The words you are searching are inside this book. To get more targeted content, please make full-text search by clicking here.

VIỆT NAM THIÊN SỬ BI HÙNG 1945-1975
Max Hastings
Trần Quang Nghĩa dịch

Discover the best professional documents and content resources in AnyFlip Document Base.
Search
Published by fireant26, 2022-11-04 00:35:46

VIỆT NAM THIÊN SỬ BI HÙNG 1945-1975 Max Hastings Trần Quang Nghĩa dịch

VIỆT NAM THIÊN SỬ BI HÙNG 1945-1975
Max Hastings
Trần Quang Nghĩa dịch

những người bên trong lẻn chạy ra ngoài qua bóng đêm về phía một
trạm sơ cứu gần đó, hoang vắng.

Các sở chỉ huy cao hơn vẫn còn chưa biết số phận của Mary Ann. Đèn
chiếu sáng không soi rõ nhiều, vì căn cứ hỏa lực chìm trong khói từ các
láng trại và quân nhu bốc cháy. Khi Spilberg đề nghị Doyle họ nên đi
chuyển, viên trung tá còn sốc nên không đồng ý, bảo với vị đại uý,
‘Paul, muốn chúng ta chết hay sao.’ Nhưng quanh chỗ họ đang ẩn nấp ở
phía nam căn cứ giờ đã im lặng. Các sĩ quan có thể nghe tiếng súng tiếp
tục chỉ ở khu vực phía bắc, nơi địch đang bận phá hủy dàn pháo 155mm
và bắn hạ các xạ thủ đang loạng choạng chạy ra khỏi doanh trại. Một
pháo binh sau này ra làm chứng trước đội điều tra quân sự về các đồng
đội mình: ‘Họ quá hoảng sợ và bấn loạn nên chạy tứ phía.’ Hai quân y
gần như vấp ngã qua một trung sĩ nằm dưới đất với cả hai chân bị thổi
bay mất.

Quân Miền Bắc ngừng cuộc đột kích lúc 03:25, 45 phút sau khi bắt đầu,
lúc trực thăng tác chiến đầu tiên, một chiếc Huey Night Hawk có trang
bị đèn hồng ngoại, xuất hiện trên căn cứ Mary Ann – đèn pha và đạn
đánh dấu còn chiếu sáng được một số đặc công cuối cùng rút lui qua
hàng rào kẽm gai. Liền đó một trực thăng tản thương đáp xuống. Trung
sĩ John Calhoun, một trong những thương binh đầu tiên được di tản, đã
bị bắn trúng 5 chỗ. Anh nói: ‘Tôi từ một nơi đã quen mổ heo. Bạn có thể
nghe mùi đó khi moi ruột heo – và tôi có thể ngửi thấy mùi đó trên trực
thăng bốc ra từ những vết thương ở ruột. Thật là một mùi buồn nôn, và
còn những tiếng rên rỉ và rên siết và van nài không dứt.’

Trở lại căn cứ hỏa lực, trật tự dần dần được vãn hồi. Trung tá Doyle
bước khập khiễng giữa các thương binh với một chân băng bó, nói đùa
nhạt phếch với các ‘vết thương một triệu đô ‘của các thương binh. Lửa
vẫn còn cháy, và bóng tối thỉnh thoảng bị đâm toạc bởi các lóe sáng từ
đạn dược phát nổ. Cánh quạt thổi thốc lên ngọn lửa khi lữ đoàn trưởng
từ một trực thăng bước xuống, choáng váng trước cảnh tượng. Một phi
công tản thương hỏi có cần túi đựng xác không. Một người lính trả lời:
‘Nhiều chừng nào tốt chừng nấy.’ Một số lính bị cháy thành than. Năm

xác địch không toàn vẹn bị thiêu cháy nơi bãi rác, sau này được nhắc
nhở là có thể khiến các sĩ quan liên đới vi phạm tội ác chiến tranh.

Phe tấn công rút đi trong thắng lợi vẻ vang, nhưng đối mặt với tình cảnh
thiếu ăn hơn nữa: không có gạo, suốt bốn ngày sau đó họ phải sống bằng
cây rừng. Họ nhìn nhận đã hy sinh 14 người và mang đi 21 người bị
thương – cho thấy ít ra cũng có một thiểu số binh sĩ Mỹ chống trả hiệu
quả. Tiếp theo sự ra đi của Doyle, một chỉ huy mới được bổ nhiệm đến
Mary Ann. Ông lập tức áp đặt kỷ luật muộn màng. Vào ngày thứ hai khi
Trung tá Clyde Tate đến, ông tìm thấy một chai rượu mạnh trong phòng
hành quân, ông liền đập vỡ nát nó. Những người sống sót, ôm lấy nỗi
tổn thương và dư vị cay đắng, tin rằng họ là nạn nhân của một ‘hoạt
động gián’ – rằng binh sĩ Sài Gòn trong căn cứ hỏa lực, mà lán trại của
họ không bị tấn công, đã cung cấp thông tin và có thể dẫn đường cho
nhóm đặc công. Đây là điều tưởng tượng, nhưng phản ánh tình trạng
thiếu tin cậy đang lan tràn giữa quân đội Mỹ và Miền Nam.

Báo cáo của tổng thanh tra Sư đoàn 23 kể một câu chuyện ảm đạm:
những binh sĩ được giao nhiệm vụ canh phòng lại ngủ trong giờ trực;
hầu hết đều tìm chỗ lẩn trốn thay vì giao chiến với địch. Ông đau lòng
xác nhận rằng nhiều thương vong là ‘nạn nhân của việc chểnh mảng
nhiệm vụ đáng ra họ phải làm’. Ông cũng nhìn nhận lòng quả cảm và
tính chuyên nghiệp của bên tấn công. Đối với binh sĩ Mỹ, ông nói, ‘Dù
miễn cưỡng cũng phải nhìn nhận là trong bất cứ tình huống cho trước
nào VC/bộ đội đều có thể làm tốt hơn chúng ta… phần đông VC/bộ đội
đều dường như tin tưởng vào tính đúng đắn của chính nghĩa mình …
Điều ấy không thể nói với binh sĩ Mỹ và Miền Nam nói chung vào thời
điểm mùa xuân 1971.’ Tư lệnh sư đoàn Thiếu tướng James Baldwin
không muốn cách chức Doyle khỏi vị trí chỉ huy 1/46th, nhưng Abrams
không đồng ý. Chính Baldwin cũng bị cách chức, cùng với chỉ huy lữ
đoàn. Báo cáo của MACV, đưa ra vào tháng 7, cho rằng Đại uý Knight
đã chết có tội ‘xao nhãng nhiệm vụ’, và chỉ mặt một số cá nhân chủ chốt
là ‘thiếu năng lực ‘; Doyle may mắn thoát khỏi bị ra tòa án binh. Khi sự
kiện về Mary Ann được tuồn ra ngoài, báo chí được một ngày rộn rã
tưng bừng. Sau vụ Calley bị phanh phui và ra tòa, Quân đội Mỹ không

còn ham muốn vạch áo cho người xem lưng. Westmoreland viết từ
Washington: ‘Thư ký Quân đội và tôi muốn làm hết sức mình để giảm
thiểu số thương tích tự mình gây ra mà Quân đội đang gánh chịu.’ Doyle
được phép giữ lại bộ quân phục và cấp bậc, cho dù không còn ở các vị
trí hành quân. Cả ông và Baldwin, cuộc sống của họ tàn tạ, chết tương
đối trẻ. Những kẻ biện hộ cho hai người sau này tuyên bố rằng họ là dê
tế thần. Điều này đúng tới một chừng mực khi thảm kịch phản ánh một
tình trạng bất cập về định chế: tình thế đã trở nên khó khăn cho các chỉ
huy ở bất cứ cấp bậc nào muốn áp đặt quyền hành của mình, muốn đòi
hỏi từ các binh sĩ thậm chí các tiêu chuẩn tối thiểu về kỷ luật quân đội.

Không có sự cố đơn lẻ nào khác minh chứng quá sinh động tính điên rồ
của việc đơn phương từ bỏ đánh nhau trong khi ở trong tầm với của
quân địch. Người ta gần như không thể không tin rằng các sĩ quan cũng
chấp nhận tính ù lỳ và thậm chí suy đồi đang khống chế căn cứ Mary
Ann. Nhiều người sau đó tỏ ra thương hại lực lượng đồn trú bởi tổn thất
của họ quá đau lòng. Nhưng gần như mọi người từ Trung tá Doyle trở
xuống đều có phần đóng góp vào sự báo ứng của mình. Trung uý Brian
Walrath, một cố vấn Mỹ làm việc gần Mary Ann, sau này viết: ‘Tôi ngờ
rằng binh sĩ đồn trú tại Mary Ann không khác nhiều với phần đông binh
sĩ… tại thời điểm đó.’ Có một vụ khác tương tự xảy ra vào ngày 21
tháng 5, khi một căn cứ hỏa lực bị pháo kích bởi 11 rốc két 122mm giết
chết 33 binh sĩ Mỹ và làm bị thương 21 người khác, chủ yếu bởi vì tất cả
họ đều ở trong phòng ăn khi cuộc pháo kích bắt đầu, rồi cùng chạy đến
cùng một boongke bị đánh trúng trực tiếp.

Abrams nổi cơn thịnh nộ, vì đơn vị đã nhận được cảnh báo về một cuộc
tấn công đến gần. Ông nói: ‘Bạn không nên đùa với thứ này (báo động
tình báo]. Đùa với nó là đùa với sinh mạng con người.’ Lại cùng một sự
cố xảy ra lần nữa tại LZ English, nơi các binh sĩ đang mải chơi bóng
chuyền và tụ tập để xem phim khi kẻ địch tấn công. Abrams quát tháo
bực tức, ‘Hỏng hết – hỏng hết bộ phận chỉ huy. Họ có tình báo … Tôi
không biết họ suy nghĩ cái quái quỷ nào.’ Họ đang nghĩ đến việc hồi
hương: một tháng sau vụ tấn công vào Mary Ann, người Mỹ rút khỏi
ngọn đồi đó mãi mãi. Vào dịp lễ Giáng Sinh 1971, danh hài Bop Hope bị

la ó khi đến trình diễn mua vui hàng năm như thường lệ cho binh sĩ còn
ở lại Việt Nam.

2 ‘Dê Tế Thần’

Các sĩ quan cao cấp Mỹ nhận ra rằng cho dù có trận giao tranh tiến bộ
nào xảy ra đi nữa, thì đội hình tác chiến của họ sẽ không còn đóng một
vai trò có ý nghĩa. Fred Weyand nói vào tháng 5 1971: ‘Không lực của
chúng ta là chất kéo gắn kết mọi thứ này lại với nhau … Nếu không có
không lực đó, vốn có sức mạnh đánh đuổi quân địch đến chân tường,
chúng ta sẽ lâm vào tình trạng tất tồi tệ, và vậy mà bọn người ở
Washington vẫn muốn đập đầu nó.’ Ý ông muốn nói trước sức ép chính
trị liên tục, Quốc Hội đang tìm cách cắt giảm ngân sách quốc phòng,
trong đó có Không lực Mỹ cũng như sự hiện diện của lục quân tại Việt
Nam. Khi binh sĩ Mỹ hồi hương, không lực trở nên vũ khí chủ yếu trong
tay Nixon và Kissinger. Giữa tháng 3 1969 và tháng 5 1970, tổng thống
đích thân uỷ nhiệm 4,308 lượt xuất kích B-52 đánh các mục tiêu ở Miên,
thậm chí không tiết lộ cho trưởng Không lực Hoa Kỳ Tướng John Ryan
biết. Trước khi bay các sứ mạng qua Miên và Lào, các phí hành đoàn
được yêu cầu ký tên vào một thỏa thuận giữ bí mật: vì Hà Nội phủ nhận
việc có mặt của bộ đội trong các xứ sở đó, nên giới lãnh đạo của họ ít
khi lên tiếng tố cáo các chiến dịch bất hợp pháp của Mỹ tại đó. Bộ Tư
lệnh Không quân Chiến lược giữ hai xấp báo cáo hậu hành động, một
được lưu hành rất hạn chế, xác định các mục tiêu thực sự; xấp kia ghi
chép các vụ tấn công hư cấu bên trong lãnh thổ Miền Nam.

Tuy nhiên, một vụ lừa dối tương tự khác ít được biết đến, nhưng soi rọi
một cách lạ thường vào cung cách người Mỹ điều hành chiến tranh trong
những ngày tháng đó. Từ 1969 trở đi, Nixon ép buộc các chỉ huy không
lực của mình đánh phá Miền Bắc dữ dội như có thể, bất cứ nơi đâu có
thể. Ông đã hình thành một quan điểm coi thường giới quân sự, hay
phàn nàn là họ dè dặt. Tuy nhiên, vì lý do quốc nội, hành pháp không
muốn tìm cách điều chỉnh Quy tắc Giao Tranh theo hướng leo thang –
vốn sẽ lôi kéo sự chú ý không được chào đón của Quốc Hội và giới
truyền thông.

Vào những tháng cuối năm 1971 đích thân tổng thống ủy quyền tiếp tục
đánh phá các căn cứ xe bọc thép và xe cơ giới ở phía bắc vùng Phi Quân
Sự. Đây là những biện pháp hoàn toàn hợp lý chống lại quân địch đang
tập trung lực lượng cho cuộc công kích mùa xuân, nhưng lại vi phạm
Quy tắc Giao tranh đã được thiết lập. Vào tháng 11 Đô đốc Thomas
Moorer, chủ tịch Tham mưu Liên quân, bảo với Trung tướng Jack
Lavelle, chỉ huy Lực lượng Không lực 7 tại Sài Gòn, hãy phái các
chuyến bay trinh sát trên căn cứ không quân Đồng Hới ở Miền Bắc, bởi
vì cộng sản chắc chắn sẽ bắn vào chúng, do đó Mỹ có cớ để dội bom.
Đây là một vấn đề sẽ trở thành trung tâm trong cái gọi là Tai tiếng
Lavelle. Quy tắc Giao tranh phổ biến từ 1968 cho phép máy bay Mỹ tấn
công dàn pháo và vị trí tên lửa ở Miền Bắc chỉ khi chúng khai hỏa trước
tiên, và được phép tấn công vào các trạm ra đa chỉ khi chúng điều khiển
vô tuyến cho các chiến đấu cơ MiG-21 bắn vào các phi cơ Mỹ. Cho dù
các hạn chế này vô lý một cách hợp lý, chúng là văn bản thiêng liêng tại
thời điểm khi mà nhiều thành viên Quốc Hội muốn sử dụng mọi nguồn
lực để khép lại cuộc chiến.

Quy tắc Giao Tranh cho phép một mức độ lý giải nào đó – chẳng hạn, ủy
quyền tấn công các trạm ra đa được biết đã theo dõi tự động các máy
bay Mỹ, trước khi các dàn phòng tên lửa kết nối có thể khai hỏa. Nhưng
trong tháng 12 1971 người cộng sản bắt đầu khai hỏa tên lửa SAM ngay
lập tức với việc theo dõi tự động ra đa, không cho phép phi công nhận
được cảnh báo phát ra.
Tình trạng bối rối gia tăng trong đầu óc các nhân viên phi hành và chỉ
huy về mức độ đến đâu họ có thể phát động các cuộc tấn công không bị
khiêu khích vào các dàn phóng của địch có khả năng bắn hạ phi cơ ta.
Nhạc nền phát ra từ Nhà Trắng không chút nghi ngờ: Nixon muốn gây
tổn thương cho phe cộng. Ông hay than phiền không lực chưa làm đủ
đô, một phần vì đánh bom bằng ra đa trong thời tiết u ám thường không
hiệu quả. Vào tháng 12 1971, Tướng Ryan đến thăm căn cứ Udorn ở
Thái Lan và bảo với phi hành đoàn là mình bất mãn cay cú với ‘thành
tích khốn khổ’ của họ’. Nhưng khi bộ trưởng quốc phòng Melvin Laird
đến thăm Sài Gòn và Trung tướng Lavelle yêu cầu nới lỏng Quy tắc

Giao Tranh, Laird khước từ. Thay vào đó, vị bộ trưởng nói, vị sếp
Không lực 7 nên ‘sử dụng tối đa quyền hành chúng ta có và ông ta sẽ
hậu thuẫn chúng tôi tại Washington ‘. Nhưng một tháng sau đó Laird,
vốn không thuộc nhóm thân cận Nhà Trắng, nói ngược lại là chỉ nên tấn
công các ra đa nếu chúng đang điều khiển các MiG ‘đang bay không
phận và có thái độ thù địch’.

Vào ngày 2 tháng 2 1972, Đô đốc Moorer bảo với Nixon rằng mình đã
chỉ đạo cho Creighton Abrams – trong tư cách là cấp trên của Lavelle –
hãy tăng cường việc trinh sát sân bay và bảo đảm là các máy bay thám
thính được yểm trợ mạnh mẽ bằng phi cơ ném bom, và nếu các phi cơ
này bị bắn, điều luôn xảy ra, thì ông ta phải oanh kích sân bay, và chúng
ta cứ làm một loạt hoạt động theo kiểu này, thưa ngài.’ Tổng thống nói:
‘Tôi chỉ muốn biết chắc là QTGT được lý giải rất, rất là thoáng.’ Ngày
hôm sau ông chỉ thị cho Đại sứ Ellsworth Bunker, người đang viếng
thăm Washington, là ông ta phải về bảo lại với Abrams, ‘Ông ta có thể
đánh các dàn SAM, chấm hết? Nhưng không được khuấy động công
luận … Và, nếu việc đó vỡ lở… ông nói đó là “một đánh trả trong phản
ứng phòng vệ”.’

Nhưng các hoạt động như thế giờ dẫn đến rắc rối to. Vào tháng giêng,
Lavelle, một phi công chiến đấu xuất sắc thời Thế chiến II, thực sự đã ra
lệnh một ‘số đánh trả trong phản ứng phòng vệ’. Khi sau đó các phi
hành đoàn tấn công cho biết quân địch không có đáp ứng gì, họ được
cảnh báo không được ghi nhận điều này trong các báo cáo hậu hành
động có tên OPREP-4 được vi tính hóa. Tháng sau, một chuyên viên
tình báo tại căn cứ không quân Udorn tên Trung sĩ Lonnie Franks viết
thư cho Thượng nghị sĩ phản chiến Harold Hughes, nói rằng phi hành
đoàn đã làm báo cáo hậu hành động không trung thực để biện minh cho
việc ném bom. Sau đó, câu chuyện được tung ra công luận. Tướng
Ryan, vốn từ lâu có mối bất hoà với Lavelle, cử một tổng thanh tra
không lực Louis Wilson đến Sài Gòn để điều tra các cáo buộc này. Ông
ta báo cáo trở lại chứng cứ đáng nghi vấn nhất, là tư lệnh Không lực 7 đã
ra lệnh thi hành các sứ mạng rõ ràng vi phạm QTGT. Lavelle lập tức bị

triệu hồi về Washington và bị cho về hưu khỏi Không lực vì ‘lý do sức
khỏe’ với cấp bậc Thiếu tướng, mất đến hai sao.

