và tại cuộc họp thượng đỉnh vào tháng ba 1961 với Kennedy, thủ tướng
Harold Macmillan miễn cưỡng hứa hẹn một động thái quân sự nào đó
nếu chính quyền
Vientiane sụp đổ. Khi quân Pathet Lào chuyển quân gần biên giới phía
tây của Lào vào năm sau, để đáp ứng một phi đội Hunters của RAF
(không lực Hoàng gia Anh) được triển khai ở Thái Lan láng giềng. Đó
là câu chuyện bình thường: Người Anh rất muốn tránh một dấn thân
mới, nhưng đành phải riu ríu chiều theo mong muốn của người Mỹ. Là
một khóa sinh sĩ quan West Point, Mike Eiland thấy mình tham gia các
bài thực tập trong một xứ tưởng tượng có tên Soal – chữ Laos viết
ngược – và ở Washington Tham mưu Trưởng Liên quân tán thành việc
tung vào bộ binh. Vào tháng 5 1961, tuy nhiên, Tổng thống Kennedy
tuyên bố rằng ông thích củng cố các hoạt động ngầm, mà ông cho là rất
lãng mạn. Tốt hơn nữa là mọi thế lực ngoại bang ngưng gây rối tại Cánh
đồng Chum của Lào. Hoàng thân Norodom Sihanouk có tính thất
thường, người cai trị xứ Cao Miên láng giềng, đề xuất một hội nghị quốc
tế, đứa con hoang của Hiệp định 1954, để ‘trung lập hóa Lào. Với các
mức độ miễn cưỡng khác nhau, tất cả các bên quan tâm đều ký tên. Sau
hơn một năm đàm phán trong đó Averell Harriman là người vận động
chính, vào tháng 7 1962 Hiệp định Geneva mới được ký bởi Mỹ, Nga,
Trung Quốc, và hai miền Việt Nam, cho nền trung lập của Lào.
Giới lãnh đạo Hà Nội xem sự dàn xếp này chẳng ra gì, chỉ như một chiếc
lá sung mà Moscow chìa ra che đậy các hoạt động quân sự của nó. Bộ
đội Miền Bắc tiếp tục đi lại tự do xuyên qua Lào, cho dù sự hiện diện
của họ luôn bị từ chối. Những người hay chỉ trích trong CIA gọi Đường
Mòn Hồ Chí Minh là ‘Xa lộ Tưởng Niệm Averell Harriman’, bởi vì vị
cựu ngoại trưởng ngoại giao đã không có được biện pháp bảo vệ chống
lại sự vi phạm Hiệp định có hệ thống của cộng sản. Cho mục đích của
câu chuyện này là câu chuyện về Việt Nam, điều quan trọng là sau đó
Souvanna Phouma cai trị ở Vientiane, thậm chí còn lệ thuộc sâu xa hơn
với Hoa Kỳ. Ở nơi khác trên khắp đất nước hoang dã và rối rắm của
ông, một cuộc chiến rời rạc và không được nhìn nhận gầm thét trong đó
vài trăm ngàn nạn nhân ngã xuống vì sự ngoan cố của Hà Nội muốn sử
dụng Lào như một mạng lưới cửa sông gồm những lộ trình tiếp tế được
bảo vệ vào Cao Miên và Miền Nam; và vì người Mỹ muốn ngăn chặn họ
làm thế, mà không muốn tỏ ra khinh thường tình trạng Trung Lập Hóa
quá lộ liễu.
Hầu như ngay từ ngày nhậm chức, Giáo sư kinh tế MIT Walt Rostow,
một nhà phân tích mục tiêu đánh bom ở Thế Chiến II giờ chuyển sang
làm tùy viên phụ tá đặc biệt cho an ninh quốc gia và trong một vài tháng
làm giám đốc kế hoạch chính sách tại Bộ Ngoại giao, thúc giục chính
quy chuyển trọng tâm từ Lào sang Việt Nam. Chính tổng thống chẳng
bao lâu cũng thấy Việt Nam có vẻ là một nơi tốt hơn để đánh bại cộng
sản: đối mặt với hoạt động du kích leo thang, phải làm nhiều hơn để
chống đỡ Diệm. An ninh trong vùng đồng bằng Cửu Long đã trở nên
quá mỏng manh đến nỗi đồ tiếp tế y tế chỉ có thể phân phối đến các bệnh
viện dân sự bằng máy bay và trực thăng của CIA, giữa các ngôi làng bỏ
hoang và ruộng đồng không ai cày cấy. Vào tháng 5 1961 Phó tổng
thống Lyndon Johnson đến thăm Việt Nam, cam kết tiếp tục sự ủng hộ
của Mỹ và gọi Diệm là ‘Winston Churchill của châu Á’. David
Halberstam sau này viết về chuyến thăm này: ‘Ông ta đã đưa ra lời hứa
hẹn của chúng ta. Nó không chỉ là cam kết sâu đậm hơn của chính quyền
Kennedy và ràng buộc Washington vững chắc hơn với vấn nạn Sài Gòn,
leo thang ngôn từ, mà còn lời cam kết của chính con người Lyndon
Johnson. Đối với ông, lời hứa hẹn của một người đàn ông là rất quan
trọng.
Vào tháng 10 Ed Lansdale viết cho chỉ huy Nhảy dù Thế Chiến II Tướng
Maxwell Taylor, cố vấn quân sự riêng của Kennedy cho đến khi
được bổ nhiệm làm chủ tịch các Tham mưu trưởng Liên quân vào năm
sau: ‘Người Việt vốn là một dân tộc có năng lực và năng động. Nhưng
giờ họ dường như không còn là chính mình. Họ sắp sửa đánh mất đất
nước mình nếu không có tia lửa nào đó làm họ bốc cháy để tiến lên
chiến thắng cuộc chiến này. Tia lửa đó có thể là đặt người Mỹ vào đúng
chỗ trong chính quyền Miền Nam để cung cấp sự hướng đạo hoạt
động. … Công việc này đòi hỏi người Mỹ phải có tài năng và lòng trắc
ẩn.’
Vì vậy Lansdale khuyến cáo đáp ứng cho các vấn đề của người Việt là
gửi thêm quân Mỹ, và trong suốt 34 tháng trong nhiệm kỳ tổng thống
Kennedy, đó là điều đã được tiến hành. Vào tháng 5 1961, 400 lính Mũ
Nồi Xanh được phái đến, và một ít tháng sau là 40 trực thăng Quân đội
Hoa Kỳ, cùng với 400 phi công và thợ bảo trì, và bộ phận cố vấn ngày
càng tăng mạnh, phục vụ bên cạnh QĐVNCH đến cấp độ tiểu đoàn, và
vào giữa năm 1962 nâng tổng số lên 8,000. Ngày 8/2/1962 MACV – Bộ
Chỉ huy Viện trợ Quân sự tại Việt Nam – được thành lập, mà Hà Nội lý
giải rất đúng đắn là Kennedy quyết tâm nâng lên tiền cá cược. Vào tháng
11 1963 sẽ có đến 16,000 người Mỹ trên trận địa: binh lính, thủy thủ và
nhân viên phi hành; kỹ thuật viên và phi công; nhân viên nghe lén điện
tử và nhà nông học; phân tích viên xã hội hàn lâm và bọn cao bồi thuộc
lực lượng đặc biệt; các tên gián điệp và chuyên viên điện toán đủ mọi
sắc thái.
Viện trợ Mỹ đang hoạt động ở mức 400 triệu đô mỗi năm, với khí tài và
xe cộ quân sự được chở đến với số lượng chưa từng có. Vào tháng 4
1962 chính quyền Diệm lao vào chương trình ‘ấp chiến lược’, thay thế
khu trù mật trước đây, được thiết kế để tách nông dân khỏi du kích quân
bằng cách tái định cư họ bên trong hàng rào kẽm gai – với cái giá phải
rời mồ mả tổ tiên mà đối với dân quê Việt Nam là điều thiêng
liêng. Một báo cáo của Tập đoàn RAND điều tra về mức độ chấp nhận
của chính sách, nhưng tại Ngũ Giác Đài Thiếu tướng Thủy quân Lục
chiến Victor ‘Brute’ Krulak đập bàn và xác quyết rằng xứ sở của ông sẽ
‘bắt buộc nông dân làm những gì cần thiết để chương trình thành công’.
Ấp chiến lược đạt được thành công chiến thuật có ý nghĩa, khiến cuộc
sống của Việt Cộng gay go hơn, nhưng cái giá về mặt xã hội và chính trị
quá cao. Tay Đông Dương già Howard Simpson chứng kiến cảnh ‘một
nhóm nông dân rầu rĩ, luộm thuộm bị lùa khỏi các túp lều tranh của
minh để tái định cư. Một ông lão trên trán có vết thương chống cự quyết
liệt, và lắp bắp bằng tiếng Pháp với đoàn quay phim TV đang ghi hình,
‘Không đúng! Chúng bắt chúng tôi dời đi. Chúng tôi không muốn dời đi.
Bảo với họ. Như vậy là không đúng!’ Khi nhân viên an ninh xô lão nông
ra chỗ khác ông lão gào lên thảm thiết, ‘Người Mỹ không biết điều. Bảo
người Mỹ chúng tôi không muốn đi!’
Tại hội thảo chiến lược ngày 23/7/1962 tại Honolulu, Tướng Paul
Harkins bảo cử tọa gồm các chính trị gia và tướng lĩnh cao cấp dẫn đầu
là bộ trưởng quốc phòng Robert McNamara: ‘Trong tháng 4, 434 cuộc
hành quân trên bộ được tiến hành … tăng lên 441 trong tháng 5. Hơn
1,000 chuyến bay xuất kích trong tháng 6 … Tổng thống Diệm đã chỉ rõ
rằng ông dự định binh sĩ sẽ hành quân nhiều hơn và tuần tra lâu hơn …
Không nghi ngờ gì chúng ta đang là bên thắng trận.’ Hỏi về ước tính
thời hạn, Harkins nói ông nghĩ thắng lợi đối với MTDTGP có thể đạt
được khoảng cuối năm 1963. McNamara ghi chú cẩn thận, nói, ‘Chúng
ta hãy đón nhận điều tồi tệ nhất và hoạch định kế hoạch theo đó,’ mà
ngài bộ trưởng quốc phòng lý giải là thời điểm đánh bại Việt Cộng là
cuối năm 1965.
Trong những năm Kennedy đó, nhiều nhân vật sẽ đóng vai của mình
trong suốt cuộc chiến của Mỹ, một số nổi tiếng và số khác không được
thế, tụ tập chung quanh sân khấu và bắt đầu học thuộc lời thoại của
mình. Vào năm 1961 Dương Vân Mai rời Sài Gòn qua Mỹ du học. Cô bị
nước Mỹ mê hoặc nhưng đồng thời cũng bối rối trước nạn kỳ thị ở các
tiểu bang miền Nam, cảm thấy nghi ngại không biết phải sử dụng phòng
tắm Da Trắng hay Da Màu. Rồi cô gặp David Elliott, người sau này sẽ
trở thành chồng cô và phân nửa kia của một quan hệ đối tác đáng chú ý
đã dành gần như hai quãng đời cho việc nghiên cứu dân tộc Việt Nam.
Là một người gốc Boston, anh đã theo học Yale trước khi phục vụ cho
đơn vị đánh chặn vô tuyến của Quân đội Mỹ tại Tân Sơn Nhất. Sau đó
anh trải qua một năm với tình báo MACV trước khi gia nhập RAND, tại
đó anh lao vào một chương trình nghiên cứu lâu dài trong vùng châu
thổ. Tại sao Việt Nam? Elliott nói: ‘Đây là nơi nó đang xảy ra, mặt trận
ác liệt nhất trong Chiến tranh Lạnh. Tôi được xếp cho một chỗ ngồi tốt
để nhìn lịch sử diễn tiến.’
Những người theo chủ nghĩa lý tưởng cũng như những người tìm cảm
giác mạnh xông vào khói bụi nồng nặc của khói xăng dầu, mùi gia vị,
tiếng còi xe inh ỏi, hơi nóng ngột ngạt. Một số đi dạo trên đường phố Tự
Do và trố mắt nhìn cảnh vật – hoặc, đúng hơn, nhìn gái – là bọn trai trẻ
sáng sủa hăng hái biến đổi thế giới, đến đây để chăm sóc nhiệt tình cho
người Việt.
Frank Scotton, sinh năm 1938, lớn lên ở Massachusetts, ‘nơi chiến tranh
cách mạng chống bọn chiếm đóng ngoại bang áp bức là một phần của
văn hoá’; cha anh đã tử trận tại Trận Bulge vào năm 1944. ‘Tôi nghĩ
mình sẽ thi hành một hình thức phục vụ nào đó. Trong quá khứ chúng ta
từng là những người táy máy tốt ở nước ngoài, đến chỗ này chỗ kia
chỉnh sửa. Chúng ta có niềm tin là chúng ta luôn chiến thắng, cho dù bọn
Triều Tiên đã mài mòn lý tưởng đó đôi chút.’ Trong suốt thời gian dài ở
Việt Nam ông luôn ý thức sâu sắc về di sản của mình, thành tích can
trường của gia đình: ‘Tôi không muốn họ cảm thấy rằng mình không
xứng đáng.’
Ông tham gia Cục Thông tin Hoa Kỳ hơn là Phòng Ngoại vụ, ‘bởi vì tôi
sinh ra là người thực địa’. Ở Washington trước khi bay, ông gặp ba
trung uý Việt Nam trẻ hỏi ông có biết nói tiếng Việt không. Không, ông
đáp, rồi họ bảo tiếng Pháp cũng được. Họ trông có vẻ không được thoải
mái. Một người nói, ‘Đó là ngôn ngữ của bọn thực dân.’ Khi ông đến
Việt Nam vào năm 1962, ông nhanh chóng nhận ra không biết đối thoại
với người bản xứ là điều bất lợi cho hầu hết đồng bào ông: ‘Họ thậm chí
không biết phát âm địa danh. Tôi cũng ý thức được sức nặng của lịch sử
mà chúng tôi đang tranh đấu với nó. Trong vòng vài tuần, tôi đủ khôn
ngoan để nhận ra rằng Diệm không phải là “Winston Churchill của châu
Á”.’
Scotton trở thành một sinh viên nhiệt tình của đất nước, đi đây đó không
sợ hãi và đúng ra là bất cẩn qua ruộng đồng và rừng rậm, giám sát một
cuộc điều tra cho sứ quán Mỹ về tình cảm của nhân dân tại những xóm
ấp hẻo lánh. Là một trong một nhóm nhỏ người Mỹ dâng hiến cho chính
nghĩa, ông nói, ‘Tôi luôn tìm kiếm những người đồng chí hướng. Có sự
chia rẻ giữa những người thực sự quan tâm và những người thờ ơ.’
Những người trẻ Sài Gòn mới quen biết ông chẳng bao lâu bắt đầu nói
Scotton kỳ quá và nhiều người Mỹ cũng thấy như vậy: nhân viên sứ
quán gọi ông ‘đứa lai căng chưa đánh dấu’.
Việt Nam tước đoạt ông cuộc hôn nhân: vợ ông Katherine làm hết sức
để sinh sống trong một ngôi nhà ở Qui Nhơn, tổ chức các lớp dạy tiếng
Anh. Tuy nhiên, sau vài tháng bà về Mỹ, và họ ly dị. Sau đó ông tạo
dựng một loạt các quan hệ địa phương thân thiết.
Doug Ramsey cũng đến Việt Nam vào năm 1962, chân ướt chân ráo từ
trường ngoại ngữ, và được cắt đặt công việc lưu hành các ấn phẩm của
USIA (Phòng Thông Tin Hoa Kỳ) trong vài tháng tại một văn phòng ở
Đà Lạt: ‘Tôi cảm thấy mỉa mai khi phân phát một tạp chí có tên “Thế
Giới Tự Do” làm lợi cho chế độ độc tài của Diệm.’ Dân chúng địa
phương rất dè dặt phát biểu ý kiến về bất cứ điều gì với một người nước
ngoài trừ khi hoặc đến khi họ quen thân với y, nhưng Ramsey nhanh
chóng quả quyết rằng Diệm không phải là nhà lãnh đạo đáng tin cậy và
bền vững, và từ đó phát sinh một nhiệt tình đối với ‘Lực lượng Thứ ba”
nào đó còn lẩn khuất. ‘Tôi thấy hứng thú trong việc Frank Scotton đang
làm, – ra sức xây dựng từ đáy lên.’ Ông ngày càng hóa ra tin rằng một
hay hai thập niên bị cộng sản thống trị tốt hơn ‘sự khờ dại của chính
sách chúng ta’, một cuộc chiến không bao giờ chấm dứt.
Sự thống trị một khu vực nào đó của mỗi bên ‘tại nhiều vùng không
vươn xa hơn tầm bắn chết người của súng AK-47 hoặc M-14’. Ramsey
công khai thừa nhận mình ít hốt hoảng vì khủng bố của VC hơn là ”pháo
và không kích bừa bãi của Mỹ và chế độ Sài Gòn ‘. Ở tận vùng đồng
bằng Cửu Long, vừa nhìn thoáng qua là ông nhận ra ngay hạn chế của
các lực lượng chính quyền, khi chỉ vừa nghe tin đồn cộng sản sắp tấn
công là đơn vị QĐVNCH tại địa phương bỏ chạy.
Bob Destatte là một trong số 16 đứa trẻ trong một gia đình Thiên Chúa
giáo gồm các công nhân nghèo nhưng làm lụng cật lực ở Ohio. Anh bỏ
ngang một khóa dạy cao đẳng để vào quân đội: ‘Tôi muốn mở rộng tầm
mắt ra khỏi thị trấn nhỏ bé của mình.’ Anh tình nguyện vào Cục An ninh
Quân đội vì một người bạn lính bảo anh cơ quan chắc chắn phái anh ra
nước ngoài, và anh trở thành chuyên viên đánh chặn mã morse. Vào
năm 1961 anh được đưa tới Sài Gòn. Trên máy bay tiến vào, anh chờ đợi
một điều gì đó, anh nói, ‘giống như những tên trong Terry và Bọn Cướp
Biển – lén lút ẩn núp trong bóng tối’. Nhưng từ lúc ngồi phía sau một
quân xa anh thoáng nhìn hai cô gái đầu tiên trong tà áo dài, anh chợt
nghĩ khác: quá khác, thật ra, đến nỗi chỉ trong vòng vài tháng và ở tuổi
22 anh kết hôn với Nguyễn Thị Ánh. Anh gặp cô khi một chàng trai Việt
cùng đơn vị với anh, vào thời gian đó đóng chốt trong hai toa xe tại phi
trường Tân Sơn Nhất, mời anh đến dùng cơm tối với gia đình. Anh thích
bà mẹ ngay từ lần đầu gặp mặt, và cô em gái của chàng trai dạy anh cách
dùng đũa. ‘Tôi cho là mình gặp tình yêu sét đánh.’ Họ lấy nhau trong
một nghi lễ gia đình, nhưng thông đồng với sĩ quan của mình chỉ cử
hành hôn lễ chính thức ngay trước khi anh quay về Mỹ vào năm 1963, vì
các lễ cưới tại địa phương sẽ buộc anh phải hồi hương lập tức. Không
giống nhiều cuộc hôn nhân kiểu đó, hôn nhân của
Destattes được dài lâu.
