The words you are searching are inside this book. To get more targeted content, please make full-text search by clicking here.

VIỆT NAM THIÊN SỬ BI HÙNG 1945-1975
Max Hastings
Trần Quang Nghĩa dịch

Discover the best professional documents and content resources in AnyFlip Document Base.
Search
Published by fireant26, 2022-11-04 00:35:46

VIỆT NAM THIÊN SỬ BI HÙNG 1945-1975 Max Hastings Trần Quang Nghĩa dịch

VIỆT NAM THIÊN SỬ BI HÙNG 1945-1975
Max Hastings
Trần Quang Nghĩa dịch

Hai nhân tố tác động ở đây: trong mùa hè người Miền Bắc nhận ra rằng
Nixon chắc chắn là sẽ tái đắc cử. Không những họ không thể hy vọng
thỏa thuận với một chính quyền Mỹ khác có cảm tình hơn, mà một khi
cuộc bầu cử đã xong, Nhà Trắng có thể ra tay cứng rắn hơn. Hơn
nữa, Hà Nội tính toán một cách thực tiễn là thoát khỏi người Mỹ là mục
tiêu duy nhất quan trọng: một khi ‘bọn đế quốc’ ra khỏi Đông Dương,
việc phá tan chế độ Sài Gòn sẽ cho thấy không mấy khó khăn và không
kéo dài quá lâu. Nhận thức này được chính quyền Miền Nam chia sẻ.
Những trao đổi tại Nhà Trắng giữa Nixon và Kissinger về Việt Nam
được biên niên với các chi tiết không thể tranh cãi chưa từng có tiền lệ
trong lịch sử, bởi vì chúng được thu băng nhựa. Hai người ôm ấp một ít
ảo tưởng về những điều họ đang làm, mặc dù nhất quyết tin chắc nhân
dân Mỹ tin tưởng chúng. Kissinger xem việc Hà Nội thay đổi ý kiến về
Thiệu là một thắng lợi ngoại giao, bởi vì nó mở đường cho một ‘khoảng
cách hợp lý’. Ông bảo Nixon vào ngày 3 tháng 8: ‘Nếu một hoặc hai
năm từ bây giờ Miền Bắc nuốt trọn Miền Nam, chính sách đối ngoại của
chúng ta coi như chấp nhận được, nếu việc đó trông như là hậu quả của
một Miền Nam bất tài. Nếu chúng ta bây giờ bán tháo theo kiểu, chẳng
hạn, trong vòng ba đến bốn tháng, chúng ta đã đẩy Tổng thống Thiệu ra
bờ vực’, ông cho rằng thậm chí người Trung Quốc sẽ nản chí vì tính
vụng về và yếm thế của người Mỹ. Mọi việc trong các đàm phán về sau
đều tập trung đến việc canh thời gian cho kết quả để khiến mọi thứ trong
có vẻ đúng đắn.
Tại Paris vào ngày 26-27 tháng 9, Lê Đức Thọ và Kissinger thấy mình
đã gần đi đến nhất trí về một công thức trên giấy cho một ‘hội đồng bầu
cử ba bên’ hay ‘Hội đồng Hòa Giải Dân tộc’ cho Miền Nam – khoảng
cách tiếp xúc theo yêu cầu của Miền Bắc cho một chính quyền liên hiệp
ba bên. Kissinger giải thích điều này với Nixon vào ngày 29 tháng 9:
‘Ngài thấy đấy, thưa Tổng thống, đây toàn là chuyện vớ vẩn, bởi vì kết
quả thực tế việc đề xuất của chúng ta, cũng như đề xuất của họ, là việc
ngừng bắn. Sẽ không bao giờ có bầu cử.’ Nixon hỏi, ‘Thế rồi chuyện gì
xảy ra? Họ … họ sẽ tái tục cuộc chiến sau này, đúng không? Nhưng lúc
đó chúng ta đi rồi.’ Kissinger nói, ‘Đúng vậy.’
Trong những ngày sau đó, Nixon thể hiện các cơn phẫn nộ đối với Miền
Bắc – có lẽ, ẩn kín bên trong là những quặn thắt vì mặc cảm có tội về kế

hoạch bỏ rơi Miền Nam mà sứ giả của ông mưu tính. Ông nói về một
chiến dịch oanh tạc mới khốc liệt: ‘Tôi đã quyết định tôi sẽ không ngồi
yên đây và chủ trì một thảm bại với hơn 55,000 người Mỹ đã thiệt
mạng.’ Nhưng vào sáng ngày 6 tháng 10, Kissinger đối đầu với ông chủ
mình bằng một chọn lựa trần trụi: chính ông sẽ bay đến Paris, nơi Lê
Đức Thọ sẽ đưa ra một thực đơn gồm các đề xuất đi đầu là việc ngừng
bắn tại chỗ, với các điều khoản rỗng tuếch khác đã thảo luận trước
đây. Liệu tổng thống có uỷ quyền cho đặc sứ mình bằng lòng chấp
thuận các điều kiện này không? Trong cuộc đối thoại cam go, kéo dài
sau đó, Nixon dao động. Ông sợ tổng thống Miền Nam, không đến một
tháng là tới ngày bầu cử Mỹ, sẽ công khai vạch trần cuộc thương lượng
như là một hành động bán đứng. Kissinger thừa nhận với Nixon: ‘Thiệu
nói đúng, điều khoản của chúng ta cuối cùng sẽ hủy diệt ông ta.’ Hai ông
bàn luận về khả năng sắp xếp một cú đảo chính tại Sài Gòn, để thay đổi
chính quyền Miền Nam. Cuối cùng bác bỏ lựa chọn này, họ đồng ý
rằng Thiệu phải là người chủ trì sự thoái trào gần như là chắc chắn của
một đất nước đang đi vào quên lãng.
Kissinger xoa dịu nỗi lo lắng của tổng thống bằng cách nói rằng mình sẽ
bắt người cộng sản hứa rút quân khỏi Lào và Cao Miên, bỏ không sử
dụng Đường Mòn Hồ Chí Minh. Nixon nói, ‘Tôi sẽ nhận được lời cam
kết. Tôi sẽ không lo âu về chuyện đó. Nhưng họ sẽ không bao giờ rút
quân.’ Kissinger đồng ý: ‘Đúng, nhưng tôi bắt họ viết ra.’ Ông đưa ra
lời vỗ về từ biệt ông chủ mình bằng cách nhắc lại de Gaulle, người đem
Pháp ra khỏi Algeria vào năm 1962, và là người mà ‘mọi người cho là
nhân vật vĩ đại ‘. Ông nói rằng Hà Nội đã bày tỏ mong muốn ngoại
trưởng hai bên ký vào thỏa thuận sắp tới, nói thêm, ‘Tôi không muốn ký
thứ chết tiệt đó. Ngài nên ký là hơn.’ Nixon ngần ngừ: ‘Tôi không nghĩ
chúng ta sẽ làm nó thêm trang trọng bằng chữ ký của tôi.’ Rồi tổng
thống Hoa Kỳ uỷ quyền cho Kissinger chấp nhận các đề xuất của Lê
Đức Thọ.
Lúc 4 giờ chiều ngày 8 tháng 10 1972 trong một biệt thự tại Gif-sur-
Yvette ngoại ô Paris, Lê Đức Thọ mở một bìa hồ sơ màu xanh lá cây và
trình bày các điều kiện của Miền Bắc. Bản dự thảo của ông phù hợp với
những kỳ vọng, và qua được ngưỡng cửa thấp lè tè của Kissinger: phóng
thích tù binh Mỹ và ngừng bắn tại chỗ đối với các lực lượng Miền Bắc

và Nam đổi lấy sự rút quân toàn bộ lực lượng Mỹ. Hà Nội nhấn mạnh
nguyên tắc thay thế cặp đôi vũ khí – nếu người Mỹ tiếp tục trang bị cho
QĐVNCH, Miền Bắc sẽ làm tương tự đối với lực lượng của họ tại Miền
Nam, trong khi bày tỏ ‘sự tôn trọng nghiêm chỉnh’ chủ quyền của Lào
và Cao Miên. Hiệp định đề xuất Hoa Kỳ phải bồi thường cho các thiệt
hại chiến tranh tại Miền Bắc mà họ đã gây ra. Kissinger ra khỏi phiên
họp hớn hở, và nổi dóa khi John Negroponte của Bộ Ngoại giao dự
đoán Saigon sẽ nổi cơn thịnh nộ. Kissinger quát vào mặt ông: ‘Anh
không hiểu. Tôi muốn thỏa mãn các điều khoản của họ … tôi muốn kết
thúc cuộc chiến này trước bầu cử.’ Ngày 12 tháng 10 ông trở lại
Washington báo tin với vẻ phấn chấn: người cộng sản đã sẵn sàng chịu
ký, và vẫn còn một tháng trước ngày bầu cử. Ông bảo Nixon; ‘Thỏa
thuận mà chúng ta đã đạt được, thưa Tổng thống, tốt hơn nhiều bất cứ
thứ gì chúng ta mơ ước, nó sẽ tuyệt đối, hoàn toàn, loại bỏ McGovern.’
Thật là vận may cho Nixon khi đối thủ của ông thuộc Đảng Dân chủ,
Thượng nghị sĩ George McGovern của South Dakota, là một trong các
ứng cử viên kém ấn tượng nhất trong thời hiện đại. Nếu ứng viên Cộng
Hoà bị buộc phải chiến đấu với Thượng nghị sĩ Edward Kennedy, vốn
tai tiếng đã bị lu mờ bởi vụ tai tiếng Chappaquiddick (Vụ Kennedy lái
ôtô chở bạn gái đâm xuống cầu Chappaquiddick khiến cô gái thiệt mạng
nhưng ông vẫn thoát ra được và sống sót), ông ắt hẳn cũng sẽ thắng,
nhưng chính sách Việt Nam của ông hẳn phải đối mặt với sự soi mói
cặn kẽ hơn nhiều. Kennedy lên án Việt Nam hóa là một trò đố chữ, đi
trước sự vén màn của một thỏa thuận với người cộng sản ngay trước
cuộc bầu cử. Ông nói đúng: cuộc thảo luận riêng tư trong nội bộ hành
pháp chỉ tập trung vào thời hạn tạm ngừng chấp nhận được về mặt chính
trị trước khi cộng sản chiếm lấy Sài Gòn. Kissinger cho rằng 18 tháng là
đủ: ông đã bảo Nixon vào tháng 8, ‘Nếu chúng ta giải quyết xong, cho là
tháng 10 này, thì tháng giêng 1974 chẳng ai thèm đếm xỉa (đến số phận
của Sài Gòn).’
Giờ, bàn về hiệp ước với Nixon, Kissinger gọi đề nghị bồi thường là
‘bảo đảm tốt nhất của chúng ta để họ tuân thủ thỏa hiệp’. Toàn bộ ngân
sách viện trợ nước ngoài của Mỹ không đến 2 tỉ đô la, nhưng tổng thống
nói một cách buông thả: ‘Cho họ 10 tỉ.’ Tại buổi ăn trưa với Haldeman
và Haig, Nixon ra lệnh phục vụ suốt một lượt rượu vang Château Lafite

Rothschild 1957. Đây là sự hào phóng: thường thường ông chỉ giới hạn
rượu vang ngon nhất của Nhà Trắng cho ly rượu của mình, trong khi các
phụ tá chỉ được rót rượu vang đỏ California. Ông chịu khó soạn một tờ
chỉ dẫn cho Kissinger rằng thời gian bầu cử sẽ không ảnh hưởng những
gì được nói hoặc làm sau đó đối với Miền Bắc hay Miền Nam: tờ ghi
chép này có thể có ích đối với sử gia, nếu nó không cho thấy có gì khác
với mỗi ý tưởng bừng tỉnh bên trong Nhà Trắng.
Trở lại Paris, vào ngày 17 tháng 10 xảy ra việc nói nước đôi của người
Miền Bắc về vấn đề tù binh: vượt quá khuôn khổ trao đổi tù binh chiến
tranh, Lê Đức Thọ nhắm đến việc phóng thích 30,000 người dân sự bị
Sài Gòn bắt giữ bị tình nghi là cán bộ cộng sản. Kissinger cảnh báo rằng
một đề nghị như thế chắc chắn sẽ khiến Thiệu phá vỡ thỏa thuận, người
mà giờ đây nhiệm vụ nặng nề của vị cố vấn an ninh quốc gia là thuyết
phục hậu thuẫn một thỏa hiệp mà người Miền Nam không dự
phần, nhưng sẽ quyết định số phận của xứ sở bị bao vây của ông. Nixon
bảo với Kissinger, ‘Về cơ bản, anh phải đối xử tàn tệ với y.’ Đặc sứ của
tổng thống đáp xuống Sài Gòn được đón tiếp lạnh nhạt: trung tâm tình
báo của Thiệu đã cảnh báo với ông về thỏa thuận Paris hiện ra lờ mờ rất
lâu trước khi người Mỹ thấy thích hợp để báo tin. Đại uý Phan Tấn
Ngưu, một sĩ quan ngành Cảnh sát Đặc biệt, nộp một báo cáo chính
thức, dựa trên thông tin từ một đặc vụ hai mang cộng sản có uy tín được
biết dưới tên ‘Nguồn tin Tây Ninh’, cho rằng các cán bộ đều nhất trí một
hiệp ước đang đến gần, và Thiệu chắc chắn sẽ chịu số phận nghiệt ngã
cho chế độ mình. Nhưng Kissinger bảo đảm với Tổng thống rằng binh sĩ
cộng sản sẽ dần dần rút khỏi xứ sở ông: ‘Giới quân sự chúng tôi phán
đoán rằng lực lượng Miền Bắc hiện giờ không được tiếp viện cuối cùng
cũng phải rút lui.’ Sẽ có một thác lũ vũ khí Mỹ mới, để hỗ trợ việc
phòng thủ Miền Nam trước khi thi hành hiệp ước. Trong suốt một năm
Kissinger đã bảo đảm với người cộng sản là, nếu nhận được một khoảng
cách hợp lý, Hoa Kỳ sẽ không can thiệp vào Miền Nam lần nữa sau khi
hiệp ước được ký kết và lực lượng còn lại của Mỹ rút đi. Nhưng để bảo
đảm sự hậu thuẫn của Thiệu ông lại đưa ra một hứa hẹn hoàn toàn tương
phản, là sẽ có một hành động quân sự tức thì nếu Hà Nội vi phạm điều
khoản: ”Không thể nào tưởng tượng được rằng Tổng thống Nixon sẽ
đứng yên nếu Miền Bắc tấn công một lần nữa.’

Creighton Abrams, mới tuyên thệ nhậm chức tham mưu trường lục
quân, tiếp tay với cố vấn an ninh quốc gia thuyết phục Thiệu rằng người
Mỹ là người biết giữ chữ tín. Kissinger bảo với Thiệu: ‘Ngài phải tin
tôi,’ và được vị tổng thống trả lời ông không thấy có lý do để phải tin
như thế. Vị khách tuyên bố dối trá rằng chưa có văn bản tiếng Việt nào
của hiệp ước dự thảo tồn tại . Nhưng Thiệu đã đọc một bản tóm tắt được
lưu hành xuống tận cấp quận ủy cộng sản do ‘nguồn tin Tây Ninh’ cung
cấp.
Trong một buổi họp ngày 21 tháng 10, ngoại trưởng của Thiệu trình bày
một danh sách 23 yêu sách thay đổi cho bản dự thảo hiệp ước Paris, ưu
tiên trong đó là việc rút quân mọi binh sĩ Miền Bắc ra khỏi Miền
Nam. Kissinger nói: ‘Tôi tin là không thể nào bắt họ đồng ý điều này.’
Nixon đánh điện, chỉ đạo Kissinger thúc ép Thiệu đến giới hạn, nhưng
tránh ‘cưỡng bách ông ta cắt đứt quan hệ công khai với chúng ta trước
ngày 7 tháng 11’. Sáng hôm sau, ngày 22, Kissinger triển khai các lời đe
dọa và tán tỉnh, trước khi bay đến Phnom Penh để chỉ đạo cho Tổng
thống Lon Nol của Cao Miên.
Trên chuyến trở về Sài Gòn của đặc sứ cuối chiều hôm đó, Thiệu lên án
hiệp ước là một thứ giả hiệu. Hội đồng bầu cử được đề nghị, ông nói,
chỉ là chính quyền liên hiệp ngụy trang: ‘Hoa Kỳ đã thông đồng với Liên
Xô và Trung Quốc. Bây giờ các ông chấp nhận sự hiện diện của quân
Miền Bắc ở đây, người Miền Nam sẽ cho rằng người Mỹ đã bán đứng
chúng tôi và Miền Bắc đã thắng cuộc chiến.’ Vài lần trong buổi họp,
tổng thống rớt nước mắt. Kissinger nói, ‘Tôi chỉ có thể biết bất mãn sâu
sắc với ý kiến của ngài cho chúng tôi thông đồng với người Xô viết và
Trung Quốc.’ Nổi bật nhất trong các chống đối của Thiệu là, bằng cách
nhượng bộ lãnh thổ trên khắp Miền Nam, người Mỹ đồng ý tạo ra một
chính thể ‘da beo’ mà it người nào cho là có thể sống còn; hơn
nữa, người cộng sản và người chống cộng được ban cho vị thế tương
xứng trong hội đồng bầu cử được lên kế hoạch. Kissinger báo tin cho
Nhà Trắng, cảnh báo rằng sự cứng rắn của Thiệu tạo ra một khủng
hoảng mới. Ông cũng điện ra Hà Nội bày tỏ sự giận dữ của mình về việc
Phạm Văn Đồng đã tiết lộ hầu hết các điều khoản đề xuất cho phỏng vấn
viên báo Newsweek, làm tồi tệ thêm tâm trạng hừng hực ở Sài Gòn.

