The words you are searching are inside this book. To get more targeted content, please make full-text search by clicking here.
Discover the best professional documents and content resources in AnyFlip Document Base.
Search
Published by ngoc.ngphuong, 2020-09-21 02:01:48

CON ĐƯỜNG TƠ LỤA - Xa Mộ Kỳ

CON ĐƯỜNG TƠ LỤA - Xa Mộ Kỳ

ông thề quyết không thay đổi và cuối cùng ông đã đào tẩu
ra khỏi Tây Vực hoàn thành sứ mệnh. Nhưng trên đường
trở về Trung Nguyên ông lại bị người Hung Nô bất trên dai
đất này (tức là hành lang Hà Tây) và bị giam hơn một năm,
sau ông mới trốn thoát về Trường An. Điều này cho thấy
muốn đi Tây Vực trước hết phải qua hành lang Hà Tây.

Lần thứ hai Trương Khiên đi Tây Vực vào năm 119
trước CN. Lần này tương đối thông suốt. Vì sao vậy Năm
121 trước CN, đại tướng Tây Hán là Hoắc Khứ Bệnh đã hai
lần chiến đấu đẫm máu tại hành lang Hà Tây, tướng Hung
Nô phải trốn chạy con đường huyết mạch được thông suốt
vô ngại.

Tôi nhìn mãi qua cửa sổ toa xe thì dãy Kỳ Liên vẫn
liên tu bất tận, tôi nhìn thấy những tảng quái thạch, có tảng
thì như đầu cá, có tảng thì như voi nằm, nhà điêu khắc chỉ
cần đục chạm sơ là có thể thành tác phẩm nghệ thuật. Do
đó tôi liên tưởng đến công lao của Hoắc Khứ Bệnh trong
việc khai thông hành lang Hà Tây vì trên lăng mộ của ông
có dáng dấp phong cách khấc chạm đá.

Hoắc Khứ Bệnh với chiến công hiển hách đã phải
mệnh chung năm hai mươi bốn tuổi. Để biểu dương vị
tướng tá đáng mến, Hán Vũ Đế đã cho “làm mộ giống như
núi Kỳ Liên” (theo Sử ký) để kỷ niệm công tích của ông đối
với hành lang Hà Tây.

“Làm mộ giống như núi Kỳ Liên” có ý nghĩa như thế

nào?

Trước đây, khi tôi đi thăm mộ của Hoắc Khứ Bệnh tại
Mậu Lăng (nằm trong khuôn viên lăng mộ Hán Vũ Đế tại
huyện Hưng lăng, tỉnh Cam Túc) đã từng tìm hiểu qua. Tôi
thấy mộ của Hoắc Khứ Bệnh đúng là xếp đống thành mồ,
tuy so với mộ phần thì có vẻ quá cao, nhưng thật khó nói
là giống Kỳ Liên. Người hướng đạo giải thích: có thể là ở

84

phần mộ chất nhiều quái thạch (đá có hình thù quái dị),
trước mộ còn có người đá, thú đá tượng trưng cho núi đá
(tức núi Kỳ Liên). Cứ liệu của anh là lời chú giải của Sử ký:
“Phía trên có dựng đá, phía trước có ngựa đá đối xứng, và
có cả người đá. Lúc ấy nghe thế, tôi nửa tin nửa ngờ, nhưng
nay chính mắt mình trông thấy quái thạch trên núi Kỳ Liên
mới ngầm tín phục.

Quần thạch khắc chạm trên mộ Hoắc Khứ Bệnh đúng
là những quái thạch từ núi Kỳ Liên chuyển đến rồi đục
chạm thêm mà thành, chính vì lẽ đó mà nó có một phong
cách đặc thù khiến cho các học giả nghiên cứu lịch sử nghệ
thuật Trung Quốc bàn tán rôm rả.

Quần thạch khắc chạm ấy bao gồm hình dáng cá, ếch,
trâu, voi, ngựa. Nhìn gần có vẻ rất thô kệch, nhưng nhìn từ
một khoảng cách thích hợp thì lại rất có thần. Hiện nay,
quần thạch khắc chạm ấy đã chuyển đến trước mộ trong
hành lang của khu triển lãm có kiến trúc đặc biệt. Tôi đứng
trên mộ nhìn xuống hành lang thấy dãy trâu đá, ngựa đá ấy
sống động như thật. Mỗi một khối đá hoa cương đều được
nhà nghệ thuật vô danh ban cho một cuộc sống.

Dĩ nhiên thưởng thức mỗi một hình thù như vậy cần
phải đứng cách xa vài ba mét mới có thể nắm bắt được nghệ
thuật tạo hình. Có một hình ngựa đá, đôi chân trước song
song chồm lên thì thân và đầu cấu thành một đường thẳng
vươn ra cho ta cái cảm giác xông lên phía trước một cách
mạnh bạo, dù đôi chân sau còn nằm trên mặt đất. Điều cần
chú ý: tuy là khối chạm khắc hình tròn có bốn mặt khắc
chạm không đồng đều so với chạm khắc hình tròn thông
thường, nhưng tứ chi và đầu cổ ngựa vẫn gắn chặt vào cả
khối đá. Cách tạo hình phần đầu, chân và thân ngựa đều
dùng cách chạm nổi hoặc chạm chỉ để thể hiện bằng một
trình độ khá điêu luyện. Các nhà mỹ thuật cho rằng đó là

85

sự kết hợp xảo diệu của nghệ thuật chạm chỉ, chạm nổi và
chạm vòng. Lịch sử chạm tượng dạng lập thể có thể truy
nguyên từ đời nhà Thương (thế kỷ XVI - XI trước CN).
Nhưng quần thể khắc đá trên mộ Hoắc Khứ Bệnh có thể
nói là một quần thạch khắc chạm hoàn chỉnh có rất sớm
trong lịch sử mỹ thuật Trung Quốc.

Hoắc Khứ Bệnh là con riêng của người chị Vệ hoàng
hậu của vua Hán Vũ Đế, năm mười tám tuổi đã hầu cận vua
Hán Vũ Đế. Ông giỏi cưỡi ngựa, bắn cung, nhiều lần đã
cùng quốc cửu đại tướng quân. Vệ Thanh đi đánh Hung
Nô. Năm hai mươi tuổi, ông đã hai lần dẫn quân chinh phạt
hành lang Hà Tây. Một lần vượt qua núi Yên Chi (thuộc
huyện Sơn Đan, Cam Túc); lần khác vượt qua núi Kỳ Liên
bắt hơn bốn vạn người Hung Nô. Hồn Da vương của Hung
Nô chiếm cứ Hà Tây giết Nặc vương rồi dẫn hàng vạn quân
đến xin hàng. Từ đó, đông từ Lan Châu, tây đến La-Bạc-
Nao-Nhĩ, Tân Cương không còn bóng dáng của người
Hung Nô nữa. Thế là chính quyền trung ương nhà Hán lập
ra hai quận Vũ Uy và Tửu Tuyền ở Hà Tây; về sau lập thêm
hai quận Trương Dịch, Đôn Hoàng và gọi chung dải đất
này là hành lang Hà Tây. Cả bốn địa danh ấy dùng mãi cho
đến ngày nay. Lập bốn quận ở Hà Tây, nhà Hán đã mở ra
một hàng lang thông vãng Tây Vực nhằm chuẩn bị điều
kiện cho giao lưu văn hóa, kinh tế giữa Trung Quốc, khu
vực Trung Á và châu Âu.

Ở Cam Túc, tôi nghe nhiều câu chuyện truyền kỳ về
Hoắc Khứ Bệnh. Lan Châu có cảnh đẹp Ngũ Tuyên sơn,
theo truyền thuyết, khi. Hoắc Khứ Bệnh dẫn quân qua đây
binh sĩ và chiến mã đều khát nước, ông lấy roi đánh xuống
đất năm lần, trong núi liền chảy ra năm suối nước trong.
Ngoài ra, phía đông huyện Tửu Tuyến có một suối nước từ
dưới đất vọt lên tạo thành một ao nước trong vắt, Hoắc Khứ
Bệnh đã đổ xuống ao ấy một hũ rượu của vua Hán Vũ Đế

86

ban thưởng để cho mỗi binh sĩ đều được uống một chén
cùng hưởng “ân tứ” của nhà vua. Vì thế mà có tên là Tửu
tuyền (Suối rượu). Thực ra, Hoắc Khứ Bệnh tuy rất thiện
chiến nhưng ông không phải là vị tướng “yêu lính như
con”.

Sử ký của Tư Mã Thiên, khi nói về Hoắc Khứ Bệnh có
lời phê phán như sau: “Còn trẻ mà đã làm đến chức thị
trung (tức hầu cận vua), rất quý hiếm. Khi làm tướng cầm
quân lại không tiếc mạng binh sĩ, có lần trên đường tòng
quân, vua sai thái quan cung cấp binh lương hàng chục xe,
danh thắng trở về, xe lương chở nặng dư hàng đống, nhưng
binh sĩ thì bị đói”. Thế nhưng Hoắc Khứ Bệnh chỉ lấy việc
quốc gia dân tộc làm trọng, xem thường lợi ích cá nhân, và
Tư Mã Thiên cũng đã khen “nhà vua cho lập phủ đệ, gọi
Phiêu ký tướng quân đến xem, Hoắc Khứ Bệnh cảm tạ,
bẩm: Hung Nô chưa bị diệt thần chưa nghĩ đến chuyện gia
thất an cư”.

Do đó, chiến công của Hoắc Khứ Bệnh hiển hách, lưu
danh thiên cổ, người đời sau kính trọng không phải là
không có duyên cớ.

SỰ LUI TỚI CỦA CÁC CAO TĂNG XỨ TĂNG VỰC

Trạm đầu tiên của tôi khi đến hành lang Hà Tây là Vũ
Uy. Ký ức về cổ thành Vũ Uy có tường thành bằng đá, có
con sông hộ thành, càng khó quên nhất là hàng liễu rủ ven
sông. Ở hành lang Hà Tây, màu xanh của tự nhiên mãi mãi
là điều quý báu vì chỉ có bốn con sông phát nguyên từ núi
Kỳ Liên chảy qua để tạo thành bốn vùng lục châu lớn ở
đây. Ngày nay vòng tường cổ thành đã hư nát, những ngã
tư đường ở trung tâm thành Phố đã có những dãy nhà mới
xây, rõ ràng khu vực Hà Tây trọng yếu này đã có hàng chục
vạn nhân khẩu cư trú, sinh sống.

87

Vũ Uy ngày xưa gọi là Cô Tàng được thành lập từ đời
Tây Hán. Trước đó, Hà Tây là nơi sinh sống của dân du
mục người Đê Khương người Nguyệt Thị, người Ô Tôn và
người Hung Nô, không có thôn xóm làng mạc định cư. Sau
khi dân du mục rút đi, bốn quận Hà Tây mới được thiết lập,
vua nhà Hán mới đưa dân cư từ trong nước đến Hà Tây lập
đồn điến sinh sống. Sản xuất, phát triển, thành thị được
dựng lên. Có thể nói Vũ Uy là thành phố sớm nhất trong
các thành phố ở Hà Tây.

Các văn vật khai quật được ở Vũ Uy rất phong phú.
Tượng ngựa bằng đồng đời Hán nổi danh thế giới “Mã đạp
phi yến” cũng đào dược ở Vũ Uy. Đồng thời người ta còn
đào hơn 220 hiện vật khác trong đó đa số là đồ đồng có
trình độ công nghệ rất cao. Hàng loạt văn vật ấy cho thấy
vùng đất Vũ Uy vào đầu đời hán là một khu vực rất phát
đạt về nền văn hóa của người Hán.

“Mã đạp phi yến” là một văn vật quan trọng đào được
trên con đường tơ lụa, có người còn gọi nó là “Thiên mã
long tước” mà tôi đã nói ở trên. Khi đến Vũ Uy, làm sao
tôi có thể không đến thăm nơi có bảo vật ấy cho được?

Ra khỏi thành, đi bộ theo hướng bắc, vòng qua khu
trồng hoa màu của thành phố thì đến một thôn ấp. Đầu thôn
có một đài cao, trên đài là ngôi miếu lôi thần nên gọi là
“Lôi thần đài”. Trước đài có mấy cây hòe cổ thụ ba người
ôm không xuể. Năm 1969, người ta phát hiện một ngôi mộ
thời Đông Hán dưới những gốc cây hòe của Lôi đài. Một
số lớn văn vật, kể cả tượng “Mã đạp phi yến” đều đào được
từ ngôi mộ ấy.

Tôi đi xuống Lôi đài tìm lối vào mộ, vào đến bên trong
theo ánh đèn chiếu rọi, tôi thấy có ba gian thuộc mộ chính
và ba gian phụ khác, tất cả đều xây bằng gạch đời Hán,
trông rất bề thế, chắc chắn người chết phải là một nhân vật

88

quyền thế. Theo như chữ khắc trên ức của con ngựa bằng
đồng thì chủ nhân họ Trương vốn là một vị tướng không rõ

tên gì.

Từ Lôi đài nhìn theo hướng nội thành thì thấy có một
cái tháp cao gọi là La Thập tháp, đó chính là tháp của vị
cao tăng từ Tây Vực: Cưu Ma La Thập.

Trên đường trở về thành cổ, tôi đi vòng qua tháp để
tham quan. Tháp xây bằng gạch, tọa lạc ở phía bắc cổ
thành, hình bát giác cao mười hai tầng, mỗi tầng có treo
một cái chuông đồng tám lá. Gió thổi qua, chuông kêu đinh
đang. Trên đỉnh tháp, ánh mặt trời chiếu rọi, rực rỡ một
màu vàng xanh nhấp nhánh.

Đối với nền Phật giáo Đông phương thì Cưu Ma La
Thập có những cống hiến đặc biệt. Thân sinh ngài là người
Thiên Trúc (tức Ấn Độ), thân mẫu là nữ vương xứ Quy Tư
(nay là vùng đất Khố Xa thuộc Tân Cương). Ngài sinh năm
343 CN, xuất gia năm bảy tuổi. Năm hai mươi tuổi đi du
lịch các nước Phật giáo ở Tây Vực. Lúc trẻ ngày đã nổi
tiếng là nhà tinh thông Phật học: Tên tuổi của ngài truyền
đến Trung Nguyên. Tiền Tần vương là Phù Kiên rất tín
ngưỡng đạo Phật và cũng có người tiến cử Cưu Ma La Thập
cho nhà vua. Phù Kiên có ý chiếm Tây Vực, nên năm 384
CN sai đại tướng Lã Quang đem binh đi đánh Tây Vực rồi
thuận đường rước Cưu Ma La Thập từ Quy Tư về Lương
Châu (Vũ Uy). Năm sau, Lã Quang chiếm Vũ Uy, lập ra
nước Hậu Lương. Cưu Ma La Thập về Trường An, tôn làm
quốc sư, mời ngài chủ trì việc dịch kinh Phật. Lúc này Phật
học đã đạt đến đỉnh cao trong số mười sáu nước ở vùng Tây
Vực.