Bob Kelly, một cố vấn chiến tranh tâm lý làm việc với người Miền Nam
tại tỉnh Quảng Ngãi, tổ chức các cuộc mít tinh thân chính quyền. Lần
đầu tiên không mấy thành công. Dân địa phương được lùa như lùa súc
vật đến tham dự, rồi để mặc ngồi dưới nắng không nước nôi. Cao trào
của buổi lễ là chiếc C-47 bay thấp trên đầu, phát đi những lời tuyên
truyền của chính phủ. Máy bay đến sớm, và từ độ cao một ngàn bộ tiếng
phát thanh inh ỏi nhận chìm bài diễn văn của ngài tỉnh trưởng trên mặt
đất. Rồi phát thanh viên trên máy bay rống lên: ‘Thưa ngài tỉnh trưởng,
ngài nói xong chưa?’ Việc này khiến các viên chức địa phương nổi đóa
và mất mặt. Chưa hết, khi máy bay bắt đầu rải truyền đơn, bó truyền đơn
không bung ra trong không trung, mà rơi thẳng xuống như bom. Người
Mỹ tham dự một phen cười nghiêng ngả, một số ra cả nước mắt giữa
những lộn xộn náo loạn. Họ không biết rằng thật là bậy bạ khi mọi
người nhìn thấy họ đang đạo diễn một cuộc mít tinh chính trị cho người
Miền Nam.
William Colby, sinh năm 1920, sống thuở nhỏ ở Trung Quốc, rồi theo
học Princeton. Vào 1944-45 ông phục vụ một vài tháng với OSS (tình
báo Mỹ) tại nước Pháp và Na Uy bị Đức chiếm đóng, mà ông cảm thấy
thật là một trải nghiệm cực kì lãng mạn, rồi trải một ít năm chán ngắt
làm việc cho hãng luật ‘Wild Bill’ Donovan. Khoảng thời gian tốt đẹp
hơn bắt đầu vào năm 1950 khi ông gia nhập CIA, ‘một băng nhóm
huynh đệ’. Ông thực tập tại Thụy Điển và Ý, rồi đến năm 1959 được cử
đến Sài Gòn. Ông đi khắp xứ, và xác định rằng việc ngăn chặn người
cộng sản là mục tiêu hiện thực duy nhất. Ông không đồng ý khi Max
Taylor và Walt Rostow đề xuất gia tăng mạnh mẽ lực lượng cố vấn Mỹ:
Việt Nam ‘thực sự không chỉ là vấn đề quân sự’. Vào tháng 7 1960
Colby trở thành trưởng phòng CIA tại Việt Nam, và chủ trì hàng loạt
các nỗ lực thất bại để xâm nhập các nhóm bán quân sự vào Miền
Bắc, và để tiến hành các hoạt động phản khủng bố chống lại VC. Như
nhiều người Mỹ, ông nắm được một ít sợi chỉ trong mớ bòng bong Việt
Nam, nhưng chưa bao giờ có đủ để xúc tiến các chính sách mạch lạc.
Al Gray, sinh năm 1928 con trai một trưởng tàu hỏa ở New Jersey, trở
thành một Thủy quân Lục chiến chính quy: ‘Chúng tôi là những gã chịu
chơi.’ Ông trở thành một hạ sĩ quan, rồi vào năm 1952 được phong sĩ
quan và phục vụ trong công tác quan sát tiền tiêu vào giai đoạn cuối
chiến tranh Triều Tiên. Sau đó ông vào ngành tình báo tín hiệu và hoạt
động đặc biệt, giám sát Bắc Triều Tiên, Nga, biên giới Thái-Miến. Năm
1960 Đại uý Gray được phái đến Sài Gòn, thích người Miền Nam, và
ngưỡng mộ Diệm: ‘Tôi nghĩ ông ta đi đúng đường.’ Là một bán gián
điệp ông ăn mặc như thường dân, thường trong vai một hành khách đi
Air America. Ông trải 10 năm tiếp theo làm việc trên diện tiếp xúc giữa
Thủy quân Lục chiến và cơ quan tình báo: ‘Tôi cảm thấy những gì
chúng tôi đang làm sẽ cứu sống mạng người một ngày nào đó.’ Tất
nhiên cả bọn họ đều có những cuộc phiêu lưu, tất nhiên, là thứ phần
đông ai cũng tìm kiếm.
Dù Frank Scotton là một thường dân, anh ham mê dong rủi miền quê,
thường một mình nhưng có vũ trang, tìm kiếm hành động cũng như kiến
thức. Thói quen này có khi dẫn anh đến những tình huống không ngờ tới
đối với nhân viên cục thông tin. Một buổi sáng trong một chuyến lang
thang tại Cao nguyên Trung phần, ông trông thấy tiến đến một người vắt
súng: ‘Tôi ắt sẽ thở phào nếu y không nhìn thấy tôi và chỉ đơn giản đi
qua. Nhưng y đã rút súng chĩa về phía trước và nâng lên trong khi vẫn
nhìn tôi ngạc nhiên không kém tôi. Nhưng tôi lên đạn và mở chốt an
toàn nhanh hơn. Chúng tôi ở quá gần thành ra tôi không thể bắn hụt.
Nhắm mục tiêu đơn giản như lấy ngón tay chỉ. Nếu có gì đó cần phải
làm, bảo đảm phải làm ngay. Tôi bắn vài phát. Tôi không cảm thấy mình
có tội, mà chỉ cảm thấy hối tiếc là hai người lạ gặp nhau tại chân đồi và
một người mất mạng.’
Vào một dịp khác Scotton đang đi với một người thượng trẻ hướng dẫn.
Khi ánh sáng hoàng hôn nhạt dần, họ nhìn thấy hai người vũ trang vô ý
lẩn thẩn đi về phía họ. Anh bạn đồng hành với người Mỹ phóng về phía
trước kết liễu tên du kích phía sau bằng một nhát dao đâm vào lưng. Khi
tên đi trước quay lại và nâng súng trường lên, Scotton bắn y vài phát.
Người thượng kéo xác nạn nhân của mình đến giao lộ của đường mòn và
đặt xác ngồi thẳng nhìn vào hướng từ đó y đã đi tới. Scotton hỏi người
bạn đồng hành biết nói một ít tiếng Pháp, tại sao anh làm vậy. Người
Thượng nhún vai, ‘C’est la guerre psychologique!’ (Đây là chiến tranh
tâm lý!)
Trong suốt những năm dưới thời Kennedy cuộc tranh luận kéo dài ở
Washington về viêc liệu người Mỹ có nên đi xa hơn việc hoạt động cố
vấn và hậu thuẫn hay không – bắt đầu triển khai các đơn vị chiến đấu.
Tướng Maxwell Taylor thuộc số những người, trước khi công khai rút
lui khi biết được một chút, chủ trương tăng thêm quân: ‘Miền Nam
không phải là nơi quá khó khăn hoặc khó chịu để hành quân … Miền
Bắc tuyệt đối dễ tổn thương trước việc oanh tạc quy ước … Không cần
phải sợ một cuộc tấn công ồ ạt biển người cộng sản vào Miền Nam và
các nhà nước lân cận, đặc biệt nếu không lực của chúng ta được phép
thẳng tay.’ Là một quân nhân, Taylor nhìn xung đột chỉ là một vấn đề
quân sự. Ông đề xuất gửi ít nhất 8,000 nhân viên hậu cần. Ngoại trưởng
Dean Rusk và bộ trưởng quốc phòng Robert McNamara không đồng ý:
không người nào nghĩ rằng một cam kết nhỏ sẽ thành tựu đủ để biện
minh cho chi phí chính trị. Ngũ Giác Đài tính toán rằng để tiễn được
cộng sản Miền Nam, phải cần đến 205,000 binh lính Mỹ. Một số nhà
ngoại giao tháp tùng Taylor trong chuyến thăm Việt Nam không chỉ
chống đối đề xuất thêm quân của vị tướng, nhưng cho rằng chế độ Diệm
không bền vững. Các ký ức về trải nghiệm Thế Chiến II vẫn còn treo lơ
lửng trên việc hoạch định chiến lược. Bài học tiên phong của nó dường
như là sử dụng sức mạnh khống chế là không thể cưỡng lại được. Greg
Daddis đã viết: ‘Lỗi lầm chung duy nhất của phần đông sĩ quan và các
viên chức dân sự cao cấp… là tin rằng sức mạnh quân sự, được xác định
bao quát, có thể thành tựu những mục tiêu chính trị trong các nhà nước
hậu thuộc địa.
Sở hữu sức mạnh vũ khí có thể trở nên băng hoại: nó làm những người
nắm quyền lực chính trị ngứa ngáy muốn sử dụng nó trong thực
tiễn. Các chính quyền Washington liên tiếp đã bị cám dỗ vì họ có thể
sẵn sàng ra lệnh triển khai quân đội, và trông thấy việc này nhanh chóng
được thi hành. Tung ra lực lượng vũ trang, nhất là không lực, để theo
đuổi một mục tiêu thì dễ hơn vật lộn với các phức tạp của việc giao kết
văn hoá và xã hội với một dân tộc xa lạ.
Vào năm 1961 và thật ra sau đó, tồn tại trong những người làm chính
sách một tình trạng vô cảm về tác động mà sự hiện diện quân sự của Tây
phương tạo ra. Nhiều điều phũ phàng có thể nói không sai về những gì
các chiến binh cộng sản đã làm cho Việt Nam, nhưng dấu chân họ trên
mặt đất thì nhẹ như lông hồng so sánh với dấu giày bốt của binh lính
Mỹ. Ngay sự hiện diện của người Tây phương sung túc, có vũ trang hay
không, mặc quân phục hay không, không thể không tạo ra một ảnh
hưởng nhiễm độc cho một xã hội Á châu nghèo khó và phần đông là
nông nghiệp. Như các người Mỹ cao cấp khác được cử đến Sài
Gòn, Bill Colby của CIA chấp nhận một phong cách nội địa tương xứng
với thống đốc thuộc địa, chiếm một biệt thự với số giá nhân gồm 6
người. Những sĩ quan Mỹ thấy để một người Việt đánh giày và dọn đẹp
nhà cửa cho mình là điều tự nhiên không thắc mắc.
Ngược lại, một trong những phẩm chất được nhận thấy của kẻ địch là họ
sở hữu quá ít trừ súng ống. Một lần nữa và một lần nữa, người ta lại
nghe các nông dân nói rằng, xấu gì thì xấu, người cộng sản không làm
giàu. Của cải và công nghệ Tây phương không phải phát sinh đố kỵ
trong dân nghèo Việt Nam, mà chỉ tạo ra khoảng cách, khiến họ lánh xa
các vị khách ngoại quốc quá sang cả, đến nỗi không có số lượng các
cuộc viếng thăm nào của MEDCAP (chương trình y tế dân sự), chích
ngừa, viện trợ thực phẩm, máy cày, động cơ chân vịt, gạo ‘thần kỳ’ có
thể làm dịu bớt. Viện trợ vật chất không bao giờ bảo đảm được lòng biết
ơn mà người trao tặng mong đợi. Trẻ em đến thăm sở thú Sài Gòn
thường so sánh vượn người với người Mỹ vì cả hai đều có các cánh tay
dài lông lá. Một số người Việt lớn tuổi không thoải mái với binh lính
da đen, gợi lại các ký ức về các đơn vị thực dân Pháp tàn bạo vô song.
Bọn hoài nghi cay độc, cũng như các tên tuyên truyền cộng sản quả
quyết rằng Washington chỉ chở đến Đông Dương những hàng hoá bị
người Mỹ vứt bỏ.
Một sĩ quan QĐVNCH viết: ‘Không ông lớn nào tiên liệu hoặc dạy cho
viên đại uý (Mỹ) trẻ thích ứng với hoàn cảnh và môi trường văn hoá của
chúng tôi. Anh ta chuyên bày ra những mánh khóe nực cười để điều
khiển các đối tác Việt Nam và nắm quyền kiểm soát tiểu đoàn như thể
nó là món đồ chơi của anh ta.’ Sau một năm, trước khi trở về Mỹ, người
cố vấn Mỹ bảo với người đối tác của mình anh bây giờ mới bắt đầu hiểu
rõ cuộc chiến, và ân hận trước đây mình đã quá hồ đồ. Nhưng rồi anh ta
đã lên máy bay, và một cố vấn khác đến, và chu trình tiếp tục quay trở
lại. ‘Đó là câu chuyện về các cố vấn. Người Mỹ có thiện chí, nhưng họ
không nhẫn nại.’ Một khóa sinh sĩ quan Việt Nam kể về loại va chạm
văn hoá mà một người Mỹ có thể mắc phải: tại trường Võ bị Đà
Lạt, một đại uý Mỹ đập lên mũ sắt của một khóa sinh bằng cây gậy
giảng bài, để đánh thức anh ta đang ngủ gật. Cử chỉ này thiếu điều gây ra
một cơn bạo động do một cơn nổi giận tập thể mà nó gây ra cho người
Việt, đối với họ cho dù một cú đấm ra dấu cũng là dấu hiệu khinh bỉ
mang tính thực dân. Vụ đụng độ này cuối cùng được giải quyết êm
thấm bởi vị chỉ huy trường, Đại tá Nguyễn Văn Thiệu, sau này là tổng
thống Miền Nam.
Vậy mà đại đa số trong ba triệu người Mỹ từng phục vụ tại đất nước này
ra đi mà không nắm giữ mối quan hệ nào với dân bản địa có ý nghĩa hơn
là sự kèn cựa giá cả về quan hệ tình dục. Điều không tránh khỏi là các
lực lượng Mỹ nên sử dụng đến các tiện ích thay thế khi phục vụ ở một
xứ sở xa xôi – như mọi quân đội nước ngoài trong các hoàn cảnh như
thế. Thậm chí các thông tín viên về cuộc chiến cũng mặc nhiên được đặc
quyền nhận được nơi ẩn náu trong chốn hỗn loạn để viết bản tin nhanh
thường là chỉ trích gay gắt các lỗi lầm của quân đội Mỹ. Nhưng cái kiểu
mà hầu hết các thập tự quân của Kennedy sống xa cách với dân Việt, trừ
những khi điều hành bạo lực, là một công thức cho sự xa cách.
Robert Kennedy, với tư cách bộ trưởng bộ tư pháp hiện diện tại các buổi
hoạch định quyết sách Đông Dương, cho rằng ‘một đáp trả quân sự là
điều thất bại trong việc chống nổi dậy … Bắc Kỳ nỗ lực nào coi thường
cơ sở cải cách xã hội, và cứ mãi mê với thiết bị và kỹ thuật và lực
lượng, chắc chắn sẽ thất bại và không nên được hậu thuẫn.’
Lyndon Johnson báo cáo sau chuyến đi năm 1961 của ông đến Việt Nam
về tầm quan trọng của ‘các định chế chính trị có trách nhiệm … Phải
tiến hành một trận tấn công đồng thời, quyết liệt và tích hợp vào các căn
bệnh kinh tế, xã hội và các bệnh khác của nhân dân Việt Nam. Quyền
lãnh đạo và sáng kiến trong cuộc tấn công này phải ở trong tay các lãnh
đạo Việt Nam.’
Roger Hilsman thuộc Bộ Ngoại giao góp ý rằng cuộc nổi dậy ‘không
phải là một trận chiến, đó là một cuộc đấu tranh chính trị mang khía
cạnh quân sự’. Nhận thức đúng đắn như thế đáng lẽ đã dẫn các nhà
hoạch định quyết sách đến một kết luận phũ phàng: trừ khi một nền tảng
chính trị tồn tại, nỗ lực quân sự không thôi là vô ích. Người Việt không
ấn tượng với các chương trình và hệ thống: họ phán xét mọi thứ bằng
con người, và phần đông đều ghê tởm với bè đảng của gia đình Diệm –
sự bạo ngược, bất tài và kỳ thị tôn giáo. Thậm chí người Mỹ bối rối
trước sự kiện trong khi dân chủ là câu thân chú luôn được nhắc đến như
nhân tố cung cấp nền tảng đạo lý cho việc xiển dương lý tưởng chống
cộng, thì Washington lại chường mặt chống lại bất kì kết quả nào xác
định bởi việc đầu phiếu.
Vậy mà một số nhân vật có ảnh hưởng tiếp tục lập luận rằng những
khiếm khuyết của chế độ không thành vấn để. Colby của CIA không
quan tâm đến việc Diệm đang cai trị bằng một chế độ độc tài, miễn là nó
chạy việc. Sau này ông viết: ‘Nhiệm vụ ở Miền Nam đòi hỏi phải có
lãnh đạo cứng rắn, và lòng tận tụy đầy quyết tâm của Diệm dường như
thích hợp hơn tình trạng lộn xộn và do dự có thể xảy đến nếu áp dụng
chính xác quá đáng học thuyết Mỹ về nguyên tắc phân quyền.
Colby hình thành mối quan hệ công tác thân thiện với với Ngô Đình
Nhu – đúng ra, các đồng nghiệp trong CIA kinh ngạc về nhiệt tình của
ông dành cho nhân vật ghê gớm này.
Khi tình huống thay thế Diệm trở thành đề tài bàn luận trong Cục, Colby
có ý kiến quái đản là chọn ông em Nhu.
Ngày 17/4/1961 cuộc xâm chiếm Vịnh Con Heo của nhóm Cuba lưu
vong do CIA hậu thuẫn xảy ra không tới bốn tháng trong nhiệm kỳ
Kennedy, và phủ bóng lên tất cả các quyết sách sau đó. Cũng như việc
dựng Bức Tường Berlin vào tháng 8, và lời châm chọc của Khrushchev
rằng Việt Nam là phòng thí nghiệm của Xô viết cho các cuộc chiến giải
phóng dân tộc. Lúc đó không ai ngờ rằng phương Tây sẽ thắng trong
Chiến tranh Lạnh. Không người Mỹ nào nghe
Khrushchev bảo với Anatoly Dobrynin, người mà vào năm 1962 trở
thành đại sứ Xô viết mới tại Washington, rằng ông không được quên
rằng một cuộc đối đầu vũ trang với Hoa Kỳ là miễn nghĩ bàn, và do đó
ưu tiên hàng đầu của ông là làm sao để chống lại điều đó: ‘Đừng kiếm
chuyện.’ Thế giới sống trong một bầu không khí lo sợ hạt nhân, và
người cộng sản đặt ra một thách thức lịch sử. Trong các tình huống như
thế thật khó cho một nhà lãnh đạo quốc gia và các cố vấn của họ suy
nghĩ và hành động thích hợp và khôn ngoan. Ngày nay, thật dễ để quên
rằng phía bên kia cũng sai lầm thường như và thậm chí tàn nhẫn hơn các
Cường quốc Tây phương – chẳng hạn ở Hungary, Cuba, Berlin, Ba Lan.
Kennedy và các thập tự chinh của ông bỗng thấy mình giao tranh trên
quy mô toàn cầu với người cộng sản. Tổng thống nói về các cuộc nổi
dậy như cuộc nổi dậy mà MTDTGP dựng nên: ‘Không ai có thể nói các
cuộc nổi dậy này là cuộc chiến tranh giải phóng … Đây là những quốc
gia tự do.’ Điều này nửa đúng, đúng hơn một số nhà tự do chủ nghĩa
nhận ra lúc đó và từ đó – nhưng cũng nửa sai, bởi vì dù chính quyền cai
trị Miền Bắc có xấu xa, chính quyền cai trị ở Miền Nam ít áp bức hơn,
và đỡ khổ hơn chỉ bởi vì dân chúng Diệm không bị đói kém.
2 Chế Độ Quân Chủ của Mc Namara
Một khía cạnh bấtn thường của việc ra quyết sách ở Washington giữa
những năm 1961 và 1975 là rằng người Việt ít khi nếu không muốn nói
là được phép tham gia vào việc đó.
Các cơ quan hành pháp liên tiếp phớt lờ bất kì đòi hỏi nào của cư dân
sống trong vùng chiến trường có được một tiếng nói trong việc quyết
định số phận của họ: công việc đều được thực thi trong một tổ kén của
tính chất Mỹ. Frederick ‘Fritz’ Nolting, đại sứ 1961–63 tại Sài Gòn, có
lần nhắc nhở bộ trưởng quốc phòng Robert McNamara rằng ‘khó mà lắp
một động cơ Ford vào một chiếc xe bò Việt Nam’. Bộ trưởng công khai
thừa nhận – nhưng vẫn tiếp tục làm chuyện ấy.
