The words you are searching are inside this book. To get more targeted content, please make full-text search by clicking here.
Discover the best professional documents and content resources in AnyFlip Document Base.
Search
Published by ngoc.ngphuong, 2020-09-21 02:01:48

CON ĐƯỜNG TƠ LỤA - Xa Mộ Kỳ

CON ĐƯỜNG TƠ LỤA - Xa Mộ Kỳ

thất do kiểu nhà Hán. Như vậy, Tế Quân đã thành công về
mặt chính trị nhưng cuộc sống riêng tư không được hạnh
phúc. Côn Mạc về già, ngôn ngữ không thông, Tế Quân rất
buồn khổ, âu sầu, làm bài ca rằng:

“Ngô gia gá ngã hề thiên nhất phương,

Viễn thác đi quốc hề Ô Tôn Vương.

Cư thường thổ tư hề nội tâm thương,

Nguyện vi hoàng hạc hề quy cố hương”.

Tạm dịch:

Nhà ta gã ta chừ trời một phương

Nước lạ xa xôi chữ Ô Tôn Vương

Ở đây hay nghĩ chừ lòng đau thương,

Muốn làm cánh hạc chừ về cố hương.

Hán Vũ Đế đã nghe thấy và rất đồng tình, nhưng vì vấn
đề chính trị, ông không chịu cho Tế Quân trở về quê nhà,
mà vài ba năm cho đặc sứ đến dâng lễ và ủy lạo.

Về sau, Côn Mạc thấy mình tuổi già sức yếu không còn
xứng hợp nữa, muốn đem nàng gả cho cháu là Sầm Tâu,
đây là tập tục truyền đời cho nhau của xứ Ô Tôn, công chúa
nhà Hán làm sao có thể ngờ tới. Tế Quân gởi thư về triều,
Hán Vũ Đế trả lời: “Cứ theo tập tục của nước họ để cùng
với xứ Ô Tôn tiêu diệt rợ Hồ”. Điều này nhắc nhở Tế quân
lấy lợi ích quốc gia dân tộc làm trọng, tôn trọng phong tục
tập quán của người bản xứ, cố gắng củng cố liên minh giữa
nhà Hán và Ô Tôn, cùng nhau đối phó với Hung Nô.

Tế Quân được gả cho vua kế vị là Sầm Tâu sinh được
một con gái rồi chết. Vua nhà Hán lại tiếp tục đem cháu gái
của Sở Vương Lưu Mậu là Giải Ưu làm công chúa và gã
cho Sầm tâu. Sau khi Sầm Tâu chết, công chúa Giải Ưu lại

234

theo phong tục của Ô Tôn được đem gã cho vua kế vị là
Phì Vương. Phì Vương chết, lại tiếp tục gả cho con trai của
Sầm Tâu do bà vợ người Hung Nô sinh.

Năng lực hoạt động của Giải Ưu so với Tế Quân thì
lớn hơn nhiều. Tình cảm giữa nàng và Phì Vương rất tốt,
sinh được ba trai, hai gái, người con gái đầu gã cho vua
Quy Tư, và tại đây nàng đã phổ biến rộng rãi văn hóa Hán.
Công chúa Giải Ưu sống ở Ô Tôn bơn bốn mươi năm, cuối
đờì khi trở về quê hương đã hơn bảy mươi tuổi. Bà đem
theo quan thị nữ của mình là Phùng Liêu, nhiều lần thay
mặt triều đình nhà Hán hiểu dụ và vỗ an xứ Tây Vực.

Càng ngày liên minh Hán - Ô Tôn càng mật thiết, điều
này làm cho Hung Nô giận dữ. Năm 72 trước CN, Hung
Nô khởi binh uy hiếp Ô Tôn, yêu cầu dâng thủ cấp công
chúa nước Hán và cắt đứt quan hệ với nhà Hán. Vua Ô Tôn
và công chúa Giải Ưu cùng dâng thư về triều đình xin cứu
trợ, thỉnh cầu đem quân tiến đánh Hung Nô. Triều đình liền
chấp thuận, đêm năm lộ quân xuất chiến, đồng thời cử đại
tướng Thường Huệ đại biểu cho triều nhà Hán đến Ô Tôn
chỉ huy thế trận. Trận này thu được kết quả vẻ vang. Trai
gái Hung Nô bị bắt hơn bốn vạn người, trong đó có cả chú
và con dâu của vua Thiền Vu. Hung Nộ tấn công lại nhưng
cũng bị thất bại. Liền theo đó dân tộc các nơi bị Hung Nô
áp bức lâu nay ào ào nổi dậy. Hung Nô rơi vào bế tắc. Trải
qua hơn nửa thế kỷ đi lại nhiều lần, lần đầu tiên sách lược
“liên minh Ô Tôn khống chế Hung Nô” của Trương Khiên
đề ra bắt đầu có hiệu quả.

NHẠN ĐÃ ĐỊNH CƯ TRÊN THẢO NGUYÊN

Ở Tân Cương tôi nghe người ta kể nhiều về sự tích
công chúa Giải Ưu, lấy đó làm chủ đề cho kịch bản lịch sử
đăng trên tạp chí “Tân Cương Văn nghệ” gần đây. Cho dù

235

điều kiện lịch sử khác nhau rất xa, ngày nay những thanh
niên trí thức người Hán từ nội địa đến chi viện để kiến thiết
biên cương thì qua sự tích có tính chất lịch sử kể trên cũng
đã soi rõ quyết tâm cùng với dân tộc thiểu số anh em kề vai
sát cánh, tay trong tay cống hiến cả đời mình cho mảnh đất
biên cương này.

Phó giám đốc mục trường nuôi dê Dương Nhĩ Tế ở
Củng Nãi Tư là một trong những người phụ trách mà chúng
tôi được gặp.

Mục trường nuôi dê nằm bên bờ sông Củng Nãi Tư.
Tôi đứng bên bờ sông đang cuồn cuộn chảy nhìn xa hút tầm
mắt là cả một đồng cỏ trông như tấm thảm xanh trải dài tít
tắp trên vùng đất bằng phẳng rộng lớn. Xa xa theo tầm nhìn
là núi non trùng điệp. Tôi thết lên: “Ồ, mục trường rộng lớn
và xinh đẹp làm sao!”. Dương Nhĩ Tế đứng bên cạnh nói:

- Đây mới chỉ là mục trường dành cho mùa đông của
chúng tôi, còn nơi chỗ núi cao rừng sâu kia chúng tôi có
một mục trường dành cho mùa hè nữa kia!

Tôi rất muốn đi thăm xem thử thế nào, ông ấy nói:

- Lên đó không thể đi xe được, còn đi ngựa phải mất
mươi tiếng đồng hồ, sợ anh về không kịp.

Mục trường nuôi dê Củng Nãi Tư không chỉ nổi tiếng
ở Tân Cương mà còn nổi tiếng trong cả nước. Mục trường
đã gây giống loại “dê lông mịn Tân Cương” đã được nhà
nước giám định. Chính mắt tôi đã trông thấy những xe ca
ở Liêu Ninh tận bên bờ Bột Hải đã chuyển vận về xứ họ
các loại dê giống ở đây. Ba mươi năm nay mục trường này
đã cung cấp cho hai mươi bốn tỉnh trên toàn quốc 50 vạn
con dê giống. Từ thập niên năm mươi đến thập niên bảy
mươi mặt hàng sản xuất dê giống rất cao. Ngày nay, hàng
năm, mỗi con dê lông mịn Tân Cương cho ra ít nhất là 5 kg

236

lông, lông dài hơn 8cm, còn các tiêu chuẩn khác như độ
mịn, độ dày, độ đều và màu sắc thì xếp hạng tiên tiến toàn
quốc.

Loại dê lông mịn Tân Cương là kết tinh của sự hợp tác
mật thiết giữa Dương Nhĩ Tế và Maisfuhas, kỹ thuật viên
người Hazak. Tất cả vì thảo nguyên mà các bạn thanh niên
trí thức người Hán vui vẻ đến đấy công tác. Maisfuhas nói
với Dương Nhĩ Tế.

- Họ chẳng khác nào đàn nhạn đến với thảo nguyên,
trong những ngày đông tháng giá, thế nào rồi cũng bay đi!

Đến nay, hai mươi bảy mùa đông giá đã qua, thế mà
đàn nhạn đã không bay đi. Dương Nhĩ Tế đã mọc rễ tại mục
trường Củng Nãi Tư, từng bước lao tâm khổ trí vì công tác
nâng cao phẩm chất dê giống lông mịn Tân Cương.
Maisfuhas nay đã qua đời, Dương Nhĩ Tế mới năm mươi
tuổi mà đầu đã bạc, khi nói về người lãnh đạo cũ, người
bạn của mình, ông vô cùng thương nhớ, ông nói:

- Ông ấy có thể yên tâm, quá khứ cũng như tương lai
của tôi, tôi sẽ mãi mãi cống hiến cho thảo nguyên Củng Nãi
Tư.

LỜI TIÊN ĐOÁN CỦA LÂM TẮC TỪ

Tôi rời Củng Nãi Tư trở về thành phố Y Ninh, sau đó
đi một chặng đường chừng 38 cây số nữa theo hướng tây
để thăm cổ thành Huệ Viễn bên bờ sông Y Lê. Vào đời
Thanh, tòa thành này không chỉ là trung tâm chính trị ở Y
Lê mà còn là trung tâm quân sự trên toàn cõi Tân Cương,
phủ tướng quân Y Lê thống lĩnh toàn Tân Cương đặt tại
Huệ Viễn.

237

Khu chính của cổ thành còn được giữ lại là một tòa lầu
ba tầng có kiến trúc gần giống kiến trúc thường thấy ở
Thiểm Tây, Cam Túc. Đứng trên lầu trống nhìn một lượt
thì thấy đường thành còn lại một nửa, nhưng đều bị hư nát,
phía ngoại thành là ruộng đồng khoáng đãng, có sông Y Lê
chạy dọc theo bờ nam. Nội thành có trung tâm là lầu trống,
chạy thẳng theo hướng tây là một ngã tư đường rộng lớn.
Thành Huệ Viễn vào đời Thanh, phố xá san sát, hàng hóa
phong phú, người ta gọi là một tiểu Bắc Kinh. Ngày nay là
khu đất thuộc công xã Mãnh Tiến, có hơn mười lăm ngàn
xã viên với hơn bốn vạn mẫu đất canh tác.

Xuống lầu trống, đi vào ngã tư đường thì bên cạnh là
một tòa nhà chạm trổ công phu, đó là phủ tướng quân Y Lê
đời Thanh. Sân phủ có cây cổ thụ cao ngất, đây đó là sảnh
đường, lâu các, hành lang và một ngôi đình xinh đẹp gọi là
tướng quân đình. Cạnh đình có hai con sói đá. Chúng
giương mắt tròn xoe, nhe răng há mồm; nhìn chòng chọc
như muốn tỏ rõ uy phong của mình ngày nào đối với mọi
người.

Thành Huệ Viễn này được trùng tu vào năm 1883.
Thành Huệ Viễn cũ cách thành Huệ Viễn ngày nay chừng
bốn cây số. Lúc Lâm Tắc Từ bị đày đến Y Lê, ông đã từng
cư trú tại phía đông ngõ thứ hai trước lầu trống ở nam thành
Huệ Viễn cũ. Rất tiếc thành Huệ Viễn cũ đã bị tiêu hủy
không tìm ra được chỗ ở cũ của ông. Người ở đây vẫn còn
nhớ công trình xây dựng thủy lợi ở Tân Cương của Lâm
Tắc Từ. Một con kênh dẫn nước từ sông Ca Thập đến Huệ
Viễn dài 100 cây số, tương truyền chính Lâm Tắc Từ lãnh
đạo dân chúng làm nên, đến cháy được mọi người gọi là
“Kênh ông Lâm”.

Hồi đó Lâm Tấc Từ bị đày đến Tân Cương làm chưởng
quản kho lương tại phủ tướng quân Y Lê ,thế nhưng con

238

người đã từng làm khâm sai đại thần họ Lâm không hề có
ý coi thường chức vụ hiện tại, ngày thường ra ngoài tìm
hiểu dân tình, cần chấn hưng nông nghiệp thì phải thực hiện
công tác thủy lợi. Về sau, tướng quân Y Lê phái ông đến
nam Tân Cương khai khẩn đất hoang. Trong khoảng nửa
năm, ông đã không ngại gian khổ đi khắp các nơi như Khố
Xa, A Khắc Tô, Ca Thập, Diệp Nhĩ Khuông, Hòa Điền, Ha
Mật, Tolophan …, chỉ huy khai khẩn đất hoang, lập đồn
điền ở các nơi, tổng cộng hơn sáu vạn mẫu.

Dấu chân của họ Lâm có khắp Tân Cương. Ông cảm
nhận sâu sắc mối nguy hại uy hiếp từ Sa hoàng nước Nga.
ông đã từng đi đầu trong việc chống đối người Anh xâm
lược ở Quảng Châu thì khi đến Tân Cương ông cũng là
người đầu tiên đưa ra lời cảnh báo: “Rốt cuộc, mối hiểm
họa của Trung Quốc chính là nước Nga La Tư. Ông thật
không hỗ là người đầu tiên đánh tiếng chuông cảnh tỉnh đối
với lịch sử cận đại Trung Quốc.

Quả nhiên không ngoài dự liệu của họ Lâm. Ông rời
Tân Cương năm 1845 thì hai mươi sáu năm sau, tuyến
đường sắt của Sa hoàng nước Nga chạy thẳng đến Y Lê và
cưỡng chiếm vùng đất này. Đến năm 1881, Trung Quốc bị
ép phải ký “Điều ước Y Lê” bất bình đẳng với nước Nga
mới thu hồi được một phần, còn vùng đất rộng lớn mênh
mông của Trung Quốc từ phía tây Hoắc-nhĩ-lý-tư trở lên bị
Sa hoàng cưỡng bức cắt làm đất của mình.