Cống hiến lớn nhất của Cưu Ma La Thập là sự nghiệp
phiên dịch kinh sách. Ngài tinh thông Phật học, giỏi cả
tiếng Phạn lẫn tiếng Hán, thái độ dịch thuật rất cẩn thận và

89

trung thực. Khi dịch kinh sách, tay cầm quyển sách bằng
tiếng Phạn, miệng đọc qua tiếng Hán, rồi các thầy bàn bạc,
viết thành bản sơ cảo, rồi sửa chữa lại một lần nữa để tiến
tới trình độ chuẩn xác và thông suốt của Hán ngữ. Trước
kia, người ngoại quốc dịch kinh vì không thông chữ Hán
nên bản dịch thường tối nghĩa, khó hiểu. Cưu Ma La Thập
không dịch từ ra từ mà dịch theo ý của câu văn, và là người
đầu tiên sáng lập ra phái dịch nghĩa. Lúc gần viên tịch, ngài
phát lời thề rằng nếu dịch văn mà không làm mất ý thì sau
khi chết lửa sẽ thiêu đốt thân thể ra tro, nhưng cái lưỡi sẽ
không bị hư nát. Thái độ trung thực của ngài trong cách
phiên dịch đáng để cho chúng ta học tập.

Có người nói tháp La Thập là nơi mai táng “cái lưỡi
không hư nát” của ngài. Đó có thể là điều không có thật,
khó tin, nhưng công lao sáng tạo ra phái cách ý trong sự
nghiệp phiên dịch của ngài thì hậu thế chứng ta không thể
quên được.

Trong suốt thời kỳ phân liệt toàn Trung Nguyên từ sau
đời Tây Tấn trở đi, đó là Tiền Lương, Hậu Lương và Bắc
Lương (từ 376 - 419 CN) thì Vũ Uy là nơi lập kinh đô của
các quốc gia cát cứ. Bấy giờ tại Trung quốc Phật giáo đang
thịnh hành. Vũ Uy nằm trên con đường tơ lụa có một thời
đã trở thành trưng tâm Phật giáo của cả khu vực Tây Bắc.
Thời thịnh đạt nhất, Vũ Uy có đến mười ba ngôi chùa Phật.

Sau Cưu Ma La Thập, có cao tăng Huyền Trang nổi
danh một thời đi thỉnh kinh ở Tây Vực cũng có ghé lại Vũ
Uy và giảng kinh tại đây. Lúc bấy giờ Vũ Uy là một trung
tâm Phật giáo nên Huyền Trang được mời lại ở hơn một
tháng, đăng đàn giảng kinh Niết bàn và kinh Bát nhã, vang
danh một thời, người đến nghe càng ngày càng đông. Tôi
có hỏi ngài giảng kinh tại chùa nào thì người ở đây đều
không biết.

90

Thời bấy giờ tại Vũ Uy, thương nhân và tăng lữ các
nước Tây Vực thường hay lui tới: Họ nghe những lời giảng
cao diệu của thầy Huyền Trang thảy đều kính phục, không
chỉ tự nguyện bố thí, cấp lộ phí để Tây du thỉnh kinh mà
còn tán thưởng các cao tăng nhà Đường có vốn Phật pháp
uyên thâm. Như vậy tiếng tăm của Huyền Trang được
truyền bá nhanh đến các quốc gia Tây Vực kể cả trước khi
ngài chưa đến, thậm chí có những vị quân vương tín
ngưỡng đạo Phật đã sớm chuẩn bị nghênh đón ngài. Vua
Cao Xương là người nhiệt tâm nhất.

Cưu Ma La Thập và Huyền Trang đều là những nhà
dịch thuật lớn trong quá trình giao lưu văn hóa Trung Ấn,
cống hiến của họ rất to lớn, một người từ phương tây đến,
một người từ phương đông lại, cả hai đều lưu lại dấu tích
dọc hành lang Hà Tây. Họ e không ngờ rằng cách hơn
nghìn năm sau lại có người đang truy tìm tung tích lịch sử
của họ.

ĐỒNG CỎ VÀ SÔNG BĂNG

Phía bắc Vũ Uy là biển cát cuồn cuộn - sa mạc Tengger
mênh mông; phía nam là núi non tuyết phủ quanh năm -
dãy Kỳ Liên sơn. Con đường tơ lụa chạy xuyên qua giữa
biển cát và núi tuyết ấy.

Tháng mười, trời vào thu, Vũ Uy bắt đầu có tuyết. Qua
một lớp tuyết mỏng mà leo núi Kỳ Liên lại càng thích thú.
Không khí trong lành, mặt trời chiếu sáng, bầu trời như vừa
mới tắm gội, trong suốt kỳ lạ. Vừa bước chân ra khỏi cửa
đã thấy các ngọn núi của dãy Kỳ Liên khoác bộ áo tuyết
trong trắng lạ thường nổi bật giữa nền trời xanh ngắt, đặc
biệt nhìn xuyên qua đồng lúa chín vàng và đám lá cây bạch
dương rực rỡ dưới ánh mặt trời chẳng khác nào một bức
tranh sơn dầu đầy sắc màu tươi đẹp.

91

Lái xe theo hướng tây bắc chừng 45 cây số, tách khỏi
đường cái đi vào khu vực núi Kỳ Liên, rẽ vào một con
đường nhỏ ngoằn ngoèo rồi tiến lên phía trước chừng 25
cây số nữa thì trên đồng cỏ chăn thả gia súc Đãn Mã, chúng
tôi được mời vào phòng làm việc của mục trường nghỉ
ngơi.

Trong phòng đã nhóm lửa. Ở nơi cao hơn mực nước
biển 2300 mét thì lạnh hơn nhiều so với dưới chân núi. Chủ
nhà bưng trà sữa đang bốc hơi ra chiêu đãi chúng tôi. Tôi
lấy làm hiếu kỳ uống thử một ngụm thì toàn nghe có mùi
rượu. Trên đường đi tôi cảm thấy lạnh, uống loại trà rượu
này khắp châu thân đều có sức ấm tỏa lan, thế là tôi làm
một hơi cạn hai chén, cái lạnh trong người không còn nữa.

Mục trường Đẵn Mã có đến ba mươi phần trăm là
người Tây Tạng, họ giỏi về việc chế tạo bơ, thực ra đó chỉ
là loại bơ nước thổ sản của họ. Chè bánh (tức trà đóng thành
bánh như viên gạch) thêm nước sôi khuấy đều đun nóng rồi
bỏ vào mấy viên bơ nữa thế là có một thứ thức uống cao
cấp của dân du mục người Tây Tạng sau bữa cơm.

Chủ nhân mời chúng tôi vào núi thăm đồng cỏ. Toàn
thể diện tích thảo nguyên mục trường là mười lăm vạn mẫu,
nuôi chừng sáu ngàn con dê, hai ngàn bảy trăm con bò,
ngoài ra còn có ngựa và bò sữa, tổng cộng ước chừng một
vạn con.

Chúng tôi đi vào bên trong núi Kỳ Liên, thấy triền núi
đâu đâu cũng là đồng cỏ, loại cỏ này có tên là “mã lan”,
từng đám từng đám mọc lên giống như hoa lan, màu cỏ đã
chuyển sang màu vàng. Dọc đường chúng tôi đã thấy mục
dân cắt cỏ chuẩn bị thức ăn cho gia súc vào những ngày
đông tháng giá.

Thảo nguyên lớn nhất nằm giữa hai dãy núi ở độ cao
2300 mét có tên là bãi cỏ sông Thượng Tự, cúi nhìn xuống

92

một hang nín trống hoác thấy một dải nước trắng bạc thì đó
là sông Thượng Tự. Một đồng cỏ rộng lớn ẩn mình trong
núi sâu cạnh một con sông. Xa xa nhìn đàn bò, đàn đê nhỏ
như những con kiến đang di động trên bãi cỏ màu vàng óng.
Hai bên là núi thấp mọc đầy những cây thông mụ can sừng
sững. Cảnh sắc rậm rạp tráng lệ ấy khiến tôi liên tưởng đến
bức họa phong cảnh với thế núi hùng vĩ vùng Đông sơn của
Khôi Di. Vừa đúng lúc đó một đàn nhạn kết thành hình chữ
“nhân” đang bay qua trên bầu trời trong vắt. Và xa xa tiếng
dân ca vọng lại của mục dân người Tây Tạng. Cảnh sắc
thiên nhiên đẹp đẽ tráng lệ ấy khiến người ta phải mê mẩn!

Tôi nghĩ các danh thắng nổi tiếng xa gần xưa nay như
Tây Hồ ở Hàng Châu, Vân Hải ở Hoàng Sơn, tất nhiên có
sức hấp dẫn nhiều du khách, nhưng rừng rậm nguyên thủy,
mục trường ở núi Kỳ Liên tuy chưa đưa vào sổ tay du lịch
thuộc phong cảnh dã ngoại nhưng vẫn có nét đặc biệt kỳ

thú.

Bức họa sơn dầu phong cảnh thiên nhiên nơi núi cao
của mục trường đang hiện ra trước mắt ấy sở dĩ nó đẹp là
nhờ băng tuyết núi Kỳ Liên làm nổi bật, ngọn núi cao nhất
kia có tên là Lĩnh Long, cao 5254 mét.

Núi Kỳ Liên ở độ cao trung bình trên 3000 mét có thể
nói là dãy núi băng tuyết quanh năm, bình quân hàng năm
ở núi Kỳ Liên có nhiệt độ 0 độ C từ đông sang tây trong
khoảng núi các từ 2800 đến 3100 mét, còn những nơi đóng
băng thì cao trên 4200 mét.

Dãy Kỳ Liên kéo dài từ đông sang tây 800 cây số, có
hơn 3000 dòng băng hà, chiếm một diện tích hơn 2000 cây
số vuông, đó là một kho nước đóng băng rất lớn. Đất cát
dọc hành lang Hà Tây hầu như chỉ dựa vào nguồn cung cấp
nước của các dòng băng hà ở núi Kỳ Liên. Khối băng tuyết

93

tĩnh lặng trên đó đúng là suối nguồn sự sống của hàng lang

Hà Tây.

Hành lang Hà Tây khô hạn, bình quân lượng mưa hàng
năm từ 40 đến 140 milimét, nhưng lượng bốc hơi lại rất
lớn. Nếu có mưa chăng nữa thì sự bốc hơi cũng làm chúng
khô đi. Dãy Kỳ Liên nằm xuyên ngang từ đông sang tây
giống như một bức bình phong thiên nhiên chắn làn hơi
nước ẩm mát từ Ấn Độ Dương thổi đến. Mực nước mưa
trên núi khá cao từ 300 đến 600 milimét. Cho nên băng hà
trên núi Kỳ Liên mới được hình thành, ba hệ thống nước
của hành lang Hà Tây là Thạch Dương hà, Hắc hà và Sơ
Lặc hà đều bắt nguồn từ các băng hà trên dãy Kỳ Liên.
Mạch nước ngầm ở dọc hành lang Hà Tây ước chừng 1500
tỉ mét khối, tương đương 300 lần lượng nước ở hỗ chứa
Kẽm Lưu Gia trên sông Hoàng Hà. Số nước này cũng do
từ băng hà trên núi Kỳ Liên mà ra.

Trên đường từ nơi Kỳ Liên trở về thành phố, tôi ghé
thăm hai hồ chứa nước lớn ở Vũ Uy. Hồ chứa phía nam và
hồ chứa phía bắc, trữ lượng nước ở đây khoảng trên mười
triệu mét khối. Điều làm tôi đặc biệt chú ý là hệ thống kênh
mương dẫn nước vào hồ chứa. Người ta dùng đá cuội ở bãi
Gôbi trộn với xi-măng để xây thành mương chính và các
đường mương phụ có độ dốc khá lớn, nước chảy rất mau.
Nếu lỡ súc vật không để ý rơi xuống mương nhất định sẽ
bị cuốn phăng, khó mà sống sót. Tăng thêm độ dốc của các
con mương, nâng cao tốc độ dẫn nước tức là làm giảm bớt
sự tổn thất nước do bốc hơi sinh ra. Ở hành lang Hà Tây,
nước quý như vàng.

Người ta còn cho tôi biết, trước khi chưa trùng tu hồ
chứa nước và hệ thống kênh mương, nước sông ở bất Gôbi
chảy không được kiểm soát, một phần thẩm thấu, một phần
bốc hơi, thật là lãng phí. Ở đây có câu tục ngữ ”thượng điền

94

tích thủy, hạ điền khan” (ruộng trên ứ nước, ruộng dưới thì
cạn khô) để mô tả tình trạng này. Ngày nay, ngoài việc
trùng tu hồ chứa nước, huyện Vũ Uy còn xây dựng thêm
470 cây số đường mương chống thẩm thấu, nâng cao hiệu
năng của các đường kênh mương.

Hiện tại, huyện Vũ Uy trở thành huyện có lượng sản
xuất nông nghiệp lớn nhất tỉnh Cam Túc. Nông dân đều
nhận thấy nước không đủ dùng nên có người nghi ngờ rằng
băng hà ở núi Kỳ Liên ngày một rút ngắn, nguồn nước giảm
thiểu. Điều này có quan hệ đến sự sản xuất nông nghiệp và
đời sống của nhân dân dọc hành lang Hà Tây, mọi người
đều rất quan tâm. Do đó, tôi đã đi hỏi ý kiến của các nhà
khoa học, Sở Nghiên cứu Băng hà Lan Châu và các giáo sư
địa lý thuộc Đại học Lan Châu nói, họ đã trải qua nhiều
năm khảo sát, nghiên cứu, do khí hậu biến hoá các dòng
băng hà ở Kỳ Liên đúng là có rút ngắn lại, nhưng mấy năm
gần đây tốc độ rút ngắn càng ngày càng giảm. Họ dự đoán
xu thế rút ngắn băng hà ở Kỳ Liên đã kết thúc, trong tương
lai một vài năm nữa băng hà sẽ cung cấp lượng nước nhiều
hơn. Điều này đối với nhân dân Hà Tây là một tin tốt lành.

