The words you are searching are inside this book. To get more targeted content, please make full-text search by clicking here.

VIỆT NAM THIÊN SỬ BI HÙNG 1945-1975
Max Hastings
Trần Quang Nghĩa dịch

Discover the best professional documents and content resources in AnyFlip Document Base.
Search
Published by fireant26, 2022-11-04 00:35:46

VIỆT NAM THIÊN SỬ BI HÙNG 1945-1975 Max Hastings Trần Quang Nghĩa dịch

VIỆT NAM THIÊN SỬ BI HÙNG 1945-1975
Max Hastings
Trần Quang Nghĩa dịch

làm tư lệnh quân đoàn cho cú đánh thúc của Lê Duẩn, tung toàn bộ lực
lượng áp đảo để hoàn thành công cuộc thống nhất đất nước: nửa triệu
người – 15 sư đoàn bộ binh cùng với 17 tiểu đoàn đặc công, 10 tiểu
đoàn xe bọc thép và 50 tiểu đoàn pháo. Giai đoạn đầu tiên, mật danh K-
175, được ấn định vào tháng 3-5, tiếp sau là giai đoạn 2 trận công kích
tháng 7-8, và nếu điều kiện có vẻ thuận lợi. Quân đoàn An được giao
nhiệm vụ đánh chiếm Huế và Đà Nẵng, trong chiến dịch được cổ vũ
tiến công với khẩu hiệu ‘Tốc độ là Sức mạnh’ và ‘Nhanh Như Chớp’.
Nhưng An nhìn nhận rằng các đồng chí đã kinh qua hai trận gây bất mãn
nặng nề vào năm 1968 và 1972 bản thân vẫn còn hoài nghi liệu K-175
có gặt hái được thắng lợi vẻ vang hơn không. Miền Bắc có được lợi thế
lớn là được chọn chiến trường để tập trung sức mạnh, nhưng Miền Nam
duy trì được sự vượt trội đáng kể về tính cơ động, hỏa lực, và yểm trợ
không lực.
Kế hoạch đã đi qua 8 lần sửa đổi. Điều cốt lõi không thể lường trước
được không phải là ‘Sài Gòn sẽ làm gì?’ mà là ‘Washington sẽ phản ứng
thế nào?’ Người cộng sản hiểu rằng cả Nga lẫn Tàu không bên nào sẽ
nhấc ngón tay để kiểm tra bất kì việc can thiệp nào của Mỹ; mọi việc chỉ
xoay quanh cách thức chính quyền Cộng Hòa sẽ đo lường ý chí của
nhân dân Mỹ. Kissinger vẫn là ngoại trưởng, và một con người ngạo
mạn: ông giảng cho vị tổng tư lệnh mới non nớt về chính sách đối
ngoại, ra lệnh đặt máy nghe lén các nhân viên được cho là thiếu thận
trọng và các kênh liên lạc của họ với giới truyền thông, khống chế các
buổi họp bằng các độc thoại. Điều gì tầm nhìn hoành tráng của ông về
lịch sử có thể khiến ông giờ đây thúc giục lên Tổng thống Gerald Ford?
Tin tốt lành, theo quan điểm Hà Nội, là kể từ tháng 10 1973 cuộc chiến
Yom Yippur và khủng hoảng dầu khí diễn ra sau đó, Kissinger bận bịu
với Trung Đông; Việt Nam tạm gác lại.
Giữa 13 tháng 12 1974 và 6 tháng giêng 1975, bộ đội Miền Bắc tiến
hành một cuộc tấn công gồm hai sư đoàn vào tỉnh Phước Long, cách Sài
Gòn 100 dặm về hướng đông bắc. Hà Nội theo dõi sát sao xem phản ứng
của Mỹ đối với một vụ xâm lấn lãnh thổ không có tranh chấp và không
bị khiêu khích. Washington chần chừ việc tung phi cơ từ nhóm tàu sân
bay Enterprise – rồi thối lui, cũng thụ động như khi các lực lượng
Khmer Đỏ siết chặt vòng vây quanh thủ đô Phnom Penh. Trong buổi

hội nghị tin tức truyền hình ngày 21 tháng giêng Tổng thống Ford xác
nhận rằng ông không dự kiến có tình huống nào trong đó lực lượng Mỹ
sẽ được tung vào Đông Dương một lần nữa. Hai tuần sau, Quốc Hội
bác bỏ yêu cầu viện trợ mới. Thủ tướng Phạm Văn Đồng của Miền Bắc
xác nhận đầy tin tưởng với các đồng chí bộ chính trị rằng ‘người Mỹ sẽ
không trở lại dù bạn có cho họ kẹo’. Nhưng không ai biết chắc chắn
được. Khi Thiếu tướng An và đồng đội nhìn các nhân công mồ hôi dầm
dề khuân vác quân nhu cung cấp cho các dàn pháo trên Đường 14, họ
vẫn còn ý thức sâu sắc các B-52 trên đảo Guam. Giáp còn dự kiến thắng
lợi sẽ đòi hỏi một chiến dịch kết liễu vào năm sau.
Kế hoạch chiến lược 1975 là kế hoạch mang tính sáng tạo nhất của Miền
Bắc. Mục tiêu cốt lõi cho giai đoạn đầu tiên của nó là Ban Mê Thuột,
một thành phố với 100,000 dân, thủ phủ Cao nguyên Trung phần. Bao
quanh bởi các đồn điền cà phê rất tốt để ẩn nấp, nó bắc một cầu nối trên
phía bắc nam Đường 14 giữa Kontum với Sài Gòn, cách biên giới Cao
Miên 30 dăm. Thượng tướng Trần Văn Trà, chỉ huy quân sự đầy tham
vọng và hữu danh vô thực của Trung ương Cục Miền Nam, mang một
nỗi ô nhục trong vai trò của mình trong các thảm bại chiến thuật của trận
Tết 1968: giờ đây, ông khao khát vinh quang để chuộc lại thất bại đó.
Trà sau đó tuyên bố chính mình đề xuất mũi thọc 1975 qua Cao nguyên
Trung phần, mặc dù Trung tướng Hoàng Minh Thảo cũng cổ vũ một lộ
trình như vậy – và được giao chỉ đạo tại chỗ mũi tiến công đó.
Thay vì tung quân tấn công trực diện vào Ban Mê Thuột, cộng quân
trước tiên cô lập thành phố, phong tỏa các con đường quanh Pleiku, 100
dặm xa hơn về phía bắc, trong một loạt các trận tấn công phối hợp khởi
đầu vào sáng sớm ngày 4 tháng 3. Tham mưu trưởng Quân Miền Bắc
Tướng Văn Tiến Dũng nắm quyền chỉ huy tổng quát các chiến dịch Cao
nguyên Trung phần, trong đó 4 sư đoàn được tung vào nơi lực lượng
Miền Nam tương đối yếu. Thành công sẽ cho Hà Nội cơ may cắt đôi
Miền Nam, cắt đứt các đội hình hùng mạnh của Sài Gòn ở xa hơn về
phía bắc.
Chế độ Thiệu nhận được nhiều tin tình báo cảnh báo mối đe dọa nhắm
Ban Mê Thuột, đặc biệt từ các tù binh Miền Bắc. Như thường lệ, tuy
nhiên, cũng có nhiều ‘tin rác’ – vì các sĩ quan tình báo luôn đưa ra các
chỉ dấu đa chiều xung đột nhau – để che giấu ‘tín hiệu’, mục tiêu thực sự

của Hà Nội. Các đội hình tấn công của Miền Bắc im hơi lặng tiếng trên
tần số sóng, trong khi phát ra các sóng truyền tin đánh lừa quanh Pleiku.
Vào ngày 8 tháng 3 họ cắt đứt Đường 14 phía bắc Ban Mê Thuột, rồi
Đường 21 ra bờ biển. Cộng quân hoàn thành việc tung hỏa mù cho
Thiệu bất hạnh bằng cách phát động các cuộc tấn công mới phía đông và
bắc Sài Gòn, vùng châu thổ, và tại các tỉnh Thừa Thiên và Quảng Trị,
nơi đội hình Thiếu tướng An dàn quân.
Lúc 05:45 giờ ngày 8 tháng 3, các khẩu pháo của An bắt đầu khai hỏa
xuống các căn cứ hỏa lực Miền Nam gần đó; tiếp theo là cuộc tấn công
bộ binh. Từng hàng hàng bộ đội tràn trề hi vọng của Sư đoàn 324 tiến
lên băng qua một khung cảnh chìm ngập trong làn sương mù buổi tinh
mơ. Những động thái đầu tiên đó của cộng quân không gặt hái thắng lợi
dễ dàng. Bộ phận chỉ huy và kiểm soát Miền Bắc, luôn là một điểm yếu,
cho thấy rối rắm như bao giờ: một số đơn vị tấn công lạc đường, số
khác bị dập bởi pháo và súng cối của QĐVNCH. Ngày hôm sau, ngày
9, quân Miền Nam phát động các cuộc phản công thắng lợi. Việc tranh
chấp một cứ điểm chủ chốt, Đồi 224, dây dưa một tuần lễ, không bên
nào chịu nhường bên nào. Pháo Miền Nam nả 4,600 viên đạn mỗi
ngày. An viết với tình trung thực không ngờ về bộ đội của ông: ‘Hiệu
quả tác chiến của quân đoàn trong giai đoạn này còn thấp.’ Sau 8 ngày
giao tranh, cộng quân chưa thể đột phá được vào phía bắc – cần nhấn
mạnh sự kiện này, vì nhiều người tin rằng toàn bộ quân đội Miền Nam
sụp đổ ngay từ đầu.
Nhưng ngay cả khi các trận đánh này đang diễn ra – và làm gia tăng cơn
bối rối của Sài Gòn không biết chủ định của Hà Nội ra sao – tại Cao
nguyên Trung phần một sử thi nghiệt ngã đang mở ra, lúc đầu ăn khớp
với kịch bản của Sân Rồng, rồi sau đó vượt quá những mong đợi của
họ một cách ấn tượng. Vào ngày 9 tháng 3 bộ đội Miền Bắc, chỉ được 2
pháo 105mm yểm trợ với 50 quả đạn, đã đánh chiếm Đức Lập, cách
Ban Mê Thuột 50 dặm về hướng tây nam. Sụp đổ thảm hại đầu tiên xảy
ra với 3 tiểu đoàn Sài Gòn. Quân tấn công chiếm được 14 pháo và 20 xe
bọc thép trước khi tiến ra phía bắc về hướng Ban Mê Thuột, tại đó các
đặc công và những bộ phận nhỏ đã xâm nhập thành phố. Những mũi
nhọn này tiến về các sân bay và bộ chỉ huy QĐVNCH khi cuộc tấn công
toàn diện nổ ra sớm ngày 10 tháng 3, bao gồm 12 trung đoàn dẫn đầu là

64 xe tăng và xe bọc thép chở quân. Bộ đội Bảo Ninh nhìn với vẻ
choáng váng và đúng ra là kinh sợ trước sự tập trung sức mạnh hùng hậu
này, trên một quy mô ít có người lính cộng sản nào có dịp chứng kiến
trước đây: ‘Hầu như trước đây chúng tôi chỉ đánh như du kích quân, với
cấp độ đại đội.’ Khí thế dâng cao, vì mặc dù họ không có khái niệm
thắng lợi sẽ đến nhanh cỡ nào, nhưng không ai nghi ngờ về thắng lợi
chắc chắn: ‘Chúng tôi biết rằng không có người Mỹ, quân Miền Nam chỉ
bằng phân nửa sức lực trước đây của mình.’
Tư lệnh quân đoàn khu vực của QĐVNCH là Phạm Văn Phú, một cựu
binh 47 tuổi của Điện Biên Phủ, người tỏ ra không thích hợp để chỉ đạo
một cuộc phòng thủ chống lại cuộc tấn công phức tạp của cộng quân.
Phú đã tưởng rằng Pleiku mới chính là mục tiêu chính của quân địch,
nên tập trung sức mạnh tại đó. Lực lượng phòng không đánh đuổi ác liệt
các cuộc không kích của Không lực Sài Gòn, và sau 32 giờ giao
tranh Tướng Dũng có thể báo cáo với Hà Nội đã chiếm được bộ chỉ huy
Sư đoàn 23 và kho quân nhu đồ sộ, với tổn thất nhẹ nhàng. Nhưng binh
sĩ Miền Nam tiếp tục phòng thủ kiên cường căn cứ củng cố có hàng rào
kẽm gai của Trung đoàn 53, tại sân bay cách thành phố 3 dặm về hướng
đông. Quân Miền Bắc, tự mãn sau các thắng lợi ban đầu, vào ngày 14
tháng 3 liều lĩnh tung xe bọc thép vào trận tấn công đêm, biến thành trò
hề. Một xe tăng làm hỏng súng vì va vào thân cây; một chiếc khác lủi
xuống mương. Bộ binh Miền Bắc bị đẩy lùi với số thương vong nặng nề,
một số bị bắn rớt ra khỏi thân tăng: chỉ huy căn cứ Trung tá Nguyễn Võ
An tỏ ra là một sĩ quan hiệu quả và quyết tâm, luôn ở vị thế đứng đầu
hiên ngang trước 500 binh sĩ xứng đáng được ghi nhớ.
Cộng quân lặp lại mũi tiến công vào chiều tối ngày 16 tháng 3, khi đặc
công chấp nhận tổn thất nghiêm trọng để đặt ống thuốc nổ nhắm phá hủy
vành đai hàng rào kẽm gai. Chín giờ giao tranh tiếp theo, quân tấn công
không tiến được bao nhiêu. Tuy nhiên, lúc 05:00 giờ vào ngày 17 bốn
xe tăng chọc thủng vành đai; và ba giờ sau căn cứ bị đánh chiếm. Trung
tá Võ An cùng một số binh sĩ thoát được – ông đến bờ biển vào ngày
24, đi đầu 30 người lính. Miền Bắc nhìn nhận một số đơn vị của mình,
và nhất là các chỉ huy xe tăng thể hiện sự yếu kém như hồi 1972. Nhưng
một thực tế then chốt vẫn duy trì: cộng quân chiến thắng. 400 thương
binh Miền Nam bị bỏ lại trong bệnh viện Ban Mê Thuột.

Tham mưu trưởng Sài Gòn Cao Văn Viên nói về sự thất thủ của thành
phố: ‘Đây là điểm ngoặt có tính quyết định nhất của toàn bộ cuộc
chiến … Lực lượng của chúng ta giờ đối mặt với một ván bài cuối cùng
với một địch thủ tiếp tục gia tăng tiền tố cược.’ Tổng thống Thiệu lâm
vào cơn hoàng loạn, khiến ông liên tiếp đưa ra những quyết định thảm
hại. Đầu tiên, ông bỏ chốt chặn từ tuyến phòng thủ phía bắc bằng cách ra
lệnh cho Sư đoàn Dù thiện chiến bỏ rơi các vị trí và hiệp đồng với lực
lượng đồn trú Saigon. Rồi ông ra lệnh phản công ở phía đông Ban Mê
Thuột, kết cục là hứng lấy thảm bại. Tiếp theo sự đột phá của cộng
quân, Kontum và Pleiku coi như không thể giữ được: binh sĩ ở đó được
lệnh rút lui về phía bờ biển dọc theo Đường 7b thời Pháp đã cũ và hư
hỏng. Viên cảnh báo với Thiệu các hậu quả chắc chắn sẽ xảy ra, nhắc lại
thảm họa 1954 Việt Minh đã giáng cho Nhóm Cơ động 100 của Pháp,
cũng trong vùng ấy và trong hoàn cảnh tương tự.
Tổng thống không tham vấn với các sĩ quan Mỹ về quyết định bỏ rơi
Cao nguyên Trung phần – thông báo với các tư lệnh của ông tại một
buổi họp khẩn cấp ở Vịnh Cam Ranh ngày 14 tháng 3 – cũng không
thông tin cho họ về quyết định của mình. Frank Snepp cho rằng điều này
bởi vì ‘ông đơn giản sợ người Mỹ sẽ nổi điên và rút hết viện trợ cho ông
‘. Lệnh của Thiệu, không phải là bốc đồng, mà phản ánh quá trình suy
nghĩ từ năm trước. Ông ôm ấp một niềm tin rằng, nếu ông có thể làm
ngắn vành đai phòng thủ dài đến quá sức do hình thể Miền Nam, lực
lượng ông còn có thể gìn giữ thành công vùng phồng ra ở phía nam.
Trong khi điều này là không thể tin được, thì tệ hơn là ông cứ khăng
khăng trong vòng vài ngày 25,000 binh sĩ sẽ rút lui 150 dặm, qua địa
hình đồi núi, để ra biển. Ông phớt lờ vấn đề to tát là gia đình binh sĩ cư
ngụ ở Cao nguyên, không nói đến dân chúng, viên chức của ông ở đó.
Người ta nói rằng Tướng Phú đã bật khóc trên chuyến bay từ Vịnh Cam
Ranh trở lại Pleiku, nói rằng mình và Miền Nam không còn có tương lai
gì nữa. Chính ông rút đi về phia đông bằng trực thăng, để lại một chuẩn
tướng giám sát việc chuyển quân nặng nhọc của cả quân đoàn với một
khối lượng đồ sộ người, xe cộ, quân nhu và trang thiết bị dọc theo con
đường gồ ghề, hun hút qua các đèo núi liên tiếp.
Phi cơ Air America Fred Anderson nói sau này: ‘Tôi không bao giờ
quên được cảnh tượng xa lộ khi ra khỏi Pleiku. Đó là một khối đông đúc

