The words you are searching are inside this book. To get more targeted content, please make full-text search by clicking here.
Discover the best professional documents and content resources in AnyFlip Document Base.
Search
Published by ngoc.ngphuong, 2020-09-21 02:01:48

CON ĐƯỜNG TƠ LỤA - Xa Mộ Kỳ

CON ĐƯỜNG TƠ LỤA - Xa Mộ Kỳ

- Vâng, ở đằng kia đấy!

Theo hướng chỉ, tôi đòi qua một đám ruộng lúa thì thấy
một mô đất cao, lòng cảm thấy thất vọng. Cung Vị Ương
nhà Hán ở thành Trường An huy hoàng một thời mà nay
tường xiêu vách đổ. chẳng để lại một tí gì như thế này
chăng? Thời gian năm tháng đằng đẵng chẳng chút lưu

tình!

Tôi bước trên mô đất đi tới lui trong một khoảng đất
rộng, đông tây ước chừng 100 mét nam bắc ước chừng 50
m. Ông bạn làm công tác khảo cổ đi với tôi, nói đây là tiền
điện của cung Vị Ương. Tôi không chịu bỏ ý định tìm kiếm
dấu tích lịch sử, tôi giẫm nát một vùng cỏ quanh đấy thì
phát hiện ra một số khối đá lớn dùng để kê chân cột. Cung
điện cao lớn ắt hẳn là do các khối đá này chống đỡ mà dựng
nên, rõ là tráng lệ nguy nga lắm. Thế là hứng chí lại tăng
thêm, tôi tiếp tục tìm kiếm kỹ hơn nữa, nhặt được một viên
gạch nung đời hán, chất gạch rất mịn, hoa văn hình thoi ở
mặt chính rất đẹp, đáng gọi là giai phẩm của công nghệ mỹ
thuật đời Hán. Người làm công tác khảo cổ cầm lên xem,
gật đầu khen ngợi:

- Đúng đây chính là gạch dùng xây cung Vị Ương trứ
danh rồi, giấy khắc in của nó cũng đáng giá 100 tệ kia đấy!

Niếm hứng chí vẫn còn, tôi lại lên đồi cao hơn nhìn
xuống di chỉ tiền điện thì tựa như đại điệnKim phô ngọc
hộ, Trùng hiên lâu hạm kia ngày xưa đang hiện ra trước
mặt, trong đó hơn hai ngàn năm trước biết bao là sự kiện
chính trị trọng đại diễn ra trên vũ đài lịch sử.

Đại thần nhà Hán Tô Vũ đi sứ Hung Nô bị hạ nhục
phải chăn giữ dê trong mười tám năm trời trên thảo nguyên
phía bắc, làm xong nhiệm vụ trở về và tại cung Vị Ương
này ông được triều đình tuyên dương.

34

Một phụ nữ kiệt xuất được hậu thế xưng tụng là Vương
Chiêu Quân đã không sợ tuyết lạnh, bão cát để hoàn thành
sứ mệnh hòa hiếu với Hung Nô, cũng tại cung Vị Ương này
từ biệt Trường An xuất tái.

Đại tướng quân tuổi trẻ Hoắc Khứ Bệnh chưa tròn hai
mươi tuổi cũng tại cung Vị Ương này nhận lĩnh binh phù,
dẫn binh ngựa Tây chinh đánh lại dân du mục phía bắc quấy
nhiễu hành lang Hà Tây.

Người khiến tôi nhớ lại hơn cả chính là Trương Khiên,
ông đã lập công đầu trong việc mở đường sang Tây Vực.
Cũng chính tại cung Vị Ương này ông nhận lĩnh chiếu
mệnh, hai lan đi sứ Tây Vực, thu thập được nhiều điều về
tình hình chính trị, quân sự và những sản vật, phong văn
khi trở về; và cũng tại đây ông đã bẩm báo toàn bộ lên triều
đình. Từ đó tạo ra sự giao thương mật thiết giữa các dân
tộc thiểu số Tây Vực và chính quyền trung ương và cũng
là điều kiện thống nhất Tây Vực sau này; đồng thời khai
thông con đường tơ lụa từ Trường An Trung Quốc đến Địa
Trung Hải.

Tiếng ầm ầm của chiếc máy kéo từ cánh đồng vọng lại
kéo tôi về với thế giới thực tại. Tôi chầm chậm đi trên mô
đất mà xưa kia là cung Vị Ương, vừa đi vừa nghĩ: Lịch sử
chưa hẳn đã có sự trùng lặp, nhưng sự nghiệp của tiền nhân,
đặc biệt là những bài học kinh nghiệm rất đáng cho người
đời sau ghi nhớ.

Từ biệt di chỉ cung Vị Ương lên xe đi về phía đông, tôi
để ý đến những thôn xóm ven đường, người ta dùng gạch
nung kiểu đời Hán xây tường, dùng ống gốm nung hình
ngũ giác đời Hán làm ống dẫn nước. ở Tây An gạch kiểu
đời Tần, ngói kiểu đời Hán đâu đâu cũng có, nhưng phần
lớn các bảo tàng nằm dưới đất thì hãy còn đợi khai quật.
Người ta vừa đào được một kho chứa binh khí đời Hán,

35

nhưng rất tiếc mấy ngày trước đây họ đã lấp đất lại chuẩn
bị xây phòng triển lãm nên chưa thể tham quan được.

Tôi lại tiếp tục đi về hướng đông, qua cung Trường
Lạc chốn xưa đến một khu đất trồng bông vải, xa xa nhìn
thấy tường thành sừng sững của tường thành nhà Hán, ở
giữa có một chỗ hổng khoảng khoát thì đó chính là cửa
đông của Bá thành, tức một trong số mười hai tòa cổng
thành bao quanh hoàng thành, đây là một di chỉ còn được
giữ lại.

Từ cửa Bá thành leo lên tường thành cao khoảng 10
mét, toàn bộ xây bằng đất nện, chứ không dùng gạch; xem
xét tường thành bằng đất này thấy phần đáy rộng chừng 16
mét, phần trên xe ngựa có thể đi lại được. Chỗ có lỗ hổng
ta có thể thấy rõ từng tầng, từng tầng đất nện, cả tường
thành dài hơn 22,000 mét. Thành này không biết đã dùng
bao nhiêu công lao động để đắp nền?

Ban Cố, nhà văn thời Đông Hán đã từng miêu tả quy
mô của thành Trường An đời Hán trongLưỡng đô phú như

sau:

“Thành tường cao mà rất kiên cố, có hào hộ thành sâu
mà rộng, bốn mặt có mười hai tòa cổng thành, các cổng
được nối liền nhau bằng ba con đường lớn trên mặt thành”.

Sau khi các nhà khảo cổ khai quật Bá thành, phát hiện
dấu tích của vết bánh xe, qua khảo sát có thể đây là loại xe
tứ mã, nhưng cổng thành phải thông với đường phố thì
trong ba làn đường ấy, làn giữa tức là đường của hoàng đế
ngự dụng. Cho dù đường phố rộng thoáng như vậy, nhưng
Ban Cố lại tá: “Người khó đi lại, xe khó quay đầu ...”,
nguyên nhân có lẽ là do nội thành mở mang nhiều chợ,
trưng bày nhiều loại hàng hóa, đường phố đông đúc chen
nhau nên trở thành chật chội. Rõ ràng đây là cảnh tượng
phồn vinh của thành Trường An đời Hán.

36

MỘT KINH THÀNH ĐƯỢC QUY HOẠCH CHU
ĐÁO NHẤT

Thấy tôi có hứng thú và yêu thích Trường An sâu đậm
như vậy một nhà khảo cổ học đầu đã bạc nhưng tinh thần
còn minh mẫn tên là Hạ Tân Thành nói:

- Thành Trường An đời Đường còn to lớn kỳ vĩ hơn
thành Trường An đời Hán gấp bội: Từ sau đời Đường, kinh
đô các triều đại khác chuyển về phía đông. Đời Minh đổi
Trường An thành Tây An. Ngày nay thấy tường thành và
lâu thành một cách hoàn chỉnh như vậy đều là kiến trúc của
đời Minh cả đấy.

Theo tôi, thành Tây An đời Minh thật là hừng vĩ;
nhưng khi ông Hạ Tân Thành cho xem một tấm bản đồ cũ
thì rõ diện tích Tây An đời Minh chỉ bằng 1/6 diện tích
thành Trường An đời Đường và chỉ quy vào góc thành phía
bắc mà thôi.