SA MẠC VÀ CỔ LŨY

Từ huyện thành đi xe theo hướng tây bắc chừng 40 cây
số thì đến bên bờ của một con sông có nước màu hồng.
Nước sông rất cạn, bước trên đám đá ngổn ngang giữa dòng
sông là có thể vượt qua được. Đó là con sông nhỏ do những
suối ngầm dưới lòng đất phun lên hợp lại mà thành, chảy,
chảy mãi rồi dần dần thấm nhập vào. Hành lang Hà Tây có
một bộ phận hà lưu từ trong lòng đất phun lên rồi lại chạy
vào lòng đất.

Qua khỏi con sông, trèo lên bờ, đi xuyên qua một rừng
táo gai thì thấy cồn cát nhấp nhô của sa mạc. Đó là chúng

95

ta đã bước chân vào hai khu tự trị Nội Mông Ninh Hạ và sa
mạc Tengger thuộc tỉnh Cam Túc.

Tôi bước lên một gò đất cao phóng tầm mắt nhìn về
phía xa, cho thấy cồn cát và cồn cát, không bờ không bến
và trông giống như sóng biển lớp lớp tuôn trào, sóng sau
xô sóng trước cơ hồ như muốn nuốt chung mọi sinh linh,
trông thật đáng sợ.

Sau đó tôi đến một cổ lũy bị cồn cát xâm thực thì mới
nhận ra sức phá hoại ghê gớm của cát sa mạc.

Lũy này là do đất sét đắp thành tường, bốn góc cao hơn
mặt đất chừng 20 mét. Tôi thuận theo mô đất cao đến cạnh
bờ tường hư nát vẫn còn một vài nơi có thể ngăn chặn sự
xâm thực của cát vàng sa mạc, nhưng phía bờ bắc có một
lỗ hổng lớn và những đợt sóng cát mà từ đó tràn vào bên
trong cổ lũy tha hồ lấn tới nuốt gọn cả một diện tích đất
15000 mét vuông của cổ lũy. Tôi bước xuống và đi bộ bên
trong cổ lũy, thuận tay nhặt lên mấy mảnh gạch đất nung
thời cổ đại, nhưng rất tiếc không có nhà khảo cổ nào đi theo
để hỏi cho biết chúng thuộc triều đại nào.

Cả dải đất này là nơi Trường thành chạy ngang do nhà
Hán kiến tạo, nay có tên là công xã Trường Thành. Đồn lũy
này là doanh trại quân đội bảo vệ Trường Thành trú đóng
của thời cổ đại, về sau có lẽ có dân chúng đến đây cư trú.
Thôn dân ở công xã Trường Thành nói tổ tiên của họ đã từ
cổ lũy kia chuyển đến. Đứng trên bờ tường của cổ lũy mà
nhìn về phía xa, ta có thể thấy rõ hai dải rừng bảo vệ cát
xâm thực bao quanh một dải đất dài và hẹp, viên cán bộ
công xã nói dải rừng ấy dài hơn 30 cây số bảo hộ cho hơn
16000 mẫu ruộng của công xã Trường Thành.

Rừng chống cát chủ yếu là loại táo gai chịu hạn hán,
trái của nó có hình dáng và màu sắc giống như táo thường
nhưng nhỏ hơn rất nhiều. Tôi hái mấy trái nếm thử thì có

96

cảm giác như nhai bột, khô không có chất nước, vị chát,
nhai lâu có vị ngọt. Ven sa mạc, Công xã lập vườn cây ăn
quả, họ trồng lê, táo tây.

Bữa trưa, tôi được một xã viên mời. Cổng và cửa sổ
của nông xá đều thiết kế theo phong cách dân tộc, có vẻ
khác thường. Trên những bức tường trắng treo lủng lẳng
những xâu ớt đỏ tươi trông rất vui mắt. Trong một vuông
sân nhỏ, người ta trồng hoa hướng dương và rau xanh. Có
đi vào những nông trang an nhàn đang bị vây bọc bồi cồn
cát của sa mạc mới cảm nhận được cuộc sống thân thiết
hiếm có của họ.

Chủ nhân mời chúng tôi ngồi cạnh lò sưởi, ăn hai đĩa
thức ăn trộn nhiều ớt, khoai tây, bắp cải trộn với mì sợi,
thật là ngon miệng. Sau bữa ăn, chủ nhân bưng ra một khay
đậu non, mời nói:

- Đậu vừa mới hái đấy, mời quý vị nếm thử!

Khó từ chối tấm thịnh tình của chủ nhà, chúng tôi vừa
ăn vừa nói chuyện.

Công xã Trường Thành sống ven sa mạc Tengger hiện
có hơn 14000 nhân khẩu. Lúc mới giải phóng, do ruộng đất
bị cát sa mạc xâm thực, người ta đã bỏ đi rất nhiều, từ năm
1952 trở đi nhà nước bắt đầu có kế hoạch trồng cây gây
rừng, đến năm 1956, rừng chống cát thành công, sản xuất
nông nghiệp và đời sống nhân dân trở nên khởi sắc, dân cư
các nơi lục tục kẻo về.

Mấy năm gần đây, có nhiều công trình trồng cây gây
rừng bị phá hoại, nhưng rồi được khôi phục lại. Xã viên vui
vẻ nói với tôi, rừng chống cát của công xã Trường Thành
sẽ cùng với rừng chống cát của các huyện lân cận liên kết
lại với nhau, nhà nước có kế hoạch trồng rừng từ Cam Túc,
Ninh Hạ, Nội Mông đi thẳng đến Hắc Long Giang ở cực

97

đông tạo thành một dải rừng phòng cát sa mạc dài vạn dặm
(vạn lý phòng sa lâm đái) Có người nói trên phi thuyền vũ
trụ, người ta có thể thấy rõ Vạn lý Trường thành của Trung
Quốc. Chúng tôi hy vọng một vài năm sau cũng từ phi
thuyền Vũ trụ còn có thể thấy một trường thành màu xanh
dài vạn dặm song song với Vạn Lý Trường thành cố cựu.

98

7. CỬA KHẨU KỲ LIÊN VÀ CHÂN NÚI

YÊN CHI

LỘ TRÌNH TUẦN DU TÂY VỰC CỦA VUA TÙY
DẠNG ĐẾ

Câu chuyện vua Tùy Dạng Đế tuần du xuống phương
Nam thì ai cũng biết. Để thực hiện chuyến du ngoạn Giang
Nam này, nhà vua đã ra lệnh khai thông nhiều con sông đào
để nối liền ba con sông lớn Hoàng Hà, Hoài Hà và Trường
Giang lại với nhau. Tự mình ngồi trên thuyền rồng cao bốn
tầng đem theo cả hậu phi, vương tôn công tử, tăng ni, quan
lại, người hầu cộng hơn hai mươi vạn người, trùng trùng
điệp điệp từ kinh đô Lạc Dương xuống Giang Đô (tức
Dương Châu). Suốt đường đi, hàng ngàn ghe thuyền đầu
đuôi tương tiếp dài hơn 200 dặm. Nhà vua còn hạ lệnh cư
dân ven sông trong khoảng 500 dặm đều phải đem dâng
thức ăn cho các đội thuyền của hoàng đế đến nỗi sơn hào
hải vị chất đống thành núi, quan quân ăn không xuể, lúc lên
đường lại phải đào hầm mà chôn để chứng tỏ thần dân luôn
luôn hiếu kính hoàng đế của mình.

Nhưng câu chuyện vua Tùy Dạng Đế tuần du phương
tây thì hầu như mọi người không hề biết đến, lại càng
không biết nhà vua đã khổ sở như thế nào tại hành lang Hà

Tây.

Năm Đại Nghiệp thứ V đời Tùy (609 CN), Dạng Đế từ
kinh đô đến Lũng Tây tỉnh Cam Túc, lên đến Thanh Hải,
sau đi xuyên núi Kỳ Liên, qua đến Đại đẩu Bạt cốc rồi đến
quận Trương Dịch ở hành lang Hà Tây.

“Tùy thư - Dạng Đế kỷ” có ghi: “Qua Đại đầu Bạt cốc,
đường núi chật hẹp, hiểm trở, nối đuôi nhau mà đi, gió tuyết
mờ mờ, các quan tùy tùng thất lạc sĩ tốt chết cóng quá nửa”.

99

Lúc Tùy Dạng Đế ra khỏi đường núi Kỳ Liên hiểm trở thì
trời đã vào tháng sáu, nhưng lại gặp bão tuyết tại một hẻm
núi, không chỉ binh sĩ bị chết cóng quá nửa mà các quan
viên tùy tùng cũng bị thất tán. Lúc ấy, người ít thế cô rất có
thể bị lang sói tấn công giữa chốn núi rừng hiu quạnh này.

Tôi đặc biệt chú ý đến đoạn ghi chép trên, vì lộ trình
tuần du Tây Vực của vua Tùy Dạng đế đến hành lang Hà
Tây đúng như các nhà chuyên môn xác định, đó là lộ trình
tuyến nam, một trong ba lộ tuyến của con đường tơ lụa sau
khi xuất phát từ Trường An đi hành lang Hà Tây. Những gì
nói trongTùy thư quyển ba về lộ trình của Tùy Dạng Đế
tuần du Tây Vực là: “Nhà vua đi săn ở Lũng Tây ... thứ đến
là Địch đạo (Lâm Thao) ... Ra khỏi ải Lâm Tân (gần chùa
Bính Linh) qua sông Hoàng Hà, rồi đến Tây Bình (Lạc đạo)
... qua Đại đẩu Bạt cốc … trạm tiếp theo là Trương Dịch:
“Lộ trình ấy trên bản đồ ngày nay là: từ Tây An đến Lững
Tây tỉnh Cam Túc, tại vùng phụ cận chùa Bính Linh qua
sông Hoàng Hà đến huyện Lạc Đô tỉnh Thanh Hải rồi đi
dọc theo Hà Tây, sau đó vượt qua một khe núi trong dãy
Kỳ Liên, sau khi ra khỏi Đại đẩu Bạt cốc thì đến quận
Trương Dịch tức đoạn giữa của hành lang Hà Tây.

Theo các chuyên gia cho biết thì Đại đẩu Bạt cốc là
cửa khẩu Biên Đô, tức một trong những cửa khẩu của núi
Kỳ Liên, nó nằm trong địa giới huyện Dân Lạc tỉnh Cam
Túc, đây là một cửa ải trọng yếu chắn ngang từ Tây Ninh
tỉnh Thanh Hải đến Trương Dịch tỉnh Cam Túc. Các đội
thương nhân cổ đại từ Thanh Hải đến đều phải ra khỏi cửa
khẩu Biên Đô mới tiếp tục đi lên hướng tây.

Để tìm hiểu cửa khẩu trọng yếu này trên con đường tơ
lụa, tôi đi xe lửa từ Vũ Uy đến Trương Dịch, sau đó đi ôtô
để đến huyện Dân Lạc. Tại đây, tôi được một người làm
công tác văn vật tên là La Thư Quần làm hướng dẫn viên.

100

CỬA KHẨU ĐẦY GIÓ TUYẾT

Từ Trương Dịch đi xe theo hướng đông nam, qua đoạn
đường dài trên sa mạc Gôbi hoang vu không người, thì đến
huyện Dân Lạc. Nghỉ ngơi thột lát rồi tiếp tục đi, qua khỏi
bình nguyên rộng lớn là đụng phải chân núi Kỳ Liên. Nơi
đổ xe có cột mốc ghi rõ bảng chỉ đường, trên đó ghi từ quận
Trương Dịch, Cam Túc đến đây đúng 93 cây số, từ Tây
Ninh, Thanh Hải đến đây 243 cây số. Đây chính là cửa khẩu
Biên Đô, cũng tức là Đại đẩu Bạt cốc, nơi vua Tùy Dạng
đế gặp bão tuyết.

Tôi leo lên một ngọn núi thấp, nhìn địa hình tứ phía thì
thấy quả là rất hiểm yếu đúng là danh bất hư truyền. Hai
bên cửa núi, vòm núi dựng đứng cao sừng sững, gần là
sườn núi xanh um những cỏ, xa là những đỉnh núi tuyết
trắng phau; một dòng nước trong suốt từ hang núi chảy ra
có tên là sông Đồng Tử. Có đường nhựa vượt qua một cầu
vồng, men theo bờ sông ngoằn ngoèo để đến Thanh Hải.
Trên đường xe cộ qua lại tấp nập, xe ca có, xe khách có.
Ngày nay cửa khẩu Biên Đô vẫn là cửa ải giao thông quan
trọng giữa Thanh Hải và Cam Túc.

Tuy đang tháng mười, trời thu cao xanh, khí thu sảng
khoái nhưng dừng chân lâu tại cửa khẩu Biên Đô này người
tôi cảm thấy lành lạnh, dưới chân là lớp tuyết dày, chỗ
chúng tôi đang đứng có độ cao gần 3000 mét. Đi vào hẻm
núi, đường nhựa như cao dần, nơi cao nhất gần 4000 mét,
quanh năm lạnh dưới 0 độ. Thảo nào mà vua Tùy Dạng Đế
vào tháng sáu Nông lịch qua Đại đẩu Bạt cốc gặp phải bão
tuyết mù trời!

Quay đầu nhìn về phía bắc, bên ngoài cửa khẩu Biên
Đô là bình nguyên trải dài bát ngát. Những người từ hang
núi thâm sâu bước ra, khi đến Biên Đô đối ngặt với bầu
không khí trong vắt, xa xa nghìn trùng là vùng đất mênh

101

mông khiến tầm nhìn thông suất, tấm lòng rộng mở... Phía
tây của đại thảo nguyên là công xã Nam Phong vừa chăn
nuôi vừa cày cấy của huyện Dân Lạc, còn phía đông là mục
trường nuôi ngựa

Sơn Đan nổi tiếng xưa nay. Theo hướng mục trường
Sơn Đan, dõi tầm mắt nhìn xa tít tắp thì thấy những ngọn
núi tuyết sừng sững phía chân trời, đối đầu với núi Kỳ Liên
chứ không liên tiếp nhau. La Thư Quần nói đó là núi Yên
Chi. Tôi lấy làm ngạc nhiên, thích thú hỏi:

- Ồ! Chính ngọn núi Yên Chi ấy, nơi mà Hoắc Khứ
bệnh và Tùy Dạng Đế đều đặt chân đến ấy à?