người lội bộ và mang vác những gì họ có. Và bạn biết là sẽ có hàng
ngàn người chết.’ Các chuyến bay Hàng không Hoa kỳ di tản các nhân
viên Mỹ thỉnh thoảng bị bắn bởi các binh sĩ Miền Nam vì cay cú. Một
phi công khác nói: ‘Nhiều chuyện xảy ra vì bực tức. Người ta bị kích
động; họ muốn thoát khỏi chỗ đó và không nghĩ ngợi gì. Hoàn toàn là
cảnh tượng vô chính phủ, con người chỉ còn là một động vật. ‘
Hai ngày đầu của cuộc rút quân, 16-17 tháng 3, trôi qua không có sự cố
gì nhiều, chỉ trừ một đám dân tị nạn tiến sát phía sau đoàn quân. Rắc
rối bắt đầu tại thị trấn nhỏ Cheo Reo, sau khi đi được 50 dặm theo con
đường, nơi 900 xe cộ dồn nghẽn trên một lối quá hẹp. Tình trạng hỗn
loạn giáng xuống khi các binh sĩ làm loạn lục lọi, cướp bóc và bắn giết.
Rồi cộng quân xông ập tới phong tỏa con đèo phía trước. Sau một trận
tấn công đêm lúng túng không thể đột phá qua chốt chặn, vào ngày 18
tháng 3 Biệt động quân thành công, nhưng chỉ để rơi vào một trận không
kích nhầm của phe ta, giết chết một đại tá và quét sạch một vạt quân
trong hàng ngũ. Khi quân Miền Bắc bắt đầu pháo kích vào đám người và
xe cộ bị kẹt cứng ở Cheo Reo, một số xe tăng và quân xa tìm đường
khác tháo chạy băng qua đồng ruộng. Một tiểu đoàn Biệt động là một
trong số ít lực lượng còn duy trì sự gắn bó, tan tác dần qua những lần đột
kích các chốt chặn liên tiếp của địch. Cuối cùng họ đến được Tuy Hòa
lúc 21:00 giờ ngày 27 tháng 3, đã mất phân nửa quân số. Một phần tư
trong số 25,000 binh lính ở Cao nguyên Trung phần cuối cùng lết được
đến bờ biển, cùng với khoảng 5,000 người thân và nhân viên, dân
chúng. Tướng Viên ước tính rằng ba phần tư năng lực tác chiến của
Quân đoàn II – trung tâm Miền Nam – đã bị tiêu diệt chỉ trong 10
ngày. Người công sản sau đó nhìn nhận có đến 900 bộ đội thiệt mạng
trong chiến dịch Cao nguyên Trung phần, phần đông các tổn thất này
chắc chắn xảy ra trong những ngày đầu mở màn.
Các sự kiện diễn ra tiếp theo vụ thất thủ Ban Mê Thuột tạo ra phần đầu
của điều trở thành các thảm kịch nhân loại tiếp nối, giáng xuống cho
hàng triệu người. Tướng Viên mô tả việc rút lui như là một ‘điều ô
nhục’, phản ánh sự thất bại của giới lãnh đạo trên mọi cấp bậc. Trên con
đường đi về phía đông, nhà báo Nguyễn Tư viết về dân chạy nạn ‘giờ
đây không còn lại gì ngoài bộ quần áo lưng đẫm mồ hôi và bụi đường
trên người. Bàn chân họ sưng vù và cặp mắt không còn sức sống và khô

kiệt hi vọng. Trẻ nhỏ . . . lủi thủi theo sau cha mẹ.’ Việc binh sĩ Miẻn
Nam bỏ ngũ hàng loạt tuyệt vọng lo bảo vệ người thân của mình trở
thành một đặc điểm của chiến dịch; cũng như đám đông dân chúng và xe
cộ làm tắt nghẽn các con đường khiến binh lính chính quyền không qua
được, thậm chí trước khí quân địch can thiệp. Lò luyện địa ngục đầy
hoảng loạn và khổ não lầm than này lại sôi lên ùng ục khi hỏa lực pháo
và súng cối của cộng quân rơi xuống từng chập.
Vào ngày 18 tháng 3 Giáp ở Hà Nội báo tin cho bộ chính trị rằng thời cơ
quyết định đã đến: họ phải tranh thủ những thắng lợi địa phương đáng
kinh ngạc bằng cách phát động một cuộc tổng công kích. Đã quá rõ ràng
là người Mỹ sẽ không tung không lực, nhiều binh sĩ Thiệu đã quá kiệt
quệ ý chí chiến đấu. Dù sau này nhiều người viết về sự thiếu hụt quân
nhu của quân đội Miền Nam, không có lý do để tin rằng các sự kiện vào
đầu mùa xuân sẽ diễn biến khác đi, cho dù có nhiều quân nhu hơn nhu
cầu. Nhà sử học lưu vong Miền Nam Nguyễn Kỳ Phong cho rằng chế độ
còn sở hữu một số lượng khí tài quân sự dùng được thêm một năm, và
bằng chứng là số lượng khổng lồ sau này rơi vào tay quân Miền Bắc –
chỉ tính riêng ở Cao nguyên Trung phần là 18,000 tấn. Sự kiện là nhiều
trang thiết bị và quân nhu được cất giữ không đúng chỗ là bởi vì hệ
thống hậu cần Miền Nam bị tê liệt do hoạt động kém hiệu quả và tham
nhũng, nên không thể chỉ biết đổ lỗi cho người Mỹ.
Đại sứ Graham Martin, đến thăm Washington vào tháng 3, trực tiếp kêu
gọi các nghị sĩ lãnh đạo hậu thuẫn một gói viện trợ mới – nhưng ông
đụng đầu một bức tường đá lạnh lùng.
Martin không có trình độ thuyết phục, nhưng tại thời điểm này cho dù
có Cicero (nhà hùng biện La Mã nổi tiếng) cũng không thể khiến lập
pháp mềm lòng giải cứu chính quyền Sài Gòn. Phần đông dân biểu và
thượng nghị sĩ nhận thức rằng cử tri của họ muốn đoạn tuyệt với bộ máy
cứu sinh Miền Nam. Nhưng điều này không ngăn cản vị đại sứ chấp bút
viết một bức thư dối trá đáng trách gửi Tổng thống Thiệu, giao tại Sài
Gòn ngày 15 tháng 3, xác nhận: ‘Tôi có thể bảo đảm với ngài một cách
xác định nhất là Tổng thống và Ngoại trưởng và Bộ trưởng quốc phòng
quyết tâm khi cuộc chiến Washington đã qua ngài sẽ nhận được viện trợ
ngài cần.’

Martin sau đó lui về nghỉ tại nông trại North Carolina 10 ngày, để lấy lại
sức sau cuộc giải phẫu nha khoa. Không chắc cho dù ông ta có nói hay
làm gì có thể thay đổi được tình hình, nhưng hành vi của ông thật là ô
nhục, cũng như của Quốc Hội. Việc từ chối chỉ gửi tiền cho một đồng
minh lâu đời của quốc gia, có thể nói cũng là một nạn nhân của nó, gửi
đi một tín hiệu không lầm lẫn được đến cả hai bên trong chiến tranh:
nhân dân Mỹ, khao khát khép lại cuộc chiến, đã biến trái tim mình hóa
đá – theo lời của Frank Snepp, ‘tự thể hiện mình không đếm xỉa một
cách phũ phàng vào số phận của Miền Nam’. Tác động tinh thần của
việc cúp viện trợ quan trọng hơn tác động phần vật chất. Hiếm có binh sĩ
Miền Nam nào từ tướng lĩnh đến binh nhì không hiểu ra rằng chế độ Sài
Gòn đã bị người bảo trợ mình ruồng bỏ; vì vậy thật khó tin khi một
chính nghĩa bị nguyền rủa xứng đáng được họ hi sinh thêm nữa. Trong
tâm thức người dân Miền Nam, một huyền thoại lâu đời được khai sinh,
huyền thoại ‘người Mỹ đâm sau lưng đồng mình của mình’. Sự sụp đổ
của Cao nguyên Trung phần chỉ tác động một thảm họa tức thì lên một
cảm nhận sâu xa hơn về định mệnh vốn đã lan tràn khắp các đội hình
Thiệu. Chỉ không lực Mỹ mới có thể chuyển đổi cục diện, và ở
Washington một tổng thống yếu đuối chùn bước trước thách thức chống
đối của quốc hội cho một hành động như thế.
Một chỉ thị ấn tượng giờ được bộ chính trị Hà Nội ban hành, ra lệnh cho
các lực lượng trong tháng 5 phải hoàn thành việc chinh phục Miền
Nam. ‘Tình hình thay đổi đến chóng mặt, ‘ Thiếu tướng An nói. Tại
phía bắc vào ngày 20 tháng 3, pháo của ông triển khai trở lại về phía
Quốc lộ 1 bắc-nam huyết mạch: trong vòng vài giờ thi triển hỏa lực,
pháo bắn sát vào đoàn xe cộ lưu thông giữa Huế và Đà Nẵng: số lượng
lớn xe cộ tìm cách thoát về phía nam bị buộc phải quay đầu trở lại. Một
cán bộ phụ nữ VC tại địa phương cắt ngang một buổi hội nghị quân đoàn
để báo cáo có hàng ngàn quân địch đào ngũ đang trốn chạy qua làng cô.
Cô đến để xin một số bộ đội giúp cô quét sạch chúng, và tịch thu vũ khí.
Nhưng cô được lệnh cứ để họ đi tự do; bắt nhốt chúng chỉ thêm gánh
nặng. An nói: ‘Tôi nhận ra các đội hình địch đang sụp đổ.’ Các đơn vị
Miền Nam đã ngừng mã khóa các thông điệp trên sóng truyền tin, đôi
khi sử dụng ngôn ngữ tục tĩu thóa mạ nhau trên máy.

Trong suốt các tháng cuối cùng này, các lực lượng Sài Gòn hoạt động
trong đám sương mù vì thiếu tin tình báo về các vụ chuyển quân và dự
tính của quân địch. Ngược lại, Hà Nội được thông tin đầy đủ bởi mạng
lưới các tên phản bội ở Sài Gòn – nhất là một trung sĩ thư ký trong văn
phòng Tham mưu trưởng QĐVNCH – về gần hết mọi chi tiết về hành
động địch , kể cả việc Thiệu có quyết định chiến lược là bỏ rơi các vùng
lãnh thổ. Nỗi sợ lớn nhất của Giáp là các lực lượng Miền Nam sẽ rút về
các khu vực được bao quanh bởi các vùng đất khác quanh các thành phố
như Huế và Đà Nẵng, từ đó có thể khó đẩy bật họ ra; vì thế ông nỗ lực
khẩn trương cắt đứt các cuộc tái triển khai của quân Miền Nam đang
được tổ chức. Chiến lược của ông ở phía bắc là đánh nhanh về hướng
đông vào vài trục, cắt đứt các đường huyết mạch trong đó Quốc lộ 1 là
quan trọng nhất.
Trong tuần lễ đầu chiến đấu, tư lệnh Quân đoàn I Miền Nam Ngô
Quang Trưởng nhận xét rằng lực lượng của mình giữ vững thế trận khá
tốt – giống như An, đối thủ của ông, cũng đồng ý. Một số Địa phương
quân tỏ ra gan dạ và quyết tâm, và TQLC phát động các cuộc phản công
hiệu quả. Tuy nhiên, giờ đây việc phòng thủ tan rã với tốc độ khủng
khiếp, một chuỗi các sự kiện ập tới do phản ứng của Thiệu trước sự sụp
đổ của Cao nguyên Trung phần. Lệnh Thiệu rút lui lực lượng Dù giáng
cho Trưởng một cú đấm chiến thuật và tinh thần – vị tướng ắt hẳn sẽ
kinh hoàng hơn nếu biết rằng Tổng thống cũng dự tính lấy đi Sư đoàn
TQLC của mình. Trong năm 1972 cũng các TQLC này đã tốn biết bao
xương máu để chiếm lại Quảng Trị; giờ khi họ rút lui về phía nam thành
phố mất trong một ngày, đẩy nhanh một cơn xuất hành khổng lồ khác.
Như ở Cao nguyên, các con đường kẹt cứng dân chúng lội bộ và đi xe
đủ mọi loại. Càng lúc càng có nhiều vùng phía bắc, cả quân sự lẫn dân
sự, thấy mình bị bỏ lại, chính quyền của mình không còn coi phòng
tuyến cực bắc này của Miền Nam có thể phòng thủ được. Mặc dù có
một số cứ điểm đứng vững một cách kiên cường, tại một chục cứ điểm
chủ chốt khác từ phía bắc Huế đến nam Đà Nẵng các lực lượng cộng
quân tiếp tục dấn về hướng biển: Trưởng và quân đoàn ông mất quyền
kiểm soát khi khu vực bị cắt xén trên đầu họ. Thiệu lưỡng lự – lúc thì
yêu cầu phải giữ Huế đến phút cuối cùng, lúc khác lại đề xuất buông bỏ

nó.

Sau hai tuần giao tranh trong đó Quân đoàn I tổn thất 2,000 thương vong
và tuyên bố đã bắn 200,000 viên đạn pháo, vào ngày 21 tháng 3 quân
Miền Bắc đánh tan Biệt động quân phòng thủ các ngọn đồi trọng yếu
phía trên Quốc lộ 1.
Từ đó về sau cộng quân bắt đầu tấn công hướng bắc về phía Huế. Lúc
13:00 giờ ngày 25 tháng 3, một bộ đội tên Nguyễn Văn Phương kéo cờ
Miền Bắc lên cố đô. An tìm kiếm tài xế cho 50 xe tăng và xe bọc thép bị
bỏ lại, tham gia cùng với ông tiến xuống nam. Đám đông binh sĩ Miền
Nam hoang mang và bị tước vũ khí lang thang khắp đường phố; hàng
trăm sĩ quan trở thành tù binh.
Trong các cuộc di tản từ đường bờ biển phía bắc, kỷ luật của sư đoàn
TQLC vốn chịu nhiều thử thách đã sụp đổ. Một tùy viên quốc phòng
Mỹ năm trước đã cảnh báo về mối hiểm họa mà một cuộc tấn công của
địch vào phía bắc sẽ đẩy nhanh một vụ ‘Dunkirk mà không có tàu’,
(Dunkirk là trận chiến phía tây nước Pháp 1940 giữa đồng minh và Đức.
Trước sức ép tấn công tới tấp của Đức, các lực lượng Đồng Minh đã
phải vừa đánh đỡ vừa rút lui ra bãi biển và mở cuộc tháo chạy khổng lồ
theo đường biển về Anh Quốc). Chính điều đó đang xảy ra: một đám bát
nháo các tàu thuyền thiếu thốn một cách thảm hại ra sức di tản một số
lượng quá đông các binh sĩ và dân chúng tuyệt vọng. Việc kháng cự lác
đác ở địa phương gây cho Tướng An của Miền Bắc ít khó khăn hơn là
việc tiếp gạo cho các đơn vị ở rải râc nhiều nơi, với bùn lầy ngập mọi lối
đi từ tuyến cung cấp xa hơn về phía tây.
Hàng vạn binh lính và dân chúng chạy thoát khỏi Huế bằng tàu chiến
hoặc tàu nhỏ đi về nam một vài giờ rồi đổ xuống Đà Nẵng. Họ ào ạt lên
bờ, tràn vào các đường phố, lan truyền vi khuẩn bệnh dịch hoảng loạn.
Có thể nghe thấy tiếng pháo từ xa vọng về, khi lực lượng kháng cự tại
Phú Giá, phía bắc thành phố, đang bắn chặn ngắn ngủi các tiểu đoàn của
An. Vào những ngày cuối cùng của tháng 3, ước tính có đến 1 triệu
người tị nạn tràn ngập trên đường phố Đà Nẵng. Khói đen cuồn cuộn
bốc lên từ sân tòa lãnh sự Mỹ khi nhân viên và lính TQLC thiêu hủy hồ
sơ. Các cột quân Miền Bắc hớn hở xông đến thành phố, được dân chúng
hoan hô khi họ cảm nhận được sự chuyển giao lịch sử của quyền làm
chủ.

Chỉ huy Nguyễn Trí, người có trách nhiệm trông coi các con tàu nhỏ của
hải quân Miền Nam, lặp lại nhiều lần điện xin lệnh trên, nhưng đề đốc
của ông vẫn câm như hến. Vào ngày 28 tháng 3 Trí chạy đến bộ chỉ huy
quân đội, vốn đã chuyển vào căn cứ hải quân, và thấy nhộn nhịp các sĩ
quan xách nặng hành lí chứa đầy đồ dùng cá nhân. Trực thăng chở nhóm
người lánh nạn có đặc quyền này đến nơi an toàn, để lại phía sau họ sự
hỗn loạn. Trí cũng xuống đội tàu của mình cùng với gia đình các thủy
thủ và của mình, rồi tách bến, chạy nhanh ra biển. Đến Qui Nhơn, họ
kính ngạc khi thấy cùng các cảnh tượng; một sự sụp đổ tương tự của
quyền lực.
Tướng Trưởng viết sau này về những ngày cuối cùng ông nắm quyền tư
lệnh Quân đoàn I rằng binh sĩ ra sức triển khai phòng thủ thì bị nuốt
chửng trong đám dân chúng làm tắc nghẽn Quốc lộ I và các vùng đất kế
cận. Hỗn loạn, xô xát và cuối cùng hoảng loạn bắt đầu lan đến các
đơn vị tác chiến.’ Một nhân chứng Mỹ, phi công Hàng không Hoa Kỳ
Wayne Lennin, nói về Đà Nẵng: ‘Nó không thất thủ; nó chỉ tan rã …
Binh sĩ hóa ra cáu tiết. Họ chạy xuống đường phố ria súng máy vào dân
thường … giật nữ trang đeo trên người và hãm hiếp phụ nữ.’ Những
cảnh tượng đáng sợ xảy ra tại sân bay, nơi các đám đông điên cuồng bu
đen vào một ít các máy bay khởi hành, tin rằng đó là chuyến bay cuối
cùng; những người rúc vào các buồng càng bị nghiền nát khi phi công
bay lên thu càng đáp lại. Những nỗ lực chở đi các băng ca thương binh
bị các đám đông binh sĩ và dân tị nạn tràn ngập: 5,000 bệnh binh và
nhân viên y tế bị bỏ lại tại Bệnh viện Đa khoa Duy Tân. Trên bờ biển,
các binh sĩ lái xe tăng và quân xa xuống nước, tấn công các tàu thuyền.
‘Có Biệt động quân, TQLC, xe tăng,’ một nhân chứng Việt nói. ‘Một
tàu vào trước và TQLC bắn hết mọi người khác họ muốn lên tàu, rồi bọn
Biệt động nổi điên bắn vào bọn TQLC và rồi cuối cùng tàu chìm.’

