The words you are searching are inside this book. To get more targeted content, please make full-text search by clicking here.
Discover the best professional documents and content resources in AnyFlip Document Base.
Search
Published by ngoc.ngphuong, 2020-09-21 02:01:48

CON ĐƯỜNG TƠ LỤA - Xa Mộ Kỳ

CON ĐƯỜNG TƠ LỤA - Xa Mộ Kỳ

thứ XX đã từng có một người Anh đến khai quật ở đây
trong hơn 40 ngày, đã lấy cắp đi rất nhiều văn vật. Nhà
khảo cổ học Hoàng Văn Bách đã khai quật một số lượng
đất vào năm 1928 tại “Thiên gian phòng”, bao gồm đầu
tượng Phật, bồ tát, người cúng dường và các võ sĩ. Những
gì tôi nhìn thấy ở viện bảo tàng Tân Cương chính là những
di vật quý giá được phát hiện từ sau ngày giải phóng.

THIÊN MÔN QUAN VÀ NÚI CÔNG CHÚA

Trở lại đường cái , chúng tôi đi về hướng tây nam, qua
hồ Bosten, nơi phát nguyên của sông Không Tước, rồi
quanh co trên khu núi đá trơn trụi, một tấc cỏ cũng không
mọc được, đó là núi Khố Lỗ Khắc. Trèo lên đỉnh núi nhìn
khắp một lượt thì trước mặt là vùng bình nguyên khoảng
khoát mênh mông.

Màu xanh của đồng bằng được điểm xuyết bằng những
ngôi nhà gạch đỏ chói. Một dòng sông uốn khúc lấp lánh
dưới ánh mặt trời như sắc bạc long lanh. Chúng tôi đang
đến gần vùng lục châu Korla nằm bên rìa đại sa mạc
Taklamacan.

Tôi đứng trên núi nhìn ngắm quang cảnh bình nguyên
mà nghĩ đến Huyền Trang đã ghi trong Đại Đường Tây Vực
ký: Rời Yên Kỳ đi về hướng tây nam, “qua một ngọn núi
nhỏ, vượt hai con sông lớn thì đến vùng đồng bằng ở phía
tây”. Ngày tháng trôi qua, cảnh sắc vẫn y cựu. Ngọn núi
nhỏ đó chính là núi Khố Lỗ Khắc đang ở dưới chân tôi, còn
hai con sông lớn kia há chẳng phải là sông Khai Đô và sông
Khổng Tước là gì!

Đường tơ lụa thời cổ đại và đường cái ngày nay đến
chân núi Khố Lỗ Khắc phân rẽ thành hai đường khác nhau.
Nó men theo sông Khổng Tước rồi xuyên hẻm núi “Tứ thập

284

công lý” qua cửa ải Thiết Môn quan thì gặp vùng lục châu
Korla. Sầm Tham nhà thờ biên tái đời Đường có bài thơ
viết về Thiết Môn quan như sau:

Thiết quan thiên Tây nhai,

Cực mục thiểu hành khách;

Quan môn nhất tiểu lại,

Chung nhật đối thạch bích.

Tạm dịch:

Thiết quan góc trời tây,

Nhìn khắp người qua vắng,

Đóng cửa chức quan nhỏ,

Nhìn vách đa ngày ngày.

Chúng tôi theo đường cái đến thẳng Korla, rồi đi dọc
sông Khổng Tước, rẽ về Thiết Môn quan đi thăm con
đường tơ lụa xưa. Khi về đến cửa ải, quả nhiên thấy hai bên
sừng sững vách đá dựng đứng, thế núi chênh vênh. Sông
Khổng Tước chảy qua một hẻm núi hẹp, cạnh sông là một
con đường nhỏ uốn khúc chỉ vừa cho một chiếc xe đi qua,
thật đúng là một nơi chỉ cần một người trấn giữ, vạn người
không làm gì được.

Người bạn đồng hành chỉ cho tôi xem một dòng chữ lệ
khắc trên vách đá: “Khâm sơn đái hà” (áo núi đai sông).
Bốn đại tự này cho ta hình dung thế đất ở Thiết Môn quan
rất gắn bó. Năm viết là năm 1933, tên họ người viết đã phai
mờ đọc không ra.

Ngay nay, một đoạn sông của sông Khổng Tước chảy
qua Thiết Môn quan đã khô cạn vì trên hẻm núi người ta đã
lấp dòng chảy xây lên một đập lớn cao hơn 20 mét dùng
chắn nước làm thủy điện. Từ trạm thủy điện, dòng chảy rẽ

285

ngoặt qua Thiết Môn quan rồi chảy vào hạ lưu sông Khổng
Tước. Chúng tôi đi thăm trạm thủy điện xong thì dừng lại
bên bờ sông bổ dưa hấu ăn giải khát. Dưa ngon mát lạnh cả
người. Dung lượng điện của trạm thủy điện Thiết Môn
quan ước chừng ba vạn năm ngàn kilôwat, cung cấp điện
sinh hoạt và điện sản xuất cho toàn thành phố Korla.

Đứng dưới chân Thiết Môn quan ngẩng đầu nhìn ngọn
núi vừa uy nghi vừa xinh đẹp được gọi là núi Công Chúa.
Truyền thuyết kể rằng trên núi là hai ngôi mộ hợp táng của
công chúa nước Yên Kỳ và con trai của một vị thừa tướng.
Nơi đây đã diễn ra một tấn bi kịch theo kiểu Roméo và

Juliet.

Công chúa Nhu Hòa Na và con của thừa tướng là Tháp
Ỷ Nhĩ từ nhỏ đã sống với nhau ở trong cung cho đến lớn,
họ đã yêu thương nhau và được quốc vương chấp thuận.
Nhưng chẳng may vị thừa tướng can gián thẳng thừng nên
bị thất sủng và bị chết thảm, họa nhà lây đến cả Tháp Ỷ
Nhĩ. Anh ta bị bắt nhốt trong một chiếc hòm. gỗ, rồi ném
xuống sông Khổng Tước trôi nổi phiêu linh ra khỏi xứ,
nhưng sau được một công chúa nước khác cứu. Công chúa
này thấy chàng đâm ra xiêu lòng. Phụ vương nàng cũng
muốn nhận chàng làm phò mã, đồng thời sẽ kế thừa ngôi
báu; nhưng vì trót yêu công chúa Nhu Hòa Na, nên chàng
tìm lời thoái thác.

Sau khi đuổi Tháp Ỷ Nhĩ ra khỏi xứ, quốc vương nước
Yên Kỳ ép con gái mình lấy con trai của một gian thần có
biệt hiệu là “Hắc anh hùng”. Trong cung giăng đèn kết hoa
chuẩn bị cử hành hôn lễ. Nhu Hòa Na đang mặc quần áo cô
dâu thì Tháp Ỷ Nhĩ từ trong rương được khiêng vào cung
nói dối là đồ dẫn cưới nhảy ra. Đôi tình nhân gặp lại nhau
như một chuyện thần kỳ. Thì ra sau khi Tháp Ỷ Nhĩ cự
tuyệt lời cầu hôn của công chúa nước láng giềng, chàng trở

286

về nước mình, dân chúng ở biên cảnh đem chàng đóng vào
một cái rương nói là đồ dẫn cưới khiêng vào nội cung.

Hai “chàng vị hôn phu” gặp nhau trong hoàn cảnh éo
le, không ai nhường ai, họ rút kiếm quyết đấu, “Hắc anh
hùng” bị chém chết. Quốc vương tức giận ra lệnh đem Tháp
Ỷ Nhĩ treo cổ. Công chúa khổ công cầu xin nhưng vô ích,
rồi nàng cũng bị người cha tàn bạo bức tử.

Dân chúng nơi biên cảnh chạy đến cứu viện, nhưng đã
thấy công chúa và con trai thừa tướng cùng chết. Họ khiêng
thi thể của đôi tình nhân lên ngọn núi gần Thiết Môn quan
vừa đi vừa hát lời ai vãn bi thống, cử hành lễ hợp táng. Một
đôi tình nhân thuần khiết, lúc sống không được thành thân,
chết đi chắc chắn họ được cùng yên nghỉ ở chốn núi cao
tĩnh mịch này, vĩnh viễn cúi nhìn dòng sông Khổng Tước
chảy qua tổ quốc thân yêu của mình.

Vẫn biết đây là câu chuyện hư cấu được truyền tụng
trong dân gian, nhưng nghe xong tôi không khỏi bồi hồi bịn
rịn khi đứng dưới ngọn núi Công Chúa này.

Ở Tây Vực có hai Thiết Môn quan. Cái thứ nhất là
Thiết môn quan mà tôi đã đến, còn một cái nữa hiện nay ở
Kirsint thuộc khu vực Osbiek của Liên Xô cũ. Đây chính
là cửa ải Thiết Môn quan mà Huyền Trang phải qua để đến
nước Kiết Sương Na, theo đó thì “hai bên phải trái vách đá
dựng đứng, màu đá như màu sắt”, là cửa ngõ giao thông
quan trọng của vùng nam - bắc Trung Á thời cổ đại.

VÔ HOA QUẢ HƯƠNG LÊ

Dòng nước trong xanh của sông Khổng chảy ra khỏi
Thiết Môn quan chừng 5 cây số đem tưới cho vùng lục châu
Korla. Korla lưng nằm sát núi Khố Lỗ Khắc của dãy Thiên
Sơn, mặt hướng ra lòng chảo Tarim rộng lớn. Thiên Sơn là

287

bình phong ngăn gió lạnh từ phía bắc tràn xuống, vùng rừng
nguyên thủy hồ dương dọc hai bờ sông Tarim chắn giữ gió
cát từ phía nam lại Về mặt địa lý, Korla được thiên nhiên
ưu đãi, khí hậu ôn hòa, những ngày trong năm đều có gió
mát, trời đẹp, nguồn nước sung túc, đất đai phì nhiêu, từ
xưa đến nay là vùng đất lý tưởng cho nông nghiệp của Nam
Cương. Về lịch sử, vùng đất này vốn được người Hán khai
phá lập đồn điền đầu tiên ở Tây Vực. Năm 101 trước CN,
để cung cấp lương thực cho quan binh đóng ở Tây Vực,
chính quyền Tây Hán trước tiên đã cho lập đồn điền ở Luân
Đài và Cừ Lê. Korla tức thuộc địa phận nước Cừ Lê cũ mà
Luân Đài của nhà Hán chỉ cách Korla hơn 100 cây số về

phía tây.

Lịch sử thành phố Korla còn rất trẻ. Năm 1758, nhà
Thanh đặt chức quan tam phẩm điều hành ở đây và thuộc
dưới quyền quản hạt của huyện Yên Kỳ. Sau Cách mạng
Tân Hợi (1911), lần đầu tiên mới thành lập huyện vào năm
1929. Khi mới giải phóng, đây chỉ là một trấn nhỏ với số
dân 4700 người. Ngày nay, thành phố Korla có hơn 10 vạn
người, công thương nghiệp phát triển, là thủ phủ của châu
tự trị Mông Cổ Bainkelen, chiếm 1/4 diện tích toàn Tân
Cương. Sông Khổng Tước chảy qua thành phố rồi xuôi về
hướng nam, tuyến đường sắt Nam Cương sau khi đặt đường
ray đến Korla sẽ tiếp tục kéo dài thẳng xuống phía nam.

Đi sâu vào từng khu phố tôi mới thấy thành phố này
còn rất trẻ. Nó được quy hoạch rất chỉnh chu, gọn ghẽ. Trên
các đường phố lớn không thấy nhà cửa kiểu cổ. Cách kiến
trúc ngân hàng, hiệu buôn, bưu điện, nhà hát đều tân kỳ và
rộng thoáng. Hai bên đường, những hàng bạch dương cao
vút tô điểm thêm cho đường phố vừa tự nhiên vừa sạch đẹp.

Hàng hóa trong chợ tương đối dồi dào. Tôi đặc biệt chú
ý đến mặt hàng thực phẩm như bắp cải, cà pháo, hành tây,

288

ớt cà chua, tỏi... Khi còn ở Bắc Kinh tôi không bao giờ nghĩ
ra rằng vùng lục châu ven rìa sa mạc Taklamacan lại có thể
sản xuất ra nhiều loại rau đậu đến như thế. Trái cây thì gồm
có dưa hấu, dưa Ha Mật và nho. Có một loại trái cây màu
vàng, hình tròn dẹp, hỏi xem thử là loại trái gì, người ta bảo
là trái xộp xộp (tiếng Hán gọi là “quả vô hoa” - tức “vô hoa
quả”. Tôi chưa từng được ăn, mua vài trái ăn thử thì thấy
cơm mềm, bỏ vào miệng không cần nhai cũng tan biến ra,
vị ngọt nhưng có mùi thơm đặc biệt. Trong quyển Bổn thảo
cương mục của nhà y dược học Lý Thời Trân đời Minh có
ghi: “Quả xộp xộp (vô hoa quả) có gốc từ Ba Tư, sau khi
đưa vào Trung Quốc được trồng nhiều ở Tân Cương”.
Ngày nay, các nơi ở Hoa Nam cũng có trồng giống cây này.
Quả khô dùng làm thuốc, có công năng khai vị, chuyên trị
viêm họng.

Ở Korla, từ đầu hạ đến cuối thu dưa hấu không bao giờ
thiếu. Bày bán ở chợ nhiều nhất là dâu và hạnh, thứ đến là
anh đài, mận và đào mật tiếp theo là dưa tây, nho, hồng,
dưa Ha Mật và trái xộp xộp, và sau cùng là hương lê Korla
nổi tiếng trong toàn quốc.

MÁU THIẾU NỮ THẤM RỄ CÂY HƯƠNG LÊ

Khi tôi đến Korla thì đúng vào mùa nho và xộp xộp,
còn hương lê không thấy bày bán ở chợ, phải đi vào vườn
mới có.