Anh gật đầu nói:

Chính là nó đấy! Chúng ta đến thăm mục trường Sơn
Đan thì tố thể đến được chân núi ấy.

HỘI CHỢ THỜI CỔ ĐẠI

Trong lịch sử, núi Yên Chi rất nổi tiếng. Hán thư có
ghi: Đời Tây Hán, chàng Phiêu kị tướng quân trẻ tuổi Hoắc
Khứ Bệnh trên đường tây chinh đến Hà Tây truy đuổi quân
Hung Nô đã vượt qua núi Yên Chi. Tùy thư cũng có ghi:
Vua Tùy Dạng đế tuần du phương Tây có lần đã đến núi
Yên Chi. Hôm nay tôi đang đứng tại cửa khẩu Biên Đô này,
nơi Tùy Dạng Đế gặp phải bão tuyết, xa xa là đỉnh núi tuyết
của ngọn Yên Chi, tôi lại nghĩ vì sao một ông vua xa hoa
dục lạc nổi tiếng như vậy mà lại tìm đến một nơi chẳng có
chút vui thú nào ở chốn thâm sơn cùng cốc này?

Thực ra, vua Tùy Dạng Đế không chỉ sống xa hoa sảng
khoái mà ông còn làm được những công tích lớn khác.
Cuộc tuần du phương Tây đã làm được hai việc: thứ nhất,
dẫn quân tiến đánh và chiếm cứ Thổ Cốc Hồn thuộc Thanh

102

Hải của người Tiên Ty, bấy giờ tộc người này sống bằng
nghề du mục lập thành tiểu vương quốc nhưng bất kính đối
với chính quyền trung ương nhà Tùy; thứ hai, đến quận
Trương Dịch, một thành phố có cả người Hoa lẫn người
Tây Vực tiếp kiến quân vương, sứ giả và các nhà buôn Tây
Vực, làm rạng rỡ uy danh của đế quốc.

Thời bấy giờ thương nhân các nước Tây Vực, bao gồm
các tiểu quốc mới thành lập của các dân tộc thiểu số thần
phục nhà Tùy kể cả một số các quốc gia Trung Á bên kia
cao nguyên Pamia1 đều đến Trung Quốc kinh doanh buôn
bán, thường thường quy tụ tại quận Trường Dịch, một trung
tâm lớn dọc hành lang Hà Tây. Vua Tùy Dạng Đế từng phái
đại thần thân tín là Bùi Củ giữ chức chưởng quản Trương
Dịch và lo việc giao thương với các nước TâyVực. Bùi Củ
biết rõ dụng ý của Tùy Dạng Đế, trong thời kỳ nhậm chức,
ông hay điều tra, hỏi han thương nhân người Hồ về nhân
tình, phong thổ và sông núi đất đai của bốn mươi bốn nước
Tây Vực, viết thành bộ sách Tây Vực đồ ký đem dâng cho
nhà vua.Trong bài tựa có nói đến ba con đường giao thương
đi từ hành lang Hà Tây đến Tây hải (tức Địa Trung Hải và
vịnh Ba Tư2). Lấy

Đôn Hoàng làm điểm xuất phát chung thì có ba đường
đi về hướng tây như sau: Từ Y Ngô (Ha Mật - Tân Cương)
xuất phát thì đó là tuyến Bắc; từ Cao Xương (Tolophan
- Tân Cương) xuất phát thì đó là tuyến giữa; từ Thiên
Thiện (Nhược Khương - Tân Cương) xuất phát thì đó là
tuyến Nam. Rất tiếc sách trên đã thất truyền, nhưng cũng
may Tùy thư đã trích dẫn lại lời tựa của cuốn sách ấy. Đó
là những gì được miêu tả tương đối hoàn chỉnh và sớm nhất
về lộ trình của con đường tơ lụa trong sách sử Trung Quốc
còn lưu lại.

103

Tùy Dạng Đế rất vui khi đọc Tây Vực đồ ký, đặc liệt
chú ý lắng nghe Bùi Củ báo cáo tình hình về các nước Tây
Vực. Năm 606 CN, Tùy Dạng Đế tuần du phương Tây ra
lệnh cho Bùi Củ đi trước thông tri quân vương các nước
Tây Vực đến Trương Dịch hội kiến. Bùi Củ tự mình đến
Đôn Hoàng nghênh tiếp tân vương, sứ giả. “Tùy thư” ghi:
“Vua Ngô là Thổ Đồn Thiết cùng hai mươi bảy nước Tây
phiên yết kiến vua ở Đạo Tả”. Lúc ấy vua ban lệnh quan
lại, phụ nữ ở Vũ Uy Trương Dịch ăn mặc, đẹp đẽ ra đường
nghênh đón, ngựa xe tấp nập, mọi người đốt hương tấu
nhạc, ca múa vang lừng, thật là náo nhiệt đông vui.

Cuộc tuần du phương Tây của vua Tùy Dạng Đế đã
làm hưng phấn quần thần, dân chúng, không phải là không
có ý khoe bày sự hưng thịnh của Trung Quốc, đồng thời
làm lung lạc xứ Tây Vực và triển khai việc mậu dịch kinh
tế. Sau đó, tân vương, sứ giả Tây Vực theo nhà vua đến Lạc
Dương rất đông. Nhà vua cho thiết trí hàng trăm nhà hát
kịch lớn ngoài các phố thành Lạc Dương diễn các tuồng
hay của các xứ trên toàn quốc để người Tây Vực xem, tiếng
vang xa hàng chục dặm, suốt đêm đèn đuốc sáng trưng.
Vua còn ra lệnh cho các nhà buôn Lạc Dương trang sức đẹp
đẽ, bày ra nhiều hàng quý, đọc đường phố vây màn trướng,
đặt nhiều thức nhắm và rượu ngon mời thương nhân Tây
Vực nhập tiệc, ăn uống no say không phải trả tiền.

Hình thức “hội chợ” để giao lưu kinh tế, văn hóa xuất
hiện vào thế kỷ thứ VII ở Trung Quốc có thể nói là một
sáng tạo độc đáo. Vở kịch múa hiện đại Ti lộ hoa vũ diễn
lại tình hình hưng vượng của hội chợ thời cổ đại đã nói lên
điều đó. Nhưng cũng có một số sử gia chê trách những hành
vi tiêu hoang phung phí của Tùy Dạng Đế. Sau cơn đại loạn
của mười sáu nước thời Đông Tấn, nhà tùy thống nhất
Trung Quốc, một thời thịnh vượng phú cường, nhưng sau
cũng suy bại rất nhanh, điều này cũng có liên quan rất lớn

104

đến sự xa hoa quá độ cũng như sự vui chơi quá trớn của
vua Tùy Dạng Đế.

DẤU TÍCH TÂY CHINH CỦA HOẮC KHỨ BỆNH

Từ Biên Đô trở về, ăn cơm trưa tại công xã Nam
Phong, ngồi bàn luận với cán bộ công xã về mức sản xuất
của vùng đất bán nông nghiệp bán du mục này. Công xã
đất rộng người thưa bình quân mỗi người có đến 60 mẫu
đất. Vùng đất có độ cao 2800 mét này thích hợp cho lúa đại
mạch (tức loại đại mạch chịu lạnh), gần đây cũng có trồng
thử tiểu mạch. Công xã có một vùng thảo nguyên rộng lớn,
nuôi gần 20000 con bò và dê. Cuộc sống của xã viên so với
khu thuần nông có phần khá hơn nhiều.

Chúng tôi rời công xã Nam Phong đi vế hướng bắc đến
một tòa cổ thành cách đông nam huyện Dân Lạc chừng
100 cây số, ngày nay là trụ sở của công xã Vĩnh Cố. Trong
cổ thành có nhiều xã viên trú ngụ. Tường thành xây bằng
đất sét hiện còn khá hoàn chỉnh, chu vi dài 9 dặm ba, thành
hình vuông. Tòa thành cổ này có tên là gì? Xây dựng vào
triều đại nào? La Thư Quần có vẻ lấy làm tiếc nói:

- Chưa biết chính xác. Theo sách sử mà xét thì có thể
là huyện Sơn Đan đời Hán, còn một nơi khác thì đó là
huyện Đê Trì đời Hán. Nhưng các căn cứ đều không đủ để

xác minh.

Anh dẫn tôi đi xem xét mấy ngôi mộ cổ ngoài cửa tây
thành. Mấy năm gần đây đã khí quật và xác minh đó là
những ngôi mộ thuộc đời Hán. Ngoài ra, ở cửa đông thành
cũng khai quật được thêm mấy ngôi mộ đời Hán nữa, tổng
cộng có chân ngôi tất cả. La Thư Quần nói:

Di chỉ của cổ thành bao quanh trong nhóm những ngôi
mộ đời Hán. Đó là một chứng cứ quan trọng xác định thời

105

đại kiến trúc của chúng. Dĩ nhiên, muốn có kết luận một
cách khoa học, cần phải khảo sát cặn kẽ thêm nữa.

Rời khỏi cổ thành đi về hướng nam 5 cây số thì đến
một mảnh đất trống gọi là Bát Quái doanh, tôi gặp một ông
già cắt cỏ, ông bảo đó là nơi đóng quân của đại tướng Hoặc
Khứ Bệnh thời Tây Hán.

Chúng tôi đến tận nơi xem xét thì thấy có hào rãnh
dạng hình vuông, chu vi chừng 800 mét, giống di chỉ của
một thành lũy nhỏ. Chếch về hướng nam có một đài cao,
có chia cấp lên đài, dân chúng ở đây gọi là “Tử anh đài”,
tương truyền là đài điểm danh tướng sĩ của Hoắc Khứ
Bệnh.

Trên “Tử anh đài” tản mác nhiều gạch ngói vỡ, tôi cúi
xuống nhặt lên mấy mảnh rồi thuận tay nhặt thêm những
mảnh sành vỡ khác. Với con mắt người làm công tác văn
vật, La Thư Quần chiếu theo chất đất và hoa văn cho là đồ
sành sứ đời Hán. Tôi còn nhặt được một mẩu khắc đá có
hoa văn hình chéo, ông xem qua rồi cao hứng nói:

- Đây là kiểu đồ đá giũa đời nhà Hán đấy!

Thế rồi ông cúi xuống tiếp tục tìm tòi khắp nơi, nhặt
được một mẩu tương tự rồi đem chắp với mẩu trước của
tôi thì khớp thành dạng một nửa cái khay, ngay như tôi
người ngoài nghề nhìn qua cũng thấy giống là đồ đá giũa:

La Thư Quần góp đồ đá giũa ấy cất vào túi, luôn miệng

nói:

- Thật không phí cuộc đi chơi, thu hoạch không phải là
nhỏ!

Gần doanh Bát Quái có một hòn núi nhỏ, dưới chân
núi nhiễu hang lỗ, nhìn xa trông giống như những hang
động xếp ngay ngắn thành hai, ba tầng. Đến gần mới thấy

106

rõ đó là quần thể cổ mộ đã được khai quật. Hai ba chục
ngôi mộ tập trung lại với nhau trông giống như ngôi mộ tập
thể thời cổ đại.

Huyệt mộ không lớn chỉ vừa chỗ cho một quan tài,
trông rất sơ sài. Chắc chắn chủ của ngôi mộ không phải là
hạng quan lại giàu có.

La Thư Quần cho biết trong số các ngôi mộ đào được
có đến năm, sáu xâu tiền đời Hán, chứng tỏ rằng chúng là
những ngôi mộ đời Hán. Văn vật đào được có cả binh khí
cổ đại như tên đồng, nỏ đồng... Theo cách an táng và các
văn vật đào được mà suy đoán thì quần thể cổ mộ ở doanh
Bát Quái rất giống ngôi mộ tập thể của binh sĩ đời Hán.

Chúng tôi lên xe theo hướng núi Yên Chi đi tới, bên
kia là Biên Đô, nơi chúng tôi đã đi qua khi sáng vẫn còn
thấy rõ. Những gì biết được sau một ngày tìm hiểu đấu tích
thời cổ đại, đầu óc tôi lộn xộn cả lên, nhất thời không
hiểu ra manh mối, tôi bèn đến hỏi La Thư Quần:

- Doanh Bát Quái có phải là nơi đóng quân của Hoắc
Khứ Bệnh không?

Ông nói:

- Anh thấy, trước mặt là núi Yên Chi. Hán thư có ghi:

Hoắc Khứ Bệnh đi đánh Hà Tây có đến núi Yên Chi.
Doanh Bát Quái rất gần núi Yên Chi, vừa rồi chính chúng
ta đã tìm thấy nhiều gạch ngói đời Hán tại đấy, cho nên nói
đó là di chỉ đời Hán thì không có gì sai trái cả. Bên cạnh lại
còn mộ chôn tập thể các binh sĩ đời Hán. Tất cả chứng cứ
ấy cộng lại để suy đoán thì Hoặc Khứ Bệnh dẫn binh sĩ qua
Bát Quái doanh, điều đó có thể khẳng định được ... Còn nói
đó có phải là doanh trại quân đội, có phải là đài điểm danh
tướng sĩ hay không thì rất khó xác quyết.

107

Tôi mân mê những đồ đá giũa đời hán, dòng tư tưởng
lại đang trở về thời cổ đại xa xưa. Tôi phảng phất nhìn thấy
những binh sĩ đỡ khiên, cầm mâu và những người dắt lạc
đà kéo dây cương đang lần lượt đi bên cạnh tôi. Họ đã có
những cống hiến cho con đường tơ lụa cổ xưa được khai
mở. Trong lịch sử chỉ lưu danh những nhân vật tên tuổi như
Trương Khiên, Hoắc Khứ Bệnh, Tùy Dạng đế, Bùi Củ ...
nhưng người sáng tạo ra lịch sử, thúc đẩy lịch sử tiến lên
chính là quần chúng nhân dân. Ngày nay, tôi suy tưởng về
họ, họ đã vì chúng ta mà để lại kho tài sản lịch sử quý báu,
nhưng lại không có tên tuổi, không có dòng dõi gì của họ
cả!

