The words you are searching are inside this book. To get more targeted content, please make full-text search by clicking here.
Discover the best professional documents and content resources in AnyFlip Document Base.
Search
Published by ngoc.ngphuong, 2020-09-21 02:01:48

CON ĐƯỜNG TƠ LỤA - Xa Mộ Kỳ

CON ĐƯỜNG TƠ LỤA - Xa Mộ Kỳ

CON ĐƯỜNG TƠ LỤA

BÚT KÝ

Xa Mộ Kỳ
Người dịch: NGUYỄN PHỐ

----o0o---

Nguyễn Phổ dịch từ nguyên bản tiếng Trung Quốc nhan đề
“Tơ trừ chi lữ” của tác giả Xa Mộ Kỳ nhà xuất bản Tam
Liên Thư Điếm - Hương Cảng năm 1986.



LỜI NÓI ĐẦU

Do đâu mà con đường tơ lụa có sức hấp dẫn như vậy?
Những ai đã đi thăm con đường xưa nổi tiếng trong và
ngoài nước Trung Quốc đều tự cảm nhận sức hấp dẫn ấy.

Ông Trần Thuấn Thần, người từng đi lại nhiều lần trên
con đường tơ lụa đã nói với tôi rằng mỗi lần đi như thế
mình lại phát hiện ra những cái mới và hiểu thêm được
những điều mới.

Tôi đang dài dòng cho ông biết mấy người bạn của tôi
chưa từng đi lần nào cả, ông ngồi yên lắng nghe, rồi cười,
nói với vẻ khiêm hòa:

- Ồ thú lắm! Tôi cũng cần phải đi lại. Năm 1978 và
1979, tôi đã phải mất bảy tháng để đi từ Tây An, men theo
dấu chân của các đội con buôn đi bằng lạc đà thời cổ đại
qua từng trạm, từng trạm để thám hiểm, đi khắp hành lang
Hà Tây và xuyên qua ba tuyến đường ở Nam Bắc dãy Thiên
Sơn, toàn bộ hành trình phải đến hơn 5000 cây số.

Đối với tôi sự cảm nhận về sức hấp dẫn của con đường
tơ lụa, nếu được nói một câu khái quát thì tôi sẽ nói trong
cuộc tìm tòi thám hiểm này rằng tôi cảm thấy thích thú vô
cùng.

Chỉ nói đến phong cảnh thiên nhiên thôi thì nào núi
non, sông ngòi sa mạc, thảo nguyên - chúng luôn luôn biến
hóa. Cái bao la khoáng đạt cố nhiên là nét đặc sắc của
chúng, nhưng còn núi cao, vực sâu hoặc trong lòng sa mạc
thì cảnh sắc kỳ ảo, rực rỡ, tráng lệ khiến người ta không
ngớt thán phục. Trên đường đi thường có thể không biết
tên địa phương, nhưng ta có cảm tưởng hầu như được xem

những bức tranh sơn dầu cổ điển vậy. Cảnh đẹp do chính
ta phát hiện và tự nhận ra sự hứng thú đặc biệt của chính

mình.

Trên con đường tơ lụa, rải rác đây đó là những tòa cổ
thành, những hang thạch động, chúng lóe lên ánh sáng ngọc
ngà thần bí của một thời. Cho dù đã có nhiều nhà bác học
trong và ngoài nước nghiên cứu, nhưng cũng vẫn chưa làm
lộ ra hết bức màn bí mật trong bản thân chúng. Người có
lòng cứ việc tìm đến từng chút, từng nơi, còn đối với người
đương thời hoặc đối với hậu thế, đó cũng là công việc mang
rất nhiều ý nghĩa.

Ngay như lộ tuyến của con đường tơ lụa đến nay vẫn
chưa hoàn toàn được xác định. Phương hường tổng thể của
nó thì đã rõ, song truy tầm theo dấu chân của Trương
Khiên, Hoắc Khứ Bệnh, Cưu Ma La Thập, Huyền Trang
thì cũng cần phải mất nhiều công sức. Theo dấu chân thám
hiểm của cổ nhân, tôi cho rằng ngày xưa việc khai thông
giao lưu văn hóa giữa Trung Hoa và phương Tây của những
người này là những cống hiến đáng khâm phục.

Tập du ký về con đường tơ lụa này là vì quý vị độc giả
ở hải ngoại mà viết, nó đã từng được đăng tải trên báo
“Nhân dân Trung Quốc” bằng tiếng Nhật từ số tháng
Giêng năm 1979 đến số tháng Hai năm 1981. Sau đó, nhà
xuất bản “Tiểu học quán” ở Đông kinh, Nhật Bản xuất bản
thành ba quyển; tiếp đó nhà xuất bản Văn nghệ Thượng Hải
xuất bản bằng tiếng Hoa. Hiện nay, phân cục xuất bản
Hongkong “Tam liên Thư điếm” lại xuất bản bằng tiếng
Hoa ra nước ngoài. Tác giả mong rằng quyển sách này có
tác dụng “khơi ngòi” cho quý vị đồng bào ở hải ngoại nào
muốn thăm thú con đường tơ lụa, hoặc những ai có tấm
lòng đối với con đường tơ lụa, bất kể ở góc độ nào, bất kể

người trong hay ngoài nước đểu có thể khai phá thêm
những bí mật của con đường lịch sử này.

Sau cùng, nhân đây tác giả xin cảm ơn các quý vị
Thường Thư Hồng, Mã Ưng, Lý Ngẫu Xuân, Vương Nhân
Ba cùng với sự chỉ giáo nhiệt tình của các chuyên gia thuộc
tỉnh Cam Túc, Tân Cương. Xin cảm tạ tất cả quý vị đã giúp
đỡ, hỗ trợ để thực hiện cuốn sách này.

Tác giả

Tháng Năm năm 1986

Do đâu mà CON ĐƯỜNG TƠ LỤA có sức hấp dẫn
như vậy? Tác giả sẽ cho chúng ta thấy cuộc tìm tòi thám
hiểm này thích thú vô cùng. ChỈ nói đến phong cảnh thiên
nhiên thôi nào núi non, sông ngòi, sa mạc, thảo nguyên -
chúng luôn biến hóa, cái bao la khoáng đạt là nét đặc sắc
của chúng. Nhưng còn núi cao, vực sâu hoặc trong lòng sa
mạc thì cảnh sắc kỳ ảo, rực rỡ, tráng lệ khiến người ta
không ngớt thán phục.

Cuốn sách giúp chúng ta có cảm tường như dược xem
những bức tranh sơn dầu cổ điển vậy, đâu đó là những tòa
cổ thành, những thạch động, chúng lóe lên ánh sáng ngọc
ngà thần bí của một thời. Theo dấu chân thám hiểm của cổ
nhân, tác giả cho rằng ngày xưa việc khai thông giao lưu
văn hóa giữa Trung Quốc và phương Tây của những người
này là những cống hiến đáng khâm phục.

Cuốn sách CON ĐƯỜNG TƠ LỤA là tập du ký đã
được đăng trên báo “Nhân dân Trung Quốc”, bằng tiếng
Nhật từ tháng 1 -1 979 đến tháng 2-1981. Sau đó Nhà xuất
bản “Tiểu học quán” ở Đông Kinh - Nhật Bản xuất bản,
tiếp đó là Nhà xuất bản Văn nghệ thượng Hải xuất bản, sau
tiếp là phân cục xuất Hồng Kông “Tam liêm Thư Điếm”
xuất bản bằng tiếng Hoa. Nay Nhà xuất bản Trẻ xin trân
trọng giới thiệu cùng bạn đọc cuốn sách đầy hấp dẫn này.



Mục lục
1. Những tưởng tượng trước khi lên đuờng 1

Những liên tưởng hứng khởi từ bức “mã đạp phi yến” . 1
Nhịp cầu liên kết giữa sông hoàng hà và địa trung hải . 2
Bà tổ nghề nuôi tằm và áo lụa của phụ nữ la mã........... 4
Những nhà thám hiểm vô danh và hữu danh................. 6
Ngựa tốt và đôi chim ..................................................... 9
Mùa dưa hấu bội thu đưa đẩy câu chuyện ................... 10
Trên đuờng truờng chinh mới...................................... 12

2. Tây an - nơi xuất phát điểm của con
đường tơ lụa..................................................14

Đồ dệt cổ lão................................................................ 15
Lạc đà và người dắt lạc đà ........................................... 18
Thập phạt xích và ngựa ba tư ...................................... 20
Thập tự giá và văn bản chữ balabat ............................. 23
Sáu mươi mốt vị khách nhà vua và loài chim huyền thoại
..................................................................................... 26

3. Trường an cổ đại, thủ đô có tính quốc tế
........................................................................31

Diện tích tây an ngày nay vượt quá trường an thời thịnh
đường ........................................................................... 31
Cung vị ương đời hán trên vũ đài lịch sử .................... 33
Một kinh thành được quy hoạch chu đáo nhất ............ 37

Những kiến trúc hoa lệ đời đường............................... 39
Cảm khái khi lên “nhạn tháp”...................................... 41
Đô hội giao lưu quốc tế phồn thịnh, tấp nập ............... 43

4. Hang đá ở mạch tích sơn .........................49

Cứ ngỡ đây là công viên quốc gia ............................... 51
Một trung tâm điêu khắc lớn của phuơng đông........... 53
Mỉm cười giống nàng mona lisa .................................. 54
Sự tạo ra nước phật và sự đồng tình của nhân dân ...... 56
Lịch sử của một câu chuyện ai oán.............................. 58
Chuyện trò với cô công nhân thủ công nghệ ............... 61

5. Vượt sông hoàng hà .................................64

Nơi nước sông hoàng hà đảo dòng .............................. 65
Thiên hạ đệ nhất kiều................................................... 67
Manđala và múa ấn độ................................................. 69
Bến đò bị bỏ quên ........................................................ 71
Lan châu là một bến đò chăng? ................................... 74
Rừng rậm nguyên thủy ................................................ 78

6. Đi dọc hành lang hà tây ...........................83

Quái thạch ở dãy kỳ liên.............................................. 83
Sự lui tới của các cao tăng xứ tăng vực ....................... 87
Đồng cỏ và sông băng ................................................. 91
Sa mạc và cổ lũy .......................................................... 95

7. Cửa khẩu kỳ liên và chân núi yên chi ....99

Lộ trình tuần du tây vực của vua tùy dạng đế ............. 99
Cửa khẩu đầy gió tuyết .............................................. 101
Hội chợ thời cổ đại .................................................... 102
Dấu tích tây chinh của hoắc khứ bệnh....................... 105
Ngựa lai tạo luôn luôn là ngựa tráng kiện ................ 108

8. Từ bờ sông hắc thủy đến gia dụ quan..113

Cố hương của người hồ phải thiên di về hà tây......... 113
Lái buôn tây vực tại tửu tuyền................................... 116
Lầu trống và suối rượu .............................................. 119
Cuộc sống của một ngàn năm trăm năm trước tái hiện
................................................................................... 122

9. Tam quan hành ......................................128

Gia dụ quan - ngọc môn quan - dương quan ............. 128
Thiên hạ đệ nhất hùng quan....................................... 128
Trường thành thời nhà hán ........................................ 130
Đường cao tốc trên sa mạc ........................................ 131
Đô hội thịnh vuợng thời cổ đại.................................. 134
Xuân phong dĩ độ ngọc môn quan............................. 135
Câu chuyện về lửa hiệu.............................................. 139
Lục châu bên bãi hoang ............................................. 141
Dương quan - bãi “đồ cổ”......................................... 143

9a. Hang động ở mạc cao và con đường tơ
lụa.................................................................146

Lần thứ hai đi thăm hang động mạc cao.................... 146
Những tấm thảm ba tư rực rỡ .................................... 148
Hang động số một trong số hàng ngàn động phật ..... 150
Khách thương qua cầu, khách thương gặp kẻ cướp . 152
Bài ca khải hoàn của đoàn quân chiếm lại đất đai đã mất
................................................................................... 153
Truyền thông dân tộc và ảnh hưởng ngoại lai ........... 155