Tiếng Uygur gọi hương lê là “nãi tây mẫu đề”, quả có
hình con sợi (hình búp len), nhỏ hơn so với lê nội địa, trọng
lượng trung bình chừng 150 gam. Quả màu trắng thoáng
xanh nhạt, thịt mềm, có mùi thơm, hàm lượng nước đến
80%. Vỏ dày, có thể để lâu, quả chín vào mùa thu có thể để
đến tháng ba, tháng tư năm sau.

289

Truyền thuyết dân gian của người Uygur cho rằng
Korla vốn không sản xuất lê, mà chỉ có bọn gian thương
mua lê từ nơi khác về bán rất đắt, người nghèo không mua
nổi mà ăn.

Có một cô gái trẻ đẹp tên là Ngãi lệ Mạn quyết tâm đến
phương đông kiếm lê về trồng. Cô đã vượt qua 99 ngọn núi,
tìm khắp 99 thị trấn, cưỡi chết 99 con lừa, đem về 99 cây
lê giống. Sau khi trồng chúng trên đất mình, thì 98 cây
giống bị chết chỉ có một cây chịu được đất mới là sống sót
và đâm hoa kết trái. Trái chín mùi thơm bay tỏa khắp nơi,
mọi người đồng thuận gọi nó là “nãi tây mẫu đề” (có nghĩa
là hương của trái lê).

Chúa đất ở đây biết được ,muốn độc chiếm loại hương
lê ấy bèn sai báo người báo tin cho Ngãi Lệ Mạn rằng: “Chỉ
cần cô chịu đem bán cây lê giống ấy cho ông ta thì muốn
bao nhiêu tiền cũng được”. Ngãi Lệ Mạn trả lời: “Dê không
thể chơi với sói được!” Nhưng tay chúa đất không chịu thôi
lại sai người đem vải vóc, lụa là đến dâng tặng và xuống
nước nói: “Chỉ cần Ngãi Lệ Mạn bảo đảm không đem
truyền kỹ thuật trồng lê ra ngoài thì hứa sẽ để tự cô một
mình phát tài giàu có”. Cô vẫn giữ phép từ chối đồng thời
nói rõ ý nguyện của cô: “nãi tây mẫu đề cần phải để cho
mọi nhà tỏa hương”.

Tay chúa đất kéo đám tay chân rầm rộ đến nhà cô, đốn
ngã vườn lê. Ngãi Lệ Mạn ra sức chống đối nhưng ít không
địch lại nhiều, cô phải nằm chết trong vũng máu. Máu tươi
của cô chảy thấm đến rễ cây hương lê. Năm sau, những
cành cây bị đốn gãy, mọc ra những chồi xanh non trông
tươi tốt hơn cây mẹ. Dân làng âm thầm đến chiết cành về
ghép cây, hết lòng chăm sóc. Tâm huyết của Ngãi Lệ Mạn
đối với vùng lục châu Korla đã được đền đáp, cây hương lê

290

ở mọi nhà đã ra hoa kết trái, đời đời sinh sôi nảy nở không
dứt.

Giống hương lê Korla đem từ đông bộ nội địa là một
điều đáng tin. Căn cứ tài liệu lịch sử ghi chép thì hai, ba
ngàn năm trước vùng đất rộng lớn thuộc lưu vực sông Hoài
và sông Hoàng Hà đã có trồng lê. Sau khi Trương Khiên
mở đường thông Tây Vực, cây nho, cây hồ đào từ Tây Vực
đưa vào nội địa, đồng thời một số cây nông nghiệp và cây
ăn quả ở nội địa cũng được truyền đến Tây Vực. Đó là sự
trao đổi tự nhiên. Đặc biệt vào năm 101 CN. Nhà Hán bắt
đầu khai khẩn lập đồn điền ở Korla, tất nhiên phải đưa
giống và kỹ thuật trồng trọt từ nội địa sang. Theo Ngụy thư
ghi chép, thế kỷ thứ II CN các giống cây đem trồng ở đồn
điền Tây Vực trong đó có giống lê. Và theo Đại Đường Tây
Vực ký, thế kỷ thứ VII CN, Đường Huyền Trang đã chính
mắt trông thấy nhiều cây hương lê được trồng ở Korla và
Khố Xa. Những năm gần đây, trong ngôi cổ mộ Astana, đời
Đường, người ta đào được ở Tolophan thấy có lê khô và có
khắc các chữ “Mại lê” và “lê thực” trên các thẻ tre. Những
điều trên đây chỉ ra rằng việc giao lưu văn hóa kinh tế thông
qua con đường tơ lụa là điếu không thể chối cãi, giống lê ở
nội địa đã sớm được đưa vào Tây Vực.

Có một điều lý thú nữa là có người cho rằng lê ở Ấn
Độ được truyền nhập từ Trung Quốc qua con đường tơ lụa.
Theo một vài tài liệu hữu quan thì vào thế kỷ thứ I trước
CN, Ấn Độ chưa có lê. Đầu thế kỷ thứ II CN, trong thời
gian trị vì của quốc vương Kaniska của nước Quý Sương
đã nhập cây đào và cây lê từ Trung Quốc vào Ấn Độ và bắt
đầu trồng ở đông bộ tỉnh Punjab.

291

NHỮNG NGƯỜI ĐI TRÊN CON ĐƯỜNG TƠ LỤA
CỔ ĐẠI

Trên khu đất mở đầu việc khai khẩn đồn điền ở Tây
Vực thời cổ đại, bình nguyên Korla hiện phân ra mấy khu
vực cho quân giải phóng khi tiến vào Tân Cương khai khẩn
vùng biên cương của tổ quốc vào đầu thập niên năm mươi
làm nông trường. Nông trường quốc doanh Ba Châu số 29
là một trong những nông trường có thành tích nổi bật nhất.

Rời khu tự trị Korla đi về hướng Khố Xa chừng 61 cây
số thì đến nông trường 29. Hai bên những con đường ngang
dọc không hề thấy những hàng bạch dương cao chọc trời.
Ở Tân Cương, một khi có nước là có lục châu, có lục châu
ắt có bạch dương, nhưng ở đây lại khác, khiến tôi lấy làm
lạ. Về sau hỏi ra mới rõ, nông trường 29 được khai phá trên
một vùng đất phèn khá nặng, trồng cây rất khó, hiện nay
chỉ cố gắng trồng cây hồ dương chịu phèn mà thôi.

Nhìn vẻ bên ngoài của nông trường 29 không đẹp bằng
nông trường của khu Thạch Hà Tử, đường sá không có
bóng mát mà kiến trúc lại không tráng lệ, thế nhưng đi sâu
vào nông trường xem xét ta mới cảm nhận cây cối ở đây
rất tốt, ruộng đất trù mật. Có hai vạn mẫu lúa nước, mỗi
mẫu sản xuất hơn ngàn cân thóc, một vạn mẫu ruộng trồng
bông, mỗi mẫu sản xuất hơn trăm cân, tại khu đất phèn
nặng mà có sản lượng cao như vậy không thể không khiến
người ta bội phục.

Công nhân viên chức nông trường toàn là những ngươi
từ nội địa đến biên cương khai khẩn. Tôi tình cờ gặp anh
công nhân nông nghiệp nói giọng Giang Tô, họ dẫn tôi lội
bộ đến khu ruộng trước của họ. Hai bên bờ ruộng sũng
nước trồng nhiều cây môn trắng đem từ Giang Nam đến,
trong ao có trồng cả sen và từ cô. Hoa sen nở từng đóa,
từng đóa thơm dịu, tinh khiết và tao nhã, lá sen phủ kín mặt

292

ao; trên mỗi ngọn lá, từng giọt nước như hạt ngọc chao đảo
long lanh trông rất đáng yêu. Tôi nhìn ngắm say sưa không
phải ngẩng cao đầu nhìn tuyết trên đỉnh Thiên Sơn hoặc
phải dầm mình trong dòng nước như ở Giang Nam.

Tôi đến thăm một vị bô lão đặt lát cày đầu tiên tại vùng
đất hoang hóa này ngày xưa, ông tên là Hoàng Kim Sơn.
Gia đình ông gốc ở Tân Lâm, vịnh Bột Hải, tỉnh Sơn Đông.
Năm 1947 tham gia quân đội giải phóng, theo quân đoàn
chiến đấu tại Tây An. Ông thuộc tiểu đoàn 18, sư đoàn 6
quân dã chiến, tháng hai năm 1949 nhận mệnh lệnh đi Tân
Cương khai khẩn đất hoang, ông lập tức lên đường tiến
quân, cuối năm 1949 thì đến Korla. Năm sau tại vùng đất
hoang hóa này đào mương dẫn nước từ sông Khổng Tước
vào, cải tạo vùng đất phèn chua thành nông trường.

- Lúc đó bác phải đi bộ từ Tây An đến Korla sao? - Tôi
kinh ngạc hỏi - Một lộ trình ít ra cũng phải 2500 cây số!

- Thì đi bộ chứ sao? Lúc ấy khu chưa có đường sắt, bộ
đội chỉ lấy được của địch mấy chiếc xe hư, ít ỏi lắm!

- Thế thì bác đã đi bộ qua những nơi nào?

Ông nhớ lại rồi kể luôn một lô địa danh gồm Tây An -
Bảo Kê - Thiên Thủy - Tây Ninh - Dân Lạc - Trương Dịch
- Tửu Tuyền - Ha Mật - Tolophan - Khố Mễ Thập - Hòa
Thạc - Yên Kỳ - Korla.

Ồ, thì ra đó là những lộ tuyến chủ yếu của con đường
tơ lụa thời cổ đại! Tôi nghe mà vô cùng thích thú, vỗ tay
buột miệng khen hay! Đồng thời cũng có mấy điều nghi
ngại, liền hỏi ông:

- Thế bác qua sông Hoàng Hà tại bến đò nào?

- Tại huyện Vĩnh Tĩnh, Cam Túc.

293

Quả đúng như tôi dự đoán. Chùa Bính Linh ở huyện
Vĩnh Tĩnh dù đời xưa đời nay vẫn là bến đò trọng yếu để
qua sông Hoàng Hà nếu muốn từ nội địa đi Tây Vực.

Tôi hỏi tiếp:

- Thế từ Thanh Hải đến Cam Túc đi theo đường nào?

Ông suy nghĩ một lát rồi nói:

Qua Thanh Hải có một nơi tên là Nga Bác, phải trèo
lên núi cao, lạnh chết người đi được, đến huyện Dân Lạc,
Cam Túc thì ấm áp hẳn lên.

Xem ra, ông đi từ Nga Bác vượt núi Kỳ Liên, tức theo
con đường mà Tùy Dạng Đế đã đi vào đầu thế kỷ thứ VII
gặp bão tuyết ở cửa khẩu Biên Đô trên con đường đến hành
lang Hà Tây. Con đường ông phải đi qua là: Vĩnh Tĩnh -
Nga Bác - Biên Đô khẩu - Dân Lạc - Trương Dịch - và lộ
trình này đúng là tuyến nam vượt sông Hoàng Họ đi Tây
Vực của con đường tơ lụa.

Tôi phấn chấn nắm bàn tay thô tháp của ông lão Hoàng
Kim Sơn nói:

- Con đường bác vào Tân Cương chính là một trong ba
lộ tuyến của con đường tơ lụa cổ đại. Bác vì sự nghiệp giải
phóng đất nước ở thế kỷ XX mà đã đi theo dấu chân của
người xưa vào đến Tân Cương. Nghị lực và tinh thần ấy
khiến tôi rất khâm phục.

Một điều khiến tôi khâm phục hơn nữa là chính ông đã
cống hiến cả cuộc đời thanh xuân quý báu cho vùng núi
Thiên Sơn và sông Khổng Tước. Lúc vào Tân Cương ông
chỉ mới hơn hai mươi. tuổi, nay ông đã quá nửa đời người.
Ba mươi năm ông chưa trở lại quê hương, chỉ có một lần
về nội địa, đó là vào năm 1970, ông đại diện cho nông

294

trường 29 mang sản phẩm về Quảng Châu tham dự hội chợ
triển lãm giao dịch hàng xuất khẩu. Ông nói:

- Từ Tolophan đi xe lửa thẳng đến Tây An, rồi đi
Quảng Châu, một bước chân cũng không đụng tới, thật là
sướng hết chỗ nói!

Chỉ có những người đã đặt từng bước chân của mình
trên con đường tơ lụa dài hơn 2500 cây số mới cảm nhận
hết cái niềm thích thú ấy. Ông nói tiếp:

Ngày nay, Korla đã có xe lửa, sau này có cơ hội trở về
thăm quê cũ Sơn Đông cũng sẽ tiện lợi biết bao!

295

18. TỪ KORLA ĐẾN KHỐ XA

Rời Korla theo hướng tây đi Khố Xa. Đường cái quan
bằng phẳng thẳng tắp dọc chân núi nam Thiên Sơn, một
bên là dư thế của Thiên Sơn không cao lắm, còn một bên
là vùng đất rộng hơi chếch về phía nam, chạy thẳng đến bờ
sông Tarim. Sông Tarim chảy từ tây sang đông mà phía
nam là sa mạc Taklamacan có diện tích 236,000 cây số
vuông chiếm 1/5 tổng diện tích toàn Tân Cương.

Ngồi trên chiếc Jeep chạy bon bon, tôi thường dõi mắt
nhìn về phía xa, cứ tưởng là sông Tarim gần trong gang tấc,
nhưng thực ra, nó cách xa đến hơn 100 cây số, ngay cả bóng
dáng một làn nước của nó cũng không thấy. Chạy lướt bên
ngoài của xe là rìa sa mạc trải dài bất tận, mọc đầy cây hồng
liễu, cây hồ dương và những thôn trang yên tĩnh. Chạy
được 70 cây số vừa đúng buổi trưa thì thấy chung quanh
nhà cửa người ở khắp nơi.