Victorious North Vietnamese troops on tanks take up positions outside
Independence Palace in Saigon, April 30, 1975, the day the South
Vietnamese government surrendered, ending the Vietnam War.
Communist flags fly from the palace and the tank. (AP Photo/Yves
Billy)

Ngày 29 tháng 3 lực lượng Bắc Việt tiến vào Đà Nẵng sau khi đánh
chiếm những vùng lãnh thổ rộng lớn với tổn thất ước tính không đến
3,000 thương vong. Các trung đoàn của An tái tổ chức với phương tiện
vận chuyển được nâng cấp, trong đó có 487 quân xa GMC lấy được của
địch. Họ cũng tịch thu các máy truyền tin PRC-25, tỏ ra vô giá đối với
một quân đội thiếu hụt phương tiện liên lạc, giờ lần đầu tiên được phân
phát đến cấp đại đội. Mỗi tiểu đội khoe có đến hai khẩu M-79 súng
phóng lựu. Một phần ba số vũ khí của An là vũ khí chiếm được.

Thách thức tiếp theo là di chuyển lực lượng kinh khủng này 600 dặm về
phía nam, được củng cố thêm 2 sư đoàn từ Miền Bắc vội vã xuống tham
gia vào mũi tiến về Sài Gòn. ‘Đạo quân Duyên Hải’, như nó được biết,
đặt dưới sự chỉ huy toàn bộ của Tướng Lê Trọng Tấn, gồm 2,276 xe cơ
giới. Tướng An cảm thấy phần nào choáng ngợp khi nó lên đường vào
ngày 7 tháng 4: ‘Đây là lần đầu tiên trong sự nghiệp tôi đã chỉ huy một
đạo quân dài, dài như thế với quá nhiều binh chủng đặc biệt.’ Đám đông
đứng hai bên đường hoan hô, trong số đó có binh sĩ Miền Nam đã đầu
hàng xin được cấp lương thực. Đoàn quân luôn phải tạm dừng để công
binh sửa chữa tạm các cây cầu gãy hoặc bị pháo sập – giữa Đà Nẵng và
Xuân Lộc họ phải vượt qua 569 cầu. An phái các đội tiên phong để bảo
đảm chiếm được các kho xăng dầu ở Quy Nhơn, Nha Trang, Cam
Ranh. Trong gần hai tuần lễ tiến quân, quân đoàn di chuyển trung bình
60 dặm trên quân xa lái 24 giờ suốt ngày đêm.
Cảnh ngộ tuyệt vọng của Miền Nam gây chú ý cho 10 triệu người Mỹ
xem truyền hình. Nhưng không có hình ảnh nào về nỗi lầm than khổ não
của đông đảo con người có thể khiến quốc gia này thay đổi thái độ, vẫn
toàn tâm chống đối việc tái can thiệp. Tình trạng suy thoái kinh tế trong
nước cung cấp lời biện minh cho việc chống đối can thiệp của quốc hội.
Một lời biện minh nữa được một dân biểu Dân chủ của California Henry
Waxman nêu ra: ‘Chúng ta không thể xiển dương hoà bình bằng cách
cung cấp phương tiện chiến tranh … Cung cấp nhiều khí tài quân sự cho
Sài Gòn chỉ làm gia tăng việc chống đối các thỏa thuận đã có.’ Các lãnh
đạo Mỹ tồi tệ nhất là những người đưa ra lời hứa hẹn giúp đỡ Miền
Nam, trong khi dư biết điều này không xảy đến được: Thượng nghị sĩ
Hubert Humphrey ồn ào kêu gọi hậu thuẫn, rồi lại bỏ phiếu chống một
gói viện trợ. Thiệu thẳng thắn bảo với Ford rằng không có sự can thiệp
của Mỹ – nói trắng ra là các B-52 – xứ sở của ông sẽ chắc chắn tiêu
vong. Vào ngày 22 tháng 3 tổng thống Hoa Kỳ trả lời, cam kết hậu thuẫn
trong khi vẫn tỏ ra mơ hồ có tính toán về hình thức hậu thuẫn nào có thể
đưa ra. Thiệu nhắc ông các lời hứa hẹn rõ ràng mà Nixon và Kissinger
đã đưa ra sau Hiệp định Paris. Dù sao thì Ford vẫn không dám liều lĩnh
đương đầu với phản ứng của quốc hội nếu ra lệnh không kích. Vào ngày
25 tháng 3, ông nói: ‘Tôi rất tiếc tôi không có quyền thực thi một số việc
mà Tổng thống Nixon có thể làm.’

Trong suốt những ngày đó, ngoại trưởng của Ford vẫn duy trì óc sáng
suốt một cách đặc trưng, nêu ra sự vô ích khi sử dụng ngoại giao để chặn
đứng cuộc tiến công của cộng quân. ‘Tôi tin rằng,’ Henry Kissinger nói,
‘Miền Bắc tuyệt đối sẽ không làm gì nếu không có sức ép quân sự.’ Có
đề xuất đưa Hải quân Hoa Kỳ đến hỗ trợ các cuộc di tản từ Huế và Đà
Nẵng, nhưng Nhà Trắng rút lại khi các chỉ huy cho rằng binh sĩ cần phải
đổ bộ.
Thay vào đó, Bộ chỉ huy Hải vận Quân sự được lệnh thuê mướn các
thương nhân, giải cứu hàng ngàn dân lánh nạn trong các tình huống đau
lòng và đôi khi dữ dội. Vào ngày 28 tháng 3 Kissinger báo cáo với Ford:
‘Tôi không nghĩ Miền Nam có thể giữ vững … Đó là sự sụp đổ tinh
thần của Hoa Kỳ.’ Ngày hôm sau ông nói trong một buổi họp các nhân
viên của mình, ‘Nỗi ô nhục là của chúng ta.’ Khi một nhân viên đề nghị
nhờ Moscow can thiệp, Kissinger trả lời: ‘Chúng ta không thể nhờ
người Xô viết trong tinh thần hoà hoãn để cứu chúng ta khỏi chính

mình.’

Tại Hà Nội, Giáp sẵn sàng cho giai đoạn cuối cùng của điều ông quyết
tâm sẽ được công nhận là chiến công vẻ vang của bản thân: ông dời chỗ
ngủ vào Sân Rồng, và vẫn ở đó suốt ngày cho đến khi Sài Gòn thất thủ,
trừ một lần ra nhanh Miền Nam để trao đổi với các tư lệnh chiến
trường. Mỗi giờ sau đó ‘Văn’, mật danh của ông, thúc giục các tướng
lĩnh của mình thần tốc, thần tốc, thần tốc – để đánh chiếm Sài Gòn
trước khí mùa mưa đến, hoặc trước khi người Mỹ đổi ý và bắt đầu dội
bom. Mỗi buổi chiều lúc 7 giờ, Lê Duẩn được báo cáo tình hình: các
tường thuật cộng sản hậu chiến đều nhấn mạnh đến vai trò ‘Tư lệnh tối
cao mặc định’ của ông, xóa đi huyền thoại của Giáp, mặc dù không mấy
nghi ngờ chính chiến dịch đã phản ánh việc phục sinh ngắn ngủi của vị
tướng lĩnh già lên địa vị vượt trội của nhà chiến lược.

Cuộc Tổng Công Kích cuối cùng vào Sài Gòn
Giữa 10 và 31 tháng 3, bốn sư đoàn quân Miền Bắc, được du kích VC
yểm trợ, tiến hành các cuộc tấn công về phía bắc và đông Sài Gòn, tuy
bị chặn lại nhưng cho phép phe xâm lược áng quân cách thủ đô trong
vòng 40 dặm. Trong những ngày cuối cùng của tháng Lê Duẩn thúc giục
Dũng, đang ở Cao nguyên Trung phần, phát động một mũi tiến công

chớp nhoáng cho thắng lợi cuối cùng. Vị tướng đủ táo bạo và bướng
bỉnh để chần chừ, nhấn mạnh rằng trước hết phải hoàn thành việc đập
tan Quân đoàn II. Ngày 31 tháng 3 lực lượng của ông xuyên thủng Đèo
M’Drak then chốt do lữ đoàn Dù trấn giữ. Thành phố cảng Quy Nhơn bị
đánh chiếm, và ngày hôm sau thiết giáp Miền Bắc càn vào Tuy Hòa, xa
hơn về phía Nam. Lãnh sự Mỹ ở Nhà Trang di tản giữa khung cảnh hỗn
loạn khủng khiếp. Vì toàn bộ các đơn vị Miền Nam tan rã, Vịnh Cam
Ranh thất thủ. Ngày 2 tháng 4 Tướng Phú, Quân đoàn của ông tan
vỡ, thoát về Sài Gòn.

Tướng Văn Tiến Dũng, Tham mưu trưởng Quân đội Miền Bắc, người chỉ
huy trận công kích cuối cùng vào Sài Gòn
Tất cả chốt quan trong trên Quốc lộ 1 giờ nằm trong tay quân Miền Bắc.
Frank Snepp đề cập đến một số người xét lại trong thế kỷ 21 tìm cách
cho rằng Miền Nam đã triển khai một công cuộc phòng thủ quốc gia cố
kết: ‘Họ không có mặt ở đó để chứng kiến cảnh hỗn loạn rối ren. Mọi nỗ
lực để áp đặt sự trong suốt cho câu chuyện QĐVNCH đều phi lý.’ Điều
này ắt hẳn đúng về chiến lược của Thiệu, đúng là như thế, nhưng nó
thất bại thảm hại. Nhưng cũng có một số ít binh sĩ Miền Nam chiến đấu
với lòng quả cảm xứng đáng có được một lãnh tụ quốc gia tài giỏi hơn.
Lê Duẩn xác nhận trong một thông điệp dài ngày 1 tháng 4 gửi đến các
tư lệnh của mình rằng trong các chiến dịch phía Bắc từ đầu đến nay ‘đã

chịu ít thương vong về quân sự’ – họ giành được nhiều vùng lãnh thổ mà
chịu ít tổn thất hơn nhiều như hồi năm 1972. Lần đầu tiên trong cuộc
chiến, Hà Nội cử đoàn quay phim và phóng viên tháp tùng bộ đội trên
con đường chiến thắng. Trong số này có Phùng Bá Thọ, mới vừa trở về
tổ quốc sau 20 năm sống ở châu Âu, nơi ông đã trở nên một nhà làm
phim thành công. Quân đội phát cho Thọ một bộ quân phục và một máy
quay phim, rồi cử ông vào nam để chứng kiến thắng lợi của cách mạng.
‘Thật là phấn khích,’ ông xúc động nói. Lúc đầu ông và ê kíp quay phim
của truyền thông cộng sản vô cùng sợ hãi giữa cơn hỗn loạn trong các
thành phố Miền Nam vừa mới được chinh phục, ‘nhưng rồi chúng tôi
thấy mọi sự đều tốt đẹp’. Từng đoàn đông người mà họ đi qua, cả quân
nhân lẫn dân chúng, không ai nghĩ đến việc làm hại họ – thật ra một
trong những cảnh tượng kỳ cục nhất dần trở nên quen thuộc là cảnh các
binh lính Miền Nam lột bỏ quân phục chỉ mặc quần đùi.
Hai Thông Điệp Quan Trọng

Trên: Trích xuất từ một Bức Điện Thông tin Tỉnh báo của CIA, đề ngày
8 tháng 4 1975, cảnh báo về độ tin cậy của ‘nguồn tin Tây Ninh’ cho
biết Hà Nội không quan tâm đến việc thương lượng chính trị.
Dưới: Bức điện Miền Bắc ngày 7 tháng 4 1975, từ ‘Văn’ (Giáp), thúc
giục ‘Thần tốc thần tốc hơn nữa, táo bạo táo bạo hơn nữa, tranh thủ

từng giờ từng phút, xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam, quyết chiến
và toàn thắng”.
Một người Mỹ xem các sự kiện trong những ngày đó đặc biệt đau
thương là Jim Livingston, người được thưởng Huy chương Danh Dự tại
Đại Đô bảy năm trước, và hiện giờ là sĩ quan hành quân của lữ đoàn đổ
bộ TQLC đang ở trên tàu chỉ huy Blue Ridge ngoài khơi. Ông đi lên bờ
tại Đà Nẵng một lúc và ‘cảm thấy ghê tởm’ ở những gì mình chứng kiến.
Một đại tá từ Sư đoàn Mèo Đen Miền Nam tìm cách leo lên tàu chiến
ngoài khơi Cam Ranh, nhưng bị Livingston đẩy xuống, khinh bỉ vì y đã
bỏ rơi binh sĩ của mình: ‘Tao sẽ trở lại với mày và chiến đấu, mầy là tên
khốn nạn!’ Người TQLC chỉ đề nghị bốc đồng và viên sĩ quan đương
nhiên từ khước. Những người khác chọn lấy con đường khác: một vụ tự
tử đầu tiên trong số các vụ tiếp theo xảy ra. Tại Quy Nhơn chỉ huy
Trung đoàn 42 vẫy tay chào tạm biệt binh sĩ mình lên tàu, rồi biến mất
trong một ngôi nhà tại đó ông tự bắn vào mình quyên sinh.
Giáp thoạt đầu hi vọng các đội hình Miền Bắc tiên phong có thể đánh
chiếm Sài Gòn ‘đang tháo chạy’, duy trì sức xung kích của các tuần lễ
trước, mà không cần đợi ‘Đạo quân Duyên Hải’ tiến vào từ phía bắc.
Ông ra lệnh binh đoàn của Tướng Trà cô lập thủ đô từ vùng đồng bằng
Cửu Long, nhưng cuộc tấn công của họ gặp phải sức kháng cự mạnh mẽ
hơn quân Miền Bắc đã trải nghiệm ở mặt trận Cao nguyên Trung phần.
Giao tranh ác liệt xảy ra giữa cộng quân và lực lượng pháo thuyền ven
sông Miền Nam; một cuộc tấn công giữa tháng 4 vào Cần Thơ bị đẩy
lui; Địa phương quân và Nghĩa quân Long An cầm cự vói Sư đoàn 5
Miền Bắc được 4 ngày.
Trận đánh quan trọng nhất cộng quân buộc phải chiến đấu xảy ra cách
Sài Gòn 37 dặm về hướng đông bắc. Thị xã Xuân Lộc, thủ phủ của tỉnh
Long Khánh, chiếm giữ đoạn giao lộ chủ chốt nối với Quốc lộ 1, bao
quanh là các đồn điền chuối và cao su. Hành động diễn ra ở đó bắt đầu
vào ngày 9 tháng 4 là cơ hội cho quân đội Miền Nam, lần cuối cùng
trong lịch sử của mình, phô diễn quyết tâm và lòng quả cảm đương đầu
với nghịch cảnh, cho dù nó không thể thay đổi cục diện bất khả kháng
của cuộc chiến.
Tư lệnh Sư đoàn 18 Chuẩn tướng Lê Minh Đảo, gương mặt ông hiếm
khi thấy được dưới cặp kính râm to khổ và trông khá hung hãn, có tiếng

đào hoa hơn là thành tích quân sự – ông được ca ngợi như một tay vừa
đàn guitar vừa hát theo. Ông và binh lính dù sao cũng đang chuẩn bị kỹ
lưỡng đương đầu với cộng quân đang lù lù tiến tới. Họ di dời hầu hết các
gia đình binh sĩ về Long Bình, và đặt pháo trên con đường tiến quân mà
cộng quân đã sử dụng trong cuộc công kích Tết 1968, dự kiến chính xác
họ sẽ sử dụng lộ trình cũ. Đảo cử quân chiếm giữ các thế đất cao mà
quân địch có thể sử dụng để quan sát pháo, đặt 36 súng trong các
boongke, tích trữ quân nhu, giám sát các kênh vô tuyến của cộng quân.
Gần như phát đạn đầu tiên của trận pháo kịch bắt đầu lúc 05:40 ngày 9
tháng 4 làm hư hại khu cư ngụ của Đảo gần nhà thờ. Trong những ngày
sau đó, pháo của cộng quân biến phần lớn Xuân Lộc thành đống gạch
vụn nhưng không gây hư hại nhiều cho quân phòng thủ, có đào hầm hố
ngoại vi thị xã. Lúc 06:40 hai pháo sáng màu đỏ báo hiệu bộ binh và xe
bọc thép tiến lên. Ở sườn phía đông, Sư đoàn 7 của phe xâm lăng nhanh
chóng bị chặn lại bởi rào kẽm gai, mìn và các cuộc không kich của
Không lực Miền Nam. Sư đoàn 341 tấn công từ phía đông bắc, xâm
nhập thị xã, nhưng hỏa lực Miền Nam đẩy lùi bộ binh thiếu niên non
nớt của nó. Sư đoàn 6 đạt dược thành công quan trọng duy nhất cho
cộng quân, khi tiến lên từ hướng nam để cắt Quốc lộ 1 giữa Xuân Lộc và
Sài Gòn. Từ đó về sau, thị xã bị cô lập.
Trong hai ngày sau, binh lính Đảo tiến hành một số cuộc phản công
thắng lợi, và đẩy lùi các cuộc tấn công mới của địch. Trong hoạt động
trực thăng quy mô cuối cùng trong cuộc chiến, 100 chiếc Huey bốc một
lữ đoàn Dù đến tiếp viện cho quân đồn trú.
Pháo kích của cộng quân gây bất hạnh cho cuộc sống dân cư, nhưng các
chỉ huy cộng sản nhận biết rằng mình đã gây ra một loạt lỗi lầm. Trước
tiên, Tướng Trà thất bại không hoàn thành được mệnh lệnh là ngăn cấm
máy bay cất cánh từ Biên Hòa, để không yểm trợ được cho Xuân Lộc;
chỉ đến ngày 15 tháng 4 hỏa lực pháo và rốc két của Miền Bắc mới bắt
đầu làm được điều này. Trong khi đó, sau các tuần lễ chiến đấu, Sư
đoàn 7 tấn công đã thấm mệt. Quân đội Miền Nam dường như đã làm
đúng gần như mọi việc, và cộng quân bị trừng phạt vì sự xấc xược của
mình khi vội vàng tấn công trực diện vào những vị trí đã được củng cố
vững chãi. Họ cũng chịu tổn thất đáng kể từ hiệu quả của các bom BLU-
82 15,000 cân, được Không lực Miền Nam sử dụng ở đây lần đầu tiên,

