Vào ngày 16 tháng 7 tùy viên ngoại trưởng Bedell Smith đến Geneva để
góp thêm sự hiện diện miễn cưỡng của Mỹ. Tuy nhiên, theo chỉ thị, ông
không tham gia vào việc thảo luận riêng giờ đang được tiến hành qua
một vòng các buổi họp đặc biệt và song phương. Hai ngày sau các ngoại
trưởng đồng ý rằng việc ngừng bắn được đề nghị sẽ được giám sát bởi
một uỷ ban kiểm soát quốc tế gồm người Ấn, Canada và Ba Lan. Vào
ngày 10 tháng 7 mọi việc chia cắt được thỏa thuận giữa người Pháp và
Việt Minh khép lại tại Vĩ tuyến 17, cho Miền Nam mới một biên giới
ngắn, dễ phòng thủ với Miền Bắc. Sự chia cắt này ‘sẽ có tính lâm thời
và theo bất cứ cách nào không nên được giải thích là hình thành một
đường biên giới chính trị hoặc lãnh thổ. Mọi công dân Việt Nam được
nhận một thời kỳ chiếu cố 300 ngày để quyết định sẽ sống dưới chế độ
nào, với quyền tự do được bảo đảm đi ra bắc hay vô nam. Trong vòng
hai năm sẽ tổ chức cuộc tổng tuyển cử. Cả hai miền Việt Nam sẽ tham
gia cùng với Lào và Cambodia như các nhà nước được thừa nhận là
trung lập. Người Pháp sẽ khăn gói về nước. Có hai văn kiện chính hình
thành Hiệp định Geneva. Thỏa thuận Đình Chiến được ký vào ngày 21
tháng 7 năm 1954 bởi Pháp và Miền Bắc. Thông cáo Cuối cùng của Hội
nghị Geneva được hậu thuẫn miệng bởi Pháp, Anh, Trung Quốc, và
Nga. Dulles phát đi một tuyên bố nhấn mạnh mối quan tâm đặc biệt của
quốc gia ông về số phận của hai đứa con sinh đôi mới ra đời: ông cảnh
báo rằng bất kì sự vi phạm điều khoản nào của thỏa thuận sẽ là ‘một vấn
đề quan ngại nghiêm trọng và đe dọa nguy cấp đến an ninh và hoà bình
thế giới ‘. Mọi người liên can trừ Mỹ khen ngợi Anthony Eden cho
thành tựu của ông trong vai trò đồng chủ tịch, qua nhiều tuần khi cuộc
đàm phán dường như có nguy cơ thất bại. Một nhân chứng viết về ‘óc
khôi hài và tính kiên nhẫn gần như là siêu phàm ‘: đây là giờ phút tốt
đẹp nhất trong sự nghiệp chính khách của một ngoại trưởng Anh xuất
sắc, dao động, và đẹp trai khó tưởng tượng.
Hiệp định Geneva chỉ giải quyết những điều khoản hưu chiến, giữa thực
dân Pháp ra đi và người cộng sản nắm quyền cai trị Miền Bắc. Trong đó
chứa cơ sở cho cả Washington lẫn Sài Gòn sau này nhấn mạnh rằng việc
từ chối tiến hành bầu cử quốc gia trong khuôn khổ hai năm là không vi
phạm điều gì mà hai bên đã thỏa thuận. Nhiều người trên thế giới nhanh
chóng hiểu ra rằng dù kết quả của hội nghị là không vừa miệng nhưng
không có món nào ngon hơn được dọn ra. Tờ The Spectator bình luận
vào số 23 tháng 7: ‘Đây là một nền hoà bình tồi tệ. Nhưng gần như chắc
chắn là nền hoà bình tốt nhất có thể đạt được trong hoàn cảnh này.’ Tờ
báo tiếp tục suy đoán rằng khối cộng sản đã kiềm chế yêu sách của mình
vì sợ Washington khua kiếm. ‘Dường như có thể suy ra rằng Hoa Kỳ,
với nét nhăn nhó hoang dã, xấu xí, vô kỷ luật, dù sao cũng gián tiếp góp
phần vào thành quả hoà bình.’
Eisenhower và Dulles sau đó đầu tư cho nửa quốc gia mới tính hợp pháp
và tầm quan trọng bắt rễ trong nhu cầu xoa dịu phe cử tri Cộng Hòa
trong nước, và để phục hồi lòng tự trọng của chính quyền sau khi thất
bại cứu lấy Miền Bắc. Miền Nam, ngoại trưởng nói, có thể thịnh vượng
‘không cần dấu vết của chủ nghĩa thực dân Pháp’, qua sự cơ cấu Ngô
Đình Diệm, một nhân vật mà Washington chọn lấy với một nhiệt tình
phần nào gây ngạc nhiên, biết rằng người Mỹ hiểu rất ít về ông ta.
Người Anh nhìn vấn đề cách khác: họ đã luôn luôn khước từ việc liên
kết mình với cuộc chiến ở Đông Dương, bởi vì họ thấy ở đó không có
lợi ích sống còn nào. Họ cho rằng phương Tây đã bận bịu quá đủ khi
đương đầu với Liên Xô ở châu Âu.
Trong khi đó người Nga và Trung Quốc tất nhiên muốn giúp đỡ Miền
Bắc, giờ đã là một nhà nước xã hội chủ nghĩa anh em. Họ sẽ hài lòng
nếu người Mỹ thất bại trong việc biến Miền Nam thành một hàng mẫu
của chủ nghĩa tư bản, nhưng sẽ không ăn ngon miệng nếu biến Đông
Dương trở thành nơi đối đầu quyết định giữa Đông và Tây.
Việt Minh về nhà từ Geneva tin rằng Chu Ân Lai đã lừa dối họ, tuy vậy
Hồ Chí Minh nhìn nhận rằng quyền bá chủ trên toàn cõi Việt Nam phải
được trì hoãn một thời gian. Khi cuộc tổng tuyển cử Nam Bắc xảy ra,
ông có thể tin chắc thống nhất sẽ đến. Hiện thời, ông và các đồng chí
mình toàn tâm toàn ý cho công cuộc xây dựng nhà nước xã hội chủ
nghĩa mà họ đã mơ ước bấy lâu, trong đó Miền Nam sẽ được kết nạp.
Mặc dù Việt Minh đã phô diễn lòng kiên gan chiến đấu, nhưng vào năm
1954, các lãnh đạo của nó ắt hẳn đã vui mừng vì cuối cùng cũng được
ngủ ngon trên giường dưới mái ấm gia đình; được ăn những bữa cơm
khá ngon; được sống và làm việc mà không sợ bom rơi pháo nổ.
Không có người phương Tây nào xem Geneva là một thành tựu, mà chỉ
là một vận dụng nhằm hạn chế thiệt hại, như chính sách ngoại giao của
Cường quốc Lớn Nhất: thành tựu của nó là bứng một cường quốc thực
dân đã đuổi sức ra khỏi một cuộc chiến không thế thắng. Vậy mà điều
phi thường về Hiệp định là chính quyền Sài Gòn mới nhận được quá
nhiều, trong khi Việt Minh chiến thắng lại nhận quá ít. Đó là bởi vì
người Nga và người Hoa ít quan tâm với số phận của Đông Dương, và
nói trắng ra của Việt Nam, hơn là Chiến bình Lạnh của Washington
tưởng. Mao Trạch Đông không muốn nhìn thấy một Việt Nam cộng sản
hùng mạnh ngay thềm cửa của mình, và có vẻ đang nóng lòng muốn lôi
kéo Lào và Cambodia vào tầm ảnh hưởng của mình, hơn là của Hồ Chí
Minh.
Lệnh ngừng bắn có hiệu lực vào ngày 27 tháng 7, hoãn tạm thời việc
chia cắt Việt Nam. Sau nhiều năm sống tại bộ chỉ huy bí mật Trung
ương Cục Miền Nam trong vùng đồng bằng Cửu Long, Lê Duẩn xuất
hiện để bắt đầu chuyến đi về Miền Bắc.
Vào ngày 9 tháng 10 Quân đội Pháp rời Hà Nội, đánh dấu sự kiện bằng
các lễ nghi quân cách vênh váo. Giữa hồi trống giục và chập chã chát
chúa, Tướng René Cogny, chủ gánh xiếc Điện Biên Phủ, đưa tay chào
các quân kỳ các trung đoàn đã tham gia chiến đấu – nhảy dù, Lê
Dương, Thủy quân Lục chiến, Senegal, Bắc Phi, cùng với đoàn thiết
giáp ngấu nghiến lớp nhựa mỏng của đường phố Hà Nội. Người Pháp ra
đi mà không tỏ ra cao thượng và hào phóng chút nào: họ lấy đi hoặc phá
hủy mọi thứ có giá trị đối với người chiến thắng.
Đoàn Phượng Hải 10 tuổi cho rằng tiếng kèn của người Pháp thổi khi rời
Hà Nội ‘quá buồn nghe như tiếng nức nở’. Quốc kỳ của họ được hạ
xuống lần cuối cùng trên pháo đài vào một buổi chiều lộng gió, ẩm ướt
và giá lạnh. Hai hạ sĩ quan gấp lá cờ tam sắc ướt sũng, rồi trình cho vị
tướng chủ tọa, và vị này trao lại cho chỉ huy quân đồn trú. Mưa che
khuất những giọt nước mắt của nhiều sĩ quan và binh sĩ khi quân nhạc
chơi bài Marseillaise (quốc thiều Pháp). Rồi quân đồn trú lên xe tải quân
sự và chạy đi về phía bờ biển. Như vậy là đúng 75 năm kể từ khi cường
quốc thực dân nắm quyền trị vì thành phố.
Người Pháp ra đi trước tiên được thay thế bởi các đại diện của Ủy ban
Kiểm soát Quốc tế, ‘các sĩ quan Quân đội Ấn Độ với gậy ngắn và ria
mép tua tủa, người Ba Lan mặt nhợt đội loại mũ lưỡi trai tam giác kỳ
cục, và người Canada uống bia nói thứ tiếng Pháp khó nghe.
Tiếp theo là đoàn quân chiến thắng, những đơn vị đầu tiên của quân đội
Giáp. Theo.lời của Howard Simpson: họ bước đi hàng hai, mỗi người
một bên đường, những người nhỏ thó trong quân phục bạc màu, đội mũ
lót vải, vắt lá cây trên lưới ngụy trang. Vai trĩu nặng với vũ khí và thiết
bị, bộ đội của Sư đoàn 308 đang bước vào một môi trường hoàn toàn xa
lạ, đi trước họ là tiếng lệt xệt của hàng trăm bàn chân trong đôi giày vải
rẻ tiền: Đoàn quân Việt Minh tiến vào Hà Nội cho thấy mình là một
trong những đoàn quân diễu hành chiến thắng lặng lẽ nhất trong lịch sử
thế giới. ‘Các chiến binh nông dân trố mắt nhìn các tòa nhà cao tầng và
đại lộ to rộng, chiến lợi phẩm của cuộc chiến đấu của mình. Các đám
đông dân chúng nhìn họ biểu lộ một nhiệt tình không hoàn toàn tự phát:
các cán bộ nhiều ngày trước đã đi khắp thành phố, dặn dò dân chúng hãy
mạnh dạn hoan hô đoàn quân chiến thắng.
Kẻ thù bất khuất chiến thắng: Theo sau lệnh ngừng bắn 1954 các sĩ
quan Pháp hộ tống một đơn vị Việt Minh vào thành
Một nông dân lớn tuổi sống cạnh quốc lộ 1 nói: ‘Ngày hạnh phúc nhất
đời tôi là khi nhìn thấy hai xe nhà binh chở đầy binh lính Pháp rời Huế
lần cuối cùng. Họ lái xe qua nhà tôi, người nào trông cũng buồn.’ Pháp
để lại sau lưng mình ngôi mộ của 93 ngàn người lính, đã hy sinh từ năm
1945 trong cuộc chiến đấu vô vọng để bám lấy Đông Dương. Những
người này không có Kipling (văn hào Anh: ND) để dệt cho họ tấm vải
liệm lãng mạn. Tuy nhiên, một thập niên sau tại Sài Gòn, một truyền
thuyết đã được thêu dệt, kể rằng những người lính ngã xuống của Nhóm
Cơ động 100 đã được chôn cất cạnh Đường 19 ở Cao nguyên Trung
phần nơi họ hy sinh, khi chết vẫn đứng thẳng người, mặt quay về Pháp.
CHƯƠNG 5: HAI NỀN CHUYÊN CHẾ
1 ‘Một Chế Độ Khủng Bố’
Miền Bắc và Miền Nam đã luôn khác nhau như tình trạng xảy ra ở Anh,
Mỹ, Ý và nhiều quốc gia khác, thậm chí cũng văng tục khác nhau. Trong
những năm theo sau Hiệp định Geneva, cả hai miền rơi vào tay những
chế độ độc đoán áp bức. Tuy nhiên, chế độ của Hồ Chí Minh hưởng lợi
từ một số lợi thế chính trị đáng kể. Trong khi Miền Bắc bị tan hoang vì
chiến tranh, lâm vào cảnh cơ cực ngày càng nhanh chóng tồi tệ vì các
chính sách kinh tế cộng sản, nó ngày càng bị khép vào kỷ luật một cách
hiệu quả. Hồ đã trải thời gian sống ở Việt Nam ít hơn Ngô Đình
Diệm. Là người chiến thắng trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tuy
nhiên, ông giành được uy tín to lớn, và triển khai sức thu hút và lôi cuốn
của mình đến một hiệu ứng khủng khiếp trên sân khấu thế giới. Hơn
nữa, bằng cách vận dụng kiểm soát sắt thép về thông tin và truy
cập, Miền Bắc che đậy các vụ nổi dậy, thanh trừng, và sát hại khỏi sự
dòm ngó của các nước ngoài. Ở Miền Nam, trái lại, những điên rồ và
bạo ngược của chế độ Diệm xảy ra nhan nhản trước mắt mọi người:
nhiều nông dân nhận thấy chế độ điền chủ Miền Nam không thể chấp
nhận không kém thời thuộc địa Pháp, và không biết gì về cảnh khốn
cùng tồi tệ hơn của anh em Miền Bắc của mình. Chỉ rất lâu sau này
người Miền Nam khi nhìn trở lại ‘sáu năm’ – thời kỳ từ 1954 đến 1960 –
mới biết đó là thời kỳ nông thôn thanh bình hạnh phúc đã mất.
