The words you are searching are inside this book. To get more targeted content, please make full-text search by clicking here.

VIỆT NAM THIÊN SỬ BI HÙNG 1945-1975
Max Hastings
Trần Quang Nghĩa dịch

Discover the best professional documents and content resources in AnyFlip Document Base.
Search
Published by fireant26, 2022-11-04 00:35:46

VIỆT NAM THIÊN SỬ BI HÙNG 1945-1975 Max Hastings Trần Quang Nghĩa dịch

VIỆT NAM THIÊN SỬ BI HÙNG 1945-1975
Max Hastings
Trần Quang Nghĩa dịch

mà anh đã huấn luyện và có mối dây liên hệ. Tuy nhiên, gần giống như
một người thay thế, anh được gửi đến nơi đối đầu với hiểm họa chết
chóc giữa những người xa lạ. Trung uý John Wright ló mặt ra khỏi
phòng phân công ở Đà Nẵng gương mặt tái mét và cộc lốc bảo một
người bạn, ‘Tao tiêu đời ‘: anh bị phái về TQ51/9th, được mệnh danh là
‘xác chết biết đi’ vì kỷ lục thương vong đáng sợ. Khi quân nhân David
Rogers kết thúc thời gian thực địa ở bộ binh, anh được gửi đến một bệnh
viện ở Củ Chi: ‘Bác sĩ và nữ ý tá ở đây đều là sĩ quan, ăn uống và hú hí
với nhau. Tôi đã ở trong rừng, và giờ đây thấy mình sống trong thế giới
điên khùng này.’
Trung uý Judd Kinne cùng với trung sĩ nhất đại đội đến nhà xác sư đoàn
nhận diện thi thể trong một lều Quonset ướp lạnh. Trong khi trung sĩ
kiểm tra túi đựng xác để nhận diện anh bất mãn khi thấy nhân viên đang
nghe đài và kể truyện khôi hài. Kinne rùng mình suy nghĩ, ‘Mình sẽ
không về nhà trong một túi như thế này.’ Phil Caputo cũng có thời gian
làm việc trong nhà xác: ‘Nếu tôi đã từng là đặc vụ của tử thần khi làm
đại đội trưởng, thì khi làm sĩ quan tham mưu tôi giữ sổ sách của thần
chết.’ Tất cả người chết gần như đều giống nhau, anh suy nghĩ, dù trong
lúc sống họ trắng, đen hay vàng. Da họ trở nên như sáp, thành ra họ
giống một một hình nộm bằng sáp, ‘đồng tử một màu xám tái, miệng há
hốc như thể thần chết đã đến bắt đúng lúc họ đang thét lên.’ Khi gương
mặt họ vắng mặt không phép, họ được nhận diện bằng hồ sơ nha khoa.
Sid Berry than phiền về tinh thần sa sút của sĩ quan tuyên giáo của anh,
người cứ khư khư ôm chặt vũ khí và mặc áo chống đạn suốt ngày và
đêm: ‘Ông ta luôn miệng nói với mọi người về sự khủng khiếp của chiến
tranh; ông ta nhìn đâu cũng thấy VC. Ông ta hỏi riết liệu chúng tôi có
nghĩ cuộc chiến sẽ kết thúc vào Giáng Sinh hay không … Chúng tôi
không thể chịu được một sứ giả của Chúa lại gieo rắc sự hoảng sợ. Lẽ ra
ông ta phải là một người có lòng tin vững vàng và điềm tĩnh’: vị tuyên
úy sau đó bị đổi đi.
Những người khác sống hiểm nguy, nhưng khác lạ. Các lực lượng đặc
biệt Biệt đội Hành động tại Bản Đôn gần biên giới Cao Miên thường
dùng voi để vận chuyển hàng tiếp tế, phủ cờ Mỹ lên lưng voi để làm
chệch hướng bom Mỹ. George Bonville, một con người đa cảm, lãng
mạn, bâng khuâng ngắm sông nước đồng bằng cạnh doanh trại anh một

buổi chiều êm ả và nghĩ, ‘Tại sao người ta phải đánh nhau để giành
quyền kiểm soát nơi này? Đây là chốn thiên đường nơi mọi người có đầu
óc có thể sinh sống, làm việc và hạnh phúc. Chỉ bọn xấu mới có thể gây
chiến tại nơi này – ôi tôi nghĩ mình cũng là một người xấu như họ.
Nhưng tôi không khởi xướng ra thảm họa này. Tôi chỉ hy vọng kết thúc

nó.’

Một thiếu tá sắp sửa được trở về nhà cảnh báo với Bonville đừng tỏ ra
liều lĩnh, bởi vì chính nghĩa không đáng phải hy sinh. Chúng ta đáng ra
phải rút dù vào năm 1964, gã hoài nghi tóc muối tiêu này nói: ‘Cứ nhìn
quanh đi con trai. Chúng ta đã mất quá nhiều sĩ quan trẻ giỏi ở đây. Tôi
đã từng tham gia chiến trường Triều Tiên – nó rất khác, người Nam Hàn
gan lỳ và quyết tâm chặn đứng bọn Đỏ và địa hình rất thuận lợi để
phòng vệ. Nơi này như cái sàng gạo, với Lào và Cao Miên. Cúi đầu
thấp xuống. Nơi này tiêu rồi.’
Về phần việc hệ trọng, một hội nghị tham mưu trưởng Quân đội Nhân
Dân tại Sân Rồng nhất trí rằng Mỹ càng đưa nhiều quân tham chiến, họ
càng gặp nhiều khó khăn. Chiến lược hiện thời của Hà Nội được khẳng
định, theo đó quân đội và dân quân Saigon vẫn là mục tiêu chủ yếu, bởi
vì nếu họ sụp đổ, lý do để Washington can thiệp cũng sụp đổ theo. Hà
Nội xác định các chỉ tiêu hoành tráng trong năm 1966: 250-300,000
thương vong cho QĐVNCH và 25-30,000 lính Mỹ; phá hủy 1,000 phi
cơ; chiếm đóng 80-90 phần trăm vùng nông thôn. Họ ra sức củng cố sức
mạnh cộng sản ở Miền Nam – ‘Chiến trường B’ – đến 400,000 du kích
quân, 90,000 lực lượng địa phương và 200,000 bộ đội chinh quy.
Chiến sử Việt Nam nhìn nhận các chỉ tiêu như thế là cực kì tham vọng:
‘Kế hoạch đã được tán thành là quá giản lược và không thực tế … không
phản ánh đúng năng lực thực sự của chúng ta, và không xét đến đầy đủ
tác động của các vụ không kích của địch xuống các đường dây tiếp tế
của chúng ta, gây ra những vấn đề nghiêm trọng.’ Các tổ chức hậu cần
thì ‘lúng túng và rối loạn … Chất lượng của một số đơn vị gửi ra chiến
trường còn thấp.’ Các nhà viết biên niên của Hà Nội cũng thú nhận đã
đánh giá thấp năng lực tác chiến của Mỹ và thậm chí của QĐVNCH.
Giới lãnh đạo Quân đội Miền Bắc và Việt Cộng theo đuổi các mục đích
song hành nhưng cũng đôi khi xung đột. Có sự căng thẳng giữa người
miền Nam với anh em họ ở miền Bắc, mà một số VC chế giễu là bọn ‘ăn

rau muống’. Lê Duẩn và các đồng đội trong bộ chính trị của ông hăng
hái muốn có các trận quyết đấu đại quân. Giáp chống đối chiến lược này,
bởi vì ông cho rằng việc đó khiến Westmoreland có thể tối đa hóa lợi thế
hoả lực áp đảo. Việc gửi xuống Miền Nam thêm 15 trung đoàn trong
năm 1966 khẳng định sự khống chế đang lên của phe diều hâu, tầm ảnh
hưởng của người chiến thắng Điện Biên Phủ giảm xuống. Chính ủy của
Việt Cộng tỉnh Long An phân tích các hoạt động tháng giêng 1966 của
Lữ đoàn Dù 173 Hoa Kỳ gần sát với Đại tá An của Quân đội Miền Bắc
đã phân tích về các hoạt động của Kỵ binh 1 hai tháng trước. Trải
nghiệm đầu tiên của các vụ không kích là khủng khiếp, các du kích nói:
‘trực thăng che lấp bầu trời, vần vũ như ruồi, và trong khoảnh
khắc ruộng lúa đầy ngập lính Mỹ … Thậm chí ngay khi có một viên đạn
bắn ra, thì họ đã gọi không kích và pháo kích bắn nát mọi thứ. Họ xài
bom và đạn pháo như thể đây là trận đánh cuối cùng. Binh sĩ ta kết luận
rằng lính Mỹ chậm chạp, nhưng có thể kêu gọi yểm trợ một khí tài vô
giới hạn.’ Xe tăng và thiết giáp bò qua ruộng lúa như cua bò … cán nát
thu hoạch của nông dân’. VC Long An đã lên kế hoạch tiến hành một
cuộc tấn công lớn trực diện vào một tiểu đoàn Mỹ trong mùa chiến sự
1966. Sau khi điều nghiên địch, tuy nhiên, họ kết luận rằng việc này
vượt quá khả năng của mình. Họ đồng ý đợi thời cơ, nuôi dưỡng lực
lượng, duy trì đột kích quy mô nhỏ. Người cộng sản cho là binh lính Mỹ
quan sát kém: họ thường không phát hiện địch quá vài mét. Họ sợ mìn
và bẫy mìn, một điều dễ hiểu. Họ cũng dễ bị tổn thương những lúc dừng

quân.

Trong khi đó ở Washington John McNaughton và Bill Bundy soạn cho
Robert McNamara một danh sách các mục tiêu trong năm 1966. Trước
tiên là làm tiêu hao kẻ địch nhanh hơn mức độ họ có thể củng cố. Mục
tiêu là làm giảm từ 10 đến 50 phần trăm các vùng căn cứ an toàn cộng
sản. Họ kêu gọi gia tăng từ 30 đến 50 phần trăm phương tiện đường sắt
và đường xá an toàn, và mở rộng quyền kiểm soát của chính quyền Miền
Nam đến 50-60 phần trăm dân số.
Vào tháng 2 hai sư đoàn mới từ Miền Bắc di chuyển vào Quảng Trị của
Quân đoàn 1. Việc này gây lo sợ cho các tư lệnh đồng minh là địch có
thể cắt đứt phần chóp của đất nước, nắm quyền kiểm soát mọi thứ bên
kia xương sống đồi núi phía bắc Đà Nẵng. Quân đoàn TQLC Mỹ bỏ gần

trọn năm, và thật ra hầu hết thời gian còn lại của cuộc chiến, chiến đấu
để ngăn cản điều này. Tranh cãi dữ dội vẫn kéo dài về việc
liệu Westmoreland có tung quân vào hoạt động tìm-và-diệt quá nhiều,
gây tổn hại cho hoạt động quét-và-giữ. Đại uý Chuck Reindenlaugh, một
cố vấn phục vụ tại Xuân Lộc phía đông Sài Gòn, viết về nhà ngày 30
tháng giêng 1966, mô tả nỗi e sợ điều mà kẻ địch đạt được với chỉ vũ khí
nhỏ, súng cối và lòng quả cảm: ‘Nguồn gốc yếu kém của chúng ta bắt rễ
trong sự bất lực không thể đồn trú trong mỗi làng, ấp hoặc khu dân
cư … Họ tấn công vào nơi lực lượng chúng ta không đóng quân …
Tưởng tượng một trận bóng bầu dục trong đó một đội thì mặc đồng phục
quy ước, tuân thủ luật chơi. Phe đối thủ, ngược lại, không mặc đồng
phục và thật ra cố tình ăn mặc cho giống khán giả. Đội này không chơi
theo luật, không chịu chấp nhận đường biên, còi trọng tài, và khi khung
thành họ bị ép sát hậu vệ của đội sẽ giấu bóng dưới áo sơ mi và điềm
nhiên chạy vào khu khán giả và thách thức bạn tìm ra y. Khuynh hướng
của bên kia là hét tướng lên “Bắn hết tụi nó, đốt hết cho tụi nó ra, phá
hủy làng giấu bọn VC.”‘ Đó là điều VC hy vọng chúng ta sẽ làm, và
việc này khó mà kiềm chế.’
Robert ‘Blowtorch’ Komer – con người năng động có tiếng, trước đây
làm việc cho CIA và NSC đạt được chức vị dường như là Cố vấn Đặc
biệt về Bình định hóa của Tổng thống, rồi vào tháng 5 1967 trở thành
ông trùm của CORDS (Hoạt động Dân sự và Hỗ trợ Phát triển Cách
mạng) tại Sài Gòn – luôn chỉ trích tìm-và-diệt, mà ông xem là tổn hại
đến việc tranh thủ trái tim và khối óc của dân chúng. Điều chắc chắn là
người Việt hiểu ít về những tinh tế trong chiến thuật của Westmoreland,
và thật ra cũng không hiểu về ‘loại chiến tranh tốt hơn’ mà người kế vị
ông, Creighton Abrams, sau này được cho là đã tiến hành. Nhiều người
Mỹ cũng đều hoang mang: một trung uý TQLC bực tức bảo với một
phóng viên rằng đánh nhau giống như ‘cố tóm lấy khói – khi bạn mở
lòng bàn tay ra thì không có gì cả’. Không tìm được câu trả lời tốt cho
vấn đề triển khai quân: không bao giờ và không bao giờ có thể có đủ
quân số Mỹ tìm ra kẻ địch trong khi đồng thời bảo vệ được các vùng có
dân cư ở Miền Nam.
Vào buổi chiều tối ngày 17 tháng giêng, VC tuyên bố sờ được gáy một
nhân vật quan trọng. Trưởng ban bình định hóa tỉnh Doug Ramsey đang

đi trên cabin một xe tải giao hàng viện trợ dân sự gần Củ Chi, một
chuyến đi mà con gái tỉnh trưởng Việt khăng khăng ngăn ông đừng đi.
Thình lình Lô, anh tài xế, la lớn: khoảng 100 mét phía trước lom khom
hai người có vũ trang trong sơ mi xanh và quần đen; đầu một người thứ
ba nhô lên từ phía sau bờ kè. Ramsey nâng khẩu cacbin AR-15 của mình
lên. Tuy nhiên không chắc bọn họ là ai, nên ông không bắn ngay. Trong
một giây ông nghĩ mình đã chạy thoát an toàn khỏi một vụ phục kích của
VC – vì đúng là phục kích thật. Rồi đạn địch quét qua các bao gạo chất
phía sau xe tải, và xe tải bỗng dừng lại: một viên đạn đã xuyên qua chân
anh tài xế. Ramsey xoay người và bắn trả khoảng một tá phát đạn. Lô
nói xe chết máy. Người Mỹ chửi thề – anh ắt sẽ chửi thề sướng miệng
hơn nếu biết gã tài xế sợ quá đã ngừng xe lại. Lô leo xuống xe và đứng
giơ tay khỏi đầu, rồi quỳ gối xuống trong tư thế cầu khẩn. Thêm nhiều
viên đạn nữa bắn thủng một can xăng 20 lít ngay dưới chân Ramsey,
một tia xăng phun ra trúng vào trán ông rồi chảy xuống mắt ông.
Khi ông cố dụi mắt để nhìn cho rõ, thì nghe có tiếng bước chân ngay
phía sau xe tải. Ông la lên, bằng tiếng Việt, ‘Tôi đầu hàng!’ Bỏ vũ khí
xuống, ông bước ra khỏi xe và giơ tay lên. Biết thế nào cũng chết, một
nỗi sợ xiết thắt ruột gan, ông lẩm bẩm, ‘Ôi, trời ơi!’ Nhưng bọn VC
phấn khích trước chiến lợi phẩm đến nỗi quên cả giết ông. Họ trẻ măng
và vui sướng, nhất là sau khi tịch thu súng cacbin, đồng hồ đeo tay và
xấp bạc của Ramsey. Sau khi trói ông bằng dây thừng, chúng thả tự do
cho anh tài xế, và dẫn ông đi vào rừng cây, bắt đầu đời tù tội kéo dài 7
năm đáng sợ, có khi bị nhốt trong một lồng tre.

2 Hỏa Lực Không Thân Thiện
Vào tháng 2 1966, khi Lyndon Johnson nghe Kỵ binh 1 đã tiến hành một
sứ mạng tìm-và-diệt có tên Chiến dịch Máy Nghiền, tổng thống đích
thân can thiệp yêu cầu đổi một mật danh yêm tai hơn. Cánh Trắng, tên
mới đổi, tuyên bố đã tiêu diệt được 1,342 tên địch: trong năm đó Kỵ
binh ước tính loại được trung bình 10 VC mỗi ngày, và trong năm 1966
MACV thưởng mỗi đơn vị trong xứ mỗi tên địch chết một phí công tác.
Tuy nhiên, điều này gần như không đủ bắt kịp với tiến độ tích lũy lực
lượng của địch. Vào ngày 5 tháng 2 sĩ quan tham mưu TQLC Đại
tá John Chaisson viết thư cho vợ Marguerite ở Maine: ‘Càng nghĩ về

cuộc chiến này và những tiền đồn kiên cố này, anh càng nghĩ về chiến
tranh biên giới xa xưa với người da đỏ.’
Chaisson viết về ‘tiến độ chậm lụt và nặng nề của công cuộc giải cứu đất
nước khỏi móng vuốt của bọn khủng bố VC … Chúng ta có thể phòng
thủ các vị trí của chúng ta mãi mãi, nhưng việc này không đưa chúng ta
đến đâu.’ Trong vùng núi rừng rậm, một đoàn tuần tra có thể mất một
tuần để đi hết 30 dặm.
Vào ngày 9 tháng 3 xảy ra một thất bại gây bối rối khác tại một cứ điểm
lực lượng đặc biệt: Bộ đội Miền Bắc tấn công A Shau, cách Huế 30 dặm
về phía tây-nam. Nhiều lính trong số 360 không chính quy cuống cuồng
bao vây các trực thăng có nhiệm vụ giải cứu 17 cố vấn Mỹ. Các cố vấn
phải khai hỏa để ngăn người của mình leo lên trực thăng. Trong cơn hỗn
loạn 5 người Mỹ bị giết, và chỉ có phân nửa lính Việt trở lại với nhiệm
vụ.
Trung tá TQLC Charles House, người cầm đầu toán giải cứu, được
thưởng huy chương Thập tự Hải quân – cùng với lời khiển trách chính
thức vì đã tường thuật thẳng thắn với các phóng viên về vụ hỗn loạn.
Vào tháng 4 sĩ quan hành quân của Westmoreland Thiếu tướng William
DePuy đảm nhiệm Sư đoàn 1, bảo vệ các đường tiếp cận Sài Gòn từ phía
tây-bắc sát Cao Miên. Ông trở thành tư lệnh đội hình sừng sỏ nhất của
đất nước, tiến hành những hành động khủng bố không khác đối thủ
chống Việt Cộng và các sĩ quan của mình.
Các chiến dịch Abilene, Lexington, Birmingham, El Paso và Amarillo là
các vụ càn quét qua vùng quê, được yểm trợ bởi ‘hỏa lực quấy rối’ ban
đêm không cần tiền sát – những loạt pháo rời rạc rót trên các đường mòn
mà quân địch thường sử dụng, hoặc xuống các khu vực khiến họ không
lúc nào được nghỉ ngơi. Trong khi đó vị tướng sàng lọc những phần tử
yếu đuối trong giới phụ tá của ông. Một giai thoại u ám lan truyền về
‘chuyến Chinook nửa đêm’ chở các tiểu đoàn trưởng không được mong
muốn ra khỏi bộ chỉ huy sư đoàn. Tính khắt khe của ông khiến Tướng
Harold Johnson bất mãn, tức giận bảo với ông rằng, ‘Theo tôi, dấu hiệu
của một lãnh đạo giỏi thực sự là làm tốt nhất những gì mình có.’ DePuy
trả lời một cách bất nhã là tên G-2 bị tống cổ là ‘một sĩ quan mập mạp
xốc xếch không có chút phẩm chất của một quân nhân’. Một tên G-5 là
một sĩ quan hoàn toàn thiếu năng lực, không sáng kiến, thiếu óc tưởng