cùng với bom nhiệt áp dạng chùm CBU-55 hay còn gọi là bom chân
không chết người.
Xuân Lộc lay lất như một pháo đài giữa một mặt tiền đổ nát. Sức kháng
cự của Chuẩn tướng Đảo khiến Hà Nội phải hoãn lại trận tấn công vào
Sài Gòn, lúc đầu ấn định vào 15 tháng 4, và đợi lực lượng còn lại đến
đông đủ. Truyền thông phương Tây được trực thăng chở đến Xuân Lộc
để ca tụng công cuộc phòng thủ , mặc dù hiệu quả bị tì vết do một số dân
chúng ùa đến trực thăng mong thoát khỏi nơi khói lửa, khi bốc các
phóng viên ra về. Binh sĩ phòng thủ mệt mỏi rơi vào tình trạng thụ
động, và không thế làm gì để ngăn chặn sự tập trung quân địch ở phía
sau họ, phía tây thị xã. Ngày 20 tháng 4, Xuân Lộc được lệnh di tản:
quân đồn trú lội bộ rút lui về phía nam qua các đồn điền cao su, vơi Lữ
đoàn Dù có nhiệm vụ đi tập hậu. Đảo, ‘mang bộ mặt hốc hác của một
người không được ngủ nhiều’, theo lời một người lính, vẫn hiên ngang
bước đi giữa ba quân, không cần leo lên trực thăng trốn thoát. Xuân Lộc
là trận xung đột đa bình chủng cuối cùng của cuộc chiến. Hà Nội không
bao giờ phổ biến con số đáng tin cậy về số thương vong của họ, nhưng 3
đến 4 ngàn dường như là ước lượng đúng. Thật là điên rồ khi quân Miền
Bắc cứ phải đánh Xuân Lộc: các chỉ huy của họ có thể dễ dàng giữ nghi
binh bao vây thị xã, và tiếp tục tiến đại quân về Sài Gòn mặc kệ Đảo và
binh sĩ Miền Nam nằm nhừ ở đó. Dù sao cũng trân trọng Xuân Lộc như
một ký ức chói ngời giữa một câu chuyện dài của nối ô nhục.
Thậm chí khi trận đánh đó đang diễn tiến, xảy ra các cuộc chạm trán ở
Phan Rang, một thành phố duyên hải trên Quốc lộ 1 phía nam Vịnh Cam
Ranh và cách Sài Gòn hơn 200 dặm về phía đông bắc, tại đó binh sĩ
Miền Nam bám chặt sân bay được một ít ngày. Vào ngày 3 tháng 4 các
tàu Mỹ ngoài khơi bắt đầu hỗ trợ nhân đạo cho dân tị nạn, nhưng các chỉ
huy bác bỏ mọi cầu xin hậu thuẫn hỏa lực pháo. Phi cơ của Không lực
Miền Nam đánh phá cộng quân đang tiến tới, và trong một chiến dịch
trực thăng đầy xúc động đã tìm lại được 800 binh sĩ sống sót của lữ đoàn
Dù đã phòng thủ đèo M’Drak: họ được trực thăng vận đến tiếp viện cho
lực lượng phòng thủ Sài Gòn.
Ngày 16 tháng 4, các bộ phận của Đạo quân Duyên Hải Miền Bắc lãnh
nhiệm vụ tấn công vào Phan Rang. Cảng và thành phố nhanh chong thất
thủ, mặc dù sân bay cầm cự lâu hơn một chút. Các pháo bình của

Tướng An thấy mình trao đổi hỏa lực với các tàu chiến Miền Nam. Quá
nhiều phương tiện vận chuyển bị cộng quân bắt giữ thúc đẩy những việc
không may, thường do các VC gây ra vì hàng thập niên họ mặc nhiên
cho rằng ai có một phương tiện giao thông đều là kẻ địch. Sư trưởng
phòng không Miền Bắc bị trúng đạn tử thương bởi một rốc két B-40 bắn
vào xe chở ông; các xe tăng cộng sản hứng hỏa lực của chính phe mình.
Tướng An phấn khích với chiếc jeep cáu cạnh tịch thu được từ sở chỉ
huy một quân đoàn Miền Nam bị bỏ lại sau, nhưng vào đêm 16 tháng 4
ông bớt vui khi ông bị du kích bắn vì ngỡ ông là địch, may mắn chạy
thoát được dù bánh đã nổ lốp.
Trong số các tù binh bị bắt trong trận đánh duyên hải là tư lệnh quân
đoàn Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi và James Lewis thuộc CIA, cả hai
được chở bằng máy bay về Hà Nội. Một sĩ quan tuyên truyền Miền Bắc
hỏi vị tướng bị bắt: ‘Chúng tôi phải làm sao để kêu gọi binh sĩ tay sai
buông súng đầu hàng?’ Nghi tuyệt vọng đáp: ‘Cần gì phải kêu
gọi. Quân đội đã tan rã.’ Người Miền Nam ở Washington tìm cách lợi
dụng chứng cứ Xuân Lộc để thuyết phục các nhà lập pháp Mỹ rằng quân
đội của mình vẫn còn ý chí chiến đấu, chỉ cần được Hoa Kỳ hậu
thuẫn. Nhưng các Thượng nghị sĩ vẫn trơ trơ. Một ý thức về sự sụp đổ
đè nặng lên Miền Nam, càng tăng lên cường độ trước sự sụp đổ của Cao
Miên láng giềng, khi Tổng thống Lon Nol đã bôn tẩu vào ngày 1 tháng
4. Phe Khmer Đỏ chiến thắng, một tác phẩm của người Miền Bắc cho dù
sau này bị họ cự tuyệt, tiến vào Phnom Penh ngày 17, và chẳng bao lâu
sau đó bắt đầu tiến trình diệt chủng chống lại nhân dân Cao Miên.

2 ‘Ôi, đất nước tôi, đất nước đáng thương của tôi’
Trên khắp xứ trong gần hết tháng 4, các trận đụng độ vũ khí và từng
đoàn dân chúng hoảng sợ chạy nạn tán loạn vẫn tiếp diễn, khuất mắt giới
truyền thông thế giới và vì vậy ít được hậu thế biết đến.
Hàng ngàn cán bộ từ Miền Bắc được phái vào năm để nắm quyền kiểm
soát các ‘vùng lãnh thổ giải phóng’. Vào ngày 2 tháng 4 Lê Đức Thọ
đồng hành cùng Tướng Dũng – giờ được giao nhiệm vụ tấn công vào Sài
Gòn – lập bộ chỉ huy cạnh căn cứ Trung ương Cục Miền Nam ở Lộc
Ninh. Việc Dũng cứ khăng khăng hoàn tất việc tiêu diệt Quân đoàn II
trước khi điều hướng trực chỉ lực lượng về phía nam từ Cao nguyên
Trung phần cho thấy là đúng đắn. Các tình huống hoảng loạn trên bờ

biển và sự sụp đổ của quân đội Miền Nam khẳng định trước thế giới, và
nhất là trước nhân dân Mỹ và Miền Nam, tình cảnh bế tắc tận cùng của
chế độ Sài Gòn và lực lượng vũ trang của họ. Điều đáng kể không phải
nhiều đội hình QĐVNCH tan rã, mà là một số người còn xây lên cứ
điểm tuyệt lộ để đối đầu với làn sóng vũ bão của kẻ thù.
Tại thủ đô một tình trạng phi thực tại vẫn tồn tại. Dù cái lôgic của thắng
lợi cộng sản đang hiện ra lờ mờ, nhiều người, cả Việt Nam và Mỹ, đều
không sao nhìn nhận mọi việc mới đây vốn quá thân thiết với cuộc sống
của họ, tốt hay xấu, sắp sửa bị tiêu tan. Tiên phong trong số người phủ
định đó là Graham Martin. Vào tháng 2 một phái đoàn quốc hội đến
thăm được Frank Scotton tháp tùng. Ông này nổi giận khi phát hiện
Frank Snepp – người chắc chắn sẽ nói ra sự thật về tình hình tồi tệ ra
sao – đã bị đại sứ ngăn không cho làm thành viên của đội phúc trình.
Scotton bảo đảm nhân viên phân tích CIA này được trao đổi riêng với
nhóm quốc hội.
Ngày 8 tháng 4 CIA chuyển tiếp đến Washington một bức điện mô tả
thông tin chi tiết từ ‘nguồn tin Tây Ninh’ đã kiểm tra và đáng tin cậy về
quyết định xông thẳng tới thắng lợi hoàn toàn: ‘bất chấp điều gì xảy
ra … Sẽ không có vấn đề thương lượng hoặc một chính quyền ba bên.
Các lực lượng cộng sản sẽ tấn công Sài Gòn.’ Nhưng cho đến phút cuối
cùng, với một sự bướng bỉnh gần như điên rồ Martin thách thức các cố
vấn của mình khăng khăng một thỏa thuận nào đó có thể được sắp xếp
với Hà Nội để giữ lại phần dưới của Miền Nam. Hậu quả quan trọng
nhất là ông phản đối các yêu cầu một cuộc di tản hàng vạn người Việt dễ
tổn thương với sự trả thù của người cộng sản, vì vậy khi ông đổi ý thì
bắt đầu quá ít và quá muộn. Thái độ của vị đại sứ, thể hiện trong các
báo cáo lạc quan trước đây gửi đến Washington, làm các nhân viên tham
mưu quan tâm tuyệt vọng đến bạn bè và đồng nghiệp Miền Nam căm
giận. Chỉ trong tuần lễ 21 tháng 4 phi cơ vận tải của Không lực Hoa Kỳ
bắt đầu các chuyến xuất hành một cách muộn màng ra khỏi Tân Sơn
Nhất, 304 lượt tất cả, di tản được gần 43 ngàn người Mỹ và Việt. Trong
các tuần lễ cuối cùng của Sài Gòn như là thủ đô của Thiệu, nhiều người
Việt thiếu mối móc nối với tấm thảm bay phấn đấu tìm đường ra khỏi xứ
sở, dù phải trả cái giá tình cảm mà cuộc sống lưu vong tác động đến
những con người thấm nhuần truyền thống tình cảm gia đình gắn bó.

Trong khi đó các thành viên của cộng đồng Pháp, nổi bật hơn cả là đại
sứ của họ, chế giễu những người Mỹ khổ sở với một sự ác ý bắt rễ trong
niềm tin tưởng -:sau này sẽ cho thấy là vô căn cứ- rằng một mối quan hệ
đặc biệt với Hà Nội sẽ chiếm được cho người Pháp một vị trí trong một
nước Việt Nam cộng sản.
Giá trị tiền đồng Miền Nam lao dốc, thành ra những người ngoại quốc
có đô la thấy mình đi ăn chơi gần như miễn phí: một phi công Hàng
không Mỹ tính rằng giá của một gái bán ba xinh nhất ở Sài Gòn là 66
xu một lượt, $1.11 trọn đêm.
Người Mỹ hối thúc vô ích chính quyền Thiệu thú nhận với dân chúng ít
nhất một số phần thực tế. Thay vào đó, giữa sự trống rỗng và lừa dối
của các phát ngôn viên chính quyền, tin đồn vẫn ngự trị và còn có nhiều
kẻ mộng du: trường chỉ huy và tham mưu Miền Nam ở Long Binh vẫn
tiếp tục khóa giảng cho đến ngày 28 tháng 4. Các học viên sĩ quan cao
cấp bỏ ra hàng giờ tranh luận các kịch bản trận đánh, và nhất trí rằng
người Mỹ sẽ ít khi bỏ rơi quốc gia mà họ đã hy sinh 58 ngàn mạng
người.
Trong khi nhiều người Việt nổi tiếng đang bán tháo tài sản để tìm đường
trốn thoát, một số lại quay về nhà. Nguyễn Thị Chinh, di cư 1954 từ Hà
Nội vào nam và sau đó trở thành ngôi sao màn bạc và truyền hình nổi
tiếng nhất, đang quay phim tại Singapore, nhưng cảm thấy mình phải trở
về Sài Gòn: ‘Quyết định không hợp lý nhưng hợp tình.’ Vào ngày 1
tháng 4 Thiếu tá Nguyễn Công Luận, một cựu binh Miền Nam đã 20
năm vừa hoàn tất khóa học ở căn cứ lục quân Fort Benning, đáp máy
bay ở San Francisco về nước cùng với ba đồng đội. Tại Tân Sơn
Nhất, một cô tiếp viên kiểm tra giấy tờ khách nhập cảnh tò mò hỏi họ,
‘Tại sao các ông lại trở về? Tối qua Đà Lạt đã thất thủ.’
Dù người Úc từng đóng một vai trò tích cực trong công cuộc phòng thủ
Miền Nam, giờ chính quyền đảng Lao động của đất nước họ ra lệnh phi
cơ Không lực Hoàng gia Úc di tản hết những người Úc còn lại nhưng
không được chở người Việt tị nạn. Thủ tướng Gough Whitlam khăng
khăng công nhận lời bảo đảm công khai của Hà Nội rằng người Miền
Nam không có gì phải sợ chính quyền mới của người cộng sản. Trong số
3,667 người nạp đơn xin visa nhập cảnh Úc vào những ngày đó, chỉ có
342 được chấp nhận, và đúng 76 người cuối cùng ra đi: nhân viên người

Việt của sứ quán bị bỏ lại. Trong khi đó có những chuyến bay do các
nhà hảo tâm ngoại quốc có lòng nhân từ dại dột khi tổ chức di tản các trẻ
mồ côi Sài Gòn. Không có người tỉnh táo nào lại có thể cho rằng cộng
quân chiến thắng lại sát hại những trẻ em xinh xắn. Thay vào đó, các sĩ
quan QĐVNCH bụng bự, các cảnh sát và quan chức khó ưa đối mặt với
hiểm họa chết người; tuy nhiên họ đã mất đi bạn bè nước ngoài. Trung
uý Nguyễn Khiêm nói: ‘Chúng tôi biết mình thua trận, nhưng chúng tôi
không biết làm gì. Chúng tôi thậm chí không dám nói nhiều với
nhau, sợ sẽ gây ra hoảng loạn. Chúng tôi nói dối với người thân để trấn
an họ.’ Là con một doanh nhân thành đạt, Khiêm có mối quen biết ở
châu Âu cứ không ngừng thúc giục họ, ‘Xuất ngoại, xuất ngoại đi!’ Anh
nói: ‘Họ biết nhiều hơn chúng tôi. Nhưng thoát ra bằng cách nào đây?’
Ngô Thị Bông, một người chủ gia đình đã sống sót quá thời kỳ Tết 1968
khủng khiếp tại Huế, từ Sài Gòn viết cho người bạn ngoại quốc Gavin
Young: ‘Giờ đây mọi thứ đã mất. Con trai yêu dấu duy nhất của tôi,
Minh, đang ở Đà Nẵng … Không biết nó còn sống hay đã mất. Thật quá
đau buồn, không sao tưởng tượng được cho một người phụ nữ đáng
thương. Tôi không thế nào diễn tả được cảm nghĩ của mình vì chúng tôi
chỉ biết sống từng phút một … Tôi không còn nước mắt để khóc cho con
trai Minh của tôi và cùng lúc cho các cháu nội của tôi. Ôi, đất nước tôi,
đất nước đáng thương của tôi.’
Gần ba triệu cựu binh Mỹ xem TV với vẻ chăm chú đặc biệt bi kịch
đang diễn ra bên kia Thái Bình Dương. Đại uý TQLC Mỹ trước đây
Hays Parks buồn rầu cho biết: ‘Nếu người Miền Nam đã biết trước được
tương lai sẽ như thế này, hẳn họ sẽ chiến đấu kiên cường hơn.’ Trung
tướng Bruce Palmer nổi dóa: ‘Sự thật phũ phàng cứ lẽo đẽo, rằng khi
Miền Nam trong giờ phút hấp hối của mình quay sang chúng ta trong
tuyệt vọng, thì Hoa Kỳ lại quay mặt đi … Những bạn bè Miền Nam của
chúng ta không thể nào quên cơn ác mộng bi thảm của những cảnh
tượng cuối cùng đó.’ Quân y tá Phyllis Breen đồng ý: ‘Tôi chỉ cảm thấy
quá tệ cho người Việt Nam nào đã trót tin cậy chúng tôi.’
Nhà báo Anh Richard West, người hiểu rõ Đông Dương và đã từng có
lần chống Mỹ một cách hăng say, giờ viết một cách hối tiếc từ Sài Gòn:
‘Thật không đúng khi thể hiện Miền Nam là một chế độ phát xít bị một
phong trào cách mạng lật đổ. Thậm chí ở giờ thứ 11 này các phong trào

chống đối cũng vẫn có quyền chống đối nào đó, trong khi báo chí Sài
Gòn lại tỏ ra ít rụt rè hơn báo chí London trong việc phanh phui bọn bất
lương trong chính quyền. Việt cộng, tức người cộng sản Miền
Nam, giờ chỉ đóng một vai trò nhỏ xíu trong cuộc chiến; giai cấp vô sản
Sài Gòn, vốn đã phớt lờ hai lần kêu gọi nổi dậy vào năm 1968, dường
như vẫn lãnh đạm … Những gì bắt đầu như một cuộc chiến tranh cách
mạng đã biến thành một cuộc xâm lược quy ước lỗi thời của Miền Bắc
vào Miền Nam … Thật ghê tởm, ở đây tại Sài Gòn, khi đọc thấy cái
giọng điệu hả hê của một số tờ báo nước ngoài về số phận của những
người chống cộng.’ Nhận xét cuối cùng này phản ánh sự thành công của
bộ máy tuyên truyền cộng sản: hàng trăm triệu người trên khắp thế
giới, kể cả không ít người Mỹ, tin rằng thắng lợi đang đến gần của Miền
Bắc biểu thị một quả báu công chính. Bên ngoài trong khu vực phân loại
của Mỹ tại Tân Sơn Nhất, hàng ngàn người Việt khiếp đảm xếp hàng
bên ngoài sảnh bowling của căn cứ, hoặc tụ tập trên các sân quần vợt
của sứ quán, khi họ đợi lên máy bay tị nạn. Vào chiều ngày 23 tháng 4,
Lê Thị Thu Vân 45 tuổi, quả phụ của nhà chính trị Nguyễn Văn Bông bị
ám sát, gặp một người bạn văn Pháp lớn tuổi bất ngờ kêu lên một cách
hốt hoảng. Một xách tay đựng $2,000, toàn bộ tài sản mang đi được của
ông, đặt bên cạnh không cánh mà bay, rõ ràng là bị đánh cắp. Ông già
lên tiếng mình sẽ không đi vào Mỹ như một tên hành khất – ông sẽ trở
về ngôi nhà trong thành phố. Em họ của ông, thứ trưởng bộ giáo dục
trong chính quyền, tháp tùng ông, một quyết định nông nỗi khiến cả hai
phải trải quá những năm trong các trại cải tạo của cộng sản.
Khi đã lên một máy bay C-130, Vân và các con tìm được bốn chỗ ngồi
vải bố. Một thanh niên Mỹ trẻ cao lớn xô lấn qua khoang máy bay đông
nghẹt người dẫn phía sau một phụ nữ Việt ra hiệu cho người quả phụ và
các con đứng lên nhường ghế cho anh ta. Khi bà từ chối, y giận dữ
buông chiếc túi hành lí nặng chịch xuống bàn chân bà. ‘Này bà kia,’ y
vừa nói vừa cùng với người đồng hành ngồi xổm trên sàn máy bay, ‘bà
có biết qua bên xứ tôi bà sẽ làm gì không? Bà sẽ làm nghề giặt giũ đó.’
Thu Vân viết: ‘Thế là tôi phải rời bỏ xứ sở với cõi lòng nặng trĩu và
ngón chân bị bầm tím.’
Gia quyến của phi công chiến đấu Không lực Miền Nam trước đây Trần
Hội trốn lên một chiến bay của World Airways được bạn bè mang ơn