Theo sau lệnh đình chiến ngày 25 tháng 7 1954, một chuyến xuất hành
rầm rộ từ Bắc vào Nam xảy ra, khi một triệu người khiếp sợ hệ thống cai
trị mới – các doanh nhân, công chức làm cho Pháp, điền chủ, người
chống cộng và trên hết là giáo dân Thiên Chúa – bỏ quê hương ra đi
bằng đường bộ, đường biển, và đường hàng không. Đó là thời gian của
náo loạn, chia cắt, sợ hãi và ly tán. Các cán bộ Việt Minh ngăn cấm các
chuyến xe đò chở người trốn chạy cộng sản đến cảng Hải Phòng theo
Quốc lộ 1, xúi giục và đôi khi cưỡng ép hành khách ở lại. Gia đình
tương đối khá giả của Nguyễn Dương, những người buôn bán nhỏ, chịu
đựng một tai họa: trong đám đông người chen chân tại sân bay bên ngoài
Hà Nội, mẹ ông đặt tạm xuống đất túi hành lí chứa tất cả của cải mang
đi được của gia đình gồm vàng bạc và nữ trang. Chỉ trong vài giây nó
biến mất, không bao giờ tìm lại được: họ bắt đầu cuộc sống mới tại Sài
Gòn không một xu dính túi.
Những cảnh tượng thương tâm xảy ra ở Hà Nội khi những người khá giả
hơn chất đống đồ đạc ngoài đường để bán tháo. Một số gia đình bị chia
cắt. Cha của Nguyễn Thị Chinh tên Cửu, người từng đứng đầu trong một
gia đình địa chủ giàu có, bảo với cô con gái 16 tuổi và anh trai cô 19
tuổi tên Lân rằng họ phải di cư về miền nam – một cô con gái đã bỏ đi,
sau khi cưới một bác sĩ Pháp. Vào đêm trước khi họ bay, ông trao mỗi
đứa con một thắt lưng đựng it tiền, thức ăn và đồ thiết yếu. Tuy
nhiên, vào sáng sớm hôm sau, Chinh bị anh trai Lân đánh thức, và thì
thầm vào tai em gái, ‘Ra ngoài mau.’ Ngoài đường họ bắt gặp một người
bạn của Lân đang giữ hai chiếc xe đạp. Anh trai cô nói, ‘Tụi anh đi theo
cách mạng. Nếu cha biết, cha sẽ không cho đâu.’ Chinh khiếp đảm. Cô
van nài, năn nỉ, la hét, kéo xe đạp lại, nhưng vô ích. Lân và cậu bạn đạp
xe đi. Lo lắng, cô vào đánh thức cha dậy. Cha quyết định dù sao cô cũng
phải ra đi như đã dự tính, trong khi cha ở lại tìm Lân. Một vài giờ sau cô
thấy mình ở giữa đám người tuyệt vọng xô đẩy, la hét ở sân bay, chen
nhau lên máy bay vận tải. Cha cô tiễn cô và trao cho cô một vòng tay
vàng. Khi đến Sài Gòn cô được gửi vào trại tị nạn, ở đó suốt nhiều tuần
lễ cô khóc không dứt. Cuối cũng cô gặp một người bạn gia đình tử tế,
mời cô đến và sống với họ; hai năm sau cô lấy con trai họ. Cô không
biết tin gì về anh trai cô trong gần 40 năm.
Trần Hội, phục vụ trong Không Lực Pháp với vai trò tập sự, không do
dự gì chuyển vào Sài Gòn với phi đội của mình. Tuy nhiên, mẹ anh
quyết định ở lại lo việc bán nhà và công ty xe khách của gia đình. Hội
bay vào Nam trên chiếc C-47: ‘Tôi khóc suốt – người Việt không bao
giờ rời bỏ thân nhân.’ Anh chắc sẽ khóc to hơn nếu biết rằng mãi đến
năm 1998 mình mới tiếp xúc trở lại với họ hàng. Anh lao vào cuộc sống
mới ở Miền Nam lúc nào cũng đượm vẻ u sầu, vì vào những ngày lễ và
ngày tết anh không có nhà cha mẹ để về đoàn tụ.
Bằng xe đò, ô tô và đi bộ, các gia đình dắt díu đi về Hải Phòng để lên
tàu, phần nhiều là tàu Mỹ. Sau này có tin cho rằng các đặc vụ Mỹ tiến
hành một chiến dịch tuyên truyền làm người Bắc sợ để đi vào
nam. Việc có tuyên truyền là điều vượt quá sự tranh cãi, kể cả những
câu chuyện tàn bạo cộng sản dựng lên bởi ‘người hùng’ bảo thủ Mỹ Bs
Tom Dooley, tác giả cuốn hồi ký dối trá bán chạy nhất Deliver Us From
Evil (Giải Thoát Chúng Tôi Khỏi Tai Ương). Tuy nhiên, cũng có các
thảm kịch với đầy đủ chứng cứ rơi xuống nhiều người ở lại, chấp nhận
các bảo đảm của Hồ Chí Minh về số phận mình rằng họ không có gì
phải sợ.
Con trai điền chủ Nguyễn Hải Định được 18 tuổi khi em gái duy nhất
của anh di cư vào nam. Chính anh ở lại. ‘Tại sao? Vì tôi quá ngu…
Chúng tôi đã nghĩ người Pháp là những tên thực dân áp bức cho đến khi
cộng sản nắm quyền, lúc đó chúng tôi mới bắt đầu nghĩ, người Pháp là
bạn bè của chúng tôi.’ Tất cả ai có sở hữu tài sản hoặc học vấn đều bị
đánh đấu để loại trừ, thậm chí bị giết, dưới trật tự mới. Định thấy rằng
lý lịch giai cấp của mình khiến anh không đủ điều kiện vào đại học, hoặc
kiếm được một công việc nào có trách nhiệm. Giáo viên về ý thức hệ
mới của anh nói, ‘Trong quá khứ đất nước này là phong kiến, giờ nó
thuộc về nông dân và công nhân. Còn em không có xứ sở.’ Cha anh bị
tước mọi quyền công dân vì có 5 năm là một ‘phần tử chống xã hội’, và
buộc phải tìm kế sinh nhai làm đầu bếp cho các cán bộ của Đảng. Định
hóa ra căm ghét mọi thứ về xã hội mình, và trên hết là không thể nói ra
những gì mình nghĩ. Anh hẹn hò với một sinh viên tên Phương, nhưng
suốt 5 năm ve vãn anh chưa lần nào dám bàn luận về đề tài chính trị.
‘Mọi người đều theo dõi người khác. Ai cũng có thể làm người chỉ
điểm.’ Anh được coi là chỉ thích hợp làm nghề lao động tay chân.
Trong một số vùng cao tình trạng đối kháng vũ trang vẫn còn dai
dẳng, sử dụng vũ khí do các lực lượng đặc biệt của Pháp cung cấp trước
khi đình chiến. Bernard Fall cho rằng một vài sĩ quan Pháp làm việc với
các bộ tộc không thể liên lạc được vì ở các vùng hẻo lánh, và bị bỏ lại
cho đến khi họ bị hốt từ từ hoặc bị giết. Ông mô tả một người Pháp gọi
điện một cách tuyệt vọng tận mùa hè 1956: ‘Đồ chó chết tụi bây, hãy
cứu giúp chúng tao! Cứu giúp chúng tao! Thả dù ít ra cũng đồ tiếp tế để
chúng tao có thể chiến đấu đến chết thay vì bị làm thịt như thú vật.’ Fall
xác nhận rằng không ai làm gì cả. ‘Pháp không thừa nhận họ và người
cộng sản mặc tình giải quyết vấn đề theo ý mình.’
Tuần báo Quân đội Nhân dân Hà Nội báo cáo trong tháng 9 1957 rằng
trong hai năm sau đình chiến, lực lượng của họ trong vùng núi phía
đông sông Hồng đã giết 193 và bắt sống 300 ‘quân địch’, trong khi
cưỡng bách đầu hàng 4,336 người dân tộc. Chắc chắn trong số này chỉ
có một nhúm người Pháp, nhưng báo cáo khẳng định sự kháng cự dai
dẳng.
Trong khi đó chính quyền mới chuẩn bị cơ cấu việc cải cách ruộng
đất. Nhật báo Nhân Dân của Đảng kêu gọi cán bộ hãy loại bỏ học thuyết
vị kỷ và chủ hòa mà hãy quyết tâm lãnh đạo giai cấp nông dân đập tan
toàn bộ giai cấp địa chủ. Truyền thông Miền Bắc ra rả đầy tai tuyên
truyền chống Mỹ. Pierre Asselin, người lưu ý rằng mọi chính quyền
chuyên chế đều cần những kẻ thù, đã viết: ‘Quỷ hóa Hoa Kỳ… tạo ra
một “đối thủ hữu dụng” khiến dễ dàng nắm được và duy trì được sự hậu
thuẫn của công chúng… cho cách mạng tiến lên’.
Chương trình cải cách ruộng đất hà khắc được áp dụng giữa 1954 và
1956 làm vui lòng một số nông dân, khi chứng kiến các địa chủ cũ của
họ bị tịch thu hết tài sản, nhưng áp đặt quá nhiều nỗi gian nan đến nỗi
cho dù chiến tranh đã qua đi, nhiều người còn tiếp tục đối mặt với đói
kém triền miên. Dương Vân Mai, con gái của một viên chức thuộc địa
trước đây, nhận xét: ‘Nhà nước đã loại bỏ động lực làm việc hăng say là
trả công nông dân theo lao động của họ’. Khi sau này áp dụng chế độ tập
thể hóa nông nghiệp, ‘sự thiếu thốn trở thành một phong cách sống.’
Người lớn được phân bổ khẩu phần là 28 cân gạo một tháng, 10 ao-xơ
thịt và cũng ngần ấy đường, khoảng nửa lít nước mắm. Họ nhận được
bốn thước vải mỗi năm, và hai bộ áo lót. Vậy mà trong những ngày đen
tối nhất, giới lãnh đạo Đảng và gia đình họ sống thoải mái hơn
nhiều. Thành phần cao cấp trong xã hội Miền Bắc không thể hưởng
được sự giàu có mà đẳng cấp Miền Nam sớm tích lũy được, nhưng họ
không hề đói. Vào năm 1955, chỉ nhờ gạo do Miến Điện chở đến mới
tránh được một nạn đói nghiêm trọng như hồi một thập niên trước.
Nguồn tiền mặt chủ yếu của Hà Nội là 200 triệu đô la do Trung Quốc
cung cấp, và 100 triệu khác từ Nga. Tuy nhiên, số tiền này không phải là
quà tặng mà chỉ là tiền mua các hàng hoá xuất khẩu, trong khi ở trong
nước không đủ dùng.
Các thống kê có thể tin được chưa hề được công bố về tình trạng bạo
ngược và bức hại do các nhà cai trị Miền Bắc vì phạm trong những năm
đầu cách mạng. Sự thú nhận có ý nghĩa được Giáp đưa ra trong một diễn
văn đọc vào ngày 29/10/1956, khi đó ông là phó thủ tướng: ‘Chúng ta
nhìn thấy điền chủ nào cũng là kẻ thù, dẫn đến nhận định là kẻ thù ở
khắp mọi nơi. Trong việc đàn áp kẻ thù chúng ta thông qua các biện
pháp mạnh và sử dụng các phương pháp không được phép (một mỹ từ
công sản chỉ việc tra tấn) để buộc cung khai … Kết quả là nhiều người
dân vô tội bị tố cáo là phản động, bị bắt bớ, trừng phạt, tống giam.’ Ước
tính có đến 15,000 bị hành hình. Trong khi Hồ Chí Minh được cho là đã
bày tỏ sự lo lắng và khổ sở về các hành động quá trớn, ông không hề sử
dụng uy tín to lớn của mình để ngăn việc ấy lại. Không chỉ một phần lớn
các đất đai của điền chủ bị xung công, mà trong nhiều trường hợp chế độ
mới yêu cầu họ phải trả lại cho tá điền số tiền họ bóc lột trong những
năm đã qua. Đồ đạc và trâu bò cày cũng bị tịch thu tùy tiện, thành ra bác
của Dương Vân Mai thấy mình phải gắng sức cày mảnh ruộng còn lại
của mình với một chiếc cày máng vào vai ông. Không gian trong ngôi
nhà lớn khác của người cậu được ‘tái phân phối’: khi trở về thăm cậu 40
năm sau, cô thấy căn nhà có đến 40 người cư ngụ. Bà nội của Đoàn
Phương Hải miền bắc già sọp hẳn đi trong mắt anh khi bà bị kết án là địa
chủ, rồi sau đó bị thấm vấn, bị đấu tố, và tài sản bị xung công. Bà không
cho con trai đưa mình ra Hà Nội chữa trị, chỉ ho sù sụ và sống lay lắt rồi
qua đời.
Toàn bộ giai cấp địa chủ phải hứng chịu sự sỉ nhục theo cơ chế, nhằm
mục đích gia tăng lòng tự tôn của giới nông dân đồng thời hạ thấp giai
cấp tư sản. Thậm chí một người cộng sản nhiệt thành như Bs Nguyễn
Thị Ngọc Toàn sau này nhìn nhận: ‘Nhiều việc đã xảy ra mà tôi cho là
vô lý.’ Nhiều năm liền bà không được xét tăng bậc, cho dù bà một lòng
với Đảng: ‘mọi thứ đều phải yêu cầu có lý lịch tốt’. Theo đó bà có ý nói
ai thuộc nguồn gốc nông dân được chiếu cố hơn những người như bà,
xuất thân từ giai cấp tiểu tư sản hay được cho là có đặc quyền trong chế
độ cũ. Bất đồng chính kiến, đa nguyên, tự do thông tin cũng bị bãi bỏ.
Miền Bắc theo cách tiếp cận đến chân lý kiểu Stalin, tức chân lý là bất
cứ điều gì mà bộ chính trị ra sắc lệnh là như vậy.