tượng hoặc động lực. Vô dụng.’ Ông viết về một tiểu đoàn trưởng bị
thay thế, ‘Lần đầu tiên tôi nhìn thấy C, tôi nghi ngờ ngay y yếu đuối… Y
hoàn toàn mất kiểm soát tiểu đoàn của mình và gánh chịu một số thương
vong không cần thiết trong khi không gây tổn thất gì cho VC.’ Năng
lượng của DePuy không có gì phải bàn, nhưng cách chỉ huy của ông
không tranh thủ được gì cho trái tim và khối óc của người Mỹ lẫn người
Việt.
Cố vấn George Bonville cảm thấy sức lực bị bào mòn với nhịp sống
thường nhật tại một đơn vị ở phía nam: ‘Thức dậy lúc 3:30 sáng, ăn qua
loa vội vã, lên xe đến Mỹ Tho, leo lên xe lội nước tham gia cuộc tấn
công bằng cách đổ bộ vào lúc bình minh lên đâu đó dọc con sông Cửu
Long – hoặc dồn đống lên các trực thăng Huey chở sâu vào Đồng Tháp
Mười – giết/bắt một vài VC, rồi rút ra. Việc này có nghĩa là rút quân
thận trọng 6 đến 9 dặm khỏi vùng hành quân dưới cái nóng chảy mỡ, lặn
lội qua ruộng lúa, kênh rạch sình lầy chằng chịt tre và dừa nước rồi, nếu
may mắn, cuối cùng về đến Chợ Gạo rất muộn … Cơm nhạt nhẽo với
thịt gà ta gầy gò và rau củ đóng hộp vô vị đã giết chết khẩu vị của chúng
tôi. Lợi răng chúng tôi bắt đầu thụt vào … Chúng tôi cũng bắt đầu trực
máy vô tuyến ban đêm – mỗi người hai giờ – vì chúng tôi hiểu rằng
chúng tôi mệt nhừ đến nỗi sẽ không nghe tấn công, với tiếng pháo của
chúng tôi rì rầm ở xa.’
Khủng bố của VC không hề sụt giảm. Bonville mô tả một chương hồi
trong đó Cô Anh, một thư ký đánh máy tại bộ chỉ huy quân khu gần đó,
bị bắt đi trong đêm tại nhà cha mẹ mình. Đầu cô bị đập nát bằng bá
súng, em trai bị đâm đến chết, khi cô không chịu hợp tác tấn công vào
phức hợp của các cố vấn Mỹ. Bonville viết: ‘Cô chừng 20 tuổi, một tín
đồ Công giáo ngoan đạo, rất xinh và duyên dáng như một tiểu thơ. Đội
của tôi thường ngồi trước cổng nhà mỗi buổi sáng, ngắm nhìn cô bước
khoan thai đến chỗ làm trong chiếc áo dài tha thướt với một chiếc dù rất
hợp để bảo vệ cho làn da ngọc ngà của mình khỏi ăn nắng. Cô phớt lờ
những ánh mắt chằm chằm của họ và bạn không biết liệu cô có không ưa
lũ bạch quỷ đang ngưỡng mộ vẻ đẹp của cô hay không
Cố vấn Mike Sutton cưỡi trực thăng Huey đáp xuống một ấp ở đồng
bằng tại đó họ tìm thấy một người bị treo cổ lên cây – trưởng làng, bị
phanh thây trong đêm. Vợ ông bị sát hại ít điệu nghệ hơn, còn con trai

thì bị hoạn. ‘Tôi nghĩ: “Thật là lũ dã man.” Nhưng rồi sau này tôi biết
người Mỹ cũng không thua kém gì’.
Mike Eiland là một người gốc California gia thế khiêm tốn được trúng
tuyển vào West Point. Anh lấy con gái một tướng lĩnh ba ngày sau khi
tốt nghiệp, một phần bởi vì vào thời đó một chiếc nhẫn cưới là cách chắc
chắn nhất cho phần đông chàng trai bảo đảm mình thuộc giới tính
thường quy. Anh trải ba năm làm sĩ quan pháo thủ chán phèo ở Đức
trước khi rời bỏ con đường sự nghiệp quy ước này để trở thành một
chiến binh. Trong khi được huấn luyện để trở thành một lính Mũ Nồi
Xanh – ‘đó là chiếc mũ mát mẻ’ – nỗi lo sợ lớn nhất của anh là chiến
tranh chấm dứt trước khi anh tham chiến.
Vào ngày lễ Lao động 1966, với lời dặn dò ngắn ngủi anh được cử chỉ
huy một Biệt đội Hành động 12 người tại một căn cứ bờ sông trong
vùng cực tây-nam, chỉ cách biên giới Cao Miên một vài dặm: ‘họ chỉ
biết ném bỏ chúng tôi xuống giữa một nơi vô danh ‘. Cứ điểm Lực
lượng Đặc biệt 5, tọa lạc bên ngoài pháo đài Đồng Tháp Mười của Việt
Cộng, đã bị bỏ hoang kể từ khi nó bị đánh chiếm ba lần trước
đây. Eiland và người của anh đóng quân trong các biệt thự quanh một
nhà máy đường của Pháp, rào kẽm gai quanh khu vực và bắt đầu chiêu
mộ chiến binh. Tiến trình này, họ nhận ra, cần phải thương lượng quanh
co với các chỉ huy địa phương. Họ thành lập một đại đội từ các tín đồ
của giáo phái Hòa Hảo; một đại đội từ các tên đào ngũ và trốn quân
dịch; đại đội thứ ba thông qua một thủ lĩnh Khmer Krom đóng tại một
ngôi chùa Sài Gòn: ‘Y có thể giao cho anh các chiến binh được huấn
luyện bao nhiêu người anh muốn – chỉ là vấn đề giá cả, có khi kèn cựa
suốt cả ngày.
Eiland thấy mình gần như chìm đắm trong một hỗn hợp các cảm xúc
mới mẻ – sự xanh tươi của mọi thứ; nền văn hoá xa lạ; không khí ngột
ngạt và mùi hôi. Đơn vị của ông, khoảng 400 người, bắt đầu tiến hành
cuộc tuần tra bốn người, chấm phá bằng các vụ nổ súng có khi kéo đài
suốt đêm. Vì khu vực là Vùng Hỏa lực Tự do, bất kỳ người dân nào bị
bắt gặp đều được xúc chở về cho chính quyền giam giữ, dán nhãn tị
nạn. Binh sĩ, kinh ngạc trước lệnh này của anh, nói: ‘Họ không phải
người tị nạn, chỉ vì chúng ta muốn gán ghép họ mà thôi. Phần nhiều

chúng bắt cóc họ, một phần do chính sách không để họ che giấu và nuôi
ăn kẻ thù.’
Vào đêm 12 tháng 5, khi Biệt đội Hành động đã hoạt động chưa đến nửa
tháng, VC địa phương tấn công cứ điểm dữ dội, đạt được yếu tố bất
ngờ. Trong bóng đêm gần như không thể xuyên thấu các Mũ Nồi Xanh
tiến hành một thế phòng thủ thụ động, khai hỏa các M-14 và M-79 từ
các biệt thự của họ, nằm phía sau một con mương thoát nước sâu mà
phía tấn công không tìm cách vượt qua. ‘Chúng tôi có thể nghe họ la
lớn với nhau: “Tụi Mỹ đâu?” và sùng sục chung quanh. Bóng đêm bị
hỏa lực xé nát, không bên nào sở hữu đèn chiếu sáng, và Eiland không
đến được ụ pháo. Ít có lính Việt nào thể hiện tinh thần chiến đấu, và
người nào cố sức lập tức bị bắn chết ngay. Ai mà nằm sát đất thì yên
lành – đó là không làm gì, nói gì, bắn gì.
Khi hừng sáng người Mỹ thấy kẻ địch đã rút, họ đã phá hủy tất cả xe cộ
và đánh chìm xe lội nước neo ở bờ sông. Thi thể nằm rải rác khắp nơi,
hầu hết là lính phòng thủ.
Eiland choáng váng: ‘Tôi chưa từng thấy nhiều xác đến như thế trước
đây, nhất là những xác bị băm nát.’ Thiếu trực thăng tải thương, các y sĩ
của ông ráng làm được gì thì làm cho thương binh.
Eiland không hề đặt tin tưởng nhiều vào lực lượng đặc biệt của
QĐVNCH mà anh có dịp làm việc chung, và càng ít hơn khi anh thấy rõ
là cái đói đấy họ đến chỗ gần như nổi loạn: xếp Việt của họ đã ăn chặn
phần gạo của họ. Các người Mỹ quyết định lãnh việc phân phối khẩu
phần, khiến các xếp bất mãn vì mất thu nhập. Thế là Eiland và đối tác
đường ai nấy đi.
Cuộc sống lính bộ binh thiếu thốn nét hưng phấn hương xa mà Mũ Nồi
Xanh có. Đối với Bob Nelson, điều tốt đẹp nhất về cuộc sống quân ngũ
là lần đầu tiên trong đời một người da đen như anh không bị kỳ thị sắc
tộc: ‘Chúng tôi chăm sóc lẫn nhau.’ Một thành viên Ku Klux Klan (một
tổ chức kỳ thị người da đen cực đoan) năng nổ bảo với anh rằng nhận
thức của y về người da đen đã biến đổi sau khi ‘người anh em’ dìu anh
lùi về băng qua một ruộng lúa khi anh bị tê liệt trong một pha đấu súng.
Nelson là con trai một người giúp việc và một người lao động mất khi
anh lên sáu. Anh trải qua phần tuổi thơ còn lại với ông bà trên trang trại
thuốc lá nhỏ của họ ở South Carolina kỳ thị gắt gao. Anh gia nhập

TQLC khi vừa học hết trung học vì anh cần việc làm, và thấy Parris
Island (trung tâm huấn luyện TQLC) thật là gian khổ như phần đông tân
binh, thậm chí nhiều hơn vì các huấn luyện viên thường gọi mọi tân binh
da đen là ‘nigger’ (tiếng có nghĩa ‘da đen’ với vẻ khinh miệt). Anh
không bao giờ quên khẩu hiệu lớn tại trung tâm huấn luyện dã chiến của
họ ở California: ‘Tập nhìn thẳng vào cái chết, vì bạn sắp đến nơi con
người sẽ chết.’ Cái chết của một TQLC, trung sĩ của anh nói, là một ‘cái
chết tốt’. Nelson không chắc lắm về chuyện đó, nhưng khi anh gia nhập
một tiểu đoàn tại Phú Bài vào tháng 3 1966, anh vui sướng khi thấy làm
bồ bịch với
‘Fred Nhà Nông’ người Minnesota mới dễ dàng làm sao; anh cũng hòa
thuận với những đồng đội từ Wilmington, Pittsburgh, Chicago. Trong
những cuộc hành quân vô tận qua bụi rậm họ rượt bắt nhau để tinh thần
không xuống thấp: ‘Ê, tiến lên nào – đi mau – đi mau!’ Là một cầu thủ
bóng rổ say mê, một vận động viên đường dài, anh rèn luyện thể lực
chăm chỉ để không mất phong độ, và lần đầu tiên trong đời anh thấy tự
tin thực sự. ‘Đó là một dấu hiệu của danh dự để tiến lên và tiến
lên, không bao giờ bỏ cuộc.’ Vậy mà Nelson tìm thấy có một số điều
khó xử trong tâm trí: anh đã lớn lên trong một môi trường sùng đạo, nơi
không ai dám lớn tiếng thốt ra từ ‘giết’. Còn trong môi trường mới của
mình, ngược lại, mọi người không nói nhiều chuyện gì khác hơn là ‘khử
bọn Charlie’.
Họ khiếp sợ trước tác động của hỏa lực hùng hậu của phe mình. Nelson
theo dõi các vụ không kích, pháo kích, hỏa lực vũ khí nhỏ tàn phá một
sườn đồi, các viên đạn 20mm ngấu nghiến mặt đất. Chúng tôi nghĩ
bụng – ôi trời, chúng ta thực sự làm chủ ở đây. Không ai có thể sống
qua cơn đạn lửa này!” Các tướng lĩnh cũng cảm nhận như vậy, vậy mà
các dải rộng các bất động sản vẫn còn nguyên vẹn không trúng pháo:
thậm chí ở giữa cơn bão lửa, một đa số đáng kinh ngạc kẻ địch vẫn sống
sót. Reg Edwards làm vui cho trung sĩ trung đội của mình khi bắn một
người Việt cho thấy có cầm một quả lựu đạn. Sau đó Edward bị ra lệnh
phải lôi thi thể về trại. Anh nói: ‘Cánh tay y rơi ra. Vì thế tôi phải đi trở
lại nhặt nó lên. Tôi phải đút cánh tay xuống ống quần ý. Lôi kéo y một
đoạn dài thật oải. Và tôi bắt đầu nghĩ ngợi’ … Và thình lình tôi nhận ra

rằng anh chàng cũng là người, cũng có một gia đình. Thình lình tôi thấy
mình không phải kéo lê một tên gook.’
Chú thích: ‘Gook’ là danh từ khinh miệt mà lính Mỹ tham chiến ở Triều
Tiên chỉ người Hàn, và nói rộng ra mọi người châu Á da vàng, trong đó
có Việt Nam. Nguồn gốc là lính Mỹ ở Triều Tiên nghe người Hàn nói
‘Miguk’ (tức Mỹ quốc) để chỉ người Mỹ, lính Mỹ tưởng lầm là họ nói
‘Me gook’, nghĩa là ‘Tôi là gook’. Thế là họ gọi người Hàn bằng tên đó

luôn.

Frank Scotton viết: ‘Bằng một lập luận quái đản (những người như
chúng ta không sống như thú vật; người Việt sống như thú vật: do đó, họ
không phải là người), người Việt quá thường bị xem như dưới con
người. Chỉ một số ít chiến binh Mỹ nhận ra nét tinh tế của nền văn hoá
Việt Nam và quan hệ của nó đối với môi trường mới đưa ra kết luận:
“Chính chúng ta mới là gook.”‘
Khi một đứa con phát bệnh nặng và người mẹ quá đỗi lo sợ, bà có thể
đốt một bó đuốc và cố mang con mình băng qua cánh đồng đến trạm y
tế . . . Có trường hợp đuốc tắt giữa chừng và vô tình một nhóm lính Mỹ
phục kích khai hỏa vào gia đình khi họ bước ra từ một ấp đang giao
tranh. Người mẹ bị thương còn con trai bị chết. ‘Tôi đang dính líu vào
một cuộc chiến địa ngục nào vậy.’
Không chỉ dân Việt là nạn nhân duy nhất của hỏa lực bạn. Trong đội của
Bob Nelson có anh chàng xạ thủ súng máy gốc người da đỏ Cherokee:
‘Trời, y yêu khẩu súng của y hết biết – bắn liền tù tì mỗi khi có dịp.’
Một đêm nằm phục kích một bóng người phía trước được quát hỏi mật
khẩu, khi y không thể trả lời mật khẩu đủ nhanh, xạ thủ M-60 khai
hỏa, chỉ dừng lại khi tiếng nói phía trước thét lên ‘Thủy Quân Lục
Chiến đây! Thủy Quân Lục Chiến đây!’ và được nhận diện là đội tuần
tra trở về, mà người đi đầu đã lãnh một viên đạn vào hông. George
Bonville thất kinh khi những người Miền Nam mà ông đi kèm nằm
xuống thử hỏa lực cho dù không có mục tiêu gì nhận diện được. Một
buổi sáng trong một cuộc tấn công, ‘chúng tôi bị súng cối nã xuống đám
cây phía trước nổ như không kích, phun ra những mảnh vụn tung tóe.
Rồi những ‘khẩu 50 khai hỏa, xuyên qua khu rừng không quá rậm rạp,
rít qua đầu chúng tôi và bật nẩy vào lớp vỏ cứng của thân dừa. Những
viên đạn hết đà rơi lộp độp quanh tôi và một viên đạn lửa nóng xèo xèo

bắn tung tóe bùn ngay trước mũi tôi.’ Phóng viên ảnh Đức Horst Faas,
người đang tháp tùng trong chiến dịch, nằm chửi thề trước viễn cảnh sắp
chết do hỏa lực bạn, và hối thúc Bonville bảo QĐVNCH ngừng bắn.
“Tụi Mỹ mày ngu ngốc!” Ông hét lên: “Dính vào cuộc chiến chết tiệt
này!” Không chạm trán kẻ địch nào trong buổi sáng dữ dội, ồn ào đó,
nhưng vụ chạm trán với Faas cung cấp cho giới truyền thông sự ghê tởm
mà Bonville và nhiều binh lính khác cảm thấy.
‘Điều duy nhất họ bảo với chúng tôi về VC là chúng là bọn gook,’ Reg
Edward nói: ‘Họ phải bị giết. Không ai ngồi lại và cho bạn biết bối cảnh
văn hoá và lịch sử của họ. Họ là kẻ thù. Giết! Giết! Giết!’ Vào 19:00
đêm 23 tháng 9 1966 một đội tuần tra phục kích TQLC chín người khởi
hành từ Đồi 22, tây-bắc Chu Lai. Theo danh nghĩa nó được Trung sĩ
Ronald Vogel cầm đầu, nhưng một chiến binh kỳ cựu hung hăng, Binh
nhất John Potter, tuyên bố mình nắm quyền chỉ huy: sứ mạng sẽ là một
‘trận đột kích’. Mọi người được lệnh lột bỏ huy hiệu đơn vị, và không
xưng với nhau bằng tên. Tại một ấp gần đó họ bắt giữ một nông dân, kết
tội anh là VC, và bắt đầu đánh đập anh. Bốn người khác lôi vợ anh ra
ngoài túp lều tranh, giật đứa bé ba tuổi ra khỏi tay chị, rồi hiếp dâm chị.
Sau đó đội tuần tra bắn chồng chị, con trai, em chồng, và con của em
chồng. Potter sau đó ném một quả lựu đạn vào đống thi thể ‘để nó trông
tự nhiên hơn’. Cuối cùng nhóm TQLC bắn nạn nhân bị cưỡng hiếp và bỏ
mặc cho chết.
Câu chuyện trở nên tồi tệ hơn. Khi nhóm TQLC trở về căn cứ và đại đội
trưởng ra lệnh điều tra ‘việc chạm trán với địch’ được báo cáo này, một
sĩ quan đi đến hiện trường chỉ đạo nỗ lực che giấu sự thật. Trong quá
trình này một đứa trẻ bị thương nặng được phát hiện, Potter liền lấy bá
súng đập nó đến chết. Tội ác chỉ bị bại lộ chỉ khi nạn nhân bị hiếp, vốn
bị bỏ cho chết, được các dân làng lối xóm phát hiện còn sống và mang
đến căn cứ TQLC nhờ chữa trị. Chị thuật lại câu chuyện của mình, và
một sĩ quan quân y báo cáo cấp trên ngay lập tức. Potter bị kết án tù 12
năm vì tội giết người và hiếp dâm có dự tính. Sĩ quan chịu trách nhiệm
che giấu tội trạng bị loại khỏi Quân đoàn, nhưng tuyên án này bị lật
ngược sau vụ chống án. Chỉ có hai thành viên tuần tra khác bị án tù đáng
kể.