Khi McNamara thăm Việt Nam với Max Taylor, một nhân chứng người
Việt viết rằng hầu hết câu hỏi của vị bộ trưởng hướng về các cố vấn
hiện diện, hơn là tới những người đánh trận: một số (sĩ quan Mỹ) trông
như các sinh viên nghịch ngợm đứng trước vị hiệu trưởng nghiêm
khắc. .. Trong một lần trao đổi gây lúng túng cho một sĩ quan tình báo
Việt Nam và phía đối tác Mỹ của anh, McNamara hỏi có bao nhiêu mật
vụ của ta đang làm việc trong hàng ngũ địch.’ Câu trả lời là không có
người nào, và vẫn đúng như vậy cho đến cuối cuộc chiến. CIA không
xoay sở được một sơ đồ thông tin vô tuyến của giới lãnh đạo cộng sản
cho mãi đến 1969.
Như các cố vấn quân sự ở trận địa, chính quyền cũng nhận được nhiều
lời khuyên từ các guru ở Mỹ. Chiến tranh Lạnh đẻ ra vô số các nhóm
chuyên viên cố vấn, có nhiệm vụ cung cấp các nghiên cứu công nghệ và
trụ đỡ trí tuệ cho chiến lược, trên hết là giải trừ hạt nhân. Cục Dự án
Nghiên cứu Tiên tiến DARPA ra đời năm 1958 theo sau cú sốc gây ra
bởi việc Liên Xô phóng thành công Sputnik, thai nghén một loạt các kỹ
thuật chống nổi dậy, gần như tất cả đều chứng tỏ là không tưởng, và
cũng là cha đẻ của chương trình làm trụi lá bằng chất hoá học vốn triển
khai Chất Da Cam. Cơ quan RAND có căn cứ tại Santa Monica là một
cơ quan phi lợi nhuận nhận được nhiều tài trợ từ không lực. Nó sử dụng
những người thông minh, nhưng cho thấy khuynh hướng đi theo các
chính sách đã được bên trả tiền chủ trương. Không có gì lạ McNamara là
một người nhiệt tình ủng hộ công việc của nó, vì phần lớn đều phản ảnh
sự phân tích hệ thống mà ông ưng ý. Khi Giáo sư Anh
Michael Howard đến thăm Santa Monica, ông rất ấn tượng trước năng
lực trí tuệ tại chỗ, nhưng sau đó băn khoăn cho rằng RAND ‘dường như
là một tu viện nương náu các nhà thần học thông minh, hoàn toàn xa
cách với các vấn đề thực tiễn của thế giới … Những thành viên RAND
dường như đang rơi vào một lỗi lầm khi cho rằng mọi thứ liên hệ đến
chiến tranh đều có thể định lượng.’ Howard đặc biệt hết hồn khi nghe họ
tranh luận hăng hái xem nhanh cỡ nào thì thành phố Los Angeles mới có
thể có người sinh sống trở lại sau một trận chiến hạt nhân.
Với sự xuất hiện của Jack Kennedy, các xếp của RAND nhận ra rằng
chống nổi dậy đang trở thành việc làm ăn lớn, và vào năm 1961 họ cử sứ
đoàn đầu tiên của họ đến Sài Gòn. Trong những năm sau đó, tập đoàn
đóng một vai trò cố vấn có ý nghĩa. Hầu như không ai trong số các bộ
não của nó thắc mắc lý do tại sao Hoa Kỳ phải tham chiến: đốt cháy bởi
ngọn lửa nhiệt tình sứ mạng họ chỉ ra sức tìm cách nào để đất nước họ
có thể thắng cuộc chiến này tốt nhất. Phân tích viên Alex George nói: ‘Ở
RAND không có những người chủ hòa.’ Trong những năm đầu thập niên
1960 hầu hết các nghiên cứu đều tiến hành ở Santa Monica, bởi vì it
nhân viên muốn di dời đến Sài Gòn.
Nói cho công bình với chính quyền Kennedy, vào những ngày đó một
số các lãnh tụ Đông Nam Á, nhất là Lý Quang Diệu của Singapore, chia
sẻ hoặc công khai chia sẻ sự tin tưởng là việc cộng sản đánh bại Việt
Nam là nguy ngập cho sự ổn định trong khu vực. Một số đồng minh chủ
chốt cũng thế. Chính quyền Anh xem vị thế của Mỹ ở Đông Dương là
bấp bênh, nhưng bộ trưởng ngoại giao Lord Home lưu ý, ‘Tôi hy vọng
người Mỹ có thể giữ được.’ Dù cho Anh dè dặt thế nào về cuộc chiến,
giờ thì uy tín của phương Tây đã được đặt cược, dường như phải thắng.
Thủ tướng Mã Lai Tunku Abdul Rahman thúc giục Sir Robert
Thompson, người đã đóng một vai trò quan trọng trong việc đạo diễn
trận thắng lợi trước cuộc nổi dậy cộng sản của xứ sở ông, ‘Ngài phải đi
tới Việt Nam để giúp chống giữ tiền tuyến của tôi.’
Một số người Mỹ được cổ vũ từ những thành tựu của người Anh trong
việc quét sạch du kích dân tộc, mặc dù các sĩ quan Anh không tiết lộ
những phương pháp tàn bạo được sử dụng để đạt được các thành quả
này. Dù họ xử sự ít độc ác hơn người Pháp trong cuộc chiến thuộc địa,
nhưng phương thức của họ ở
Mã Lai, Kenya, Cyprus, Aden cũng đáng buồn nôn.
Chính quyền London áy náy và đôi khi thấy có tội về vị thế đồng chủ
tích trong Hiệp định Geneva ban đầu của mình, và do đó mất tính thần
trước con số lên cao các cố vấn Mỹ được phái đến Việt Nam, vi phạm
điều khoản. Vào năm 1961 đại sứ Anh đề nghị người Mỹ có thể an toàn
với số cố vấn lên tới 100 người, chỉ để được thông báo một cách dứt
khoát là có đến 8,000 cố vấn đang đến Miền Nam. Thủ tướng Harold
Macmillan, trung thành như bao giờ, đồng ý sẽ giữ kín chuyện này, và
bày tỏ sự nhẹ nhõm khi không thấy có chương trình đem lực lượng tác
chiến đến. Tuy nhiên, nhân viên ông thúc giục Hoa Kỳ nên kín đáo về
việc tăng quân, và vì vậy phải nuốt giận vào tháng 12 khi Washington
cho biết mình đã quyết định không để một vài mệnh đề trong Hiệp định
Geneva trói buộc mình thêm nữa.
Người Anh tiếp tục dao động về mức độ can thiệp bên cạnh người Mỹ.
Họ duy trì một quan điểm có tính sở hữu về Đông Nam Á; tin rằng mình
hiểu về sự phản nổi dậy; khao khát sự thảm bại của người cộng sản. Vào
năm 1962 họ chống đối đề nghị mở cuộc hội thảo về việc trung lập hóa
Việt Nam, như Lào, bởi vì vị thế Diệm hình như quá yếu. Harry Hohler,
đại diện Anh tại Sài Gòn, viết theo hướng diều hâu: ‘Bất kì giải pháp
nào về Việt Nam không đưa đến việc đè bẹp hoặc xóa bỏ Việt Cộng chỉ
đơn giản trao Miền Nam cho Cộng sản,’ một kết quả ông xem sẽ là
‘thảm họa đối với lợi ích và đầu tư của Anh tại Đông Nam Á và tác hại
nghiêm trọng đối với triển vọng ngăn chặn làn sóng Cộng sản của Thế
giới Tự do’.
Tuy vậy người Anh không thích cách người Mỹ quản lý vấn đề Miền
Nam, và bối rối trước sự bất hoà giữa CIA, Bộ Ngoại giao, Quân đội
Mỹ, và các đại sứ liên tiếp. Trong khi đó, người Mỹ cũng bất bình trước
sự can thiệp vào mảnh đất của họ – Ed Lansdale, đặc biệt, mất kiên nhẫn
trước sự cố vấn của một lô thầy dùi thuộc nhóm kẻ thua cuộc thực dân
cũ. Như Ngũ Giác Đài, ông coi thường một đề xuất mà Bộ Ngoại giao
ưng ý, là mời Quân đội Anh gửi người huấn luyện. Thay vào đó đại sứ
Nolting bảo với bên đối tác Anh rằng Tổng thống Diệm chỉ yêu cầu
được Robert Thompson cố vấn về các biện pháp cảnh sát và tổ chức.
Vào thời điểm đó, với một chính quyền Tory (đảng Bảo thủ) nắm
quyền tại Westminster và Kennedy tại Nhà Trắng, nếu người Mỹ đã yêu
cầu các huấn luyện viên quân sự họ sẽ chắc chắn đã nhận được, và điều
này có thể là không quan trọng lúc đầu nhưng về sau sẽ có tác dụng lớn
lao. Nhưng nỗ lực chiến tranh chỉ đã chọn
Thompson. Kinh nghiệm của ông, cùng với cố vấn của một phái đoàn
Anh nhỏ, gây một hiệu quả có ý nghĩa: CIA nhìn nhận sự quan trọng cho
việc thu nhập tin tình báo của một Ngành Đặc biệt trong cảnh sát, mà họ
khuyên người Việt sao chép. Ngược lại, tuy đôi lúc Thompson được mời
đến nói chuyện ở Washington và Sài Gòn, ông ít gây ra ảnh hưởng đối
với các biện pháp lớn.
Mùa đông 1962 gợn lên một chút lạc quan ngắn ngủi trong số các người
Mỹ cho rằng chế độ đang trở nên tiến bộ hơn. Người Úc đồng ý mở một
trường dạy nghệ thuật chiến tranh rừng rậm. Học giả nổi tiếng Denis
Warner giải thích lý do của việc này cho các đồng bào mình: ‘Tại sao Úc
can thiệp vào chiến tranh Việt Nam? Một phần vì chúng ta nghĩ rằng
thắng lợi của cộng sản ở đó sẽ đe dọa đến phần còn lại của Đông Nam Á
và gây hiểm nghèo cho an ninh chúng ta và một phần do nhu cầu cầu
thuyết phục người Mỹ rằng chúng ta không phải là cọp giấy … Đó là
một hình thức che đậy sự bảo hiểm trọn đời.’ Phí bảo hiểm tăng tốc:
năm 1969 số người Úc phục vụ tại Việt Nam lên đến 8 772 người, trong
đó có 500 người chết. Trong khi các cố vấn chiến lược Washington đến
rồi đi, một người trọng tài ở lì đó 7 năm liên tục. Nhân vật vốn sẽ đóng
vai trò trong việc tạo ra thảm kịch Việt Nam của Mỹ chỉ đứng thứ hai
sau Lyndon Johnson là thuộc số những hiệp sĩ không mấy hứa hẹn của
triều đình Camelot (ý chỉ bộ sậu của Kennedy. Robert McNamara 44
tuổi khi vào năm 1961 ông lần đầu tiên bước vào văn phòng Ngũ Giác
Đài đồ sộ, 3E 880. Ông dường như không hề trẻ và tắc trách: các người
thời lưu trong bộ máy hành pháp thì thầm chế giễu rằng ông thực tập
nhảy điệu Twist trước gương, đề phòng gặp lúng túng khi có dịp khiêu
vũ ở Nhà Trắng. Ngôi sao trước đây của Trường Doanh Nghiệp Harvard
và ông chủ cự phách của tập đoàn Ford Motors đã đi lên từ một xuất
thân khiêm nhường ở California nhờ bộ óc xuất chúng và làm việc
không ngừng nghĩ. Ông nhận công việc quốc phòng bởi vì ông bị thu
hút không thể cưỡng lại cơ hội được thể hiện quyền lực. Bên ngoài gia
đình, ông là người lạnh lùng hiếm khi được cho là người có đạo đức: vào
năm 1961 ông chủ trương điều hư cấu về cái gọi là ‘khoảng hở tên lửa’
chiến lược (tức cho rằng Nga vượt xa người Mỹ một khoảng cách về vũ
khí tên lửa chiến lược), và công kích vô căn cứ và không xấu hổ người
tiền nhiệm của mình Thomas Gates.
Văn phòng McNamara trở thành một phòng dynamo: cho việc chương
trình hóa tăng cường tên lửa; mở rộng quân đội để đáp ứng với khủng
hoảng Berlin; xúc tiến hệ thống vũ khí mới. Trong bi kịch Cuba tháng
10 1962, chính McNamara là người nghĩ ra việc phong tỏa của Hải
quân Mỹ. Ông dường như không còn thiếu tự tin, và chủ trương một
quyết định tốt cũng nên là một quyết định nhanh. Nỗi ám ảnh của ông về
quyền kiểm soát khiến ông hay phàn nàn về những phát ngôn thiếu kiềm
chế: ông gây chiến với những kẻ rò rỉ thông tin quân sự, và muốn coi
mình là tiếng nói công luận duy nhất của lực lượng vũ trang Hoa Kỳ.
McNamara bảo với Thượng viện vào tháng 9 1961: ‘Trong lịch sử
không có xu hướng nào song hành với xu hướng của chủ nghĩa đế quốc
Cộng sản Xô viết nhằm thuộc địa hóa thế giới … (Không tên độc tài)
nào tổ chức chặt chẽ như thế, sở hữu nhiều công cụ hủy diệt như thế.’
Ông không ngại nói dối thẳng thừng về chính nghĩa chống lại mối đe
dọa của Xô viết – một thói quen cuối cùng hủy hoại tiếng tăm ông.
Tường trình trước Quốc hội, ông kể vanh vách các số liệu được ca tụng
như chứng cứ về năng lực nhớ phi thường của mình: Trung tướng Fred
Weyand, tuy nhiên, nhận xét rằng nhiều số liệu của ngài bộ trưởng là sai
bét. Mặc dù là một chiến binh tận tụy của Chiến tranh Lạnh, trong năm
đầu tiên ở chính quyền ông chống đối chi tiền cho cuộc chiến Việt Nam:
‘Chúng ta gần như chắc chắn ngày càng lún sâu vào một cuộc chiến
không có kết thúc.’ Ngược lại, nếu Hoa Kỳ tung một đạo quân lớn,
‘cuộc chiến có thể kéo dài và Hà Nội và Bắc Kinh có thể công khai can
thiệp … Thành công sẽ tuỳ thuộc vào các nhân tố mà nhiều trong số đó
nằm ngoài sự kiểm soát của chúng ta – nhất là hành vi của chính Diệm.’
Nhưng rồi McNamara đổi ý. Vào tháng 5 1962 ông đến thăm lần đầu
tiên Việt Nam.
Paul Harkins, một người chém gió chỉ huy MACV, người chủ trì chuyến
đi. Vị tướng được trao một danh sách các câu hỏi sắp tới của bộ trưởng
quốc phòng, để ông ta có thời gian chuẩn bị câu trả lời, dựa trên các số
thống kê mà McNamara yêu thích. Harkins xác nhận rằng viện trợ của
người Mỹ đang củng cố sức mạnh cho chế độ Diệm chống lại cuộc nổi
dậy cộng sản, mặc dù thậm chí khi vị bộ trưởng đang nghe báo cáo tại
Bình Dương, thì một đoàn xe QĐVNCH gần đó bị tấn công, 5 người bị
giết. Trong khi ông đi kinh lý căn cứ phía bắc ở Đà Nẵng, thì Việt Cộng
cho nổ tung một tàu hỏa chở quân cách đó 9 dặm, giết chết 27 người và
làm bị thương 30 người. McNamara bảo với phóng viên UPI trẻ
Neil Sheehan, ‘Mỗi đo lường định lượng chúng ta có cho thấy chúng ta
đang thắng.’ Ông ta không nhận thức được rằng ‘các đo lường định
lượng’ được Harkins kéo từ trên trời xuống. Về Harkins, Sheehan sau
này viết: ‘Ông buộc mình tin tưởng những gì ông ta muốn tin tưởng và
bác bỏ những gì ông ta muốn bác bỏ. ‘
Những người ngưỡng mộ McNamara tôn trọng thái độ cách biệt của
ông coi đó là phản ánh tính vô tư và liêm chính: ông thậm chí được nắn
gân cốt để đứng liên danh với Kennedy trong cuộc bầu cử tổng thống
1964. Hanson Baldwin, nhà bình luận quân sự được kính trọng, viết một
bài trong tờ
Saturday Evening Post có đầu đề ‘Nền Quân Chủ McNamara’, mô tả bộ
máy quốc phòng mới. Những kẻ thù của vị bộ trưởng, nhiều người
trong số đó là quân nhân, phàn nàn tính ngạo mạn của ông. Ông bộc lộ
một niềm tin thiếu cơ sở là mình hiểu rõ quân đội.
Tuy vậy, giữa những năm 1961 và 1967, McNamara có ảnh hưởng lên
chính sách về Việt Nam hơn bất kì đồng bào nào của mình trừ các đời
tổng thống kế tiếp.
Điều chính yếu mà những người Mỹ nào thực sự hiểu về Việt Nam hiểu
là họ hiểu ít ỏi biết bao. Cố vấn quân sự Gordon Sullivan đã tình
nguyện, sợ chiến tranh sẽ qua đi trước khi anh có dịp đến với nó. Chàng
trung uý 25 tuổi từ Massachusetts đáp xuống Miền Nam sau một khóa
học tiếng Việt 6 tuần. Anh tìm thấy Sài Gòn ‘thơ mộng, đúng là một thị
trấn ngái ngủ trên sông: không màn lưới chắn bom, ban nhạc Philippin
rầm rập bên kia đường Tự Do. Thật không dễ dàng để làm một cố vấn
trong những ngày đó: tôi có một chiếc đài, nhưng đầu bên kia đài không
có gì’ – từ đầu đến cuối cuộc chiến, người Việt chủ yếu đề cao các cố
vấn Mỹ ở năng lực kêu gọi pháo binh yểm trợ không khich tuyệt với qua
máy bộ đàm.
3 Lê Duẩn Nâng Cao Tiền Cược
Trong thời gian 1961-62 chính quyền Miền Bắc tâch xa Liên Xô, hướng
gần hơn với Bắc Kinh, vậy mà không bên nào cổ vũ Hà Nội leo thang.
Phe Cộng sản cảm thấy đã mắc kẹt đủ vụ lộn xộn ở các nơi khác –
Cuba, Berlin, Albania, Congo. Những khó khăn nội bộ của Miền Bắc
vẫn còn: dân số tăng lên nửa triệu người một năm, nhưng sản lượng gạo
mỗi đầu người đã giảm. Trung Quốc đang nhập một số lượng gạo đáng
kể và hai phần ba sản lượng than từ Miền Bắc để đổi lại số tiền mặt trả
lại nhỏ giọt. Số nông dân đói ăn lên thành phố kiếm sống, nhưng ở đó
cũng ít việc để làm: nguyên vật liệu thiếu thốn khiến nhiều hãng xưởng
chỉ hoạt động cầm chừng.
Từ tháng 5 1961 khẩu phần thịt ở Miền Bắc rớt xuống chỉ còn vỏn vẹn
bốn ao-xơ một tuần mỗi người. Mùa hè đó những người phản kháng nạn
đói phóng hỏa các kho thóc giữa các cuộc xô xát với binh lính, và vào
tháng 8 đốt rụi một nhà máy xe đạp. Một quả bom phát nổ ở thành phố
Đông Anh. Có một vụ nổi dậy của quân đội địa phương, và trong hai
trường hợp các bộ tộc Hmong tấn công đoàn xe quân đội. Miền Nam và
các cố vấn Mỹ cổ vũ các hành động như thể, và tiến hành một chiến dịch
liều lĩnh dùng biệt kích thọc vào Miền Bắc những không thành công.