Trương Như Tảng, sau này là một cán bộ nằm vùng, nhìn nhận rằng
nhiều ‘kẻ thù của nhân dân’ bị xử bắn …cái gọi là địa chủ … đơn giản
chỉ là những nông dân nghèo trước đây rối tình cờ có được những mảnh
ruộng hơi lớn hơn người hàng xóm, nhưng thực ra cũng là nhỏ nói cho
ngay.’ Ông cũng lưu ý rằng Đảng chưa bao giờ bày tỏ sự hối tiếc đối với
chiến dịch 1956 nhắm đàn áp ‘giới trí thức’ (có lẽ là vụ án Nhân Văn
Giai Phẩm: ND): thậm chí những người đã trốn thoát khỏi cảnh ngục tù
của bọn thực dân cũng bị quản thúc tại gia không được tiếp xúc với ai.
Vào tháng 11 1956 xảy ra các vụ khởi nghĩa dữ dội, phải đến hai sư
đoàn được triển khai để đánh dẹp. Một vụ xảy ra ở tỉnh Nghệ An, mà
lịch sử cộng sản sau này gán ghép cho ba ‘giáo sĩ Thiên Chúa phản
động’, có tên là Cha Cần, Đôn và Cát, đã xúi giục giáo dân phong tỏa
làng, cướp vũ khí, bắt giữ cán bộ và tổ chức biểu tình chống cải cách
ruộng đất.
Tường thuật của cộng sản nhìn nhận: ‘Chúng ta buộc phải sử dụng biện
pháp quân sự… Tất cả bọn cầm đầu và tay sai đều bị bắt.’ Thêm vào số
100 người chết lúc giao tranh, hơn 2,000 vụ hành quyết xảy ra sau đó,
và nhiều bản án tù. Giữa năm 1956 và 1959 còn xảy ra rối loạn ở tỉnh
Lai Châu. Hà Nội tuyên bố là do bọn đặc vụ Quốc Dân Đảng Trung
Quốc xúi giục, nhưng các vụ nổi dậy tạo ra ‘nhiều tình hình chính trị nan
giải… gây sợ hãi và lo âu trong dân chúng về chủ nghĩa xã hội và làm
giảm sút lòng tin của nhân dân vào Đảng cầm quyền.
Lân, anh trai của Nguyễn Thị Chinh, người đã vô nam từ năm 1954, bực
bội tìm cách tham gia Việt Minh, không biết thế nào mà bị tống vào tù
trong 6 năm.
Sau đó, bị truất sổ nhu yếu phẩm, anh buộc phải lao động khuân vác để
sống qua ngày; có lần anh buộc phải bán máu cho bệnh viện để kiếm ít
tiền lúc ngặt nghèo. Số phần của cha anh càng bi thảm hơn: thậm chí
khi được phong thích ra tù ông không thể xin được sổ nhu yếu phẩm
hoặc việc làm, và cuối cùng phải đi ăn xin. Một đêm, lạnh và đói, ông gõ
cửa nhà một người bạn cũ là nhà văn Ngọc Giao. Vợ của Giao ra mở
cửa, nhìn vào vị khách liền van xin ông hãy đi cho: chồng bà cũng thuộc
dạng không ưa gì chế độ. Nhưng vừa lúc ấy Giao đã chui xuống từ mái
nhà đã ẩn núp lúc nãy vì nghe có khách Giao ngỡ là công an. Ông khẩn
khoản giữ bạn ở lại, đãi một bữa cơm và cho tắm rửa. Họ hàn huyên suốt
đêm. Đến sáng nhà văn nói một cách rầu rĩ, ‘Mình sợ là ông không thể
nán lại đây.’ Trước khi Cửu đi, ông nói với Giao, ‘Nếu có khi nào ông
nghe tin gì về con gái tôi, làm ơn nói với nó là mình thương nhớ nó
lắm.’ Rồi ông biến mất vào đường phố. Giao và bà xã từ đó chỉ dám
giúp đỡ lén lút, thỉnh thoảng cứ hai tuần đặt một túi gạo ở con hẻm sau
nhà vào ban đêm. Rồi một đêm không ai đến lấy. Cửu đã biến mất khỏi
cuộc đời họ, chết ở một xó xỉnh nào đó và một thời khắc nào đó không
ai biết. Chinh tìm lại được một chớp thoáng về những ngày cuối cùng
của cha già rất muộn sau khi chiến tranh kết thúc.
Miền Bắc được tình báo Tây phương biết dưới tên ‘vùng đất bị từ chối’.
Vậy mà nhờ uy tín của vị lãnh đạo, một nhân vật có lý lịch chống đế
quốc bất khả truy tố, một hiện thân của cuộc đấu tranh cách mạng khải
hoàn, nên xứ sở của ông ngẫng cao đầu trước thế giới. Vị thế của nó như
một xã hội khép kín mời gọi những cái nhún vai từ phần đông người Tây
phương, rằng đây chỉ là chuẩn mực của người cộng sản. Một nhà tri thức
Miền Bắc sau này đề nghị sự nghiệp của Hồ nên được nhìn theo ba giai
đoạn – thứ nhất như là một nhà yêu nước giản dị; rồi như một người
cộng sản; cuối cùng một người theo chủ nghĩa dân tộc rõ ràng, trong
thực tế đang theo đuổi Quốc tế Cộng sản. Theo quan điểm của một đồng
bào, ông lợi dụng phần lớn nhờ vào trải nghiệm quốc tế và những ràng
buộc với Trung Quốc và Liên bang Xô viết, trong khi các đối thủ quốc
gia của ông biết rất ít về thế giới bên ngoài Đông Dương. Ông điều hành
sự cân bằng tinh tế một cách phi thường giữa hai siêu cường, nhất là sau
khi mối quan hệ của họ đã trở nên lạnh giá vào cuối thập niên 1950.
Bộ Chính trị Hà Nội choáng váng trước bài diễn văn của Nikita
Khrushchev vào tháng hai 1956 trong Hội nghị lần thứ 20 của Đảng
Cộng Sản Xô Viết, trong đó Khrushchev tố cáo sự sùng bái cá nhân cho
dù khi đó nhà lãnh tụ Việt Nam được tôn sùng như một ông thánh. Phần
đồng các đồng chí cao cấp của Hồ đều là người theo Stalin, họ than khóc
khi người hùng của mình qua đời ‘với nước mắt tuôn tràn trên má’, theo
lời một viên chức của Đảng. Giờ họ ghê tởm trước quyết định của
Moscow từ bỏ đối đầu quân sự, thay vào đó cạnh tranh kinh tế và ý thức
hệ. Cuộc nổi dậy ở Hungari 1956 khẳng định với giới lãnh đạo Miền
Bắc về quan điểm rằng bất kì hành động nuông chiều nào dành cho
người bất đồng chính kiến đều có nguy cơ tháo xiềng xích cho các thách
thức đối với chính quyền.
Một nhà ngoại giao Canada báo cáo từ Hà Nội: ‘Có ít căn cứ khi nói về
những khả năng sụp đổ của nền kinh tế Miền Bắc, vì làm gì có cấu trúc
kinh tế mà sụp đổ.’ Vào thời điểm độc lập, trong dân số 13 triệu người,
chỉ có 30 kỹ sư đủ chất lượng và một nhúm hãng xưởng: các nhà cai trị
đất nước quá bận bịu với tình trạng khó khăn trong nước nên không còn
lòng dạ nào mà gây hấn Miền Nam. 80,000 bộ đội được giải ngũ và
được phái về tham gia lực lượng lao động nông thôn. Cả Trung Quốc và
Liên bang Xô viết đều nêu rõ là họ chống đối mọi khiêu khích vũ trang
có thể đánh động người Mỹ.
Chứng cứ về các cuộc đấu đá quyền lực trong Đảng trong giai đoạn
1954-57 vẫn còn nghèo nàn. Dù sao dường như khá rõ ràng Hồ và Giáp
không muốn chiến tranh mới: họ tin tưởng mình có thể đạt được một
nước Việt Nam cộng sản thống nhất mà không cần đánh nhau.
Lời cam kết thống nhất trong hoà bình thường được nhắc lại của họ –
tại thời điểm này- là thành thật. Tuy nhiên, những nhân vật đang lên
khác không nghĩ như vậy. Khi quan sát sự diễn tiến của chính quyền
Diệm ở Sài Gòn, họ tìm thấy ít hy vọng mình được quyền kế thừa chính
đáng một nước Việt Nam thống nhất, nếu không qua đấu tranh vũ trang.
2 ‘Chàng Trai Độc Nhất Chúng Ta Kiếm Được’
Cuộc xuất hành 1954 vào Miền Nam song hành với một cuộc tập kết ra
Bắc ít quy mô hơn của binh lính cộng sản. Họ ra đi, thường sau những
cuộc chia tay bịn rịn với cộng đồng nơi họ đóng quân. Trong năm 1954-
55, tổng số 173,900 chiến sĩ Việt Minh và 86,000 người phụ thuộc họ
‘tập kế’ đến Miền Bắc. Trước khi ra đi, ai cũng nhắn nhủ với thân nhân
ở lại hai năm sau sẽ tái ngộ, khi đó đất nước sẽ thống nhất sau cuộc tổng
tuyển cử mà họ tin chắc cộng sản sẽ đắc thắng. Các cựu chiến sĩ Việt
Minh vì vậy có cử chỉ quen thuộc là giơ hai ngón tay lên, ý nói hai năm
nữa ước mơ của họ sẽ nhất định thành hiện thực.
Bà vợ tên Nga của vị bí thư Trung ương Cục Miền Nam Lê Duẩn đang
có mang đứa con thứ hai của họ khi chồng bà gửi bà ra bắc trên một con
tàu Ba Lan, cùng với gia đình của người đồng chí thân cận Lê Đức Thọ.
Còn ông thì ở lại. Vào cuối đời mình, Lê Duẩn lập luận rằng Hồ Chí
Minh phạm hai sai lầm lịch sử là thứ nhất nhìn nhận sự trở lại của
Pháp năm 1945, rồi thứ hai là chấp nhận sự chia cắt năm 1954. Ông và
phe cực đoan của mình tin rằng một Việt Nam cộng sản và thống nhất
chỉ có thể thành tựu qua chiến đấu giành lấy. Lời ông nói trước khi chia
tay với Nga là, ‘Bảo với Bác Hồ là 20 năm nữa chúng ta mới gặp lại
nhau.”
Vi phạm Hiệp định Geneva, Hà Nội ra lệnh cho 10,000 Việt Minh bí
mật ở lại Miền Nam, nhằm bảo đảm cho việc tái hoạt động cuộc đấu
tranh vũ trang. Hầu hết các du kích quân tập kết ra Bắc đều hoang mang
và đúng ra phẫn nộ vì việc chia cắt, và càng hoang mang và phẫn nộ hơn
sau khi vượt qua Vùng Phi Quân Sự (DMZ). Họ trải nghiệm nỗi cơ cực
lớn hơn mình đã nếm mùi ở Miền Nam nơi cuộc sống tương đối no đủ
hơn. Nhiều người gậm nhấm nỗi nhớ nhà và người thân, chỉ mong 2
năm trôi nhanh để được sum họp. Bà vợ Lê Duẩn bỗng thấy mình sống
với hai con nhỏ trong một căn phòng nằm trên một gara ở Hà Nội, phụ
trách chuyên mục có tựa đề ‘Phụ Nữ Việt Nam’ cho nhật báo Đảng, và
không biết gì về số phận của chồng mình tại Trung ương Cục Miền
Nam. Một số người miền Nam tập kết bày tỏ bất mãn với chính quyền
Miền Bắc và gần như tất cả đều ôm ấp một khát khao duy nhất: trở về
nơi đã ra đi. Trong khi đó con cái một số cán bộ được gửi đi học cao hơn
ở Liên Xô và Trung Quốc.
Miền Nam và chính quyền của nó hưởng được những thuận lợi đáng kể:
đồng bằng Cửu Long là vựa lúa của vùng Đông Nam Á; vùng quê tương
đối không bị ảnh hưởng bởi chiến tranh; dù Việt Minh tranh thủ được
hậu thuẫn rộng khắp dưới lá cờ chiến đấu giành độc lập, nhưng dân
chúng không mặn mà lắm với chủ nghĩa cộng sản; còn người Mỹ hồ hởi
muốn xứ này trở thành hình mẫu cho điều họ gọi là ‘tiền đồn của thế
giới tự do’. Một sĩ quan quân đội Miền Nam sau này nhớ về những ngày
tháng đó: ‘Chúng tôi sống vô tư. Chúng tôi không giàu, nhưng thoải mái
và được ít nhiều tự do. Chúng tôi xuề xòa, vì người Miền Nam lúc nào
cũng xuề xòa, vì họ sống trên vùng đất màu mỡ. Không như người Bắc
thường kín kẻ vì họ xuất thân từ vùng đất cam go và nghèo nàn.’ Một
người miền bắc di cư có chức vị cao trong chính quyền Sài Gòn viết:
‘Đối với phần đông bọn tôi, những năm 1956-60 là ngày tháng tốt đẹp
nhất trong cuộc đời – Chúng tôi dạt dào kỳ vọng ở tương lai.’ Cô gái gốc
nông dân Phùng Thị Lý, sinh năm 1949, nhớ lại thời thơ ấu ở vùng quê
như là ‘chốn thiên đường, đầy chim chóc nhiệt đới và trâu bò; chó gà và
heo mà chúng tôi coi là thú cưng; những dòng sông trôi đi để bơi lội; và
ruộng đồng bát ngát nơi chúng tôi chạy giỡn và reo cười ‘.
Hồ Chí Minh nắm quyền làm chủ Miền Bắc sau một thử thách đạn lửa.