Reg Edwards sau này bày tỏ sự hối tiếc đã tham gia các vụ đột kích và
giết chóc làng mạc bừa bãi. Bob Nelson có lần được lệnh bắn một phát
M-79 vào lối vào một boongke. Khi khói tan hết, một người lính khác
nhìn vào và quát ra phía sau, ‘Chỉ có một bà và hai đứa con nhỏ,’ chết
hết. Sau này Nelson nói với vẻ buồn rầu sâu sắc, ‘Đó là một hình ảnh
còn lưu lại trong đầu tôi mà tôi không thể nào xóa khỏi ký ức.’
Emmanuel Holloman gốc Baltimore là một thông dịch viên trải qua hai
năm công tác tại Việt Nam có nhiệm vụ phát tiền bồi thường cho người
dân: 10 đô hoặc 1,000 đồng cho một căn nhà lá bị phá hủy; 40 đô cho
một thi thể, hoặc có khi đến 60 đô vào một ngày may mắn.
Holloman cho rằng người Mỹ da đen như ông có thể kết thân với người
Việt tốt hơn người da trắng, vì họ chia sẻ chung một cảm nhận mình
cũng là nạn nhân.
Bob Nelson nói: ‘Đôi khi tình hình nghiêm trọng, rồi có lúc không
nghiêm trọng, rồi lại hóa ra nghiêm trọng lần nữa ‘ – gần như luôn luôn
không báo trước.

3 Bẫy và Bụi Đường

Có đủ thứ bẫy mìn, bẫy mìn, bẫy mìn – loại bẫy mà thế kỷ 21 gọi
là IEDs, bẫy mìn ứng biến – và họ mới thù ghét chúng làm sao! Hầu hết
được chế từ quân nhu Mỹ vét được: một pháo cối 60mm sẽ cắt đứt một
bàn chân, trong khi bom 81mm lấy đi một chân và có khi thêm vài ngón
tay và khuỷu tay. Một quả pháo 105mm sẽ lấy đi cả hai chân và thường
một cánh tay. Pháo 155mm làm bốc hơi phần bên dưới thắt lưng của
nạn nhân sát bên, và gần như chắc chắn giết chết những ai đứng trong
vòng 20 mét. Mìn thường đặt từng nhóm, để cái thứ nhất làm què một
người, cái tiếp theo làm thương tật ai đến săn sóc người thứ nhất. Binh
lính tranh cãi ghê rợn xem chân nào mình sẽ mất trước: hầu hết đều
thích hơn nếu giữ được đầu gối và những gì ở phía trên chúng. Có một
thời kỳ dài hai tháng một đại đội đơn lẻ TQLC mất đến 57 cái chân vì
đạp mìn và bẫy – và theo lời nhận xét u ám của một sĩ quan, tính ra gần
mỗi ngày một chân.

Một người thoáng thấy dây bẫy phía trước có thể ném một quả lựu đạn
về hướng mìn chôn, với hy vọng làm phát nổ gói mìn đã đặt. Mọi người
ghét phải xử lý kíp nổ ba chấu trên loại mìn
‘Bouncing Betties’. Kỹ sư tác chiến Harold Bryan có lần xử lý trọn một
giờ cho một người của Kỵ binh 1/9th giẫm phải một mìn như thế, nhờ
đứng yên nên mìn chưa phát nổ. Chấu đã kẹt trong kẽ đế giày bốt đi
rừng của anh, không thể lấy ra được: chỉ cần một chuyển động nhỏ là toi
mạng. Bryan liền buộc một đây thừng quanh hông ngưỡi xui xẻo, đầu
dây kia cả đội phải giữ lấy kéo căng ở một khoảng cách an toàn khoảng
20 mét, rồi sau một hiệu lệnh cùng giật và kéo mạnh anh ta như tên bắn
ra xa 5 mét trước khi mìn nổ. Người giẫm phải mìn chỉ mất gót của
chiếc bốt đi rừng, nhưng ít có ai được may mắn như thế, và sau vụ nổ
thường có nỗi khao khát muốn tìm ra bọn gook – tức bất kỳ người Việt
nào vớ được – để trút cơn căm thù. Khi một quả mìn nổ giữa toán quân
của Bob Nelson, sau khi số thương vong được di tản và đoàn tuần tra
tiếp tục di chuyển, ‘người dân vội bị chết oan’, theo lời TQLC. ‘Chúng
tôi trở nên hung hăng.’ Một tướng lĩnh QĐVNCH nói: ‘Kẻ địch không
đối mặt với anh. Nhưng chúng quấy nhiễu anh mỗi đêm khiến anh có
cảm tưởng mọi người chung quanh anh đều thù địch. Ai cũng là kẻ thù
của anh. Nhưng thực tế cũng chỉ có từng ấy 5, 6 tên VC trở về mỗi đêm.
Và chúng gài mìn, đặt chông, gài bẫy … VC làm anh mất tinh thần đến
độ anh mất kiên nhẫn và nói, ‘Tôi muốn kết thúc chuyện này cho xong.”
Và anh đã rơi vào bẫy của chúng. Anh giết oan dân chúng. ‘
Harold Hunt là một trong năm người con trai của một thợ ô tô da đen
tham gia quân đội ngay khi rời trường trung học vào năm 1961, và sau
này ít khi hối tiếc việc đó: ‘Không có nhiều bọn tôi quen biết từng đi đâu
ra khỏi Detroit trong quãng đời còn lại của họ, còn tôi thì đi khắp nơi.’
Thoạt đầu anh làm xạ thủ cửa trực thăng, trước khi trở về trong tháng
12 1965 để chỉ huy một toán lính của Bộ binh 2/27th. ‘Ngay ngày đầu đã
tệ rồi,’ anh nói. ‘Chúng tôi phải đánh vào Củ Chi, tìm cách bám giữ
từng tấc đất mà Sư đoàn 25 chịu trách nhiệm.’ Một buổi sáng tháng 4
1966, Hunt đang dẫn đầu toán tuần tra đi qua vùng lau sậy về hướng tiền
đồn Ann-Margret thì anh bị thương nhẹ bởi một hoả lực bắn tới. Sau khi
anh ném mình nằm xấp xuống đất và bắt đầu bắn trả, anh thấy mình bấu
chặt một sợi dây – một dây bẫy. Anh đang vác một máy truyền tin trên

lưng, liền trao đổi nhanh với Willie Somers, xạ thủ M-60 của mình:
‘Đây là bom thối hay bộ phận bấm-buông – anh thấy nó không?’ Somers
thực ra có thể nhận ra, dù không đến gần, một mìn Claymore tự chế của
địch. Hỏa lực giảm dần; bọn VC đã rút đi. Hunt cẩn thận lăn mình qua,
đưa lưng về phía cuối của dây bẫy, rồi buông ra. Mìn phát nổ, xé rách
phần mặt bên phải, thân người, chân; chiếc máy truyền tin đã cứu mạng
anh, hứng hầu hết các mảnh đạn. Anh trải nửa năm sau đó trong bệnh
viện quân y tại đó người ta tái tạo lại gương mặt anh, phục hồi chân và
bắt anh theo một khóa vật lý trị liệu kéo dài cho đến khi người ta kết
luận là anh thích hợp cho các nhiệm vụ giới hạn.
Việt Nam cũng bắt đầu trở nên tồi tệ không kém đối với Bob Nelson trên
một chuyến tuần tra một sáng tháng 6 khi một bẫy mìn phát nổ cạnh
anh, bắn ra mảnh đạn ghim nhiều chỗ vào người khiến anh phải nằm
bệnh viện đã chiến một tuần rồi trở lại căn cứ. Tiếp theo là một loạt giao
tranh, lớn nhỏ. Ngày Việt Nam của anh cuối cùng kết thúc vào ngày
tháng 10 khi đội trinh sát của anh nghe thấy tiếng nói bên kia hàng dậu
và chỉ huy toán la lên, ‘VC!’ Anh nhả hết băng đạn Thompson về phía
họ, và lãnh đáp lại một loạt lựu đạn bay tới. Một quả nổ cạnh Nelson,
làm nổ quả lựu đạn khói gắn trên đai nịt anh.
Cố gắng tránh bị cay mắt, ngạt thở vì khói anh nắm chặt quả kim loại
nóng bỏng để ném nó đi, nhưng thấy bàn tay mình cháy bỏng đau đớn.
La hét và chửi thề, anh lăn lộn trong ruộng cho dù giao tranh còn tiếp
diễn quanh anh. Khi trận đánh cuối cùng lụi tàn, anh được trực thăng
tản thương và được giải ngũ về nhà.
Ai đặt tất cả các bẫy mìn này? Trong khi các chỉ huy Mỹ đều say sưa với
việc ‘hạ gục Charlie Cộng’, một sĩ quan cộng sản kể về chuyến đi xuống
vùng đồng bằng ‘đich thân chỉ đạo việc tổ chức một vùng sát-Mỹ …
Ngày qua ngày các hoạt động này ngày càng phong phú hơn, sáng tạo
hơn và năng nổ hơn.’ Người viết nhấn mạnh rằng thường dân địa
phương, chứ không phải là du kích, mới là người đặt bẫy mìn: ‘Dân
chúng không tự động quyết tâm chống Mỹ, cũng không ai xúi giục họ
làm vậy. Chính vì những điều tác tệ mà binh lính Mỹ gây ra đã xác định
thái độ của dân chúng. Lúc đầu họ phân phát bánh kẹo, áo thun cho các
em bé, tu bổ và cung cấp trang thiết bị cho trường học, khám bệnh và
phát thuốc miễn phí. Chỉ một thời gian ngắn sau đó, tuy nhiên, cũng

những đơn vị Mỹ ấy pháo kích xóm làng, hủy hoại mùa màng của nhân
dân … bắn giết ngươi dân vô tội. Xe khách đông nghẹt hành khách lật
xuống kênh rạch sau khi bị quân xa Mỹ ép khỏi đường. Binh sĩ lúc nào
cũng đe dọa và hà hiếp người yếu thế và vô tội. Đó là lý do tại sao nông
dân, bằng sáng kiến riêng của mình, đã gài mìn và bẫy mìn. Chiến tranh
nhân dân … tự mình phát triển.’ Có một phần sự thật trong cách lý giải
này của người cộng sản, nhưng chính các đơn vị VC cổ vũ hoạt động sản
xuất IED bằng cách tổ chức thu gom các quả bom và đạn pháo chưa nổ
để cải biến thành mìn trong các xưởng nhỏ trong làng: các vỏ hộp cá
mòi là phổ biến nhất, được nạp đầy thuốc đạn và ngòi nổ.
Đại uý bộ binh Mỹ Ted Fichtl nói rằng mình có được kinh nghiệm tác
chiến vì chịu khó lắng nghe các NCO dạn dày ruộng đồng: ‘Chúng ta có
thể sống dễ dàng với các trung uý mới ra trận hơn là với các trung sĩ mới
ra trận.’ Ông phát hiện tầm quan trọng của việc bắt binh sĩ đào hố cá
nhân bất cứ khi nào và bất cứ nơi đâu họ dừng chân, và cưỡng chế kỷ
luật ngủ nghỉ: ‘Chúng ta quá thấm nhuần tinh thần nam nhi tưởng mình
có thể làm được và cứ thoải mái chợp mắt đây đó. Nhưng chúng ta khám
phá ra rằng chuyện không phải đúng như thế – lôgic của chúng ta sẽ lộn
xộn. Khả năng phân biệt thực tế tình huống của bạn sẽ tan rã rất nhanh
chóng.’ Còn quan trọng hơn nữa, và thường bị bỏ qua, là phải tung ra
các nỗ lực cần thiết, không được buông xuôi những giờ ban đêm cho kẻ
địch. Fichtl nói: ‘Tôi cho rằng tồn tại một nỗi lo sợ nền tảng trong giới
binh sĩ Mỹ là việc hành quân ban đêm … Chính bản thân tôi từng là nạn
nhân của việc đó. Nhưng nếu các anh không căng mắt và tai ra trong các
cuộc tuần tra và trực tiền đồn, bạn sẽ rất dễ, rất dễ bị tổn thương.’ Đại uý
Dan Campbell, một sĩ quan West Point chỉ huy một đại đội lính dù, chia
sẻ quan điểm của Fichtl. Anh cho rằng đơn vị mình không thực hiện đầy
đủ nhiệm vụ tuần tra đêm, một phần vì họ quá mệt mổi khi bóng tối
buông xuống. Ngược lại, Campbell cũng ngạc nhiên khi thấy có người
mong muốn – thậm chí hăng hái – đương đầu với những điều khủng
khiếp khi thám sát các địa đạo của địch.
Một ít người say mê với trải nghiệm Việt Nam. Đại đội Dù của Trung
uý John Harrison có trung sĩ đáng sợ tên Manfred Fellman người khí còn
là một cậu trai vào năm 1945 đã được thưởng Thập tự Sắt khi là thành
viên của Wehrmacht (lực lượng vũ trang Đức) phòng thủ Breslau (thành

phố Ba Lan do Xô viết bao vây vào cuối thế chiến II). Fellman yêu cầu
được đeo huy chương này khi tham chiến ở Việt Nam, nhưng yêu cầu bị
bác bỏ bởi một sĩ quan cho rằng, ‘Thử nghĩ xem một người còn sống sót
từ trại tập trung Auschwitz sẽ cảm thấy thế nào nếu nhìn thấy nó.’
‘Fellman thật đặc biệt,’ Harrison nói, vốn là người ngưỡng mộ năng
khiếu chiến binh của người Đức, ‘nhưng anh ta luôn bị kỷ luật vì việc
chè chén.’ Phi công trực thăng Đại uý Frank Hickey nói, ‘Chúng tôi tận
hưởng những gì chúng tôi làm… Chúng tôi luôn thắng … Đối với
tôi, chúng tôi luôn luôn thành công. Chúng tôi thường nói với nhau:
“Hãy đi tóm Charlie nào!”
Chàng trai nông thôn gốc Arkansas Carlos Norman Hathcock là một siêu
thiện xạ tuyên bố đã hạ được 93 tên VC. Phần lớn thời gian anh là một
người trầm lặng, nhút nhát, dễ nổi các cơn bạo lực dữ dội, có lần suýt
bị tống giam vì đánh nhau với một sĩ quan và nghỉ phép quá hạn. Vào
năm 1965 anh thắng giải thưởng tác xạ danh giá nhất Cúp Wimbledon,
cự ly 1,000 ya, và vào tháng 3 năm sau ra mặt trận, trước tiên làm quân
cảnh, sau đó xạ thủ bắn tỉa của TQLC. ‘Việt Nam thật hợp gu với tôi,’
anh nói sau này. Anh không hề muốn mất thời gian làm việc khác hoặc
nghỉ ngơi giải trí. Sau khi giải ngũ anh thấy mình không biết làm gì
khác, nên đăng lính lại và trở ra mặt trận. Rồi một buổi sáng xe thiết
giáp anh đang đi cán phải mìn. Anh bị bỏng hơn 43 phần trăm cơ thể, và
sau khi ra khỏi bệnh viện anh kiểm tra thấy mình không thể bắn tốt như
xưa được nữa. Anh tiếp tục nhận công tác huấn luyện xạ thủ, nhưng
đâm ra nghiện rượu và dễ bốc hỏa.
Khi Jonathan Polansky, một tân binh được cử đến Dù 101, đến căn cứ
hỏa lực mới anh chỉ là một thằng bé gầy guộc chỉ nặng 112 cân anh cảm
thấy hơi thất vọng: ‘Tôi được đưa đến trình diện với đại đội trưởng, một
người to con mạnh mẽ, râu 8 ngày chưa cạo và tóc nâu rẽ thẳng. Trung
sĩ trung đội là gã da đen này. Tôi đâm sợ trước những gã quần áo lôi thôi
này. Tôi thì trong bộ quân phục xanh rêu mới tinh, giày thì còn bóng lộn.
Tôi trông chỉ chừng 12 tuổi với đầu hói và mũ sắt quá khổ. Và họ nhìn
tôi phá lên cười. Tim tôi muốn rớt ra. Tôi không thể nhớ mình cảm thấy
bị bắt nạt ra sao, quá yếu đuối, quá vô dụng. Không ai muốn một “quả
anh đào”.’ Sau một ngày vô tận leo lên một ngọn núi Polansky đến gặp
đại úy của mình và xin được thuyên chuyển khỏi đơn vị, nói, ‘Tôi không