Tại thời điểm này, Tổng thống Nixon chưa biết gì hết. Nhưng ông họp
riêng với Trung tướng John Vogt, tư lệnh Không lực 7 mới lên thay thế,
với sự tham dự của Kissinger, tại đó ông bảo Vogt mình muốn không
lực phải hung hăng hơn nữa. Vogt sau đó mô tả Nixon trong cuộc gặp gỡ
này ‘tròn xoe hai mắt’. Rồi truyền thông đưa tin rò rỉ về vụ cách chức
Lavelle lên trang nhất. Các cây bút chính luận chỉ trích gay gắt vị tướng
đã thi hành một ‘cuộc không chiến riêng tư’, thách thức với các cấp trên
của mình, trong đó ông đã lôi kéo các phi công và các chỉ huy phụ tá vào
‘một âm mưu sâu rộng’. Tại một buổi họp với Kissinger và ngoại trưởng
Rogers vào ngày 14 tháng 6, lần đầu tiên Nixon tập trung vào vị tướng
bị bôi nhọ: ‘Cái quái quỷ nào xảy ra vậy?’ Ông hỏi gặng. ‘Lavalle là ai?
Ông ta có phải bị làm dê tế thần không? Nếu phải … như vậy là không
tốt.’

Kissinger và Rogers giải thích bức thư của Trung sĩ Frank và những gì
xảy ra tiếp theo. Tại một buổi họp khác cuối ngày đó, Kissinger nói:
‘Điều xảy ra với Lavelle là ông ta có lý do để tin rằng chúng ta muốn
ông tiến hành các bước đi gây hấn hơn.’ Nixon đáp: ‘Vậy là đúng, vậy là
đúng.’ Kissenger: ‘Và bỗng thình lình Laird dội xuống đầu ông ta một
tấn gạch.’ Nixon: ‘Tôi không muốn người của tôi bị hành hạ vì làm
những gì mình cho là đúng.’ Kissenger càu nhàu giới quân sự: ‘Tất cả họ
gấu ó nhau như chó với mèo,’ điều này Nixon đồng ý. Rồi ông nói:
‘Chúng ta có thể làm gì để ngăn chuyện chết tiệt này không?’ Giờ thì
đến trò chính trị vô tâm. Kissinger nói: ‘Tôi nghĩ rồi việc này sẽ đi vào
quên lãng. Theo tôi chúng ta chỉ cần nói ôi chao … Chúng ta đã ra các
bước sửa sai.’ Nixon thở dài theo đúng nghi thức trên nấm mồ sự nghiệp
của Lavelle. ‘Đúng là một điều xấu hổ chết tiệt. Và một hình phạt tồi tệ
cho ông ta, Henry.’ Đó là cái kết của một vị tướng không quân.

Kissinger không sai về việc chó mèo ‘gấu ó nhau’: Moorer ra làm
chứng cho uỷ ban Thượng nghị viện vào tháng 9 1972 rằng ông đã
không hề xúi giục các vụ không kích phản ứng tự vệ chống Miền Bắc –

vốn là điều dối trá. Abrams cũng khai tương tự với uỷ ban điều trần:
‘[Lavelle] hành động trái với QTGT, và tôi nghĩ QTGT khác một chút
với chính sách.’ Sự mơ hồ của Abrams cho thấy rõ cuộc chiến đã trở
thành một mớ bòng bong các trò lừa dối. Việc Lavelle bị sa thải, vì thực
thi các mong ước thường được vị tổng tư lệnh bày tỏ, gây ảnh hưởng tệ
hại với các cấp trên của ông. Moorer và Ryan, và đúng là đã biến ông
thành một ‘con dê tế thần’, dùng lời của Nixon. QTGT mà Không lực
Hoa Kỳ được yêu cầu phải tuân thủ là điều khôi hài và giả đạo đức. Chỉ
có một lựa chọn hợp lý duy nhất: đối với người Mỹ hoặc là tiến hành
không chiến chống Miền Bắc hoặc không làm thế. Nhưng trong cái thế
giới không ngừng loạn trí của giới hoạch định chính sách ở Washington,
không hề tồn tại lý lẽ và lương thiện.

3 ‘Hãy đi về nhà thôi’

Creighton Abrams đã trở thành cái bóng của con người trước đây của
mình, một bệnh nhân bị ung loét, lao phổi, huyết áp cao và nốc quá
nhiều rượu mạnh: Nội các lý do này thôi, không kể việc đã đánh mất
lòng tin cậy của Nhà Trắng, tưởng ông đã ra rìa, vậy mà ông vẫn ở lại
với chức vụ, thật là đặc biệt. Một trong những trao đổi sống động giữa
Nixon và Kissinger xảy ra vào sáng ngày 29 tháng 5 1971 ngay trước
khi vị cố vấn an ninh quốc gia lao vào một vòng đàm phán bí mật mới.
Ông phác họa các kế hoạch của mình nhằm giải quyết đúng lúc cho kỳ
bầu cử tổng thống sắp tới: ‘Vậy chúng ta phải qua hết năm ’72. Tôi hoàn
toàn yếm thế về điều này, thưa Tổng thống. ‘

Nixon: Vâng.’

Kissinger: ‘Nếu có thể, trong tháng 10 năm ’72, chúng ta sẽ đi khắp xứ
rao rằng chúng ta đã kết thúc cuộc chiến và người Dân chủ muốn giao
nó lại cho người Cộng sản…’

Nixon: ‘Đúng là vậy.’

Kissinger: ‘Thế thì chúng ta ổn rồi.’

Ông nói thoải mái về số phận khó tránh của Sài Gòn: ‘Nếu nó phải rơi
vào tay người Cộng sản, tốt nhất là nó xảy ra trong 6 tháng đầu tiên của
nhiệm kỳ mới hơn là nó cứ tiếp tục và tiếp tục. ‘

Nixon: ‘Đúng vậy.’

Kissinger: ‘Tôi rất máu lạnh về điều đó. ‘

Nixon: ‘Tôi biết chính xác chúng ta đi đến đâu.’

Vào ngày 13 tháng 6 tờ New York Times bắt đầu cho in tài liệu được
biết dưới tên Tài liệu Ngũ Giác Đài, báo cáo xếp loại tối mật được
Robert McNamara ủy thác năm năm trước nhằm ghi lại với sự thẳng
thắn lạnh lùng những gian đối và đánh giá sai khiến quốc gia phải dính
líu vào Việt Nam. Mặc dù cơn phẫn nộ thoạt đầu của hành pháp trút vào
đầu Daniel Ellsberg, viên chức đã làm rò rỉ nó, việc phát tán nó càng làm
nhân dân Mỹ xác tín thêm nữa rằng lẽ ra họ không nên đến Việt Nam, và
giờ đây cần sớm rời khỏi nơi bất hạnh đó càng nhanh càng tốt.

Alexander Haig nói rằng giờ ra ràng là Hoa Kỳ phải chấp nhận một
chính phủ liên hiệp tại Sài Gòn, trong đó có đại diện của cộng sản. Tuy
nhiên, đối với Hà Nội, điều này còn lâu mới đủ: họ khăng khăng đòi loại
bỏ Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu với tính ngoan cố khiến tiến trình
đàm phán bị sa lầy. Bộ Ngoại giao, trong sự đảo ngược tuyệt đối chính
sách kéo dài hàng thập niên, thúc giục tổng thống Miền Nam vươn tay ra
với người cộng sản. Nixon bảo với Kissinger vào tháng 7: ‘Họ biết họ đã
nắm được thóp chúng ta.’ Vào cuối năm 1971, cả tổng thống và cố vấn
của ông đều chấp nhận ngừng bắn-tại chỗ, hơn là tiếp tục khăng khăng
đòi quân Miền Bắc rút khỏi Miền Nam.

Ắt hắn thành tựu quan trọng nhất và chắc chắn đầy sáng tạo nhất của
tổng thống Richard Nixon – và đôi khi bị quên lãng – là tiến hành hoà
hoãn với Trung Cộng. Trong thế kỷ 21 thật khó để hình dung cái
khoảng cách vời vợi về phương diện chính trị, đạo đức, chiến lược mà

chính quyền Mỹ phải vượt qua nhằm tìm kiếm một sự hoà giải thực tiễn
với một chế độ mà trong gần một phần tư thế kỷ những người bảo thủ
coi là cái nôi của điều ác; coi Mao Trạch Đông như kiến trúc sư tạo ra
nỗi nhục lịch sử cho nước Mỹ, việc ‘đánh mất Trung Quốc’. Khi thai
nghén bước tiếp cận mở đầu với Bắc Kinh, thực hiện qua trung gian các
nước Đông Âu, Nixon và Kissinger có hai mục tiêu. Thứ nhất là khởi
đầu một đối thoại sẽ làm sâu đậm thêm sự chia rẽ trong phe cộng sản, cô
lập Liên Xô. Thứ hai, và thậm chí quan trọng hơn, là đẩy nhanh giải
quyết hoà bình Việt Nam. Chính quyền Mỹ còn tin tưởng rằng
việc Trung Quốc và Xô viết ngưng hậu thuẫn sẽ khiến nỗ lực chiến tranh
của Hà Nội không còn khả năng thực thi được nữa.

Tất nhiên, theo một nghĩa hẹp, họ nghĩ đúng. Nhưng họ tiếp tục đánh giá
thấp sức ép ý thức hệ lấn át buộc Moscow phải duy trì hậu thuẫn Miền
Bắc. Uy tin của Xô viết sẽ bị hủy hoại trong mắt phe xã hội chủ nghĩa
nếu những nhà cách mạng anh hùng phe Lê Duẩn bị bỏ rơi trong những
giờ phút thử thách của họ, và do đó việc này xảy ra là không hợp lý.
Nhất là bây giờ Kissinger đưa ra một chỉ tiêu rất thấp chấp nhận được
cho một thỏa thuận hoà bình. Ông viết trong sổ tay trên chuyến bay đến
Bắc Kinh trong lần gặp gỡ bí mật đầu tiên với thủ tướng Chu Ân Lai vào
tháng 7 1971: ‘Chúng tôi muốn một khoảng cách hợp lý.’ Ông có ý nói
người Mỹ cần được rút đi trong danh dự trước khi Việt Nam rơi vào tay
cộng sản.

Thông điệp này được lặp lại tại buổi gặp mặt thứ hai công khai tại Bắc
Kinh vào tháng 10, làm toàn thể thế giới kinh ngạc và gây lo âu sâu sắc
cho Hà Nội. Sau đó mọi dân Việt, Bắc cũng như Nam, đều chia sẻ một
vấn nạn mới, tạo ra bởi sự kiện các nhà cai trị của hai cường quốc khổng
lồ Trung Quốc và Hoa Kỳ bỗng trở nên quan tâm sâu rộng đến việc phát
triển mối quan hệ song phương của mình hơn là đến số phận của Hà Nội
hoặc Sài Gòn. Điều này không mang hoà bình sớm sủa cho Việt
Nam, nhưng trở thành một nhân tố quyết định trong tiến trình ngoại giao
bao quanh nó.

Khi Miền Nam tổ chức cuộc bầu cử tổng thống sẽ cho thấy là lần cuối
cùng của chế độ vào tháng 10 1971, trước sự bối rối của Washington và
sự dè bỉu của thế giới, Nguyễn Văn Thiệu ra ứng cử độc diễn. Cả hai
đối thủ của ông, Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ và Minh ‘Cồ’, đều rút
đơn tranh cử, làm gia tăng tính bất hợp lí của việc dán nhãn hiệu cho
chiến tranh Việt Nam là cuộc thập tự chinh vì dân chủ. Nhưng các nhà
ra quyết định vẫn còn chưa đồng ý cho rằng việc di tản Hoa Kỳ ra khỏi
Việt Nam là một cuộc thảm bại tuyệt đối,. Neil Sheehan buồn rầu nói:
‘Người Mỹ không hề có thể nuốt trôi ý nghĩ là mình phải ra đi.’ Khi
Tom Polgar sắp sửa bay đến Sài Gòn với tư cách trưởng trạm CIA, ông
bảo với Melvin Laird rằng mình không an tâm cho sự an toàn của gia
đình mình ở đó. ‘Ồ, đừng lo lắng,’ vị bộ trưởng quốc phòng nói. ‘Chúng
ta sẽ có một lực lượng ở lại Việt Nam trong 30 năm, giống như ở Đức.’
Nhưng các đợt rút đi của binh sĩ Mỹ diễn ra từng bước, cũng như các
hậu quả khốc hại của chúng. Khi Lữ đoàn Dù 173 rời tỉnh Bình Định,
việc bình định hóa sụp đổ và người cộng sản chiếm lấy quyền thống trị
chính trị. Vào tháng 7 Bill Colby, bộ não của CORDS và Phượng
Hoàng rời Việt Nam. Khi năm cũ khép lại, mặc dù vẫn còn 175,000
người Mỹ trên trận địa, hầu hết chỉ làm tròn chức năng yểm trợ: chỉ có
hai sư đoàn tác chiến Mỹ ở lại, một trong đó bị vô hiệu hóa. Thậm chí
trong số các đạo quân Úc tương đối vững vàng, trong các tháng cuối
cùng thời hạn phục vụ 1971 của Trung uý

Rob Franklin anh nghĩ, ‘Tôi sắp sửa kết thúc việc này.’ Anh đã nuôi
dưỡng một lòng tôn trọng sâu sắc đối với cộng quân – ‘những chiến binh
thực sự đẳng cấp’ – cộng với lòng khao khát mãnh liệt của bản thân là
không muốn chết tại thời điểm này của cuộc chiến. ‘Họ có thể gọi các
cuộc hành quân là “tìm và diệt”, nhưng đến lúc đó tôi cảm thấy nên gọi
“tìm và tránh’. Bạn có thể thấy chuyện này xong hết rồi.’ Một hôm
Franklin đang dẫn đầu một trung đội đụng đầu với hai tên VC mà họ đi
theo vào tận một đồn điền cao su. Chiều đã xuống, và ánh nắng đang
nhạt nhoà. Franklin ra hiệu dừng lại. Trung sĩ của anh, Arthur Francis,
hỏi: ‘Sao dừng lại vậy sếp?’ Trung uý trả lời: ‘Franger’ – biệt danh của
Francis – ‘các gã này đã đi xa rồi. Hãy để họ đi đi. Còn chúng ta hãy về

nhà thôi.’

CHƯƠNG 24 : TRẬN ĐÁNH LỚN NHẤT

1 Lê Duẩn Đẩy Nhanh Bước Tiến
Nhiều bộ sử về chiến tranh Việt Nam nhìn mọi sự kiện xảy ra sau Tết
1968 là một hậu quả, vì ngay từ lúc lệnh rút quân Mỹ được ban hành,
thì số phận Miền Nam đã an bày. Giả định sau có thể đúng, nhưng thực
tế sừng sững vẫn kéo dài: năm 1972 chứng kiến các trận đánh lớn nhất
trong toàn cuộc chiến – tất cả lực lượng xung đột trên một quy mô và độ
khốc liệt vượt xa những trận đánh 1968, với số thương vong khủng
khiếp cho cả đôi bên. Trong khi cũng năm đó, các quốc gia hùng mạnh
nhất thế giới tiến hành các hội nghị thượng đỉnh; các cuộc đàm phán ở
Paris hấp hối, rồi bắt đầu cù cưa hành hạ sao cho ra kết quả; Richard
Nixon tái đắc cử tổng thống. Lê Duẩn ráo riết bày mưu tính kế tại khu
nghỉ dưỡng Đồ Sơn hoặc tại Nhà Khách Quảng Bá Hà Nội. Vào mùa
thu 1971 ông lưu trú tại cả hai nơi đó, trước khi đưa ra một quyết định
trọng đại: quân Miền Bắc sẽ phát động một cuộc tấn công quy ước, để
phơi bày trước thế giới thất bại của chương trình Việt Nam hóa. Ông bỏ
ngoài tại các chống đối của một số đồng chí, vốn tin rằng sức mạnh của
không lực Mỹ sẽ tiễn đưa tham vọng này đến chỗ chết. Không lay
chuyển như bao giờ, ông ta hình dung đất nước mình đang giao đấu một
trận chiến của ý chí với Hoa Kỳ, trong đó phơi bày sự bạc nhược của
chế độ Sài Gòn sẽ khiến Hà Nội thêm thanh thế, có lẽ đẩy nhanh sự sụp
đổ của Thiệu. Ông lãnh đạm với viễn ảnh có thêm hàng vạn người dân
của ông phải chịu thiệt mạng, tại một thời điểm mà việc rút quân của Mỹ
đã chắc chắn. Nếu giới lãnh đạo quân sự Mỹ thường phô trương tính phi
nhân của họ, thì giới lãnh đạo Miền Bắc sánh ngang với họ về mặt tàn
bạo đối với tàn bạo.
Bởi vì việc chuẩn bị cho cuộc công kích 10 sư đoàn như cộng quân dự
định không thể nào che giấu được – trong đó lực lượng phía bắc có mật
dành Nguyễn Huệ để vinh danh vị anh hùng Việt Nam thế kỷ 18 đã đánh
bại quân Mãn Thanh – vì vậy người Mỹ nhận được tin tức tình báo rõ
ràng một cách bất thường. Tiếp theo buổi họp vào ngày 22 tháng 12
1971, Creighton Abrams suy ngẫm chắc chắn quân địch ‘đang mưu tính