Ngô Đình Diệm, ngược lại, chỉ là người được quốc trưởng dân chơi Bảo
Đại bổ nhiệm tùy hứng, nhận được cái gật đầu miễn cưỡng trước tiên
của người Pháp, rồi người Mỹ. Ông ta sở hữu một số phẩm chất của một
lãnh đạo lớn: can đảm, lương thiện, ăn nói lưu loát, một lòng với đất
nước. Khổ thay ông cũng là một con chiên Thiên Chúa giáo thuần thành;
tận hiến mù quáng cho một gia đình tham lam và vô liêm sỉ; thấm nhuần
niềm tin cứu rỗi vào trọng trách của ông; hoài niệm về một quá khứ phi
hiện hữu; vô cảm trước nhu cầu và khát vọng của nhân dân mình. Cuộc
sống dưới thời Diệm đối với phần đông người Việt chỉ là tiếp nối của
chế độ thực dân. Các ông lớn Mỹ thâm nhập cuộc sống – và cả cái chết
của ông – nhấn mạnh sự yếu đuối thể chất của ông. Sinh năm 1901, có
thời gian ông muốn theo đuổi sự nghiệp giáo sĩ như ông anh Ngô Đình
Thục, mà ông thuyết phục Vatican phong làm tổng giám mục Huế. Tuy
nhiên, thay vào đó, ông bước vào ngành công vụ và năm 25 tuổi đã là
một tri phủ. Năm 1933 người Pháp bảo Bảo Đại phong ông làm Thượng
thư Bộ Lại (tương đương Bộ trưởng Nội vụ), một chức vụ chỉ kéo dài ba
tháng, vì chính quyền thuộc địa không muốn trao cho người Việt nào
một quyền hành thực sự như ông đòi hỏi. Chính trong lúc đó ông đưa ra
một nhận xét sau này được ca tụng như một lời tiên tri: ‘Người cộng sản
sẽ đánh bại chúng ta, không phải vì họ có sức mạnh, mà vì chúng ta yếu
đuối.’
Một thời gian trong thời Thế Chiến II ông bị Việt Minh bắt giam. Chính
Việt Minh cũng đã sát hại người anh và người cháu của ông. Diệm gặp
Hồ Chí Minh, người muốn hợp tác với ông, nhưng ông khước từ. ‘Ông
là tên tội phạm đã thiêu rụi và phá hủy đất nước, ‘Diệm cho là mình đã
bảo Hồ. ‘Anh trai tôi và con trai chỉ là hai trong số hàng trăm người mà
ông đã sát hại.’ Người cộng sản sau này hối tiếc là Hồ đã phóng thích
ông.
Tiếp theo việc Việt Minh âm mưu ám hại ông, năm 1950 Diệm rời khỏi
Việt Nam. Ông sống hai năm lưu vong nội trú trong trường dòng
Maryknoll ở Lakewood, New Jersey, thường làm các công việc nhà hèn
mọn nhất, nhưng cũng được giới thiệu với những bạn bè Thiên Chúa có
ảnh hưởng như Hồng y Spellman, thẩm phán Tối cao Pháp viện William
Douglas, cùng với các Thượng nghị sĩ
Mike Mansfield và John F. Kennedy, mà ông gây ấn tượng vì mối căm
phẫn đối với chủ nghĩa thực dân lẫn cộng sản. Năm 1953 ông chuyển về
tu viện dòng Bê-nê-đích ở Bỉ, nơi ông vụn đắp mối quen biết quan trọng
với người Pháp, và phần nào lấy được lòng tin của Bảo Đại, trong chốn
lưu vong bên ngoài Cannes. Ông em sắc sảo của Diệm là Nhu, sau này
gây ra nhiều tai tiếng, đóng một vai trò quan trọng trong việc lèo lái ông
về phía quyền lực.
Việc Diệm được bổ nhiệm làm thủ tướng, tiếp theo là chuyến trở về Sài
Gòn không ồn ào vào ngày 26 tháng 6 1954, không làm biến chất tính
khổ hạnh cũng không làm sút giảm tính tự tin quá đáng của ông. Niềm
tin tôn giáo và tính tự phụ về đức độ khiến ông tin rằng quyền lực cai trị
của mình được Chúa Trời ban cho. Diệm xem an ninh của Miền Nam là
vấn đề hoàn toàn có tính quân sự: đáp ứng của ông cho điều đó là ban
hành luật động viên vào năm 1955. Ông không mấy quan tâm đến việc
thẻm bạn bớt thù. Ông đưa ra các quyết định và yêu cầu hoàn thành
chúng, chính ông làm việc một ngày 16 tiếng đồng hồ. Bị ám ảnh bởi chi
tiết, ông có thể thuyết trình với một vị đại sứ ghé thăm hoặc một nhà báo
ngoại quốc suốt bốn giờ không nghỉ giải lao; ông đôi khi đích thân ký
tên vào giấy xuất cảnh. Trong khi Hồ Chí Minh là một người có tài ăn
nói đặc biệt dí dỏm, thì Diệm không biết khôi hài, nhất là khôi hài về
mình. Về phần tiền bạc -thu nhập quốc gia cho xứ sở mới của ông – vào
ngày 12 tháng 8 1954 Hội đồng An ninh Quốc gia Hoa Kỳ quyết rằng
thuyết domino là có giá trị, do đó cần thiết phải phục hồi uy tín của
phương Tây ở Đông Dương, đẵ bị hủy hoại bởi việc Pháp bại trận. Một
tuần sau Eisenhower chấp thuận NSC5429/2, biến nước Mỹ thành người
phát lương cho Miền Nam.
Khiếm khuyết trầm trọng nhất đè nặng chế độ Sài Gòn là hiếm có người
cầm cờ hoặc viên chức nào của nó đã tham gia vào cuộc đấu tranh giành
độc lập: nhiều người thậm chí trước đây còn là công bộc của Pháp. Diệm
bẻ gãy lời hứa sẽ khoan hồng những người hoạt động cho Việt Minh, và
ông bắt đầu tống họ vào tù. Ở Paris, thủ tướng Edgar Faure quả quyết
rằng tên cuồng tín nhỏ con ấy ‘không chỉ thiếu năng lực mà còn điên
dại’, và chính quyền Mỹ ngày càng đồng ý về nhận định đó. Nhưng có ai
khác nữa đâu? Mãi cho đến 1961 Phó Tổng thống Lyndon Johnson còn
đưa ra lời biện hộ đáng nhớ cho Diệm: ‘Ôi trời, hắn là chàng trai độc
nhất ta kiếm ra được ở đó.’ Nhưng từ năm 1954 trở đi, dù người Mỹ
nghi ngờ ngài thủ tướng có thể trụ được lâu, nhưng trong phạm vi nhỏ
hẹp của những người ưu tú có học vấn cao của Sài Gòn họ không tìm
được một ứng viên phi-cộng sản nào có triển vọng hơn để cai trị.
Trong số những tay chơi Mỹ ban đầu ở Miền Nam là đại tá không lực
Edward Lansdale, người cầm đầu 48 tuổi của Sứ mạng Quân sự, một
nhóm các chiến dịch bí mật tiến hành những đợt xuất kích phá hoại
không hiệu quả vào Miền Bắc, phải trả giá bằng tự do và sinh mạng của
gần như mọi dân địa phương vì thiếu ăn nên được họ chiêu mộ. Trong
quá trình hai thập niên sau đó, các ông bầu ở Washington sẽ giới thiệu
vào vũ đài Việt Nam một loạt các vai diễn để thử vai của ‘Lawrence của
Đông Dương’, trong đó Lansdale có thể coi là người đầu tiên. Một người
điều hành quảng cáo trước đây với sức thuyết phục duyên dáng đáng kể,
ông thiết lập mối quan hệ với Diệm dường như chắc chắn tạo cho
Washington một sức ảnh hưởng. Vị đại tá đã từng đạt được tiếng tăm
với việc cố vấn Tổng thống Philippin
Ramon Magsaysay trong việc đàn áp bọn du kích Huk, và giờ đây được
Dulles ra lệnh lặp lại thành tựu này. Ông chịu một sức ép hỗn hợp từ các
đồng bào của mình ở Sài Gòn. Một số xem ông như một tên lửa không
được dẫn đường, nhưng sau này một đồng nghiệp nói: ‘Điều tôi kính
trọng là việc với cả người Mỹ lẫn người Việt ông chịu khó lắng nghe và
tính toán rất sắc sảo. Ông thể hiện một óc hiểu biết điều gì là có thể, và
điều gì là không thể. Lansdale nhiều lần cảnh giác với Diệm rằng ông
phải tranh thủ trái tim và khối óc.
Các mánh khóe của đại tá gây tranh cãi nhiều hơn. Ông được cho là chịu
trách nhiệm việc ngăn cản một cú đảo chính của tướng lĩnh vào tháng
10. Ông trả cho lãnh đạo các giáo phái Cao Đài và Hòa Hảo vài triệu đô
la tiền của CIA để về phe Diệm. Ông cũng tìm cách thỏa thuận với Bảy
Viễn, ông trùm lực lượng vũ trang mafia Bình Xuyên. Đế chế các động
mãi dâm, ổ thuốc phiện và sòng bạc tập trung tại Đại Thế giới, tọa lạc
phía sau các vòng tường cao ở Chợ Lớn, và gồm 50 tòa nhà gỗ lợp tôn,
chứa đến 200 bàn. Viễn được người Pháp và một đạo quân mũ nồi xanh
lá cây riêng của mình với quân số 40,000 người bảo vệ.
Vào những ngày đó các nhà cai trị thuộc địa bị tước quyền sở hữu đang
tranh giành ảnh hưởng với người Mỹ, các chàng trai mới xuất hiện, sinh
ra một số xung đột khôi hài đen. Tuy nhiên, khi Lansdale thất bại trong
việc mua chuộc Bảy Viễn, người Mỹ sợ rằng sự hậu thuẫn của người
Pháp có thế khiến tên găng tơ áp đảo ngài thủ tướng.
Các quan sát viên Anh cũng tỏ vẻ bi quan: một bản đúc kết của Văn
phòng Đối ngoại kết luận: ‘Ông Diệm có nhiều phẩm chất đòi hỏi của
một nhà lãnh đạo cách mạng quốc gia toàn tâm cho việc cứu nước – lòng
can đảm, tính thanh liêm, đức kiên trì, lòng tin và một nỗi căm thù
không nguôi đối với chủ nghĩa cộng sản.’ Rủi thay, nhà ngoại giao Anh
nói thêm, ông ‘không có khả năng hòa giải ‘và có ‘ít năng lực điều hành
‘. Khi Tướng Joseph ‘Joe Sấm Sét’ Collins, một tư lệnh quân đoàn năng
nổ, dễ nóng giận thời kỳ 1944-45
dưới quyền của Eisenhower, đến thăm Việt Nam với tư cách đặc phái
viên của tổng thống, ông trở về Mỹ và báo cáo rằng người Mỹ đang
chống lưng cho một người thua cuộc. Collins nói sau đó: ‘Tôi thích
Diệm, nhưng tôi tin rằng ông không có sức mạnh cá tính để quản lý tổ
hợp kỳ cục các cá tính.’ Lúc 6.10 p.m. ngày 27/4/1955, Dulles gửi một
bức điện từ Washington đến Sài Gòn ra lệnh loại bỏ vị thủ tướng, chẳng
khác nào đuổi việc một cô hầu bàn.
Vậy mà Diệm gây bối rối cho những kẻ hồ nghi. Ngay buổi chiều tối
đó, ắt hẳn là do trùng hợp, mà cũng có thể Lansdale có một vai trong
đó, một trận đánh nổ ra trên đường phố Sài Gòn giữa quân đội Miền
Nam và Bình Xuyên. Sáu giờ sau khi Dulles yêu cầu hạ bệ Diệm, ông
vội vã hủy bỏ bức điện của mình: vấn đề bị hoãn lại vì có một cuộc nội
chiến nhỏ trong đó có 500 người Việt chết. Đến cuối tháng 5 lực lượng
chính quyền chiến thắng: Bảy Viễn buộc phải đào thoát qua Pháp sống
lưu vong. Người Mỹ đinh ninh rằng Diệm có nhiều phẩm chất hơn họ
nghĩ trước đây, và đón nhận ông nồng ấm trở lại. Thượng Nghị sĩ
Hubert, Humphrey, một người vận động chủ yếu trong nhóm lốp bi có
ảnh hưởng của Bạn Việt Nam của Mỹ, tuyên bố rằng nhà lãnh đạo Miền
Nam ‘lương thiện, lành mạnh và trọng danh dự’.
Vào tháng 10 1956 Diệm, không muốn tổ chức bầu cử mà người cộng
sản gần như chắc chắn thắng, thay vào đó ông tổ chức một cuộc trưng
cầu dân ý để hạ bệ Bảo Đại và cơ cấu ông vào chức tổng thống và quốc
trưởng của Miền Nam. Lansdale có công trong một chiêu trò đặc trưng –
in phiếu bầu Diệm màu đỏ, màu may mắn theo phong tục Việt Nam, còn
phiếu bầu Bảo Đại thì màu xanh lá cây, một màu xui xẻo. Diệm thắng cử
với số phiếu áp đảo 98.2 phần trăm, một đa số mà ngay cả một ứng cử
viên Xô viết có thể cho là quá lố. Ở Washington, Dulles nói: ‘Việt Nam
giờ là một quốc gia tự do. Nó không phải là bù nhìn.’ Tuy vậy nhà nước
của Diệm sống còn nhờ vào hàng xe tải chở đô la. Nếu ở Miền Bắc
không có một nền kinh tế khả thi, thì ở Miền Nam cũng không – thay
vào đó, một sự thâm hụt mậu dịch khổng lồ và một lượng ào ạt hàng
nhập khẩu do Mỹ tài trợ. Người Việt bắt đầu trích dẫn một câu nói cũ
của người Pháp có tính chế giễu: ‘Cải sang Thiên Chúa giáo, mới có gạo
mà ăn.’ Nguyễn Văn Thiệu, vị tổng thống sau này, cũng ở trong số
những người nghe theo lời khuyên này, bỏ đạo Phật cải sang Thiên Chúa
vào năm 1958.
Viện trợ tăng vọt từ chỉ $US1 triệu năm 1954 lên đến $322 triệu một
năm sau, và tiếp tục tăng sau đó – bình quân đầu người nhiều hơn
Washington cung cấp cho bất cứ nước nào khác trên thế giới trừ Hàn
quốc và Lào. Paul Kattenberg của Bộ Ngoại giao đưa ra một đề nghị
không tưởng là Hoa Kỳ nên trao cho Miền Bắc số tiền hối lộ 500 triệu
đô la để ‘đền bù thiệt hại chiến tranh’ – thật ra, là để Miền Nam được
yên. Cách chi trả như thế, Kattenberg thúc giục, là một giải pháp rẻ hơn
so với việc tài trợ Diệm.