10. Tìm hiểu tuyến bắc thiên sơn của con
đường cổ đại................................................160

Ghi chép về chặng đường gian khổ mà huyền trang đã đi
qua.............................................................................. 160
Tìm kiếm con đường xưa qua ải ngọc môn ............... 161
Cổ thành y ngô đời đuờng tại nơi nào? ..................... 164
Hai lần chiến dịch của hai đời hán - đường............... 166
Đi trong tuyết vượt thiên sơn..................................... 169
Một đoạn đường xưa sớm bị chôn vùi....................... 173

11. Từ sông mộc lũy đến mục trường thiên
sơn ................................................................ 178

Một con đường xưa vào đời nhà đường .................... 178
Đường lạc đà.............................................................. 179
Tiền nhật bản tiền ả rập ............................................. 181
Mật ong, hoa houblon ............................................... 185
Sự tích về cổ thành .................................................... 187
Cảnh đẹp trên mục trường vào mùa hạ...................... 189

Hội diễn âm nhạc trên đồng cỏ.................................. 191

12. Hai thủ phủ xưa và nay - jimusar và
urumqi .........................................................193

Thi nhân ngâm vịnh cổ thành nơi biên tái ................. 193
Cuộc đấu tranh thông nhất tây vực hơn 1300 năm trước
................................................................................... 196
Mục trường xinh đẹp - thủ phủ của khu tự trị ........... 199
Du lịch trên không bay qua con đường tơ lụa ........... 201
“ba trát” và quang cảnh phố phường ......................... 202
Cơn sốt về con đường tơ lụa...................................... 204
Bản khắc đá và giấy thông hành................................ 206
Tơ lụa ngày xưa khiến người ta phải lóa mắt ............ 209

13. Từ sông manas đến hồ tarim ..............213

Đồn điền thời cổ đại - bắt đầu và kết thúc................. 214
Thành bạch dương ở gôbi .......................................... 217
Sự tích về hồ tarim..................................................... 220
Ngày hội của mục trường .......................................... 222

14. Sông y lê (1)...........................................225

Quả tử câu thơm lừng ................................................ 225
Nhà dân và vườn cây ăn quả...................................... 227
Trạm vận chuyển tơ lụa thời cổ đại ........................... 229
Những ngôi mộ ở ô tôn và ngựa ô tôn....................... 231
Công chúa nhà hán làm dâu xứ ô tôn ........................ 232

Nhạn đã định cư trên thảo nguyên............................. 235
Lời tiên đoán của lâm tắc từ ...................................... 237

15. Hỏa châu - tolophan.............................241

Huyền trang tuyệt thực ba ngày................................. 242
Cổ thành cao xương rộng hai triệu mét vuông .......... 243
Cổ thành tại một khu đất cao trên đảo ....................... 245
Người hán lập ra bốn nước cao xương ...................... 246
Hơn một trăm ngôi mộ cổ.......................................... 249
“tây du ký” miêu tả núi lửa ở tậy vực........................ 252
Thế giới màu xanh làm mê lòng người..................... 255
Nguồn gốc của cây nho ............................................. 257
Hang động - dấu tích của phật giáo du nhập vào phuơng
đông ........................................................................... 258

16. Từ lòng chảo tolophan đến lòng chảo
tarim ............................................................261

Kho gió ...................................................................... 261
“khảm nhi tỉnh” và mương nước ngầm ..................... 262
Lễ tiết sau ngày ăn chay ............................................ 264
Tổ tiên của người uygur ........................................... 266
Người hồi hột thiên di về miền tây ............................ 269
Có hai con đương đến lòng chảo tarim...................... 270
Đường sắt qua thiên sơn ............................................ 272
Leo lên đỉnh núi cao 3200 mét .................................. 274

Xuống bình nguyên yên kỳ ở phía nam..................... 276

17. Từ hồ bosten đến sông khổng tước.....279

Cá, chim, xạ thử, chuột, lau sậy … của hồ ................ 279
Mặt tượng phật ở tây vực........................................... 282

Thiên môn quan và núi công chúa............................ 284
Vô hoa quả hương lê.................................................. 287
Máu thiếu nữ thấm rễ cây hương lê........................... 289
Những người đi trên con đường tơ lụa cổ đại .......... 292

18. Từ korla đến khố xa.............................296

Nước ô lũy cổ đại ở chốn nào? .................................. 296
Trung tâm chính trị nhà hán tại tây vực..................... 298
Đêm ngủ tại “nghinh tân quán” của an tây đô hộ phủ đời
đường ......................................................................... 299
Cao tăng và nhạc sư................................................... 301
Giai thoại dân gian lưu truyền ở tây vực ................... 303
Hai vị danh tướng nguời thiểu số .............................. 304
Phong hỏa đài “nhi nữ lưu hạ” .................................. 306
Trung tâm phật giáo bên hai bờ sông đối xứng ......... 308
Cảnh đẹp và truyền thuyết ......................................... 310
Không uổng công cho một chuyến đi........................ 312

19. Từ thiên phật động ở khắc tư nhĩ đến
sông korla....................................................315

Chùa hang động sớm nhất ở tây bộ trung quốc ......... 315

Bồ tát soi đuốc dẫn đường cho khách thuơng trên con
đuờng tơ lụa ............................................................... 317

Hang động đuợc kiến tạo sớm hơn ở đôn hoàng ....... 320

Công chúa ấn độ, âm nhạc quy tư, điệu múa xoay của
người hồ … ................................................................ 320

Tạm thời cáo biệt huyền trang ................................... 323

Cây hồ đào xứ tây vực đuợc đưa vào nội địa ............ 326

Đi trong sa mạc gôbi một bước chân cũng khó ........ 327

Sơn thành cổ đại có ba vòng tường thành ................. 329

Văn tự cổ tây vực, sáo khương, hạt bông đời đường. 331

20. Hai tuyến đuờng vuợt núi thông lĩnh.334

Tiển bạc ba tư đào được nhiều nhất ở trung quốc ... 336

Dừng chân trên đường biên giới xa nhất ở tây bộ
trung quốc ................................................................. 339

Trạm đầu tiên nghệ thuật phật giáo truyền vào
trung quốc ................................................................. 341

Truyền thuyết về thành lũy công chúa ...................... 344

Con đường xưa thông vãng kashmir ........................ 346

21. Thành phố nơi cực tây của trung quốc -
ca thập .........................................................349

Ca thập, thành phố phía tây đối diện với đôn hoàng, thành
phố phía đông ............................................................ 349

Mộ hương nằm trong đám cây rợp bóng ................... 352

Trong mộ hương phi không có di thể huơng phi....... 355

Cuối cùng hương phi được chôn cất ở nơi nào?........ 357
Một trong những trung tâm hồi giáo ở phương đông cổ
đại .............................................................................. 360
Di chỉ cổ thành đời đường ......................................... 362
Vén tấm khăn che mặt của cô dâu ............................. 364

22. Từ ca thập đến hòa điền ......................368

Mũ hoa, nhạc cụ, dao cạo và các đặc sản khác.......... 368
Chỉ đứng nhìn dòng sông mà than............................. 371
Đêm nghỉ ngoài trời trên con đường tơ lụa cổ đại..... 374
Khu phố lều trại của công nhân dầu mỏ .................... 377
Quốc gia cổ đại xưng hùng ở tuyến nam của con đường
tơ lụa .......................................................................... 380
Đi thăm di chỉ cố đô của vu điền ............................... 382

23. Hòa điền - quê hương của ngọc quý...386

Ngọc đẹp ở ngoài ải ngọc môn .................................. 386
Dưới sông vớt ngọc ................................................... 387
Những ghi chép về việc khai thác ngọc của 3000 năm
trước........................................................................... 390
Sự tích về long nữ...................................................... 392
Trung tâm nghề tơ lụa trên tuyến nam của con đuờng tơ
lụa .............................................................................. 395
Những điệu múa của người hồ .................................. 399

24. Cổ thành bị chôn vùi trong sa mạc ....402

Văn vật mới được phát hiện trong sa mạc ................. 402

Chợ phiên và cư dân ở vu điền .................................. 405
Bữa tiệc nhân ngày quốc khánh................................. 407
Di chỉ ni nhã .............................................................. 410

Hành lang xanh .......................................................... 412
Mục trường và trạm khí tượng trong sa mạc ............. 415
Nỗi sợ và niềm vui khi cưỡi lạc đà ............................ 416
Thành lũy hình tròn đời đường.................................. 418

25. Kết thúc một vòng quang đại sa mạc .422

Gặp nạn trong sa mạc ................................................ 423
Đường cái xuyên sa mạc............................................ 425
Những cô gái tóc vàng trên sa mạc rừng hồ dương... 428
“sa mạc minh chu” - rừng trồng bao quanh thả mạt.. 430
Trạm hàng không đơn sơ của huyện thả mạt............. 432
Nước lâu lan cổ đại bị chôn vùi trong sa mạc ........... 435
Cố đô nước lâu lan tại nơi nào? ................................. 438
Kết thúc cuộc du hành quanh sa mạc taklamacan .... 439

1. NHỮNG TƯỞNG TƯỢNG TRƯỚC KHI
LÊN ĐUỜNG

Trên lưng chừng tường cạnh bàn làm việc của tôi có
treo 1 một bức ảnh màu, đó là “Mã đạp phi yến”. Đêm
khuya, nhàn nhã ngồi đọc sách, ngước đầu nhìn cảnh con
tuấn mã trong tư thế dũng mãnh như đang muốn bay, khiến
trong lòng tôi dấy lên biết bao nhiêu là điều tưởng tượng
về con đường tơ lụa cổ đại.

NHỮNG LIÊN TƯỞNG HỨNG KHỞI TỪ BỨC “MÃ
ĐẠP PHI YẾN”

“Mã đạp phi yến” là một pho tượng bằng đồng được
khai quật trong một ngôi mộ cổ thời Đông Hán ở huyện Vũ
Uy, tỉnh Cam Túc vào năm 1969. Ba chân của con tuấn mã
vươn lên không trung nên có người gọi là “Thiên mã long
tước”, còn một chân đạp đất lấy đà như muốn bay vút lên
không với cái thế nhảy mà như bay. Đó là một kiệt tác có
cấu tứ đặc sắc của một nhà nghệ thuật vô danh nào đó cách
nay đã hơn 1700 năm, đã từng đem triển lãm tại Luân Đôn,
Paris, New York … và đã vang danh trên trường quốc tế.
Nhiều nước đã in lại một cách tinh mỹ bằng tranh ảnh bức
“Mã đạp phi yến” ấy.

Bức treo ở tường nhà tôi do một người bạn Canada in
lại và tặng cho tôi. Anh muốn giống như thật nên lấy
nguyên tác phóng to gấp đôi, bức ảnh trông rất khí thế.

Vì sao bức cảnh “Mã đạp phi yến” lại dẫn tôi đến
những tưởng tượng về con đường tơ lụa? Con ngựa đang
bôn tẩu này tất phải chạy qua huyện Vũ Uy trên con đường
tơ lụa, nơi nó đã được khai quật, hình dáng dũng mãnh
giống như những tuấn mã xứ Ô Tôn ở Tây Vực (Ô Tôn
ngày nay là dải đất thuộc lưu vực sông Y Lê, Bắc Thiên

1

Sơn). Niên đại sáng tác của tác phẩm này lại là sau khi nhà
thám hiểm Trương Khiên đời Tây Hán (164 - 114 trước
Công nguyên) mở đường sang Tây Vực khai thông con
đường trọng yếu giao lưu Đông Tây vào thế kỷ thứ hai
trước Công nguyên. Sau khi con đường tơ lụa thông
thương, ngựa tốt xứ Tây Vực, bao gồm Nam Bắc dãy Thiên
Sơn, Đông Tây núi Thông Lĩnh, được đưa vào Trung
Nguyên, tuấn mã Ô Tôn có thể là động lực khiến nhà nghệ
thuật vô danh nào đó lấy làm đề tài sáng tác.