làm được.’ Viên sĩ quan cười to và bảo anh đừng lo, anh sẽ làm được.
Hôm sau đại đội lại trèo lên một ngọn núi còn cao hơn: ‘Vào cuối
ngày, tôi cảm thấy hưng phấn. Tôi cảm thấy mình sẽ sống sót. Vào ngày
thứ ba, tôi biết mình sẽ làm được. Tôi không biết thế nào, chỉ biết mình
sẽ làm được.’
Trong số một vài thành tích khủng, thành tích phẩm hạnh xứng đáng
được ca ngợi.
Shirley Purcell là một y tá kỳ cựu được triệu tập cho nhiệm vụ tích cực
vào năm 1966. Anh cô gốc Texas ngăn cô đừng nên đi, nhưng cô tin
tưởng vào thiên chức của mình, và nỗ lực thành công để xuống cân mà
yêu cầu của công việc đòi hỏi. Tại Biên Hòa giữa các ca cô bỏ nhiều giờ
làm việc trong bệnh viện của cô nhi viện, dạy các sơ Việt trong phòng
sanh tầm quan trọng của việc mang găng giải phẫu khi đỡ đẻ. Cô gắn bó
đặc biệt thân tình với một bé gái 5 tuổi cô gọi là ‘Scamp (Chó con)’, và
vì bé mà Purcell sau này phục vụ thêm thời hạn thứ hai ở Việt Nam. Cô
rất tự hào về công việc của mình: ‘Tôi thực tình không có ý thức chính
trị … nhưng có binh sĩ Mỹ ở đó cần được giúp đỡ.’
Cô đang nghĩ, chẳng hạn, về một lính bộ binh đã đạp phải bẫy mìn:
‘Chàng trai này đã bị xé toạc phân nửa – từ đầu gối lên và từ ngay dưới
lồng ngực xuống. Như một miếng thịt hamburger. Tất cả nội tạng đều bị
bầm nát, nhưng hai chân còn nằm hoàn hảo trên cáng, và hai cánh
tay, bàn tay, ngực trên còn nguyên, và trí óc rất tỉnh táo. Anh
ngước nhìn chúng tôi. Cảm xúc lan tỏa khắp nhóm y sĩ, với chàng trai
nằm trong phòng cấp cứu đang hấp hối vì tuyệt đối không có gì chúng
tôi có thể làm được cho anh, là điều tôi chưa từng trải nghiệm. Tình thế
hoàn toàn bất lực và vô vọng. Nỗi khủng khiếp và thất vọng trong mắt
các bác sĩ, vì với tất cả điều học được, tất cả những gì chúng tôi có thể
trao cho, chúng tôi vẫn không sao trao cho được người đàn ông này một
cơ hội.’
Một người lính khác được khiêng vào với nửa đầu bị thổi bay: ‘Anh
khoảng 19 tuổi, đây là một vết thương không thể mổ … tôi nhớ mình cố
gắng băng đầu anh để bộ não anh không nằm trên cáng. Anh ngước nhìn
tôi và hỏi, ‘Này, nó trông thế nào hả chị?’ Tôi phải bảo anh, ‘Nó trông
không tốt lắm, nhưng anh sẽ không cô độc.’ Đó thực sự là tất cả những
gì chúng tôi có thể trao cho anh – rằng anh sẽ không cô độc.’ Shirley đã

từng là người kích bác rượu, nhưng trong câu lạc bộ sĩ quan ở Chu Lai
cô bắt đầu sử dụng Screwdrivers (một loại cốc tai gồm vodka pha với
nước cam chanh), và ai trách cứ cô được? Sau này, cô không thể gượng
xem được MASH (loạt phim truyền hình khôi hài trên TV), bởi vì các ký
ức của cô đã áp đặt quyền phủ quyết tiếng cười.
Hai tiểu đoàn Úc đặt căn cứ tại một góc đông nam Việt Nam, phía trên
Vũng Tàu, mới đầu thấy mình phấn đấu để làm tròn nhiệm vụ với một
nhân lực tương đối khiêm tốn, và những vạt rừng rộng lớn để tuần tra và
càn quét. Trong những tuần lễ đầu kẻ địch hay lẩn tránh, nhưng một
cuộc công kích súng cối ban đêm vào giữa tháng 8 1966, làm bị thương
24 người, khiêu khích tiểu đoàn trưởng phái một lực lượng đi trinh sát
vùng. Vào chiều ngày 18 tháng 8, trong thời tiết kinh khủng 100 lính Úc
đụng độ với một lực lượng VC hùng hậu gần một ngôi làng bị bỏ hoang
gần Long Tân, và thấy mình phải quyết đấu một mất một còn. Pháo binh
phát huy hiệu quả, nhưng quân nhu cho vũ khí nhẹ cạn dần một cách
nguy khốn. Hai trực thăng Úc đương đầu với mưa gió và mây mù để bay
tiếp tế khẩn cấp, và khi bộ binh bắt đầu sợ bị sẽ tràn ngập, các xe bọc
thép đến nơi mang theo các súng máy .50 và một đại đội tiếp viện. Bọn
cộng sản rút lùi, để lại 245 xác chết.
Úc mất 18 người bị giết. Họ thắng thế, nhưng biết rằng mình đã ở trên
bờ thảm họa, một phần bởi vì lực lượng không đủ túc số để đương đầu
với quân địch hùng mạnh trên một lãnh địa mà phe Cộng coi là của
mình. Trong những năm tháng sau đó Úc và Tân Tây Lan tạo được tiếng
tăm là những bộ binh đáng nễ.
Cùng với sứ mạng tìm-và-diệt, luôn có các trận không kích không ngừng
nghỉ xuống vùng hoang dã mà Việt Cộng hay lẩn trốn.
Chiến dịch Trail Dust (Bụi Đường), làm rụng lá trên các đường mòn
xâm nhập, bắt đầu vào năm 1961. Vào tháng 7 1965 thuốc diệt thảm
thực vật được thả xuống ngay trung tâm Miền Nam, nơi các đám mây
hoá học trôi về các vườn trái cây gần Biên Hòa và Lái Thiêu, với các
hậu quả thảm khốc cho mùa vụ xoài, mãng cầu, mít và dứa. Gần như qua
một đêm, trái cây rụng hết, lá hóa nâu trên hàng ngàn cây cao su.
Dân địa phương lắc đầu hoang mang, không hiểu nguyên nhân gây ra tai
họa thiên nhiên này. Khi sự thật được phơi bày, các nông dân không
mấy tin vào lời trấn an là hậu quả của Chất Da Cam sẽ mất tác dụng sau

một năm. Một đại tá Miền Nam nhận xét rằng việc dân chúng phẫn nộ
và than phiền do việc làm trụi lá gây ra quanh vùng dân cư đã ‘lấn át các
chiến tích quân sự’. Dù sao ông cũng nhìn nhận thuốc trụi lá rất hiệu quả
trong việc triệt tuyến đường liên lạc trong rừng của quân địch, nhất là
trong các đầm lầy ngập mặn dọc sông Sài Gòn.
Chương trình lên cao điểm vào năm 1968-69; tất cả, gần 20 triệu ga-long
chất trụi lá, hơn phân nửa số đó có chứa chất dioxin, được rải xuống
khắp Đông Dương. Việc này vẫn còn là một trong những vấn đề nhức
nhối nhất trong thời hậu chiến: không thể tránh một cảm giác ghê tởm về
sự phá hủy có hệ thống môi trường thiên nhiên để phục vụ cho các mục
tiêu chiến thuật. Thật khó mà nghi ngờ là một số người Việt, và có lẽ cả
người Mỹ, gánh chịu những hậu quả bệnh tật từ Chất Da Cam. Dù sao đi
nữa cũng cần thận trọng về những lời tuyên bố cực đoan trong thế kỷ 21
của Hà Nội, và của một số bộ phận Mỹ, rằng hàng trăm ngàn người
trong thời chiến gánh chịu tổn hại lâu dài – sinh quái thai, ung thư và các
bệnh gớm ghiếc khác.
Chiến sử chính thức của Hà Nội đưa ra con số hai triệu người dân bị di
chứng Chất Da Cam. Vậy mà để con người chịu tổn hại nghiêm trọng
họ phải cần tiếp xúc lâu dài và nặng với dioxin, trên một mức độ tương
đối ít người gặp phải. Một cựu binh Miền Nam gần đây lưu ý rằng mình
và các đồng đội thường xuyên sử dụng chất làm trụi lá, phun xịt nó từ
các bình xịt tay, mà không thấy ảnh hưởng gì. Anh gợi ý là các nông dân
Việt vốn có tiếng hay sử dụng bừa bãi chất diệt cỏ có thể đã gây tổn hại
cho sức khỏe mình như Chất Da Cam đã làm.
Dù là gì, Thẩm phán Úc Philip Evatt bỏ ra hai năm trong thập niên 1980
khảo sát chứng cứ về tác hại của Chất Da Cam đối với đồng bào mình đã
từng phục vụ tại Việt Nam, và trình bày một báo cáo gồm 9 quyển dày
2,760 trang, kết luận chất siêu dẫn hoá học ‘Không có tội ‘. Một cố vấn
khoa học của Uỷ ban Hoàng gia nói với vẻ thẳng thừng điển hình của
Úc: ‘Phần lớn vấn đề gây lo lắng cho cựu binh sau Chiến tranh Việt
Nam không do Chất Da Cam: chúng chỉ do đây là một cuộc chiến đẫm
máu đáng sợ.’
Evatt cho rằng thuốc lá, rượu và căng thẳng hậu sang chấn mới là các
nguyên nhân chính thuyết phục nhất và rộng rãi nhất gây ra các khó
khăn cho cựu binh. Một nhà sử học không buộc phải đưa ra lời tuyên án

cho Chất Da Cam khi đối mặt với các số lượng cạnh tranh các chứng cứ
đối nghịch. Chất làm trụi lá rõ ràng là một công cụ ghê tởm, nhưng điều
đó không thể cho phép cần phải nhìn nhận các tuyên bố cực đoan về
những tác hại nó gây ra cho con người tiếp xúc với nó.
Gần như mỗi tuần lễ trong năm 1965 đều chứng kiến một hành động như
hành động xảy ra một buổi sáng tháng 9, cách Sài Gòn 60 dặm về phía
bắc. Lúc 9:00 Bộ binh 2/18th tiến về phía bắc theo Đường 13 giữa Lộc
Ninh và đồn điền cao su Michelin, nơi được biết có lực lượng VC hùng
hậu đóng quân. Quân Mỹ sử dụng xe bọc thép, có xe tăng yểm trợ. Đại
đội trưởng C 27 tuổi Ted Fichtl nói: ‘Chúng tôi biết mình chường mặt ra
làm mồi nhữ… Nhưng tin tưởng vào khả năng phát động nó và hoàn
thành nó rất cao … Chúng tôi biết rằng lực lượng còn lại của tiểu đoàn,
lữ đoàn và sư đoàn đang sẵn sàng ứng chiến, chỉ đợi điều đó xảy ra, và
ơn trời nó xảy ra.’
Họ gặp một cơn bão hỏa lực từ các ổ phục kích từ cả hai bên đường, vũ
khí nhẹ, súng cối, súng không giật: ‘Thật là vô cùng ác liệt; rất, rất
chính xác và hiệu quả … Chúng tôi mất nhiều người và tản thương
ngay lập tức. ‘ Đại đội C của Fichtl ngã ngựa được súng phun lửa và
súng máy hạng nặng yểm trợ, nhưng thấy mình gặp rắc rối nghiêm
trọng hơn các chỉ huy đã tiên liệu. Cuộc quyết đấu kéo dài hết giờ này
sang giờ khác: các các xe cơ giới không bị hư hại rút ra khỏi vùng giao
tranh. Tiểu đoàn trưởng đi bộ đến gặp Fichtl, và ra lệnh anh rút về để
chuyển đến yểm trợ Đại đội A, đang trong tình cảnh tuyệt vọng. Viên
đại úy không còn sức thể hiện sự thương cảm đối với đồng đội. Anh
chống chế là mình đã mất nửa quân số: hãy gọi người khác thay
thế. ‘Đại tá nói, “Đó không phải là vấn đề. Vấn đề là Đại đội A cần
được tiếp viện. Chuyển đi.”‘
Fichtl nói: ‘Đại tá buộc chúng tôi làm vậy chỉ bằng quyền chỉ huy.’ Trận
đánh tiếp tục năm giờ nữa, ngang một tiền tuyến 800 ya, với quân du
kích và quân Mỹ đôi khi trao đổi hỏa lực chỉ cách nhau trong vòng 20
ya: sĩ quan điều hành và một trung đội trưởng của Fichtl thuộc số người
ngã xuống. Tinh thần Đại đội C lên cao khi họ thấy phần còn lại của
tiểu đoàn được trực thăng vận đến cách địch 3 dặm về phía sau: ‘Thật là
tuyệt khi thấy trực thăng tiến vào … Ngay lập tức bạn có thể thấy rằng

sự chú tâm của VC bị phân tán giữa những gì xảy ra phía trước và những
gì có thể xảy ra phía sau họ.’
Người Mỹ buộc phải tản thương bằng quân xa, vì trực thăng tản thương
– ‘máy quét bụi’, như chúng thường được gọi – không thể đáp xuống
qua màn hỏa lực ác liệt. Khi cuối cùng trận đánh kết thúc và quân địch
rút đi, khoảng 14:00, Fichtl kiểm tra quân số đại đội giảm chỉ còn 66
người còn đủ khả năng chiến đấu, và phải mất nhiều tuần mới được bổ
sung đầy đủ túc số. Anh không bao giờ quên cú sốc mình nhận được khi
nghe một sĩ quan tham mưu sư đoàn báo cáo trên máy vô tuyến số địch
chết cao gấp ba lần con số mà binh sĩ tham chiến đã báo với anh.
Năm 1966 chứng kiến các trận đánh như trận mà 2/18th tham dự. Trong
đa số áp đảo trường hợp, cho dù Cộng quân mất nhiều người hơn quân
Mỹ, họ ít khi nhìn nhận mình thất trận. Đây là năm mà Westmoreland
phát hiện ra rằng ‘bọn Charly khó lòng, nếu không muốn nói là không
bao giờ, chịu bỏ cuộc. Và chỉ cần trụ lại trên võ đài, họ được xem như đã
làm thất bại ý chí của quốc gia hùng mạnh nhất thế giới.

Creighton Abrams

TQLC tấn công

Đây là cảnh người cộng sản dựng lại nhưng mô tả sống động chiến
trường mà hai bên đều hiểu rõ tại những vùng sông nước Miền Nam

CHƯƠNG 13: CÀNH GHÉP VÀ DẦU BẠC HÀ

1 Ăn Cắp

Tham nhũng là bệnh đặc hữu của Miền Nam. Các cục bài trừ ma túy Mỹ
tuyệt vọng trong việc kiềm chế nạn buôn lậu heroin, cocain và cần sa, vì
các lãnh đạo và thân chủ của chế độ đã làm ăn đến ngập mặt. Trong bộ
máy quân sự cũng như dân sự, việc lên bậc nhờ thành tích xứng đáng
gần như không thể đạt được. Một số sĩ quan mòn mỏi vì hàng thập niên
vẫn còn là trung úy vì không quen biết hoặc không có tiền đút lót.
Các chức chỉ huy cao hơn được phân bổ không vì do các tướng lĩnh
đánh giá năng lực, mà vì phù hợp với phe phái chính trị. Việc người Mỹ
đến hàng loạt càng đẩy mạnh việc lắp ghép và gian lận. Chương trình
Nhập khẩu Thương mại – Viện trợ Kinh tế Mỹ – đạt đỉnh cao vào năm
1966 lên đến 400 triệu đô. Một số tiền được sử dụng đúng chỗ – chẳng
hạn, để mua sắm hàng ngàn máy may cho hoạt động sản xuất quần
áo. Tuy nhiên, đa phần chỉ đi quẹo vào túi tiền các doanh nhân, và trắng
trợn vào tay các tên ủng hộ chế độ, chuyên nhập khẩu các xa xỉ phẩm
mà chỗ đến cuối cùng là cửa hàng trên đường phố Sài Gòn. Dương Vân
Mai viết: ‘Tầng lớp nhà giàu mới bao gồm nhiều tên ăn cắp tài sản của
người Mỹ mà không thấy áy náy.’ Người già càu nhàu rằng trong khi
thứ bậc xã hội truyền thống cổ xưa thì nhất sĩ, nhì nông, rồi thứ ba là
công, cuối cùng ở bậc thang là thương, thì ngày nay gái bán ba dường

như thống trị trong một xã hội mà trong đó đầy tớ, phu xích lô, tài xế
taxi xếp trên người lao động lương thiện. ‘Đối với chúng tôi “văn hoá
Tây phương” có nghĩa là quán ba, nhà thổ, thị trường đen và các máy
móc rối rắm – hầu hết là có tính hủy diệt,’ gái nhà nông Phùng Thị Lệ
Lý nhớ lại.
Một báo cáo của USAID thời hậu chiến kết luận: ‘Chính tham nhũng …
là nhân tố quan trọng trong việc làm băng hoại tinh thần dân tộc cuối
cùng dẫn đến thảm bại.’ Một vị tướng Miền Nam viết một cách u ám về
việc Tổng thống Thiệu sắp xếp lại nội các và các tư lệnh của mình: ‘Các
thay đổi này không phát huy tài lãnh đạo hoặc thăng tiến chính nghĩa
quốc gia. Chúng chỉ được thực hiện theo cách thức mưu đồ quyền lực
cũ, không dựa trên tài năng, kinh nghiệm hoặc công lao mà chỉ dựa vào
lòng trung thành cá nhân hoặc quan hệ họ hàng.’ Tướng Viên than phiền
trường hợp điển hình của một người từng là một trung đoàn trưởng tốt,
nhưng sau khi được bổ nhiệm làm tỉnh trưởng Bình Định, lại bán chức
vụ công và đặc quyền lấy tiền mặt và cho phép vợ điều hành một sòng
bạc.
Tỷ lệ hối đoái ấn định cho đồng bạc Việt Nam cao một cách giả tạo, vì
thế giấy phép xuất khẩu bảo đảm lợi tức kếch xù. Giao dịch ngoại tệ ở
thị trường chợ đen làm giàu cho hàng ngàn người, nhiều trong số đó là
người Việt gốc Hoa, có thu nhập đô la hoặc chứng khoán tạm thời của
Quân Đội Mỹ. Mọi thứ từ xi măng, tủ đông đến xe cộ, vũ khí và đạn
dược đều mua được với một giá nào đó; mạng lưới làm đồ giả phát
đạt. Những tai họa như thế là phó phẩm của mọi xung đột, nhưng tai
họa kéo dài khiến chúng trở thành thể chế hóa. Theo thủ tướng Nguyễn
Cao Kỳ, tự xem mình là thập tự quân chống tham nhũng, sĩ quan cảnh
sát có nhiệm vụ chống tệ nạn ở Chợ Lớn phải mua chức với giá 130,000
đô, và sau hai năm là có lời. Trong khi đó cảnh sát trưởng Sài Gòn triển
khai cảnh sát bảo vệ casino lớn ở Chợ Lớn để đổi lấy một lát lợi tức của
nó. Theo cố vấn quân pháp Quân đội Hoa Kỳ, hoạt động chợ đen và vi
phạm tiền tệ ‘vượt xa khả năng giải quyết của cơ quan cưỡng chế pháp
luật’. Trường hợp ba lính TQLC đào ngũ là điển hình: trong khi trốn
tránh ở Đà Nẵng họ làm giả lệnh thuyên chuyển về Sài Gòn, tại đó họ
gia nhập một ổ gồm 47 quân nhân đào ngũ chuyên hoạt động chiếm đoạt
tiền qua bưu phiếu. Họ thuê các căn hộ ở Sài Gòn, chuyển tiền mặt về