NGỰA LAI TẠO LUÔN LUÔN LÀ NGỰA TRÁNG
KIỆN

Xe chúng tôi vượt nhanh qua khu thảo nguyên bằng
phẳng và khu canh tác phì nhiêu thì đến chân núi Yên Chi.
Xem ra cũng rất kỳ lạ là núi Yên Chi và núi Kỳ Liên tuy
gần nhau nhưng hoàn toàn lại không liên kết nhau. Chúng
cách bởi một thảo nguyên bằng phẳng. Núi Kỳ Liên chạy
theo hướng đông tây, còn núi Yên Chi chạy theo hướng
nam bắc kéo dài 70 cây số. Đỉnh núi là một lớp tuyết dày ở
độ cao 3978 mét. Chân núi và triền núi đều có dân cư, họ
gọi núi Yên Chi là núi Đại Hoàng vì trên núi mọc đầy cây
thuốc bắc đại hoàng.

Bất kể núi Kỳ Liên hay núi Yên Chi, người Hung Nô
cổ đại đều có một tình cảm sâu sắc đối với chúng. Họ cho
rằng chiếm được núi Kỳ Liên thì gia súc đầy đàn, mà có
được núi Yên Chi thì có đàn bà con gái nhan sắc xinh tươi:
Trước đây khi đọc sách có bài ca dao nói người Hung Nô
nhớ về hai dãy núi này tôi hoàn toàn không thể hiểu nổi thì
nay khi tôi đi đứng dưới chân núi Yên Chi mới thật sự thể

108

hội được tại sao dân du mục Hưng Nô thời ấy lại lưu luyến
khu vực này đến thế. Chu vi của mục trường thì mênh mông
và phì nhiêu biết chừng nào!

Hiện nay mục trường quạnh núi Yên Chi thuộc khu
chăn thả ngựa Sơn Đan, trụ sở của mục trường đóng ở dưới
chân núi. Tối nay chúng tôi ngủ lại đây để chuẩn bị sáng
mai đi tham quan mục trường.

Tỉnh dậy lúc tinh mơ, nhìn qua song cửa thì thấy một
vùng trắng xóa. Ở nơi có độ cao 2600 mét, mùa đông đến
rất sớm. Đêm qua tuyết rơi đầy trời, trên mặt đất là một lớp
tuyết dày. Qua lại mục trường bằng những con đường sơ
sài hết sức khó đi xe.

Anh chàng ký giả nhiếp ảnh Tiểu Kim đang hứng chí,
khoác trên người chiếc áo da dê cùng với anh chàng nhiếp
ảnh nghiệp dư của mục trường cưỡi môtô ra đi. Đến chiều
trở về họ lạnh cóng, hai má đỏ ửng đang vui vẻ kể lại cho
tôi nghe những gì đã được nghe thấy. Anh ta không những
chớp 'được những cảnh ngựa chạy trên tuyết mà còn tự
mình cưỡi ngựa phi quanh một vòng thật thích thú. Lời kể
nghe rất tự hào. Chàng thanh niên cùng đi mỉm cười buộc
miệng nói:

Nói có vẻ dễ nghe nhỉ! Anh sống được trở về là phước
ba đời đấy!

- Xưa nay Tiểu Kim chưa hề cưỡi ngựa. 'Thấy một chú
ngựa hùng dũng tráng kiện, đây là giống ngựa tốt của mục
trường do ngựa Đốn Hà và ngựa Mông Cổ giao phối sinh
ra. Chàng ta nghe mục công nói chú ngựa này đã được
thuần phục bèn cả cưỡi thử, không ngờ vừa mới lên ngồi
trên yên, ngựa xem thường chàng ta là người lạ, tung mình
chạy, chàng vội ghìm dây cương, ngựa lại chạy nhanh hơn
bấy giờ chàng ta có vẻ hoảng loạn, nhắm mắt nghĩ thôi hôm
nay số phận mình phải giao cho nó rồi. Con ngựa bướng

109

bỉnh ấy chạy một hơi mấy dặm liền, chạy thẳng đến gần
chuồng ngựa của mình mới chịu dừng lại. Mục công cưỡi
ngựa chạy đến an ủi chàng Tiểu Kim đang hồn xiêu phách
lạc và nói:

- Bài học đầu tiên về thuật cưỡi ngựa của anh không
tồi đâu đấy?

Bãi chăn ngựa chiến Sơn Đan trải dài qua sáu huyện
của hai tỉnh Cam Túc và Thanh Hải, tổng diện tích hơn ba
triệu mẫu, ngoài việc chăm sóc và gây giống ngựa tốt cho
quân đội, người ta còn chăn thả thêm la, lừa, cừu , bò Tây
Tạng …

Lịch sử về nhà nước quản lý mã trường ở hành lang Hà
Tây đã có từ rất lâu. Đời Hán, tại biên giới tây bắc đã “lập
ra đồng cỏ để chăn nuôi ngựa, có đến ba mươi sáu sở, nuôi
đến ba mươi vạn con ngựa”(Hán thư). (Đó là sự mở đầu
của các mã trường quốc doanh ở Trung Quốc. Thế kỷ thứ
V CN, đời Bắc Ngụy mở rộng đế quốc, lấy Hà Tây làm
mục trường rộng lớn để nuôi ngựa. Ngụy thư có ghi: “Hà
Tây có nước có cỏ tốt bèn lấy làm nơi chăn thả súc vật, sinh
sản nhanh chóng, ngựa có đến hai triệu con”. Thời bấy giờ,
ở Hà Tây thường xuyên duy trì khoảng một trăm ngàn ngựa
chiến dự phòng nhu cầu quân sự bảo vẹ kinh đô. Ngựa từ
Hà Tây đưa về nội địa trước tiên phải chuyển đến Sơn Tây,
rồi từ từ đưa về phía nam để ngựa quen dần với thủy thổ
nội địa, ngựa sẽ không bị chết nửa chừng. Thời Tùy Dạng
Đế, khu đồng cỏ rộng lón chăn thả ngựa tại Sơn Đan nuôi
đến hơn mười vạn ngựa quan (tức ngựa nuôi để phục vụ
triều đình). Thời Sơ Đường, từ Trung Nguyên chuyển đến
dải đất Hà Tây ba ngàn con ngựa, qua bốn mươi năm sinh
sản hơn bảy mươi ngàn con ...

- Xem thế có thể thấy từ nhà Hán đến nhà Đường, Hà
Tây trước sau vẫn là khu vực nuôi ngựa quan trọng của

110

chính quyền trung ương, còn lịch sử nuôi ngựa ở mục
trường Sơn Đan có thể truy nguyên từ đời nhà Tùy.

Do tác dụng đặc biệt quan trọng của ngựa chiến trên
các chiến trường thời cổ đại, thời ấy có thể xem một con
ngựa chiến tương đương với một cổ xe tăng ngày nay, kẻ
thống trị của các triều đại không chỉ coi trọng sự sinh sảnh
nhanh chóng của ngựa mà còn coi trọng sự cải tạo các
giống ngựa.

Đời Hán, người ta cho các loại ngựa xứ Đại Oản, xứ Ô
Tôn giao phối với ngựa nội địa để có những con ngựa hình
thể tuấn tú, sức vóc tráng kiện. Đời Đường, người ta cho
nhập các giống ngựa từ Ba Tư nuôi dưỡng thành giống
ngựa của nhà Đường khỏe mạnh, hùng tráng. Tân Đường
thư, mục binh chí có nói: “Cho giao phối với ngựa Hồ,
ngựa ta sẽ tăng phần tráng kiện”. Ngày nay, dọc con đường
tơ lụa, chúng ta đã đào được những tượng ngựa đồng, ngựa
đất nung thì có thể thấy từ nhà Hán đến nhà Đường, có
nhiều giống ngựa khác nhau, nhiều đáng ngựa khác nhau,
không thiếu những con ngựa mang phẩm chất ưu mỹ của
giống ngựa xứ Tây Vực. Đó cũng là một thành quả của sự
giao lưu văn hóa kinh tế giữa Đông và Tây.

Trên đường đi xe từ mã trường Sơn Đan về huyện
Trương Dịch, tôi nói với La Thư Quần:

- Công tác khảo cổ của các anh nhiều thật đấy! Ví như
khu doanh Bát Quái, khu hoại thành, khu cổ thành Vĩnh Cố
v.v… Tất cả đều phải chờ khảo sát khoa học, việc này tôi
thấy có liên quan đến con đường tơ lụa đấy!

Ông gật đầu nói:

- Nhiệm vụ rất nặng, nhưng cũng rất thú vị, còn nhiều
nơi hấp dẫn. Xem ra anh rất hứng chí, ngày mai tôi sẽ dẫn

111

anh đi tìm nhà của “Chiêu Vũ cửu tính” (chín họ nhà Chiêu
Vũ).

“Chiêu Vũ cửu tính” vốn là họ “Chiêu Vũ” của chín
gia dân tộc thiểu số từ hành lang Hà Tây thiên di đến Trung
Á. Để kỷ niệm cố hương, vua của họ viết thêm hai chữ
“Chiêu Vũ” vào trước họ của mình, sử gọi là “Chiêu Vũ
cửu tín”. Đi xem quê cũ của họ, đương nhiên là tôi rất hứng
thú.

1 Pamia: cao nguyên vùng Trung Á chia giữa
Tadjikistan và Trung Hoa, cao trên 7000m.

2 Vịnh Ba Tư thông với Ấn Độ dương, nằm giữa Ả Rập
và Iran; nơi xảy ra chiến tranh vùng vịnh năm 1990.

112

8. TỪ BỜ SÔNG HẮC THỦY ĐẾN GIA
DỤ QUAN

Nhà thơ Đường Bạch Cư Dị bị biếm trích Cửu giang,
đêm thu đưa bạn đến bến sông, bỗng nghe văng vẳng trên
sông nước tiếng đàn tỳ bà, khúc nhạc hay như khúc nhạc
tiên, liền tìm hỏi xem người chơi đàn là ai, thì đó là một
phụ nữ vốn là một ca nữ Trường an đã từng học đàn tỳ bà
với hai nhà thiện tài họ Tào. Mục, về già lấy một lái buôn,
trôi nổi chốn tha hương. Nhà thơ nghe qua thân thế của
người phụ nữ cảm động muôn phần, sáng tác bài “Tỳ bà
hành” làm rung động lòng người.

CỐ HƯƠNG CỦA NGƯỜI HỒ PHẢI THIÊN DI VỀ
HÀ TÂY

Trong lịch sử, nước Mục và nước Tào thuộc nước
“Chiêu Vũ cửu tính”, nằm bên ngoài núi Thông Lĩnh, đứng
đầu là nước Khang, rồi đến nước An, nước Thạch, nước
Mễ, nước Sử, nước Tào, nước Hà, nước Hỏa Tâm v.v... Về
danh xưng của nước “Chiêu vũ cửu tính” trong sử sách còn
chưa nhất trí, nhưng đó chỉ là tiểu tiết. Chín nước này vốn
thuộc tộc người Nguyệt Thị cư trú rất sớm ở thành Chiêu
Vũ dọc hành lang Hà Tây. Trước Công nguyên bị người
Hung Nô truy đuổi phải thiên di đến phía tây núi Thông
Lĩnh, trước tiên lập ra nước Khang rồi sau mới phân nhánh
mà thành chín nước. Quân vương của chín nước này đều
có thêm hai chữ “Chiêu Vũ” trước họ của mình để dòng họ
không bị mất gốc.

Cổ thành Chiêu Vũ tọa lạc tại một nơi cách không xa
Trương Dịch về phía tây bắc là mấy. Về “Chiêu Vũ cửu
tính”, người ta có hàng loạt những câu chuyện thú vị, cố

113

hương của họ chỉ gần trong gang tấc, chắc chắn tôi sẽ đi
thăm một chuyến.

Sau khi con đường tơ lụa khai thông, nhiều người của
nước “Chiêu Vũ cửu tính” trở lại Trung Nguyên. Tại kinh
đô Trường An của nhà Đường, lưu ngụ không ít những
người đa tài đa nghệ của nước “Chiêu ' Vũ cửu tính”. Các
danh thủ trong nghệ thuật chơi đàn tỳ bà có Tào Bảo, đến
đời con là Tào Thiện, đời cháu là Tào Cương. Ngoài ra
trong một số bài thơ Đường còn có nói đến danh ca Mễ Gia
Vinh, ông chính là người nước Mễ. Trong sử sách đời
Đường có nói đến môn “múa xoay của người Hồ” do các
vũ nữ nước Khang và nước Sử diễn xuất. Trong mười bộ
nhạc do vua Đường ngự chế có nhạc của nước An và nước
Khang ... Như vậy ta có thể thấy âm nhạc và ca múa của
“Chiêu Vũ cửu tính” có ảnh hưởng rất lớn tại Trường An
vào đời nhà Đường.

Người của nước “Chiêu Vũ cửu tính” còn giỏi về kinh
doanh buôn bán. Người nước Khương sinh con trai thì lấy
mật ngậm vào miệng, lấy keo dính vào lòng bàn tay, mong
sau này con lớn nên người, miệng sẽ nói lời ngon ngọt, tay
cầm đồng tiền dính như keo, khó mà thoát ra được. Con trai
đến hai mươi tuổi thì cho ra ngoài kinh doanh buôn bán.
Nước của chín họ kể trên ở vào trung đoạn của con đường
tơ lụa, có điều kiện địa lý thuận lợi và trong mậu dịch giữa
đông tây họ thường đứng ra làm trung gian giúp đỡ người
phương Tây như Ba Tư, La Mã, Ả Rập đến phương Đông
buôn bán. Do người “Chiêu Vũ cửu tính” giỏi về kinh
doanh buôn bán nên người ta thường bảo họ là những người
“miễn có lợi thì tranh chấp, đâu có lợi thì có mặt, không
nơi nào là không đến”. Nhưng đối với việc xúc tiến mậu
dịch giữa đông tây, họ có tác dụng đặc biệt, chúng ta không
thể phủ nhận vai trò của họ được.

114

Trên bản đồ khu vực Trương Dịch, tôi đã tìm ra địa
danh “Chiêu Vũ”, nó nằm cách phía tây bắc thành Trương
Dịch chừng 40 cây số, hiện nay là một thôn trang thuộc
công xã Ấp Noãn huyện Lâm Trạch.

