kỳ đạt nhiều thành tựu ở trong nước để rồi bị nhấn chìm dưới Đống Bùn
Lớn Đông Nam Á. Các địch thủ của ông, giống như Kennedy Arthur
Schlesinger thân thiết, dán cho quyết định bỏ cuộc của ông là ‘thái độ
hèn nhát chính trị’, bởi vì ông ta đã đâm ra tin – như Harry Truman sau
cuộc bầu cử sơ bộ sơ bộ New Hampshire 1952, trong thời kỳ chiến tranh
Triều Tiên – rằng mình sẽ bị đánh bại trong ngày bầu cử.
Tổng thống Eisenhower bày tỏ sự khinh thị trong nhật ký của mình:
‘Theo tôi dường như rõ ràng là Tổng thống đang tuyên chiến với chính
mình và trong khi năng nổ bảo vệ các hành động và quyết định mình đã
làm trong quá khứ, và thúc giục quốc gia theo đuổi những mục đích đó
bằng mọi giá, thì ông lại muốn thoái thác gánh nặng của chức vụ.’
Nhiều người móc nối tuyên bố thoái vị của tổng thống với sự bẽ mặt do
cuộc công kích Tết gây ra. Thật ra, trong nhiều tháng nay Johnson đã
suy ngẫm về việc thoái lui. Dù sao thì không thể tranh cãi là Việt Nam
đã bẻ gãy tinh thần ông. Ông đã trở thành một đối tượng của căm thù và
chế giễu đối với nhiều người, nhất là giới trẻ Mỹ, vì những trò lừa dối,
thất bại, và giết chóc mà hầu hết đổ tội cho ông, thay vì cho kẻ thù của
quốc gia. Đây quả là thắng lợi của Hà Nội; đây quả là kết quả giúp Lê
Duẩn có thể leo lên một núi xác chết mới do sáng kiến quân sự điên
cuồng của mình và chào mừng Tết như là một ‘cú đấm sát thủ’. Dường
như không ai lưu ý đến chủ nghĩa anh hùng Mỹ vốn cuối cùng đã khuất
phục bọn tấn công, 15 Huy chương Danh Dự ban thưởng cho những
binh sĩ đã tiễn kẻ chiếm đóng tiềm năng ra khỏi Sài Gòn, những tên giết
người tập thể ở Huế.
Dean Rusk buồn rầu nhìn nhận: ‘Đó là một thắng lợi chính trị của người
cộng sản ngay tại Hoa Kỳ. ‘
Trần Bạch Đằng của MTDTGP cho rằng tổng công kích Tết có vai trò
quyết định trong việc cưỡng bách người Mỹ phải xuống thang chiến
tranh – ‘không thể đánh giá khác được’. Từ đó về sau quyền hành và
tiếng tăm lịch sử của Lê Duẩn vững chắc bên trong đất nước của mình.
Vào ngày 5 tháng 4 1968 ngoại trưởng Miền Bắc bảo với phỏng vấn
viên đài CBS Charles Collingwood – Walter Cronkite đã từ chối giấy
visa do Hà Nội cấp, phán đoán đúng đắn là nhận lời chỉ là tặng một cú
tuyên truyền cho phía bên kia – rằng đất nước ông sẵn sàng đối
thoại. Tổng thống bổ nhiệm Averell Harriman cầm đầu phái đoàn
thương thuyết Mỹ . Mặc dù cuộc chiến còn tiếp tục đến 7 năm – 7 năm
nữa – sự thảm bại của Miền Bắc không còn là một kết luận hợp lý nữa.
CHƯƠNG 20 : TIẾP TỤC TÁI ĐẤU
1 Chết
Sau biến cố Tết, thời cơ của phe cộng dường như xuống thấp. Hết lần
này đến lần khác, Hoa Kỳ và QĐVNCH đánh tơi tả các đơn vị VC. Một
buổi sáng trong vùng châu thổ, một nhóm chỉ huy du kích đi vào làng
Mỹ Lộc để rồi chạm trán với một cuộc càn quét của Mỹ. Pháo giết chết
một cậu thiếu niên 17 tuổi tên Khang, con trai một cán bộ VC. Người
cha tội nghiệp này viết: ‘Tôi ngồi cạnh thi thể mà cõi lòng tan nát, và nói
với nó như thể nó còn sống: “Hãy yên nghỉ, con trai, con đã làm tròn
bổn phận đối với cách mạng.”‘ Trong những năm sau đó, hai em trai của
cậu cũng gia nhập VC. Bà mẹ nhún vai cho rằng nếu chúng không chiến
đấu cho phe này, chúng cũng sẽ bị phe kia gọi vào lính, và như vậy hóa
ra cha con bắn giết nhau. Ông viết: ‘Tôi không thể đếm hết số phụ nữ
mất cả 3, 4, thậm chí 7 hay 8 con trai hay gái làm thánh tử đạo cho lý
tưởng chúng tôi.’
Vào tháng 5 1968, lệnh từ Trung ương Cục Miền Nam tiến hành các
cuộc tấn công mới vào quận lỵ và thành phố khuấy động không mấy
nhiệt tình. Các cán bộ phàn nàn họ chưa nhận được đồ tiếp tế hoặc vũ
khí mới, thay vào đó chỉ được kêu gọi tái tục các sứ mạng hồi tháng 2
trong đó các đồng chí đã hy sinh quá nhiều xương máu. Các nhóm tấn
công Sài Gòn được thúc giục ‘mang lửa chiến tranh vào tận hang ổ của
kẻ thù ‘, nhưng Huỳnh Công Thân nhớ lại: ‘Chúng tôi bước vào đợt
sóng công kích Tết thứ hai cảm giác như mình là các toán quân tự sát.’
Vào đêm 5 tháng 5, các lực lượng VC tiến lên từ phía bắc và đông bị
QĐVNCH và lực lượng Mỹ ngăn chặn ngoài ngoại vi thủ đô, trong khi
các lực lượng phía tây và nam bị khóa chặt trong các trận chiến đường
phố và nhanh chóng thảm bại. Đến ngày thứ 7, Thân nói, ‘chúng tôi
nhận ra rằng tình hình đã trở nên cực kì bất lợi … Tôi còn không hiểu tại
sao chúng tôi phải tấn công các thành phố một lần nữa, khi cán cân lực
lượng đã nghiêng quá nặng về phía địch … Điều gì khiến các lãnh đạo
của chúng tôi tin rằng hàng triệu người đang sôi sục nhiệt tình cách
mạng và sẵn sàng hy sinh mọi thứ?!! Chúng tôi thấy điều đó là không
đúng. Quần chúng thù ghét người Mỹ và bọn tay sai… nhưng nỗi căm
giận này chưa đến độ sôi sục.’ Với vai trò lu mờ của VC, từ đây về sau
Quân đội Miền Bắc khống chế toàn bộ cuộc giao tranh trên chiến
trường.
Nhưng người Mỹ và QĐVNCH không bao giờ chia sẻ nhiều cảm nhận
của thành công, của cuộc chiến đang dần trở nên dễ dàng hơn. Vào ngày
20 tháng 6 chính quyền Thiệu ban bố lệnh tổng động viên. Sự tin cậy lẫn
nhau giữa các đồng minh rất thấp: tiếp sau các cuộc tấn công tháng 5, tin
đồn lan truyền trong người Miền Nam, rò rỉ qua một số doanh trại, rằng
người Mỹ cố tình đứng sang một bên, để binh sĩ Sài Gòn buộc phải
chiến đấu. Vào năm 2012 theo lời một sĩ quan Miền Nam: ‘Dân chúng
bàn luận rằng mạng lưới tình báo điện tử tinh vi của Mỹ … ắt hẳn đã
đóng lại, để cho kẻ địch thâm nhập vào thủ đô quá dễ dàng. Một số thậm
chí cho rằng trực thăng Mỹ giao thức ăn cho binh lính cộng sản… rằng
các xe cơ giới Mỹ vận chuyển binh sĩ cộng sản. Mặc dù tin đồn không
phải người Việt nào cũng tin, nhưng không ít người tin chúng.
Hàng trăm ngàn người tử trận từ 1968 trở đi đặc biệt bi thảm, bởi vì việc
này xảy ra sau khi người Mỹ đã bỏ đi hy vọng chiến thắng, và chỉ chiến
đấu để không bị thảm bại một cách lộ liễu.
Năm 1968 sự hiện diện quân sự của cộng sản rõ ràng nhất trong ba tỉnh
phía bắc bên dưới Vùng Phi Quân Sự. Gánh nặng chủ yếu chống bốn sư
đoàn Miền Bắc được triển khai ở đó rơi vào vùng của Quân đoàn TQLC
Mỹ. Trong những ngày đầu tiên của tháng 5 một trận đánh xảy ra ít gây
chú ý nhưng làm thiệt hại một tiểu đoàn, gây tổn thất tệ hại hơn vụ đụng
độ ở Đồi Bánh Thịt Bầm một năm sau. Quân số vũ trang của Mỹ đã gần
đến cực điểm – 543,000 người – nhưng trong một góc phía bắc của
Miền Nam, trên một chiến trường vỏn vẹn 2 dặm vuông, ôm lấy một
cụm ấp bỏ hoang, quân Miền Bắc có thể bẫy bạo lực hiệu quả hơn đối
thủ của họ. Câu chuyện của Đại Đô xứng đáng được kể lại chi tiết, như
một kiểu mẫu của hàng chục những trận đánh như thế, đẫm máu hơn bất
cứ trận đánh nào xảy ra ở Iraq và Afghanistan trong thế kỷ 21, và chắc
chắn vô ích hơn.
Tiểu đoàn 2/4th TQLC đã chiến đấu một vài trận có ý nghĩa trong các
tháng trước, và tổn thất nặng nề. Đơn vị đã đóng góp phần chia sẻ các
con người quả cảm và xả thân – thậm chí có cả các người hùng – nhưng
cũng có đồ bỏ, những thành viên của ‘nhóm 100,000 người của
McNamara – những người đăng lính sau khi bộ trưởng quốc phòng hạ
thấp điều kiện phục vụ về trình độ học vấn và sức khỏe tâm trí, nhằm
đáp ứng đòi hỏi luôn khao khát vào bộ binh.
Khi Đại uý Jim William đến chỉ huy một đại đội của tiểu đoàn 2/4th, anh
thấy mình không có áo chống đạn. Một trung sĩ quân nhu chỉ vào một
đống bên ngoài nhà xác: ‘Đại uý có thể tìm được một cái không dính
máu để mặc.’ Williams nghĩ rằng đơn vị mới của mình đang ‘trong tình
trạng kinh khủng – họ đã mất quá nhiều người ‘. Do sự quay vòng
chuyển đổi luân phiên binh sĩ và số thương vong nên các sĩ quan thường
không thể nhận diện tất cả binh sĩ của họ: William biết rằng anh tài xế
của mình có biệt danh ‘Bull’, nhưng chưa hề biết tên thật của anh thì anh
đã tử trận.
Trong một lần chạm trán vào ngày 11 tháng 9 1967 tiểu đoàn thiệt hại 16
chết và 118 bị thương; ngày 14 tháng 10 21 chết, 23 bị thương; vào
tháng 11 và 12 6 bị giết và 78 bị thương. Vào chiều tối ngày 12 tháng 3
1968, Đại đội Foxtrot mất 18 người bị giết trong một trận phục kích.
Ngày hôm sau thêm 5 TQLC trúng đạn khi thu hồi người chết, và một
xác chết rơi ra khỏi trực thăng khi được chuyển đến tuyến sau.
Vào tháng 3 1968 tiểu đoàn tổn thất 59 người chết và 360 bị thương,
trong khi ghi vào hồ sơ giết được 474 bộ đội. Con số cuối cùng này là ảo
tưởng, nhưng Weise đã biết rằng mình được kỳ vọng phải bơm lên số
xác đếm nếu anh muốn giữ nhiệm vụ.
Tiểu đoàn trưởng 39 tuổi, con trai của một công nhân lao động từ khu
phố nghèo ở Philadelphia. Anh vào lính khi chiến tranh Triều Tiên sắp
kết thúc, sau đó trở thành lính biệt kích có đẳng cấp, thợ lặn và người
nhảy dù bậc thầy. Anh đã nắm quyền chỉ huy tiểu đoàn sáu tháng trước
khí người tiền nhiệm bị thương, và bắt đầu làm việc hăng say để tái lập
kỷ luật và tinh thần. Anh nói: ‘Tồn tại quá nhiều điều chưa đúng. Binh sĩ
tôi chưa được huấn luyện đầy đủ: họ nhếch nhác. Khi tôi yêu cầu một
kế hoạch yểm trợ hỏa lực, sĩ quan hành quân không biết phải làm thế
nào.’ Weise không phải loại người được định sẵn để chỉ huy binh sĩ, mà
chỉ là một sĩ quan gan dạ, tử tế, tận tâm, hút xì gà rẻ tiền vì xì gà không
phát ra đốm sáng trong đêm như thuốc lá, và phần nào lo lắng trước việc
bà xã Ethel có thể không chịu đợi anh trở về, vì cô giận điên lên khi anh
xin công tác tại Việt Nam.
Khi đơn vị tái triển khai quân tại phía bắc Sông Cửa Việt gần Vùng Phi
Quân Sự, TQLC rất ấn tượng trước việc địch thủ nhanh chóng biết được
điều đó, ắt hẳn qua việc đánh chặn sóng truyền tin. ‘Hannah Hà Nội’,
chương trình phát thanh tuyên truyền tiếng Anh, loan báo rằng tiểu đoàn
2/4th đang ở đó, do Bill Weise chỉ huy. Họ có đủ nhuệ khí không nao
núng khi cô ả nói thêm: ‘Tất cả các anh TQLC sắp chết đến nơi!’ Vào
đêm 27 tháng 4, phân nửa tiểu đoàn của Weise tham gia một trận càn
quét một đơn vị bộ đội được biết là đang ở gần đó. Đại đội G do Đại uý
Robert Mastrion chỉ huy, một người New York nhỏ con, đậm người,
mang kính cận, 28 tuổi nhưng vào tiểu đoàn chỉ được một tháng, binh sĩ
dưới quyền ít ai ưa hoặc tin cậy. Một TQLC nói: ‘Chúng tôi mệt phờ
người, còn cha nội thì chỉ muốn “tiến lên”.’ Đại đội Golf biết có vấn
đề khi một quả lựu đạn nổ ngay bàn chân một người. Ai đó hét lên,
‘Trời, có gook!’ Trong vòng vài giây hỏa lực hủy diệt đã bắn hạ 8 người
của tiểu đội đi đầu. Trung sĩ Billy Armer, mặt và ngực ghim các mảnh
pháo, cứ lải nhải, ‘Đồ chó chết, tôi trúng đạn rồi … Đồ chó chết, tôi
trúng đạn rồi.’
Họ đã đụng đầu một cột quân địch đang cắt ngang phía trước họ: đạn lửa
đánh dấu màu xanh đụng với đạn màu đỏ của họ, giữa hỗn loạn những
tiếng la hét và bóng đen. Mastrion gọi tiếp viện, nhưng Weise trả lời,
‘Anh tự xoay sở lấy’: anh sợ nếu xua thêm quân về phía trước qua bóng
đêm, lính Mỹ ắt phải bắn lẫn nhau.
Y tá bảo với Mastrion y có một ca bị thương ở đầu nếu không tản
thương sẽ chết. Lúc 01:30 từ tàu tấn công Iwo Jima một trực thăng CH-
34 Sea Horse lạch phạch bay vào. TQLC gọi điện báo có bộ đội cách đó
400 ya, và đánh liều nhấp nháy đèn hiệu để hướng dẫn trực thăng. Đúng
là một quyết định tệ hại: thực ra địch đang ở gần hơn, và khi Sea Horse
đáp xuống và bắt đầu cất thương binh, một tiếng nổ sấm sét vang lên.
Một súng phóng lựu bắn vỡ tung tấm kính chắn gió, một mảnh pháo cắt
bay mắt trái của phi công. Trực thăng liền bay lên, quành sang hướng
nam và lảo đảo 300 ya trước khi rơi phịch xuống đất. Viên phi công phụ
giành lấy tay lái và lê lết về đến tàu Iwo Jima, nhưng người TQLC bị
thương ở đầu bị bỏ lại phía sau. Anh la hét rời rạc. Các đồng đội yêu cầu
quân y chích y tăng liều móc-phin cho y khỏi la hét, và Đại uý Mastrion
cùng một tiểu đội ở lại hết 5 giờ cho đến khi anh chết, trong khi phần
còn lại của đại đội rút về sau.
Lúc tờ mờ sáng tiểu đoàn được an toàn, nhưng tinh thần bị chấn động.
Lính truyền tin Peter Schlesiona viết về nhà: ‘Không nghi ngờ gì đây là
đêm dựng tóc gáy nhất mà anh đã trải nghiệm ở Việt Nam.’ Mastrion
được tải thương vì đau lưng kinh khủng. Đại uý Jay Vargas, một người
Mỹ gốc Mễ gốc Arizona mà Đại đội G biết và tôn trọng, cầm quyền thay
thế. Sau những trải nghiệm căng thẳng như thế, binh sĩ Weise có thể
được thứ lỗi vì cho rằng mình đã góp phần công sức trong một thời
gian. Khổ thay, chiến tranh bần tiện trong ban phát sự nghỉ ngơi. Sư
đoàn nhận diện hai tiểu đoàn Miền Bắc chuyển quân vào khu vực của
2/4th, ngay phía bắc phụ lưu Bố Điều dọc theo đó đồ tiếp tế được chở đi
trong dặm cuối cùng trong đoạn dài 7 dặm nối biển với căn cứ hậu cần
lớn của Mỹ trên bờ nam tại Đông Hà. Đại tá Milton Hull, trung đoàn
trưởng, người mà Bill Weise báo cáo, lo lắng địch dự tính tấn công
Đông Hà. Vì vậy ông phân tán mỏng lực lượng có sẵn một cách nguy
hiểm dọc theo bờ sông Cửa Việt và Bố Điều, làm màn chắn ngăn cản
việc chuyển quân của địch. Tình báo dự đoán vụ tấn công có thể lên cao
điểm vào ngày 1 tháng 5, một ngày lễ lớn của người cộng sản.
Thật ra, lực lượng Miền Bắc không quá tham vọng để đánh chiếm Đông
Hà: thay vào đó họ chỉ lên kế hoạch sử dụng rốc kết và súng máy để
quấy nhiễu lưu thông đường sông. Điều bất ngờ là Bộ binh 6/52nd của
địch nhận được yểm trợ hỏa lực từ hai khẩu pháo bố trí bên kia Vùng
Phi Quân Sự. Họ hoàn tất việc đào boongke và đặt đường dây điện thoại
dã chiến giữa các ấp kế cận ở Đại Đô, An Lạc và Đông Hoàng, lúc 05:00
ngày 29 tháng 4, 24 giờ trước khi TQLC 2/4th bước vào cuộc đời của
họ. Mục đích rõ ràng của họ là khiêu khích người Mỹ tấn công, trên trận
địa họ xem là có lợi thế cho mình.