Biết rõ ngựa xứ Ô Tôn, trước mắt tôi thường bồng bềnh
một số cảnh tượng huyền ảo. Không gian thăm thẳm, từng
đàn hồng nhạn tung cánh cao bay, mặt đất là biển cát vàng
xa hút tầm mắt, trên cánh đồng khoáng đạt, tai nghe tiếng
chuông vang vọng. Bước theo tiếng chuông ấy là đoàn
thương nhân ngất ngưởng trên những con lạc đà chở đầy tơ
lụa chầm chậm tiến về phía tây. Trên đường đất bằng phẳng
bỗng nổi lên một trận bụi mù. Tiếng chân rậm rịch khắp
nơi, một đàn tuấn mã hùng hổ chạy tới, cao đầu sải chân,
ào ào hướng về đông phi nước đại. Như thế đó, tôi thường
tưởng tượng ra cảnh tượng ấy trên con đường tơ lụa cổ xưa
ngày nào. Tơ lụa đáng giá thì chở lên phía tây, tuấn mã tốt
giống thì đưa về phía đông. Lấy tơ đổi ngựa. Việc trao đổi,
mậu dịch hàng loạt trên con đường giao thương xuyên
Đông Tây của thời cổ đại có thể đã xảy ra như thế.

NHỊP CẦU LIÊN KẾT GIỮA SÔNG HOÀNG HÀ
VÀ ĐỊA TRUNG HẢI

Trước khi chưa có đường biển giao thông giữa phương
Đông và phương Tây, thì con đường tơ lụa từ thế kỷ thứ II
trước Công nguyên đến thế kỷ thứ VIII, thứ IX Công
nguyên là sự liên kết giữa Trung Quốc và Trung Á, Tây Á

2

và thẳng đến một phần đại lục thuộc bờ đông Địa Trung
Hải.

Lộ tuyến của con đường tơ lụa đi theo những hướng
nào? Trên bản đồ ngày nay, người ta lấy thành phố Tây An
thuộc tỉnh Thiểm Tây làm xuất phát điểm, theo hướng tây
đi xuyên một dải đất dài và hẹp thuộc tỉnh Cam Túc qua
hang động Mạc Cao nổi tiếng ở Đôn Hoàng, ra khỏi Ngọc
Môn quan và Dương quan đến khu tự trị Tân Cương thuộc
tộc người Uygur; sau đó men theo tuyến bắc và tuyến nam
ven sa mạc Taklamacan để phân thành hai đường rồi hội
họp ở cao nguyên Pamia, vượt ra khỏi biên giới Trung
Quốc sẽ vào khu vực Trung Á, Tây Á và thẳng đến bờ đông
Địa Trung Hải. Sau khi ra khỏi Ngọc Môn quan, lại còn
thêm một con đường ở phía bắc, men theo Ha Mật, Jimuzar
(Cát mộc tát nhỉ) đi về hướng tây, qua sông Y Lê, sông Sở
Hà rồi theo hướng tây vượt qua Hàm Hải, Lý Hải thì đến
thành lũy Constantinople bên bờ Hắc Hải.

Sau khi ra khỏi Đôn Hoàng, con đường tơ lụa có thể
phân làm ba tuyến. Tuyến nam, tuyến giữa và tuyến bắc.
Tuyến nam thì theo Dương Quan (nay là phía tây nam Đôn
Hoàng), men theo bờ nam của sa mạc Taklamacan, qua các
xứ Thiên Thiện (nay là phía đông Nhược Khuông), Thả
Mạt (nay là phía tây nam Thả Mạt), Tinh Tuyệt (nay ở phía
bắc Dân Phong), Đả Nhĩ (nay ở phía đông Vu Điền), Vu
Điền (nay là phía nam Hòa Điền), Bì Sơn (nay là dãy Bì
Sơn), Sa Xa (nay là Sa ra); sau đó vượt cao nguyên Pamia,
qua Đại Nguyệt Thị (nay thuộc trung bộ lưu vực sông A
Mẫu), rồi lại đi về hướng tây để đến An Tức (nay là Iran).

Tuyến giữa thì ra khỏi Ngọc Môn quan (nay là phía tây
bắc Đôn Hoàng, đi về phía tây, qua Xa sư Tiền vương đình
(nay ở phía tây Tolophan), rồi theo hướng tây nam qua Yên
Kỳ (nay là Yên Kỳ), Ô Lũy (nay ở phía tây Luân Đài), Quy

3

Tư (nay là phía đông Khố Xa), Cô Hắc (nay là Ôn Túc), Sơ
Lặc (nay là Ca Thập), rồi vượt cao nguyên Pamia đến Đại
Oản (nay là Fergana thuộc Nga) để đi đến An Tức (nay là

Iran).

Tuyến Bắc thì ra khỏi Ngọc Môn quan đi về hướng tây
bắc, qua Y Ngô (nay là phía tây Ha Mật), qua biển Bồ Loại
(nay là hồ Barkol), qua Xa sư Hậu vương đình (nay là Đông
nam lòng chảo Chuẩn hát nhỉ) rồi theo hướng tây qua sông
Y Lê, sông Sở Hà qua Toái Diệp (nay là vùng phụ cận
Tokmak thuộc Nga), tiếp tục theo hướng tây bắc men theo
bờ bắc Hàm Hải và Lý Hải để đến phía đông thành
Constantinople của đế quốc La Mã.

Tuyến nam và tuyến giữa của con đường tơ lụa nói trên
là do thời Tây Hán và Đông Hán khai thông. Bấy giờ, để
tránh dân du mục Hung Nô ở phương bắc quấy nhiễu, các
đội lái buôn dùng con đường vượt qua phía tây dãy
Thông Lĩnh để đến Trung Á là con đường tốt nhất. Còn
nếu sau khi ra khỏi Đôn Hoàng đối diện với đại sa mạc
Taklamacan thiếu cỏ, thiếu nước thì tất nhiên họ phải men
theo bờ nam hoặc bờ bắc của đại sa mạc để đi tới, do đó mà
tự nhiên hình thành hai con đường nói trên.

BÀ TỔ NGHỀ NUÔI TẰM VÀ ÁO LỤA CỦA PHỤ
NỮ LA MÃ

Tôi đã có ý định đi tìm hiểu con đường cổ đại này từ
lâu. Những năm năm mươi tôi đã từng vượt qua dãi hành
lang Hà Tây và cũng đã qua đến bờ đông Địa Trung Hải,
nhưng chưa từng đi qua các vùng Nam Bắc Thiên Sơn với
nhiều cảnh sắc khác nhau, và cũng chưa có cơ hội đến nơi
xuất phát thuộc cố đô Tây An để đi lại trên con đường tơ
lụa tận tình phỏng cổ vấn kim rồi thẳng đến vùng núi tuyết
trên cao nguyên Pamia. Rảnh việc, tôi đọc sách lịch sử, địa

4

lý văn hiến xưa nay; trước hết tôi cảm thấy một vấn đề gây
hứng thú nhiều nhất đó là lịch sử khai mở con đường tơ lụa.
Vậy con đường ấy được phát minh từ bao giờ và đi đến
phương Tây từ lúc nào?

Nuôi tằm dệt tơ được phát sinh từ rất sớm ở Trung
Quốc. Ngày xưa đã có truyền thống hoàng hậu Luy Tổ thời
Hoàng Đế đã từng nuôi tằm dệt tơ. Truyền thuyết vẫn chưa
có gì làm bằng chứng. Điều đáng nói ở đây là sự lao động
của các nhà khảo cổ học Trung Quốc, họ đã đào được một
số văn vật chỉ ra rằng nghề tơ lụa ở Trung Quốc phát triển
từ rất sớm. Tại làng Tây Âm, huyện Hạ, tỉnh Sơn Tây, di
chỉ thời tân thạch khí (đồ đá mới) đã phát hiện những tàn
tích của các xác kén. Vào thời xa xưa tổ tiên người Trung
Quốc cư trú trên lưu vực sông Hoàng Hà có thể đã biết nghề
trồng đâu nuôi tằm. Nhưng văn vật khai quật được còn
cung cấp cho ta những hình ảnh rất chân thực về những con
tằm bằng ngọc vào các đời Ân, Thương. Giáp cốt văn đời
nhà Thương đã có hình tượng văn tự của dâu tằm và tơ.
Theo tàn tích của các đồ dùng bằng đồng hay binh khí chôn
theo người chết, người ta đã dùng tơ lụa bọc chúng lại, điều
đó cho thấy người đương thời đã biết cách dệt sợi đạt trình
độ tương đối cao.

Văn bản ghi chép đầy đủ về việc tơ lụa Trung Quốc
truyền đến phương Tây thì có nhà học giả người Ý tên là
Gaius Pliny The Elder (Năm 27-79 CN) có cuốn “Bác Vật
Chí” (Natural History). Ông viết: “Tại Seres (chỉ Trung
Quốc), “Rừng sanh sản ra tơ nổi danh trong nước. Tơ được
sinh ra ở lá cây, người ta nhặt xuống dùng nước ngâm ướt
rồi kẻo thành sợi, sau đó dệt thành tấm lụa chở đến bán tận
La Mã. Phụ nữ quý tộc giàu có mua về may thành y phục”.

Việc ông Gaius Pliny cho là “Tơ được sinh ra ở lá cây”
đương nhiên là nghe nói mà hiểu sai, nhưng việc ghi lại tơ

5

lụa Trung Quốc được vận chuyển đến La Mã và phụ nữ ở
đó yêu thích là điều có thể tin được.

Văn bản ghi chép về tơ lụa Trung Quốc truyền sang
Ấn Độ chắc chắn là sớm hơn. Trước Công nguyên, khoảng
năm 320-315, khi vua Candragupta. tại vị, quan đại thần
Chanakya đã viết cuốn “Chính luận” (Athasatra) có ghi: thế
kỷ thứ IV trước CN tơ lụa Cina (chỉ Trung Quốc) đã đem
bán ở Ấn Độ. Rất có thể từ “China” do chuyển âm của chữ
“Tần” (âm Hán đọc là ‘qin’) mà đến nay người Âu Mỹ vẫn
gọi Trung Quốc là China.

Người Âu châu thời cổ đại gọi Trung Quốc là “Seres”.
Seres là một từ Hy Lạp có nghĩa là tơ tằm. Người Hy Lạp
đầu tiên dùng Sere để ghi chép những sự kiện liên quan đến
Trung Quốc tên là Ctesias vào khoảng năm 400 trước CN.
Điều đó cho thấy khoảng thế kỷ thứ III trước CN người
châu Âu đã nhìn thấy tơ lụa của người Trung Quốc và
không ngớt tán thưởng rồi gọi Trung Quốc là nước của tơ
tằm (Tơ Quốc).

Tơ tằm và sản phẩm dệt ra từ tơ lụa ở Trung Quốc đã
có từ rất sớm, khoảng thế kỷ thứ III, IV trước CN, tức thời
Chiến quốc và đã trở thành đặc sản nổi tiếng thế giới. Sau
khi có đường thông vãng Tây Vực, người Hán và các nước
Trung Á giao thương ngày càng tiện lợi, việc chuyển vận
xuất khẩu tơ lụa ngày càng tăng trưởng.

NHỮNG NHÀ THÁM HIỂM VÔ DANH VÀ HỮU

DANH

Tôi thường nghĩ làm sao người ta có thể khai phá con
đường tơ lụa để trở thành con đường huyết mạch thông
thương Đông Tây vào thời cổ đại xa xưa ấy? Lúc bấy giờ
lại

6

chưa có kiến thiết công lộ; đường chẳng qua là đo con
người đi lại lâu ngày mà thành. Con đường tơ lụa dài dằng
dặc kia mà phần lớn lộ trình phải qua sa mạc, thảo nguyên,
núi cao hiểm trở hoàn toàn do người dắt lạc đà hay cười
ngựa đi lại để tạo nên. Không biết ban nhiêu người Hán,
người thiểu số Tây Vực và người Trung Á, Tây Á vào thời
cổ đại đã thám hiểm từng đoạn đường, sau đó liên kết
chúng lại với nhau và cuối cùng tạo thành một con đường
vĩ đại giao thông huyết mạc xuyên ngang Đông Tây dài ước
chừng hơn 7000 cây số. Họ rất đáng được tôn xưng là
những anh hùng vô danh. Tiếc thay, tên tuổi của họ không
hề thấy trong sử sách. Đối với tôi, mỗi lần đến viện bảo
tàng nhìn những tượng người dắt lạc đà hay dắt ngựa, tự
nhiên lòng tôi lại dấy lên niềm sùng kính vô biên.