Tôi men theo con đường tơ lụa thời cổ đại đi tiếp dọc
sông Hoắc-nhĩ-lý-tư, qua một tòa lăng mộ theo phong cách
Islam, trên đó từng khối gạch men nhiều màu được khảm
nạm tạo thành những hoa văn rất tao nhã, đó là lăng mộ của
hậu duệ Thành Cát Tư Hãn là Khuông Hắc Lỗ Niêm Mộc
Nhi. Ông là vua Mông Cổ đầu tiên theo đạo Hồi và truyền
bá đạo này ở khu vực Tân Cương. Cạnh lăng mộ là di chỉ

239

thành A Lực Ma Lý đời Nguyên. Các nhà khảo cổ đã từng
tìm thấy ở đây tiền đồng Ả Rập và đồ gốm đời Nguyên.

Lại đi tiếp về hướng tây chừng mười cây số thì đến bờ
sông Hoắc-nhĩ-lý-tư. Sông này chảy từ bắc xuống nam và
nhập vào sông Y Lê. Đồn biên phòng của hai nước Trung
- Nga dựng lên hai bên bờ đông tây của con sông, đối diện
nhau. Có một cây cầu bắc qua sông, hai đầu cầu mỗi bên
có đường chạy theo hướng đông hoặc hướng tây của mỗi
nước. Tôi đứng hồi lâu nhìn hai con đường không có xe cộ
và khách bộ hành qua lại lòng cảm thấy vô cùng bất an. Tại
sao trong lịch sử xa xưa trên con đường tơ lụa này có sự
giao lưu kinh tế văn hóa tấp nập như vậy mà nay ở đây phải
bị cắt đứt như thế này nhỉ?

Trong sự phát triển lâu dài của lịch sử nhân loại, chủ
nghĩa bộ quyền nước lớn chẳng qua chỉ là một hiện tượng
biến chứng tạm thời mà thôi, sự qua lại hòa bình giữa các
quốc gia dân tộc với nhau để thúc đẩy nhân loại tiến bộ mới
là xu thế tất yếu của sự phát triển lịch sử.

(1) Sông Y Lê phát nguyên từ Tân Cương và đổ ra hồ
Borcashi thuộc Kazakstan - ND.

240

15. HỎA CHÂU - TOLOPHAN

Sau khi dọc theo tuyến bắc của con đường tơ lụa đến
vùng biên giới phía tây của Trung Quốc, tôi trở lại Urumqi
để nghi ngơi đôi chút và sửa soạn hành lý tiếp tục xuôi miền
đông đến Tolophan, mở đầu cho chuyến du hành Nam Tân
Cương. Tại đây, con đường tơ lụa men theo bờ bắc và bờ
nam của đại sa mạc Taklamacan mà tự nhiên hình thành
hai tuyến đường, tức là tuyến giữa và tuyến nam của con
đường tơ lụa. Tolophan là một trọng trấn của tuyến giữa.

Tùy thư (sách đời Tùy) có ghi: “Từ Đôn Hoàng đến
Tây Hải (tức Địa Trung Hải) phàm có ba tuyến đường, mà
tuyến giữa thì đi từ Cao Xương đến Ba Tư”. Trung tâm
nước Cao Xương thời cổ đại nằm ở lòng chảo Tolophan.

Khách thương của con đường tơ lụa, sau khi từ hành
lang Hà Tây đi vào cửa ngõ Y Ngô (Ha Mật) của Tây Vực
có thể vượt Thiên Sơn để đi theo tuyến bắc, hoặc có thể
men chân núi nam Thiên Sơn theo hướng tây đến Tolophan
để đi theo tuyến giữa.

Cao tăng Đường Huyền Trang sau khi rời khỏi Ngọc
Môn quan đến Y Ngô, nghĩa là vốn muốn theo tuyến bắc
đi Đình Châu (tức Jimusar) rồi tiếp tục lên hướng tây thì
nhân vì vua nước Cao Xương thành khẩn mời mọc, ngài
mới đổi hướng qua Cao Xương thuộc lòng chảo Tolophan,
rồi đi theo tuyến giữa của con đường tơ lụa đến nước Quy
Tư (Khố Xa), Cổ Mặc (A Khắc Tô). Tôi bắt đầu từ
Tolophan và muốn truy tìm dấu vết của Đường Huyền
Trang.

241

HUYỀN TRANG TUYỆT THỰC BA NGÀY

Huyền Trang dừng chân ở nước Cao Xương hơn một
tháng, trong đó có ba ngày tuyệt thực: Ngài vốn được Vua
Cao Xương Cúc Văn Thái tiếp đãi trịnh trọng, cớ sao phải
tuyệt thực? Việc này có nguyên do của nó.

Cúc Văn Thái rất mộ đạo Phật, nghe nói có pháp sư
Huyền Trang đì Tây Vực thỉnh kinh đã đến Y Ngô, nhà vua
bèn sai sứ đi nghinh tiếp. Huyền Trang theo sứ về đến thành
Cao Xương thì đã nửa đêm, Cúc Văn Thái đích thân cầm
đuốc đón pháp sư vào cung. Sáng hôm sau, vua dẫn vương
phi đến chào đón thăm hỏi, ai nấy đều tự xưng là đệ tử vô
cùng cung kính. Nhà vua hỏi:

- Đệ tử đã cùng tiên vương đến Trung Quốc, đã gặp rất
nhiều danh tăng, đệ tử vô cùng ngưỡng mộ; kể từ khi nghe
đại danh pháp sư, thâm tâm rất vui, mừng lỡ đến nỗi khua
chân múa tay, rất mong được pháp sư lưu lại tệ quốc để cho
đệ tử được cung phụng suốt đời, khiến trăm họ đều là đệ tử
của pháp sư được nghe pháp sư giảng đạo. Nước của đệ tử
tuy nhỏ nhưng tăng chúng có đến hàng ngàn. Kính mong
pháp sư thể lượng tấm lòng thành của đệ tử mà ở lại đây
đừng đi thỉnh kinh nữa, pháp sư nghĩ sao?

Huyền Trang thành thật bày tỏ nguyên đo đi Tây Vực
thỉnh kinh của mình, dùng lời lẽ mềm mỏng cảm tạ lời yêu
cầu của nhà vua. Cúc Văn Thái nhiều lần khẩn cầu mà
không đạt được mục đích, sau cùng đổi sắc mặt, vẻ uy hiếp

nói:

- Pháp sư đã đến lãnh thổ nước tôi, há nào ra đi dễ dàng
như thế? Hoặc ở lại, hoặc sai lính đưa pháp sư về nước. Đi
hay ở, xin pháp sư nghĩ lại!

Huyền Trang không hề nhượng bộ, bèn tuyệt thực để
biểu thị ý chí, rồi nghiêm sắc mặt nói:

242

- Thân xác có thể vì ngài mà lưu lại, còn tinh thần thì
ngài không dễ gì giữ lại được!

Hàng ngày Cúc Văn Thái đích thân bưng mâm đến
mời, Huyền Trang nhắm mắt tọa thiền không hề nhúc
nhích. Liên tục ba ngày như vậy, nước cũng không nhắp
môi. Đến ngày thứ tư, Cúc Văn Thái thấy sắc dáng Huyền
Trang quá hao gầy hơi thở yếu ớt, ông vô cùng xấu hổ bèn
quỳ lạy, thưa:

- Xin mời ngài dùng bữa, rồi tùy pháp sư cứ việc lên
đường!

Huyền Trang ở lại Cao Xương hơn một tháng, lúc ra
đi, Cúc Văn Thái đem tặng 100 lượng vàng, 3 vạn đồng
tiền bạc, 30 con ngựa và 24 lá thư giới thiệu đến các nước,
mỗi phong thư đều có kèm một tấm lụa.

CỔ THÀNH CAO XƯƠNG RỘNG HAI TRIỆU MÉT
VUÔNG

Ngay ngày thứ hai đến Tolophan, tôi đã thăm di chỉ cổ
thành Cao Xương. Rời huyện ly theo hướng đông tiến vào
sa mạc Gôbi mênh mông chừng 40 cây số thì thấy có vùng
Lục Châu, đó là công xã nhân dân Hỏa Diệm Sơn. Qua khỏi
Lục Châu thì đến khu cổ thành Can Xương: Cổ thành được
bảo tồn tương đối hoàn chỉnh.

Tường thành còn khá rõ. Qua cổng thành phía tây, leo
lên nơi cao nhất nhìn một lượt, bốn mặt khắp nơi đều tường
xiêu vách đổ, cơ hồ nhìn không thấy đâu là ranh giới. Đồng
chí Sầm đi cùng chúng tôi nói tổng diện tích thành Cao
Xương ước khoảng hai triệu mét vuông, chu vi tường thành
dài hơn 5 cây số Đó là khu thành có quy mô tương đối lớn.

243

Toàn thành chia làm ba bộ phận: ngoại thành, nội thành
và cung thành. Bố cục của nó phỏng theo thành Trường An.
Phía đông nam và tây nam ngoại thành mỗi nơi có di chỉ tự
viện. Đồng chí Sầm dẫn tôi đến khu di chỉ tự viện tây nam
chỉ cho tôi xem đại điện và trụ tháp sừng sững trước đại
diện.

Trên tháp có bày khám thờ Phật, đặc biệt trong khám
thờ còn sót lại tượng Phật và bích họa. Chỉ riêng di chỉ tự
viện đã đến hơn 10000 mét vuông. Tôi thầm nghĩ đây
không biết có phải là nơi năm xưa Huyền Trang thuyết
pháp không.

Chính giữa thành lệch về hướng bắc một chút có một
đài cao xây bằng gạch thô, nền đài còn sót lại cao đến 15
mét. Gần đó người ta đã tìm thấy đá kê chân cột và ngói
lưu ly màu lục có chạm khắc hoa văn. Đồng chí Sầm nói,
rất có thể đây là di chỉ cung điện của vương triều dòng họ
Cúc.

Ông còn dẫn tôi đi thăm một quảng trường nằm ở ngoại
thành mà chung quanh là khu kiến trúc phố chợ. Bước đi
trên quảng trường tôi hầu như thấy những sạp hàng bày
biện ngăn nắp, như nghe tiếng lao xao của kẻ mua người
bán thuở nào. Ở đây rất có thể là khu chợ tập trung mua
bán đổi chác của một thời. Đi quanh một lượt khu di chỉ
phố chợ này, tôi thấy một số gian nhà tương đối rộng giống
như là công xưởng của những người làm nghề thủ công.
Trước di chỉ của một khu nhà lớn hiện còn rải rác nhiều
mảnh sành bể giống như đây là nơi sản xuất ra loại rượu bồ
đào Cao Xương nổi tiếng mà mọi người đã từng thưởng
thức chăng?

244

CỔ THÀNH TẠI MỘT KHU ĐẤT CAO TRÊN ĐẢO

Nơi cách huyện lỵ Tolophan chừng 10 cây số có cổ
thành Giao Hà. Di chỉ nằm trên khu đất cao của một cù lao
giữa hai con sông. Hai dòng sông phân nhánh ở phía bắc
cù lao và gặp nhau lại ở phía nam. Cù lao có hình lá liễu,
dài khoảng hơn 1600 mét, nơi rộng nhất chừng 300 mét,
chung quanh dòng nước sông bào mòn mà tạo thành một
bờ vách cao 30 mét và trở thành bức tường thiên nhiên.

Chúng tôi men theo bờ thành chênh chếch hướng nam
bắc mà đi vào thành, hai bên là vách thành khá hoàn chỉnh.
Ngày xưa, hai bên đường phố lớn ở Trường An đời Đường
cũng có tường cao sừng sững như vậy, các cổng nhà không
hướng ra phố chính mà chỉ có ngõ mới hướng ra phố. Xem
ra bố cục của thành Giao Hà phỏng theo cấu tạo của người
Hán. Đi suốt đầu kia theo hướng nam bắc thì đến một ngôi
chùa có quy mô đồ sộ mà di chi của nó là một hình chữ
nhật. Đại điện cùng với trụ tháp, nền đất của ba dãy nhà và
tầng cấp đều còn phân biệt được. Phía sau tự viện còn có
một quần thể tháp Phật. Chính giữa là một tháp Phật rất
lớn, bốn góc có nhiều tháp Phật nhỏ tạo thành thế trận hình
vuông chầu quanh tháp Phật lớn ở giữa. Rất tiếc, qua hàng
ngàn năm dâu bể, tháp Phật lớn thì tồn tại, còn những tháp
Phật nhỏ chung quanh trơ trọi lại nền tháp mà thôi. Nếu
không thì trước mắt ta sẽ là một quần thể kiến trúc tháp
Phật hùng vĩ tráng lệ biết bao!

Tôi rẽ về hướng nam đi tìm hiểu khu dân cư ngày xưa.
Mò mẫm bước vào một ngõ nhỏ thấy hai bên có tường, có
cổng, có nhà thật giống như lạc vào cảnh ảo của một ngõ
tối thời cổ đại. Đi vào một cánh cổng, thấy có sân trước, có
lối vào nhà lớn, vào phòng ở, trước cửa phòng có tầng cấp
và trong phòng có thể lờ mờ thấy dáng hình cửa sổ, chỉ có
điều không có người chủ phòng. Tôi lại tiếp tục theo ngõ

245

nhỏ ấy ra đến bờ thành, dưới chân đột nhiên xuất hiện bờ
vách sâu hoắm đành phải dừng chân. Cứ nhìn bờ vách của
lòng sông Giao Hà chợt nghĩ lẽ nào cư dân thời cổ đại phải
đến bờ vách này để lấy nước sinh hoạt chăng? Sau này, ở
khu nội thành tôi có thấy một cái giếng cổ. Thì ra cổ thành
Giao Hà tuy xây trên một khu đất cao của đảo, cư dân vẫn
có thể đào giếng lấy nước ở nội thành, nếu không thì sự
sinh hoạt của dân sẽ rất bất tiện.