Sáng sớm ngày 30 tháng 4, theo lệnh từ Đại tá Hull bốn đại đội của tiểu
đoàn Weise được phân tán rộng, cách nhau đến 7 dặm, phía bắc và phía
đông của các vị trí chưa xác định được của cộng sản. Trên mái một ngôi
nhà bỏ hoang cạnh bờ sông, Đại uý Jim Williams nhìn qua ống dòm khi
tàu của Hải quân Mỹ trao đổi hỏa lực với địch trong các ấp trên bờ biển.
Vỏ một xuồng đổ bộ Mỹ nổ tung: ở tầm bắn 500 ya, một quả đạn 57mm
của khẩu súng không giật bắn trúng, giết chết một thuyền viên và làm bị
thương hai người nữa. Trong khi các xuồng tuần tra rải đạn về phía bờ
biển, đoàn hộ tống quay về phía tây trở lại Đông Hà; hải quân tuyên bố
đóng Bồ Diều cho đến khi quân Miền Bắc đã bị đẩy bật ra.
Lúc 08:18 James O’Neill, một lính bắn tỉa đi theo đội tuần tra từ Đại đội
H của William, thoáng thấy có động tĩnh cách đó 500 ya, bèn nói, ‘Thưa
xếp, em nghĩ chúng ta đụng một đám gook ở phía trước rồi.’ Vị trung uý
nói, ‘Bắn một tên xem.’ Trong làn hơi nóng mờ mịt, O’Neill không thể
nhìn rõ qua ống nhắm của khẩu Remington 700, nhưng sau khi bắn hai
phát anh quan sát thấy một người đang ngồi trên miệng hố, thiếu mất
nửa đầu. Rồi Williams nhận lệnh từ Weise, ký hiệu gọi máy là Dixie
Diner 6: Đại đội H của anh phải tấn công ấp Đông Hoàng từ phía
bắc, trong khi Đại đội F kế bên tấn công Đại Đô, 2,000 ya về bên phải
của họ. Trung đoàn tại giai đoạn này chỉ cho phép Weise sử dụng hai đại
đội này, trừ một trung đội. Đây là sai lầm đầu tiên: bằng cách chỉ tung
quân từng miếng nhỏ, địch trong đường đi của họ được hưởng thế vượt
trội quân số.
F và H tập họp không đến 100 người mỗi đại đội do một số thương
vong, bệnh tật, và những người đi R&R (phép nghỉ ngơi và phục hồi,
kéo dài một tuần ra nước ngoài thường Hawaii, Hồng Kông và Úc, được
cấp ít nhất 1 lần trong thời hạn thi hành nghĩa vụ). Trên bờ biển Weise
và nhóm chỉ huy đang đi trên xuồng giám sát bọc sắt, chầm chậm tiến về
phía thượng lưu đồng bộ với bộ bình trên bờ, từ đó họ có thể theo dõi
diễn tiến. Như thường lệ, tình báo không có: họ có thể gặp hai bộ đội với
một khẩu không giật, hoặc hai trăm, hoặc hai ngàn.
Pháo 105mm và 155mm bắt đầu đánh phá ác liệt các mục tiêu với đạn
khói và đạn công phá. Khoảng 13:30 các trung đội dẫn đầu của H đang
tiến gần Đông Hoàng thì đụng hỏa lực đuôi của địch bắn ra từ màn chắn
cây cối. Weise liền báo cáo về trung đoàn địch đang tập trung quân số ở
đây, hai xe tăng M-48 được điều tới yểm trợ cộng với pháo hải quân
ngoài khơi. Một lính trinh sát dùng khẩu M-16 nhắm bắn chỉ một phát
vào một tên địch, và bỗng kêu lên ‘Ôi trời đất ơi!’ Khi anh thấy mục tiêu
của mình tan tác: người TQLC không biết rằng một xe tăng cũng đồng
thời bắn y với đạn 90mm. Bộ bình trườn tới cho đến khi tiến sát Đông
Hoàng rồi chồm dậy, dàn hàng ngang cách nhau 5 ya, vừa tiến lên vừa
khai hỏa với súng ngang hông.
Một số bộ đội nhảy ra từ các hố nhện và chạy biến trong khi một số ở lại
tiếp tục bắn. TQLC bắt đầu chạy về phía trước, nhưng Williams, một
người gốc Minnesota 30 tuổi nổi tiếng gan dạ, phóng nhanh về phía họ
bảo họ chậm bước chân, kẻo hứng đạn của nhau. Giữa tiếng đinh tai,
phía góc mắt anh thoáng thấy một tên địch ló ra từ một hố gần đó và
tung một quả lựu đạn. Nó nẩy lên trước khi nổ tung, thổi bay đại đội
trưởng té xuống đất và bắn các mảnh sắt xuyên thấu chân và mông anh
nhức nhối. Không đứng được, với hỏa lực súng nhỏ và pháo nổ vẫn còn
điếc tai mọi người mới đến, anh bảo lính truyền tin gọi Hạ sĩ già đến. Y
khom mình vọt đi, rồi trở lại báo cáo Trung sĩ không chịu đến: ‘Y núp
trong hố cá nhân, nhất định không chịu rời đi!’ William lại ra lệnh đến
bảo với gã tránh né đó tốt hơn đến trình diện nhanh, không thôi đại uý
bắn bỏ. Một sĩ quan khác an ủi, ‘Ông ấy đã trải qua nhiều phen máu
lửa, nên giờ ông né súng rồi, thậm chí trước trận này.’ Trung uý Alex
‘Scotty’ Prescott nắm quyền chỉ huy Đại đội H.
Trận đánh tiếp tục: một trung sĩ tham mưu bị hơi nổ thổi bay, lảo đảo
đứng dậy và xông tới chỉ để hứng một quả lựu đạn khác thổi bay khẩu
súng ra khỏi tay, đồng hồ thợ lặn văng khỏi cổ tay. Anh chồm dậy, thấy
đầu óc mình quay cuồng. Anh bảo quân y tá tát vào mặt – vậy mà có kết
quả. Sau đó những người còn lại của đại đội phải mất 15 phút mới
vượt qua được Đông Hoàng, gần như mỗi bước lại chịu thương vong khi
vượt qua các hố nhện và bộ đội địch nhảy ra. ‘Mẹ nó, chỗ nào cũng có
bọn gook,’ Trung sĩ Joe Jones nói. Da đen, to con, anh nắm quyền chỉ
huy trung đội khi trung uý anh bị thương. ‘Các TQLC bị thương… Mọi
người đều lẫn lộn vị trí cả lên; các tiểu đội khác nhau từ các trung đội
khác nhau đều có mặt trên ngôi làng chết tiệt.’ Trung uý Carl Gibson, ở
ba bộ phía sau Prescott khi họ nhô ra ở phía nam ngôi làng, ngã xuống
chết tươi vì một viên đạn vào đầu. Vừa cưới vợ được một tháng, anh
mới đến Việt Nam 10 ngày.
Những người sống sót lập một vành đai ngay giữa vùng hỗn loạn đang
tiếp diễn. Một quân y tá khóc điên cuồng bên một người bạn bị thương;
một trung sĩ mặt tái mét vì mất quá nhiều máu – một quân y tá khác quát
to, ‘Chúng ta phải đem anh ấy ra khỏi đây – anh ấy đang hấp hối, anh ấy
đang hấp hối!’ Không trực thăng nào đáp xuống được; thay vào đó, lúc
15:30, những xuồng nhỏ tiếp bờ sông chỉ cách trận địa vài trăm ya về
hướng nam, mang quân nhu và sơ tan 30 thương binh. Đại tá Hull thình
lình xuất hiện và bắt đầu cật vấn ‘Scotty’ Prescott. Vị trung đoàn trưởng
sắt thép, hay khoa trương cho rằng Weise và binh lính mình chưa thì thố
đủ sức áp đảo. Ông thúc giục sĩ quan chỉ huy ‘ưỡn bụng’ trước
địch, khiến vị sĩ quan hành quân của ông phản đối rằng ‘Chúng ta hiện
quá sát với địch đến nỗi quân Miền Bắc có thể dùng dao rạch bụng
Weise.’
Williams thấy mình được di tản trên một chiếc xuồng trong đó một bi
đông ai bỏ lại nổi trên vũng máu, một phần là máu của anh. Bày tỏ lo
lắng chung của nhiều thương binh, anh nói với một quân y tá, ‘Sao tôi
thấy tê điếng đến nỗi không cảm thấy gì cả. Nhờ anh kiểm tra xem bìu
tôi còn ở đó không?’ Người quân y tá xem xét vùng nhạy cảm rồi trả
lời, ‘Tôi thấy chúng trông vẫn ổn, thưa Đại uý.’ Trao đổi kiểu này sẽ
nghe rất khôi hài, nếu không phải là thực tế khủng khiếp.
Thương binh được chở ra biển đến tàu Iwo Jima, tại đó từng đợt nối tiếp
các trực thăng được tiếp đón bằng loa phóng thanh: ‘Trực thăng y tế
xuống … trực thăng y tế xuống.’ Một TQLC bước vào khu bệnh chật
ních của tàu và loan báo tiểu đoàn 2/4th đang gặp rắc rối, ai còn sức
chiến đấu nên trở lên bờ. Một vài người còn băng bó bước cứng đơ ra
đến boong tàu, vương vãi áo chống đạn và quân cụ dính máu, tự trang bị
quân dụng thiết yếu rồi bay trở lại, mặc dù không phải để đánh trận.
Thậm chí khi Đại đội Hotel – H – cũng đang chịu trừng phạt để đánh
chiếm Đông Hoàng, 2,000 ya xa hơn về phía tây, và rất muộn
màng, lúc 13:50 Đại đội Foxtrot tiến gần Đại Đô từ phía bắc cởi trên
các xe lội nước, hoàn toàn không biết sẽ gặp chuyện gì. Một rốc kết
đang đến bắn trúng một xe chở 5 lính truyền tin, một người rớt xuống, bị
thương và la hét. Nhiều súng phóng lựu hơn bắn phá khi họ xuống xe lội
nước và di chuyển do dự về phía trước. Hầu hết đại đội đều núp kỹ khi
cách mục tiêu khoảng 100 ya, trung đội cánh phải thì lấp ló trong một
nghĩa trang nhỏ.
Đại đội trưởng Đại uý James Butler, một thanh niên 25 tuổi nói năng
nhỏ nhẹ, con trai một vị tướng, chỉ huy việc đánh bom napam – những
hộp thiếc ném ra từ bầu trời cho đến khi nó bùng nổ lửa đỏ, lửa cuồn
cuộn bỗng chuyển thành đen – cách một trung uý đại đội F khoảng 50
ya. Anh đánh điện: ‘Mẹ ơi, ở đây nóng quá – đừng ném sát hơn nữa!’
Bốn giờ chiến đấu, Butler báo cáo với Weise rằng mình chỉ còn 26
người còn điều kiện chiến đấu, và xin phép lùi về. Weise đồng ý, nhưng
nhóm binh sĩ phải mất hai giờ mới dứt ra được, được che chắn bởi các
Phantom và súng máy cỡ 50 của thiết giáp lội nước. Nếu quân Miền Bắc
chịu truy đuổi, Butler nói, ‘họ hẳn có cơ hội thực sự quét sạch bọn chúng
tôi’; nhưng họ không làm vậy.
Lúc 17:00, Đại đội Bravo của TQLC 1 được chở qua sông để tiếp viện
cho tiểu đoàn 2/4th. Đây không phải là một tập thể hoà thuận: Bravo đã
gặp phải các khó khăn về kỷ luật, với các Hạ sĩ quan kỳ cựu hay cãi vã
nhau, cùng với một lính truyền tin bị ném đá vì đã hăm dọa họ bằng một
quả lựu đạn. Các thiết giáp lội nước chạm bờ biển cạnh làng An Lạc,
hành khách của chúng ngỡ rằng mình chỉ đến yểm trợ cho tiểu đoàn của
Weise tấn công Đại Đô. Ai ngờ, chỉ vài giây sau khi bò trên cát họ đã
được chào đón bởi hỏa lực cận kề của địch giết chết chỉ huy, cùng với
một trung uý, một trung sĩ và 7 người khác, để lại 14 người khác bị
thương nặng. ‘Đó là một sự hỗn loạn hoàn toàn,’ Hạ sĩ Doug Urban nói.
‘Mọi người chấn động. Chúng tôi không còn là một đại đội. Chúng tôi
chỉ là một đám người nằm dài trên mặt đất.’
Norman Doucette, một quân nhân chung thân và cựu binh Triều
Tiên, nói với một trung sĩ, ‘Chúng ta phải chui vô hàng cây – chúng ta
phải chiếm lấy hàng cây chết tiệt đó!’ Viên trung sĩ không chịu đi. Rồi,
khi Doucette dựa người qua một bên để kiểm tra một đồng đội đã
chết, chính anh cũng ngã xuống, bị trúng đạn vào mặt, mất một phần lớn
lưỡi và răng. Ông nằm một mình ở đấy một lúc, tin rằng mình xuất huyết
đến chết và suy nghĩ cay đắng: ‘Ai đó bỏ đi, để chúng tôi nằm tại đây để
bị tàn sát.’ Rồi một quân y tá người Philippin chạy đến và băng bó cho
ông. Những người sống sót của Bravo chiếm được phân nửa phía tây của
An Lạc, nơi Robert Robinson, một trung sĩ trung đội người da màu,
được thưởng Ngôi sao Bạc vì vẫn tiếp tục chiến đấu dù vết thương ở vai
bị bùn đóng cứng. Tuy nhiên, họ không được phấn chấn: sĩ quan duy
nhất còn lại của họ, một trung uý chưa hoàn hồn, ngồi khom mình như
tượng đá.
Từ số lượng của hỏa lực kẻ thù, Weise ước tính ít nhất có đến một trung
đoàn địch giao tranh với họ. Thật ra, ở giai đoạn này chỉ có một tiểu
đoàn bộ đội vào trận, tiểu đoàn 6/52nd, mà sĩ quan của họ cũng phán
đoán sai quân số Mỹ. Họ báo cáo mình chạm trán với hai tiểu đoàn
TQLC có 12 xe tăng yểm trợ. Cộng quân chửi thề bọn pháo binh Mỹ cứ
cắt đứt đường dây điện thoại dã chiến của họ nhiều lần, tuy không gây
tác hại nhiều cho bộ đội núp trong boongke sâu.
Ngoài sông trên tàu giám sát, Weise đích thân bắn súng cối 81mm trong
khi ‘Big John’ Malnar thượng sĩ của ông, một cựu binh huyền thoại 41
tuổi của mặt trận Thái Bình Dương Thế chiến II và rồi chiến tranh Triều
Tiên, sử dụng súng máy cỡ .50.
Malnar chưa hề lập gia đình: Quân đoàn TQLC là cuộc đời ông. Họ
thấy hai chiếc tam bản trôi dạt ngoài khơi ắt hẳn có chở các dân đánh cá,
nhưng dường như chắc chắn hơn đang chỉ điểm cho cộng quân: hai
người Mỹ liền bắn họ bay ra khỏi mặt nước.
Khi ánh sáng nhạt dần, Weise bảo Đại tá Hull ông tin cấp trên còn chưa
biết được quân số của địch: ‘Chúng tôi trong thế giới của những người
bị tổn thương ở đây. Có một lố bọn xấu và trong số chúng tôi không có
nhiều người tốt.’ Ông được cho biết mình không phải là người duy nhất
có vấn đề: cách đây 4 dặm về phía tây một tiểu đoàn khác cũng đang
giao tranh ác liệt, và đã tổn thất 144 thương vong. Sĩ quan hành quân
Thiếu tá ‘Fritz’ Warren sau này viết: ‘Bill Weise đang trong thế kẹt chết
tiệt.’ Người tiểu đoàn trưởng này tranh thủ được miễn cưỡng chấp thuận
tung đại đội Golf của mình xông lên, lúc đó cách 3, 000 ya về hướng
tây bắc. Hai trung đội của G leo lên các trực thăng Sea Knight, nhưng
khi bay lên không họ trông thấy pháo và đạn chỉ đường của quân Miền
Bắc đánh vào vùng dự định đáp, Jay Vargas liền ra lệnh hủy bỏ việc trực
thăng vận. Đáp trở lại căn cứ tuần tra ông bảo binh sĩ mình, ‘Này các
cậu, bữa nay không được bay miễn phí rồi – chúng ta phải lội bộ thôi.’
Họ chỉ mang theo quân cụ chiến đấu cho chuyến đi bộ 2 dặm. Trong
bóng tối đang buông xuống, các hạ sĩ quan phải la hét đốc thúc binh sĩ
đã đuối sức lết đi quá chậm chạp. Nhưng cộng quân đã phát hiện các
hàng quân dài, và thế là pháo và đạn súng cối bắt đầu rơi xuống gần đó.
Trung uý Jim Ferland nói, ‘Binh sĩ đang trên bờ vực hoảng loạn, nhưng
Đại uý Vargas vẫn kiểm soát tốt’
Mặc dù hỏa lực có giảm xuống trong đêm, nhưng vẫn không yên tĩnh.
Trở lại Đông Hoàng, Hạ sĩ Richard Tyrell giật một bàn chân mang dép
xăng đan ló ra từ một đống rơm, mà anh ngỡ của một xác chết. Hóa ra,
một bộ đội Miền Bắc còn sống nhăn bật chạy. Tyrell bắn theo bằng khẩu
M-16 một phát rồi kẹt đạn, rồi nhanh như cắt rút súng lục của một người
lính khác và bắn hết băng đạn vào người bộ đội đang chạy. Một binh sĩ
mới đến bổ sung định đi tiểu vào cái mồm mở to của xác một bộ đội,
nhưng liền bị một đồng đội bất mãn đẩy ra. Weise nổi nóng với James
Butler khi phát hiện Đại đội F vẫn còn 55 TQLC có điều kiện chiến đấu
chứ không phải 26 như y đã báo cáo để lấy cớ xin rút quân. Weise nói
sau này, ‘Chính lúc đó tôi nhận ra Butler đã mất kiểm soát.’