điều gì đó. Tất cả dấu hiệu đều hiện ra ở đấy… Tôi chỉ không thích cái
mùi của nó.’ Ông tóm tắt tại một buổi họp khác 10 ngày sau đó: ‘Chúng
ta không biết khi nào và tại đâu … Điều duy nhất chúng ta biết là địch
đã quyết định… rằng tại một thời điểm thích hợp … họ sẽ tung ra toàn
bộ thứ chết tiệt đó’ – Ý ông muốn nói tất cả trừ hai đội hình chính quy ở
Miền Bắc. Vào ngày 20 tháng giêng 1972 một báo cáo viên MACV bảo
với các chỉ huy: ‘Không còn nghi ngờ gì nữa đây phải là một chiến dịch
lớn. Mũi tiến công chủ lực được kỳ vọng là ở Cao nguyên Trung phần
và phía bắc tỉnh Quảng Trị.’ Hai ngày sau ông nói thêm: ‘Lần đầu tiên
kể từ năm 1965 chúng ta đối mặt với một tình hình trong đó một cuộc
công kích lớn phải bị đánh bại chủ yếu bởi QĐVNCH.’ Ông kết luận:
‘Không ai có được mọi thuận lợi mình muốn.’ Câu nói khiến một tràng
cười rộ lên, vừa mỉa mai vừa lo sợ.
Vào ngày 2 tháng 2 Abrams nói, ‘Xô diễn bắt đầu! Màn đã kéo lên, và
chúng ta có vai trong đó.’ Tại một buổi phúc trình cho một phái đoàn
Hàn Quốc đến viếng thăm, ông như biết trước cho rằng mục tiêu của
cộng sản sẽ là ‘nhắm đến chỗ yếu nhất trong tổng thể bố trí, ý chí của
nhân dân Mỹ … Nếu họ có thể đánh chiếm căn cứ Bến Hét hoặc Thành
phố Kontum, trong một tuần lễ … rồi đe dọa Quảng Trị, báo chí sẽ nói
Việt Nam hóa Chiến tranh đã thất bại. Và một ít thành viên cuối cùng
còn lại của Quốc Hội vốn chủ trương tiếp tục hậu thuẫn hỗ trợ kinh
tế, cũng sẽ đánh mất niềm tin của mình.’ Tài liệu trên khiến người ta
thêm kinh ngạc tại sao khi quân Miền Bắc ra đòn, họ chiếm được lợi thế
bất ngờ. Đó một phần vìi Abrams kỳ vọng họ chuyển quân vào dịp Tết;
rồi sau khi họ không làm thế, giới truyền thông chế giễu ông là ‘chim sợ
cành cây cong’. Hơn nữa, không ai ở Washington muốn nghe các lời
cảnh báo. Vị cố vấn an ninh quốc gia, đặc biệt, dường như tin tưởng
rằng mình đang kiềm chế thành công những người cộng sản ở Paris, và
đang bận bịu với các vấn đề địa chiến lược khác.
Vào ngày 21 tháng 2 tổng thống bắt đầu chuyến công du lịch sử đến
Trung Quốc, cho thấy là một thắng lợi cho cả ông và người đồng hành:
Kissinger xuất hiện trên trang bìa tạp chí Time, mặc dù cảm hứng đưa ra
sáng kiến là của Nixon. Hai bên trao đổi thẳng thắn và cởi mở, đồng ý
giữ quan điểm khác nhau về vấn đề Đài Loan. Tổng thống nói rõ quyết
tâm ra khỏi Miền Nam và không quan tâm đến những gì xảy ra sau đó,

chừng nào mà trước khi cộng sản Miền Bắc đánh chiếm phải có một
‘khoảng cách hợp lý’, ‘khoảng cách vừa đủ’, ‘khoảng cách thời gian’ –
tất cả các cụm từ được Kissinger sử dụng với Chu Ân Lai tại các thời
điểm khác nhau. Phia Trung Quốc xác nhận một mong mỏi, cho thấy là
thành thật, muốn kết thúc tình trạng cô lập của mình, một mối quan hệ
mới tích cực với Hoa Kỳ vì điều đó họ sẵn sàng hy sinh về mặt chính
trị. Tuy nhiên, họ sẽ không cắt đứt viện trợ cho Hà Nội, trái với vọng
tưởng ngây thơ của hai người Mỹ. Trong khi chuyến viếng thăm của
Nixon chiếm các tít lớn hoành tráng cho ông, thì mối hy vọng khi bay
đến Trung Quốc là tìm kiếm hoà bình ở Việt Nam thì ông lại thất bại.
Dù sao, ông trở về nước tin tưởng rằng giờ đây mình có thể gần như làm
được mọi việc mong muốn đối với Miền Bắc, với bóng ma ám ảnh kéo
dài hàng thập niên là sự can thiệp của Trung Cộng giờ đã bị loại trừ.
Chính sách Đông Dương của ông từ đây về sau sẽ bị hạn chế bởi nhân
dân Mỹ, biểu thị là Quốc Hội, hơn là bởi Trung Quốc – hoặc Liên Xô.
Lê Duẩn và các đồng chí của mình nắm được ý nghĩa chuyển đổi này
trong cán cân chiến lược, và phẫn nộ trước điều mà họ nhận thức là hành
động phản bội của Mao, người mà chỉ với vài lời cảnh cáo hẳn có thể đã
tránh được cho họ một trận mưa bom mới. Một cán bộ cao cấp gay gắt
ví việc chủ tịch Mao chịu tiếp đón Nixon chẳng khác ‘ném một chiếc bè
cứu sinh cho một tên cướp biển sắp chết chìm’. Cảm nhận khổ sở của Hà
Nội không giảm đi khi Trung Quốc gửi đến một lượng khổng lồ hàng
viện trợ mới. Từ năm 1968, những đàm phán hình thức rỗng tuếch giữa
Miền Bắc và Hoa Kỳ vẫn tiếp tục ở Paris, lần lượt cầm đầu bởi Averell
Harriman, Henry Cabot Lodge và David Bruce. Fred Weyand, người
đảm đương phần việc làm cố vấn quân sự cho phái đoàn Mỹ, nhớ lại với
vẻ chán ngấy: ‘Phe cộng sản đúng là các địch thủ ương bướng. Không
chịu nhượng bộ cái gì cả. Khi cái bà Nguyễn Thị Bình ngồi vào bàn
đó, bạn biết ngay đó là một người lòng chứa đầy căm thù.’ Tuy
nhiên, những buổi họp duy nhất quan trọng là những phiên họp kín lâu
lâu một lần, diễn ra trong một biệt thự trát vữa xtuco trắng thuộc sở hữu
của Đảng Cộng sản Pháp, giữa Kissinger và Lê Đức Thọ của Miền Bắc.
Những buổi họp này cũng sa lầy vì Hà Nội cứ khăng khăng đòi gạt bỏ
Tổng thống Thiệu, sánh ngang với yêu sách của người Mỹ đòi quân
Miền Bắc rút khỏi Miền Nam – mặc dù từ mùa hè 1971 trở đi người Mỹ

hiểu rằng, cùng lắm, họ sẽ đạt được cử chỉ thiện chí về hướng cứu cánh
này. Trong năm có chiến dịch tái ứng cử tổng thống của Nixon, ông
quyết tâm không để dân chúng nhìn thấy ông đầu hàng, cứ xác nhận đi
xác nhận lại ‘Chúng ta không thể để thua trong cuộc chiến này.’ Nhưng
từ đầu ông đã dự định đem mọi lực lượng vũ trang về nước trước ngày
dân Mỹ đi bầu. Nhưng Kissinger đã can ngăn, nhấn mạnh rằng phải để
một số lực lượng ở nán lại thậm chí qua ngày bầu cử.
Thú vị thay, trong suốt nhiều cuộc đối thoại giữa Nixon-Kissinger được
thu âm trên băng từ Nhà Trắng, vị cố vấn an ninh quốc gia nhấn mạnh
đến tính trung tâm của của cuộc bầu cử tổng thống 1972 còn tha thiết
hơn cả chính ứng cử viên, trong khi hùa theo tính tự phụ của chủ nhân
mình theo phong cách mà Vua Louis XIV cũng có thể cho là quá đáng.
‘Tôi chắc chắn là người mạnh bạo nhất ở cương vị này – chắc chắn kể
từ thời Theodore Roosevelt,’ vị tổng thống khẳng định. Kissinger nhất
trí: ‘Còn phải hỏi.’
Nixon xem vụ oanh tạc như là một phương tiện tác động sức ép lên
Miền Bắc sao cho cử tri Mỹ – như được phản ánh trong các cuộc thăm
dò mà ông nghiên cứu rất kỹ – cho là chấp nhận được và kể cả đáng
khen ngợi một cách lạ kỳ, trong khi bộ binh thì không. Vào cuối năm
1972, vấn đề trở thành điểm có thể tranh luận là đến mức nào sự leo
thang đội bom của tổng thống được tác động bởi mệnh lệnh ngoại giao,
và đến mức nào bởi một quyết tâm cá nhân điên rồ, khía cạnh nào lấn
lướt hơn. Các học giả tiếp tục sôi nổi tranh luận những sắc thái và
khoảng thời gian của những lần dịch chuyển vị thế của Hoa Kỳ trong
tiến trình hoà bình Việt Nam. Dường như không cần thiết để chọn lựa
giữa các quan điểm đối lập. Những thực tế chủ chốt quá rõ ràng, chỉ có
điều việc nhìn nhận chúng là bị đình hoãn: nhân dân Mỹ cương quyết
thoát ra khỏi Việt Nam; giờ họ gần như quan tâm độc nhất đến số phận
người thân họ đang nằm trong tay cộng sản, đề tài được quá nhiều lời
bàn tán – một cách vu vơ, vì Hà Nội sẽ tất nhiên sẽ thả các tù nhân một
khi các lực lượng Mỹ cuối cùng đi về nước. Xạ thủ B-52 Jack Cortel
viết: ‘Đem tù binh chúng ta về là điều duy nhất cho chúng ta một ý thức
về mục đích.’
Trong khi đó ý chí chiến đấu của người Miền Nam, và nhiệt tình của
binh sĩ họ dành cho chế độ Sài Gòn, giờ vẫn yếu ớt. Thiếu tá QĐVNCH

Nguyễn Công Luận bình luận về 100 lẻ vị tướng của xứ sở anh với các
sĩ quan bạn bè. Họ kết luận rằng khoảng 20 tướng là có năng lực và liêm
khiết, trong khi 10 tướng vừa tham nhũng quá mức vừa bất tài không có
thuốc chữa. Giữa cuộc thảo luận với người Mỹ làm thế nào nâng cao
tinh thần binh sĩ, Tướng Ngô Dzu đóng góp ý kiến là bắt chước hệ thống
quân đội Pháp là đưa vào nhà thổ dã chiến lưu động phục vụ cho binh sĩ.
Một sĩ quan trẻ Miền Nam viết cho một thông tín viên Anh bày tỏ nỗi
vui sướng khi anh và người bạn thân nhất được ở trong ngành phi tác
chiến của quân đội Sài Gòn: ‘Nhờ thế chúng tôi không phải giết ai cả –
điều này khiến chúng tôi vui mừng khôn xiết.’
Một khi người Mỹ đã ra đi rõ ràng không chắc là Miền Nam có thể sống
còn, cả Nixon lẫn Kissinger không thể tự lừa đối mình khác được. Họ
chỉ quan tâm duy trì chính quyền Miền Nam qua một khoảng thời gian
từ 18 tháng đến hai năm coi như là làm tròn lời cam kết cho tương lai
của xứ sở đó.
Kissinger, đặc biệt, tử tế với Trung Quốc và Nga, những kẻ thù của Mỹ,
nhiều hơn nhiều với bạn bè của mình. Phe biện hộ cho hai người này
lập luận rằng họ mang nặng trách nhiệm phải rút nước Mỹ ra khỏi một
cuộc chiến không do họ gây ra, và đã chơi một tay bài đang thua một
cách khéo léo như có thể. Ít nhất lý lẽ đầu của hai mệnh đề này là có giá
trị. Thay vào đó, lịch sử kết tội họ đã chủ trì những năm qua máu đổ thịt
rơi vô cớ, chỉ để che giấu cử tri Mỹ, vì các mục đích đảng phái của họ,
việc không thể tránh khỏi bị bẽ mặt ở Đông Dương.
Đầu năm 1972 Thiếu tá Walt Boomer đang phục vụ tại Căn cứ Hỏa lực
Sarge trong tỉnh Quảng Trị với vai trò cố vấn cho một tiểu đoàn TQLC
Miền Nam. Trở lại Bethesda, Maryland, bà xã ông nói trong nỗi bối rối
buồn rầu trước khí ông lên đường, ‘Em không thể hiểu được tại sao anh
lại làm việc này.’ Boomer trả lời, ‘Đó là việc anh phải làm. Đó là vì anh
là quân nhân.’ Tuy nhiên khi đến Đà Nẵng, anh bị sốc trước cảnh tượng
tiêu điều của nó, với quá nhiều người Mỹ đã ra đi; các cơ sở tan hoác
đang rệu rã. Ông nhận thấy người tiền nhiệm đã làm binh sĩ Việt căm
ghét vì thói hống hách của y, và anh phải mất chút thời gian để tạo dựng
sự cảm thông. Boomer gặp rắc rối trước hố ngăn cách giữa sĩ quan và
binh sĩ: ‘Viên thiếu tá chỉ biết phát ra kỷ luật bằng cây gậy to. Tôi cảm
nhận rằng nếu chúng tôi bước vào một thế giới rắc rối, điều này có thể

là một vấn đề. Tôi cô độc – đọc ngấu nghiến, làm việc ngoài trời
nhiều, . Tôi không thoải mái khi ở bên họ. Họ không tìm kiếm việc giao
tranh, họ có vẻ như kiệt sức.’ Trong những ngày trước cuộc công kích
của Miền Bắc, anh hối thúc họ tuần tra nghiêm ngặt hơn, nhưng sau khi
trong một lần tuần tra họ đụng độ với địch, viên thiếu tá từ khước gửi
binh sĩ ra ngoài nữa. Boomer nói, ‘Chúng ta phải bẻ gãy việc họ xây
dựng lực lượng.’ Người sĩ quan Miền Nam nhún vai: ‘Chúng tôi không
đủ sức.’ Người cố vấn Mỹ không cho họ là hèn nhát, ‘nhưng họ đang ở
trong tâm trạng không muốn xông vào chốn hiểm nguy nếu không cần
phải.’ Tuy nhiên, hàng triệu người Miền Nam mang vũ khí bỗng thấy
mình đương đầu với mối nguy có thực, hiện diện trần trụi và không sao
tránh được.

2 BÃO NỔI LÊN RỒI
Trung tá Gerry Turley, trên một chuyến thăm kết thân với bộ chỉ huy Sư
đoàn 3 ở Quảng Trị, dự định bay về Sài Gòn vào ngày 29 tháng 3 1972,
nhưng trực thăng ông bị hoãn lại. Đến trưa ngày hôm sau ‘thế giới bỗng
tan nát’. Cộng quân chiếm được yếu tố bất ngờ khi giẫm đạp những
mảnh rách tơi tả còn lại của Hiệp định Geneva 1954, cho xe tăng ồ ạt
tiến về nam vượt qua Vùng Phi Quân sự, đồng thời tấn công từ phía tây.
Kẻ thù đã điều chỉnh pháo hướng về các căn cứ hỏa lực phía bắc chẳng
bao lâu sẽ bị hủy diệt. Khi cuộc công kích phát triển, tham mưu trưởng
Miền Bắc Văn Tiến Dũng cũng phát động những cuộc tấn công chủ yếu
vào Cao nguyên Trung phần và về phía thị trấn chủ chốt An Lộc, cách
Sài Gòn chỉ 60 dặm, trong khi VC và bộ đội tăng cường sự phá hoại
trong vùng Cửu Long. Người Mỹ và Miền Nam không chỉ bị sốc vì quy
mô của sức tấn công, mà còn vì các vũ khí mới của Xô viết và Trung
Quốc mà địch mới nhận được: 600 xe tăng nặng và nhẹ; tên lửa đối
không vác vai SA-7 Strela hiện đại nhất; tên lửa chống tăng kể cả tên lửa
chống tăng AT-3 Sagger điều khiển bằng dây, mà hàng ngàn bộ đội
được huấn luyện sử dụng ở hải ngoại, phần đông ở Đông Âu.
Ở phía bắc, một mùa thảm họa mở ra. Hoàng Xuân Lãm tệ hại, người
chỉ huy Quân đoàn I, từ chối thừa nhận sức mạnh của mũi thọc sâu của
địch. ‘Lãm không hề báo cáo tin xấu,’ Tướng Viên nói tại Tân Sơn Nhất.
Đại sứ Ellsworth Bunker đã rời Việt Nam nghỉ lễ Phục sinh, giống như

Creighton Abrams. Vị xếp MACV này đang ở Bangkok với bà xã, trong
tiến trình cải sang đạo Thiên Chúa, vì thế Fred Weyand, người phó của
ông, tạm thời chỉ huy.
Weyand ra sức ngăn chặn các trao đổi gây hoảng loạn, nhưng ‘trong tình
huống này, dù bạn mô tả thế nào, nó vẫn cứ là một cuộc tấn công biển
người, bởi vì đúng là rất nhiều quân địch ồ ạt tràn đến xông vào hang ổ
kẽm gai của bạn.’ Quân đội địch đã canh đúng thời điểm công kích vào
mùa gió mùa ở Quảng Trị; nhất là trong những ngày đầu, mây thấp làm
nản lòng trầm trọng sự đáp ứng của không quân Mỹ. Vào buổi sáng
ngày 2 tháng 4, Chủ nhật Phục sinh, xe tăng cộng sản được phát hiện
tiến về hướng cầu Đông Hà bắc qua Sông Cửa Việt. Lúc 09:15 một
Gerry Turley dạn dày chinh chiến bỗng thấy mình được cử làm trưởng
cố vấn của Sư đoàn 3 đang suy sụp, sau khi sĩ quan Mỹ cấp trên của ông
đã chuồn cùng với tư lệnh sư đoàn Miền Nam. Turley mô tả cảnh
tượng: ‘Các sĩ quan tham mưu QĐVNCH và binh sĩ đơn giản bật
dậy, chụp lấy đồ dùng cá nhân của mình, rồi chạy ra khỏi boongke. Các
sĩ quan cao cấp nhất ra trước. Các máy truyền tin để lại và mặc nhiên bị
bỏ đi; bản đồ và tài liệu đã phân loại vẫn nằm tại nơi chúng được sử
dụng lần cuối cùng. Trật tự tan chảy thành hỗn loạn khi những con
người sợ hãi, vốn đã không còn là chiến sĩ, chạy nhanh đến các xe cộ
gần nhất. Những binh sĩ Mỹ hoảng sợ mang đài và thiết bị âm thanh nổi
phóng đến bãi đáp gương mặt lộ vẻ tuyệt vọng. Thật là một ngày tối
tăm và bi thảm.’
Turley bị bắt buộc phải ra lệnh cho một sĩ quan Mỹ định chạy trốn phải
ở lại – và sau đó phải lặp lại lệnh hai lần nữa. Chính ông cũng phải suy
nghĩ: thời tiết xấu đang chống lại chúng tôi; bộ binh Sài Gòn đang biến
mất; pháo của họ không bắn lại; xe tăng đang tiến thẳng đến chỗ chúng
tôi. Ông quá kinh ngạc ngạc trước chỉ thị phải nắm quyền chỉ huy đến
nỗi, để xác thực, ông hỏi số bảo hiểm xã hội của vị đại tá ban hành chỉ
thị ấy – một sự thận trọng may mắn, bởi vì khi Abrams trở lại Sài Gòn
để nhận được các báo cáo tồi tệ từ phía bắc, ông giật mình không thể tin
được. Vị tướng được cho biết: ‘Một trung tá cố vấn TQLC ở căn cứ tác
chiến Quảng Trị cho biết tình hình ở đó đang nguy kịch ‘ – đây chính là
Turley. Tuy nhiên, cấp trên của Turley, Thiếu tướng Fred Kroesen tại

Đà Nẵng, tuyên bố rằng người trên địa điểm đã sai, và đã lâm vào tình
trạng hoảng loạn.
Abrams thịnh nộ nói: ‘Cảm nhận của tôi là đang có tình trạng chết tiệt là
nhiều người đang chơi cần sa… Tôi không biết hết mọi động thái phải
làm để ngăn chặn rác rưởi này, nhưng… Tôi muốn cái thứ ‘chết tiệt’ này
dừng lại!’ Tuy nhiên, trách nhiệm cho thứ ‘chết tiệt’ này nằm trong tay
người Miền Bắc, và chỉ vừa mới bắt đầu. Giới lãnh đạo QĐVNCH ở các
tỉnh phía bắc suy sụp. Turley nói: ‘Vấn đề cốt lõi luôn là: Ai nắm quyền
chỉ huy? Sau 6 năm, chúng tôi vẫn còn chưa giải quyết được chuyện đó.
Không có sự thống nhất trong quyền chỉ huy. Ở phía bắc, sau khi chúng
ta rút đi 70,000 lính Mỹ, người Miền Nam còn chưa thể lấp đầy các
khoảng trống.’
Giữa các sĩ quan trên bộ và Không lực Mỹ diễn ra sự tranh cãi gay gắt
khi máy phát tín hiệu cứu cấp phát ra tiếng bíp bên trong Vùng Phi Quân
Sự sau khi chiếc EB-66 của anh bị bắn rơi. Trong khi một nỗ lực lớn lao
được tiến hành nhằm giải cứu anh, không lực áp đặt lệnh cấm pháo kích
vượt quá 15 dặm quanh vị trí được báo cáo của phi công rơi xuống –
bao gồm cả hành lang qua đó các cột quân Miền Bắc đang đổ về nam.
Cố vấn Yểm trợ Không lực Thiếu tá David Brookbank chua chát viết
trong một báo cáo hậu hành động: ‘Điều này ban cho địch một cơ hội có
một không hai trong niên giám chiến tranh là được tiến quân theo ý
mình muốn.’ Viên phi công thất lạc cuối cùng được toán SEAL Miền
Nam và cố vấn Hải quân của họ giải cứu vào ngày12 tháng 4, sau khi
hai máy bay tìm kiếm cánh cố định và một trực thăng Jolly Green Giant
bị mất dưới tên lửa địch. Mặc dù 70,000 người Mỹ còn ở lại Việt
Nam, chỉ có 6,000 là binh sĩ tác chiến; các trận đánh giờ diễn ra sẽ do
binh sĩ Miền Nam và các cố vấn họ quyết định – và trên hết bởi không
lực.
Người ta thường cho rằng phi hành đoàn trực thăng cấu thành một bộ
phận duy nhất của Lục quân Mỹ và Quân đoàn TQLC tại Việt Nam mà
lòng quả cảm và xả thân không hề giảm sút. Trong số những người hùng
đi đầu trong các trận đánh 1972 là các phi công Mỹ xông vào chốn hiểm
nguy để giải cứu các cố vấn trong vòng vây đạn lửa. Một chiếc Huey
bay với đội hộ tống gồm 2 chiếc Cobras nhằm giải cứu một đội quan sát
tiền tiêu 5 người khỏi boongke Alpha 2, ngay phía dưới Vùng Phi Quân