Tuy nhiên, tình trạng bất đồng trong dân chúng của Hồ Chí Minh đều là
tự phát vì đói và bị trấn áp hiệu quả. Vào tháng 10 1961 nhà ngoại giao
Pháp báo cáo rằng dân chúng đã cam chịu ‘sự nhẫn nhục thụ động’.
Dương Vân Mai nói về người Miền Bắc: ‘Dân chúng mù tịt thông tin
đến độ khó tin. Họ như thể ngồi ở đáy giếng, chỉ trông thấy một khoảng
trời. Người cộng sản có quá nhiều cơ chế để kiểm soát.’
Lê Duẩn hiện giờ khống chế việc hoạch định quyết sách, như ông sẽ
tiếp tục làm trong một phần tư thế kỷ sau đó, mặc dù thế giới không biết
điều này. Trong bộ phim sử thi Hollywood El Cid, thi hài của vị anh
hùng trung cổ Tây Ban Nha mang cùng tên với tựa phim được gắn chặt
lên yên ngựa cầm đầu quân đội mình xông ra chiến trường và đi đến
thắng lợi cuối cùng. Có điều gì đó cũng giống như Hồ Chí Minh. Ông
luôn sợ hãi Việt Nam sẽ trở thành một Triều Tiên mới, một chiến
trường tan hoang trên đó Mỹ và Trung Quốc lại quật nhau để xưng bá.
Khi sức khoẻ ông sụt giảm và các đồng chí trẻ hơn nắm lấy thế chủ
động, ông từ bỏ quyền thống soái, và thậm chí từ bỏ ảnh hưởng đến
việc gây chiến. Nhưng ông vẫn duy trì là một bù nhìn cần thiết, tranh thủ
được sự kính trọng trên thế giới. Hồ và thủ tướng Phạm Văn Đồng vẫn
tiếp tục là gương mặt đại diện cho giới lãnh đạo Miền Bắc, trong khi Lê
Duẩn gần như là vô hình. Còn Giáp, vốn dựa vào Moscow, trở thành
mục tiêu ác cảm của các đồng chí luôn phàn nàn về bộ sậu phình to của
ông và tính háo danh. Có người gọi ông là ‘một kẻ khoác lác và phô
trương’. Trưởng hậu cần trước đây của lực lượng vũ trang tại Điện Biên
Phủ không ưa vị chỉ huy cũ của mình, và thường phàn nàn với Hồ. Một
tướng lĩnh cao cấp và bộ trưởng nội các khác, đồng thời là em của Lê
Đức Thọ, ví người cựu quân nhân lừng lẫy này như cái thùng cũ, hay
kêu. ‘Thùng càng rỗng, càng kêu to.’ Lê Duẩn thể hiện tài năng và tính
kiên nhẫn trong việc điều hòa các mối quan hệ với Xô viết và Trung
Quốc. Ông thích trích dẫn một câu tục ngữ Việt Nam có nội dung tương
tự như tục ngữ Anh ‘Khi ở La Mã, hãy làm những gì La Mã làm’: ‘Đi
với Phật mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy.’ Ông và phe đảng ông cho
người Nga không đáng tin cậy và yếu đuối, không phải chỉ vì né tránh
trước tiên trong vụ khủng hoảng tên lửa ở Cuba. Trong số những người
cứng cỏi đó tính thần Spartan – chịu đựng gian khó để theo đuổi một
mục đích cao cả – lấn át lên tất cả. Lê Duẩn thường than vãn phải nhiều
lần đến Bắc Kinh để khẩn cầu, phải chịu đựng sự khinh rẻ. Một người
hầu cận ông kể rằng trong chuyến đi 1961 Chu Ân Lai nói thách, ‘Tại
sao người ông cứ muốn tiến hành đấu tranh vũ trang ở Miền Nam? …
Nếu chiến tranh mở rộng ra Miền Bắc, tôi nói trước với ông là Trung
Quốc sẽ không gửi quân giúp các ông đánh với bọn Mỹ đâu … Các ông
tự mình lo liệu, và phải lãnh mọi hậu quả. ‘
Lê Duẩn đôi khi gọi Mao là ‘tên khốn đó’, và khi chủ tịch của Trung
Quốc có lần to tiếng khoác lác trước một phái đoàn Hà Nội về việc tung
Quân đội Nhân dân Giải phóng xuống giải phóng Miền Nam, ông ta
đánh thức nỗi sợ ăn sâu trong gan ruột của mọi người Việt về bản chất
đế quốc của người láng giềng nhiều ân oán lịch sử này. Dù Lê Duẩn
nghiêng theo Trung Quốc, ông cũng cấm phê phán trực tiếp Liên Xô, vì
Hà Nội cần đến các vũ khí tính vi và nhà máy hạt nhân. Ông thường đưa
ra các nhận xét mỉa mai về tính bỏn xẻn của viện trợ Trung Quốc, bày tỏ
sự tin tưởng rằng Bắc Kinh xem cách mạng Việt Nam như ‘một món
tiền mặc cả trong đàm phán với Hoa Kỳ ‘.
Vào năm 1961-62 người Miền Bắc nhìn thấy mối nguy trong việc đẩy
một tổng thống Hoa Kỳ mới đi quá xa: mặc dù họ gia tăng việc can thiệp
Miền Nam, họ vẫn tỏ ra lo lắng tránh khiêu khích người Mỹ gởi quân
tham chiến. Họ phân vân liệu có nên bước vào đàm phán và thúc giục
các đồng chí Miền Nam thông qua Trung ương Cục Miền Nam tập trung
vào đấu tranh chính trị. Trong một trong các ‘Thư vào Nam’ của Lê
Duẩn, đề ngày 7 tháng 2 196, ông nhìn nhận, ‘Chúng ta yếu hơn kẻ
địch.’ Điều quan trọng, ông nói, là nhấn mạnh tính tự trị của MTDTGP,
và không cho phép nó được dán nhãn hiệu là công cụ của Hà Nội. Đó là
một nghịch lý của thời kỳ này khi mà Hà Nội ban cho các đồng chí Miền
Nam rất ít hậu thuẫn họ đang cần đến, thì trên vũ đài quốc tế ngôn từ
các lãnh đạo Miền Bắc trở nên hiếu chiến hơn: Lê Duẩn có khuynh
hướng xác lập giấy chứng thư là người cầm cờ cho phong trào cách
mạng thế giới. Tiếng gào thét của ông khiến Ấn Độ, chỉ liệt kê một, bất
bình, và không còn coi Miền Bắc là một thập tự quân bạn bè chống lại
sự áp bức của bọn đế quốc, mà thay vào đó là mối đe dọa cho ổn định
khu vực
Năm 1962, Hà Nội cuối cùng cho phép một số lớn các Việt Minh tập kết
ra bắc vào năm 1954 trở về Miền Nam, nơi một lần nữa thành viên Đảng
Cộng Sản lại trỗi dậy. Mọi nơi đều là người của MTDTGP nắm quyền,
các cán bộ của mặt trận ra sức làm thay đổi các tập quán nhiều thế kỷ.
Các chương trình học thách thức thuyết số mệnh an bày của người
Việt – sự lệ thuộc của phụ nữ. Khi có đám cưới, bí thư xã thường đóng
vai các ông mai. Tại trường tiểu học, các em phải giải những bài toán
như ‘Có 50 lính ngụy đang đóng trong đồn địch. Quân ta tấn công, giết
được 20 tên. Hỏi còn bao nhiêu tên địch? Đôi khi có người dám lên tiếng
hỏi khi nào Mặt Trận hoặc Đảng cung cấp thuốc trừ sâu, cho vay, máy
bơm, máy kéo, và cố vấn về việc phối giống như chế độ Sài Gòn từng
làm. Cán bộ bảo đảm với nông dân những việc tốt đẹp này sẽ được Miền
Bắc ban xuống ngay khi cách mạng thành công.
Cho đến 1963 nguồn vũ khí chủ yếu của Việt Cộng đều là vũ khí chiếm
được của lực lượng chính quyền: đến cuối 1961 ước tính chỉ có 23,000
vũ khí sử dụng được lọt vào tay du kích quân.
Tuy nhiên, hoạt động ám sát không cần nhiều hỏa lực. Giữa những năm
1957 và 1960 một ước tính đáng tin cậy cho biết 1,700 viên chức xã và
tỉnh bị sát hại. Trong năm 1961 con số này tăng lên đến 1,300. Cũng có
những nạn nhân có chức vị cao, như một đại tá Miền Nam – sĩ quan liên
lạc cao cấp của Sài Gòn với ICC (Ủy ban Kiểm soát Quốc tế) – bị bắt
cóc và tra tấn đến chết). Các vụ sát hại lên đến 2,000 vào năm 1963, rồi
xuống còn 500, bởi vì cộng sản đã thủ tiêu hầu hết các kẻ thù địa
phương có thể vớ tới được. Các viên chức và điền chủ sống sót được
nhờ chọn giải pháp an toàn không bị hại, gây bất lợi cho chính quyền Sài
Gòn, là sống tách biệt với giới nông dân, về cư ngụ tại quận lỵ và thành
phố. MTDTGP tịch thu đất đai những điền chủ bỏ chạy, cấp lại cho
người theo cách mạng, khiến họ càng tin tưởng vào sự thành công của
mặt trận.
Trong suốt cuộc chiến binh lính Mỹ khi thì sử dụng tiếng lóng ‘dink’
(bọn ngốc) khi thì ‘gook’ (bọn củ sâm, dùng trong chiến tranh Triều
Tiên trước đây) để chỉ kẻ thù nguyên thủy, và tin tưởng quá đáng vào kỹ
năng và sức chịu đựng siêu phàm của mình.
Hành động dã man vẫn là vũ khí chính của cộng sản. Việt Cộng có lần đi
vào một ngôi làng ở Cai Lậy, tố cáo 20 cư dân nam nữ là gián điệp
chính quyền, chặt đầu họ rồi ném thủ cấp ra đường, mỗi đầu đính kèm
một tờ giấy là bản án, liệt kê tội trạng của họ. Ở nơi khác một trưởng
làng bị trói vào cọc và mổ bụng trước mặt dân làng tụ họp; bà vợ đang
mang bầu cũng bị mổ bụng, con cái họ bị chặt đầu. Những hành động
tàn khốc như thế được dàn dựng tinh vi để răn đe các nông dân rằng cái
giá kháng cự lại cách mạng còn tệ hơn cái chết bình thường.
Tính tàn nhẫn không chỉ có ở một bên, tất nhiên. Doug Ramsey điều
hành một cuộc khảo sát tại tỉnh Long An, và tìm thấy rằng khoảng từ
một phần tư đến phân nửa đã mất bà con do các hoạt động của lực lượng
mật vụ Sài Gòn. Trong thời gian 1962-63, binh lính quốc gia giết 150 cư
dân chỉ trong một ngôi làng đơn lẻ trong vùng đồng bằng Cửu Long.
Trong số này có khoảng 60 có dính líu đến MTDTGP, nhưng số còn lại
thì không. Trong số hàng ngàn tù nhân chính trị bị gìam giữ trong các
điều kiện khủng khiếp, một số trong một khu vực ở sở thú Sài Gòn, có
quá nhiều người vô tội. Không có tiến trình xét xử hợp pháp nào cả.
Mặc dù các vùng đô thị vẫn nằm dưới quyền kiểm soát vững chắc của
chính quyền, ở vùng nông thôn cuộc chiến chống du kích như chiếc bập
bênh, quyền kiểm soát làng mạc và vùng lãnh thổ thường sang tay. Sài
Gòn có được một kho vũ khí và trang bị mới, và đôi khi sử dụng chúng
một cách hiệu quả. Vào cuối tháng 8 1962, được một người chiêu hồi
dẫn đường, binh lính Miền Nam xâm nhập một căn cứ huấn luyện của
MTDTGP tại Mỹ Phước Tây, giết được 150 cán bộ và du kích đang học
tập; những người sống sót trốn chạy về làng.
Trực thăng Mỹ làm gia tăng một cách ngoạn mục tính cơ động chiến
thuật của QĐVNCH, nhờ thế họ xông vào các vùng nông thôn mà nhiều
năm trời người cộng sản đã giữ vững quyền kiểm soát chưa hề bị thách
thức. Nhưng năng lực và ý chí không phải là một thứ: nhiều đơn vị Miền
Nam không chịu đi tuần tra vì sợ bị phục kích và nao núng trước những
trận đánh ác liệt. Năm 1963 Việt Cộng bắt đầu nhận được khối lượng
lớn vũ khí từ Miền Bắc chở vào thường bằng đường biển, bao gồm súng
không giật và súng cối, thường đổ vào đồng bằng Cửu Long.
Ở thành phố, các cán bộ ra sức chuẩn bị vận động quần chúng làm một
cuộc tổng nổi dậy. Trẻ em thường được sử dụng để ném lựu đạn vào các
quán cà phê hoặc chợ búa. Tình báo chính quyền vẫn còn nghèo nàn,
trong khi đặc vụ cộng sản rất tinh vi trong việc che giấu thân phận. Là
một giao liên VC, Trương Mealy 10 tuổi thỉnh thoảng được cử vào thị
trấn để gặp một nhân vật có mật danh trong một tiệm ăn, nắm chặt nửa
tấm giấy bạc để liên lạc với người có nửa tấm còn lại.
Nhịp độ cuộc chiến đang tăng tốc: sau hai năm trong đó động lực của
cuộc đấu tranh vũ trang chủ yếu đến từ căm thù người Miền Nam đối
với chính quyền Sài Gòn. Ảnh hưởng và tài nguyên của Hà Nội đang
dần trở nên rõ ràng hơn. Các lãnh đạo Miền Bắc ngửi thấy mùi thịt thối
rữa, mùi phân huỷ vào giai đoạn cuối, thoảng ra bay đến nông thôn từ
dinh tổng thống ở Sài Gòn. Họ đã trở nên hết kiên nhẫn muốn nhanh tay
sắp xếp hậu sự cho chế độ Diệm. Những người có máu mặt ở
Washington cũng vậy.
Các lãnh đạo, từ trái qua: Dean Rusk, Kennedy, McNamara
CHƯƠNG 7: 1963: QUAN TÀI CHO HAI TỔNG THỐNG
1 Trận Đánh Nhỏ, Câu Chuyện Lớn: Ấp Bắc
Theo chân các đám đông cố vấn, nhà ngoại giao, phi công, lực lượng
đặc biệt, bộ phận nghe lén điện tử và gián điệp đến Việt Nam là đội ngũ
nhà báo, cả nam lẫn nữ, sẽ tác động ảnh hưởng lên cuộc chiến ít nhất
không kém các chiến binh và các chính trị gia. Đội quân báo chí phồng
to nói lên nhận thức của những ông chủ của họ rằng quy mô đầu tư của
chính quyền xứng đáng được chú ý nhiều tại nơi đầu sóng ngọn gió hơn
những gì họ nhận được từ trước đến giờ. Hầu hết phóng viên đều trẻ,
tươi xanh, khá xuất sắc, tham vọng cháy bỏng, và đâm yêu ngay nét
quyến rũ của Sài Gòn: những người như David Halberstam của tờ New
York Times, Malcolm Browne và Peter Arnett của AP, François Sully
của Newsweek, Neil Sheehan của UPI, người ngồi làm việc cùng bàn
với Halberstam và trở thành bạn thân của ông.
Sheehan là một thanh niên nông thôn ở Massachusetts, sinh năm 1936,
đẹp trai, đã nhận được học bổng của Harvard trước khí trởthành tay
nghiện rượu quá sớm. Sau năm 1961 anh không hề đụng tới ly rượu,
nhưng anh đến Việt Nam vào năm sau còn khá say sưa với niềm tin vào
Hoa Kỳ. ‘Sài Gòn là một nơi rất dễ thương chưa bị người Mỹ làm hư
hỏng,’ anh nói. ‘Trong 6 tháng đầu tôi chẳng mảy mai sợ hãi. Tôi thấy
rất phấn khích khi lướt trên đồng lúa trên một chiếc trực thăng. Tôi là
đứa con trẻ của thời Chiến tranh Lạnh. Tất cả bọn tôi đều cảm thấy
giống nhau. Người Mỹ không thể làm điều gì sai. Chúng tôi đến đó để
ngăn các tên cộng sản độc ác không chiếm đoạt thế giới. Chúng tôi nắm
được thực tiễn rất ít ỏi. Chúng tôi cảm nhận rằng đất nước này xứng
đáng được hậu thuẫn.’
Quân đội Hoa Kỳ nuốt nhiều điện trong nguồn cung cấp điện không ổn
định, thành ra khi điện cúp và máy điều hòa tắt, các phóng viên mồ hôi
như tắm thấm ướt áo, đổ lên phím máy đánh chữ, lên các câu chuyện.
Họ kiếm chác được chút ít khi nộp chi phí theo tỷ lệ hối đoái chính thức
trong khi đổi đô la tại thị trường chợ đen.
Mặc dù các thông tín viên yêu thích thành phố, phần đông đều nhìn
nhận một quan điểm ngày càng nghiêm túc về sứ mạng của mình, đã
nhận diện được khoảng hở giữa tính lạc quan dễ dãi của bên quân sự,
nhất là chỉ huy 1962-64 Tướng Paul Harkins, và thực tế như họ quan sát
thấy.
Ngay từ đầu, MACV cố tình loan truyền các điều giả dối và giấu nhẹm
các sự thật bất tiện, chẳng hạn sự kiện phi hành đoàn Mỹ lái những
chuyến bay tác chiến trong buồng lái của Không Lực Việt Nam, sau này
được bóc trần khi tờ Indianapolis News in những bức thư gửi về nhà của
Đại uý Không Lực Hoa Kỳ Jerry Shank, khiến việc bác bỏ chính thức
thành phi lý. Shank viết: ‘Chuyện khiến tôi bực mình nhất là họ không
nói cho dân chúng biết chúng tôi làm gì bên này… Chúng tôi – tôi và
mấy thằng bạn – làm mọi thứ. “Học viên” Việt Nam trên máy bay với
chúng tôi là nhân viên hàng không cơ bản … Bọn họ là những con dê tế
thần ngu và dốt, và không giúp gì cho tôi cả. Đúng ra, nhiều khi muốn
quất roi cho họ ngắc ngoải.’ Việc sử dụng bom napan cũng không được
thừa nhận cho đến khi một bức ảnh chụp vòm lửa đặc trưng xuất hiện
trên mặt báo. Peter Arnett sau đó bóc trần việc sử dụng khí CS làm chảy
nước mắt, được bênh tuyên truyền thù địch cho là khí độc, trong khi
MACV phủ nhận chói tai còn Ngũ Giác Đài thì câm như hến.
Halberstam, lúc ấy 28 tuổi, khởi đầu là một người Tin Tưởng Chân
Thực, nhưng đến mùa thu năm 1962 đã hóa ra hoài nghi, viết trong tờ
New York Times: ‘Đây là một cuộc chiến tiến hành trong sự có mặt của
giới nông dân phần lớn thờ ơ hoặc không thân thiện, bởi một chính
quyền chưa đáp ứng được nguyện vọng của đa số nhân dân mình.
Kẻ địch thì gầy rộc và thiếu ăn, có kinh nghiệm trong hình thức chiến
tranh này, kiên trì trong chiến đấu, không ngừng tự phê, và trên hết là
một đối thủ đã chứng tỏ mình sẵn sàng trả giá.’