Không khí của cuộc hành trình rất tĩnh mịch, an toàn,
nhưng lòng tôi lại nôn nao. Cuối cùng, tôi cũng được đi
quanh một vòng đại sa mạc Taklamacan và có thể đi khắp
tuyến nam và tuyến giữa của con đường tơ lụa. Trước mắt
tôi cần phải đến hai nơi mà sử sách đã từng ghi đó là Tây
Vực Đô hộ phủ đời nhà Hán (nay là Luân Đài) và An Tây
Đô hộ phủ đời nhà Đường (nay là Khố Xa).

NƯỚC Ô LŨY CỔ ĐẠI Ở CHỐN NÀO?

Khi còn ở Urumqi, thủ phủ của Tân Cương, phó giám
đốc viện bảo tàng khu tự trị Tân Cương Lý Ngẫu Xuân có
nói với tôi rằng nước Ô Lũy vốn là trú sở của Tây Vực Đô
hộ phủ đời Hán, nay là công xã Sách Đại Nhã thuộc huyện
Luân Đàì. Không có người hướng đạo cùng đi, tôi một

296

mình tiến vào khu vực huyện. Mỗi lần thấy lục châu là
dừng xe hỏi thăm đây có phải là Sách Đại Nhã không. Hai
lần không đúng, hỏi đến lần thứ ba thì chúng tôi tìm được.

Rời đường cái, chúng tôi đi vào một thôn trang. Ruộng
trồng bông vải, sơn giới và cao lương. Trụ sở của công xã
tọa lạc tại ngã tư thị trấn. Chủ nhiệm công xã Tư La Mẫu
là một ông lão người Uygur, ân cần mời tôi thưởng thức
món mì sợi.

Hỏi đến khu vực Sách Đại Nhã thời cổ đại có một nước
tên là Ô Lũy, Tư La Mẫu lắc đầu có vẻ không hiểu. Tôi nói:

- Sách cổ có ghi Ô Lũy rất nhỏ chỉ có 110 hộ, tổng
cộng 1200 người và quân đội có 300 binh lính.

Ông lão Tư La Mẫu vừa gật đầu vừa chậm rãi nói:

- Ồ, thì ra là. như vậy Sách Đại Nhã của chúng tôi có
1500 hộ với hơn 7000 người, so với nước Ô Lũy kia thì lớn
hơn nhiều? Gọi hết nam nữ dân binh ra không chỉ có 300
người đâu nhé !

Tôi nói:

- Thế thì bác có thể trở thành đại vương của nước Sách
Đại Nhã rồi còn gì!

Mọi người đều cười lớn.

Tôi hỏi, trong khu vực Sách Đại Nhã có thành cũ, gò
hoang nào không? Tư La Mẫu nói có hai nơi: một ở sâu
trong sa mạc, còn một ở phía bắc đường cái, ông vui vẻ tự
dẫn tôi đến đó tìm hiểu. Đi xe chừng 8 cây số thì thấy thấy
đồi cát, ở đây không thấy có dấu hiệu gì cả, chỉ trông giống
như một ngôi mộ. Kỳ thực, tôi đã sớm biết điều này cho dù
các nhà khảo cổ học suy đoán có nước Ô Lũy đời Hán ở tại
khu vực Sách Đại Nhã nhưng đến nay vẫn chưa phát hiện
ra di chỉ Tây Vực Đô hộ phủ đời Hán là ở đâu cả.

297

TRUNG TÂM CHÍNH TRỊ NHÀ HÁN TẠI TÂY
VỰC

Theo sử sách ghi chép thì phủ đô hộ Tây Vực đời Hán
thiết lập vào năm 60 trước CN. Năm ấy, Tây Hán Và Hung
Nô tranh giành khu Tây Vực, vua Hung Nô là Nhật Trục
hàng Hán, thế là triều đình nhà Hán bổ nhiệm Thị lang
Trịnh Cát làm Tây Vực đô hộ đóng trú sở tại nước Ô Lũy
và lập đồn điền ở Luân Đài, Cừ Lê. Từ đó về sau, bắc đến
hồ Barcashi thuộc phía nam nước Ô Tôn, đông đến phía tây
núi Thông Lĩnh của nước Đại Oản, nam đến các tiểu quốc
ở chân núi bắc Côn Luân, tất cả đều chịu dưới sự quản hạt
của quan đô hộ Tây Vực và liệt vào bản đồ nhà Tây Hán,
phạm vi của nó lớn bằng khu tự trị Uygur Tân Cương ngày

nay.

Hán thư ghi: “Trịnh Cát lập mạc phủ giữa Tây Vực,
cai trị thành Ô Lũy, trấn định các tiểu quốc ... nhận mệnh
lệnh của triều đình nhà Hán ban khắp Tây Vực”.

Tại sao Trịnh Cát chọn Ô Lũy, một xứ nhỏ nhoi để đặt
trú sở Tây Vực Đô hộ phủ? Nhìn qua bản đồ Tây vực, ta có
thể hiểu ngay. Từ Ô Lũy đi Lâu Lan (nay là La Bố Bạc)
1785 dặm, đi Sơ Lặc ở phía tây (nay là Ca Thập) 2210 dặm;
đi Xa Sư ở phía đông bắc (nay là Tolophan) 1800 dặm, như
vậy Ô Lũy nằm ở trung tâm Tây Vực. Nói “lập mạc phủ
giữa Tây Vực, cai trị thành Ô Lũy” chính là nói đến điều
đó.

Ngoài ra, Trịnh Cát còn chỉ đạo việc lập trung tâm đồn
điền ở Luân Đài và Cừ Lê cách Ô Lũy vài ba trăm dặm và
có thể nói đó là kho lương của Đô hộ phủ.

Bắt đầu từ Trịnh Cát, Tây Hán bổ nhiệm đến Tây Vực
18 người, người được bổ nhiệm sau cùng là Lý Sùng, thời
gian tất cả kéo dài từ năm 16 CN đến năm 213 CN. Tại viện
bảo tàng Tân Cương tôi có thấy một con dấu bằng đồng

298

khắc năm chữ triện lõm Lý Sùng chi ấn tín (ấn tín của Lý
Sùng). Con dấu bằng đồng này được tìm thấy ở huyện Sa
Nhã cách tây nam công xã Sách Đại Nhã chừng 150 cây số.

Từ Sách Đại Nhã đến huyện lỵ Luân Đài khoảng 60
cây số. Đây là di chỉ Luân Đài thuộc nhà Hán. Hai câu thơ
thật hay nói đến địa danh “Luân Đàn của Sầm Tham đời
Đường: “Luân Đài thành đấu dạ xây giác, Luân Đài thành
bắc mao đầu lạc” (nghĩa là đêm đêm tiếng tù và thổi ở đầu
thành Luân, Đài còn ở phía bắc của thành Luân Đài thì sao
mao đầu sắp lặn) thường bị người ta hiểu lầm là “Luân Đài”
ở đây. Thực ra, Luân Đài của nhà Đường ở về phía đông
bắc gần Urumqi.

ĐÊM NGỦ TẠI “NGHINH TÂN QUÁN” CỦA AN
TÂY ĐÔ HỘ PHỦ ĐỜI ĐƯỜNG

Rời huyện Luân Đài tiếp tục đi về hướng tây, sau khi
băng qua một đám ruộng trồng hoa hướng dương vàng óng,
chúng tôi đi vào sa mạc cách chừng 20 cây số thấy có một
phong hỏa đài. Rồi đi tiếp chừng 40 cây số nữa lại thấy một
phong hỏa đài khác, bên cạnh có một gò cao hoang phế,
trông giống như một cái lô-cốt. Dưới bầu trời xanh, mấy
chú lạc đà thủng thẳng bước đi trên sa mạc. Cảnh tượng
trước mắt kéo dòng tư tưởng của tôi trở về thời đại của hàng
ngàn năm trước. Tôi đang tưởng tượng ngày xưa cảnh thiên
binh vạn mã ào ào giữa chốn sa trường, hoặc cảnh từng
đoàn lạc đà chở đầy của quý và tơ lụa chậm rãi tiến bước
... Đang khi tâm tưởng như vậy, trước mắt bỗng hiện ra dàn
khoan dầu khí đồ sộ, rồi lát sau lại thấy trên phi trường Khố
Xa những chiếc máy bay màu bạc lấp loáng. Thời gian trôi
đi, chúng ta đang ở vào những năm cuối của thế kỷ XX,
bên bờ sa mạc Taklamacan, người ta đang thăm dò dầu khí.

299

Nước Quy Tư cổ ngày xưa đã có những chuyến bay định
kỳ đi Urumqi, Ca Thập, Hòa Điền.

Bốn giờ chiều xe đến Khố Xa. Korla đến đây đoạn
đường dài 310 cây số. Thành Khố xa đầy hương sắc cổ
kính. Kiến trúc kiểu vòm tháp tròn nhọn của chùa Thanh
Châu mang phong cách Trung Á càng làm tăng thêm sắc
thái Tây Vực. Sát nách khu cổ thành là kiến trúc khu đô thị
tân tiến. Đường phố rộng rãi, cây xanh rợp bóng, phố xá
mang màu sắc tân kỳ. Trong thành phố không có xe buýt
công cộng, chỉ có một loại xe gọi là “xe ngựa công cộng”
chở chừng 20 người qua lại giữa thành cổ và khu thị tứ mới.
Một con ngựa ngẩng cao đầu kéo một chiếc xe trên đó đám
con trai, con gái ngồi quanh một tấm ván dùng làm ghế
chạy qua các đường phố, cảnh tượng này nếu người ngoại
quốc trông thấy chắc sẽ lấy làm lạ lắm.

Nhà khách của huyện Khố Xa tọa lạc ở khu phố mới.
Sau khi chúng tôi nhận phòng trọ, thì gặp ngay ông phó
giám đốc viện bảo tàng Tân Cương Lý Ngẫu Xuân. Tại
Urumqi chúng tôi có hẹn nhau cùng đi quanh một vòng đại
sa mạc Taklamacan. Lúc ấy vì bận công vụ, ông không dám
hứa chắc, nhưng nay lại gặp nhau ở đây, tôi thật sự vui
mừng. Sau này, trên đường du lãm có chuyên gia như ông
cùng đi thật là một điều may mắn và khích lệ biết bao! Cơm
chiều xong, chúng tôi cùng nhau trò chuyện.

Ông nói:

- Anh có biết không, nơi chúng ta đang trú ngụ chính
là góc tây bắc của thủ phủ nước Quy Tư cổ đại đấy?

- Thế khu cổ thành không phải tại Bì Lang sao? - Tôi
hỏi - Như vậy, chúng ta ở đây chính là Bì Lang rồi còn gì!

300

- Phải, khu phố mới của huyện bao gồm cả Bì Lang.
Sát bên trái của chúng ta là trụ sở huyện. Đằng sau huyện
có một đoạn tường của cổ thành.

Theo lời Lý Ngẫu Xuân, tôi đi tìm bức tường cổ ấy.
Đúng sau trụ sở huyện có một đoạn chân tường xây bằng
đất khá dài, cao thấp không đều, chạy ngoằn ngoèo theo
hướng tây.

Đây là bức tường phía bắc của cổ thành, tường đông
và tường nam vẫn còn dấu tích, chỉ thiếu bờ tường phía tây.
Theo khảo sát của các nhà khảo cổ học, cổ thành có hình
vuông, chu vi chừng 8 cây số, điều này tương đối phù hợp
với những gì Huyền Trang ghi trong Đại Đường Tây Vực
ký: “Đô thành lớn, chu vi bảy, tám dặm”.

Theo khảo chứng của Lý Ngẫu Xuân, thủ phủ nước
Quy Tư đời Hán gọi là Diên Thành, tức là thành Y La Lô
thủ phủ nước Quy Tư đời Đường. Còn An Tây Đô hộ phủ
của nhà Đường thiết đặt ở Tây Vực từ năm Trinh Quán thứ
hai mươi hai thì mới bắt đầu thiên di từ thành Giao Hà (nay
là Tolophan) đến thành Y La Lô, ở đây, trước sau hiệu lệnh
của nhà Đường kéo dài hơn 200 năm.

Tôi nói:

- Như vậy, chúng ta đang trú ngu tại “nghinh tân quán”
(nhà khách) của An Tây Đô hộ phủ đời Đường rồi còn gì?

Ông cười, nói:

- Anh tưởng ra như vậy cũng không có gì sai cả!

CAO TĂNG VÀ NHẠC SƯ

Ở một nơi có nhiều dấu ấn lịch sử như vậy, đêm khuya
tĩnh mịch, tôi nằm trên thường nghĩ ngợi miên man không
tài nào ngủ được.

301

Tôi nghĩ về vị cao tăng Cứu Ma La Thập cất tiếng khóc
chào đời ở đây vào thế kỷ thứ IV CN. Thân mẫu của ngài
là em gái của vua nước Quy Tư, còn thân phụ là người
Thiên Trúc. Em gái vua Quy Tư làm sao kết hợp với người
Thiên Trúc nhỉ? Nguyên đo thân phụ của ngài là Cưu Ma
La Viêm cùng tổ tiên đã nhiều đời là tướng quốc Thiên
Trúc. La Viêm không muốn thừa kế chức tướng quốc, từ
chối và xuất gia, vượt núi Thông Lĩnh đi về hướng đông
đến nước Quy Tư. Vua Quy Tư nghe danh đón lâm quốc
sư. Nhà vua có người em gái, tài trí hơn người, các nước
tranh nhau đem ngàn vàng sính lễ nhưng thảy đều không
được, chỉ nhắm có La Viêm. Dưới sự điều hành và lo liệu
độc đoán của quốc vương, đôi trai gái kết thành lương
duyên và sinh ra La Thập.

Từ bé, Cứu Ma La Thập rất thông minh lúc lên bảy đã
cùng mẹ xuất gia, đến năm hai mươi tuổi, danh tiếng đã nổi
khắp Tây Vực. Tương truyền rằng mỗi khi ngài giảng kinh,
quốc vương các nước Tây Vực đều muốn quỳ xuống để
ngài bước lên trên lưng từng người mà đăng đàn giảng

kinh.