Sự. Nó đáp xuống dưới hỏa lực pháo và Trung uý Joel Eisenstein phóng
30 ya đến boongke, tại đó anh tìm thấy Trung uý Dave Bruggeman bị
thương trầm trọng bởi các mảnh pháo bắn vào đầu – chàng trai trẻ đã
trao chiếc mũ sắt cho một người lính TQLC Miền Nam đã bị mất nón sắt
của mình. Eisenstein lôi vị sĩ quan đến trực thăng, và kéo lên trực thăng
một số thương binh khác, rồi cất cánh. Nhưng một binh sĩ Việt, giận dữ
vì họ không thể chở thêm mình, nhắm súng phóng lựu M-79 ‘Thumper’
vào họ. ‘Một ý nghĩ vụt qua đầu tôi: tên chết tiệt này sắp sửa bắn tan xác
chúng tôi trên bầu trời. Nếu hắn không được đi, hắn không muốn ai
cũng được đi.’ Nhưng người lính Việt kiềm chế, còn Bruggeman chết
giừ không trung, trong vòng tay Eisenstein. Sau đó, khi họ di tản nhiều
người Mỹ hơn khỏi căn cứ lớn Ái Tử, sĩ quan Sài Gòn chóp bù của căn
cứ xô vẹt đường để leo lên trực thăng trước.
Tại trung tâm hành quân ở Quảng Trị, viên kiểm soát không lưu chiến
thuật thuộc Không lực Việt Nam đã biến mất, cùng với nhiều người
khác. Turley bảo Đà Nẵng cầu Đông Hà phía nam phải được giật sập
trước khí đoàn xe tăng địch đến, nhưng ý này bị các sĩ quan cao cấp Mỹ
phủ quyết: nó cần giữ nguyên cho trận phản công. Rồi người sĩ quan
TQLC thúc giục người Việt củng cố lực lượng phòng thủ cầu, nhanh. Tư
lệnh sư đoàn từ chối. Thay vào đó Turley khẩn khoản với chỉ huy lữ
đoàn hãy hành động theo sáng kiến của mình. Sau một lúc nghĩ ngợi
ngây người kéo dài, viên chỉ huy người Việt nhìn vào bản đồ, rồi quay
nhìn Turley, nhấp nháy mắt nói – không thể nếu không được sự tán
thành của chỉ huy ông ở Sài Gòn. Người Mỹ tuyệt vọng van nài khẩn
thiết với người Việt, cuối cùng y nói bằng thứ tiếng Anh tuyệt nhất “Tôi
sẽ ra lệnh cho tiểu đoàn trưởng cố thủ Đông Hà.”‘ Turley hét lên, ‘Ôi
trời, vậy là cuối cùng có cơ may rồi!’
Lực lượng Miền Nam triển khai ba đội chống bọc thép bằng vũ khí
chống tăng nhẹ 66mm vác vai tại đầu cầu phía nam. Họ nhìn bọn xâm
lược đang kéo cờ trên một rầm cầu thép, ngay cả khi người tị nạn và kẻ
lang thang vẫn còn lũ lượt chạy qua cầu. Chống lệnh, Turley chỉ thị Đại
uý John Ripley, một cố vấn bộ binh: ‘Dù sao cũng phải phá hủy cầu
Đông Hà’.
Một ít ngày trước, Ripley tìm cách bớt đi nỗi chán chường mãn tính
bằng việc lắp ráp trò ghép hình King Kong 1000 mảnh. Giờ anh đi nhờ

một xe tăng M-48 về phía đông qua thành phố Đông Hà, con đường đã
vương vãi đống đổ nát và xe cộ bị phá hủy vì đạn pháo của cộng quân.
Trên bờ bắc sông, nơi bốn năm trước Đại uý Jim Livingston và đại đội
TQLC của anh đã triển khai trước trận đánh Đại Đô, một đoàn 20 xe
tăng hiện ra. Một số binh sĩ Việt bỏ trốn lũ lượt lùi về tuyến sau chiếm
đoạt các xe jeep có máy liên lạc của cố vấn Mỹ. Biên bản của bộ chỉ huy
ghi nhận: ‘Trung đoàn 57 đã tan vỡ và hoàn toàn tháo chạy.’ Một thiếu
tá TQLC Việt từ xe tăng nhảy xuống, nắm lấy một binh sĩ đang chạy
trốn, quát lên, ‘Mầy tính đi đâu?’ Người lính kêu lên, ‘Vô ích, vô ích
thôi.’ Viên sĩ quan rút súng lục và bắn chết ngay đồng đội, nhưng thật
nản lòng việc hành hình là vô ích: hàng trăm người và rồi hàng ngàn
binh lính Sài Gòn chẳng bao lâu tháo chạy.
Nhưng có một số ở lại – và chiến đấu ngoan cường. Tại cầu Đông Hà
một hạ sĩ tên Lượm bắn khẩu chống tăng vác vai vào chiếc xe tăng địch
dẫn đầu – nhưng trật. Phát thứ hai nổ dưới tháp pháo, khiến xe tăng lật
nhào; Lượm tử trận một ít tuần sau đó. Bộ binh địch chuyển sang dùng
cầu đường sắt cũ thời Pháp gần đó, mà một nhịp của nó đã gãy đổ vào
năm 1967, nhưng đống sắt đổ bộ đội vẫn đi bộ qua được. John Ripley
gọi pháo của hải quân Mỹ chặn đứng bộ đội, và sau đó phá hủy 4 xe
tăng địch. Xe tăng Sài Gòn trên bờ nam bắt đầu nã pháo vào lực lượng
bọc thép địch bên kia sông.
Rồi Ripley và Thiếu tá lục quân Jim Smock bắt đầu phá hủy cầu xa lộ,
tại đó họ tìm thấy 5 kỹ sư công binh QĐVNCH buồn rầu nhìn chồng hộp
thuốc nổ plastic. Ripley sau này nói: ‘Họ dường như tự hỏi liệu có phải
chúng tôi được cử tới để giết họ hoặc liệu họ có nên tự tử để chúng tôi
khỏi lo liệu. Không con người nào… từng trông có vẻ tuyệt vọng và bất
lực đến như vậy.’ Trong khi những người Mỹ đi tìm một cách vô vọng
các kíp nổ, nhóm kỹ sư công binh biến mất. Giữa cây cầu và đống thuốc
nổ là một hàng rào lớn. Ripley băng qua, rồi tới Smock nhấc 25 thùng,
từng thùng một, cả hai cánh tay bị kẽm gai cào nát. Ripley leo lên rầm
cầu và bắt đầu đặt thuốc nổ, bị quân địch theo dõi từ đầu cầu phía bắc.
Họ bắt đầu khai hỏa vào Smock, nhưng lạ thay để yên Ripley, nhưng rồi
một xe tăng T-54 cũng lốp một vài quả về phía anh. Sau ba giờ lao động
đau nhừ, kiệt sức, căng thẳng thần kinh trong khi đó người con chiên
sùng đạo luôn miệng lẩm bẩm với mình, ‘Jesus, Mary, xin giúp con,’

cây cầu đã đặt xong. Họ tìm thấy hộp kíp nổ điện, liền chạy dây trở lại
đến chiến tuyến của QĐVNCH, lấy một bình điện từ một xe jeep đã bị
phá hủy, rồi bấm chốt nổ.’ Không có gì xảy ra. Tuyệt vọng, họ bấm nút
lần nữa rồi lần nữa, cho đến khi thình lình một tiếng nổ lớn phát ra và
nhịp cầu phía nam sụp đổ rơi xuống sông. Ripley điện đài cho Gerry
Turley: ‘Cầu Đông Hà đã sập. Tôi nói lần nữa cầu đã sập. Hết.’ Turley
ghi nhận thông điệp lúc 16:30. Walt Boomer, đối diện với các rắc rối của
mình xa hơn ở phía tây, sau này nói với lòng biết ơn sâu xa: ‘Ripley đã
cứu vớt mạng sống chúng tôi.’ Tại Sài Gòn một phúc trình viên báo cáo
với Abrams TQLC đã đánh sập cầu ‘trong khi đợi giải tỏa’, gây nên một
tràng cười nhẹ nhõm trong nhóm chỉ huy. Ripley sau đó nhận được
huy chương Thập tự Hải quân: kỳ tích của anh đóng một vai trò quyết
định trong việc làm chậm lại đà tiến của địch về phía nam.
Xa hơn về phía tây tại Trại Carroll, chỉ huy trung đoàn Miền Nam Đại tá
Phạm Văn Định, người đã cầm đầu một tiểu đoàn tại Huế 1968, cho biết
đã nhận được một thông điệp trần trụi của đối thủ đồng cấp Miền Bắc tại
khu vực: ‘Đầu hàng hay là chết.’ Ông đề nghị ngừng bắn để thảo luận
yêu cầu này với sĩ quan của mình, cả thảy 13 người họp trong phòng
hành quân lúc 15:00 ngày 2 tháng 4. Ông bảo họ: ‘Nếu chúng ta tiếp tục
chiến đấu, nhiều người sẽ thiệt mạng. Cho dù nếu chúng ta chết hoặc bị
thương hoặc đánh thắng, cũng không ai ngó ngàng tới chúng ta. Giờ đây,
chúng ta phải tự chăm sóc bản thân mình.’ Chỉ một thiếu tá duy nhất
giục cứ chiến đấu, trong khi những người còn lại vẫn câm lặng. Định đạt
được phiếu bầu cho giải pháp đầu hàng, đoạn ông tiến đến các cố vấn
Mỹ, Trung tá William Camper và Thiếu tá Joe Brown. Camper đã coi
trung đoàn, vốn chứa nhiều người đào ngũ trước đây, như ‘một tai họa
đang tìm một nơi để xảy ra’. Ông đã gặp Định 7 năm trước, và thậm chí
trước khi thảm trạng hiện giờ xảy ra ông đã bị sốc trước sự thay đổi
trong con người ông ta – vị sĩ quan Việt dường như ‘mũm mĩm và thờ
ơ’.
Chính Định sau này nhìn nhận ‘có một số vấn đề trong đầu tôi’. Binh
lính ông không thèm chiến đấu nữa, ông bảo với các cố vấn, và đề nghị
họ có thể vui lòng tự xử ‘để tránh bối rối cho chúng tôi’. Camper nói,
‘Đó không phải việc người Mỹ thường làm,’ và tạm thời hãy xem xét
việc bắn quân địch. Rồi ông điện cho Turley và nói một cách bí ẩn rằng

mình đang rời bỏ vị trí ‘vì những lý do không thể giải thích được ‘.
Turley không biết chuyện gì xảy ra, nói: ‘Không, Trung tá, hãy cứ ở yên
đó và làm công việc chết tiệt của mình!’ Nhưng khi người Mỹ nói rõ
tình huống tuyệt vọng của mình, một trực thăng nhào xuống qua một
hành lang hỏa lực địch, gây hư hại ống thủy lực. Được 5 chiếc Cobra
yểm trợ nó giải cứu được các cố vấn, cuối cùng về đến Quảng Trị. Tại
Carroll, 1800 tù bình và 5 dàn pháo rơi vào tay cộng quân. Định được
thưởng cho một chức vụ trong quân đội Miền Bắc.
Khi Turley báo cáo các diễn tiến này đến MACV, ông nhận được một
câu trả lời phẫn nộ: ‘Đại tá, ông điên rồi. Tham mưu Quân đoàn Miền
Nam không hề hay biết gì về vụ đầu hàng đó. Trại Carroll có 20 khẩu
pháo, 2,000 binh sĩ… Ông lầm lẫn rồi.’ Không lâu sau đó Turley nhận
lệnh ngay lập tức rời vị trí, bay đến Sài Gòn để đích thân tường trình cho
Abrams. Ông bị quở trách thậm tệ, nhờ có thể trưng ra các lệnh viết tay
của mình mới thoát khỏi hình thức kỷ luật. Tại một thời điểm khi mọi
nơi từ Nhà Trắng trở xuống cuộc săn lùng dê tế thần đã bắt đầu, do xui
xẻo người sĩ quan TQLC phải chịu tin dữ đầu tiên.
Cuộc tấn công của địch vào căn cứ yểm trợ hỏa lực Sarge, phía tây
Carrol, bắt đầu với một trận bão lửa rốc kết. Ngọn đồi gần đó nhanh
chóng bị đánh chiếm, và lực lượng phòng thủ tan tác. Walt Boomer, vô
cùng cô độc, không hi vọng nhìn lại người bạn cố vấn của mình Ray
Smith – và cả ít hi vọng được đi về nhà. Việc pháo kích Sarge thêm dữ
đội, thương vong tăng vọt, trong đó có hai chuyên viên nghe lén điện tử
trẻ tuổi người Mỹ bị thiệt mạng. Sau khi boongke của người TQLC bị
trúng pháo trực tiếp, rõ ràng là vị trí này không thể giữ vững được, và
ông thúc giục chỉ huy Việt rút quân. Cuối cùng viên thiếu tá đồng ý:
‘Giờ chúng ta đi.’ Họ khởi hành lúc đêm xuống, đồng hành với thương
binh còn đi được, và trải hai ngày tiếp theo trong rừng, không nhìn thấy
địch nhưng thường nghe họ nói. Rồi, khi họ ra đến vùng trống trải, quân
địch trông thấy, và tỏa ra. Các binh sĩ đồng hành với Boomer chạy túa
khắp mọi hướng. Người Mỹ hét lớn bằng tiếng Anh đối với họ là vô
nghĩa: ‘Đứng lại! Đừng chạy! Đừng bỏ lại người bị thương!’ Ông phải
kiềm chế lắm mới không bắn anh lính truyền tin khi y đã ném đi bộ máy
của mình – vật cứu sinh của Boomer. Về phần các binh sĩ chạy trốn
khác, Boomer nói: ‘Tôi còn nhớ như in ánh mắt khiếp đảm của họ khi

họ.lướt qua tôi … Lúc đó mạnh ai lo thân nấy.’ Nhóm nhỏ của họ tiếp
tục đi – đứng ra là loạng choạng ở bên lề giới hạn của kiệt quệ thể chất
và tinh thần – cho đến khi đến được một căn cứ hỏa lực bạn. Trước sự
kinh ngạc của Boomer, Ray Smith cũng xuất hiện, anh đã cõng một sĩ
quan Việt bị thương với sự giúp đỡ của một binh sĩ Việt. Tiểu đoàn của
anh chỉ còn sống sót 68 người. Họ biết rằng họ phải tiếp tục di chuyển
trước làn sóng cộng quân, nhưng Boomer cảm thấy quá kiệt sức để có
thể đi thêm nổi một dặm đường. Smith liền buộc một sợi thừng quanh
cổ tay người đồng đội và thắt nút vào thắt lưng của ông, cả hai dính liền
nhau lững thững bước qua bóng đêm. Đến bình minh họ tiến gần đến
Quảng Trị, Smith, vẫn còn máy phát vô tuyến, liên lạc với người Mỹ,
sửng sốt vì tưởng họ đã chết. Máy bay Huey được phái đến nơi. Tuy
nhiên, phân nửa tiểu đoàn họ đã chết hoặc bị thương. Và quân địch chỉ
mới bắt đầu.
Vào ngày 3 tháng 4 quân Miền Bắc bắt đầu tiến vào Cao nguyên Trung
phần, đánh chiếm căn cứ yểm trợ hỏa lực Delta. Trong các tuần lễ sau
đó, nhân vật chủ chốt trong việc phòng thủ khu vực là John Paul Vann
– người đã chủ trì thảm họa ở Ấp Bắc vào tháng giêng 1963. Trong
những năm xen giữa một biến đổi đã xâm chiếm con người ông mà ít
người ngưỡng mộ ông trước đây cho là tốt lành. Từ một người hoài
nghi sắc sảo, người chống quyền hành khinh suất, ông đã trở thành một
chiến binh bị ám ảnh. David Elliott nói: ‘Vann đã thành một con người
khác. Trong những năm cuối cùng của anh anh phát biểu những điều mà
anh chàng Vann trước kia hoàn toàn chối bỏ.’ Bằng cách kết thân với tư
lệnh Quân đoàn II, Tướng Ngô Dzu nặng nề, chậm chạp, Vann được bổ
nhiệm làm.một nhân vật cao cấp, một viên chức ngang cấp hai sao, hoạt
động như một bộ phận của tư lệnh địa phương. Dù Abrams không ưa gì
Vann, sự xả thân cứu tinh của người đàn ông nhỏ con đã chinh phục
được sự ngưỡng mộ của Richard Nixon, Fred Weyand – và các sĩ quan
Miền Nam, đặt ông biệt danh ‘Ngài B-52’, vì khả năng phi thường gọi
tới như làm phép các cuộc không kích trong các tình thế tưởng như tuyệt
vọng.
Tại Cao nguyên Trung phần trong hai tháng cuối cùng trong cuộc đời
hoang dã của Vann, ông triển khai mọi phân khối năng lượng và cơn
thịnh nộ của mình để đẩy lùi quân Miền Bắc. Ông bay các chuyến tiếp

tế, chỉ đạo yểm trợ hỏa lực và bay qua đạn lửa theo một phong cách cuối
cùng bẻ gãy thần kinh của chàng phi công ưa thích gắn bó từ lâu với
ông, Bob Richards, đến nỗi dù tọng bao nhiêu rượu cũng không còn
thuyết phục được chàng phi công đóng vai tài xế cho một con người thờ
ơ với đạn pháo. Vann xử sự như thể Việt Nam là tài sản của chính mình,
thành ra nhiều người Mỹ thấy không thế nào nghĩ đến Vann mà không
nghĩ đến chiến tranh. Lòng quả cảm của ông là lòng quả cảm của một
con người gần như điên dại, nhưng đủ thông minh để biết, bằng trái tim
mình, rằng mình đang nỗ lực thách thức số mệnh.
Một tình trạng mệt mỏi – kéo dài hàng năm chứ không chỉ ngày hay
tuần – đè nặng lên nhiều binh lính Miền Nam khi họ dàn quân trên Cao
nguyên. Sĩ quan Hành quân Dù Đại uý Đoàn Phương Hải nhớ lại khi
đơn vị anh tiến lên Đường 14 về hướng Kontum mình đã bị thương
trong một trận đánh cũng trên con đường ấy vào năm 1967, sau đó được
Cha Joe, một giáo sĩ Pháp được dân chúng yêu mến, cứu chữa trong một
nhà thờ Công giáo địa phương.
Giờ đây, Hải nhìn thấy tháp chuông nhà thờ đã sụp đổ; nhà thờ chỉ còn
là đống gạch vụn. Tiểu đoàn Dù 11 được triển khai để chống giữ Căn cứ
Hỏa lực Charlie, cách Tân Cảnh 6 dặm về phía tây-nam. Chỉ huy căn cứ,
Trung tá Nguyễn Đình Bảo, được anh em binh sĩ gọi là ‘Anh Năm’, vô
cùng khổ sở về mệnh lệnh mình đưa ra, thường là yêu cầu đơn vị phải
giữ vững một vị trí cố định, nhường quyền tấn công cho quân địch. Các
đội tuần tra sớm phát hiện các lực lượng địch hùng mạnh, đào boongke
và đặt ụ pháo trong tầm bắn dễ dàng.
Hai bên bắt đầu trao đổi hỏa lực. Vào ngày 6 tháng 4 quân Miền Bắc
phát động một cuộc tấn công chủ lực vào Căn cứ Yểm trợ Hỏa lực
Delta, phía nam Charlie, kéo dài đến suốt đêm. Quân địch xuyên thủng
vành đai Delta và đánh chiếm phân nửa các cứ điểm của nó. Vào hừng
sáng họ đã bị đẩy lùi với tổn thất nặng nề, nhưng binh sĩ Tiểu đoàn 11
biết rằng sẽ đến lượt họ. Bảo, người được nhiều binh sĩ yêu quý, bảo
với hai phụ tá tin cậy nhất của mình, Thiếu tá Lê Văn Mễ và Đại uý
Hải, hãy chiếm các boongke cách ông một khoảng, để nếu ông có chết
một trong hai sẽ nắm quyền chỉ huy. Ông kêu gọi tiết kiệm đạn dược, cài
hết mìn Claymore có được, nới rộng ra xa các trạm nghe ngóng. Hải
viết: ‘Tiểu đoàn sẵn sàng đón nhận những thời khắc khủng khiếp.’