Có xảy ra báo động đêm khi những bộ đội bị mắc kẹt tìm cách chuồn
khỏi vành đai của lính Mỹ. Trong ấp An Lạc kế bên cạnh bờ biển, Bravo
biết được địch đã gây nhiễu sóng truyền tin của mình. Weise lên bờ biển
để áp đặt thay đổi tần số – liền bị một mảnh đạn súng cối ghim vào đùi.
Pháo sáng Mỹ nổ bùng trên bầu trời Đại Đô, nhưng chúng làm lộ điện
TQLC cho cộng quân thấy nhiều hơn là điều ngược lại. Một hơi nổ bắn
Jay Vargas bay xuống một con lạch, nhưng sau đó anh bước tới và chiến
đấu với mảnh pháo trong gối và bắp chân. Tại trạm chỉ huy tiểu đoàn, vị
đại uý được cho biết xuồng đổ bộ sẽ chở binh sĩ của đại đội Golf vài
trăm ya cuối cùng về phía thượng lưu, nhưng xuồng không thấy xuất
hiện: vị chỉ huy không muốn liều lĩnh hành quân trong đêm tối, làm mồi
cho hỏa lực. Vargas chợp mắt 30 phút, rồi lúc 01:00 ngày 1 tháng 5 chỉ
thị các trung đội trưởng làm mới lại các cuộc tấn công vào Đại Đô.
Lúc bình minh, một đoàn tuần tra phát hiện quân Miền Bắc đã bỏ cứ
điểm của mình ở An Lạc, mà Bravo đã chiếm được với giá thêm 5
thương vong. Hai giờ sau, người Mỹ sửng sốt khi bắt gặp một bộ phận
lớn kẻ địch đang di chuyển tán loạn ngay trước mặt họ. Họ quét cộng
quân bằng hỏa lực, Weise nói một cách thỏa thích, ‘Thật là một cuộc săn
bắn gà lôi thực sự.’
Tinh thần binh sĩ càng phấn chấn hơn nữa khi hai chiếc F-4 dội bom
napan. Quan sát viên ngồi trong phi cơ chỉ điểm cảnh báo qua máy
truyền tin cho các Phantom, ‘Các bạn đang hứng hỏa lực! Các bạn đang
hứng hỏa lực!’ Một phi công F-4 đáp lại châm biếm, ‘Ừ, ừ … tôi cho
như vậy là công bình.’ Trên bờ sông, Đại đội Bravo giải bày mình vẫn
không thể tiến lên, và đúng là nó thành tựu không nhiều vào ngày hôm
đó và cả ngày sau nữa: những người sống sót bị chấn thương không còn
tâm trạng nào làm người hùng.
Weise leo trở lên tàu giám sát và đi một đoạn ngắn về phía hạ lưu để gặp
Đại đội G. Cuộc tấn công mới của nó vào Đại Đô, dưới sự yểm trợ của
hai xe tăng, bắt đầu sau khi một Skyhawk đánh hâm nóng lúc 12:53.
Những gì xảy ra sau đó là thiên hùng ca của lòng quả cảm và hy sinh,
trong một cuộc tấn công trực diện đáng ra không nên có, băng qua 700
ya đất trống trải. Cộng quân khai hỏa từ các boongke được xây dựng
trên các khung chữ A bằng tre lồ ồ được gia cố bằng các lớp đất và thảm
thóc.
Trong đêm tiểu đoàn 6/52nd Miền Bắc được tăng viện một đại đội từ
Trung đoàn 48, giờ đang báo cáo là mình bị ba tiểu đoàn TQLC tấn
công, dưới sự yểm trợ của 14 xe tăng.
Nhiều người Mỹ cho rằng vụ tấn công là hành động điên rồ, trong đó Hạ
sĩ Jim Lashley, còn 17 ngày nữa là được hồi hương: ‘Gần về không nên
dính vào thứ chó chết này.’ Hạ sĩ James Parkins của Đại đội Golf nhún
vai, ‘Còn nhiều thù hận vay trả, nên bạn không thể nói “Chuyện này vớ
vẩn và tôi không đi.” vì nếu bạn không ở đó và bạn thân của mình bị
bắn, bạn sẽ cắn rứt mãi mãi …’ Một vài TQLC có que chùi ba miếng
được dán băng keo vào báng súng M-16 để móc đạn thường bị kẹt ra –
và sẽ kẹt đạn ngày đó. Binh sĩ Mỹ đã tiến được 200 ya qua bãi cỏ nâu
cao đến đùi thì súng cá nhân của địch bắt đầu khai hỏa vào họ từ các hố
nhện rải rác trên trận địa. Lashley bị trúng đạn ở cánh tay trái, khuỷu tay
bị bễ nát. Trong một vài giây anh vẫn đứng thẳng, trong nỗi thống
khổ, rồi loạng choạng và ngã quỵ: hai mũi móc-phin mà cơn đau vẫn
dai dẳng.
Trung đội của Trung uý Ferland dừng lại và nằm xuống. Jay Vargas
chạy trở lại và thúc giục binh sĩ đứng lên và tiến tới, cho dù một tiểu đội
của Ferland nhanh chóng mất hai người, sáu bị thương. Đại đội Bravo,
nán lại An Lạc, báo cáo bằng máy truyền tin rằng họ có thể trông thấy
100 quân địch trên cánh trái của Golf. Một xe tăng yểm trợ khai hỏa về
hướng đó, được điều khiển bằng một TQLC đứng trên thân xe tăng, cho
đến khi hơi nổ của đạn pháo thổi anh bay xuống đất. Chỉ huy xe tăng,
khốn khổ vì hỏa lực bắn phá tơi bời, bắt đầu lùi về. Jay Vargas chạy về
phía trước, chộp lấy điện thoại trên thân xe tăng và quát rằng anh sẽ đưa
chỉ huy ra tòa án binh nếu y không dừng lại. ‘Quỷ tha ma bắt ông đi,’ y
đáp lại, miễn cưỡng nán lại đủ lâu để đặt một số thương binh lên thân xe,
rồi lùi chiếc xe tăng M-48 ra khỏi trận địa.
Chiếc tăng kia đã bắn hết 67 đạn 90mm, rồi cũng bắt đầu tháo lùi. Khi
Vargas phản đối qua máy, chỉ huy xe tăng trả lời mình không thể làm gì
hơn được. Nhưng anh có thể, người TQLC thuyết phục: hiệu quả tinh
thần sẽ rất lớn cho cả bạn và thù, tạo bởi con quái vật thép băng qua
ruộng lúa. Weise, đang theo dõi trên sóng, xen vào: xe tăng phải ở lại.
Pháo Miền Bắc thình lình chuyển hỏa lực từ Golf sang Foxtrot, làm bị
thương 8 người. Trung uý Ferland nhặt lên một khẩu AK-47 bị ném
bỏ, vì anh ghét khẩu M-16 của mình. Một số TQLC nằm bất động trong
cỏ, hy vọng không phe nào chú ý đến mình.
Golf nán lại ở Đại Đô dưới hỏa lực súng cối trong hai giờ, đều đặn mất
người. Trong một khoảnh khắc ghê rợn, một người TQLC chạy về phía
sau vác trên vai thi thể không đầu của một người bạn thân. Rồi quân
địch phản công. Không kích can thiệp, bắn vào bất cứ thứ gì phi công
có thể nhìn thấy, trong khi Vargas cho nổ khói xanh lá để đánh đấu vị
trí của mình. Lúc 16:25 những lính sống sót của anh bắt đầu rút về, ba
thương binh khập khiễng dìu nhau, trong khi anh và máy bay tiền tiêu
của mình yểm trợ quân rút lui, bắn rất rát. G đã bắt đầu trong ngày với
150 lính; giờ chỉ còn 45 người sống sót ẩn nấp dưới một mương thoát
nước. Quân Miền Bắc đắc ý tuyên bố đã đếm 300 xác Mỹ.
Lúc 17:00 Weise quyết định tung Bravo. Nhưng tinh thần của đại đội đó,
vốn đã xuống thấp, càng thêm bị xói mòn khi họ bị lùa đi khỏi xe chở
khẩu phần để lên xe bọc thép lăn bánh trước khi họ kịp ăn.
Cách Đại Đô 300 ya, TQLC bắt đầu hứng hỏa lực, liền phóng nằm dài
dưới đất. Chỉ huy mới và lính truyền tin của anh tìm cách thử làm mới
lại cuộc tiến công – nhưng không thấy ai đi theo. Một súng phóng lựu
bắn tới, làm bị thương nặng đại úy ngay bả vai. Một trung đội trưởng
non nớt vì vậy trở thành sĩ quan duy nhất của Bravo. Anh hét điên cuồng
trong máy, ‘Anh phải giúp tôi! Chúng tôi bị bao vây ngoài này! Chúng
có mặt khắp nơi!’
Jay Vargas bình tĩnh nói vào máy. ‘Nào nghe tôi này, Bravo, bình tĩnh
nào. Có tôi ngay đây. Anh ổn mà; chỉ cần siết chặt hàng ngũ và nói với
binh lính và ngừng la hét.’
Rõ ràng là Đại đội B không còn đóng được vai trò tích cực nào thêm nữa
trong ngày. Dù sao đi nữa, việc đi chuyển ngắn ngủi của nó cũng làm
xao nhãng chú ý của địch đủ lâu cho phép Vargas và đám binh sĩ còn lại
lùi lại thêm 200 ya về hướng đông, tại đó lợi dụng sự che chắn của các
gò mả để nhận quân nhu. Trong bóng đêm tiếp sau được hỗ trợ của
pháo binh và pháo sáng họ đẩy lùi vài đợt tấn công dò dẫm của địch.
Chính vị đại uý kết liễu một bộ đội cứ ném lựu đạn thậm chí sau khi bị
trúng đạn vài lần.
Không lâu trước khi Bravo dừng lại, đại đội súng trường thứ tư của
Weise mới đến trận địa, được Đại tá Hull điều đến quá muộn. Người chỉ
huy Echo là Jim Livingston, một chiến binh tận tụy gốc McCrae,
Georgia, người không kiên nhẫn với các thằng điên, hèn yếu, nhút
nhát hoặc hút sách, và thích dẫn đầu đoàn khi chạy huấn luyện với áo
chống đạn nặng nề. Bình nhất Michael Helms nói: ‘Chúng tôi đổ lỗi cho
chỉ huy đã gây ra đau khổ cho chúng tôi vì dường như ổng luôn bắt
chúng tôi tình nguyện. Phần đông chúng tôi đều tin rằng ông ấy muốn
lấy Huy chương Danh dự, hoặc chết vì cố lấy. Chúng tôi thường kêu ca
và chửi thề với nhau là ông ấy chắc chắn sẽ giết hết bọn tôi để được nó,
nhưng đúng là bọn tôi nể phục ổng.’ Weise nói rằng Livingston thương
các binh sĩ dưới quyền ‘kiểu cho roi cho vọt’, và nói thêm anh ta cực kì
‘đánh đấm ra trò’.
Đại đội Livingston mất vài người vì hỏa lực địch trên đoạn chuyển quân
hai dặm về hướng đông-nam, trong đó có một trung sĩ mà ai cũng ghét
và muốn y tiêu đời cho rồi. Họ đến An Lạc sau khi lội qua một con suối
sâu bằng cách tạo một chuỗi các binh lính cao khóa tay với nhau giúp
các lính lùn qua dòng suối. Livingston, theo Weise, ‘ngứa ngáy muốn
xông vào’. Chàng thanh niên gốc Georgia này nhanh chóng hoàn thành
sứ mạng đầu tiên – che chắn cho những người còn lại của Đại đội Bravo
rút lui, nói, ‘Bọn nhóc đó … sợ vãi cả ra quần.’
Vì vậy khi đêm xuống vào ngày 1 tháng 5 TQLC 2/4th vẫn trong thế
giằng co với một lực lượng cộng quân có quân số ngang ngửa. Quân
Miền Bắc có lợi thế chiến đấu từ các vị trí đã chuẩn bị trước vững mạnh.
Còn người Mỹ thì có không lực yểm trợ, và có pháo bình hùng mạnh
hơn, nhưng đang sử dụng các chiến thuật làm các cơ hội của cộng quân
phát huy tối đa. Vẫn còn là điều khó hiểu khi các chỉ huy cao cấp cho
phép, không ngại đòi hỏi, làm mới cuộc tấn công vốn đã gặt hái các tổn
thất đáng sợ. Không hề có dấu hiệu cộng sản có ý định vượt qua Sông
Bố Điều hướng về Đông Hà. Vậy mà tiểu đoàn cứ được lệnh của các sĩ
quan cao cấp luôn miệng giục đấm đá, thúc, ‘Các anh phải gia tăng sức
ép lên!’
Lên ai? Giờ đây cũng như lúc đó thật khó để nhìn ra lý do phải duy trì
các cuộc tấn công. Tối ngày 1 tháng 5, trong cả hai phe đều thảo luận
căng thẳng và mệt mỏi về ngày mai. Quân Miền Bắc xem xét giải pháp
lui quân, vì tất nhiên TQLC sẽ đến nữa. Dù sao thì mục tiêu của họ là
giết Mỹ, và điềm triệu cho việc hoàn thành mục tiêu này vẫn còn thuận
lợi. Bộ binh 6/52nd đã tổn thất nặng nề, nhưng 3/48th gần như chưa hề
hấn gì. Tại kết luận tại hội nghị chiến trường của Đảng ủy, một bộ chỉ
huy liên quân mới được thành lập để chỉ đạo trận đánh ngày hôm sau,
cầm đầu bởi phó chỉ huy Trung đoàn 52, và phó bí thư Trung đoàn 48.
Weise cùng nhóm chỉ huy của mình lên bờ, bảo Livingston rằng sáng
mai anh phải chiếm lại Đại Đô với Đại đội Echo của mình và phần còn
lại của Golf. Hai xe tăng của họ không còn dùng được, tiểu đoàn hứa sẽ
yểm trợ không kích ưu tiên. Những gì xảy ra vào ngày 2 tháng 5 là một
thiên hùng ca nhờ nó Livingston được thưởng Huy chương Danh dự mà
anh hằng mơ ước, đi cùng với Ngôi sao Đồng và Bạc đã có. Anh ra lệnh
binh sĩ gắn lưỡi lê, một trong các mệnh lệnh hiếm hoi trong chiến tranh
hiện đại. Rồi hai đại đội do anh và Vargas dẫn đầu tiến lên. Lúc 07:15,
khi Đại đội Echo cách ấp 200 ya, bộ đội Miền Bắc khai hỏa. Hai trung
đội của Echo khựng lại, nhưng trung đội thứ ba xông qua địch. Họ tràn
vào ấp và thọc qua, mỗi thước đất đều gặp hoả lực địch cày xới.
Một TQLC tiến lên đầu hàng quân và xui xẻo bị đồng đội bắn vào lưng,
khiến đạn trong dây đạn đang đeo phát nổ. May mà có áo chống đạn đã
cứu mạng anh, nhưng liền đó anh bị trúng đạn AK-47 ngay bụng, anh bỏ
chạy ra phía sau. Một TQLC khác đang phóng nhanh tới thì đâm sầm
xuống sau khi nhận ba viên đạn ở chân. Binh nhất Marshall Serna,
người ghiền hút cần sa và ma túy, đều đặn nhận được một liều móc-phin
từ quân y tá, được thưởng Ngôi sao Bạc. Trong khi một số người thể
hiện lòng quả cảm, các người khác thì không: một Hạ sĩ giúp dìu thương
binh ra sau không thấy trở lại. Khi trung sĩ xạ thủ Jim Eggleston mang
một TQLC bị thương nặng ra tuyến sau anh kêu gọi binh lính đang núp
sau các gò mả đến hỗ trợ. Không ai nhúc nhích – chỉ có một người la
lên, ‘Ở đây chúng tôi cũng đang bị bắn dữ lắm!’ Thật là một buổi sáng
đầy nỗi kinh hoàng: sau khi một TQLC bị bắt dính trên đường đạn của
súng phóng lựu, các đồng đội nhìn thấy cái chân bị cắt đứt của anh bay
nhào lộn trong không trung.
Lúc 09:14 Livingston báo cáo đã chiếm được Đại Đô, với giá 10 chết và
60 bị thương: ‘Họ gây tổn thất rất tệ vào Echo.’ Địch đã bắt đầu rót đạn
cối vào vị trí mới của Mỹ khi Đại tá Hull đến trên con thuyền máy. Tiểu
đoàn phải ‘giữ vững thế trận’, vị trung đoàn trưởng nghiêm khắc ra lệnh.
Họ phải đánh vào ấp tiếp theo, Định Tô, trong vòng một giờ. Một đơn vị
cơ giới QĐVNCH bên cánh trái của họ sẽ phát động tấn công đồng thời,
bảo vệ sườn của họ. Weise đề xuất một kế hoạch khác – tung một lực
lượng mới xa hơn về phía bắc, rồi đẩy địch trở lại vị trí TQLC đang giữ
Đại Đô: nói cách khác, ép bộ đội địch ra vùng trống trải. Nhưng Hull
bác bỏ ý kiến này: Đại đội H (Hotel) phải tấn công.
75 người của ‘Scotty’ Prescott tiến ra lúc 09:55, với 500 ya đồng trống
phải vượt qua. Trung uý Vic Taylor sau này viết: ‘Ngày không gió, cái
nóng khủng khiếp. Chúng tôi đã tu ừng ực tất cả nước mình có được …
Giờ thì mồ hôi tuôn xuống và quân phục ướt đẫm. Những lọn bụi bốc
lên theo mỗi bước chân trên đồng ruộng khô nứt nẻ. Vũ khí nóng đến
mức như không rờ được. Hỏa lực đã im tiếng. Có lẽ việc này sẽ dễ dàng
hơn tôi tưởng.’
Rồi họ thấy mình bị bao vây bởi vòm lá xanh và cây chuối dày đặc, và
địch thấp thoáng ở mọi nơi, bắn ra từ chổ nấp. Trong một tiểu đội tất cả
súng M-16 đều bị kẹt đạn, vì thế họ ném lựu đạn thay súng. Trong sự
hỗn loạn tồi tệ, binh sĩ tìm chỗ nấp. Địch ở quá gần đến nỗi Prescott
không thể yêu cầu yểm trợ súng cối hoặc pháo; lúc 12:00 anh bảo Weise
Đại đội Hotel sẽ bị quét sách trừ khi được tăng diện. Rồi anh cũng trúng
đạn, và cảm thấy lưng và chân đều bất động. Bò vào trong một túp lều,
anh dằn vặt bởi suy nghĩ phải ngồi xe lăn suốt đời. Taylor lên nắm
quyền và điện cho Weise rằng mình còn ít đạn dược trong khi thương
vong thì khắp nơi. Bám giữ, anh được lệnh, Echo đang đến.