Nhớ lại từ lúc tôi rời Tây An đi thăm viếng và tìm hiểu
con đường tơ lụa cho đến nay, dọc đường tôi thấy rất nhiều
di chỉ cổ thành, nhưng khi đến thăm cổ thành Cao Xương
và cổ thành Giao Hà ở Tolophan mới thấy quy mô của
chúng rất to lớn và sự bảo tồn rất hoàn hảo, thật là một điều

thích thú vô cùng.

NGƯỜI HÁN LẬP RA BỐN NƯỚC CAO XƯƠNG

Lịch sử hai cổ thành Cao Xương và Giao Hà có thể
truy nguyên sớm nhất là từ đời Tây Hán và trễ nhất là đến
đời nhà Nguyên. Di chỉ của hai cổ thành này chưa kinh qua
khảo sát khoa học một cách toàn diện và cũng chưa thể xác
minh đúng đắn niên đại kiến tạo đầu tiên và sự tàn phế cuối
cùng của chúng: Những năm gần đây theo sự khai quật có
tính chất cục bộ và những văn vật đào được linh tinh mà
xét thì các chuyên gia cho rằng quy mô cơ bản của di chỉ
được xây dựng vào thế kỷ thứ V CN và tàn phế vào khoảng
sau, bảy trăm năm sau.

Khu vực Tolophan vào đời Tây Hán là nơi di trú của
người Xa Sư. Hán thư, Tây Vực truyện nói: “Xa Sư Tiền
quốc vương trị vì thành Giao Hà, nước sông phân nhánh
bao bọc quanh thành cho nên có tên là Giao Hà”. Đem nơi
ghi chép trên đối chiếu với hình thế địa lý của cổ thành
Giao Ha ngày nay là hoàn toàn phù hợp.

246

Tên Cao Xương được dùng đầu tiên trong Hán
thư thường gọi là thành Cao Xương hoặc lũy Cao Xương,
theo tên gọi thì nghe ra như nơi đóng quân. Nước Xa Sư
vốn thuộc Hung Nô, nhà Hán nhiều lần gây chiến với Hung
Nô để tranh giành ảnh hưởng đặt chức “Mậu kỷ hiệu úy”,
một chức quan lãnh binh, trông coi lũy Cao Xương tại nội
địa nước Xa Sư.

Thế kỷ thứ IV, thứ V CN, thế lực quyền chính của triều
đại Tiền Lương lan tận đến Tây Vực, đặt ra quận Cao
Xương tại địa phận Tolophan. Thời Năm - Bắc triều, ở
Trung Nguyên phân thành hai hệ chính quyền trung ương
nam bắc đối đầu nhau, nên khu vực Tolophan mới xuất hiện
nước Cao Xương.

Nước Cao Xương thứ nhất (442-460 CN) do hậu duệ
dòng họ Thư người Hung Nô kiến lập. Sau khi nước Cao
Xương của dòng họ này diệt vong, tiếp theo là nước Cao
Xương của họ Hám, dòng họ Trương, dòng họ Mã và dòng
họ Cúc lần lượt làm chủ, vua đều là người Hán. Trong số
các dòng họ đó, nước Xương của dòng họ Cúc là có ảnh
hưởng to lớn nhất tại Tolophan, tổng cộng truyền được
mười một đời, kéo dài 141 năm (499 - 640 CN). Nước Cao
Xương của dòng họ Cúc đóng đô ở thành Cao Xương (tức
di chỉ cổ thành Cao Xương ngày nay), lãnh thổ bao gồm
lòng chảo Tolophan, huyện tự trị Yên Kỳ của ngươi Hồi và
một phần sơn khu của dãy Thiên Sơn ngày nay, có tất cả
21 thành kể cả thành Giao Hà.

Nước Cao Xương của dòng họ Cúc là do người Hán,
người Xa Sư và các bộ tộc khác liên hợp lập thành tiểu
quốc. Vua tiên là Cúc Gia, nguyên quán huyện Kim Thành,
Cam Túc. Sau khi lập quốc, nhà vua một mặt đối xử tốt với
dân du mục phương bắc để giữ cho được quốc thái dân an,
một mặt tiến hành triều cống và nhận tước phong của chính

247

quyền trung ương nội địa, ra sức phổ biến văn hoá Trung
nguyên. Đàn ông Cao Xương ăn mặc theo kiểu người Hồ,
còn đàn bà thì phục sức và đầu tóc bắt chước kiểu người
Hán ở nội địa. Ngôn ngữ và chữ viết thì dùng cả Hán lẫn
Hồ. Bố cục nhà dân và thành thị kết hợp giữa kiểu Hán và
Hồ.

Sau khi nhà Tùy thống nhất Trung Nguyên, quan hệ
giữa Cao Xương của dòng họ Cúc và chính quyền trung
ương ở nội địa rất hòa hảo. Khi Tùy Dạng đế tuần du phía
tây, đến hành lang Hà Tây, tỉnh Cam Túc, vua Cao Xương
Cúc Bá Nhã đích thân đến Trương Dịch bái yết, đồng thời
sau đó tháp tùng với Tùy Dạng Đế đến Trường An, đi khắp
Trung Nguyên ba năm mới trở về. Lúc về lại cưới công
chúa Hoa Dung của Tôn thất nhà Tùy làm vợ và cũng đã
có lần hạ lệnh nam nữ cả nước ăn mặc theo kiểu người Hán,
nhưng vì sợ đắc tội với dân du mục hùng mạnh phương bắc

nên không dám thi hành.

Nhà Đường nối nghiệp nhà Tùy không bao lâu thì vua
Cao Xương Cúc Bá Nhã qua đời, vua kế vị là Cúc Văn
Thái, người đã từng tiếp đãi trọng thể đồng thời cũng uy
hiếp Huyền Trang như đã nói trên. Ông là một con người
đầy mưu mô, thủ đoạn. Dựa vào sự giúp rập đằng sau của
người Tây Đột Quyết, ông đối với chính quyền trung ương
nhà Đường thì trước mặt ra vẻ phục tùng, nhưng sau lưng
lại tìm cách phản bội. Cao Xương là vùng đất trọng yếu của
con đường tơ lụa, việc giao thương buôn bán tương đối phát
đạt. Ông thừa cơ bắt chẹt đóng thuế cao, đồng thời còn bắt
giữ khách thương và sứ giả các nước Tây Vực đến Trung
Nguyên. Nhà Đường có quở trách thì ngoài mặt làm ra vẻ
sợ sệt, nhưng bên trong lại giương giương tự đắc. Đường
Thái Tông muốn duy trì và bảo vệ con đường tơ lụa thông
thương, nên luôn luôn muốn củng cố sự thống nhất ở Tây
Vực. Nhà vua đã từng phái Hầu Quân Tập thống suất đại

248

binh đánh Cao Xương. Cúc Văn Thái sợ quá mà chết, con
trai kế nghiệp bị ép phải đầu hàng.

Sau khi nước Cao Xương dòng họ Cúc diệt vong, nhà
Đường đặt Tây Châu tại Cao Xương. Đến nửa thế kỷ thứ
IX, một số người Hồi Cốt thiên di từ phía đông đến chiếm
hết đất đai ở đây và lập ra nước Cao Xương của người Hồi
Cốt. Người Hồi Cốt chính là tổ tiên của người Uygur ngày

nay.

HƠN MỘT TRĂM NGÔI MỘ CỔ

Do người Hán đã sớm đặt chân lên khu vực Tolophan
lập đồn điền và cư trú từ thế kỷ thứ I trước CN, rồi tiếp theo
trải qua bốn dòng họ nhà Hán lập ra nước Cao Xương tại
đây, cho nên nền văn hóa tiến bộ của người Hán đã sớm
được người bản địa tiếp thu, ảnh hưởng khá rộng lớn. Theo
những văn vật đào được trưng bày ở viện bảo tàng
Tolophan ngày nay thì có thể thấy một cách khá rõ nét đặc
sắc ấy.

Tại vùng đất A-tư~đáp-na - Ha-la-hòa-trác cạnh cổ
thành Cao Xương có khá nhiều ngôi mộ cổ. Sau giải phóng,
người ta đã khai quật hơn một trăm ngôi mộ, thu được rất
nhiều văn vật có niên đại từ thế kỷ thứ III đến thế kỷ thứ
VIII CN. Mặc dù phần lớn đã chuyển đến viện bảo tàng
Tân Cương ở thành phố Urumqi, nhưng ở đây số lượng
trưng bày cũng còn khá nhiều, tôi xem xét mất một buổi
chiều mới hết.

Vật xem mê mải không chán đó là số tơ lụa nào được
ở trong các ngôi mộ. Phần lớn tơ lụa được lưu giữ ở viện
bảo tàng Tân Cương đều đưa từ Tolophan về. Về niên đại,
số tơ lụa cổ này có thể truy nguyên sớm nhất là thế kỷ thứ
V và trễ nhất là thế kỷ thứ VIII, màu sắc tươi đẹp, thích

249

mắt, hoa văn trang nhã ưa nhìn. Các thứ lụa, the, gấm, đoạn
đem trưng bày ấy có thể nói là những văn vật tiêu biểu nhất
của con đường tơ lụa đúng với tên gọi của con đường.

Có một bức vẽ màu trên lụa khiến tôi chú ý. Một nam
một nữ có đầu người, mình rắn, mỗi người duỗi tay ra một
cánh tay ôm nhau, còn đuôi rắn thì xoắn lấy nhau. Đầu
người nam đội mũ, một tay nâng cái thước nách (gọi là “củ”
- tức cái ê-ke); người nữ búi tóc, một tay nâng cái com pa
(gọi là “quỳ”), cả hai đều mặc trang phục Hán. Phía trên
bức họa có mặt trời, phía dưới có mặt trăng, chung quanh
là những ngôi sao. Người vẽ rất tinh tế, dùng màu tươi, diện
mạo người nam anh tuấn, người nữ yêu kiếu.

Các học giả gọi bức tranh lụa này là Phục Hy Nữ Oa
đồ (Bức vẽ vua Phục Hy và bà Nữ Oa). Loại tranh lụa như
vậy đào được rất nhiều trong các ngôi mộ ở Tolophan, có
niên đại từ thế kỷ thứ V đến thế kỷ thứ VII, tranh được treo
trên vách mộ hoặc đắp trên thi thể người chết. Loại tranh
vẽ này xuất hiện sớm ở Trung Quốc, sử sách có ghi thời
Tây Hán cũng đã có rất nhiều.

Họ Phục Hy và họ Nữ Oa là thủy tổ của loài người
trong thần thoại Trung Quốc, ví như Á Đương và Hạ Oa
trong Kinh thi. Truyền thuyết nói rằng loài người là con
cháu của Nữ Oa kết hôn với anh mình là Phục Hy rồi sinh
con đàn cháu đống.

Ở Tolophan còn đào được hơn 2700 văn kiện bằng chữ
Hán, cung cấp sử liệu quý báu cho những nhà nghiên cứu
chính trị, kinh tế, quân sự và văn hóa xứ Tây Vực.

Trong số những văn kiện trên có một danh sách ghi số
tùy tùng “hộ tống hoàng tử Ba Tư” trong đó người Hán có,
người Hồ có. Ngoài ra còn có một bản “lý lịch” (gọi là “cáo
thân”) của một quân nhân có tên là Tỵ Đức Đạt, nói rõ anh
ta đã từng được tuyển mộ vào đội ngũ hộ tống hoàng tử Ba

250

Tư. “Anh em con nhà hào kiệt” cùng được tuyển với anh ta
có đến 932 người.

Hai văn kiện nói trên là xác nhận những gì được ghi
trong Đường thư như sau: “Năm 679, Bùi Hành Kiểm
nhậm chức trưởng sử Tây Châu và An Tây Đô hộ phụng
mệnh vua nhà Đường hộ tống hoàng tử Nê-niết-sư con vua
Ba Tư Ty-lộ- tư đến thăm Trường An trở về nước. Bấy giờ
người Tây Đột Quyết đang quấy nhiễu tại vùng hồ
Borcashi, phá hoại sự thông thương trên con đường tơ lụa.
Bùi Hành Kiểm một mặt chấp hành sứ mệnh ngoại giao hộ
tống hoàng tử Ba Tư, mặt khác lấy đó làm bình phong chiêu
mộ quân binh ở Tolophan tiến lên phía tây dẹp loạn Tây
Đột Quyết. Bùi Hành Kiểm xuất phát từ Tolophan men
theo con đường tơ lụa tiến về phía tây tống tiễn Nê-niết-sư
đến Toái Diệp, đồng thời thừa cơ địch không chuẩn bi đánh
bại Tây Đột Quyết.

Văn kiện còn có một số mục ghi thức ăn của ngựa trong
các dịch trạm, điều này làm tôi rất hứng thú. Vào thời nhà
Đường, phương tiện giao thông ở Tân Cương chủ yếu là
ngựa, phụ thêm thì có lạc đà, lừa hoặc trâu. Bấy giờ trên
con đường tơ lụa, đông từ Ha Mật, tây đến Toái Diệp đều
có đặt các dịch trạm để lữ khách có nơi ăn chốn ở dọc
đường đi. Các dịch trạm đều có chứa đầy đủ thức ăn cho
ngựa. Số văn thư này có đăng ký mục ghi thức ăn của ngựa
ở các dịch trạm từ năm 753 đến năm 755 và mục ghi nước
uống từng ngày, mỗi tháng có ghi mục kết toán. Từ đó ta
có thể thấy trên các tuyến đường giao thông ở Tây Vực có
rất nhiều tên gọi dịch trạm, cá biệt cũng có tên riêng từng
lữ quán, trong đó có tên của nhà thơ biên tái Sầm Tham đời
Đường nhậm chức tại Tây Vực.