Tuy nhiên, không ai ở Washington quan tâm. Tiền mặt đổ vào két sắt Sài
Gòn, được các tướng lĩnh và viên chức của tổng thống tiêu tốn gần như
tùy tiện, một công thức cho sự hoang phí và tham nhũng. Xin được một
giấy phép nhập cảng của chính quyền là có cửa vào của cải. Một số
người trung lưu đô thị phất lên rất nhanh nhờ tiền và hàng tiện nghi vô
như nước: nhiều nhà giàu mới là người bắc di cư trước đây. Dưới hệ
thống tư bản, dường như chỉ có nông dân là người lao động lương thiện:
Sài Gòn trải qua một đợt phồn vinh bong bóng.
3 Thời Thịnh Vượng
Vào cuối thập niên 1950, thủ đô Miền Nam vẫn còn sở hữu một nét
thanh lịch nhuộm màu trác táng Đông phương làm vui thích người Tây
phương. Những khách mới đến say đắm trước vẻ đẹp của thiếu nữ Việt
trong bộ áo dài truyền thống. Người nước ngoài sính văn chương nhớ
một đoạn văn của Graham Greene: ‘Đem một phụ nữ An Nam lên
giường với bạn giống như đem một con chim: họ líu lo và hát trên gối
bạn.’ Phần đông các cặp nhân tính Tây phương tự do luyến ái, thì người
Việt trung lưu vẫn duy trì cuộc sống xã hội đặc biệt thuần khiết, trong đó
ít người vượt qua lằn ranh của cái nắm tay trước ngày cưới đã sắp đặt
trước. Nguyễn Cao Kỳ, người mà sau này nổi tiếng đào hoa với nhiều vợ
lắm đào, xác nhận rằng khi ông đến Pháp học lái phi cơ, lúc ấy đã 21
tuổi, và như hầu hết những người đồng trang lứa thời đó, vẫn còn là trai
tân.
Các gia đình xây dựng nền nếp gia đình rất nghiêm ngặt cho con trai lẫn
con gái. Cha của Trương Như Tảng định hướng sự nghiệp cho 6 con trai
làm bác sĩ, dược sĩ, ngân hàng, kỹ sư, kỹ sư, kỹ sư. Tảng theo đuổi
ngành dược cho đến khi ông quyết định trở thành một người cách mạng:
‘Mỗi chủ nhật chúng tôi tụ họp tại nhà ông nội để nghe ông dạy đạo lý
Khổng Mạnh. Ông nhắc nhở chúng tôi sống hợp với đạo nghĩa, trung
thực và hiếu đạo. Và ông sẽ đề cập đến các nguyên tắc đạo lý căn bản:
nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Đặc biệt đối với bọn con trai, có hai điều không
thể lay chuyển: bảo vệ danh dự gia đình và tận trung với đất nước.
Chúng tôi sẽ ngâm nga với nhau các câu thơ mà ai cũng thuộc lòng:
‘Công cha như núi Thái Sơn, Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.’
Cuộc sống của cô gái Hà Nội di cư Nguyễn Thị Chinh qua một bước
ngoặt khi vào một ngày năm 1956, cô gái xinh đẹp này gặp Joseph
Mankiewicz, đang ở Sài Gòn để quay bộ phim The Quiet American
(Người Mỹ Trầm Lặng). Ông hỏi cô thử vai nhân vật Phương, cô gái
Việt là người yêu đầu tiên của Fowler, một nhà báo Anh, rồi sau đó của
một nhân viên CIA Alden Pyle. Chinh rất phấn khích: người chồng mới
cưới của cô, một sĩ quan quân đội, đang học tại Mỹ. Vì anh vắng mặt,
khuôn phép gia đình buộc cô phải xin phép mẹ chồng. Bà khiếp đảm
trước tình huống có một cô đào trong gia đình có quan niệm xướng ca
vô loại. Chỉ đến năm sau sự nghiệp điện ảnh của Chinh mới bắt đầu, khi
cô được phép gia đình chồng đóng trong một bộ phim Việt Nam – vai
một ni cô.
Sau đó, cô được dịp đóng liên tiếp nhiều phim khác, 22 phim tất cả, với
các tít như A Yank in Vietnam và Operation CIA. Cô đi khắp Đông Nam
Á đóng phim và trở thành một minh tinh nổi tiếng được nhiều người
trong xứ ái mộ. Tuy nhiên, dù với tất cả danh vọng, thảm kịch gia đình
bị chia cắt, mù tịt hoàn toàn về số phận của người thân kẹt lại ở Miền
Bắc, không bao giờ phai nhạt trong tâm thức bà: ‘Chiến tranh là kẻ thù
của tôi. Không có nó, đời sống của tôi sẽ tuyệt vời biết bao.’
Mặc dù phần lớn tiền bạc của Mỹ bị lấy cắp hoặc tiêu xài hoang phí, một
số tiền viên trợ khổng lồ cùng với việc chiến tranh kết thúc, đem lại
khoảng thời gian hạnh phúc cho vùng đồng bằng Cửu Long vào những
năm cuối thập niên 1950. Một nông dân nói, ‘Tôi xem thời kỳ này như
chỉ có trong cổ tích; tôi sống vô tư lự và tận hưởng trọn thời tuổi trẻ.’
Trong ruộng lúa chín vàng, vườn cây hoa quả trĩu cành, heo ủi khắp sân,
cá lội trong ao làng. Nhà gỗ dần dần thay thế túp lều tranh. Một số nông
dân có tiền sắm một ít đồ đạc, mua được xe đạp và ra-dô; trẻ em được đi
học. Thuyền tam bản được gắn máy đuôi tôm đầu tiên và máy bơm nước
bắt đầu cơ khí hóa nông thôn.’
Tuy vậy những người ở tận đáy xã hội không nhận được phúc lợi. Hệ
thống chính trị Miền Nam vắng mặt tính độ lượng, giống như ở Miền
Bắc, tuy lúc đầu ít đẩm máu hơn.
Điền chủ trở về đòi lại quyền sở hữu đất đai tại những vùng trước đây họ
bị Việt Minh trục xuất, và có khi còn đòi thu lại số tô thời gian qua.
Diệm bắt đầu độc đoán hơn: Trần Kim Tuyến, xếp cơ quan mật vụ của
ông, cao không đến 5 bộ và nặng chỉ 100 cân (khoảng 46 kí), nhưng đã
mang tai tiếng là sát thủ tàn độc nhất châu Á. Vị tổng thống không hề
chần chừ bác bỏ trách nhiệm pháp lý trong việc tiến hành bầu cử cho
việc thống nhất. Về điều này, ông có lý do chính đáng: chính quyền ông
không phải thành viên của Hiệp định Geneva, và việc bầu cử tổ chức ở
Miền Bắc chắc chắn là không tự do hoặc công bình.
Hơn nữa, người Mỹ và một số người Âu xem Việt Nam trong ngữ cảnh
của những quốc gia thân chủ khác của Mỹ. Có những chế độ còn tại vị
và thậm chí thịnh vượng, dù hà khắc hơn cả chế độ của Diệm. Tính
nhẫn tâm và tham nhũng của nhà độc tài Nam Hàn Syngman Rhee (Lý
Thừa Vãn) cho thấy không cản trở cho việc ông tiếp tục trị vì. Tổng
thống Ramon Magsaysay của Philippin sử dụng những biện pháp tàn
nhẫn để khống chế bọn Huk. Mối đe dọa của cộng sản Hy Lạp cuối cùng
đã bị đập tan, với những hành động man rợ gây sốc từ cả hai phía. Ít nhà
cai trị Mỹ Latinh nào điều hành xứ sở mình với sự liêm khiết, công
chính hoặc nhân đạo mà vẫn phây phây thụ hưởng đặc ân của
Washington.
Vì vậy, vào những năm cuối thập niên 1950, người Mỹ không thấy có lý
do để cho rằng sự bất tài, tham nhũng và các chính sách áp bức của chế
độ Diệm phải cần đến việc loại bỏ ông ta, miễn là họ tiếp tục chi tiền.
Ông ta đã thoát chết trong một cuộc mưu sát của cộng sản vào tháng 2
1957. Đại tá Lansdale bơm vị tổng thống nhỏ con với các xếp của mình,
và một số rất ấn tượng về ông: có ít thông tín viên ở Sài Gòn để sửa lưng
các tuyên bố của Washington về sư tiến bộ của chế độ. Khi Diệm đến
thăm Hoa Kỳ vào tháng 5 1957 ông nhận được sự tiếp đón cá nhân của
Tổng thống Eisenhower, và một phần tư triệu dân New York ló mặt ra
trong cuộc diễu hành có ném hoa giấy. Tờ New York Times mô tả ông
với mỹ từ là ‘một người Á châu giải phóng, một người bền gan theo
đuổi mục đích’; tờ Boston Globe dặt ông danh hiệu ‘Người Việt Nam
Sắt Thép’. Tạp chí Life in một tiết mục có tựa đề ‘Con Người Thần Kỳ
Cứng Rắn của Việt Nam: Diệm, Vị Khách Mới Đến Mỹ, đã Đánh Thức
Đất Nước Mình và Đánh Đuổi Bọn Đỏ’. Ắt là khó để chèn thêm điều
tưởng tượng nào khác trong câu viết đó.
Trở về Sài Gòn, các cố vấn Mỹ thuyết phục Diệm rằng ông nên xuất
hiện trước công chúng thường hơn: khi ông làm thế, họ đạo diễn các
đám đông kèn trống hoan hô ông. Tính độc tưởng của Diệm càng nặng
thêm sau những cuộc kinh lý này, mà ông tưởng là bày tỏ sự ca tụng
chân thực. Ông ra sức tỏ vẻ ương ngạnh, có lần trầm ngâm nói với nhà
báo Marguerite Higgins nếu Hoa Kỳ kiểm soát chính quyền Sài Gòn
‘như một con rối trên sợi dây … như thế có khác gì người Pháp đâu?’ Ev
Bumgardner của USIA (Sở Thông Tin Hoa Kỳ) cho rằng Diệm xem
người Mỹ như là ‘bọn con trẻ to xác vĩ đại – có thiện ý, hùng mạnh,
trình độ kỹ thuật cao, nhưng xử sự không tế nhị với ông hoặc chủng tộc
ông ‘.
Diệm đúng ra là một con người độc lập, trong khi các lãnh đạo Miền
Nam kế tục ông sau này không được như thế. Tuy nhiên, rủi thay, lời
khuyên mà ông bỏ ngoài tai là lời khuyên có thể đã cứu sống ông và
thậm chí giúp ông thành công: kiểm soát những hành động quá trớn của
gia đình mình; bãi bỏ tính thiên vị đối với đạo Thiên Chúa; chọn người
phụ tá theo tài năng hơn là lòng trung thành; dẹp trừ tham nhũng; bãi bỏ
bức hại người phê phán; áp đặt cải cách ruộng đất.
Người Sài Gòn thích nghĩ mình mới là người Việt trong khi họ khi dễ
người Bắc di cư, mà họ gọi là Bắc kỳ. Nhưng người Bắc di cư Công
giáo chiếm đa số trong ‘quần thần’ của Diệm, và của Đảng Cần Lao
Nhân Vị. Dương Vân Mai, người đã ra đi khỏi Hà Nội, sau này
viết, ‘chế độ Diệm ngày càng có bộ mặt của một chính quyền xôi thịt.
Người gây ảnh hưởng thảm khốc nhất cho tổng thống là người em ông
Ngô Đình Nhu, lãnh tụ an ninh tối cao mưu trí, lươn lẹo, tàn độc, mà bà
vợ dữ dằn của ông Bà Nhu có thể đã được Trung Tâm Phân vai chọn lựa
để đóng vai chính trong phim Phù Thủy Hắc Ám Phương Đông.
Bộ Chính trị Miền Bắc sử dụng nhiều người hành hình và tra tấn nhưng
tên tuổi và mặt mày của họ không ai biết bên ngoài trại giam. Người của
Nhu, ngược lại, trở thành tai tiếng toàn cầu, gây tác hại không sao kể
xiết đến hình ảnh của chính quyền Sài Gòn.
Cũng vậy, các tướng lĩnh của Diệm sính đội mũ lưỡi trai viền
đồng, mang kính mát, một phong cách mà các tôi tớ các tên độc tài trên
thế giới thường theo. Một số quan chóp bu còn đi xa hơn, ăn vận áo
xmoking – loại y phục chính thức Tây phương – tại các buổi tiệc
tùng. Bất kỳ nông dân Miền Nam nào thấy hình chụp các lãnh đạo của
mình ăn mặc như thế này sẽ giữ một hố ngăn cách giữa ‘họ’ với ‘ta’.
Một phóng viên UPI Việt Nam nhìn Diệm đến Quốc Hội tại Sài Gòn
nhận xét với một đồng nghiệp, ‘Tụi Hà Nội có thể là lũ khốn, nhưng họ
không bao giờ quá ngu ngốc để xuất hiện trước công chúng trong một
chiếc Mercedes- Benz.’ Hình ảnh này hoàn toàn tương phản gay gắt với
Hồ Chí Minh, người từng khước từ cư ngụ trong dinh toàn quyền cũ mà
về ở trên nhà sàn trong khuôn viên của mình (nguyên tác: trong ngôi
nhà tranh của người làm vườn). Một phóng viên Mỹ nói: ‘Người mà
chúng ta trông cậy để xây dựng một quốc gia không có quan hệ gì với
nhân dân mình.’
Tận đến năm 1960, 75 phần trăm đất nông nghiệp Miền Nam do 15 phần
trăm dân số sở hữu, hầu hết đều không có mặt trên sở đất của mình vì sợ
khủng bố. Cộng sản cổ vũ nông dân không nộp tô, và thách thức biến
họ thành những người ủng hộ cách mạng: nếu điền chủ và lực lượng bảo
vệ của chính quyền nắm lại quyền kiểm soát một ngôi làng, các món nợ
đều phải trả đủ. Dân chúng bất mãn rộng khắp khi luật cưỡng bách lao
động công ích từ thời thuộc địa được Sài Gòn ban hành, theo đó dân
chúng mỗi năm phải đi lao động nghĩa vụ 5 ngày cho các dự án công.
Khi
William Colby của CIA thúc ép Diệm tái phân phối ruộng đất, vị tổng
thống trả lời: ‘Ông không hiểu. Tôi không thể loại bỏ tầng lớp trung lưu
của tôi.’
Các viên chức làng được chính quyền bổ nhiệm trở thành ông vua con,
có quyền hạn tuyệt đối phán xét tội của dân đen – và, thực ra, cả tội chết.
