký
Trâm, nếu nó được Lyndon Johnson hoặc William Westmoreland đọc,
sẽ là điều khó tưởng tượng có người Miền Nam nào đã soạn ra một hồi
ký cũng tràn đầy niềm tin tưởng mãnh liệt như vậy.

CHƯƠNG 18: TẾT

1 Khúc Dạo Đầu
Tết này trở thành một tân niên mà bất kì người Việt nào kể cả người Mỹ
đã có mặt ở đó không bao giờ quên: câu hỏi ‘Bạn đã ở đâu lúc Tết?’ chỉ
có thể chỉ đến ngày 30 tháng giêng 1968 và các tuần lễ sau đó. Bản thân
Lê Duẩn phải chịu trách nhiệm cho việc phát động cuộc công kích ở
Miền Nam kết thúc trong thảm bại, với những tổn thất và đau thương
chất ngất. Nhà lãnh tụ Miền Bắc dự kiến một cuộc tổng nổi dậy để hậu
thuẫn cho chính nghĩa cộng sản, nhưng chỉ có vài trăm dân Miền Nam
nghe theo lời kêu gọi. Trong một xã hội mở cửa, một kết quả thảm bại
to lớn như thế ắt đã làm cho kiến trúc sư của nó rơi đài, uy tin và tiếng


Click to View FlipBook Version