Năm 384 CN, đại tướng Tiền Tần Lã Quang đánh nước
Quy Tư, đón Cưu Ma La Thập về Vũ Uy, Cam Túc ở lại
trong mười bảy năm, sau đưa ngài về Trường An, tiếng tăm
của ngài vang khắp Trung Nguyên. Cưu Ma La Thập là
người Thiên Trúc, sinh tại nước Quy Tư, đối với việc dịch
kinh Phật từ tiếng Phạn ra tiếng Hán, ngài đã có những
cống hiến rất to lớn.

Tôi tiếp tục nghĩ về nhạc sư trứ danh Tô Chỉ Bà của
nước Quy Tư, nghệ thuật chơi nhạc quản huyền của Quy
Tư được kể là đứng đầu ở Tây Vực. Thời Nam - Bắc triều
(420 - 589 CN), Tô Chỉ Bà đến nội địa đem âm nhạc Quy
Tư truyền bá đến Trung Nguyên vang danh một thời. Đến

302

thời Tùy Đường, trong chín bộ nhạc được quy định có một
bộ của nhạc Quy Tư. Rất tiếc, âm nhạc không giống loại
nghệ thuật tạo hình nên không thể lưu truyền lại cho hậu
thế được. Ngày nay chúng ta không có cách gì biết được
âm nhạc Quy Tư rốt cuộc là loại âm nhạc như thế nào.

GIAI THOẠI DÂN GIAN LƯU TRUYỀN Ở TÂY
VỰC

Quy Tư là một nước lớn ở Tây Vực trong số hơn năm
mươi nước ở đây vào đời nhà Hán, lớn nhất là nước Ô Tôn,
có hơn 60 vạn dân; nước thứ hai là Đại Oản, có 30 vạn dân.
Sau Ô Tôn và Đại Oản phải kể đến Quy Tư, có 81317 người
với 6970 hộ. Đối với việc thống kê nhân khẩu nước Quy
Tư so với các nước khác, Hán thư nói kỹ hơn cả, điều này
cho thấy mối quan hệ giữa nhà Hán với nước Quy Tư khá
mật thiết so với các nước khác trong khu vực.

Dưới triều nhà Hán, lãnh vực của nước Quy Tư bao
gồm sáu huyện ngày nay là Luân Đài, Khố Xa, Sa Nhã, Bái
Thành, A Khắc Tô và Tân Hòa, trong đó Khố Xa là trung

tâm.

Vùng đất trung tâm Tây Vực thuộc xứ Quy Tư chẹn
ngang tuyến giữa của con đường tơ lụa. Phía bắc, qua khỏi
núi Thiên Sơn còn có đường đi Ô Tôn, đó là một chi tuyến
trọng yếu của con đường tơ lụa. Nhà Hán và Ô Tôn qua lại
với nhau đều phải đi qua nước Quy Tư.

Nói đến đây tôi chợt nghĩ trong mối quan hệ giữa nhà
Hán với nước Ô Tôn và nước Quy Tư có một giai thoại lịch
sử như thế này:

Công chúa Giải Ưu của nhà Hán gả cho nước Ô Tôn
sanh được một người con gái, khi trưởng thành cho đưa về
Trường An học đàn và phải đi qua nước Quy Tư. Vua Quy

303

Tư là Giáng Tân đã từng sai sứ sang Ô Tôn xin cầu hôn với
người con gái của công chúa Giải Ưu, nhưng không được.
Lần này, cô nàng đi qua nước Quy Tư, Giáng Tân liền chớp
cơ hội, trước tiên giữ cô gái ở lại rồi sai sứ đi Ô Tôn xin
cầu hôn một lần nữa, cuối cùng thì đắc thắng.

Về sau, công chúa Giải ưu trình thư lên triều đình nhà
Hán, xin được nhà vua coi con gái của mình là thành viên
của tôn thất nhà Hán và cho được nhập triều. Trong khi đó,
Giáng Tân cũng trình thư lên triều đình nói rõ là xin được
thành tôn với cháu ngoại của vua nhà Hán và rất vinh hạnh
được cùng phu nhân nhập triều.

Năm 65 trước CN, Giáng Tân cùng phu nhân đến
Trường An, ở lại một năm được đối đãi rất tử tế. Phu nhân
được phong công chúa, được ban tặng ngựa xe, cờ trống và
ca thủ, nhạc công đến hàng chục người. Họ rất thích áo mũ
và lễ nghi của nhà Hán. Sau khi trở về nước, Giáng Tân
xây cung thất, cử hành triều lễ đều phỏng theo nhà Hán.
Giáng Tân mất, con được kế vị tự gọi là cháu ngoại nhà
Hán và qua lại với nhà Hán rất mật thiết.

HAI VỊ DANH TƯỚNG NGUỜI THIỂU SỐ

Lúc đầu trong chuyến đi vượt con đường tơ lụa của tôi,
tại Tây An khi thăm khu lăng mộ Đường Thái Tông gọi là
Chiêu lăng, tôi có thấy chôn theo cùng với giấc ngủ ngàn
thu của nhà vua có mấy vị đại thần và đại tướng không phải
là người Hán, trong đó có A-sử-na-xã-nhĩ và Khế-tất-hà-
lực. Lúc ấy tôi rất khâm phục sự sáng suốt của Đường Thái
Tông đã dám sử dụng nhân tài người dân tộc thiểu số. A-
sử-na-xã-nhĩ và Khê-tất-hà-lực đều vì sự nghiệp thống nhất
Tây Vực của nhà Đường trong chiến dịch làm xoay chuyển
tình thế nước Quy Tư và đã lập được công to. Nay tôi đến
Khố Xa đương nhiên lại nghĩ ngay đến họ.

304

Thời kỳ đầu của nhà Đường, thế lực của Tây Đột Quyết
khống chế cả vùng Tây Vực, làm gián đoạn sự thông
thương của con đường tơ lụa. Để thông vãng trở lại, Đường
Thái Tông phát động nhiều chiến dịch trong đó chiến dịch
Quy Tư có ý nghĩa quyết định. A-sử-na-xã-nhĩ lĩnh nhận
thống soái mười vạn quân cùng với Quách Hiếu Khác,
Khế-tất-hà-lực đồng xuất chiến.

A-sử-na-xã-nhĩ là người đa mưu, thiện chiến, dùng
chiến thuật phân binh tập kích. ông phái một cánh quân bao
vây chân núi bắc Thiên Sơn, cắt đứt đường liên lạc giữa
Quy Tư và Tây Đột Quyết, và một cánh quân khác đánh
Biên Thành. Giả thua, rút lui. Vua Quy Tư suất đại binh
truy đuổi, trúng vào quân mai phục, đại bại phải lui binh.
Còn A-sử-na-xã-nhĩ đích thân đem một cánh quân nữa đi
đánh Đô Thành, hoàn toàn thủ thắng. Trong chiến dịch này,
quân đội nhà Đường đánh hạ năm tòa thành lớn, những
thành nhỏ còn lại lũ lượt xin hàng.

Đại thắng trong chiến dịch Quy Tư, An Tây Đô hộ phủ
được dời về Quy Tư. Từ đó, Quy Tư trở thành trung tâm
chính trị, kinh tế của nhà Đường tại Tây Vực.

A-sử-na-xã-nhĩ là con của vua nước Tây Đột Quyết.
Năm 635 quy thuận nhà Đường, được Đường Thái Tông
trọng dụng và nhiều lần được ban thưởng. Trong chiến dịch
Quy Tư, tướng người Hán là Quách Hiếu Khác sinh hoạt
rất xa xỉ, khi đi hành quân đem theo cả giường đệm, bàn
ghế, trang sức toàn bằng vàng ngọc. Còn A-sử-na-xã-nhĩ
vẫn giữ cách sống cần kiệm, đơn giản, không những không
tơ hào động đến tài sản của dân mà ngay đến vật dụng xa
hoa của Quách Hiếu Khác đem tặng cũng kiên quyết từ
chối. Việc này truyền đến hai Đường Thái Tông, nhà vua
than: “Hai tướng ấy ai hay ai dở từ đó cũng đã quá rõ rồi,
cần gì phải hỏi ai nữa!”

305

Sau khi A-sử-na-xã-nhĩ chết được ban đặc ân cho chôn
mạnh nhà vua. Đây là một ân sủng rất vinh hạnh đối với xã
lội phong kiến ngày xưa.

Đường Thái Tông đối xử rất đúng mực đối với những
hiền tài người dân tộc thiểu số, tin dùng họ mà không hề có
ý kỳ thị. Nhà vua tự nhủ: “Từ xưa đến nay ai cũng quý
trọng người Hán mà coi thường di dịch, chỉ có ta là không
có thiên kiến ấy; đối đãi với người Hán cũng như không
phải người Hán đều bình đẳng, do đó, các bộ tộc bên ngoài
đều gần gũi, thân thiết. Đó cũng là một nguyên nhân dẫn
đến thành công của ta vậy”. Lời nói ấy nghe rất có lý.

Đường Thái Tông trọng dụng các tướng lãnh người
thiểu số, đáp lại họ cũng rất trung thành với triều đình.
Cùng với A-sử-na-xã-nhĩ lập công trong chiến dịch Quy Tư
còn có Khiết-tất-hà-lực. ông là người Khiết Lặc, có lần trở
về bộ lạc cũ của mình thăm gia đình, ông bị bắt đưa đến
nước Tiết Diên Đà. Tin này loan đến triều đình nhà Đường,
mọi người nhốn nháo nói với nhau là Hà Lực sẽ không trở
về nữa, Đường Thái Tông nói: “Người này lòng như sắt đá,
tất không phản bội trẫm”. Quả nhiên đúng như nhà vua dự
liệu, Khế-tất-hà-lực bị dẫn đến trước mặt vua Tiết Diên Đà,
không hề khuất phục, mặt hướng về phía đông nói lớn:
“Thà làm liệt sĩ nước Đại Đường chứ lẽ nào chịu nhục nơi
chốn phiên trấn này. Trời đất âm dương mong hiểu lòng
ta!” Rồi lấy dao cắt đứt lỗ tai của mình biểu thị ý chí bất
khuất. Đường Thái Tông hay tin, cảm động ứa nước mắt,
liền sai sứ đi Tiết Diên Đà đem công chúa gả cho vua Tiết
Diên Đà coi như điều kiện để đổi Khiết-tất-hà-lực.

PHONG HỎA ĐÀI “NHI NỮ LƯU HẠ”

Từ huyện lỵ Khố Xa đi về phía tây chừng 9 cây số, tại
cửa ải thông vãng huyện Bái Thành, sừng sững một phong

306

hỏa đài thời Tây Hán. Đài cao 18 mét, trên đỉnh còn lưu lại
hơn mười cây gỗ ngổn ngang. Thân đài làm bằng đất nện,
trên đó có nhiều hang lỗ giống như dấu vết của những cọc
gỗ đóng vào.

Phong hỏa đài này nằm trên một hình thế địa lý rất
hiểm yếu Một bên là cửa ải thông vãng huyện Bái Thành,
một bên là nhìn xuống bình nguyên Khố Xa. Cứ tưởng
tượng năm xưa đốt lửa lên là ngọn lửa bừng bừng chiếu
sáng cả cánh đồng trông thật hùng tráng.

Dưới phong hỏa đài là một khe nước sâu, trắng xóa có
tên là khe Diêm Thủy. Đứng cạnh dốc đã nhìn xuống, hai
gối ta sẽ phát run. Khe rộng ba, bốn chục mét, nhưng không
thấy có nước chảy. Theo như người ta nói vào những ngày
hè, khi tuyết trên núi Thiên Sơn tan ra, sóng nước cuồn
cuộn đục khoét, xung phá lòng khe mà rộng như vậy.

Dưới chân phong hỏa đài còn dựng một tấm bia đề
dòng chữ “Khắc tư nhĩ gả ha thổ tháp” (Tháp đất Khắc tư
nhĩ gả ha). Anh bạn đồng hành của tôi giải thích “khắc tư
nhĩ gả ha” là tiếng Uygur có nghĩa là “con gái ta ở đây”.

Truyền thuyết xưa kể rằng có một ông vua tàn bạọ, dân
tình rất phẫn uất, ông chỉ yêu thương đứa con gái nhỏ của
ông mà thôi. Một ngày nọ, có một gã thầy bói từ phương
tây lại nói người con gái bé bỏng của nhà vua phải bị tai
họa trong vòng đúng 100 ngày, cần phải trốn trên tháp xây
bằng đất may ra thoát nạn. Ông vua tàn bạo ấy tin lời và
đem đứa con gái yêu dấu của mình đến phong hỏa đài, ngày
ngày sai người mang cơm nước đến. Và cứ thế qua được
99 ngày. Đến ngày cuối cùng, nhà vua sai người đem đến
cho cô bé một trái hồng, thứ trái cây mà cô rất ưa thích. Cô
bé ăn trái hồng ấy, không ngờ một con bò cạp độc từ trong
chui ra cắn chết cô bé. Vua cha khóc ngất, ngã lăn dưới
chân tháp, la lớn:

307

- Con gái yêu quý của ta hãy ở lại!

Dù cho ngày thường ông ta tác oai tác quái, nhất hô
bách ứng nhưng bây giờ đối mặt với tấn thảm kịch có tính
chất định mệnh này, ông chỉ còn cách kêu than lời tuyệt
vọng giữa chốn đồng không mông quạnh mà thôi!

TRUNG TÂM PHẬT GIÁO BÊN HAI BỜ SÔNG
ĐỐI XỨNG

Qua ngày thứ hai ở Khố Xa, tôi cùng Lý Ngẫu Xuân đi
thăm cổ thành Tô Ba Thập cách huyện ly 18 cây số về phía
bắc.

Di chỉ này đã được nhà khảo cổ học Hoàng Văn Bật
khảo sát vào năm 1928 và cho ràng đó là thủ phủ Y La Lô
của nước Quy Tư. Đến năm 1957, ông khảo chứng lại và
tự thấy không đúng nên đã cải chính, nhưng rốt cuộc thành
Tô Ba Thập là di chỉ loại gì thì ông không khẳng định.