251

“TÂY DU KÝ” MIÊU TẢ NÚI LỬA Ở TẬY VỰC

Vào đời nhà Nguyên, Tolophan từng được gọi là “Hỏa
châu”. Tôi rất sợ nóng, nghe nói lòng chảo Tolophan là
vùng đất nóng nhất của Trung Quốc, nên tôi có ý tránh mùa
viêm nhiệt của tháng bảy và lần lữa đến hạ tuần tháng tám
mới đi. Lúc ấy nhiệt độ vẫn ở 37 độ C. Thành ngữ có câu:
“Mồ hôi đổ như tắm” thì thật không thích hợp ở đây. Vì
sao? Mồ hôi ra nhiều nhưng bốc hơi cũng rất nhanh, da
luôn luôn bị khô. Nước rửa mặt, rửa tay không cần lau cũng
bốc hơi khô liền.

Trong những năm 1952, 1953 và 1956, Tolophan có
nhiệt độ lên đến 47,6 độ C, kỷ lục trên toàn quốc. Có một
điều trùng hợp thú vị là trong cả ba lần có nhiệt độ cao kỷ
lục ấy đều nhằm vào ngày 24 tháng bảy. Tôi may mắn tránh
khỏi những ngày nắng nóng ấy. Dân chúng ở đây nói cát sa
mạc Gôbi có thể làm chín trứng gà, nướng chín bánh mì.
Chính mắt tôi chưa trông thấy nhưng tôi vẫn tin. Khoa học
có ghi rõ khoảng tháng bảy có những ngày nhiệt độ bề mặt
sa mạc vào lúc đứng bóng có thể lên đến 80 độ C.

Vĩ độ đi ngang Tolophan tương đương với Trường
Xuân của Trung Quốc và bắc biển Nhật Bản, nhưng tại sao
lại nóng khiếp như vậy Sở dĩ nóng là do địa thế quá thấp.
Hồ Ngãi Ninh ở vào chỗ thấp nhất của lòng chảo, thấp hơn
mặt nước biển 154 mét, chỉ xếp thứ hai sau Biển Chết (Biển
Chết thấp hơn mặt nước biển 392 mét). Lòng chảo
Tolophan là lòng chảo thấp nhất của Trung Quốc và là lòng
chảo thấp thứ hai trên thế giới Lòng chảo Tolophan có hình
ngọn lá dâu, mặt bắc là dãy Thiên Sơn quanh năm đầy
tuyết, giữa là vùng núi lửa nằm ngang kéo dài 100 cây số,
ngọn cao nhất là 815 mét so với mặt nước biển. Vì mặt đất
vùng phụ cận thấp hơn mặt nước biển nên núi lửa có vẻ
nguy nga chót vót. Trên núi, nham thạch đỏ hồng, người

252

Uygur gọi là “khác du lặc tháp cách”, có nghĩa là “hồng
sơn” (núi đỏ). Người xưa gọi là “xích thạch sơn (núi đá đỏ)
hoặc “hỏa sơn” (núi lửa).

Nhà thơ biên tái Sầm Tham đời Đường có bài thơ nhan
đề “kinh Hỏa sơn”:

“Xích diễm thiêu lỗ vân,

Viêm khí chưng tái không.

Bất tri âm dương thán,

Hà độc nhiên kỳ trung?”

Tạm dịch:

Lửa đỏ thiêu tầng mây,

Khí nóng hun biên tây.

Than âm dương nào biết,

Sao chỉ đốt nơi này?

Buổi trưa, vào mùa viêm nhiệt, nhìn lửa đỏ nơi núi đá
kia, khí nóng ngùn ngụt bốc lên cao, lửa tỏa trông thật là
đáng sợ. Thảo nào nhà thơ tưởng tượng ra trong lòng núi
lửa kia là cả lò than khổng lồ đang đốt cháy, không chỉ đốt
đỏ nham thạch mà ngay cả không khí chung quanh cũng bị
nung nóng. Cũng trong bài thơ trên, Sầm Tham viết tiếp:

“Ngã lai nghiêm đông thời,

Sơn hạ da viêm phong,

Nhân mã tận lưu hãn,

Thục tri tạo hóa công?”

Tạm dịch:

Ta đến vào giữa đông,

253

Núi non trùm gió nóng,

Người ngựa mồ hôi mướt,

Ai hiểu được hóa (ông?

Tiểu thuyết có tính chất thần thoại “Tây du ký” tả núi
lửa ở Tolophan như thế này: “Ngọn lửa phun cao ngàn
trượng”, “Ngọn lửa dài 800 dặm” kia cháy đỏ đến nỗi pháp
sư Tam Tạng Huyền Trang đi Tây Vực thỉnh kinh phải
dừng bước. Ngài không thể không nhờ Tôn Ngộ Không
thần thông quảng đại lên thiên đình mượn chiếc quạt “Ba
tiêu” của công chúa Thiết Phiến (công chúa quạt sắt) về
diệt lửa. Truyền thuyết kể rằng quạt quý ấy quạt lần thứ
nhất lửa tắt, quạt lần thứ hai sinh gió, quạt lần thứ ba ra
mưa. Nhưng công chúa Thiết Phiến nào có dễ dàng cho
mượn! Tôn Ngộ Không đành phải sử dụng bán lĩnh bí kíp
của mình. Thế là Ngộ Không biến thành tiểu trùng chui
thẳng vào bụng công chúa quậy phá, rồi ép công chúa phải
nhượng bộ. Không ngờ cái quạt Tôn Ngộ Không đưa về lần
thứ nhất không phải là quạt thật nên càng quạt lửa càng cao.
Rồi lần thứ hai, thứ ba mới đúng là quạt Ba Tiêu thật nên
mới quạt tắt ngọn lửa hùng hậu của hỏa diệm sơn; bấy giờ
thầy trò Đường Tam Tạng mới bình an vượt qua núi lửa
tiến về phía tây.

Ngày nay đỉnh núi lửa có một trụ đá, người bản xứ nói
đó là cái trụ cột ngựa của Tôn Ngộ Không lúc bấy giờ. Điều
này tin hay không là tùy bạn, nhưng trụ đá sừng sững đứng
đầu núi đã bị phong hóa giống trụ gỗ hiện ra như một kỳ

quan.

Thực ra núi lửa này không phun lửa và cái nóng quái
đản ở Tolophan không liên can gì đến núi lửa cả. Tôi nhận
thấy núi lửa có vẻ là nơi dễ mến, đáng đi xem. Sáu, bảy khe
núi nằm ngang hỏa diệm sơn với nhiều khe nước trong vắt
chảy về tiếng suối róc rách vui tai; chúng tụ hợp thành sông

254

lấy nước nuôi dưỡng thế giới màu xanh cho vùng đất yên
tĩnh mát mẻ này.

THẾ GIỚI MÀU XANH LÀM MÊ LÒNG NGƯỜI

Chúng tôi đi xe vượt qua sa mạc Gôbi, rồi tiến vào một
hang núi ở khu tây bộ của núi lửa, ở đây không khí trở nên
ẩm ướt: Hang núi dài tám cây số, trên dưới trước sau đều
là một màu xanh thẫm, khắp nơi là những giá trụ dàn nho.
Đôi mắt đang phải chịu ánh nắng chói chang soi mói khó
lòng chịu nỗi thì gặp ngay một thế giới màu xanh làm ta dễ
chịu và thoải mái biết bao. Chúng tôi nhảy xuống xe chạy
đến bên một thảm cỏ mát rượi thì trước mắt hiện ra một hồ
nước. Mọi người tranh nhau rửa mặt, rửa tay, vô cùng sảng
khoái. Đang nói cười vui vẻ bỗng mấy đứa trẻ người Uygur
vây quanh, chẳng nói chẳng rằng, giương những đôi mắt
tròn xoe nhìn chằm chằm chúng tôi như muốn trách hỏi:
“Các vị là ai? Tại sao lại dám đi xộc vào vườn nho của
chúng tôi”.

Tôi đang đợi nói ra ý định của mình thì sau lưng một
cô gái người Uygur chừng 20 tuổi bước lại. Cô nói bằng
một thứ tiếng Hán lưu loát dễ nghe:

- Các vị đến tham quan đấy hẳn? Xin mời đến trụ sở
hợp tác xã nghỉ chân, được không ạ?

Đây là vườn nho của hợp tác xã “Bồ đào câu”, nổi tiếng
về nho giống. Chúng tôi nói rõ ý muốn của mình. Cô gái
có tên là Mễ Na Ngõa, tự nguyện là hướng đạo dẫn chúng
tôi đi thăm quanh núi, các nơi ươm trồng nho giống, cô
thành thạo giới thiệu đặc điểm và tình hình sản xuất nho
giống.

Diện mạo Mễ Na Ngõa thanh tú, mũi cao thẳng như
người Hy Lạp, đôi mắt sáng đen, nước da trắng ngả vàng.

255

Tôi nghĩ trong lịch sử Tolophan, người Hán, người Xa Sư
và người Hồi Cốt cùng sinh sống với nhau rất lâu dài thì
người Uygur hiện nay chắc hẳn không còn thuần chủng của
người Hồi Cốt ban đầu nữa. Cô là cán bộ ngoại thương của
huyện Tolophan, vào mùa thu hoạch cô đến hợp tác xã giúp
đỡ công việc. Cô vừa xuống mấy chùm nho tươi mời chúng
tôi thưởng thức.

Chúng tôi như lạc vào khu trưng bày tàng trữ đủ mọi
thứ nho: nho trắng không hạt, nho hồng, nho đen, nho vú
ngựa ...

Nho trắng không hạt là loại nho quý của Tolophan,
được trồng nhiều nhất, chiếm đến tám mươi phần trăm diện
tích đất trồng nho. Loại này trái nhỏ, không hạt, sắc trắng



thoáng chút lục non, nước nhiều, vị ngọt hơi chua một
tý, chứa lượng đường từ 22-24%. Vì không có hạt nên ăn
rất tiện; loại này tốt nhất là làm nho khô. Nho Tân Cương
nổi tiếng khắp nơi chính là loại nho trắng không hạt này.

Chúng tôi thấy trên sườn núi có những gian nhà bằng
đất, hàng dãy cửa sổ nhỏ ngay ngắn mở ra giống như những
chiếc hộp vuông. Đó là những gian phòng đặc chế dùng để
sấy nho khô. Nho tươi được treo ở đây trong hơn ba mươi
ngày, tự nhiên được sấy thành những chùm nho khô có màu
xanh tươi trong suốt.

Nếu nói về ăn nho tươi, theo tôi thích nhất là nho vú
ngựa. Trái to, nhiều cơm, nước ngọt, có hình như đầu vú
ngựa, mỗi trái dài đến ba, bốn centimét nặng chừng năm,
bảy gam. Nho ốc tiêu là loại nho có dược tính đặc biệt của
Tolophan. Trái nhỏ như hạt tiêu, màu tím, sau khi phơi khô
thành thuốc, có tính âm, chủ trị sởi và chứng sôi nóng ở trẻ

em.

256

Mẽ Na Ngõa cho chúng tôi biết tổng diện tích các vườn
nho ở Tolophan có hơn năm vạn mẫu, sản lượng hàng năm
gần 50 triệu cân, so với trước giải phóng tăng gấp sáu lần.
Hợp tác xã trồng nho không chỉ mở rộng diện tích trồng
nho ở nội vi Bồ Đào Câu mà còn dẫn nước ven rìa sa mạc
Gôbi mở thêm những vườn nho tận ngoài khu vực hỏa diệm
sơn. Hàng năm xuất khẩu một số lượng lớn nho tươi và nho
khô tiêu thụ trên thị trường các nước.

NGUỒN GỐC CỦA CÂY NHO

Cây nho có mặt tại tây bộ châu á và khú vực Ai Cập là
loại cây trồng sớm nhất trên thế giới rồi được truyền nhập
vào Trung Quốc qua con đường tơ lụa. Sử ký ghi rằng khi
trương Khiên đời Tây Hán đi sứ Tây Vực, ông có đem
giống nho từ Đại Oản về nội địa. Sử sách viết sau Sử ký của
Tư Mã Thiên cũng nói đến vùng Tân Cương trồng nhiều
nho và sản xuất rượu nho (bồ đào tửu). Tùy thư có nói đến
nước Cao Xương ở xứ Tolophan có làm nhiều rượu bồ đào.

Thời Tây Hán, trong sân vườn cung điện Trường An
có trồng loại nho từ miền tây mang về, nhưng mãi đến sáu,
bảy trăm năm sau vào thời Sơ Đường mới thấy có nho và
vẫn chưa phổ cập. Tân Đường thư có kể một câu chuyện
về một vị đại thần tên là Trần Thúc Đạt dự tiệc vua thết đãi
trong cung, trên bữa tiệc có dọn nho nhưng ông không dám
ăn. Vua lấy làm lạ hỏi. Trần Thúc Đạt thưa rằng thân mẫu
có bệnh và biết là nho có thể chữa khỏi bệnh nhưng mua
không có, nay muốn xin một ít nho trong buổi tiệc này đem
về dâng mẹ để làm thuốc chữa bệnh. Đường đường một
quan dại thần mà không dễ kiếm ra nho để mua; điều này
cho thấy trong dân gian nho là thứ trái cây còn rất quý hiếm.

Còn rượu nho, có lẽ đến đời Đường Thái Tông mới học
ách chế tạo. Trước đó, trong cống phẩm của các nước Tây

257

Vực thường thấy có rượu nho, nhưng rất nhiều người
không biết nó thư thế nào. Mãi sau khi Đường Thái Tông
phái binh tiêu diệt nước Cao Xương của dòng họ Cúc mới
đem giống nho vú ngựa ở đó về trồng rộng rãi ở Trường
An, đồng thời học cách kế tạo ra rượu; do đó trong các bài
thơ Đường mới xuất hiện lời ca tụng rượu nho là mỹ tửu,
và từ đó trên các tấm gương rằng đồng cũng phổ biến loại
hoa văn dây nho leo.