Chỉ sau khi đã được tản thương Prescott mới nhẹ nhõm vô hạn khi thấy
chân có cảm giác trở lại. Hóa ra một viên đạn bắn trúng bi đông nước,
dội ra trúng một đinh tán trên dây nịt đạn, xé nát một bi đông thứ hai,
gây chấn động thành vết bầm tím lớn, nhưng không có gì tệ hơn.
Giờ thì Livingston lao về phía trước với khẩu Colt. 45 – gọi đùa là ‘súng
bơm mỡ’, dẫn đầu Echo. Đại tá Hull lên máy từ Trung đoàn, hống hách
hỏi, tấn công đến đâu rồi? Ông thúc giục Weise: ‘Tận dụng lợi thế của
anh, tận dụng lợi thế của anh! Không lùi lại – tận dụng thành công của
anh!’ Lúc 13:40 quân địch phản công – tấn công Định Tô, đẩy nhanh
đến cuộc cận chiến hỗn loạn chết người. Vũ khí của Livingston kẹt
đạn và anh ném bỏ, chộp lấy một súng trường. Một số người có M-16
hỏng hóc bắt đầu quay sang dùng súng lục. Thậm chí chỉ huy của Echo,
chiến binh bất khuất, cũng cảm thấy buộc phải gọi điện cho Weise,
‘Chúng tôi không thể trụ ở đây để rồi bọn nhóc sẽ bị giết hết.’
Họ bắt đầu lùi lại, quân địch đẩy tới phía sau. Livingston như tức thì có
mặt khắp mọi nơi cho đến khi lúc 14:30 anh lãnh một viên đạn súng máy
vào chân, mảnh vỡ lựu đạn trong đùi. Binh sĩ anh khiếp đảm khi vị chủ
tướng mình đồng da sắt của mình ngã xuống: ‘Tôi mất máu khá nhiều,
và tôi bảo họ cứ để mặc tôi. Nhưng hai gã da màu cứ lôi tôi về phía sau.’
Việc đại uý ngã ngựa đẩy nhanh cơn hoảng loạn: chỉ một mình anh đã
giữ vững sự gắn kết binh sĩ, dù có một số người nguyền rủa vì anh mà
họ thống khổ. Hạ sĩ Phil Cornwell nói: ‘Chúng hủy diệt chúng tôi. Chỉ
còn ít người chúng tôi trụ lại, thật khó tin. Binh lính tức tối vì có tin
đồn đại uý bị chính lính mình bắn vì anh đã dẫn chúng tôi vào lò sát
sinh. Tôi mừng vì anh bị bắn – do một thằng trong bọn chúng tôi hay do
bọn gook, không thành vấn đề.’ Đại đội E bị đánh tan tác. Weise điện
cho trung đoàn trưởng, ‘Thưa Đại tá, chúng tôi hết hơi rồi.’ Nhưng Hull
vẫn không lay chuyển: ‘Này Weise, chúng ta phải duy trì sức ép. Tiếp
tục dấn tới.’
Cuộc tấn công bên cánh trái của họ do đơn vị cơ giới QĐVNCH như đã
hứa sẽ đánh lạc hướng sự chú ý của địch, ông nói. Hull ra lệnh cho
2/4th, mặc dù giờ đây chỉ là một tiểu đoàn đã tan vỡ, phát động một
cuộc tấn công mới vào Định Tô. Đại đội Golf phải tiến hành, được
Foxtrot yểm trợ, 54 người tất cả, không ít người trang bị AK-47 vì súng
M-16 đã hỏng hóc.
Trong một cử chỉ phi thường, có lẽ do tuyệt vọng sinh ra, Bill Weise
quyết định đi hàng đầu vói họ. Ba đêm nay hiếm có người nào ở tuyến
đầu được ngủ trọn vẹn: kiệt quệ và đói khát, hầu hết đều chán chường
đến cùng cực.
Cuộc tiến quân bắt đầu lặng lẽ, nhưng thình lình TQLC hứng hỏa lực từ
cánh trái, nơi QĐVNCH được cho là sẽ đến tiếp ứng. Lính truyền tin của
Weise điện cho cố vấn Mỹ, bảo hãy canh chừng xem họ bắn vào đâu.
Rồi John Malnar kêu lên, ‘Đại tá ơi, không phải QĐVNCH, quân Miền
Bắc.’ Quân Miền Nam không đến, vì lý do chưa hề được giải thích,
nhưng khá quen thuộc đến mức đáng buồn – tốt nhất là do mất liên
lạc, tệ nhất là do ngoài ý muốn. Lính Mỹ thấy mình hứng hỏa lực từ
mọi phía. Lúc 15:05 họ thình lình xung phong, la hét và gào thét.
Foxtrot, trên sườn phía đông, báo cáo mình bị ghim chặt và thương
vong nặng nề. James Butler được cho là theo chân Đại đội G và vượt
qua, nhưng thất bại. Sau này anh nói rằng mình chỉ làm theo
lệnh, nhưng Weise nói đại đội trưởng F đã hiểu lầm mệnh lệnh, cố ý
hay vô tình. Báo cáo sau đó của Đại tá kết thúc sự nghiệp TQLC của
Butler.
Lúc 16:45 hai đại đội quân Miền Bắc phản công đám TQLC còn sống
sót của đại đội Golf, đẩy nhanh cơn tháo chạy hoảng loạn của binh lính
Mỹ bị áp đảo về quân số. Một TQLC chọc tay vào người một sĩ quan
đang quan sát tiền tuyến, nói, ‘Thưa xếp, mọi người đều rút nhanh hết
rồi! Weise và ‘Big John’ Malnar bỗng thấy mình bắn xả láng ở cự ly rất
gần với kẻ địch đang tiến đến. Một TQLC nói: ‘Hỗn loạn bắt đầu bùng
phát, binh lính la hét “Rút lui! Rút lui!’ Binh sĩ hai bên Jay Vargas đều
tử thương. Một súng phóng lựu bắn trúng Malnar khi ông yểm trợ hậu
quân bằng một súng ngắn, hủy diệt huyền thoại cô độc đã sống sót
những trận tệ hại nhất mà kẻ thù Nhật Bản, Bắc Triều Tiên và Trung
Cộng có thể gây ra cho ông. Một viên đạn AK-47 đốn ngã Weise, được
hai TQLC kéo về sau. Trung uý Judson Hilton bỏ cả vai trò của một
người kiểm soát không phận để bắn một tên địch cầm khẩu M-79 khi y
bò lên một con mương. Một TQLC người trần truồng trừ đôi giày bốt đi
rừng bỏ chạy như thằng điên. Jay Vargas bị bắn ba phát, nhưng tiếp tục
ra lệnh trong cơn vỡ trận, nhờ đó anh được thưởng Huy chương Danh
dự. Tiểu đoàn bỏ lại ở Định Tô 41 người chết.
Quân Miền Bắc rút lui trong đêm khỏi Đại Đô, sau đó một tiểu đoàn
TQLC khác đến chiếm đóng. Người Mỹ, kết toán ba ngày giao tranh,
tuyên bố giết được 537 địch bởi bộ binh và thêm 268 bởi pháo và không
kích. Tàu chiến ngoài khơi đã bắn 2,383 viên đạn để yểm trợ cho tiểu
đoàn 2/4th, pháo binh bắn 5,272 viên đạn cùng với 1,147 đạn súng cối;
27 cuộc không kích đã được tiến hành. Tiểu đoàn mất 81 người chết và
297 bị thương, thêm 100 bị thương nhẹ: phân nửa tổng số thương vong
này tổn thất trong ngày cuối cùng, ngày 2 tháng 5. Một trung đội trưởng,
vào trận với 48 TQLC, rốt cục còn 3. Vào ngày 30 tháng 4 tập kết được
650 người có điều kiện chiến đấu, sau đó được bổ sung thêm 200; cuối
trận chỉ còn 150 TQLC còn chiến đấu được chỉ huy bởi ‘Fritz’ Warren,
gần như là sĩ quan duy nhất không bị thương.
Cộng quân chưa hề công bố số thương vong trận Đại Đô. Số liệu công
bố của người Mỹ không thể tin được, nhưng Quân Miền Bắc chắc chắn
có nhiều người tử trận hơn tiểu đoàn 2/4th. Có các tham khảo bị che đậy
trong chiến sử chính thức cộng sản, mô tả tình trạng của họ vào ngày 2
tháng 5: ‘Chúng ta cũng chịu đựng tổn thất… Sức chiến đấu của bộ đội
ta giờ rất hạn chế … [Tiểu đoàn 6/52nd] chỉ còn lại ít quân.’ Nhưng tính
ngoan cường của Quân Miền Bắc cho thấy rõ sự hạn chế của sức mạnh
pháo và không kích khi chống lại quân địch có công sự phòng thủ. Jim
Livingston rất ấn tượng trước kẻ thù: ‘Họ không bỏ cuộc. Họ đúng là
bọn chó chết gan lì biết cách che chắn. Bạn đặt họ vào trong một
boongke và họ ở lì đó chiến đấu đến chết.’ Điểm yếu chiến thuật của
người Mỹ ở Đại Đô, và trong nhiều trận đánh khác, là họ tự biến mình
thành các mục tiêu lộ diện, và dễ tổn thương, trong khi kẻ địch ít khi
làm thế.
Quân Miền Bắc tuyên bố thắng lợi, và phân phát huy chương hào phóng
không kém người Mỹ. Họ tuyên bố vào ngày 2 tháng 5 đã đánh với 3
tiểu đoàn TQLC ‘và một lực lượng không nhỏ thuộc Lữ đoàn Không
Kỵ 73 Hoa Kỳ’, một lực lượng không tồn tại. Tường thuật của họ kết
luận: ‘Toàn bộ tiểu đoàn Mỹ co cụm lại bị đánh tan tác thành một đám
hỗn loạn hoàn toàn khi người chết và bị thương hàng đống … Chỉ trong
30 phút toàn bộ tiểu đoàn bị đập tan, với hơn 200 xác bỏ lại trên chiến
trường … Máu của bọn xâm lược Mỹ nhuộm đỏ nước sông Cửa Việt …
Chỉ trong một buổi chiều gần 500 lính Mỹ đã trả nợ cho tội ác của chúng
bằng sinh mạng.’ Trong số 10 người còn sống sót, sử gia cộng sản viết,
hai ‘đã hóa điên vì kinh hoàng’. Bài tường thuật này chỉ đáng trích dẫn
để minh họa cách thức người viết sử Việt Nam thế kỷ 21 kể lại trải
nghiệm cuộc chiến. Nhưng ngược lại những lời lẽ của bộ đội Bảo Ninh
nhấn mạnh đến sự tương đồng trải nghiệm giữa các đồng chí của ông và
lính Mỹ và lính Miền Nam: ‘Một số người quả cảm, một số không.’ Bộ
đội Miền Bắc đánh giá rất cao hỏa lực Mỹ, ông nói, ‘cho dù người Mỹ
không hiểu rõ con người’.
Nửa thế kỷ đã trôi qua, thật khó để coi Đại Đô là thứ gì khác hơn là một
hành động điên rồ bền vững, một quan điểm mà vào thời điểm đó được
nhiều người còn sống của tiểu đoàn 2/4th nhìn nhận. Một quân y tá 22
tuổi, ‘Bác sĩ’ Pitman, nói, ‘Việc đó tuyệt đối – tuyệt đối – khôi hài, và
tôi luôn cảm thấy rằng ai đó phải bị treo cổ.’ Bản năng tức thì của TQLC
là đổ tội cho Weise, mặc dù chính anh không đi được trong ba tuần và
trở lại nhiệm vụ chỉ sau một năm. Bà xã Ethel của anh đón nhận chuyện
này ra sao? ‘Cô ấy thật tốt – tốt hơn tôi tưởng.’ Công lý dường như gán
lời buộc tội chính đáng cho Đại tá Milton Hull và Thiếu tướng Rathvon
McClure Tompkins của Sư đoàn 3 TQLC. Có thể hiểu được vào ngày 30
tháng 4 các sĩ quan đó phái 2 đại đội đi dọn sạch bờ biển Bố Điều, lúc
đó họ chưa biết rõ quân địch nào đang ở đó. Điều bất thường là họ cứ
khăng khăng đòi tiếp tục tấn công trực diện suốt ngày 1 và 2 tháng 5.
Weise nói, ‘Tôi không tin Tompskins có biết chuyện gì xảy ra. Ông ta
dường như tê liệt. Vào ngày thứ ba đó khi họ bảo chúng tôi cứ dấn tới,
tôi nói, “Như vậy là rồ đại.”‘ Hull sau đó tuyên bố rằng người Mỹ ở Đại
Đô đã chạm trán với 2 trung đoàn Miền Bắc. Ông mô tả tình hình vào
đêm 2 tháng 5 bằng lời lẽ cho thấy một sự nhạo báng đối với thực tế:
‘Sau ba cuộc phản công dữ dội, tiểu đoàn 2/4th TQLC đã chịu một số
thương vong nhưng hàng ngũ vẫn còn rất vững chắc và họ tràn đầy động
lực và muốn tiếp tục tấn công và đẩy lùi địch. Tuy nhiên tôi … nghĩ đã
đến lúc cho tiểu đoàn nghỉ ngơi chút ít’.
Trận đánh Đại Đô ít được chú ý trong chiến sử. Weise nói, ‘Tôi thì tin là
Quân đoàn TQLC đã giấu nhẹm chuyện đó.’ Anh có thể đúng. Một số,
đúng ra là hầu hết, những gì sai lệch ở Việt Nam có thể được đổ tội một
cách chính đáng cho các chính trị gia vốn khởi đầu mọi chuyện, và tiếp
tục để nó diễn tiến. Nhưng ít tư lệnh Mỹ nào giấu mình trong thắng lợi
vinh quang, và một số còn phơi bày tính điên rồ có tầm vóc khó tưởng
tượng – như được thể hiện ở Đại Đô.
2 Đối Thoại
Một tuần sau trận Đại Đô kết thúc, vào ngày 10 tháng 5 1968 tại Khách
sạn Majestic ở Paris một phái đoàn Mỹ do Averell Harriman dẫn đầu
gặp phái đoàn Miền Bắc do một cán bộ cấp bậc trung bình Xuân Thủy
cầm đầu. Việc lựa chọn phái viên của người cộng sản ắt hẳn đủ để thăm
dò làn sóng hưng phấn đang quét qua cộng đồng quốc tế – ảo tưởng là
một dàn xếp hoà bình sẽ đạt được trong vòng vài tuần lễ, tệ nhất là vài
tháng. Mặc dù Lê Đức Thọ, người cộng tác thân cận nhất của Lê Duẩn,
cũng có mặt, nhưng Xuân Thủy là người chính thức. Miền Bắc cho thấy
là mình muốn đổi thoại, nhưng không vì cần thiết phải có sớm. Điều này
làm bối rối phái đoàn Mỹ, trong khi trên chiến trường cộng quân tiếp tục
tìm cách tiêu hao sức mạnh và ý chí của Mỹ và Miền Nam: đây là chính
sách nước đôi ‘vừa đánh-vừa đàm’. Hết tuần này đến tuần khác, và rồi
hết tháng này đến tháng khác, các phái đoàn đối thủ nói lèo bèo cho
nhau nghe ở Paris.
Người Mỹ bám vào yêu cầu khăng khăng đòi bộ đội Miền Bắc phải rút
khỏi Miền Nam như là một phần của việc rút quân toàn bộ các lực lượng
‘ngoại bang’, trong khi Hà Nội đòi VC phải nhận được một vai trò trong
chính quyền liên minh tại Sài Gòn. Không đề xuất nào được phe bên kia
chấp nhận, ba năm bế tắc ngoại giao trôi qua sau đó.
Thông báo của Lyndon Johnson về việc rút lui khỏi cuộc chạy đua tranh
cử tổng thống làm hoạt động ngoại giao Mỹ què quặt, bởi vì nó tăng
cường sức mạnh của chủ nghĩa thắng lợi Miền Bắc, khẳng định chiến
thắng đang trong tầm tay, cho dù tình trạng bấp bênh của VC. Ở
Washington, đại sứ Xô viết Anatoly Dobrynin được đại sứ Ba Lan cho
biết thủ tướng Phạm Văn Đồng chấp thuận sự trung lập của Miền Nam,
để kết thúc cảnh tàn phá. Điều này có thể tin được là đúng, nhưng hoàn
toàn không phù hợp với vị thế của Lê Duẩn và Lê Đức Thọ. Người Nga,
nóng ruột muốn sớm ngừng chi tiền cho các nỗ lực chiến tranh của Miền
Bắc, yêu cầu Hà Nội chứng tỏ sự mềm dẻo – và bị khước từ. Dobrynin
viết: ‘Ở Moscow không ít kinh ngạc hơn ở Mỹ … Trong nội bộ … nhiều
thành viên Bộ Chính trị Xô viết nguyền rủa người Mỹ, người Hoa và
người Việt vì họ không tìm kiếm một thỏa hiệp. Brezhnev có lần giận dữ
bảo với tôi ông không muốn “chết chìm trong đầm lầy Việt Nam “.’
Chính quyền Mỹ luôn nuôi dưỡng ảo tưởng là Nga có thể kết thúc chiến
tranh nếu muốn, nhất là khi Trung Quốc đang đắm chìm trong cuộc
Cách mạng Văn Hoá của Mao quá đỗi hãi hùng đến nỗi vào năm 1969
họ rút gần như toàn bộ nhân sự ở Miền Bắc về nước. Washington cứ
luôn miệng thúc giục Moscow nhận lãnh vai trò trung gian. Người Xô
viết rầu rĩ nhắc đi nhắc lại rằng Mỹ phải giải quyết song phương với
Miền Bắc. Người Mỹ không thể hiểu, Dobrynin viết, rằng dù Nga có
muốn hoà bình bao nhiêu, trong lúc đang đối đầu với thách thức của
Trung Quốc giành quyền lãnh đạo phe xã hội chủ nghĩa họ không thể
rút đi sự hậu thuẫn cho các đàn em cách mạng nổi bật của mình.
Moscow quá tin tưởng rằng một thắng lợi trong kỳ bầu cử tổng thống
cho đảng Dân chủ với Hubert Humphrey sẽ kết thúc chiến tranh đến nỗi
phái đoàn của họ khẩn khoản một cách vô ích với Lê Duẩn hãy cho ứng
cử viên Dân chủ một đột phá ngoại giao. Bóng ma của Richard Nixon
thuyết phục người Nga thậm chí còn đi xa hơn: họ đề nghị giúp hậu
thuẫn tài chính cho chiến dịch tranh cử của Humphrey nhưng bị lịch sự
từ chối.