nhà và hối lộ quân cảnh để họ được yên. Ổ tội phạm này cuối cùng bị
phá vỡ và những tên liên quan bị bắt giam. Khía cạnh gây bối rối nhất
của hình tội không phải là người Việt không thể kiềm chế nó, mà là mức
độ can tội đồng lõa của các phần tử trong chính quyền Mỹ. Một nhà thầu
dân sự Cornelius Hawkridge, quá phẫn nộ trước những gì ông chứng
kiến tại Sài Gòn đến nỗi ông theo dõi các hoạt động phi pháp và chính
thức báo cáo những việc ấy với các giới thẩm quyền Mỹ – nhưng họ vẫn
phớt lờ lời báo của ông.
Cuộc thập tự chinh nhỏ cô độc của Hawkridge trở thành chủ đề trong
quyển sách xuất bản 1971, Một Cuộc Chiến Rất Riêng Tư, ít gây chú ý
hơn là nó xứng đáng. Các nhà thầu, kể cả các tập đoàn lớn nhất của Mỹ,
dính líu rất sâu vào tội ác. Các điều tra viên báo cáo rằng chợ đen tiền tệ
bị khống chế bởi một nghiệp đoàn ở Madras: một tiểu ban Thượng viện
ước tính trị giá hàng năm của hoạt động buôn lậu tiền tệ đến một phần tư
tỷ đô la.
Thượng nghị sĩ Karl Mundt của Nam Dakota nhận xét đúng đắn rằng
việc giao dịch chỉ khả thi nếu có sự đồng lõa của ngân hàng Hoa Kỳ xử
lý lợi tức của người rửa tiền, nổi bật là có cả Irving Trust và
Manufacturers Hanover. Frank Furci, con trai của một găng tơ ỏ Florida,
phục vụ ngắn ngủi trong Quân đội Hoa Kỳ ở Việt Nam, rồi sau khi giải
ngũ trở lại với một người bạn điều hành những vụ làm ăn phi pháp với
đối tác là các hạ sĩ quan đang phục vụ, mà lợi tức được gửi đến Ngân
hàng Tín dụng Quốc tế Geneva. Một giao dịch tiền tệ phi pháp quan
trọng khác là chi nhánh Hồng Kông của Deak & Co., thành lập năm
1939 bởi người nhập cư Hung Nicholas Deak, vốn trải qua những năm
chiến tranh trong tổ chức OSS (tình báo Mỹ). Năm 1964 tạp chí Time
gọi ông là ‘James Bond của thế giới tiền tệ’. Bọn lừa đảo rót tiền qua
Deak biết rằng họ được bảo vệ không bị các cơ quan cưỡng chế pháp
luật dòm ngó, vì hãng được các tập đoàn Mỹ sử dụng như một đường
dẫn cho việc hối lộ các chính quyền nước ngoài. Năm 1976 Washington
Post phát hiện Deak cũng điều hành hoạt động giao dịch thị trường đen
đồ sộ cho trạm CIA tại Sài Gòn, làm tăng gấp đôi sức chi tiêu ngân sách
của họ.
Hành vi của giới cầm quyền Việt Nam dù đáng phàn nàn cỡ nào, họ
cũng không thể lấy cắp nhân dân họ nếu không có sự đồng lõa chủ động

hay thụ động của hàng ngàn người Mỹ , một số họ tương đối cao cấp.
Năm 1972 NCO cao cấp nhất của Quân đội Mỹ Thượng sĩ William
Woolridge, bị kết tội vì đồng lõa trong vụ gian lận khổng lồ liên quan
đến các câu lạc bộ quân đội và các PX, trong đó rất nhiều trung sĩ hậu
cần dính líu. Sĩ quan trẻ của CORDS Hal Meinheit được yêu cầu ký tên
vào các hoá đơn cho các vật liệu mua sắm, sau khi xem xét lướt qua, hóa
ra là giấy giả mạo. Anh phẫn nộ khi khám phá rằng tiền bạc đi vào túi
của một đồng nghiệp: ‘Tôi đã dự kiến nạn tham nhũng ở Việt Nam
nhưng không dự kiến một cố vấn Mỹ được trả lương cao lại bóp méo
pháp luật. ‘

2 Cai Trị

Thật sai lầm khi xem nạn tham nhũng là tại họa bất ngờ của chiến
tranh. Nó là một vị khuẩn bệnh dịch truyền nhiễm cho toàn bộ nỗ lực
của Hoa Kỳ. Một xã hội trong đó tệ nạn được xem là phát triển, còn
phẩm hạnh thì không được trọng vọng, coi như đã như bị thương tích
đau đớn ngay cả trước khi kẻ địch nổ súng. Ai có thể lấy làm ngạc nhiên
khi các tỉnh ủy Việt Cộng nhận được sự tôn trọng khi họ mặc quần áo
đen thường dân và mang dép râu làm bằng vỏ xe phế thải, trái ngược với
người đồng cấp Sài Gòn của họ, đi xe Mercedes còn bà vợ hột xoàn lấp
lánh bàn tay? Một số người Mỹ biện hộ cho họ, nhún vai trước nạn tham
nhũng, nhận xét rằng chính quyền Á châu nào cũng hành xử như vậy.
Đành là vậy, nhưng không phải nước nào cũng bị lực lượng nổi dậy
cộng sản siết chặt trong gọng kìm của tử thần.
Là thủ tướng 1965-66 của Miền Nam, Nguyễn Cao Kỳ nhận thấy rằng
‘Mọi thứ tôi chạm đến đều có tiềm năng đẻ ra tiền! Phân công tác gần
nhà cho một thiếu tá, hoặc đẩy đi thật xa cho đối thủ lãng mạn của ai đó.
Một giấy phép nhập khẩu hàng hoá, một giấy phép xây dựng hãng
xưởng hoặc lệnh đóng cửa một hãng xưởng, hoặc mở cửa một doanh
nghiệp. Một hợp đồng xây dựng. Một công việc béo bở cho người thân.
Giấy miễn quân dịch hoặc làm lính kiểng văn phòng, không ra đơn vị tác
chiến. Một bản án giảm nhẹ cho một tội phạm đã bị tuyên án.’ Kỳ hủy
hoại tiếng tăm mình trong mắt đội quân báo chí Sài Gòn, và của thính
giả toàn cầu, bằng cách hơn một lần đưa ra lời khen tặng dành cho nhà

cai trị Đệ Tam Đế chế Đức, như trong cuộc phỏng vấn 1966 với một
thông tín viên Đức, ông nói: ‘Tôi khâm phục Hitler vì ông lôi kéo được
đất nước đoàn kết sau lưng ông khi nó đang trong tình trạng khủng
hoảng vào đầu thập niên 1930. Tình hình chúng tôi ở Việt Nam tuyệt
vọng đến nỗi phải cần đến 4 hoặc 5 Hitler.’ Bộ chính trị Hà Nội cũng tôn
sùng và xem là gương mẫu Stalin và Mao Trạch Đông, những sát thủ
tập thể siêu đẳng khác của thế kỷ 20, nhưng trong thập niên 1960 không
người nào gây khiếp sợ cho dân cấp tiến Tây phương nhiều cho bằng

Hitler.

Vị thủ tướng càng chịu tai tiếng hơn nữa khi xử lý vụ một thương gia
người Việt gốc Hoa 35 tuổi tên Tạ Vinh. Bước đầu trong chiến dịch
chống tham nhũng của Kỳ là kết án Vinh tội biển thủ, tích trữ, đầu cơ và
đưa hối lộ. Một bản án tử hình làm gương được thi hành vào bình minh
ngày 14 tháng 3 năm 1966 tại Chợ Trung Tâm Sài Gòn trước một đội
hành quyết gồm 10 người lính dù, trước sự chứng kiến của đám đông
dân chúng kể cả người vợ kêu khóc và 7 trong số 8 đứa con. Các tay
súng làm hỏng việc khiến cho viên sĩ quan chỉ huy phải rút súng lục kết
thúc bằng phát súng ân huệ người thương gia phạm tội. Không ai nghi
ngờ tội lỗi của y, nhưng hình như bất công ghê gớm khi xử chết y vì các
tội phạm trong khi hàng ngàn người Việt giàu có khác không bị trừng trị.
Người cộng sản sát hại nhiều người còn dã man hơn, nhưng thận trọng
không mời TV của thế giới đến quay hình. Hành động can thiệp vụng về
nhẫn tâm của Kỳ khiến cho tư thế của ông ở nước ngoài, vốn không cao,
càng bị đánh giá thấp hơn nửa.
Vào tháng 2 Tổng thống Johnson gặp Kỳ và Thiệu tại Honolulu, tại đó
ông nghiêm khắc cảnh báo họ về nhu cầu phải xây dựng các biện pháp
vun đắp tình cảm của nhân dân. Chẳng hạn, ước tính có hai triệu dân
chúng Miền Nam đã bỏ nhà cửa tản cư. Johnson bảo rằng vấn đề tị nạn
cũng ‘nóng bỏng như khẩu súng trong xứ sở các ngài. Các ngài chắc
không muốn tôi giơ cờ trắng đầu hàng, vì thế chúng ta phải lo việc đó.
Ông nói thêm rằng nếu họ đọc báo New York Times và bản ghi phiên
điều trần của Ủy ban Đối ngoại Thượng viện gần đây nhất họ sẽ hiểu áp
lực đối với Nhà Trắng là phải đưa ra chứng cứ về tình hình tốt đẹp hơn ở
Sài Gòn. Max Taylor đã vừa bảo với uỷ ban, chủ trì là Fulbright, rằng kỳ
vọng sẽ đạt được đủ thắng lợi quân sự để buộc kẻ thù chấp nhận một

Việt Nam phi cộng sản độc lập. Dean Rusk nói: ‘Sự cứng rắn là thiết
yếu cho hoà bình.’ Tuy nhiên, George Kennan nhận được nhiều tràng
pháo tay hơn hai người kia khi ông bảo với uỷ ban rằng chúng ta ‘sẽ
tranh thủ được sự tôn trọng lớn hơn của công luận thế giới bằng sự thanh
toán quyết tâm và dũng cảm các vị trí bất hảo’.
It người Việt nào, và chắc chắn là không có Kỳ trong đó, nắm rõ cách
thức nhà nước Hoa Kỳ hoạt động. Thủ tướng hiếm khi đọc báo Mỹ và
sau này viết trong hồi ký: ‘Nếu người Mỹ, đến xứ sở tôi có đến cả triệu,
không bao giờ thiết đến việc tìm hiểu Việt Nam, thế thì dân tộc tôi …
cũng không thiết tìm hiểu nước Mỹ. .. Tôi đã không biết đánh giá đúng
sức mạnh của truyền thông Mỹ trong việc định hình công luận … Tôi
chỉ nghĩ Mỹ là Tổng thống Johnson và các đại sứ của ông, rằng khi
chúng tôi nói chuyện đến quốc hội, bộ trưởng trong nội các và các tướng
cao cấp, là chúng tôi đang nói chuyện với nước Mỹ. Chúng tôi sai một
trăm phần trăm.’ Ông ân hận đã không để tâm nhiều hơn đến việc tranh
thủ công luận Mỹ. Với cá tính của ông và bản chất của chế độ, thật khó
biết ông làm thế nào để đạt được mục đích này đây.
Tinh thần bài ngoại và ngây thơ của tướng lĩnh Sài Gòn giờ đẩy nhanh
một khủng hoảng mới. Thậm chí khi người Mỹ tiêu tốn lượng tài
nguyên chưa từng có tiền lệ để chiến thắng cuộc chiến, các thân chủ Việt
Nam bắt đầu một trận đua xe của riêng mình trên khắp xa lộ. Trải
nghiệm ngồi tại bàn hội thảo Honolulu đối diện với tổng thống Hoa Kỳ
thuyết phục với Kỳ rằng mình phải bắt đầu sử dụng quyền hành của
mình. Nước cờ đầu tiên của ông là cách chức Tư lệnh Quân đoàn I
Tướng Nguyễn Chánh Thi, người cai trị các tỉnh phía bắc như một lãnh
chúa, đóng đô ở Huế.
Cố đô nằm ven dòng sông Hương là thành phố Miền Nam quan trọng
cuối cùng còn giữ nét đẹp truyền thống: quang đãng và thanh bình, rất
hiếm bị Mỹ hóa. Phụ nữ Huế được coi là những đầu bếp điêu luyện nhất
xứ. Các sinh viên hay thơ thẩn đọc sách tại Cổng Ngọ Môn và bên bờ

các ao sen.

Các bích họa bí ẩn được vẽ nguệch ngoạc trên tường thành cổ: ‘Liberté,
qu’est-ce que c’est?’ ‘Amour?’ (Tiếng Pháp trong nguyên bản: Tự Do đó
là gì? ‘Tình yéu chăng?) Trong câu lạc bộ thuộc địa cổ với hồ bơi gần
như trống đến phân nửa, bụi phủ một lớp dày trên cây đàn dương cầm,

và trên các tờ báo cũ Le Monde và France Soir. Thành phố cũng huênh
hoang là nằm dưới sư khống chế của Phật giáo. Thi thuyết phục với các
nhà sư rằng lợi ích của mình và lợi ích của họ là một. Vào ngày 12 tháng
3 các cuộc biểu tình chống việc cách chức Thi bùng nổ, và chẳng bao
lâu lôi kéo sinh viên tham gia, lan đến Đà Nẵng và Sài Gòn, rồi leo
thang thành các cuộc đình công trong giới công nhân. Một truyền đơn do
Nhóm Phật tử Đấu tranh rải đi tuyên bố: ‘Chúng ta bị hai tầng áp bức –
cộng sản và Hoa Kỳ. Chúng ta phải giành lại quyền tự quyết dân tộc.’
Với tất cả kỳ vọng muốn cai trị của Kỳ, ông chỉ là người hiện hình duy
nhất trong một uỷ ban các chúa tể. Đối mặt với hỗn loạn ở phía bắc, ông
hoảng kinh. Đại sứ Lodge thất vọng viết cho London Johnson: ‘Hầu hết
những điều Kỳ nói xảy ra muộn một tuần. Cũng vậy, người ta luôn tự
hỏi liệu có khi nào một người Việt nói ra điều gì đó sáng suốt và trung
thực hay không, liệu y có thể làm gì về việc đó hay không.’ Tuy vậy vị
thủ tướng thuyết phục với người Mỹ là các Phật tử đang tiếp tay cho
cộng sản; rằng phía bắc sắp ly khai. Tham mưu trưởng Quân đoàn II
trước đây đã bảo với MACV rằng ‘quân đội đang bị lật đổ một cách có
hệ thống bởi các tuyên úy Phật giáo; họ đã rỉ tai với các đơn vị chuẩn bị
buông bỏ vũ khí vì chiến tranh chỉ đem lại lợi ích cho người Mỹ’. Lodge
cho Kỳ mượn máy bay để không vận hai tiểu đoàn TQLC Việt Nam đến
Đà Nẵng, một động thái càng làm nổi sóng phong trào chống Mỹ lên

cao.

Rồi Kỳ xoa dịu, hứa hẹn 3 đến 5 tháng nữa sẽ tổ chức bầu cử, sau đó
ông sẽ từ chức.
Những bảo đảm này xoa dịu Phật tử một lúc – khiến vị thủ tướng bạo
gan chở thêm 1,000 quân đến Đà Nẵng mà không báo cho Tổng thống
Thiệu hoặc người Mỹ, và rút lại lời cam kết là sẽ từ chức. Kỳ mời 13 vị
lãnh đạo Phật giáo đến dự một cuộc họp, tại đó ông bảo là họ sai lầm
nếu cho rằng ông sẽ tự cho phép mình bị lật đổ dễ dàng như Diệm.
‘Trước khi tôi để các ông giết tôi, tôi sẽ lấy làm khoái trá tự tay bắn từng
người các ông.’ Các cuộc biểu tình tiếp tục nổ ra, gần như hoàn toàn
chiếm hết sự chú ý của người Mỹ, xao nhãng các cuộc hành quân chống
cộng, còn kẻ địch giờ đang là khán giả thích thú của vở tuồng tranh chấp
dân sự.

Chính quyền Hoa Kỳ nghiễm nhiên thấy mình có quyền nhúng tay vào
việc bố trí nhân sự trong chính quyền Miền Nam. Vào ngày 14 tháng 5
Averell Harriman kể lại cuộc đối thoại với McNamara: ‘Tôi hỏi ông ta
tại sao chúng ta không bắt hội đồng quân nhân (Sài Gòn) dựng lên người
khác làm thủ tướng.’ McNamara trả lời hành động này tốt nhất là nên
hoãn lại cho đến khi Việt Nam bầu cử xong quốc hội vào tháng 9. Ngày
hôm đó Kỳ cho binh sĩ đổ bộ lên Đà Nẵng, và 14 người bất đồng chính
kiến bị bắn chết trong cuộc đấu súng trọn ngày. Rồi thủ tướng phái đến
Huế trùm cảnh sát nổi tiếng tàn độc Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan phục hồi
quyền kiểm soát chính quyền các tỉnh phía bắc, giết hàng trăm người
hậu thuẫn Thi, một số những người này bị lôi kéo ra từ chốn ẩn nấp
trong chùa chiền. Tám nhà sư và ni sư tiến hành việc tự thiêu nơi công
cộng, với một cải tiến mới: các bạn đồng tu đổ dầu bạc hà vào ngọn lửa,
để mùi thơm của dầu lấn át mùi khét nghẹt của thịt cháy.
Loan thẳng tay đàn áp những phần tử nổi loạn còn lại, bỏ tù vài trăm
người không chịu thỏa hiệp. Ông đè bẹp phe Phật tử, với một cái giá cao
cho thế đứng Miền Nam giờ như tơ mành. James Reston viết trên tờ
New York Times rằng xứ sở này đã trở thành ‘một mớ bòng bong những
cá nhân, vùng miền, tôn giáo, và phe phái đấu đá nhau, một nhóm đơn lẻ
các tướng lĩnh thống trị, đại diện cho các vùng miền khác nhau, một
quân đội không có một quốc gia chủ trì, một dân tộc đã bị xâu xé vì
chiến tranh và bị áp bức và bóc lột … hàng thế hệ.’ Thủ tướng Kỳ
phong cho Hoàng Xuân Lãm, tư lệnh sư đoàn bất tài của Sư đoàn 2 lên
làm Tư lệnh Quân đoàn I thế tướng Thi. Lãm giữ chức vụ chỉ huy Sư
đoàn 2 nhiều năm trời, mặc dù cứ thua hết trận này đến trận khác, nhờ
ông sở hữu phẩm chất duy nhất đáng kể – lòng trung thành với chế độ.
Từ Washington Tướng Earle Wheeler cảnh báo rằng tình trạng hỗn loạn
của Sài Gòn đang nuôi dưỡng cơn sốt phản chiến. ‘Ta không thể hy
vọng người Mỹ chịu đựng vô hạn tình hình tiếp tục suy sụp này. . . Tôi
nghĩ là đã có thể cảm thấy những làn gió mới chớm của cơn lốc xoáy.’
Chính quyền Mỹ đã ‘mất không thể cứu vẫn được một bộ phận công
dân của mình … Nhiều người không tin tưởng các nỗ lực và hi sinh còn
xứng đáng được bỏ ra.’ Các Tham mưu trưởng giờ đang yêu cầu cần nửa
triệu quân ở Việt Nam, còn Westmoreland muốn 700 ngàn người.