Ban đêm khi quân địch tiếp tục xây dựng lực lượng, họ theo dõi từng
đoàn quân xa Moltova vận chuyển tự do xuống Đường Mòn Hồ Chí
Minh đèn xe chiếu sáng rực. ‘Pháo chúng tôi không vươn tới họ được.
Chúng tôi gọi không kích, nhưng không được đáp ứng. Chúng tôi nhờ
cố vấn đơn vị Thiếu tá John Duffy gọi B-52, nhưng không có gì xảy ra.’
Bảo đã từng tham dự khóa học chiến tranh rừng rậm ở Mã Lai, tại đó
ông tìm được một áo khoác bằng vải dù để ngụy trang mà ông luôn mặc
trên người. Tuy nhiên, các đồng đội mê tín của ông xem chiếc áo này là
điềm gỡ: họ xin ông cởi nó ra, nhưng ông nhất định không nghe.
Trong những ngày tiếp theo một trận bão hỏa lực pháo rơi ập xuống
Charlie, sau đó vào ngày 9 tháng 4 là cuộc tấn công đầu tiên của bộ
đội. Địch bị đẩy lui với tổn thất nặng nề, nhưng pháo 105mm của địch
cũng gây đòn trừng phạt khủng khiếp cho lực lượng phòng thủ. Vào
ngày 10, sau một trận pháo kích hủy diệt khác, Sư đoàn 320 của quân
địch tiến hành một chuỗi tấn công liên tiếp. Khuya đêm đó các sĩ quan
của Anh Năm lại lần nữa van xin anh liệng bỏ chiếc áo khoác. Anh chịu
thua nói: ‘Được rồi, tôi sẽ nghĩ lại vào sáng mai – tức là còn khoảng 30
phút nữa. Các cậu chỉ muốn làm khó tôi, hay là muốn cuỗm cái áo
choàng xịn của tôi đó. Quần áo đâu có dính líu con mẹ gì đến may rủi
đâu!’
Rồi B-52 đến, do John Duffy gọi. Hải viết: ‘Thình lình mặt đất rung
chuyển và lửa sôi sùng sục tận trời xanh … không sao thở được. Tôi
đứng ép chặt vào tường hào liên lạc, hai bàn tay che lấp lỗ tai còn miệng
há ra để chống lại chấn động, nhưng tôi vẫn còn cảm thấy máu huyết
như chực vỡ tung lồng ngực… Đất cát, đá, cành cây quật vào mũ tôi.
Ngày hôm sau địch không tấn công chỉ bắn những loạt pháo cầm chừng’
Nhưng hỏa lực phòng không còn khá rát không thể đáp trực thăng tải
thương – một chiếc cố đáp xuống thì bị trúng đạn, bốc khói, phải lảo đảo
bay đi.
Anh Năm hội ý với các sĩ quan, họ xin ông rời bỏ vị trí. Sương mù sáng
sớm và bóng tối buông xuống lúc 16:00 cản trở nghiêm ngặt việc yểm
trợ không lực, cho dù có sẵn máy bay. Hải nói, ‘Nếu chúng ta chỉ biết
ngồi đây đợi bị búa, thì chúng ta sẽ chết hết.’ Chỉ huy đáp, ‘Tôi đã bảo
với sở chỉ huy điều đó, nhưng không ai chịu lắng nghe. Tôi cũng chán
ngấy như cậu cái giọng điệu “Hãy bám giữ đến người cuối cùng “‘

Tinh thần binh sĩ sa sút, càng sa sút thêm trước tiếng rên rỉ và kêu khóc
của các thương binh, mà trang bị y tế gần như cạn kiệt. Trong những giờ
đầu ngày 12 tháng 4, Hải lần nữa xin Anh Năm thay áo choàng. Vị trung
tá buồn rầu đồng ý: ‘Các cậu chỉ giỏi đọc các sách bói toán nhảm nhí và
nảy ra đủ loại ý tưởng điên rồ. Tôi trở lại boongke đây để viết một bức
thư – gọi tôi nếu có điều gì xảy ra.’ Anh ra lệnh chia nhau thu nhặt vũ
khí và đạn dược của binh lính tử trận, vì họ sẽ không nhận được đồ tiếp
tế. Rồi quân địch tiếp tục pháo kích và bắn rốc kết xuống ngay đỉnh đồi.
John Duffy nói sau này: ‘Lực lượng tiền tiêu của địch phía trên Charlie
rất nghề. Họ phá hủy 3 trong 4 boongke chỉ huy trong 10 phút.’ Trung tá
trúng trực tiếp một lượt pháo, và các tham mưu kéo thi thể ông ra khỏi
boongke – vẫn còn mặc trên người chiếc áo choàng vải dù Anh.
Đến chiều, pháo đã giết hoặc làm bị thương nặng 30 người, và 100
người khác bị thương nhẹ. Vị trí phủ một màn khói bụi khi tiếng pháo
đột ngột ngừng lại và quân Miền Nam trông thấy hết hàng này đến hàng
khác bộ binh địch bật dậy tiến lên Charlie, mũ cối và áo khoác của họ
vắt đầy lá ngụy trang. Pháo và bom napan thả từ máy bay cày những vạt
lửa trong hàng ngủ địch – tổng cộng, trong trận đánh kéo dài 2 tuần
Duffy chỉ đạo 188 lượt đánh phá bởi Cobra và máy bay có cánh cố
định – nhưng có 2 phi cơ bị trúng đạn và một rơi xuống. Cuối cùng
những bộ đội sống sót rút lui, để lại đằng sau mùi da thịt cháy khét.
Nhưng với đạn dược teo tóp và số quân đồn trú giảm nhiều, chỉ huy Việt
và Duffy quyết định căn cứ không còn cầm cự được nữa. B-52 tiếp tục
đánh phá cho lực lượng sống sót có thời giờ rút lui khi đêm xuống vào
ngày 14 tháng tư, loạng choạng xếp hàng bước xuống đồi tổng cộng 167
người đã kiệt sức vì thương tích và đói ăn – các khẩu phần đã hết cạn hai
ngày trước. Sáng hôm sau khi họ đang đợi trực thăng di tản thì lại bị
pháo kích: quân địch đang ép sát phía sau. Hai Cobra quành xuống, bắn
đạn và rốc kết, đánh đuổi quân địch thậm chí khi một chiếc Huey bốc đi
một nhóm lính Dù. Ba nhóm nữa thoát được bình yên, cho đến khi chỉ
còn một nhúm người Việt ở lại với Duffy. Thêm 2 Cobra nhào
xuống, đẩy lui địch một lần nữa. Rồi một chiếc Huey đáp xuống
đất. Những con người mệt lã leo lên, tỏ lòng biết ơn, khi kẻ thù còn bắn
theo, xé toạc chiếc vỏ mỏng của trực thăng, làm bị thương viên phi công
phụ. Khi họ bay lên không Duffy còn đứng trên thanh chống, Hải bị

trúng đạn AK-47 hai lần vào chân, và nghiêng người qua một bên.
Nhưng viên cố vấn đã nhanh tay nắm lấy áo lưới của vị đại uý và kéo
anh trở vào. Chiếc Huey phành phạch bay về chốn an toàn trong khi
Duffy chăm sóc cho phi hành trưởng bị trúng đạn ngay ngực; người Mỹ
chết một ít phút sau đó; một ngày trước khi anh hết hạn được phép rời
khỏi Việt Nam
Chỉ có 37 người trong số 471 binh sĩ đồn trú tại Charlie thoát được. Căn
cứ yểm trợ hỏa lực Delta và Metro thất thủ cùng với Charlie, và vào
ngày 24 tháng 4 Tân Cảnh thất thủ.
Duffy, một sĩ quan lực lượng đặc nhiệm, sau này nhận được huy chương
Thập tự Chiến cộng Xuất sắc. Quá nhiều đã được viết về những căng
thẳng trong mối quan hệ giữa binh sĩ Mỹ và Việt thành ra kỳ tích của
Tiểu đoàn Dù 11, và vai trò của viên cố vấn của họ, xứng đáng được ghi
nhận. Việc phòng thủ Charlie vẫn mãi còn là ký ức đầy tự hào của người
cựu bình Sài Gòn, để làm nổi bật so với các hình ảnh ô nhục như việc
đầu hàng của Carrol.
Trong khi đó, ở bắc Quảng Trị có màn chạm trán dữ dội giữa lực lượng
xe tăng hai phe đối địch. Khi các tăng M-48 bắn lật chiếc tăng dẫn đầu
của cột xe tăng cộng sản T-54, các binh sĩ Miền Nam nhảy lên vỗ tay reo
hò: ‘Giống như trong phim! Vậy là xong!’ Tất nhiên là chưa xong.
Một sĩ quan viết: ‘Một góc chân trời mịt mờ khói lửa, mùi cay hăng của
da thịt cháy hòa lẫn với mùi thuốc súng.’ Kho quân nhu của Ái Tử bắt
lửa, và pháo binh cộng sản bắt đầu bắn phá thành phố Quảng
Trị. Abrams nói: ‘Điều mà Giáp làm ở đây trong bóng rỗ người ta nói là
ép sân toàn diện. Ông ta tung vào mọi thứ chết tiệt mình có!’
Và Hà Nội đã làm việc này ngược với ý muốn cụ thể của người Nga.
Vào ngày 20 tháng 4 ở Moscow, ngay cả khi trận đánh đang gầm thét ở
Đông Dương, Kissinger gặp nhà lãnh đạo Xô viết Leonid Brezhnev,
người mà ông hăng hái dàn xếp một cuộc gặp gỡ thượng đỉnh với Nixon.
Một chủ đề lấn át của năm đó là, trong khi người Xô viết tiếp tục om
sòm tố cáo hành vi của Mỹ ở Việt Nam, và chế tạo những vũ khí lợi hại
gửi đến Miền Bắc, bên trong họ làm rõ thái độ lãnh đạm của mình: như
người Trung Quốc, ưu tiên trước hết của họ là hoà hoãn – giải quyết
những vấn đề như hạn chế vũ khí chiến lược. Cũng giống như chính
quyền Mỹ duy trì sự hậu thuẫn cho Sài Gòn vì các lý do chính trị nội bộ

bao trùm, Trung Quốc và Liên Xô cũng làm như vậy với Hà Nội, để xoa
dịu tình cảm các đồng minh ý thức hệ của họ.
John Vann đã hứa rằng CCYTHL Delta và thị trấn Tân Cảnh có thể
được giữ vững trước sự tấn công của hai sư đoàn Bắc Việt, và trong một
thời gian ông đã giữ lời. Tuy nhiên, tiếp sau sự thất thủ của Delta, Sư
đoàn 22 trấn giữ Tân Cảnh suy sụp một cách nhục nhã. Binh sĩ phòng
thủ bị sốc khi thấy xe tăng của họ bị hủy diệt bởi tên lửa Sagger, một
trong số bắn trúng boongke chỉ huy. Vann đóng một vai trò nổi bật trong
việc sơ tán các cố vấn Mỹ còn sống, thấy chính mình đang gần như bắn
trực diện vào quân địch đang xông tới, ngay cả khi họ nhảy lên trực
thăng. Có nhiều hành động dũng cảm, nhưng không thiếu các hành
vi ươn hèn: trong khi các trực thăng cứu thương Mỹ gan dạ liều mình để
sơ tán thương binh, một số các đối tác Không lực Việt Nam lại bán chỗ
ngồi trên chiếc Huey cho những tên trốn chạy lành lặn. Nhiều Địa
phương quân và Nghĩa quân bỏ hàng ngũ tháo chạy. Tướng Dzu suy sụp
tinh thần, đâm ra chán ghét Vann, tìm cách thuyết phục với Tổng thống
Thiệu bỏ rơi toàn bộ Cao nguyên Trung phần. Vùng này, và nhất là thủ
phủ tỉnh Kontum, một thị trấn có 25,000 người trên Đường 14, được cứu
vì quân địch dừng lại để tái tập kết trong ba tuần vô giá sau khi chiếm
được Tân Cảnh, tạo cơ hội cho Miền Nam củng cố, và người Mỹ triển
khai hai trực thăng tác chiến gắn các tên lửa TOW chống tăng, chứng tỏ
là vũ khí vô giá chống T-54. Một số tướng lĩnh Sài Gòn có cách cổ vũ
thuộc hạ thật vô duyên. Một tư lệnh quân đoàn cổ vũ người được giao
nhiệm vụ phòng thủ Kontum: ‘Bá, cậu hãy làm tốt nhất và ráng đừng bỏ
chạy!’ Đại tá Lý Tòng Bá là sĩ quan Miền Nam mà gần một thập niên
trước đây đã bị John Vann khinh thường tại trận Ấp Bắc. Tuy
nhiên, giờ đây hai người gắn kết một hợp tác rất thành công trên chiến
trường.
Trong số các bộ đội chiến đấu ở phía bắc Quảng Trị có xa thủ 17 tuổi
Phạm Thân Hưng, trải nghiệm trận đánh đầu tiên của mình. Ngay từ lúc
một viên đạn bắn sướt qua mũ anh, Hưng cảm nhận số mệnh mình nên
trở thành một thi sĩ hơn là một anh hùng: ‘Tôi kinh hoàng, mồ hôi chảy
ướt đẫm lưng.’ Cậu là một người bất thường trong quân đội, dám suy
nghĩ theo ý mình. Cha Hưng đã tranh đấu lâu dài để con mình không
phải ra trận, và tưởng đã thành công nếu không có cuộc khủng hoảng

nhân lực ở Miền Bắc. Vào cuối năm thứ nhất tại Đại học Hà Nội của
chàng thiếu niên, các sinh viên bất ngờ được thông báo rằng, dù họ
không được gọi nghĩa vụ, họ phải ‘tình nguyện’ phục vụ quân đội. Đêm
trước ngày khám sức khỏe của họ Hưng và một người bạn ngồi hàng giờ
trên mái ký túc xá, tìm cách làm sao có thể thoát được viễn cảnh đáng
ghét bằng cách nốc cà phê tẩm thuốc lá, mà có người nói sẽ làm huyết
áp tăng vọt. Nhưng họ không bao giờ thử theo cách này, một phần bởi vì
không thể nhanh chóng tìm ra thuốc lá; hơn nữa, mãi tán gẫu nên đâm ra
buồn ngủ, và khi tỉnh dậy thì mặt trời đã mọc cao và hội đồng khám sức
khỏe đã làm việc. Một ít tuần sau toàn bộ sinh viên cùng khóa tập hợp
trong sảnh đại học, để nghe hiệu trưởng đọc diễn văn. Ngay giữa buổi
diễn văn, bục nói ông đang đứng bỗng sụp đổ. Khán giả giải tán mà lòng
không an, vì cho đây là điềm gỡ: ‘Chúng tôi thực sự tin rằng điều này có
nghĩa tất cả chúng tôi đều sẽ tiêu đời.’
Sinh viên biểu thị cho giới trí thức ưu tú của Miền Bắc. Nhưng họ quá
ngây thơ trước bản chất của trải nghiệm đang chờ đợi mình đến nổi khi
trình diện lên đường họ còn đem theo cả đàn guitar và sách vở. Các bạn
gái đồng khóa căn dặn họ nhớ sống trở về với cấp bậc đại tá. Các anh
chàng thì nói đùa với nhau: ‘Xanh cỏ hoặc đỏ ngực.’
Tại tỉnh Quảng Trị, đơn vị Hưng đóng trại tại khu vực vừa mới được
quân Miền Bắc chiếm đóng: vài đêm liên tiếp họ bị bắn, mặc dù không
thấy đơn vị địch trong vòng vài dặm. Sát thủ hóa ra là một bà cụ địa
phương 70 tuổi tìm cách trả thù cho cái chết của hai con trai là binh sĩ
Miền Nam. Bà lập tức bị đem ra hành hình, khiến tâm trí Hưng hoang
mang. Cậu nghĩ, đúng là bà ấy giúp cho phía bên kia, nhưng theo cách
của mình, há chẳng phải bà cũng là một nữ anh hùng dân tộc? Đây quả
là thứ suy ngẫm nguy hiểm cho một bộ đội Hà Nội, nhưng không phải
chỉ mình cậu mới có. Cậu và các đồng chí trong pháo binh phòng không
37mm đều chán ghét các sĩ quan ‘cứ muốn mình làm anh hùng’. Họ
nhận bằng khen vì được cho là đã bắn rơi 6 máy bay địch, nhưng chàng
xạ thủ nói, ‘Toàn là tuyên truyền. Tôi không nhớ chúng tôi bắn rơi cái

nào.’

Vào ngày 21 tháng 4 một trận không kích hủy diệt đánh trúng ụ
pháo, giết một phần ba xạ thủ, làm bị thương một phần ba khác, phá
hủy pháo của họ. Binh sĩ hỏi nhau một cách chua chát: ‘Tại sao bọn sĩ

quan cứ muốn chọc gậy vào tổ ong bằng cách khai hỏa?’ Sau thảm họa
tinh thần binh sĩ chùn xuống. Một số người sống sót báo cáo có
bệnh. Một tiểu đội trưởng tự bắn vào chân: khi Hưng dìu anh đến trạm
xá, y khẩn khoản xin chàng thiếu niên hợp tác khai với bác sĩ y bị trúng
đạn địch, nhưng rồi y bị bắt và xử tội. Giữa những đổ nát của đơn vị
mình Hưng ghê tởm khi thấy từng đống xác chết các đồng chí mình bị
các bộ đội đi qua lục soát đồ dùng cá nhân; chủ nhân của chúng không
còn cần đến chúng, các tên cướp cạn nói, ‘còn chúng mình cần.’ Chuyển
đến dàn pháo 130mm, Hưng phát hiện phần đông binh sĩ ở đây từng là
người đào ngũ chấp nhận công việc này thay vì ở tù. Rồi họ cũng hứng
một cuộc không kích hủy diệt làm thiệt mạng một số người và tạm thời
chôn Hưng dưới một đường hào. Cậu được lệnh xách xô đi thu nhặt các
mảnh thi thể tung tóe: ‘Tôi quá khiếp đảm đến nỗi tôi quyết định mình
không chỉ không thích hợp làm một người hùng, mà còn không nghĩ
mình có thể trở thành một thi sĩ.’