Trong năm bầu cử sóng gió, đẫm máu đó, Mỹ chia rẽ như chưa từng có
kể từ thời Nội chiến. Lyndon Johnson giờ tỏ ra hối tiếc đã thoái vị, và
nuôi hy vọng sẽ được bổ sung vào danh sách ứng cử viên tổng thống
phút chót. Cay đắng cho cảnh ngộ của mình càng làm ông thêm khinh
thị, thậm chí khinh bỉ đối với vị phó tổng thống của mình. Trên khắp
nước Mỹ, thù địch đối với lực lượng quân sự trở thành một hiện tượng
rộng khắp và chưa từng có tiền lệ: Tư lệnh Hải quân Hoa Kỳ Jim Koltes,
phục vụ như một sĩ quan tham mưu tại Ngũ Giác Đài, giờ không còn
muốn như hầu hết các đồng nghiệp mình mặc quân phục ra đường phố
Washington: ‘Bạn có thể bị hành hung.’ Vậy mà thậm chí bây giờ,
không ứng cử viên nghiêm túc nào, không ngay cả Eugene McCarthy
hoặc Robert Kennedy, dám chủ trương việc Mỹ rút quân vô điều kiện
khỏi Việt Nam – mặc nhiên là nhìn nhận thảm bại. Cũng vẫn còn có
một ít kẻ leo thang chai lì, chủ trương tuyên chiến chính thức với Miền
Bắc, mặc dù một đề xuất như thế sẽ không bao giờ được Quốc Hội
thông qua.
Năm 1968 người Mỹ chứng kiến tử thần ở chung quanh họ: Kennedy và
Martin Luther King tử vì đạo; những cuộc bạo loạn sắc tộc trong các
thành phố. Về phần Việt Nam, vào ngày 28 tháng 5 Michael Minehan,
một tay súng máy trẻ ở tỉnh Quảng Trị, viết thư về nhà: ‘Hôm nay đã là
ngày thứ 9 trên chiến trường nhưng vẫn không có gì nhiều để nói vì mọi
thứ tụi con làm là đi bộ trong vùng núi tìm kiếm bọn gook . . . Con nghĩ
nên gửi ba má vài hàng để báo là mọi thứ đều tốt đẹp.’ Năm ngày sau,
tuy nhiên, cha mẹ Minehan ở Marlborough, Massachusetts, nhận được
một điện tín: ‘Bộ tư lệnh Quân đoàn TQLC vô cùng thương tiếc báo tin
con trai ông bà … đã hy sinh vào ngày 2 tháng 6 1968 … Anh ấy bị
thương làm cơ thể phân mảnh do phe ta không kích trật mục tiêu …
Phần thi thể còn lại sẽ được thu gom, đóng hộp và gửi không tính chi phí
cho ông bà cùng với đội nghi lễ được cử đến nhà tang lễ hay nghĩa trang
quốc gia tùy theo ông bà chọn. Ngoài ra ông bà còn được bồi hoàn một
số tiền không quá 500 đô cho chi phí lễ tang và an táng. Xin vui lòng
đánh điện về bộ chỉ huy Quân đoàn TQLC nói rõ ý nguyện của ông bà
về vấn đề liên quan.’ Vào cuối năm 1968, 16,899 điện tín như thế đã
được người nhà nhận được trên khắp nước Mỹ – hơn 300 một tuần – và
người Mỹ quá mệt mỏi vì chuyện đó.
MACV nổi dóa vì không ai nhìn nhận các chỉ huy có công lao mà các
binh sĩ cho rằng họ xứng đáng vì đã đập tan cuộc công kích Tết 1, rồi
Tết mini. Xếp Bình định hóa Robert Komer nói trong buổi họp cập nhật
tình báo hàng tuần vào ngày 29 tháng 6: ‘Chúng ta thắng một chiến dịch
và không ai biết điều đó.’
Tướng Creighton Abrams nhất trí điều đó, nói về giới báo chí. Một sĩ
quan tham mưu cao cấp của Abrams than thở: ‘Theo tôi dường như
chúng ta đã tự lừa phỉnh chính mình khi ngồi vào bàn đàm phán ở
Paris … Nếu mọi thứ đều ổn đối với địch và họ có thể tiến hành một vụ
công kích, thế thì họ được tán dương là có sức mạnh trên tít lớn báo,
như họ đã làm được trong vụ Tết. Bằng ngược lại, nếu do những nỗ lực
của chúng ta ở đây, chúng ta thành công trong việc phòng ngừa và ngăn
chặn họ công kích, thì họ được tiếng là xuống thang.’ Abrams nhất trí.
Trong tháng 8, MTDTGP và các chỉ huy VC nhận được các mênh lệnh
ngắn gọn, độc đoán từ Trung ương Cục Miền Nam, chỉ thị rằng phải có
‘đợt sóng công kích Tết thứ ba’ Một số chỉ dẫn chiến thuật nghe có vẻ
vô lý: các chiến binh được dặn giấu mình trong các đường hầm và
boongke giữa Sài Gòn, che phủ các hố đào bằng nắp gỗ mang theo.
Lệnh này giờ cuối bị hủy bỏ, chỉ sử dụng biệt kích địa phương tấn công
thay thế. Những nơi khác trong vùng, các nhóm tiến hành pháo kích
cầm chừng các căn cứ Mỹ, sử dụng rốc kết còn lại từ kho dự trữ tháng 2.
Trận công kích tháng 8 tập trung vào tỉnh Tây Ninh, và hầu hết đều bị
đẩy lui dễ dàng.
Đây là thời kỳ tồi tệ cho lực lượng VC. Trên khắp vùng Cửu Long,
đường tiếp vận trên kênh và sông cho du kích quân đều bị ngăn trở hoặc
cắt đứt bởi các hoạt động tuần tra ráo riết của thuyền Mỹ và Miền
Nam, có trang bị đèn pha ban đêm. Các du kích còn suy yếu không thể
đương đầu với các cuộc càn quét được làm mới. Những địa điểm ẩn náu
truyền thống thình lình trở nên dễ tổn thương. Các đơn vị buộc phải
phân tán, và hầu hết rút về Cao Miên. Các trạm tiếp viện của họ bị liên
tục tấn công. Tiểu đoàn trưởng thiện chiến của VC vùng đất đồng bằng,
Mười Xường, được phái đến Sài Gòn để tìm hiểu số phận của một đơn
vị đã bị mất liên lạc. Rồi chính ông cũng bị nhanh chóng giết chết sau
khi Mỹ khám phá hầm ẩn nấp ngầm của ông. Việc đào ngũ khỏi các đơn
vị VC trở nên đặc hữu.
Vào ngày 31 tháng 8, với các chỉ huy Mỹ thấy mình đang trải qua một
thời kỳ thành công, ‘Đèn hàn’ Komer báo động khả năng Hà Nội có thể
đề xuất ngừng bắn vô điều kiện trước cuộc bầu cử Mỹ: ‘Cả hai ứng viên
đều ủng hộ việc đó: ”Làm sao bạn có thể chống lại một cuộc ngừng bắn
chứ? Nó giống như tình mẫu tử.”‘ Earle Wheeler bảo với tổng thống vào
tháng 10: ‘Đánh giá của Abrams là rất thuận lợi. Nếu chúng ta không
thắng cuộc chiến về mặt quân sự, thì chúng ta cũng đang trên đường tới
điều ấy.’ Tham mưu trưởng của Sư đoàn 9 Mỹ tai tiếng trong vùng châu
thổ mô tả cách thức đội hình của ông chiết tính các thắng lợi của mình
cho năm 1968: ‘Khái niệm lợi nhuận do việc bán lẻ, đó là, thực hiện một
số lớn trận nhằm loại bỏ từng nhóm nhỏ địch quân, đối chiếu với khái
niệm bán sỉ … đó chính là cách thức tiến hành cuộc chiến. Chẳng
hạn, nếu mọi đại đội 39 [tay súng] tiêu diệt chỉ một VC mỗi ngày, thế
thì một tháng lên đến 1,170 tên.’ Đây là một ví dụ sống động của tính
điên rồ thống kê, hàng núi những số liệu rườm rà rối rắm, thay thế cho
chiến lược.
Nhưng những người đã chiến đấu ở Đại Đô; những người đã nhìn thấy
hơn 100 trực thăng bị mất mỗi tháng; những người hiểu rằng trong năm
1968 cộng quân tiến hành 1 500 vụ tấn công trên bộ và lực lượng suy
yếu của VC đã âm mưu 9,400 vụ khủng bố có ghi chép lấy đi 5,400 sinh
mạng thường dân; những người lưu ý đến việc trong QĐVNCH có đến
139,670 vụ đào ngũ khoảng Giáng sinh có ghi trong sổ sách; sẽ không
còn tin rằng cuộc chiến đang thắng lợi hoặc có thể chiến thắng. Thiếu
tá William Haponski viết: ‘Các trải nghiệm của tôi, tôi tin tưởng, phản
ánh toàn bộ khung cảnh chiến tranh, với các tình huống có vẻ là những
thành tựu của người Mỹ. .. Chúng tôi đang cày trên thứ gì dường như là
vùng đất mới, hi vọng có được một mùa đông bội thu, nhưng thật ra
đồng ruộng đã gần như bị tàn phá hoàn toàn bởi những gì xảy ra trước
đây, và rất ít cây trái ngọt có thể mọc lên ở đấy.’
Một người lính trong đại đội bộ binh của Binh nhất John Hall bất ngờ
tuyên bố: ‘Tôi không ra trận nữa.’ Các đồng đội anh khuyên can, thuyết
phục anh không thể từ bỏ nhiệm vụ một cách nhục nhã như thế, nhưng
anh vẫn bướng bỉnh: ‘Tôi đếch cần. Tôi không muốn chết.’ Anh bị
chuyển về hậu cứ để chịu các trừng phạt kỷ luật, nhưng rồi đây sẽ có
nhiều người như anh xuất hiện. Những tân binh đợi bắt máy bay đến Sài
Gòn, sau khi chứng kiến các cuộc xung đột trên đường phố Chicago
trong Hội nghị Đảng Dân chủ vào tháng 8, khó có thể tin rằng mình
đang tham dự một cuộc chiến đáng để chết vì nó.
Tình trạng hoang mang đang bao vây người Mỹ thuộc đủ mọi sắc thái
chính trị được phản ánh trong một bức thư được in trong tờ New York
Times số 2 tháng 9, của một giáo sư sử học. Ông nói rằng mặc dù là một
đảng viên có đăng kí của Dân chủ 24 năm rồi, ông đang tính ra khỏi
đảng vào tháng 11, bởi vì ‘Theo tôi một cử tri có thể đang tính ủng hộ
cho Hubert Humphrey cuối cùng sẽ quay sang bầu cho Richard Nixon.’
Ứng viên tổng thống của đảng Cộng Hoà biết rằng mình chỉ có thể chiến
thắng nếu dựa vào đủ số cử tri tin rằng ông, và chỉ ông, có thể kết thúc
chiến tranh mà không để người Mỹ chịu bẽ mặt. Ông tung tin cho một
phóng viên dựng chuyện là mình có một kế hoạch hoà bình bí mật – sẵn
sàng được tiết lộ khi bước vào Nhà Trắng. Điều này là hư cấu: thật ra,
ông chỉ dự định khai thác nỗi sợ hãi cộng sản để ông, Chiến binh Lạnh
bất khuất, có thể sử dụng mọi biện pháp cực kì bạo lực nếu phe địch
không chịu thương lượng. Ngày 25 tháng 10 ông tìm cách phá vỡ kế
hoạch ngừng dội bom của LBJ, qua các vận động bí mật hai mặt nhằm
phá vỡ một dàn xếp trước ngày bầu cử, nổi bật là việc thúc giục Tổng
thống Thiệu của Miền Nam – sử dụng Madame Chennault, góa phụ của
Claire Chennault, chỉ huy không lực huyền thoại Thế chiến II tại Trung
Quốc, làm người trung gian – để tẩy chay hòa đàm Paris.
Một tuần sau, vào ngày 31, trong một cú phản đòn muộn màng được
canh giờ để đánh đắm ứng viên Cộng Hòa, Lyndon Johnson lên truyền
hình quốc gia công bố dừng mọi cuộc dội bom Miền Bắc. Không chắc
có phải vì điều này đã thay đổi kết quả bầu cử, nhưng điều chắc chắn là
vào tháng giêng 1969, với không tới 1 phần trăm tổng phiếu bầu vượt
hơn Humphrey, Richard Nixon trở thành tổng thống Hoa Kỳ. Cuộc
chiến của Johnson đã trở thành cuộc chiến của Nixon. Tuy nhiên, như
Nixon viết trong hồi ký của mình, ‘Không còn là một câu hỏi liệu tôi sẽ
rút quân hay không, mà là bằng cách nào họ sẽ ra đi và điều gì họ sẽ bỏ
lại phía sau.’
CHƯƠNG 21: QUYỀN THỪA KẾ CỦA NIXON
1 Một Quân Đội Rệu Rã
Một buổi tối tháng 12 1968, Frank Scotton bước vào Khách sạn
Continental Palace để xem một nhóm người Việt tiếng tăm bị ba lính
Mỹ say xỉn nhục mạ. Scotton khuyên họ hãy đi chỗ khác, nhưng một
người Việt, một thượng nghị sĩ, hỏi với giọng phiền muộn, ‘Làm sao
việc này có thể xảy ra, làm sao việc này có thể xảy ra?’ Scotton trả lời
rằng đây là triệu chứng của một đất nước không thể tự bảo vệ mình. Bác
sĩ trẻ Đặng Thùy Trâm ăn Tết 1969 với một đơn vị bộ đội đi qua bệnh
viện cô. Việc họ đến, vào năm mới thứ ba phục vụ ở Miền Nam này, làm
dâng trào trong cô một nỗi niềm hoài cảm khiến cô phải đi bộ một mình
trong suốt buổi chiều về khu tập thể: ‘Một cơn gió lạnh thở dài … Một
nỗi buồn và nhớ nhà mênh mông khiến tôi dừng lại. Thay vì quen với
nỗi cô độc phải sống trong một vùng đất xa lạ, thay vì cảm thấy vui
trong sự nồng ấm và tình bằng hữu của đồng bào… tôi cảm thấy như thể
đây là ngày đầu tiên tôi đến đây. Mơ ước thực sự duy nhất của tôi là
được sống với Mẹ và Bố trong tổ ấm gia đình ấm áp… vẫn còn là cô gái
nhỏ muốn được nuông chiều.’ Cách đó một ít dặm, hàng ngàn người
đương thời của cô sống trong chế độ tư bản ắt hẳn đã không chịu nổi
trước cơn dâng trào cảm xúc tương tự.
Không người Việt hoặc Mỹ nào phân biệt được nhiều thay đổi sớm sủa
trong các tình huống chiến trường theo sau việc tổng thống Hoa Kỳ mới
đăng quang và thay đổi các tư lệnh của MACV. Tổng thống Nixon
muốn một thỏa thuận, nhưng không muốn bị dán nhãn hiệu là một tên bỏ
chạy: trong bài diễn văn nhậm chức, ông không đề cập đến Việt Nam.
Cố vấn an ninh quốc gia của ông, Tiến sĩ Henry Kissinger, sau này viết:
‘Vấn đề nổi trội là giữ lòng tin’ – đúng ra ông phải nói ‘làm ra vẻ như
giữ lòng tin’ – ‘với mười triệu người, trông cậy vào các bảo đảm của
người Mỹ, đã gắn liền số phận của họ với số phận của chúng ta.’
Cuộc chiến tiếp tục tiêu phí 2.5 tỉ đô la mỗi tháng và hơn 200 sinh mạng
người Mỹ mỗi tuần – một phần ba ít hơn trong năm 1968, nhưng vẫn
còn hơn năm 1967. Các lực lượng Mỹ tiêu tốn trung bình 128,400 tấn
đạn dược mỗi tháng qua hết năm 1969. Vào tháng 6, Dan Bullock từ
Brooklyn, New York, trở thành thanh niên Mỹ trẻ nhất thiệt mạng trong
cuộc chiến. Đã khai đối để đăng lính, thiếu niên da màu 14 tuổi viết thư
về nhà cho chị mình: ‘Em nghĩ em đã gia nhập TQLC vào một thời điểm
sai lầm. Hãy cầu nguyện cho em, vì em chắc không về nhà.’ Đúng 21
ngày sau khi đổ bộ lên Đà Nẵng, cậu bị giết bởi một túi ghết thuốc nổ
địch ném vào boongke của mình.
Tướng Creighton Abrams là một người xốc xếch luộm thuộm, tương
phản với Westmoreland lúc này cũng bảnh bao chải chuốt. Là một ngôi
sao bóng bầu dục trường trung học ở Springfield, Massachusetts trước
đây và lữ đoàn trưởng thiết giáp thời Thế chiến II dưới quyền chỉ huy
của Patton, vị tướng 54 tuổi nhận được sự chào đón của giới truyền
thông Mỹ như điều gì đó mới mẻ. Dù sao đi nữa, thậm chí nếu ‘tìm và
diệt ‘ được cho là được thay thế bởi ‘quét và giữ’, việc xuất hiện của
Abrams không báo hiệu thay đổi gì có ý nghĩa trong chiến lược. Người
kế vị Westmoreland biết rằng, đối mặt với lòng quyết tâm đang dần dần
phai nhạt trong nước, mọi thứ phải được thi hành nhanh chóng. Nhiều
đơn vị VC và bộ đội Miền Bắc khát khao tránh đụng độ trực diện với
binh lính Mỹ, vì vậy Abrams năng nổ nhấn mạnh tầm quan trọng của
việc tận dụng mọi cơ hội. Ông ra lệnh bất kì sĩ quan Mỹ nào chỉ huy một
đại đội trơ lên nếu mất liên lạc với địch phải tường trình lý do.
Ông xỉ vả các yêu cầu từ Washington phải giảm thiểu thương vong dân
thường: trong năm 1968 nhịp điệu xuất kịch hàng tháng của B-52 chống
lại các mục tiêu ở Miền Nam và Lào gần như tăng gấp đôi đến 1,500, và
trong tháng 3 1969 các phi cơ khổng lồ này đã ném xuống 130,000 tấn
bom. MACV vẫn thiếu thốn mãn tính tin tình báo chiến thuật: Fred
Weyand nhìn nhận rằng ‘các lực lượng đồng minh không có cơ sở thông
tin trong dân chúng địa phương’. Vào tháng 4 1969 tuy vậy Abrams bảo
với một phóng viên, ‘Khi chúng tôi duy trì thế tiến công… tỷ số sát
thương của chúng tôi rất ngoạn mục.’