Đáp xe rời Trương Dịch theo hướng tây đi Lâm Trạch,
gần đến huyện lỵ thì rẽ hướng bắc rồi ngoặt hướng đông đi
thẳng thì đến công xã Ấp Noãn. Tô Thức (Tô Đông Pha)
đời Tống có câu thơ rằng: “Xuân giang thủy noãn áp tiên
tri”. (Sông về mùa xuân nước ấm lên thì những con vịt biết
trước tiên), có lẽ tên của công xã do từ ý của câu thơ ấy.
Trên đường đi thấy có chiếc cầu nhỏ bắc qua dòng sông
trông giống hệt cảnh sắc vườn ruộng xứ Giang Nam. Đang
là mùa thu hoạch vụ thu, cả một vùng ruộng lúa vàng óng.
Trong một vườn cây ăn quả có tường bao quanh, vươn lên
những cây táo xanh tốt, lá cây màu đỏ tía lấp lánh dưới ánh
mặt trời chiếu rọi, trông thật đẹp mắt.

Tôi đi vào thôn Chiêu Vũ, trong lòng đã dự cảm đó là
một thôn trang trù phú, nghe nói đội sản xuất Chiêu Vũ có
đến 4000 mẫu đất canh tác, lương thực bình quân đạt hơn
916 cân. Tôi nghe ra không khỏi kinh ngạc, mức sản xuất
cao như vậy ngay ở bắc sông Hoàng Hà cũng đã hiếm
huống hồ tại khu vực hành lang Hà tây!

Xã viên đội sản xuất Chiêu Vũ tạo những vườn cây ăn
quả rộng lớn, họ trồng táo, lê, đào và táo hồng. Đến nghỉ
tại một nhà xã viên, chủ nhân sau khi mời trà thuốc, còn
bưng một đĩa táo hồng ra chiêu đãi. Táo hồng là đặc sản
của bổn địa, trái lớn và ngọt, nhà nước thu mua để xuất
khẩu. Gần đây công ty quốc doanh đã thu mua táo hồng với
giá rất cao. Do đó đội sản xuất tăng thu nhập đến hơn ba
vạn nhân dân tệ. Anh đội trưởng họ Dương khi nói đến điều
này mặt mày trông rất rạng rỡ.

115

Anh dẫn tôi đi thăm sân phơi táo hồng, chỉ thấy một
sân táo hồng đều nhau, giống như một tấm thảm hồng rộng
lớn, tôi như muốn nằm lăn trên đó một cái cho đã thích.

Tôi hỏi anh đội trưởng họ Dương xem gần đây có di
chỉ cổ thành nào không. Anh nói trong thôn dù không có,
nhưng công xã Bản Kiều ở bên kia sông có một cổ thành.

Bên cạnh sân phơi táo có một con sông lớn, phát
nguyên từ sông Hắc Hà trong dãy Kỳ Liên nên theo ướng
tây bắc chảy về sa mạc Badain Jaran. Đối diện với con sông
là một dãy núi đá, trên đó có thột phong hỏa đài thời cổ đại.
Dưới chân núi là công xã Bản Kiều.

Đứng bên sông xem xét địa hình, tôi nghĩ đến những
điều ghi chép trong Cam châu phủ chí: “Cổ thành Chiêu
Vũ nằm ở phía đông nam Bản Kiều, đất hướng theo chân
núi, trước mặt là sông Vị Thủy … đêm ngày phản chiếu,
ráng chiều rọi vào nước sông Hắc Thủy”. Rất tiếc, lúc tôi
đứng bên bờ sông buổi trưa, nếu là hoàng hôn thì chắc tôi
sẽ lĩnh hội được những gì gọi là cảnh đẹp của Chiêu Vũ lưu
hàghi trong Cam châu phủ chí.

Xem ra thì cổ thành Chiêu Vũ ở một nơi không xa bờ
bên kia sông Hắc Hà là mấy, nay tôi đứng ở thôn Chiêu Vũ,
tức là đang ở khu vực ngoại thành Chiêu Vũ trước đây.
Hiện nay người trong thôn Chiêu Vũ có họ là Lý, Trương,
Vương, Dương, Kim v.v..., nhưng họ có biết đâu hơn 2000
năm trước còn có họ Khang, An, Mễ, Sử, Tào v.v... của
người Nguyệt Thị đã từ đây thiên di đến phía tây núi Thông
lĩnh.

LÁI BUÔN TÂY VỰC TẠI TỬU TUYỀN

Rời Công xã Ấp Noãn, chúng tôi di thẳng đến huyện
Tửu Tuyền. Đó là một trong bốn quận được thiết lập tại Hà

116

Tây từ đời Tây Hán - quận Tửu Tuyền. Đã có thời quận Vũ
Uy (Lương Châu) và quận Trương Dịch (Cam Túc) từng là
nơi quy tụ đông đúc các lái buôn Tây Vực, rồi đến quận
Tửu Tuyền (Túc Châu). Vùng đất dọc theo tây bộ hành lang
Hà Tây là đầu mối phía tây của Vạn lý Trường thành, trong
đó Gia Dụ quan là một địa trấn quan trọng bậc nhất.

Xe chạy với tốc độ cao từ 60 đến 80 cây số giờ. Đường
nhựa giống như quỹ đạo của một phi tiễn vạch thẳng một
đường xa tít tắp trên hoang mạc Gôbi. Thỉnh thoảng mới
xuất hiện một vài con lạc đà hay một vài đàn dê, còn thì đại
địa thật là tĩnh lặng, chẳng khác nào cuộc sống bị ngưng
đọng. Hoàng hôn, bầu trời khoác một lớp lớp ráng chiều.
Cây xanh, khói bếp và đèn sáng lại xuất hiện giữa những
vùng đất bằng phẳng, cuộc sống hầu như đang là hồi phục
đại địa. Các đội khách thương lạc đà của thời cổ đại, sau
khi vượt qua một quãng đường dài trong sa mạc Gôbi thấy
ánh đèn của dân bản xứ ắt hẳn tâm tình hưng phấn hẳn lên,
điều này tôi nghĩ, mình có thể cảm nhận được phần nào.

Trong sân và ngoài cửa cạnh một đường phố nơi khách
sạn của chúng tôi lưu trú đậu đầy xe khách và xe con từ
Cam Túc, Thanh Hải, Tân Cương đến, đâu đâu cũng xe là
xe. Trong khách sạn còn có những người nước ngoài đi
máy bay từ Bắc Kinh đến nghỉ lại chờ xe để ngày mai đi
thăm Đôn Hoàng. Phòng ở khách sạn trở nên ồn ào nhộn
nhịp, nói đủ mọi thứ tiếng. Qua nửa ngày giong ruổi trên
sa mạc Gôbi, giờ đến lục châu, cuộc sống sôi nổi của con
người bỗng có nét mẫn cảm đặc biệt.

Tửu Tuyền còn có tên là Túc Châu đã nổi tiếng rất sớm
với người Trung Á và châu Âu. Vào thế kỷ thứ XIII, nhà
du hành người Ý Marco Polo trong Đông phương kiến văn
lục (Ghi chép những điều nghe thấy ở phương Đông) đã ca
ngợi Tửu Tuyền, sách đó gọi Tửu Tuyền là Succuir (Túc

117

Châu, tức vùng đất đáng kính). Sau khi từ vùng Tiểu Á (tức
Trung Đông) vào đến Tân Cương rồi đến Tửu Tuyền thì
không có đường qua hành lang Hà Tây để vào nội địa
Trung Quốc, ông bèn từ Tửu Tuyền ngoặt lên phía bắc đến
biển Cư Diên (tức Ngạch Tế Nạp Kỳ) rồi từ Nội Mông
thẳng đến Đại Đô (tức Bắc Kinh).

Về sau, cũng có nhiều người nước ngoài ghi chép về
những điều mắt thấy tai nghe ở Túc Châu. Vào thế kỷ thứ
XVII, một người Bồ Đào Nha tên là Caociu (?) từ Ấn Độ
qua Tân Cương rồi đến Tửu Tuyền với ý định là đi Bắc
Kinh, nhưng chẳng may ông bị bệnh và chết ở đây vào năm
1607. Ông còn để lại tập nhật ký miêu tả những việc đã trải
qua và những điều nghe thấy lúc trú ngụ tại Túc Châu.

“Thành Túc Châu là nơi tụ tập của các thương nhân
phương Tây... Thành chia làm hai khu: một khu người
Trung Quốc cư trú, còn một khu của người Hồi giáo, họ
đều từ phương Tây đến, chuyên về nghề buôn bán, phần
lớn họ lấy vợ sinh con ở đấy, đời này nối đời khác không
trở về quê cũ nữa, rồi dần dần nhập tịch ở đây luôn. Hằng
đêm, người Hồi về khu Hồi giáo của mình đóng cửa tự thủ,
cư xử bên ngoài luôn luôn hòa đồng, mọi điều tố tụng đều
theo lời phán quyết của quan sở tại.

Trong nhật ký của Caociu còn nói đến việc các thương
nhân nước ngoài mạo danh sứ thần để được nhập cảnh. Với
tư cách là sứ thần, họ phải dung nạp cho hoàng đế Trung
Quốc đá quý kim cương và các cống vật khác, thế làm sao
họ kiếm ra lợi lộc? Thực ra, nhà vua cung ban cho họ nhiều
lễ vật và đôi khi còn vượt xa giá trị cống vật của họ nữa.
Do đó, thương nhân nước ngoài lai được lợi nhiều hơn.
Xem ra cách kinh doanh trục lợi của thương nhân thời cổ
đại không chỉ do ý nghĩa của việc ngậm mật, dính keo vào

118

lòng bàn tay lúc mới sinh, mà họ còn có cả kho khôn ngoan
trong kinh doanh nữa.

LẦU TRỐNG VÀ SUỐI RƯỢU

Căn cứ sử sách ghi chép thì thương nhân Tây Vực tập
trung tại Đông Quan. Ngày nay, ở Đông Quan người ta
không tìm thấy “di xưởng”, “di quán” ... đâu nữa. Cả thành
chỉ còn lại “Lầu trống” (Cổ lâu) nằm ở ngã tư đường của
trung tâm thành phố là dấu ấn của kiến trúc có hương sắc
của thời cổ đại. Trên một nền gạch cao, sừng sững một tòa
lầu ba tầng bằng gỗ, đỉnh lầu nhọn trông giống như một
ngôi đình. Toàn thể kiến trúc cho ta một cảm giác vừa xinh
đẹp vừa đôn hậu. Dưới lầu, chung quanh có bốn cửa trông
ra bốn hướng đông tây nam bắc, bộ hành và xe cộ có thể đi
qua. Trên mỗi các cửa có đề bốn chữ lớn: “Bắc thông sa
mạc”, “Nam vọng Kỳ Liên”, “Đông nghênh hoa Nhạc",
"Tây đạt Y Ngô" . Mười sáu chữ đó chỉ rõ vị trí địa lý của
Tửu Tuyền tương đối chính xác. Đứng trên lầu nhìn về tứ
phía thì trước mặt là sa mạc Badain Jaran ở phía bắc và dãy
núi Kỳ Liên ở phía nam. Phía tây là con đường lớn thông
vãng Y Ngô, Tân Cương, đi thẳng Tây Vực. Phía đông,
nhìn hút tầm mắt, tuy trải dài nghìn dặm, trừng trùng điệp
điệp những núi non chập chùng cao ngất của bao nhiêu rặng
núi trên vừng đất bao la của Trung Nguyên, nhưng như
đang quy tụ đón chào.

Lầu trống được xây dựng vào năm 346 CN, tức lúc
Tửu Tuyền thuộc thời Tiền Lương. Ngôi lầu bằng gỗ ba
tầng hiện nay được trùng tu vào thế kỷ XIX thời Quang Tự
nhà Thanh. Mấy năm gần đây có tu sửa lại một lần nữa.
Ngoài cửa thành phía đông có một suối nước nằm dưới đất
có tên là Tửu Tuyền (Suối rượu) nên lấy nó đặt tên cho tên
huyện luôn và trở thành một danh thắng. Ngày nay người

119

ta đã xây thành công viên. Bước vào cổng công viên thì
thấy một hàng dương bao quanh một lòng hồ nhỏ, chính
giữa có một ngôi đình gọi là hồ Tâm Đình. Nước hồ do một
suối nước trong vắt từ lòng đất phun lên. Chỗ suối nước
phun có dựng quanh một vòng đá ngọc thạch đời Hán trông
giống như một cái giếng. Bên cạnh suối có dựng một bia
đá trên có khắc dòng chữ “Tây Hán Tửu Tuyền thắng tích”
(Thắng tích Tửu Tuyền đời Tây Hán). Viên đại tướng Hoắc
Khứ Bệnh thời Tây Hán đã đem rượu của vua ban đổ xuống
suối với hàm ý là để thuộc hạ, quan binh của mình đều được
hưởng ân tứ của hoàng đế. Truyền thuyết thì khó tin, nhưng
việc Hoắc Khứ Bệnh đi đánh Hà Tây, sử dụng chiến thuật
vu hồi (đánh vòng sau lưng địch gây bất ngờ), tức từ khu
vực bắc bộ sa mạc bao vây đến Tửu Tuyền để đánh bọc hậu
quân Hung Nô là một việc có thật.

Trong thơ Đường có nhiều bài thơ biên tái nói về sinh
hoạt của các chiến sĩ đi chinh tây ngoài biên ải, trong đó có
bài Lương Châu từ của Vương Hàn rất nổi tiếng.

“Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi,

Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi;

Túy ngoa sa trường quân mạc tiếu,

Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi”.

Bài hát Lương Châu:

Rượu bồ rót chén dạ quang

Trên yên, sắp uống, nghe vang đờn tì

Say nằm bãi cát, cười chi?

Xưa nay chiến địa sống về những ai?

(Theo Đại cương văn học sử Trung Quốc, Nguyễn
Hiến Lê NXB Trẻ 1997)

120

Trong bài thơ có nói đến chén dạ quang thì ngày nay
là một công nghệ phẩm của Tửu Tuyền, khách du lịch nước
ngoài nghe danh thường mua mấy cái đem về. Theo những
gì Đông Phương Sóc kể trong Hải nội thập châu ký (Những
ghi chép về mười châu trong nước) thì “Thời Chu Mục
vương, người Tây Vực đem cống nộp rất nhiều chén dạ
quang,... Chén làm bằng một thứ bạch ngọc rất tinh xảo,
ban đêm tỏa ra ánh sáng”. Chén dạ quang trong truyền
thuyết là một cống vật của người Tây Vực làm từ loại ngọc
trắng, sáng như ánh trăng mà trong suốt.