sắp xếp cho họ. Khi bà mẹ vợ của ông không chịu đi theo họ, ông trang
trọng trao tay bà giấy tờ nhà và hai chiếc ô tô, trấn an bà, ‘Mẹ đừng lo
lắng, chuyến ra đi này chỉ là tạm thời. Ngay sau khi tình hình lắng
xuống, cháu ngoại mẹ sẽ quay về.’ Rồi Trần Hội bay đến Guam trên
một chiếc Starlifter của Không lực Mỹ; những của cải quý giá của ông
sẽ trở thành các chiến lợi phẩm của người chiến thắng. Eva Kim, thư ký
của Graham Martin, nói với Merle Pribbenow: ‘Anh đã có gia đình Việt
Nam – em có thể kiếm cho anh một vài chỗ trên danh sách “đen”.’ Và cô
đã làm thế, bằng cách cung cấp địa chỉ một ngôi nhà an toàn từ đó mẹ vợ
và cháu ông bay đến nơi bình yên – vợ ông và con trai đã đi trước. Kim,
một phụ nữ tốt bụng mẫu mực, cũng ra tay giúp đỡ nhiều người khác ra
đi tương tự.
Một số trẻ em, như Bông 9 tuổi, nhìn chuyển di tản như ‘một kiểu phiêu
lưu gọn gàng, đi đến những nơi hấp dẫn’. Thằng bé không sao hiểu được
tại sao người lớn chung quanh em cứ mãi khóc lóc. Mẹ em, như hầu hết
những người tị nạn, không dám tiết lộ với hàng xóm các kế hoạch ra đi
của mình, nhưng trong phòng bowling Tân Sơn Nhất họ gặp bạn
bè, đồng nghiệp, bạn học, chia sẻ lo âu cũng như nỗi khổ mà họ không
dám nói ra. Qua hai ngày đêm dài lân la ở đó, cuối cùng họ đáp một
chiếc C-130, trải qua một ít phút khiếp đảm khi họ cất cánh bay lên
không e rằng cộng quân, giờ rất gần, sẽ bắn vào máy bay. Khi đã được
an toàn trên biển, họ mới nhẹ nhõm cả người đón nhận tình trạng thiếu
tiện nghi của chuyến bay buồn đến Philipin. Một khía cạnh đáng buồn
của cuộc di tản là có một số người Mỹ và Việt có quyền hành bán chỗ
điền tên trên danh sách: hàng trăm gái bán ba trả tiền tươi đô la trở thành
người thụ hưởng. Trong khi đó, hơn $50,000 tiền hối lộ người Mỹ phải
trả cho nhân viên cảnh sát và quân đội Việt tại Tân Sơn Nhất, để việc di
tản đồng bào của họ được phép tiến hành không bị cản trở.
Về phần lãnh tụ, bù nhìn, hay tổng thống của Miền Nam: Nguyễn Văn
Thiệu nghĩ gì, khi đang ngồi gần như một mình trong Dinh Độc Lập to
lớn, vang vọng khi chính quyền của ông sụp đổ trên đầu mình? ‘Thiệu
có thể sẽ là một tay xì phé nhà nghề tại Las Vegas,’ Frank Scotton nói.
‘Ông ta không để lộ ra cảm xúc gì.’ Frank Snepp nói: ‘Ngay khi chúng
tôi không còn kiểm soát một lãnh đạo Việt Nam, chúng tôi phó mặc ông
ta. Thiệu là một con người thảm thương.’ Một sĩ quan không lực cao cấp

cho rằng tổng thống đã luôn bị ám ảnh bởi ký ức về Diệm, sợ rằng nếu
mình thách thức ý muốn của Washington, ông ta sẽ chịu cùng một số
phận như Diệm. ‘Và thế là, khi người Mỹ nhìn vào Thiệu, họ xem ông
như một tên không ra gì.’ Còn bộ trưởng đang xếp hàng chờ của
CPCMLT Trương Như Tảng cho rằng Thiệu ngây thơ tưởng rằng người
Mỹ sẽ luôn trung thành sát cánh với mình. Ông ta ‘đơn giản không thể
tự bắt mình nghĩ rằng trong cảnh ngộ nghiệt ngã này họ sẽ bỏ rơi ông

ta’.

Suy đoán này dường như tin được, mặc dù không chứng minh được, vì
trong chốn lưu vong Thiệu vẫn không hề hé miệng. Ông biểu lộ qua
những tuần lễ cuối cùng của quyền lực – hay, thích đáng hơn, của sự
bất lực – tính vô cảm chính trị vốn là đặc thù tám năm cai trị của
mình. Vào giữa tháng 3 ông bỏ ngoài tai lời kêu gọi từ chức từ những
người chống đối như Cha Trần Hữu Thanh và cựu Phó tổng thống Kỳ –
người sau này đã hờn dỗi bỏ về một nông trại kể từ khi rời bỏ cuộc tranh
cử tổng thống 1971. Mười người bị tống giam vì bị gán tội âm mưu lật
đổ chính quyền. Thiệu bác bỏ một cuộc bầu phiếu của Thượng viện Sài
Gòn kêu gọi truất phế ông. Vào ngày 4 tháng 4 ông xáo trộn lại nội các
một cách muộn màng, mặc dù việc ở lại chức vụ của ông giờ đây, cũng
như bao giờ, lệ thuộc vào lòng trung thành của các tướng lĩnh. ‘Nguồn
tin Tây Ninh’ của CIA, đặc vụ ‘Hackle’, báo cáo Hà Nội hoàn toàn
không thiết tha thương lượng với một phe phái nào của Miền Nam. Tại
sao Miền Bắc cần phải mặc cả khi họ đang đứng bên bờ thắng lợi quân
sự? Chỉ có đại sứ Martin và một nhúm kẻ môi giới quyền lực mới bám
vào những ảo tưởng rằng một thành quả có thể xoay sở được nhằm làm
lệch đi việc cộng sản chiếm chính quyền.
Đối với hậu thế Thiệu dường như là một nhân vật không biết đồng cảm,
người không quan tâm đến đông đảo đồng bào mình, và trị vì qua một
nhóm tay chân là các chỉ huy quân sự ít nhiều tham nhũng. Không có
giai thoại nào tồn tại để gán cho con người lạnh lùng khác thường này
một bộ mặt người. Điều tốt nhất có thể nói là ông không có mặt trong số
các nhà chuyên chế tàn bạo nhất của thế giới. Ông từ chức tổng thống
muộn màng vào ngày 21 tháng 4 và rời xứ sở mình lần sau rốt bốn đêm
sau đó, tháp tùng bởi thủ tướng trước đây Trần Thiện Khiêm. Frank
Snepp là tài xế của Thiệu trong chuyến đi ngắn qua bóng đêm từ tư gia

của ông trong căn cứ Tân Sơn Nhất đến chuyên cơ C-118 của Không
lực Mỹ đang đợi sẵn. Vị tổng thống bắt tay với nhân viên CIA này và
nói ‘Cám ơn’ cụt ngủn, nhấp nháy đẫm nước mắt. Một tốp ma quỷ,
chính khách và bảo vệ người Mỹ, tất cả đều mặc thường phục, bông đùa
nhau chút ít để bớt căng thẳng khi tiếng đạn pháo nghe được từ xa vọng
về.
Vị đại sứ trao đổi một vài lời với Thiệu tại chân cầu thang lên máy
bay. ‘Tôi chỉ chào tạm biệt ông ta,’ Martin nói sau này. ‘Không có gì
mang tính lịch sử. Chỉ tạm biệt thôi.’ Khi động cơ máy bay rú lên, xảy
ra một khoảnh khắc hơi phi lý khi vị đại sứ, ngực phập phồng, ra sức
kéo cầu thang ra. Snepp la lên, ‘Ngài đại sứ! Để việc đó cho tôi!’ Nhiều
năm sau đó, có tin đồn kéo dài khá lâu là Thiệu mang đi trong hành lý
ông số vàng dự trữ của Miền Nam, nhưng trong chốn lưu vong ông và
gia đình ông không thể hiện chứng cứ nào cho thấy mình sở hữu một tài
sản khổng lồ đã mang đi: vào năm 2016 tại Quận Cam (Hoa Kỳ) bà quả
phụ của ông còn phải nhờ đến lòng hảo tâm của bạn bè để mua một lô
đất an táng ông. Văn bia của Thiệu phải ghi là ông đã trở thành một con
rối ngã quỵ , khi người Mỹ quyết định buông đây.
Thầy giáo về hưu 71 tuổi Trần Văn Hương nắm quyền tổng thống trong
một ít ngày khốn khổ, trong khi Trung tướng Nguyễn Văn Toàn chuẩn
bị chu đáo cuộc phòng thủ Sài Gòn. Ông điều động 60,000 quân chính
quy, và khoảng số ấy lực lượng Địa phương quân và Nghĩa
quân. Nhưng số này không đủ để bao quanh thủ đô, và cửa ngõ phía
nam gần như trống trải. Không ai ở bên nào tin rằng Miền Nam có thể
cầm cự lâu dài đạo quân hùng hậu của Miền Bắc, nhưng một số sĩ quan
và chính trị gia vẫn bám lấy hi vọng họ có thể chiến đấu đủ lâu để tranh
thủ các điều khoản thương lượng hơn là chấp nhận một cuộc đầu hàng
hèn hạ. Cục An ninh Quốc gia Hoa Kỳ chặn được một tin vô tuyến của
địch ra lệnh cho pháo binh khai hỏa nếu người Mỹ không di tản trước
khi đạo quân của Dũng đến trung tâm thành phố. Vẫn còn chưa chắc
chắn thông điệp này có phải là hù dọa hay không, nhưng viên chức cao
cấp Mỹ lên kế hoạch ra đi trước mũi tiến công của cộng quân. Dũng bố
trí hơn một phần tư triệu quân trong 5 quân đoàn, 14 sư đoàn, 10 lữ đoàn
và trung đoàn độc lập, cùng với một tiểu đoàn phòng không tên lửa
SAM-2 chở từ Miền Bắc đến. Một số phi công vội vã được huấn luyện

cấp tốc để chuyển từ lái MiG-17 sang lái A-37, để họ có thể lái các phi
cơ tịch thu được; Hà Nội không muốn sử dụng các chiến đấu cơ do Nga
chế tạo, sợ như thế sẽ khiêu khích sự đáp trả của người Mỹ. Cuộc tấn
công đa trục của Dũng tập trung vào các cơ quan chỉ huy đầu não và các
biểu tượng quyền lực quân sự và chính trị, trong đó có Tân Sơn Nhất và
Dinh Độc Lập. 14 cây cầu nằm giữa tuyến đầu cộng quân và trung tâm
thủ đô, mà đặc công có nhiệm vụ đánh chiếm trước khi đạo quân bọc
thép tiến đánh. Dự định bao trùm là ghim và tiêu diệt các lực lượng
Miền Nam tại vành đai, tránh một trận chiến hủy diệt trong trung tâm
thành phố.
Vào ngày 25 tháng 4 Lê Đức Thọ gửi đi một bức điện dài cho các đồng
chí trong bộ chính trị Hà Nội, tìm cách trấn an họ, không phải sợ trận
đấu cuối cùng sẽ bị đình hoãn một cách nguy hiểm; và thậm chí sau khi
mất thủ đô, các lực lượng Miền Nam có thể rút về cố thủ đồng bằng Cửu
Long. ‘Các anh hãy ăn tâm,’ Thọ cho biết: mọi việc sẽ êm đẹp. Sài Gòn
đang trong tư thế thất thủ; chế độ sẽ sụp đổ cùng với nó.
Trong giai đoạn cuối cùng bên ngoài Tân Sơn Nhất, đội an ninh Không
lực Miền Nam hỏi vị chỉ huy của mình: ‘Trung uý, giờ sao đây?’ Trung
uý Nguyễn Khiêm im bặt trong vài phút, vì không tìm ra câu trả lời có
tính xây dựng. Cuối cùng anh nói: ‘Thôi hãy về nhà. Điều tốt nhất các
cậu có thể làm là hãy ráng tự chăm sóc mình.’ Trong những ngày đó lời
nhắn gửi này được lặp lại 10,000 lần trong số những người Miền Nam cả
trong quân phục và khi không có quân phục. Chính Khiêm cũng leo lên
một xe máy và đi về nhà. Ngày bên ngoài căn cứ, giữa đường phố anh
bắt gặp một cảnh tượng thương tâm: hai con người bé nhỏ, cô đơn, một
bé trai khoảng 10 tuổi và một bé gái có lẽ 6 tuổi, ngồi trên một núi
hành lí và đồ đạc. Khiêm quành xe lại và đến gần họ, hỏi, ‘Các em đang
làm gì đó?’ Thằng bé trả lời: ‘Ba má tụi em dặn phải ở đây chờ họ.’ ‘Đó
là khi nào?’ ‘Hồi sáng sớm.’
Giờ đã là giữa trưa. Khiêm chỉ làm được một việc mà anh nghĩ ra: băng
qua quày hàng gần đó, anh mua một ít sinh tố và trao cho các đứa trẻ.
Anh nói: ‘Các em nên bỏ lại hành lí, trở về nhà ngồi đợi.’ Chúng lưỡng
lự gật đầu khi anh tiếp tục lên đường, để lại hai đứa trẻ khốn khổ ở phía

sau.

Cộng quân dự trù mở cuộc tấn công cuối cùng 6 gọng kềm vào Sài Gòn
vào ngày 27 tháng 4, nhưng Đạo quân Duyên Hải được lệnh di chuyển
sớm hơn một ngày, vì phải vượt qua hai sông. Sáng sớm ngày 26, 20 sư
đoàn pháo binh khai hỏa từ phía đông: xe tăng và bộ binh sau đó tiến
lên. Vào ngày hôm sau Sư đoàn 18 Miền Nam, những người hùng của
Xuân Lộc, bị Quân đoàn 4 Miền Bắc xử lý một cách hung bạo, và buộc
phải rút lui, trong khi Quân đoàn 2 của An tấn công các lực lượng Miền
Nam trấn giữ đường kết nối giữa Sài Gòn và biển. An viết: ‘Trận đánh
cùng lúc càng ác liệt với mỗi phút trôi qua, tràn lên lui xuống khi binh
lính chiến đấu giành từng bức tường đổ nát, boongke, cây cao su, tăng
chống tăng, lựu pháo chống lựu pháo.’ Lực lượng Địa phương quân bám
giữ thị trấn Long Thành được một thời gian; lực lượng Dù còn lại giữ
vững vị trí cho đến khi bị đánh bật sườn, phải rút lui về hướng cảng
Vũng Tàu. Vào chiều tối ngày 28, 5 chiếc A-37 bị tịch thu do các phi
công Miền Bắc lái đánh bom Tân Sơn Nhất, phá hủy một vài phi cơ và
gây tổn thất cho lực lượng phòng thủ. Mười giờ sau một trận pháo kích
và bắn rốc két quét sách căn cứ không quân, giết chết 2 lính bảo vệ
TQLC Mỹ. Các đặc công cộng sản đánh chiếm và trong vài giờ giữ
được cầu Tân Cảng, ngay sát trung tâm thủ đô, làm nổ ra một trận chạm
trán dưới sự chứng kiến sát sườn của đội quân phóng viên và nhà quay
phim phương Tây.
TQLC Miền Nam được biết đã tạo một sức kháng cự ấn tượng xa hơn
về phía bắc, nhưng điều này không có kết quả gì khi các phòng tuyến
của lực lượng phòng thủ sớm bị chọc thủng 20 điểm bởi cộng quân ào ạt
xông tới về hướng thủ đô.
Sư đoàn 10 Miền Bắc, vốn đã chiến đấu nhiều hơn bất kì lực lượng nào
khác kể từ đầu chiến dịch, tiến lên những dặm đường cuối cùng của
Quốc lộ 1 dẫn đầu bởi xe tăng và bộ binh bám trên thân xe. Đạo quân
tiến nhanh qua Củ Chi, từng có lần là một căn cứ địa với phức hợp địa
đạo chằng chịt của VC bên dưới các bước chân lính Mỹ, được hợp thành
bởi một phối hợp các xe tăng T-54 và K-63 của họ, phần lớn đều đến
hạn sử dụng, cùng với các xe tăng Mỹ tịch thu được M-41 và M-48. Bị
chỉ huy hối thúc ráo riết, các tài xế được lệnh phải đập nát chướng ngại,
ào ạt xông tới, vượt qua sức kháng cự, không cần mất thì giờ cho bộ
binh triển khai bên đường và tấn công một cách bài bản. Lúc 06:00 giờ