Sau khi trở về Washington, Kissinger lao vào ‘sự thông đồng’ gấp gáp
hơn: việc đầu tiên là ông gọi đại sứ Xô viết Dobrynin, thúc giục người
Nga giải thích với Hà Nội rằng hai tuần trước ngày bầu cử Mỹ, hành
pháp phải hành động và nói công khai theo một cách tránh sự rạn nứt
công khai với Sài Gòn. Ông cũng khẩn khoản yêu cầu một lực lượng
Miền Bắc tượng trưng rút quân khỏi Miền Nam, và bảo với đại sứ: ‘Hà
Nội có thể nghĩ là chúng tôi đang cố tình trì hoãn hiệp ước qua ngày 7
tháng 11 để chúng tôi có thể đánh bom họ hoặc làm gì đó. Tôi đưa ra lời
cam kết vững chắc của một tổng thống với ngài rằng điều đó không phải
như vậy.’ Thậm chí khi Kissinger nói, phía cuối sảnh trong Phòng Bầu
Dục Nixon đang nói với Alexander Haig: ‘Sau bầu cử, chúng ta sẽ đánh
bom cho chết hết chúng luôn. Tôi sẽ không nói với Henry chuyện
này, nhưng đó là cách thức chúng ta sẽ tiến hành. ‘
Các tay chơi ở Nhà Trắng làm việc cật lực để thuyết phục nhau rằng sự
phản bội Sài Gòn sẽ không bị đáp trả bằng sự phản bội, bởi vì chế độ
Sài Gòn trước hết chưa hề là một chính quyền đúng nghĩa. Haig nói với
Nixon: ‘Nếu Thiệu không thể giải quyết cuộc chiến với một triệu người
với tất cả trang thiết bị đó thế thì thây kệ, y không đáng được giải cứu.’
Kissinger bảo Nixon: ‘Tôi đã đi đến kết luận bất đắc dĩ, thưa Tổng
thống, và nó làm tôi đau lòng phải nói ra điều đó, rằng chế độ ở Sài
Gòn được cơ cấu để theo đuổi một cuộc chiến mà chúng ta chống đỡ và
rằng bọn họ không thể tưởng tượng rồi đây hoà bình sẽ như thế nào. Và
rằng họ không khiếp sợ cộng quân quá nhiều. Họ khiếp sợ – hòa bình.’
Khi Nixon và Kissinger thảo luận về mối hiểm họa là chế độ Sài Gòn có
thể nhanh chóng thất thủ, vị cố vấn nói: ‘Tôi nghĩ danh dự của chúng ta
sẽ còn – còn nguyên vẹn. Họ sẽ không sụp đổ nhanh như thế.’ Vào ngày
24 tháng 10 ông bảo với đại sứ Trung Quốc với giọng điệu tự trách
mang nét dí dỏm đặc trưng: ‘Tôi đã hoàn thành việc thống nhất Việt
Nam – nhưng cả hai bên đều không ưa tôi.’ Khi người của Mao đợi xe
tới, y hỏi tùy viên của Kissinger liệu có hy vọng là thỏa thuận sẽ được
ký kết trước ngày bầu cử hay không. Y nhận được trả lời sự đình hoãn
chỉ có lợi cho người cộng sản: nếu sự việc nổ tùng xòe với Sài Gòn
trước ngày 7 tháng 11, tổng thống buộc phải đứng về phe chống Hà Nội;
sau cuộc bầu cử, tình hình thì ngược lại. Chính quyền Mỹ làm rõ với
Moscow và Bắc Kinh rằng họ không mong đợi Miền Bắc sẽ tôn trọng

các điều khoản của hiệp ước: họ chỉ nhắm tới bút tích của mình trên hồ
sơ.
Lãnh đạo nhiều quốc gia đã họp bàn về các vấn đề trọng đại này như các
vấn đề giữa Nixon và Kissinger, nhưng trước đây chưa từng được thu
âm, phơi trần sự hoài nghi của họ. Câu hỏi duy nhất quan trọng với hậu
thế là liệu họ đã chọn lựa đúng đắn hay chưa. Cuộc chiến gần như chắc
chắn không thể thắng trước khi Nixon bước vào Nhà Trắng. Tổng thống
Thiệu và phụ tá không làm gì nhiều để phục vụ lợi ích cho xã hội mà họ
trị vì, và chỉ có trải nghiệm mới cho thấy người cộng sản còn làm ít hơn.
Tội ác của Nixon, nếu có, trong đó Kissinger đóng vai trò công cụ, là
hy sinh sinh mạng 21 ngàn người Mỹ và số lượng lớn hơn nhiều sinh
mạng người Việt trong quá trình thực thi một loạt các hoạt động quân sự
và ngoại giao không nhằm đem lại phúc lợi cho nhân dân Đông Dương,
Miền Nam và Miền Bắc, mà chỉ cho lợi ích chính trị nội bộ của tổng
thống.
Trong một mức độ nào đó, cử tri Mỹ có thể coi như can tội đồng lõa:
ngay cả trong những năm cuối cùng của chiến tranh, nhiều cử tri còn
khao khát một kết cục không thể hiện rõ ràng sự đổ vỡ của ý chí quốc
gia. Nixon và Kissinger ra sức xoa dịu thứ tình cảm ấy không bằng tài
lãnh đạo thực chất, mà thay vào đó bằng kỳ tích của nghề dàn dựng sân
khấu – sáng tạo ra một cảnh trí vừa đủ thuyết phục để đưa họ qua một
mùa trình diễn có hạn chế đi trước và sau cuộc bầu cử 1972. Các kỹ
năng chiến thuật của họ nhằm mưu tính một kết cục như thế đáng được
trân trọng, nhưng thật khó để mở rộng sự trân trọng ấy cho đạo đức của
họ. Kissinger cho thấy ông không làm chủ trong nghệ thuật của chính
sách thực dụng, như được đánh giá quá cao. Vào ngày 23 tháng 10 ông
bảo Thiệu trực diện: ‘Hoa Kỳ không bao giờ hy sinh một người bạn tin
cậy.’ Trở lại Washington hai ngày sau, ông lại bảo với Bộ trưởng
Thương mại Pete Peterson: ‘Tôi chỉ có một ước muốn – thả xổng người
Việt vào nhau trong hy vọng họ sẽ tiêu diệt lẫn nhau.’
Vào ngày 26 Miền Bắc tiết lộ với thế giới các điều khoản đề nghị của
thỏa hiệp, yêu cầu người Mỹ kí tên vào ngày 31, như đã thảo luận trước
đây giữa Lê Đức Thọ và Kissinger. Thông báo của Hà Nội dấy lên một
cơn xúc cảm trong nước Mỹ, và thúc đẩy Nixon ủy thác cho Kissinger
xuất hiện lần đầu tiên trong vô số lần tiếp sau như một ngôi sao của làng

giải trí truyền hình – từ trước đến giờ ông hiếm khi nói trước công
chúng. Sự thiếu kinh nghiệm của ông lộ ra, nhưng uy tín, tính dí dỏm,
tính ra vẻ thẳng thắn và vị thế phi chính trị của ông đã lấn át tất cả.
‘Thưa quý bà và quý ông,’ Ông bảo với hội nghị các nhà báo tụ họp
đông nghịch ở Nhà Trắng, ‘rõ ràng một cuộc chiến đã diễn ra ác liệt
trong 10 năm đang đi gần đến kết thúc.’
Hà Nội, ông nói, đã từ bỏ yêu sách cho một chính quyền liên hiệp ở
Miền Nam; trong khi đó, không có gì ngạc nhiên khi Sài Gòn nêu lên
các vấn đề. Truyền hình ABC đăng tít đầu trong phóng sự lời phát biểu
của ông ‘Hòa bình đang ở trong tầm tay ‘. Hai tuần trước ngày bầu
cử, Kissinger trao cho Nixon lời hứa hẹn khải hoàn. Tổng thống điện
thoại ưu ái với ông đêm đó: ‘Họ tưởng anh đã có hoà bình hả?’ ‘Vâng
phải.’ ‘Đó là điều họ nghĩ thôi. Thế cũng tốt. Để cho họ tưởng vậy đi.’
Những lời ca tụng đổ đống lên vị cố vấn từ mọi màu sắc chính trị.
Thượng nghị sĩ James Buckley, em của William F., điện thoại khen tặng
ông, mong tìm được sự trấn an biểu tượng: ‘Liệu tôi có thể giả định rằng
những gì đã được thực thi sẽ không cắt đứt hậu thuẫn đột ngột cho bất
cứ chế độ nào hay không? ‘Tuyệt đối, hoàn toàn, 100 phần trăm.’ ‘Thật
tuyệt. ‘ James Reston của tờ the New York Times nói: ‘Đất nước nợ anh
một món nợ lớn, Henry.’ Ứng viên Dân chủ George McGovern tiếp tục
phạm một loạt các sai sót khác, tố cáo Nixon không chịu bỏ rơi Thiệu,
quên sự kiện là ngay chính lúc đó đối thủ của ông đang ướp nước xốt
nhà lãnh đạo Miền Nam để làm món ăn chính tại buổi thịt nướng với
người cộng sản.
Sài Gòn tiếp tục thêm vài ngày nữa đứng qua một bên việc đoạn tuyệt
công khai với Washington: Thiệu nói một cách ẩn ý rằng Miền Nam sẽ
không bao giờ chấp nhận một thỏa hiệp đi ngược với lợi ích của nhân
dân, không quên nói thêm rằng thỏa thuận của Kissinger biểu thị cho
một hậu quả như thế. Ngày hôm sau, ông bảo với Quốc Hội rằng việc
binh sĩ Miền Bắc rút lui là ‘yêu sách tối thiểu’ của ông, khiến tờ New
York Times lên án Thiệu là ngoan cố. Ngày 27 tháng 10 tờ Los Angeles
Times chạy tít lớn ‘Hoa Kỳ Khăng Khăng Đọi Hà Nội Phải Rút Quân:
Yêu Cầu Rút 145,000 Binh Sĩ Trước Khí Ký Kết’. Điều này là không
đúng, nhưng tiếng vang quốc gia của câu chuyện củng cố thêm tiếng tăm
của Kissinger cho tính cứng rắn, nhấn chìm tất cả những diễn biến quan

trọng trong vụ bê bối Watergate đang lớn mạnh – đó là các báo cáo về
hành vi phạm tội của các thành viên cao cấp trong đội vận động chiến
dịch tranh cử của Nixon.(Vụ bê bối Watergate là vụ bê bối chính trị lớn
ở Hoa Kỳ liên quan đến chính quyền của Tổng thống Richard Nixon từ
năm 1972 đến năm 1974 dẫn đến việc Nixon phải từ chức. Vụ bê bối bắt
nguồn từ việc chính quyền Nixon liên tục cố gắng che đậy sự dính líu
của mình trong vụ đột nhập vào trụ sở Ủy ban Quốc gia đảng Dân chủ
tại Tòa nhà Văn phòng Watergate ở Washington, DC ngày 17 tháng Sáu
năm 1972 để nghe lén hoạt động tranh cử của đối thủ họ: ND).
Gần như mọi bình luận ở Mỹ vào những ngày đó phản ánh một khao
khát rộng khắp, mạnh mẽ xem Tiến sĩ Henry Kissinger như một vị cứu
tinh của quốc gia. Ước muốn tha thiết thoát khỏi Việt Nam thuộc mọi
sắc thái chính trị Mỹ, rằng hoà bình với một vài mảnh rách tơi tả của
phẩm cách đều chấp nhận được, góp thêm mối quan tâm của một thiểu
số về số phận của nhân dân Thiệu. Nhiều người đánh giá rằng bất cứ kết
cục nào không có bom, đạn và napan đều tốt hơn những thứ đó. Và ai
có thể cho quan điểm đó là ô nhục?
Kissinger trước đây đã chống đối tiến hành không kích tiếp tục xuống
Miền Bắc sau khi bầu cử. Tuy nhiên, giờ đây thịnh nộ trước sự ương
ngạnh của Sài Gòn và thái độ khi dễ của Hà Nội, ông đâm ra ưng thuận
tiến trình này. Vào ngày 31 tháng 10 ông bảo với Nixon: ‘Tôi nghĩ
chúng ta phải bắt đầu di chuyển các B-52 xa hơn về phía bắc.’ Tổng
thống đồng ý: ‘Nhất định thế.’ Kissinger tiếp tục: ‘Vì đó là cách duy
nhất mà bọn chó chết đó hiểu ra … Nếu sau một tuần chúng không trả
lời, chúng ta phải bắt đầu đội bom lần nữa.’ Ngày hôm sau, Thiệu lên
án công khai bản dự thảo hiệp định là ‘đầu hàng cộng sản ‘. George
McGovern tấn công cả Nixon lẫn Thiệu vì không ký thỏa thuận dự thảo:
ông kết án tổng thống lên kế hoạch thêm bốn năm chiến tranh nữa, để
giữ Thiệu trong quyền lực – một sự xuyên tạc thực tế dễ buồn cười.
Theodore White, nhà viết biên niên về các cuộc bầu cử tổng thống, lấy
làm lạ về một hiện tượng: sau nhiều thập niên trong đó ứng viên Cộng
Hoà từng là một trong số các chính trị gia không được ưa thích nhất ở
Mỹ, trong những ngày cuối cùng của chiến dịch 1972 , dân chúng bày tỏ
lòng yêu quý đối với Richard Nixon. Vào ngày 7 tháng 11, Nixon đạt

được chiến thắng lấn át mang tính lịch sử, với 60.7 phần trăm số phiếu
bầu so với 37.5 phần trăm của McGovern.
Câu chuyện về chính sách Việt Nam qua những tháng sau đó bị khống
chế bởi các nỗ lực tiếp tục của chính quyền Mỹ nhằm làm nao núng lập
trường cứng rắn của Sài Gòn, để thuyết phục Thiệu chấp nhận thỏa
thuận dự thảo đã thống nhất ở Paris. Trở lại ngôi biệt thự ở Gif- sur-
Yvette vào ngày 20 tháng 11, Kissinger trình cho Lê Đức Thọ danh sách
69 điểm thay đổi do chính quyền Thiệu đề nghị, ưu tiên trong đó là việc
rút toàn bộ lực lượng Miền Bắc – mà Hà Nội không nhận là có lực lượng
nào ở Miền Nam. Chắc chắn mục đích nhà thương thuyết Mỹ muốn
nhắm đến là nhấn mạnh với người cộng sản chính ông phải đương đầu
với các trở ngại trong việc bắt người Miền Nam phải thuần phục. Ngày
hôm sau Lê Đức Thọ cho ý kiến về các điều khoản thay đổi Thiệu đưa
ra: ‘Chúng tôi sẽ không bao giờ chấp nhận chúng.’ Hà Nội thực sự
không hiểu sự bất lực của người Mỹ trong việc bắt các con rối Sài Gòn
của mình nhảy theo lệnh. Thọ lặp lại yêu sách phải thả 30,000 tù dân sự.
Rồi Kissinger đọc một tờ ghi chép của tổng thống, hướng dẫn ông cắt
đứt các đàm phán.
Sự mâu thuẫn về những gì tiếp theo là hành pháp của Nixon tập trung
vào sự phẫn nộ của quần chúng đối với Hà Nội, trong khi ở nơi riêng tư
triển khai một hàng rào các lời hứa hẹn và đe dọa để tranh thủ một thay
đổi trong trái tim người Sài Gòn. Lúc Nixon tiếp một đặc sứ Miền Nam
tại Nhà Trắng vào ngày 29 tháng 11, ông nói thẳng một cách tàn nhẫn,
đe dọa cắt đứt mọi hậu thuẫn: ‘Không có viện trợ, các ông không thể
sống còn. Hiểu không?’ Nhưng Thiệu vẫn từ chối công nhận thỏa thuận
Paris. Lê Đức Thọ rút lại yêu sách thả 30,000 tù chính trị, nhưng vào
ngày 12 tháng 12 nói ông phải trở về Hà Nội để tham vấn.
Những gì xảy ra tiếp theo thuộc trong số những bước ngoặt kỳ cục nhất
của cuộc chiến. Tổng thống Nixon ra lệnh một chiến dịch ném bom mới
tàn khốc, được cho là để đáp ứng với sự ngoan cố của người cộng sản,
và rõ ràng do họ không chịu giao lại tù binh Mỹ. Nhưng lập trường của
Lê Đức Thọ trong tháng 12 vẫn không thay đổi nhiều so với tháng 11.
Tất cả khác biệt chỉ là Miền Nam khước từ hậu thuẫn thỏa hiệp được đề
xướng. Cách lý giải có vẻ hợp lý nhất của sự kiện sau này được biết dưới
tên Chiến dịch đánh bom Giáng sinh của Nixon, Chiến dịch Linebacker

II, là nó nhằm mục đích biểu dương sức mạnh để thuyết phục Sài Gòn
và nhân dân Mỹ là Mỹ quyết tâm giữ vững sự cam kết của mình đối với
Miền Nam, và trừng phạt Miền Bắc dám kháng cự ý chí của Nixon
trong 4 năm. Sức tàn phá không làm thay đổi chút gì về ý nghĩa ngoại
giao, nhưng cho thấy đó là hành động quân sự quan trọng cuối cùng của
sự can thiệp Mỹ vào Việt Nam.

2 ‘Chúng Ta Sẽ Đánh Bom Cho Chết Hết Chúng Luôn’
Lúc 11 thứ hai, ngày 18 tháng 12 1972, trong phòng hướng dẫn của phi
hành đoàn B-52 tại căn cứ không quân Andersen, Guam, Đại tá James
McCarthy kéo bức màn cho lộ ra bản đồ đường xá và tuyên bố một cách
trịnh trọng, ‘Thưa quý ông, đêm nay mục tiêu của các bạn là .. . Hà
Nội!’ Phí công Vince Osborne nói, ‘Tôi tưởng mọi người sẽ hoan hô …
nhưng phi hành đoàn ngồi đó với vẻ mặt rất nghiêm trọng và trong tâm
trí thì hét lên “Ôi, đồ chết tiệt!’ Đại uý Ed Petersen hầu như không tin
vào tai mình khi nghe anh và bạn lái phải hướng đến khu trung tâm
thành phố: ‘Thoạt đầu tôi nghĩ đó chỉ là trò đùa.’ Các nhân viên phi hành
đã đùa với nhau rằng, đối với người Mỹ, cuộc chiến đã hầu như đi
qua. Nhưng trong 11 ngày tiếp theo đó, 729 lượt xuất kích B-52 đã bỏ
15,237 tấn bom xuống Miền Bắc, trong khi phi cơ chiến thuật thực hiện
5,000 lượt. Linebacker II biểu thị cuộc điều động B-52 hùng hậu nhất
trong cuộc chiến, với 155 oanh tạc cơ chen chúc trên 5 dặm bãi đỗ,
trước khí cất cánh để tiêu thụ 2 triệu ga-lông lít xăng phản lực mỗi ngày.
Mọi người thù ghét căn cứ Andersen; 12 ngàn người chen chúc trong
các khoảng không gian chỉ đủ chỗ thoải mái cho phần tư số đó; khi một
phi hành đoàn bị bắn rơi, đồng đội vội vàng chiếm lấy đồ đạc của họ.
Đây là đỉnh cao của chiến dịch không quân to lớn kể từ năm 1965.
Các phi công trong mọi cuộc chiến đều cư trú trong một thế giới khác
biệt với những binh sĩ trên bộ. Thay vì lán trại và lều võng bên dưới các
tán cây rừng, phi công B-52 sống trong các khu vực có máy điều hòa
dựng trên các sa mạc bê tông nơi không nghe đến một tiếng súng hay
tiếng nổ. Gần như mọi ngày họ tắm vòi sen và ăn điểm tâm Mỹ trước khi
cất cánh đến lãnh thổ kẻ thù. Rồi khá lâu sau đó họ đáp trở lại, lái các
con quái vật phì phò đến chỗ đỗ, rồi hướng tới câu lạc bộ sĩ quan nốc
một ly cốc tai. Tuy nhiên, điều này không ám chỉ họ đang thụ hưởng

một cuộc chiến nhung gấm: căng thẳng tâm lý thật là mênh mông, khi
phải thay đổi liên tục giữa cái nhàm chán thường nhật trên đảo Guam
với bầu trời chằng chịt tên lửa phía trên Miền Bắc.
Thế giới nghĩ về việc đánh bom Đông Dương chủ yếu theo ngữ cảnh của
số nạn nhân của nó, điều này cũng đúng. Nhưng những ai cầm lái
thường ít nghĩ về những người gần như vô hình trên mặt đất phía dưới
họ rất xa; mà nghĩ nhiều hơn về các nguy cơ họ phải đương đầu. Một số
phi công có nghề hưởng thụ vai trò của mình, vì mỗi thế hệ liên tiếp các
phi công trẻ tuổi say sưa với cái cảm giác mạnh của tốc độ cao, của tác
chiến và thật ra của việc phá hủy. Nhưng nhiều người cũng ôm ấp nối sợ
hãi, và không bao giờ nhiều hơn thế như trong chiến dịch đội bom Giáng
sinh 1972. Chỉ huy hải quân John Nichols viết: ‘Không ai muốn mình là
người cuối cùng chết trong một cuộc chiến không đánh thắng.’ Nhiều
người không còn thấy xấu hổ khi tránh né nguy hiểm. Một người có thể
tru tréo trước một nhiệm vụ hiểm họa, ‘Ê, đợi chút đã. Hôm qua tôi đã đi
dập phòng không rồi mà. Chưa đến lượt tôi.’ Một số người bới móc các
trục trặc kỹ thuật để khỏi cất cánh hoặc bay về sớm. Có các tin đồn ác
mồm cho rằng phe địch cảm thấy mình đã có đủ tù binh rồi, nên không
muốn nhận thêm nữa.
Phi công tàu sân bay, cùng với chiến đấu cơ Không lực và các B-52 xuất
phát từ U-Tapao, Thái Lan, đi và về chỉ mất 3 hoặc bốn giờ. Các B-52 ở
căn cứ Guam, ngược lại, xuất phát gần như cách mục tiêu Miền Bắc gần
3,000 dặm về hướng đông. Phần đông phi hành đoàn chỉ ném được bom
sau 9 giờ bay đến mục tiêu, và đã đi hơn 8,000 dặm trước khi đáp trở lại
sau ít nhất một lần lấy xăng tại căn cứ Okinawa. Mặc dù có thể sử dụng
bộ phận lái tự động, thậm chí trước khi gặp địch việc thao tác một chiếc
B-52 đòi hỏi trình độ khắt khe. Jim McCarthy viết: ‘Không giống một
chiến đấu cơ cao cấp hoặc các mẫu B-52 mới, các B-52D không có bộ
phận điều khiển chạy bằng năng lượng. Phải cần nhiều sức cơ bắp để
bay được theo đúng đội hình.’ Thao tác một chiếc D, phi công viết, ‘có
thể so sánh với việc lái một xe tải 18 bánh không có bộ phận lái chạy
bằng năng lượng, thắng hơi hoặc chuyển số tự động trong khu thương
mại Washington vào giờ cao điểm.’
Mỗi sứ mạng đều đi kèm một đội hình phi cơ thuộc nhiều loại và chức
năng. Đi đầu các Siêu Pháo đài bay là các chiến đấu cơ đánh phá các dàn