Trong phòng triển lãm trưng bày sản phẩm công nghệ
mỹ thuật ở Tửu Tuyền, tôi thấy đủ loại kiểu cách của chén
dạ quang, có thứ bằng bạch ngọc, có thứ bằng hắc ngọc, có
loại chén đáy bằng, có loại chén chân cao. Tôi rất thích loại
chén dạ quang bằng hắc ngọc, đưa chén ra ánh sáng thì nửa
là trong suốt, còn nửa kia có màu lục đậm, rót rượu cho vào
đầy chén, rượu vẫn không tràn ra ngoài. Tuy giá tiền khá
đắt, tôi vẫn mua một cặp. Tôi nhớ lúc mới giải phóng tôi
có ghé qua Tửu Tuyền và mua một cặp chén dạ quang bày
bán trên vỉa hè, cách chế tạo còn quá thô sơ, không trong
bóng, nó chỉ như loại chén đá mài thông thường người ta
hay dùng. Còn ngày nay sản phẩm của xưởng công nghệ
mỹ thuật Tửu Tuyền đều lấy đá ngọc từ núi Kỳ Liên đem
về chế tạo, nên rất tinh xảo, mỹ thuật, xứng danh là chén
dạ quang.

Đặc biệt tôi được tham quan kho chứa vật liệu, ở đấy
chất đầy ngọc thạch, có thứ màu xanh lục, có thứ màu vàng
mơ, có thứ màu trắng mỡ … Tất cả đều được đem về từ núi
Kỳ Liên. Xưởng sản xuất không những làm ra chén dạ
quang từ ngọc thạch núi Ký Liên mà còn chế tạo bình hút
thuốc trà, nhân vật, động vật.... các thứ, được đem bán khắp
nơi trong và ngoài nước.

121

Người phụ trách khai thác ngọc thạch Vu Sư Truyền
nói hằng năm vào khoảng tháng năm, đội khai thác vào núi
và khoảng tháng mười thì họ trở về: Địa điểm khai thác
ngọc thạch ở núi Kỳ Liên là cạnh một ngọn núi cao cách
mặt nước biển 5564 mét. Trong thời gian khai thác ngọc,
họ dựng trại dã chiến trên núi cao, sinh hoạt giống như một
đội leo núi thể thao, ngủ trong lều trại, săn bắt thú hoang,
nhóm lửa trại, kết bạn với những mục dân người Tây Tạng.
Vu Sư Truyền sôi nổi nói về cuộc sống đặc biệt đầy hứng
thú ấy. Hằng năm họ khai thác đưa về từ 10 đến 20 tấn ngọc
thạch mới đủ dùng.

Tửu Tuyền sản xuất chén dạ quang bắt đầu từ cuối đời
Quang Tự nhà Thanh, bấy giờ người ta mới phát hiện ra
ngọc thạch núi Kỳ Liên. Thơ Đường nói đến chén dạ quang
tức là loại chén ngọc lấy chất liệu từ Tây Vực mà làm ra.
Vương Hàn trong bài Lương châu từ cố ý dùng chén dạ
quang, rượu bồ đào, đàn tỳ bà ... là muốn tô vẽ ra màu sắc
địa phương xứ Tây Vực đã sớm vang danh ở Trung Quốc
từ hơn hai ngàn năm trước. Sau khi con đường tơ lụa khai
thông, sử sách nói đến sứ thần và lái buôn Tây Vực thường
đưa ngọc vào Trung Nguyên. “Ngọc môn quan” là cửa
chuyển vận ngọc vào nên mới có tên như vậy.

CUỘC SỐNG CỦA MỘT NGÀN NĂM TRĂM NĂM
TRƯỚC TÁI HIỆN

Để có thêm một số kiến thức lịch sử của khu vực Tửu
Tuyền về mặt di chỉ văn vật, tôi đã đến phòng văn hóa
huyện thăm và hỏi nhà làm công tác văn vật Phùng Minh
Nghĩa, năm nay đã ngoài năm mươi tuổi. Ông có vẻ băn
khoăn nói, rất nhiều văn vật đã đưa về Bắc Kinh và Lan
Châu cả rồi.

122

Những gì đang có thì chưa được tu chỉnh hoàn hảo.
Thoáng thấy trên án thư có một tượng ngưa bằng đồng, tôi
liền bị cuốn hút ngay. Tượng ngựa này làm theo dáng đứng
yên, khác với tượng ngựa “Mã đạp phi yến” ở thế tung vó
phi nhanh đào được ở Vũ Uy, nhưng nhìn cách tạo hình ở
phần đầu và phần thân thì khá đẹp, chẳng khác gì tượng
ngựa ở Vũ Uy. Tượng ngựa đồng, thời Đông Hán này đào
được ở cổ thành thuộc công xã Tam Đông vào năm 1977.
“Ồ! Dọc hành lang Hà Tây người ta khai quật được không
ít những tượng ngựa rõ thật là đẹp!”.

Tôi bỗng thốt lên như vậy.

Ông Phùng Minh Nghĩa nối tiếp:

Và đó cũng là một dạng phản ánh thực tế lịch sử nữa
đấy!

Thấy tôi có vẻ thích thú với các văn vật, ông bèn dẫn
tôi đến phòng tàng trữ của Sở Văn hóa, vừa đi vừa nói:

- Ở đấy nó lộn xộn lắm! Chẳng qua chỉ giúp ông được
chừng nào hay chừng ấy thôi! Mở cửa ra thoạt nhìn thấy
trên bàn, dưới đất, trên tường toàn là đồ cổ, rất nhiều đồ
quý giá. Tôi nói đùa:

- Giá ông là một tay lái buôn đồ cổ, thì tha hồ mà phát
tài!

Ông cười lơn, vui vẻ giảng giải cho tôi từng món một
thuộc lòng như đồ quý của nhà mình.

Tôi để ý đến tiền cổ của Trung Hoa và nước ngoài. Có
cả tiền đồng Nhật Bản, Triều Tiên, thật là hy hữu. Lại còn
có cả một quyển địa chí viết bằng tay thuộc đời Đường, thật
là giá trị. Trong sách ghi chép một số đạo, châu, phủ,
huyện, làng và hộ; ghi rõ tiền các nơi nộp thuế. Đáng chú
ý nhất là đối với các vùng đất Tây Vực mà nhà Đường quản

123

lý, văn kiện trong quyển địa chí đều ghi rõ tên phủ như Bắc
Đình, Quy Tư, Sơ Lặc … Những vùng đất này ngày nay
đều thuộc tỉnh Tân Cương, và cũng chính là những nơi mà
con đường tơ lụa đi qua.

Tội bắt đầu hởi về tình hình một số mộ đời Hán và đời
Ngụy Tấn khai quật được ở Tửu Tuyền. Ông nói:

- Gần đây chúng tôi đã khai quật một ngôi mộ thuộc
thời Đông Tấn thập lục quốc (khoảng đấu thế kỷ thú IV
CN), có những bức bích họa thật đặc sắc.

Tôi rất hứng thú, nói:

- Có thể đi xem được không?

Chúng tôi đang tu sửa phần bên trong, ông nói, chưa
đóng cửa, chúng ta có thể đến xem qua.

Ngày thứ hai, chứng tôi theo đường thông vãng Tân
Cương, đi chừng 8 cây số, rẽ về hướng bắc thì đến vườn ăn
quả thuộc hợp tác xã Đập Đinh Gia, bên bờ sa mạc Gôbi,
tìm thấy ngôi mộ số 5, tức ngôi mộ khai quật vào tháng 8
năm 1977. Theo đường hào đi xuống chừng 10 mét, mở
cánh cổng bằng gỗ được tân trang lại, thúng tôi đi vào một
gian huyệt mộ rộng chừng 6 mét vuông. Bốn mặt tường là
những bức vẽ hiện ra, màu sác lộng lẫy. Trong phòng có
hai vị họa sư đang tô vẽ dưới ánh đèn sáng trưng. Đứng
trong một huyệt mộ hơn 1500 năm trước, tôi cảm thấy
không một chút gì có vẻ âm khí lạnh lẽo cả, mà trái lại nhìn
thấy người xưa vẫn sinh hoạt một cách sống động chẳng
khác nào như đang diễn ra xung quanh chúng tôi. Sứ thần,
thương gia Tây Vực của một thời xa xưa, sau khi vượt qua
sa mạc Taklamacan để vào dãy hành lang trù phú, rồi chính
mắt họ thấy tình hình hưng thạnh của vùng Hoa Hạ lần lượt
hiện ra trước mắt tôi.

124

Đồ họa trên vách chia làm ba tầng: trên, giữa và dưới.
Tầng trên có nội dung nói về các thần thoại cổ đại Trung
Quốc. Đồ họa trên hai bức vách trước sau vẽ chủ tể của thế
giới ở thiên đình là Đông Vương công và Tây vương mẩu.
Đồ họa hai vách trái phải vẽ những thiên mã phi lướt giữa
tầng mây, trong không trung kỳ lân phóng như bay cùng
với những thiên thần với đôi cánh trên vai. Các bức vẽ này
thật phóng túng, mang đầy chất lãng mạn.

Các bích họa ở tầng giữa và tầng dưới đã khiến tôi rất
thú vị, người ta vẽ về những sinh hoạt của nhân gian. Tầng
giữa miêu tả những sinh hoạt hào phóng của chủ nhân ngôi
mộ, đặc sắc nhất là bức đồ họa về buổi yến tiệc. Chủ nhân
đội mũ đẹp, mặc trường bào ngồi ngay ngắn nơi tiền án,
đằng sau có hai người, một nam, một nữ đang đứng hầu.
Trên án bày thức nhắm, trước mặt chủ nhân là đám nam nữ
đang ca hát, nhảy múa và có một người đi đầu xuống đất
như đang làm xiếc. Cạnh đó có bốn người đang tấu nhạc:
gồm đàn tranh, đàn tỳ bà, thổi sáo và đánh trống. Cách họa
người chơi đàn và người nhảy múa rất ăn ý, sinh động.
Toàn thể bức họa toát lên không khí hưởng thụ, thưởng
thức nhạc vũ của chủ nhân, khiến người xem cũng như
đang là người trong cảnh. Tôi thầm nghĩ các sứ thần Tây
Vực đã từng đón tiếp các quan viên Trung Quốc của họ
bằng việc thưởng thức những yến tiệc như vậy cùng với nội
dung của bức bích họa ở tầng cuối là những nô bộc của chủ
nhân ngôi mộ: tả cảnh sinh hoạt của những người lao động
như cảnh cày đất, cảnh sàng sảy lúa gạo, cảnh hái dâu, cảnh
chăn nuôi gia súc, … rồi người giúp việc, người nấu bếp
v.v... Nhân vật được phác thảo bằng màu đen hay màu đỏ
thẫm, đường nét thật linh hoạt.

Mỗi nét bút tuy là vẽ phác thảo hình đáng y phục bên
ngoài, nhưng hình thái chi thể bên trong và các động tác
của từng nhóm nhân vật đều có thể khiến người xem cảm

125

nhận được những nét kỹ xảo của những nhà họa sĩ vô danh
thời cổ đại không thể không khiến ta thán phục.

Phùng Minh Nghĩa nhắc tôi chú ý đến hình dáng của
một người đang cày đất. Đầu đội mũ dạ, mũi cao, mắt sâu,
râu rậm mà ngắn, mình mặc áo cánh, chân đỏ hồng. Phùng
Minh Nghĩa nói người giúp việc ăn mặc kiểu người Hồ rõ
ràng không phải là người Hán. Trong số các đầy tớ và vũ
công nam ăn mặc trang phục người Hán cũng để râu rậm
vễnh lên, xem qua diện mạo không phải người Hán mà là
người dân tộc thiểu số.

Tôi hỏi:

- Theo bối cảnh lịch sử khu vực Hà Tây mà xét thì anh
rút ra nhận xét gì về những bức bích họa trong các mộ chí

này?

Anh nói ra một số nhận định của mình và nghe ra cũng
rất có lý. Thứ nhất, thời kỳ mười sáu nước Đông Tấn,
Trung Nguyên loạn lạc liên miên, còn khu vực Hà Tây, đặc
biệt là vùng Tửu Tuyền, Đôn Hoàng tương đối ổn định,
kinh tế phát triển. Trên các bích họa không hề có bóng dáng
binh lính, vũ khí mà toàn là cảnh trang viên san sát, nông
nghiệp, chăn nuôi thịnh vượng, cảnh sống thanh bình, điều
này cũng đã phản ảnh phần nào bối cảnh lịch sử đương thời.
Thứ hai, trong gian mộ còn có những bức họa cảnh hái dâu.
Trong số những ngôi mộ thời Ngụy Tấn khai quật được ở
Tửu Tuyền và Gia Dụ Quan cũng có họa lại cảnh hái dâu.
Điều này chứng minh rằng trong lịch sử, hành lang Hà Tây
không chỉ là lộ chính của con đường tơ lụa mà còn là khu
vực sản xuất ra tơ lụa. Thứ ba, thời kỳ mười sáu nước Đông
Tấn, các tộc người Hán, người Đê, người Hung Nô và
người Tiên Ty liên tiếp nhau làm ra năm nước Lương (sử
gọi là Ngũ Lương quốc) tại khu vực Hà Tây, đó là Tiền
Lương, Hậu Lương, Nam Lương, Tây Lương và Bắc

126

Lương. Bấy giờ nhân dân các tộc người này rất hòa thuận,
về mặt văn hóa cũng có những gắn bó với nhau, văn hóa
tiên tiến của người Hán có tác dụng chủ đạo. Những tập
quán sinh hoạt của nhân dân phản ánh trên những bức bích
họa trong các gian mộ đều thuộc về người Hán, nhưng xem
ra nhân vật trong các bức họa không ít người thuộc các dân
tộc thiểu số.