Tinh thần trong câu chuyện của Hưng không phải nói lên các đồng đội
của cậu là hèn nhát, mà đúng hơn họ đại diện cùng một pha trộn của
nhân tính như trong hàng ngũ của mọi quân đội. Bảo Ninh nói: ‘Trong
tận cùng tâm khảm không ai muốn có mật ở đó … Nhưng chúng tôi phải
làm nhiệm vụ.’ Giới lãnh đạo, tinh thần kỷ luật và chất lượng huấn luyện
của họ, nói chung, vượt trội hơn phía QĐVNCH. Chỉ đạo cấp cao của
quân đội Miền Bắc trong chiến dịch 1972 ấn tượng hơn một chút so với
vụ công kích Tết 1968; nó chỉ tốt hơn một chút so với quân đội Miền

Nam.

Hai căn cứ hỏa lực tây bắc, Bastogne và Checkmate, thất thủ trước cộng
quân chỉ sau một trận phòng thủ kéo dài, nhưng trong những ngày cuối
cùng của tháng 4 ‘tuyến Đông Hà’ bị bẽ cong – rồi, tan vỡ. Mặc dù phe
tấn công bị không kích dữ dội, nhưng cuộc không kích này kém hiệu
quả hơn ở phía nam nhiều, vì tại tỉnh Quảng Trị người Mỹ đã giao trách
nhiệm quan sát tiền tiêu trên không cho phía Miền Nam. Hơn nữa, bên
dưới Vùng Phi Quân Sự quân địch có dàn phòng thủ tên lửa mạnh mẽ
nhất: ước tính có cả ngàn SAM-2 được khai hỏa chống phi cơ Mỹ và
Không lực Việt Nam trong chiến dịch.

Khi các đạo quân Miền Bắc lũ lượt tiến về nam qua cầu Cam Lộ, rõ ràng
là Quảng Trị không còn có thể phòng thủ được. Cuối cùng Quân Miền
Nam và các cố vấn Mỹ rút đi vào ngày 1 tháng 5, và ngày hôm sau cộng
quân chiếm thành phố. Những cảnh tượng đầy kinh ngạc xảy ra khi một
số binh sĩ Miền Nam tháo chạy gần như trần truồng vì đã trút bỏ bộ quân
phục. Tư lệnh Quân đoàn I Lãm bị cách chức quá muộn màng, thay thế
bằng Trung tướng Ngô Quang Trưởng, người mà Abrams gọi.là ‘sĩ quan
có chất lượng chuyên nghiệp nhất mà QĐVNCH từng có’. Vị sư đoàn
trưởng bất hạnh ở Quảng Trị bị chỉ định làm dê tế thần chính thức cho
thảm bại xảy ra, và với sự bất công quá mức ông bị kêu án 5 năm tù vì
‘tội đào ngũ khi đối mặt với quân địch’.
Vào ngày 1 tháng 5 ở Paris, Kissinger gặp gỡ Lê Đức Thọ lần nữa.
Người cộng sản bắt vị cố vấn an ninh quốc gia phải nghe một cuộc độc
thoại tuyên truyền. Đã thấy rõ là điều tốt nhất Hoa Kỳ có thể hy vọng rút
ra từ một hiệp ước hoà bình là một cuộc ngừng bắn tại chỗ, mặc dù
Kissinger tiếp tục yêu sách lực lượng Miền Bắc đang tham gia giao tranh
phải rút về nước. Các chỉ huy mặt trận của cộng sản bực mình khi Lê
Đức Thọ thiết lập đường dây liên lạc trực tiếp từ Paris đến chiến trường
Miền Nam, né tránh Sân Rồng, thỉnh thoảng đích thân phát lệnh – lúc
nào cũng yêu cầu tấn công hơn nữa. ‘Không thể tin được!’ một sĩ quan
sau này nói. ‘Tham mưu không đồng ý với cách làm việc này, nhưng
chúng tôi không biết phải phản đối với ai.’ Vào giai đoạn cuối của trận
công kích 1972, các cuộc tấn công của địch được phát động không nhằm
mong chiếm lãnh thổ, mà chỉ tranh thủ được các tít lớn trên toàn thế
giới, để lay động công luận Mỹ, và để duy trì sức ép lên Kissinger ở
Paris. Trong việc theo đuổi các mục tiêu chính trị này, Lê Đức Thọ quả

là thành công.

Vào chiều ngày 2 tháng 5, bên dưới Sông Mỹ Chánh phía nam Quảng
Trị, binh sĩ Miền Nam và các cố vấn của họ chứng kiến sự tan vỡ của
một sư đoàn bộ binh, bốn nhóm Biệt động, một lữ đoàn thiết giáp, hai
đội xe bọc thép và một lữ đoàn TQLC, cùng với các lính Địa phương
quân, Nghĩa quân và binh sĩ yểm trợ. Ít sĩ quan hoặc binh sĩ nổi bật,
nhưng những người sống sót đặc biệt trân trọng câu chuyện của Đinh
Thị Thạch, vợ một thượng sĩ: sau khi ngôi làng của bà gần Quảng Trị bị
địch đánh chiếm, suốt nhiều tuần không sợ hiểm nguy đến tính mạng, bà

che giấu một tá binh sĩ Miền Nam bỏ trốn trong hầm trú ẩn của bà, và
sau đó dẫn dắt họ đến nơi an toàn tại phòng tuyến của họ.
Cuộc rút quân trở nên hỗn loạn hơn. Một sĩ quan xe tăng viết: ‘Trời, làm
sao có thể mô tả thảm kịch đổ ập lên đầu chúng tôi khi đến Quốc lộ 1.
Binh sĩ không trật tự, con đường trước mặt thì địch án ngữ, mà phía sau
chúng cũng đông đảo và rót pháo lên đầu chúng tôi.’ Một số tài xế tuyệt
vọng đạp ga tăng tốc, đánh chìm các tăng M-48 xuống sông Thạch Hãn.
Số khác bỏ lựu đạn pháo sáng xuống cửa sập rồi nhìn xe tăng của mình
bốc cháy trước khi gia nhập vào dòng lũ người tị nạn lội suối băng đồng
lũ lượt vè thành phố Huế.
Tại Sài Gòn, Abrams nổi cơn thịnh nộ khi các tướng lĩnh Miền Nam
phàn nàn họ thiếu vũ khí và trang thiết bị: ‘QĐVNCH không mất xe
tăng vì xe tăng địch phá hủy. QĐVNCH mất xe tăng vì, mẹ kiếp, họ bỏ
chúng. Và, mẹ nó, cho dù có xe tăng Josef Stalin 3, nó cũng không ích
lợi gì.’ Ông cũng hằn học với Tổng thống Thiệu và Viên, tham mưu
trưởng Sài Gòn: ‘Trang thiết bị không phải là điều các ông cần.Các ông
cần người dám chiến đấu. Và các ông cần sĩ quan và chỉ huy binh sĩ dám
chiến đấu,. .. Các ông đã nhận được mọi trang thiết bị mình cần … Các
ông đã đánh mất gần hết pháo vì chúng bị bỏ đi.’ Phần đông giới truyền
thông phương Tây dự đoán rằng các thảm bại chiến trường gần đây nhất
sẽ khép lại tấm màn nhung của vở diễn Miền Nam.
300 bệnh binh cuối cùng tại quân y viện Quảng Trị được chở đi trên
đoàn xe bị kẹt lại trên phía nam Quốc lộ 1 giữa rừng người tị nạn và xe
cộ đổ nát. Hỏa lực pháo quân địch dội xuống xe cứu thương thành đống
sắt vụn. Bác sĩ Phạm Viết Tứ, một bác sĩ quân y Dù, viết về số phận của
thường dân: ‘Có hàng trăm ôtô, xe tải, xe đạp, xe gắn máy lỗ chỗ vết
đạn và mảnh pháo địch, một số cháy thành tro. Những bộ xương người
nằm rải rác trên mặt đường … Hình ảnh dấy lên niềm thương xót làm
đau nhói tim tôi là hình ảnh bộ xương một đứa trẻ khoảng 2 tuổi nằm
bên trong một chậu tắm bằng nhôm. Một đội dép xăng đan cao su nhỏ
xíu nằm kế bên xương thịt còn lại của mẹ em.’
Abrams và quân Miền Nam ngạc nhiên sao cộng quân không thẳng tiến
xuống nam sau khi lấy Quảng Trị để đánh chiếm Huế, đang mở toác cửa
cho quân địch. Một sĩ quan Sài Gòn viết: ‘Huế dường như là một thành
phố vô pháp; số it cảnh sát và quân cảnh không thể kham nổi đám đông

dân tị nạn và binh sĩ. Nạn trộm cướp, đoạt xe xảy ra. Bên đường, nhiều
trẻ lạc loài từ mới đi chập chững đến thiếu nhi gào khóc và đưa mắt nhìn
đoàn người lũ lượt đi qua. Tôi thấy một đứa bé khoảng 12 tuổi ôm lấy
em trai khoảng 3 tuổi của mình dựa vào một gốc cây bên đường. Đứa
anh bấu lấy một mảnh giấy cỡ lá thư trên đó viết nguệch ngoạc: ‘Chúng
em là con của ông Xuân ở Quảng Trị. Không tìm được cha mẹ. Làm ơn
giúp đỡ chúng em.”‘
Hàng trăm các tin nhắn viết nguệch ngoạc trên tường bằng vôi hoặc
than, hoặc bằng bút chì trên giấy rồi dán vào thân cây bằng nhúm cơm:
‘Gửi Hạ sĩ Nguyễn Văn Ba, Tiểu đoàn 1/57th. Các con và em đang
chuyển xuống nhà Dì ở Đà Nẵng, ‘ hoặc ‘Hạ sĩ Bảy Bộ bình 3/2 nhắn
vợ: Anh còn sống và đang chiến đấu. Trời Phật sẽ phù hộ cho em và các
con chúng ta.’ Một tin đọc thấy: ‘Vợ Hoa nhắn chồng Trung sĩ Trương
ĐPQ – Quảng Trị. Pháo VC đã giết chết con gái nhỏ của chúng ta hôm
qua. Con trai vẫn bình yên với em. Đừng lo lắng và đừng đi nếu không
có phép.’ Bà Bông, người nội trợ Huế đã trải qua những trải nghiệm
khủng khiếp trong cuộc công kích Tết 1968, giờ viết thư cho một người
bạn: ‘Con trai còn sống duy nhất của tôi đã rời nhà. Hiện tôi một mình
với con gái và đứa cháu nhỏ. Thật quá cô độc. Nếu con trai yêu dấu của
tôi có mệnh hệ nào, tôi không biết phải làm gì. Chiến tranh khủng khiếp
này chắc sẽ không bao giờ chấm dứt … Tội nghiệp cho các con cháu của

tôi.’

Thiếu tá Nguyễn Công Luận gặp một đại uý trẻ tuổi đang dẫn tiểu đoàn
dường như đang mất nhuệ khí của mình tiến về phía trước chiến đấu.
Khi chàng thanh niên than phiền rằng người Mỹ giờ đây chỉ hoàn thành
không đến phân nửa yêu cầu yểm trợ không kích của mình, Luận nói
rằng nhân tố quyết định để khiến người Mỹ đáp ứng là quân đội Miền
Nam phải thể hiện quyết tâm chiến đấu. Trong tổng số tổn thất vật chất
của năm 1972 gồm 200 xe tăng, 275 xe bọc thép chở quân, 634 quân xa
và 300 pháo, phân nửa bị bỏ lại hoặc phá hủy ở phía bắc. May mắn cho
chế độ Sài Gòn là đà tiến công của quân địch vào phía bắc và Cao
nguyên Trung phần mất xung lượng sau khi lấy được Quảng Trị và Tân
Cảnh. Quân xâm lược đã tổn thất thương vong to lớn, phần đông do
không kích, và thiếu yểm trợ hậu cần để có thể tiến lên. Trong suốt
tháng 5, quân Miền Nam lập thành một phòng tuyến, và chặn đứng đà

tiến chao đảo của địch. Sau đó trong mùa hè một cuộc phản công chậm
chạp, kéo dài bắt đầu tái chiếm Quảng Trị.
Một số trận đánh ác liệt nhất trong tháng 5 tập trung vào Kontum, một
thủ phủ tỉnh lỵ nằm trong thung lũng tại phía bắc Cao nguyên Trung
phần, ba phía có sông bao bọc. Một nơi tương đối phồn thịnh có đến 9
nhà thờ Công giáo, nó được bảo vệ bởi Sư đoàn 23, có một số
tăng, pháo binh và Nghĩa quân yểm trợ. Cộng quân cắt đứt Đường 14
phía nam thành phố trước khi tung các phần tử thuộc ba sư đoàn cho
cuộc tấn công từ phía bắc và tây bắc bắt đầu vào ngày 13 tháng 5.
Lữ đoàn trưởng Bá sau này viết: ‘Đó là địa ngục trần gian- mỗi ngày đều
tệ như ngày hôm qua, pháo ròng rã 40 ngày.’ John Vann ở khắp mọi
nơi – ném xuống quân nhu, chỉ đạo 300 lượt đánh phá B-52 trong 3
tuần, cổ vũ các chỉ huy xuống tinh thần.
Khi boongke của Bá trúng pháo trực tiếp, quân y phải lọc bệnh để cứu
chữa và băng bó thương binh, chuyển đi người chết, ngay cả khi chung
quanh họ các sĩ quan tham mưu đang tiếp tục điều hành trận đánh. Đêm
18 tháng 5 là đêm tồi tệ nhất, khi bộ đội tràn ngập phân nửa thành phố
Kontum trước khí bị đẩy lui. Nhiều đợt không đánh vào xe tăng Miền
Bắc giữa khu vực trống trải. Nổ ra các trận đánh ác liệt trong ba nghĩa
trang bên rìa thành phố. Vào lúc 09:00 sáng ngày 26 tháng 5, một sĩ
quan cộng sản nhìn nhận rằng trận công kích đã xì hơi. Hai xe tăng còn
lại của anh cán phải mìn QĐVNCH, và hai chiếc cuối cùng bị trực thăng
phá hủy. Chiến sử Hà Nội nhìn nhận: ‘Các cuộc tấn công của chúng ta
chậm lại và càng ngày càng ít hiệu quả hơn… Trong khi đó địch đã được
tăng viện, củng cố phòng thủ và tăng cường phản công. Vào đêm 5-6
tháng 6 bộ chỉ huy mặt trận ra lệnh rút quân khỏi Kontum, và khép lại
chiến dịch Bắc Cao nguyên Trung phần.’ Mỹ và Việt sau đó nhất trí
rằng, nếu không có John Vann, Kontum hẳn đã thất thủ. Ông sống sót
qua vô số va chạm với thảm họa, có lần dùng bá súng đánh đuổi binh sĩ
Miền Nam trốn chạy leo lên chiếc Jet Ranger của ông khi nó cất
cánh. Bá viết một cách cảm xúc: ‘Thắng lợi không thuộc về ai khác hơn
con người này mà mục tiêu duy nhất của ông là giúp QĐVNCH đánh bại
sự gây hấn của cộng sản. Tôi thường tự hỏi mình: “Tại sao một người
Mỹ lại xả thân cho cuộc tranh đấu này? Tại sao ông chấp nhận hiểm
nguy ở Ấp Bắc, và giờ hiểm nguy ở Cao nguyên Trung phần”‘ Bá mô tả

Vann như một thánh tử đạo xứng đáng được mọi người Miền Nam tri

ân.

Chính ông ta cũng ngỡ mình là vô địch, nhưng điều đó là sai, như các
nhân vật ngông cuồng luôn là vậy. Vào ngày 9 tháng 6, bay cùng với
một phi công thiếu kinh nghiệm trong ánh sáng nhạt nhoà, Vann tử nạn
khi chiếc trực thăng của ông rơi xuống. Lúc đó ông mới 47 tuổi, bỏ lại
đằng sau các bà vợ, tình nhân, con cái không ai chăm sóc, cả Mỹ lẫn
Việt. Neil Sheehan, tác giả cuốn tiểu sử về Vann Lời Nói Dối Tỏa
Sáng, một trong những tác phẩm vĩ đại về Việt Nam, nhận xét rằng
trong khi Vann giải cứu Kontum, ông làm như thế theo một cách phủ
định mục đích của riêng mình. Ông cho thấy không có những người
Mỹ như ông ấy, sử dụng không lực, Miền Nam không thể giữ vững
được. Vì vậy, tất cả chiến đấu và hy sinh chỉ trì hoãn một kết cục giờ
đây đã được an bày.
Abrams nói vào giữa chiến dịch 1972: ‘Mức độ bạo lực, và mức độ tàn
bạo … trên một bình diện chưa từng đạt tới.’ Thậm chí khi các trận
đánh Quảng Trị và Kontum đang tiếp diễn, ba sư đoàn cộng sản tận
phía nam tiến ra khỏi Cao Miên, tràn chiếm Lộc Ninh trước khi tiến đến
An Lộc, thủ phủ của tỉnh Bình Long. Đây là thị trấn đồn trú của 10,000
người, tọa lạc giữa hai sông trong vùng cao nguyên cách Sài Gòn 60
dặm về hướng bắc. Vào tối ngày 5 tháng 4 đặc công địch đánh chiếm
sân bay gần đó. Binh lính bảo vệ sân bay vừa thoáng thấy xe tăng địch
liền bỏ chạy. Kẻ xâm lược cũng cắt đứt con đường xa hơn về phía nam,
thành ra An Lộc hoàn toàn lệ thuộc vào tiếp tế hàng không.
Qua máy bộ đàm khi Nhóm Biệt động 3 được không vận vào thị trấn
vào ngày 7 tháng 4, chỉ huy của nó Thiếu tá Nguyễn Văn Biệt – Anh
Hai- cảnh báo rằng sân bay đang bị pháo kích. Khi trực thăng chạm đất
và binh sĩ túa ra, họ thấy ban tham mưu chỉ huy của nhóm đã chịu
thương vong nặng nề. Tư lệnh sư đoàn 5 Miền Nam Đại tá Lê Văn
Hưng bảo với Thiếu tá Biệt, ‘Bọn cậu đã đến đúng lúc. ‘Binh sĩ của ông
đang dao động, một trung đoàn đã tràn qua.
Tiếp theo một giai đoạn tạm ngưng ngắn ngủi trước khi cộng quân mở
cuộc tấn công, trong khi đó một sĩ quan Biệt động nhìn dân chúng thị
trấn tiếp tục công việc thường nhật của mình khi các quân xa phóng
thanh của chính quyền đi khắp thành phố, thúc giục họ bình tĩnh, trấn an