phòng không và tên lửa. Phi cơ đối phó điện tử ra sức làm nghẽn các
kênh liên lạc và tín hiệu ra đa địch. Các Phantom F-4 rải rắc ‘tro trấu’.
Cùng với các oanh tạc cơ, nhiều Phantom tạo lá chắn chống lại các
MiG. Phi hành đoàn B-52 gồm 6 người: hai phi công; ‘đội phòng vệ
‘ hai người gồm một sĩ quan tác chiến điện tử và một xạ thủ, ngồi nhìn
chăm chăm vào màn hình và các nút điều khiển trên các ghế đối diện
phía sau buồng lái vài bộ; và một ‘đội tấn công’ gồm phi hành viên và
phi hành viên ra đa – người sau trước đây được gọi là chuyên viên oanh
tạc – ngồi trong khoang phía dưới. Bốn súng máy cỡ 0.50 ở đuôi máy
bay là di tích có từ thời Thế chiến II, với 6 dặm cách mặt đất chúng ít
gây hại cho địch, mặc dù chúng đã từng bắn hạ hai MiG trong chiến
dịch Linebacker II.
Trên đảo Guam các B-52 được bảo trì bởi 5,000 thợ mặt đất đạt căn cứ ở
‘Bicycle Works’. Thật là một công việc nặng nề để bảo trì một chủng
loại được thiết kế vào năm 1949 và bay lần đầu tiên 4 năm sau đó – một
số máy bay ném bom Hà Nội đã 17 năm tuổi. Pháo đài Bay có 10 hệ
thống thủy lực độc lập và 4 máy phát điện lớn được cung cấp năng
lượng bởi các tuabin khí nóng, hút khí nén từ các động cơ, trong đó nhiệt
độ lên đến 250 độ C. Một sự rò rỉ có thể là thảm họa, vì các ống dẫn
chạy bên cạnh các cáp điều khiển, thùng xăng, ống dẫn dưỡng khí.
Khi Andersen hoặc ‘U-T’ hoạt động ở cường độ cao, một oanh tạc cơ
có thể được bơm đầy xăng và chất đầy bom trong vòng 4 giờ – phân nửa
thời gian nhà nước qui định – và các mục thanh tra chính được hoàn tất
trong 8 giờ. Lượng tải đầy đủ gồm 84 quả bom 500 cân đóng gói trước
trong các ‘khuôn’. Yêu cầu cho loại đạn dược xê dịch đó rất khắt khe
trong nhiệt độ có thể vượt quá 100 độ, theo chu kỳ bị gián đoạn bởi các
cơn bão nhiệt đới. Nhân viên mặt đất thỉnh thoảng phô bày lòng tận tụy
anh hùng: khi một oanh tạc cơ đã chất đầy ắp bom bị nổ lốp khi chạy cất
cánh, một bánh xe bình thường thay mất 150 phút được hoàn tất trong
15 phút, không cần tắt động cơ.
Trước mỗi sứ mạng, bộ phận kế hoạch bỏ ra hàng giờ tranh luận các
mục tiêu, cân bằng các điểm nhắm và trục tấn công tối ưu giữa các dàn
SAM như tranh khảm và các trạm ra đa được đánh dấu trên bản đồ và
không ảnh do các phi cơ trinh sát bay cao SR-71 chụp. Hai ‘khuôn’ bom
cho mỗi tổ ba chiếc B-52, mỗi chiếc mang đến 30 tấn bom khi các giá

trên cánh cũng chứa đầy, có thể hủy diệt gần như mọi sinh vật sống bên
trong ‘hộp’ – một hình chữ nhật trên mặt đất rộng ⅝ dặm, dài 2 dặm:
đây là tính tinh vi ớn lạnh nhất trong ‘đánh bom trải thảm’. Trong ánh
sáng của tình báo và tuyển chọn mục tiêu mới nhất, các mệnh lệnh riêng
rẻ được phát ra cho phi hành đoàn. Các mục tiêu tọa lạc tại một trong
hai vùng, theo thứ tự được nhận diện như mối đe dọa thấp-hoặc-cao, phụ
thuộc vào mật độ của lực lượng phòng thủ trên mặt đất. Một mục tiêu ưu
tiên tạo ra một sứ mạng được chỉ định là một ‘Press- On’, có nghĩa là phi
hành đoàn phải hoàn thành nó, dù mức độ chống đối hoặc hỏng hóc hệ
thống phi cơ họ gặp phải như thế nào.
Sau khi xong phần hướng dẫn, các tuyên úy thực hiện nghi thức Thiên
Chúa giáo cuối cùng, mà một số người thấy hữu ích, nhưng một số khác
thì không thích. Phi hành đoàn bước ra máy bay nặng nề với áo vét cứu
sinh phồng to, vũ khí bên hông, hộp khẩu phần và xách tay quá khổ
chứa đầy các cẩm nang kỹ thuật, bảng tính oanh tạc, dữ kiện phi hành
hàng không và tài liệu hướng dẫn được phân loại. Họ cũng mang theo
trang phục chống lạnh, sẽ thừa thãi nếu hệ thống sưởi ấm hoạt
động, nhưng rất hữu ích nếu nó trục trặc, nhấn buồng lái xuống đến
nhiệt độ âm 56 độ C.
Các phi công chiến đấu cơ gọi các B-52 là các Buff– Big Ugly Fat
Fellers (Anh Chàng To Béo Xấu Xa. Bộ Tư lệnh Không quân Chiến
lược thích cụm từ ‘đoàn voi diễu hành’ để mô tả một đoàn oanh tạc cơ
khổng lồ tiến xuống đường băng để cất cánh. Những lần phát động chiến
dịch đều thu hút một đám đông khán giả, nhân sự làm việc trên mặt đất
và phi hành đoàn đang rảnh rỗi, đứng từng cụm trên đường bay, bên
ngoài văn phòng, trên ban công. Từng chiếc một các Buff tăng tốc để
cất cánh, khói đen phun ra các ống xả ở đuôi.
Lấy cao độ họ băng qua tàu kéo lưới Nga do thám nằm ngoài khơi theo
dõi và đếm số phi cơ. Phi hành đoàn ấn định cho lộ trình dài về tây: hai
phi hành viên có thể chơi cờ hoặc viết thư. Một thành viên làm toán
trong sách giáo khoa đại số; những người khác theo các khóa học hàm
thụ, trong đó có một học viên nha khoa. Khi họ muốn thoải mái, nói
khôi hài hoặc hỏi một thủ tục, họ ghi chép vào giấy rồi trao đổi, để
không bị dò xét bởi các thanh tra bộ Tư lệnh không quân chiến lược
giám sát bằng ghi âm lắp đặt trong buồng lái.

Khi băng qua biển, toàn thể phi hành đoàn thường an giấc. Cần phải tỉnh
táo và khỏe khoắn trước khi bắt tay vào việc, vì bay ở độ cao trong giá
lạnh căm căm, tai bị ù và xoang mũi đau đớn kinh khủng, đe dọa bị
nhiễm trùng nghiêm trọng. Khí hậu không dự đoán được gây ra thêm
vấn đề: ngược gió làm tốn thêm nhiên liệu, đôi khi phải tiếp xăng thêm

trên không.

Không ai ngái ngủ khi oanh tạc cơ tiến gần đến mục tiêu. Vào tháng 12
1972, Miền Bắc sở hữu loại MiG, hệ thống phòng không và phòng thủ
tên lửa khủng khiếp. Bộ phận SAM-2 bắt đầu phóng từng loạt tên lửa
lên trời ngay lúc phi cơ Mỹ tiến vào trong tầm bắn. Phản ứng trong
buồng lái khác nhau: phi công Robert Clark, người dẫn đầu đợt oanh tạc
thứ ba vào ngày 18 tháng 12, nói: ‘Tôi đã sẵn sàng hành động; thành
viên phi hành đúng là khiếp sợ; xạ thủ của tôi là một diều hâu; sĩ quan
tác chiến điện tử thì vô cùng tò mò không biết liệu thiết bị mới của mình
có hiệu quả không – anh phấn khích nhưng lo sợ.’ Les Dyer thì vô tư lự:
‘Tôi còn trẻ, không dính đạn, và không thể bị tổn thương.’ Bruce Woody
mô tả mình ‘sợ đến mất vía’. Jerry Wickline nói: ‘Suốt thời gian tôi cứ
nghĩ là mình sẽ chết ngay giây tiếp theo… Vài lần tôi lóa mắt vì một tên
lửa nổ sát máy bay hoặc lửa lóe sáng từ đường bay tên lửa khi chúng bay
vút qua tôi. Chiếc B-52 bay ngay sau tôi bị bắn hạ. ‘ Anh nói thêm:
‘Trong sứ mạng đó tôi tìm ra mình không phải là một kẻ hèn nhát. Tôi
đã định xin phép quay máy bay đó lại và không bay qua các tên lửa đó,
nhưng tôi sợ bị dán nhãn hiệu hèn nhát hơn là sợ cpphết.’
Ném bom chính xác đòi hỏi bốn phút bay thẳng và ổn định khi tiếp cận
mục tiêu, không đếm xỉa gì đến tên lửa phóng tới. Các tổ ba B-52 bay
sát theo đội hình để gây bối rối cho ra đa: nếu một máy bay giạt ra hoặc
do phi công bồn chồn lo lắng lái lệch đi, bao hình bảo vệ bị yếu đi. Phi
hành đoàn có thể nghe được những từ làm ngưng tim từ sĩ quan tác
chiến điện tử: ‘SAM LIÊN KẾT LÊN!’ Một phi công sẽ hỏi, ‘Chúng ta
còn cách mục tiêu bao xa, Ra đa?’ ‘Chúng ta còn 10 giây. Năm. Bốn.
Ba. Hai. Một. NÉM BOM ĐI! Bắt đầu … quay về, phi công. ‘
Cuộc tấn công mở màn này bắt đầu lúc 19:45 vào ngày 18 tháng 12, khi
tổ đầu tiên trong một vệt dài các tổ thả bom. Máy bay hơi rùng mình khi
30 tấn bom rơi khỏi máy bay. Quay lại gắt tạm thời có thể làm tắt máy

phát sóng ra đa, che mất hoạt động phòng vệ máy bay trong một số giây
có thể tỏ ra là chết người.
Đại tá Hendsley Conner, bay với vai trò chỉ huy sứ mạng, mô tả trải
nghiệm khi phi công quành lại chiếc oanh tạc cơ một đêm trăng sáng:
‘KABOOM! Chúng tôi bị trúng tên lửa. Chúng tôi cảm thấy như mình ở
ngay trung tâm một tiếng sấm. Âm thanh nghe điếc tai. Mọi thứ chói
sáng trong một lúc, rồi tối tăm trở lại. Tôi có thể ngửi thấy mùi ô-zôn
của thuốc súng cháy, và cảm thấy vai phải hơi giật.’ Qua máy bộ đàm
ông kiểm tra Cliff Ashley, phi công, và được anh đáp lại: ‘Tôi ổn, nhưng
tình trạng phi cơ có vấn đề.’
Tên lửa địch nổ sát mạn trái máy bay, bứt ra hai động cơ và mũi cánh.
Lửa đang phụt ra từ chỗ hư hại, máy điều áp khoang máy bay đã chết,
cùng với hầu hết công cụ khác. Mặc dù có căn cứ ở Guam, họ ấn định lộ
trình đến Thái Lan và kêu gọi máy bay hộ tống: hai chiếc F-4 trả lời gần
như lập tức, ‘Có chúng tôi đây, bạn ơi.’ Họ bắt đầu hạ thấp nhanh từ
30,000 bộ, ráng sức tránh phải nhảy dù xuống Miền Bắc hoặc Lào:
‘Chúng tôi biết rằng ở Lào không giữ tù binh.’ Ba mươi phút sau , họ
thở phào nhẹ nhõm khi bay vào không phận Thái Lan, và nghĩ rằng
mình có thể đáp xuống. Rồi một phi công F-4 tháp tùng cảnh báo lửa
đang bùng phát mạnh, toàn bộ cánh trái bốc lửa: ‘Tôi không nghĩ là anh
đáp được.’ Tất cả 6 thành viên phi hành đoàn cơ hữu đều có ghế
phóng, và một ít giây sau đèn hiệu NHẢY TÀU cháy lên. BẦM! Viên
phi hành biến mất. Conner, không có ghế riêng của mình, bò qua đống
đổ nát đến cái lỗ qua đó người cuối cùng đã biến mất, và nhìn chầm
chầm vào mặt đất xa tít bên dưới. Rồi anh nhảy xuống, và vài giây sau
kéo khóa bật dù. Anh ngước nhìn máy bay bốc cháy dữ dội khi nó lao
xuống mặt đất. Anh đặt chân xuống giữa một nhóm dân làng Thái Lan
và được họ mời nước. Hai mươi phút sau trực tháng TQLC bay đến
rước anh. Sáu thành viên của B-52 cũng đã được rước về.
Vào đêm đầu tiên của Linebacker II, Richard Jones đếm có 56 tên lửa
SAM bắn vào đội hình của anh, và John Filmore Graham thấy 30 tên lửa
trong khi tấn công vào sân bay Phúc Yên của Hà Nội. Thiếu tá Don
Aldridge, bay với vai trò phó kiểm soát không phận, viết nguệch ngoạc
cảm tưởng khi nhìn vào bầu trời đêm: ‘Bắt đầu nhìn thấy pháo phòng
không … phần đông pháo ở khoảng 20-25 ngàn bộ, nhưng khá ác

liệt. MiG hoạt động phía tây Hà Nội, nhưng bị F-4 nghênh chiến. Bắt
đầu thấy SAM khai hỏa … một số rốc két không điều khiển 122mm …
Xạ thủ báo cáo … tổ bay như một chiếc phi cơ. SAM khá dày đặc
nhưng hầu hết đều bắn trật ít nhất nửa dặm … Còn 120 giây – 2 SAM ở
vị trí 1 giờ trật mục tiêu – nổ trên cao khoảng 1 dặm tầm ngang … 31
SAM tất cả bắn vào Tổ Green.’
Sau khi chiếc B-52 của Đại uý John Alward chịu thiệt hại nghiêm trọng
từ một tên lửa suýt bắn trúng, với hai động cơ chết máy và thêm hai
động cơ yếu hẳn đi anh hướng về phía nam băng qua vùng Phi Quân
sự hướng đến Đà Nẵng, gần hơn nhưng có đường bay ngắn khá nguy
hiểm đối với một oanh tạc cơ cồng kềnh đang bị thương tật. Anh tiến
đến trong thời tiết tệ hại, thấy rằng căn cứ đang bị súng cối và rốc két
của cộng quân rót xuống. Alward, một phi công tương đối ít kinh
nghiệm, bàn với phi hành đoàn liệu có nên nhảy dù xuống biển hay
không. Họ đồng ý nên thử đáp xuống, nhưng phải đáp nhanh. Tuy
nhiên, khi phi công phụ kéo cần để kích hoạt dù hãm sau đuôi, không có
gì xảy ra: dây cáp đã đứt. Lao dọc theo đường băng về hướng bãi mìn,
Alward bấu vào cần điều chỉnh và kéo chiếc phi cơ khổng lồ bay trở lại
lên không trung. Họ đánh vòng để tiếp cận lần thứ hai, và kì diệu thay

thành công.

Người Mỹ phân biệt khá rõ ràng mức năng lực trong các xạ thủ và đội
tên lửa SAM. Một tiểu đoàn tên lửa Việt Nam bị chế giễu là ‘Binh lính
F’, theo tên của một xô hài kịch trên TV, vì tỉ số bắn trúng rất thấp.
Ngược lại, một tiểu đoàn khác, ở phía tây-nam Hà Nội, được đặt tên
‘Địa điểm Sát Thủ-549’, và trở thành mục tiêu của nhiều cuộc không
kích liên tục để hủy diệt nó. Các chiến đấu cơ MiG của Miền Bắc
thường chiếm lấy vị trí bên sườn các B-52 và cách một khoảng an toàn:
người Mỹ nắm biết ý định của họ là ‘đang chơi trò cảnh sát lưu thông
cho các SAM’ – chuyển tiếp các điều chỉnh về cao độ của oanh tạc cơ để
bộ đội tên lửa dưới mặt đất có thể bắn thậm chí không cần phải khóa
mục tiêu trên ra đa. Đối với nhiều phi công lực lượng phòng không còn
đáng sợ hơn tên lửa, vì phi hành đoàn không nhìn thấy pháo cho đến khi
nó phát nổ: các khẩu 100mm của Miền Bắc hiệu quả trên 30 ngàn bộ.
Năm dặm bên dưới, một cố vấn chống phi cơ của Nga Trung uý Valery
Miroshnichenko, nói: ‘Chúng tôi đang xem phim Giải Phóng, một bộ

phim về Thế Chiến II trình chiếu lưu động. Một phút trước xe tăng còn
bắn nhau trên màn ảnh, thì phút sau bên ngoài cũng có tiếng nổ. Chúng
tôi ngỡ là tiếng sấm . Rồi chúng tôi nhìn lên và trông thấy các B-52:
chúng tôi chứng kiến một máy bay rơi, cháy bùng như một ngọn đuốc.’
Người Miền Bắc ngày nay gọi cuộc oanh kích tháng 12 1972 là ‘Điện
Biên Phủ Trên Không ‘, ý nói họ đã giáng một trận thảm bại quyết định
cho Không lực Mỹ. Chiến dịch theo sau một thời điểm tồi tệ sớm hơn
trong năm, khi các thất bại của dàn tên lửa làm mất tinh thần chiến sĩ
pháo binh. Một người viết: ‘Một số người thì thầm chúng tôi bất tài và
bất lực,’ trước các biện pháp điện tử chống lại mạnh mẽ của người Mỹ.
Một hôm vào mùa thu đó Trung uý Nguyễn Kiên Định đã vừa phóng 2
SAM về hướng một phi cơ Mỹ ở tầm 6 dặm ‘thì tôi nghe ai đó la lên
‘Coi chừng, có Shride!’ Tiểu đoàn trưởng loại bỏ các thôi thúc của họ để
giảm năng lượng, để hạ mức thông tin và do đó khó tổn thương
hơn. Kiên viết: ‘Hai ba giây sau đó một tiếng nổ phá vỡ thổi tôi bay vào
màn hình. Khi quay lại tôi thấy cửa toa xe đã mở toác, và không khí đầy
khói bụi. Hầu như mọi người trong toa điều khiển đều bị thương, và
trang thiết bị đều hư hỏng.’ Trong xe tải phát điện của cứ điểm tên
lửa, Kiên phát hiện một đồng chí ngồi sụp xuống bất động tại dàn điều
khiển. ‘Tôi gọi anh nhưng anh không trả lời. Thân thể anh mềm nhũn
và một vài giọt máu xuất hiện trên ngực. Một mảnh kim loại nhỏ của
Shrike (tên lửa săn ra đa) đã xuyên thấu trái tim anh.’ Đó là lần đầu tiên
trong 6 năm phục vụ mà Kiên nhìn thấy người chết, và anh bị sốc – cũng
tràn ngập niềm hối tiếc, bởi vì anh cảm thấy đội anh đã sai sót.
Mục tiêu thực sự trong cuộc tấn công Giáng sinh không phải là vật chất
mà là tinh thần: những người lên kế hoạch nhắm gây ra tối đa khổ sở cho
dân chúng bằng cách đánh phá ban đêm – và đã thành công. Khuya
ngày 18 tháng 12, Kiên ngã xuống chiếu kiệt sức ‘hy vọng được nghỉ
ngơi một ít phút để hồi sức’ sau khi giao đấu với hai đợt tấn công của B-
52. Anh không sao chợp mắt được khi một hồi còi báo động mới vang
lên – lần này là các F-111. Khi chúng đi rồi, một lần nữa Kiên nằm
xuống mệt nhừ, chỉ để nghe ngay trước 04:00 vào ngày 19 một đợt tấn
công thứ ba của B-52, các băng tần làm nghẽn sóng của họ khiến màn
hình Miền Bắc mất tác dụng. Lúc bình minh rét mướt đến, bộ đội tên
lửa kiệt sức ăn điểm tâm với vẻ chán chường: trung đoàn của họ đã giao