Ông cho biết thành Trường An đời Đường là thiết kế
tinh tế nhất của Trung Quốc, là một đô thành cổ đại có bố
cục cân đối: Nam-Bắc 8,4 km; Đông-Tây 7,9 km, tổng diện
tích là 81,48 km2: vào thế kỷ thứ VIII, IX được gọi là kinh
đô lớn nhất thế giới. Cổ thành Nại Lương của Nhật phỏng
theo thành Trường An đời Đường mà xây dựng.

Đông tây nam bắc thành Trường An đời Đường có bố
cục thẳng góc giống như một bàn cờ. Thành Lạc Dương,
thành Bắc Kinh sau này đều mô phỏng quy cách ấy. Trục
đường chính nằm giữa trung tâm thành phố là đại lộ Chu
Tước rộng đến 155 mét, một sáng tạo đầu tiên trong lịch sử
thiết kế đô thị ở thế giới cổ đại. Đại lộ rộng nhất của thành
phố lớn nhất thời La Mã cổ đại cũng chỉ có 20 mét, còn
đường phố chính của thành Hy Lạp chỉ rộng có 5 mét.

37

Một đặc sắc khác nữa là sự kiến tạo Tiểu thành trong
nội thành, gọi là phường. Cả toàn thành lập ra 110 phường,
mỗi phường có tường thành và có cổng phường, ban đêm
sau giới nghiêm, cổng thành không những phải đóng lại,
mà cổng phường cũng đóng luôn. Mỗi đêm, sau tiếng trống
ở các phường đóng lên, mọi người phải về phường mình,
cho nên có câu thơ rằng: “Lục nhau cổ tuyệt hành nhân yết”
(Tiếng trống ở các đường phố đã chấm dứt, người đi đường
phải về chỗ trú) để miêu tả tình huống này.

Thành Trường An đời Đường còn được xây 12 cổng
thành. Tôi đi thăm cổng thành phía tây nổi tiếng: Cổng
Khai Viễn. Chính ngài cao tăng Đường Huyền Trang ra
cổng thành này để đi Tây Vực, thực hiện một cuộc Tây du
dài 5000 dặm. Nhiều sứ giả phương Tây cũng vào cổng này
để đến Trường An. Ngẩng đầu ngước nhìn hoàng cung huy
hoàng xán lạn từ xa, thật đáng gọi là kỳ quan. Thời bấy giờ
người ta lấy Cổng Khai Viễn làm khởi điểm theo hướng tây
mà lập các vọng gác cho đến tận An Tây đô hộ phủ (nay
thuộc địa giới Tân Cương), cộng cả thảy 9900 dặm Trung
Hoa, căn cứ số đo thực tế ước hơn vạn dặm. Tại sao không
chiếu vào mốc đo có thực mà tính chiều dài. Có lẽ nhà cầm
quyền đương thời đoán ra tâm lý khiếp sợ cuộc vạn lý hành
của bách tính chăng? Cũng như các thương gia buôn bán
chỉ ghi thương phẩm của mình ở con số 9900 đồng vậy (để
tránh con số 10000).

Có thể nói cổng Khai Viễn chính là khởi điểm ở phía
đông của con đường tơ lụa. Nhưng rất tiếc nó bị chôn vùi
dưới cái tên đường Đại Khánh đầy cây cao bóng mát. Mỗi
lần tôi đi xe qua đây đều mở rộng mắt nhìn tứ phía, chỉ thấy
các công xưởng hiện đại, các cửa hàng buôn bán và những
viên cảnh sát giao thông trên các trục đường. Lòng tôi vẫn
cứ nghĩ viên cảnh sát giao thông kia có thể biết cái gậy chỉ
đường trong tay mình vẩy về hướng tây một cái thì chỗ anh

38

đang chỉ chính là đầu mối của con đường tơ lụa thời xa xưa
đấy. Giá như tái đây được dựng một tấm bảng đề “Đây là
điểm khởi hành của con đường tơ lụa” thì hay và thú biết
chừng nào đối với khách du lịch quan tâm đến lịch sử của
con đường nổi tiếng này!

Cách giải đáp của các học giả ngoại quốc về khởi điểm
của con đường tơ lụa không giống nhau, có người bảo ở
Đôn Hoàng, có người cho là ở Bắc Kinh, còn học giả Trung
Quốc đều đồng ý là Trường An. Tại sao vậy? Trường An
khi còn là kinh đô của Hán-Đường, thông ra cả bốn phương
tám hướng, ngoài con đường tơ lụa thông Tây Vực, thì phía
bắc có đường đi Thái Nguyên đến Bắc Kinh, phía đông có
đường đi Lạc Dương đến Khai Phong, phía nam có dường
Nhượng Phàn đi Trường Sa và theo sông Gia Lăng đến Tứ
Xuyên. Tơ lụa, trà, đồ sơn, đồ gốm … của Trung Nguyên
quy tập ở Trường An, còn Tây Vực chở đến Trường An
hàng hoá, vật tư rồi từ đấy chuyển đi khắp nơi. Do đó, lấy
Trường An làm khởi điểm của con đường tơ lụa là phù hợp
nhất.

NHỮNG KIẾN TRÚC HOA LỆ ĐỜI ĐƯỜNG

Cung Đại Minh, nơi ở và làm việc của các vua nhà
Đường là đỉnh cao của kiến trúc thời Thịnh Đường. Theo
đồ án phục chế điện Lân Đức nguyên bản nhiều màu của
các nhà khảo cổ học và các nhà kiến trúc cổ thì sự hiểu biết
của chúng ta về kiến trúc đời Đường chỉ như ếch ngồi đáy
giếng. Cung điện ấy là nơi hoàng đế ngự triều và tổ chức
yến tiệc chiêu đãi sứ thần ngoại quốc. Ba điện tiền, trung,
hậu có hình thức cấu tạo liền nhau, đây là một lối kiến trúc
ở các triều đại trước chưa hề có, phong cách hoa lệ, bố cục
khoáng đạt, vượt hẳn cả Cố cung ở Bắc Kinh vốn xưa nay
được du khách quốc tế xưng tụng.

39

Đến đời Trung Đường xây thêm cung Hưng Khánh
cũng rất to lớn, Đường Huyền Tông đã từng tiếp kiến các
tăng lữ Ba Tư tại cung Hưng Khánh này. Điện Cần Chánh
thuộc cung Hưng Khánh nay vẫn còn lưu lại di chỉ. Tôi đến
xem xét kỹ thì thấy nơi đây còn lại khoảng mười tảng đá
lớn dùng kê chân cột. Theo sách vở còn ghi lại thì tại lầu
này, Đường Huyền Tông đã ngắm xem 100 con ngựa múa
tập thể, bấy giờ người ta chỉ nghe ngựa diễn trò chứ không
biết ngựa múa như thế nào. Tôi được xem một số tượng
ngựa múa bằng đất nung khai quật được ở khu vực Tây An,
thân ngựa đeo các loại trang sức, chân đưa lên, đấu lắc lư,
tư thế có vẻ tươi tắn.

Tại di chỉ của cung Hưng Khánh, năm 1958, người ta
xây công viên Hưng Khánh rất xinh đẹp. Trong công viên,
phỏng theo ao Hưng Khánh, xây một cái hồ, nước hồ trong
xanh dập dềnh, ven hồ liễu rủ phất phơ, du khách vui thú
chèo thuyền trên hồ; còn tôi lại thích tản bộ ven hồ nhìn
ngắm và nhận ra rằng công viên này thật u nhã, tĩnh mịch
vì diện tích thì rộng lớn mà cây cối thì um tùm, đúng là một
nơi lý tưởng cho những ai ưa tĩnh lặng. Tôi tản bộ lang
thang thì lạc vào một lối đi trồng toàn cây ngô đồng, thật là
thanh tĩnh, ở đây chỉ nghe tiếng chim hót véo von. Đằng
xa, một chàng trai trẻ nằm dài trên thảm cỏ đọc sách. Nếu
mình rảnh rỗi chắc phải bắt chước anh ta.

Công viên này cũng lấy lại các danh xưng cũ trong
cung Hưng Khánh mà dựng thêm một số công trình mới
như Hoa đài thướng huy lâu, Mẫu đơn kiều, Phù dung đảo
... Tôi ngồi trước Trầm hương đình yên lặng ngắm nhìn,
bên cạnh một công nhân xây dựng có tuổi đang cùng tôi trò
chuyện. Ông hỏi:

- Cái đình này có phải là nguyên dạng của nó không?