Nói về tác dụng của con đường tơ lụa thời cổ đại thông
thương với Tây Vực do Trương Khiên đời Tây Hán khai
phá, các sử gia trong và ngoài nước đánh giá rất cao, họ
cho rằng chính Trương Khiên đã bước đầu xúc tiến việc
giao lưu kinh tế, văn hóa giữa Đông và Tây rất có ích cho
sự tiến bộ của loài người.

Từ đời Thương, Chu trở đi, dân du mục Hung Nô ở
phương Bắc cùng với người Hán định cư ở lưu vực sông
Hoàng Hà lấy nông nghiệp làm chính đã trở nên mâu thuẫn
kịch liệt. Đến đời nhà Hán, tập đoàn quân sự chủ nô của
Hung Nô nhiều lần sang quấy nhiễu Trung Nguyên, họ bắt
người, cướp gia súc, phá hoại hoa màu.

Hán Vũ Đế nghe nói tại dãy núi Kỳ Liên gần Đôn
Hoàng có bộ tộc Đại Nguyệt thị cư trú, bị người Hung Nô
đánh đuổi đến phía tây núi Thông Lĩnh thuộc lưu vực sông
A Mẫu, và trở thành cừu địch, nhà vua quyết định cử sứ giả
đến đó và ước hẹn với người Đại Nguyệt thị giáp kích Hung
Nô. Trương Khiên đứng lên ứng chiến. Năm 138 trước CN,

7

ông suất lĩnh hơn 100 người ra đi. Giữa đường ông bị người
Hung Nô bắt giam đến hơn 10 năm. Ông cưới vợ sinh con,
nhưng quyết tâm hoàn thành sứ mạng không đổi. Về sau,
ông đào thoát, giong ruổi về phía tây để đến Đại Nguyệt
thị. Nhưng bấy giờ, người Đại Nguyệt thị đã định cư ở lưu
vực sông A Mẫu, thay đổi cuộc sống du mục bằng sản xuất
nông nghiệp, không muốn xuống phía đông nữa. Trương
Khiên ở lại Đại Nguyệt thị hơn một năm thì trở Về Trung
Nguyên, nhưng giữa đường lại bị người Hung Nô bắt giam
hơn một năm nữa. Sau đó, ông lại trốn thoát, mãi đến năm
126 mới về đến Trường An (nay là Tây An.).

Lần thứ nhất Trương Khiên đi sứ Tây Vực trước sau
hơn 30 năm, khi đi suất lĩnh hơn 100 người, khi về chỉ còn
được hai người. Cuộc thám hiểm lần này thật xui xẻo. Tuy
không hoàn thành sứ mệnh như đã định, song ông đã gặt
hái nhiều hiểu biết về lịch sử, địa lý, kinh tế của các nước
ở Tây Vức, và phần nào nắm được tình hình các nước khác
như Ba Tư, Điền Chi (Ả Rập), Lê Hiên (Đông La Mã).

Lần thứ hai, vào năm 119 trước CN, Trương Khiên
suất lĩnh hơn 300 người theo hướng tây xuất phát. Đội thám
hiểm này mỗi người chuẩn bị sẵn hai con ngựa, một vạn
con bò và dê, rồi phải mang theo một số lớn vật phẩm, vải
vóc, tiền bạc đến Tây Vực liên hệ.

Hai lần đi sứ Tây Vực, Trương Khiên đều theo lộ trình
đầy gian nan hiểm trở của đoạn đường phía đông con
đường tơ lụa. Từ đó, khoảng đường dài dằng dặc giữa lưu
vực sông Hoàng Hà và khu vữc Địa Trung Hải đã xuyên
suốt thành một con đường lớn vào thời cổ đại. Về sau, các
vua nhà Hán không ngừng phái sứ giả đi Tây Vực. Các
nước Iran, Irak, Ấn Độ, Pakistan … đều có dấu chân của
các sứ giả nhà Hán, lâu thì 8, 9 năm; mau thì 3,5 mới triệu
hồi. Sứ giả nhà Hán Vũ Đế đến Ba Tư, quốc vương nước

8

này phái hai vạn kỵ binh đi nghênh đón vào đến kinh đô.
Dọc đường dân chúng đổ ra nhìn xem rất vui vẻ, náo nhiệt.
Trong khi đó, sứ giả, lái buôn của các dân tộc Tây Vực và
các nước khác cũng ùn ùn kếo đến. Trên con đường tơ lụa
hiện ra cảnh phồn thịnh chưa hề thấy xưa nay.

Năm 60 trước CN, triều đình phong kiến nhà Hán bắt
đầu thay thế sự thống trị của chế độ chủ nô Hung Nô ở Tây
Vực, chọn Ô Lũy (nay là huyện Luân Đài, tỉnh Tân Cương)
làm trung tâm thiết lập Tây Vực đô hộ phủ đại diện cho
vương triều hành xử chủ quyền quốc gia từ hồ Balkash đến
phía đông cao nguyên Pamia. Từ đó, sự thông thương của
con đường tơ luạ được bảo đảm an toàn. Từ đời Tây Hán
đến Tùy Đường, con đường này dù nhiều phen bị trắc trở,
song xét về cả giai đoạn lịch sử ấy thì nó là cầu nối huyết
mạch có tác dụng thông thương Đông Tây về văn hóa và
kinh tế.

NGỰA TỐT VÀ ĐÔI CHIM

Trên con đường tơ lụa đã để lại nhiều di chỉ văn vật cổ
rực rỡ muôn màu muôn vẻ. Nhiều tranh bích họa và tượng
điêu khắc ở Đôn Hoàng đã sớm vang danh xa gần, nhiều
người tự nhủ phải chính mắt mình trông thấy mới là điều
thích thú của cuộc đời. Mấy năm gần đây, trên con đường
này, người ta đã khai quật không ít những đồ ngọc quý, nó
không chỉ làm phong phú kho báu nghệ thuật của nhân loại
mà còn làm giàu thêm kiến thức của con người. Tôi đi du
lịch trên con đường tơ lụa cổ với nguyện vọng tha thiết là
học hỏi nhiều điều bổ ích từ các di chỉ văn vật được phát
hiện trên con đường này. Phần trước, tôi có nói đến đặc
điểm của ngựa xứ Ô Tôn và nay tôi lại suy nghĩ thêm, vì
sao vua Hán Vũ Đế phái sứ giả đến Tây Vực tìm mua ngựa,
thậm chí không hối tiếc gì đến sự biến động can qua? Lẽ

9

nào chỉ vì mê những nét đặc thù của các giống ngựa như
“thiên mã”, “hãn huyết mã”, “Tây Vực mã” của các bậc đế
vương thời phong kiến? Tôi e rằng không đúng lắm, ắt hẳn
phải có nguyên nhân nào khác.

Tôi còn nhớ mấy năm trước, một người bạn của tôi từ
Tân Cương đến có đưa cho tôi xem một tấm hình chụp đồ
dệt gấm đời Đường gồm ba màu hồng - vàng - trắng xen kẽ
nhau tạo thành mẫu hoa văn rất đẹp khai quật được ở
Tolophan. Nhìn kỹ, trên tấm dệt gấm ấy có một đôi chim
trông rất sống động. Cần đặc biệt chú ý đó là phong cách
của hoa văn. Đôi chim đứng đối nhau, chung quanh là vòng
dây bằng ngọc. Bức hoa văn ấy có tên là Liên chu đối điểu
hoàn toàn thuộc phong cách cổ Ba Tư thời vương triều
Tashan. Mẫu dệt ấy cũng khiến tôi suy nghĩ, mẫu hoa văn
Ba Tư xuất hiện ở dọc con đường tơ lụa thì phải chăng
Trung Quốc chịu ảnh hưởng của nghệ thuật Ba Tư và đã
làm cho phong phú đa dạng thêm màu sắc các sản phẩm?
Phải chăng ngành dệt ở đời Đường có hay không có khả
năng hiểu được giá trị các thương phẩm xuất khẩu có tính
cách thời thượng của nhân dân các ngoại tộc?

Các câu hỏi trên chỉ có câu trả lời thỏa đáng khi chúng
ta trực tiếp đi thăm thú tìm hiểu con đường tơ lụa mà thôi.

MÙA DƯA HẤU BỘI THU ĐƯA ĐẨY CÂU
CHUYỆN

Mùa hè năm nay dưa hấu ở Bắc Kinh bội thu, trên bàn
ăn ngày nào cũng có. Trong bữa ăn hằng ngày, người ta đều
bàn đến hậu quả bài ngoại mù quáng của Giang Thanh, tôi
nói:

10

- Tại sao người ta lại chối bỏ những lợi ích tốt đẹp của
ngoại lai nhỉ? Thì dưa hấu cũng vốn từ Tây Vực đưa vào
nội địa đấy thôi.

Mấy đứa con tôi lấy làm lạ, hỏi:

- Vậy dưa hấu không phải do đất ở đây tự sinh tự lớn
ư?

Trong tập “Bổn thảo cương mục” của nhà y dược học
trứ danh Lý Thời Trân đời Minh có viết: “Trương Khiên đi
sứ Tây Vực đem về trồng, có tên là “Hồ qua” (Dưa của
người Hồ). Đời Tùy Đại Nghiệp năm thứ IV vì cử tên húy
nên gọi “Hồ qua” là “Hoàng qua”.

Sau khi khai thông con đường tơ lụa, tơ, trà, thuật
luyện kim, cách đào giếng được truyền sang Tây Vực; đổi
lại, Tây Vực cũng du nhập nhiều sản vật có ảnh hưởng đến
đời sống của nhân dân như nông cụ, cây ăn quả, các vật
dụng đến nay đã trở thành thứ mà hàng triệu người không
thể thiếu được, ngoài dưa hấu ra, còn có rau chân vịt, nho,
hồ đào, chi na, thạch lựu ...

Và âm nhạc, múa, hội họa, điêu khắc cũng từ Tây Vực
truyền sang, các nghệ thuật gia Trung Quốc hấp thu, tiêu
hoá làm phong phú thêm đời sống tinh thần của người
Trung Quốc.

Việc giao lưu văn hóa kinh tế trong ngoài song phương
thật là hữu ích, điều đó là một thực tế lịch sử rõ ràng rất dễ
nhận ra. Thế nhưng vào thời cận đại, Trung Quốc xuất hiện
một Từ Hy thái hậu bài ngoại mù quáng, rồi gần đây một
Giang Thanh sùng bái Từ Hy cũng hô hào bác bỏ việc du
nhập kỹ thuật tiên tiến của nước ngoài và cho là tôn sùng,
nịnh hót phương Tây. Ngày nay, để trở thành một cường
quốc hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa, chúng ta luôn luôn phải

11

phấn đấu, ôn lại lịch sử giao lưu văn hóa kinh tế trong và
ngoài nước là điều có ý nghĩa quan trọng.

TRÊN ĐUỜNG TRUỜNG CHINH MỚI

Ngoài Trương Khiên tìm đường sang Tây Vực ra, cũng
còn có một người khác xếp bút nghiên tòng quân phục vụ
tại Tây Vực lâu đến 30 năm, đó là Ban Siêu mà tất cả chúng
ta ai cũng biết. Ban Siêu là một đanh tướng đời Hán Minh
đế, đi sứ Tây Vực thu phục được năm mươi nước, ở đó đến
30 năm, sau mới có người thay cho về. Kẻ sĩ có chí thời cổ
đại không biết gọi đó là gì, còn nay ta cũng có thể gọi con
đường tơ lụa thời ấy là con đường trường chinh mới. Họ đã
đi qua sa mạc Gobi hoang vu, khô cằn, lại vượt qua những
ngọn núi tuyết quanh năm hiểm trở để khai thông và bảo
vệ con đường lớn xuyên Đông Tây trong lịch sử văn minh
của nhân loại.