tranh 6 đợt , và không bắn rơi chiếc máy bay nào, mặc dù các đơn vị
khác tuyên bố bắn hạ 3 chiếc B-52. Vào sáng sớm ngày 21 tháng 12
‘chúng tôi đã chịu đựng 4 hoặc 5 báo động tác chiến và mọi người đều
kiệt sức vì thiếu ngủ và căng thẳng thần kinh. Khi nghe tiếng kẻng mọi
người tung chăn, xỏ giày và chạy đến trạm tác chiến bất chấp cả giá rét’:
một ít ngày sau, các bom chùm do các F-4 thả xuống quét sạch dàn tên
lửa của anh.
Trong ‘Khách sạn Hilton Hà Nội’, tiếng bom nổ gây không khí phấn
khởi cho các tù binh Mỹ. Họ nhảy cỡn và vỗ tay, khiến một anh lính gác
bối rối phản đối Đại tá Robinson Risner: ‘Nhưng các phi cơ này đang
tính giết các ông mà!’ Người tù binh bướng bỉnh đáp lại:
‘Không, không phải vậy, họ tính giết các ông đó!’ Về phần dân chúng,
Nguyễn Thanh Bình sống cách Hà Nội nhiều dặm về hướng đông,
nhưng trong chiến dịch Linebacker cô thường đứng với nhiều người
khác, chăm chăm nhìn về phía chân trời xa xăm, dường như đối với họ
giống ‘một núi lửa phun trào’ Khi hết đợt này đến đợt khác trút bom
xuống. Người thiếu nữ trẻ nói: ‘Các B-52 dường như che kín bầu trời,
che khuất vầng trăng,’ một mô tả chắc chắn là văn hoa nhưng không
thực, vì các phi cơ bay quá cao để có thể thấy được trong màn đêm đối
với ai nhìn lên bầu trời, hoặc núp tại các hầm trú ẩn tối tăm. Điều chắc
chắn là việc ném bom gây sợ hãi và cay đắng cho hàng triệu thần dân
của Lê Duẩn.
Trên cao nhiều dặm, các sĩ quan tác chiến điện tử và phi hành viên ra đa
trong các ‘lỗ đen’ của họ không thấy thành phố và làng mạc, nhà tù và
dàn SAM. Họ cư trú trong một vũ trụ kỳ lạ, chỉ nhìn qua các kinh ngắm
ra đa. Phi hành viên Phil Blaufuss nói hỏa lực địch là ‘tai họa bạn phải
phớt lờ … khi bạn kẹt trong bụng của một máy bay không cửa sổ để
nhìn toàn bộ địa ngục đang mở ra, không có súng để bắn, không có trang
bị Biện pháp Đối phó Điện tử để làm nghẽn sóng địch, và không có cột
điều khiển hoặc van tiết lưu để thao tác ‘. Nhưng đối với sĩ quan tác
chiến điện tử đó là một trải nghiệm u ám khi nhìn thấy nữ thần báo thù
SAM-2 tiềm năng tiến gần đến máy bay anh như một chấm sáng trên
ống nhắm. Một chấm như thế, Thiếu tá Allen Johnson, chỉ có thời gian
hét lên ‘Chúng đã bắn chúng ta!’ trước khi một tiếng nổ long trời làm tê
liệt máy bay và giết chết ông.

Trở lại mặt đất sau hoạt động đầu tiên của chiến dịch, gần như mọi phi
cơ đều cho là mình đã đánh trúng mục tiêu: ba B-52 đã mất, hai bị hư
hại nặng. Các phi hành đoàn cảm thấy mất tinh thần khi họ phát hiện ra
là nhiều người trong số họ được yêu cầu hoạt động lần nữa vào đêm
sau, và thêm một lần nữa họ phải buộc đi theo một lộ trình đơn lẻ, theo
chỉ thị của các chỉ huy tại bộ Tư lệnh Không quân Chiến lược ở Omaha.
Thiếu tướng Pete Sianis, tham mưu phó hành quân, đã nghe các đề xuất
của sĩ quan mình nên tấn công Hà Nội và Hải Phòng bằng cách sử dụng
nhiều lộ trình tiếp cận. Rồi ông quyết định, ‘Đó không phải cách chúng
ta tiến hành!’ Ông dời các băng dán màu khỏi bản đồ và ra lệnh: ‘Một
đường vô và một đường ra!’ Chiến thuật của ông tỏ ra là đúng đắn vào
đêm 19 tháng 12, khi dù có đến 2 trong số 93 B-52 tấn công bị hư hại
nhưng không chiếc nào bị bắn rơi.
Khi các oanh tạc cơ tiến gần Hà Nội vào đêm sau, ngày 20, phần đông
dàn SAM phòng thủ thành phố đều được lệnh giảm loạt tên lửa từ 3 đến
2, bởi vì số lượng tên lửa đang cạn dần và các cuộc đánh phá của Mỹ
đang cản trở việc giao hàng; các SAM giờ đây cũng dành độc quyền cho

các B-52. .

Dù có hạn chế này, khi cuộc tấn công diễn ra bộ đội tên lửa bỗng thấy
nhiệm vụ của mình dễ dàng hơn bởi tính nghiêm ngặt của việc lên kế
hoạch bay của Bộ Tư lệnh Không quân Chiến lược. Trong ngày đột kích
20 tháng 12, 6 chiếc B-52 bị bắn rơi trong số 99 chiếc đánh bom. Theo
lời một sĩ quan Miền Bắc, ‘Không lực Mỹ đã hoàn toàn phơi bày kiểu
dạng hoạt động của họ … và đường bay từ phía tây- đông bắc… lĩnh
vực tiếp cận của địch, giờ giấc và đội hình bay vẫn không thay đổi.’
John Filmore Graham trong số các phi công phẫn nộ, nói: ‘Chúng tôi
giống như các con vịt trong lễ hội hoá trang.’ Ngày 26 tháng 12, Bộ Tư
lệnh Không quân Chiến lược đồng ý muộn màng và miễn cưỡng thay
đổi chiến thuật: 120 B-52 tiến đến Hà Nội và Hải Phòng trên 10 trục
khác nhau, và tất cả đều đánh bom trong thời hạn 15 phút. Hai phi cơ
mất.
Trung tá Bill Conlee, một sĩ quan tác chiến điện tử bay trên một chiếc
đêm đó, mô tả chuyến đi đến cảnh tù tội của mình sau khi 10 SAM nổ
chung quanh tổ của ông trong những giây cuối cùng trước khi nó đến
được điểm thả bom. Máy bay ông bị trúng hai tên lửa, làm bốc lửa ở

cánh trái và làm bị thương 5 thành viên phi hành. Áp lực trong khoang
máy bay sụp đổ và điện bị mất. Đèn báo động bật sáng, phi hành đoàn
phóng ra. Khi Conlee nhảy dù xuống, ông qua một trải nghiệm thất kính
khi thấy 2 tên lửa SAM vút qua. Ông chảy máu rất nhiều do nhiều vết
cắt khi tiếp đất, tại đó một tràng đạn súng cá nhân nhắm thẳng vào ông.
Một đám đông người Việt khép chặt vòng vây, bắt tội nhân Mỹ và lột
quần áo ông chỉ còn lại quần lót. Dân chúng địa phương đập ông túi bụi
bằng công cụ làm nông và gậy khi ông bị giải đi về phía đường cái,
khiến vài xương sườn bị gãy và đầu gối phải bị thương tích. Ông bị trói
thúc ké nằm xấp xuống sàn xe tải trong chuyến đi dài 2 giờ đến Hà Nội,
rồi bị ném xuống mặt đường, làm trật khớp vai. Hai người lính kéo ông
vào một sân rộng hoá ra là Khách sạn Hilton, nơi ông bị giam một mình

trong phòng.

Trở lại căn cứ trong thời gian tạm nghỉ giữa các sứ mạng, nỗi bực dọc,
mệt rã người và căng thẳng được khuây khỏa bằng những trò quen
thuộc. Vào ngày thứ hai của Linebacker, Robert Clark nói, khi một
người bước vào câu lạc bộ sĩ quan Andersen ‘bạn có thể ngửi thấy mùi
sợ hãi. Các gã lẩn quẩn bên nhau và tìm cách thể hiện sự kiện mình còn
sống.’ Uống cho say và đôi khi đấm đá; cây Giáng sinh và đồ trang trí bị
ném vào hồ bơi; pháo sáng được bắn trên sân golf; một phao cứu sinh
được bơm căng để cho phát nổ trên sàn khiêu vũ. Jon Bisher nói: ‘Nếu
bạn là tù nhân trong Bảng Tử Thần, bạn tự do được làm điều gì mình
muốn … Vấn đề là họ không thể làm gì với bạn, họ không muốn gửi
bạn về nhà.’ Mark Clodfelter đã viết rằng một nhân tố chủ chốt gây tình
trạng tinh thần sụt giảm là ‘giới lãnh đạo quân sự và chính trị Mỹ thất
bại trong việc xác định chính xác những gì phi hành đoàn cần làm để đạt
được thành công … họ không thể nhìn thấy cái cứu cánh đối với các sứ
mạng họ bay’.
Báo cáo thương vong không phải lúc nào cũng được xử lý tế nhị. Katie
Turner đến hồ bơi câu lạc bộ sĩ quan ở Andersen khi cô được báo tin
chồng cô sẽ không trở về nhà. Một số bà vợ của phi hành đoàn được báo
là ‘Mất tích’ hàng năm trời mà không nhận được tin gì thêm, và các chỉ
huy ắt hẳn đã sai khi nuôi hy vọng cho người thân về sự sống sót của
họ.’ Các góa phụ lởn vởn ở các trạm hàng không hải quân tại California
cũng thấy mình ở trong một tình trạng chờ đợi mỏi mòn thống khổ kéo

dài. Có một nỗi chua chát ở cả Không lực lẫn Hải quân cho rằng chính
quyền Nixon không có lập trường cứng rắn với Hà Nội khi yêu cầu họ
trả lời về người mất tích, mặc dù chắc chắn nhất là cả người cộng sản
cũng không xác định được nhân thân của một số thi thể cháy thành than
hoặc thậm chí bốc hơi.
Khi Linebacker II tiếp tục, các chỉ huy thấy cần phải khước từ giai đoạn
nghỉ dưỡng của phi hành đoàn. Hơn một tá người cáo bệnh sau hai sứ
mạng đầu tiên, hơn là chịu đi một chuyến nữa. Về cuối chiến dịch con
số này tăng lên đến 40 – khoảng một phần mười số thành viên bay trong
mỗi chuyến. Hai người đồng đội và bạn của Paul Munninghoff ‘đình
công, và tôi nghe đồn còn có vài người khác’. Phi công Ted Hanchett
‘cũng có thể làm chứng cho các vụ đào ngũ của phi hành đoàn …
Chúng tôi tiếp tục đặt sinh mang mình vào chỗ hiểm nghèo trong khi
chúng tôi có thể kết thúc việc này một cách chóng vánh nếu các chỉ huy
chúng tôi muốn vậy.’
Các chỉ huy binh chủng xử lý bọn làm reo nhẹ nhàng: họ không bị kỷ
luật. Cả phi công lẫn phe phòng thủ đều càng ngày càng thấm mệt và
căng thẳng. Một số phi công B-52 bất chấp lệnh phải tiếp cận mục tiêu
bay thẳng và bình, thay vì bẻ lái để lẩn tránh tên lửa. Tổng cộng, trong
11 đêm đó khoảng 1,000 SAM được phóng đi, đôi khi từng loạt tỏ ra
hiệu quả đáng kể.

Trước khi Washington ra lệnh ngừng chiến dịch Linebacker II vào ngày
29 tháng 12, 15 B-52 bị mất, và các phi hành đoàn không có cách nào
biết được liệu họ có còn bị yêu cầu đánh bom nữa hay không. Vào ngày
3 tháng giêng 1973, Tư lệnh Không quân Chiến lược Tướng John
Meyer, một cựu phi công chiến đấu Thế Chiến II lừng lẫy, làm một
chuyến thăm đến Andersen nhằm nâng cao sĩ khí, gặt hái một kết quả
thảm hại. Meyer trước đây đã đến thăm Guam, tháp tùng có gia đình
mình, đã gây xúc phạm cho những binh sĩ đau khổ vì phải xa cách người
thân. Giờ đây, ông lại gây khó chịu khi gắn huy chương Thập tự Không
lực lên ngực Đại tá McCarthy, tư lệnh binh chủng, người chỉ bay có hai
sứ mạng Linebacker II, với tư cách một hành khách. Trong buổi hỏi đáp
sau đó với phi hành đoàn, một phi công phàn nàn về mức độ căng thẳng
mà các hoạt động cường độ cao tác động lên các mối quan hệ. Câu hỏi

khiến vị tướng cười như nắc nẻ, ‘Một số cuộc hôn nhân không có ý
muốn kéo dài.’ Rồi Meyer diễn thuyết cho phi hành đoàn về nhu cầu kỷ
luật tổ bay trên các chuyến đánh bom, nói thêm về lời răn đe đem ra tòa
án binh kẻ nào đi lạc đường. Những lời này bỗng gây ra các cảnh tượng
đáng kinh ngạc, chưa từng có tiền lệ giữa phi hành đoàn và một vị
tướng không lực: một số người bước ra khỏi phòng với vẻ bất
mãn, người khác la ó, huýt sáo; ghế, lon Coca, cẩm nang hướng dẫn bị
ném lên sân khấu, một số trúng Meyer. Một cụm sĩ quan cao cấp che
chắn và đẩy vị khách ra ngoài. Khi ông lên xe đi, các phi công phẫn nộ
ném vói theo đá sỏi. Đây quả là một trong các chương hồi bất thường
nhất trong lịch sử của Bộ Tư lệnh Không quân Chiến lược.
Một số thành viên phi hành bối rối trước hành vi tác tệ này, nhưng
nhiều người tin Meyer đã tự chuốc lấy sự bẽ mặt cho mình. Theo lời
của James Rash, ‘Phần đông thành viên phí hành đã trải qua nhiều giờ
trên không trung trong một lãnh địa thù địch … Và một số không ít
chúng tôi đang sống trong tình huynh đệ bạn bè một ít ngày trước và giờ
một số đã ra đi.’
Về phần phản ứng của thế giới đối với việc ném bom Giáng sinh, cả
trong nước Mỹ lẫn quốc tế, đều là sự phản đối rộng khắp. Hà Nội xử lý
các hoạt động tuyên truyền của họ với sự xuất sắc lạnh lùng, phát hình
những đoạn phim chiếu các trẻ em thiệt mạng và kêu khóc, bệnh viện bị
tàn phá. Các mục tiêu của Không lực Mỹ phần lớn là trung tâm hỏa xa
và nhà máy điện: năng lượng giảm từ 115,000 kilowatt xuống còn
29,000, và một phần tư trữ lượng dầu khí đất nước bị phá hủy. Nhưng
chủ tịch Hà Nội tuyên bố các trận oanh kích đã giết hại 1,318 dân
thường, và thêm 305 người thiệt mạng ở Hải Phòng. Tờ Washington
Post tố cáo các cuộc tấn công là ‘hành động chiến tranh dã man và điên
cuồng nhất từng biết của một dân tộc có chủ quyền đối với một dân
tộc có chủ quyền khác.’ Tom Wicker của New York Times có bài bình
luận mang tựa đề ‘Nỗi Hổ Thẹn trên Mặt Đất’. Tại London tờ Times nói
vụ đánh bom ‘không phải là hành vi của một con người.khao khát hoà
bình’, trong khi tờ Daily Mirror đăng tít ‘Cơn Đại Hồng Thủy Tử Thần
Mùa Giáng sinh của Nixon’. Hamburg’s Die Zeit viết: ‘Thậm chí các
đồng minh cũng phải gọi việc này là một tội ác chống nhân loại.’
Thượng nghị sĩ Edward Kennedy nói rằng các cuộc tấn công ‘phải gây

căm phẫn cho lương tâm của mọi người Mỹ’. Ở Canberra chính quyền
của Đảng Lao động Úc vừa mới thành lập của Gough Whitlam tuyên bố
‘nghỉ chơi ‘ với Mỹ và lên án Linebacker II. Một bộ trưởng, Tom Uren,
phê phán Nixon và Kissinger là có tâm lý côn đồ’. Một người khác gọi
chiến dịch là ‘hành động quái đản nhất trong lịch sử nhân loại, chính
sách của bọn điên cuồng’.
Loại ngôn ngữ quá đà đó phản ánh sự pha trộn của nhiệt tình hoang dã
phát sinh hơn một thập niên với một làn sóng ghê tởm đối với Nixon,
gần như tăng cao mỗi ngày dưới ảnh hưởng của vụ bê bối Watergate bị
bại lộ. Nhiều người bảo thủ Mỹ vẫn tiếp tục giữ lòng tin đối với tổng
thống và chính sách của ông: họ chấp nhận lời tuyên bố của ông cho
rằng việc đánh bom là cần thiết để gây sức ép buộc Hà Nội phải trao trả
tù binh. Tuy nhiên, trên khắp thế giới, Linebacker II củng cố hình ảnh
của người Miền Bắc như là những nạn nhân bất hạnh của bạo lực ngông
cuồng Hoa Kỳ. Ngôn ngữ được sử dụng để tố cáo vụ đánh bom là có
tính khoa trương, nhưng gần như nửa thế kỷ sau đó chứng cứ cho thấy
vụ Linebacker II không được biện minh về phương diện chính trị lẫn
quân sự, trừ ra để phục vụ cho các mục đích đảng phái của tổng thống
Mỹ.
Các báo chí Hà Nội tuyên bố rằng, từ khi chiến dịch bắt đầu, lực lượng
của họ đã bắn hạ 3,500 phi cơ, mặc dù trong thực tế từ năm 1964 Hoa
Kỳ đã mất trên đất Bắc 944 máy bay và 10 trực thăng. Tướng William
Momyer của Không lực 7 rất lâu sau đó viết cho một người bạn: ‘Hối
tiếc của tôi là chúng ta không đánh thắng cuộc chiến. Chúng ta có lực
lượng, kỹ năng và trí thông minh, nhưng những chỉ huy dân sự của
chúng ta không cho phép chúng ta toàn quyền hành động. Chắc chắn
không lực của chúng ta đã sống đúng theo mọi kỳ vọng … Nếu có một
bài học rút ra từ cuộc chiến này, thì đó phải là một sự tái khẳng định tiên
đề – đừng lao vào một cuộc chiến trừ khi bạn sẵn sàng làm mọi thứ cần
thiết để đạt chiến thắng.’ Trong khung cảnh hậu Thế Chiến II, lời nhận
xét của ông cho thấy sự thiếu hiểu biết về chiến lược. Không có lý do để
cho rằng sức mạnh không quân có thể đã thay đổi cục diện của chiến
tranh Việt Nam trừ khi Momyer và binh tướng của mình được phép sử
dụng vũ khí hạt nhân – như có một số muốn điều đó.