Lý Ngẫu Xuân nói:

- Chắc chắn nó không phải là đô thành mà là một trung
tâm Phật giáo gì đó, rất giống với chùa Chiêu Hộ Ly mà
Huyền Trang đã ghi trong Đại Đường Tây Vực ký.

Đến hiện trường xem xét thì thấy cách nhìn nhận của
ông rất có lý.

Di chỉ nằm rải rác hai bên bờ sông Khố Xa đông tây
đối nhau, hình giống như hai lá phổi. Hai ven sông, mỗi
bên có ba tòa tháp Phật, xa cách nhau nhưng bổ trợ cho
nhau. Bao quanh mỗi tòa tháp là miếu vũ và Phật động.
Tổng diện tích của hai nơi khá rộng, ước chừng hai mươi
vạn mét vuông Nhưng không tìm thấy dấu vết tường thành
tức là cái không thể thiếu đối với một thành trấn thời cổ
đại.

308

Trong Đại Đường Tây Vực ký, Huyền Trang viết:
“Cách một con sông có hai ngôi chùa đều có tên là Chiêu
Hộ Ly, đông tây đối nhau”. Đoạn miêu tả trên so với địa
hình ở cổ thành Tô Ba Thập hoang phế này rất giống nhau.

Tôi theo Lý Ngẫu Xuân leo lên nền tháp Phật ở góc tây
nam, phóng tầm mắt nhìn quanh thì thấy đầy rẫy những
tường xiêu vách đổ, hình giống tổ ong. Di chỉ được bảo tồn
khá hoàn chỉnh có thể sánh ngang với di chỉ cổ thành Cao
Xương và cổ thành Giao Hà.

Lý Ngẫu Xuân lấy thước dây đo thân tháp, phần còn
lại cao 8 mét. Tháp được bảo tồn tương đối hoàn chỉnh.
Ông dẫn tôi đi vào một đường hẻm dưới chân tháp, hai đầu
thông nhau, trên vách còn sót lại những bức bích họa vẽ
người, vật tô màu. Rất tiếc đường hẻm quá chật không đủ
cự ly để chụp hình.

Ông tiếp tục dẫn tôi đi vào một cái động nằm dưới nền
tháp ở đó người ta đã khai quật một cổ mộ đời Ngụy Tấn
(thế kỷ thứ III - thứ V CN) cách nay không lâu. Về sau tôi
thấy một số văn vật đào được ở ngôi mộ trên trưng bày tại
phòng văn hóa huyện gồm những tấm gấm dệt rất tinh mỹ
và những đầu thú gỗ chạm khắc rất tinh vi. Điều thú vị nhất
là phần sau hộp sọ của mộ chủ nhân dẹp hơn sọ của người
bình thường, điều này xem ra rất phù hợp với phong tục
của người Quy Tư mà Huyền Trang đã ghi lại trong Đại
Đường Tây Vực ký: “sanh con trai thì lấy gỗ ép đầu làm cho
đầu lép đi”. Đối với người Quy Tư cổ đại thì phần sau não
phải lép mới đẹp.

Chúng tôi lại đi vào một ngôi miếu vây quanh trong
các bức tường đổ nát hình chữ U. Tường cao đến 10 mét,
kiến trúc này nếu còn nguyên vẹn ắt hẳn sẽ hùng vĩ biết
chừng nào. Dấu tích trụ đứng cao lớn áp sát tường vẫn còn
trông rõ. Trên đất rơi vãi nhiều mảnh gạch ngói màu men

309

xanh. Chính giữa đại điện là tượng Phật ngồi, chung quanh
có khám thờ, trước điện, nơi gần bờ sông là nền của một
tháp Phật. Có lẽ năm xưa tháp Phật nguy nga này đang cúi
nhìn dòng nước cuồn cuộn chảy về phía nam. Bên kia sông,
đỉnh tháp cao vút trời xanh lấp lánh ánh kim quang, điện
đường miếu vũ kề nhau san sát. Đông tây chùa Chiêu Hộ
Ly đối nhau cách bởi một dòng sông, nơi đây ngày xưa đã
một thời huy hoàng biết bao!

CẢNH ĐẸP VÀ TRUYỀN THUYẾT

Trong Đại Đường Tây Vực ký Huyền Trang có kể lại
một truyền thuyết về hồ Long Trì ở nước Quy Tư. Một
nhân viên tiếp đón chúng tôi có nói bên ngoài huyện lỵ Khố
Xa có một hồ lớn (đại lạo ba), phong cảnh rất xinh đẹp,
khuyên chúng tôi đi thăm một chuyến. Những muốn mời
Lý Ngẫu Xuân cùng đi để xem ông khảo chứng có giống
điều mà Huyền Trang nói là hồ Long Trì hay không, nhưng
ông từ chối không đi.

Truyền thuyết kể rằng: Ở mặt đông nước Quy Tư,
trước thành Thiên Từ về hướng bắc, có hồ Long Trì rất lớn.
Trong thành không có nước, phụ nữ phải đến hồ để lấy
nước. Rồng ẩn trong hồ đã biến thành người và giao phối
với phụ nữ đi lấy nước, rồi sinh ra những đứa con trai kiên
dũng, gan dạ đi lại giống như ngựa phi. Lâu dần, lâu dần
thành ra một loạt “người rồng”, chúng ỷ mình sức mạnh
hơn người, không còn nghe theo lệnh của nhà vua nữa. Vua
bên gọi người Đột Quyết vào giết sạch, phá sạch người
trong thành. Thế là từ đó thành trở nên hoang vắng, không
người.

Đi một vòng quanh hồ, tôi nói với người đồng hành:

310

- Truyền thuyết chỉ là chuyện hư cấu nên ông phó giám
đốc viện bảo tàng không hứng thú để đi. Câu chuyện trên
chẳng qua là nói đến sự cấu kết giữa vua nước Quy Tư và
người Đột Quyết để trấn áp tinh thần chống đối của dân
chúng và đó cũng là một mặt phản ánh phần nào sự thật
lịch sử.

Ông bạn đồng hành của tôi nói:

- Hồ lớn này (đại lạo ba) có phải là hồ Long Trì ngày
xưa lay không thì tôi không biết, nhưng tôi tin chắc rằng
trên lường du hành của anh sẽ khó tìm ra một nơi nào có
phong cảnh xinh đẹp như thế này.

Chúng tôi lên xe men theo sông Khố Xa tiến vào lòng
Thiên Sơn. Đường đi quanh co khúc khuỷu, khi đứt, khi
nối, chênh vênh khó đi. Cũng may tôi đã được rèn luyện,
chao đảo ngả nghiêng cũng chẳng sao. Xe đi chừng 45 cây
số thì đến một vùng khoảng khoát, bỗng nghe anh phó
nhòm Tiểu Kim la lớn: “Dừng xe lại!” Cậu ta vừa lẩm bẩm
“đẹp tuyệt” vừa )ước ra khỏi xe, tôi vội vàng bấm máy. Tôi
xuống xe, nhìn quanh một lượt cũng phải buột miệng khen
tuyệt.

Đây là một bình nguyên được vây bọc bởi núi non, có
tên là “Khắc tư nê nhã”, tiếng Uygur có nghĩa là nham
thạch màu đỏ. trên những núi đá trọc lóc, màu sắc rực rỡ,
quang thái chói lòa. Màu đỏ hồng như lửa của nham thạch
nổi bật giữa bầu trời xanh ngắt so với hỏa diệm sơn ở
Tolophan có lẽ còn hừng hực hơn nữa. Nhìn kỹ vùng nham
thạch quanh một vòng thì thấy sắc màu của chúng rất khác
nhau: màu nâu, màu tím đậm, màu cát cánh, màu cổ đồng,
màu lam, màu xám tro ... Tôi vừa khen ngợi Tiểu Kim là
một nhà nhiếp ảnh có con mắt tinh đời vừa tự tiếc mình
không phải là một họa sĩ, trước mắt là cảnh phong quang

311

tráng lệ, biến ảo đa đoan của sắc núi mà tôi chỉ việc giương
mắt há miệng mà nhìn chứ chẳng biết làm gì hơn!

Thế núi lên xuống ngoằn ngoèo như vậy lại càng bày
ra thiên hình vạn trạng, bên này là khối đá to lớn sừng sững
bị phong hóa, đội trời đạp đất, giống như một người khổng
lồ mặc áo trường bào khuỳnh tay mà đứng; bên kia, trên
vách đá dựng đứng có các kiến trúc cổ đại giống như những
pháo đài Âu châu thời Trung cổ.

Đàng xa, từng dãy núi nhọn như đao chĩa lên trời thật
đúng với tên gọi là “Đao sơn”. Xa hơn nữa là hàng hàng
lớp lớp đỉnh núi nhấp nhô chạy suốt cùng một hướng cùng
ngả về một phía nhìn từ xa chẳng khác nào sóng nước dập
dồn cuồn cuộn đổ về phía trước.

Tôi thật bái phục những tác phẩm kỳ diệu của thiên
nhiên hiện ra trước mắt, tôi vội lấy tập vở ra ghi chép, vẽ
qua loa mấy trang để ghi nhớ cảnh này. Khi trở về Khố Xa,
tôi đem mấy trang vẽ chẳng ra hình thù gì đó đưa cho một
họa sĩ từ Bắc Kinh đến, anh vừa nhìn trang vẽ vừa nghe tôi
thuật lại cảnh sắc ở đó, không ngờ anh nổi hứng nói: “Tôi
nhất định phải đi đến đó để vẽ, nếu không, hóa ra đến Tân
Cương lần này phải trở về không chăng!”

KHÔNG UỔNG CÔNG CHO MỘT CHUYẾN ĐI

Tiếp tục đi chừng 50 cây số nữa thì đến một nơi có tên
là Khả Khả Sa. Dưới chân núi màu cổ đồng có di chỉ đãi
tìm đồng của thời cổ đại. Từ đời Hán đến đời Đường, sử
sách đều nói nước Quy Tư có nghề đãi kim khí, sản xuất ra
vàng, đồng, sắt chì, kẽm ...

Đi thêm một đoạn nữa là mỏ dầu hiện đại. Tại đây, ăn
cơm trưa xong, lại tiếp tục men theo đường núi phía bắc đi
lên. Tôi càng đi càng nghi ngại, lẽ nào hồ Đại Lạo Ba (tức

312

hồ Long Trì) lại xa như thế? Nhưng anh chàng đồng hành
cứ bảo sắp đến rồi.

Lại đi tiếp một đoạn nữa thì đằng trước hiện ra một
thác nước giống như dải lụa trắng từ núi cao xanh thẳm bay
xuống. Xe chạy quanh co lòng vòng để tìm lối đến thác
nước, tiếng nước đổ ầm ầm. Rồi leo lên phía trước thì thấy
một hồ nhỏ, tức Tiểu Lạo Ba. Đi thêm chừng 5 cây số nữa,
cuối cùng cũng đến được nơi muốn đến, đó là hồ Đại Lạo
Ba. Hai hồ lớn nhỏ thông nhau bằng một con khe.

Đại Lạo Ba vốn là một hồ nhỏ trên núi cao. Quang cảnh
rất xinh đẹp, nước hồ xanh biếc, sóng nước lăn tăn. Bờ núi
hướng đông, tùng bách um tùm xanh tốt. Đầu kia của hồ
nước là vùng thảo nguyên phô sắc cỏ màu vàng óng ánh.
Từng tụm vài ba con bò, dê đang nhàn nhã đi đi lại lại trên
đó. Đằng sau những lều bạt màu trắng của mục dân là
những đỉnh núi tuyết của dãy Thiên Sơn cao sừng sững.
Chúng tôi đi từ rìa sa mạc Taklamacan rồi trở lại mục
trường Thiên Sơn là nơi đã từng đi qua, biết đến.

Và một lần nữa lại thưởng thức món trà sữa thơm ngon
của mục dân, sau đó quay về. Thâm tâm tôi nhận ra rằng
lần đi này thật là vô ích, nhưng ngoài miệng vẫn cứ trách
bảo: hồ Long Trì là cái gì nào? Rõ ràng là bị lừa. Phụ nữ
thành Quy Tư đi lấy nước mà phải qua một đoạn đường dài
100 cây số chăng?

Ông bạn đồng hành cười nói:

- Sao gọi là bị lừa? Không phải anh đang đi trên con
đường tơ lụa cổ đại đấy chăng? Đoạn đường tắt này đi từ
Quy Tư đến Ô Tôn đấy! Lẽ nào anh không biết mình đã
thành công chăng?

313

Qua lời nói ấy tôi bỗng hiểu ra tất cả, dãy núi tuyết kia
chính là vùng đất Y Lê cách nước Ô Tôn, nơi công chúa
Giải Ưu làm dâu không xa. Tôi khoái chí cười lớn, nói:

- Anh rõ là một tay hướng đạo cừ khôi và thông minh!
Đang khi chúng tôi cười nói thì một đàn lừa ngựa của
đám thanh niên Uygur đi qua. Trai đi bộ vung roi, gái cưỡi
trên lưng những con vật vừa đi vừa hát những bài sơn ca,
tôi buộc miệng gọi Tiểu Kim bảo:
- Cảnh này khó gặp lắm đấy, cậu hãy chớp nhanh mấy
kiểu. Họ là những lữ khách hiện đại đang đi trên một nhánh
của con đường tơ lụa cổ đại, tức là Quy Tư đi thẳng đến Ô
Tôn đấy?

314

19. TỪ THIÊN PHẬT ĐỘNG Ở KHẮC TƯ
NHĨ ĐẾN SÔNG KORLA

Rời huyện lỵ Khố Xa đi qua một lần nữa cạnh
phong hỏa đài đời Hán có tên là “Nhi nữ lưu hạ” rồi theo
hướng núi đi huyện Bái Thành để đến Thiên Phật động ở
Khắc Tư Nhĩ.