40

Tôi làm sao biết được kia chứ? Chỉ biết là sách vở có
ghi Đường Huyền Tông đã cùng với Dương Quý phi
thưởng ngoạn hoa thược dược ở đình Trầm Hương bỗng
tâm tưởng rạo rực, truyền lệnh cho mời Lý Bạch đang say
nằm ở quán rượu đến đình Trầm Hương. Nhà thơ vừa đến
liền làm ngay ba bài “Thanh bình điệu” dâng lên. Đến nay
đọc lại, đúng là ứng cảnh sáng tác, nhưng vẫn là một bài
thơ đẹp của đại thi hào bất hủ. Họa sĩ đời Minh là Cừu
Anh, Đường Dần đã từng lấy đề tài này để vẽ tranh, tôi
chưa được xem nên không dám bình luận lan man.

CẢM KHÁI KHI LÊN “NHẠN THÁP”

Đến Tây An mà không xem hết các kiến trúc đời
Đường thì đành lòng sao được! Cho nên tôi chọn một buổi
chiều đẹp trời, gió mát, đi xem cho hết những kiến trúc nhà
Đường còn giữ được, đó là Đại nhạn tháp và Tiểu nhạn
tháp. Tháp Đại nhạn thì hùng vĩ, tháp Tiểu nhạn thì thanh

tú.

Tháp Đại nhạn nằm trong khuôn viên chùa Từ Ân, là
tòa tháp do cao tăng Đường Huyền Trang xây nên. Huyền
Trang Tây du theo con đường tơ lụa đến Ấn Độ thỉnh kinh.
Khi trở về Trường An, ngài đã từng ở và làm việc tại chùa
Từ Ân một thời gian dài để dịch kinh. Hình dáng của “Đại
nhạn tháp” không giống phần lớn các tòa tháp cổ ở các nơi
trong nước mà phỏng theo hình dáng các tháp Phật ở Ấn
Độ mà xây nên.

Gọi tên là Đại nhạn nhưng thực ra hình dáng của tháp
và chim nhạn không hề có một liên hệ nào cả, có thể đây là
do các sự tích trong kinh Phật nói Thích Ca Mâu Ni hóa
thân thành hạc mà có sự liên tưởng này chăng? Hạc và nhạn
đều là chim, nhưng người đời Đường cho rằng nhạn là loài

41

chim đẹp nhất; nói đến chim, họ thường lấy nhạn làm tiêu
biểu, cho nên có thể tháp này lấy nhạn để đặt tên.

Tôi vào tháp bằng cửa nam, ngẩng đầu nhìn những
phiến đá xanh trên các bậu cửa đều có khắc tượng Bồ tát,
tôi đứng lại rất lâu để quan sát. Những đường khắc ưu mỹ
đẹp mắt ấy ắt hẳn phải do những danh gia diệu thủ. Vào
trong tháp, tôi men theo chiếc thang gỗ hình trôn ốc để lên
cao; tháp gồm bảy tầng, tuy mệt thở hỗn hển nhưng quyết
không dừng ở nửa chừng. Qua mỗi tầng đều có thể nhìn ra
xa tứ phía bằng các cửa sổ, cảnh sắc thật là tuyệt diệu. Lên
đến tầng cao nhất, tầm mắt ta có thể nhìn rõ dãy Chung
Nam uốn lượn quanh co, nơi đây viên lăng của hoàng tộc
các đời Hán Đường tọa lạc, và dãy Bắc Sơn xa xa càng thấp
thoáng ẩn hiện. Nhìn xuống khu ngoại thành nam Tây An,
thành Văn Giáo xinh đẹp hiện ra trước mắt.

Tháp Đại nhạn cao 64 mét, toàn bộ làm bằng gạch
nung chắp ghép lại mà thành. Tháp đã trải qua hơn 1000
năm sương gió, đã từng bị rung chuyển bao nhiêu lần động
đất, đến nay vẫn nghiễm nhiên đứng vững. Tôi không phải
tín đồ Phật giáo, nhưng khi ra khỏi tháp quay đầu nhìn lại
lòng tôi không khỏi. xúc động. Tháp làm ra do tín ngưỡng
và lý tưởng tôn giáo, nhưng nó cũng là biểu tượng của tinh
thần đấu tranh kiên cường bất khuất của dân tộc.

Trong miếu đường trước tòa tháp có treo tượng khắc
Đường truyền Trang, lại càng khiến tôi tăng thêm lòng
cảm xúc. Chân mang đôi giày lụa, nhưng vừa giống giày
cỏ lại vừa giống giày vải, vai đeo những quyển kinh giá để
kinh nghiêng về phía trước, trên đó có treo một cây đèn dầu
lạc, điều này khiến người ta liên tưởng đến những công
nhân mỏ than với cây đèn trước mũi có công dung là dựa
vào ánh sáng leo lét ấy mà tiến lên mò mẫm tìm tòi trên
hoang lộ của đêm tối. Lúc Huyền Trang từ bỏ mọi khó khăn

42

để rời Trường An đi Tây Vực, ngài chỉ mới hai mươi lăm
tuổi, phải đi trên vùng cát chảy (lưu sa), phải vin theo núi
tuyết, phải vượt qua hơn 5000 dặm đường đầy gian nan, và
khi trở về Trường An thì đã trở thành vị cao tăng bốn mươi
ba tuổi. Thảo nào mà đến ngày gần kinh đô cả thành đều ra
xem. Huyền trang cổ súy Phật giáo trong thời kỳ này rất
thích ứng cho giai cấp thống trị nhưng hoàn toàn không
được tán dương. Nhưng sự truyền bá tôn giáo thường đi đôi
với giao lưu văn hóa. Về phương diện này, công của Huyền
Trang không thể không kể đến. Cho dù ngài có giỏi chữ
Phạn và đem cả vạn kinh Phật dịch ra những tác phẩm chữ
Hán ưu mỹ để cống hiến cho đời thì cũng không bằng
những gì ngài viết trong tập “Đại Đường Tây Vực ký”, đến
nay nó vẫn là một tác phẩm có giá trị khoa học cần phải
đọc đối với những nhà nghiên cứu trong và ngoài nước về
lịch sử, địa lý khu vực Trung Á, Tây Á và lịch sử giao
thương Đông Tây. Nhân đây tôi cũng xin đề cập đến một
điều là từ Đông Hán trở đi, nhiều cao tăng trong công việc
phiên dịch kinh Phật đã mượn nguyên tắc phiên âm tự mẫu
tiếng Phạn để lâm cho âm vận tiếng Hán phát triển hơn lên.

ĐÔ HỘI GIAO LƯU QUỐC TẾ PHỒN THỊNH, TẤP
NẬP

Thành Trường An đời Đường là thành phố của nhiều
dân tộc trong nước tụ cư đông nhất, có đến hơn một triệu
nhân khẩu; đồng thời sứ giả các nước lui tới thăm viếng
không ngừng và số kiều dân ngoại quốc định cư cũng mang
tính chất quốc tế của một đất đô hội. Điều này có mối quan
hệ mật thiết với việc khai thông con đường tơ lụa và con
đường thông thương trên biển.

Dân tộc thiểu số ở Trung Quốc cư trú tại Trường An
lên đến hơn một vạn hộ. Có người là học sinh thuộc dân

43

tộc thiểu số đến kinh đô học tập, có người là quan viên văn
võ phục vụ tại triều đình, cũng có người là nhạc sư, họa sĩ,
nhà khiêu vũ thuộc dân tộc thiểu số ... Các dân tộc ấy học
hỏi lẫn nhau, bổ khuyết cho nhau tạo ra một nền văn hóa
xán lạn đương thời.

Như chúng ta đều biết, nước Nhật đã phái hàng đoàn
sứ giả đến Trường An, họ đem theo nhiều lưu học sinh đến
học tập; còn các nước ở Trung Á và Tây Á cũng gởi lưu
học sinh vào quốc tử giám (tương đương đại học ngày nay).
Một số lớn người Ba Tư định cư ở Trường An, trong đó có
cả vương tử Ti Lộ Tư. Phần lớn người ngoại quốc phương
Tây định cư ở Trường An là do công tác truyền giáo hoặc
kinh doanh buôn bán. Trường An bấy giờ có hai khu phố
khu đông và khu tây. Đó là hai trung tâm mậu dịch lớn. Đa
số người ngoại quốc sinh hoạt tại khu tây. Họ không chỉ
mở “Hồ điếm” (cửa hàng của người Hồ), “Hồ đề” (khách
sạn của người Hồ) mà còn mở cả quầy rượu có gái đẹp
người Hồ phục vụ. Lý Bạch trong bài Thiếu niên hành có
câu “Lạc hoa đạp tận du hà xứ”, là nói khi ông vào một
quán rượu có gái đẹp người Hồ phục vụ.