Đánh bom Giáng sinh chẳng thay đổi một chút gì khung cảnh ngoại giao
so với trước tháng 10. Một thỏa hiệp sẽ đến bất cứ khi nào có thể thuyết
phục chế độ Sài Gòn nuốt trôi được nó. Hà Nội đã tin tưởng có thể đạt
được tại bàn hội nghị hầu hết những gì họ muốn, với phần còn lại tiếp
theo là món nợ phải trả cuối cùng.

CHƯƠNG 26 : MỘT NỤ HÔN VĨNH BIỆT

1 Tù Nhân
Ít người bận tâm về kết quả của hòa đàm Paris nhiều hơn số lượng gần
600 tù binh Mỹ ở Miền Bắc. Phần đông là phi hành đoàn, bị giam giữ
trong hoặc quanh Hà Nội. Tuy nhiên, khoảng 20 hoặc 30 bị bắt ở Miền
Nam – con số thay đổi giữa những năm 1965 và 1973 – được phân bổ
tại các trại trong rừng quanh biên giới Cao Miên. Đứng đầu trong số này
là sĩ quan ngoại vụ Doug Ramsey, nằm trong tay VC từ tháng giêng
1966. Trong thời kỳ đầu giam cầm ông ở trong một lồng tre ngắn hơn
thân hình suy dinh dưỡng của mình, bị nhiễm trùng vì kiến cắn, bò cạp
chích, mối mọt và muỗi mòng. Ông được phép cạo râu, lưỡi dao cùn nên
khá đau rát, chỉ mỗi tháng một lần. Ông nhận được thư 2 lần trong 7
năm, và có lần 7 tuần liền không được dịp tắm. Có thời gian ông ở
chung buồng với một con rắn cạp nong khoang vàng đen dài gần 2 mét
mà ông bắt gặp trên giường. Cuối cùng nó bò ra ngoài, bị lính gác phát
hiện và giết chết.
Thoạt đầu, Ramsey ra sức thuyết phục những người bắt ông rằng mình
là một viên chức dân sự không quan trọng. Họ hỏi, không phải là không
có lý: thế thì tại sao ông có khẩu cac-bin AR-15? Còn các quả lựu đạn
trong thùng xe của ông thì sao? Về phần việc ông cho mình là không
quan trọng, người cộng sản phát hiện rằng tờ Washington Post đã mô tả
ông là ‘người tù binh quan trọng nhất bị bắt từ trước đến nay ‘, cấp bậc
trung tá. Hảng thông tấn AP cho rằng ông là ‘một trong các sĩ quan hiểu
biết nhất trong hàng ngũ dân sự của sứ mạng Hoa Kỳ ‘. Ông là người có
trình độ văn hoá cao, có quan điểm chiến tranh chịu ảnh hưởng của
Thucydides và Tôn Tử. Cha ông là một viên chức nhà nước hưu trí, một
người thuộc thời kỳ Chính sách Kinh tế Mới (New Deal) đã kinh qua

những khó khăn của thời Suy Thoái, và Doug bị lây nhiễm quan điểm
yếm thế của cha mẹ đối với những viên chức được bổ nhiệm vì chính trị
trong ngành công vụ, so sánh họ một cách thiếu ưu ái với những người
có nghiệp vụ liêm khiết. Theo học Trường Harvard Graduate, nơi ‘Mac’
Bundy là một trong số các thầy ông, ông trải hai năm trong ngành tình
báo Không lực Hoa Kỳ ở Nhật và Okinawa. Sau một thời gian làm việc
trong tổ đặc trách Lebanon của Bộ Ngoại giao, ông từ chối lời mời
chuyển về CIA, vì ông luôn nghĩ không hay về James Bond. Nhưng phe
bắt giữ ông mặc nhiên nhìn nhận ông là sĩ quan tình báo.
Ramsey và các tù binh khác xen kẻ bị giam giữ cùng với ông được miễn
tra tấn trong khi các tù binh ở Hà Nội vẫn bị hành hạ mãi đến năm 1969,
nhưng chịu cảnh thiếu thốn tồi tệ hơn. Họ không hề biết khi nào mình sẽ
bị hành quyết, như số phận của một số người Mỹ khác đã rơi vào tay
VC. Ramsey nghe nói các tù binh Mỹ như Trung sĩ Ken Roraback và
Đại uý Humbert Versace đã bị hành quyết không lâu trước khi ông bị
bắt. Họ bị dẫn đến bàn như thể đi dự tiệc, rồi bị bắn ngay ót từ phía sau.
Ông xin, nếu phải chịu cùng cảnh ngộ, hãy cho ông 15 phút để viết thư
cho cha mẹ. Trong hai năm đầu những người giam giữ ông luôn duy trì
một tình trạng khủng bố có tính toán, khiến ông luôn mất ngủ và gặp ác
mộng bị hành hình: ‘Tôi không biết làm sao mình đã giữ vững được về
mặt tâm lý.’
Ông bắt buộc phải xin phép lính gác mới được ngồi dậy, nằm
xuống, đánh răng: lệnh được nhấn mạnh bằng một hồi còi. VC bắn
người Mỹ nào nhất định không chịu hợp tác. Nhờ biết nói tiếng Việt,
Ramsey thường tạo dịp trao đổi, bảo với những người bắt giữ – một
cách chân thành – rằng anh tán thành chủ nghĩa xã hội làng quê cho xứ
sở mình. Khi ông cuối cùng ký tên vào một phát biểu tuyên truyền cho
tác dụng này, có nhiều tranh luận trong số các cán bộ về việc liệu lời lẽ
trong phát biểu đó có đủ khiêm tốn hay không. Ramsey thường bị hỏi
gặng nhiều lần về – chẳng hạn – có bao nhiêu binh lính Mỹ có thể tung
vào cuộc xâm lăng Miền Bắc. Ông dự đoán 400,000 – 700,000, khiến
một cán bộ hài lòng nói, ‘Giờ thì cho ông một con đường sống.’ Nhưng
tình trạng gần như chết đói cứ luôn là chuẩn mực. Một số tù binh chết vì
họ không chịu nổi chế độ ăn – một tình trạng khó ăn chết người đã được

biết đối với các tù binh Mỹ ở Bắc Triều Tiên. Thiếu tá TQLC Don Cook,
ngược lại, tự ép mình phải ăn thức ăn mình đã nôn ra.
Ramsey mắc đủ thứ bệnh – sán móc, sưng phổi, xco-buýt (thiếu vitamin
C), viêm gan, tê phù. Bệnh sốt rét rừng hành hạ cả hai bên đối thủ không
phân biệt, và trại phó trong số những người chết vì nó; còn bản thân ông
trải qua 123 cơn sốt rét. Tất nhiên, cũng có tiêu chảy và các biến thể
amip. Chỉ cần một vết thương nhẹ nhất cũng dễ bị nhiễm trùng. Ramsey
sau này viết về tình cảnh của chính mình và của bạn bè trong tù: ‘Mỗi
chúng tôi đã rút lại chỉ còn da bọc xương, một bản sao đáng buồn quá
ngỡ ngàng của con người bằng xương bằng thịt trước đây của mình …
lúc này lúc nọ quá yếu đến nỗi phải được bạn tù dìu đi đến cầu tiêu –
thường khi đã quá muộn. Cho đến khi đã trở nên quen với điều kiện
cuộc sống trại tù, ít có chuyện gì có thể sỉ nhục hơn nữa đối với những
con người đã trưởng thành – nhất là trong một nhóm người chỉ toàn là
những TQLC dạn dày và các sĩ quan lực lượng đặc nhiệm gan lì. Tuy
nhiên, tệ hơn là nỗi nhục khi tỉnh dậy thấy mình nằm trên bãi phân của
chính mình hàng giờ liền hoặc thậm chí nhiều ngày vì bạn bị cùm và
đang bị giam riêng.’ Một tù binh có lần đi cầu 84 lần chỉ trong một ngày
đơn lẻ.
Ramsey mô tả trận lên cơn sốt rét, đi kèm với co rút, rét run dữ dội và
mất kiểm soát đường ruột. Dưới cơn mưa bão, ‘tôi ráng chầm chậm lết
qua bùn đi hết chiều dài dây xích, đoạn đào một lỗ nhỏ, phọt ra luồng
tiêu chảy, rồi lảo đảo trở lại – mọi thứ mà không bất tỉnh, nhờ bám vào
một số thân cây hoặc cột.’ Rồi ông bắt hụt chiếc võng và té ngã xuống
lớp nước bùn, ngồi đó đến 10 phút sau mới đứng lên nổi, ‘yếu đến nỗi
không chửi thề nổi’. Suốt bốn ngày sốt cao ông không ăn uống gì được:
giai đoạn ác tính dây dưa đến nửa tháng. Một bạn tù, Binh nhì Charlie
Crafts ở Maine, mô tả cảm giác: ‘Bạn cảm thấy như có ai đó đã ấn vòi
của máy hút bụi vào hậu môn bạn rồi hút ra tất cả nội tạng của bạn.’ Tại
một thời điểm trong một cơn sốt, Ramsey lên cơn co giật, khiến các bạn
tù của ông ngỡ ông đã tận số rồi.
Họ mặc cùng một bộ pyjama đen như các lính gác, và trải nhiều thời
gian dài bị cột vào thân cây, ‘một dây xích nặng cọ sát mắt cá và một
ống khóa lớn nện mạnh vào xương mắt cá bạn.’ Lao động tay chân trở
nên nặng nhọc đối với những con người yếu nhớt này, thành ra mỗi lần

được lệnh bửa củi là Ramsey xây xẩm. Vào mùa đông 1969 các tù bình
bị buộc phải dựng trại mới cho mình, một công việc phải mất đến 5
tuần. Căng thẳng dâng cao khi các tù binh tranh luận ai làm và ai không
làm phần công việc của mình. Vì họ không thể to tiếng với các VC, nên
đổi lại họ xài xể nhau vì tiếng ngáy hoặc xì hơi. Nhưng Ramsey không
để bụng lâu đối với các bạn tù dù cho một số it họ xử sự tồi tệ, trong đó
có hai chủ thầu dân sự. ‘Phần đông các tù binh chính mình đã chịu gian
khổ cùng cực nên có khuynh hướng không phán xét nhỏ mọn với người
khác, cho dù họ đã rạn nứt trong chốn lao tù.’
Tại một thời điểm Trung ương Cục Miền Nam chỉ thị nên thả Charlie
Crafts. Các lính gác họp nhau chống đối, đề nghị nên thả Don Cook thay
thế, bởi vì anh đã ở tù 2 năm. Tuy nhiên, Cook năn nỉ thành công nên
cho Crafts là người cực kì may mắn thay mình, vì toàn bộ cơ thể anh đã
bệ rạc. Sau một vài năm, một cán bộ cao cấp đến thăm trại bảo với
Ramsey rằng trên đã quyết định ông được bảo toàn mạng sống, miễn là
ông không tìm cách trốn thoát. Khi Cook bảo với quan chức Việt ấn
tượng này chính mình là một tín đồ Công giáo, người cán bộ nhanh
nhẩu đáp lại: ‘Pax hominibus bonae voluntatis’ – ‘Bình an cho người
thiện tâm.’ Khi Ramsey và Cook được phép nói chuyện, họ tranh luận
say sưa về Cơ đốc giáo.
Trong quá trình 7 năm, Ramsey chỉ được cho phép đọc 5 cuốn sách –
Tom Sawyer, Ba Người Đàn Ông Trên Một Con Thuyền, David
Copperfield và hai tác phẩm của tác giả cộng sản Úc Wilfred Burchett.
Kinh Thánh bị công khai ngăn cấm, khiến một số tù binh lấy làm khổ sở.
Có lần Ramsey và Cook nghe lóm được một chương trình hoà nhạc
Bach trên đài BBC: ‘Cả hai chúng tôi bật khóc như một đứa trẻ.’ Trong
năm bị giam cầm thứ 5 Ramsey kiếm được một bộ bài, và tha hồ chơi
bài solitaire. Về phần những ước mơ của mình, ‘Tôi thỉnh thoảng
mường tượng mình đang mặc bộ vét bằng vải sakin của nhà Brooks
Brothers có giá $600 và mang một đôi giày Florsheim Imperials, đứng
chụp ảnh bên cạnh một người mẫu hấp dẫn làm dáng trên mui một chiếc
Mercedes 600 bên ngoài khách sạn resort lớn nhất ở Las Vegas Strip –
rồi gửi một bức ảnh màu cỡ 16 x 20 in-xơ có đóng khung và ghi chú
‘ước gì anh có ở đây’ cho một lính gác VC mà các sở thích của y tôi tin
là cũng hướng đến các điều ấy. Nhưng những hình ảnh này dường như

không quan trọng bằng mặt trời của Van Gogh rực rỡ trên cánh đồng của
Van Gogh, hoặc một bồn tắm nước ấm, Coca Cola, đối thoại và nhạc cổ
điển cao cấp cường độ 90 decibel.
Ramsey suy tư nhiều về triết lý và cơ học lượng tử: ‘Vì không thể kiểm
soát được hoàn cảnh trong góc xó xỉnh này của tôi, dường như là điều
hợp lý để suy ngẫm về vũ trụ. Đó là trò thủ dâm trí tuệ.’ Cũng đôi khi
có được ít khoảnh khắc tức cười trong những tháng năm khổ ải dằng dặc
đó: tiếng cười bộc phát thường là vào những việc bất ngờ ngốc nghếch,
chẳng hạn cảnh tượng một chú gà rơi xuống hầm cầu, vỗ cánh bay ra, rồi
vẫy lông cánh bắn chất dơ vào người gã cán bộ không ai ưa.
Có lần một tù binh vắng mặt vì bịnh nặng, những người khác được cho
ăn thịt khỉ. Một tù binh gắp lên một bàn chân khỉ trong đĩa mình và xem
xét nó rất điệu: y nói y muốn biết chắc là mình không ăn phải người bạn
tù bị ốm nặng. Thỉnh thoảng bệnh tật giết chết một tù binh, luôn gây cho
bạn tù một cú sốc tinh thần lớn. Cook, mà Ramsey mô tả như là ‘người
tù binh ấn tượng nhất tôi từng gặp – tôi cần có anh để nâng đỡ tôi và cổ
vũ tôi bằng cách làm gương’ – chết vì sốt rét rừng vào năm 1967.
Ramsey mô tả bệnh hư thận là nguyên nhân Thiếu tá cố vấn John
Schumann qua đời, mặc dù người quân nhân còn chính thức được ghi là
mất tích.
May cho tinh thần của Ramsey khi chỉ rất lâu sau này ông biết được lẽ ra
mình có thể được ra tù 18 tháng trước thời hạn thử thách của ông, nếu
Washington đồng ý. Vào tháng 12 1970 Nguyễn Tài trở thành một trong
số các cán bộ cao cấp nhất bị lọt vào tay Sài Gòn, trong 6 năm trời y chỉ
đạo tổ gián điệp và hoạt động khủng bố tại thủ đô Miền Nam. Vào
tháng 10 1971 CQCMLT đề nghị trao đổi: Tài và một cán bộ cao cấp
khác đổi lấy Doug Ramsey. Không quan chức nào của Thiệu hoặc CIA
đồng thuận cách giải quyết đó. Đặc biệt là Tài, họ nói, là nhân vật quá
quan trọng: y phải ở lại khám cho đến khi Sài Gòn thất thủ. Còn số phận
của Ramsey thì phải đợi kết quả hòa đàm Paris.

2 ‘Hòa Bình’
Đầu năm 1973, khi một tàu sân bay lớp Essex rời San Francisco trong
chuyến triển khai cuối cùng tại Vịnh Bắc Việt, phi hành đoàn và thủy
thủ nhìn chăm chăm với vẻ ngạc nhiên u ám dòng xe cộ tắc nghẽn ở hai

bên đầu cầu Golden Gate (Cổng Vàng) hoang vắng. Cây cầu đã bị cảnh
sát phong tỏa, đề phòng những người phản chiến bỏ đá hoặc thậm chí
thuốc nổ xuống con tàu đi qua bên dưới. Nhưng giờ đây, cuối cùng,
người Mỹ đang tiến gần điểm khởi hành, cho dù nhân dân bất hạnh Việt
Nam bị khước từ lối đi đến cùng cánh cổng đó. Vào năm 2013, Henry
Kissinger liệt kê các thay đổi trong dự thảo hiệp định Paris tháng 10
1972 đã đạt được, ông nói, do kết quả của vụ dội bom Giáng sinh: quyền
vô giới hạn cho người Mỹ tiếp tục cung cấp quân nhu và trang thiết bị
cho Miền Nam; cộng quân rút lui khỏi Lào và Cao Miên; củng cố bộ
máy kiểm soát nội bộ (‘Tất cả các điều này là nhảm nhí, nói thật đó,’
Kissenger đã nói riêng với Nixon vào ngày 12 tháng 10 1972, ‘ …
nhưng sẽ nghe khoái lỗ tại đối với những kẻ yếu lòng, đầu óc non nớt’);
những sửa đổi kỹ thuật nhỏ nhoi.
Điểm đầu tiên đã được giải quyết từ bốn tháng trước. Các quy định khác
hoặc là tầm thường, hoặc chắc chắn không bao giờ được người cộng sản
tuân thủ. Kissinger cũng nhấn mạnh rằng, được cho là kết quả của vụ dội
bom, vào tháng giêng 1973 Lê Đức Thọ, người đối thoại với ông, có
động thái nhanh chóng đồng ý điều được biết đối với lịch sử là Hiệp
định Paris. Vậy mà tháng 10 vừa qua, Miền Bắc đã rất tức tối khi người
Mỹ không chịu ký tên vào dự thảo mà trên mọi phương diện quan trọng
không khác gì thỏa thuận bây giờ. John Negroponte thuộc Bộ Ngoại
giao chua chát nói: ‘Chúng ta ném bom người Miền Bắc bắt họ chấp
nhận các nhượng bộ của chúng ta.’
Sự thay đổi lòng dạ có tính quyết định vào tháng giêng xảy ra không
phải ở Hà Nội, mà tại Sài Gòn. Dưới sức ép từ hai diều hâu nổi tiếng,
Thượng nghị sĩ Barry Goldwater và John Stennis, Tổng thống Thiệu
miễn cưỡng nhượng bộ. Vào ngày 23 tháng giêng một thỏa thuận được
thông báo từ Phòng Bầu Dục: Tổng thống Nixon bảo với nhân dân Mỹ
rằng tiếp theo một cuộc ngừng bắn toàn diện, tù binh của chúng ta sẽ hồi
hương trong vòng 60 ngày. Ông kêu gọi thực thi nghiêm chỉnh các điều
khoản của Hiệp định. ‘Hoa Kỳ, ‘ ông nói, ”sẽ tiếp tục công nhận chính
phủ Việt Nam Cộng Hòa như là một chính quyền hợp pháp duy nhất tại
Miền Nam. Chúng ta sẽ tiếp tục viện trợ Miền Nam trong khuôn khổ của
Hiệp định và chúng ta sẽ hậu thuẫn những nỗ lực của nhân dân Miền
Nam nhằm giải quyết các vấn đề của họ một cách hoà bình. ‘