Y tá điều hành cơ sở y tế địa phương nhận hối lộ; các nhân viên thuế
cũng vậy; hội đồng xã làm trọng tài trong các vụ tranh chấp. Dân làng
khiếp sợ buộc phải mời mọc bọn áp bức mình dự tiệc cưới và lễ giỗ; cắt
cho họ những bộ phận chọn lọc thịt chó và mèo có trong thực đơn.
Không hẳn mọi viên chức đều xấu, nhưng phần lớn đều kém năng lực,
nhẫn tâm hoặc bại hoại, hoặc đôi khi cả ba.
Vì vậy, khi các vụ ám sát xảy ra khắp nơi vào những năm 1960-61,
nhiều dân làng vỗ tay hoan hô, vì bọn khủng bố khéo nhắm đến mục tiêu
nạn nhân là các viên chức bị dân chúng oán ghét. Diệm cũng hình thành
‘ấp chiến lược’, các ấp được củng cố trong đó nông dân bị buộc phải tái
định cư. Mục tiêu là tách họ khỏi những người cộng sản, nhưng kết quả
chỉ làm dân chúng bất mãn và xa lánh. Diệm tàn ác cỡ nào? Người cộng
sản đưa ra con số và đến nay vẫn còn dựa vào, là trong khoảng 1954 và
1959 ông đã giết đến 68,000 kẻ thù thực sự hay oan ức và thi hành
466,000 vụ bắt bớ. Các con số này dường như phóng đại quá đáng, cũng
giống như người Miền Nam thổi phồng số điền chủ bị giết trong vụ cải
cách ruộng đất ở Miền Bắc. Điều có thể phát biểu
một cách đáng tin cậy là chính quyền Sài Gòn vun đắp sống sượng các
lợi ích của người Công giáo và bức hại những phần tử Việt Minh trước
đây. Trong khi cộng sản Miền Bắc thành lập một nhà nước cảnh sát hiệu
quả, các hành tung của họ được che đậy khỏi tai mắt của thế giới, còn
Diệm và gia đình ông xây dựng một nhà nước xiêu vẹo, sự bạo ngược
của nó sờ sờ trước mắt. Điều này làm người ta sợ nhưng không được
người ta kính yêu.
Thất bại của chế độ không phải là không thể tránh được. Nếu tổng thống
trị vì theo một phong cách khai sáng ôn hòa, quá trình hồi sinh của cộng
sản có thể tránh được. Fredrik Logevall đã viết rằng, giả sử cả Trung
Quốc và Liên bang Xô viết không xét nét đến sự thực hiện đầy đủ Hiệp
định Geneva, ‘không phải là không thể hình dung một kịch bản trong đó
Miền Nam của Diệm tồn tại được, theo kiểu Nam Hàn … Diệm là chính
khách phi-cộng sản chủ yếu duy nhất xuất hiện ở Việt Nam từ 1945 đến
1975.’ Nhưng ông đã trở thành kiến trúc sư của vô số trò điên rồ: trong
ba năm từ 1957 chế độ Sài Gòn chủ trì xây dựng nửa triệu mét vuông
cao ốc và biệt thự cho thuê, 56 ngàn mét vuông phòng nhảy; và đúng
100 ngàn mét vuông phòng học, 5,300 mét vuông bệnh viện.
Những thừa thãi và thiếu thốn trong nước của chế độ, chứ không phải là
việc không chịu tổ chức các cuộc bầu cử thống nhất, mới tạo cho người
cộng sản chất bùi nhùi để đốt lại ngọn lửa chiến tranh ở Miền Nam. Đối
với nhân dân trong nước cũng như trên vũ đài thế giới Hồ Chí Minh là
người chiến thắng sừng sững trong cuộc đấu tranh để trở thành tiếng nói
hợp pháp của nhân dân Việt Nam. Người thầy cộng sản của Trương
Mealy 10 tuổi trong vùng đồng bằng Cửu Long nói: ‘Các em có biết tại
sao Ngô Đình Diệm về Việt Nam không? Ông ta được người Mỹ gửi về.
Giờ thì toàn bộ gia đình ông ta nắm quyền và toàn thể dân nghèo phải
làm lụng để nuôi bọn họ. Ai nên điều hành Việt Nam – Diệm hay Hồ
Chí Minh?’ Năm năm sau Trương Mealy là giao liên của Việt Cộng, đó
là tên của phong trào du kích cộng sản nổi dậy ở Miền Nam.
4 Kêu Gọi Tái Vũ Trang
Những người lính Pháp cuối cùng rời Sài Gòn vào ngày 28/4/1956. Hà
Nội mất tinh thần sau khi người Tây phương ký tên chính trong Hiệp
định Geneva từ đây phủi tay khỏi Đông Dương, và rủ bỏ mọi trách
nhiệm để xúc tiến bầu cử. Việc làm chiến tranh sống lại tại Miền Nam
sau đó, lúc khởi thủy, không được thúc đẩy bởi một quyết sách của Hà
Nội, mà thay vào đó là kết quả của lòng căm thù tự phát của các đối thủ
địa phương của chế độ Diệm. Một nông dân bảo với nhà nghiên cứu Mỹ
James Trullinger rằng y và dân làng y cho rằng sở dĩ phong trào cộng
sản tạm thời lắng xuống là vì Hà Nội tính toán khôn khéo là cứ đợi
người Miền Nam sống dưới chế độ Diệm vài năm, lúc ấy họ sẽ chín
muồi cho cách mạng. Các chiến binh Miền Nam bắt đầu tiến hành các
cuộc tấn công chống quân đội chính quyền và các thiết chế mà không có
lệnh trên.
Lời kêu gọi vũ trang đầu tiên của người cộng sản là công văn sôi nổi
tháng 12 năm 1956 gửi đến bộ chính trị Miền Bắc từ Lê Duẩn, lúc ấy
còn chủ trì Trung ương Cục Miền Nam trong vùng đồng bằng sông Cửu
Long. Ông mô tả các vụ hành quyết đồng chí mình, các chi bộ Đảng bị
dập tắt, quân đội Sài Gòn xiết chặt gọng kềm, nhất là ở Cao nguyên
Trung phần. Đáp lại, Hà Nội miễn cưỡng đồng ý chiến sĩ Miền Nam
được phép phản pháo tự vệ. Hà Nội cũng ủng hộ chủ trương ám sát ‘các
phần tử phản động’, và đánh bom khủng bố ‘các cơ sở Diệm ‘. Một
nhóm nhỏ các sĩ quan tình báo và đặc công tinh nhuệ – mà phương Tây
gọi là commando (biệt kích) – được phái về nam.
Sau đó, trong năm 1957 cộng sản Miền Nam xác nhận 452 viên chức
chính quyền Sài Gòn, phần lớn là trưởng làng, bị giết chết, bắt cóc hoặc
mua chuộc. Hành động khủng bố tái diễn: 17 người thiệt mạng trong
một cuộc tấn công vào một quán bar tại Châu Đốc vào ngày 17/7; 13
người bị thương trong một quán cà phê tại Sài Gòn vào ngày 10/10; 13
người làm việc cho Mỹ bị thương bởi ba vụ đánh bom khác trong thủ đô.
Bước phát triển quan trọng tiếp theo là việc triệu hồi Lê Duẩn về Bắc.
Vào mùa hè 1957, khi ông về tới Hà Nội với một đồng chí, hai người bị
giữ trong nhà khách có lính gác trong một thời gian. Đây là một sự đề
phòng được cho là bắt rễ trong cuộc đấu tranh quyền lực lúc đó đang xảy
ra, được đẩy nhanh hơn bởi cuộc khủng hoảng kinh tế. Hai người mới
đến tìm cách lẻn ra ngoài vào những buổi chiều tối để giải trí, đi xem
hát …, cho đến khi bảo vệ phải xì bánh xe đạp của họ để họ không đi
được. Lê Duẩn được cho là phàn nàn gay gắt rằng bộ chính trị chỉ muốn
sống an nhàn: ‘Họ đã bỏ rơi chúng ta.’
Ông dừng càng lâu ở Hà Nội, ông càng thấm thía việc Moscow và Bắc
Kinh ủng hộ kém mặn mà biết bao một cuộc chiến mới. Vậy mà nguồn
năng lượng dữ dội trong con người ông khiến ông có thể, trong vài tháng
ở Hà Nội, hích vai đẩy văng các đối thủ Miền Bắc và trở thành nhân vật
có ảnh hưởng chủ yếu, được đồng minh thân cận Lê Đức Thọ hậu thuẫn,
người được một cán bộ cao cấp mô tả là ‘lầm lỳ và lạnh lùng’, và sau
này trở thành người đối thoại với Henry Kissinger tại hội nghị hoà bình
Paris 1972-73.
Thành tích của Lê Duẩn, một cựu binh đã chịu kham khổ cho cách mạng
nhiều hơn bất cứ đồng chí nào khác, ban cho ông uy tín lớn lao. Câu nói
nổi tiếng của ông: ‘Các đồng chí không đi đến đâu nếu lý luận với bọn
đế quốc, các đồng chí phải lấy búa và đập vào đầu chúng.’ Tổng bí thư
Đảng đã bị ngưng chức vì vai trò của ông trong tình trạng rối ren của tập
thể hóa ruộng đất. Giáp dường như là ứng viên đương nhiên kế vị ông ta.
Tuy nhiên, thay vào đó, vào tháng 12 1957 chính Lê Duẩn là người được
chọn lãnh trách vụ đó.
Ông tên Lê Văn Nhuận ra đời 50 năm trước tại một tỉnh miền trung, con
trai một người thợ mộc, sớm giác ngộ cách mạng rất lâu trước khi Hồ từ
hải ngoại về nước. Sức mạnh cá tính ông thì miễn bàn, nhưng tính thô lỗ
trong giọng điệu và ngôn ngữ của ông làm chối tai các đồng chí khó tính
hơn. Thiếu lịch lãm giao tiếp, ông khinh bỉ sự yếu đuối, hoặc là về ý
thức hệ hoặc về nhân tính, mà ông sớm nhận ra trong con người Giáp và
cũng có thể cả – dù ông không bao giờ dám nói ra – trong con người Hồ
Chí Minh đang già nua. Đời tư của ông luôn là điều bí ẩn cả rất lâu sau
khi ông qua đời. Chỉ đến thế kỷ 21 bà vợ thứ hai của ông, Nguyễn Thúy
Nga, một cô giao liên Việt Minh trước đây, mới tiết lộ bi kịch của mình.
Vào dịp Tết 1956, trong khi Lê Duẩn còn ở Miền Nam, Nga ra khỏi Hà
Nội để đến thăm ông thân sinh của ông, mang theo quà gồm mật ong,
sâm và một vài thước lụa Hà Đông. Tại nhà cha chồng, bà sững sờ gặp
mặt người vợ đầu của chồng. Đối mặt trước sự thật, bà này sụp xuống
khóc nức nở. Vài tháng sau đó, các viên chức Đảng đột ngột đến gặp
Nga: một cán bộ cao cấp chỉ có thể có một vợ, và trong trường hợp Lê
Duẩn người đó không thể là bà. Là mẹ của hai đứa con, bà choáng
váng, và bảo mình phải chờ chồng trở về Hà Nội mới quyết định được –
và chẳng bao lâu ông về tới. Ông chả bày tỏ sự thương cảm nào, ngoài
làm bà mang bầu thêm đứa con thứ ba trước khi giao bà cho Trung ương
Hội Phụ Nữ, và dưới sự đỡ đầu của hội bà được cử đến Trung Quốc
để ‘học tập’.
Trong thời gian này Lê Duẩn bắt đầu viết thư cho bà, đôi khi rất nồng
nàn, trong đó có đoạn, ‘Anh yêu em, anh yêu em nhiều lắm. Đừng để
một ít sự cố không không may khiến đưa đến sự hiểu lầm. Em yêu, tình
yêu chiến thắng mọi trở ngại. Nếu em yêu anh thì em có thể giải quyết
mọi vấn đề và khó khăn của mình.’
Thỉnh thoảng họ gặp nhau khi ông đến Bắc Kinh lo việc nước, và có lần
bà được gặp Hồ Chí Minh. Lê Duẩn trông nom ba đứa con, và Nga khóc
trong tuyệt vọng khi biết rằng sau đó chúng được bà vợ lớn của ông nuôi
dưỡng. Sau vài năm bà được phép về Việt Nam ngắn hạn để thăm con.
Bà ở bên Lê Duẩn ba ngày, và ông dường như ‘không thoải mái và khổ
sở’, cũng phải thôi. Vào năm 1964 bà được phái về vùng đồng bằng Cửu
Long để làm cán bộ tuyên giáo, và không được gặp lại con cho đến năm
1975.
Khi biết chắc sự thống nhất trong hoà bình sẽ không xảy ra chủ nghĩa
cực đoan ở Hà Nội được thúc đẩy mạnh lên. Điều này nhanh chóng đưa
đến Nghị quyết 11/1958, đẩy cách mạng Miền Bắc lên một bước tiến
kịch tính mới với việc tập thể hóa nông nghiệp. Tháng sau, trong một
trại giam của Diệm, một số lớn tù nhân, trong đó có những người cộng
sản, chết vì bị đầu độc thức ăn. Đầu năm sau bộ chính trị nhận được thư
ta thán và thỉnh cầu từ những ngôi làng Miền Nam, như thư dưới đây, rõ
ràng là được các cán bộ địa phương soạn ra: ‘Bác Hồ ơi! Bọn Mỹ Diệm
tàn ác quá mức – chúng con xin phép Bác được cắt đầu chúng nó.’
Nhiều tuần lễ tranh cãi tiếp theo, cuối cùng Uỷ ban Trung ương Đảng
ban hành Nghị quyết 15, một bước quan trọng tiến đến việc leo thang
chiến tranh. Nghị quyết cho quyền hành động gây hấn mạnh mẽ hơn,
theo ngôn ngữ quen thuộc trong những lời hô hào của Đảng: ‘Chỉ có
chiến thắng của cách mạng mới có thể xoa dịu cảnh lầm than của nhân
dân nghèo khốn khổ ở Miền Nam, làm thất bại các chính sách tàn bạo
của đế quốc Mỹ và tay sai nhằm chia cắt quốc gia và khiêu khích chiến
tranh.’