Thương nhân Trung Á có đến hơn 1000 người buôn
bán ngay tại Trường An. Sách xưa có ghi câu chuyện về
thương nhân người Hồ giỏi đoán biết giá trị vật quý hiếm
như sau: “Ở Trường An có một tăng nhân được một vật lạ
giống như cái đinh mục, dài chừng mấy tấc, không biết là
vật gì bèn đem đến chỗ thương nhân người Hồ ở khu tây
hỏi xem. Thương nhân người Hồ cả kinh nói: “Thầy nhặt
vật này ở đâu? Tôi mua cho, nhưng chỉ nói một giá thôi
nhé!'”Tăng nhân thử đòi mười vạn đồng, thương nhân cười
lớn, bảo: “Thầy thử đòi thêm lần nữa xem!” Tăng nhân lại
đòi năm mươi vạn. Thương nhân người Hồ nói: “Vật này
đáng giá mười triệu” Tăng nhân hỏi đó là vật gì mà quý đắt

44

như vậy, thương nhân nói: “Thầy không biết thật ư? Đó là
bảo cốt đấy!” (trích trong Tây dương tạp trở).

Câu chuyện giữa thương nhân người Hồ và vị tăng
nhân không nhận biết giá trị của món hàng chưa hẳn đã có
thật, song đã có một loại truyền thuyết như vậy ắt cho thấy
khu tây Trường An tụ tập không ít nhà buôn ngoại quốc
giỏi về kinh doanh và thẩm định giá trị hàng hóa chính xác.

Ở Trường An đã tụ tập nhiều người ngoại quốc như
vậy, tất triều đình phải thiết lập Đại hồng lô viện (giống
như ngày nay là bộ ngoại giao và bộ mậu dịch đối ngoại)
chuyên xử lý công việc ngoại giao và mậu dịch quốc tế.

Các hãng buôn, các ngành nghề nước ngoài tụ tập, lai
vãng ở Trường An tất nhiên cũng truyền bá các phong tục
tập quán và văn hóa từ các nước khác đến.

Trường An đời Đường rất thịnh hành y phục của người
Hồ, ăn uống kiểu Hồ, sáo Hồ, múa Hồ ... Người Ba Tư ở
khu tây có mở “Tất la điếm” tức là một loại cửa hàng ăn
bốc bằng tay, bán các loại thức ăn thịnh hành ở Trung Á.
Bấy giờ bánh của người Hồ bán rất chạy. Lúc nhà Đường
có biến loạn, Đường Huyền Tông vội vã chạy trốn, giữa
đường không có gì ăn đành phải cho người đến chợ mua
bánh của người Hồ ăn cho đỡ đói.

Ở Tây An tôi có thưởng thức qua loại bánh bạch cát,
so với các loại bánh thường thấy thì không giống chút nào
cả, người ta dùng than đỏ nướng cả hai tầng trên dưới, giữa
bánh có một lớp dầu, nên khi bẻ bánh ra sẵn có hơi nóng
len vào thứ thịt heo mỡ đặc chế tức thì chảy ra thấm vào
bánh, ăn vào có một hương vị đặc biệt, có thể gọi theo cách
nói của người Tây An là “Tam minh trị”. Tôi đã nhiều lần
nghe nói bánh đó có quan hệ với bánh của người Hồ, nhưng
tôi chưa biết sự thật ra sao cả.

45

Trường An đời Đường còn thịnh hành môn cưỡi ngựa
đánh cầu, môn này cũng từ Ba Tư truyền sang. Bức bích
họa cưỡi ngựa đánh cầu trên mộ thái tử đạo sĩ Chương Hoài
ở Càn Lăng là bức vẽ rất sinh động. Tôi thấy trên bức bích
họa với màu sắc tuyệt mỹ đó vẽ một số người cưỡi ngựa
tay cầm trường bổng đang tranh nhau đánh một quả cầu.
Thời bấy giờ, văn nhân, họa sĩ đều biết môn thể thao này.
Sinh đồ đậu tiến sĩ, sau buổi tiệc khánh chúc thường tổ chức
cuộc cưỡi ngựa đánh cầu ở phía nam ngoại thành.

Vào đời Đường, trong ngoài giao vãng nhộn nhịp, phần
lớn chim quý, thú hiếm, cây hay cỏ lạ từ nước ngoài đều
chuyển đến Trường An. Khu ngoại thành có mở vườn rừng
để nuôi thả voi, sư tử, đà điểu ... từ nước ngoài đưa vào, rồi
trồng thêm những hoa lạ cây quý đến hơn 2000 loài. Đây
là một vườn động thực vật rất rộng lớn.

Việc mua ngựa quý từ Trung Á vào Trường An là một
việc quan trọng bậc nhất. Một con ngựa tốt thường đổi mất
40 tấm lụa, mỗi lần mua ngựa có đến cả ngàn con.
Theo Tân Đường thư - binh chí ghi lai thì từ năm 627 đến
năm 665, triều đình nhà Đường trực tiếp khống chế một số
ngựa từ 5,000 con lên đến 75,600 con. Nhiều bãi chăn thả
ngựa được mở ra ở phụ cận Trường An và dọc hành lang
Hà Tây. Do đó, phần lớn mộ chí đời Hàn Đường khai quật
được đều cô ngựa đồng, ngựa đất nung theo dáng ngựa Tây
Vực; điều đó phản ánh nghề nuôi ngựa thời bấy giờ rất phát
đạt.

Đến như các loại thực vật ngoại nhập cũng có ít nhiều,
tôi đã từng tra khảo qua Bổn thảo cương mục của Lý Thời
Trân, thấy có kê đầy đủ chừng 28 loại thảo mộc từ xa đến,
đa số đều có quan hệ mật thiết đến đời sống nhân dân. Ví
dụ như đường cát thì nguyên liệu mía đường Trung Quốc
vẫn có, nhưng cách chế biến thì từ Tây Vực đưa sang,

46

Đường Thái Tông sai người ghi chép cách chế biến ấy để
truyền bá. Theo Bổn thảo cương mục, trước đó chỉ biết
uống nước mía, về sau mới bắt chước người Tây Vực làm
ra đường cát, đường phèn.

Người Trung Quốc cổ đại đã phát minh ra thuốc nổ,
chế ra giấy truyền bá việc nuôi tằm dệt tơ, luyện sắt... Đối
với nhân loại rõ ràng là những cống hiến vô cùng to lớn;
mặt khác, họ cũng tiếp thu ảnh hưởng của nước ngoài từ
văn hóa kinh tế đến sinh hoạt thường nhật của nhân dân,
đem lại những lợi ích thiết thực không nhỏ.

Nhà sử học quá cố Phạm Văn Lan khi luận về nền văn
hóa đời Đường đã để lại cho chúng ta những kiến giải khiến
mọi người phải suy nghĩ, tôi xin ghi ra dưới đây để kết luận
cho chuyến đi thăm Trường An cũ của tôi:

“Lấy Trường An, thủ đô nhà Đường làm trung tâm,
giữa các dân tộc ở Trung Quốc và giữa Trung Quốc đương
thời với các quốc gia trên thế giới đã hình thành một cảnh
tượng rộng lớn trong việc giao lưu văn hóa. Điều đó hoàn
toàn phù hợp với nhu cầu của con người. Văn hóa nhà
Đường vốn đã phồn vinh, lại hấp thu văn hóa nước ngoài
mà thêm phong phú, nhiều sắc thái. Văn hóa nhà Đường
truyền đến các nước đông tây lại có tác dụng thôi thúc văn
hóa của họ phát triển. Tất nhiên các loại văn hóa cần lấy ưu
bù khuyết, hỗ tương qua lại. Cưới vợ tất người khác họ, trai
gái cùng họ sanh đẻ không nhiều, giao lưu văn hóa cũng
vậy; cho nên việc giao lưu càng rộng rãi, sự phát triển càng
phong phú. Văn hóa nước mình truyền xa nước ngoài
không được tự kiêu, văn hóa nước ngoài nhập vào nước
mình không phải tự ti. Văn hóa của một nước nào đó là
những gì đặc sắc của nước đó đã hấp thu được. Loại sản
phẩm du nhập vào này tức là những gì người tiếp thu vốn
đã có sẵn. Ví như khi người ta ăn thịt heo, sau khi tiêu hóa

47

sẽ biến thành máu thịt của người, chứ có ai nghi ngờ rằng
người ăn thịt heo thì máu thịt của anh ta lại là máu thịt của
heo bao giờ đâu!”