Ông mơ hồ một cách có tính toán về hậu quả của các vụ vi phạm:
‘Chúng ta sẽ làm mọi việc mà hiệp định yêu cầu chúng ta và chúng ta hy
vọng các phe bên kia cũng làm theo những việc mà hiệp định yêu cầu
họ.’ Phần đông người Mỹ tin rằng sự cứng rắn của Nixon, phản ánh
trong chiến dịch Giáng sinh, đã tranh thủ được hoà bình vốn từ lâu đã
lẩn tránh các chính quyền nối tiếp nhau. Tỷ số tán thành cá nhân Nixon
tăng vọt đến 68 phần trăm. Vào ngày 27 tháng giêng, ngoại trưởng
William Rogers ký tên vào hiệp ước Paris: 27,000 binh sĩ và cố vấn Mỹ
cuối cùng bắt đầu hồi hương, một tiến trình hoàn tất vào ngày 29 tháng
3. 21,000 người Mỹ đã thiệt mạng kể từ khi bắt đầu nhiệm kỳ tổng thống
của Nixon, nhiệm kỳ được cho là được trang bị một kế hoạch cho hoà
bình. Các tù binh cộng sản được hồi hương xé quần áo mà chính quyền
Sài Gòn phân phát cho họ, ném xuống quân xa chở họ về phía bắc qua
Vùng PQS theo một cử chỉ biểu tượng giống với các tù binh Bắc Triều
hồi hương sau đình chiến 1953. Tại Hà Nội, có bắn pháo hoa tưng bừng
ăn mừng.
Kissinger bảo với chủ nhân mình rằng ông sợ đến khiếp là quân Miền
Bắc sẽ phát động một cuộc công kích chủ chốt để hoàn thành việc thống
nhất ngay mùa thu đó, dấy lên một vấn nạn đầy ác mộng cho hành pháp
là làm cách nào đáp ứng nếu điều đó xảy ra. Nixon nói với Haldeman
chiều tối hôm đó ngày 14 tháng 3: ‘Vâng, Henry hoàn toàn
đúng. Chúng ta phải làm mọi việc có thể để bảo đảm Hiệp định được
tuân thủ trong một thời gian, nhưng qua vài năm kể từ bây giờ, thì
không ai còn màng đến những gì xảy ra ở Việt Nam. ‘ Rồi tổng thống
bắt đầu bực dọc với các cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ, mà ít biết rằng
chính mình cũng sẽ bị trục xuất khỏi Nhà Trắng vì vụ bê bối Watergate
vào tháng 8 1974, trước khi những chuyện này xảy ra.
Theo điều khoản của Hiệp định, Miền Nam phóng thích 26,508 tù binh
cộng sản, trong khi Miền Bắc thả tự do cho 4,608 binh lính VNCH, 588
người Mỹ và 9 công dân của các quốc gia khác. Chuyến trở về của các
tù binh Mỹ, gần như tất cả đều bay từ Hà Nội, mở ra những cảnh tượng
đầy xúc động ở quê nhà, càng tăng dữ dội khi những đau thương của họ
trong chốn giam cầm được phơi bày. Nhiều cảnh đời đã thay đổi kể từ
lúc họ ra đi. Phi công chiến đấu Đại tá Fred Cherry, vắng mặt gần 8
năm, nhận ra vợ mình đã có con với một người đàn ông khác, và hai con

trai ông đã bỏ học trường trung học; bà Cherry đã phung phí hết tiền tiết
kiệm của gia đình. Đại uý Norm McDaniel rất sùng đạo chịu đựng một
cú sốc văn hoá: anh choáng váng trước cảnh tình dục trắng trợn trong
phim ảnh, việc công khai đồng tính luyến ái, quần áo tô mầu loè loẹt và
thắt lưng to bản của các ông, giá hàng hoá dường như cao ngất
ngưởng. ‘Tôi trở lại với khung thời gian 1966. Chúng tôi biết rất ít về
bạo loạn và các vụ ám sát. Tôi gặp trục trặc về ký ức. Tôi học cách chọn
lựa những gì cần tập trung.’
McDaniel tìm được tấm chăn thoải mái của sự thân thuộc bằng cách vẫn
ở lại nhiệm vụ hoạt động cho không lực. Hơn nữa, anh có đủ lòng độ
lượng để cảm thấy thương hại cho người Miền Bắc mà anh bỏ lại phía
sau: ‘Tôi trở về với tình trạng tốt đẹp hơn. Còn họ vẫn phải chịu đựng
nhiều hơn trong cùng một cảnh ngộ.’ Anh mới 35 tuổi, nhưng việc thiếu
vitamin đã khiến cấu trúc xương của anh xuống cấp như xương một đứa
trẻ sáu tuổi. Anh nói: ‘Nước Mỹ đối xử với những tù binh chúng tôi tốt
hơn đối với cựu binh bình thường. Nhiều người cần chấp nhận quá
khứ – và không làm được.’ Một số các tù binh trước đây phục hồi hoàn
toàn thể chất và tâm lý, và tiếp tục xây dựng những sự nghiệp thành đạt
bên ngoài lực lượng vũ trang, nổi bật trong số đó là Thượng nghị sĩ John
McCain. Những người khác không bao giờ trút bỏ được nỗi đau và
ký ức.
Trước khi Dough Ramsey và những người Mỹ khác bị bắt giữ ở Miền
Nam được phóng thích, chỉ huy trại lên lớp với họ. Sau khi được thả ra,
ông nói, một thời kỳ cay đắng ắt hẳn không sao tránh khỏi, và trong một
mức độ nào đó điều này là xứng đáng. Mặc dù trong cảnh chiến tranh
tình trạng thiếu thốn của các tù binh là không sao tránh khỏi, còn những
khiếm khuyết khác là do khuyết điểm trong hành vi của VC. Dù sao ông
cũng hy vọng rằng , là những con người chín chắn, những tù binh Mỹ
nên nhận thức rằng mình may mắn mới được cho phép sống, trong khi
bắn họ một phát là thuận tiện hơn nhiều. Ông hy vọng rằng các tù binh
sẽ thuyết phục các đồng bào mình đừng lặp lại ở nơi khác việc can thiệp
như ở Việt Nam. Bản thân đã sống cuộc đời của những kẻ ‘vô sản’, họ
có thể hiểu rõ cảnh ngộ khó khăn của những người buộc phải tồn tại mà
thậm chí không còn hy vọng sở hữu. Đáp ứng tức thì của hầu hết người
Mỹ lắng nghe là mỉa mai, đúng ra là khinh thị: không ai sẽ đi về nhà và

trở thành một ‘chiến binh của tự do’. Tuy nhiên, Ramsey sau này kết
luận rằng những gì người cộng sản nói chứa một phần sự thật, ‘và thậm
chí sự sáng suốt sâu sắc ‘.

Doug Ramsey được phóng thích năm 1973 sau 7 năm bị VC giam cầm
gian khổ, bên phải là Frank Scotton

Họ được phóng thích, 27 người tất cả, vào ngày 12 tháng 2 1973 tại Lộc
Ninh, tại đó đồ đạc cá nhân của ông được trả lại. Jim Rollins được trao
lại một đồng hồ Seiko rẻ tiền, mà một cán bộ bảo với anh để thay thế
cho đồng hồ Rolex vàng của anh, bị mất ‘do bất trắc của thời chiến ‘.
Rollins liền nổi nóng, ‘Quỷ tha ma bắt! Tôi đã thấy chiếc Rolex ở trên
tay của em họ cán bộ chỉ cách đây vài tuần!’ Một đại tá cộng sản tại buổi
trao trả tù binh xin phép đại diện của họ, trong đó có cả bạn cũ Frank
Scotton của Ramsey, được quan sát buồng lái chiếc trực thăng to lớn của
người Mỹ. Ông nói ông hy vọng con trai mình có thể một ngày đến du
học tại Hoa Kỳ. Đối với các đối thủ của ông dường như đây là một phát
hiện thoáng qua về nhận thức của người Miền Bắc biết rõ những hạn chế
của xã hội mình. Các tù nhân sững sờ khi biết rằng, vào phút cuối cùng
trước khi được phóng thích, một đứa con của một lính gác đã bị giết và
một đứa khác đã mất một cánh tay trong trận oanh tạc Giáng sinh tại Hải
Phòng. Người đàn ông này tuy vậy vẫn bắt tay họ, chúc họ bình an, và
tặng họ khẩu phần thuốc lá của mình. Ramsey nói rằng đây đúng là cử

chỉ ấn tượng nhất mà y có thể làm cho chính nghĩa của mình: ‘Phần
đông người Mỹ, dưới tình huống như thế, ắt phải bị kiềm chế để khỏi
chộp lấy một khẩu AK-47 và tiến hành một trận tàn sát kiểu Mỹ Lai đối
với các tù binh Mỹ tại chỗ.’
Đến hôm nay, một số diều hâu tin rằng nếu Nixon còn ở lại Nhà
Trắng, ông ta ắt sẽ tung ra sức mạnh của không lực để giải cứu chế độ
Sài Gòn khi quân Miền Bắc mở cuộc công kích cuối cùng. Nhưng
trong tháng 2 và tháng 3 1973, tổng thống đã làm rõ – trong một dịp gặp
gỡ các tù binh hồi hương – rằng ông xem việc khởi động lại hành động
quân sự như là điều bất khả chính trị. Vào ngày 29 tháng 6, lãnh đạo
thiểu số Hạ viện Gerald Ford làm sửng sốt Quốc Hội khi tuyên bố rằng
Tổng thống sẽ ký một Dự luật ngăn cấm mọi hoạt động tác chiến của
Mỹ trong, trên và ngoài khơi của bốn bộ phận Đông Dương – việc này,
chỉ hai ngay sau khi ông phủ quyết lập pháp cấm việc Mỹ đánh bom Cao
Miên. Dự luật này được thông qua thành luật – với 278 phiếu chống 124
phiếu trong Hạ viện, 64-26 trong Thượng viện – sau khi Ford nói qua
điện thoại với Nixon tại San Clemente, để bảo đảm ông hiểu đúng ý định
của vị tổng tư lệnh. Mặc dù sau này Nixon đổ tội cho Quốc Hội đã để
cho Miền Nam sụp đổ, tài liệu ghi chép chứng tỏ rằng ông đã tự ý từ bỏ
quyền tự do hành động của mình. Không mấy nghi ngờ về động lực:
nếu, hoặc một cách thực tiễn hơn khi, cuộc công kích cuối cùng của
Miền Bắc xảy ra, Nixon không muốn dự phần vào một vấn nạn là phải
liệu tiến hành thế nào cho một cuộc can thiệp mới.
Mặc dù không có băng ghi âm cuộc đối thoại tại San Clemente, vào
ngày 29 tháng 3 tại Washington ông bảo với Kissinger: ‘Dội xuống Cao
Miên, chúng ta phải dội bom cái nơi chết tiệt đó cho đến khi Quốc Hội
rút lại quyền hành đó. Rồi chúng ta có thể đổ lỗi cho họ đã làm hỏng
mọi chuyện.’ Vào tháng 6 ông thoái vị trách nhiệm về Đông Dương. Có
hoặc không có vụ Watergate, đây là một quyết định khôn ngoan. Hoa
Kỳ và nhân dân Mỹ đã bị cuộc chiến xé toạc tan tác: Hiệp định Paris báo
hiệu khởi đầu của một sự khép kín. Vào ngày 4 tháng 8, Nixon ký thành
luật Dự luật mà chính ông đã khởi thảo, ngăn cấm Mỹ tiếp tục hoạt động
tác chiến. Trong một động thái ngang tầm với Pilate (quan thái thú La
Mã rửa tay tuyên bố không dự phần vụ hành hình Jessus: ND) , ông sau

đó viết cho các lãnh tụ Quốc Hội, cảnh báo rằng nếu kết quả là cộng sản
sẽ xâm lăng Đông Dương, lỗi là thuộc về Đồi Capitol.
Hơn hai năm trước, vào ngày 18 tháng 2 1971, Kissinger đã bảo với
Nixon là mình dự định nói với Lê Đức Thọ: ‘Này, chúng tôi muốn cho
ngài một hạn chót cố định sẽ rút hết quân về nước vào năm sau đổi lại
việc thả hết tù binh và ngừng bắn.’ Với Tổng thống ông nói thêm: ‘Rồi
chúng ta có thể bảo với người Miền Nam – họ đã được một năm không
có chiến tranh để củng cố.’ Trong nửa thế kỷ tiếp theo Kissinger đã
thường xác nhận rằng ông đã đạt được một cách giải quyết êm đẹp,
nhưng đã bị vụ Watergate, sự bội tín của người cộng sản và nhu nhược
của Quốc Hội phá hỏng. Nhưng tài liệu, được lập ra bởi các học giả như
Jeffrey Kimball và Ken Hughes từ chứng cứ của các băng thu âm Nhà
Trắng, cho thấy rằng cả Kissinger và Nixon luôn nhìn nhận số phận
Miền Nam đã an bày.
Watergate không thay đổi điều gì. Thêm một lần nữa, hai người bị lên án
không phải vì họ không thể giữ được chế độ Sài Gòn, một nhiệm vụ
không thể hoàn thành qua đêm, nhưng là vì họ tìm cách thuyết phục
nhân dân Mỹ tại thời điểm đó, và hậu thế, rằng họ luôn cho là mình có
thể.
Sáu tháng sau khi Nixon từ chức, Kissinger mô tả cá tính của ông ta với
Arthur Schlesinger: ‘Ông ta vừa xấu hơn vừa tốt hơn người ta tưởng.’
Bộ trưởng Ngoại giao – chức vụ mà Kissinger nắm giữ vào tháng 12
1973 – mô tả ông chủ mình biếng nhác kinh khủng, lưu ý rằng ông ta ít
khi đọc các giấy tờ quan trọng. ‘Thói quen làm việc của ông ta,’ tay
chân chủ yếu của Nixon nói, ‘giống Hitler rất nhiều theo mô tả của
Speer … Mọi thứ đều kỳ cục trong không khí chiến đấu, hơi đồng tính
của Nhà Trắng … Bạn không thể tin một lời ông ta nói.’ Đó là
Kissinger dạng tinh chất; tự tách mình ra xa đến nỗi cuối cùng hóa ra
dường như suốt những năm tháng đó ở Nhà Trắng ông chỉ là một nhà
thiên văn học cầu lợi, nhìn những hành vi của vị tổng thống lúc đó bị
thất sủng qua một ống ngắm mặt trăng.
Kissinger xứng đáng nhận được lòng tri ân của nhân dân Mỹ đã tháo gỡ
cho họ khỏi cơn ác mộng dài, khoác một y phục xơ mòn của phẩm giá.
Tuy nhiên, ông không có công lao gì với nhân dân Việt Nam: tiếng tăm
của.ông sẽ mãi mãi bị vấy bẩn bởi Giải thưởng Nobel Hòa bình được

chia sẻ mà lòng tự phụ khiến ông nhận lãnh, và Lê Đức Thọ thận trọng
từ chối. Đến ngày hôm nay hầu hết dân Việt lưu vong còn thù hận
Kissinger vì đã phản bội họ. Sử gia Miền Nam Nguyễn Kỳ Phong tính
khí khá bất thường khi lên án ông: ‘Công việc của ông ta chỉ đơn giản là
làm bất cứ thứ gì cần thiết để đem người Mỹ ra khỏi Việt Nam, và đó là
những gì ông ta đã làm.’

3 Cuộc Chiến của Những Lá Cờ
Khi một phái đoàn quân sự Miền Bắc xuống máy bay ở Tân Sơn Nhất
vào cuối tháng giêng 1973 để thiết lập văn phòng liên lạc, họ dừng lại ở
cạnh đường băng, không chịu đi tiếp vì họ không chịu làm thủ tục nhập
cảnh như những người nhập cư, vì điều này ám chỉ họ công nhận tính
hợp pháp của Miền Nam. Một số người Mỹ khoái trá chứng kiến cảnh
tượng những kẻ thù trước đây của mình đang đổ mồ hôi hột dưới ánh
nắng, nhưng cuối cùng các thủ tục cũng được miễn. Trung uý Nguyễn
Khiêm, người chỉ huy đội an ninh của Không lực Việt Nam ngày hôm
đó, nói về người cộng sản: ‘Họ bước đi và chuyện trò như thể mình là
ông chủ.’ Một số binh sĩ của anh thắc mắc: ‘Trung uý, sao họ toàn
tướng lĩnh không vậy, Trung uý?’ Các ngôi sao có mặt khắp nơi trên
quân phục bộ đội Miền Bắc thuộc mọi cấp bậc khiến người Miền Nam
bối rối. Trên khắp vùng cộng sản, không khí hân hoan tràn ngập. Theo
một tiểu đội trưởng Quân Miền Bắc, ‘tinh thần lên cao ngất trời vì
chúng tôi tuyệt đối tin chắc rằng chúng tôi đang trên bờ của thắng lợi’.
Đơn vị của anh ăn mừng náo nhiệt, ‘bởi vì chúng tôi nghĩ tất cả sẽ được
sống để trở về nhà’. Với việc ngừng dội bom Đường Mòn, khâu vận
chuyển bộ đội Hà Nội – nhất là lương thực – trở nên tốt hơn. Đại tá An
viết: ‘Như thể có ai quay nút “off” trên máy cát-xét: mọi tiếng ồn thình
lình ngừng lại.’ Bộ đội cộng sản vui mừng vì giờ đây có thể ngủ suốt
đêm, ăn uống ngoài trời, ngắm nhìn trời mà không phải tìm xem có
máy bay địch lảng vảng hay không.
Các đoàn văn công được phái đến từ Miền Bắc để giúp vui cho bộ
đội, một số buổi trình diễn của họ được các binh lính Miền Nam đứng
xa xa coi ké. Đơn vị của Bảo Ninh bắt đầu nhận được quà tiện nghi kể
cả sách, ‘tuy chỉ là sách tuyên truyền không đọc được’.

Cũng có một số biểu hiện của tỉnh huynh đệ. Trí, một sinh viên Đại học
Hà Nội trước đây, bỗng thấy mình tán gẫu với một thanh niên Sài Gòn
mà việc học hành của anh cũng bị gián đoạn. Họ đồng ý rằng một người
lính phải làm nhiệm vụ của mình, dù y ở phe nào, và việc trách cứ –
nếu phải trách cứ – phải đổ xuống những ông lớn trên chóp bu. Trên
khắp đất nước mọc ra như nấm những bảng tuyên truyền cạnh tranh
nhau, như một bảng được dựng trong đám lau sậy tại biên giới lãnh thổ
của VC: ‘Binh sĩ, chúng ta hãy gác lại hận thù. Giờ đây chúng ta cần tái
thiết và xây dựng tình huynh đệ. ‘ Mai Elliott nói: ‘Có một không khí lạc
quan bừng lên ngắn ngủi. Không phải là dân chúng không tin phe cộng
cuối cùng sẽ chiến thắng, mà là họ nghĩ rằng việc đó phải mất thời gian

dài.’