Ngày nay, vùng Hoa Bắc, vùng Đông Bắc nho được
trồng khá phổ biến. Rượu nho Thông Hóa vùng Đông Bắc,
rượu nho Vỵ Mỹ Tư của Yên Đài và rượu nho Bắc Kinh đã
trở nên nổi tiếng vượt xa rượu nho Tân Cương. Nhưng nói
về tính chất phổ biến của việc canh tác cây nho thì nội địa
còn thua rất xa Tân Cương. Tôi đã đi qua vùng nam và bắc
Tân Cương, nếu muốn thấy màu xanh thì chỉ có vườn nho.
Ở đây mọi nhà, trước sân, sau vườn hầu như đều có dàn
nho. Nói cho cùng, suốt một thời gian dài trong giấc mộng
Tây Vực của tôi, trước sau vẫn xuất hiện điệu múa lời ca
dưới những dàn nho.

HANG ĐỘNG - DẤU TÍCH CỦA PHẬT GIÁO DU
NHẬP VÀO PHUƠNG ĐÔNG

Trong số sáu, bảy khe núi của hỏa điểm sơn còn ẩn
tàng nhiều hang động mang sắc thái nghệ thuật Phật giáo.
Hiện còn hai nơi có hang động, đó là hang Thổ Dụ Câu và
hang Bách-tư-khắc-lý-khắc. Tôi đã đi thăm khá đầy đủ toàn
khu bảo tồn hang đá Bách-tư-khắc-lý-khắc.

Rời công xã Bồ Đào Câu men theo hỏa diệm sơn đi về
hướng đông chừng 30 cây số thì đến hang Mộc Đầu, rồi đi
ngược lên 6 cây số nữa là đến hang Bách-tư-khắc-lý-khắc.

258

Ngoại cảnh thật là hùng tráng, khoảng khoát, đáy hang
là một con sông cuồn cuộn chảy. Bờ đông là núi cao, phần
lớn nham thạch bị phong hóa thành những hình trạng quái
dị. Núi màu đỏ nổi bật giữa bầu trời xanh thẳm. Bờ tây là
những vách đá cao sừng sững. Quần thể hang động được
đục mở tại chỗ vách đá cheo leo này. Hang đá hiện còn
mang số 57.

Tôi hào hứng đi vào từng hang một để xem xét, chiêm
ngưỡng. Tuy phần lớn bích họa mang phong cách Hồi giáo
đều bị hư hại, song một số còn sót lại màu sắc vẫn còn rất
lộng lẫy.

Hang 39 còn lại bức Các quốc vương tử ai đồ (Bức họa
hoàng tử các nước dự lễ tang) khá hoàn chỉnh. Mặt mày các
hoàng tử được vẽ phác bằng những đường nét rất tinh tế
làm nổi rõ mắt, mũi, miệng, tai ... Đầu tóc và râu ria cũng
rất tinh tế, hiện rõ lên từng sợi. Nhưng nét mặt và cách trang
sức ở phần đầu lại khác nhau, trông rất sinh động, hiện rõ
nét đặc trưng của dân tộc ở Tây Vực.

Ở hang 37, trên tường phía bắc có một bức tượng bồ
tát đứng, mặc áo đỏ thẫm, đeo chuỗi ngọc màu xanh, diện
mạo thanh tú, hiển nhiên là khuôn mặt người Tây Vực, so
với những tượng bồ tát có khuôn mặt đẹp đời Đường mà
tôi đã từng thấy ở các hang động Đôn Hoàng thì hoàn toàn
khác biệt. Trong một số hang khác còn thấy tượng hình
người Hồi Cốt, người Mông Cổ đang cúng dường.

Bách-tư~khắc-lý-khắc là tiếng Uygur có nghĩa là “bày
biện phòng ốc xinh đẹp”. Nhiều chuyên gia cho rằng thời
kỳ bắt đầu của các hang đá này ước khoảng thế kỷ thứ VI
CN tương đương với thời đại nước Cao Xương của dòng
họ Cúc. Còn thời kỳ thịnh đạt nhất là vào thế kỷ thử XIV,
tương đương với thời đi nước Cao Xương của người Hồi
Cốt. Trên đây chỉ đề cập đến những bích họa ở hai hang đá

259

39 và 37 coi như là đại biểu cho thời đại Hồi giáo du nhập
vào Tolophan. Ngày nay, người dân tộc Uygur theo đạo
Hồi, còn tổ tiên của họ khi mới thiên di đến Tây Vực đều
theo đạo Phật. Điều này có thể chứng minh được bằng cách
xem lại những gì ghi trong các hang đá

260

16. TỪ LÒNG CHẢO TOLOPHAN ĐẾN
LÒNG CHẢO TARIM

KHO GIÓ

Rời Tolophan đi về hướng tây, chiếc Jeep của chúng
tôi vừa ra khỏi vùng lục châu thì tăng tốc lên 100 km/giờ.

- Tại sao cho xe chạy nhanh như vậy? - tôi hỏi anh tài
xế.

Trước mặt ta là cửa gió, cần phải chạy nhanh để vượt
qua. Nếu gặp gió lớn, chiếc xe nhỏ của chúng ta, nói tội
trời, sẽ bị gió thổi lật nhào. Anh nói, năm 1977, gió lớn thổi
trên cấp 12 đã làm đổ một đoàn tàu trống đậu tại ga. Đá
trên sa mạc Gôbi bị gió thổi lăn lốc. Có khi cát bay đá chạy,
cửa xe bằng kính sẽ vỡ như chơi.

Anh tài xế lớn tuổi này hoàn toàn không nói quá sự
thực. Theo những ghi chép của Sở Khí tượng, ngày 19
tháng năm năm 1977, trên tuyến đường sắt Tolophan có lần
đã trải qua một trận cuồng phong với tốc độ gió 50m/giây.
Phàm tốc độ gió 32,6m/giây gọi là gió cấp 12, còn tốc độ
vượt quá 50m/giây thì gọi là cuồng phong.

Lòng chảo Tolophan đúng là một “kho gió”. Ngày có
gió lớn trên cấp 8, hàng năm có đến ba, bốn mươi ngày như
vậy. Kỷ lục cao nhất ở huyện Tolophan có khi lên đến 68
ngày, ở huyện Thác Khắc Tốn lại càng nhiều hơn, cao nhất
86 ngày. Chúng tôi đi lên phía tây tất phải qua Thác Khắc
Tốn, thảo nào anh tài xế phải luôn luôn đề cao cảnh giác.

Tại sao Tolophan đã có gió to mà lại là “kho chứa gió”
nữa. Nguyên nhân chủ yếu là do áp thấp nhiệt của lòng
chảo Tolophan và áp khí sai lệch rất lớn sản sinh từ ngoài

261

lòng chảo thường tạo thành dòng đối lưu không khí cực
mạnh.

Không khí nóng ở lòng chảo bốc lên, không khí lạnh ở
phía bắc tràn xuống, qua những vùng trống ở tây bắc Thiên
Sơn hướng về phía lòng chảo tràn vào và tạo thành những
luồng gió mạnh.

Gió lớn không chỉ làm hư hại đến nông sản mà còn tạo
ra nhũng vùng đất hoang. Sau giải phóng, nhân dân vùng
Tolophan đã cố gắng trồng rừng phòng gió với chiều dài
hơn 2500 cây số, trồng hơn 30 triệu cây. Đất canh tác và
khu dân cư đều được bao bọc bởi những dãy rừng, mối đe
dọa của gió bão dần dần được giảm nhẹ.

“KHẢM NHI TỈNH” VÀ MƯƠNG NƯỚC NGẦM

Xe chúng tôi tiếp tục đi trên đường cái Tolophan, thỉnh
thoảng thấy trên sa mạc nhô lên từng đống đất đỏ xếp thành
hàng, lúc đầu thấy có vẻ kỳ lạ, sau này mới rõ đó chính là
loại “giếng” đặc biệt ở vùng Tolophan, gọi là "khảm nhi
tỉnh”.

Quan đại thần nhà Thanh Lâm Tắc Từ bị giáng trích
đến Tân Cương vào năm 1845, sau khi đến Nam Cương có
qua vùng đất Tolophan và ông đã miêu tả trong nhật ký
rằng; “Thấy dọc đườn ơ có nhiều hang đất, hỏi ra thì gọi đó
là ‘ca tỉnh’ (giếng lấy nước), có thể dẫn nước chảy ngang
dưới lòng đất, từ nam đến bắc, ống dẫn cao dần cao dần,
nước từ trong đất xuyên theo ống dẫn mà chày, thật là một
chuyện không thể hiểu nổi: Xứ này đất ruộng phì, nhiêu
hàng năm sản xuất rất nhiều bông vải người ta đều dùng
nước giếng kiểu này để tưới”.

Điểm đặc biệt của loại giếng này là tạo thành đường
mương ngầm dưới lòng đất. Nguồn nước ở lòng chảo

262

Tolophan đều phụ thuộc vào nước trên núi tuy thấm sâu
vào lòng đất hình thành nguồn nước ngầm rất phong phú.

Truyền thuyết người Uygur kể rằng, thời xa xưa có một
mục dân trẻ tuổi đến Tolophan, tìm ra được một vùng cỏ
xanh tươi, nhưng không có nước. Người ta bảo: “Nước
không tới được Tolophan đâu, vì đến nửa đường thì mặt
trời đã làm khô và Gôbi đã uống sạch”. Chàng ta không tin
lấy cuốc đào, đào mãi, đào mãi quả nhiên thấy một dòng
nước hiện ra. Để mặt trời không cướp được nước, chàng ta
đào dưới lòng đất một đoạn mương ngầm ... Cứ thế từng
giếng, từng giếng, có từng đoạn, từng đoạn mương kết lại
với phau tạo thành loại giếng nước ngầm có một không hai
như ngày nay ở Tân Cương.

Trên đây chỉ là một câu chuyện dân gian. Nhưng theo
học giả Vương Quốc Duy cuối đời Thanh đầu đời Dân
Quốc nghiên cứu thì giếng nước ngầm vùng Tolophan là
do người nội địa truyền đến từ đời Hán. Có những học giả
gần đây không đồng ý cách nhìn nhận ấy và cho rằng giếng
ngầm do từ Iran truyền vào. Iran có một loại mương dẫn
nước có tên là Karaz, và người dân Cương gọi giếng này là
“ca tỉnh”. Có người lại bảo rằng giếng ngầm do Lâm Tắc
Từ sáng tạo ra khi đến Tân Cương, nhưng đối. chiếu với
nhật ký của ông Lâm thì rõ là người ta nhầm lẫn. Bất kể
giếng ngầm có nguồn gốc từ đâu, nhưng tác dụng của nó
được phát huy ở vùng đất Tolophan này quả thật là lớn lao.
Tổng số lượng nước giếng của giếng ngầm ở Tolophan đạt
đến 500 triệu mét khối.

Khảm Nhi Tỉnh là một loại công trình thủy lợi dưới
lòng đất. Những người thợ đào giếng thiện nghệ tìm được
mạch nước dưới đất rồi men sườn đất đào xuống, đào
xuống thành một dãy giếng thẳng đứng, sau đó nhảy xuống
lòng giếng đào một đường mương ngầm nối các giếng lại

263

với nhau tạo thành một đường mương dưới lòng đất dài từ
vài cây số đến hàng chục cây số chảy thẳng đến vùng thấp
đem nước vào ruộng vườn. Trước khi chưa đến Tân Cương,
tôi cứ cho là nước của Khảm Nhi Tỉnh lấy từ dãy giếng
thẳng đứng ấy, thật hoàn toàn nhầm lần.

Ưu điểm của Khảm Nhi Tỉnh là không cần dùng sức
người hoặc máy móc. Tránh được sự bốc hơi, lượng nước
hàng năm được bảo đảm ổn định. Ngày nay tổng cộng vùng
Tolophan có 972 đãy giếng ngầm, tổng chiều dài của
mương nước ngầm là

2500 cây số. Rõ ràng đây là một công trình thủy lợi lớn
vào hàng số một của Trung Quốc.

LỄ TIẾT SAU NGÀY ĂN CHAY

Từ huyện Tolophan đi về hướng tây chừng 70 cây số
thì đến tây bộ lòng chảo thuộc huyện Thác Khắc Tốn. Ở
đây, bắc có đường đi Urumqi, nam thông tới Korla, đông
liền với Tolophan, tây đi A La Câu. Trên đường phố xe
khách và xe hàng của bắc, nam và đông Tân Cương qua lại
nườm nượp, rõ ràng nơi đây là một liên kết giao thông các
vùng trong khu vực.

Sông Bạch Dương và sông A La Câu phát nguyên từ
Thiên Sơn hội lưu tại Thác Khắc Tốn rồi chảy vào hồ Nghi
Đinh sau khi qua vùng đất trũng của lòng chảo. Người ta
lợi dụng điều kiện thủy lợi thuận tiên này lập ra lục châu
Thác Khắc Tốn tươi đẹp.

Trước khi vào thành phố, chúng tôi tách xe khỏi đường
cái đi vào một thôn trang lứa người Uygur.

Hôm đó nhằm ngày lễ tiết sau tuần chay và gọi là “khai
trai tiết”. Dân chúng trong thôn rảnh rỗi vui chơi thưởng

264

thức ngày hội tôn giáo ấy. Bọn trẻ nô đùa trước cổng làng.
Thanh niên nam nữ mặc quần áo mới, cưỡi xe đạp vào
thành phố xem ca kịch, đi bát phố. Chúng tôi thả bộ vào
một gia đình, chỉ thấy một cặp vơ chồng già ngồi trước lò
sưởi uống trà điểm tâm, trông dáng vẻ rất sảng khoái. Trong
mâm có bánh xíu quảy nho vú ngựa và bánh rán. Một chú
mèo mun hiền lành nằm trên bàn. Thỉnh thoảng bà lão cho
nó một chút đồ ăn. Thật giống như một bức tranh yên tĩnh
ở thôn trang.