48

4. HANG ĐÁ Ở MẠCH TÍCH SƠN

Rời Tây An, tôi men theo sông Vị để về hướng tây.
Nước sông chảy mạnh, đoàn tàu của chúng tôi khi thì rẻ
trái, khi thì rẻ phải. Lòng sông hẹp mà sâu, dọc hai ven sông
có đường đất kéo dài liên tu bất tận. Tôi chú mục đến dòng
nước đục ngầu, hỗn loạn và con đường đất ven sông, bỗng
suy nghĩ: có phải đây là con đường mà vị cao tăng Huyền
Trang đời Đường đi thỉnh kinh chăng? Có Phải chính con
sông này Trương Khiên đời Hán trên đường đi Tây Vực
cho dừng ngựa uống nước ở đây chăng?

Tiếng đoàn tàu lăn đều đưa tôi vào giấc ngủ, khi thức
dậy thì đã đến nơi muốn đến: Thiên Thủy, Tàu đã chạy
được 328 cây số. Trên đường đi, tàu phải xuyên đường
hầm, qua cầu, phải leo dốc quanh co khi vượt qua đèo, do
đó tốc độ rất chậm so với khi chạy trên đường bằng phẳng
ở bình nguyên.

Trạm hỏa xa này là ga Thiên Thủy. Thiên Thủy ngày
xưa nằm cách thành phố Thiên Thủy ngày nay 50 cây số về
phía tây nam, hiện nay là một thành phố có nền công nghiệp
tân tiến xếp vào hạng thứ nhì ở tỉnh Cam Túc. Cả thành phố
có đến 109 công xưởng, toàn cơ giới hóa và điện khí hóa.

Thiên Thủy cổ đại gọi là Tần Châu. Lai lịch của danh
xưng này cùng với tổ tiên của Tần Thủy Hoàng lập quốc
buổi đầu có mối quan hệ. Thời xa xưa, vào khoảng thế kỷ
thứ IX trước CN, tổ tiên của vương triều nhà Tần là Doanh
Phi Tứ đã giúp Chu Hiếu Vương coi việc chăn thả ngựa ở
Thiên Thủy có công lớn và được phong đất ở Thiên Thủy,
Tần An, Thanh Thủy được kiến lập thành chư hầu Tần
quốc. Về sau, nước Tần mở rộng thêm về phía đông, và
đến thế kỷ thứ III trước CN, nhà Tần thống nhất Trung

49

Nguyên lập thành một đế quốc rộng lớn có nền hành chánh
trung ương tập quyền đầu tiên ở Trung Quốc.

Thời Tây Hán, Thiên Thủy có tên là huyện Thượng
Khuê, thuộc quận Lũng Tây. Trương Khiên hai lần sang
Tây Vực đều có qua Lũng Tây, cho nên rất có thể Trương
Khiên đã qua Thiên Thủy. TheoĐại Từ Ân tự Tam Tạng
Pháp sư truyện (truyện Đại Pháp sư Tam Tạng chùa Tư
Ân) thì Huyền Trang sau khi ra khỏi Trường An, “qua Tần
Châu và nghỉ lại ở đấy”. Như vậy Thiên Thủy ở trên đoạn
chính của con đường tơ lụa là điều không còn nghi ngờ gì
nữa.

Thời cổ đại, Thiên Thủy còn là nơi từ Trung Nguyên
đi Tây Vực theo hướng tây nam nữa. Thời Tam quốc, thừa
tướng nhà Thục Gia Cát Lượng nhiều lần xuất binh từ Tứ
Xuyên đi đánh Ngụy, đã từng lập đồn lũy gần Thiên Thủy
để chống lại Tư Mã Ý. Ngày nay, khu ngoại thành phía
đông của Thiên Thủy còn có một mô đất, người ở đấy gọi
là quân lũy của Gia Cát Lượng, tương truyền rằng đây là
nơi Gia Cát Lượng đã bố trí trận đồ.

Nhà thơ Đỗ Phủ đời đường, khi chạy tị nạn An Lộc
Sơn từ Trường An đến Thành Đô có đi qua Thiến Thủy,
ông trú lại nhà người cháu là Đỗ Tá khoảng ba tháng, có để
lại hai mươi bài thơ làm khi ở Tần Châu, trong đó có các
câu thơ như: “Dịch đạo xuất Lưu Sa” và “Lâm trì hảo dịch
đình” thì “Lưu Sa” là tên cũ của xứ Tây Vực. Ở đây Đỗ
Phủ nói đến “dịch đạo” và “dịch đình” rõ ràng là muốn chỉ
đường ngựa chạy và trạm đổi ngựa trên con đường tơ lụa
khi qua Thiên Thủy.

Đỗ Phủ có bài “Sơn Tự” khi ông ở Tần Châu như sau:

Dã tự tàn tăng thiểu,

Sơn viên tế lộ cao.

50

Xạ hương thiên thạch trúc,
Anh vũ trác kim đào.
Loạn thủy thông nhân quá,
Huyền nhai trí ốc lao.
Thượng phương trùng các vãn,
Bách lý kiến thu hào.
Tạm dịch:
Chùa quê tàn sư hiếm,
Núi tròn đường hẹp cao.
Chồn hương bên thạch trúc,
Anh vũ mổ kim đào.
Người qua con nước chảy,

Nhà xây vách núi cao.
Chiều chiều lên trùng các,
Trăm dặm thấy thu hào.
Đỗ Phủ làm bài thơ trên khi đi chơi núi Mạch Tích.
Chính khi đi xem nghệ thuật khắc tượng nổi tiếng trong các
hang đá ở núi Mạch Tích mới lĩnh hội được những gì nhà
thơ miêu tả trong bài thơ này là rất chân thật.

CỨ NGỠ ĐÂY LÀ CÔNG VIÊN QUỐC GIA
Theo hướng đông nam Thiên Thủy đi chừng 60 cây số
thì đến địa đầu phía tây của dãy Tần Lĩnh. Men theo các
hẽm núi, xuôi theo những con suối mà đi, rồi chuyển qua
một khe núi thì thấy giữa đất bằng nổi lên một ngọn núi kỳ
dị có hình một quả chùy, giữa phình to, phần đáy nhỏ hơn,

51

hình dáng của nó trông giống như đụn rơm của những nông
gia nên gọi là Mạch Tích nhai hay Mạch Tích sơn (núi có
hình như đụn rơm lúa mạch). Dưới chân núi có một ngôi
chùa cổ, nay thuộc Sở Bảo tồn hang đá Mạch Tích sơn.

Trong số những hang đá nổi tiếng của Trung Quốc, thì
chu vi phong cảnh hang đá ở Mạch Tích sơn là nơi đẹp
nhất. Chung quanh là núi non trùng điệp, đỉnh núi mây mù
bao phủ, trên núi đầy các loại cây xanh thẳm quanh năm
như hoa sơn tùng, bạch bì tùng, tuyết tùng, tử bách, xuân
thọ. Tôi bỗng thấy một đám tuyết mỏng, sáng sớm tinh mơ
trong vùng trắng bạc ấy, tôi lại phát hiện ra từng chùm trái
màu đỏ trên cây không biết tên gọi là gì, trông giống như
những viên kim cương đỏ thẳm, long lanh rất đẹp. Người
ta nói chung quanh núi đầy cả hoa quỳnh, hoa đỗ quyên, và
rất nhiều loài hoa dại không tên khác. Xuân về núi đồi ở
đây khoác lên mình chiếc áo màu thật hoa lệ.

Đây còn là vùng giáp ranh của rừng nguyên thủy, trong
những cánh rừng rậm đó còn không biết cơ man nào là
những động vật hoang đã. Thơ Đỗ Phủ có câu: “Xạ hương
thiên thạch trúc, Anh vũ trác kim đào” (nghĩa là chồn
hương nằm ngủ trên cây thạch trúc, chim anh vũ mổ ăn
những trái kim đào). Thạch trúc vốn có rất nhiều ở Tứ
Xuyên, nở hoa màu xanh; còn kim đào là giống cây nhập
từ nước Khang bên Tây Vực. Ngày nay, trong rừng rậm ấy
có cả lẫm lộc, báo và gấu. Anh vũ tuy rất khó thấy, nhưng
thỉnh thoảng trong chốn núi rừng tĩnh mịch này vẫn nghe
được tiếng hót lanh lảnh của chúng.

Đến chân núi Mạch Tích, ẩn mình trong vòng vây của
núi, ta cảm nhận được cái mát mẻ đầy thích thú, trong khi
đó tưởng tượng đến cái nóng ghê người ở tây bắc thì thật
là khác biệt. Trước mắt, xa xa kia là dãy Tần Lĩnh, dòng
nước bên này núi chảy ra Vị Thủy và hội nhập vào sông

52

Hoàng Hà; còn bên kia núi là hệ thống nước sông Gia Lăng
thuộc lưu vực Trường Giang. Thảo nào mà nơi tôi đang ở,
tuy thuộc vùng tây bắc nhưng khí hậu lại hơi giống vùng
tây nam, ôn hòa mát mẻ, cây cối sinh sôi nẩy nở tốt tươi.