Merle Pribbenow thuộc CIA Sài Gòn ngạc nhiên khi thấy một số đồng
nghiệp tại Bộ Ngoại giao tin rằng Miền Nam có thể sống còn. Vị xếp
CIA trong các hoạt động ở Việt Nam bay xuống các quận lỵ để tìm hiểu
quan điểm của các nhân viên trẻ: ‘Thực tình tất cả bọn tôi đều nhất trí
Hà Nội không khi nào bỏ cuộc,’ Pribbenow nói. ‘Sẽ có một cuộc tổng
công kích mới. Nhưng quan điểm chính thức của Cục là việc này có thể
xoay sở được, rằng Miền Bắc đã bị tổn thất nghiêm trọng trong trận
đánh 1972 và giờ đây đang rất cần viện trợ kinh tế của Hoa Kỳ.
Phe lạc quan rất đúng, trong những tuần đầu tiên sau Hiệp định Paris ở
Hà Nội nhiều tiếng nói cất lên, kể cả tiếng nói của Giáp, kêu gọi nên
tuân thủ các điều khoản của hiệp định. Vị tướng già tin rằng một thời kỳ
ổn định, và tiền mà Mỹ hứa hẹn, sẽ là các phần thưởng quý giá cho đất
nước lụn bại của mình. Tuy nhiên, như bao giờ, Lê Duẩn bác bỏ thậm
chí một hòa giải tạm thời. Con người sắt đá này, quá kiêu căng bắt
những con người yếu đuối phải phục vụ cho cách mạng, bảo trong một
buổi họp mở rộng của Bộ chính trị vào ngày 27 tháng 3 1973 rằng mục
tiêu của họ phải là củng cố trên chiến trường, trong khi vẫn bảo đảm tai
tiếng của việc phá vỡ lệnh ngừng bắn là thuộc phía bên kia.
Quyết định then chốt của Hà Nội là cuộc chiến phải tiếp tục. Mặc dù Xô
viết và Trung Quốc cắt giảm viện trợ, quân Miền Bắc vẫn còn các kho
dự trữ thừa thãi vũ khí, giờ không còn chịu tiêu hao bởi các trận không
kích. Trong năm 1973, 27,000 tấn vũ khí và quân nhu, 40,000 tấn gạo,
6,000 tấn xăng dầu được chở về nam – gấp bốn lần năm trước. 100,000

tân binh di chuyển xuống Đường Mòn, tăng cường lực lượng cộng sản
phía dưới Vùng PQS lên đến 400,000 người.
Kissinger thúc giục có hành động quân sự để chặn đứng dòng lưu thông
này, nhưng ngay cả trước khi bị Quốc Hội phủ quyết Nixon, vốn đang bị
những người phanh phui vụ Watergate đập túi bụi, không còn lòng dạ
nào nghĩ đến việc tái oanh kích.
Và không chỉ có Miền Bắc mới bắt đầu tỏ ra khinh thường các điều
khoản Paris. Vì những lý do có thể hiểu được, Tổng thống Nguyễn Văn
Thiệu cảm thấy không thể chịu được tình trạng mà phần lớn vùng lãnh
thổ của xứ sở ông vẫn sẽ nằm trong tay phe cộng. Một số sử gia viết như
thể Hiệp định Paris có thể là một đường lối giải quyết bền vững, nếu các
điều khoản của nó đã được tuân thủ. Nhưng ít người biết lý lẽ có thể cho
rằng một quốc gia giờ đây thể hiện trên bản đồ bởi một miếng chắp vá
các cộng đồng – rải rác các ốc đảo của người cộng sản được hình thành
bằng việc ngừng bắn tại chỗ và chẳng bao lâu được vạch ra trên mặt đất
bởi hàng vạn lá cờ của đối thủ – có thể khả thi về phương diện kinh tế
và chính trị. Hơn nữa, Thiệu, giờ đã 50 tuổi, bỗng thấy mình rơi vào
tình trạng nan giải bối rối. Ông đã tạo dựng một sự nghiệp dựa trên sự
phục tùng các ý muốn của người Mỹ, nhưng từ rày trở đi khao khát tha
thiết nhất của nhiều đồng bào của Nixon là ông ta nên chui trốn vào một
xó xỉnh nào đó. Clark Clifford, bộ trưởng quốc phòng trước đây của
Lyndon Johnson, phát biểu công khai tổng thống Việt Nam là một trở
ngại cho hoà bình, nói rằng nếu ông từ chức, một ‘chính quyền thực sự
trung lập và có tính đại diện có thể được thành lập tại Sài Gòn sẽ đàm
phán trong sự tin cậy với phía bên kia’. Ý kiến này là thiếu lý lẽ: cho dù
Thiệu có từ chức, phe cộng không hề quan tâm đến một kết quả nào
khác hơn là độc quyền làm chủ một Việt Nam thống nhất. Nhận xét của
Clifford phản ánh khao khát có thể hiểu được nhưng xấu xa của nhiều
người Mỹ không vì muốn thay đổi chính quyền, mà vì muốn Việt Nam
đáng nguyền rủa và chắc chắn bị đày đọa biến mất khỏi tâm thức họ.
Thiệu không thể khoe khoang là mình đạt được thành tựu nào có ý nghĩa
trong hai năm cuối cùng tồn tại của một quốc gia bị chia phần, nhưng
khó tin có một đồng bào nào của ông có thể làm tốt hơn. Ông tiếp tục
cuộc chiến một phần bởi vì Lê Duẩn ép ông phải làm thế, nhưng có lẽ

cũng bởi vì – như Kissinger có lần nhận xét ác ý – cuộc chiến đã trở
thành lý do tồn tại của chế độ hỗn loạn của ông.

Tháng giêng 1973: các vùng tranh chấp quyền kiểm soát
Thiệu không nỗ lực để cải tổ quân đội, cũng không giao quyền chỉ huy
trong tay những sĩ quan tài năng mà trong tay những kẻ mưu cầu chính
trị, dù trước một thực tế mới là tấm áo giáp thép của sức mạnh Mỹ có
thể đã bị lột bỏ khỏi lồng ngực quốc gia. Ông khá hấp tấp để tin rằng

Washington sẽ giữ lời hứa, vốn được Kissinger thỉnh thoảng nhắc tuồng,
là nếu Miền Nam đối mặt với cuộc gây hấn trở lại của cộng sản, không
lực và pháo binh Mỹ sẽ một lần nữa tháo xiềng – điều này, dù bất kì
người Washington nào chỉ cần hiểu biết nửa vời cũng có thể cho tổng
thống Miền Nam biết là sẽ không có chiếc B-52 nào bay đến dưới bất kì
tình huống nào.
Theo sau lệnh ngừng bắn các cố vấn giã từ các đơn vị Miền Nam mà họ
từng chỉ đạo và – điều quan trọng hơn nhiều – từng kêu gọi hỏa lực Mỹ
giáng xuống mục tiêu mong muốn. Trung tá Gerry Turley bảo với người
đồng cấp TQLC Miền Nam rằng sẽ không còn có yểm trợ hỏa lực từ
Hải quân Mỹ nữa. Vị trung tá kêu trời: ‘Vậy là anh đã chặt cánh tay phải
của tôi rồi.’ Đưa mắt nhìn những lá cờ Miền Bắc và VC bay trên nhiều
ngôi làng, Turley cảm thấy không nghi ngờ gì vị trung tá đã nói đúng,
rằng ‘dân Miền Nam đang đi xuống ống thải’. Cố vấn tình báo Edward
Brady nói: ‘Người Việt không bao giờ cảm thấy chúng ta đang đẩy họ
vào tuyệt lộ, phản bội những lời hứa hẹn cho đến khi có … Hiệp định.
Trước đó họ nghĩ chúng ta là đồ đần, nhưng chúng ta về phe họ.’ Chỉ
huy hải quân Nguyễn Trí sử dụng ngôn ngữ mà từ đó được nhiều người
đồng hương trước đây của mình công nhận: ‘Người cộng sản không
thắng. Người Mỹ chỉ đơn giản quyết định đi về nhà và bỏ mặc Miền
Nam thua cuộc.’
Sài Gòn bị tước đoạt không gian dễ thở, ‘một năm không có chiến
tranh’, mà Kissinger đã có lần khao khát. Chính ông cũng bay đến Hà
Nội vào giữa tháng 2 để trao đổi có tính thăm dò, và nhận thức được
rằng không có cơ sở cho mối quan hệ có hiệu quả. Trong ‘cuộc chiến
của những lá cờ’ đang manh nha trên khắp Miền Nam, hai bên bắt đầu
tiến hành các trận đánh địa phương dữ dội tăng dần để chiếm đất và giữ
đất. Các chỉ huy Miền Nam quay vòng các đơn vị ra khỏi các khu vực
mà họ được cho là trở nên thân thiện với phe địch. Một bộ đội Miền Bắc
một buổi sáng xuất hiện tại điểm hẹn mà anh quen đến để trao đổi trái
cây với một những người Miền Nam – và suýt thiệt mạng vì giẫm phải
mìn do binh sĩ mới đến thay gài. Vào ngày 29 tháng 3, MACV chính
thức hoàn thành sứ mạng: phần đông nhân viên đều cuốn gói, hoặc đúng
hơn rời bỏ phòng ngủ có gắn máy lạnh. Văn phòng của tùy viên quốc

phòng, nắm những nhiệm vụ còn lại, mướn 2,500 công nhân hợp đồng
dân sự Mỹ và 400 lao động Việt, nhưng chỉ 50 sĩ quan Mỹ phục vụ.
Phó tổng thống Kỳ sau này chua chát viết rằng khi người Mỹ ra đi, họ tự
hào chỉ vào lực lượng quân sự Miền Nam khổng lồ mà họ đã tạo ra,
nhưng ‘không thể nhìn nhận, dù với chính mình, là một triệu người vũ
trang được một nhóm kẻ xu nịnh hối lộ lãnh đạo, với Thiệu được lấy làm
mẫu mực.’ Điều này đúng, mặc dù ngài phi công lẽ ra phải nhìn nhận
mình cũng được đúc cũng một khuôn. Một đại uý Miền Nam nói về
Hiệp định Paris: ‘Đó là bản án tử cho chúng tôi.’ John Vann bảo với một
số thính giả Mỹ không lâu trước khi ông qua đời: ‘Đại đa số dân
chúng – đâu đó khoảng 95 phần trăm – thích chính quyền Miền Nam
hơn một chính quyền Cộng sản, trong khi chỉ có một thiểu số người
Miền Nam chào đón viễn cảnh thắng lợi của Hà Nội, những người
không ưa chủ nghĩa cộng sản thì lại yêu nước mình quá ít, khao khát hoà
bình quá nhiều, nên không muốn kiên trì chiến đấu hơn nữa.
Hai bên đua nhau tố cáo bên kia phá vỡ lệnh ngừng bắn. Vào ngày 3
tháng 3 1973 QĐVNCH phát động một cuộc công kích lớn nhằm phong
tỏa đường tiếp cận với căn cứ địa địch ở rừng U Minh, trong tỉnh
Chương Thiện của vùng đồng bằng . Họ gặp sức kháng cự quyết liệt, và
cuối cùng bị đẩy lui. Sau này Giáp tuyên bố rằng chính thế tiến công
như thế của Miền Nam đã khiến ông ngừng hậu thuẫn cho việc tuân thủ
điều khoản Paris. Nhưng không hề hợp lý khi cho rằng hai bên sẽ kiềm
chế: Miền Bắc, vì đã thấy thắng lợi cận kề; Miền Nam, vì cách xếp đặt
của người Mỹ thì không bền vững.
Một tướng lĩnh VNCH viết rằng chiến tranh ‘đã mang Miền Nam đến bờ
vực của sự băng hoại đạo đức và vật chất’. Phần đông dân chúng, ông
nói, không còn sức để hi sinh; họ bây giờ chỉ lắng nghe những bài hát
mê hoặc của Trịnh Công Sơn, một du ca phản chiến Sài Gòn nổi
tiếng. Một đại uý nói: ‘Phần đông binh sĩ bình thường của chúng ta
không có lý do để căm thù kẻ địch, bởi vì họ không nhìn thấy những gì
chủ nghĩa cộng sản có thể làm.’ Trung uý Nguyễn Quốc Sĩ nói một cách
rầu rĩ: ‘Ai điều hành chính quyền Sài Gòn cũng không thành vấn đề –
người Mỹ lúc nào cũng giật dây. Họ tham gia cuộc chiến quá lâu như thể
họ cho đây là quyền lợi của họ, rồi họ bỏ cuộc và bỏ rơi chúng ta.’ Anh
nói về trải nghiệm chiến đấu hậu Paris: ‘Dân chúng không muốn chết, vì

họ biết chiến tranh hầu như đã qua.’ Trong khoảng 1970-72 binh sĩ Miền
Nam đã khẳng định ‘một tỷ lệ sát thương’ thuận lợi là 5 địch đổi 1 ta.
Không biết con số này có trung thực hay không, trong năm 1973 nó
giảm xuống còn 2 đối 1; và đến năm sau chỉ nhỉnh hơn 1:1 một chút.
Lúc đó, khi lượng quân nhu thiếu hụt ảnh hưởng nghiêm trọng đến đội
hình chiến đấu, binh sĩ được dặn dò bắn từng phát thay vì rải từng tràng
tự động theo nhịp ‘rock-and-roll’.
Vào mùa thu 1973 một nhà báo đến thăm nghĩa trang quân đội Miền
Nam, chôn cất hơn 12,000 mộ của tử sĩ , một tỷ lệ nhỏ trong tổn thất
quốc gia. Dưới sự ban bố ‘hoà bình’ mới, mỗi ngày có thêm 10 ngôi
mộ: 6,600 binh sĩ Miền Nam chết trong ba tháng đầu năm tiếp sau thỏa
thuận Paris. Người khách viết: ‘Không khí nặng nề với tiếng kêu gào
của quả phụ với tiếng khóc của trẻ con, và qua tiếng nức nở có thể nghe
thấy tiếng thình thịch của cuốc bổ xuống đào những hố huyệt mới cho
các thi thể sẽ đến ngày mai.’
Phủ lên những vất vả chiến trường, đất nước Thiệu còn làm mồi cho
những thống khổ về kinh tế. Trong một thập niên, ngoài ruộng lúa hoạt
động sinh lợi chủ yếu là từ việc phục vụ cho quân đoàn các khách ngoại
bang giàu có không tưởng tượng được, những nhà tài trợ, kẻ chiếm
đóng. Giờ, hai triệu dân thành phố – một phần ba lực lượng lao động –
bỗng thấy thất nghiệp. Một chủ ôtô Sài Gòn than phiền ông giờ đây chỉ
bán được một ôtô mỗi tháng, so với tháng 8 năm ngoái đến 100
chiếc. TV, xe gắn máy, thuốc lá nhập khẩu biến mất trên các cửa hàng.
Giá gạo tăng gấp đôi.
Cuộc chiến Trung Đông tháng 10 1973, và hậu quả là giá dầu khí và
phân bón tăng vọt, gây tai hại tàn phá, khiến việc trồng ‘giống gạo thần
nông’ không còn lợi về mặt kinh tế như trước. Vào tháng 12 một vụ tấn
công của đặc công cộng sản phá hủy phân nửa cơ sở dự trữ dầu của Sài
Gòn. Lạm phát tăng đến 30, 40 phần trăm. Một sĩ quan trẻ Miền Nam
nói với một người bạn làm báo, Gavin Young: ‘Lý lẽ để chống lại chủ
nghĩa cộng sản phải là vật chất và tinh thần, có phải không, Gavin?
Nhưng điều kiện chúng tôi tìm thấy bây giờ chỉ là tình trạng thất
nghiệp, giá cả tăng vọt , và tham nhũng, có phải không? Vì thế không
có lý lẽ tinh thần hoặc vật chất nào tồn tại; ý tôi là không có chủ nghĩa
yêu nước thực sự ở Sài Gòn. Vì thế lấy gì chúng tôi kháng cự đây? Vậy

mà chúng tôi vẫn muốn kháng cự – phần đông chúng tôi, anh biết đấy –
và chúng tôi lại không thể. Như vậy không phải là bi kịch sao, Gavin?’
Đúng là bi kịch. Năm 1970 một chương trình cải cách ruộng đất, ‘Người
Cày Có Ruộng’, đã được Sài Gòn phát động. Ba năm sau, với chi phí
gần nửa tỉ đô la, chương trình đã cấp cho 1.2 triệu gia đình quyền sở hữu
ruộng đất mà họ khao khát hàng thập niên; chế độ điền chủ vắng mặt
gần như đã cáo chung. Nhưng biện pháp triệt để đã đến quá muộn màng,
cũng như việc thăm dò dầu khí ngoài khơi sẽ cuối cùng cung cấp sản
lượng 1.5 tỷ thùng, trong vòng một thập niên biến đổi tình hình tài chính
của Việt Nam. Như thể một bệnh nhân bệnh nặng đến ngày chết được
báo tin muộn màng là y sẽ nhận một tài sản thừa kế … nếu y ráng sống
đủ lâu.
Chế độ Thiệu vẫn tiếp tục kém hiệu quả mãn tính, tinh thần binh sĩ bào
mòn vì thiếu thốn vật liệu và quân nhu ngày càng tồi tệ. Điều này phản
ánh sự bủn xỉn của Quốc Hội thì ít mà sự kiện người Mỹ đã tạo ra một
bộ máy quân sự Miền Nam theo khuôn mẫu của họ thì nhiều, chỉ biết lệ
thuộc vào công nghệ đắt tiền – trong năm 1974 vẫn còn tiêu thụ 56 tấn
quân nhu cho mỗi tấn quân nhu địch sử dụng – mà lại ít hiệu quả hơn
kiểu tác chiến đơn giản của kẻ thù mình. Hơn nữa, nạn tham nhũng vẫn
còn là định chế: Jacques Leslie của tờ Los Angeles Times phát hiện một
vụ lừa đảo theo đó các chỉ huy Miền Nam đã bán các thùng đạn –
những thùng được sản xuất trước năm 1968 cho ra đồng phế liệu – với
giá cả tuyệt vời tại Singapore, củng cố thêm xác tín của David Elliott
rằng ‘không có số lượng viện trợ bổ sung nào trong năm 1973-75 sẽ làm
lợi cho ai trừ cho các tướng lĩnh’. Sĩ quan chính trị sứ quán Mỹ Hal
Meinheit nói: ‘Đó là một xã hội chia rẽ không nhận thức được lý lẽ dân
tộc mình muốn đi về đâu.’ Một thiếu tá QĐVNCH viết: ‘Nhiều người
bàng quang tiên liệu phe cộng sẽ chiến thắng … Sự hậu thuẫn dân
chúng dành cho Sài Gòn teo tóp nhanh chóng. Nhiều người trước đây
ủng hộ chính quyền giờ quay sang phe cộng.’
Tổng thống Thiệu, cũng sĩ quan đó viết một cách khinh thị và không
phải là không đúng, ‘không đủ mạnh để làm một kẻ độc tài … Có xứ
nào đang lâm chiến mà lại cho phép phê phán chính quyền một cách gay
gắt đến thế? Có bao nhiêu những xứ thuộc thế giới thứ ba cho phép các
nhà báo công khai lên án các bộ trưởng và tướng lĩnh tham nhũng và

khiển trách tổng thống? Tính phản trắc đã hằn sâu vào xã hội Miền
Nam. Sam Adams của CIA viết một báo cáo hủy diệt với kết luận rằng
hạ tầng cơ sở của chế độ giống như một miếng phô mai Thụy Sĩ: ước
tính có đến 12,000 người đưa tin cho kẻ thù nằm vùng trong chính quyền
hoặc lực lượng vũ trang.
Đại uý Phan Tấn Ngưu được cử đảm trách các hoạt động tình báo ngành
Cảnh sát Đặc biệt tại Tây Ninh nhận xét người tài xế của mình, cứ lúc
nào xong nhiệm vụ, là biến mất về hướng biên giới Cao Miên. Theo dõi
mới phát hiện y tiếp xúc với các sĩ quan cộng sản, và khi bị thẩm vấn y
khai được giao nhiệm vụ phải ám sát Ngưu. ‘Tôi lấy làm tiếc,’ người tài
xế nói muộn màng, trước khi bị nhốt vào xà lim.
Vào đầu năm 1974, các nhà phân tích tình báo Bộ Ngoại giao soạn thảo
một báo cáo về triển vọng Miền Nam rút ra từ các nguồn tin mật bất hợp
pháp trong giới sĩ quan công tác tại Sài Gòn mà các quan điểm bi quan
của họ vị đại sứ Mỹ mới Graham Martin, người đã thay thế Ellsworth
Bunker vào tháng 7 trước, hẳn sẽ không cho phép điện về Washington.
Hal Meinheit, một trong các tác giả của báo cáo, nói: ‘Chúng tôi kết
luận rằng trừ khi duy trì một mức độ viện trợ cao, triển vọng của chế độ
rất tồi tệ. ‘
Cục CIA ở Langley, giờ được điều hành bởi William Colby, thách thức
quan điểm này, mỉa mai lập luận rằng giọng điệu ảm đạm của Bộ Ngoại
giao được dàn dựng chỉ để biện minh cho các yêu sách tài trợ quá đáng
của vị đại sứ. Khi cuộc chiến tăng cường, vào ngày 4 tháng giêng Tổng
thống Thiệu đọc bài diễn văn tại Cần Thơ, nơi trước đây ông là tư lệnh
Quân đoàn IV, trong đó có đoạn: ‘Chúng ta không thể ngồi yên. Chúng
ta phải có hành động thích hợp trừng phạt các hành động gây hấn của
cộng sản. Cuộc chiến đã bắt đầu lần nữa.’ Washington hốt hoảng trước
những nỗ lực của Miền Nam nhằm mở rộng lãnh thổ của Sài Gòn cũng
như của phe cộng ra sức thu nhỏ chúng, bởi vì hiện trạng bấp bênh của
cả hai đều bị đe dọa
Hai buổi hội nghị chiến lược quan trọng được tổ chức tại phòng hội nghị
tầng trên tại Sân Rồng Hà Nội vào tháng 3 và 4 1974. Các sĩ quan vui
mừng trước tin tức tốt lành quan trọng, rằng Đường Mòn Hồ Chí Minh
giờ đây đã thông thoáng nhộn nhịp hơn nhiều so với bất cứ thời điểm
nào trong lịch sử cuộc chiến. Đường ống dẫn dầu dài 1,000 dặm đáng