CHÙA HANG ĐỘNG SỚM NHẤT Ở TÂY BỘ
TRUNG QUỐC

Thiên Phật động (ngàn động thờ Phật) ở Khắc Tư Nhĩ
là những hang động thờ Phật cỡ lớn ở tây bộ Trung Quốc,
niên đại kiến tạo hang động sớm hơn so với quần thể hang
động Mạc Cao ở Đôn Hoàng. Việc tìm hiểu nguồn mạch
nghệ thuật Phật giáo được truyền sang phương đông của
các học giả ở Thiên Phật động Khắc Tư Nhĩ rất được coi
trọng.

Đường núi đi về phía tây bằng phẳng dễ đi hơn nhiều
so với đường đi về phía bắc đến hồ Đại Lạo Ba. Cảnh sắc
núi non dọc đường không kỳ lạ như từng thấy trên đường
đi phía bắc. Suốt đường đi, lòng tôi cứ thầm nhủ: đường xa
ngàn dặm đi Thiên Phật động Khắc Tư Nhĩ không biết
mình được xem bao nhiêu bích họa đây?

Số là thế này, trước đó một ngày tôi có đi một lượt
Thiên Phật động ở Khố Mộc Thổ La do hứng chí. Lên xe
hướng tây nam huyện Khố Xa đi chừng 27 cây số thì đến
trạm thủy điện Mộc Trát Đề, sau đó men theo hồ chứa nước
đi bộ hai cây số nữa mới đến nơi. Trên vách núi hiện còn
sót lại 33 bức bích họa, tôi đi thăm một mạch mấy chục
động, nhưng không tìm thấy một bức bích họa nào hoàn

315

chỉnh cả. Bọn dị giáo thời xưa và các phần tử đế quốc chủ
nghĩa gần đây thật là vô lương tâm đã phá hoại hầu hết
những bích họa ở Khố Mộc Thổ La.

Sau khi trở lại Khố Xa, tại phòng văn hóa huyện tôi
được xem một số đầu tượng bồ tát có tô màu đào được ở
Khố Mộc Thổ La, nhìn ngắm một hồi lâu mới hết cơn giận.
Sau những tai họa lớn mà lịch sử phải kinh qua, bảo tồn
được những tác phẩm nghệ thuật hoàn chỉnh như thế này
thật là vô cùng khó khăn. Đầu tượng này có khuôn mặt
dạng trứng ngỗng, sắc da màu nâu, mi mắt thanh tú trông
rất có thần. Khuôn mặt ấy khiến người ta liên tưởng đến nữ
thần cổ Ai Cập, có lẽ là khuôn mặt của một phụ nữ quý tộc
Quy Tư chăng?

Không cần để ý nhớ lại hàng loạt những gì đã xảy ra,
không còn nhớ mình đã ngồi xe khổ sở như thế nào để vượt
đoạn đường hơn 70 cây số. Bỗng xe chạy vào rìa sa mạc
không lối và đi tiếp một đoạn nữa thì đụng phải vách đá
Cấp Sát Xa mà tên dưới là lòng sông Mộc Trát Đề. Chiếc
xe men theo đường dốc trơn trượt rất nguy hiểm mà chạy
xuống phía hang, quay đầu nhìn lại độ dốc nghiêng ước
chừng 45 độ, không biết lát nữa xe có bò lên lại nổi không.

Ven sông, cây xanh tươi tốt, phong cảnh xinh đẹp. Ẩn
mình trong tán lá rợp bóng là mấy gian nhà xinh xắn của
nhân viên bảo quản văn vật Thiên Phật động Khắc Tư Nhĩ
cư trú. Chúng tôi được dẫn vào phòng khách đầy tiện nghi
tạm nghỉ ngơi chốc lát. Mọi cái ở đây tuy không mang tính
quy mô như ở sở nghiên cứu văn vật Đôn Hoàng, nhưng
thấy rất ngăn nắp. Cạnh con sông là vườn rau dưa và vườn
cây ăn quả. Lưu trú mấy ngày bên dòng sông u tĩnh cách
xa chốn bụi trần náo nhiệt cũng đáng thích thú lắm chứ!

Tôi không quên điều mình quan tâm nhất nên không
chờ được, bèn hỏi:

316

- Ở đây có bao nhiêu hang động hoàn chỉnh để thăm
viếng?

Nhân viên tiếp khách sở tại trả lời tôi bằng một câu
hỏi:

- Thế các anh định ở lại mấy ngày?

- Phải trở lại Khố Xa trong ngày. Tôi băn khoăn nói.

- Sao lại vội thế. Chúng tôi có 75 hang động tương đối
hoàn chỉnh. Nếu không phải nghiên cứu kỹ lưỡng cũng phải
mất một tuần mới có thể đi xem hết một lượt.

Theo lời giới thiệu của người hướng dẫn, Thiên Phật
động Khắc Tư Nhĩ đã đánh số, cộng tất cả 236 hang động,
nằm rải rác nơi những vách đá có dốc cao nguy hiểm trên
đường chúng tôi vừa đi qua, đông tây thành dãy kéo dài
chừng hai cây số.

Kinh qua những cuộc tàn hại lớn trong lịch sử, tượng
đất đương nhiên không còn nữa, bích họa tuy hư khuyết
nhưng cũng còn một số tương đối hoàn chỉnh có thể thưởng
ngoạn hoặc nghiên cứu. Chúng tôi có nửa ngày, chỉ có thể
tham quan tám hang động gọi là đại biểu, nhưng cũng tạm
coi là am hiểu phần nào những nét tinh hoa của bích họa ở
Thiên Phật động Khắc Tư Nhĩ.

BỒ TÁT SOI ĐUỐC DẪN ĐƯỜNG CHO KHÁCH
THUƠNG TRÊN CON ĐUỜNG TƠ LỤA

Trước hết, nhân viên hướng dẫn chúng tôi tham quan
hang động có sớm nhất, hang thứ 17.

Thận trọng theo con đường nhỏ quanh co trên vách núi,
chúng tôi đến dưới miệng hang, rồi leo thang đi lên. Hang
có hình chữ nhật, chia trước sau hai gian. Mặt vách chính
gian trước đục khám thờ có chỗ cho tượng Phật, rất tiếc

317

tượng đã bị phá hoại không còn dấu vết nào cả. Khám thờ
Phật hai bên có đường thông ra gian sau. Gian trước có ánh
sáng của cửa hang chiếu rọi có vẻ sáng sủa, còn gian sau
tối tăm. Bất kể gian trước, gian sau hoặc đường thông, trên
vách đâu đâu cũng cũng có bích họa.

Người hướng dẫn nhắc tôi ngẩng đầu nhìn bích họa
trên đỉnh vòm. Toàn bức họa là do rất nhiều hoa văn hình
thoi tạo thành. Trong mỗi ô hình thoi có một bức họa vẽ sự
tích Thích ca Mâu ni tại thế quên mình cứu người, tránh ác
làm thiện, được gọi là “bổn sinh cố sự” (sự tích đức Phật).

Tôi chú ý đến một ô hình thoi, trong đó vẽ lại sự tích
một bồ tát giữa đêm khuya dẫn đường cho một khách
thương.

Bạn đồng hành của tôi nói:

- Anh xem, vị bồ tát thiện tâm kia quan hoài đến lữ
khách của con đường tơ lụa đấy, đúng không?

Bức họa vẽ một bồ tát để lộ phần thân trên, đeo thắt
lưng đưa cao hai tay, hai bàn tay biến thành hai ngọn đuốc
soi sáng cho hai khách thương đang đi trong đêm tối. Nét
bút của ông họa công thô dữ, nhưng giản dị trong sáng, tức
muốn vẽ ra dáng dấp nhẹ nhàng và hòa thiện của bồ tát.
Còn hai khách thương mặc trang phục Tây Vực, ngẩng đầu
nhìn bồ tát đưa tay phải lên biểu thị ý muốn nói vô cùng
cảm kích. Ba nhân vật trong một ô hình vuông nhỏ đã tạo
ra một bức họa cực kỳ sinh động.

Trong những bích họa ở Thiên Phật động Khắc Tư Nhĩ,
bức vẽ “bổn sinh cố sự” trong sáu hình thoi chiếm vị trí nổi
bật. Theo các chuyên gia thống kê, có tất cả sáu, bảy mươi
loại “bổn sinh cố sự”, trong khi đó các khu hang động lớn
của cả nước như Đôn Hoàng, Vân Cương, Long Môn v.v...
chỉ vẽ khoảng hơn ba mươi loại “bổn sinh cố sự”. Cho nên

318

bức vẽ “bổn sinh cố sự” trong các sáu ô hình thoi ở Thiên
Phật động Khắc Tư Nhĩ rất được học giả trong và ngoài
nước coi trọng.

Về mặt cấu tứ, các bức họa “bổn sinh cố sự” ở hang
động Khắc Tư Nhĩ có một đặc điểm: chọn những gì đặc
trưng nhất và những tình tiết có sức truyền cảm nhất để thể
hiện chủ đề của sự tích. Ví dụ như bích họa “bổn sinh cố
sự” về vua Khỉ mặt đỏ (Mị Hầu vương) cứu bầy khỉ ở hang
thứ 69. Người vẽ chọn giây phút Mị Hầu vương dùng chính
thân thể của mình làm cầu. Người đi săn đã giương cung
chờ bắn thì chính lúc đó Hầu vương dùng hai chân trước và
hai chân sau bám chặt vào cành cây nằm hai bên bờ suối
tạo thành chiếc cầu để đàn khỉ đi qua. Chân trước của Hầu
vương ôm chắc một cành cây, lại quay đầu nhìn chờ đàn
khỉ qua hết, tình hình khẩn cấp, lo sợ, xả thân cứu người ấy
được lột tả một cách linh động, rõ nét.

Bức họa bồ tát đưa đuốc chiếu sáng người lữ hành
trong đêm mặc áo trường bào khiến tôi rất thích thú. Sau
này trong nhiều hang động khác tôi còn nhiều lần thấy cách
phục sức ấy, có người cho đó là y phục của người Quy Tư,
còn tôi thấy rất giống y phục của người Tây Á.

Trường bào dài quá gối để lộ hai ống chân mang ủng,
cổ áo lật tòe ra, tay áo hẹp bó, eo thắt, vạt dưới rộng, cổ áo
và vạt áo trước có thêu những đường hoa văn. Có những
bức họa dũng sĩ cũng mặc trường bào như thế, có thêm thắt
lưng, một bên có giắt đoản kiếm hoặc đao. Theo nhận xét
của tôi thì đó là trang phục đương thời vừa trang nhã đẹp
mắt, vừa tiện lợi hợp thời.

319

HANG ĐỘNG ĐUỢC KIẾN TẠO SỚM HƠN Ở ĐÔN
HOÀNG

Rời hang số 17, lại leo lên hang thứ 48 thấy trên nóc
có ba thiên thần đầu đội quang luân, dáng dấp như nam
tính, cho ta cái cảm giác hùng dũng, nét vẽ còn rất thô tháp,
hoàn toàn không giống tư thế mềm mại, phiêu bồng như
tiên của các thiên thần trên những bích họa ở Đôn Hoàng.

Người bạn đồng hành nói với tôi rằng hang 17 và hang
48 này các chuyên gia cho là chúng được kiến tạo vào
khoảng thế kỷ thứ III, tức tương đương với những năm cuối
của nhà Đông Hán hoặc chậm hơn thì cũng vào thời Tây
Tấn (năm 265 - 420).

Tôi ngạc nhiên nói:

- Thế thì có rất sớm so với Đôn Hoàng nhỉ?

- Phải. Phật giáo từ Ấn Độ truyền vào Trung Quốc tất
nhiên phải qua Tây Vực trước chứ, đúng không?

Về thời điểm kiến tạo hang động Mạc Cao ở Đôn
Hoàng, căn cứ sử sách ghi lại thì vào năm 366 CN, còn
phần lớn những bích họa khác mà chúng tôi được xem qua
là Vào thời Bắc Ngụy (năm 386 - 534 CN). Nếu quả đúng
hang 17 và hang 48 ở Khắc Tư Nhĩ là những hang động
được kiến tạo vào cuối đời ĐôngHán thì tôi có diễm phúc
chính mắt mình trông thấy hang động Phật giáo được khai
đục sớm nhất ở Trung Quốc vậy.

CÔNG CHÚA ẤN ĐỘ, ÂM NHẠC QUY TƯ, ĐIỆU
MÚA XOAY CỦA NGƯỜI HỒ …

Đứng trên góc độ đơn thuần về mặt thưởng thức nghệ
thuật mà xét thì Thiên Phật động ở Khắc Tư Nhĩ có nhiều

320

bức họa rất tinh mỹ khiến người ta phải lưu luyến xem mãi,
quên về.

Ở hang 38, tôi thấy phía trên cửa hang vẽ một bức bồ
tát đang thuyết pháp, tôi bỗng thầm nhủ rất tuyệt. Người
bạn đồng hành của tôi nói:

- Có nhà mỹ thuật nọ gọi vị bồ tát này là công chúa Ấn
Độ cao quý đấy.

- Ít ra đó cũng là một tuyệt sắc giai nhân Ấn Độ Tôi

nói.

Tượng bồ tát này toàn dùng đường chỉ kẻ để phác thảo,
hầu như thủ bút của một đại sư sáng tạo. Thân trên để hở,
đường chỉ kẻ để tạo nên hình người rất đơn giản, rõ ràng
cân xứng hoàn toàn với hình thể con người trong môn giải
phẫu học (anatomie). Hai tay như đang làm động tác xòe
múa, tay trái đưa cao về phía phải, tay phải hứng trước
ngực, động tác đẹp tự nhiên. Năm ngón tay mảnh khảnh
được vẽ rất tinh tế lại có ý biểu lộ tình cảm. Đầu hơi
nghiêng về phía trái và hơi cúi xuống. Đôi mắt lá liễu như
khép, như mở, vừa như ẩn chứa nỗi buồn vô hạn vừa như
chìm đắm trong cõi trầm tư sâu lắng. Tôi thầm nghĩ mình
từ nơi xa ngàn dặm đến xứ Khắc Tư nhĩ này được thưởng
ngoạn bức họa kiệt tác của người Quy Tư cổ đại cũng đã
đáng giá lắm rồi.