Có người đề nghị lấy hang đá núi Mạch Tích làm trung
tâm, thiết lập một công viên quốc gia bao gồm chu vi vành
đai của núi non và rừng rậm nguyên thủy. Giá như điều
tưởng tượng ấy được thực hiện thì đối với khách du lịch
trong và ngoài nước thật là một điều đáng mừng.

Điều tôi thấy được trong các hang đá ở Mạch Tích sơn
trên con đường tơ lụa mà tôi đang tìm hiểu là một đóa hoa
nghệ thuậ cực kỳ đặc sắc. Đi từ Cam Túc đến Tân Cương,
dọc đường có rất nhiều hang đá với dấu ấn của Phật Giáo.
Chúng là dấu tích của tôn giáo này từ Tây Vực truyền vào
Trung Nguyên, đồng thời cũng là kho báu của nhân loại đã
sáng tạo được thông qua sự tiếp thu và dung nạp nền văn
hóa từ phương Tây đến của người Trung quốc, trong đó
nghệ thuật Đôn Hoàng là nổi danh hơn cả. Nhà mỹ thuật
nổi tiếng Lưu Khải Cừ nói: “Nếu Đôn Hoàng là trung tâm
hội họa lớn của bích họa thì Mạch Tích sơn là trung tâm
điêu khắc tượng lớn của các triều đại ở Trung Quốc”. Du
lãm ở Mạch Tích sơn ba ngày, tôi rất đồng ý với lời đánh
giá của nhà điêu khắc ấy.

MỘT TRUNG TÂM ĐIÊU KHẮC LỚN CỦA
PHUƠNG ĐÔNG

Mạch Tích sơn là do đá dăm tạo thành. Mặt đá sắc như
dao, chĩa lên chĩa xuống cao đến 142 mét. Đứng cách xa
một cây số chúng ta có thể thấy trên vách đá cheo leo sừng
sững một nhóm tượng đồ sộ. Ở giữa là một vị Phật ngồi cao
đến 50 mét, tả hữu là hai vị Bồ tát đứng hầu. Nhóm tượng

53

cao lớn kỳ vĩ ấy là những tác phẩm thuộc đời Tùy (581-618
CN).

Ngoài nhóm tượng được điêu khắc trên vách ấy ra, ở
Mạch Tích sơn còn có hơn 7000 bức tượng bằng đất nung
rải rác trong 194 hang động. Giữa lưng chừng núi của các
hang động này người ta đã xuyên núi, có bắc thang gỗ và
đường lát gỗ (sạn đạo) để thông nhau.

Hang đá lớn nhỏ không đồng đều, cái nhỏ chỉ một
người vào lọt, cái lớn giống dạng một ngôi chùa lớn. Gọi
là “Gác bảy vị Phật trên lầu rải hoa” cách mặt đất 5 mét
nằm lưng chừng vách đá do con người đục mở mà thành.
Lên gác “Bảy vị Phật” như đi vào huyễn cảnh của một khu
vực giữa không trưng, đứng từ trong hang núi nhìn xuống
thấy đàn dê xa xa trông nhỏ như' đàn kiến. Hang động cỡ
lớn như hang “Gác bảy vị Phật” ở Mạch Tích sơn có đến
năm, sáu tòa như vậy.

Ở Mạch Tích sơn còn có hơn 7000 bức tượng nặn bằng
đất, bao gồm các tác phẩm từ đời Nam Bắc triều, Tùy,
Đường, Ngũ Đại đến đời Tống, mà với một thời gian ngắn
ngủi trong ba ngày không thể thưởng ngoạn cho hết được.
Trong rừng tượng điêu khắc quý giá này, tôi bồi hồi như
đang đắm chìm trong một viện bảo tàng điêu khắc tượng
phương Đông và đã bị thứ nghệ thuật siêu quần này chinh
phục. Đứng trước mỗi một bức tượng kiệt xuất, trên dưới
trái phải đều rõ ràng, thật khó mà dứt đi cho được.

MỈM CƯỜI GIỐNG NÀNG MONA LISA

Ngày tham quan đầu tiên khi vào đến hang thứ 44,
ngẩng nhìn một bức tượng Phật, lập Tức đã thu hút tầm mắt
của tôi. Đó chẳng phải là một bức tượng có bộ mặt trang
nghiêm đến độ khiến người ta “kính nhi viễn chi” mà là

54

một vẻ mặt rạng rỡ nét thanh xuân chói lọi, giữa hai hàng
lông mày như lấp lánh cái linh khí của một con người thanh
thoát an nhiên. Đôi mắt như vừa khép vừa mở kia đang
trong trạng thái trầm tư, hồi tưởng, chẳng khác nào đã ngộ
được chân lý của thế nhân. Hai má và khóe miệng lộ ý cười
vừa thần bí vừa thân thiết. Ngài chẳng khác nào một vị học
thức uyên bác, một học giả ngộ đạo sâu xa những không có
chút gì là kiêu căng tự mãn. Thần thái khiêm hòa ấy khiến
cho những người thấp kém, thiển bạc không phải sợ sệt,
dám đến cật vấn mà không hề sợ bị đối đãi bạc bẽo.

Nét mỉm cười của bức tượng Phật này khiến tôi nghĩ
đến lời bình luận về tượng Phật ngồi thời Bắc Ngụy hang
thứ 259 tại Mạc Cao của chuyên gia nghệ thuật Đôn Hoàng
Thường Thư Hồng. Ông nói, nét mỉm cười của tượng Phật
này giống như cái mỉm cười của nàng Mona Lisa. Theo
thiển kiến của tôi, nét cười mỉm của tượng Phật ngồi đời
Bắc Chu ở hang động thứ 44 tại mạch Tích sơn cũng có thể
so sánh với nét cười mỉm của nàng Mona Lisa dưới nét vẽ
thần kỳ của Léonard de Vinci. Đó là một thứ gợi ý cho con
người hàng loạt những liên tưởng mỹ diệu về nét mỉm cười
ấy. Sau đó, tại rất nhiều hang động ở Mạch Tích sơn, tôi
đều thấy nét mỉm cười như thế. Có tượng thì lộ ra ở đôi má
của các vị bồ tát, có tượng thì đậu lại trên môi của các tì
kheo. Ngày nay tưởng nhớ lại, tôi cảm nhận ra được sức
hấp dẫn của những nét cười ấy.

Trên các khám thờ phật, tượng được tạo ra rất trang
trọng và nghiêm túc, tại các hang đá ở Mạch Tích sơn, có
không ít những tượng Phật có tư thái ưu mỹ, lối tạo hình
rất sinh động, thoát ra ngoài phép tắc của tôn giáo và khuôn
khổ của tính ước lệ, đó cũng là điều nằm ngoài suy nghĩ
của tôi.

55

Điều khiến tôi kinh ngạc nhất là ở hang thứ 121 có một
cặp tượng đệ tử và bồ tát dựa sát vào nhau. Theo cách tạo
hình thì có là một đôi nam nữ hồn nhiên vô tư, miệng kề tai
đang tỉ tê trò chuyện, trông thật hạnh phúc. Ho hoàn toàn
không giống như đang luận bàn về những gì cao thâm của
Phật pháp mà giống như đang thổ lộ bí mật nỗi lòng của
nhau, không hề để ý đến những người chung quanh. Vì sao
nhà nghệ thuật vô danh cổ đại lại muốn nặn một cặp tượng
nam nữ trong tư thế thân mật đặt tại bàn thờ Phật trang
nghiêm như vậy? Vì sao một triều đại có đông đồ đệ Phật
tử thành kính và có các vị la hán nghiêm trang đạo mạo như
vậy lại chấp nhận cho một đôi nam nữ đầy dáng vẻ hạnh
phúc chiếm một chỗ ngồi vĩnh hằng trên bàn thờ Phật? Tôi
không biết gì nhiều về Phật học, dù có suy nghĩ bao nhiêu
cũng không có lời kiến giải.