Phụ tá hung hăng nhất, và là người nổi tiếng bất chấp lợi ích của người
Việt, là Thiếu tướng Julian Ewell, một cựu binh Dù dữ tợn của Thế
chiến II. Vào năm 1968-69 Ewell chỉ huy Sư đoàn 9 trong vùng đồng
bằng Cửu Long, sau đó nắm quyền chỉ huy Lực lượng Dã chiến II. Ông
viết: ‘Cách tiếp cận “trái tim và khối óc” có thể nói hơi quá. Trong vùng
Đồng bằng cách duy nhất để khắc phục quyền kiểm soát và khủng bố
của VC là bằng sức mạnh bạo lực.’ Ewell bác bỏ các phát hiện của tổng
thanh tra MACV, cho rằng có 7,000 dân thường thiệt mạng trong Chiến
địch Speedy Express kéo dài 6 tháng trong đội hình của ông. Vào tháng
4 1969, thất thoát xăng dầu trái phép từ đường ống quân đội ở phía bắc
Phú Cát lên đến 600,000 ga-lông một tháng, và thiệt hại quốc gia chạm
mốc 4.5 triệu ga-lông. Tại buổi họp tư lệnh MACV hàng tuần người ta
thảo luận về việc trị tội bọn trộm cắp làm gương. Một sĩ quan phản đối,
‘Mình không thể bắn người vì tội trộm vặt.’
Ewell trả lời, ‘Tào lao.’ Abrams bày tỏ sự khó chịu của mình về việc bắn
giết bừa bãi. Ewell nói: ‘Tôi không đồng ý với ngài, thưa tướng quân.
Ngài gặp một đơn vị đặc công đặt mìn trên đường và ngài giết hai ba
tên, thế là bọn chúng không làm chuyện đó nữa. Bọn này biết đếm. Và
ôi thôi, khi ngài xếp hàng chúng (các thi thể) nhiệt tình chúng sụt giảm
nhanh chóng. Đó là cách chúng tôi thông quang Xa lộ 4 – chỉ cần giết
chúng.’ Abrams khiến mọi người cười lên khi nói, ‘Được rồi, chúng tôi
sẽ nghiên cứu việc đó.’ Tuy vậy ông cũng kêu gọi thận trọng xử sự với
dân thường: ‘Chúng ta không muốn tỷ lệ khủng bố của Mỹ cao hơn của
VC.’ Ewell vẫn bất chấp coi như không. Một xạ thủ trực thăng Huey
thấy mình làm việc cho một lữ đoàn trưởng của Sư đoàn 9, John ‘Mal
Hombre’ Geraci: ‘Lệnh của ông ta là: giết mọi thứ di động.’ Geraci
mang theo một cây gậy mà ông dùng để chọc vào ngực các sĩ quan nhằm
nhấn mạnh ‘Tôi muốn người chết’ Sư đoàn 9 hoàn thiện một kỹ thuật bịt
kín một khu vực bằng bộ binh, rồi nghiền nát mọi thứ trong đó bằng
không kích và pháo kích. Việc đếm xác chắc chắn là ấn tượng, nhưng
không được khác xa với số vũ khí tịch thu được, chỉ dấu đáng tin nhất
cho thấy giết đúng người.
Vào ngày 12 tháng 11 1969, các tin điện của Associated Press chứa báo
cáo đầu tiên của một tay điều tra độc lập Seymour Hersh, chỉ ra việc các
binh sĩ của Sư đoàn 23 đã tiến hành một cuộc thảm sát dân chúng ở Mỹ
Lai, cách biển một vài dặm trong tỉnh Quảng Ngãi, và các phiên tòa án
binh được nhóm họp. Trong những tháng và năm sau đó, nó tiết lộ sự
việc là vào ngày 16 tháng 3 1968 Đại đội C, Bộ binh 1/20th đã tàn sát ít
nhất 504 nông dân đủ mọi lứa tuổi và giới tính mà không bị khiêu
khích – hầu hết họ ở ‘thôn Mỹ Lai 4’, một thôn làng được lính Mỹ gọi
là Pinkville. Vụ thảm sát được cho là lớn nhất trong cuộc chiến, mặc dù
có những viện dẫn là binh lính Nam Hàn vi phạm nhiều vụ tồi tệ hơn.
Đại uý Ernest Medina chỉ huy Đại đội C, trước đó đã lạnh lùng ra lệnh
bắn hai ngư dân ngoài khơi, và các binh lính của đơn vị đã sát hại các
dân thường khác mà không bị ngăn trở. Những tên hiếp dâm không chịu
hình thức kỷ luật nào cả. Một ngày trước vụ thảm sát, tuyên úy Carl
Creswell tham dự một buổi huấn thị của sư đoàn tại đó một thiếu tá chơi
một điệu nhạc nền cho cuộc truy quét sắp tới bằng câu nói, ‘Chúng ta
chuẩn bị đi vào đó và nếu tìm được một viên đạn chúng ta sẽ san bằng
nó.’ Creswell nói một cách khó chịu, ‘Này anh, tôi không cho rằng
chúng ta định làm chiến tranh kiểu đó.’ Viên thiếu tá nhún vai: ‘Đây là
cuộc chiến cam go, thưa tuyên úy.’
Đây là quan điểm được mọi sĩ quan cao cấp trong vùng chấp nhận: trong
những tháng tiếp theo vụ Mỹ Lai, thậm chí có những vụ thảm sát gây
sốc hơn đã được giấu nhẹm theo thể chế. Các chỉ huy phớt lờ một báo
cáo ngay lúc đó của một phi công trực thăng W/O Hugh Thompson, dám
liều lĩnh làm dậy sóng vào hôm đó về những gì anh nhìn thấy, và tiếp tục
làm dậy sóng sau đó. Chỉ huy Lực lượng Tác chiến Trung tá Frank
Barker bỏ ngoài tai các biểu lộ bất bình về tuyên bố của 1/20th đã giết
được 128 quân địch mà không tịch thu được một vũ khí nào, nói rằng:
‘Đúng là bi thảm khi chúng ta giết các phụ nữ và trẻ em đó, nhưng đó là
tình huống tác chiến.’ Vào tháng 3 1969 xạ thủ ở cửa trực thăng Ronald
Ridenhour viết cho 30 thành viên trong Quốc Hội, mô tả các trò tàn bạo
được bạn bè kể lại rất đáng tin, khuấy động một cơn sóng nhỏ phẫn nộ ở
trong nước mà khá lâu sau đó nổi lên thành một cơn lũ quét. Dù vậy, sĩ
quan tham mưu của Sư đoàn 23 Thiếu tá Colin Powell, sau này là ngoại
trưởng Hoa Kỳ, đưa ra cho sĩ quan quản trị cao cấp một bản ghi nhớ
chẳng khác một sự che đậy trắng trợn, xác nhận rằng ‘Mối quan hệ giữa
binh lính Mỹ và dân chúng Miền Nam là tuyệt vời.’ Powell không phỏng
vấn binh nhì Tom Glen, một người gốc Tucson 21 tuổi đã viết một bức
thư can đảm gửi Creighton Abrams kể về các hành động tàn bạo của
binh sĩ Mỹ.
Các cuộc điều tra vụ Mỹ Lai phơi bày chứng cứ của các tội ác chiến
tranh khác vi phạm cùng thời kỳ bởi Đại đội Bravo của Bộ binh 4/3rd,
nhưng không ai bị truy tố. Khi Trung tướng William Peers tiến hành
muộn màng một cuộc điều tra đầy đủ vào tháng 11 1969, ông truy ra
được tên của 28 sĩ quan, trong đó có 2 tướng và 4 đại tá, mà ông kết án
phạm 224 tội phạm quân sự nghiêm trọng, đi từ làm chứng dối và không
báo cáo tội ác chiến tranh đến thông đồng dấu nhẹm thông tin, và tham
gia hoặc không ngăn cản tội ác chiến tranh. Hơn 40 trong số 103 binh
lính của Đại đội C đã tham gia vào vụ thảm sát, và không có một binh sĩ
nào ra tay ngăn cản họ hoặc các vụ hiếp dâm tập thể diễn ra đồng thời.
Mặc dù tư lệnh sư đoàn 23 Thiếu tướng Samuel Koster bị hạ chức lữ
đoàn trưởng muộn màng, không có truy tố qua tòa án binh nào đối với
các vi phạm nghiêm trọng, trừ vi phạm của Trung đội trưởng 1 Trung uý
William Calley, vào ngày 29 tháng 3 1971. Mặc dù Calley bị kết án tù,
nhưng tổng thống ngay lập tức can thiệp ra lệnh cho y chỉ nên bị ‘quản
thúc tại gia’.
Khi Đại uý Medina được tha bổng, quan tòa còn chúc anh sinh nhật vui
vẻ. 5,000 điện tín gửi đến Nhà Trắng về vụ truy tố Calley 100 người
chống 1 đều hậu thuẫn gã trung uý lùn mập này, và chỉ huy quốc gia hội
Cựu binh Chiến đấu Nước Ngoài nói: ‘Lần đầu tiên trong lịch sử nước
nhà mà chúng ta xét xử một quân nhân vì thi hành nhiệm vụ.’ Nixon kêu
lên vài lần với một phụ tá Nhà Trắng vào tháng 11 1969, khi báo chí
chạy tít lớn về câu chuyện Mỹ Lai, ‘Chính bọn Do Thái bẩn thỉu ở New
York đứng đằng sau chuyện này.’ Các lính mới tuyển mộ tại Đồn
Benning hô vang ‘Calley … Calley … Người hùng của chúng ta.’ Thông
tấn xã AF Saigon chơi đi chơi lại bài ballad được một nhóm ca Alabama
thu âm đặt tên là Đại đội C: ‘Tôi tên là William Calley/ Tôi là người
lính của vùng đất này/Tôi đã thề làm tròn nhiệm vụ và nắm thế thượng
phong/Nhưng họ biến tôi thành một gã côn đồ/họ đã đóng một nhãn hiệu
lên người tôi.’ MACV cuối cùng ra lệnh cơ quan phải ngừng chạy đĩa
nhạc đó nữa – vốn đã bán được 200,000 bản – nhưng không thể bôi xóa
được những khẩu hiệu viết trên tường ở Sài Gòn như ‘Giết một tên gook
vì Calley ‘. Vào tháng 9 1974 thẩm phán liên bang ra lệnh phóng thích
Calley cho hưởng án treo trên cơ sở vụ xét xử anh đã chịu thành kiến
của công luận thù địch. Anh được phóng thích sau khi thụ án đúng 42
tháng quản thúc tại gia.
Vụ thảm sát Mỹ Lai đã trở thành biểu tượng của những gì tồi tệ nhất
trong hạnh kiểm thời chiến của lực lượng vũ trang Hoa Kỳ. Phe vận
động chủ chiến trong nước không sai khi xác nhận rằng Calley là một
con dê tế thần. Gã trung uý đã không trung thực khi y xác nhận các
hành động của mình ‘chỉ là làm theo lệnh’, nhưng y có thể đã xác nhận
một cách hợp pháp rằng vụ thảm sát phản ánh một nền văn hoá giết
người vô tư, một sự khinh miệt chủng tộc đối với người Việt, vốn đã lây
nhiễm nhiều đơn vị Mỹ – và chỉ huy của họ. Công lý ắt hẳn đã phục vụ
tốt hơn nếu áp đặt các án tù làm gương đối với vài sĩ quan cao cấp mà
cuộc điều tra Peers đã nêu tên, trước tiên là Koster.
Trong khi đó, dường như không thể biện minh việc cho là Abrams nặng
tội hơn các người tiền nhiệm MACV vì thất bại không thắng được cuộc
chiến, bởi vì ông ít có lựa chọn. Ông được giao mệnh lệnh phải gặt hái
thành công trên chiến trường với lực lượng đã sớm bắt đầu giảm sút.
Ông làm những gì binh sĩ được cho là phải làm – giết địch – nhưng
không có khả năng sửa chữa cái thực tế rõ ràng không thay đổi được và
không giải quyết được, là chính quyền Miền Nam không có quan hệ tốt
với nhân dân mình. Với đường biên giới phía tây dài một ngàn cây số
phải gìn giữ, và bên kia là nhiều căn cứ của cộng sản, và cũng như
Westmoreland ông than phiền việc Washington từ chối cho phép ông
dấn sang Lào và Cao Miên. Công ty vận tải Hak Ly do Quân đội Miền
Bắc điều hành ở Cao Miên, trong đó chính quyền Phnom Penh nắm một
phần lợi ích, đang chuyển 14,000 tấn đồ tiếp tế mỗi năm từ cảng
Sihanoukville đến các căn cứ Miền Bắc ở phía đông đất nước.
Abrams nổi dóa: ‘Để các đơn vị địch vỗ béo ở đó đúng là một tội ác.’
Nhưng khi ông đề xuất với Trung tướng Andrew Goodpaster rằng một
số vụ dội bom của B-52 trong sứ mạng Vòng Cung Ánh Sáng có thể
‘tình cờ ‘ lạc qua biên giới, người phó của ông nghiêm nghị đáp rằng
một quyết sách của Washington phải được tôn trọng. Abrams còn thịnh
nộ hơn bởi một nghiên cứu của CIA cho rằng một hành động quân sự
vào các khu căn cứ địa cộng sản sẽ không mấy tác dụng. Greg Daddis
nhận xét rằng việc thay chỉ huy MACV chỉ biểu thị một sự xê dịch ngôn
từ hơn là một thay đổi chiến lược. Dưới thời Abrams, các cuộc hành
quân của Dù 101, và các cuộc tấn công tháng 5 1969 vào Đồi 937 ở
Thung lũng A Shau – điều sau này sẽ được biết dưới tên Trận Đồi Thịt
Bầm, chỉ cách biên giới Lào một dặm – không thể phân biệt được với
nhiều trận đánh diễn ra dưới sự theo dõi của Westmoreland.
Một tình huống khác cũng chịu tai tiếng như thế là Matterhorn, chủ đề
của tiểu thuyết tự thuật của Karl Marlantes. Con trai của một chính
khách Trung uý Landen Thorne, một trung đội trưởng với Marlantes
trong Đại đội C của TQLC 1/4th, là một trong số tương đối ít thuộc tầng
lớp trên chấp nhận phục vụ tại Việt Nam mà không do dự: ông nội anh
từng là một TQLC chuyên nghiệp, cha anh một sĩ quan truyền tin trên
tàu sân bay Horner thời chiến, và anh muốn khám phá liệu anh có thể
theo kịp với họ không. Trong những tháng cuối cùng trước khi chàng
trai New York 25 tuổi tốt nghiệp Yale, bạn đồng học với anh đều băn
khoăn có nên ra trận hay không, và phần đông đều chống lại: ‘Tôi càng
lúc càng bối rối khi bắt đầu nghe tin nhiều hơn. “Ê, mầy có nghe tin
Charlie chưa? Nó vừa tử trận.” Nhưng một số người làm méo mó cuộc
sống mình để tránh đi lính và đối với một số người nó trở thành một
chuyến đi tội lỗi kéo dài.’ Tại San Francisco trong khi đợi xuống tàu,
anh đồng hành cùng cô em gái Julia trên đường đến trạm xe buýt. Rồi
sau đó cô khởi hành du học châu Âu, và trở thành một chiến sĩ phản
chiến nhiệt thành.
Tại Đà Nẵng, Thorne và đồng đội mới đến được một đám cựu binh vừa
hết hạn nghĩa vụ chào đón, nói với họ một cách u ám, ‘Chào mừng đến
với bãi bùn xanh tươi nhất trên mặt đất. Các cậu sẽ hối tiếc.’ Anh đợi hai
ngày mới đáp được trực thăng CH-46 đến căn cứ yểm trợ hỏa lực
Argonne nơi anh thấy đại đội đang nhìn trân trân vào quận Miền Bắc
trên một ngọn đồi chỉ cách đó 2 km bên kia biên giới Lào. Đêm đầu tiên
người Mỹ bị tấn công: ‘Bạn có thể nghe tiếng đùm, đùm, đùm khi đạn
súng cối khai hỏa, thăm dò vị trí của chúng tôi.’ Thorne khám phá ra
rằng mình đã gia nhập một đơn vị khốn khổ: ‘Chỉ huy ra sức tìm kiếm
cách thực thi những việc không hợp lý. Nếu các TQLC trẻ ở với bạn, họ
có thể làm những việc tuyệt vời. Nhưng lãnh đạo kém có thể khiến mọi
việc khó khăn hơn nhiều.’ Sau đó họ bỏ ra nhiều tuần càn quét ngọn đồi
gần đó mật danh Neville, tại đó Thorne được cử làm quan sát viên tiền
tiêu cho ba khẩu pháo 105mm. Anh đang vào vị trí, chỉ được hai trung
đội phòng thủ, khi trong bóng tối của buổi sáng sớm ngày 25 tháng 2 hai
trăm bộ đội Miền Bắc, chỉnh tề trong quân phục xanh lá cây và giày
xăng đan, phát động một cuộc tấn công bất ngờ qua rừng rậm chạy thẳng
đến hàng rào kẽm gai. ‘Chúng tôi bị tràn qua ba lần, hết sạch mìn
Claymore không thể được tái tiếp tế bằng trực thăng, bị pháo kích bằng
súng cối 60mm và 82mm.’ Địa điểm nghe ngóng địch được dặn: ‘Nằm
lạnh’ – nằm yên và hy vọng địch không nhận ra bạn. Lửa bùng nổ, do
các bao thuốc nổ chất quanh ụ pháo, một ụ pháo rơi vào tay địch
Các đặc công Miền Bắc bị đánh lui sau trận giao đấu 3 giờ đôi khi với
công cụ đào hầm cũng như súng và lựu đạn, nhưng 12 TQLC và 2 quân
y tá hải quân phải bỏ xác, và nhiều người sống sót phải bị mất thính giác
do những tiếng nổ quá gần. Quân địch tiếp tục quấy nhiễu vành đai
Neville đã thu nhỏ nhiều ngày rồi, trong thời gian đó trực thăng không
thể đáp và các quân nhu thả dù bay giạt đi không xuống đúng nơi.
Thorne thấy quá sợ hãi không thể ăn uống được: ‘Có quá nhiều chất
adrenalin chạy trong cơ thể. Bạn đã mất ổn định về xúc cảm, bởi vì bạn
đã chấp nhận cái chết. Nếu bạn sống, bạn sẽ trở thành con người khác
sau đó. Đêm thứ hai vấn đề lớn là kỷ luật khai hỏa, vì mọi người căng
thẳng và hốt hoảng, nên có khuynh hướng bóp cò và nhấn nổ mìn
Claymore. Ngay khi nghe động tĩnh là gọi pháo rót vào.’ Vào ngày thứ
ba, đã nhịn đi cầu hết nỗi, anh vừa ngồi xỗm trên một thùng giấy đựng
quân nhu thì tiếng Đòong! Đòong! đáng ghét lại bắt đầu. ‘Nhưng đến lúc
đó tôi sẵn sàng chết để được xả ra.’