ngày 29, các đặc công và bộ đội đã chiếm được cầu Sáng. Nó liền sập
xuống dưới trọng tải của hai xe tăng, và phe tấn công thấy mình đương
đầu với ‘sức kháng cự ngoan cố’ Tại Đồng Dù. Thêm nhiều xe tăng nữa
bị sa lầy trong một con suối phải nhờ các kỹ sư giải cứu, rồi đụng độ với
thiết giáp Miền Nam và tìm đường tiến lên – Đường 4 – bị quân xa
phong tỏa. Dưới cơn mưa nặng hạt, quân Miền Nam duy trì sức kháng
cự qua gần suốt buổi sáng tại nhà máy dệt Vinatexco và cầu Tham
Lương. Xảy ra một vụ phát nổ ngoạn mục tại kho bom Tân Sơn Nhất
vào chiều tối, trước khi xe tăng Miền Bắc bắt đầu khai hỏa vào các phi
cơ đỗ bên trong căn cứ. Đến khi bóng đêm buông xuống họ dừng bắn,
đợi bình minh hôm sau sẽ tiếp tục tấn công.
Trong khi đó tại trung tâm Sài Gòn, cư dân thủ đô đành phải chấp nhận
muộn màng cơn địa chấn hỏa diệm sơn đang đến gần sẽ chôn vùi xã hội
của họ. Tham mưu trưởng Cao Văn Viên đã từ chức và bay lánh nạn trên
tàu sân bay Mỹ ngày 28, tiếp theo ngày hôm sau là Tướng Toàn và các
sĩ quan khác. Cựu Phó Tổng thống Kỳ đọc một bài diễn văn huênh
hoang rỗng tuếch kêu gọi đồng bào mình biến Saigon thành một
Stalingrad thứ hai rồi vội vàng leo lên lái chiếc Huey đáp xuống tàu sân
bay Midway. Để khỏi bẽ mặt khi thủy thủ Mỹ tước vũ khí, ông và đồng
đội ném xuống biển vũ khí cá nhân của mình, kể cả khẩu súng lục được
tài tử John Wayne tặng. Hạm trưởng chào đón ông, chỉ vào một dây ruy
băng huy chương Việt Nam trên ngực ông và nói: ‘Ông đưa vật này cho
tôi.’ Kỳ viết: ”Mắt tôi nhòa lệ. Cơn nức nở vật vã thân thể. Hạm trưởng
rút lùi, lặng lẽ khép cánh cửa cabin, để tôi một mình với những dòng
nước mắt.’ Dù có tiếng là nhận hối lộ, Kỳ tỏ ra gần như không một xu
dính túi khi ông bắt đầu cuộc sống mới tại California.
Các trực thăng phành phạch không ngừng vần vũ trên bầu trời, trước tiên
bốc người di tản khỏi Tân Sơn Nhất, rồi vào ngày 29 tháng 4 khỏi sứ
quán Mỹ và một nhóm các trụ sở khác. Chiều hôm đó, Trung uý Khiêm
đến nhà cha mẹ mình ở Sài Gòn và thấy ông nội và các người thân trong
gia đình đầm đìa nước mắt, hòa vào dòng sông lệ của thành phố trong
ngày hôm đó. Theo tập quán gia đình Khiêm xin phép cha vợ đồng ý cho
mình đưa Liên vợ anh ra sứ quán di tản đến Hạm đội 7 ngoài khơi. Rồi
anh chở vợ trên xe máy qua vài khu phố đến sứ quán đang được TQLC
Mỹ bảo vệ khỏi đám đông điên cuồng bên ngoài bức tường bao. Cha vợ

anh cũng đến, chở theo hai đứa em gái của vợ trên một chiếc Lambretta.
Họ có hẹn với em trai của Khiêm trước khi viên trung uý xô vẹt đám
đông đến cổng.
Những mối quan hệ đặc quyền chứng nhận trên giấy giúp thuyết phục
các TQLC nhận vào toàn bộ nhóm. Tuy nhiên, em trai anh, một sinh
viên luật 23 tuổi, bỗng thất lạc. Khiêm phải quay về nhà, nơi chàng trai
cũng vừa xuất hiện. Một lần nữa Khiêm phải xô đẩy qua đám đông đến
cổng sứ quán, và sau khi dúi tờ $100 vào tay đứa em trai, anh thô bạo
đẩy cậu ta qua cổng, rồi chính mình lại quay về nhà.
Trần Tân 25 tuổi, và như Khiêm có mối quan hệ thân thiết với người
Mỹ – anh làm nhân viên tổng đài ban đêm của cơ quan USAID (Viện
Trợ Mỹ). Các ông chủ của anh yêu cầu anh ở lại làm ‘nhân viên cốt
yếu’, và được quyền bay chuyến di tản. Anh điện thoại cho cha mẹ –
một điện thoại nhà của Mỹ là một đặc ân khác cho công việc của anh –
và dặn đứa em trai 15 tuổi mang thức ăn và quần áo đến văn phòng
USAID cho anh. Khi cậu trai đến, Tân bảo em đứng ngoài chờ. Anh hỏi
người Mỹ liệu hai em trai khác của mình, mà lý lịch anh đã cung cấp
cho họ, có thể vào hay không. Không, họ đáp cộc lốc – cả hai là quân
nhân và Tổng thống Thiệu đã chỉ thị không quân nhân nào được rời bỏ
đất nước. Tân nói sau này: ‘Mình thật ngu ngốc – lúc chúng tôi đến đảo
Guam và thấy tất cả binh lính QĐVNCH ở đó, tôi mới biết rằng chúng
tôi chỉ cần tìm một vài đô la dúi vào ai đó, anh em tôi có thể đã đi trót
lọt.’ Cha anh không chịu đi, nhún vai, ‘Ba già rồi sống chết nay may
không phải lo.’ Khi Tân và Hưng đáp trực thăng ra khỏi sứ quán Mỹ lúc
6 giờ chiều ngày 29 tháng 4, chuyến ra đi của họ mở ra thời gian ly tán
trong gia đình, như trong vô số gia đình khác, sẽ kéo dài nhiều năm sau
đó. Tân biết mình may mắn khi anh em mình chỉ là lính quân dịch: cấp
bậc thấp của họ tránh cho họ khỏi bị hành hạ trong các trại cải tạo của
cộng sản đang chờ đợi các cựu sĩ quan Sài Gòn.
Vào ngày cuối cùng của cuộc di tản, nhân viên CIA muối mặt lắng nghe
tiếng kêu cứu và huýt sáo của các điện đài không được hồi âm trong các
phòng hành quân, tiếng kêu gọi giúp đỡ xen lẫn với âm tĩnh điện trên
mọi kênh liên lạc, đến từ khắp Miền Nam: ‘Tôi là Hân, người phiên
dịch … ‘ Frank Snepp gọi những lời kêu cứu này là những cơn ‘ác
mộng âm thanh’. Không thể nào người Mỹ có thể tiến hành một cuộc di

tản có trật tự tất cả người Miền Nam có liên hệ với Hoa Kỳ, cho dù ngài
đại sứ đã tiên liệu chu toàn hơn. Thay vào đó, số đông đảo các con người
kinh hoàng trốn thoát leo lên các con tàu và thuyền nhỏ đủ kiểu dáng và
đủ kích cỡ lấm tấm trên mặt biển ngoài khơi Miền Nam qua suốt các
tuần lễ sau đó; một ít người may mắn được bay đi.
Vào đêm cuối cùng tại sứ quán một tùy viên của Martin, Ken
Moorefield, tán gẩu với trạm trưởng CIA Tom Polgar, một người
Hungary vạm vỡ, hói đầu, ‘rõ ràng là đang khổ sở và tuyệt vọng ‘.
Polgar đã chia sẻ đến cùng các mối hy vọng hão huyền về một thương
lượng chính trị. Giờ ông than thở một cách tuyệt vọng, ‘Phải chi chúng
ta không cắt đứt việc tiếp tế cho họ.’ Moorefield viết về cảnh tượng
trong sứ quán trước khi ông bay đi: ‘Một sự yên ắng thê lương buông
xuống. Gần như không nghe thấy một tiếng ồn nào. Không có tiếng
súng. Không có cảm nhận của chuyện lớn nào sắp sửa xảy ra.’ Trong các
chuyến bay lên cuối cùng khỏi Sài Gòn ngày đó, các trực thăng TQLC
bay 682 lượt để bốc 1,373 người Mỹ và 5,595 người quốc tịch khác –
phần lớn áp đảo là người Việt – đến các tàu chiến của Hạm đội 7. Đại
sứ
Martin ra đi lúc 04:58 ngày 30 tháng 4, khi mật mã ấn định
‘Tiger, Tiger, Tiger’ được truyền đến tàu chỉ huy. Vài trăm người Việt bị
bỏ lại trong phức hợp sứ quán sau khi Washington ra lệnh đóng cửa sớm
cuộc di tản, để các TQLC cuối cùng có thể bay ra lúc 07:53.
Cho dù khi các người Mỹ cuối cùng đã lên máy bay, binh sĩ Miền Nam
còn trấn giữ tại Trung Tâm Huấn luyện Quang Trung, bắn hạ 4 xe tăng
địch, rồi cầm cự suốt đêm. Các cuộc tấn công của cộng quân tiếp tục lúc
05:30 ngày 30, và còn gặp sức kháng cự: 1 xe tăng bị trúng rốc két M-72
lẫn một quả đạn pháo của xe tăng Miền Nam, liền bị một T-54 đâm vào,
khiến binh sĩ Sài Gòn phải thoát khỏi xe tăng và bỏ chạy. Một đơn vị
quân Miền Bắc lạc đường nhờ một thanh niên đi đường leo lên xe tăng
chỉ đường. Tuy nhiên, khi đạo quân hứng hỏa lực, người chỉ đường
phóng xuống và chạy mất, khiến xe tăng lại quẹo nhầm đường.
Các tường thuật của người cộng sản nói về ‘cuộc kháng cự càng lúc
càng ngoan cố’. Chiếc tăng Miền Bắc đầu tiên tiến gần cổng chính Tân
Sơn Nhất bị bắn cháy: ‘Bộ đội chúng ta bị ghim xuống, bộ phận đi

đầu … tỏ ra quá yếu không thế tiếp tục tấn công.’ Các sĩ quan xông đến
để nắm tình hình, rồi tung quân tiếp viện.
Một cuộc đánh phá của phi cơ Không lực Miền Nam – một trong các
cuộc oanh kích cuối cùng của cuộc chiến – bắn lật thêm 2 xe tăng
nữa. Lúc 10:15 khi tổn thất lực lượng bọc thép tăng lên, ‘tình hình trở
nên cực kì phức tạp’. Rồi bộ binh đột phá , đánh chiếm các boongke
phía tây cổng chính. Một đạo xe tăng và xe thiết giáp chở quân ào ạt
xông tới, tỏa ra dấn vào bên trong vành đại, vừa đi vừa khai hỏa. Từng
cụm binh lính phòng thủ bắt đầu lộ diện, ra dấu đầu hàng. Vào đầu giờ
chiều, cuộc kháng cự cuối cùng tại căn cứ đã bị quét sạch.

Những người đào thoát tuyệt vọng trong sự sụp đổ tháng 4 1975 của
QĐVNCH và cuộc di tản bằng đường biển từ phía bắc

Những binh sĩ phòng thủ Sài Gòn

Bộ đội tiến về Sài Gòn ngồi xe tăng đi trên con đường vinh quang đến
thắng lợi
Chỉ huy VC kỳ cựu Huỳnh Công Thân cầm đầu một lực lượng cỡ sư
đoàn tiến vào Sài Gòn từ phía nam. Ông nhận xét rằng, trong khi về tổng
thể thì Miền Nam sụp đổ, nhưng các đơn vị ông chạm trán một loạt các
trận đánh ác liệt gây nhiều tổn thất thương vong. Một cuộc tấn công vào
bộ chỉ huy quân sự quận bị đẩy lui; VC cuối cùng bỏ qua cứ điểm, sau

đó băng qua Sông Cần Giuộc với những ký ức sống động khi đi theo con
đường năm xưa dịp Tết 1968, nhưng với các hậu quả kém thuận lợi hơn
nhiều. Trận chiến của Thân kết thúc với việc đánh chiếm Nha Cảnh sát
Quốc gia và bộ chỉ huy hải quân ở trung tâm thành phố. ‘Các gương mặt
chiến sĩ chúng tôi sáng rực nụ cười chiến thắng,’ ông viết. Đỉnh cao biểu
tượng của ngày 30 tháng 4 xảy ra khi một xe tăng dẫn đầu Sư đoàn 304
của Thiếu tướng An húc ngã cổng Dinh Độc Lập mà Thiệu đã bỏ lại.
Cựu chủ tịch Dương Văn Minh, có người em là một sĩ quan cao cấp
trong quân đội Miền Bắc, đã trở lại nắm quyền quốc trưởng trên danh
nghĩa ba ngày trước. Ông vẫn còn nuôi hi vọng hão huyền sẽ dàn xếp
được một cuộc ngừng bắn, nhưng người cộng sản không còn nhìn nhận
sự uỷ thác của Mình hay của bất kì người Miền Nam nào khác. Vào buổi
sáng ngày 30 tháng 4 đó, vị tướng thi hành kỳ tích hữu ích duy nhất
bằng cách phát động đi lời tuyên bố đầu hàng, sau đó được lặp đi lặp lại
trên đài, cứu sống nhiều sinh mạng khi khuyên binh sĩ buông súng đầu
hàng. Mọi trận đánh vô ích kết thúc khi đêm xuống.
Hàng vạn người Miền Nam tiếp tục chạy khỏi Sài Gòn ngày hôm đó, và
đúng ra suốt các tuần lễ sau. Trung uý Khiêm từ sứ quán trở về nhà mệt
đừ để gặp cha mẹ và ông nội: ‘Không còn thời gian để than khóc: tôi
đang tự hỏi làm sao sống sót được đây.’ Vào buổi sáng ngày 30 gia đình
biết được tin – với một giá nào đó – có cơ hội cho họ lên một con tàu tại
bờ sông. Khiêm khẩn khoản xin mẹ cùng đi với họ, nhưng bà khăng
khăng bà phải ở lại trông nom ông ngoại anh. Cha anh lái xe đưa anh
xuống bến tàu Sài Gòn bằng chiếc xe tải làm ăn của gia đình, nói lời
tạm biệt ngắn ngủi nhưng đầy xúc động với đứa con trai. Chàng sĩ quan
trẻ nhảy xuống một con tàu đã đầy ắp 2,000 người, lên đầu một đám
đông thân người cho dù rốc két cộng quân vẫn nổ xuống gần đó. Anh
hối thúc các thủy thủ: ‘Cắt dây neo!’ Và họ làm theo. Sáng đó một đoàn
tàu hải quân hứng chịu hỏa lực cộng quân trên đường thoát ra Sông Sài
Gòn tiến ra biển. Họ đã ra ngoài khơi khi chiếc đài mang theo báo tin
Miền Nam đã chính thức đầu hàng, khiến một trận mưa nước mắt mới
lại tuôn ra … cùng với lời râm ran cầu nguyện.
Nguyễn Hải Định, bộ đội đào ngũ khỏi Quân đội Miền Bắc, người đã
trải quá 4 năm qua trong một tu viện, tự nhận đang được huấn luyện để
trở thành giáo sĩ Công giáo, biết rằng tương lai của mình sẽ rất ngắn

ngủi nếu anh đợi kẻ chiến thắng. Ngày 30 tháng 4 anh xô đẩy qua đám
đông người cuồn cuộn, hoang mang để theo chân 15 lính Dù leo lên một
tàu đánh cá nhỏ rời cảng Sài Gòn, từ đó khi ra khơi họ chuyển lên một
tàu vận tải kềnh càng mang theo 4,000 dân đào thoát.
Giữa cơn khủng hoảng và gian khổ xảy ra sau đó khi động cơ tàu gặp
trục trặc, Định ném bỏ căn cước Miền Nam cùng với giấy chứng nhận
chiêu hồi. Cuối cùng họ cặp bến Hồng Kông, tại đó anh trải qua 9 tháng
tại trại tị nạn. Tham vọng trọn đời của anh tìm cuộc sống mới tại Hoa Kỳ
tiêu tan khi khởi hành khỏi Sài Gòn: như nhiều đồng bào của mình, giờ
anh xem người Mỹ như những tên phản bội, và chọn định cư tại Anh.
Ngoài khơi Biển Đông, khi nhà nước Miền Nam đã trở thành lịch sử,
một đám đông con người rã rời trố mắt sững sờ nhìn một đoàn khổng lồ
ngút mắt các tàu chiến lớn nhỏ, tàu vận tải, tàu chở dầu và thuyền nhỏ
chen chúc trên sóng nước, một cảnh tượng phản ánh nỗi ô nhục đắng cay
nhất từng rơi xuống nước Mỹ, cho dù nỗi đau thương sâu sắc nhất đè
nặng lên nhân dân Miền Nam.