SỰ TẠO RA NƯỚC PHẬT VÀ SỰ ĐỒNG TÌNH
CỦA NHÂN DÂN

Trong khoảng thời gian chỉ có ba ngày mà tìm hiểu về
cấu tạo bàn thờ Phật, về các đặc trưng tạo hình qua các triều
đại, về sự thịnh suy của Phật giáo và về sự phát triển nghệ
thuật ở các hang động v.v... tôi không thể tìm hiểu, thảo
luận những vấn đề chuyên môn có tính nghệ thuật ấy được.
Tôi chỉ gặt hái một điều, đó là sự lĩnh hội một quy luật có
ý nghĩa: Phần lớn những tượng trong các hang đá ở Mạch
Tích sơn, tuy thể theo nhu cầu tôn giáo mà tạo ra các tượng
Phật, song lại phản ánh sâu sắc sự đồng tình của nhân thế.
Tại sao Phật giáo Trung Quốc thời bấy giờ chưa thịnh hành
và tín đồ Phật giáo cũng còn quá ít mà nghệ thuật Phật giáo
lại có sức cảm thụ mạnh mẽ như vậy? Cái quy luật e rằng
chính là chỗ đấy.

56

Số lượng bích họa trên các vách đá ở Mạch Tích sơn
tương đối ít nét đặc sắc chính vẫn là khắc tượng. Bất kể số
lượng và chất lượng đều có thể sánh ngang với các hang
động ở Mạc Cao - Đôn Hoàng. Hầu hết những tượng khắc
chạm đều biểu hiện tình cảm hỷ nộ ai lạc của thế nhân, thật
là hoàn hảo.

Trước hang thứ 165 là tượng một người đàn bà đang
cúng dường thuộc đời Tống, tôi xem qua xét lại? thật đáng
khen ngợi. Nàng hoàn toàn không giống hình tượng lý
tưởng của thủ pháp tạc tượng cổ điển của các nhà nghệ
thuật mà giống như tác phẩm của một con người thật nào
đó làm mẫu để sáng tạo; rất có khả năng người ta tả chân
lại một nữ chủ nhân nào đó đã quyên tiền đục ra hang động
thứ 165 này. Tại sao dám cả quyết như vậy? Vì tôi cảm
nhận cái cá tính mạnh mẽ toát ra từ bức tượng ấy. Hai hàng
lông mày và hai khóe mắt ngoài của nàng hơi nhếch lên
một tí, hai bàn tay nắm chặt để trước ngực lộ ra dáng vẻ
sân hận, nàng tuy không hở môi, song giống như đang nói
một đều gì. Đứng trước mặt nàng, ta không nghe thấy thanh
âm của nàng nhưng hoàn toàn có thể biết được những uẩn
khúc trong lòng nàng. Thông qua một con người như nàng
ta hầu như được hàng ngàn hàng vạn phụ nữ bị xiềng xích
ràng buộc dưới chế độ phong kiến. Theo cách phục sức mà
phán đoán, thì cho dù nàng thuộc tầng lớp xã hội thượng
lưu nhưng điều đó cũng không loại trừ nàng cũng chỉ là vật
hy sinh của xã hội phong kiến đáng nguyền rủa.

Hang đá ở Mạch Tích sơn là nơi mà lần đầu tiên tôi
được thấy chùa hang động Phật giáo trên con đường tơ lụa.
Dọc đường, tôi sẽ còn thăm viếng hang đá ở chùa Bính
Linh, chùa Mã Đề, hang Thâu Lâm, hang Mạc Cao, hang
Ba-Tư-Khắc-Lý-Khắc, hang Khắc Tư Nhĩ v.v... Vì sao trên
con đường tơ lụa lại xuất hiện nhiều hang động Phật giáo
như vậy? Nghệ thuật Phật giáo huy hoàng có quan hệ gì

57

với con đường tơ lụa được khai thông chăng? Tôi sẽ vừa
xem xét vừa thỉnh giáo các chuyên gia để tìm cho ra lời giải
đáp tương đối thỏa đáng.

LỊCH SỬ CỦA MỘT CÂU CHUYỆN AI OÁN

Phật giáo Ấn Độ ra đời vào thế kỷ thứ V trước CN, đến
khoảng thế kỷ thứ I CN, tức đầu đời Đông Hán, Phật giáo
được truyền nhập vào Trung Quốc, bấy giờ con đường tơ
lụa đã được khai thông. Phật giáo đồ xứ Tây Vực theo cùng
với thương nhân của họ mà vào Trung Quốc, đem theo
những kinh Phật. Thời Đông Hán, dải đất Trung Nguyên
đã có một ít chùa chiền, chủ yếu là tôn giáo tín ngưỡng của
các thương nhân người Hồ. Nhưng bấy giờ luật pháp Trung
Quốc không cho xuất gia tu hành. Đến thời Tây Tấn thập
lục quốc (265-493 CN), nhân dân thuộc lưu vực sông
Hoàng Hà trải qua một thời kỳ dài tao loạn, chiến chinh,
luôn bị vây hãm trong khói lửa đao binh, nên Phật giáo có
đất để gieo mầm truyền bá, lại thêm những kẻ thống trị vì
lợi ích của bản thân mà đề xướng hơn nữa, thế là chùa Phật
và lễ Phật ở các hang động theo đó mà phát triển. Và hang
Phật ở Mạch Tích sơn được kiến lập trong một thời đại như
vậy.

Niên đại kiến lập chính xác thì khó mà khảo chứng
được. Căn cứ Lương cao tăng truyện (truyện về các vị cao
tăng đời nhà Lương) ghi chép thì năm 402 CN, có hai vị
cao tăng là Thích Huyền Cao và Đàm Hoằng ẩn cư tại
Mạch Tích sơn cùng với đệ tử ước khoảng 300 người. Như
vậy lúc này Mạch Tích sơn là trung tâm Phật giáo có
hơn 300 thầy tăng và đệ tử. Niên đại sáng lập của nó có lẽ
phải sớm hơn. Theo các chuyên gia suy đoán thì không
muộn hơn sự với các hang động ở Mạc Cao - Đôn Hoàng,
tức khoảng thế kỷ thứ IV CN.

58

Đến thế kỷ thứ Vi CN thì chứng cứ lưu lại tương đối
nhiều hơn. Chẳng hạn như hang thứ 25 có ghi chép lưu lại
vào năm 502 CN, hoặc hang gác bảy vị Phật trên lầu rải
hoa đã nói ở trên thì có bài văn biền ngẫu đời Ngụy Tần do
Dũ Tín soạn vào năm 563 CN có tên là Tần Châu Thiên
Thủy quân Mạch Tích sơn Phật khám minh tịnh tự (Bài
minh và bài tựa về khám thờ Phật ở Mạch Tích thuộc quận
Thiên Thủy, Tần Châu), nguyên bia đã mất, nhưng toàn văn
thì còn. Ngoài ra, niên đại bắt đầu đục hang thứ 43, xem
trong Bắc sử có ghi năm 540 CN. Về hang động này có một
cây chuyện ai oán được ghi lại.

Thời Nam Bắc triều, vương triều Bắc Ngụy thuộc tộc
Tiên Ti bị phân liệt thành Đông Ngụy và Tây Ngụy. Hoàng
đế đời thứ nhất của Tây Ngụy là Ngụy Văn Đế cưới Ất Phật
Thị và phong làm Văn hoàng hâu. Bà là người xinh đẹp,
điềm đạm, nhưng rất giản dị chất phác, ưa ăn chay, không
ham ngọc ngà châu báu, khiêm tốn hiền hậu đối với mọi
người, rất được Văn Đế sủng ái. Bà sinh mười hai người
con gái nhưng đều chết yểu cả, chỉ còn lại một thái tử đang
nhậm chức chế sử ở Tần Châu, xưng là Vũ Đô vương.

Tây Ngụy Văn Đế vừa mới lập quốc lại muốn chinh
phạt Đông Ngụy. Nhưng nước Nhu Nhiên ở phương bắc
quấy phá biên giới bèn dùng kế kết thân, cưới con gái của
nước Nhu Nhiên lập làm Điệu hậu và phế hoàng hậu Ất
Phật thị sủng ái của mình giam vào biệt cung, về sau bà
xuất gia thành ni cô. Điệu hậu do hoài nghi đố kị nên buộc
Văn Đế phải đưa Ất Phật thị đến Tần Châu ở với thái tử,
nhưng nhà vua truyền mật lệnh cho Ất Phật thị phải để tóc
lại với ý định là sau này sẽ đưa trở lại kinh đô. Thế nhưng
dù là mật lệnh vẫn cứ truyền được ra ngoài.