Việt Cộng tuyên bố tháng 6 1966 là ‘Tháng Căm Thù Mỹ’. Điều này
thúc giục các nhân viên sứ quán cao cấp ở Sài Gòn tổ chức một đêm
nhạc dân gian, trong đó họ mời cả Phạm Duy, một nhạc sĩ và ca sĩ nổi
tiếng đã từng theo Việt Minh, nhưng đã ly khai vì bất mãn trước sự áp
bức văn hoá của tổ chức. Người Mỹ, dẫn đầu là Henry Cabot Lodge và
Ed Lansdale, cùng hát bài ‘Whiffenpoof Song’ và ‘Wounded Soldier’,

tiếp theo là bài hit 1965 của Phạm Duy ‘Giọt Mưa Trên Lá’. Người nhạc
sĩ Việt, mặc quần áo đen nông dân, đọc bài thơ ‘Mẹ Việt Nam’, rồi hát
ba bài hát thời Việt Minh, ‘Du Kích Quân’, ‘Mùa Đông Chiến Sĩ’ và
‘Gánh Gạo Nuôi Quân’

Cuối cùng, ông nói mình xúc động biết bao khi nghe bài hát chủ đề của
phong trào Nhân Quyền (của Mỹ) ‘Chúng Ta Sẽ Vượt Qua’. Duy, mà
tác phẩm của ông vẫn bị cộng sản cấm trình diễn mãi đến năm 2000, rất
bực mình khi chẳng bao lâu khúc ballad Mỹ ông yêu thích bị phong trào
phản chiến cướp lấy.
Cuộc bầu cử quốc hội được tổ chức vào tháng 9, với hạn chế quan trọng
là các ứng cử duy nhất được phép đứng ra đều phải là những người được
Kỳ chấp nhận. Điều ngạc nhiên thật lớn lao sau đó là việc Nguyễn Văn
Thiệu sử dụng quyền hành ngày một tăng. Người ta nói rằng vợ Thiệu
đã thúc ép và xúi giục ông chồng lầm lỳ hãy tiến lên, giống như nhiều
phu nhân Việt Nam tham vọng, kinh khủng thúc ép chồng mình. Khi
cuộc bầu cử tổng thống được tổ chức vào năm sau, để thể chế hóa một
hiến Pháp mới gần như soạn thảo ở Washington, Kỳ đồng ý chỉ đứng
liên danh với vai trò phó tổng thống, vì tin vào một thỏa thuận riêng giữa
giới quân sự chóp bu, bảo đảm mình được phép duy trì quyền hành.
Thay vào đó, ông thấy mình bị gạt ra bên lề: đối thủ của ông cai trị Miền
Nam cho đến khi Miền Nam sụp đổ. Một thiểu số quan trọng có thể bỏ
phiếu chống phe quân sự bằng cách dồn phiếu cho các ứng cử viên của
riêng họ, một luật sư không có sức thu hút bị đưa vào tù.
.

Các chính trị gia Mỹ lên tiếng đòi hỏi càng khẩn thiết tại sao Hoa Kỳ lại
hậu thuẫn cho các chính quyền Sài Gòn chỉ gồm các tướng lĩnh chuyên
quyền, nhưng CIA trả lời rằng không có ai khác: ‘Họ có học, có kỷ
luật, và có tài năng nhất trong số tầng lớp ưu tú.’

Điều này không có gì ngạc nhiên, vì chiến tranh đã từng là hoạt động
chính của xã hội họ từ 1945. Vì vậy sự thống trị của Kỳ và Thiệu đúng
là không thể hướng Miền Nam thành một nước dân chủ. Một tướng lĩnh
Miền Nam rất lâu sau này viết về sự không xứng đôi giữa Hoa Kỳ và
thân chủ Miền Nam của mình: ‘Người Mỹ thì tích cực, nóng vội và duy
lý. Còn người Việt Nam thì ù lỳ, nhẫn nại và tình cảm.’ Dân chủ là một
điều gì đó còn mới mẻ, chưa quen, ông tướng này nói, và những thỏa
hiệp không mấy dễ dàng theo đó người dân được hưởng nhiều quyền tự
do, nhất là quyền tự do ngôn luận, khiến cho chế độ Sài Gòn thành một
thế giới tồi tệ nhất trong mọi thế giới. Nó đủ áp bức để bị quốc tế chỉ
trích, đồng thời quá phóng khoáng để có thể kiểm soát dân chúng một
cách hiệu quả.
Vào tháng 10 1966, Lyndon Johnson trở thành tổng thống tại chức đầu
tiên của Mỹ viếng thăm Việt Nam ngắn ngủi, tại đó ông cổ vũ binh sĩ ở
Vịnh Cam Ranh ‘hãy đóng đinh treo bộ da gấu trúc Mỹ lên tường’.
Robert Komer nói, ‘Chúng tôi bắt đầu “đánh thắng” cuộc chiến.’ Đường
cong xu hướng coi bộ tốt. Robert McNamara vẫn duy trì được thế đứng
công luận đầy lạc quan không hề thuyên giảm, mặc dù ở chốn riêng tư
giờ ông thú nhận bị ám ảnh bởi hoài nghi và lo sợ. Kết quả của những
biến động chính trị 1966-67 ở Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng và thành phố khác
là chế độ Thiệu-Kỳ đạt được tính ổn định kéo dài cho đến 1975, với cái
giá là họ bị người Việt với mọi sắc thái chính trị khinh miệt: tay sai của
ngoại bang. Tương đối ít dân quê thấy mình được phép đi bầu trong các
kỳ bầu cử địa phương 1967 công khai gian lận.
Nếu không có hoạt động chính trị nào khác có ý nghĩa hơn, thế thì không
có nhiều điểm đáng tự hào nào trong nhà nước này xứng đáng cho hàng
ngàn người phải chết để gìn giữ. Cái hạnh phúc mà không nhà lãnh đạo
Miền Nam nào có khả năng được nhân dân ban tặng là lòng tự trọng.
Cuối năm 1967 Thiệu chuyển vào dinh tổng thống ở Sài Gòn. Ông phát
cáu khi Kỳ cứ đáp trực thăng trên mái dinh ngay trên phòng ngủ của
ông, vào những giờ giấc khiếm nhax. Tuy nhiên, ông giao bà xả việc
phàn nàn và cố sống chung không mấy hòa thuận với chàng phi công.
Neil Sheehan nói: ‘Thiệu biết cách chơi trò. Mặc dù ông là kẻ lừa đảo
trắng trợn, nhưng ông không hề biến mình là mối đe dọa đối với Mỹ.
Người Mỹ sẽ tha thứ giới lãnh đạo tồi tệ của Miền Nam miễn là họ

không đe dọa các mục tiêu của mình.’ Khi Dương Vân Mai trở thành
một chuyên viên nghiên cứu cho RAND, phỏng vấn các tù binh Việt
Cộng, mặc dù là người chống cộng kiên định cô đâm ra suy ngẫm lý do
tại sao chế độ Sài Gòn không có khả năng vận động nhân dân như người
cộng sản, xây dựng được niềm tin vào một ‘chính nghĩa’. Cô viết: ‘Dần
dần tôi chợt ngộ ra rằng … chúng tôi đang thua cuộc vì lỗi của chính
chúng tôi, vì chúng tôi không thể xây dựng được một hệ thống, một ý
thức hệ, và một giới lãnh đạo có thể rèn đúc cho nhân dân thấm nhuần
các phẩm chất này, để cổ vũ họ, tập kết họ.’ Người Mỹ ra sức cung cấp
phương tiện quá hậu hĩ cho các cơ quan chính quyền, nhưng lại ban
tặng rất ít thứ nuôi dưỡng tâm hồn Miền Nam.

3 Các Quân Sư
Khi trận chiến gia tăng cường độ, các giải pháp đề xuất để giành thắng
lợi cũng gia tăng, hầu hết đều là không tưởng. Trong số các lựa chọn
chiến tranh tâm lý được xem xét là Chiến dịch Shotgun Tháng 5 1966.
Việc này cần đến một loạt các đòn nhử xâm nhập lên bờ vào các bãi biển
Miền Bắc, để thuyết phục với Hà Nội rằng một cuộc xâm lược lược của
Mỹ đang đến gần.
Earle Wheeler phân vân: nếu người ta tin mình bị đe dọa, ông nói, công
luận thế giới sẽ khiếp đảm, tạo ra ‘chất liệu tuyên truyền tuyệt hảo‘ cho
kẻ thù. Ngược lại, nếu mọi người được báo là triển vọng xâm lược sẽ
không bao giờ hiện thực, Hoa Kỳ sẽ trông rất đáng thương. Sự tưởng
tượng bay bổng của tướng Westmoreland bao gồm một chương trình đô
thị hóa cưỡng chế, dồn hết nông dân vào khu định cư trong thành phố và
do đó tách họ ra khỏi Việt Cộng, một quan điểm cũng được Bob
Komer tán đồng. Trong khi đó bộ trưởng quốc phòng chủ trương một đề
xuất của nhà khoa học Harvard Giáo sư Roger Fisher, được hỗ trợ tiếp
theo bởi phân khu JASON của Viện Phân tích Quốc phòng, cho một dự
án hàng rào điện tử và thuốc nổ để ngăn chặn DMZ (Vùng Phi Quân Sự)
và Đường Mòn Hồ Chí Minh khỏi Miền Nam. ‘Hàng rào McNamara’
cần phải bỏ từ trên máy bay xuống 240 triệu mìn Sỏi, 300 triệu bom nút
do công ty Piccatinny Arsenal sản xuất, và 120,000 bom chùm Sadeye,
19,200 cảm biến âm thanh, cùng với việc triển khai hơn 100 máy bay
với chi phí hàng năm 800 triệu đô. Các yếu tố của kế hoạch được thực
hiện – một số lớn các máy cảm biến đã được thả xuống quanh Đường

Mòn, và bị bỏ bom khi chuyển động được phát hiện. Tuy nhiên, sách
lược rộng lớn hơn ‘Barrier’ (Chướng ngại vật) bị bãi bỏ, đối mặt với sự
nhạo báng thậm chí tại MACV. Dự án rút cục được xem như là một thể
hiện ngoạn mục của sự rồ dại lan tràn trong giới hoạch định chính sách
chiến tranh.
Nhiều học thuyết xa xỉ liên quan đến việc không kích được sử dụng ở
Việt Nam, Lào và sau này Cao Miên với cường độ chưa từng có tiền lệ
trong lịch sử chiến tranh. Đại tá An của Quân đội Nhân dân buồn rầu
viết: ‘Nếu lá cây thình lình khô héo, nếu nước trong dòng suối đục lên,
nếu một con đường xuất hiện tại nơi mà hôm qua chụp ảnh không thấy ,
thì thế nào kẻ địch cũng sẽ dội bom và pháo kích tại địa điểm đó.’
Những người tham gia và theo dõi nhạy cảm không giấu được nỗi kinh
sợ – đúng ra là ghê tởm – trước tác động của việc pháo kích bừa bãi lên
dân thường. Vào ngày 1 tháng 7 1966, chẳng hạn, các quả bom của
Không lực Hoa Kỳ rơi trúng một ngôi làng được cho là bạn, giết chết 7
người và làm bị thương 51 người. Vào ngày 9 tháng 8 các chiến đấu cơ
F-100 gieo tang tóc xuống một cộng đồng nơi vùng châu thổ, giết chết
63 dân thường và làm bị thương 83 người. Đây chỉ là các ví dụ sờ sờ
của tai họa xảy ra như cơm bữa. Cố vấn Mike Sutton buồn bã nói:
‘Chúng ta giết thật nhiều người không có dính líu gì đến cuộc chiến. Ở
Mỹ Tho, David Elliott đồng tính: ‘Sự nhẫn tâm của Việt Cộng mang tính
cá nhân, còn sự hủy diệt của người Mỹ là thuộc chính sách.’
Thông tín viên Neil Sheehan hỏi Westmoreland liệu ông có bức xúc
trước thương vong mà hỏa lực bạn gây ra cho dân chúng. Vị tướng trả
lời: ‘Vâng, Neil, đó là một vấn đề, nhưng nó cũng không cho kẻ địch
giành được dân chúng, có phải không?’
Các chỉ huy không lực tranh thủ sự hậu thuẫn của một guru (quân sư)
lập luận rằng thứ nhất dội bom có phát huy tác dụng, và thứ hai – ồ,
nghe quá xoa dịu đúng với phong cách ru ngủ của họ – các nạn nhân
thường không đổ lỗi cho người Mỹ. Nhà nghiên cứu của tập đoàn
RAND Leon Goure đóng một vai trò có ảnh hưởng và nói thẳng là tàn
độc trong việc phát triển sách lược ném bom. Trở lại tháng 8 1964, sau
một chuyến điền dã kéo dài một tháng đến Việt Nam, ông bảo với
Không lực Hoa Kỳ rằng nghiên cứu đáng trân trọng trọng của các đồng
nghiệp RAND của ông về động lực và tinh thần chiến đấu của Việt

Cộng là mang tính chủ bại. Ông hứa với không lực một quan điểm phấn
khởi hơn về tất cả những điều tốt đẹp mà bom có thể đóng góp cho nỗ
lực chiến tranh.
Gouré ra đời tại Moscow vào năm 1922, con của một nhà cách mạng
Men-sơ-vic sớm buộc phải đào thoát sang Berlin. Ông chuyển đến Paris
khi tuổi lên mười, rồi đến năm 1940, là người Do Thái, ông may mắn
thoát được đến Mỹ trong đường tơ kẽ tóc. Sau khi phục vụ trong quân
ngũ ông trở thành một viện sĩ, một Chiến binh Lạnh với mối ghê tởm
không hề nguôi đối với người cộng sản, rồi làm nhà phân tích cho
RAND. Không như hầu hết các đồng nghiệp ông sung sướng chuyển đến
Sài Gòn, được không lực tài trợ 100,000 đô. Ông có nhiệm vụ tiến hành
một nghiên cứu mới, mở rộng về Động lực và Tinh thần Chiến đấu của
Việt Cộng. . Ông bắt tay vào việc từ tháng 12 1964. Những gì tiếp theo
trở thành một ca đáng nghiên cứu về tiến trình bóp méo các nghiên cứu
học thuật để phục vụ cho cứu cánh bè phái, và đóng góp vào hành động
sát hại nhiều ngàn người dân Việt.
Gouré phân loại các vũ khí tịch thu được trong chốn ẩn nấp của địch –
súng máy Tiệp Khắc, pháo của Nga, dàn phóng tên lửa của
Romania, súng phóng lửa Đông Đức – và đưa ra câu hỏi, Có thể nào
Việt Cộng lại không thuộc một âm mưu công kích toàn cầu của cộng sản
được? Một khi đã yên vị tại một biệt thự của RAND ở 175 Đường
Pasteur Sài Gòn, ông chịu khó tay bắt mặt mừng với mọi vị khách quan
trọng đến thành phố, và bóp nghẹt mọi bất đồng của các đồng
nghiệp. Thông điệp của ông, vì nó mà ông bỏ ra hơn hai năm sau đó lôi
kéo không mệt mỏi, là rằng mọi hạn chế sử dụng không lực nên được dỡ
bỏ. Lưu ý rằng kẻ thù sợ máy bay nhiều hơn bất kì hệ thống vũ khí nào
khác của Hoa Kỳ, ông thúc giục vì vậy thật hợp lý để tối đa hóa việc sử
dụng chúng. Bom có thể bắt các làng mạc không hợp tác khuất phục,
cưỡng chế dân cư rời bỏ nhũng vùng do cộng sản kiểm soát đến nơi định
cư mới ‘tại đó họ có thể được sàng lọc và quản lý hiệu quả hơn ‘. Logic
của Gouré chắc chắn là vô nhân đạo, đến mức điên cuồng, và các đồng
nghiệp trẻ của ông nghi ngờ và ghê tởm. Nhưng các lãnh đạo của
RAND quyết định tập đoàn phải đạt được thế đứng thăng hoa từ chỗ
quen biết và đường đi nước bước vào tận Washington, của nhân viên
này của họ

Trong một chuyến trở lại Sài Gòn tại Tân Sơn Nhất Gouré gặp được
Susan Morrell, mà chồng David của bà đã từng liên hệ mật thiết với
cuộc nghiên cứu tinh thần Việt Cộng ngay từ ngày đầu của RAND. Bà
hỏi nhà “hiền triết” ông ta mong đợi đạt được điều gì. ‘Tôi có câu trả lời
ngay đây rồi, ‘ông vừa nói vừa vỗ vào xách tay. ‘Khi Không lực chịu chi
tiền, câu trả lời luôn là dội bom.’ Tính hợm hĩnh và tham vọng của ông
chỉ có thể sánh được với sự thiếu quan tâm đáng hổ thẹn đối với Việt
Nam. Vào tháng 3 1965 ông soạn một báo cáo tạm thời đầu tiên, lên
giọng tuyên bố sức mạnh Mỹ đang tạo nên điều thần kỳ, và tung thêm
sức mạnh sẽ đạt thêm nhiều thần kỳ. Ông kết luận rằng trong khi một
vài tháng trước 65 phần trăm các đào binh Việt Cộng đã tin rằng cộng
sản đang thắng thế, sau một năm hứng chịu sức mạnh hỏa lực của pháo
và bom Hoa Kỳ, tỷ số lạc quan của địch đã giảm chỉ còn 20 phần trăm.
Ông không nhận thấy có các tác dụng tiêu cực đối với công luận, và cho
rằng chất lượng địch đang giảm sút, số đào binh tăng lên. Ông thúc giục
tăng cường hủy diệt mùa màng, để làm địch chết đói. Các thông tín viên
như Neil Sheehan bác bỏ lập luận của Gouré cho ông là một tên kép hát
của Chiến tranh Lạnh, ve vãn các diều hâu bằng các giọng điệu họ thích
nghe. Những kẻ ngưỡng mộ nhân vật RAND dù sao cũng có những
người đưa ra quyết định: Ngũ Giác Đài và Nhà Trắng đón nhận ông với
cánh tay mở rộng. Walt Rostow cho là ông thật khủng khiếp.
McNamara, sau một trình bày ngắn ngủi nhưng trôi chảy xuất sắc, hỏi
kích cỡ ngân sách của dự án ông. Khi được đáp là 100,000 đô la, vị bộ
trưởng quốc phòng hỏi, ‘Thế với 1 triệu đô ông làm được gì?’ Điều gì đó
to tát hơn, nhân vật RAND trả lời. ”Vậy là ông nhận được rồi đó,’

McNamara nói.