Khi lực lượng cộng sản tiến gần Vũng Tàu, nhiều binh sĩ Sài Gòn bất
ngờ đeo băng tay đỏ, nhận mình mới về phe kẻ chiến thắng. Trung uý
Nguyễn Quốc Sĩ đã khước từ cơ hội đào thoát, ‘bởi vì tôi yêu Việt Nam
và không muốn sống tại Hoa Kỳ chút nào’. Anh chứng kiến các cảnh
tượng khủng khiếp trong những giờ phút cuối cùng trước khi cảng bị
đánh chiếm: ‘Có những lính Dù cầm cự đến phút cuối cùng. Một số
người tự tử cùng với gia đình.’ Một con tàu chở đầy người đào thoát
ngoài khơi hứng trực tiếp một quả đạn của pháo binh cộng sản. Rồi Sĩ và
những sĩ quan Miền Nam khác nhìn theo bộ đội của Sư đoàn ‘Sao Vàng’
3 Miền Bắc bước vào quận lỵ. Cảm tưởng đầu tiên của họ là quân địch
quá trẻ đến khó hiểu: ‘nhiều người như chỉ 13, 14, 15 tuổi. Chúng tôi nói
với nhau, “Làm sao chúng ta có thể thua trận trước những thằng bé như
thế này? Lẽ ra chúng ta đã có thể đánh bại những tên lính này.” Chúng
tôi vô cùng, vô cùng buồn bã. Người cộng sản không biết làm gì với
chúng tôi. Tôi trao cho một cậu trai khẩu Colt .45 của mình. Cậu bắt đầu
mó máy nó như thể là món đồ chơi. Tôi phải lấy súng lại và tháo đạn ra
trước khi cậu ta tự bắn vào mình. Các sĩ quan đầu hàng trước tiên được
các kẻ chiến thắng cắt cử cộng việc chôn các thi thể đã sình thúi nằm rải

rác ở vùng quê từ các trận giao tranh cuối cùng, kể cả những mảnh vụn
thi thể chung quanh Xuân Lộc.
Đoàn tàu của chỉ huy Trí đã nằm tại cảng Vũng Tàu từ ngày 6 tháng 4,
trong khi các sĩ quan và binh sĩ tranh cãi dữ dội liệu đi hay ở. Phân nửa
muốn lên bờ. Trí nói một cách cộc lốc: ‘Nếu họ biết quân địch sẽ đối xử
với họ ra sao , hẳn mọi người đã ở lại tàu để ra đi.’ Những người chọn
cuộc sống lưu vong lên đường đến Vịnh Subic trên một con tàu đổ bộ
chở được 1,500 người trên một chuyến hành trình yên ả và gần như tiện
nghi so sánh với các thử thách đối diện với hàng trăm ngàn người khác.
Ngược lại, hai tàu đổ bộ từ Cần Thơ chen cứng người Việt và một nhóm
nhân viên lãnh sự Mỹ, trải qua thử thách giữa mưa gió, đói khát và say
sóng trước khi được con tàu hàng cũ kỹ Pioneer Contender cứu vớt. Các
hành khách Mỹ rã rời và chua chát cảm thấy mình bị bỏ rơi; tinh thần họ
giờ đây vẫn không khá hơn khi nhìn thấy một nhân vật vô duyên từ hàng
rào đuôi tàu to lớn trên cao nhìn chằm chằm xuống họ – một sĩ quan
CIA đã thoát đi thoải mái trên chiếc trực thăng. ‘Ê,’ y la to, ‘bị ướt át
như vậy thì thật tệ quá.’
Tại Tây Ninh, không ai có lý do sợ người có cộng sản đến hơn Trung tá
Phan Tấn Ngưu của Ngành Cảnh sát Mật vụ, và vợ ông Nguyệt cũng
làm việc trong phòng ban ông. Cố vấn CIA của ông đã dành chỗ cho họ
trên chiếc Huey, nhưng họ từ chối vì hai đứa con họ ở xa, sống với ông
bà nội. Vào ngày 30 tháng 4 sau khi đốt hết tài liệu Ngưu cùng với vợ lái
chiếc Honda cố đến với gia đình, nhưng đường đi đã bị cộng quân
phong tỏa. Họ ẩn nấp tạm thời trong một ngôi đền, nhưng chiều hôm đó
bị bắt làm tù bình. Thiếu tá Nguyễn Thúy của cảnh sát Sài Gòn, 32
tuổi, biết rõ số phận mình nếu chẳng may lọt vào tay cộng sản, nhưng
không đành thoát thân bỏ lại đứa con trai út – ‘đứa con mà tôi yêu quý
nhất – đang sống với ông bà ngoại ở Mỹ Tho. Bà trải 13 năm sau đó
trong trại cải tạo, trong khi người chồng là sĩ quan QĐVNCH chỉ ở 6
năm. Tất cả tài sản của hai vợ chồng, kể cả nhà cửa họ và của cha mẹ
họ, đều bị tịch thu tạm thời.
Ngay trước khi cộng quân chiếm Sài Gòn, Thiếu tá Nguyễn Công Luận
nốc nửa chai rượu mạnh bourbon, nhiều hơn bao giờ trước đây, mà
không hề say. Ông dí súng vào đầu mình, nhưng người lính tài xế ngăn
lại, ‘Đừng làm vậy, em xin Thiếu tá. Nếu Thiếu tá quyết định kết liễu

cuộc đời để đi xuống diêm vương, hãy cho em đi theo làm tài xế cho
Thiếu tá.’ Câu nói khiến Luận bật cười, và bỏ ý định quyên sinh. Tuy
nhiên, những người khác lại quyết định cách khác. Một ít căn phía dưới
phố một thiếu tá quân đội khác ăn một bữa trưa thịnh soạn với vợ và 7
đứa con trước khi cho gia đình uống thuốc ngủ, rồi bắn lần lượt từng
người trước khi tự kết liễu đời mình. Ông để lại thư tuyệt mệnh: ‘Hàng
xóm thân mến, gia đình tôi không thể sống dưới chế độ cộng sản. Làm
ơn tha thứ cho chúng tôi và giúp thân nhân tôi an táng chúng tôi. Trong
tủ sắt có một số tiền nhỏ. Làm ơn sử dụng nó cho chi phí hậu sự của
chúng tôi. Đa tạ và vĩnh biệt!’
Lúc 5 giờ chiều ngày 30 tháng 4, nhân dân Miền Bắc nghe vang vang
qua vô số loa phóng thanh trên đường phố giai điệu quen thuộc của bài
hát ‘Diệt Phát Xit’, đi trước tin tức từ đài Tiếng Nói Việt Nam. Rồi
giọng một phát thanh viên vang lên: ‘Thưa đồng bào, mời đồng bào lắng
nghe lời tuyên bố chiến thắng đặc biệt.’ Rồi một bài hát được phát lên:
‘Như có bác Hồ trong ngày vui đại thắng.’
Tại Sài Gòn, bộ đội Miền Bắc hớp hồn trước sự sung túc của hàng hoá
trong các cửa hiệu. Một trung uý trẻ bước vội vào hiệu sách Khai Trí,
nơi anh sử dụng số tiền dành dụm nhỏ bé của mình để mua hai quyển từ
điển Việt-Anh, một cho chính mình và một cho em gái: ‘Tôi muốn trở
lại đại học, và chúng tôi không thể mua được những sách này ở Hà
Nội.’ Bảo Ninh có cảm tưởng nhiều người Miền Nam đơn giản là vui
mừng vì chiến tranh đã qua; ông chắc chắn đúng khi cho rằng phản ứng
đầu tiên của hàng triệu người trước đây của Thiệu là một cơn nhẹ nhõm,
khi lần đầu tiên vượt qua được nỗi lo sợ cho tương lai.
Các bộ sử cộng sản chỉ cung cấp những thống kê rời rạc cho chiến dịch
cuối cùng của cuộc chiến. Chúng cho biết có hơn 12,000 thương vong
trong trận đánh tại Xuân Lộc, Phan Rang và mặt trận phía tây Sài Gòn,
cùng với trận tấn công cuối cùng vào thủ đô. Một sĩ quan Miền Bắc cao
cấp nhận xét mỉa mai: ‘Cuộc hành quân đến thắng lợi không được tiến
hành trên thảm đỏ mà địch trải ra cho chúng ta, như nhiều người lầm
tưởng.’ Các trận đánh 1975 ắt hẳn lấy đi sinh mạng khoảng 10,000
người – con số còn ít khi chất lên ngọn núi vạn cốt khô của nhân dân
mình mà vị công thành nhắt tướng Lê Duẩn đã leo lên để giành được
một Việt Nam thống nhất.

Henry Kissinger choáng váng trước thảm kịch nhân loại chất ngất diễn
ra trong những ngày đi trước và theo sau cuộc khải hoàn của người cộng
sản. Nhưng khi Graham Martin cuối cùng đến trình diện ông tại
Washington sau thử thách của mình, vị ngoại trưởng sáng chế cho vị cựu
đại sứ một lời bông đùa độc địa đặc trưng: ‘Vâng, anh trở về đây là tốt
rồi, vì theo thuyết quỷ quái của lịch sử chúng ta phải có ai đó để đổ tội. ‘

CHƯƠNG 28 : RỒI SAU ĐÓ

1 Báo Thù
Khi tiếng súng im bặt, chuyến trở về nhà của các cựu binh cộng sản
chiến thắng tỏ ra cũng chán nản như của các kẻ thù Mỹ trước đây của
mình. Một người Miền Nam, Châu Phát, mỉa mai nói, ‘Người Miền Bắc
thấy chiến thắng ít có ý nghĩa hơn họ kỳ vọng nhiều.’ Bảo Ninh mô tả
trong quyển tiểu thuyết tự thuật Nỗi Buồn Chiến Tranh chuyến trở về Hà
Nội sau chiến dịch 1975: ‘Trên tàu Thống Nhất chuyến ấy toàn là
thương phế binh và lính về vườn. Ba lô ken dày trên giá, võng chăng dọc
ngang lòng toa biến đoàn tàu thành một bãi khách. Thoạt đầu, tâm trạng
chung phải nói là khá chua chát. Không kèn, không trống, không khúc
khải hoàn thì đã đành rồi nhưng đến một chút đối xử có trước có sau
người ta cũng chẳng buồn giành cho bộ đội. Cảnh chợ chiều nhốn nháo,
nháo nhào không khác gì lại một thứ tùy nghi di tản. Đã thế lại còn kiểm
tra lên, kiểm tra xuống, lục lọi săm soi từng cái túi cóc ba lô tuồng như
người ta cho rằng một núi của cải ở miền Nam sau giải phóng bị hư hao
thất thoát, bị xâu xé, tranh đoạt, bị hốt vơ cào xúc cho đến sạch sành
sanh là bởi anh bộ đội chứ không phải bởi bọn người nào khác… Tại các
ga mà đoàn tàu dừng bánh các loa phóng thanh oang oang trút vào tai
đám lính đui què mẻ sứt mắt trắng môi thâm này hàng lô xích xông
những lời dạy bảo trớ trêu nhất đời nào chống cầu an, chống đạn bọc
đường, chống thói đam mê các tàn tích của xã hội phồn vinh giả tạo và
nào là cần đặc biệt chống tư tưởng công thần?’ Ninh và phần đông các
đồng chí anh đều khinh bỉ các hàng rào phi lý này’.
Cán bộ nằm vùng và bộ trưởng tư pháp CPCMLT Trương Như Tảng
thuộc trong số những người cay cú và ly khai do cung cách trong đó
‘việc giải phóng’ Miền Nam được cơ cấu: Đảng Cộng sản Hà Nội tập

trung quyền lực vào tay các viên chức tham nhũng và bất tài và cơ quan
an ninh tàn bạo. Họ tranh giành nhau chiếm đoạt những ngôi nhà tốt
nhất, những đồn điền giàu có nhất và hàng hiệu chợ đen.’ Tảng không
bao giờ quên đại hội Đảng tại đó người Miền Bắc xác nhận ý định cai trị
của họ, bác bỏ các yêu sách của cựu binh MTGPMN – trong đó có chính
Tảng: ‘Không có tấm ảnh chụp nào được phổ biến về Vũ trường Rex,
khung cảnh của sự bẽ mặt cuối cùng của cách mạng Miền Nam vào
ngày 18 tháng 7 1975.’ Ông thấy bạn bè quở trách ông thậm tệ: ‘Ít nhất
dưới thời Diệm và Thiệu bọn ăn cắp cũng có danh dự. Nhưng những
đảng viên này nuốt mọi thứ trong tầm mắt. Đánh đuổi người Mỹ có thực
sự là một ý tốt không?’ Các cán bộ Miền Bắc, ‘sau nhiều năm chịu
đựng cảnh ngặt nghèo của đời sống quân đội bỗng thình lình đối mặt [tại
Sài Gòn] với điều dường như đối với họ là của cải trong truyện thần tiên,
của cải để họ chiếm lấy. Như thể thành phố đã bị giặc cào cào xâm
lăng.’
Trong khi đó những người Mỹ cuối cùng hồi hương xấu hổ vì giữa cảnh
hỗn loạn của cuộc di tản, quá nhiều đồng minh của họ đã bị bỏ lại đối
mặt với sự trừng phạt của cộng sản. Frank Snepp bảo một đám thính giả
tại Viện Ngoại vụ Washington tháng 8 1975: ‘Chúng ta bỏ lại sau trên
đường băng hoặc bên ngoài tường bao sứ quán 4 đến 5 trăm người thuộc
lực lượng cảnh sát đặc biệt mà chúng ta đã đào luyện … khoảng 1,200
nhân viên tổ chức tình báo trung ương của Sài Gòn … và 30,000 cán bộ
của chương trình chống khủng bố Phượng hoàng.’ Ông nhấn mạnh việc
không tiêu hủy hồ sơ chứa hàng vạn tên nhân viên Việt đã phục vụ cho
người Mỹ hoặc chế độ, và ước tính chỉ khoảng một phần ba những
thành viên dễ bị tổn thương nhất thoát khỏi. Thính giả của Snepp, viên
chức từ các cơ quan chính trị, lắng nghe trong bàng hoàng. Họ ân hận
không phải về những gì người Mỹ đã làm, hoặc không làm được, mà là
những vạch trần của Snepp về nó. Tác phẩm phẫn nộ xuất bản
1977 Decent Interval (Khoảng Cách Hợp Lý) khiến chính quyền Mỹ
truy tố và tịch thu tiền bản quyền, cùng với việc áp đặt một vị thế thấp
kém lên tác giả bởi cộng đồng tình báo. Về phần những người đào thoát
khỏi Việt Nam trong các hoàn cảnh hãi hùng như thế, số lượng vượt quá
khả năng cứu vớt của tàu Mỹ. Khi tàu tị nạn quá tải của Trung uý
Nguyễn Khiêm gặp một tàu chiến ở ngoài khơi Biển Đông, thủy thủ

đoàn Mỹ khăng khăng bảo họ ra đi bằng cách bắn tung tóe lên sóng
nước bằng vũ khí tự động, như một cử chỉ từ chối giúp đỡ. Tiếp tục hải
trình dựa vào các vì sao, họ cuối cùng đến được Singapore sau những
mạo hiểm và đói khát phi thường. Tại Sài Gòn, cha của Khiêm bị cấm
hành nghề vận tải và đúng ra bị tước đoạt hết cả tài sản.
Mẹ anh mở một quán cà phê để hỗ trợ gia đình cho đến khi họ được
phép rời xứ sở 7 năm sau đó, bần cùng như họ đã từng khi di cư khỏi Hà
Nội vào năm 1954. Theo cụm từ đáng thương của Khiêm, ‘Thế là, hai
lần trong đời, chúng tôi trắng tay.’
Nguyễn Thị Chinh bay khỏi Sài Gòn mang theo thông hành ngoại giao
mà bà được đặc quyền hưởng như một minh tinh màn bạc tiên phong.
Tuy nhiên, khi bà đến Singapore, nơi bà gần đây đóng phim, bà bị giữ
lại: với sự sụp đổ của chế độ Thiệu, giấy tờ của bà trở thành mớ giấy
lộn, chẳng khác nào danh thiếp của người thua cuộc. Sau hai ngày bà bị
trục xuất, có trên tay một vé máy bay vòng quanh thế giới do bạn bè
mua cho. Nhờ đó bà lao vào một hành trình cô độc: ở Paris bà được nhìn
em gái qua khung kính của phòng nhập cảnh trước khi bị xô đi tiếp đến
London. Tại đó bà lại bị chặn lại. Trở lại bên kia Đại Tây Dương, bà lại
bị sân bay JFK ở New York quay mặt đi. Vào ngày 2 tháng 5, bà cuối
cùng được Toronto tiếp nhận: ‘Tôi trở thành người Việt Nam tị nạn đầu
tiên ở Canada.’ Chỉ mới mấy ngày trước bà là một phụ nữ tương đối
giàu có, nhưng mọi thứ bà sở hữu đều bỏ lại Saigon, mãi mãi ngoài tầm
với. Phúc lợi xã hội Canada phát cho bà một áo khoác và $75; như một
điều khoản nhập cư, và bà được yêu cầu phải tìm kiếm việc làm ngay.
Trong một kịch bản dường như không thể tin được trong một phim hư
cấu, bà trở thành một nhân viên vệ sinh trong một trang trại chăn nuôi
gà, được trả $2 một giờ cho công việc sử dụng vòi phun rửa chuồng trại.
Trong nỗi tuyệt vọng bà lướt qua tài sản duy nhất của mình, một sổ tay
địa chỉ, và gọi các cuộc đường dài mắc mỏ đến các ngôi sao
Hollywood mà bà đã quen hoặc từng làm việc với họ. Trước tiên bà gọi
William Holden, nhưng ông đang ở châu Âu. Quản gia của Glenn Ford
thì xin lỗi ngôi sao vĩ đại không nhớ bà là ai. Văn phòng của Burt
Reynolds cứ khăng khăng không liên lạc được với ngài Reynolds. Cuối
cùng, gần như với đồng tiền cuối cùng, bà điện thoại cho một phụ nữ bà
chỉ gặp đúng một lần – Tippi Hedren. ‘Tôi là một người đang chết chìm.