Khi trong tháng 12 Halberstam báo cho văn phòng anh biết về luật hạn
chế báo chí mà Nhu và đồng bọn áp đặt, tờ Times gửi phản đối tới Bộ
Ngoại giao, và được trả lời một cách bất lực rằng người Mỹ ở Việt Nam
là khách của một nhà nước có chủ quyền. Điều này cũng đúng thôi: khi
mà chế độ cố chấp bỏ ngoài tai lời cố vấn và những gợi ý từ sứ quán
Mỹ, MACV và CIA, nó hiếm khi nào lại chìu theo ý muốn của các nhà
báo tự do thù địch mà trong mắt Diệm chỉ là bọn hư hỏng.
Homer Bigar viết trong một báo cáo đúc kết vào tháng 6 1962 cho tờ
New York Times rằng chỉ trừ khi Diệm chịu chỉnh đốn đường lối cai trị
của mình, hoặc quân tác chiến Mỹ sẽ được gửi đến, hoặc chính quyền
Sài Gòn phải được thay thế bởi một hội đồng quân sự. François Sully
của Newsweek là bố già của bọn họ, một người Pháp sinh năm 1927 lẩn
quẩn ở Sài Gòn từ 1945. Không phải đồng nghiệp nào cũng yêu quý ông
và có người ngờ ông là cộng sản, nhưng quan hệ của ông với cả hai bên
là điều rất ấn tượng. Một trong những báo cáo cuối cùng của Sully
trước khi bị Diệm trục xuất, ông nêu lại quan điểm của Bernard Fall
rằng chính trị thì quan trọng hơn chiến thuật, vậy mà Quân đội Mỹ đang
huấn luyện cho người Miền Nam kháng cự cuộc xâm lăng kiểu Triều
Tiên. Trực thăng Thủy quân Lục chiến, ông nói không thể cung cấp
cho người Miền Nam một ý thức hệ mà họ có thể hy sinh vì nó. Bài viết
có đính kèm một bức ảnh chụp nữ dân quân của Diệm có thêm chú giải
‘Kẻ địch có thêm động lực và nhiệt tình.’
Neil Sheehan nói về đội quân báo chí Sài Gòn 1962-63: ‘Chúng tôi là
một nhóm người nghiêm túc: chúng tôi thấy mình xung đột – xung đột
rất gay gắt – với bộ chỉ huy Hoa Kỳ. Bạn sẽ phải tức tối khi bọn tướng
lĩnh nói dối.’ Sheehan kinh ngạc trước lòng can trường của một số
phóng viên, và sự hèn nhát của những người khác: phóng viên một tờ
báo ở New York, anh sau này nhớ lại, không khi nào rời Sài Gòn – y hối
lộ các người điều hành xin các bản sao bài viết của các thông tín viên
khác. Một vài nhóm thông tín viên, tiên phong là Halberstam và
Sheehan, làm nên tên tuổi ở Việt Nam, mặc dù một số người Mỹ, không
phải tất cả đều là quân nhân, đi xuống mồ mà còn tin rằng các phóng
viên phản bội đất nước mình trong khi nhận được tràng vỗ tay của bên
truyền thống đối thủ trên khắp thế giới.
Bản tin mở ra vào ngày 2 tháng 1 năm 1963 là một trận đọ súng giữa
binh sĩ Diệm và Việt Cộng, nhưng bổng biến thành một cuộc đấu tranh
có ý nghĩa hơn nhiều giữa chỉ huy tối cao Hoa Kỳ và đội quân báo chí
Sài Gòn, người tin chống lại người không tin. Phần giết chóc do Trung
tá John Paul Vann tháo xiềng. Ông là cố vấn cao cấp ngay từ giữa năm
1962 cho Sư đoàn 7 QĐVNCH. Vann, một người gầy như cây sậy
nhưng có năng lượng dữ dội và hung hăng, lo lắng đụng độ không có kết
quả với địch. Sau khi bộ phận đánh chặn điện tử trên phi cơ Hoa Kỳ
định vị được tín hiệu truyền tin từ Tiểu đoàn 514 vùng của Việt Cộng ở
Ấp Bắc, cách Mỹ Tho 14 dặm về phía tây-bắc, vị đại tá phấn khích khi
bộ chỉ huy Harkins ra lệnh cho ông chỉ đạo một cuộc tập kích quy mô
lực lượng để gài bẫy và tiêu diệt nó: hai tiểu đoàn Nhân dân Tự vệ; một
đơn vị bộ binh do 10 trực thăng H-21 của Mỹ không vận (mà VC gọi là
‘chuối bay’ hay ‘mồi câu’); phi cơ Skyraider của KLVN oanh kích; 5
chiếc trực thăng Bell Iroquois ‘Huey’ UH-1; một đại đội xe bọc thép;
một tiểu đoàn lính dù.
Tình báo Mỹ mắc sai lầm đáng kể về sức mạnh của địch ở Ấp Bắc, ước
tính chỉ có 120 du kích. Cộng với đại đội được tăng cường của Tiểu
đoàn 514, còn có sự hiện diện của một đại đội của lực lượng chính quy
261, đang trên đường hành quân đến nơi khác. Đây được coi là một đơn
vị thiện chiến: các cô kháo nhau rằng nếu phải lấy bộ đội, thì hãy lấy bộ
đội tiểu đoàn 261. Binh sĩ này dạn dày trận mạc, trung bình hơn 2 năm
chiến đấu, cán bộ cao cấp đến 5 năm. Tổng số quân du kích toàn thời
gian ở Miền Nam đã tăng gấp đôi kể từ năm ngoái, lên đến 50,000, đa số
áp đảo là ở đồng bằng Cửu Long. Mặc dù họ trông cậy phần lớn vào vũ
khí chiếm được, một số lượng ngày càng lớn đến bằng đường biển.
Những thuyền kéo lưới ngụy trang từ Miền Bắc giao 112 tấn vũ khí và
đạn dược trong năm 1962, và tổng số này sẽ tăng phi mã lên 4,289 trong
1963-64 – nhiều hơn chở xuống Đường Mòn Hồ Chí Minh.
Tiểu đoàn 261 phần lớn là những người tập kết ra Bắc trước đây. Người
cầm đầu là Hai Hoàng, tên thật là Nguyễn Văn Diệu, một chỉ huy được
yêu mến, rất quan tâm đến binh sĩ dưới quyền. Tiểu đoàn phó là Tư
Khuê, cao, hốc hác, hói đầu và nghiêm khắc. Một chỉ huy đại đội, Bảy
Đến, xuất thân từ một gia đình đặc biệt khá giả ở Sài Gòn: chị anh có lần
đến thăm, chống một chiếc tam bản thuê đến chỗ đóng quân của tiểu
đoàn 261. Cô bạt hồn vía khi thấy em trai đang đào chiến hào, và khẩn
khoản xin em bỏ tất cả để về nhà. Đến lắc đầu: anh đã nguyện dâng hiến
đời mình, anh nói, và đúng là anh đã ở lại và hy sinh trong chiến đấu.
Việt Cộng quanh Ấp Bắc vào ngày 2/1 tập hợp đến 320 chiến binh, đã
được mật báo là lực lượng tấn công của Sài Gòn đang đến. Điều mà
John Vann không biết là tỉnh ủy cộng sản đã ra lệnh cho Diệu và đồng
chí mình không rút quân như thường lệ khi QĐVNCH tấn công, nhưng
thay vào đó phải đứng lại và chiến đấu. Vì vậy, hố và công sự được đào
dọc theo hàng cây mặt tiền ấp. Lực lượng phòng thủ trang bị vũ khí và
đạn dược đầy đủ, phần đông là vũ khí Mỹ chiếm được: 30 súng máy,
súng trường tự động Browning, cacbin M-1, 45 tiểu liên Thompson.
Phần đông trong số 1,200 nông dân trong các ấp kề cận Ấp Bắc và Tân
Thới đều chạy lánh nạn vào các ao đầm gần đó khi nghe tin trận đánh
đang đến gần, nhưng khoảng 30 người ở lại để khuân vác đạn dược và
người bị thương. Bàn cờ đã sẵn sàng cho Vann chơi ván cờ của mình.
Ai là những con cờ người bên phía ông vào buổi sáng hôm đó? Từ đầu
đến cuối cuộc chiến, binh sĩ Miền Nam chịu đựng hầu hết mọi căng
thẳng, thống khổ và mất mát. Không gì làm xa lánh nông dân với chính
quyền Sài Gòn hơn lệnh bắt lính, bắt nông dân rời bỏ đồng ruộng và
biến nhiều người lính mới cáu cạnh thành kẻ áp bức đồng bào trong
vùng đất không phải quê hương mình, và vì vậy mình không gắn bó gì
với nó. Có các câu chuyện kinh khủng về tính chai đá của binh lính
Miền Nam, một số có thể là sự thật: về hai tay súng cá cược một bao
thuốc lá xem ai bắn trúng đứa bé đang ngồi trên lưng trâu. Trong những
năm đầu của cuộc chiến, 1955-59, chỉ có những thanh niên trong độ tuổi
20-22 mới bị gọi quân dịch trong 12 tháng. Sau đó tăng lên 2 năm, và
vào năm 1964 đến 3 năm. Một khi vào lính, nhiều người Miền Nam
không hề thoát ra được bộ quân phục màu xanh trừ ra trên chiếc xe lăn
hoặc túi đựng xác. Một yếu tố chung giữa Hoa Kỳ và hai miền nam bắc
là trong cả ba xã hội, con cái những người có đặc quyền được miễn quân
địch. Ở Miền Nam gia đình chỉ cần hối lộ, trong khi ở Miền bắc con
ông cháu cha thì được gửi ra nước ngoài học cao hơn. Mặc dù quân đội
Miền Nam tiêu tốn 15 phần trăm GDP quốc gia, lương của binh sĩ rất ít
ỏi. Hầu hết tân binh đều được gửi về đơn vị chiến đấu sau 5 đến 6 tuần
huấn luyện chiếu lệ, bảo đảm họ có thể học tiếp trên thực địa. (Người
dịch nhớ không lầm là tân binh được huấn luyện ở Quang Trung 9 tuần).
Một sĩ quan nói thay cho đồng đội mình khi anh phát biểu: ‘Việt Cộng
dường như biết tại sao họ chiến đấu, còn chúng tôi thì không. Nội dung
chính huấn của chúng tôi chỉ là đề cao cá nhân Diệm, ngoài ra không có
gì.’
Kế hoạch của John Vann cho buổi sáng 2/1/1963 có thể đã được tuyên
dương nếu mọi cá nhân đều hành động như định sẵn theo kế
hoạch. Thay vì di chuyển theo đội hình gọng kềm một cách nhịp nhàng,
thì họ bước xuống trận địa một cách ngẫu hứng như các đồ chơi bị đá
văng khỏi hộp. Sương mù sáng sớm làm việc bốc quân bằng trực thăng
chậm trễ, thành ra Nhân dân Tự vệ đi bộ đụng đầu VC trước tiên, ngay
sau 07:00. Khi những người đi đầu của họ bị bắn ngã, họ nằm sát mặt
đất trong suốt cuộc trao đổi hỏa lực rời rạc, kéo dài. Tỉnh trưởng, người
trực tiếp chỉ huy họ, không chịu ra lệnh tiểu đoàn thứ hai của ông tiến
lên. Ngay sau 10:00, chống lại lệnh của Vann, các trực thăng H-21 mang
theo một đại đội bộ binh lạch cạch đáp xuống ruộng lúa bên trong tầm
bắn dễ dàng của các ‘Victor Charlie’. Tân binh VC được đấu tranh tư
tưởng là không phải sợ trực thăng, chúng chỉ là các khung sắt dán giấy
bìa. Sáng hôm đó tại Ấp Bắc, điều này dường như đúng: hỏa lực cộng
sản nhanh chóng bắn hạ 2 trong số các chiếc H-21 cũ kĩ và làm hỏng hóc
nặng chiếc thứ ba. Một chiếc Huey cố bay đến giải cứu phi hành đoàn
Mỹ bị bắn lỗ chỗ, trước khi ngã lật ngã bên cạnh các chiếc khác.
.
Bộ binh không may chẳng đi đến đâu, kẹt trên vùng đất trống trải bị hỏa
lực địch quét sạch. Gần như toàn bộ trực thăng bay bên trên trận địa đều
trúng đạn, và không kích và pháo kích bắn trật lất không gây tác động gì
nhiều đến quân phòng thủ Ấp Bắc. Từ trên chiếc L-19 chỉ đạo lượn
vòng Vann nhìn một cách tức tối khi chiến dịch của mình chết chìm
trong bùn, máu, và sự hỗn loạn. Lý Tòng Bá, đại uý chỉ huy một đại đội
xe thiết giáp, không chịu tiến lên giải cứu bộ binh và phi hành đoàn mắc
kẹt. Qua máy điện đàm Vann gần như quát tháo, ‘Tôi đã gặp sự
cố, Topper Six,’ Đại úy Jim Scanlon, cố vấn đi theo Bá, rầu rĩ điện đàm
cho Vann, ‘Đối tác của tôi không chịu tiến lên.’
‘Mẹ kiếp, bộ y không hiểu đây là tình trạng khẩn cấp sao chứ?!’ Scanlon
đáp, ‘Anh ta nói “Tôi không nhận lệnh của người Mỹ.”‘
Vann rống lên qua máy bộ đàm, ‘Bá! Nếu anh không cho xe tiện dụng
qua kênh tôi sẽ trình với Tướng Lê Văn Tỵ ném anh vào tù!’ Nghe vậy,
Bá chậm rãi ra lệnh cho đại đội tiến lên, mất đến hai giờ sau mới lặn lội
vượt qua kênh mương: mãi mãi sau này viên đại úy nhỏ người cứ đưa ra
lý lẽ là Vann lẫn Scanlon không người nào nhận ra những khó khăn khi
vượt qua các chướng ngại dưới nước. Khi các ổ súng máy cỡ .50 trên
các thiết giáp M-113 cuối cùng khai hỏa, một vài xe bị bắn bay vỏ thép
phơi trần trước hỏa lực Việt Cộng, vốn ngụy trang rất khéo léo sau các
rặng dừa và chuối khiến ít kẻ tấn công nào thấy được bóng dáng địch
trong suốt trận đánh. Khi một xe tính sử dụng súng phun lửa, chuyên
viên quýnh quáng thế nào lại pha trộn nhiên liệu sai, thành ra vòi lửa co
lại rồi nhỏ giọt.
Khoảng 14:30 các con cua bọc thép bắt đầu rút lui; thêm 2 trực thăng rơi
xuống do hỏa lực địch.
Chiếc L-19 lướt qua vài lần ở cao độ tấn công khi ông nỗ lực một cách
vô ích để nhận diện vị trí của VC, và để tiếp thêm sinh lực cho bộ binh
đang sa lầy tiến lên. Lúc 18:05 7 máy bay C-123 của Không Lực Mỹ thả
lính dù xuống, binh sĩ tiếp đất cách xa vùng dự định nửa dặm, ngay
trong tầm bắn ngon lành của địch ở Ấp Tân Thới kế cận, hỏa lực cày nát
họ, giết chết 19 lính dù và làm bị thương 33 người, kể cả 2 người Mỹ.
Khi đêm xuống, cộng sản vẫn giữ vững gần như toàn bộ trận địa như
buổi sáng sớm, và không mấy khó khăn rút quân đi về chốn an toàn ở
Đồng Tháp Mười gần đó.
Du kích quân chỉ tổn thất 18 người chết và 35 bị thương, phần đồng đó
pháo và không kích. Phía Sài Gòn, 3 người Mỹ thiệt mạng và 5 bị
thương, cùng với 63 binh sĩ Việt Nam chết và 109 bị thương. Trở lại
May’s Landing, New Jersey, một thằng bé 7 tuổi khoái chí hét toáng lên
khi nhìn thấy một clip TV quay cảnh một pháo thủ trên cửa trực thăng
đang khai hỏa, ‘Nhìn kìa, ba con đó!’ Đúng 6 giờ sau, một bức điện báo
tin cha em, trưởng phi hành đoàn William Deal, đã hy sinh trên chiếc
Huey bên ngoài Ấp Bắc.
Tuy nhiên, vào ngày hôm sau 3/1, trải nghiệm của giới truyền thông tác
động một sức ảnh hưởng lên lịch sử của cuộc chiến lớn hơn chính trận
đánh. Paul Harkins, ông trùm của MACV, đi xuống bộ chỉ huy Quân
đoàn IV để cổ vũ một cuộc tấn công mới vào Ấp Bắc. Ông bảo David
Halberstam và Peter Arnett, ‘Chúng ta phải dụ VC vào bẫy, rồi xông
vào, khoảng nửa giờ là xong.’ Khổ thay, các nhà báo đã biết kẻ địch đã
giông từ lâu, và do đó cuộc tấn công là một vở kịch câm. Nhận xét của
Harkins cho thấy ông ta hoặc là thằng điên hoặc là một tên dối trá cố
tình – chắc là thằng điên, bởi vì trong bất kì tình huống nào ông ta không
bao giờ nhìn xa hơn chỗ ông muốn nhìn.
Cách đó một vài dặm, vấn đề còn tệ hơn. Neil Sheehan và Nick Turner
của Reuter đến chiến trường của trận đánh hôm trước và nhận thấy binh
lính Miền Nam không muốn xử lý xác chết đồng đội mình và người Mỹ:
các nhà báo cảm thấy phẫn nộ khi tự mình khiêng các thi hài lên trực
thăng. Rồi, trong lúc họ trao đổi với chuẩn tướng Mỹ Robert York, một
cựu binh Thế Chiến II quê Alabama, thì pháo yểm trợ cho ‘trận tấn
công’ mới bắt đầu rơi xuống quanh họ, phụt lên những suối bùn. York
nói với Sheehan, ‘Chúa ơi, chạy mau kẻo chết!’ Họ phóng qua ruộng lúa
trước khi ném mình xuống đất.
Sheehan tưởng mình thế nào cũng toi mạng. Khi trận pháo chấm dứt họ
đứng dậy mình mẩy đầy bùn đất. Năm mươi quả pháo đã rơi xuống vùng
gần đó, giết chết 4 binh sĩ QĐVNCH và làm bị thương 12 người khác.
Tiểu đoàn trưởng bộ binh nổi giận rút khẩu súng lục bắn vào đầu viên
trung uý trẻ có nhiệm vụ làm trinh sát tiền tiêu cho pháo binh.
Trận thảm bại tại Ấp Bắc có ít ý nghĩa về mặt quân sự hơn – chẳng hạn
một trận đánh 1960 tại Tua 2 tỉnh Tây Ninh, trong đó phe Cộng đánh
bại một lực lượng quốc gia lớn hơn nhiều. Cái khác biệt là tại Tua 2
không có người ngoại quốc chứng kiến, trong khi giờ đây những thông
tín viên sắc sảo nhất tại Việt Nam đang ngồi xem trên khán đài không
mái che. Sheehan sau đó viết, ‘Chúng tôi biết rằng đây là câu chuyện lớn
nhất chúng tôi từng gặp.’ Các bài tường thuật của anh và Halberstam
đều trích dẫn lời một cố vấn Mỹ tố cáo binh sĩ Miền Nam thể hiện vào
ngày 2/1 ‘một cuộc trình diễn khốn khổ’, trong khi Harkins còn khăng
khăng cho Ấp Bắc là một thắng lợi. Ít ai, kể cả vị tướng, nghi ngờ những
lời tố cáo trên xuất phát từ John Vann, và ông yêu cầu lấy đầu của vị đại
tá.
MACV cuối cùng quyết định thận trọng hơn nên cho phép viên sĩ quan
khích động nhưng có tiếng thiếu thận trọng này hoàn tất chuyến công tác
của ông ta vào tháng 3 như dự tính.