Sau đó Gouré nhảy từ bục nói này đến bục nói khác, tận hưởng tiếng
tăm của mình. Khi một đồng nghiệp lên tiếng chống đối phương pháp
luận và các kết luận của ông, Gouré kéo ông ta sang một bên, nói, ‘Ồ, tôi
đã bàn với Bob McNamara hôm qua … và tôi đã nói với ông ta các
cuộc dội bom bằng B-52 thực sự hiệu quả … và nếu chúng ta có thể
thực hiện với độ chính xác hơn thì chúng ta không phải bỏ bom quá
nhiều làng mạc, chúng ta có thể hủy diệt hậu cần của họ và không cho
dân chúng yểm trợ họ.’ Suốt năm 1966, Gouré vẫn duy trì một tiếng nói
có nhiều ảnh hưởng. Đội của ông cuối cùng soạn ra khoảng 35,000 trang

chép lại và biên dịch các cuộc phỏng vấn với tù binh và đào binh, mặc
dù mãi về sau này thậm chí Westmoreland đâm ra nghi vấn về tính lạc
quan của các kết luận rút ra từ đống tài liệu. Một cuộc duyệt xét các tìm
tòi của Gouré do Konrad Kellen, một người di dân Do Thái khác làm
việc cho RAND, tiến hành, kết luận rằng chúng bị sai sót từ nền tảng,
bắt nguồn từ một thế giới quan Chiến Tranh Lạnh và cố tình đọc sai các
dữ kiện.
Leon Gouré không thể chịu trách nhiệm cho việc sử dụng không lực ồ ạt
phung phí của Hoa Kỳ, nhưng ông ta sử dụng tính cách đáng tôn quý của
trí thức làm lá sung che đậy các chính sách mà bộ máy hành pháp của
Johnson và nhiều tướng lĩnh dù sao cũng tán thành. Ông ta cung cấp
một sự xác minh sống động về sự lo lắng của Michael Howard cho tình
trạng RAND tách rời ‘tính cọ xát, bất ngờ, tính bất khả tiên liệu, tất cả
những thứ thực sự quan trọng’ trong việc tìm hiểu chiến tranh. Một sử
gia Không lực có thẩm quyền đã viết rằng Tư lệnh Không lực 7, Trung
tướng William Momyer, rốt cục trở nên hãi hùng trước khối lượng bom
khổng lồ mà các B-52 thả xuống rừng rậm Miền Nam mà không có
nhiều chứng cứ cho thấy có hiệu quả vật chất đối với kẻ địch, tuy về
mặt tâm lý thì gây phiền toái. Khi Harry Rowen trở thành chủ tịch
RAND vào năm 1967 ông thuyên chuyển Gouré, xác nhận công trình
của ông gây ‘tổn hại cho đất nước ‘, cũng như cho tập đoàn. Nhà truyền
giáo về sức mạnh không lực này sau đó sống lưu vong ở Đà Nẵng để
nghiên cứu sự xâm nhập của địch quân, rồi cuối cùng bị đuổi việc.
Thật đáng chú ý khi đối chiếu mức nhiệt tình mà phần đông giới quân sự
đón nhận các khám phá của Gouré với sự đáp ứng tẻ nhạt mà các nhà
nghiên cứu Viện Santa Monica cảm nhận khi họ trình bày dữ liệu gây
ngờ vực vào chiến lược và chiến thuật. Chẳng hạn, một báo cáo lập luận
rằng sự hủy diệt mùa màng bằng chất hoá học làm hại ít cho địch, trong
khi gây vô vàn sầu khổ cho nông dân, bị bác bỏ thẳng tay. Khi tác giả
của nó đến thăm MACV hy vọng được dịp trình bày cho các sĩ quan cao
cấp, ông liền bị gửi về mà không được nhắc đến. Bruce Griggs, cố vấn
khoa học của vị tướng, khinh miệt nói, ‘Đây là thứ rác rưởi,‘ và ở
Washington các Tham mưu trưởng Liên quân nhất trí.
Ngày 31 tháng 12 1966 đã có 385,000 người Mỹ ở Việt Nam, và Robert
McNamara thông báo sẽ có thêm nhiều người đang tới. Tướng hồi hưu

John Waters cho đăng một bài viết trên tờ US News and World Report
nói lên quan điểm và nỗi bức xúc của nhiều đồng nghiệp đang phục
vụ. Bài viết có tựa đề ‘LÀM THẾ NÀO HOA KỲ CÓ THỂ ĐÁNH
THẮNG’, và thúc giục dấn sâu mạnh mẽ vào Lào và Cao Miên. ‘Nên
phát biểu đơn giản, rõ ràng và với một thái độ nghiêm túc rằng chúng ta
sẽ không tha thứ cho bất kì cuộc can thiệp nào của Trung Quốc, Lào và
Cao Miên … Hoa Kỳ phải chọn lựa con đường đúng đắn cứng rắn hơn
thay vì sự thỏa hiệp dễ dãi hơn. Chúng ta phải … đặt tương lai ngay
ngắn trên con đường … Đến phút cuối nó sẽ tiết kiệm được xương
máu, tiền của và vật liệu. Nó sẽ hoàn thành sứ mạng của Hoa Kỳ với
danh dự, với quyết tâm, và tranh thủ được sự quý trọng và kính trọng
của thế giới tự do. ‘
Có thể là như thế. Nhưng mặc dù chiến phí trong năm 1966 đã dự thảo
ngân sách là 2 tỷ đô, hoá đơn cuối cùng lên đến 15 tỷ, và sẽ dâng cao
trong năm tới đến 17 tỷ – khoảng 3 phần trăm GNP Hoa Kỳ. Trong
Thông điệp Liên bang của Tổng thống Johnson đọc vào tháng giêng
1967, ông thông báo 6 phần trăm thu nhập và thuế tập đoàn gia tăng
được dành để tài trợ cho Việt Nam. Bản thân ông vẫn còn e ngại không
ngừng về việc ‘các chí nguyện quân’ Trung Quốc, mà một triệu đã chiến
đấu ở Triều Tiên, sẽ sớm xuất hiện bên cạnh Quân đội Nhân dân. Ông bị
sốc khi Thượng Nghị sĩ Robert F. Kennedy hùng hồn tuyên bố mình
không còn tin cuộc chiến này có thể thắng được. Sau đó Johnson đâm ra
nghi ngờ một cách bệnh hoạn là Kennedy, một bạn thân của McNamara,
đã mua chuộc bộ trưởng quốc phòng của mình.
Sau 28 tháng ở Việt Nam, Tướng Westmoreland bảo với một phóng viên
tạp chí Life: ‘Chúng tôi sẽ đánh du kích hay hơn bọn du kích và phục
kích giỏi hơn bọn phục kích. Và chúng tôi đang học tốt hơn kẻ địch vì
chúng ta thông minh hơn, chúng ta cơ động hơn và có hỏa lực mạnh
hơn, chúng ta bền bỉ hơn và biết chiến đấu vì điều gì. … Và chúng ta
gan dạ hơn.’ Hoa Kỳ, ông nói, giờ đang tiến hành một cuộc chiến tiêu
hao, trong đó hơn 6,000 lính Mỹ đã hy sinh trong năm 1966. Ông không
ngừng tin tưởng rằng đã đến lúc đưa ra mọi bước đi cần thiết để cắt đứt
Đường Mòn Hồ Chí Minh.
Ở Hà Nội, tuy nhiên, thủ tướng Phạm Văn Đồng lịch sự hỏi Harrison
Salisbury của tờ the New York Times: ‘Người Mỹ các ông định đánh

đến bao lâu nữa, thưa ông Salisbury? … Một năm? Hai năm? Ba năm?
Năm năm? Mười năm? Hai.mươi năm? Chúng tôi sẽ hân hạnh chìu theo
ý ông?’

.Gặp Gỡ Phạm Văn Đồng-Salisbury

CHƯƠNG 14: Sấm Rền

1. Thời Đồ Đá, Thời Tên Lửa
Trùm không lực Curtis LeMay không bao giờ sống mà quên được một
câu viết trong hồi ký 1965 của ông: ‘Cách giải quyết của tôi … sẽ là nói
thẳng (với người Miền Bắc) rằng họ hãy rút lại sừng và ngừng gây hấn,
nếu không chúng tôi sẽ ném bom đưa họ trở về Thời Đồ Đá.’ Sâu trong
rừng rậm Miền Nam một độc giả của LeMay, Doug Ramsey, khao khát
được gặp vị tướng để anh có thể chỉ ra rằng ‘Thật khó để ném bom nơi
nào đó trở về thời đồ đá khi mà trước hết nó chưa hề rời bỏ nơi
đó.’ Lyndon Johnson tung máy bay Mỹ đánh Miền Bắc trong một cố
gắng tuyệt vọng phá vỡ vòng luẩn quẩn trong đó Washington dường như
mãi mãi buộc phải nhảy theo nhịp điệu của kẻ thù. McGeorge Bundy
viết cho ông vào ngày 30 tháng 6 1965: ‘Chúng ta có sức mạnh để đưa
ra lời cảnh báo dữ dội hơn tới Hà Nội. Nếu Tướng Eisenhower đúng khi
cho rằng chính viễn cảnh một trận tấn công hạt nhân đã đưa đến sự đình

chiến ở Triều Tiên, chúng ta ít nhất nên xem xét mối đe dọa hiện thực
nào chúng ta có thể sử dụng được.’ Fred Weyand, một trong các sĩ quan
tài tình nhất của Mỹ, và sau này là xếp của MACV, hậu thuẫn chiến
dịch đánh bom Miền Bắc có tên ‘Sấm Rền II ‘ của Lyndon Johnson:
‘Nếu chúng ta muốn bẻ cong ý chí của họ theo ý chúng ta, thì đây là
điều duy nhất chúng ta có thể làm.’
Trong thế kỷ vừa qua sức mạnh không lực đã tác động một sức mê hoặc
đầy uy lực và thường có tính ảo tưởng đối với các chính quyền muốn tìm
đến thứ sức mạnh đòn bẩy. Nó có vẻ ít rắc rối, gớm ghiếc, đắt giá về
phương diện chính trị trong việc gửi các phi cơ công kích từ các tầng
trời trinh nguyên, hơn là đem quân lội bì bõm qua các đầm lầy ngập mặn
theo nghĩa bóng hoặc nghĩa đen. Hầu hết phi hành đoàn đều mặc nhiên
xem như được xá tội về mặt đạo đức một cách giả tạo khi mình không
nhìn thấy tận mắt những người vô tội mình đã giết.
Những kẻ hoài nghi đã nghiên cứu chút ít về lịch sử biết được hạn chế
của việc đánh bom. Lúc nào nó cũng gây đau đớn cho người ngoài cuộc.
Nó có thể hiệu quả, đúng ra có tính quyết định, đối với các binh sĩ và
quân xa đang di chuyển, và đối với các cơ sở không gia cố. Tuy
nhiên, nó thường không mấy hiệu quả đối với binh sĩ có đào hầm trú ẩn
và các mục tiêu kỹ nghệ và giao thông phức tạp.
Giữa 1950 và 1953 Không lực Hoa Kỳ tiêu tốn biết bao công sức nhằm
cắt đứt các con đường tiếp tế giữa Trung Quốc và Bắc Triều Tiên, nhưng
Chiến dịch Siết Cổ chỉ thành công có hạn chế. Vào năm 1965 các ông
trùm dội bom nói: ‘Sức mạnh không lực đã tiến bộ; công nghệ cho phép
chúng ta ném bom trúng ngay một đồng xu.’ Lyndon Johnson mời Hải
quân và Không lực Hoa Kỳ giáng những đòn trừng phạt đích đáng lên
Miền Bắc. Chiến dịch Sấm Rền được tính toán để tháo xiềng cho sức
mạnh Mỹ theo một phương thức hạn chế và do đó nhân đạo hơn, không
chủ trương cưỡng chế sự thay đổi chế độ nào.
Điều này không làm vừa ý một số các viên chức không quân, nổi bật
trong đó có LeMay, người luôn đề xuất một sự phá hủy toàn diện, và
nhất là đóng cửa cảng Hải Phòng. Trong mắt họ, đánh bom nương tay là
điều họ ghét cay ghét đắng; thậm chí nó không có tính cách Mỹ: họ tin
rằng phe Đồng minh đã làm đúng trong những năm 1944-45 khi đánh
bom Đức và Nhật. Vậy mà mặc dù Không lực Hoa Kỳ và các chỉ huy

hải quân đùng đùng nổi giận chống lại các hạn chế có tính chính trị trong
những năm 1965-68 về đánh bom, không ai nêu rõ là các hạn chế này đã
khiến các lực lượng của họ không có khả năng phát hủy hiệu quả. Họ cứ
nghĩ xã hội của địch, một thứ làm bằng tre nứa và bông gòn, quá mong
manh đến nỗi chỉ cần một liều lượng vừa phải chất nổ bỏ xuống từ phi
cơ sẽ tàn phá cả ý chí lẫn các phương tiện của họ. Chỉ mãi về sau này,
khi tính kiên cường cộng sản đã trở nên rõ ràng, thì các tư lệnh mới ồn
ào đổ lỗi gây ra thất bại cho các ông xếp chính trị của họ. Họ vẫn khư
khư mù quáng với sự kiện rằng trong một cuộc chiến có lựa chọn, Hoa
Kỳ có thể duy trì sự đồng thuận của đồng bào và đồng minh, không cần
biết đến kẻ thù Nga và Trung Quốc, chỉ nếu tồn tại một tỷ lệ nào đó giữa
sức mạnh được sử dụng, thương vong dân thường gây ra, và mục tiêu
đang bị đe dọa.
Vào tháng 2 năm 1964 Nhà Trắng ra lệnh đánh bom như một biểu hiệu
cho quyết tâm của Mỹ, hơn là để hoàn thành các mục tiêu quân sự xác
định. William Bundy sau này nói: ‘Thực sự chính sách đang tự hình
thành và, trong thực tế, đang tự công khai thông qua các hành động của
chúng ta. Và đây chính là điều Tổng thống muốn.’ Vào ngày 8 tháng 3
Maxwell Taylor điện cho Johnson từ Sài Gòn, yêu cầu một quả đấm
mạnh hơn: ‘Tôi sợ phải nói rằng Sấm Rền đối với mắt người Miền Bắc
chỉ là một vài tiếng sấm nổ lẻ loi.’ Một phi công viết một cách chua
chát: ‘Dường như thể chúng ta đang ra sức xem chúng ta có thể bỏ bao
nhiêu bom, mà không làm xáo trộn đời sống của đất nước.’ John
McCone của CIA cảnh báo rằng sự thận trọng của Mỹ được Hà Nội lý
giải là do họ yếu đuối. Sau đó ngày càng nhiều thuốc nổ được đổ xuống,
hàng loạt mục tiêu ngày càng mở rộng, đến độ khoảng năm 1968,
643,000 tấn đã đánh xuống Miền Bắc.
Nhưng trong cùng thời kỳ đó 2.2 triệu tấn bom rơi xuống Miền Nam:
các lãnh đạo Mỹ lo lắng giết nhầm dân thường ở Miền Bắc thù địch
nhiều hơn ở xứ láng giềng được coi là đồng minh của mình. ‘Chất thạch
địa ngục’ – tức bom lửa napan – được sử dụng bừa bãi trên lãnh thổ Sài
Gòn, không hề được phép sử dụng trên lãnh thổ Hà Nội.
Các tranh luận về tính hợp pháp của việc đánh phá các cơ sở và hoạt
động đặc biệt trở nên bí ẩn và gây phẫn nộ. Vào tháng 5 năm 1965 một
trung uý không quân bày tỏ sự hoang mang: ‘Một đoàn xe hộ tống quân

sự là gì? Một đoàn xe cơ giới có bao nhiêu xe và kéo dài bao nhiêu đoạn
đường mới gọi là đoàn xe hộ tống quân sự? Một quân xa đi một mình có
phải là một mục tiêu được phép hay không? … Cách một lộ trình đặc
biệt bao nhiêu xa thì chúng ta mới được phép đi theo một con đường phụ
mà xe tải đi được?
Các mục tiêu ban đầu của Sấm Rền được quyết định trong các buổi ăn
trưa thứ ba của Lyndon Johnson với McNamara và Rusk. Trong lúc họ
dùng bữa, vị bộ trưởng quốc phòng đưa ra một thực đơn khó tiêu, đã
được vị ngoại trưởng đồng ý.
Tổng thống tán thành một số mục tiêu, bác bỏ một số khác, chủ yếu chịu
ảnh hưởng do tính nhạy cảm về phương diện chính trị và ở quá gần Hà
Nội, nơi mà trong những năm 1965-66 ông không muốn gặp sự khó
chịu. Ông chỉ thị một vùng độn 30 dặm giáp với biên giới Trung Quốc
và chung quanh các thành phố, trong đó các mục tiêu an toàn không bị
tấn công trừ khi có sự cho phép tường minh. Trung tướng Bruce Palmer
xác nhận rằng ‘trong phần đông nhiệm kỳ tổng thống của mình, Johnson
luôn là sĩ quan xác định mục tiêu’. Sự thân thiện trong các buổi thảo
luận Nhà Trắng cho phép ba ông trùm nói chuyện thẳng thắn với nhau –
chỉ đến cuối năm 1967 thì các đại diện quân sự mới được tham dự –
nhưng vì các quyết định không được ghi chép lại, sau này có điều tiếng
lùm xùm về điều đã được nhất trí. Trong thời gian đầu, cầu cống chiếm
đến 4 phần năm các mục tiêu được ra lệnh đánh bom, vậy mà cầu lớn
Paul Doumer của Hà Nội vẫn được chừa ra đến hai năm sau mới bị
đánh. Cơ hội tốt nhất để hoàn thành được một cú dội bom trên một nhịp
cầu hẹp là bỏ một đợt bom theo một hướng thẳng góc với nó, nhưng
chiến thuật ấy được xem gây quá nhiều tai họa cho dân thường, và do đó
bom bỏ xuống thẳng hàng, tạo ra một tỷ lệ đánh trật mục tiêu rất cao.
Các phi công bay với tốc độ khoảng 900 km/giờ được yêu cầu phải phân
biệt được xe tải dân sự với quân xa từ một cao độ 3,000 bộ (khoảng
1,000 mét). Nhà máy sản xuất xe đạp Hà Nội, một thành tố quan trọng
của hệ thống giao thông Miền Bắc, được loại khỏi danh sách mục tiêu ra
cho đến cuối chiến tranh. Để xoa dịu những người quá nhạy cảm, trong
năm 1967-68 Bộ Ngoại giao đôi khi chỉ định các trọng tải bom cụ thể.
Một nhân viên rầu rĩ nhận xét khi anh nhìn thấy Rusk, xếp của mình,
chạy ù tới buổi họp Nhà Trắng: ‘Nếu bạn bảo với ông ta là mình biết