kinh ngạc đã được lắp đặt, để tiếp dầu cho xe cộ vận chuyển bộ đội vào
Miền Nam. Về phần mình lực lượng VC vẫn còn yếu – đúng ra vẫn
chưa phục hồi từ sau Tết 1968: vì vậy lực lượng cộng sản chỉ hiện diện
một cách thưa thớt tại khu vực đô thị. Nhiều trọng pháo và thiết giáp
còn trong tình trạng nghèo nàn. Quan trọng nhất, sự phân vân vẫn còn
ngự trị không chắc liệu người Mỹ có can thiệp trở lại nếu Hà Nội mở
cuộc công kích chủ lực vào Miền Nam.
Trước đây trong cuộc chiến, phe cộng it khi lưu ý đến chính tình quốc
nội Hoa Kỳ. Nhưng giờ đây, Hà Nội và Chính phủ Cách mạng Lâm thời
Miền Nam, với ‘thủ đô’ tạm thời ở Lộc Ninh, theo dõi sát sao tin tức từ
Washington, qua đài BBC và VOA, ‘với mức độ tò mò gần như là ám
ảnh’, theo lời của một bộ trưởng CPCMLT. Phân tích các nguồn tin này
phát sinh các đúc kết hồ hởi cho chính nghĩa của họ. Vào tháng giêng
1974 hải quân Trung Quốc tiến hành một cú đột kích chiếm đóng và xáp
nhập các đảo Hoàng sa và Trường Sa ngoài khơi Miền Nam. Hành động
này không gây ra đáp ứng nào từ phía người Mỹ. Trong 18 tháng đầu
tiên theo sau Hiệp định Paris, 26,000 binh sĩ Miền Nam thiệt mạng trên
chiến trường, nhưng Quốc Hội Mỹ tiếp tục cắt giảm viện trợ quân sự.
Tài trợ cho Sài Gòn giảm xuống phân nửa trong năm 1974, từ 2.1 tỷ
xuống còn 1.1 tỷ, rồi lại giảm lần nữa còn 1 tỷ.
Quyết định chiến lược có nghĩa đầu tiên của Hà Nội trong năm 1974 là
tiếp tục chiến đấu suốt mùa xuân ẩm ướt, theo truyền thống thường là
thời gian tập kết và tái bổ sung. Vào tháng 3 nổ ra một trận đánh lớn
phía tây Sài Gòn do bộ đội Miền Bắc khởi động, nhưng gặp sức phản
công mạnh mẽ cuối cùng của QĐVNCH trong cuộc chiến. Trận đánh
này gây tổn thất cho cộng quân, nhưng cũng làm xói mòn ý chí chiến
đấu của quân Miền Nam vốn đã suy yếu. Cũng kiểu dạng đó có thể nhận
ra được hai tháng sau đó, khi Sư đoàn 9 Miền Bắc phát động một cuộc
tiến công dữ dội vào phía tây Bến Cát, trong vùng Tam giác Sắt bị tranh
chấp từ lâu, tại đó cả hai bên đều khai triển xe bọc thép. Qua các tháng
chiến đấu ác liệt tiếp theo, các cuộc phản công của Miền Nam lấy lại
phần lãnh thổ đã mất, và ngăn cản một trận đột phá của địch, nhưng
phải trả giá cao. Sư đoàn 18 của Sài Gòn thiệt mạng 275 binh sĩ, và
1,000 người bị thương. Tư lệnh Quân đoàn địa phương bất mãn khi yêu
cầu gửi 150,000 cấp số đạn, nhưng chỉ nhận được một phần ba số quân

nhu. Lúc mà các trận đánh trên Đường 7 im tiếng dần vào tháng 11, một
số tiểu đoàn bộ binh Miền Nam đã mất một phần tư quân số. Phe cộng
cũng ít nhất chịu số tổn thất nghiêm trọng như thế, nhưng quan tâm ít
hơn như thường lệ. Những kẻ hoài nghi trong bộ chính trị Hà Nội càu
nhàu: ‘Anh Ba (Lê Duẩn) đang nướng binh sĩ chúng ta một lần nữa như
ảnh đã làm hồi năm 1968 và 1972,’ nhưng lãnh tụ Miền Bắc vẫn không
lay chuyển.
Phía dưới vùng đồng bằng Cửu Long các lực lượng cộng sản duy trì liên
tục sức ép, làm suy yếu hơn QĐVNCH và dân quân địa phương.
Thật là bất công cho hàng vạn người Việt Nam đã chết khi các sử gia kể
lại ít chi tiết về các trận đánh chết người năm 1973-74. Một phần vì có ít
chứng cứ đáng tin cậy tồn tại – các bài tường thuật được in ra dường như
do tưởng tượng. Một phần cũng vì binh sĩ ở cả hai bên giờ đây dường
như đang chơi vai trò của họ theo kịch bản thắng lợi cuối cùng của phe
cộng gần như là chắc chắn. Các lực lượng Miền Nam mất 25,473 người
chết trong năm 1973, gần 31,000 vào các năm sau. Trung uý Nguyễn
Quốc Sĩ, một con trai 20 tuổi của một sĩ quan cảnh sát Sài Gòn cao cấp,
được phái đến một đơn vị Nghĩa quân ở phía đông nam, gần Vũng Tàu.
Khu vực này trước đây là chốn bình yên, nơi VC bằng lòng sống chung
hoà bình. Tuy nhiên, giờ đây, khi chiến tranh đã hâm nóng trở lại Sĩ
bỗng thấy mình đụng độ ngay trong ngày đầu trên chiến trường. Trung
đội của anh ít khi tập trung hơn 18 binh sĩ với vài khẩu M-16, phần
nhiều là súng trường Garand M-1 cổ lỗ: ‘Bạn không thể địch lại AK-47
bằng các khẩu súng đó. Bạn chết chắc.’
Họ luôn thiếu hụt quân nhu, và trong một lần đụng độ anh thấy mình
giao tranh với VC chỉ với một quả lựu đạn trong túi. Trực thăng cứu
thương không còn hoạt động: thương binh phải được mang ra quốc lộ,
nếu y may mắn còn sống đủ lâu. Binh lính của Sĩ là một ‘đám tạp nham’
– một số chống cộng quyết liệt, vì oán thù gia đình; người khác chỉ lo
tránh gặp rắc rối, muốn thoát ra nghĩa vụ không thể tránh khỏi đối với cả
hai bên. Dân địa phương thỉnh thoảng tháp tùng đội tuần tra của họ, hy
vọng nhờ vậy sẽ được an toàn hơn, nhưng không phải lúc nào cũng toại
nguyện. Ngày nọ một phụ nữ mang bầu đi theo phía sau binh sĩ của Sĩ.
Thình lình họ nghe một tiếng nổ dữ dội đằng sau. Cô gái đi lệch chỉ một
mét khỏi vết chân của họ thì đã giẫm phải mìn bẫy. ‘Thiếu phụ đó đơn

giản biển mất, bị bắn bay vào rừng. Toàn bộ phần dưới của cô đã biến
mất. Thật là khủng khiếp không sao tin được – hài nhi của cô lọt ra,’
chàng sĩ quan trẻ nói. Anh nói thêm, ‘Bạn thấy đấy chuyện gì cũng có
thể xảy ra.’
Hạ sĩ đặc công Miền Bắc Vũ Quang Hiền bị bắn vào đùi trong một trận
đánh vào thời điểm đó, rồi bị bỏ lại khi đơn vị anh rút đi. Một phụ nữ
địa phương nhỏ nhắn giúp anh loạng choạng trốn vào một bụi rậm cạnh
một con ao. Hiền bảo với bà: ‘Cứ để tôi nằm ở đây, và nếu bà nghe có
tiếng súng trong vài giờ tới, bà sẽ biết là tôi đã chết. Còn nếu không, đến
tối làm ơn trở lại để dẫn dùm tôi ra.’ Bà nghe lời, cùng chồng ra phụ
giúp, bởi vì Hiền là người đàn ông to con. Lính đặc công sau này cho
biết: ‘Bà không về phe bên nào cả – bà chỉ không đành lòng nhìn thấy
tôi chết mà không cứu.’
Vào ngày 18 tháng 7 1974, Giáp, sau khi duyệt xét báo cáo của Tham
mưu trưởng ‘Nghiên cứu Phác thảo về Chiến dịch Đánh thắng Cuộc
chiến Miền Nam’, ra lệnh chuẩn bị cho một cuộc công kích nhằm đạt
đến thắng lợi cuối cùng vào cuối năm 1976. Chiến dịch bắt đầu bằng
một trận tấn công vào Cao nguyên Trung phần; thời điểm những gì xảy
ra tiếp theo sẽ được xác định bởi cục diện xảy ra trên chiến trường. Kế
hoạch hoàn tất vào ngày 26 tháng 8, rồi được tán thành trong một phiên
họp của Bộ chính trị vào tháng 10. Dù vẫn còn tranh cãi về vai trò của cá
nhân Giáp, có sự đồng thuận là sau khi trở về từ Moscow vào tháng
giêng 1974 nơi ông chữa bệnh sỏi thận dường như rất nghiêm trọng suýt
giết chết ông, vị tướng già đã chỉ đạo trận công kích cuối cùng, mà
nhiều năm nay ông đã không làm gì. Lý giải khả thi nhất cho việc ông
phục hồi tạm thời quyền chỉ huy chiến dịch là rằng tiếp theo sau các thất
bại 1968 và 1972 của cộng quân, Lê Duẩn bất đắc dĩ phải nhìn nhận
rằng uy tín và tài năng của Giáp cần thiết cho quyết định ném hột xúc
sắc này trên chiến trường. Việc ra quyết định của Hà Nội cũng bị ảnh
hưởng bởi việc thay đổi tổng thống Mỹ. Người cộng sản không tin rằng
người kế vị của Nixon là Gerald Ford, cho dù với Henry Kissinger là
ngoại trưởng, sẽ dám đầu tư bộ máy chính quyền còn yếu ớt của
mình, cùng với nhân dân Mỹ, vào chuyến phiêu lưu đầy khốn khổ vào
trận tái giao tranh với Việt Nam.

Vào ngày 10 tháng 8 1974 Ford đích thân viết cho Sài Gòn, bảo đảm với
Thiệu ông sẽ giữ vững lời cam kết của Nixon; nhưng những hứa hẹn như
thế có vẻ mong manh khi Quốc Hội đang tìm cách cắt giảm tiền viện trợ
từ 1 tỷ xuống còn 700 triệu đô la, và đúng ra tiếp tục cắt giảm sâu hơn
nữa. Vào thời điểm khi tình hình lạm phát nâng giá quân nhu và nhiều
vật liệu khác, sức tác động lên QĐVNCH còn tệ hại hơn. Vào ngày 13
tháng 9 một Kissinger tức tối bùng nổ cho rằng ông không thể tưởng
tượng được đất nước mình lại cho Israel đến một tỷ đô trong khi lại từ
khước một số tiền tương tự với Việt Nam, nơi quá nhiều người Mỹ đã
bỏ mình. Nhiều điều đã được viết trước đây về chủ nghĩa thực dụng của
ngoại trưởng. Nhưng ở đây Kissinger đã nắm chắc luận điểm về tinh
thần, vật chất và chính trị, theo đó Quốc Hội và phần đông người Mỹ đã
chọn cách quay mắt đi. Việc rút đi hậu thuẫn trực tiếp quân sự vừa
không sao tránh được vừa đúng đắn. Dù sao đi nữa, không thể biện hộ
cho quyền lập pháp Hoa Kỳ từ thời điểm đó đã gần như bóp nghẹt ống
dẫn viện trợ cho Sài Gòn, trong khi Nga và Trung Quốc vẫn rộng mở
hầu bao với Hà Nội.
Chỉ có tiền thôi, vào thời điểm này, chắc chắn không thể làm thay đổi
tình hình. Lực lượng vũ trang Sài Gòn quá suy yếu để giữ khoảng cách
an toàn. Nhưng tiếp tục viện trợ hào phóng có thể thành công trong việc
gìn giữ được danh dự của người Mỹ trong giai đoạn cuối cùng này của
cuộc chiến, trong khi việc rút quân đã làm vấy bẩn nó. Quốc Hội đúng ra
chịu trách nhiệm cho hành động đáng khinh này, cho dù có bất cứ phán
xét sai lầm và sự phản trắc trước đây đã gán thích đáng cho Nhà Trắng.
Trong tính toán cuối cùng, Sài Gòn nhận được 945 triệu đô trong năm
1974, nhưng số tiền còn xa mới đủ để nuôi dưỡng một quân đội triệu
người được huấn luyện, tổ chức, điều kiện hóa, tiến hành chiến đấu theo
kiểu Mỹ. QĐVNCH buộc phải cho nằm đất 224 phi cơ, kể cả 65 trực
thăng; giờ tác chiến cho số còn lại rút chỉ còn phân nửa. Phân nửa quân
xa trùm mền vì thiếu xăng; bộ phận truyền tin bị ngưng hoạt động vì
thiếu hụt pin máy phát sóng. Vào tháng giêng và một lần nữa vào tháng
4 1975, Quốc Hội bác bỏ những lời kêu gọi tuyệt vọng, được hậu thuẫn
bởi các tham mưu trưởng, nhằm tài trợ để Miền Nam có thể mua sắm
quân nhu, xăng dầu và phụ tùng. Nhiều binh lính Thiệu giờ phải sống

và chiến đấu trong tình cảnh đói kém mãn tính, lạm phát còn làm giảm
sút khẩu phần khốn khổ của họ thêm bi đát hơn.
Nhắm tình hình của Sài Gòn vào cuối năm 1974, Merle Pribbenow của
CIA nói: ‘Tôi đã tin tình hình này không kéo dài lâu.’ Bà vợ Việt Thúy
của ông muốn mua một miếng đất cho bà mẹ ở phía bắc Biên Hòa. Gia
đình lái xét đến đó để xem đất. Khi đến gần, họ tá hỏa khi không thấy
cờ ba sọc bay trong thôn ấp kế cận. Họ quay về lại Sài Gòn đổi ý định
mua đất, thình lình nhận thức chế độ Thiệu đang thua ‘cuộc chiến của
những lá cờ’. Vào tháng 11 Doug Ramsey đến Sài Gòn như một khách
mời của chính quyền trong lễ kỷ niệm Quốc Khánh hóa ra là cuối cùng
của Tổng thống Thiệu. Ramsey nhức nhối khi nhận ra người hướng dẫn
của ông là người thân cộng: ‘Anh ta biết các thứ về phép biện chứng
cộng sản mà bạn chỉ có thể nhận ra nếu bạn là một người của họ.’
Sĩ quan QĐVNCH Nguyễn Khiêm nói: ‘Chúng tôi biết sự việc không đi
đúng hướng. Chúng tôi còn tiếp tục nuôi hi vọng, nhưng niềm tin của
chúng tôi phai nhạt dần khi đánh thua hết trận này đến trận khác.’ Frank
Scotton dự đoán tại một buổi ăn tối tại sứ quán Mỹ là chế độ không thể
sống quá 1976. Phần đông các cựu sĩ quan tác chiến đều nhất trí Hà Nội
sẽ thắng lợi trong năm đó hoặc trong năm 1977, ‘vấn đề tranh cãi duy
nhất là liệu đoạn kết sẽ là cú trượt dài qua một liên minh chính trị hoặc
qua một sụp đổ quân sự.’
Sếp tình báo hải quân Việt Nam bảo với Bob Destatte vào tháng giêng
1975: ‘Cộng sản sẽ không thắng được năm nay, nhưng sang năm thì có
thể, còn năm sau nữa thì chắc chắn.’ Destatte gặp một trung sĩ Biệt
động Miền Nam đã có tuổi hăm dọa sẽ giết anh – vì anh là người Mỹ.
Ông nói mình vừa về từ một trận đánh ở biên giới Cao Miên trong đó
đơn vị ông thiệt hại nặng nề và hết cả đạn dược, chỉ vì người Mỹ ‘phản
trắc’. Một tài xế taxi bảo với người Mỹ là y đã chán ngấy chiến
tranh, và chỉ muốn nhìn thấy đất nước mình thoát khỏi bình lửa với bất
cứ giá nào – đây là tình cảm lấn át bên trong tầng lớp dưới của xã hội
Việt Nam. Thiệu quá tuyệt vọng đến nỗi ông bắt đầu xem xét sự rút lui
chiến lược khỏi lãnh thổ mà lực lượng quá dàn trải của mình không thể
bảo vệ được, bao gồm toàn bộ phần phía bắc Miền Nam. Vị tổng thống
lao đao và chua chát bám víu hi vọng rằng cho dù lãnh thổ của ông tiếp
tục teo tóp , một số khu vực còn có thể chống giữ được.

Không may cho những hi vọng hão huyền như thế, ý thức về tính khẩn
cấp phải đưa ra hành động quyết định đang lên cao tại Hà Nội. Các lãnh
đạo Miền Bắc chứng kiến tình hình bề bộn của nước Mỹ thời hậu
Watergate, Quốc Hội và công luận thế giới rõ ràng không có cảm tình
với Sài Gòn. Nền kinh tế Miền Nam lâm vào cảnh túng bấn tuyệt vọng
gần như ở Miền Bắc, trong khi thiếu hẳn bộ máy kiểm soát hiệu quả một
cách nghiệt ngã. Hà Nội lưu ý các vụ náo động tăng dần trên đường
phố, các vụ phản đối chống tham nhũng do các giáo sĩ Công giáo cầm
đầu. Một số bộ phận quân đội Miền Nam còn tiếp tục chiến đấu hiệu
quả, nhưng nhiều binh sĩ Thiệu đã bất mãn ra mặt. Trong các trận giao
tranh dữ dội giữa tháng 8 và 12, quân Miền Bắc giành được vùng cao
phía tây Đà Nẵng, đẩy lùi các cuộc phản công của hai đội hình Sài Gòn.
Sau 6 tuần đánh nhau ác liệt giành Đồi 1062, Sư đoàn Dù tinh nhuệ tổn
thất 2,500 thương vong.
Các sự kiện ở bắc Miền Nam thuyết phục Sân Rồng nếu đối đầu, giờ này
quân đội của họ có thể thắng áp đảo trên chiến trường. Các đội hình của
họ được đặt vào tư thế sẵn sàng phát động các trận công kích từ thế cao
thọc sâu vào lãnh thổ của Thiệu; một số đơn vị cộng sản chỉ cách Sài
Gòn không đến 30 dặm. Lê Duẩn và các đồng chí của ông, lần này hoà
hợp với Giáp, kết luận rằng chưa từng có một thời điểm nào tốt hơn để
tấn công. 7 trong số 11 thành viên của bộ chính trị Hà Nội được cho là
hậu thuẫn đề xuất trong năm 1975 một cuộc ‘Tổng Tiến Công và Nổi
dậy’ mới, để hoàn thành việc thống nhất Việt Nam.

CHƯƠNG 27 : HÀNH ĐỘNG CUỐI CÙNG

1 Xâm Lược
Trong vùng đồi phía bắc ở Miền Nam vào đầu tháng 3 1975, cựu binh
Việt Minh Thiếu tướng Nguyễn Hữu An bỗng thấy mình ngắm nhìn các
cảnh tượng gợi cho ông nhớ lại những trải nghiệm thời trai trẻ tại Điện
Biên Phủ: ‘Bùn, bùn và nhiều bùn hơn nữa.’ Bộ đội và các kỹ sư của
ông ra sức hì hục kéo các khẩu bích kích pháo 105mm, chiếm được vào
năm 1972, qua cơn mưa nặng hạt, lên dốc cao đến các vị trí từ đó họ có
thể bắn phá các căn cứ hỏa lực của Miền Nam. An đã được bổ nhiệm


Click to View FlipBook Version