Ảnh hưởng của Vann đối với cuộc chiến sau đó lên xuống cho đến khi
kết thúc một cách ấn tượng gần một thập niên sau đó, nhưng trong năm
1963 ông đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp những thông tin
đúc kết cho Sheehan, Halberstam và những người khác về tính nhát gan
và cẩu thả vốn là đặc tính của các cuộc hành quân Miền Nam, cùng
những hành động dối trá để che giấu những tệ hại này. Vị đại tá cảnh
báo với Thiếu tướng Bruce Palmer rằng Harkins đang tự cho phép mình
bị các sĩ quan Saigon đánh lừa, khi thường xuyên tấn công các mục tiêu
mà họ biết là không có địch ở đó. Dù sao thì phiên bản của Harkins là
phiên bản được Maxwell Taylor và Robert McNamara chọn để tin
tưởng. Frances Fitzgerald sau này viết trong tác phẩm lịch sử có ảnh
hưởng của bà Lửa Trong Hồ: Hoa Kỳ đã … biến chính quyền Sài Gòn
thành một bộ máy quân sự mà lý do tồn tại của nó là chiến đấu với
người cộng sản. Khó khăn duy nhất là bộ máy đó không hiệu quả.’
QĐVNCH không phải là một quân đội mà chỉ là ‘một tập hợp các cá
nhân tình cờ mang vũ khí.’ Đây là một phát biểu hơi quá đáng, nhưng
chứa một phần sự thật.
Trận Ấp Bắc dấy lên làn sóng chỉ trích rộng khắp của giới truyền
thông. Arthur Krock viết trong chuyên mục của mình vào ngày 9/1:
‘Không có số lượng viện trợ quân sự Mỹ nào có thể giữ gìn độc lập cho
một dân tộc không muốn chết cho nó.’ Richard Hughes, một cựu binh
Úc viết cho tờ London Sunday Times, nói rằng ông thấy có sự tương
đồng rõ ràng với chính sách điên rồ của Mỹ ở Trung Quốc sau Thế
Chiến II. Điều tốt nhất người Mỹ đang hứa hẹn, ông nói, là một cuộc
chiến 10 năm để giữ gìn một chế độ ‘phản động, cô lập, không được
nhân dân ủng hộ’. Lối thoát duy nhất, ông đề xuất, cho chính quyền Sài
Gòn là nhìn nhận người cộng sản như một liên minh.
Bên trong Việt Nam, tin tức về thảm bại lan truyền nhanh chóng. Một sĩ
quan Việt Nam viết rằng Ấp Bắc ‘gây tổn thất to lớn đến tinh thần chiến
đấu của QĐVNCH ‘. Lý Tòng Bá, sẽ lên đến cấp tướng, sau này tố cáo
Neil Sheehan là người ‘chỉ viết những bài đầy đẫy những luận điệu ma
mị và không chính xác’. Ông cũng lập luận rằng cố vấn của ông trên
chiến trường Ấp Bắc, Jim Scanlon, ‘sợ khiếp vía’ Vann như sợ Việt
Cộng, khiến ông cũng vẽ ra một bức tranh sai lầm về các biến cố. Các sĩ
quan MACV và nhiều người khác đả phá các bài viết báo chí, phàn nàn
các báo cáo ‘tiêu cực’ của giới truyền thông, chỉ làm tăng thêm khó
khăn khi phải đánh nhau dưới cặp mắt của giới truyền thông không nhận
ra bổn phận phải chiếu cố ‘phe ta’ – nghĩa là Hoa Kỳ và thân chủ Miền
Nam của mình – vốn là nhiệm vụ yêu nước như các thông tín viên đã
từng làm trong Thế Chiến II.
Bây giờ vẫn khó khăn như đã từng để thấy được tính cách trong
việc Harkins tìm cách chối bỏ thực tiễn của vấn đề. Châm ngôn cho tất
cả ai nắm giữ quyền lực, trong thời bình như trong thời chiến: nói dối
với người khác nếu cần, nhưng không bao giờ nên nói dối với chính
mình. Trùm MACV có thể biện hộ cho việc nói những điều vô lý với
Halberstam và Arnett, nhưng ông lại còn bán rao cùng những chuyện
hoang đường ấy trong các bức điện tối mật gửi đến Washington. Tuy
vậy, các bài viết phê phán có giá trị của giới truyền thông vẫn dai dẳng
theo suốt cuộc chiến: các phê phán khoái chí với các khiếm khuyết của
chế độ Diệm và những người kế tiếp, nhưng lại không chú tâm tới những
sai phạm và nỗi kinh hoàng mà người cộng sản gây ra.. Halberstam,
Sheehan và phần còn lại hoàn thành một cách có lương tâm và đôi khi
xuất sắc nhiệm vụ của mình, kể lại những gì mình mắt thấy tai nghe; còn
phe biện hộ cho Sài Gòn, mà hình mẫu là tạp chí Times, đã hủy hoại uy
tín của mình bằng cách khước từ các hiện thực không nuốt trôi. Tuy
nhiên, Miền Nam chỉ là phân nửa câu chuyện đúng đắn. Phần nhiều giới
truyền thông cho thấy mình dốt nát hoặc mù quáng đối với chế độ độc
tài hiện hành ở Miền Bắc, vốn gây ra những nỗi gian truân còn tệ hơn
cho nhân dân mình.
Một bác sĩ giải phẫu Úc phục vụ tình nguyện tại Vũng Tàu sau này viết:
‘Dường như sẽ công bình khi nói ra những gì thường không được nói, là
nếu viện trợ kinh tế cho Miền Nam không bị ngăn trở bởi các hoạt động
phá hoại của Việt Cộng, nhân dân đất nước này ắt sẽ no ấm, khỏe mạnh
và hưởng một nền giáo dục tốt hơn, chứ không khổ sở và sâu xé vì chiến
tranh như bây giờ.’ Frances Fitzgerald đúc kết bài tường thuật mạnh mẽ
về năm 1972 của Hoa Kỳ tại Đông Dương của bà với bày tỏ khát khao
Miền Bắc sẽ chiến thắng, cho một thời khắc khi ‘”chủ nghĩa cá nhân” và
tính băng hoại kèm theo của nó nhường chỗ cho tính kỷ luật của cộng
đồng cách mạng’. Các viên chức Mỹ, bà viết, có thể gán thắng lợi này là
thắng lợi của việc tẩy não bởi ‘những người Cộng sản cuồng tín’. Không
phải thế, bà xác quyết: Nó chỉ đơn giản có nghĩa thời khắc đã đến cho
ngọn lửa cách mạng tẩy sạch ao tù của xã hội Việt Nam.’ Đây là một
quan điểm về cuộc chiến dường như là ảo tưởng tại một đầu của quang
phổ chính trị cũng như quan điểm của Tướng Harkinds tại đầu kia của
quang phổ.
2 Phật Tử Nổi Dậy
Trong suốt mùa của 1963, uy tín của chính quyền Diệm xuống thấp
trong khi tinh thần chiến đấu và sức mạnh của VC lên cao, nhờ làn sóng
hồ hởi sau thắng lợi Ấp Bắc. Chiến sử của Tiểu đoàn 261 ghi lại, ‘binh
sĩ hát mừng’, Trung ương Cục Miền Nam phát đi khẩu hiệu ‘Noi gương
Ấp Bắc!’ Trận Đánh cung cấp một sức đẩy quan trọng cho phe ‘tiến tới’
tại Hà Nội, càng lập luận mạnh mẽ rằng thời kỳ thận trọng đã qua; rằng
ở Miền Nam, phần thưởng đã chín muồi chờ ta chiếm lấy.
Michael Burleigh đã viết về việc hoạch định quyết sách Mỹ: ‘Ít có đế
quốc nào đặt uy tín của mình đằng sau một nhóm bù nhìn cực kỳ nguy
hiểm như nhà họ Ngô.’ Thậm chí khi tình hình an ninh suy sụp, vào
tháng 5 chế độ Sài Gòn thi hành một sáng kiến đẩy họ nhanh xuống vực
thẳm cuối cùng.
Giới tu sĩ Phật giáo đã từ lâu bất bình về việc nhà Ngô ưu đãi các tín đồ
Công giáo đồng đạo với mình. Vào ngày 8 tháng 5 1963, khi các phật tử
tụ tập ở Huế làm lễ Phật đản lần thứ 2527, một sĩ quan Công giáo tìm
cách cưỡng chế một sắc luật cũ cấm họ treo cờ tôn giáo ngoài đường.
Vài ngàn phật tử tụ tập bên ngoài đài phát thanh Huế để nghe buổi phát
thanh thông lệ của nhà sư nổi tiếng Thích Trí Quang. Giám đốc đài
thình lình hủy bỏ buổi phát thanh, nói rằng bài nói chuyện chưa được
ban kiểm duyệt chấp thuận. Ông cũng điện cho quân đội gửi đến nơi một
đoàn xe thiết giáp và binh sĩ. Khi phật tử phớt lờ lệnh giải tán, binh lính
nổ súng. Một phụ nữ và 8 trẻ em chết trong đám hổn loạn bùng phát sau
đó. Hành động điên rồ vô cớ và sát nhân này làm dấy lên nhiều tuần lễ
biểu tình chống chính quyền tại nhiều thành phố. Phật tử được hàng
ngàn sinh viên học sinh tiếp tay. Tiếp theo chính quyền tuyên bố những
phản kháng là do cộng sản giật dây.
Rõ ràng chúng thích hợp với tính cách của MTDTGP và Hà Nội: các cán
bộ có thể đã xúi giục các nhà sư. Tuy nhiên, không nghi ngờ gì, những
gì xảy ra thể hiện một cơn phẫn nộ tự phát chống lại chế độ, không chịu
xin lỗi cho các cái chết ở Huế, hoặc trừng phạt những tên có trách
nhiệm. Diệm như ngồi trên bàn tay mình, phớt lờ các cảnh báo của
Washington, trong khi ông em Nhu lao vào một kế hoạch đàn áp.
Frank Scotton nói: ‘Phần đông các nhà sư là nạn nhân của lối suy nghĩ
mơ tưởng về khả năng của một chính quyền đại diện, nhưng khủng
hoảng Phật giáo không chỉ là về chính trị. Nếu Diệm muốn làm một cử
chỉ cao thượng để hoà giải, ông sẽ phải đứng lên chống lại em mình, và
ông không đành lòng làm vậy.’ Phóng viên Marguerite Higgins mô tả
Quang, người đi đầu trong số các nhà sư nổi dậy. Còn lâu mới là một
nhân vật trầm tư, thụ động, bà nói, ‘cặp mắt thâm sâu, nóng bỏng, rực
sáng từ một vầng trán to rộng. Ông toát ra một vẻ thông minh nghiêm
trọng, sự bình tĩnh tự tại và hoài nghi nghiền ngẫm.’ Một sĩ quan Miền
Nam viết: ‘Khủng hoảng Phật giáo như một đám cháy lớn, không kiểm
soát được và nhanh chóng lan rộng. Nó có một hiệu quả tiêu cực mạnh
mẽ lên tinh thần chiến đấu của các sĩ quan và binh sĩ. .. Tôi biết là
không thể duy trì chính quyền Diệm được nữa. Hy vọng duy nhất của tôi
là quyền lực sẽ rơi vào tay một người lãnh đạo mới, có năng lực và
trung thành.
Khi Dương Vân Mai trở lại Sài Gòn từ Washington mùa thu đó, cô thấy
gia đình mình, nhất là mẹ mình, đã hóa ra thù ghét cay đắng với chính
quyền vì nó xúc phạm vào niềm tin mà đại đa số người Việt đã phát
nguyện phụng thờ. Vào ngày 10 David Halberstam viết: ‘Sự xung đột
giữa chính quyền Miền Nam và các tu sĩ Phật giáo quấy rầy nhức nhối
các viên chức Mỹ ở đây … vốn bối rối sâu sắc … và bực dọc trước cật
vấn dai dẳng của người Việt cứ hỏi: “Tại sao chính quyền các ông cho
phép điều này xảy ra?”‘ Người Mỹ theo nghĩa đen được cho là ra lệnh
bắn.
Ngày hôm sau, các cơ quan truyền thông phương Tây được báo trước
về một cuộc phản đối tổ chức tại Sài Gòn. Tuy nhiên, ít ai để ý vì bản
chất của nó không được nói rõ. Vào sáng ngày 11, tại một giao lộ tấp
nập, một nhà sư cao tuổi pháp danh Thích Quảng Đức từ trên ô tô bước
xuống trong cà sa màu cam, ngồi xuống trong tư thế hoa sen trên đường
phố, rồi bất động bao quanh là đám đông các tăng ni ngồi kiết già. Một
nhà sư khác đổ xăng lên người ông. Thích Quảng Đức đích thân đánh
diêm quẹt, châm lửa đốt thân mình. Trong suốt tiến trình, một nhà sư
khác tuyên bố qua loa phóng thanh: ‘Một nhà sư đã tự thiêu đến chết!
Một nhà sư đã hy sinh vì đạo pháp!’ Tại sự kiện này và những sự kiện
hy sinh mạng sống tương tự, cần chú ý rằng mọi biểu ngữ, áp phích đều
viết bằng tiếng Anh: khán giả được dự trù không phải là người Việt.
Nhà báo phương Tây duy nhất chịu khó đến nơi, Malcolm Browne của
AP, sau này viết, ‘Tôi có thể đã ngăn cản việc tự thiêu đó bằng cách
chạy ùa đến ông và đá bình xăng đi … Là một con người tôi rất muốn
thế. Là một phóng viên tôi không thể . . . Làm như thế tôi đã đẩy mình
vào chính trị của Việt Nam. Vai trò phóng viên sẽ theo đó mà tiêu tan
theo uy tín của mình.’ Vậy mà Browne cũng đã góp phần làm thay đổi
bộ mặt chính trị Miền Nam bằng bức ảnh chụp cảnh tượng đó, đúng như
ý các phật tử dự tính khi báo trước cho ông biết. Các bức ảnh công phá
của ông được gửi về Manilla, rồi từ đó tỏa đi khắp thế giới. Bà Nhu đổ
thêm dầu vào lửa căm hờn bằng lời mô tả sự kiện trên đài truyền hình
là ‘tiệc nướng thịt ngoài trời’. Bà ta nhún vai: ‘Cứ để họ thiêu, và chúng
ta sẽ vỗ tay.’ Browne nói rằng mình sẽ không bao giờ quên mùi nồng
nặc của nhang hòa quyện với mùi thịt cháy. Ban tổ chức, hài lòng với sự
chú ý mà hành động ghê gớm của mình gây ra, trưng bày trái tim của
Thích Quảng Đức trong một bình thủy tinh.
Người Mỹ đáp ứng với một thái độ ngạc nhiên không hiểu. Trung uý
Gordon Sullivan, một cố vấn cho một nhóm Biệt kích tình cờ có mặt ở
Sài Gòn, nói, “Toàn bộ tình hình thay đổi. Đây là cái gì đó mới
mẻ. Chúng tôi không biết có chuyện kỳ lạ thế.’ Tờ Washington Post viết
xã luận vào ngày 20/6/1963: ‘Tất nhiên người cộng sản sẽ khai thác lời
ta thán của Phật giáo. Và tại sao không? Chính chế độ Diệm đã vô cớ
phục vụ cho mục đích của cộng sản bằng những chính sách ghê tởm về
mặt đạo lý và tự sát về mặt chính trị.’ Đại sứ Mỹ ‘Fritz’ Nolting vẫn còn
khăng khăng đây là chính quyền Sài Gòn ít tồi tệ nhất mà Mỹ có được,
và Colby của CIA cũng nhất trí. Tại Washington, tuy nhiên, cố vấn an
ninh quốc gia và Roger Hilsman của Bộ Ngoại giao có một quan điểm
ảm đạm hơn, kể cả Henry Cabot Lodge, người sẽ đến Sài Gòn vào giữa
tháng 8 để thay Nolting, được coi là bị tại tiếng vì quá nhân nhượng
Diệm.
Vị đại sứ mới là nhân vật tầm cỡ của Đảng Cộng Hoà từ Massachusetts,
61 tuổi, có kinh nghiệm lâu dài trong ngành ngoại giao và Thượng
viện, đã từng là ứng viên phó tổng thống trong liên danh với Nixon vào
năm 1960. Arthur Schlesinger viết: ‘Tổng thống có thói quen chỉ định
“những người tự do” làm những công việc ” bảo thủ”, và ngược lại.’
Việc bổ nhiệm Lodge là một ví dụ cổ điển cho điều này: ông là một
nhân vật lớn, chắc chắn phải tìm vai trò lớn, có vẻ toàn quyền hơn là đại
sứ. Nếu sau đó ông chơi không đúng hoặc chơi quá mức, thì đúng là lỗi
của những người bổ nhiệm ông.
Vào ngày 21 tháng 8, sau khi Diệm thiết quân luật để đáp ứng với cơn
bão biểu tình phản đối tiếp tục, lực lượng của Nhu tấn công ngôi chùa
chính của Sài Gòn, chùa Xá Lợi. Họ bắt 400 tăng ni, kể cả hòa thượng
trụ trì 89 tuổi. Tờ Time của Henry Luce bãi bỏ những bài viết có tính
kết án từ các thông tín viên của mình; Bill Colby chia sẻ với ông bạn
Nhu mối khinh bỉ đối với giới phật tử, cũng như Harkins. Vậy mà mặc
dù có sự áp đặt nghiêm ngặt luật kiểm duyệt báo chí và một loạt các phát
biểu dối trá của chính quyền, phần đông người Mỹ kể cả đại sứ Lodge,
đều nhận ra rằng bào đệ của tổng thống đang điên cuồng đánh mất sự
kiềm chế.
Tình hình an ninh quốc gia tiếp tục tồi tệ. MTDTGP, không kiên nhẫn
ngồi chờ chế độ ra đi, tăng cường chiến dịch khủng bố, trong khi quân
đội Miền Nam ngày càng lung lay. Vì các bài phóng sự dữ dội của
David Halberstam được đọc quá rộng rãi, MACV và Washington sát
cánh nhau hơn để kích bác chúng. Ngoại trưởng Dean Rusk đích thân
phản bác một báo cáo tháng 8 1963 mô tả phe cộng sản giành được lãnh
thổ trong vùng đồng bằng Cửu Long. Harkins liệt kê các chi tiết mà ông
xác nhận là không chính xác. Vào tháng 9 vi tướng điện cho Maxwell
Taylor tại Nhà Trắng: ‘Từ hầu hết các báo cáo và bài viết tôi đọc, người
ta nói Việt Nam và các chương trình của chúng ta đang rơi rụng tơi tả.
Vâng, tôi hoàn toàn không đồng ý.’
Vậy mà tài liệu ghi chép chứng tỏ những thanh niên xông xáo trong đó
nổi bật là Halberstam và Sheehan, chính xác trong đánh giá của mình, cả
về quân sự lẫn chính trị, hơn hẳn MACV. Có ngày càng nhiều những tập
tin như thế như tập tháng 9, ngay giữa ban ngày Việt Cộng đánh chiếm
một đồn lính trong vùng đồng bằng mà gần như không tổn thất gì, vì
tỉnh ủy đã cài hai người của mình vào trong lực lượng đồn trú. Họ giết 6
lính bảo vệ, bắt 6 người và lấy đi 35 súng trường, cho nổ boongke và
tháp canh trước khi rút lui. Mùa thu đó, theo Frank Scotton, ‘rõ ràng
nhiều cư dân đô thị có văn hoá’, những người bàng quan chỉ nghe ngóng
hơn là tham gia vào sự kiện, ‘tiên liệu một sự thay đổi chính quyền ‘.
Thời khắc của Diệm gần như đã hết. Chỉ còn phải xem cộng sản, Phật
tử hay các tướng lĩnh của ông ta, ai là người giật dây. Và Washington
quyết định làm gì về tình hình.