Tôi khóc trong điện thoại – và bà ấy cũng khóc.’ Rồi Hedren nói, ‘Đọc
chậm lại,’ và ghi lại chi tiết của Chinh. Trong vòng ba ngày ngôi sao
Hitchcock trước đây có thể đưa nữ tài tử Việt Nam thoát khỏi trại gà đầy
ác mộng, gửi bà một vé máy bay và một giấy nhập cảnh vào Mỹ, tại đó
Hedren mời Chinh đến nhà mình, mở tủ áo cho vị khách nghèo mạt lựa
chọn. Khi Bill Holden trở lại từ chuyến đi săn, ông gửi bà một lẵng hoa
hồng lớn nhất bà từng thấy, với cánh thiệp ghi dòng chữ ‘Chào mừng
đến nước Mỹ. Hãy chọn nơi đây làm quê hương.’ Chinh là một trong số
ba phần tư triệu người Miền Nam làm điều đó ngay trong 1975 và các
năm sau đó: bà xuất hiện trong hơn 100 phim nữa, được thế giới biết
dưới nghệ danh Kiều Chinh.
Trong những ngày sôi động sau khi Sài Gòn thất thủ, một vị tướng
Miền Bắc gửi đến các đồng chí mới của ông ở Miền Nam một cái gật
đầu hướng về hoà giải, nói: ‘Chi có người Mỹ là kẻ bại trận.’ Nhưng gia
đình một sinh viên khoa sử 20 tuổi Kim Thanh, sống gần Tân Sơn Nhất,
suốt hai ngày vẫn ẩn núp trong hầm trong nhà ông bác cô. Ông bác, cũng
như cha mẹ cô, đã di cư từ Miền Bắc năm 1954: ‘Họ hiểu rõ người cộng
sản, và những gì họ sẽ làm.’ Khi cuối cùng gia đình ló mặt ra, họ chứng
kiến những biểu hiện đầu tiên của thắng lợi Miền Bắc: những xác người
nằm giữa đường phố, nạn nhân của các vụ hành quyết tự phát. Công
bằng mà nói, phần đông con số không xác định được các vụ tàn sát xảy
ra trong mùa hè 1975 – ắt hẳn chỉ vài ngàn – là sáng kiến của địa
phương do cán bộ và VC ra tay vì lòng căm thù, không phải do chỉ thị
của bộ chính trị. Những làn sóng truy sát trả thù như thế thường bùng
phát vào cuối các cuộc chiến: vào khoảng năm 1944-45 ở Pháp, chẳng
hạn, trong ‘l’épuration’ – ‘vụ thanh trừng ‘ – những chiến sĩ Kháng
chiến trước đây tàn sát hoặc hành quyết đồng bào nào được cho là đã
hợp tác với bọn Quốc xã chiếm đóng. Một số người Miền Nam chọn
cách quyên sinh để khỏi rơi vào số phận không sao tránh được, như
người đưa tin VC chủ chốt của sĩ quan Ngành Đặc biệt Tây Ninh Phan
Tấn Ngưu, Võ Văn Ba. Ông bảo với Ngưu trước khi tự kết liễu: ‘Vì tôi
biết cộng sản quá rõ, tôi biết dưới chế độ họ cuộc sống sẽ ra sao.’
Khi những người cai trị mới siết chặt gọng kìm, nhân dân Miền Nam
dần dần hiểu được ý nghĩa của ‘chủ nghĩa cộng sản’, từ trước đến nay
chỉ là một danh từ dùng làm vũ khí, được vung lên hoặc gạt đỡ bởi các

chiến binh kình địch. Lê Đức Thọ đã trấn an các người nước ngoài
trong cuộc hòa đàm Paris: ‘Chúng tôi không muốn áp đặt chủ nghĩa
cộng sản lên Miền Nam.’ Nhưng giờ đây, theo lời của Michael Howard,
‘một tấm vải liệm toàn trị xám xịt’ đã phủ lên đất nước. Một bác sĩ Hà
Nội thanh tra trang thiết bị của bệnh viện chính tại Sài Gòn, nói, ‘Các
anh có quá nhiều. Chúng tôi điều trị nhiều bệnh mà không có tất cả các
thứ này.’ Từng số lượng lớn các thiết bị y tế bị lấy đi để chở về bắc,
cùng với nhiều thứ khác. Các cán bộ trục xuất toàn bộ gồm một ngàn
thương binh QĐVNCH ra khỏi Quân Y Viện Cộng Hoà. Họ đập phá
nghĩa trang quân đội chính của Miền Nam dựng lên một bảng yết thị
ngay ngoài cổng: ‘Ở đây yên nghỉ các binh sĩ tay sai của Mỹ đã phải trả
giá cho tội ác của mình.’
Suốt hàng hàng trời sau khi cuộc chiến kết thúc, người Miền Bắc ở Miền
Nam vẫn cảnh giác vũ trang và canh gác vì sợ bị các kẻ hậu thuẫn cho
chế độ sụp đổ cay cú trả thù, nhưng rất hiếm có chuyện đó xảy ra. Một
trung sĩ Miền Nam trước đây khoái trá nhìn phản ứng của các bộ đội
Miền Bắc khi chứng kiến cảnh sung túc của thủ đô trước đây, nay đổi
tên là Thành phố Hồ Chí Minh: ‘Mắt họ mở to: họ nhìn thấy cái gì
chúng tôi có mà họ không có.’ Người cộng sản lâu năm Nam Lý, vốn đã
tập kết ra Hà Nội vào năm 1955 trong khi gia đình bà vẫn ở lại, giờ trở
về nam, mang theo quà sum họp cho mẹ đã mất liên lạc 20 năm: một
chục bát gạo, hai ký đường, hai hộp sữa đặc. Lý đã nuốt trôi mà không
thắc mắc lời dạy của Đảng rằng nhân dân Miền Nam là nạn nhân thiếu
thốn hơn họ rất nhiều.
Sau hai tháng, Kim Thanh được phép đi học lại ở Đại học Sài Gòn tại đó
giáo trình sử đã bị cải biên hoàn toàn: ‘Một số hoàng đế chúng tôi được
dạy là xấu nay hóa ra tốt, và ngược lại.’ Cha cô, một thượng sĩ hồi
hưu, sở hữu một nông trại, liền bị tịch thu sung vào nông trang tập thể.
Việc phát hành giấy bạc mới không được đền bù tiêu hủy tiền dành dụm
của hàng vạn gia đình. . Đến cuối năm 1975, nhiều hộ gia đình Miền
Nam chật vật để mưu sinh, và tình trạng đói kém nghiêm trọng giáng
xuống vài tháng sau đó. ‘Không có gạo để ăn. Chúng tôi ăn bắp, khoai
lang, khoai mì – mọi món trước đây chúng tôi hiếm khi gặp.’ Nỗi lầm
than của nhân dân Miền Nam suốt những năm sau đó, với sự thất bại
trong chính sách kinh tế của Hà Nội và hành động cướp bóc người thua

cuộc để cung phụng người thắng cuộc, đúng là tàn ác. Người cộng sản
thuộc đủ mọi cấp bậc thả bộ vào nhà khá giả, lấy đi mọi thứ họ thích.
Người Miền Bắc xem người Miền Nam – nhất là những thành phần có
thể dán nhãn hiệu tay sai của chế độ ngã ngựa – là những con bò vắt sữa,
nguồn cung chiến lợi phẩm. Người Xô viết nhận phần chia khiêm
nhường của mình bằng hiện vật – 10,000 khẩu M-16 và 10 triệu viên
đạn, mà ông trùm KGB Yuri Andropov bảo đảm với Giáp ‘sẽ được sử
dụng trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc và thỏa mãn nhu
cầu các phong trào giải phóng dân tộc ‘.
Trong năm tiếp sau ‘giải phóng’, khoảng 300,000 người Miền Nam bị
giam giữ. Tất cả những ai có dính líu nhỏ nhất với chính quyền sụp đổ
đều bị chụp mũ, suốt đời không rửa sạch: tuy thu ngân viên tại Khách
sạn Majestic Sài Gòn thoát khỏi tù tội, ông bị cho nghỉ việc và bị thẩm
vấn nhiều lần, vì ông nhận quá nhiều tiền chi trả trong hoá đơn của
người Mỹ. Xấp xỉ hai phần ba những người bị giam giữ, kể cả cựu sĩ
quan, được gửi đến các trại cải tạo nơi họ ở lại từ 3 năm đến 17 năm.
Những người chống đối nổi tiếng chế độ Thiệu cũng không được miễn
trừ: trong số những người bị quản thúc có nhà sư Phật giáo Trí Quang,
người đã tạo ra biết bao lộn xộn cho các tướng lĩnh Sài Gòn.
Một cuốn phim do nhà thơ tiếng tăm Nhã Ca viết kịch bản đã bị cấm bởi
chính quyền trước kia vì tội cổ vũ tính chủ hòa. Trở lại năm 1968, tuy
nhiên, bà có mặt tại Huế trong vụ thảm sát của cộng sản, và cho in một
khúc bi ca đầy xúc động, ‘Vải Khăn Xô Cho Huế’. Vì tác phẩm này giờ
bà bị bắt giam vào trại cải tạo, và một bản in của tác phẩm Huế của bà
được trưng bày trong Bảo Tàng Tội Ác Chiến Tranh tại Hà Nội như một
mẫu vật về ‘những dối trá của bọn tay sai’. Các tù nhân không được ấn
định thời hạn giam cầm, mà thời hạn chỉ căn cứ vào tùy hứng của Đảng.
Lê Minh Đảo, tư lệnh Sư đoàn 18 trấn giữ Xuân Lộc, ở lại trong vòng
rào kẽm gai tận năm 1991 – lâu hơn cả thời hạn Stalin giam giữ các
tướng lĩnh Phát xít sau Thế Chiến II.
Hàng ngàn cựu sĩ quan Miền Nam bị chở ra các trại tập trung ở Miền
Bắc, tại đó một tổ lao động bị canh gác bỗng thấy một ông lão trong làng
tiến đến quở trách: ‘Từ năm 1954, chúng tôi đã chờ đợi các anh đến giải
phóng. Giờ các anh lại đến đây như những tù nhân. Các anh thật đáng
xấu hổ! Chỉ vì các anh chiến đấu không tốt, các anh dung túng tham

nhũng, các anh chỉ biết hưởng thụ. Các anh đã phản bội chúng tôi,’
Trong số người nghe được những lời thấm thía này, Thiếu tá Luân, viết:
Chúng tôi nín lặng nuốt những lời đay nghiến này như một cách trừng
phạt mình xứng đáng nhận lãnh.’ Chính ông bị giam giữ 7 năm, rồi vất
vả mưu sinh tại Sài Gòn thêm 9 năm nữa trước khi thoát được đến Mỹ.
Người trung sĩ canh gác bảo ông lúc ông được trả tự do: ‘Anh sắp sửa
rời bỏ nhà giam nhỏ để bắt đầu sống trong một nhà ngục lớn hơn với tôi
và 70 triệu đồng bào.’
Cựu Trung uý Nguyễn Quốc Sĩ lao động trên biên giới Cao Miên, trong
những điều kiện khá hơn một chút so với trại tù binh Nhật thời Thế
Chiến II. Anh và các đồng đội trải vô số giờ viết kiểm thảo về những tội
ác mình không gây ra. Họ được bảo là chỉ được phóng thích khi xét thấy
thích hợp để sống có ích trong Xã hội Mới. Hoang mang không biết khi
nào có thể về khiến một số người hóa điên: ‘Một bác sĩ quân y cắt đứt
mạch máu ở cổ tay – rồi sáng hôm sau chúng tôi thấy tên anh trong danh
sách được phóng thích.’ Vì thuốc tây duy nhất có ở trại cải tạo là
aspirin, nên bệnh nào cũng có thể gây chết người. Cha của Sĩ, một sĩ
quan cảnh sát Sài Gòn trước đây 59 tuổi, qua đời trong những tháng đầu
vào trại, ắt hẳn do bệnh gan mãn tính, nhưng gia đình không hề được
thông báo. Một bạn tù của Sĩ chết vì bị suyễn. Một người khác không
quen với công việc nhà nông, bị thương đến chết vì một thân tre chót
nhọn quật lại chém khi anh đốn không đúng cách. Bệnh tiêu chảy là đặc
hữu.
Bỏ đói được sử dụng như một vũ khí tâm lý. Sĩ quan quân y QĐVNCH
trước đây Lý Văn Quý nổi điên trước hành vi của một người trong đội 8
tù nhân của anh: khi phân phối khẩu phần cơm mỗi ngày từ một thùng
đạn, gã này luôn lấy thêm một phần cho mình. Cuối cùng Quý nhịn
không được, chồm lên, tính giết tên ăn chận. Gã kia phản đòn, sức yếu
làm Quý ngã bật nhào trước khi có thể đấm y một quả. ‘Đêm đó tôi cảm
thấy quá xấu hổ. Tôi suy nghĩ: đây chính xác là điều bọn cộng sản muốn
chúng tôi làm thế với nhau. Tôi đang chơi trò họ bày ra. Tôi không bao
giờ xử sự như thế lần nữa.’ Quý làm công việc chôn cất tại trại đầu
tiên. Ba năm sau khi anh có dịp quay lại chỗ cũ, thì thấy nghĩa địa đã
được nới rộng ra nhiều.

Thông lệ trại bắt đầu lúc 5 giờ sáng, khi mỗi tù nhân được phát một nắm
cơm là khẩu phần của cả ngày, rồi đi bộ ra ruộng hoặc rừng. Mỗi tổ 8
người cử ra một người đi xục xạo tìm những gì ăn được trong rừng trong
khi những người khác góp sức hoàn thành chỉ tiêu cho y – một thương
lượng giúp sống sót được bên bờ tử thần do thiếu ăn. Họ trở về trại lúc 6
giờ chiều; và dành buổi tối để học chính trị. Chẳng mấy chốc hầu hết
mọi người đều hăng hái nói mọi thứ, nhất trí mọi thứ, để đổi lấy tự do.
Sĩ nói: ‘Nếu người ta bảo tôi phải khóc nhiều thì sẽ được ra trại, tôi sẽ
trở thành người khóc la tốt nhất trong trại đó. Tôi đã thấy tóc một thanh
niên chỉ mới 22 tuổi đã bạc trắng.’
Một số những người đi học tập cải tạo là dân thành thị tương đối lớn
tuổi, khó thích nghi với cuộc sống sơ khai, vệ sinh ở mức tối thiểu và
bệnh sốt rét rừng thì tối đa. Không ai biết có bao nhiêu người thiệt mạng,
nhưng một tử xuất 5%, một ước tính chừng mực, sẽ chỉ ra ít nhất 10,000
người. Sau khi được thả ra, họ vẫn không nhận được các quyền lợi dân
sự: phần đông bị đuổi về ‘Vùng Kinh Tế Mới ‘, những vùng đất hoang
sơ ven rừng nơi họ được kỳ vọng sẽ tạo ra một cộng đồng sống trong
thiếu thốn bớt khắc nghiệt hơn trong trại cải tạo một chút. Một số cuối
cùng nhận được giấy phép xuất cảnh, đổi lấy mọi của cải phải bỏ lại.
Khi Nguyễn Thị Minh Hà ra đi năm 1980, người quả phụ cùng khổ này
chỉ mang theo bên mình hủ cốt của người chồng, đã qua đời trong trại
cải tạo. Cuối cùng bà rải tro cốt của chồng xuống bờ biển Anh quốc.
Anh bà Sĩ, được phóng thích năm 1978, được phép thăm nhà ở Sài Gòn
một thời gian ngắn trước khi bị đưa đến Vùng Kinh tế Mới. Vào năm
sau, được sự giúp đỡ của bạn bè ở hải ngoại và giao nộp nhà cửa, anh
được phép rời bỏ Việt Nam với 20 đô la. Anh đã bí mật cưới Kim
Thanh, người anh đã quen từ thời đi học và giờ là cô giáo; chỉ đến năm
1984 cô mới được bảo lãnh đoàn tụ với chồng ở Anh. Hàng trăm ngàn
người Việt không thể có giấy nhập cảnh trở thành ‘thuyền nhân’, đương
đầu với hiểm họa và gian nan khủng khiếp để qua mặt hệ thống công an
và vượt biển trốn khỏi đất nước nơi đã trở thành một nhà tù rộng lớn.
Một số người Miền Nam khá giả hơn thoạt đầu chấp nhận kết cục của
cuộc chiến, cho dù kết quả không như họ đã mong muốn.Trong số này
có bà vợ của đại tá Miền Nam Lý Văn Quang, có ba con trai phục vụ
trong quân đội, một đứa khác đã chết trong trận Lam Son 719. Anh bà

là Lê Thiện, một tướng lĩnh trong quân đội Miền Bắc: bà đường đột tin
rằng mối quan hệ này sẽ giúp gia đình khỏi bị bức hại. Nhưng rồi ba
con trai bà – cháu của Lê Thiện – vẫn phải đi học tập cải tạo nhiều năm
trời. Gia đình lấy làm khó hiểu khi trong lúc đó cha họ lại được để yên.
Chỉ sau đó khá lâu việc bất thường này mới được bật mí: suốt 20 năm
làm sĩ quan Dù, Đại tá Quang được một phụ tá thân cận phục vụ tận
tình có tên là Thông. Người này thân thuộc với gia đình vị tá như người
bà con trong nhà đến nỗi các con ông đều xưng y là ‘chú Thông’. Được
sự đề bạt của vị đại tá Thông được thăng đến cấp bậc đại uý. Một năm
sau khi Sài Gòn thất thủ Thông xuất hiện lại trong nhà Đại tá dưới bộ
quân phục một sĩ quan cộng sản, và tiết lộ rằng trong hơn một thập niên
ông ta đã nằm vùng. Ông ta bảo đảm với gia đình là họ sẽ không bị làm
hại, vì có ông bảo lãnh Đại tá Quang là một người tốt bụng và liêm
khiết. Thay vì biết ơn, người cựu bình già tái mặt vì giận dữ và ném một
chiếc ghế vào người ơn, quát lên, ‘Ra khỏi nhà tao, đồ khốn nạn phản
trắc!’ Con trai ông nói, ‘Đối với cha tôi, mọi thứ chỉ có đen và trắng.’
Nguyễn Công Hoan, một người Miền Nam phản chiến phục vụ hai
nhiệm kỳ Quốc Hội sau 1975 trước khi vượt biên bằng thuyền, nói sáu
năm sau đó: ‘Tôi rất ân hận sao trước đây mình không hiểu rõ người
cộng sản. Họ luôn phát biểu những lời lẽ cao cả kêu gọi đến phần tốt
đẹp của con người. Rồi những lời ấy lại được sử dụng cho một mục đích
bi thảm. Tôi đã sai lầm khi tin tưởng họ.’ Hai Thuận, một cựu binh đã
đứng vào hàng ngũ Việt Minh và sau đó sống ở Miền Bắc suốt cuộc
chiến, trở lại Sài Gòn làm việc trong Bộ Tư Pháp mới. Ông sững sờ khi
biết tin con trai mình, một sĩ quan Miền Nam trước đây, đã bị đưa đi cải
tạo, Ông tranh đấu kịch liệt lên tận bộ chính trị nhưng lời cầu xin của
ông bị bỏ ngoài tai. Một buổi sáng đẹp trời, Thuận gieo mình từ mái nhà
một cao ốc trên đường Lê Lợi, để lại hai bức thư tuyệt mạng. Một gửi
cho lãnh đạo Đảng, lên án tính tàn nhẫn và dối trá của Đảng. Thư thứ hai
xin vợ và con trai tha thứ cho mình.
Trương Như Tảng, bộ trưởng tư pháp trong CPCMLT, thấy mình
không khá hơn người Miền Nam nào khác khi muốn biết tin tức của hai
em trai, bị giam giữ ở Long Thành. Cuối cùng ông xin được phép thăm
nuôi tại trại cải tạo, nhưng bị cấm không cho tiếp xúc trực tiếp với họ.
Chỉ thoáng nhìn được họ ngắn ngủi, ông viết: ‘Thậm chí đến giờ phút


Click to View FlipBook Version