Phùng Minh Nghĩa còn nhắc tôi chú ý các bức bích họa
trong gian mộ ấy cũng đã tồn tại trước đó trong các bích
họa ở Đôn Hoàng. Xét về phong cách đồ họa có thể thấy
bích họa cả hai nơi đều có liên hệ hữu cơ với nhau. Điếu
này nói lên một bằng chứng rằng cho dù nghệ thuật ở Đôn
Hoàng có hấp thu ảnh hưởng của Tây Vực, nhưng gốc rễ
của nó vẫn bắt nguồn tại vùng đất nghệ thuật phong phú
của dân tộc người Hoa. Tôi đã được xem bích họa ở đây
cũng là một bước chuẩn bị để xem xét và hiểu thêm về nghệ
thuật bích họa ở Đôn Hoàng vậy.

Rời khu cổ mộ, tôi lên xe ra đường cái đi chừng hai
mươi phút về hướng tây thì thấy một cửa ải hùng vĩ đó là
Gia Dụ Quan. Sa mạc Gôbi có Gia Độ Quan thì trên bờ Bột
Hải có Sơn Hải Quan, hai cửa ải cách xa ngàn dặm, chúng
sừng sững ở hai đầu Đông Tây của Vạn Lý Trường Thành.

127

9. TAM QUAN HÀNH

GIA DỤ QUAN - NGỌC MÔN QUAN - DƯƠNG
QUAN

THIÊN HẠ ĐỆ NHẤT HÙNG QUAN

Đầu phía đông của Vạn lý Trường thành, trên Sơn Hải
Quan tiếp giáp với vịnh Bột Hải có tấm biển đề Thiên hạ
đệ nhất quan (Cửa ải số một trong thiên hạ); đầu phía tây
của Vạn Lý Trường Thành, cửa ải Gia Dụ Quan nằm trong
sa mạc Gôbi cũng có tấm biển đề Thiên hạ đệ nhất hùng
quan (Cửa ải hùng vĩ số một trong thiên hạ). Tuy biển sau
có hơn một chữ hùng, nhưng cả hai cửa ải đều thiên hạ đệ
nhất.

Người xưa hay lấy chữ thiên hạ đệ nhất để thể hiện sự
tán thưởng một danh thắng nào đó. Và hai biển đề trên cũng
không ngoài mục đích ấy, nhưng có hơi lạm dụng, nào
là Thiên hạ đệ nhất tuyền (con suối số một trong thiên hạ),
nào là Thiên hạ đệ nhất kiều (cây cầu số một trong thiên
hạ), đâu đâu cũng có, thế là khiến người ta hoài nghi, vậy
cuối cùng cái nào mới thật sự là đệ nhất? Tôi đã đến Sơn
Hải Quan, cho nên lúc đi Gia Dụ Quan trong bụng mới bảo
thầm như vậy.

Đến dưới chân Thiên hạ đệ nhất hùng quan (chỉ cửa ải
Gia Dụ Quan), ngước nhìn bốn bức tường thành bằng gạch
kìa chống đỡ năm tầng lầu cao mới thấy cái “hùng” của nó.
Bước theo triền dốc để lên thành, tôi suýt nữa thì bị trượt
ngã. Tại sao người ta không xây thành bậc cấp nhỉ? Người
hướng dẫn nói ngựa chiến thời cổ đã theo lối này để lên
thành, có lẽ vì thế mà không xây cấp. Lên đến mặt thành
thấy tương đối rộng, ngựa có thể chạy thoải mái. Lâu thành

128

này có ba tầng cả thảy, lên đến tầng cao nhất, nhìn quanh
tứ phía thì tư thế của Gia Dụ Quan mới hiện rõ, đúng là có
thể sánh với Sơn Hải Quan.

Nói là một cửa ải nhưng thực sự đó là một tòa thành
lũy. Tường thành hình vuông bao quanh tạo nên thành cửa
ải, chu vi tổng cộng 733,30 mét. Phía trong thành có thể trú
đóng quan binh, nhưng ngày nay người ta đã cải tạo thành
một công viên lớn và mở một phòng triển lăm rộng. Cửa
đông và cửa tây thành, người ta đã dựng hai ngôi lầu ba
tầng bằng gỗ, bên trong chạm trổ rất tinh vi, vừa cổ kính
vừa trang nhã. Ngoài cửa thành phía tây, còn có một lớp
cửa ải nữa cũng cao bằng thành chính, dày đến 20 mét. Cho
nên có thể nói ngoài cửa ải còn có một cửa ải khác, điều
này chứng tỏ rằng việc phòng ngự của người xưa rất chu
đáo và nghiêm mật.

Tôi không đọc thấy tấm biển đề “Thiên hạ đệ nhất hùng
quan” nhưng theo người của Sở Bảo tồn nói thì có cái biển
đó, nó được treo ở lâu thành của lớp cửa ải phía ngoài,
nhưng rất tiếc cả tường thành và tấm biển đều bị hủy hoại
trong cuộc chiến xảy ra năm 1928.

Ở Sở Bảo tồn hiện còn dư một viên gạch xây thành,
tương truyền rằng năm xưa lúc tu tạo cửa ải còn sót lại. Khi
xây dựng Gia Dụ Quan, những người thiết kế đã tính toán
rất chi ly xem toàn bộ công trình cần bao nhiêu viên gạch.
Và sau khi khánh thành công trình thì chỉ thừa đúng một
viên gạch này! Truyền thuyết trên có thể là lời quá khen
của người đời sau đối với những người thợ tài năng và tinh
xảo đấy thôi!

129

TRƯỜNG THÀNH THỜI NHÀ HÁN

Gia Dụ Quan xây năm 1372, tức Hồng Vũ năm thứ
năm đời nhà Minh. Khi việc giao lưu văn hóa kinh tế giữa
đông và tây hưng thịnh nhất vào các triều đại Hán Đường
trên con đường tơ lụa thì chưa có cửa ải Gia Dụ Quan. Sau
nhà Đường, việc giao thương giữa đông và tây có thêm con
đường trên biển nên con đường tơ lụa không còn là con
đường giao thông duy nhất nữa. Nhưng vẫn có những
thương nhân, giáo sĩ người châu Âu hay Trung Á theo con
đường ấy để đến Gia Dụ Quan, và họ còn để lại những ghi
chép đáng chú ý.

Một người Bồ Đào Nha tên là Ebentu vào năm 1602,
từ Ấn Độ đến Trung Quốc bằng con đường tơ lụa, có viết:

“Từ Ha Mật đi mất chín ngày thì đến phía bắc Trường
thành của nước Chinh (tức Trung Quốc), một bức tường
thành nổi tiếng thế giới. Dừng chân đi một nơi gọi là Gia
Dụ Quan. Nghỉ ở đấy 25 ngày để đợi thư trả lời của quan
tổng đốc tỉnh có cho phép nhập cảnh hay không. Sau cùng
được trả lời là cho nhập, bấy giờ mới khởi hành. Đi một
ngày thì đến Cam Túc (Tửu Tuyền)”.

Nói Trường thành bắt đầu từ Sơn Hải Quan ở phía
đông điến Gia Dụ Quan ở phía tây là chưa hoàn toàn đúng,
đó chỉ là nói đến một trường thành tương đối hoàn chỉnh
có từ đời nhà Minh và tồn tại cho đến ngày nay mà thôi. Về
lịch sử mà xét thì Trường thành được xây dựng theo thời
kỳ và theo từng đoạn. Xa nhất về phía đông thì đến tận sông
Áp Lục, xa nhất về phía tây thì đến bên hồ La Bố ở Tân
Cương.

Thời Chiến Quốc, để phòng ngư mặt bắc thường bị dân
du mục Hung Nô quấy nhiễu, ba nước Tần, Triệu, Yên mỗi
nước đều tự xây tường thành. Sau khi Tần Thủy Hoàng
thống nhất Trung Quốc, đem thành ba nước trên kết lại với

130

nhau đồng thời mở rộng thêm tạo nên Trường thành, tây từ
huyện Lâm Thao, quận Lũng Tây, Cam Túc; đông đến Kiệt
Thạch, Liêu Đông. Do đó, bức tường thành đầu tiên không
qua hành lang Hà Tây của phía tây sông Hoàng Hà.

Sau khi nhà Hán khai thông con đường đi Tây Vực qua
hành lang Hà Tây thì mới bắt đầu mở rộng thêm Trường
thành đến đó (tức Hà Tây) và chạy thẳng đến tây bộ quận
Đôn Hoàng, tức hai cửa ải Ngọc Môn Quan và Dương
Quan. Và do đó Trường thành kéo dài về phía tây cho đến
hồ La Bố.

Tôi tiếp tục đi về hướng tây, ở địa phận Vũ Uy và
Trương Dịch, tôi lần lượt được xem những di chỉ Trường
thành đời Hán. Trường thành đời Hán dùng đất để xây
tường, dĩ nhiên không hùng tráng bằng Trường thành đời
Minh xây bằng gạch. Thế nhưng trường thành đã trải qua
hai ngàn năm sương gió mà vẫn tồn tại thì đủ thấy nó kiên
cố như thế nào! Tôi đã từng hỏi các chuyên gia về vấn đề
này, vì sao dùng đất xây tường mà bền vững như vậy? Họ
nói, nhìn bên ngoài thì đúng tường thành bằng đất, nhưng
bổ ra xem thì bên trong có từng lớp, từng lớp thân cây thực
vật. Qua sự thẩm thấu của nước và muối khoáng, đất sét
kết dính với thân cây thực vật tạo thành một thể rắn chắc,
do đó mà tường thành rất kiên cố.

Rời Gia Dụ Quan, tôi tiếp tục đi về hướng tây, mục
đích là đến huyện Đôn Hoàng và hai cửa ải Ngọc Môn
Quan và Dương Quan.

ĐƯỜNG CAO TỐC TRÊN SA MẠC

Đường ở sa mạc Gôbi đi về phía tây có thể nói là loại
uống cao tốc. Tôi để ý đến kim chỉ tốc độ trên đồng hồ
kilômét, từ con số 40 dần dần lên đến con số 80. Tay lái

131

dưới tay anh tài xế hầu như bất động. Bánh xe lướt nhanh
trên mặt đường thẳng tắp và bằng phẳng giống như muốn
bay lên khỏi mặt đất.

Trên đường đi phải qua huyện An Tây, ngày xưa gọi
là Qua Châu, tức là vùng đất sản xuất nhiều loại dưa như
dưa hấu, dưa bở, dưa bạch lan v.v... Nơi đây còn là kho gió
nổi tiếng nữa. Dân trong vùng thường hay nói: “Ở đây mỗi
năm chỉ nổi gió một lần”. Thực ra, từ đầu năm đến cuối
năm, liên miên bốn mùa đều có gió, tính đúng ra chỉ thổi
có một lần! Lúc chúng tôi đi qua cũng may không gặp gió
lớn. Anh tài xế cho biết đó là nhờ mấy năm gần đây có chủ
trương trồng cây gây rừng. Toàn huyện có cả thảy ba mươi
bảy lò gió lớn, trong đó có ba mươi lò đã trở thành lâm
trường. Diện tích trồng cây gây rừng trên toàn huyện đạt
hơn hai mươi mốt ngàn mẫu.

Vị cao tăng Huyền Trang đời Đường đi Tây Vực thỉnh
kinh có ghé qua Qua Châu. Ngài đã dừng chân ở đây nhiều
ngày, tìm hiểu lộ trình sắp đi. Người ta bảo cho ngài biết từ
Qua Châu men theo sông Lặc Hà đi về hướng tây, ra khỏi
Ngọc Môn Quan là sa mạc trải dài không bóng người,
không thôn xóm, một vùng cát dài hơn 400 cây số không
cỏ, không nước.Từ Lương Châu (Vũ Uy) ra đi, có hai đồ
đệ tháp tùng với ngài đi Qua Châu, một người thì đi Đôn
Hoàng, còn một người thì yếu ớt không chịu được lao nhọc
giữa đường nên ngài cho trở về Lương Châu. Tại Qua
Châu, ngài tự xoay xở chuẩn bị, rồi thay ngựa khỏe, một
mình trơ trọi men theo sông Sơ Lặc thẳng đến Ngọc Môn

Quan.

Chúng tôi rời An Tây tiếp tục nhắm hướng Đôn Hoàng
đi tới, lại một lần nữa đi vào sa mạc Gôbi. Tôi thấy trên mặt
đất bằng phẳng phía trước ánh phản chiếu lấp lánh giống
như có một hồ nước lớn, rồi lại thấp thoáng thấy bóng rừng

132

cây. Đi thêm nửa giờ đồng hồ nữa, thì mặt nước kia đã tiến
về phía chân trời xa, không còn thấy gần nữa. Tôi hỏi anh
tài xế:

- Phía trước là nơi nào mà trông giống như một hồ
nước vậy.

Anh tài xế nói:

- Anh đang khát nước phải không? Ở đây làm gì có hồ
nước nào? Từ đây đến Đôn Hoàng, ngoài sa mạc và đá cuội,
còn không có gì khác cả. Thì ra hồ nước và rừng cây chỉ là
cảnh ảo, đó chỉ là do ánh mặt trời chiếu vào sa mạc nóng
hừng hực phản xạ lại mà ra. Cảnh đó gọi là ảo ảnh trong sa
mạc.

Chúng tôi thật sự thấy được lục châu vào lúc hoàng
hôn. Thử tính từ Gia Dụ Quan đến Đôn Hoàng qua sa mạc
Gôbi trên con đường cao tốc vừa đúng 381 cây số.

Chúng tôi vào thành bằng con đường rợp bóng cây,
ven hai bên đường có mương nước. Những cây bạch dương
ở hai vệ đường đã khoác lên mình màu vàng óng của sắc lá

mùa thu.

Ánh chiều xuyên qua hàng lá phản chiếu lên mặt nước
tạo thành những điểm sáng rực rỡ, long lanh, nhấp nhánh
thật là thích mắt. Và đây không còn là cảnh ảo nữa. Nước
mương chảy từ sông Đảng Hà đến mang lại sự sống cho
nhân dân Đôn Hoàng.

Phạm vi đất đai thuộc huyện Đôn Hoàng tương đối
rộng, ước chừng bốn mươi mốt ngàn cây số vuông, rộng
hơn cả đảo Đài Loan. Có người ví Đôn Hoàng như một tấm
vải màu vàng vĩ đại trên đó rải mấy giọt sơn dầu màu xanh.
So với sa mạc Gôbi mênh mông rộng lớn, những mảng màu
xanh của lục châu thật là nhỏ bé. Thế nhưng cũng không
thể xem thường chúng. Hơn hai ngàn năm nay ở đây, người

133


Click to View FlipBook Version