Chúng tôi đi vào một gia định khác. Chủ nhà đang chải
tóc trang điểm cho cô con gái của mình. Cô bé vừa mới gội
đầu, mái tóc dài đen nhánh, thấy có người lạ, cô đâm thẹn,
lúng túng rúc đầu vào lòng mẹ. Chị chủ nhà vỗ về đứa con,
nhìn chúng tôi cười rất tự nhiên và mời chúng tôi uống trà.
Rất tiếc, chúng tôi không biết tiếng, chỉ ra dấu tỏ ý chúc
mừng họ, và để không phụ lòng mời mọc nhiệt tình của chị,
chúng tôi đã ăn vài cái bánh xíu quảy và uống trà.

“Khai trai tiết” là ngày lễ truyền thống của đạo Hồi
được cử hành sau tuần trai giới. Trong thời gian ăn chay,
ban ngày không được ăn cơm, không được uống nước, chỉ
ăn uống qua loa gì đó trước khi mặt trời mọc và sau khi mặt
trời lặn. Tuần ăn chay chấm dứt là đến ngày “khai trai” (tức
ngày lễ sau tuần chay). Mọi nhà đều chuẩn bị sẵn sàng đồ
ăn, thức uống cho ngày lễ ấy, ai nấy cũng đều đi thăm hỏi

nhau kéo dài

trong ba ngày cũng giống như người Hán ăn tết đầu
năm vậy.

Chúng tôi tản bộ dọc thôn thì gặp một cán bộ người
Uygur trông rất đôn hậu tên là Mại Ha Đức, thông hiểu
tiếng Hán, nhiệt tình mời chúng tôi về nhà.

Mại Ha Đức lãnh đạo đội sản xuất thứ tư của công xã
Tiền Phong. Anh nói trận bão ngày 9 tháng năm vừa rồi gió

265

lớn cấp 11, cũng may nhờ có rừng phòng hộ, lúa tiểu mạch
và bông vải đều được an toàn, số bị hư hại không đáng kể.
Đời sống nông dân tạm ổn định. Gần đây nhà nước cho
nâng cao giá thu mua nông sản, hy vọng lợi tức của người
nông dân tăng thêm thu nhập. Năm trước đội sản xuất có
mức thu nhập khá cao, trị giá công của xã viên mỗi ngày
lên đến hai nhân dân tệ, tăng hơn năm trước tám hào. Mức
thu nhập này ở nội địa cũng đã là quá tốt rồi huống hồ gì ở
đây!

Vào những năm năm mươi, Mại Ha Đức gia nhập quân
giải phóng. Anh hãnh diện đưa chứng tôi xem ảnh lúc anh
ở quân ngũ và giấy chứng nhận giải ngũ, anh nói hồi ở quân
đội anh đã được kết nạp vào Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Anh nói:

Hiện nay, trừ những ông già bà lão, bọn trẻ trong thôn
rất ít người theo đạo, nhưng tập tục của những ngày lễ tôn
giáo vẫn được mọi người duy trì và bảo lưu.

TỔ TIÊN CỦA NGƯỜI UYGUR

Về những tập tục, ngôn ngữ, chữ viết thậm chí cả với
đời sống kinh tế, chính trị của người Uygur, đạo Hồi có ảnh
hưởng rất sâu đậm. So với số người Hồi cư trú sở nội địa
thì ảnh hưởng này ở đây lại càng rõ nét hơn. Nhưng có
người do thiên kiến về tôn giáo mà cứng nhắc cho rằng
người Uygur là từ vùng Trung Á thiên đi về hướng đông
mà định cư ở Tân Cương, điều này đi ngược với sự thật lịch
sử.

Đạo Hồi truyền nhập vào Tân Cương khoảng cuối thế
kỷ thứ X, đến thế kỷ thứ XV mới dần đần chiếm vị trí thống
trị vùng Tân Cương. Người Uygur ở khu vực Tolophan đã

266

sớm có mặt ở đây vào thế kỷ thứ IX thiên di từ phía đông
lại (tức từ vùng Nội Mông).

Đối với tộc người Uygur, sử tịch Trung Quốc có nhiều
tên gọi khác nhau như: Viên Hột, Vi Hột, Hồi Hột, Hồi Cốt,
Uy Ngột Nhi v.v... Điều này là do dịch âm tiếng Hán khác
nhau của những thời kỳ lịch sử khác nhau. Còn từ “Uygur”
(Duy Ngô Nhĩ có nghĩa là “đoàn kết” là “liên hợp”.

Vào thế kỷ thứ III trước CN, tổ tiên người Uygur gọi
là bộ lạc Đinh Linh (hoặc người Thiết Lặc) sống bằng nghề
du mục ở lưu vực sông Ngạc Nhĩ Hồn và sông Sắc Lăng
Cách thuộc nội địa Mông Cổ. Hai sông này phát nguyên từ
dãy núi Hàng Ái và chạy vào hồ Bối Gia Nhỉ (tức hồ
Bunnur). Tùy thư vàĐường thư đều nói người Hồi Hột
“không có tù trưởng, ăn ở không ổn định, tùy thuộc vào
nguồn nước và cỏ mà thiên di”. Gọi là không có tù trưởng
tức là không có chế độ thế tập (truyền nối) như các bộ là

khác.

Năm 647 CN, thủ lĩnh Hồi Hột Thổ Mật Độ tự xưng là
Khả Hãn (vua) và nhận sách phong của nhà Đường với
danh hiệu: “Hoài nhân Đại tướng quân kiêm Hàn hải Đô
đốc”. Và trong lịch sử có lần một vương quốc Hồi Hột
cường thịnh được hình thành. (Có thuyết cho rằng nước
Hồi Hột được kiến lập vào năm 744 dựa trên sách phong
thủ lĩnh Cốt Lực Bùi La nước Hồi Hột làm “Hoài nhân Khả
Hãn” trực tiếp thừa nhận ông ta là quốc vương chứ không
phong tước hiệu nữa).

Sau khi nước Hồi Hột được kiến lập thì mối quan hệ
với nhà Đường trở nên mật thiết. Mỗi khi có vua kế vị đều
luôn chịu sách phong của nhà Đường. Vua nhà Đường
trước sau đem năm công chúa gả cho vua Hồi Hột. Mỗi
công chúa xuất giá đều đem theo nhiều thợ và nhân viên
tùy tùng người Hán.

267

Người Hồi Hột vốn lấy du mục làm chính, nhưng với
sự giúp đỡ của thợ thuyền người Hán, họ đã bắt chước
người Hán xây dựng nhiều thành thị. Người Hồi Hột còn
học chữ Hán. Năm 788, một thượng thư nhà Đường người
Hồi Hột xin đổi danh xưng thành “Hồi Cốt” có ý nghĩa là
người Hồi nhanh nhẹn như chim ưng, điều này cho thấy
tầng lớp trí thức người thiểu số tinh thông Hán học biết
chừng nào.

Khi có loạn An - Sử, nhà Đường đã từng yêu cầu nước
Hồi Hột đem đội kỵ binh tiến vào Trung Nguyên giúp quân
binh nhà Đường bình định bọn An Lộc Sơn và Sử Tư Minh.
Để cảm tạ công lao trợ chiến ấy, hằng năm nhà Đường đem
tặng cho Hồi Hột hai vạn tám lụa, đồng thời mua nhiều
ngựa của người Hồi Hột với giá cao, mỗi con đổi được 40
tấm lụa. Do đó nền kinh tế Hồi Hột trở nên thuận lợi. Hồi
Hột còn giúp nhà Đường duy trì bảo vệ đường giao thông
giữa Trung Quốc và phương Tây.

Khi nước Thổ Phồn chiếm hành lang Hà Tây và cắt đứt
đường giao thông giữa nhà Đường và Tây Vực, viên chức
nhà Đườn và thương nhân đều phải mượn đường qua nước
Hồi Hột để đi lại. Với sự giúp đỡ của người Chiêu Vũ cửu
tính, giỏi buôn bán kinh doanh, Hồi Hột đã từng là cầu nối
mậu dịch quan trọng giữa Trung Quốc và Tây Vực. Họ
nhận những quà biếu từ nhà Đường đồng thời thông qua
việc trao đổi lụa - ngựa họ cũng thu về nhiều tơ lụa, trừ chi
phí ra, họ cũng có một số lợi tức tương đương với những
khách thương buôn bán qua lại trên các thị trường vùng Tây
Vực.

Đến cuối thế kỷ thứ VIII, nước Hồi Hột bắt đầu suy
thoái, thế kỷ thứ IX xảy ra lục đục nội bộ, năm 840 thì bị
người Điểm Giáp tiêu diệt.

268

NGƯỜI HỒI HỘT THIÊN DI VỀ MIỀN TÂY

Sau khi nước Hồi Hột bị diệt vong, người Hồi Hột bắt
đầu một cuộc đại di tản về miền tây nổi tiếng trong lịch sử.
Một bộ phận định cư ở hành lang Hà Tây (Cam Túc), gọi
là “Cam Châu Hồi Cốt” (Người Hồi Hột ở Cam Châu), một
bộ phận khác thì định cư ở Tân Cương, phần lớn tại khu
vực nam Thiên Sơn. Một chi khác lấy đất Tolophan làm
trung tâm kiến lập ra nước Cao Xương của người Hồ Cốt,
có cương vực đông giáp Tửu Tuyền, tây giáp Khố Xa, nam
gặp đại sa mạc Taklamacan. Còn một chi nữa thiên di về
nước Thông Lĩnh và lập ra nước Ca La, lãnh vực bao gồm
phần lớn vùng Nam Cương và một phần đất thuộc Trung

Á.

Người Hồ Cốt tại vùng lòng chảo Tolophan, lòng chảo
Tarim và trên dãy Thông Lĩnh chung sống lâu dài với dân
cư bản địa, kết hôn lẫn nhau, dần dần hình thành tộc người
Uygur hiện nay. Ở Tân Cương, tôi đã quan sát người Uygur
ở các xứ thì thấy sắc diện của họ có khác biệt. Có người
màu da hơi vàng, mắt đen, tóc đen, khuôn mặt có vẻ giống
như người da vàng ở Trung Nguyên; nhưng cũng có một
số người da trắng, mắt vàng, mũi thẳng cao, râu tóc màu
nâu, khuôn mặt gần giống với người Aryen ở Trung Á. Ai
cũng biết rằng theo sử sách ghi chép thì tổ tiên người Uygur
thiên di về phía tây đến Tân Cương, nhưng hiện tượng khác
nhau về màu da, khuôn mặt nói trên phải giải thích như thế

nào?

Các nhà sử học cho rằng dân cư thời xưa ở lòng chảo
Tarim thuộc Nam Cương rất phức tạp, trong đó có một bộ
phận rất thạo ngôn ngữ Ấn Âu của người Aryen. Thế kỷ
thứ I CN, người Hán, người Hung Nô, người Đột Quyết và
người Thổ Phồn kế tiếp nhau vào Tân Cương, rồi một số
người trong các tộc người này định cư ở đấy. Đến thế kỷ

269

thứ IX, một số lớn người Hồi Cất di cư đến. họ lại dung
hợp với các dân tộc bản địa hình thành tộc người Uygur
chính ở Tân Cương như hiện nay. Đó là một biến đổi lớn
trong lịch sử Tân Cương. Do đó dáng vẻ bên ngoài của
người Uygur có sự khác nhau nào đó thì không có gì phải
ngạc nhiên cả.

Trước khi người Hồi Cất thiên di về đây, họ đã theo
đạo Tất Mãn và đạo Ma Ni; sau khi đến Tân Cương họ lại
theo đạo Phật. Đến cuối thế kỷ thứ X. đạo Hồi độ truyền
vào Tân Cương từ bên kia dãy Thông Lĩnh và trải qua bốn,
năm trăm năm đấu tranh với Phật giáo, đạo Hồi mới chiếm
địa vị thống trị ở Tân Cương. Ngày nay, đạo Hồi đã có ảnh
hưởng rất lớn trong đời sống văn hóa và các phong tục tập
quân của người Uygur.

CÓ HAI CON ĐƯƠNG ĐẾN LÒNG CHẢO TARIM

Tôi rời Thác Khắc Tốn đi dọc biên giới tây bộ lòng
chảo Tolophan, rồi vượt qua núi Thiên Sơn để đến lòng
chảo Tarim. Từ Thác Khắc Tốn đến Truân có hai con
đường.

Một con đường đi xuống phía nam, phải qua một khe
núi dài chừng 100 cây số, không nước, không cỏ, gọi là
“càn câu” (khe khô) sẽ đến huyện Yên Kỳ, tức nước tên Kỳ
cổ đại ở dọc biên giới đông bắc của lòng chảo Tarim, cũng
còn gọi là nước A-kỳ-ni. Một còn đường khác thì đi về
hướng tây men theo dòng nước cuồn cuộn của sông A-la-
câu đi sâu vào lòng núi Thiên Sơn, trèo đèo leo dốc đến
thượng nguồn ở độ cao hơn 3000 mét, rồi tiếp tục rẽ hướng,
men theo một con sông khác tên là Ô-la-tư-đài thì đến
huyện Yên Kỳ.

270

Hai con đường khác lộ trình nhưng đồng quy một chỗ.
Đường thông thương nam bắc Tân Cương có thể đi theo lộ
tuyến “càn câu”, dọc đường không thấy một giọt nước;
hoặc theo một lộ tuyến khác nhưng rất bất tiện cho xe con,
dọc đường cỏ nước sung túc, rất thuận lợi cho lạc đà và trâu
ngựa của các đội khách thương thời xưa. Tại cửa núi A-la-
câu, sừng sững một phong hỏa đài, đông gần lòng chảo
Tolophan, tây giáp đường cái. Tôi đứng trên phong hỏa đài
nhìn về hướng tây thầm nghĩ năm xưa chắc Huyền Trang
có đi qua con đường này.