3 Giờ Ra Tay
Bắt đầu đếm ngược vụ sát hại Tổng thống Ngô Đình Diệm từ ngày 23
tháng 8 1963, khi một bức điện tối mật Lodge gửi Bộ Ngoại giao yêu
cầu cho biết liệu Washington có bật đèn xanh cho cú đảo chính hay
không. Bức điện trả lời tích cực được thảo ra vào gửi đến Sài Gòn vào
cuối tuần khi Kennedy, Rusk và McNamara ra ngoài thị trấn: các tác giả
của bức điện là Averell Harriman, Roger Hilsman và Michael Forrestal.
Nếu Diệm không chịu cải cách và tống cổ ông em Nhu, họ viết nhân
danh chính phủ Hoa Kỳ, ‘Chúng ta sẵn sàng ám chỉ rõ ràng là chúng ta
không thể hậu thuẫn Diệm hơn nữa. Các ông có thể báo cho các chỉ huy
quân sự thích hợp là chúng tôi sẽ trực tiếp hậu thuẫn họ trong thời gian
chuyển tiếp sau sụp đổ. … Đại sứ … nên khảo sát khẩn cấp mọi ứng
viên lãnh đạo thay thế và lên kế hoạch chi tiết cách thức chúng ta có thể
thay thế Diệm nếu việc này là cần thiết.’
Vào sáng thứ hai, khi Kennedy trở lại Nhà Trắng ông băn khoăn với sự
vô tâm mà chỉ thị trọng đại này – tin điện này là như thế – đã được gửi
đi, bởi các viên chức cấp trung. Ông tham vấn với McNamara và Taylor,
người có chung tiếng nói: họ thích Diệm ở lại, cho dù không có Nhu.
Tuy nhiên, nếu các tướng lĩnh quyết định khác, Hoa Kỳ sẽ hậu thuẫn
một chính quyền quân sự chuyển tiếp. Cuối cùng, Kennedy quyết định
không thu hồi tin điện cuối tuần: cứ để cho Lodge tự quyết định chính
sách. Vị đại sứ sau này cho biết mình như ‘bị sét đánh’. Ông lý giải hoàn
toàn hợp lý bức điện của Washington là mình được lệnh đẩy nhanh sự
sụp đổ của Diệm.
Vào ngày 2 tháng 9 Tổng thống Hoa Kỳ, trả lời một câu hỏi về Việt
Nam trong một buổi phỏng vấn do đài CBS thực hiện với Walter
Cronkite, nói rằng chế độ Sài Gòn cần được hậu thuẫn nhiều hơn: ‘với
sự thay đổi trong chính sách, cá nhân tôi cho rằng (chính quyền) có thể
thắng. Nếu chính quyền Sài Gòn không chịu thay đổi, tôi nghĩ cơ hội
chiến thắng sẽ không nhiều. ‘Kennedy kêu gọi hỗ trợ nhiều hơn – hỗ trợ
thiết thực – từ các đồng minh của Mỹ: ‘Không có gì tốt cho chúng ta khi
nói, “Này, tại sao chúng ta không cứ bỏ đi về nhà và để lại thế giới cho
những kẻ thù của chúng ta.”‘ Ông nói thêm rằng ‘người duy nhất có thể
đánh thắng là nhân dân Việt Nam ‘. Một số sử gia đã lý giải những lời
này chỉ ra Kennedy đã nhận thức được rằng người Mỹ không thể nào
hoàn thành điều mà người Việt không muốn làm cho mình; rằng ông
đang chỉ tay đến một lối ra khỏi cuộc chiến. Điều này nghe có vẻ kỳ
cục: ông ta đang đối diện với cuộc chạy đua tái tranh cử tổng thống, và
có thể thất cử trong vụ Đông Nam Á, giống như Triều Tiên đã hại Harry
Truman vào năm 1952.
Tình hình giờ đang tăng tốc. Miền Bắc đang thăm dò bất kỳ phương
thức nhằm tách Diệm ra khỏi người Mỹ. Với mục tiêu này, Hà Nội khởi
sự lao vào một khúc ngoặt gắt là ve vãn với Sài Gòn, qua các trung gian
Ba Lan và Pháp, sớm đến tai chính quyền Kennedy. Khía cạnh đáng hổ
thẹn nhất của việc Washington bỗng quan tâm đến giải pháp đảo chính
là do sợ Diệm và ông em Nhu có thể tính chước bắt tay với Hồ. Bernard
Fall, người có số độc giả trong nhóm viên chức hoạch định chính sách
bởi vì ông được biết có mối quan hệ tốt đẹp với cả hai bên, báo cáo
rằng, trong trường hợp một đối thoại Bắc-Nam có ý nghĩa, Hồ Chí
Minh sẽ chấp nhận hoãn lại việc thống nhất – ‘một khoảng cách tử tế’,
sử dụng một cụm từ Fall không dùng, nhưng sẽ trở thành trọng điểm của
nhiều nỗ lực hoà bình Đông Dương trong tương lai. Sự thật, cuộc trao
đổi có ít cơ may đem đến kết quả: Lê Duẩn chỉ quan tâm đến việc đạt
được một nước Việt Nam cộng sản, trong khi nhà Ngô bỏ công nuôi
dưỡng một ảo tưởng là mình đang giữ những lá bài tốt – một triển vọng
thắng lợi quân sự đến gần và người Mỹ cần đến mình. Chỉ sự kiện tiếp
xúc giữa hai bên dù sao cũng đánh lên tiếng chuông báo động ở
Washington. Việc chế độ Sài Gòn muốn đàm phán phản ánh sự bất bình
đang tăng lên đối với ông chủ móc ví trả tiền.
Bạn của Tổng thống Kennedy Charles Bartlett sau này cho rằng việc chế
độ Sài Gòn ve vãn Miền Bắc là nguyên nhân chính dẫn đến quyết định
loại bỏ Diệm. Ông trích dẫn một câu nói của tổng thống, ‘Charlie này,
tôi không thể bỏ Việt Nam cho Cộng sản và rồi đi và hỏi (cử tri Mỹ) bầu
lại cho tôi. Dù sao chúng ta cũng phải giữ lãnh thổ đó.’ Nhưng Kennedy
cũng nói thêm, ‘Nhưng chúng ta không có tương lai ở đó. (Dân chúng
Việt) không ưa chúng ta. Họ muốn chúng ta ra khỏi chỗ đó. Đến một lúc
nào đó họ sẽ đá đít chúng ta ra.’ Cuộc trao đổi được kể lại này nghe có
vẻ đáng tin.
Báo động của người Mỹ tăng lên khi tổng thống Pháp Charles de Gaulle
nhúng tay. Nhà dân tộc chủ nghĩa cao to, chống Anh cực lực này thúc
giục nhiều lần Mỹ hãy buông bỏ, cho phép Việt Nam được trung lập.
Washington tin rằng lưu ý của de Gaulle phản ánh sự đố kỵ vì đã thay
thế Pháp tại một nơi trước đây là thuộc địa của mình. Fredrik Logevall
đã viết: ‘Các nhà lên kế hoạch Mỹ sẽ mất nhiều thời gian bàn luận về
hành động và ý tưởng của các lãnh đạo Pháp, nhưng chỉ để nghĩ cách tốt
nhất để làm ngược lại. Nội dung các lập luận của ông không được khảo
sát tường tận lúc đó hoặc sau này, một phần bởi vì nó là sự nguyền rủa
đối với các viên chức Mỹ, và một phần bởi vì họ tin rằng ông ta có các
động lực giấu kín.’
Walter Lippmann cảnh báo trong chuyên mục của ông vào ngày 3 tháng
9: ‘Nếu không có giải pháp như các đề nghị của de Gaulle, thế thì điều
còn lại chỉ là một cuộc chiến tiêu hao kéo dài bất phân thắng bại.’ Nhà
bình luận thâm niên này trong những năm tháng đó viết nhiều về Đông
Dương hơn mọi đề tài nào khác. Ông tin rằng điều tốt nhất người Mỹ có
thể mong đợi là một kết quả kiểu Tito, theo đó một Việt Nam thống nhất
trở thành một nước cộng sản, nhưng không phải là công cụ của Trung
Quốc và Liên Xô. Lippmann lập luận hàm ý rằng Hồ Chí Minh không
thể nào bị đánh bại trên chiến trường, và rằng giải pháp tốt nhất có thể là
săn đón ông bằng đô la. Điều này là khó tin: dường như không có lý do
để tin rằng Lê Duẩn, một con người chuyên tâm quá khích hết lòng chỉ
biết có cách mạng như Robest Pierre của Cách Mạng Pháp, có thể bị
mua chuộc để điều hành một chính quyền nhân đạo và ôn hòa nếu ông
được trao quyền bá chủ một nước Việt Nam thống nhất vào năm 1963,
hơn là được trao sau năm 1975. Nhưng điều đó không làm giảm đi giá trị
của luận đề Lippmann, rằng người Mỹ không thể khống chế bằng lực
lượng vũ trang.
Vào ngày 13 tháng 9 Chester Cooper của NSC (Hội đồng An ninh Quốc
gia) viết từ Sài Gòn gửi cho đồng nghiệp CIA cũ của ông John McCone,
nói rằng ông cho rằng một sự tiếp cận ngoại giao giữa chế độ Diệm và
Hà Nội, liên quan đến việc tống khứ người Mỹ, đang mở ra. Đây là nỗi
đắng cay đã khiến cho chính quyền Mỹ muốn để mặc cho Lodge xúi
giục các tướng lĩnh Sài Gòn can thiệp. Vị đại sứ không chần chừ khai
thác quyền hành mà Nhà Trắng uỷ thác cho mình. Thật khó để xúi giục
các quân nhân có ảnh hưởng mà ông đến tiếp cận ra tay – các tướng
Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn, Lê Văn Kim, Trần Thiện Khiêm.
Colby của CIA, vốn ghét Lodge và chống đối mạnh mẽ hành động
chống lại một lãnh đạo quốc gia Việt Nam cũng là một con chiên Thiên
Chúa giáo sùng đạo như mình, sau này viết: ‘Gần như thiếu vắng hoàn
toàn sự cân nhắc và đánh giá các nhân vật có thể kế nhiệm Diệm, ngoài
giới quân sự.’ Các sĩ quan Miền Nam do dự việc lật đổ Diệm không phải
là vô lý, trừ khi hoặc đến khi họ tin chắc lực lượng họ đủ mạnh, tức phải
cần đến sự hậu thuẫn rõ ràng và vững chắc của Hoa Kỳ. Họ hiểu rằng
mình không thể trông đợi điều gì từ trên giấy tờ của sứ quán, và không
muốn liều mạng chỉ vì những bảo đảm từ miệng của người mà sau đó
hoạt động như một sĩ quan liên lạc giấu mặt giữa Lodge và các chỉ huy
quân đội.
Một ít năm sau các sự kiện này, các mật vụ đang theo dõi một quán ba
có liên can đến hoạt động buôn lậu ma túy xuyên Đại Tây Dương
khủng được biết dưới tên ‘Đường Dây Ma Túy Pháp ‘. Đội giám sát
bỗng giật mình nhận diện ra được Conein trong số những tên bạn găng
tơ người Corse thời OSS của ông đang có mặt, tay bắt mặt mừng. Tuy
nhiên Frank Scotton lập luận rằng bên dưới tư thế của Conein là kẻ gian
hùng hoặc tên hề, tên vô lại này có thể làm việc hiệu quả để hoàn thành
nhiệm vụ được giao phó, nghĩa là vào tháng 10 1963 móc nối chính
quyền Mỹ ưng thuận lật đổ Diệm với các tướng lĩnh Việt sẽ biến nó
thành hiện thực.
Lodge bực mình vì sự chậm lụt của nhóm âm mưu, ông gắt gỏng viết,
‘không có ý chí cũng không có tổ chức… để hoàn thành việc gì cả’.
George Ball sau này lập luận rằng bức điện August Harriman/Hilsman
không tác động trong việc tiếp thêm sinh lực cho các tướng lĩnh cho
bằng bài nói chuyện trên TV của Kennedy hai tuần sau đó cảnh báo
rằng Hoa Kỳ sẽ rút lại viện trợ trừ khi Sài Gòn thay đổi đường lối. Nhiều
người Miền Nam, cả quân nhân hay dân sự, cảm nhận được sức hậu
thuẫn Diệm đã xẹp đi. Trung uý Nguyễn Công Luận là một người chống
cộng cực lực và cũng không ưa chính quyền: ‘Các đồng đội của tôi cũng
như tôi đều tin rằng cần phải đưa các lãnh đạo mới lên cầm quyền để
Miền Nam có thể đương đầu hiệu quả với cộng sản và trở thành một
nước có đầy đủ tự do và dân chủ như Hoa Kỳ’. Họ đã phấn chấn khi nhà
độc tài Lý Thừa Vãn của Nam Hàn bị buộc ra khỏi chức vụ vào năm
1960. ‘Chúng tôi tin tưởng rằng nếu bên chúng tôi chứng tỏ có đủ quyết
tâm và sức mạnh để làm một cuộc đảo chính, người Mỹ sẽ phải hậu
thuẫn chúng tôi.’ Tổng thống Kennedy giờ làm rối vấn đề khi phái
McNamara và Taylor một sứ mạng tìm hiểu sự thật trong 10 ngày, bắt
đầu vào 25 tháng 9. Họ trở lại hoang tưởng về ‘tiến bộ vượt bậc’ trên
chiến trường, trong khi than phiền về tính không khoan nhượng của
Diệm. Họ đã thăm dò một cách vô ích tin tức về âm mưu đảo chính
được cho là sắp bắt đầu. Khi Tướng Dương Văn Minh, biệt danh Big
Minh, lãnh đạo nhóm âm mưu đảo chính, không nói gì quan trọng với
Taylor trong một ván quần vợt tại Saigon’s Cercle Sportif (Câu Lạc Bộ
Thể Thao Sài Gòn, bên cạnh Tao Đàn ngày nay), người Mỹ tưởng rằng
kế hoạch chắc đã thất bại. Ông và McNamara tuy vậy vẫn kết luận rằng
thắng lợi quân sự vẫn có khả năng hiện thực, chỉ nếu chính quyền Sài
Gòn có thể sắp xếp lại. Tức là cần phải loại bỏ nhà Ngô.
Nhà Trắng đánh điện Lodge vào ngày 2 tháng 10, nhấn mạnh rằng khả
năng có thể khước từ là tất cả: ‘Giờ không nên chủ động xúi giục
ngầm cú đảo chính. Tuy nhiên, phải nỗ lực cấp bách … để nhận diện và
xây dựng mối liên lạc với giới lãnh đạo thay thế có thể khi điều này xuất
hiện.’ Ba ngày sau Lodge thông báo cho tổng thống cú đảo chính dường
như cuối cùng cũng chắc chắn xảy ra. Conein và Minh gặp nhau trao đổi
vài lần bằng tiếng Pháp trong một biệt thự thuộc địa cổ tại phức hợp
quân đồn trú ở Sài Gòn. Minh nói rằng yêu cầu duy nhất không thể
thương lượng của ông là người Mỹ bảo đảm sẽ tiếp tục viện trợ. Ông
cảnh báo với Conein thời gian là yếu tố cấp thiết: âm muu của ông chỉ là
một trong vài toan tính cạnh tranh khác. Hôm đó một nhà sư khác tự
thiêu đến chết.
Báo cáo của Conein khiến Lodge dặn dò với Washington rằng ông chỉ
cần cho Minh một đảm bảo rằng Hoa Kỳ ‘sẽ không ngăn cản’ sự thay
đổi chế độ. Kennedy đồng ý, mặc dù cảnh báo rằng người Mỹ không
được tham gia tích cực vào tiến trình đảo chính . Tâm trạng Sài Gòn
hiện giờ như lên cơn sốt, với tin đồn khắp nơi về một mối đe dọa đang
đến gần Diệm. Điều này có tác dụng báo động các tướng lĩnh Việt, một
lần nữa bước lùi khỏi bờ vực.
Lodge cảm thấy buộc phải đuổi việc trưởng CIA khu vực John
Richardson, người cùng chia sẻ với Paul Harkins sự hoài nghi về việc lật
đổ Diệm.
Rồi Nhu tăng cường chiến dịch đàn áp chính trị, và công khai nói xấu
người Mỹ đã chúi mũi vào. Sau cuộc chiến, các quan chức cộng sản cao
cấp nhận xét rằng đây có thể là một thời điểm lý tưởng để xúi giục một
cuộc tổng nổi dậy: Miền Nam đã mất ổn định và dễ bị tổn thương; gần
như mọi người đều ghét nhà Ngô. Tuy nhiên, Trung ương Cục Miền
Nam chỉ duy trì chiến tranh du kích, trong khi ở Sài Gòn các tướng lĩnh
mặc cả cho sự hậu thuẫn từ các đơn vị chủ lực. Lou Conein ra sức giữ
cho các người âm mưu bám đúng lộ trình qua cuộc trao đổi vỗ về với
Tướng Đôn tại phòng khám nha khoa chung của họ, trở thành nơi an
toàn để gặp gỡ.
Vào ngày 26 tháng 10, ngày Quốc Khánh, Diệm lên thăm khu an dưỡng
trên đồi ở Đà Lạt. Trong tâm trạng bồn chồn, phi cơ ông đi sau một phi
cơ C-47 chim mồi giống hệt nhưng trống rỗng, và tất cả súng trường của
đội lính dàn chào danh dự đều được thanh tra để bảo đảm không có đạn.
Tổng thống có lịch họp với đại sứ Hoa Kỳ, và Frank Scotton được giao
nhiệm vụ tra hỏi một liên lạc người Việt trong đường dây âm mưu, để
biết liệu Lodge có thể vào phòng khách của tổng thống mà không bị ăn
đạn hay không. Khi nhân viên USIA nhận được cái gật đầu cần thiết: các
tướng lĩnh chưa sẵn sàng ra tay. Chuyến viếng thăm, và cuộc họp của
Diệm với ngài đại sứ xảy ra không gặp sự cố gì.
Tại Washington, sự chia rẽ vẫn tiếp tục. Phó tổng thống Lyndon Johnson
chỉ tác động một ảnh hưởng nhỏ, nhưng khăng khăng chống đối việc
loại bỏ nhà Ngô. Là một người chống cộng từ gan ruột, ông nhìn thách
thức chỉ là việc xoay sở đánh bại VC về mặt quân sự. Vào ngày 29 tháng
10 Kennedy họp Hội đồng An Ninh Quốc gia để thảo luận về một bức
điện của Harkins, bày tỏ mong muốn hợp tác với nhà Ngô: ‘Đúng hay
sai, chúng ta đã hậu thuẫn Diệm tám năm ròng. Theo tôi dường như
không thích hợp để lôi ông xuống, đá ông đi và loại bỏ ông.’ Thông điệp
này lay động Robert Kennedy, và ông quả quyết là một cú đảo chính giờ
đây có vẻ liều lĩnh.
Cố vấn Hội đồng An Ninh Quốc gia McGeorge Bundy gửi một bức điện
khác đến Lodge, phản ánh mối ngờ vực mới của tổng thống. Nhưng vị
đại sứ đã trở nên quyết tâm muốn nhìn âm mưu tiến triển: ông không hề
chuyển tải lời nói nước đôi với các tướng lĩnh Việt hoặc đến Lou
Conein. Vào ngày 1 tháng 11 người nhân viên OSS cũ này đến bộ tư
lệnh quân đội theo đúng hẹn, mặc quân phục, mang theo một khẩu súng
lục .357 cùng với $US 40,000 tiền mặt, mà ông coi là các món phụ tùng
thích hợp cho công việc buổi chiều lật đổ một chính quyền. Ông để vợ
và con cái ở một biệt thự có lính Mũ Nồi Xanh bảo vệ, và điện đàm từ
xe jeep một tín hiệu đã thỏa thuận trước cho các cấp trên của mình cho
biết chiến dịch đang bắt đầu: ‘Chín, chín, chín, chín, chín.’ Binh lính nổi
loạn tiến hành tấn công vào dinh Diệm, nơi tổng thống và ông em đang
trú ẩn dưới hầm. Tại Sài Gòn nhóm âm mưu bắt giữ và bắn chết vài sĩ
quan trung thành với nhà Ngô. Lúc 4:30 p.m. Diệm điện thoại cho
Lodge nhờ giúp đỡ, và chỉ nhận được lời hứa đưa ra nước ngoài bình
yên.