Các trận tấn công thưa dần. Thời tiết vẫn còn xấu cho trực thăng hoạt
động, nhưng họ ra sức vá lại các lỗ hổng trong hàng rào. Một đại đội
được phái đến tiếp viện buộc phải lội bộ, mất cả tuần. Rồi trực thăng
Sea Knight đến muộn màng. Các hộ lý quân y phải rửa sạch vòi trên xác
chết lính Mỹ và ném xác quân địch xuống đồi. Thorne được cử đến
Đông Hà để trở thành quan sát viên phi hành. Ý nghĩ đầu tiên của anh là
‘Làm sao mình có thể rời bỏ bạn bè?’ Ý nghĩ thứ hai là ‘Làm sao ở bộ
chỉ huy họ có thể ngu xuẩn đến nỗi đem đặt chúng tôi ra ngoài đây?’
Những vận xui tiếp sau đó của 1/4th được Marlantes mô tả sống động,
phản ánh ý muốn cẩu thả nhưng quen thuộc của một số chỉ huy muốn
đưa các lực lượng tương đối nhỏ đến những chỗ khó khăn nhường cho
kẻ địch lợi thế quân sự.
Chiến đấu trong khu vực kéo dài đến tháng 4: vị đại tá của 1/4th, một
trong các kiến trúc sư của nỗi thống khổ của họ, cũng nằm trong số nạn
nhân, bị giết bởi một quả đạn cối. Mặc dù như thường lệ tổn thất của
quân Miền Bắc vượt hơn nhiều tổn thất của Mỹ, nhưng chính Mỹ là
người rốt cục cảm thấy như mình là kẻ thua trận.
Điều nghịch lý là sau này phe cộng sản nhìn nhận năm 1969 là năm tồi
tệ nhất của họ trong cuộc chiến, được đo lường bằng tổn thất và tinh
thần. Trong vùng núi của tỉnh Quảng Ngãi vào tháng 6, thậm chí một
con người trẻ nhiệt tình cách mạng như Bác sĩ Đặng Thùy Trâm còn thổ
lộ rằng cô và các đồng chí mình đã kiệt sức, tinh thần sa sút, nhiều
người buồn rầu không thiết đến cả ăn uống: ‘Ngày đêm chúng tôi điếc
tai vì tiếng bom nổ, tiếng phản lực gầm thét, tiếng súng và tiếng trực
thăng vần vũ trên đầu. Rừng cây bị cày nát và lên thẹo bởi bom, những
cây còn lại ố vàng vì chất độc hoá học. Chúng tôi cũng bị ảnh hưởng.
Tất cả cán bộ đều rã rời tuyệt vọng.’
Bộ đội Bảo Ninh viết về ‘Khu rừng của những Lính hồn Gào thét’, một
vùng nơi một tiểu đoàn đã gần như bị xoá sạch: ‘Tiếng thì thầm nức nở
nghe từ rừng sâu vọng ra vào ban đêm, Tiếng hú theo gió bay đi .. .
Người ta có thể nghe chim kêu khóc như con người. Chúng không hề
bay, chúng chỉ kêu khóc trong các vòm cây. Và không nơi đâu khác
trong vùng Cao nguyên Trung phần này người ta có thể tìm thấy những
măng tre có một màu kinh khiếp như thế … Về phần các con đom đóm,
chúng thật to xác. Ở đây, khi đêm xuống, cây cỏ rên rỉ trong một hòa
điệu đáng sợ. Khi âm nhạc ma quái trỗi lên nó tháo cửa âm hồn và toàn
bộ rừng cây đứng chỗ nào cũng trông giống nhau. Không phải là nơi
chốn cho người yếu bóng vía. Sống tại đây người ta có thể hóa điên hoặc
sợ hãi đến chết .’ Chính ở nơi đây, những bộ đội cộng sản này dựng một
bàn thờ Phật bí mật, và cầu nguyện cho các đồng đội ngã xuống của họ.
Nhưng nỗi mệt mỏi chán chường của họ không đi đôi với ý thức nào về
thành tựu của phe đồng minh. Trưởng tình báo Lữ đoàn trưởng Phil
Davidson nói chua chát về Hoa Kỳ như là một chiến trường ‘nơi địch đạt
thắng lợi to lớn nhất năm 1968’. Vào ngày 15 tháng 3 ông báo cáo với
Abrams việc lưu thông quân xa trên Đường Mòn đã sút giảm. Vị tướng
vẫy ngón tay nửa đùa nửa thật: ‘Hãy cẩn thận đừng nói nghe như có ý hy
vọng trong chuyện này.’ Davidson: ‘Ồ, không, thưa ngài. Tôi không bao
giờ hy vọng, thưa ngài.’ Ông tuôn ra: ‘Chúng ta phải phòng thủ căn cứ
và các thành phố và vùng dân cư. Hãy nghĩ xem nếu địch phải phòng thủ
những gì họ có được –căn cứ, lãnh thổ và dân cư. Chúng ta sẽ thắng
cuộc chiến trong vòng một tháng! Chúng ta sẽ đá đít chúng văng ra
ngoài biển!’
Chỉ thị 55 Trung ương Cục Miền Nam ban hành vào tháng 4, ra lệnh
một cách tiếp cận thực tiễn hơn, cảnh báo rằng các cấp chỉ huy không
nên đặt cược toàn bộ lực lượng vào một chiến dịch nào ‘mà thay vào đó
giữ gìn tiềm năng tác chiến cho hành động tương lai được bền vững.’
Chỉ thị 81 và 88, ban hành ngay sau đó xác định các mục tiêu của
MTDTGP là ‘cưỡng bách kẻ địch chấp nhận đàm phán với chúng ta, rút
quân, … chấp nhận một chính quyền liên minh’. Các lực lượng cộng sản
tung ra đủ năng lượng và sức gây hấn để duy trì một số lượng tổn thất
thương vong đều đặn cho Mỹ và QĐVNCH, nhưng trong khi vào tháng
10 1965 Quân Miền Bắc chỉ đã đại diện một phần tư lực lượng chiến đấu
ở Miền Nam, thì nay họ đóng góp 70 phần trăm và hơn nữa.
Còn một điểm cấp bách hơn nữa. Dù cho lực lượng của Abrams có đạt
được thành tựu chiến thuật nào đi nữa, thì Quân đội Hoa Kỳ đang rệu rã
từ bên trong – một tiến trình chậm chạp, không thể dừng được và
chết người đạt đến đáy trong năm 1973. Nó bị thúc đẩy bởi ba yếu tố
liên quan và củng cố lẫn nhau: sử dụng ma túy; xung đột chủng tộc, chịu
ảnh hưởng mạnh mẽ của phong trào Quyền lực Đen trong nước Mỹ; và
tình trạng sa sút kỷ luật và ý chí chiến đấu. Một tướng Mỹ sau này nói
[với tác giả vào năm 1985]: ‘Chúng ta đến Triều Tiên với một quân đội
thối nát, và ra khỏi đó với một quân đội hùng mạnh; còn chúng ta đi vào
Việt Nam với một quân đội vĩ đại, rồi kết cục với một quân đội khủng
khiếp.’
Khi Đại uý Linwood Burney đảm nhiệm một đại đội Dù vào cuối năm
1968, anh cảm thấy mình phải thường xuyên đi lục soát ma túy. Quân
cảnh tiến hành 11,000 vụ bắt giữ ma túy vào năm sau nhưng tỷ lệ binh
sĩ hút cần sa tiếp tục tăng, đến gần 60 phần trăm trong năm 1971. Nhiều
người sử dụng biến thể cực mạnh được gái bán ba gọi là ‘cỏ Phật’: một
bịt giá 1 đô la. Vào năm 1969 chỉ có 2 phần trăm binh sĩ trải nghiệm
heroin, nhưng trong hai năm sau tỷ số tăng vọt lên 22 phần trăm – một
thống kê đáng sợ – với 700 con nghiện ghi trong sổ sách. Ma túy nhập
về từ nước Lào láng giềng bởi Hàng không Hoàng gia Lào và Hàng
không Việt Nam, rồi được QĐVNCH vận chuyển đi khắp xứ. Ít nhất
một số người Mỹ tình nguyện phục vụ ở Việt Nam hai hay ba thời hạn là
vì muốn có ma túy sử dụng thoải mái.
Trong năm 1969 tại MACV có 16 lính thiệt mạng vì sử dụng ma túy
quá liều, tiếp theo trong 18 ngày đầu của năm 1970 có 35 người chết.
Abrams nhìn nhận mình không dám xử nặng những binh sĩ sử dụng, chỉ
ra sức trừng trị bọn buôn bán ma túy. Đại đội trưởng Thiếu tá Don
Hudson vẫn duy trì một niềm tin mãnh liệt vào binh lính mình, và đổ lỗi
hầu hết cho thiếu sót của cấp chỉ huy: ‘Chúng ta có được một số chàng
trai trẻ tốt đẹp ở đó nhưng giới lãnh đạo, như tôi nhận thấy, chính là
những người làm họ hư hỏng [một số, bởi] thiếu quan tâm đến họ.’ Anh
mô tả có vấn đề với lương bổng, thăng chức, và đôi khi cả tháng trời
không có thư: ‘Đó là hành động tội lỗi. Vấn đề ma túy ám ảnh tôi … Bất
cứ khi nào việc tái cung cấp ngừng trệ, tôi tìm thấy những viên thuốc
heroin gói trong các túi nhựa rồi nhét bên dưới bình đựng nước.’ Hudson
than phiền sự cho phép sử dụng ma túy có tính thể chế, phản ánh trong
một trường hợp trong đó anh bắt được một binh sĩ giấu 500 viên heroin
nguyên chất, vậy mà việc cáo buộc bị hủy bỏ ‘vì thiếu chứng cứ’: ‘Tôi
xin nói là mình biết được 5 tên chủ mưu thực sự phạm tội.’ Anh bắt gặp
một tiểu đội phục kích đã giấu mình trong bụi rậm ba ngày để phê cần
sa, ‘được một chỉ huy thiểu não cầm đầu … Các diễn viên xấu đã bắt
đầu đảm nhận tổ chức. Một lần tôi nhổ sạch các tên sử dụng ma túy
nòng cốt, những tên đang làm ra tiền bằng cách cung cấp ma túy ‘, tình
hình được cải thiện.
Bọn buôn ma túy đáp trả bằng cách đe dọa Hudson, rồi tìm cách đưa ra
phản cáo buộc cho rằng anh đã say xỉn khi thi hành nhiệm vụ. Anh vẫn
không lùi bước: ‘Cách thứ tôi nhìn vào việc đó là thế này, nếu họ muốn
ném lựu đạn vào bạn, họ sẽ làm chuyện đó. Họ sẽ không bảo với bạn.
Binh sĩ thích một người chiến thắng, và bạn có thể cứng rắn như bạn
muốn miễn là bạn không đem lại thương vong cho họ và quan tâm đến
họ một cách đúng đắn … đừng lo lắng liệu binh sĩ có yêu quý bạn hay
không.’ Trong những năm sau của cuộc chiến, nhiều sĩ quan Mỹ Mỹ
tiếp tục phô trương lòng quả cảm khi đương đầu với kẻ địch, nhưng
tương đối ít người sánh kịp với quyết tâm của Thiếu tá Hudson trong
việc kiểm soát binh sĩ của mình. Đội trinh sát toàn người da màu của
Binh nhì Richard Ford nói đùa với nhau là họ là Hiệp sĩ Bàn Tròn. Một
đêm một binh sĩ có tên Taylor, hút một cọng cần sa, và nhìn một thân
cây rồi bắt đầu khăng khăng cho rằng mình nhìn thấy Tượng Nữ Thần
Tự Do: ‘Này Ford, này Ford. Bộ đó không phải là bả sao? Thế giới
đang chuyển động, đúng không? Chúng ta đang tiến gần hơn đến New
York, vì tao có thể thấy bà ấy.’ Các đồng đội phải trấn an y. Việc lạm
dụng ma túy là một vấn đề bao trùm đối với binh sĩ nhập ngũ, nhưng
một số sĩ quan và hạ sĩ quan kỳ cựu cũng sa đà vào nạn rượu chè: một
thiểu số không nhỏ đã trở thành kẻ nghiện rượu.
Về phần kỷ luật, Đại uý David Johnson đảm nhiệm đại đội bộ binh vào
tháng 10 1968 và kinh hoàng khi thấy binh sĩ không chịu ra mặt
trận, một hành vi chưa từng có trong thời hạn phục vụ trước đây của
anh. Kết thúc một chiến dịch binh sĩ ‘phè người ra’, không chịu vệ sinh
vũ khí và trang thiết bị. Các trung sĩ trung đội của anh không có khả
năng điều khiển hỏa lực súng cối và pháo, và anh mất tin cậy về những
gì đại đội sẽ làm, hoặc không làm dưới đạn lửa: ‘Nhiều người trong
chúng tôi tự hỏi liệu chúng tôi có nên ở đó. Binh sĩ liên tục tự hỏi:
“Mình có nên tiếp tục ở lại không? Mình có nên ở hết thời hạn hay
không?” Tôi đang nói về cảm xúc riêng của mình cũng như của binh
sĩ. .. Binh sĩ sẽ làm các điều kỳ quặc, điên rồ. Tôi có một binh sĩ thiệt
mạng vì nhai thuốc nổ dẽo C-4 … rơi xuống nước sâu 2 mét và đuối
nước. Sự cố nhiều binh sĩ chúng tôi đạp trúng bẫy mìn mà không gây tổn
thất gì cho kẻ địch … là một nhân tố làm mất tinh thần. Tôi gặp 20
thương vong trong 60 ngày, 17 bởi bẫy mìn, trong đó có cả tôi.’
Nơi khác hai phi công giết nhau bằng cách xem ai rút súng bắn nhanh
hơn như hai cao bồi Viễn Tây. Không lực cho rằng đây chỉ là trường
hợp điên rồ cá biệt cho đến một ít tháng sau sự việc lại xảy ra lần nữa,
dù lần này chỉ có một người thiệt mạng . Vị tướng báo cáo sự cố này suy
ngẫm trong bối rối, ‘Tại sao họ làm thế được?’ Vào ngày 20 tháng 7
1969, một ca sĩ Úc 20 tuổi xinh đẹp, Catherine Anne Warnes, bất ngờ
ngã xuống chết trên sân khấu trong khi đang biểu diễn trong một xô
do USO tổ chức tại một căn cứ TQLC. Cô là nạn nhân của một phát
súng duy nhất bị bắn từ phía sau một màn phông nền với khẩu súng tự
động .22 có gắn hãm thanh. Trung sĩ 28 tuổi, James Killen, bị kết tội giết
cô gái trong một cơn say xỉn đến phát cuồng, bị ám thị tưởng nạn nhân
là đại đội trưởng của y. Killen bị giam không đến hai năm sau đó được
trắng án sau khi được xét xử lại.
Catherine Anne Warnes
Vào ngày 5 tháng 2 1970 hai quả lựu đạn được ném vào quán rượu
Andy dành cho quân nhân, trong khi nhóm nữ tam ca Úc Chiffons đang
hát. Một quả phát nổ, giết một hạ sĩ và làm bị thương 62 người khác.
Được biết trước đó cùng ngày hơn 20 TQLC da màu gặp nhau tại một
sân bóng rỗ trong trại để giải sầu. Một hạ sĩ hứa: ‘Tối nay chúng ta
chuẩn bị trị bọn xúc vật đó [người da trắng].’ Binh sĩ da đen được cảnh
báo không tham dự xô Chiffon. Tại phiên tòa sau đó, công tố viên nói:
‘Đây là một mưu mô cố ý, được dự trù cẩn thận nhằm giết được nhiều
người … chỉ vì vấn đề chủng tộc.’ Hai nghi can chính tuy vậy được tha
bổng, khiến cho phiên tòa thứ ba bị hủy bỏ.
Không ai từng bị kêu án cho vụ ném lựu đạn tại quán Andy. Trong mọi
cuộc chiến, các sĩ quan bị thù ghét đã bị binh sĩ mình sát hại – thường bị
bắn khi đang chiến đấu dưới vỏ che do trao đổi hỏa lực. Tuy nhiên, ở
Việt Nam một nhãn hiệu mới của việc tấn công máu lạnh, thường bằng
lựu đạn miểng. Lịch sử của ngành pháp lý Quân đoàn TQLC ghi nhận
rằng những hành động như thế ‘chưa bao giờ lan tràn quá mức như thế,
được thực hiện quá nhẫn tâm như thế ‘. Ngành xác định hơn 100 sự cố
như thế, trong khi bộ binh trong khoảng 1969 và 1971 ghi nhận hơn 600
vụ ném lựu đạn, làm chết 82 người và 651 người bị thương. Một bác sĩ
phân tâm nghiên cứu 28 trường hợp thấy rằng phần đông những người
có trách nhiệm là nhân viên hỗ trợ, và 87.2 phần trăm say rượu hoặc
phê thuốc. Ít người tỏ ra ân hận việc mình làm.
Tình trạng thiếu hụt kinh niên các sĩ quan trẻ và hạ sĩ quan có năng lực
càng phức tạp hơn khi nhiều sĩ quan chuyên nghiệp ra đi vì tuyệt vọng:
148 trong số 596 sĩ quan tốt nghiệp khóa 1965 West Point từ bỏ binh
nghiệp trong năm 1970. Thiếu tá Michael Barry, một bác sĩ quân y bất
đắc dĩ phục vụ tại bệnh viện Tản thương 95 tại Đà Nẵng, nói rằng mình
đã quá mệt mỏi vì trách nhiệm xử lý liên tục các nạn nhân của các vụ
ném lựu đạn. Hơn nữa, chính ông không còn tin tưởng vào chính nghĩa:
‘Chúng ta đang hậu thuẫn không đúng người.’ Ma túy trở thành một
‘vấn đề rất nghiêm trọng … chất heroin họ sử dụng rất tinh
khiết, khoảng 80 phần trăm so sánh với ở Mỹ chỉ có 5 phần trăm ‘. Một
hôm sáu quân y da đen mang vào một anh bạn đã chết. Barry nói: ‘Họ
đang tổ chức tiệc heroin. Họ quá phê đến nỗi không ai nhận ra là anh ta
đã ngừng thở.’