viện binh đang tới, bảo họ trình báo ngay lập tức nếu thấy địch xâm
nhập.
Khi quân địch mở trận pháo kích không có vẻ gì là họ tôn trọng cuộc
sống dân thường – rốc kết 122mm và pháo 155mm từ các khẩu pháo đã
chiếm được tại Lộc Ninh rơi như mưa xuống mỗi khu vực trong thành
phố. Một sĩ quan Miền Nam viết: ‘Tiếng la thét thống khổ, các thi thể
và tứ chi tung tóe khắp mọi nơi và thậm chí vắt trên cành cây và mái
nhà. Nhiều dân chúng núp vào hầm trú ẩn boongke của quân đội.’ Hơn
2,000 đạn pháo và súng cối rơi xuống An Lộc mỗi ngày.
Một buổi tối Biệt động quân chới với khi, không giải thích, các cố vấn
Mỹ phóng đến một chiếc trực thăng bay mất hút vào chân trời phía
đông. Chuyện này là sao? Quân đồn trú bị Mỹ bỏ rơi ư? Bí ẩn chỉ được
giải quyết vào bình minh hôm sau khi một đội cố vấn mới đến. Viên chỉ
huy xin lỗi sự thay đổi, không thông báo trước vì lý do an ninh. Ông
hứa An Lộc sẽ nhận được đầy đủ sức mạnh yểm trợ của không lực Mỹ:
tinh thần phấn chấn trở lại khi lời cam kết này được thực thi.
Lúc 02:30 ngày 13 tháng 4 cộng quân phát động trận tấn công lớn đầu
tiên. Các xe tăng xung kích thoạt đầu gieo khiếp đảm: ‘Binh sĩ chúng tôi
hoảng kinh,’ một lính phòng thủ viết. Nhưng rồi một đơn vị Địa phương
quân sử dụng một vũ khí chống tăng vác vai bắn rốc kết phá hủy một
chiếc. Lực lượng đồn trú bắt đầu nhận ra các con quái vật bị theo dõi này
rất dễ bị tổn thương trên đường phố, và họ phá hủy hết xe tăng này đến
xe tăng khác, với sự tiếp tay của phi cơ Mỹ. Binh sĩ xe tăng Miền Bắc
biểu lộ trình độ yếu kém đáng thương hại: trong nhấp nhem rạng sáng
một chiếc T-54 lao xuống một hố bom. Binh lính xe tăng phạm sai lầm
chiến thuật thảm hại, một mình tăng tốc vào thành phố, tại đó chúng bị
phá hủy từng chiếc một bởi rốc kết chống tăng vác vai và không kich.
Lúc 08:30, với 7 xe tăng bị mất, những chiếc sống sót quay trở lại.
Đại uý Cố vấn Hal Moffett sau này nói: ‘Nhờ trời, người cộng sản
không sử dụng xe tăng đúng cách. Nếu họ phối hợp tốt ất họ đã càn lướt
qua tất cả, nhưng họ hoàn toàn vô tổ chức và cho đến hôm nay tôi vẫn
không hiểu họ định làm gì với xe tăng, khi mà mỗi lần họ chỉ tung ra
từng 4 hay 5 chiếc.’ Binh sĩ Miền Nam giờ được nhận tiền thưởng cho
mỗi chiếc xe tăng phá hủy được: những binh sĩ nghèo khó cho thấy họ
sẵn sàng liều mạng vì tiền hơn là vì đất nước mình. Một số bộ binh

mang súng chống tăng, Moffett nói, ‘để cho xe tăng địch đến cách minh
trong vòng 10, 30 ya mới chịu khai hỏa.’ Tại chiếc cầu chủ chốt từ
hướng đông , ‘Các anh chàng này ngồi đó và đợi cho đến khi xe tăng
địch ra đến giữa cầu rồi mới hạ gục nó.’ Phần còn lại của đoàn xe tăng
cộng sản quay đầu và cố lội qua suối, chỉ để làm mồi cho Không lực
Mỹ.
Trận giao tranh trên bộ tiếp tục ác liệt và đẫm máu, lực lượng phòng thủ
mất dần đất, một tiểu đoàn Biệt động bị quét tan. Tin phát trên sóng
thường bị cắt ngang bởi các tiếng kêu gọi của địch răn đe, ‘Đầu hàng thì
sống, chống cự thì chết!’ Quân Miền Bắc giành được quyền kiểm soát
một số quận lỵ mặt đông bắc, và bị đẩy lui chỉ khi, ngay giữa cơn mưa
bão, một trực thăng tác chiến Spooky Mỹ bay trên đầu khai hỏa lực tự
động với độ chính xác phi thường. Một sĩ quan Miền Nam hớn hở gọi
trên máy: ‘Đáng đồng tiền bát gạo! Tiếp tục đi!’ Khi boongke địch sụp
đổ, cũng y báo cáo: ‘Một số binh lính địch khiếp sợ chạy ra ngoài, thở
dốc và trông như thế ngợp nước mưa.’
Lúc 04:30 ngày 15 phe vây hãm phát động một trận bắn phá khác, bắt
đầu từ các khu dân cư. Nửa giờ sau, một cuộc tấn công chủ lực thứ hai
bắt đầu trong bóng đêm. Một xe tăng Miền Bắc vứt bỏ một bánh xích và
một xe tăng khác bị chết máy do hết nhiên liệu, thành ra chỉ còn 7 chiếc
tiến lên cùng với bộ đội. Đến bình minh cộng quân chiếm giữ được các
vùng bên ngoài, chỉ để lặp lại lỗi lầm họ đã phạm hai ngày trước – phái
đi các xe tăng về phía trước mà không có bộ binh yểm trợ. Binh sĩ Miền
Nam với súng chống tăng vác vai bắn hạ thêm nhiều T-54; cuộc tấn
công khựng lại, quân địch lùi về. Hai tiểu đoàn Dù và một nhóm Biệt
động khác đến cứu viện thị trấn. Qua tuần tiếp theo một số vị trí nằm
ngoài bị mất, nhưng cộng quân không thể xâm nhập khu trung tâm An
Lộc.
Nếu phe tấn công tổ chức yếu kém – đưa đến việc một tư lệnh sư đoàn
Miền Bắc bị cách chức – thì việc phòng thủ cũng không phải là tuyệt
phẩm của nghệ thuật chiến tranh. Đại tá William Miller, cố vấn cao cấp,
chán nản báo cáo rằng Hưng, tư lệnh Sư đoàn 5, là người mệt mỏi-không
vững vàng-không biết lí lẽ-dễ nổi giận-không cố vấn được – và không dễ
gần’. Giữa ngày 22 tháng 4 và 10 tháng 5, phe vây hãm và phe bị vây
hãm đánh nhữ nhau một cách không dễ dàng. Ban đêm bầu trời rực sáng

do pháo sáng thả từ máy bay C-47. Không kích đánh phá ác liệt các
phòng tuyến cộng quân. Lực lượng đồn trú giờ đông đến 6,200 với 25 cố
vấn Mỹ, tiến hành các cuộc phản công đẩy lùi quân Miền Bắc, và các
nhà sử học cộng sản nhìn nhận rằng tinh thần chiến đấu của họ suy sụp.
Vào ngày 10 tháng 5 tại Sài Gòn, Tổng thống Thiệu tuyên bố tình trạng
khẩn cấp quốc gia. Ông tự hào lưu ý rằng đứng trước nguy cơ, có hơn
53 ngàn người Miền Nam tình nguyện phục vụ quân đội: viễn cảnh
thắng lợi của cộng sản đang đến gần dần cô đọng trong tâm trí một số
người. Cũng cần lưu ý một nhận xét có tính lịch sử là trong khi hàng vạn
binh sĩ Sài Gòn đào ngũ khỏi quân đội của Thiệu, hiếm có người nào
làm thế để về với hàng ngũ địch; họ chỉ mong được về nhà với gia đình.
Nhưng ở An Lộc giới lãnh đạo cộng sản vẫn không lay chuyển: đã dấn
mình tới, họ không chấp nhận thất bại. Vào ngày 11 tháng 5, được tiếp
viện 35 xe tăng mới, họ phát động một cuộc tấn công mới với 5 trung
đoàn, tiến lên theo bốn trục. Trong boongke chỉ huy quân Miền Nam có
thể nghe được động cơ xe tăng địch, khói và bụi luồn vào các lỗ đặt
súng. Một cố vấn Mỹ dặn anh thông dịch Việt: ‘Nói cho cậu biết – có
thể chúng ta không giữ được, vì thế nếu cậu muốn giữ mạng mình, hãy
đi sát tôi, và sẵn sàng rút.’ Tại An Lộc cũng như tại nơi khác lực lượng
quyết định, như Hal Moffett đã chứng kiến, chính là không lực vốn đập
tan hết trận tấn công này đến trận tấn công khác: ‘bom CBU [bom bự]
ngăn chận cả một tiểu đoàn. Các chỉ huy hét với đơn vị cộng quân hãy
đứng lên và tấn công. Xung phong. Quát tháo với họ. Chúng tôi có thể
nghe được họ. Nhưng bộ đội vẫn không xung phong. Chúng tôi tiêu diệt
bọn xâm nhập đông bắc trên đó. Tôi trông thấy họ bỏ chạy. Chúng tôi
có thể đã thắng ngày đó, chúng tôi khiến bộ đội bỏ chạy. Nhưng mọi thứ
đều dừng lại trong ba giờ.’
Số thương vong Miền Bắc đã trở nên cao ngất, và cộng quân dường như
đã hết thuốc. Moffett thuật lại một cách sống động sau đó. Một số binh
sĩ Miền Nam, ông nói, chiến đấu như cọp: ‘Binh lính Dù đúng là xông
xáo tuyệt vời …’ Cũng có người không: một nhóm Biệt kích ‘bị hoàn
toàn đẩy bật khỏi vành đai bởi chỉ xấp xỉ 6 quân địch. Họ không bắn trả
mà chỉ ném lựu đạn rồi rút lui. Họ nói bắn ra sẽ bại lộ vị trí của mình …
Tôi gặp một đại tá đi tới tôi khóc lóc … ý tôi là khóc như một đứa

trẻ, nước mắt chảy xuống má, y muốn biết tại sao họ không nhận được
sự yểm trợ không lực.’
Moffett nổi giận trước tính thụ động của quân phòng thủ – cho phép
quân địch đặt súng cối nhởn nhơ trước tầm nhìn của mình. Họ hứng chịu
một trong những trận pháo kích khủng khiếp nhất của cuộc chiến, trong
đó phức hợp bệnh viện An Lộc bị tàn phá: ‘Tôi ước tính họ giết chết từ 3
đến 5 trăm người – đàn bà, trẻ em, con nít, binh sĩ, toàn bộ công trình.
Họ chỉ biết pháo kích ồ ạt.’ Trong khi đó các Cobra buộc phải bắn từ độ
cao 5,000 bộ để tránh các tên lửa đất-đối-không cải tiến. Phi cơ tiêm
kích phải tấn công từ phía sau các vị trí QĐVNCH thay vì ngang qua
chúng, để giảm thiểu bị lộ ra trước hỏa lực địch.
Thậm chí khi xung đột diễn ra ác liệt trên đường phố, một sư đoàn Miền
Nam dấn tới về phía bắc đến Đường 13 trong một nỗ lực bẻ gãy cuộc
vây hãm. Dù nó không hề hoàn thành việc này, ít nhất mũi thọc sâu đã
chiếm trọn sự chú ý của đội hình cộng sản đang phong tỏa đường tiến
của nó. Người Mỹ tung ra một nỗ lực phi vụ phi thường để tiếp tế cho
quân đồn trú bị bao vây: 2,693 tấn quân nhu và khẩu phần được thả dù.
Vào ngày 11 tháng 5, các B-52 ném bom hủy diệt gần như hàng ngày
suốt 24 giờ, cùng với trung bình gần 300 lượt không kích chiến thuật
mỗi ngày. Cố vấn cao cấp Thiếu tướng James Hollingsworth bảo với
MACV: ‘Nếu không có các cố vấn các ông đã đón cộng sản … vào Sài
Gòn rồi, tôi tin là như thế.’ Đúng là như thế, không bởi vì ‘việc cố vấn’
mà người Mỹ đưa ra, mà nhờ họ đóng vai trò các kiểm soát không phận
tiền tiêu. Trong những tiếng hoan hô cuối cùng dành cho Lục quân và
Quân đoàn TQLC Mỹ ở Việt Nam, sau quá nhiều trở ngại và thất bại,
nhiều sĩ quan và hạ sĩ quan kỳ cựu trong đội cố vấn thể hiện lòng quả
cảm, xả thân và kỹ năng chuyên nghiệp, có tính quyết định trong việc
ngăn chặn cuộc công kích của cộng sản. Moffett và nhóm của mình trải
qua 53 ngày ở An Lộc: ‘Khi chúng tôi rút đi chúng tôi phải lôi kéo
người Việt xuống trực thăng, chúng tôi không muốn chở theo thương
binh nào bởi vì nếu bạn chở một bạn phải chở hết tất cả … Chính tay tôi
kéo xuống 4 binh sĩ Việt, thiếu điều ném họ xuống mới leo lên được.’
Thông dịch viên Trần Văn Đệ nhìn nhận: ‘Nhiều người tìm cách đào
ngũ, hoặc lấy cớ bị thương để được ra khỏi trận địa.’

Mặc dù cộng quân giữ vững cuộc vây hãm An Lộc cho đến 8 tháng 6,
vào giữa tháng 5 mối đe dọa thoái trào. Lịch sử của Tổng tham mưu
Quân đội Miền Bắc bình luận ‘Chúng ta đã không chiến đấu tốt.’ Miền
Nam tổn thất 12,500 thương vong để giữ vững thành phố. Thiệt hại của
phe tấn công chắc chắn gần 25,000 cùng với 36 xe tăng quý giá.
Trong khi quân đội của Thiệu chiến đấu ở Miền Nam, Tổng thống
Nixon tháo xiềng cho một cuộc oanh tạc dữ dội nhất trong cuộc chiến
xuống Miền Bắc, để trừng phạt cho thái độ hống hách của họ.
Giữa ngày 1 tháng 5 và 30 tháng 6 Không lực Mỹ và Hải quân Mỹ tiến
hành 18,000 lượt xuất kích, mất 29 phi cơ. Vào ngày 8 tháng 5 trong
một buổi truyền hình quốc gia, Nixon bảo với nhân dân Mỹ rằng ông
đang thực hiện ‘một hành động quyết định nhằm kết thúc chiến tranh’:
một cuộc tấn công vào hệ thống hậu cần và giao thông Miền Bắc, mật
danh Linebacker, với 330 lượt xuất kích mỗi ngày và đặt mìn đầu tiên
các đường tiếp cận đến cảng Hải Phòng. Hơn nữa, tại đỉnh cao trận
chiến năm 1972, 5 nhóm tàu sân bay Hải quân Mỹ, 3 tuần dương pháo
hạm và 38 khu trục hạm cung cấp sự yểm trợ hải quân cho quân Miền
Nam. Với đòn phản kích ấn tượng trả đũa việc lăng nhục nước Mỹ bởi
cuộc công kích của cộng quân Nixon tranh thủ được nhiệt tình ủng hộ
đáng kinh ngạc của dân chúng: Người Mỹ hoan hô việc đánh trả địch từ
trên không, vì họ không bao giờ bằng lòng giao tranh với địch trong đầm
lầy và rừng rậm của họ. Trong tháng 4 và 5, lực lượng tiếp viện không
lực khổng lồ được gửi đến trận địa, cuối cùng có đến 210 B-52 hoạt
động từ Guam và Thái Lan, cùng với 374 F-4. Mục tiêu chính là đường
giao thông, bao gồm bãi tàu hỏa Yên Viên và cầu Paul Doumer ở Hà
Nội, bị đánh sập bởi 29 quả bom điều khiển bằng laser và quang điện.
Giữa tháng 4 và 10, 155,548 tấn bom đạn rơi xuống Miền Bắc. Lượng
nhập khẩu trên đất liền từ 160,000 tấn một tháng giảm xuống còn
30,000; lượng nhập khẩu từ đường biển từ 250.000 tấn đến 0. Người
Trung Quốc ngưng các chuyến tàu và đóng cửa đường sắt của họ.
Linebacker phá hủy gần như toàn bộ kho dự trữ dầu Miền Bắc và 70
phần trăm năng lượng điện. Từ quan điểm của người Mỹ, chiến dịch
không phải là ít tốn phí: nhiều phi hành đoàn hiện giờ tương đối ít kinh
nghiệm, và điều này phản ánh trong tháng 6, khi các MiG của địch bắn
hạ 7 chiến đấu cơ mà chỉ mất hai chiếc. Tổng thể, Linebacker thiệt hại

44 phi cơ. Trong khi đó, mặc dù sức mạnh không kích chiến thuật gây
ra một tác động hủy diệt và gần như là quyết định đối với các trận đánh
ở Miền Nam, thì ở Miền Bắc hạ tầng cơ sở quá mỏng và thấp kém thành
ra hiệu quả việc đánh bom đối với nỗ lực chiến tranh của địch chỉ rất
thấp.

Chiến dịch Linebacker, 1972

Tuy nhiên, Nixon không thừa nhận điều này. Sự kiên nhẫn của ông đối
với Creighton Abrams cuối cùng hết hạn khi người quân nhân này chống
đối Linebacker, lẽ ra thay vào đó nên tập trung tài nguyên không lực cho
Miền Nam. Kissinger nói, với bản năng quen thuộc tấn công vào yết hầu
của đối thủ: ‘Ông ta đã muốn thế! Nhìn xem, ông ta phốp pháp, ông ta
uống nhiều, ông ta không thể đảm đương công việc.’ Vào tháng 6
Abrams về nước, để được Fred Weyand thay thế trong những tháng
cuối cùng của MACV. Abrams không bị cách chức, nhưng bị loại ra để
đi lên, kế vị Westmoreland làm tham mưu trưởng lục quân. Ông là một
sĩ quan có năng lực, tốt bụng, thích hợp với kiểu chiến tranh quy ước ở
châu Âu. Sự sa sút ngày càng tăng của ông sau những năm nhậm chức ở
Sài Gòn, nhất là trong những tháng cuối cùng, có thể là do phải đối mặt
với các áp lực chính trị và quân sự có thể quật ngã bất kì vị tư lệnh nào.
Một đồng nghiệp khi nói rằng Abrams được yêu cầu ‘phải điều hành
một cuộc chiến trên nền tảng bằng chất thạch’ thật không nói quá.
Vào ngày 22 tháng 5, Nixon trở thành tổng thống Mỹ đầu tiên đến viếng
thăm Moscow, bắt đầu một tuần lễ đàm phán thượng đỉnh với lãnh tụ
Xô viết Leonid Brezhnev. Mỗi bên đều khó chịu trước khó khăn khi thảo
luận về các vấn đề hạt nhân sống còn liên quan thiết thân đến họ nhất,
trong khi bóng ma chiến tranh vẫn lơ lửng trên bàn đàm phán.
Thông dịch viên viết sau đó: ‘Nếu Việt Nam được đề cập lúc này lúc
khác, mục đích duy nhất là đánh dấu để sau này có thể báo cáo với
người Việt và các đồng minh về vị thế mạnh mẽ và không lay chuyển
quyền lãnh đạo của Liên bang Xô viết.’ Thủ tướng Xô viết Alexei
Kosygin cảnh báo rằng bất kì sự leo thang lần nữa nào của Mỹ sẽ buộc
Hà Nội tìm kiếm sự hỗ trợ từ các lực lượng Trung Quốc. ‘Nixon lắng
nghe hàm răng nghiến chặt. Rồi ông bình tĩnh nhưng kiên quyết bác bỏ
những gì ông coi là những vu cáo không bằng cớ, nhấn mạnh ý định
muốn kết thúc cuộc đổ máu. Ông đổ lỗi sự thiếu tiến bộ trong đàm phán
là do Miền Bắc ngoan cố, và kêu gọi chúng tôi gây ảnh hưởng đến bè
bạn và đồng minh của chúng tôi.’ Mặc dù người Nga sử dụng lời nói
mạnh mẽ đáp lại, giọng điệu của họ thật là ôn hòa.
Họ sợ Nixon, và lo âu sâu sắc muốn ngăn cản Việt Nam làm phương hại
đến tiến trình thỏa hiệp với ông ta. Vài lần trong đối thoại thượng
đỉnh, người Nga trả lời với thúc giục của người Mỹ rằng họ sẽ thuyết

phục Việt Nam đàm phán nghiêm túc bằng cách cáo buộc Hoa Kỳ không
chịu kiềm chế các hành động quá đáng của Israel đối với người
Palestine. Trái bóng này cứ bay qua bay lại lưới. Người Mỹ nói: Israel là
một nhà nước độc lập chúng tôi có quan hệ thân thiết, nhưng chúng tôi
không thể ép buộc họ thay đổi chính sách. Người Nga phản đòn: điều đó
cũng đúng với chúng tôi và Bắc Việt. Đàm phán thượng đỉnh Moscow
kết thúc với các hiệp ước ABM và SALT I,mà theo quan điểm của cả
hai bên, có tầm quan trọng lớn lao hơn Đông Dương nhiều.