Từ Thác Khắc Tốn đó Yên Kỳ. tôi chọn đường núi A-
la-câu Sau này khi du hành hết vùng nam Tân Cương, trên
đường về từ Yên Kỳ đến Urumqi tôi lại đi qua đường cái
quan “càn câu”. Có dịp đi trên hai lộ tuyến, tôi cho rằng so
ra đường núi A-la-câu có khả năng là tuyến đường hay qua
lại nhiều nhất của các thương lữ thời cổ đại.

Ngày nay, dọc con đường giao thương cổ đại này,
người ta đang kiến thiết một tuyến đứng sắt thông vãng
nam bắc Thiên Sơn, đó là tuyến đường sắt Nam Cương.
Lúc tôi đi qua nhằm tháng tám năm 1979, từ Tolophan qua
Yên Kỳ đến Korla người ta đã đặt xong đường ray và đang
cho thông xe thử. Vào cửa núi A-la-câu, tồi thây một nhà
ga có quy mô rất to lớn và một trạm bốc xếp đang được xây
dựng. Từ xưa nay, nơi đây bị bao vây trong không gian yên
tĩnh của núi rừng, khe suối, rốt cuộc đã bị xung phá ào ạt
của máy móc hiện đại. Tòa phong hoả đài trải qua những
cuộc dâu bể kia trầm mặc nhìn xuống cảnh tượng bận rộn,
tấp nập của công trường, có lẽ cũng lấy làm cảm khoái
không cùng đấy hẳn?

271

ĐƯỜNG SẮT QUA THIÊN SƠN

Chúng tôi qua công trường vào đến A-la-câu cách đó
chừng 20 cây số thì thấy một dãy nhà đơn sơ, nhưng gọn
gàng tề chỉnh nằm hai bên bờ sông. Đó chính là bộ chỉ huy
kiến triết tuyến đường sắt Nam Cương.

Cách bộ chỉ huy công trường không xa là kho tàng của
ông trường ở chốn sơn khê vắng vẻ này. Vừa từ “Hỏa châu”
đến, không khí đặc biệt mát mẻ ẩm ướt nơi đây khiến chúng
tôi trở nên hoạt bát, nhanh nhạy. Tôi rất thích suối nước
trong lành kia. Trước khi gặp chủ nhân, tôi đã tự mình thả
bộ ven sông. Nước sông cuồn cuộn, bọt sóng tung tóe. Hai
bên lòng tích tụ không biết cơ man nào là đá cuội, lớn có,
nhỏ có, từ trên núi làn xuống. Tôi ngồi trên một tảng đá to,
hai chân dầm trong dòng nước mát lạnh, yên lặng lắng nghe
dòng A-la-câu hát, lòng mình bình yên thoải mái như từng
được dòng nước trong lành kia tắm gội. Trên khoảng đất
trống ven sông là vườn rau dưa của công nhân đường sắt,
trong đó có cả ớt xanh và cà chua. Thật không ngờ chốn A-
la-câu từ xa xưa vốn là một vùng đất thiếu vắng bóng người
mà nay trở thành một nơi đáng yêu như thế này. Thảo nào
có người nói với tôi rằng sau khi làm tuyến đường sắt Nam
Cương, có đơn vị muốn dùng nơi này xây lên một viên
dưỡng lão và một bệnh viện.

Chúng tôi nghỉ lại một đêm tại bộ chỉ huy công trường,
tiếng nước chảy êm tai đưa tôi vào giấc ngủ và một giấc
mơ đẹp. Sáng hôm sau tỉnh dậy, chúng tôi yêu cầu công
trình sư Diêu Thế Cần lãnh đạo thi công tuyến đường sắt
Nam cương - giới thiệu sơ lược tình hình của công trình.

Thời kỳ thứ nhất của công trình tuyến đường sắt Nam
Cương là đoạn từ Tolophan đến Korla, bắt đầu ở ga
Tolophan trên tuyến Lan Châu - Tân Cương và kết thúc ở
ga Korla. toàn tuyến dài 476 cây số.

272

Đặc điểm của đoạn đường này là từ chỗ thấp của lòng
chảo leo lên dốc núi cao rồi từ núi cao xuống dốc, tiến vào
đất bằng, thế là phải đi theo hình chữ V ngược. Điểm thấp
nhất của tuyến đường là -152 mét (tức thấp hơn mặt nước
biển 152 mét) và điểm cao nhất là +3000 mét (tức cao hơn
mặt nước biển 3000 mét), đo đó, lộ tuyến của nó phải uốn
lượn quanh co rất nhiều lần.

Còn một đặc điểm nữa là tuyến đường này phải đi qua
hai con sông là A-la-câu và Ô-tư-đài, có địa hình rất phức
tạp. Để tránh sự bất lợi của địa tằng, tuyến đường này chủ
yếu phải vượt qua các dòng sông, tổng cộng mười một lần
vượt sông A- la-câu và hai mươi lăm lần vượt sông Ô-tư-
đài. Do đó, số lượng cầu cỡ lớn và cỡ vừa rất nhiều, tổng
chiều dài các cầu lên đến mười bảy cây số.

Đặc điểm thứ ba là trên một nửa tuyến đường phải
quanh co khúc khuỷu trong lòng dãy Thiên Sơn, cho nên
có rất nhiều đường hầm, cộng tất cả hai mươi chín hầm,
tổng chiều dài các hầm lên đến 33 cây số. Đường hầm dài
nhất trên 6 cây số.

Tuyến đường sắt Nam Cương trong tiểu thuyết mang
chất thần thoại Tây du ký được miêu tả như là một nơi bí
hiểm thần kỳ của thiên nhiên. Tôi nói vui với Diều Thế
Cần:

- Các anh đã kiến tạo tuyến đường sắt trên con đường
ngày xưa ngài Huyền Trang đi thỉnh kinh, sự nghiệp quả
không nhỏ, hơn hẳn cả Tôn Ngộ Không kia đấy?

Anh chàng công trình sư nghiêm túc kia không nhịn
cười, nói:

- Phải! Nào hỏa diệm sơn, nào động Thủy Liêm ... còn
nữa, nào Lưu Sa Hà, tất tần tật đều bị chúng tôi chinh phục.

273

LEO LÊN ĐỈNH NÚI CAO 3200 MÉT

Bộ chỉ huy công trình đặc biệt cử người dẫn chúng tôi
đi tham quan công trình tuyến đường sắt xuyên Thiên Sơn.

Rời bộ chỉ huy chừng ba cây số thì thấy tuyến đường
sắt chui ra từ một hang núi, vượt qua một cây cầu chạy
thẳng đến bên kia bờ sông A-la-câu. Lại đi chừng ba cây số
nữa thì thấy tuyến đường sắt lại ở bên này bờ sông. Tiếp
tục đi thêm một cây số thì nó lại vượt qua mặt rồi. Tôi
những muốn ghi nhớ số lần và địa điểm mà tuyến đường
sắt vượt qua sông, nhưng qua nhiều lần quá nhớ không xuể.

Người bạn đồng hành nhắc tôi đang trước có một cây
cầu vòng cung. Tôi chưa kịp hỏi rõ thế nào là cầu vòng
cung thì một chiếc cầu sắt dài xuất hiện trước mắt. Thân
cầu bắc qua một lòng sông rộng, trên nửa từng không,
người ta vạch một đường vòng cung, chúng tôi xuống xe
nhìn ngắm thì vừa đúng có một đoàn xe chở hàng chạy qua
cầu. Xe đang chạy nhanh phun ra từng vòng khói trắng bạc
dưới bầu trời xanh thẳm tương ứng hình vòng cung của
chiếc cầu trông thật thích mắt. Chiếc cầu hình vòng cung

này dài 585 mét.

Chiếc Jeep của chúng tôi tiếp tục leo dốc, khi đến một
khoảng đất rộng phóng tầm mắt nhìn xa xa thì thấy tuyến
đường sắt ngoằn ngoèo uốn khúc bò lên núi, cong cong
hình chữ S. Con đường uốn trái rẽ phải ấy vượt qua ba cây
cầu, cầu này cao hơn cầu kia, tầng thứ rõ ràng, điều này
chứng tỏ tuyến đường ngày một lên cao.

Nhìn thấy đường sắt ở đây mới hiểu ra từ chuyên môn
của ngành gọi là “triển tuyến” (tuyến đường quanh co uốn
khúc trên các dốc núi). Trên nguyên tắc, độ dốc của đường
sắt không vượt quá 22/1000, nếu không, đoàn tàu sẽ rất khó
đi và cũng rất dễ xảy ra hiện tượng chệch đường ray. Để
cho đoàn tàu leo núi, vượt đèo dễ dàng, đường sắt phải kéo

274

dài ra, quanh co khúc khuỷu, phải giảm bớt tốc độ để tàu
có thể từ từ uốn lượn mà đi lên hoặc đi xuống. Loại đường
sắt “triển tuyến” kiểu này xuyên núi Thiên Sơn trên tuyến
dường sắt Nam Cương đặc biệt nhiều và dài.

Chúng tôi men theo dòng A-la-câu để lên núi Thiên
Sơn. Cái lạnh bỗng dưng ập đến, khi ở dưới chân núi chỉ
mặc áo mỏng, lên đến núi phải mặc áo bông. Người ta nói
A-la-câu là “khe núi có thời tiết bốn mùa trong một ngày”,
nếu đi dọc theo khe núi này cần phải thay đổi áo của cả bốn
mùa xuân hạ thu đông, thật chẳng phải đùa.

Bữa trưa, chúng tôi ăn cơm ở nhà ăn của công trường,
cơm trở nên cứng khô trông như chưa chín. Ở đây cao hơn
mặt nước biển 3000 mét, khí áp thấp, đun nước rất lâu sôi,
nếu không dùng nồi áp suất thì cơm sẽ không chín được.

Công nhân của công trường này đã đào thành công
đường hầm Khuê Tiên ở độ cao nhất trên toàn tuyến và là
đường hầm dài nhất, dài đúng 6152mét. Tôi thấy móng tay
của một số công nhân bị lõm xuống, đó là loại bệnh nghề
nghiệp do làm việc lâu ngày ở độ cao thiếu dưỡng khí tạo
nên. Tôi hỏi:

- Tại sao các bạn không chữa trị?

- Không cần, xuống núi là hết ngay. Họ trả lời.

Thiếu dưỡng khí lâu ngày có thể dẫn tới rụng tóc nữa.

Chiếc Jeep của chúng tôi theo đường dốc quanh co cật
lực hổn hển từ từ leo tới. Lên đến đỉnh núi cao 3200 mét
thì thấy có một hồ nước, mà dưới đáy hồ nước kia 200 mét
là đường hầm Khuê Tiên. Công trình sư Diêu Thế Cần đã
ví đường hầm này là động Thủy Liêm trong Tây du ký,
nghe ra cũng có lý. Trên đường hầm thì có hồ Cao Sơn,
giữa thì có tầng đất đóng báng. Khi đục mở đường hầm,
chỗ đặt mìn có nước xuất hiện, nước đùn thành giọt. Thời

275

tiết lại thay đổi đột ngột, ban ngày thì nước lỏng, ban đêm
thì thành đá. Trong động sâu thường có rất nhiều nước.
Động Thủy Liêm này đúng là đã mang lại nhiều khó khăn
cho những người thi công, nhưng cho dù thế nào thì đường
hầm Khuê Tiên cũng hoàn thành trước kế hoạch đề ra.

XUỐNG BÌNH NGUYÊN YÊN KỲ Ở PHÍA NAM

Qua khỏi đường hầm Khuê Tiên, tuyến đường sắt men
theo sông Ô-la-tư-đài xuôi về nam. ở đây núi chạy vòng,
đường uốn lượn, hang sâu nước xiết và chảy ngược hướng
sông A-la-câu. Cảnh vật cũng thay đổi. Dọc sông, cây cối
rậm rạp, rải rác từng đàn trâu, ngựa gặm cỏ trên thảo
nguyên. Đây là khu du mục của người Mông Cổ. Không
biết họ có phải là cư dân hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn
chinh phục miền tây vào thế kỷ XIII không?

Tuyến đường cứ tiếp tục theo phương pháp “triển
tuyến” để đi xuống. Dọc đường, số lượng hầm và cầu sắt
nhớ không xuể. Đến hầm số 3 có tên là Tân Quang, người
bạn đồng hành của tôi có ý muốn dừng xe nghỉ ngơi và đợi
xem cảnh đoàn xe lửa đi qua. Quả đúng như chúng tôi dự
liệu, một đoàn xe lửa của công trường đang chạy đến. Nó
đi vào đầu này đường hầm và đi ra ở đầu kia. Điểm đặc biệt
kỳ lạ là chỗ miệng hầm xe đi ra cũng vừa đúng ngang
miệng hầm xe đi vào ở phía dưới. Sai biệt của hai miệng
hầm trên dưới này khoảng hơn 70 mét. Như vậy xe chạy
trong hầm theo đường trôn ốc. Chính mắt mình trông thấy
cảnh ấy nên có ấn tượng rất sâu sắc. Chúng tôi đi dọc sông
Ô-la-tư-đài chừng hơn 100 cây số thì bỗng nhiên tầm nhìn
trở nên khoảng thoát, trước mắt hiện ra một bình nguyên
rộng mênh mông vô hạn, tự nhiên cảm thấy thư thái nhẹ
nhàng. Trong người bây giờ cũng trở nên nóng hơn, tôi cởi
luôn cả áo ấm. Chúng tôi ra khỏi sông Ô-la-tư-đài và đã

276

đến đồng bằng Yên Kỳ. Ở đây rừng phòng gió dày đặc,
ruộng vườn vuông vắn. Hoa cải màu vàng non và ruộng
cao lương rạp theo chiều gió nhắc nhở chúng tôi rằng đã
đến vùng lục châu gần lòng chảo Tarim.