Nghị quyết 15 mở đường cho ‘những chí nguyện quân ‘ – theo cách
Trung Cộng đã đặt tên cho đạo quân của họ qua Triều Tiên chiến đấu
với Mỹ – lên đường vào vùng chiến sự. Trong những tháng sau
đó, khoảng 4,600 cán bộ chính trị, kỹ thuật viên và kỹ sư tiến vào lãnh
thổ Diệm, hầu hết là người gốc Miền Nam, những người tập kết trước
đây. Được phép mở ra ‘Đường Chiến Lược 559’, một con đường bí mật
chạy đến trận địa qua nước Lào trung lập và tiến hóa thành Đường Mòn
Hồ Chí Minh; lệnh động viên quân sự 3 năm đã được tái lập. Một trong
những người tán thành Nghị quyết 15 sau này nói, ‘Chỉ khi (đến năm
1959) chúng tôi mới cuối cùng biết được sẽ không có tổng tuyển cử;
rằng Diệm đang tàn sát nhân dân chúng tôi. Có dấu hiệu là Mỹ sẽ tiếp
tục củng cố sự hiện diện của họ (và do đó) con đường duy nhất đi tới
thống nhất đất nước phải qua bạo lực.’
Việc Hà Nội chậm báo tin cho người Nga về Nghị quyết 15 là điều có ý
nghĩa, bởi vì Lê Duẩn và đồng chí ông biết rằng điều đó sẽ không được
Nga chào đón. Hơn nữa, chỉ đến ngày 7 tháng 5 chỉ thị mới mới chuyển
đến Trung ương Cục Miền Nam. Các lãnh đạo Miền Bắc vẫn còn sợ
phải khiêu khích người Mỹ, khiến họ thậm chí có thể giáng trả vào lãnh
thổ của mình. Sự chia rẽ ý thức hệ giữa Nga và Trung Quốc càng sâu sắc
thêm, và tác động đến các phe phái đấu đá ở Hà Nội. Hồ Chí Minh và
Giáp nghiêng về phía Moscow; Lê Duẩn cầm đầu những người nghiêng
về Bắc Kinh.
Vâng thời điểm mà chương trinh kỹ nghệ hóa Đại Nhảy Vọt thảm họa
của Mao Trạch Đông, vốn tiêu tốn ít nhất 55 triệu sinh mạng, Lê Duẩn
có thể đã chịu trách nhiệm cho lời phát biểu không hợp thời nói về tham
vọng quốc gia của Hà Nội : ‘Trung Hoa hôm nay là Việt Nam ngày
mai.’ Trong khi đó ông và các đồng chí mình vẫn còn phải tranh đấu
để dẹp tan sự bất đồng trong nước: Giáo dân Thiên Chúa phát động biểu
tình đòi hỏi quyền di cư vào năm. Những tiếng hô ‘Đả đảo cộng sản’
thúc đẩy binh sĩ nổ súng, gieo rắc thương vong. Các quẫn bách kinh tế
khiến Hà Nội phải cắt giảm chi tiêu quốc phòng, từ 27 phần trăm ngân
sách quốc gia trong năm 1955 xuống còn 19.2 phần trăm năm 1958, 16
phần trăm năm 1960. Các hãng xưởng thoi thóp, sản lượng nông nghiệp
sụt giảm khiến phải cắt giảm khẩu phần. Đại sứ Tiệp Khắc báo cáo về
nước là nhiều viện trợ của khối Xô viết bị tiêu xài hoang phí. Vào tháng
6 năm 1959 lãnh sự Anh ở Hà Nội báo cáo: ‘Mức sống đang xuống thấp
thê thảm hơn và tồi tệ hơn, thậm chí người nghèo còn nghèo hơn …
Không thành viên nào của cộng đồng Tây phương từng gặp một người
Việt nào ưa thích chế độ, trừ những thành viên của chính chế độ.’
Tương ứng với sự đề bạt của Diệm dành cho người trung thành với mình
trên mồ hôi người lương thiện, Hà Nội xiển dương các cựu quân nhân và
những kẻ thuần khiết về ý thức hệ hơn là những người xuất sắc nhất và
tốt đẹp nhất. Một nhà quan sát ngoại giao Pháp báo cáo rằng 9 phần 10
dân số Miền Bắc ‘sẵn sàng nổi dậy nếu có điều kiện.’ Vậy mà Lê Đức
Thọ, người đứng đầu tổ chức Đảng, chọn lúc này để yêu cầu các cuộc
thanh trừng mới ‘bọn không mong muốn’, có nghĩa là địa chủ và nông
dân ‘giàu có’ trước đây. Trong việc chỉnh lý ý thức hệ trong Đảng, bộ
chính trị Miền Bắc xử sự giống người Bôn-sê-vich 40 năm trước hơn là
những người xã hội chủ nghĩa cuối thế kỷ 20. Một điều lệ mới của Đảng,
lên án người bất đồng chính kiến, được cưỡng chế bởi Bộ Công An mà
ông xếp là Trần Quốc Hoàn bị phe phê phán gọi là ‘Beria Việt Nam’,
người cưỡng chế tai tiếng nhất của Stalin.
Trong khi đó ở Miền Nam, trong những tháng theo sau ngày ban hành
Nghị quyết 15, người cách mạng tiếp tục ám sát các viên chức chính
quyền và phát động một đợt công kích mới vào quân đội Miền Nam, từ
đây được các cố vấn Mỹ biết dưới tên viết tắt: ARVN (Quân đội Việt
Nam Cộng Hoà: QĐVNCH). Một thanh niên Việt Nam bảo với một
phỏng vấn viên Mỹ: ‘Tôi ghét binh lính … vì họ rất hống hách. Dân làng
đã nghèo khổ rồi, vậy mà binh lính còn bắt họ xây dựng đường xá, cầu
cống… Binh lính mang vũ khí để bảo vệ (Diệm) và chế độ của hắn.’
Những biểu tượng của công cuộc xây dựng quốc gia của Mỹ trở thành
đích nhắm được ưa chuộng: chẳng hạn, vào mùa xuân 1959 gần biên
giới Cao Miên, bọn du kích áo đen cho nổ tung hai chiếc máy cày John
Deere.
Nhiều dân quê trẻ, mắc kẹt trong cái vòng quay chân lấm tay bùn triền
miên không dứt dưới cai trị khắt khe của các viên chức địa phương, phát
hiện ra tính cách lãng mạn của cách mạng. Một cậu trai 18 tuổi kể lại
bằng cách nào một người lớn tuổi đã chiến đấu chống lại người Pháp hô
hào cậu trai mới lớn đến lượt mình hãy cầm lấy vũ khí. ‘Tôi phấn khích
khi ông ấy kể cho tôi nghe về các anh hùng dân tộc. Ông bảo Diệm đã
nhờ người Mỹ … giúp đỡ trong âm mưu đặt Miền Nam dưới ách cai trị
của họ. Ông cổ vũ tôi … thi hành nghĩa vụ của một thanh niên yêu nước
chiến đấu vì độc lập của đất nước nhằm mang lại hạnh phúc và phồn
vinh.’ Trong những tuần huấn luyện quân sự sau đó, 15 nông dân trong
nhóm của ông đào ngũ, mất tinh thần và nhớ nhà. Tuy nhiên, anh vẫn
quyết theo đến cùng: ‘Tôi chỉ nhìn thấy vinh quang và không ngại gian
khổ.’
Trong năm 1959, Việt Cộng tấn công càng nhặt hơn và mạnh hơn. Vào
chiều tối ngày 8/7, các cố vấn Mỹ của Sư đoàn Bộ binh 7 đóng gần Biên
Hòa đang xem phim
The Tattered Dress, do Jeanne Crain đóng, thì 6 VC nổ súng và ném lựu
đạn, giết chết một thiếu tá và một thượng sĩ. Đó là những người Mỹ đầu
tiên chết dưới tay cộng sản trong cái được gọi là Chiến tranh Đông
Dương Lần Hai. Nhịp độ du kích tấn công tăng lên khắp nước: lúc đêm
gần sáng một ngày tháng 12, một tiểu đội VC chặn một xe đò trên Quốc
lộ 4 vùng đồng bằng Cửu Long. Họ đuổi hành khách xuống xe, rồi leo
vào xe và buộc tài xế chở họ đi đến một đồn lính gần đó. Khi đến nơi
bình minh đã đến, cổng ấp đã mở cho nông dân ra đồng làm ruộng. Bọn
du kích tràn vào, bắn hạ một cảnh sát và vài lính bảo vệ; binh sĩ còn lại
đầu hàng. Du kích tịch thu vũ khí và bắn phá đồn trước khi rút đi vào
rừng, dẫn theo trưởng làng, và hành quyết sau đó.
Mục tiêu của VC là phô diễn khả năng mình có thể giáng trả bất cứ lúc
nào. Một cán bộ hớn hở tuyên bố, ‘Hổ đã về rừng!’ Dân làng cảm thấy
mình buộc phải làm những phép tính hiểm nghèo hơn về thế cân bằng
quyền lực tại địa phương, trong đó một phán xét sai lầm tốt nhất là mất
hết tài sản; còn tệ nhất là mất mạng. Gần như mọi người đều nộp thuế bí
mật cho cộng sản; họ lúc nào cũng tuyên truyền quá đáng về phạm vi
quyền lực vươn tới của mình. Các cán bộ đọc các cách ngôn yêu thích
của người Việt: ‘Thà làm đầu chuột hơn đuôi voi’; ‘Dù anh cố gắng thế
nào để làm rụng sừng, thì anh vẫn luôn là một con trâu.’ Họ dàn dựng
các các cuộc biểu tình đôi khi lên đến 1,000 nông dân, bằng các mức độ
cưỡng bách khác nhau, kết hợp với đánh trống khua chiêng ầm ĩ. Cờ
quốc gia bị hạ xuống, thân cây dán đầy bích chương và biểu ngữ. Các
báo cáo được lan truyền về những năng lực được cho là thần bí của VC:
nồi nấu cơm thần kỳ, thuyền bơm hơi có thể mang theo trong túi xách,
‘ngựa trời’ và súng có thể giết 50 người trong một phát: các nông dân dễ
tin ôm lấy những chuyện hoang đường như thế. Các du kích thỉnh
thoảng diễu hành qua làng giữa ban ngày để thị uy.
Một số không ít nạn nhân trong các vụ sát hại trong năm 1960 được xét
xử trong cái gọi là tòa án nhân dân và bị xử chém bằng mã tấu ngay
trước mắt đám đông dân làng, không khác thời Việt Minh: một người
phụ nữ bị chém chết vì có hai con trai đi QĐVNCH. Một người bị chôn
sống hét lên thất thanh, ‘Tôi sắp chết! Tôi sắp chết!’ trước khi tiếng la
của y tắt dần dưới lớp đất lấp đầy. Một người khác bị giết chỉ vì anh ta
uống rượu với cảnh sát địa phương. Với mỗi nông dân hậu thuẫn cộng
sản vì lòng tin, thì có hai người theo vì sợ. Sự hậu thuẫn là có thực, một
phần vì cách mạng trao cho người nghèo một ý thức mình thuộc về điều
gì đó cao cả hơn chính mình: nó đem đến lòng kiêu hãnh cho những con
người hèn mọn. Tính thận trọng cũng là một nhân tố – một niềm tin
đang lớn mạnh cho rằng cộng sản đại diện cho tương lai, còn Diệm cho
quá khứ.
Vào đầu năm 1960, người ta cho rằng các đơn vi tuyên truyền vũ trang
VC đã sát hại 1,700 viên chức chính quyền, trưởng làng, thầy giáo, nhân
viên bệnh viện, và bắt đi 2,000 người khác. Các cuộc nổi dậy xảy ra ở
Cao nguyên Trung phần. Binh lính Diệm đánh trả và chiếm lại vùng
lãnh thổ đã mất
Dưới điều khoản của một sắc luật mới khắt khe, hàng ngàn người bất
đồng chính kiến và thành viên nhóm thiểu số bị gom lại, cùng với nghi
can cộng sản. Máy chém được sử dụng trở lại như một công cụ được ưa
thích của bọn hành hình trong chính quyền.
Nhiều VC bực bội vì Trung ương Cục Miền Nam – đúng ra Hà Nội –
không đồng ý cho phép leo thang đến chiến tranh công khai quy mô
lớn. Các cán bộ địa phương lại ra lời kêu gọi xin vũ khí để kháng cự với
‘sự khủng bố tàn bạo’ của Sài Gòn. Không có động lực hành động,
nhiều người thấy vô cùng buồn chán và thiếu thốn trong một kiếp sinh
tồn lén lút. Một VC có đơn vị đóng trong đồng bằng Cửu Long sau này
kể về cái im lặng đáng sợ của chốn hoang dã, chỉ bị phá vỡ bởi tiếng
động do các động vật gây ra: ‘Giữa chốn rừng thiêng nước độc và bệnh
sốt rét hoành hành, lúc nào cũng buồn thúi ruột!’ Một đại đội trưởng nổi
dóa trước các sĩ quan cao cấp, vỗ ngực và nói, ‘Tôi thà chết còn hơn
sống như thế này! Hãy bắt đầu chiến đấu vũ trang!’
Cuối cùng, vào tháng 9 1960, Trung ương Cục Miền Nam phát đi mệnh
lệnh đã được chờ đợi quá lâu giờ: sẽ có những cuộc nổi dậy phối hợp
chống lại lực lượng chính quyền. Sau đó, các vùng lãnh thổ của cách
mạng mở rộng với tốc độ đáng kể. Một phần ba dân số Miền Nam, ước
tính 6 triệu người, chẳng bao lâu sống dưới quyền kiểm soát công khai
hay bí mật của cộng sản. Các cán bộ cật lực lao vào việc tái phân phối
đất đai. Hoạt động du kích tăng nhanh, nhất là trong vùng châu thổ, nơi
họ lợi dụng được sự hiểu biết rành rẽ sông nước của dân địa phương.
Các vụ phục kích được bố trí tại những khúc quanh trên sông rạch; đặt
mìn ngầm dưới nước trên những bè rác trôi sông, nối dây điện đến kíp
nổ trên bờ.