3 Một Thắng Lợi Rỗng Tuếch
Tại Miền Nam, từ tháng 6 qua mùa thu phi cơ Mỹ đánh phá các lực
lượng Miền Bắc khiến họ rút lui, nhờ đó binh sĩ Miền Nam có thể dần
dần chiếm lĩnh một số lãnh thổ đã mất. Tổn thất của cộng quân tăng vọt
đến mức độ mà không lãnh tụ quốc gia nào kém nhẫn tâm hơn Lê Duẩn
có thể chịu đựng. Sư trưởng sư đoàn 308 gửi một tín hiệu cá nhân cho
Giáp, hối thúc ông nên hủy bỏ cuộc công kích. Ông phàn nàn rằng các sĩ
quan chính trị chụp mũ bất cứ ai thúc giục rút lui là kẻ hèn nhát, ‘nhưng
đây là điều tôi đề xuất. Với vị thế bây giờ của chúng tôi, chúng tôi sẽ
phấn đấu giao tranh với một tiểu đội địch đơn lẻ. ‘
Bên ngoài Quảng Trị vào tháng 6, với sức lao động vô hạn các kỹ sư
cộng sản chuyển đi 42 thuyền phao bắc qua một con sông – chỉ để nhìn
thấy chúng bị phá hủy bởi một cuộc không kích trong đó đơn vị phòng
không bảo vệ cầu phao bị quét sạch. Một lữ đoàn pháo bị đánh tan tác
trước khi đặt chân đến chiến trường. Tuy vậy các cuộc tấn công bộ binh
làm mới vẫn được tiến hành, nhưng theo lời của Tướng Phi Long: ‘sau
một tuần tác chiến tài nguyên chúng tôi đã cạn kiệt. Mỗi tiểu đoàn giảm
còn 30 hoặc 40 người.’ Một vài sĩ quan cao cấp được thay thế sau khi
ngã bệnh vì kiệt sức do nhiều lý do khác nhau. Người Miền Bắc học
được một bài học tàn nhẫn rằng, dù sức mạnh không quân có hạn chế
thế nào khi chống các du kích quân và đường tiếp tế trong rừng, thì nó
vẫn phát huy sức tàn phá khủng khiếp lên các lực lượng quy ước, và
nhất là lên xe bọc thép bắt được khi di chuyển. Nhếch nhác trong công
tác hậu cần, đi ngược với lời khuyên của Giáp, mà vai trò của nó trong
chiến dịch có vẻ mang tính hành chính và danh hiệu hơn là chức năng,
gây nhiều khó khăn vô cớ.

Vào ngày 11 tháng 7 một cuộc tấn công trực thăng vận Miền Nam đánh
dấu bước đầu tiên trong cuộc chiến đấu dài nhằm lấy lại Quảng Trị. Khi
cộng quân hậm hực lùi lại, Đại tá An kỳ cựu được phái đến tham gia trận
đánh để giữ lại thành phố. Đến nơi trong cơn mưa trút nước để thấy hầu
hết đại đội bộ binh chỉ còn lại 20 phần trăm quân số, bộ đội sống sót sức
khoẻ yếu kém và tinh thần sa sút, ông viết: ‘Quân địch đang nện và áp
đảo chúng tôi.’ An cũng tán thành hủy bỏ chiến dịch, như một sĩ quan
cao cấp khác đã nói: ‘Rõ ràng kẻ địch đã nắm được thế thượng phong…
Tôi biết các cán bộ khác trong sư đoàn cũng nhất trí, nhưng không ai
dám thổ lộ ra ngoài. ‘
An viết: ‘Có lẽ vì cụm từ “Cách mạng chỉ biết có tiến công” đã quá hằn
sâu trong tâm thức chúng ta, nên ai dám đề xuất một lập trường phòng
thủ đều chắc chắn bị kết tội “có tư tưởng ý thức hệ tiêu cực ” … Mùa
mưa gây ra vô vàn khó khăn. Hào lúc nào cũng ngập đầy nước và bùn.
Cho dù chúng tôi đã tát cạn các boongke, chỉ trong một vài giờ chúng lại
úng đầy nước …Dù cho các bộ phận vận tải có cật lực làm việc đến
đâu, thì hàng tiếp tế vẫn thiếu thốn. Bộ đội chúng ta…đói, lạnh, bẩn
thỉu và đau ốm.’
Phạm Hưng của Sư đoàn 308 kỷ niệm sinh nhật lần thứ 18 của mình vào
ngày 26 tháng 8, tại Quảng Trị dưới một trận pháo kích của quân Miền
Nam. Cậu quyết định tổ chức một buổi sinh nhật nhỏ , cho nên cậu dự
tính bắt một số cá từ cái ao gần đó, sử dụng cách thức quen thuộc của
binh sĩ: trong khoảng thời gian ngừng bắn anh nhảy ra khỏi hố cá
nhân, chạy đến ao gần đó và trút hết băng đạn AK-47 vào hệ sinh vật
trú ngụ trong ao. Thu nhặt các con cá trúng đạn nổi lên, cậu chạy trở lại
nơi ẩn nấp khá chậm để thoát khỏi cơn mưa bom của Mỹ. Một tiếng nổ
ném cậu bất tỉnh xuống đất, tại đó cậu nằm suy nghĩ vẩn vơ: ‘Mình sắp
chết, một cách không có gì là vinh quang. Thay vì là một người hùng,
tôi đang bấu chặt trong tay một nắm cá chết. Tôi chưa hề làm tình với
một cô gái.’
Cậu rất khổ sở, nhưng sau một thời gian biết mình chưa chết, mặc dù ra
rất nhiều máu. Cậu cố kêu cầu cứu, nhưng không nghe âm thanh nào
phát ra. Quân y tá đã thiệt mạng, nhưng cậu thành công trong việc gây
chú ý cho người thay thế, một sinh viên thú y, băng bó vết thương ở
cánh tay và đầu cậu. Hai người được giao nhiệm vụ mang cậu đến trạm

quân y, nhưng rồi một đợt bom dội xuống, họ đột ngột buông cậu giữa
khoảng trống để chạy ẩn nấp. Khi tiếng bom ngừng hẳn họ mới trở lại
và cậu nói: ‘Thôi để tớ bò. Như thế đỡ đau hơn bị ném xuống đất.’ Khi
về đến trạm xá, đồng đội cậu khen ngợi cậu quá may mắn: mình còn
sống và được về nhà, còn họ phải tiếp tục chịu đựng. Hưng cho rằng lời
nhận xét của họ kỳ lạ, nhất là khi cậu máu me thế kia. Một tuần sau tai
nạn, cậu theo chân đoàn thương binh lội bộ trở lại Đường Mòn trên hành
trình chậm chạp, đau đớn: ‘Chúng tôi trông như một đoàn quân bại
trận, một cảnh tượng khủng khiếp. Chúng tôi vừa đi vừa hát, nhưng đó
là những bài hát rất buồn. Ngay lúc đó chúng tôi cảm nhận chiến tranh ắt
hẳn sẽ tiếp diễn mãi mãi, và chúng tôi không thể thắng trận. Chúng tôi
gặp nhiều tân binh đi theo chiều ngược lại, và cảm thấy hối tiếc cho họ.
Chúng tôi nói với nhau: ‘Nếu mấy thằng nhóc này biết mình đang đi đến
điều gì, ắt hẳn chúng sẽ quay lại và trốn về nhà. “‘
Nhưng đến khi về tới Miền Bắc, thật ngạc nhiên khi tinh thần lại lên cao
trong những con người tơi tả đó. Tiến gần đến sông Kiên Giang, một
người la to, ‘Ngay bờ bên kia là nơi chôn nhau cắt rún của Tướng Giáp!’
Hưng nói: ‘Chúng tôi suy nghĩ, “Bao lâu Tướng Giáp còn ở bên chúng
ta, chúng ta có thể đánh thắng.” Chúng tôi như thể một cây đang sắp
chết khô vừa được tưới nước. Thình lình tôi, cũng vậy, cảm thấy chúng
tôi có thể chiếm ưu thế, rằng tôi phải trở lại và chiến đấu tiếp.’ Trong sự
cố, vết thương cậu quá nặng, nhưng cậu vẫn ráng ở lại phục vụ quân
đội thêm hai năm nữa, để em trai mình khỏi đi nghĩa vụ thế. Khi cậu
cuối cùng được giải ngũ vào tháng 5 1974, cậu cảm thấy chua chát khi
công lao đóng góp của mình không được công nhận: cậu rời quân đội
với thương tật ở tai và tâm trí phải mất nhiều năm mới dứt hẳn, vậy mà
cậu bị buộc phải bồi thường cho vài món trang bị đánh mất, và buộc
phải lội bộ 9 dặm mới bắt được xe khách về nhà.
Ở Miền Nam vào mùa thu 1972, một chỉ huy trung đoàn pháo binh Miền
Bắc nhìn nhận: ‘Binh sĩ chúng ta không thể chịu đựng hơn được nữa.’
Bảo Ninh nói rằng tinh thần suy sụp: ‘Tổn thất tệ hơn hồi 1968.’ Tại một
ngôi nhà ở Hà Nội, cô giáo Đỗ Thị Thu khóc nức nở khi nghe tin ba học
trò trước đây của mình đã tử trận tại Quảng Trị.
Theo đợt sóng đổi chiều, tinh thần Miền Nam lên cao tuy ngắn ngủi. Tại
một ngôi nhà ở Sài Gòn của Đại tá Dù Lý Văn Quang, suốt đêm ông và

bè bạn đồng đội ngồi nhậu rượu đế và trao đổi kinh nghiệm chiến
trường. Họ cười hả hê khi bàn tán các trò điên rồ của các chỉ huy xe tăng
địch ở An Lộc. Theo lời của một nhân chứng gia đình, ‘Họ quá đỗi tự
hào: đây là lần đầu tiên QĐVNCH đã làm được điều thực sự quan trọng
của riêng mình.’
Cán bộ cộng sản cao cấp Trương Như Tảng nhìn nhận rằng người Miền
Nam và các nhà tài trợ Mỹ của họ đã thêm một lần thắng thế, ‘như họ đã
làm được trong dịp Tết, ở Cao Miên, và trong nhiều trận đánh đỉnh cao
trong đó họ đối đầu với VC và lực lượng chính quy Miền Bắc. Tổn thất
của chúng tôi đã rất to lớn.’ Dù sao đi nữa, ‘Sự nghịch lý là dù có điều
này, cuộc công kích mùa xuân là một thắng lợi quyết định cho chúng
tôi … Mỹ và Miền Nam đã thua cuộc chiến – và, phải chỉ chúng tôi biết
được, VC cũng thua cuộc.’ Tảng ý nói người Miền Bắc sẽ cuối cùng áp
đặt sự áp bức mới lên mọi dân Miền Nam, không cần biết quá khứ họ
trung thành với ai.
Kissinger căn dặn Tổng thống Thiệu là ông cần chiếm lại nhiều lãnh thổ
như có thể trước khi một hiệp ước hoà bình được ký kết, bởi vì bất kì
vùng nào cộng sản giữ được lúc đó, họ sẽ chiếm luôn. Mặc dù TQLC
Miền Nam tuyên bố một thắng lợi uy tín có ý nghĩa khi chiếm lại được
thành cổ Quảng Trị vào ngày 16 tháng 9 sau một cuộc chiến đấu ác liệt
và 5,000 thương vong, sau đó họ quá kiệt sức nên không thể tiến thêm
được nữa để lấy lại các căn cứ hỏa lực đã mất dọc theo Đường 9 và phần
phía nam Vùng Phi Quân sự. Đông Hà, từng là một căn cứ Mỹ chủ
chốt trở thành cảng trong ba năm cuối cùng của cuộc chiến qua đó cộng
quân chở đồ tiếp tế tận đến Sông Cửa Việt từ biển vào. Phân nửa lãnh
thổ của bốn tỉnh phía bắc Miền Nam – một phần mười toàn thể đất nước
– vẫn vĩnh viễn nằm trong sự thống trị của cộng sản, cũng như vùng đất
phía tây giáp với Lào và Cao Miên.
Thậm chí trong khi binh sĩ Thiệu chiến đấu ác liệt, trong 6 tháng đầu
năm 1972, 135,000 lính và nhân viên Mỹ đi về nước, bỏ lại phía sau chỉ
49,000 người. Một sĩ quan Miền Nam mô tả cảnh tượng thê lương khi
lái xe đi qua những doanh trại và căn cứ bỏ hoang tại Phú Bài, Đồng
Tâm, Qui Nhơn, ngắm nhìn những thị trấn lụp xụp gần đó đã từng một
thời đông đúc các quán ba, hộp đêm, nhà thổ, giờ trở nên hoang vắng và
xiêu vẹo. Trong vùng đồng bằng Cửu Long, nơi đó trước đây trong cuộc

chiến quân Miền Bắc chưa hề liều lĩnh đặt chân đến, Hà Nội giờ triển
khai 8,000 bộ đội chính quy. Một cố vấn Mỹ ở Mỹ Tho chán chường ghi
lại: ‘Chúng ta bị quân Miền Bắc tràn ngập đến tận cổ.’ Một cố vấn khác,
ở thị trấn đồng bằng Vĩnh Kim báo cáo rằng 500 cộng quân vừa vào
cướp bóc phức hợp Mỹ: ‘Họ đang đứng và chiến đấu. Chúng tôi gọi B-
52 nhưng họ vẫn còn ở đó. Những con người này không bao giờ thoái
lùi. Đây thực sự là trận đấu bóng khác với những gì chúng ta quen thấy
trong những bộ phận này.’ Giữa sự xuất huyết của binh sĩ Miền Nam
trong các trận đánh lớn phía bắc, chính quyền rút quân từ các căn cứ địa
phương, để lại cho cộng quân đánh chiếm toàn bộ các quận lỵ. Hơn nữa
cộng quân tỏ ra có bản lĩnh hơn hẳn binh sĩ Sài Gòn trong việc xử lý
quan hệ với dân chúng địa phương, sớm tiếp tế cho họ thực phẩm. Lực
lượng VC nổi dậy lao vào một chiến dịch ám sát mới những người phục
vụ cho chế độ Sài Gòn.
Kết cục của các trận đánh lớn năm 1972 là một thắng lợi chiến thuật cho
Miền Nam, đạt thắng lợi với giá 11,000 người chết, có lẽ tổng cộng có
50,000 thương vong. Phần đông số 300 người Mỹ ngã xuống năm đó
thiệt mạng trong công kích mùa xuân. Thương vong của Miền Bắc ắt
hẳn vượt hơn 100,000. Họ mất hơn phân nửa lực lượng bọc thép tung ra
– ít nhất 250 xe tăng – và hầu hết pháo hạng nặng của họ. Khoảng
25,000 dân thường thiệt mạng, ‘thiệt hại ngoài dự kiến ‘ rất bi đát dù
đối với tiêu chuẩn Việt Nam.
Người Trung Quốc chỉ trích chua chát Hà Nội đã đi quá sức mình.
‘Quân nhân chúng ta nói họ đã đánh mất Quảng Trị vì Lê Duẩn ra lệnh
chiếm Huế,’ một cán bộ cao cấp nói.
Về phía người Mỹ, một ít người lạc quan chuyên nghiệp như Creighton
Abrams hoan hô thắng lợi mà Miền Nam đạt được, nói: ‘Với tất cả sự
rối ben đã xảy ra, và với tất cả những thực thi tồi tệ đã xảy ra … chúng
ta sẽ không ở được vị trí chúng ta đang ở … nếu không có ai đó quyết
định đứng lên và chiến đấu, ‘ sau đó nói thêm, ‘Nhờ trời, người Miền
Nam có thể xoay sở được!’ Một số ít người khác cũng đồng ý. Merle
Pribbenow của CIA, lúc đó đang ở Sài Gòn, nói, ‘Rõ ràng nếu không có
yểm trợ không lực đồ sộ của Mỹ , xứ sở này đã sụp đổ.’ Hầu hết các
đồng bào nắm được thông tin của ông đều nhất trí với nhận xét

này, vậy mà nhiều thành viên Quốc Hội liên tục khích động để xiết hầu
bao tiền tài trợ cho các hoạt động không lực.
Bộ Chính trị Miền Bắc hoàn toàn hài lòng với kết quả chiến dịch của
mình. Các lực lượng vũ trang Sài Gòn đã thực hiện được thế đứng hệ
trọng cuối cùng của nó: từ đó về sau, tinh thần sa sút, phần đông chứng
tỏ chỉ có khả năng đùa cợt với cuộc chiến. Thiếu tá David Johnson là
một trong số nhiều cố vấn Mỹ trở nên tuyệt vọng sau các trải nghiệm
1972 của mình: ‘Tôi cố gắng hoàn thành nhiệm vụ, nhưng trái tim tôi
không ở trong đó.’ Khi có nhiều người Mỹ hơn ra đi lê chân lên máy bay
ở các căn cứ không quân, nhiều phần đất của xứ sở họ bỏ lại phía sau
trông giống một bãi phế liệu các hàng hoá tiêu thụ và trang thiết bị đổ vỡ
hoặc hư mòn. Mọi đồng đô la, mọi trận đánh, đã không thể trao lại cho
các nhà cai trị Miền Nam và những người hậu thuẫn họ ba yếu tố sống
còn: phẩm cách, lòng tự trọng và tình cảm con người đủ lớn để biết yêu
thương và hy sinh cho nhân dân mình. Thiếu vắng các điều này, thắng
lợi trong các trận đánh không có gì đáng kể.

CHƯƠNG 25: CÁC ANH CHÀNG TO BÉO XẤU XA

1 ‘Nó Sẽ Tuyệt Đối, Hoàn Toàn, Loại Bỏ McGOVERN
Henry Kissinger đạt được vị thế siêu sao trong vai trò dàn xếp một cách
giải quyết hứa hẹn rút nước Mỹ ra khỏi vũng lầy. Vào tháng 10 1972, cả
nhân dân Mỹ và cố vấn an ninh quốc gia đều tin rằng sách lược xuất sắc
của ông đã đưa hòa đàm Paris đi gần đến kết quả. Tuy nhiên, thực ra
Hoa Kỳ cuối cùng chỉ giải quyết được điều khoản duy nhất mà Miền
Bắc quan tâm, theo đó quân đội của họ vẫn ở lì tại Miền Nam, trong khi
người Mỹ phải đi về nước. Gần như tất cả những điều khoản khác trong
Hiệp định sau rốt không bên nào được cho là sẽ tôn trọng. Điều thay đổi
duy nhất trong lập trường người cộng sản, điều làm cho Washington đỡ
mất mặt để dọn đường cho Mỹ nhượng bộ, là Hà Nội rút đi yêu cầu
khăng khăng trước đây của mình là loại bỏ Nguyễn Văn Thiệu trong vai
trò lãnh đạo Miền Nam.


Click to View FlipBook Version