Đường sắt và đường nhựa song song cạnh một dòng
sông chạy qua huyện Yên Kỳ mà trong Tây du ký đã miêu
tả là sông Lưu Sa đầy hiểm nguy bất trắc, ngày nay gọi là
sông Khai Đô. Dưới lòng sông có một lớp cát xốp dày hơn
100 mét, do đó mà có tên là sông Lưu Sa (Lưu Sa Hà - cát
chảy).

Đứng bên sông Lưu Sa nhìn lòng sông khoảng khoát,
nước chảy lững lờ khiến ta có cảm giác yên ổn tĩnh lặng,
nhưng nào có ai biết nó biến ảo khôn lường, đến mùa nước
lớn, ba đào cuồn cuộn tràn ngập cả lòng sông. Những cơn
hồng thủy hung hãn đã từng dìm cả huyện thành Yên Kỳ
trong dòng nước. Hồi đó, pháp sư Đường Tam Tạng có đến
bờ sông Lưu Sa, dẫu có Tôn Đại Thánh đi theo vẫn phải

nhìn dòng sông mà ngao ngán.

Đặc biệt dưới lòng sông lâu lớp cát dây trên 100 mét
nên đã từng khiến cho những kỹ sư tài giỏi về kiều lộ đành
phải bó tay.

Ngày nay có một chiếc cầu sắt dài 439 mét được bắc
qua sông Lưu Sa, đoàn xe qua lại an toàn. Hai mươi trụ cầu
ấy với kỹ thuật tân tiến đã cắm sâu trong lớp cát xốp của
lòng sông một cách ổn định, chắc chắn.

Công nhân viên chức đường sắt đã chinh phục hỏa
diệm sơn, động Thủy Liêm, sông Lưu Sa và những hiểm
trở thiên nhiên khác, hoàn thành tuyến đường sắt xuyên
Thiên Sơn, nối liền lòng chảo Tolophan với lòng chảo
Tarim. Điều này tất nhiên đem lại cho Nam Cương một nền
kinh tế phát triển và cuộc sông tốt đẹp cho nhân dân. Đường

277

sắt Nam Cương đang được ra sức thi công, nhiều công việc
gian lao vất vả trước mắt đang chờ đón họ …

278

17. TỪ HỒ BOSTEN ĐẾN SÔNG KHỔNG
TƯỚC

Trong Đại Đường Tây Vực ký, Đường Huyền Trang có
viết: “Ra khỏi đất cũ nước Cao Xương, xứ gần nhất gọi là
nước A-kỳ-nỉ”.

Tên gọi A-kỳ-ni ấy có gốc từ tiếng Phạn là Agni mà sử
sách tiếng Hán gọi là “Yên Kỳ”. Tiền Hán thư ghi: “Nước
Yên Kỳ gần biển có nhiều cá”. Hậu Hán thư cũng viết:
“Yên Kỳ ... bốn mặt là núi, tiếp giáp với nước Quy Tư,
đường đi hiểm trở, dễ phòng thủ. Có biển, ra vào chỉ toàn
là núi là núi”.

Cả hai sách trên đều nói đến “biển” tức muốn nói đến
hồ Bosten ở phía đông huyện Yên Kỳ ngày nay. Theo tiếng
Uygur, Bosten (Bác-tư-đằng) có nghĩa là “Hồ lục châu”, hồ
có diện tích 980 cây số vuông, đó là hồ nước ngọt nội địa
lớn nhất Tân Cương.

CÁ, CHIM, XẠ THỬ, CHUỘT, LAU SẬY … CỦA
HỒ

Sau khi từ Thiên Sơn xuống phương nam và đi dọc
tuyến đường sắt Nam Cương đến huyện Yên Kỳ, tôi men
theo sông Khai Đô (tức sông Lưu Sa) theo hướng đông để
đến hồ Bosten. Nước hồ do từ sông Khai Đô chảy theo
hướng tây bắc đổ vào rồi chảy ra theo hướng tây nam tạo
ra sông Không Tước đem theo nước tưới cho vùng lục châu
sa mạc Taklamacan. Hồ ở độ cao 1048 mét, hàng năm có
nước đổ vào và có nước chảy ra tạo thành một hồ nước
ngọt, từ xưa đã thấy được “cái lợi của cá muối cây bồ, cây
lau của vùng hồ”.

279

Không có đường cái đi hồ Bosten, đường đất ở nông
thôn thì lại gập ghềnh, ngồi trên xe một tiếng đồng hồ mà
chiếc xe cứ nghiêng qua ngả lại, hai tay đã bấu chặt ghế
ngồi nhưng tôi vẫn có đôi lần suýt bị văng khỏi xe, đầu
đụng phải trần xe. Nhưng rồi cũng đi hết đoạn đường 20
cây số và đến được bên hồ. Nhìn hồ nước ứng mênh mông
như biển cả hiện ra trước mắt, mặt hồ phẳng lặng như một
tấm gương, trên bầu trời xanh ngắt, đàn hải âu nhỏ trắng
bạch đang bay lượn. Đứng bên bờ hồ hít thở không khí
trong lành, tôi như đắm mình trong cảnh êm đềm u tĩnh
này, bao nhiêu mệt nhọc của cuộc lữ hành trước đây đều
tiêu tan hết.

Tôi rảo bước hướng về bến cảng đằng kia có hai tàu
đánh cá thuộc công ty ngư nghiệp quốc doanh đang giở cá,
mùi tanh bốc lên nồng nặc. Hồ Bosten có nhiều cá đầu bự
và cá mõm nhọn, thịt chúng vừa ngon vừa béo. Chúng rất
to, con nhỏ cũng đến vài ba cân, con lớn có khi cả mười
mấy cân. Hai loại cá này là giống đặc biệt của hồ Bosten.
Năm 1966, người ta thành lập khu nuôi trồng thủy sản, tự
gây cá giống, chủ yếu thả nuôi bốn loại cá nước ngọt: cá
trắm đen, cá trắm cỏ, cá mè, cá mè hoa.

Sau đó đem giống cá chép, cá diếc, cá bản từ Trường
Giang về nuôi, tăng giống cá nuôi lên đến mười ba loại, sản
lượng gia tăng gấp bội. Ngày nay, hồ Bosten có đến hơn
mười đơn vị làm nghề cá, trở thành khu ngư nghiệp trọng
điểm của Tân Cương.

Sau khi tuyến đường sắt Nam Cương thông xe, cá đánh
bắt được ở đây sẽ dễ dàng vận chuyển đi các nơi khác.

Không thể theo tàu đánh cá để ra hồ thì đạo chơi trên
sóng nước ven hồ bằng một chiếc thuyền gỗ cũng đủ cho
cuộc du hành đầy hứng thú này vậy- Anh bạn đồng hành

280

của tôi hiểu ý, mượn một chiếc thuyền gỗ nhỏ và chèo ra
hồ.

Chèo dọc ven hồ nơi bãi nước cạn mọc đầy lau sậy vừa
cao vừa to xanh mởn như trúc non. Chúng tôi chèo tới chèo
lui trong đám lau sậy um tùm như đang đi thuyền trong
rừng trúc, thật thú vị!

Lau sậy là nguồn thực vật lấy mãi không hết, dùng mãi
không tận của hồ Bosten. Diện tích lau sậy toàn cả hồ
chiếm 44 vạn mẫu, hàng năm sản xuất hơn 30 vạn tấn. Lau
sậy có thể dùng làm giấy, có thể chế tạo sợi nhân tạo kết
hợp với bông vải, lông thú, tơ lụa hoặc đay gai dệt thành
vải. Nó còn là một chất liệu dùng trong xây dựng, bền chắc
và lâu hư. Sau này, trong một cổ thành đời Đường tại sa
mạc Taklamacan tôi thấy người ta đã dùng lau sậy kết thành
bó xây tường, bên ngoài tô trét thêm đất sét. Cạo lớp đất
ngoài ra, lau sậy bên trong vẫn còn y nguyên, không hư
mục, không giòn nát. Ngày nay các tỉnh vùng đông bắc và
Hoa Bắc vẫn đi ngàn dặm đến hồ Bosten để chở lau sậy
đem về chủ yếu dùng trong xây dựng. Năm 1976, sau trận
động đất ở Đường Sơn, nhân dân các tộc người ở ven hồ
đã chi viện hơn hai vạn tấn lau sậy cho đồng bào anh em bị
nạn để dựng lại nhà cửa.

Chúng tôi bơi thuyền ven hồ nhìn ngắm cảnh. Trời
chiều bảng lảng, mặt nước phản chiếu ánh tà dương tạo
thành những mảng ráng trời rực rỡ. Tôi đang trầm tư mặc
tưởng thì bỗng anh bạn đồng hành gọi lớn:

- Nhìn kia, chuột nước!

Tôi quay mặt nhìn thì thấy trên bãi cạn một cặp mắt tí
xíu đầy cảnh giác trong đám lau sậy um tùm đang chằm
chặp nhìn chúng tôi. Động vật bé nhỏ ấy có dạng như một
chú thỏ con, đầu chuột, khoác lông màu đà hồng óng ánh

281

trơn tuột. Thấy chúng tôi chăm chú nhìn nó, nó quay đầu
bỏ chạy.

Chuột nước là loại thú dùng để lấy lông và da rất quý
hiếm, có tên là “xạ thủ”, chúng thích ở trong những hang
nước sâu, ăn rong rêu, chân sau có màng nên có thể bơi lội
trong nước. Bộ lông của nó rất dày, mềm, giữ ấm, chống
lạnh, có thể dùng làm cổ áo, khăn quàng, mũ da đẹp không
thua gì lông chồn. Xạ thử còn có hai túi thơm cho ra xạ
hương, đó là thứ hương liệu cao cấp.

Sản địa chính của chúng là ở Bắc Mỹ. Ở Tân Cương
và Hắc Long Giang, Trung Quốc, người ta đã phát hiện ra
giống chuột này. Xạ thử sinh sản rất mạnh. Năm 1959,
người ta đem từ Y Lê về hồ Bosten 140 con, đến nay đã
sinh sản hơn 60 vạn con, hàng năm bán ra hơn 10 vạn tấm
da lông xạ thử.

Hồ Bosten còn là nơi hội tụ của hàng trăm giống chim
và cho ra rất nhiều muối. Hồ Bosten thật không hỗ là cái
“bồn chứa của quý” của Tân Cương.

MẶT TƯỢNG PHẬT Ở TÂY VỰC

Sau khi từ hồ Bosten trở về huyện Yên Kỳ, ngủ lại một
đêm, sáng hôm sau chúng tôi xuôi về nam. Vượt qua cây
cầu dài 282 mét bắc ngang sông Khai Đô là đến công xã
“Tứ thập lý Thành tử”. Các nhà khảo cổ học cho rằng thủ
phủ của nước Yên Kỳ cổ đại đóng ở Tứ thập lý Thành tử.
Chúng tôi yêu cầu cán bộ công xã phái người hướng dẫn
chúng tôi đi thăm di chỉ cổ thành ở đây.

Nơi cách đường cái phía đông không xa có một cái nhà
hang thấp, bọn trẻ đang chăn thả dê, bò ở đấy; lội qua một
con khe nhỏ thì chúng tôi đến cổ thành hoang phế. Đất xây
tường vẫn còn tương đối hoàn chỉnh có dáng hình vuông,

282

quy mô khá lớn. Chu vi vòng thành ước chừng 4000 bước
chân. Đứng một nơi cao nhất của tường thành nhìn quanh
quất thì nội thành trống không hoang vắng, kể cả vách
tường đổ sụp cũng không còn lưu dấu, chỉ trơ một vài mô
đất cao thấp không đều, có thể đó là nền đài xây dựng ngày
xưa. Các nhà khảo cổ học đã từng nhặt được ở khu nội
thành tiền đồng thời Khai Nguyên đời Đường; điều này
chứng tỏ thành vẫn tồn tại ít nhất cho đến trước thế kỷ thứ

VIII.

Từ thế kỷ thứ V đến thế kỷ thứ VIII, các danh tăng như
Pháp Hiển, Tống Vân, Huyền Trang, Huệ Siêu, Ngộ Không
... trước sau đã kinh qua nước Yên Kỳ để đi Tây
Vực. Trong Đại Đường Tây Vực ký, Huyền Trang nói nước
Yên Kỳ có hàng chục ngôi chùa, có hàng ngàn tăng chúng.
Cùng với Phật giáo truyền nhập sang phương Đông, văn
hóa Ấn Độ cũng có ảnh hưởng tương đối sâu sắc đối với
Yên Kỳ ...

Viện bảo tàng Tân Cương trưng bày 10 bức đấu tượng
đào được ở Yên Kỳ, qua đó có thể thấy rõ phong cách nghệ
thuật Kiến Đà la. Trong đó có một tượng đầu Phật mũi cao,
mắt sâu, lông mi dài, miệng nhỏ, môi dày, khuôn mặt toàn
thân không giống người Hán mà giống người Ấn Độ hoặc
người Trung Á. Phần mặt biểu hiện nét đoan trang, xinh
đẹp, thật xứng danh là kiệt tác tượng hình cổ đại.

Địa điểm khai quật các đầu tượng này ở cách Tứ thập
lý Thành tử chừng 20 cây số về phía tây nam gọi là “Thiên
gian phòng” (ngàn gian phòng), tương tự như “Thiên Phật
động”. Điều này chứng tỏ rằng nơi đây đã từng có nhiều
đền đài miếu vũ. Chúng tôi tìm đến “Thiên gian phòng” thì
đúng là hoàn toàn thất vọng. Trên đất bằng chỉ còn lại vài
manh tường đất, trên sườn núi có một vài hang động, đi đến
tìm kỹ thì thấy tàn tích của bích họa vẽ màu. Đầu thế kỷ

283


Click to View FlipBook Version