Lúc ấy có vài người nói giọng Thượng Hải leo lên
động cùng tham quan với chúng tôi, trong đó có một người
tuổi cỡ trung niên mang kính đang thì thầm giảng giải cho
người bạn đồng hành ra vẻ như có nghiên cứu về nghệ thuật
hang động. Sau này, qua giới thiệu tôi mới biết ông là nhà
sinh hóa nổi tiếng ở Thượng Hải có tên là Bành Gia Mộc.
Những năm sáu mươi, báo chí đã từng giới thiệu về sự
nghiệp của ông, bị ung thư, nhưng ông vẫn miệt mài nghiên
cứu khoa học. Vừa rồi ông đến sông Tarim làm công tác

321

điều tra khoa học, trên đường về vòng qua Khắc Tư Nhĩ
ghé tham quan những bích họa của Thiên Phật động.

Tôi rất lấy làm kính phục ông, tôi hỏi:

- Ông trèo đèo lội suối đến Tân Cương, sức khoẻ ông
có chịu đựng nổi không?

- Không sao. - Ông nói, - mỗi năm tôi đều đến Tân
Cương một lần để điều tra khoa học, tiện đường cũng đi
xem qua những văn vật cổ tích của con đường tơ lụa. Đây
là lần thứ hai đi thăm động Phật ở Khắc Tư Nhĩ.

Nghệ thuật hang động tất nhiên có sức hấp dẫn lớn đối
với nhà nghiên cứu sinh hóa. Thực ra cũng không có gì lạ,
khoa học và nghệ thuật xưa nay vốn là hai chị em sinh đôi.
Có duyên gặp được Bành Gia Mộc lại tăng thêm lòng kính
ái của tôi đối với ông. Một năm sau, trên đường đi khảo sát
ở La Bố Bạc, ông đã hy sinh, tin ấy được truyền đi làm cho
tôi kinh ngạc và thương tiếc không nguôi. Sau cùng, chúng
tôi tham quan hang thứ 153. Vòm mái của hang này như
muốn sụt lở, cũng may những bích họa chơi nhạc trong
từng ô tròn còn lại hơn một nửa. Trên vòm mái chia thành
hàng chục ô theo từng hướng, trong mỗi ô vẽ một bồ tát
chơi nhạc, có ô đang tấu nhạc, có ô đang nhảy múa. Loại
hoa văn “bức xạ” kiểu ô tròn này không hề thấy trên các
bích họa ở Đôn Hoàng. Tôi để ý xem xét từng ô vẽ kiểu
chơi nhạc ấy, mỗi mỗi đều rất có thần, rất sinh động. Cám
ơn Trời Phật, rốt cuộc tôi cũng được may mắn xem những
hình ảnh như thế. Âm nhạc Quy Tư đã từng làm chấn động
cõi lòng người Trường An không còn cách gì tái hiện được
nữa. Ngày nay chúng ta có thể căn cứ vào những bức bích
họa chơi nhạc trong cách diễn tấu ống tiêu và trống cơm để
tìm ra âm luật và tiết tấu của âm nhạc Quy Tư cổ đại.

Vũ điệu của người Hồ đã từng làm cho Lý Bạch và
Bạch Cư Dị phải mắt say lòng đắm cũng đã thất truyền.

322

Ngày nay chúng ta có thể căn cứ vào hình ảnh của các “vũ
thần” trên những bức bích họa chơi nhạc để tưởng tượng ra
dáng múa mạnh mẽ, ngang tàng của họ thời xa xưa.

Một kho tàng nghệ thuật phong phú như thế chỉ có hơn
nửa ngày làm sao xem cho hết được! Khi chiếc xe leo lên
con dốc cao hiểm trên đường về, tôi không quan tâm như
lúc trước khi tìm đường xuống hang, thậm chí tôi những
muốn nó leo lên không được để ở lại, lại càng hay hơn!

TẠM THỜI CÁO BIỆT HUYỀN TRANG

Trở về huyện Khố Xa, nghỉ lại một đêm, sáng hôm sau
theo hướng tây nam đi A Khắc Tô.

Trên đường ven sa mạc thấy có ba phong hỏa đài.
Ruộng lúa của lục châu rất phì nhiêu, có chỗ giống như
nông thôn vùng bình nguyên Hoa Bắc. Đi chừng 200 cây
số thì đúng trưa, ruột đói cồn cào. Xe đi vào một thị trấn
nhỏ, nhiều loại xe cộ qua đây đang dừng lại nghỉ ngơi. Định
đến A Khắc Tô ăn cơm trưa thì không kịp nên chúng tôi
dừng xe ở đây, tìm chỗ ăn cơm.

Quán cơm bên đường rộng rãi, sạch sẽ, lữ khách ăn
uống ở đây rất đông. Chúng tôi gọi món thịt dê xào ớt trộn
mì sợi, ăn rất ngon miệng. Sau bữa ăn, kêu một ấm trà ngồi
nhâm nhi. Một cô phục vụ người Hán đi qua, chúng tôi hỏi
cô đây là nơi nào, cô bảo đây là nông trường Ha-la Ngọc-
nhĩ-cổn thuộc huyện A Khắc Tô, quán cơm này do nông
trường quản lý.

Thật không ngờ, tình cờ lại dưng chân mọt nơi mà
Huyền Trang đã từng đi qua, đó là thủ phủ nước Bạt Lộc
Già.

323

Huyền Trang rời Khuất Chi (tức Quy Tư) “theo hướng
tây đi chừng 600 dặm, qua một sa mạc nhỏ thì đến nước
“Bạt Lộc Già” (Đại Đường Tây Vực ký).

Các học giả cho rằng nước Bạt Lộc Già tức là vùng A
Khắc Tô hiện nay, nhưng nói là thủ phủ của nước ấy thì
không phải. Có người cho là ở Ha-la Ngọc-nhĩ-cổn mà căn
cứ chính là vị trí địa lý của nó.

Ha-la Ngọc-nhĩ-cổn có một con đường ở phía bắc
thông với cửa khẩu Mộc tư A đặc trong dãy Thiên Sơn.
Theo ngôn ngữ của Đột Quyết thì “Mộc tư” có nghĩa là
“băng”, “A đặc” có nghĩa là “hang núi”, cho nên Mộc tư A
đặc nghĩa là “Hang núi băng” hoặc có thể gọi là “Lăng sơn
khẩu”.

Đại Đường Tây Vực ký ghi rằng: Sau khi Huyền Trang
đến nước Bạt Lộc Già, “đi theo hướng tây bắc hơn 300
dặm, qua một sa mạc nhỏ thì đến Lăng Sơn” (Lăng Sơn
nghĩa là núi băng đây chỉ núi Thiên Sơn). Các học giả nhận
định rằng núi băng ấy chính là Mộc tư A đặc. Đặc điểm địa
lý của Lăng Sơn mà Huyền Trang miêu tả so với hang núi
Mộc tư A đặc ngày nay rất giống nhau. Ngài tả rõ hang núi
Lăng Sơn quanh năm đầy tuyết, bất kể xuân hạ đều đóng
băng, có khi cũng tan ra, nhưng gặp lạnh thì đông lại tức
khắc.

Huyền Trang trải nhiều gian nan, vượt qua núi tuyết
đến vùng Y Lê rồi theo hướng tây để đến hồ Issyk Kul.
Người Trung Quốc cổ đại gọi hồ nước trên núi cao này là
“Nhiệt hải” vì nó ở trên vùng đất cao và lạnh, cao hơn mực
nước biển 1600 mét, nhưng quanh năm không đóng băng,
trong khi đó núi non quanh quất băng tuyết vĩnh hằng, hồ
vẫn không chịu ảnh hưởng nên có tên gọi như thế (Nhiệt
hải). Nhà thơ Sầm

324

Tham có câu thơ rằng: “Tây đầu Nhiệt hải thủy như
chữ” (ở phía tây có biển Nhiệt hải nước nóng như nung),
điều này cũng đơn thuần là nhà thơ do từ mà nói lên nghĩa
qua thơ văn, tuy trung thực nhưng khó tin. Huyền Trang
gọi hồ Issyk Kul là “Thanh trì”, vì nước hồ trong xanh, ngài
còn tả mặt hồ biến ảo khôn lường: “Đôi khi bất chợt không
cần gió nổi sóng lớn cũng vọt cao hàng trượng”, “Tôm cá
tuy nhiều, nhưng không ai dám đánh bắt”.

Huyền Trang đi vòng quanh hồ Issyk Kul rồi theo
hướng tây đến thành Toái Diệp, tức một trong An Tây tứ
trấn của nhà Đường. Tại đây, sau khi Huyền Trang yết kiến
vua Tây Đột Quyết lại đi tiếp xuống phía nam tức đi vào
bán đảo Ấn Độ.

Sau khi chúng tôi ăn một bữa ăn ngon lành tại nhà hàng
nông trường Ha-la Ngọc-nhĩ-cổn, tiếp tục theo thường cái
dọc vùng đồng bằng gấp rút tiến về phía tây. Đi chừng 60
cây số thì đến A Khắc Tô. Trên đường đi, hàng bạch dương
cao vút dọc ven đường lúc có lúc không chạy dài bất tận,
báo trước vùng có nguồn nước sung túc, màu xanh tươi tốt,
nông nghiệp phát đạt.

A Khắc Tô là một thành phố khá tấp nập, đường phố
rộng rãi, có kiến trúc thuộc thời cận đại, chúng tôi nghỉ ở
nhà khách, đầy đủ tiện nghi. Nhân khẩu toàn huyện có
mười một vạn, trong đó thị trấn chiếm một vạn ba, phần
lớn là người Uygur. Đời nhà Hán, A Khắc Tô thuộc nước
Cô Mặc, lúc đó nhân khẩu có 24500 người, đời Đường gọi
là thành Bát Hoán. Có học giả cho rằng thủ phủ nước Bạt
Lộc Già mà Huyền Trang đã đến là A Khắc Tô chứ không
phải là Ha-la Ngọc-nhĩ-cổn. Họ cho rằng Huyền Trang đi
về hồ Issyk Kul và thành Toái Diệp bằng con đường qua
hang núi biệt Trật Lý cách A Khắc Tô về phía tây chừng
160 cây số. Tôi đến thăm Diêu Ký Thần, trưởng phòng văn

325

hóa huyện, ông đã từng theo con đường này đi về hướng
tây, gần hang núi Biệt Trật Lý cách huyện Ô Thập 5 cây số
về phía tây, ở đây thấy có một phong hỏa đài đời nhà Hán.

Thật ra, từ vùng A Khắc Tô vượt dãy Thiên Sơn đi về
phía tây xưa nay vẫn có hai con đường: một đường là hang
núi Mộc tư A đặc (tức Lăng Sơn), một đường là hang núi
Biệt Trật Lý. Cả hai đều là chi tuyến của con đường tơ lụa.
Rốt cuộc, Huyền Trang chọn đường nào thì đến nay vẫn
chưa có chứng cứ thực tế để khảo sát. Nhưng dù thế nào đi
nữa tôi từ Tây An bắt đầu lần theo lộ tuyến Tây du của
Huyền Trang đến được A Khắc Tô xem ra là đã xong được
một phần. Do đó, ngài đã rời khỏi địa giới Tân Cương ngày
nay, còn sau này từ Ấn Độ trở về thì nhập vào địa giới Tân
Cương tại Taxkorcan (Đáp thập khố nhĩ can) rồi men theo
tuyến năm của con đường tơ lụa mà vào nội địa. Tôi sẽ đi
ven bờ nam của sa mạc Taxkorcan để tiếp tục theo dấu chân
của ngài trên đường từ Ấn Độ thỉnh kinh trở về nước.

CÂY HỒ ĐÀO XỨ TÂY VỰC ĐUỢC ĐƯA VÀO NỘI
ĐỊA

Ở A Khắc Tô tôi đi thăm chủ tịch huyện người Uygur
tên là Rahman Hasmu. Ông rất mềm mỏng nhiệt tình. Ông
đã giới thiệu cho chúng tôi những thành tựu trong sản xuất
công nông nghiệp của huyện bằng một thứ tiếng Hán không
được lưu loát cho lắm. Xem ra lợi thế của toàn huyện là có
ba con sông chảy qua trước khi đổ vào sông Tarim, nên
nguồn nước rất sung túc, do đó lương thực, nguyên liệu dầu
thực vật, bông vải rất phát đạt. Sản lượng lương thực năm
1978 tăng 2,5 so với năm 1949. Nói về đặc sản ở A Khắc
Tô, ông đưa ra giống hồ đào vỏ mỏng. Loại hồ đào này bỏ
vào lòng bàn tay vo nhẹ một cái là vỏ ngoài vỡ, hiện ra
nhân ngay và cho vào miệng ăn ngon lành.

326

Tôi nói với ông:

- Bốn năm trước, sân nhà tôi có trồng một cây hồ đào
Tân Cương, năm ngoái mới đậu được mấy quả, thật là một
giống quý.

Ông ta cười nói:

- Có lẽ nô nhớ quê hương đấy! Nhưng có thể không
hợp thủy thổ.

Hồ đào cô nguồn gốc ở Tây Vực. Trong Bản thảo
cương mục của nhà y dược học Lý Thời Trân đời Minh có
ghi: “Hồ đào còn có tên là hạch đào, Trương Khiên đi sứ
Tây Vực lần đầu đưa giống về trồng ở Tần, sau mới đến
trung thổ”.

Rahman Hasmu nói ngày nay vùng Hoa Bắc vẫn
thường đến A Khắc Tô đem giống hồ đào về trồng. Mỗi
năm cần đến hơn một vạn cây giống, nó không thể trồng
bằng hạt mà phải bằng cùi, nếu không thì quả sẽ không đậu.
Thảo nào cây hồ đào nhà tôi trồng bằng hạt nên đã bốn năm
rồi tuy cành lá xanh tốt nhưng quả không sai.