Ngày nay, nhân dân Trung Quốc đang kế thừa truyền
thống trường chinh vạn dặm của các nhà cách mạng tiền
bối, vì thực hiện bốn hiện đại hóa chúng ta đang bước đi
trên con đường trường chinh mới. Tời muốn thám hiểm con
đường tơ lụa cổ, muốn tìm gặp, thăm hỏi những con người
đầy chí khí trong cuộc trường chinh mới vì tổ quốc, vì nhân
dân mà cống hiến.

Giữa thời kỳ Trung Quốc tiến hành kế hoạch 5 năm lần
thứ nhất tôi đã đi thăm hành lang Hà Tây. Lúc bấy giờ con
đường sắt từ Lan Châu đi dọc con đường tơ lụa cổ chạy đến
Tân Cương đang được thi công. Tôi đã thâm hỏi nhiều nhà
kiến thiết đường sắt đang lao động tại Gobi, rồi lại rời Ngọc
Môn quan, không quản xa xôi, tôi đi thăm những anh hùng
khai thác mỏ dầu Ngọc Môn mà sau này chính họ là những
người khai sáng mỏ dầu lớn ở Đại Khánh thuộc tỉnh Hắc

Long Giang.

12

Tôi còn nhớ, tại sa mạc Gobi, tôi có gặp đội thám hiểm
dầu khí, có một kỹ thuật viên địa chất trẻ cùng ở với tôi
trong một căn lều, bấy giờ đang đêm khuya, gió thổi mạnh
cát bay mù mịt, anh thẳng thắn nói ra lý tưởng của mình.
Giọng anh trầm trầm đầy chất lãng mạn lây sang cả tôi. Bấy
giờ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa mới thành lập,
chúng tôi đều còn trẻ cả, lòng tràn ngập niềm hưng phấn,
những ước vọng tốt đẹp về chủ nghĩa xã hội.

Hôm nay, khi chuẩn bị trở lại con đường cổ xưa ấy,
bỗng tôi lại nghĩ đến anh. Không biết anh có còn vì mỏ dầu
Klamay ở Tân Cương mà tiếp tục công tác hay không Tôi
không chắc gặp được anh, nhưng tôi vẫn tin tưởng trên con
đường tơ lụa cổ xưa ấy nhất định có thể có rất nhiều anh
hùng vô danh đang phấn đấu vì cuộc trường chinh mới của
đất nước.

Khi đang kiểm soát lại hành trang, tôi bỗng nghĩ tới
mọi điều hay đẹp từ xưa đến nay vừa có cái thật của lịch
sử, vừa có cái thú của hoang đường khiến lòng tôi không
nén nỗi niềm hưng phấn. Mọi người khuyên tôi hãy bình
tĩnh. Tôi nghĩ cũng phải. Làm một ký giả cần phải có thái
độ khoa học để bảo vệ sự thật là một điều rất cần thiết.
Trạm đầu tiên con đường lữ hành dài dằng dặc của tôi là
Trường An, đó chính là xuất phát điểm của con đường tơ
lụa cổ đại mà ngày nay là thủ phủ Tây An của tỉnh Thiểm
Tây.

13

2. TÂY AN - NƠI XUẤT PHÁT ĐIỂM
CỦA CON ĐƯỜNG TƠ LỤA

Trong một cửa hàng ở Tây An, một đoàn phụ nữ người
Âu đang vây quanh một sạp hàng bán tơ lụa chỉ trỏ cười
nói. Có người đem mấy tấm đoạn, gấm rất đẹp ướm thử lên
người rồi hỏi ý kiến các đức ông chồng đi theo, có người
vuốt ve mấy tấm lụa mềm mại miệng luôn tán thưởng. Năm
sáu phụ nữ ấy mua một lố tơ lụa, trong đó có người mua
đến 20 mét. Bà nói với người bán hàng:

- Về đến Pháp, đây là thứ quà tặng đáng giá nhất đấy!

Sự việc này khiến tôi nghĩ đến chuyện thời xa xưa. Đại
đế La Mã Cesar có lần đến nhà hát xem kịch, mình khoác
trường bào rất hoa lệ, trông thật rực rỡ khiến cho cả kịch
trường chú ý. Đám quan lại quý tộc nghe nói trường bào ấy
chính là dùng nhung đoạn của người Trung Hoa may ra,
thế là bọn họ nhao nhao bắt chước. Từ đó giá trị tơ lụa
Trung Quốc ngày một lên cao, một cân tơ là một cân vàng.
Một tác giả La Mã cổ đại có viết: “Người của nước tơ lụa
(chỉ Trung quốc) sản xuất ra lụa hoa rất đẹp. Màu sắc của
nó đẹp và giống như hoa thật, chất liệu của nó mịn như tơ
nhện”.

Khi Trương Khiên mở đường sang Tây Vực, một số
lớn tơ lụa Trung Quốc được chuyển vận đến Trung Á và
châu Âu dễ đến hơn 2000 năm lịch sử. Đến nay, tơ lụa sản
xuất ở Trung Quốc vẫn còn hấp dẫn đối với người phương
Tây. Nó là biểu tượng số một của nền văn minh cổ trong
Quốc.

Ở Tây An, tôi thấy bạn bè ngoại quốc của các nước
trên thế giới lũ lượt tới lui không ngớt, có những đoàn du
lịch, cũng có những sinh viên, những học giả đến nghiên

14

cứu lịch sử Trung Quốc. Điều gì ở cổ thành Tây An có sức
hấp dẫn ghê ghớm như vậy.

Tây An là một cuốn lịch sử để mở của Trung Quốc. Từ
các di chỉ bán canh thuộc xã hội thị tộc mẫu hệ hơn 6000
năm trước đến sự cố binh biến ở Tây An, Tưởng
Giới Thạch bị các tướng lĩnh vây bắt ở động Ly Sơn năm
1936; trong suốt thời gian ấy, các triều đại - Chu, Tần, Hán,
Đường, Minh đều để lại nhiều dấu tích văn vật cổ đại. Ví
dụ như lăng mộ Tần Thủy Hoàng có đến 6000 tượng binh
mã tùy táng bằng đất nung bày thành thế trận hào hùng
dũng mãnh trấn giữ lăng mộ. Tướng sĩ, binh lính, chiến mã
đều to lớn bằng người thật, ngựa thật. Huyệt mộ khổng lồ
ấy được phát hiện vào năm 1974. Đến nay người ta đã tu
sửa thành một khu triển lãm rộng lớn với tổng diện tích hơn
16000 mét vuông. Như vậy nó vẫn rộng lớn hơn bất cứ một
phân xưởng nào trong một công xưởng. Đem toàn bộ đồ
chôn theo. huyệt mộ Tần Thủy Hoàng ra triển lãm đã làm
cho mọi người thấy được hình ảnh trận thế của quân đội
thời cổ đại, thật đáng ca ngợi, đáng chiêm ngưỡng. Đấy chỉ
mới là một ví dụ. Nguyện vọng lớn nhất của tôi đến Tây
An là tìm tòi, thăm viếng những dấu tích văn vật cổ đại liên
quan đến con đường tơ lụa để bổ sung kiến thức lịch sử cho
mình về vấn đề thông thương Đông Tây và giao lưu văn
hóa kinh tế. Đối với tôi, Tây An là một “Sử ký”, một “Hán
thư”, một “Đường thư” sống.

ĐỒ DỆT CỔ LÃO

Bước vào viện bảo tàng lịch sử Thiểm Tây đầy hương
sắc của thời cổ đại, nhìn khắp một lượt, tôi đã bị chinh phục
bởi cái đẹp của đồ đồng đời Chu, đồ khắc đá đời Hán, đồ
dệt ba màu đời Đường ... thật khó lòng giới hạn sự chọn lựa

15

của mình vào những gì chỉ quan hệ đến con đường tơ lụa
để nghiền ngẫm xem xét.

Ở khu triển lãm đời Tùy Đường có bảy tấm lụa cũ, thời
gian tuy đã hơn 1000 năm, nhưng màu sắc vẫn còn tươi
đẹp, có màu xanh da trời, có màu hồng phấn, ... trong đó có
một tấm hoa văn dệt theo đường kỹ hà học hai màu vàng -
đà xen nhau trông rất đẹp mắt. Đằng trước bức triển lãm có
treo một tấm biển viết mấy câu thơ tách từ bài nhạc phủ
“Liêu lăng thiên” (Bài thơ dệt lụa) của Bạch Cư Dị ca ngợi
sự dụng công chăm chút của cô gái dệt lụa:

“Thiên thượng thử dạng nhân gian chức,

chức vi vân ngoại thu nhàn hành,

nhiễm tác Giang Nam xuân thảo sắc ...

Tạm dịch: Lấy mẫu từ trên trời để dệt ra cho người, dệt
thành đàn nhạn sải cánh bay trong mây xanh vào mùa thu,
nhuộm ra sắc xanh của cỏ cây hoa lá ở đất Giang nam trù

phú.

Ôi? Nhà thơ có óc tưởng tượng thật tuyệt vời.

Nhìn vào bảng thuyết minh có hàng chữ “Hiện vật khai
quật ở Tolophan”, tôi không khỏi cảm thấy nghi nghi. Lẽ
nào con đường tơ lụa xuất phát tại Tây An (tức Trường An)
mà không khai quật được sản phẩm tơ lụa?

Nhà khảo cổ học Thiểm Tây có mái tóc bạc phơ tên là
Hạ Tử Thành giải đáp mối nghi của tôi. Ông nói:

Trong các ngôi cổ mộ Hán Đường ở Tây An không
thiếu tơ lụa, nhưng có lẽ do điều kiện tự nhiên ở trong lòng
đất, các loại tơ vải chôn theo cơ hồ bị mục nát cả, thật là
đáng tiếc.

Ông còn cho tôi biết một điều quan trọng: Đó là tại
viện bảo tàng Hàm Dương đến nay người ta đã đào được

16

những tấm tơ lụa rất xưa ước chừng thế kỷ thứ III trước
CN, tức vào đời nhà Tần. Nghe thế, tội quá thích thú đến
nỗi quên hỏi ông tại sao chúng lại không bị mục nát.

Hàm Dương cách Tây An 28 cây số về phía tây bắc, là
kinh đô một thời hiển hách của nhà Tần sau khi thống nhất
Trung Quốc. Trong số các văn vật đời Tần Hán trưng bày
ở viện bảo tàng Hàm Dương, quả nhiên tôi thấy một số đồ
dệt thuộc triều đại nhà Tần bị thiêu cháy. Màu sắc đã biến
thành màu đen, nhưng hoa văn kiểu hình thoi vẫn còn
nguyên có thể nhận ra. Theo kiểm định bằng phương pháp
hóa học của các nhà khảo cổ thì đó là những sản phẩm dệt.
Sản phẩm này là di vật cổ lão từ đời nhà Tần, nên dù có bị
hư mục, cũng là những di vật rất quý giá. Nếu không bị
thiêu cháy thì cũng bị mục nát.

Những tàn tích của sản phẩm dệt ấy chính là những di
chỉ tại cung Hàm Dương đời Tần Thủy Hoàng được khai
quật và phát hiện. Đền đài, lầu các của cung Hàm Dương
đều bị Sở Bá vương Hạng Võ thiêu rụi bằng một mồi lửa.
Kiến trúc cung điện đời Tần cách nay hơn 2200 năm đã có
hệ thống nước hoàn bị dưới lòng đất, có hầm lạnh để cất
giữ thức ăn. Và trong hầm đất ấy người ta đã phát hiện ra
một bao quần áo. Hạng Võ đã phóng hỏa thiêu rụi mọi cái
ở đây một cách không thương tiếc, ngay như đồ đồng, đồ
sắt đào được cũng bị nóng chảy. Nhiệt độ của cuộc thiêu
đốt ấy tất nhiên ảnh hưởng đến hầm đất, cho nên bao quần
áo cất giữ trong đó phần lớn bị mủn thành tro,

nhưng vẫn có thể phân biệt được áo đơn, áo kép, áo
bông, vải quần áo là gấm, là lụa, là thao, chất liệu mịn,
mỏng, phần lớn dệt theo phương pháp thẳng go.