Nhóm âm mưu điện thoại cho tổng thống, thúc giục ông từ chức để đổi
lấy mạng sống. Thay vào đó ông liên lạc với đám thân tín, cố vơ vét sự
hậu thuẫn nhưng không bao giờ đến.
Lúc 8 giờ tối đó Diệm và Nhu thử một nước cờ tuyệt vọng, lẻn ra khỏi
dinh và lái đến Chợ Lớn qua các đường phố vắng tanh, thách thức lệnh
thiết quân luật do phe đảo chính áp đặt. Cả hai trú ẩn trong một ngôi nhà
mà Nhu đã chuẩn bị cho tình huống khẩn cấp như thế, với hệ thống liên
lạc của riêng nó: họ đang ở Chợ Lớn khi binh sĩ nổi dậy bắn pháo và
cuối cùng tràn vào dinh, tấn công đám binh sĩ bảo vệ kháng cự đến chết
để bảo vệ cho một Diệm vắng mặt. Chỉ sau vài giờ đánh nhau tòa nhà
đổ nát bị chiếm, rồi bị cướp bóc mọi thứ từ áo ngủ của bà Nhu đến bộ
sưu tập tranh khôi hài đầy ấn tượng của Diệm.
Lúc 6 a.m. ngày 3 tháng 11, Diệm bơ phờ điện thoại cho Big Minh và
chịu thương thảo các điều kiện từ chức. Các tướng lĩnh bác bỏ đề
nghị, cũng như sự gợi ý là ông nên được phép rời đất nước với danh dự
dành cho vị nguyên thủ. Nhiều phút sau đó, Diệm gọi một lần nữa: ông
và em ông đã quyết định đầu hàng vô điều kiện, và xin đến rước tại St
Francis Xavier, nhà thờ Huyện Sĩ ở Chợ Lớn. Các tướng lĩnh, không
biết phải làm gì với vị tổng thống bị sa thải của mình, quay sang hỏi
ý Lou Conein. Ông nói sẽ mất 24 giờ để xin được một máy bay Mỹ chở
Diệm ra đi, và họ còn phải tìm một xứ sở muốn đón nhận ông.
Các tướng lĩnh phái một cựu mật vụ đi đón Diệm và Nhu từ Chợ Lớn
trong một xe thiết giáp M-113 APC. Trong nhóm đi đón còn có Đại úy
Nhung, cận vệ thân tín của Minh. Người ta cho rằng Minh đã ra dấu kín
đáo với y – hai ngón tay giơ lên – để chỉ các tù nhân phải bị giết. Nhung
cũng đã hành hình hai người trung thành với Diệm vào đêm trước. Tại
nhà thờ, anh em Diệm bắt tay với các thành viên hộ tống và bị họ đẩy
lên xe với lời trấn an là dùng thiết giáp để bảo vệ chống các ‘phần tử quá
khích’. Trên đường trở về Sài Gòn, đoàn xe nhỏ dừng lại một giao lộ khi
có tàu hỏa chạy cắt ngang. Tại đó, một sĩ quan xả súng máy vào hai
hành khách. Thiết giáp, đầm đìa máu, sau đó tiếp tục đến văn phòng
Minh tại Bộ tư lệnh quân đội, tại đó người của ông thông báo ngắn gọn,
‘Mission accomplie.’ (Tiếng Pháp có nghĩa ‘Sứ mạng hoàn thành’: ND).
Vị tướng bảo với Conein rằng Diệm đã tự tử, rồi hỏi, ‘Ông có muốn
xem ông ta không?’ Tuyệt đối không, người Mỹ trả lời: có ‘cơ may một
phần triệu ‘thiên hạ sẽ tin câu chuyện của phe đảo chính, và ông không
muốn bị bổi rối khi giáp mặt với sự thật.
Một giảng viên tại Hội đồng Anh bỗng thấy mình đi nhận diện thi thể
Diệm và Nhu tại bệnh viện St. Paul, bởi vì ông kết hôn với người cháu
của vị tổng thống quá cố. Diệm dường như bị bắn một phát ngay cổ, còn
Nhu bị nhiều phát ngay lưng. Lodge triệu tập các vị tướng đến sứ quán
Mỹ, tại đó ông khen ngợi cú đảo chính ‘thành công về mọi mặt’, rồi gửi
một bức điện hồ hởi về Washington: ‘Viễn ảnh bây giờ là dành cho một
cuộc chiến ngắn ngày hơn.’ Có những cuộc ăn mừng tại Sài Gòn và các
thành phố khác, ảnh của nhà độc tài bị hạ bệ bị lôi xuống một cach hân
hoan khỏi bức tường các công sở. Hàng trăm tù nhân chính trị, một số
còn hằn dấu vết bị tra tấn, được trả tự do. Một ký ức không thích hợp
vẫn còn vương vấn trong tâm trí nhiều người Sài Gòn: lệnh cấm khiêu
vũ, do bà Nhu áp đặt được cho là nhân danh đạo đức công
cộng, được bãi bỏ. Hàng ngàn người khiêu vũ, nói một cách hình
tượng, trên mộ nhà Ngô.
Neil Sheehan và một số đồng nghiệp nhà báo phát hiện một lóe hi vọng
hão huyền: ‘Nếu bạn bám vào Diệm, bạn sẽ đánh thua cuộc chiến.
Chúng tôi nghĩ, nếu họ được một chế độ quân sư tốt đẹp, họ còn có cơ
hội.’ Tướng Dương Vân Minh nắm quyền lãnh đạo Hội đồng quân nhân
kiểm soát chính quyền Miền Nam. Ở London tờ Times báo cáo vào
ngày 5/11: ‘Sài Gòn như nhấc khỏi một gánh nặng. Đường phố chật ních
như thể chưa bao giờ chật ních người đến thế. … Hàng ngàn Phật tử ùa
vào chùa Xá Lợi để dự lễ cầu nguyện trong hoan hỉ. Một thông tín viên
đặc biệt nói thêm: ‘Việc một vài thành viên trong hội đồng tướng lĩnh có
khuynh hướng thân Mỹ … sẽ khiến cho họ đi theo chế độ dân chủ.’
John F. Kennedy đang tham dự buổi họp với Max Taylor khi nhận được
thông tin về cái chết của Diệm. Vị tướng ghi nhận tổng thống ‘chạy vội
ra khỏi phòng với vẻ mặt rất sốc và hốt hoảng’. Các tướng lĩnh Miền
Nam hẳn sẽ không dám loại Diệm nếu họ không được bảo đảm đây
chính là ý muốn của Mỹ. Không có ai cảnh báo họ nghiêm ngặt là không
được giết Diệm.
Đôi khi có lập luận cho rằng chế độ Diệm có thể đã cải cách và sống
được; rằng vị tổng thống quá cố là nguyên thủ quốc gia và độc lập cuối
cùng. Phi công chiến đấu cơ KLVN Trần Hội nói, ‘Tôi cho là người Mỹ
đã sai khi hạ bệ ông. Ông ta là một người yêu nước thực sự.’ Một số
người Miền Nam biết suy nghĩ tôn trọng các nỗ lực của Diệm, tuy bị
phán xử là sai lầm, trong việc theo đuổi chính sách của riêng mình thay
vì chỉ làm theo lệnh của người Mỹ. Một sĩ quan không lực khác, Nguyễn
Văn Úc, nói: ‘Diệm biết rằng nếu (quân tác chiến Mỹ) bước vào, người
cộng sản sẽ vịn vào đó để nói mình đang chiến đấu chống cuộc thống trị
của đế quốc. Một sĩ quan hải quân đồng ý: ‘Sau khi Diệm chết, ở Miền
Nam không còn chính trị thực sự nào cả.’
Tài liệu cho thấy chế độ đã thối rữa đến tận xương tuỷ, và không nhận
được sự ủng hộ của đa số quần chúng. Vậy mà cách thức mà vị tổng
thống bị khử, giống như một hoàng đế La Mã bị đám Cận vệ hạ thủ,
tung một quả đấm làm tê liệt và chắc chắn không thể cứu chuộc được
vào tư thế đạo lý của Mỹ ở Đông Nam Á. Các tham mưu trưởng Mỹ
khiếp đảm, gọi sự kiện là ‘Vịnh Con Heo Á châu’. Frank Scotton nói,
‘Giết Diệm là một sai lầm thảm họa.’ Ông bảo với các xếp cho rằng tìm
thấy triển vọng của một khởi đầu mới mẻ: ‘Một số các tướng lĩnh này
cũng đáng quý, nhưng liệu có ai trong số họ có kỹ năng lãnh đạo hành
chính hoặc chính trị dù nhỏ nhất nào không? Giờ đây khi cuộc đảo chính
đẫm máu được nhìn nhận, bất kì ai có đến hai xe tăng đều tin mình có
quyền thay đổi chính quyền.’ David Elliott đã đến Việt Nam ‘tin tưởng
rằng chúng ta đã làm điều đúng đắn. Nhưng chẳng bao lâu tôi chợt tin
rằng thay vì ủng hộ đảo chính đáng ra chúng ta nên đối mặt với sự thật
là giữa chúng ta và đồng minh không có mục đích chung. Lẽ ra chúng ta
nên ra đi.’ Một người Úc sau này làm việc ở Việt Nam viết: ‘Điều người
Mỹ không biết là họ không thể áp đặt “dân chủ” lên Miền Nam. Đối với
người Mỹ hậu thuẫn bất kì chính quyền nào đều làm nó phá sản.’ Một
người được Ed Lansdale bảo trợ, sĩ quan CIA Rufus Phillips, nói về vụ
giết Diệm, ‘Tôi muốn ngồi xuống và khóc . . . Đó là một quyết định ngu
ngốc và, trời ạ, chúng ta sẽ phải trả giá, họ phải trả giá, mọi người phải
trả giá.’ Cựu đại sứ Sài Gòn Fritz Nolting từ chức Bộ Ngoại giao để
phản đối.
Vào ngày 22 tháng 11 1963, vị tổng thống Hoa Kỳ 46 tuổi bị ám sát tại
Dallas. Thậm chí khi thế giới than khóc, nút thắt về điều riêng tư của Mỹ
đối với bí ẩn của những gì xảy ra ba tuần trước ở Sài Gòn phản ánh sự
tương xứng phũ phàng. Kennedy được kế vị bởi vị phó tổng thống của
ông, một người có năng khiếu chính trị đáng kể, phần nhiều sau này đều
bị quên lãng khi Lyndon Johnson mang xuống mồ ác mộng khủng khiếp
của Việt Nam. Vào những ngày đầu đó, ít người bên ngoài nước Mỹ biết
gì về vị tổng thống mới của mình. Ở London tờ Times nhận xét với sự
hoài nghi hiển nhiên: ‘Trên sân khấu thế giới ông hình như vô danh.’
Arthur Schlesinger viết một cách thô bạo: ‘Ông hiểu biết ít và vậy mà
dường như không thích bổ sung kiến thức, chẳng hạn, bằng cách nói
chuyện với người nước ngoài.’
Cả dòng thác mực đã bỏ ra để ước đoán về lộ trình mà John F. Kennedy
có thể đã theo đuổi ở Việt Nam, nếu không có các viên đạn ở Texas.
William Colby của CIA nghĩ rằng ông ắt sẽ nhận ra nhu cầu cho một
chiến lược chính trị, như một điều kiện tiên quyết cho bất kì việc gửi
binh sĩ Mỹ nào. Tùy viên Nhà Trắng Kenny O’Donnell sau này tuyên bố
rằng đã nghe tổng thống nói kết quả lý tưởng sẽ là chế độ Sài Gòn yêu
cầu người Mỹ rút đi. Quốc vương xứ Camelot có thể đã duy trì một sự
đưa quân có giới hạn, mà không phải gửi đi đến nửa triệu người. Robert
McNamara xác nhận rằng Kennedy hẳn sẽ ra khỏi cuộc chiến một khi
cuộc tái cử 1964 thành công. Tuy nhiên, nhà viết tiểu sử ngài bộ trưởng
quốc phòng lưu ý rằng ông bày tỏ niềm tin này chỉ khá lâu sau đó.
Chứng cứ dường như tràn ngập cho rằng suy nghĩ của tổng thống bị
khống chế bởi những yêu cầu cho chiến dịch tái tranh cử sắp đến. Vào
mùa xuân trước ông đã bảo với Thượng nghị sĩ Mike Mansfield rằng
ông ủng hộ việc rời bỏ Việt Nam, nhưng không thể làm thêm trước cuộc
bầu cử. Vào ngày 22 tháng 11 (ngày ông bị ám sát) tại Dallas Trade
Mart, Kennedy theo thời khóa sẽ nói: ‘Chúng ta trong đất nước này vào
thời đại này là những người lính canh cho tự do … Sự hỗ trợ của chúng
ta cho … các quốc gia có thể là đau đớn, liều lĩnh, và tốn kém, như
đúng thực ở Đông Nam Á hiện nay. Nhưng chúng ta không mệt mỏi vì
nhiệm vụ ấy.’ J.K. Galbraith nhớ lại: ,’Tôi nghe (Kennedy) nói nhiều
lần … “Đúng là có quá nhiều nhượng bộ mà người ta có thể làm đối với
Cộng sản trong một năm mà vẫn sống còn về mặt chính trị.”‘
Sự ngưỡng mộ hiện đại đến nín thở thường che khuất sự kiện là vào giữa
tháng 11 1963, vị thế trên thế giới của Kennedy thì thấp. Tờ London
Times đăng bài chính luận vào ngày 12 trước vụ Dallas, về một ‘cảm
nhận của sự tê liệt’ bao trùm chính quyền Hoa Kỳ, về ‘sự bất mãn tổng
quát’ đối với hoạt động của nó, phản ánh trong các thất bại về chính sách
trên vài lục địa. ‘Vì nguyên do nào đó, hành pháp Mỹ trở nên ngày càng
bất lực trong việc tạo ảnh hưởng lên các sự kiện trong nước hoặc ngoài
nước.’ Dường như không thể tin là Kennedy sẽ dám hành động theo một
phương cách khiến mình dường như yếu hẳn trước khi đến tháng 11
1964 là mùa tranh cử. Sau khi tái đắc cử, ông có thể thể hiện tính dũng
cảm đạo lý mà Lyndon Johnson không có, để giảm bớt thiệt hại cho
nước Mỹ – nhưng ông ắt hẳn sẽ không làm thế.
Chính sách về Việt Nam của Kennedy chịu cùng sự thiếu thốn nền tảng
như thiếu sót của mọi tổng thống khác trong khoảng 1945 và 1975: nó
bắt rễ trong những yêu sách của chính trị nội bộ, hơn là trong cách đánh
giá hiện thực các lợi ích và nguyện vọng của nhân dân Việt
Nam. Kennedy là một người đủ thông minh và nhạy cảm – cứ xét sự
hoài nghi trước đây của ông về Đông Dương thì rõ – để nhận ra tính
không chắc chắn của thắng lợi quân sự của Mỹ tại đó. Tuy nhiên, trong
khí hậu Chiến tranh Lạnh, lúc đó rất lạnh, chi phí ở lại Miền Nam đối
với Nhà Trắng thời Kennedy có vẻ thấp hơn chi phí để thế giới nhìn thấy
mình bỏ cuộc, thất bại, thua trận, dâng điều tốt nhất cho người cộng
sản. Tổng thống lẫn Robert McNamara không ai nắm được chiều sâu
của nhược điểm tiềm năng của Việt Nam cho đất nước mình.
Vào cuối năm 1963 chính quyền Sài Gòn không hiện diện xương thịt
trong một vài khu vực ở đồng bằng Cửu Long, được cộng sản gọi là
‘Vùng 20/7’ – ngày ký Hiệp định Geneva – và ‘những khu giải phóng’
như thế phát triển nhanh chóng trong tình hình hoang mang theo sau cái
chết của Diệm. Sĩ khí của binh sĩ Miền Nam suy sụp, thậm chí những
đội hình được cho là tinh nhuệ cho thấy không muốn giao tranh với
địch. Chương trình Ấp Chiến Lược sụp đổ. Với sự bất ngờ đáng kinh
ngạc, trên khắp những vùng rộng lớn của đất nước, MTDTGP cho thấy
mình là bên đang thực sự lèo lái.
Người Mỹ thích thú nghe một đối thoại có tính khôi hài đen được cho là
giữa Lodge và Big Minh, trong đó ngài đại sứ thúc giục vị tướng xúc
tiến trấn an dân chúng giống như Lyndon Johnson đã làm trong bài diễn
văn được truyền hình sau vụ ám sát Kennedy.
Minh nói: ‘Tốt lắm. Hãy cho chúng tôi TV.’
Sự rơi đài của Diệm đưa đến kỳ họp khẩn cấp của uỷ ban trung ương,
khởi đầu vào ngày 22 tháng 1. Hồ Chí Minh kêu gọi ôn hòa, nhưng phe
diều hâu bác bỏ đề nghị này: có việc chưa được khẳng định cho rằng ông
xồng xộc bỏ ra ngoài, bực tức hoặc chán nản. Một thái độ như thế có vẻ
không giống tính ông, cho dù một tháng sau đó ông được cho là đã bảo
với đại sứ Xô viết là mình sắp sửa thôi làm chính trị. Điều chắc chắn là
kỳ họp đó đánh dấu sự kết thúc ảnh hưởng quan trọng của ông trong các
sự kiện – mặc dù trong con mắt của thế giới ông vẫn là hiện thân cho đất
nước mình – và khẳng định Lê Duẩn là quyền lực trước nhất ở Hà
Nội, với Lê Đức Thọ phụ tá có tầm ảnh hưởng nhất của ông. Lê Duẩn
thừa hưởng một lợi thế vượt trội với địch thủ mình cả trong nước lẫn ở
Hoa Kỳ: ông là tay chơi quan trọng duy nhất có mục tiêu rõ ràng và
không dao động – để tạo ra một Việt Nam thống nhất, theo đường lối
Stalin.
Cần lưu ý rằng không tới 30 năm trước khi đế chế Xô viết sụp đổ, ông
không biết chút xíu gì về sự thất bại lịch sử của mô hình kinh tế của nó.
Mối quan hệ với Bắc Kinh – giờ Stalinit hơn cả Xô viết của Stalin – đã
trở nên thân thiết hơn: vào ngày 2 tháng 8 tại Bắc Kinh, người Trung
Hoa ký một hiệp ước hứa hẹn sẽ hậu thuẫn quân sự trực tiếp cho Miền
Bắc trong trường hợp Mỹ xâm lăng. Liệu Mao có tôn trọng hiệp ước
này hay không là điều cần tranh cãi, nhưng vào mùa thu 1963 hiệp ước
củng cố mạnh mẽ cánh tay của Lê Duẩn và các đồng chí cùng phe với
ông trong bộ chính trị. Chủ tịch Trung Quốc Lưu Thiếu Kỳ, đến thăm
Hà Nội, đưa ra lời động viên tích cực cho cuộc đấu tranh giải phóng
Miền Nam hơn bất cứ lãnh đạo Bắc Kinh nào gần đây. Vũ khí Trung