ĐI TRONG SA MẠC GÔBI MỘT BƯỚC
CHÂN CŨNG KHÓ

Từ biệt A Khắc Tô, qua sông Tarim ở vùng thượng du
rồi đi về hướng tây để đến huyện Ba Sở. Phải vượt nhanh
160 cây số đường nhựa mới đến một nơi mà bản đồ đánh
dấu là “nhất gian phòng” (một căn nhà). Ở đây quả đúng
chỉ có một gian nhà dành cho công nhân bảo dưỡng quốc
lộ trú ngụ. Gian nhà cô quạnh này được ghi trên bản đồ Tân
Cương quả là một vinh hạnh.

Từ “gian nhà” này rẽ về hướng đông nam và tách khỏi
đường cái để đi tìm di chỉ cổ thành Thoát-khố-tư-tát-lai,

327

quen gọi là thành “Đường Vương”. Phó giám đốc viện bảo
tàng Tân Cương Lý Ngẫu Xuân đã từng tham gia khai quật
thành này và có nhiều phát hiện quan trọng. Sau khi chúng
tôi gặp nhau ở Khố Xa, ông phải đi Ca Thập nên tôi chỉ căn
cứ vào những chỉ dẫn của ông về đường sá mà tự đi tìm lấy.

Sau khi xe đi vào đường tắt, chiếc Jeep của chúng tôi
chao đảo trên đường đất gồ ghề, chông chênh, có lúc thì bị
lún sâu vào vết bánh xe cũ, có lúc lại trơn tuột trong lớp cát
mịn. Anh tài xế chú tâm cầm chắc tay lái, đầu xe chao qua
đảo về giống như người say rượu. Tôi thấy anh có vẻ khẩn
trương nhưng mệt mỏi, xe đi gian nan mà chậm chạp, tôi
cảm thấy ân hận là không nên đi theo đường tắt gần chỗ
“gian nhà”, với lại không có người dẫn đường, ngôn ngữ
lại không thông, không biết có tìm ra “Đường Vương
thành” hay không, thật khổ tâm!

Đang lúc nghĩ thầm như vậy thì đối diện một chiếc xe
ca đi tới, thùng xe chất đầy bao bố, hàng hóa cao nghều,
trọng tâm xe có vẻ bất ổn, mỗi bước mỗi chao, so với xe
của chúng tôi thì nó còn lắc lư nguy hiểm hơn nhiều. Tôi
nhảy xuống xe chạy lại hỏi đường, thấy trên cửa xe có đề
dòng chữ nông trường gì đó. Cũng may, tài xế là một thanh
niên ngươi Hán có thể hỏi chuyện được. Tôi hỏi lớn:

- Xin hỏi đến thành Đường Vương đi đường nào vậy?

Cậu ta gật gật đầu.

- Còn xa không?

- Thấy thôn trang là đến.

- Xe anh chở đầy như thế không thấy nguy hiểm sao?

Quen rồi? Không sao đâu. - Cậu thanh niên cười cười
đáp.

328

Tôi nhìn theo cậu ta lái chiếc xe chao chao đảo đảo xa
dấn, nghĩ bụng phải chăng cậu ta là một thanh niên Thượng
Hải xa quê hương, xa gia đình đi khai khẩn vùng đất hoang
bên bờ sông Tarim hay Diệp Nhĩ Khương? Tại sa mạc Gôbi
hoang vắng này bèo nước gặp nhau những tưởng chuyện
trò đôi câu với cậu ta, dẫu chỉ vài câu thăm hỏi thông
thường cũng được, nhưng cậu ta lại cười cười rồi lái xe bỏ
đi.

SƠN THÀNH CỔ ĐẠI CÓ BA VÒNG TƯỜNG

THÀNH

Xe vẫn tiếp tục đi lên phía trước, tổng cộng đi được 50
cây số trên đoạn đường tắt phải mất hai tiếng rưỡi đồng hồ;
và cuối cùng cũng thấy một thôn trang, trên bản đồ ghi là
Aktam. Khoảng chừng mười mấy hộ thôn dân đều là người
Uygur, ngôn ngữ không thông, không biết làm sao đối
thoại.

Rời khỏi thôn trang, men theo đường cái đi về hướng
tây, hai phía nam bắc của đường toàn là núi đá, chúng tôi
tựa hồ như đang đi giữa lòng sông rộng thoáng mà hai bên
là vách núi. Đúng ra thời cổ đại, sông Khắc Tư Lặc đã chảy
qua như vậy. Ngày nay sông đã đổi dòng, lòng sông xưa
đất đai phì nhiêu đã trở thành đồng ruộng.

Lưng chừng núi phía nam của đường đi rải rác những
di chỉ chùa miếu thời cổ, còn lưng núi phía bắc là di chỉ cổ
thành. Thành gồm có ba vòng thành: Vòng nội thành bao
quanh từ lưng núi xuống chân núi, chu vi chừng 655 mét;
hai vòng ngoại thành đều từ chân núi đến đỉnh núi, chu vi
lần lượt là 1008 mét và 1688 mét. Tường thành tuy đã sụp
đổ nhưng vẫn còn nhận ra chân tường do gạch thô xây nên.
Cứ tưởng tượng năm xưa thành này trấn giữ khu núi phía
bắc, dưới chân là dòng sông Khắc Tư Lặc cuồn cuộn chảy.

329

Bờ núi phía nam đối diện là đền đài miếu vũ huy hoàng, là
những tòa bảo tháp sừng sững chọc trời. Ở bên này sông là
thành quách hùng vĩ, bên kia sông chùa chiền đồ sộ, ắt hẳn
nơi đây đã một thời nguy nga tráng lệ.

Tôi hỏi Lý Ngẫu Xuân “Thoát khố tư tát lai” có nghĩa
là gì? Vào thời cổ đại đó là thành nào? ông nói:

- “Thoát khố tư tát lai” là tiếng Uygur có nghĩa là “chín
gian nhà khách”, bởi vì nơi chốn nhà cao cửa rộng của di
chỉ này ngày trước có chín ngôi nhà to lớn đẹp đẽ. Người
Hán gọi đó là “thành Đường Vương” vì có mấy người tiều
phu đã tìm thấy một số tiền đồng thời Đường Khai Nguyên
tại đây nên có tên gọi như thế. Trên thực tế thì ngôi thành
này vốn đã có từ thế kỷ V CN, tức thời Nam Bắc triều và
bị hủy hoại vào thế kỷ Xi, tức thời nhà Tống.

Lý Ngẫu Xuân nói thêm vào thời nhà Hán, đất của khu
cổ thành này thuộc nước Úy Đầu, đến đời Tấn và Nam Bắc
triều thuộc nước Quy Tư. Nhà Đường xây thành Cứ Sử
Đức Tân Đường thư, phần địa chí có ghi: Thành Cứ Sử
Đức thuộc địa phận nước Quy Tư, tức châu Úc Đầu (hay
châu Úy Đầu) trên núi Cô Thạch ở bờ bắc sông Xích Hà”.

Cổ thành đúng là ở bờ bắc sông Khắc Tư Lặc thời cổ
đại (tức sông Xích Hà), vị trí địa lý lại đúng là thuộc nước
Úy Đầu, do đó các học giả nhất trí cho rằng cổ thành Thoát
khố tư tát lai là châu Úc Đầu của nhà Đường và cũng chính
là thành Cứ Sử Đức.

Hai nhà khảo cổ học Hoàng Văn Bật và Lý Ngẫu Xuân
trước sau đã khảo sát, khai quật tại di chỉ này, trầm tích văn
hóa của nó dày hơn hai mét, thời đại sớm nhất vào khoảng
thế kỷ thứ V và chậm nhất vào thế kỷ XI, văn vật đào được
rất phong phú và quý giá.

330

VĂN TỰ CỔ TÂY VỰC, SÁO KHƯƠNG, HẠT
BÔNG ĐỜI ĐƯỜNG

Trong số những giấy tờ văn thư đào được có văn bản
bằng chữ Hán, chữ Khư Lô, chữ Quy Tư, chữ Tolophan,
chữ Hồi Cốt, chữ Ả Rập. Những văn bản này rất có giá trị
đối với việc nghiên cứu lịch sử Tây Vực và ngôn ngữ cổ
đại.

Tượng đất đào được cũng rất nhiều. Sau này tôi có thấy
ở Ba Sở hai bức. Một tượng đầu Phật có mắt sâu, mũi cao,
lông mi dài, tai to, miệng nhỏ, vẻ mặt cười hiền từ, khuôn
mặt rõ là người Tây Vực. Một tượng đầu bồ tát, có khuôn
mặt hình trứng ngỗng, lông mày mảnh, đôi mắt rất có thần,
đầu có búi tóc rất to. Tôi còn được thấy một bức phù điêu
đầu tượng có hình mặt người dùng để trang trí, nhìn qua thì
thấy ngoài cái mũi có nét giống mũi voi ra, còn khuôn mặt
có phần giống người, trông rất kỳ lạ, ngộ nghĩnh. Những
tượng đất tinh xảo đó là tác phẩm nghệ thuật Phật giáo thời
cổ đại đào được tại vùng tây bộ xa nhất của Trung Quốc từ
trước đến nay. Vì địa điểm khai quật rất gần Ấn Độ nên
những tượng đất này có một giá trị đặc biệt đối với việc
nghiên cứu nguồn gốc mỹ thuật Phật giáo truyền nhập vào
Trung Quốc.

Ở viện bảo tàng Tắn Cương có trưng bày một đoạn sáo
gãy bằng xương cũng đào được ở đấy. Theo phân tích,
người xưa đã dùng xương đùi trước của dê để làm ra.
Những nhà thơ biên tái đời Đường đã không ngớt ngâm
vịnh tiếng sáo của người Khương như Vương Chi Hoán
trong bài “Lương châu từ” chẳng hạn:

Khương địch hà tu oán dương liễu,

Xuân phong bất độ Ngọc Môn quan.

Thì không biết có phải là thứ ống sáo đó không?

331

Ở đấy còn đào được rất nhiều đồ dệt, ngoài các thứ tơ
lụa tinh xảo ra còn có hàng dệt bằng bông vải rất đặc sắc.

Trong các trầm tích văn hóa thời Vãn Đường, người ta
đào được một chiếc váy có hàng trăm nếp gấp may bằng
vải trắng mịn. Lý Ngẫu Xuân tỉ mỉ đếm được 240 nếp gấp.
Những nhà tạo mốt hiện đại nếu thấy chiếc váy cổ đại này
ắt phải tự thán không bằng được người xưa đấy!

Có điều thích thú nhất là trong số trầm tích văn hóa đó
không chỉ đào được những kén tằm và những nén tơ mà
còn có những hạt bông vải và hoa bông vải. Điều này tập
trung thể hiện một hiện tượng lịch sử rất có ý nghĩa, chính
trên con đường tơ lụa này kỹ thuật nuôi tằm dệt tơ và hàng
tơ lụa từ Trung Quốc truyền nhập vào Tây Vực, đồng thời
bông vải và kỹ thuật dệt vải cũng được đưa vào Trung
Quốc.

Hạt bông vải đời Đường đào được ở Thoát-khố-tư-tát-
lai đưa về viện khoa học nông nghiệp Trung Quốc giám
định xác nhận là một loại bông cỏ tức một giống bông vải
ở châu Phi. Gốc loại bông cỏ này có ở Ả Rập, về sau truyền
qua Ai Cập và vùng Trung Á, rồi từ Ba Tư truyền đến châu
Á. Bông vải ở vùng Tân Cương xem ra do từ Ba Tư đưa
đến.

Vùng Tân Cương trồng bông vải và sử dụng hàng vải
sớm hơn nội địa hàng thế kỷ. Ở nội địa, việc phổ biến trồng
bông vải và dệt vải có lẽ phải đến thế kỷ thứ XI, thời Bắc
Tống mới có. Còn trước đó người dân chỉ may áo quần
bằng vải bố, gai, lông thú và lụa. Vào thời Nam Bắc triều,
ở nội địa có người đến Tolophan thấy hoa cây bông vải nở
ra có thể đem dệt thành vải coi là chuyện kỳ lạ ở xứ người,
nên khi trở về bàn tán xôn xao nói rằng ở Tolophan có một
loại cỏ mà hoa giống như cái kén có thể kéo thành sợi như
tơ và có thể dệt ra vải có tên là “bạch điệp tử bổ” (vải bông

332

trắng). Văn vật đào được đã chứng minh vùng Tân Cương
thời kỳ mạt diệp nhà Hán tức cuối thế kỷ thứ II CN đã sử
dụng hàng dệt bông vải. Đến thời Nam Bắc triều đã biết
trồng bông vải và dệt vải. Vào đời nhà Đường, nghề trồng
bông vải và nghề dệt vải rất phát triển.

Hạt bông vải đào được ở Thoát-khố-tư-tát-lai và việc
cung cấp chăn đệm bông có tính co giãn như ngày nay rất
có thể là một chứng cứ đáng tin cậy. Hiện nay những hạt
bông quý báu và những chăn đệm bông đang còn trưng bày
tại viện bảo tàng Tân Cương.

Chúng tôi rời di chỉ cổ thành, ra đường cái để đi về
huyện Ba Sở, đường bằng phẳng đi lại dễ dàng. Chúng tôi
ngủ lại Ba Sở một đêm để sáng hôm sau chuẩn bị ngược
dòng thượng lưu sông Khắc Tư Lặc. Đường thư, phần địa
chí có ghi: “Sông Xích

Hà (tức sông Khắc Tư Lặc) chảy từ đỉnh núi Cát La
phía tây Sơ Lặc chảy qua thành Cứ Sử Đức”. Núi Cát La ở
thượng du sông Khắc Tư Lặc ngày nay chính là Ô lổ Khác
kháp đề, tức một cửa khẩu trọng yếu từ Trung Quốc đi ra
của con đường tơ lụa.

333


Click to View FlipBook Version