Mấy năm trước đây, tôi có đến Trường Sa, thủ phủ tỉnh
Hồ Nam tham quan phòng trưng bày văn vật khai quật được
trong một ngôi mộ đời nhà Hán. Hơn 2000 năm rồi mà thi

17

thể của bà lão vẫn còn nguyên vẹn, lại có cả vải vóc, tơ lụa
đời Hán rất hoa lệ, trong đó có một chiếc áo the mỏng trong
suốt chỉ nặng 49 gram, nét tinh tế của đồ dệt có thể còn
nhận ra. Tôi thật là may mắn khi chính mắt mình trông thấy
những sản phẩm dệt của ba triều đại Tần, Hán, Đường. Kỹ
thuật dệt tơ lụa của Trung Quốc cổ đại thật là cao siêu, đầu
óc tôi vẫn giữ mãi ấn tượng sâu sắc về các thứ ấy.

LẠC ĐÀ VÀ NGƯỜI DẮT LẠC ĐÀ

Viện bảo tàng Thiểm Tây và viện bảo tàng thành phố
Hàm Dương có rất nhiều tượng lạc đà, có tượng bằng đất
nung vẽ màu, có tượng bằng đất nung tráng men ba màu,
có loại lạc đà hai bướu của Trung Á, có loại lạc đà một
bướu của Tây Á, có con chở hàng hóa, có con chở nhạc sư
đang diễn tấu … thật là đẹp đẽ quý báu. Nhiều tượng được
tạo hình một cách chân thật, có con ở dạng ngang đầu nhìn
đăm đăm về phía xa, có con ở dạng mở miệng kêu gọi, tư
thế rất khéo. Phần lớn các mộ chí đời Đường khai quật
được đều có tương lạc đà, điều đó cho thấy người xưa rất
coi trọng và yêu thích lạc đà. Lạc đà là ghe thuyền của sa
mạc, trên con đường tơ lựa người ta chủ yếu dùng chúng
để vận chuyển tơ lụa.

Tôi đã thấy một hình tượng lạc đà trên con đường tơ
lụa có ý nghĩa điển hình. Đó là bức vẽ màu tượng lạc đà hai
bướu trên lưng có trải tấm thảm hoa hình bầu dục, trên đó
đặt một cái yên gỗ, trên yên chất một dãy túi cũng họa hình
bầu dục đựng đầy hàng hóa, mỗi bên túi gác ngang hai cuộn
vải lụa ...

Con lạc đà đó tìm thấy khi khai quật ngôi mộ Trịnh
Nhân Thái đời Đường. Dưới triều Đường Thái Tông Trịnh
Nhân Thái từng giữ chức chế sứ Lương Châu, nơi con
đường tơ lụa đi qua, ông là trưởng quan hành chính dọc

18

hành lang Hà Tây. Ông có trọng trách quản lý và bảo hộ
con đường giao thương với Tây Vực. Do đó, những gì đào
được trong mộ của ông có liên quan đến lạc đà chuyển vận
tơ lụa lại càng có ý nghĩa điển hình. Nhìn thấy con lạc đà
này, tôi bỗng nhớ đến bài “Lương châu từ” của nhà thơ
Trương Tịch đời Đường:

Biên thành mộ vũ nhạn phi dê,

Lô duẩn sơ sanh tiệm dục tề,

Vô số linh thanh hưởng qua tích,

Tri đà gạch huyện đảo An Tây.

Tạm dịch: Nơi chốn thành quách biên cương này chiều
mưa, nhạn bay thấp, măng non vừa mới nhú dần dần đã
vươn lên; vô số tiếng chuông leng keng âm vang trên sa
mạc, thì rõ đúng là những con lạc đà đang chở lụa đến An
Tây1.

1 (An Tây chỉ: địa hạt An Tây đô hộ phủ vào đời nhà
Đường để quản hạt vùng Tây Vực).

Như chúng ta đều biết lạc đà là giống vật hiền lành và
chịu khó, nhưng đôi khi cũng giận dữ bất thường. Ví như
lạc đà thương con hơn hẳn các gia súc khác nói chung. Lạc
đà mẹ giong ruổi trên đường dài, nếu sinh lạc đà con, tất
phải để cho nó chở trên lưng nó mới chịu đi, còn nếu lạc đà
con bị chết thì cũng phải để cho nó chở đi một đoạn đường,
chờ cho đến khi thi thể của con bốc mùi hôi nó mới chịu bỏ
con lại sa mạc, còn nếu không thì nó không chịu đi tiếp.
Người không biết tính khí tập quán của lạc đà không thể
điều khiển nó giong ruổi trên lữ đồ.

Tượng lạc đà khai quật được đều luôn có tượng người
dắt lạc đà đi kèm. Họ hầu như đều có mắt sâu, mũi cao,
nhiều râu khác với tượng hình người Hán, họ đươc người

19

Đường gọi là “Hồ nhân” (tức người có nhiều râu). Đỗ Phủ
trong bài” Ngụ mục” có viết: “Khương nữ khinh phong
toại, Hồ nhi chế lạc đà” có ý nói con gái người Khương
không sợ khói lửa đêm ngày ngoài biên ải, còn con trai
người Hồ thì giỏi điều khiển lạc đà. “Người Hồ” tức người
Tây Vực. Thời cổ đại, Tây Vực ám chỉ ngày nay là vùng
Tân Cương, vùng Tây Á và Trung Á. Xem ra người Hồ là
người chuyên môn giỏi điều khiển lạc đà, họ không những
biết rõ tập quán của chúng mà còn dự đoán đúng những cơn
giận dữ của sa mạc. Nơi nào có nước, có cỏ, lúc nào, nơi
nào dễ nổi gió cát họ đều biết rõ tất. Họ quanh năm suốt
tháng lai vãng trên con đường tơ lụa dài dằng dặc ấy, họ
lập không ít công tích trong lịch sử thông thương Đông
Tây, họ không hổ danh là những anh hùng vô danh.

THẬP PHẠT XÍCH VÀ NGỰA BA TƯ

Tôi là đại biểu cho những người hâm mộ tượng lạc đà
vận chuyển tơ lụa, nên lần này tôi đến Chiêu Lăng, tức là
nơi tọa lạc khu viên lăng của Đường Thái Tông và cũng là
nơi có mộ quan chế sứ Trịnh Nhân Thái.

Rời Tây An đi về phía tây bắc đến huyện Lễ Tuyền vào
đúng giữa mùa thu. Hai bên đường những cây bông vải nở
trắng, táo trong vườn cây ăn quả rực một màu hồng. Nửa
đường dừng xe, mọi người nhao nhao đến vườn cây mua
táo hái mang về. Tôi được chia cho một quả lớn nhất, nặng
đến nửa cân, toàn khối là màu hồng thắm điểm những vằn
xanh trắng sáng bóng. Bổ ra ăn thì nước thanh, vị ngọt, mọi
người khen ngon tuyệt. Hỏi xã viên vườn cây đây là loại
quả gì, anh đáp “hồng nguyên soái”. Ở Hoa Bắc cũng có
giống cây này, nhưng sao trồng ở đây chất lượng lại ngon
thế này? Xã viên nói: “Nhờ hợp thủy thổ và ánh sáng”.

20

Tôi thầm nghĩ bình nguyên Quan Trung được xưng
là Bát bách Lý Tần Xuyên (Non sông nhà Tần kéo dài 800
dặm), hay cũng còn gọi là Thiên phủ chi quốc (Nước của
nhà trời) thật đúng là danh bất hư truyền. Bình nguyên nằm
giữa thung lũng sông Vị rộng rãi, đất đai phì nhiêu, khí hậu
ôn hòa, lượng mưa sung túc, nông sản phong phú. Thảo nào
mà các triều Chu, Tần, Hán, Đường … trước sau có đến
mười triều đại phong kiến đều chọn bình nguyên Quan
Trung - Tây An làm trung tâm kiến thiết kinh đô, kéo dài
hơn 1100 năm.

Lại tiếp tục đi, trước mắt xuất hiện dãy núi uốn lượn
có tên là núi Cửu Tuấn. Hai bên tiếp giáp với Lương Sơn,
Kỳ Sơn v.v... Bảy ngọn núi tiếp nhau uốn lươn theo hướng
đông tây tạo thành bình nguyên Quan Trung trù phú. Nhiều
khu viên lăng của các hoàng đế nhà Đường rải rác tọa lạc
ở khu sơn hệ phía bắc.

Chiêu lăng tọa lạc tại núi Cửu Tuấn (Chín ngon núi
hiểm trở), dưới núi là mộ phần của Đường Thái Tông Lý
Thế Dân; trên núi chắc là quần thể kiến trúc cung điện hoa
lệ, to lớn đường hoàng. Trải qua chiến loạn, thời gian, kiến
trúc trên mặt đất đều bị xóa sạch. Người ta đào được một
kiến trúc ở trên nóc có tên là “đuôi cú mèo”, cao l,5m, dài
1m, nặng đến 150kg, điều đó cho thấy cung điện vốn cao
lớn, đồ sộ biết chừng nào.

Công trình kiến trúc Chiêu lăng do anh em nhà mỹ
thuật trứ danh đời Đường thiết kế đó là Diêm Lập Đức và
Diêm Lập Bổn. Ngày nay còn giữ sáu khối phù điêu có tên
là “Chiêu lăng lục tuấn”. Nếu không phải là tác phẩm của
họ thì nhất định đo họ chỉ đạo để sáng tác ra những tác
phẩm điêu khắc quý giá của thời cổ đại.

Đứng trước “Chiêu lăng lục tuấn” xem xét kỹ lưỡng,
tôi rất mê hai con ngựa đang cất vó có tên là “Thanh chuy”

21

(ngựa lông màu xám xen trắng) và “Thập Phạt xích” (ngựa
lông màu hồng). Chúng ở tư thế cất vó tung bay. Đỗ phủ
đã ca ngợi giống ngựa Tây Vực trong hai câu thơ sau:

“Kiêu đằng hữu như thử,

Vạn lý khả hoành hành”.

Dịch nôm:

Giống ngựa tốt như thế,

Có thể dọc ngang vạn dặm.

“Chiêu lăng lục tuấn” phải chăng là tượng của giống
ngựa tốt từ Tây Vực truyền sang? Sau này tôi mới có cơ
hội hỏi lại viên giám đốc viện bảo tàng Thiểm Tây tên là
Vũ Bá Luân, ông nói:

- Điều anh đoán cũng có lý. Anh xem, cách tạo hình
của sáu con ngựa này đều có đầu nhỏ, ức rộng, chân nhỏ
mà cao, bụng thon, móng lớn rõ ràng là các đặc điểm của
giống ngựa Iran. Vả lại, đuôi mông sát với sống lưng, bờm
kết thành ba túm, đó cũng chính là đặc điểm trang sức cho
ngựa của Iran. Ông còn giải thích thêm - Ý nghĩa của “thập
phạt xích” tức là “ngựa hồng”, "thập phạt" dịch âm tiếng
Iran, có nghĩa là ngựa.

Rồi ông suy đoán “thập phạt xích” tức là loại tuấn mã
của Iran. Hiểu rõ duyên do những điều tôi muốn hỏi, nên
ông mỉm cười nói tiếp:

- Có phải anh muốn hiểu rõ lịch sử giao lưu Đông Tây
của con đường tơ lụa phải không “Chiêu lăng lục tuấn” đã
phản ảnh giai đoạn lịch sử này. Sau khi thông vãng việc
giao lưu kinh tế văn hóa Đông Tây có từ đời Hán, thì tơ lụa
Trung Quốc chuyển vận đến Ba Tư và ngựa quý của Ba Tư
lại nhập vào Trung Quốc. Thời cổ đại chưa có máy ảnh thì
những phù điêu tinh xảo khắc trên các văn vật chính là

22

những hình ảnh thần tình còn được lưu giữ. Thời phong
kiến, vì nhu cầu giao thông và chiến tranh, giai cấp thống
trị đặc biệt coi trọng việc du nhập các giống ngựa tốt: Sử
sách có ghi, Hán Vũ Đế muốn có giống ngựa trời (thiên
mã) của nước Đại Oản, đã từng sai Nhị sư tướng quân Lý
Quảng Lợi đem quân đánh Đại Oản; Đường Thái Tông đã
sai sứ đi Tây Vực, chu du các nước, đem nhiều vàng bạc,
tơ lụa chọn mua những giống ngựa tốt. Đường Huyền Tông
cũng đã phái viên hoạn quan Lưu Nguyên Thượng làm
thương sứ mua bán ngựa ở Ả Rập. Vì vậy, sau khi con
đường tơ lụa khai thông, trong các tàu ngựa của các vua
Hán Đường đầy ắp cả ngựa tốt xứ Tây Vực.