một cách hiệu nghiệm để đánh bại Việt cộng và rút quân khỏi Việt
Nam, ông ta sẽ rên rỉ là hiện giờ mình quá bận bịu; phải lo xem tuần tới
đánh bom tại mục tiêu nào.’
Chiến đấu cơ ném bom được sử dụng thường hơn các Pháo đài bay B-
52, vốn chỉ bay 141 sứ mạng Sấm Rền, ngay phía bắc vùng DMZ (vùng
phí quân sự). Vậy mà, như hầu hết các máy bay của hải quân, 600 chiếc
Phantom F-4 của Không Lực Hoa Kỳ và lực lượng tương tự của máy
bay Thunderchief F-105 (hai loại chiến đấu cơ mà Miền Bắc dịch là
Thần Sấm và Con Ma) thiếu khả năng hoạt động mọi thời tiết. Trong
những tháng gió mùa cuối xuân khi tầng mây thấp trên bầu trời Miền
Bắc ít khi tan, gần phân nửa mục tiêu được chỉ định cho phi hành đoàn
không thể tiếp cận được. Hơn nữa, sự phòng thủ quá năng nổ gây nên
tổn thất ngày càng cao cho Mỹ. Trong năm 1965 người Mỹ mất 171 phi
cơ trên Miền Bắc, năm sau 280 chiếc, và năm 1967, 326. Phe cộng sản
triển khai vô số dàn phòng không, và các kiểu chiến đấu cơ MIG nối tiếp
mới: người Nga cung cấp các hệ thống đánh chặn ra đa, điều khiển từ
mặt đất. Trong vòng một ít tháng sau khi Khrushchev bị hạ bệ, vào
tháng 11 1964 người kế vị Leonid Brezhnev bắt đầu gửi các tên lửa
SAM-2 cho Miền Bắc; hai năm sau, có đến 200 bệ phóng được dàn
dựng.
Đại tá Jack Broughton, chỉ huy phó Bộ phận Chiến đấu cơ Chiến thuật
355, đặt tên cho lãnh địa địch là ‘vùng địa ngục với Hà Nội là tâm
điểm.’ Cuối cùng, trong khi mức độ nhắm chính xác mục tiêu là khá tốt
theo tiêu chuẩn thời đó, ‘các bom sắt’, khác với các bom được dẫn
đường chính xác chỉ ra đời sau này, là những công cụ vụng về.
Giữa tháng 3 1965 và tháng 7 năm sau, Washington mở rộng Quy tắc
Giao chiến cho phép các phi cơ Mỹ tập kích các vùng ngày càng rộng
lớn hơn, dù các trung tâm thành phố vẫn không được đụng tới. Các dàn
SAM đang xây dựng chừa ra: một chỉ huy phi đội F-4 bay qua nhiều lần
một dàn phóng đang xây dựng, đến khi cuối cùng nó đã đi vào hoạt
động, và bắn rơi ông. Chỉ khi chiếc Phantom đầu tiên bị bắn hạ vào
ngày 24 tháng 7 1965 tổng thống mới miễn cưỡng cho phép giáng trả
vào một ít vị trí dàn phóng: ba ngày sau 54 chiếc F-105 đánh bom hai
cụm dàn phóng. Học thuyết chiến thuật thời trước chiến tranh quy định
rằng tên lửa, chứ không phải pháo hoặc chiến đấu cơ, mới là biểu thị

mối đe dọa chủ chốt. Do đó các phi cơ bay tiến đánh ở cao độ 500 bộ,
bên dưới vùng tác xạ của tên lửa – lại gặp trận mưa của hỏa lực phòng
không. Các mục tiêu cho thấy là những mồi nhử được phòng vệ dày
đặc: lực lượng phòng thủ mặt đất đã chuẩn bị sẵn trận phục kích, và bắn
hạ 4 ‘Thud’ – tiếng lóng các phi công gọi chiếc Thunderchief, có nghĩa
Rơi Cái Thịch: dải đồi đó được các phi hành đoàn biết dưới tên ‘Sườn
đồi Rơi Cái Thịch’, bởi vì nó chứng kiến quá nhiều phi cơ bị bắn hạ.
Thêm hai chiếc F-105 va chạm nhau trên đường về nhà, khiến cho cuộc
đột kích này thành đắt giá nhất trong cuộc chiến đến nay. Sau đó không
lực sử dụng các chiến thuật tinh tế hơn, phái đi phi cơ ‘Chồn Rừng’
trang bị tên lửa tìm diệt ra đa Shride của hải quân, đầu đạn có mang phốt
pho (lân tinh) để các đợt tấn công sau đó có thể nhắm vào khói mà đánh

bom.

Vậy mà giữa một phần ba và phân nữa dàn hoả tiễn của địch không hề
hấn gì, vì chúng ở sát trung tâm khu dân cư. Người Miền Bắc dựng các
dàn SAM ngay trong sân bóng đá của Hà Nội, biết rằng địch không dám
bắn. Không phải hiếm trường hợp đạn dược họ bắn ra và mảnh pháo
phòng không rơi vào khu dân cư, tất nhiên thiệt hại và thương vong họ
đổ hết cho người Mỹ. Các tàu đậu trong cảng Hải Phòng, một số của
Nga và Trung Quốc, bắn vào các phi cơ Mỹ bay qua mà không bị trừng
phạt.
Mặc dù hải đăng Hải Phòng là một.mục tiêu bị cấm, các phi công đôi khi
cũng bắn vào nó cho hả cơn giận. Trong suốt chiến dịch, một sự tranh
cãi quyết liệt và gây chia rẽ về sự lựa chọn mục tiêu luôn giằng co giữa
các Tham mưu trưởng Liên quân, Tư lệnh trưởng Thái Bình
Dương, Hải quân và Không lực 7. Mark Clodfelter, nhà sử học uy tín
của việc đánh bom, đã viết: ‘Sự vắng mặt của một tư lệnh không lực đơn
lẻ đã sinh ra hỗn loạn’. Chỉ huy Không lực 7, William Momyer, đặt căn
cứ ở Sài Gòn, soạn thảo một danh sách gồm khoảng 4,000 khả năng,
trong khi danh sách cạnh tranh của Cục Tình báo Quốc phòng có đến
5,000 mục. Tư lệnh Trưởng Thái Bình Dương kiểm soát các B-52 từ

Honolulu.

Momyer hồ hởi muốn phá hủy hệ thống đê sông Hồng, gây thiệt hại mùa
màng cho vùng đồng bằng, nhưng Nhà Trắng bỏ ngoài tai các cuộc
không kích có thể dẫn đến nạn đói.

Giai đoạn đầu tiên của chiến dịch không kích Mỹ phải trả đắt nhất: vào
tháng 3 1965 hải quân mất 15 đến 30 máy bay mỗi 1,000 lượt xuất kích,
trong khi vào mùa thu và qua suốt năm 1966 số này giảm xuống còn 7,
sau đó còn 4. 58 phần trăm tổn thất tác chiến của hải quân là do hỏa lực
dưới đất, so với 73 phần trăm của Không lực Hoa Kỳ, và 64 phần trăm
của TQLC ‘: tổng cộng, hỏa lực phòng không chiếm 1,600 trong số
2,300 phi cơ bị bắn rơi. Các lý thuyết gia thời trước chiến tranh đã đúng
khi cho rằng pháo không thể theo dõi đường đi của máy bay tấn công
tầm thấp, nhưng họ đánh giá thấp hiệu lực của việc lấp kín những ‘vùng
cấm địa’ trên bầu trời bằng hỏa lực đến độ bão hoà.

Nỗ lực của không quân Mỹ gia tăng trong nửa phần sau của năm 1965,
lên từ 2,879 lượt xuất kích trong tháng 8 đến 3,553 lượt trong tháng 9.
Vào cuối năm các Tham mưu trưởng Liên quân rất thực tế nhìn nhận
rằng năng lực lâm chiến của địch bị tổn hại rất ít ỏi. Họ giờ đây tập trung
vào dầu khí như một mục tiêu chủ chốt, mặc dù Cục Tình báo Quốc
phòng nhận định rằng Miền Bắc có thể duy trì hoạt động thiết yếu mà
chỉ dùng 32 ngàn tấn mét khối mỗi năm, trong khi lượng dự trữ là
179,000 tấn. Các người hậu thuẫn đánh bom kho xăng cũng đã lưu ý
rằng các tàu hỏa Hanoi chỉ chạy bằng than và củi.
Việc cho quyền đánh phá kho xăng dầu đạt được nhờ cố vấn an ninh
quốc gia mới Walt Rostow, người mà vào tháng 4 1966 thay thế một
McGeorge Bundy đã kiệt sức và xuống tinh thần. Đối với các đồng
nghiệp Rostow ca tụng sự kiên cường của Johnson và so sánh ông với
Lincoln, nếu LBJ chỉ cần duy trì đà tiến công quân sự, tình hình sẽ sáng
tỏ trong một ít tháng tới.’ Vào ngày 29 tháng 6, phi cơ hải quân đánh
bom Hải phòng POL (kho phức hợp xăng dầu và nhớt). Một phi công
trinh sát sau trận đánh nói: ‘Có vẻ như chúng ta đã quét sạch toàn bộ kho
cung cấp dầu của thế giới.’ Tuy nhiên, vào ngày đó, kẻ địch đã phân tán
dầu dự trữ của họ trong các thùng và hầm ngầm dưới đất. Vào mùa hè
Washington cho phép các B-52 đánh bom các mục tiêu quân sự bên
trong khu Phi Quân Sự, và khoảng 10 dặm về phía bắc trong lãnh thổ
cộng sản. Mỗi phi cơ có thể chở gấp 10 lần số bom của một chiến đấu
cơ: Pháo đài bay biến vùng đất thành một khung cảnh đầy hố như trên
mặt trăng. Tuy nhiên, việc chuyển quân tiếp viện của địch dường như

không hề giảm sút, vì họ vẫn còn đi xuống Đường Mòn Hồ Chí Minh ở
Lào. Thời tiết hạn chế hoạt động đánh phá vào cuối năm 1966, thành ra
các mục tiêu chung quanh đồng bằng sông Hồng chỉ có thể đánh bằng
các B-52, với viễn cảnh làm tăng thương vong dân thường, một lựa chọn
bị Nhà Trắng bác bỏ. Giữa 2 và 5 tháng 12, tuy nhiên, các máy bay tiêm
kích-ném bom tấn công đường tàu hỏa, trạm quân xa và kho xăng dầu
sát Hà Nội.
Vào cuối năm Cục Tình báo Quốc phòng tính toán rằng tổng số 4,600
quân xa Miền Bắc đã bị hủy diệt, cùng với 4,700 xuồng tiếp tế bị đánh
chìm và 8,700 bị hư hại, 800 toa tàu và 16 đầu máy tàu hỏa bị hư
hỏng. Không lực 7 chụp quá nhiều ảnh mục tiêu đến nỗi không đủ
người giải thích xem xét hết, và tìm ra ý nghĩa của các phát hiện. Vào
tháng 4 1967, khi tấn công vào lưới điện của Miền Bắc, Tình báo tính
toán có bao nhiêu nhà máy điện bị phá hủy, nhưng không đưa ra được
ước tính đáng tin cậy còn bao nhiêu hoạt động – điều mới thực sự quan
trọng.
Hầu hết mọi quân nhân có quyền đưa ra quyết định đều tán thành đánh
bom và đặt mìn Hải Phòng, qua cảng này hầu hết hàng nhập khẩu quân
sự chảy vào. Tuy nhiên, tổng thống nao núng, sợ phải đối đầu với
Moscow vì các tàu chở hàng Xô viết đậu ngoài khơi cảng. Hệ thống liên
lạc của chính quyền Hà Nội không hề hấn gì, vì bộ phận vận hành chủ
chốt được đặt sát sứ quán Nga. Vào tháng 12 1966 tổng thống trình lên
người Ba Lan qua uỷ ban ICC một đề xuất vô lý về việc hạn chế đánh
bom trong vòng 10 dặm cách Hà Nội, nếu phe cộng sản cũng thôi không
tấn công cách Sài Gòn dưới 10 dặm. Lời đề xuất này không được đáp
lại, Hoa Kỳ áp đặt sự ngăn cấm đơn phương 10 dặm vào các mục tiêu
quanh thủ đô của Hồ.
Mỉa mai thay, Sấm Rền gây ra tác hại nhiều không sao so sánh được cho
chính quyền Lyndon Johnson hơn cho chính quyền Lê Duẩn. Công luận
quốc tế và một phần quốc nội chỉ cần nghe nói đánh bom là giật nảy
mình, và không ấn tượng trước sự tiết chế của nó. Ngược lại, Johnson
đối mặt với sự chỉ trích dữ dội từ phe diều hâu quốc hội muốn đánh
mạnh hơn – ngay đúng yết hầu của đối thủ. Khi ông ra sức lấy lại tiếng
tăm nhân đạo cho mình bằng cách ngưng dội bom trong mùa lễ giữa 24
tháng 12 1965 đến 31 tháng 1 1966, việc này Hà Nội đáp lại bằng sự

câm lặng như đá theo thường lệ; sự khinh thị của giới không quân; sự
lạnh nhạt của toàn thế giới. Sự leo thang không kích từng bước tạo cho
người cộng sản một đường cong kiến thức thoai thoải, khiến họ có thể
cải thiện từ từ khả năng phòng thủ, phát triển phản biện pháp giữa các
cuộc tấn công rỉ rả thay vì một trận gió mùa mà Không lực Hoa Kỳ và
Hải quân Mỹ muốn dốc toàn bộ.
Khoảng năm 1967 Miền Bắc triển khai 25 tiểu đoàn tên lửa SAM, mỗi
tiểu đoàn 6 dàn phóng SAM, chung quanh là 1,000 pháo phòng
không, cùng với 125 chiến đấu cơ MiG. Trong khi không có công
nghiệp chế tạo quy mô lớn ở lãnh thổ của Hồ Chí Minh, cuộc chiến tạo
ra một hoạt động bản địa tinh vi về kỹ thuật hơn bất kỳ người Việt Nam
nào từng biết đến trước đây: hoạt động phòng không. Các tổn thất của
Mỹ tăng cao khi có nhiều mục tiêu phải tấn công hơn quanh Hải Phòng
và Hà Nội – ‘Đi xuống khu buôn bán thành phố’, là phi công Mỹ biết là
xuống đánh thủ đô. Cho đến cuối năm 1966, các hành quân trên không
qua khắp Đông Nam Á tiêu tốn của Mỹ trung bình ít hơn một phi cơ mỗi
một ngàn lượt xuất kích.
Tuy nhiên, trên bầu trời Miền Bắc, tổn thất không lực xấp xỉ gấp 25 lần
tỷ số đó. Phi cơ bắt đầu đánh bom ở độ cao lớn hơn, thường thả bom ở
khoảng cách 7 ngàn thay vì 4 ngàn bộ. Điều này làm giảm tổn thất do
pháo cao xạ, nhưng bù lại ném thiếu chính xác. Phi cơ tấn công bắt đầu
sử dụng bom chùm chống người, một số chất đầy các bom nhỏ nổ chậm,
buộc các xạ thủ và lính tên lửa phải núp vào hầm trú ẩn.
Mặc dù các chiếc Mig của cộng sản bắn rơi tương đối ít các phi cơ Mỹ,
họ thỉnh thoảng buộc kẻ tấn công phải vứt bớt bom và thậm chí cả ECM
pods (hệ thống đối kháng điện tử), để có thể bay tránh chúng truy đuổi.
Tại một cuộc hội thảo ở Philippin về vấn đề MiG, Tướng Momyer bàn
bạc với Đại tá Robin Olds, người chỉ huy ồn ào và dềnh dàng của bộ
phận F-4. Hai người, giống như các phi công ách chủ bài của Thế Chiến
II, nghĩ ra một kế hoạch khôn khéo, Chiến dịch Bolo, được thi hành vào
ngày 2 tháng giêng 1967. Các phi công cộng sản tránh phi cơ F-4
Phantom, chỉ quấy rối các F-105 Thunderchief mang đầy bom. Thành ra
một số F-4 ngụy trang thành F-105 bằng cách thêm vỏ ra đa, và hướng
về phía mục tiêu đánh bom là căn cứ MiG ở Phúc Yên. Đầu giờ chiều,
bên trên tầng mây dày, Đại tá Olds dẫn đầu hơn 40 phi cơ. Các MiG

phản ứng chậm, nhưng khi họ cất cánh các Phantom F-4 bắn ra các tên
lửa Sparrow và Sidewinder hạ ít nhất 5 phi cơ địch trong 15 phút, mà
không tổn thất gì về phía mình: một mình Olds hạ được chiếc đầu tiên
trong bốn chiếc.’ Một vài ngày sau, một quỷ kế tương tự được sử dụng:
hai F-4 bay vào không phận địch sát vào nhau đến nỗi ra đa mặt đất
nhận điện chỉ có độc một chiếc: khi các MiG-21 lên nghênh chiến các
Phantom, hai chiếc bị bắn rơi.
Vào tháng 3 gần như 300 lượt xuất kích nhắm vào xưởng thép Thái
Nguyên, cuối cùng im bặt. Từ trên cao trong nền trời mùa xuân lúc này
cũng u ám không lực tiến hành đánh bom đêm bằng ra đa, với kết quả
xoàng xĩnh: bom đánh cách điểm nhắm trung bình là 1,000 ya, không cải
thiện chút nào so với độ chính xác trong Thế Chiến II. Trong khi đó hải
quân tiến hành gần 100 lượt xuất kích vào các nhà máy điện Hải Phòng,
buộc việc sản xuất điện phải đình lại từ cuối tháng 5.

Không lực Hoa Kỳ thực hiện đến 200 lượt xuất kích mỗi ngày khi thời
tiết cho phép: hai đợt buổi sáng, hai đợt buổi chiều. Mặc dù kẻ
địch không thất thế trước bất kì trò nguy hiểm nào tiếp theo giống như
trò của Đại tá Olds, vào tháng 5 1967 người Mỹ tuyên bố đã phá hủy 23
MiG, trong khi chỉ mất vỏn vẹn 3 chiếc – phân nửa lực lượng phi công
chiến đấu cơ Miền Bắc đã bị quét sạch. Vào ngày 19 hải quân bắt đầu sử
dụng bom điều khiển bằng TV Walleye chống các nhà máy năng lượng
Hà Nội, sau khi đã thuyết phục với tổng thống rằng những bom này
chính xác đến mức chỉ gây thiệt hại tối thiểu cho dân thường. Điều này
cho thấy là không sai, nhưng Miền Bắc có đủ máy phát điện để duy trì
việc cung cấp điện.
Vào tháng 7; 8,000 lượt xuất kích nhắm vào vùng cán xoong của Miền
Bắc, phía nam vĩ tuyến 20, khiến việc lưu thông tàu hỏa bị đình trệ. Xa
hơn về phía bắc, tuy nhiên, người cộng sản mở rộng những tuyến đường
huyết mạch giữa Trung Quốc và Hà Nội. Trong vòng vây các người thân
thiết với tổng thống, vào đầu năm 1967 Walt Rostow và cùng với bạn
thân Johnson Clark Clifford và Abe Fortas, tất cả vẫn quyết tâm chiến
đấu. Vào tháng 5 Averell Harriman bảo với đại sứ Nga rằng Rostow là
diều hâu nguy hiểm nhất của Nhà Trắng.


Click to View FlipBook Version