Trong khi Miền Bắc đã được vào nề nếp kỷ luật sắt, để đáp lại khủng bố,
Miền Nam trở thành một xã hội quân sự hóa. Chín phần mười viện trợ
Mỹ không sử dụng cho phát triển kinh tế hoặc canh nông, thay vào đó
vào vũ khí để duy trì chế độ. Các nhóm cố vấn Mỹ tập trung vào việc
hình thành một quân đội quy ước, có khả năng chống lại một cuộc xâm
lăng từ Miền Bắc như Nam Hàn đã đối mặt. Trong khi đó, trong một
tỉnh có 600,000 dân có 600 cảnh sát, 9 đại đội Nhân dân Tự vệ và 24
tiểu đội dân quân đóng trong 30 đồn kiên cố và bảo vệ 115 làng. Vậy mà
làn sóng cộng sản vẫn dâng cao.
Vào năm 1960 căng thẳng Chiến tranh Lạnh tăng lên trên toàn thế
giới. Vào tháng 4 chế độ độc tài ở Nam Hàn của Lý Thừa Vãn sụp
đổ, Hà Nội hớn hở, hy vọng tiếp theo là tới số phận đang đợi
Diệm. Một tuần sau Nga bắn rơi một máy bay thám thính U-2 của Mỹ
làm nổ tung tình trạng hòa hoãn Đông-Tây. Mối rạn nứt Trung-Xô càng
phản ánh rõ rệt hơn trên chính trường Miền Bắc, với Hồ Chí Minh tìm
cách giảng hòa nhưng vô ích. Lê Duẩn, Lê Đức Thọ và phe phái theo
Trung Quốc áp đảo trong bộ chính trị. Đối với Hà Nội, mệnh lệnh chính
trị hậu thuẫn cuộc đấu tranh vũ trang của VC không thể cưỡng lại được.
Vấn đề duy nhất là cung cấp viện trợ bao nhiêu và nhanh cỡ nào: Lê
Duẩn đối mặt với viễn ảnh hậu thuẫn cuộc chiến ông mong muốn gần
như hoàn toàn bằng tài nguyên trong xứ sở mình.
Trong khi đó ở Sài Gòn, vào ngày 26 tháng 4 1960, 18 người Miền Nam
chống cộng tiếng tăm gặp nhau tại nhà hàng Caravelle nổi tiếng, sau đó
họ đưa ra ‘Tuyên ngôn Caravelle’, được ‘một nhóm yêu nước ‘ ký tên,
kêu gọi chính quyền thay đổi lộ trình.
Tiếp theo, cũng trong năm đó Đại sứ Hoa Kỳ Elbridge Durbrow đệ trình
một bản ghi nhớ đến Diệm liệt kê các cải cách mà Washington xem là
thiết yếu: phổ biến các quyết sách và ngân sách nhà nước; nghiên cứu
mọi ngành bởi các đại biểu được bầu ra; luật tự do báo chí; và cải thiện
quan hệ với giới truyền thông nước ngoài; những chương trình phát
thanh ‘trò chuyện bên bếp lửa’; tín dụng rộng rãi hơn cho nhà nông. Đây
đều là các biện pháp hợp lý, và cần thiết đối với một nền dân chủ đang
hoạt động, nhưng hoàn toàn không thế chấp nhận đối với Diệm. Cũng
như đã phớt lờ ‘Tuyên ngôn Caravelle’, ông tiếp nhận bảng danh sách
như một biểu lộ trịch thượng của người Mỹ. Có thể ông ta đã trả lời với
Durbrow bằng cách hỏi lại có bao nhiêu mục trong danh sách cấp tiến
này đã được bộ chính trị Miền Bắc chấp hành.
Hoa Kỳ vẫn bận bịu ngập đầu với cuộc đấu tranh vũ trang. Washington
trả lời các vụ nổi dậy của Việt Cộng bằng cách phái thêm vài trăm cố
vấn quân sự, nâng tổng số từ 342 đến 692, vi phạm giới hạn nhân sự ghi
trong Hiệp định Geneva. Các chỉ huy của họ, đặc biệt bao gồm Tướng
Sam Williams của MAAG – Viện trợ Quân sự và Nhóm Hỗ trợ – xem
các du kích chỉ là vấn đề an ninh, phải được giải quyết bằng súng đạn.
Vào cuối năm 1960 người cộng sản chính thức dán nhãn hiệu lại cho
cuộc kháng chiến tại Miền Nam là Mặt trận Dân tộc Giải phóng
(MTDTGP). Điều quan trọng là, mặc dù tất cả lãnh đạo của họ là người
cộng sản, mặt trận nhắm đến việc thể hiện mình là một liên minh dân
tộc. Theo lời vị tổng thống sắp bước vào Nhà Trắng John F. Kennedy,
đây là một lực lượng chính trị tạo ra một mối đe dọa không thể chấp
nhận được cho tự do và dân chủ ở Đông Nam Á. Các mục tiêu mà
MTDTGP thừa nhận là mang lại thống nhất xã hội cho Miền Nam; lật
đổ Diệm; đánh đuổi người Mỹ; thi hành tái phân phối ruộng đất; thống
nhất đất nước qua thương thảo. Tờ cáo bạch này không nhìn nhận gì về
quyết tâm không lay chuyển của Lê Duẩn nhằm tạo ra một xã hội theo
kiểu Stalin.
Trong những năm tiếp sau Hiệp định Geneva, thật là bất hạnh cho cả hai
miền nam bắc đều rơi vào tay các chính quyền bất tài và bạo ngược. Nếu
nông dân Miền Nam hiểu được cảnh lầm than của anh em mình ở Miền
Bắc, họ ắt hẳn đã thấy số phận mình dù sao cũng đỡ khổ hơn: ít ra không
có nhiều đồng bào của Diệm đói ăn.
Nhà tài trợ Mỹ của Diệm phán xét sai lầm hoàn toàn thái độ của
Moscow và Bắc Kinh, cho rằng giới lãnh đạo của họ có tội vì đã xúi
giục sự nổi dậy của VC. Thật ra, cho đến năm 1959 sự đối kháng chống
chế độ Sài Gòn là tự phát và sinh ra từ địa phương. Trong một thời gian
sau đó, nó chỉ nhận được sự hậu thuẫn của Miền Bắc hơn là của ngoại
bang.
Lê Duẩn là cá tính chính đã lèo lái việc làm mới lại cuộc đấu tranh thống
nhất: thật là khó để cường điệu vai trò cá nhân của ông trong sự kiện tiếp
theo. Về phần các đồng chí trong bộ chính trị của ông, dường như là hợp
pháp để ước đoán rằng một số tán thành cuộc chiến ở Miền Nam như là
một phương tiện để thoát khỏi việc nhìn nhận thất bại của chính sách
trong nước; để truyền một ý thức lý tưởng trong dân chúng đã xơ xác
của Hồ Chí Minh. Thật là một cơ hội tốt cho họ khi kẻ thù ‘đế quốc’, rất
cần thiết cho một chế độ như của họ, đã đánh cược vận số của mình cho
Ngô Đình Diệm, một con lừa chết nếu từng có một. Cuộc chiến mà giờ
đây đang gia tăng xung lượng là một cuộc chiến không bên nào xứng
đáng để chiến thắng.
Người điều khiển con rối và con rối không chịu nhảy theo nhịp
Nguyễn Thúy Nga và chồng Lê Duẩn trong rừng U Minh 1950
Mao Trạch Đông bắt tay Lê Đức Thọ
Max Taylor và Paul Harkins tại Sài Gòn
Đường Mòn Hồ Chí Minh
Hình ảnh quen thuộc của Huey, trực thăng chở quân
Căn cứ lực lượng đặc biệt tại Pleime dưới sức tấn công của VC 1965
Đoàn Phượng Hải (bên trái)
Bảo Ninh, tác giả Nỗi Buồn Chiến Tranh (trên) và Nguyễn Công Luận
(dưới)
Trương Như Tảng
Tướng Taylor (trái) và Tướng Westmoreland (phải)
Tại sao quá nhiều người nước ngoài yêu phụ nữ Việt Nam. Dương Vân
Mai trong thời gian làm nghiên cứu cho RAND
Nguyễn Thị Chinh, trở thành ngôi sao điện ảnh Kiều Chinh
CHƯƠNG 6: MỘT ĐOẠN ĐƯỜNG VỚI JFK
1 ‘Họ Sắp Sửa Mất Nước Nếu … ‘
Khi Dwight D. Eisenhower trình bày vắn tắt cho người kế vị mình là
John F. Kennedy về các vấn đề mà ông sẽ đối mặt khi lên nắm quyền
tổng thống, đó không phải là Việt Nam – ông không nói gì về Việt
Nam – mà là nước Lào lân cận gợi lên tiếng kêu đinh tai từ con ngựa
chiến cũ. Eisenhower nói rằng mình đã được Bộ Ngoại giao cảnh báo
rằng Lào là ‘một quốc gia của những người đồng tính’, khiến Kennedy
khá kinh ngạc. Đây là miếng domino đầu tiên, vị tổng thống sắp ra đi
xác nhận, đối với Đông Nam Á, mà sự đánh mất nó có thể đe dọa nước
Thái Lan láng giềng. Đây sẽ đến một phép thử quyết tâm của vị tổng tư
lệnh mới, một nghi thức chuyển đổi. Một quan điểm như thế dường như
kỳ lạ trong con mắt hậu thế, nhưng vào thời điểm đó có vẻ là thực. Lào,
Lào, Lào, từng được biết là ‘đất nước triệu voi ‘, xuất hiện là đầu đề trên
báo chí khắp thế giới như là nơi đụng độ giữa lực lượng cộng sản và
chống cộng. Vào năm 1960 tờ New York Times dành gấp ba diện tích
cho đất nước nhỏ xíu này, một vùng hoang dã với số dân ít ỏi và rất
nghèo nàn hơn cho Việt Nam.
Dân Lào, đúng ra một tập hợp các sắc tộc, đã làm bối rối thế giới bên
ngoài khi có vẻ cười khúc khích qua suốt thế kỷ biến động chính trị, đói
kém, nội chiến và các thảm kịch do nước ngoài nuôi dưỡng. Họ thích hội
hè và nói đùa tiếu lâm, nhất là tại lễ hội pháo hoa mùa xuân lúc mọi
người tự làm pháo hoa cho mình, một số rất lớn, và phóng chúng gây
nguy hiểm cho sinh mạng và tài sản. Vào cuối thập niên 1950 người Mỹ
bắt đầu ném tiền vào Lào, và Pháp nhượng nền độc lập cho Lào vào
tháng 10 1953, và từ đó được cho là trở thành tâm điểm cho Trung Quốc
và Việt Nam can thiệp. Một phóng viên tờ Wall Street Journal đến thăm
Lào mô tả giới lãnh đạo là ‘lặn hụp khoái trá vào tiền viện trợ của Mỹ’,
ô tô khủng và tủ lạnh, trong khi phần còn lại của xứ sở sống với lợi tức
trung bình hàng năm là 150 đô la. CIA bắt đầu quan tâm, ít nhất không
phải vì các sĩ quan của nó như Texan Bill Lair, vốn giờ nổi tiếng ở đó,
đâm yêu biên cương mới này. Đồng nghiệp của Lair Robert Amory về
sau nói rằng nhiều nhân viên của Cục nhìn nhận Lào là ‘một nơi tuyệt
vời để xảy ra chiến tranh’. Bên ngoài thủ đô Vientiane, bạn có thể làm
gần như bất cứ điều gì bạn thích – về chuyện đó, có thể đánh bất cứ ai
bạn chọn và trồng loại cần sa nào bạn muốn – mà không lo có ai đó
kiếm chuyện.
Chính phủ Lào, nếu không muốn nói là một nhóm huyên náo các tên
thống trị và tướng lĩnh bản xứ, duy trì một nền cai trị bấp bênh cho đến
năm 1960 một cuộc nội chiến bùng nổ giữa các phe phái, và đánh nhau
xảy ra trên đường phố Vientiane. Dựa vào căn cứ ít ỏi, người Mỹ tin
chắc cộng sản đang lăm le chiếm quyền. Điều không cần bàn cãi là bọn
Đỏ long nhong khắp xứ, cả Pathet Lào bản xứ và một số bộ đội Miền
Bắc. Bill Lair đạt được điều được coi là cú ngoạn mục khi thỏa thuận
được với thủ lĩnh người Hmong địa phương
Vang Pao. Để đổi lấy tiền mặt và vũ khí, tên chúa tể này sẽ phát động
cuộc chiến du kích chống người cộng sản.
Hoa Kỳ ban đầu đầu tư cho y và đồng bọn y từ 5 triệu đô tăng đến 11
triệu đô trong năm 1962, rồi đến 500 triệu vào cuối thập niên, với Vang
Pao nắm quyền chỉ huy 20,000 chiến binh và gặt hái được một số thắng
lợi chiến trường đáng kể, cũng.như hốt khá tiền bạc trong hoạt động
buôn lậu ma túy. Khoảng 700 nhân viên CIA được triển khai, hầu hết
tham gia vào các hoạt động bán quân sự, chuyển thực phẩm và vũ khí
đến các người bộ tộc và gia đình họ, nhảy cóc chỗ này chỗ kia giữa các
ngọn núi, ăn mặc đồ jean và đi máy bay
Pilatus Porter STOL, thi thoảng cũng tham gia đánh nhau. Xứ sở xoàng
xĩnh này đạt được tiếng tăm kỳ lạ trên lịch trình của cả Đông và Tây.
Mao Trạch Đông hỏi Lê Duẩn, ‘Lào lớn cỡ nào?’ Ông trả lời: gần
80,000 dặm vuông, với dân số 2 triệu người. ‘Trời,’ Mao kêu lên, ‘họ có
quá nhiều đất mà lại quá ít người. Vân Nam cũng khoảng diện tích đó
nhưng có đến 40 triệu. Nếu chúng tôi có thể gửi đến đó sống 15 hoặc 20
triệu người, bộ không phải là một ý tốt hay sao?’
Người Ba Lan và Ấn Độ trong Ủy ban Kiểm soát Quốc tế thấy khôn
ngoan nên tránh nhìn những phi cơ vận tải của Xô viết đáp xuống phi
trường Gia Lâm ở Hà Nội, giao vật dụng quân sự cho Lào. Chính quyền
Bảo thủ Anh bị Washington thúc ép yểm trợ cho cuộc phản công của
Mỹ,