Vũ Bá Luân còn cho biết trong số Chiêu lăng lục
tuấn (sáu tượng tuấn mã ở Chiêu lăng) đã bị các tay trộm
nước ngoài lấy cắp hai tượng, đến nay ở viện bảo tàng
Thiểm Tây chỉ còn lại bốn tượng chính gốc, còn hai tượng
bị mất là tượng phục chế. Ông nói lại với một vẻ đầy phẫn
nộ.

THẬP TỰ GIÁ VÀ VĂN BẢN CHỮ BALABAT

“Bi lâm” (rừng bia) là nơi mà bất' cứ du khách trong
và ngoài nước nào đến Tây An đều phải đặt chân đến. Nó
được thiết đặt bên trong Viện Bảo tàng Lịch sử Thiểm Tây.
Người Tây An gọi viện bảo tàng này là “rừng bia” đủ thấy
nó chiếm địa vị quan trọng như thế nào đối với sự quan tâm
của quần chúng. Bước vào phòng trưng bày bia chí, hành
lang và nhà bia, chúng ta như lạc vào khu rừng rậm đầy bia
đá là bia đá, cho nên trên lối vào cửa có treo tấm biển cao
để hai chữ “Bi lâm" thì không có gì là nói quá hay khoa
trương cả. Ở đây người ta cất giữ hơn 2300 tấm bia từ các
triều đại Hán, Ngụy, Tùy, Đường, Tống, Nguyên, Minh,
Thanh, chiếm một diện tích chừng 2800 mét vuông.

23

Phần lớn bia đá ở đây là dấu ấn của một nền văn hiến
có giá trị lịch sử quý báu và là tinh hoa của nghệ thuật thư
pháp. Các nhà lịch sử Trung Quốc muốn đi sâu nghiên cứu
rừng bia này thì trong một thời gian ngắn không dễ gì tìm
hiểu tường tận được; còn du khách ham mê nghệ thuật thư
pháp đã đến đây rồi thì không thể không quay lại. Trước
các bia chữ triện của Lý Tư, chữ thảo của Hoài Tố tụ tập
rất đông người yêu thích thư pháp. Tôi nhận ra nét chữ của
Nhan Chân Khanh trong “Đa bảo tháp bi” và của Liễu
Công Quyền trong “Huyền bí tháp bi” mà hồi nhỏ tôi đã
mô phỏng viết theo, thì ra người ta khắc in từ đây. Nghĩ lại
cái chuyện thời ấy vì ham chơi mà không chú tâm bắt
chước viết theo mẫu khắc kia của nhà đại thư pháp đến nỗi
bị cha la mắng, thật không nhịn cười được, đồng thời cũng
hối hận hồi nhỏ không nhận ra cái hay của việc viết theo
mẫu khắc bia, nếu không thì đâu đến nỗi ngày nay chữ viết
của mình chẳng có cân cốt gì cả.

Tôi để ý thấy một đoàn du khách người Âu vây quanh
trước một khối bia đá cao lớn đang chỉ chỉ trỏ trỏ, ai nấy
đều lấy làm lạ kêu lớn “Tuyệt vời”, “Kỳ diệu quá”. Lẽ nào
người Âu dùng mẫu tự La Tinh lại hiểu biết kiểu chữ vuông
của người Trung Quốc hơn tôi chăng ? Ồ không, thì ra họ
không phải đang thưởng thức nghệ thuật thư pháp mà là
thấy trên bia cổ có một mẫu hoa văn thập tự giá nên họ cảm
thấy lạ đấy thôi.

Tấm bia nổi tiếng có dòng chữ “Đại tần Cảnh giáo lưu
hành Trung Quốc bi” (bia ghi việc lưu hành đạo Cảnh giáo
của La Mã ở Trung Quốc) lập năm 781 CN. Phần trên của
tấm bia này có khắc dấu hiệu “Thập tự giá”, một biểu trưng
của Cơ đốc giáo. Văn bia có cả chữ Hán lẫn chữ Sulia. Giáo
phái Cảnh giáo (Nestorians) được truyền sang Trung Quốc
là do người Ba Tư. “Đại tần” ở đây chỉ La Mã. Bia đá vốn
được đặt tại nhà thờ Đại Tần vào đời Đường tại kinh đô

24

Trường An mà sử sách gọi là chùa Ba Tư. Tại sao vậy? Vì
từ thế kỷ thứ IV CN, Cơ đốc giáo là quốc giáo của La Mã;
về sau, La Mã bị phân thành Đông La Mã và Tây La Mã
nên Cơ đốc giáo cũng phân làm Tây chính giáo và Đông
chính giáo (Hy Lạp giáo). Cảnh giáo là một phái của Đông
chính giáo phân ra và thịnh hành ở Ba Tư cổ. Tấm bia đá
ấy nói rõ Cảnh giáo là một phân chi của Cơ đốc giáo La
Mã thông qua Ba Tư rồi truyền sang Trung Quốc. Trên tấm
bia ấy khắc tên họ của hơn 70 tăng lữ toàn người Ba Tư,
trong đó có người tên là Alaben là vị thầy tu Ba Tư đầu tiên
truyền Cảnh giáo vào Trung Quốc.

Đối với tôi việc người châu Âu du nhập tôn giáo vào
Trung Quốc tôi không để ý tìm hiểu; thế nhưng, thông qua
tấm bia nói trên có thể rút ra hai điều có ý nghĩa lịch sử:
Thứ nhất, nước Ba Tư cổ vào đoạn giữa của con đường tơ
lụa, đó là chiếc cầu nối Trung Quốc với các nước châu Âu
trong việc giao lưu Văn hóa kinh tế. Thương nhân Ba Tư
lấy việc vận chuyển tơ lụa Trung Quốc đến La Mã làm
nguồn thu hoạch trong giao thương. Thứ hai, tùy vào sự
thông thương của con đường tơ thế thì ở Trường An không
thể có nhà thờ Ba Tư quy tụ đông đến bảy, tám chục tăng
lữ.

Người Ba Tư định cư tại Tây An chắc phải có những
di chỉ văn vật chính yếu để minh chứng. Năm 1955, tại thôn
Thổ Môn gần Tây An, người ta đã khai quật một ngôi mộ,
đó là mộ của Mã thị - vợ của Tô Lượng đời Đường - mộ
chí có khắc cả chữ Hán lẫn chữ Balabat của Ba Tư cổ.

Chữ Balabat là văn tự cổ của Ba Tư đã bị thất truyền,
hiện nay các nhà khảo cổ rất ít người đọc hiểu, với lại tiêu
bản thực của chữ Balabat hiện còn quá ít. Đến nay mà nói
thì ở Trung Á, và Đông Á, đó là tấm bia duy nhất có văn tự
Balabat khai quật được. Tờ “Khảo cổ học báo” Trung Quốc

25

có mời riêng giáo sư đại học Kyoto (Nhật Bản) Y Đằng
Nghĩa Chính phiên dịch chữ Balabat của mộ chí và còn viết
một bài luận văn về vấn đề này đăng trên tờ “Khảo cổ học
báo” số 2 năm 1964.

Căn cứ khảo sát đối chiếu hai thứ văn tự trên bia mộ
ấy thì Tô Lượng và vợ là Mã thị cư trú ở Trường An -vào
đời Đường đều là người Ba Tư; họ không những dùng chữ
viết, lịch pháp của bổn quốc mà còn giữ cả tín ngưỡng quốc
giáo Ba Tư của mình là Bái hỏa giáo. Nước Ba Tư lúc bấy
giờ bị người Ả Rập xâm chiếm, nhiễu người buộc phải di
tản sang phía đông, không ít người vào đến Trường An. Tại
Trung Quốc, họ được vua nhà Đường ưu đãi, ngoài việc
kinh doanh làm viên chức nhà nước, họ còn theo tập tục,
tôn giáo của bổn quốc và lập ra nhà thờ Bái hỏa giáo. Tô
Lượng gia nhập quân đội Trung Quốc, giữ chức “Thân sách
quân kị trưởng”, tức một chức võ quan thuộc đội cấm vệ
quân của triều đình.

SÁU MƯƠI MỐT VỊ KHÁCH NHÀ VUA VÀ LOÀI
CHIM HUYỀN THOẠI

Tôi đi xe dọc đường Trường An - Lan Châu theo
hướng tây bắc qua các huyện Hàm Dương, Lễ Tuyền, và
Càn Huyện; rồi đi thẳng chưa đầy nửa giờ thì đến Càn
Lăng. Con đường nhựa thông suốt với Lan Châu ở cạnh
khu vực di chỉ Càn Lăng.

Tôi vượt qua đoạn đường ấy thì vừa đúng là đoạn đầu
của con đường sang Tây Vực dài đằng đặc mà những vị
tiền bối thời Hán Đường đã đi sau khi xuất phát từ Trường
An. Người xưa đa tiến lên phía trước qua huyện Bân, vòng
qua sáu ngọn núi thuộc khu vực Ninh Hạ để đến hành lang
Hà Tây đi thẳng qua Tây Vực. Đoạn đầu ấy là tuyến bắc
của con đường tơ lụa xuất phát từ trường An đi hành lang

26

Hà Tây, còn tuyến nam của con đường tơ lụa thì sau khi ra
khỏi Trường An, đi dọc phía tây sông Vị Thủy qua Lũng
Tây để đến hành lang Hà Tây đi Tây Vực. Cả hai tuyến Bắc
Nam ấy đều phải qua sông Vị và qua Hàm Dương.

Tây Vị kiều (cầu phía tây sông Vị) hay còn gọi là Hàm
Dương kiều (cầu Hàm Dương) là nơi cổ nhân tiễn bạn đi
về phía tây đều phải qua nơi đó, tại đây họ thết rượu đãi
tiệc tích biệt. Khi qua sông Vị, tôi bỗng nhớ đến Vương
Duy với bài “Vị thành khúc”:

Vị thành triêu vũ ấp khinh trần,

Khách xá thanh thanh liễu sắc tân;

Khuyến quân cánh tận nhất bôi tửu,

Tây xuất Dương quan vô cố nhân.

Tạm dịch: Vị thành, mưa sáng làm ướt lớp bụi nhẹ;
quán xá xanh xanh, những cành liễu đâm chồi mới. Mời
bạn hãy uống cạn thêm một chén rượu nữa vì khi bạn ra
khỏi Dương quan đi về phía tây, bạn sẽ không còn có cố

nhân.

Bài thơ trên Vương Duy làm khi ở Vị thành tiễn bạn
sang Tây Vực, trong đó tỏ ý luyến tiếc. Vị thành cách Hàm
Dương bởi con sông Vị. Người đời sau đem bài thơ này
nhập vào nhạc phủ, lấy câu cuối “Tây xuất Dương quan vô
cố nhân” lặp đi lặp lại ba lần gọi là “Dương quan tam điệp”.
Tình người ly biệt dùng dằng khó dứt, đó là một danh khúc
đáng ngâm vịnh muôn đời.

Ra khỏi huyện Càn, dọc đường, nhìn xa xa thấy hai
ngọn núi đông tây đối nhau, đứng trên mô đất cao trông xa
giống như hai đầu vú, người quanh đấy gọi là “Nhũ đầu
sơn” và trên hai mô đất ấy người ta xây dựng lâu khuyết.
Gọi là “khuyết"” tức là hai toà lâu đài xây đằng trước một

27

cung điện thời cổ đại, nó tượng trưng cho cái cổng nhà. Vào
đến Càn Lăng, trên hai đỉnh núi là lâu khuyết cao sùng sững
như đứng trấn giữ khuôn viên lăng hoàng đế, ta có thể
tưởng tượng ra khí thế hùng vĩ của nó. Đến nay lâu khuyết
đã bị tiêu hủy, chỉ còn lại nền đất cao rộng mà thôi.