Tại Giáng sinh, tướng chỉ huy Dù 101 chìa tay ra chúc mừng một binh
sĩ da màu, sững sờ khi y chẳng màng bắt tay lại. Trung đội mà Thorne
thừa hưởng là ‘một đám hoàn toàn bát nháo. Họ là bọn trẻ
ngoan, nhưng họ đã tiến hóa thành ba nhóm chủng tộc – một nhóm toàn
da màu, nhóm da trắng miền nam, và nhóm dân thành phố. Tôi chào
thua chúng. Đó là khoảng thời gian nguy hiểm, bất cứ lúc nào bạn cũng
có thể bị ăn lựu đạn. Các trung đội và đại đội này trở thành giống như
các băng đảng đường phố, rất chặt chẽ. Người mới đến dễ bị tổn thương,
đặc biệt các trung uý.’ Trong khi binh sĩ da đen chỉ cấu thành 13 phần
trăm quân số TQLC, họ lại là bên bị trong phân nửa phiên tòa án binh
của quân đoàn ở Việt Nam. Không có lý đó để cho rằng sự mất cân xứng
này biểu thị sự ngược đãi chủng tộc: đúng hơn, nó phản ánh mức độ tha
hóa của người da màu. Tình trạng đào ngũ cũng trở nên cao nhất trong
lịch sử hiện đại, gấp hai lần ở Triều Tiên và gần 4 lần ở Thế chiến
II. Năm 1969, 2,500 người bỏ ngũ lang thang trong xứ, hầu hết tham gia
vào các hoạt động tội phạm.
Vào tháng 2 1969, Trung sĩ Pháo binh Joseph Lopez trở lại Việt Nam
trong thời hạn thứ ba, khiếp đảm trước tình trạng vô kỷ luật tràn lan:
‘Bảo một anh lính sắp xếp khăn trải gọn ghẽ lại, y nhìn bạn như thế sắp
sửa giết bạn đến nơi. .. Chưa bao giờ tôi thấy ai nhìn cấp trên bằng cái
nhìn mà các binh sĩ trẻ ngày nay nhìn chúng ta.’ Giữa tháng 4 và 9 năm
đó, uỷ ban theo dõi giám sát những vụ căng thẳng chủng tộc ghi nhận
trung bình có ‘một vụ bạo loạn quy mô lớn’ mỗi tháng trong khu vực
hành quân của Quân đoàn TQLC, cũng như nhiều sự cố nhỏ hơn khác.
Trung sĩ Harold Hunt, quân nhân da màu từ Detroit đã bị thương nặng
gần Củ Chi vào năm 1966, đã khẩn khoản xin trở lại quân ngũ, và được
gửi lại Việt Nam vào tháng 5 1969. Vết thương cũ thỉnh thoảng làm anh
nhức nhối, nhưng anh bị sốc khi chứng kiến quá nhiều thay đổi: ‘Binh
lính bây giờ đã khác xưa. Trung đội tôi có 50 phần trăm lính nghĩa
vụ. Bạn đương đầu với xung đột chủng tộc, chơi ma túy, và vô kỷ luật.
Thật khó để chỉ huy, ra lệnh cho họ và bắt họ làm theo.’
Hunt thật khác xa với hầu hết các binh sĩ da màu thời đó và nơi đó, vì
lòng trung thành của anh đối với quân đội là dứt khoát chứ không đối
với bất kì người anh em đồng chủng nào. Khi anh nghiêm khắc bảo họ là
mình không dung thứ cho bất cứ loại rác rưởi nào, và đặc biệt không ma
túy trên trận địa, một hôm anh bắt gặp một tờ giấy ghim trên cửa phòng
ngủ của mình: ‘Đ.M. NHỮNG THẰNG NHƯ MẦY COI CHỪNG ĂN
LỰU ĐẠN.’ Nhưng phần nào Hunt cũng xoay sở qua được, bằng cách
thuyết phục họ rằng cơ hội tốt nhất để được sống là làm theo lời anh
dặn. ‘Nhưng tâm điểm của tôi hoàn toàn khác với các thời hạn phục vụ
trước. Tôi không còn ra sức để giành giữ tự do cho Miền Nam – chỉ giữ
mạng sống của mình và binh sĩ. TQLC chuyên nghiệp Walt Boomer nói:
‘Vấn đề chủng tộc gần như hủy hoại nền móng của Quân đội và TQLC
Hoa Kỳ. Nó tệ hại, tệ hại, tệ hại – xé nát các đơn vị. Chúng tôi luôn nói:
một TQLC là một TQLC. Nhưng thình lình TQLC da màu không chỉ
khổ sở, mà họ còn uất hận vì ở Việt Nam.’
Sĩ quan lực lượng đặc nhiệm Úc Andrew Freemantle trước đây rất khâm
phục TQLC Mỹ, giờ đây như những người khác sửng sốt trước tình
trạng vô kỷ luật mà ông chứng kiến vào năm 1970-71: ‘Thậm chí trong
một số trại lính của lực lượng đặc nhiệm bạn có thể bắt gặp binh lính hút
cần sa, phụ nữ xếp hàng ở cổng.’ Trung uý Tim Rohweller chỉ huy một
đại đội của 3/9th TQLC. Quyết tâm siết chặt kỷ luật, anh biểu lộ nôn
nóng với những người luôn viện cớ để ở lại căn cứ thay vì ra chiến
trường. Binh nhì Reginald Smith và các lính da màu khác tin rằng trung
uý chịu trách nhiệm trước những cái chết không cần thiết khi tác chiến.
Vào cuối đêm 20 tháng 4 1969, khi Smith và lũ bạn chơi cần sa trong
phòng, anh chàng TQLC tuyên bố là mình sẽ “thịt” tên đ.m đó ngay khi
y lăn đùng ra ngủ’. Lúc 2:10 a.m. một quả lựu đạn miểng phát nổ dưới
giường của Trung uý, gây nhiều vết thương khiến anh qua đời vào hôm
sau. Một tên bạn của Smith sau đó khai rằng tên TQLC đã trở về phòng
của họ quơ quơ một chốt lựu đạn, nói, ‘Tao đã thịt tên đ.m. đó. Nó sẽ
không đ.m. với ai được nữa. ‘ Smith chết trong trại giam sau khi ở tù
được 13 năm trong án chung thân của mình.
Mặc dù có những vụ ném lựu đạn, xung đột chủng tộc trầm trọng, lạm
dụng ma túy, nhiều bộ binh và TQLC, trắng cũng như đen, tiếp tục làm
tròn nghĩa vụ, bảo vệ những gì mình tin tưởng trong một chuỗi dài bất
tận các chiến trường Việt Nam. Nhưng không nhân chứng nào nghi ngờ
rằng từ 1968 trở đi, hiệu quả của lực lượng Mỹ giảm sút không
ngừng. Trong khi kẻ thù vẫn luôn ở ngoài đó, càng ngày càng khó
thuyết phục những binh sĩ của Abrams sánh kịp với kẻ địch cộng sản
lòng kiên trì và tài thiện chiến, cho dù vì lợi ích sống còn của riêng họ.
2 Người Úc và người Tân Tây Lan
Khi một sử gia sau này nói với Trung uý Úc Neil Smith rằng vào lúc anh
bắt đầu thời hạn nghĩa vụ của mình vào năm 1969 thì cuộc chiến rõ ràng
đã là một sự hỗn loạn, người sĩ quan bộ binh trả lời với vẻ kinh ngạc: ‘Ở
đâu hỗn loạn chứ ở chỗ chúng tôi thì không.’ Mặc dù ba tiểu đoàn bộ
binh Úc phục vụ ở khu vực đông-nam Miền Nam với lực lượng yểm trợ,
các lực lượng đặc nhiệm và một đạo quân Tân Tây Lan chỉ là một thành
phần bé nhỏ của lực lượng đồng minh – đỉnh cao là 8,000 vào giữa năm
1969, với 543 binh sĩ Tân Tây Lan – họ giành được tiếng tăm nổi
bật. Creighton Abrams xem binh sĩ Úc và Tân Tây Lan ‘thực sự là
những con người thượng hạng’ – đúng ra, đạo quân nước ngoài duy nhất
đáng đồng tiền bát gạo: ‘Trung uý John Harrison nói gần như với vẻ
kính sợ đội Đặc nhiệm Không lực Úc chỉ huy một đại đội lính dân tộc
miền núi trên khu vực của mình: ‘Họ thật không thể tin được – được
điều hành bởi các sĩ quan trung cấp. Họ không ngại bất cứ điều gì.’
Trong quá trình chiến tranh lực lượng đặc nhiệm tuyên bố đã giết được
khoảng 500 quân địch mà chỉ thiệt mạng 7 người, và các con số thống
kê đó tin được. Họ cho nhờ quan tâm đến kỹ năng tác chiến nên mới đạt
được thành tích ấn tượng đó. Một sĩ quan đặc nhiệm hãnh diện nói:
‘Chúng tôi luôn nghe thấy họ’ – kẻ địch – trước khi họ nghe thấy chúng
tôi.’
Một sĩ quan QĐVNCH viết rằng dân chúng Việt xem người Úc là đồng
minh nhiều thiện cảm nhất, vì họ sử dụng hỏa lực có kỷ cương nhất:
‘Trận Long Tân 1966 – trong đó lính Úc giết được 257 cộng quân trong
khi chỉ mất 18 người – chứng tỏ tồn tại ít nhất một cách thức chiến đấu
thành công trong cuộc chiến này.’ Cũng viên thiếu tá ấy nói rằng binh sĩ
Úc và Thái là những binh sĩ nước ngoài duy nhất mà ông không hề nghe
báo cáo về các vụ nổ súng bừa bãi vào dân thường. Trung uý Úc Rob
Franklin nói: ‘Tôi thực lòng lo lắng về việc giết hại thường dân. Đêm nọ
một đội thợ rừng người Việt gan góc bước vào ổ phục kích của chúng
tôi. Nhờ Trời, binh lính chúng tôi không khai hỏa – tôi thực sự tự hào
về họ.’
Vậy mà việc đưa quân tham chiến chia rẽ nước Úc sâu xa hơn mọi vấn
đề khác trong lịch sử hiện đại của nó – đôi khi nhức nhối như cuộc chiến
sâu xé nước Mỹ. Robert Menzies, thủ tướng cho đến tháng giêng 1966,
thách thức lời khuyến cáo của viên chức dưới quyền và sự chống đối của
Đảng Lao động để phái tới một đạo quân khiêm tốn, chia sẻ với
Washington xác tín rằng Miền Nam là nơi để chận đứng ‘Trung Cộng
thọc sâu vào khu vực giữa Ấn Độ và Thái Bình Dương’. Một lệnh động
viên được ban hành, và chẳng bao lâu sau khi một tiểu đoàn thứ hai đến
Việt Nam, lính nghĩa vụ đầu tiên bị tử trận: không ai được cho biết là
binh nhì Errol Noack là nạn nhân của hỏa lực bạn. Ngay từ đầu đã có
chống đối ồn ào từ trong nước. Mỗi năm có 100,000 thanh niên Úc đến
tuổi 20, và một phần mười trong số đó được bóc thăm chọn ra người đi
nghĩa vụ quân sự. Các bà mẹ Úc thành lập hội chống nhập ngũ, có tên
SOS – Save Our Son (Cứu Con Trai Chúng ta). Bộ trưởng nội các tương
lai thuộc Đảng Lao động Jim Cairns xuất bản một quyển sách có tầm
ảnh hưởng tựa đề Sống với Châu Á, lập luận rằng xứ sở ông phải học
cách sống chung với các cuộc cách mạng và người cách mạng của lục
địa, hơn là đánh nhau với họ. Khi Tiểu đoàn 1, Trung đoàn Hoàng gia
Úc diễu hành qua đường phố Sydney giữa đám đông dân chúng 300,000
người, một phụ nữ phản đối tưới ướt đẫm thân mình bằng nước sơn đỏ,
rồi ném mình ôm lấy viên thiếu tá chỉ huy và nhiều binh sĩ khác để vây
bẩn.
Tiếp sau quyết định 1967 của Anh rút lực lượng vũ trang khỏi phía đông
kênh đào Suez, một chính quyền Úc bị chấn thương quyết định rằng
mình phải ràng buộc với Mỹ chặt chẽ nhiều hơn trước. Người kế vị chức
thủ tướng của Menzies, Harold Holt đến viếng thăm Washington và ôm
lấy LBJ theo nghĩa đen; ông chỉ trích nhà lãnh đạo Anh Harold Wilson
khi ông này công kích hành động dội bom của Hoa Kỳ. Cuối năm đó,
Canberra miễn cưỡng nhượng bộ yêu cầu đòi thêm quân của
Washington, gửi thêm tiểu đoàn thứ ba và một số xe tăng. Chính quyền
nước Tân Tây Lan láng giếng cũng luôn khó chịu về vấn đề Việt
Nam. Tuy nhiên, khi Úc gửi quân tham chiến, Tân Tây Lan cũng cảm
thấy phải buộc lòng làm theo. Tỉnh Phước Tuy, phía đông nam Sài Gòn
trở thành sân cỏ được chỉ định cho họ. Phần đông dân cư ở đây hoặc là
trung lập hoặc thân cộng, và cho đến khi quân Miền Bắc đến thì địch thủ
của liên quân Úc-Tân Tây Lan là tiểu đoàn cơ động D445 VC, cùng với
hai trung đoàn chính quy. Liên quân Úc-Tân Tây Lan thiết lập một căn
cứ tại Núi Đất – từ đó có thể xoay sở đến bất kì quận lỵ nào – với trực
thăng và hậu cần bên ngoài cảng Vũng Tàu.
Phe chống đối lớn mạnh nhanh chóng ở Melbourne và Sydney. Mặc dù
các thành phố nhỏ hơn và vùng nông thôn ít xao động hơn, hiệp hội thủy
thủ Úc từ chối phục vụ các chuyến tàu đi đến vùng chiến sự. Khi Harold
Holt chết đuối một cách bí mật vào tháng 12 1967, một số cho rằng ông
đã tự tử vì căng thẳng trước vấn đề Việt Nam.
Các cuộc biểu tình càng ngày càng trở nên rầm rộ, với phe Tả Mới vận
động được sự hậu thuẫn đáng kinh ngạc của giới trẻ trong một xứ sở vốn
có truyền thống bảo thủ. Câu lạc bộ Lao động Đại học Monash gây quỹ
cho MTDTGP; bọn Mao-it Melbourne vỗ tay tán thưởng Cách mạng
Văn Hoá Trung Quốc; sinh viên hát vang ‘Một bên đúng, mặt bên sai –
thắng lợi về phe VC!’ Các công nhân bưu điện có thời gian từ chối giao
thư cho binh sĩ Úc. Vào tháng 8 1969 lần đầu tiên các cuộc thăm dò cho
thấy đa số người được hỏi mong muốn rút quân khỏi Việt Nam; sau cuộc
bầu cử quốc gia vào tháng 10, một tiểu đoàn được rút về nước.
Cho đến giai đoạn cuối cùng của cuộc chiến, tuy nhiên, số binh sĩ Úc
còn vỏn vẹn trên chiến trường vẫn không mấy nao núng trước tình trạng
rối loạn tại quê nhà, đúng ra, dường như quên phứt nó. Binh lính Úc
thấy mình bị ném vào một số trận đánh khốc liệt: vào ngày 12 tháng 5
1968 quân đặc nhiệm Úc mới đến triển khai tại căn cứ yểm trợ pháo
binh Coral với dàn pháo Tân Tây Lan yểm trợ. Trong đêm đầu tiên tiểu
đoàn hứng chịu một trận đột kích bất ngờ của bộ đội Miền Bắc, mà họ
thiếu tổ chức để đương đầu. Cộng quân bị đẩy lùi bởi đạn súng cối và
pháo bắn vào các mục tiêu mắt họ nhìn thấy, giết chết 52 địch với giá 11
người chết và 28 bị thương. Ba đêm sau cộng quân đến lần nữa, gây
thương vong 24 người Úc với tổn thất 34 người chết về phe mình. Sau
lần chạm trán này người Úc trở nên ấn tượng với bộ đội Miền Bắc, mà
họ mô tả là thuộc ‘đẳng cấp khác’ so với VC địa phương mà họ quen
đương đầu ở dưới phía nam. Sau những năm trong đó Quân đội Úc tự
hào tính tinh nhuệ trong việc chống nổi dậy, mài giũa bởi trải nghiệm ở
Mã Lai và Borneo nơi gần như mọi giao tranh xảy ra đều ở cấp số đại
đội, thình lình ở Việt Nam binh sĩ của họ hiểu ra rằng mình dính líu vào
một cuộc chiến lớn hơn nhiều, càng ngày càng mang tính quy ước.
Người Úc và Tân Tây Lan tiến hành theo cách riêng của mình, đội nón
rơm thay vì mũ sắt; mang súng trường bán tự động 7.62mm mà họ thích
ơn súng M-16 vì viên đạn nặng hơn có nhiều lực giảm tốc hơn. Trong
khi mọi căn cứ Mỹ đều thuê mướn một lực lượng hùng hậu các đầu bếp,
nhân viên giặt giũ và vệ sinh nhà cửa người Việt, người Úc không chấp
nhận lao động Việt Nam bên trong hàng rào kẽm gai của mình – vì lý
do an ninh, cho dù các công việc bẩn thỉu nhất cũng được nhân sự của
họ đảm nhiệm. Họ xem một số đồng minh của họ trên chiến trường bất
cẩn đến độ tự sát, nhất là về tiếng động. Neil Smith, ghé qua đêm trong
một căn cứ Mỹ, ngạc nhiên khi phát hiện các sĩ quan ngủ tách biệt với
binh sĩ của mình, và thậm chí còn sửng sốt bởi tiếng huyên náo: Trong
một căn cứ Úc ban đêm, bạn có thể nghe cả tiếng rơi của một cây kim
ghăm.’
Đại uý Mỹ Arthur Carey, người đã từng làm việc với Úc năm 1968, ấn
tượng trước kỷ luật sử dụng máy phát sóng của họ. Trong khi hầu hết
đơn vị Mỹ cung cấp báo cáo quân tình mỗi vài phút, Carey cho biết với
vẻ tán thưởng, ‘Không phải hiếm khi mà mạng lưới truyền lệnh của Úc
không nghe tiếng nói hai, ba giờ liền. Họ rất điềm tĩnh khi lên sóng. Tôi
chưa hề nghe từ “đếm xác” suốt thời gian tôi làm việc với họ.’ Lý do
cuối cùng này là một trong những lý do mà, trong khi người Mỹ trẻ như
Carey cho là ưu điểm về người Úc, thì một số người lớn tuổi hơn thì cho
là khuyết điểm. Westmoreland than phiền thành tích giết địch khiêm tốn
của họ và cho rằng cách quay vòng các đơn vị qua trận địa của họ là sai