Qua khỏi hai cổng nhà trời của hai tòa “Nhũ đầu sơn,
trước mắt ta là một vùng khoảng khoát, hiện ra một con
đường dài thẳng tắp rộng thoáng, gọi là “tư mã đạo” chạy
thẳng đến một ngọn núi.gọi là Lương sơn cao 1049 mét.
Cung điện ngầm của đường Cao Tông và hoàng hậu Võ
Tắc Thiên được xây dưng ở dưới chân núi Lương sơn này.
Theo sử sách ghi chép thì công trình cung điện ngầm của
Càn Lăng rất rộng lớn, đồ quý chôn theo rất phong phú,
đến nay vẫn chưa khai quật được.

Hai bên “tư mã đạo” là quần thể khắc đá được bảo tồn
hoàn hảo để khách du lịch mặc tình xem xét. Đi vào lăng
viên một đoạn thấy có một đôi cột đá chạm, một đôi ngựa
có cánh, một đôi chim chu tước, năm đôi ngựa đứng, mười
đôi viên quan văn võ, một cặp bia đá, một cặp sư tử. Các
viên quan văn võ trong quần thể khắc đá theo tôi thấy thì
quá cứng ngắt, có lẽ người tạc tượng chỉ thấy cái vẻ tôn
nghiêm của các vị quý nhân đại quan mà không cảm nhận
được cái linh hoạt của thần thái con người là gì! Tôi đứng
rất lâu trước tượng sư tử, chu tước và ngựa có cánh. Đồ đá
khắc đã hơn 1200 năm, mà qua cách xử lý khéo léo của các
nhà nghệ thuật, thân dạng của chim, thú tựa hồ như có dòng
máu nóng lưu động, toàn thân như đang nhảy múa đầy sức
sống vậy.

Đúng là đôi sư tử và đôi chu tước là điều thể hiện sự
giao lưu văn hóa giữa Đông và Tây. Trung Quốc cổ đại
không có sư tử. Các nước Tây Vực đến tiến cống cho nhà

28

Đường thường lấy sư tử làm hiến lễ đáng quý nhất. Sử sách
ghi chép, các nước

Khang Cư, Mễ, Thổ Hỏa La, Ba Tư, trước sau đều
dâng lễ cho nhà Đường bằng sư tử. Các nhà nghệ thuật vô
danh chắc đã quan sát kỹ lưỡng thần thái của sư tử trong
vườn bách thú của nhà vua nên mới sáng tác ra những hình
tượng đầy nghệ thuật như thế, đến nay vẫn còn khiến người
ta thích thú thưởng ngoạn. Vả lại, đối với sư tử, một giống
mãnh thú, có kích thước lớn như vậy làm sao có thể vận
chuyển đến Trường An trên con đường tơ lụa dài dằng đặc
ấy, với tôi vẫn còn là một ẩn số.

Chu tước là một loài chim huyền thoại, các mẫu hoa
văn tạo hình chim chu tước thời cố đại đều không giống
nhau. Thế mà chu tước ở Càn Lăng thì đúng là hình trạng
của loại đà điểu, “Đường thư” có ghi Năm 650 CN, nước
Thổ Hỏa La sai sứ dâng tặng chim lớn như lạc đà (Thổ Hỏa
La khiển sứ tống đạo điểu như đà). Thổ Hỏa La nay thuộc
địa phận Afghanistan, thời đó thuộc lãnh địa Ba Tư. Phù
Điêu đà điểu ở Càn Lăng đã ghi lại truyền thống hữu nghị
giữa Trung Quốc và các dân tộc phía tây cao nguyên Pamia.

Dọc hai bên đôi sư tử đá, tức nơi gần lăng mộ nhất,
sừng sững sáu mươi mốt tượng người đá là khách của
vương triều. Phục sức của các tượng này không giống với
phục sức của người Hán đời Đường. Áo có thân ngắn, thắt
lưng to bản, chân đi giày da. Phần đầu của tượng đá hầu
như bị hủy hoại, căn cứ hai phần mặt còn giữ được mà xét
thì đó là người Tây Vực, có mũi cao, mắt sâu.

Khi cử hành lễ táng Đường Cao Tông, các thủ lĩnh của
dân tộc thiểu số Tây Vực và một số đặc sứ ngoại quốc có
đến tham dự. Sau hoàng hậu Võ Tắc Thiên ghi nhớ việc
này cho khắc tượng vương khách, sứ giả để kỷ niệm và
đằng sau còn cho khắc tên họ trong đó có vua Ba Tư là Ti

29

Lộ Tư, vua Quy Tư là Bạch Tố Khễ v.v... Thời thịnh Đường
có trên bảy mươi nước và lãnh địa trên thế giới lai vãng hòa
hiếu. Điều này cho thấy việc giao thương phát đạt giữa nhà
Đường và các nước Tây Vực qua con đường tơ lụa là điều
không thể phủ nhận.

Thăm thú văn vật phong phú có liên quan đến con
đường tơ lụa ở Tây An khơi dậy trong tôi niềm hứng thú
sâu đậm đối với sự phồn vinh của các cổ thành thời Hán
Đường, một khởi điểm cho con đường cái quan vĩ đại qua
Tây vực. Tôi yêu cầu hướng dẫn viên du lịch dẫn tôi đi
thăm các di chỉ ở các cổ thành thời Hán Đường. Hướng dẫn
viên thấy tôi kê một danh sách dài các di tích, anh chân
thành nói: “Vâng, tốt thôi! Hứng chí của ông lớn lắm, tốt.
Ông hãy đi xem mấy ngày!”.

30

3. TRƯỜNG AN CỔ ĐẠI, THỦ ĐÔ CÓ
TÍNH QUỐC TẾ

Đầu những năm năm mươi, tôi vội vã đến Tây An,
nhưng có ấn tượng không mấy tốt đẹp. Thành phố thì nhỏ
mà phá cũ xây mới trông rất nhếch nhác. Từ cửa thành nam
đến cửa thành bắc đi bộ chưa đầy vài tiếng đồng hồ là hết.
Ra khỏi cửa thành là nông thôn. Đường phố thì chật hẹp,
hầu như không cô cây xanh.

Hai mươi lăm năm sau, tôi trở lại Tây An, quan niệm
có phần đổi mới. Thăm thú mãi những văn vật cổ tích, cố
nhiên nó có sức hấp dẫn kỳ lạ; rồi các khu xây dựng - mới
trong thành phố đã làm thay đổi ấn tượng cũ của tôi diện
mạo thành Tây An trước đây.

DIỆN TÍCH TÂY AN NGÀY NAY VƯỢT QUÁ
TRƯỜNG AN THỜI THỊNH ĐƯỜNG

Tôi đã bốn lần đi thăm các di tích cổ, ngoại thành phía
đông thì đến khu phường dệt, ngoại thành phía tây từ đến
khu điện khí, ngoại thành phía nam thì đến khu văn hóa
giáo dục, tuy không có thời gian xuống xe tham quan,
nhưng cũng cảm nhận được diện tích thành phố mở rộng
gấp bội so với cựu Tây an thời chính phủ Tưởng Giới
Thạch để lại.

Anh Quế làm công tác quy hoạch thành thị cung cấp
cho tôi những số liệu chính xác, quả đúng như tôi dự cảm.
Anh từ Thượng Hải đến Tây An tham gia công cuộc đại
kiến thiết Tây An vào năm 1952. Đến Tây An vào ban đêm,
qua một đoạn đường dài là nông thôn mới đến lữ quán và
in trí rằng mình đang ngủ tại ngoại ô. Sáng ra mới biết mình

31

ở ngay trung tâm thành phố. Bên trong tường thành vấn còn
những đám ruộng, điều này cho thấy sự suy sụp của cựu

Tây An. Anh nói:

- Hơn hai mươi năm nay, dù mặt kiến thiết thành phố
chưa phải là lý tưởng, song kết quả thì đã rõ ràng. Trước
giải phóng, diện tích thị khu chỉ có 13,2 km vuông, nhưng
nay đã phát triển đến 98 km vuông, rộng thêm hơn bảy lần
rưỡi, vượt quá thành Trường An vào thời Thịnh Đường gấp
bội.

Anh nói với tôi việc quy hoạch Tây An mới vẫn tiếp
thu truyền thống của thành Trường An, thiết trí một số trục
lộ chính xuyên qua đông - tây và nam - bắc; đồng thời làm
thêm một con đường bao quanh thành rộng đến 150 mét,
hai bên đường trồng cây ngô đồng và cây du: giữa khu công
xưởng và khu nhà ở phải bố trí các dải rừng cây. Khi đi qua
một dải rừng tôi đếm thử có hơn 20 hàng.

Bóng mát trên các trục lộ chính đối với tôi thật là thích
thú. Hoàng hôn một ngày nọ, tôi từ ngoại thành phía đông
trở về trung tâm thành phố, qua tán lá kín mít của những
cây ngô đồng như tạo thành một đường ngầm xanh thẳm,
mặt trời sắp lặn chiếu xuyên qua một vạch dài trên con
đường thẳng tắp để lại một mảng ánh vàng lấp lánh. Anh
ký giả nhiếp ảnh ngồi trên xe buột miệng nới: Ồ, đẹp quát
Tôi rất yêu thích Tây An.

Để chụp hình, anh đi nhiều nơi hơn tôi, lúc này đây
chính anh ta đã nói đúng tâm trạng của mình mà bấy lâu
nay từng ấp ủ nhưng không nói ra được.

Lần này đến Tây An, điều tôi cần làm là tìm hiểu nơi
khởi đầu của con đường tơ lụa. Khi con đường này hưng
vượng vào các đời Hán Đường thì thành Trường An trở
thành nơi đô hội nhất ở phương Đông, tương đương với La
Mã, Constantinople ở phương Tây. Thành Trường An vào

32

đời Đường có dân số ước khoảng một triệu người, bao bọc
thành hình vuông có diện tích ước khoảng 85 cây số vuông.
Các đời sau, trải qua chiến tranh phá hoại, Trường An dần
dần bị suy thoái, đến đời Minh, khu vực thành trì thu hẹp
lại chỉ còn khoảng 30,2 cây số vuông, Tường thành đời
Minh vẫn còn được bảo tồn nguyên vẹn. Đến khi chính phủ
Quốc Dân Đảng thống trị, Tây An chỉ còn giới hạn của khu
vực nội thành của thế kỷ XVII để lại. Đến những năm năm
mươi của thế kỷ XX, Tây An về tay nhân dân, đội ngũ kiến
thiết mở rộng diện tích hướng về ba phía đông, tây, nam.
Hai mươi chín năm trở lại đây, tổng diện tích Tây An ước
gần 100 cây số vuông, vượt rất xa thành Trường An huy
hoàng nhất trong lịch sử của thời Thịnh Đường. Đối chiếu
cổ kim, tôi cảm thấy tăng thêm lòng tin vào tốc độ kiến
thiết hiện đại hóa thành Tây An mới.

CUNG VỊ ƯƠNG ĐỜI HÁN TRÊN VŨ ĐÀI LỊCH
SỬ

Triều đại lập kinh đô sớm nhất tại Tây An là nhà Chu,
di chỉ tìm được tại Phong Cảo, nay thuộc nội vi huyện
Trường An. Tần Thủy Hoàng lập kinh đô ở Hàm Dương,
cách Tây An về phía tây bắc hơn 21 cây số. Sau Hán Cao
tổ thống nhất Trung Quốc đóng đô ở Trường An, di chỉ tìm
được nay ở tây bắc ngoại thành Tây An.Để tìm hiểu di chỉ
thành Trường An đời Hán, tôi đi xe từ trung tâm thành phố
theo hướng tây bắc, qua một số đường đất nông thôn đến
một thôn trang có tên là Lưu gia trại (Trại nhà họ Lưu),
chắc ở đây nhiều nhà họ Lưu tụ tập mà có tên ấy, nhưng
chưa hẳn là hậu duệ của Lưu Bang Hán Cao tổ. Tôi đến hỏi
một nữ nhân viên hợp tác xã mua bán người họ Lưu:

- Di chỉ cung Vị Ương có phải ở gần đây không cô?

Chị thuận tay chỉ và nói:

33


Click to View FlipBook Version