Năm 504 CN, nước Nhu Nhiên cử binh xâm chiếm Tây
Ngụy. Có người bản có sự là do Điệu Hậu hiềm nghi ganh

59

ghét Ất Phật thị mà ra. Văn Đế thở dài nói: “Thiên hạ há
dám khởi binh hàng vạn cũng chỉ vì một người đàn bà
chăng? Đã có lời bàn bạc truyền đi như thế thì ta còn mặt
mũi nào mà nhìn tướng soái thủ hạ của ta nữa!” Thế rồi bên
chịu đựng nỗi đau xé lòng của mình sai sứ đến Tần Châu
ban sắc lệnh buộc Ất Phật thị tự vận. Ất Phật thị gạt lệ nói
với sứ giả:

- Mong hoàng thượng sống lâu muôn tuổi, trăm họ an
khang, tôi chết cũng không hận.

Rồi cho mời thái tử đến nói lời vĩnh quyết lời lẽ thê
thảm, tả hữu đều kêu khóc thất thanh, không dám ngước
nhìn. Ất Phật thị lo lắng chuyện hậu sự xong, vào phòng
ngủ, cuốn kín chăn đệm mà chết, bấy giờ bà chỉ mới ba
mươi mốt tuổi. Thái tử Vũ Đô vương tạc bàn thờ táng mẹ
ở Mạch Tích sơn xưng là “Tịch lăng". Về sau Văn Đế chết,
triều thần theo di nguyện truyền lại của Văn đế đưa mộ Ất
Phật thị ra khỏi Mạch Tích sơn cùng táng với ông ở Vĩnh
lăng. Hiện nay, tại Mạch Tích sơn, hang thứ 43 vẫn còn
thấy rõ dấu tích của huyệt mộ. Hang động này trước sau có
hai khám thờ, khám sau là chỗ đặt quan tài, khám trước có
tượng hình, theo các chuyên gia khảo chứng thì hợp với
quy cách lăng mộ hậu phi thời cổ đại.

Hiện nay hang đá ở Mạch Tích sơn đang được tiến
hành công trình gia cố đồ sộ, tạm thời không mở cửa cho
hầu hết du khách trong và ngoài nước. Đá của ngọn núi này
tương đối giòn và xốp; lại thêm trải qua hàng triệu năm nên
điều kiện tự nhiên bị phong hóa, rồi động đất, rồi con người
hủy hoại ... khiến cho vách đá xuất hiện nhiều vết nứt. Nhà
nước đã bỏ ra một số tư kim lớn, dùng thép, xi-măng và
dung dịch cao phân tử tiến hành gia cố công trình, đồng
thời cũng phỏng theo đường sạn đạo trước đây tu tạo lại

60

cho an toàn và đẹp mắt để tiện cho khách du lịch lên núi
tham quan toàn bộ các hang động.

CHUYỆN TRÒ VỚI CÔ CÔNG NHÂN THỦ CÔNG
NGHỆ

Trong nhà khách của Sở Bảo tồn Mạch Tích sơn, tôi
thấy có một bức bình phong bằng sơn mài rất tinh tế nhưng
cũng rất nhã, tương xứng với không khí nghệ thuật ở hang
động. Đó là tác phẩm nghệ thuật sơn mài về thành phố
Thiên Thủy. Khi trở lại thành phố Thiên Thủy, tôi đến thăm
xưởng công nghệ sơn mài xuất khẩu cho hơn ba mươi nước
trên thế giới.

Sơn mài là công nghệ cổ xưa của Trung Quốc, tương
truyền rằng đời nhà Thương cách nay khoảng 3000 năm đã
có công nghệ chế tác mâm và thau chậu sơn mài rồi. Năm
1916, công nghệ này mới truyền đến Thiên Thủy. Dãy rừng
rậm nguyên thủy phụ cận có giống cây sơn, chúng cho ra
chất sơn rất tốt. Công nghệ sơn mài truyền thống nằm sát
nách thị trấn trên đường giao thông quan trọng tây bắc - tây
nam này trở nên phát triển, trình độ nghệ thuật của nó chỉ
đứng sau nghệ thuật sơn mài Phúc Kiến mà thôi.

Hiện nay, sản phẩm hàng loạt của xưởng công nghệ
sơn mài này là bình phong và bàn. Màu sơn đen nhánh trên
mặt bàn phát sáng giống như tấm kính có thể soi mặt được,
sờ lên nó trơn mịn như sờ lên da của một đứa bé bụ bẩm.
Mặt bàn có một ưu điểm nữa là chịu nóng rất tốt. Chén trà
đang bốc hơi có thể tùy tiện để lên mặt bàn mà không sợ
hư hoặc có quầng. Một nghệ nhân lão luyện nói với tôi
muốn mặt bàn sơn mài bền đẹp cần phải phết mười ba,
mười bốn lần, và lớp sơn phải dày đến một milimét, do đó
mới có thể nạm khảm, điêu khắc lên mặt được. Dùng đá

61

quý, ngà voi, xà cừ ... nạm khảm hình người, vật, hoa, chim,
cá v.v... trông thật là tinh xảo đẹp mắt.

Tôi đi khắp toàn xưởng bao gồm các phân xưởng đồ
mộc, sơn dầu, thiết kế, và tôi đứng lâu hơn ở phân xưởng
thiết kế. Dưới bàn tay tài hoa của các nam nữ công nhân
trẻ, xuất hiện hàng loạt ngườ, vật đầy thần thái khiến ta đặc
biệt chú ý.

Tôi đứng sau một nữ công nhân trẻ, nhìn tay cô cầm
một miếng ngà voi đưa vào một cái dao mài đang quay tít,
không lâu sau thành ra cái khung của một khuôn mặt người,
một hồi nữa thì hiện ra diện mạo thanh tú và cuối cùng là
những sợi xanh li ti. Cô thấy tôi có vẻ thích thú bên nhặt ra
trong đống thành phẩm bên cạnh có mấy đầu hình người
bằng ngà voi để trước mặt tôi, chỉ vào đầu tượng của một
người đàn ông và nói:

- Trông hắn ta buồn cười nhỉ!

Tôi đặt vào lòng bàn tay xem xét kỹ. Đúng là thấy lão
ta trừng đôi mắt tròn xoe hai má lộ vẻ dáng cười sảng khoái,
râu ria dài che khuất cặp môi tựa hồ như bị tiếng cười ha
ha đang phất phơ rung động.

Tôi nói:

- Lão ta cười thật là thoải mái!

Cô công nhân trẻ mỉm cười.

Tôi hỏi cô:

- Cô tên gì nhỉ?

- Đỗ Tiểu Cầm. - Cô đáp.

- Bao nhiêu tuổi?

- Mười tám tuổi.

62

- Cô có thích công việc này không?
Cô gật nhẹ đầu.
Tôi đột nhiên nghĩ đến những tác phẩm của những
nghệ thuật gia vô danh trong các hang động ở Mạch Tích
sơn, rồi hỏi cô gái:
- Cô đến Mạch Tích sơn chưa?
- Đến rồi.
- Cô có thích những tượng bồ tát không?
- Thích lắm!
Đối với cô, những tác phẩm ấy có gợi ý cho cô không?
Cô gật đầu nói:
- Ờ … có điều tôi thích quan sát người thật hơn, những
con người biểu lộ chân thật tình cảm của mình.
Sau khi rời khỏi thành phố Thiên Thủy, tôi thường nghĩ
đến lời nói của cô Đỗ Tiểu Cầm: “Thích quan sát những
con người biểu lộ chân thật tình cảm của mình”. Cô ta làm
rất đúng! Nguồn mạch của nghệ thuật đến từ cuộc sống đến
từ hoàn cảnh xã hội của một con người trong cuộc sống
nhất định nào đó. Tại sao các tượng Phật, bồ tát, tì kheo,
người cúng dường ở các hang động Mạch Tích sơn lại có
sức truyền cảm mãnh liệt như vậy? Vén tấm màn tôn giáo
lên, ta có thể thấy con người trong cuộc sống trần thế này
có cả hỷ nộ ai lạc và cũng qua đó ta thấy được thế giới nội
tâm của họ.

63

5. VƯỢT SÔNG HOÀNG HÀ

Chặng đường phía đông của con đường tơ lụa bị cắt
đứt ở đoạn sông Hoàng Hà chảy ngang qua tỉnh Cam Túc,
người xưa xuất phát từ Trường An đi Tây Vực đều phải
vượt qua sông hoàng Hà mới đến được hành lang Hà Tây
để đi tiếp lên Tây Vực.

Tôi đi xe lửa từ Tây An qua Thiên Thủy đến Lan Châu,
thủ phủ tỉnh Hoàng Hà, rồi từ đó vượt sông Hoàng Hà về
phía tây. Tuy nhiên vào thời Hán Đường, hành trình về phía
tây chắc chắn không theo đường sắt hoặc đường nhựa như
ngày nay. Do đó, khi đến Lan Châu, tôi tìm đến các nhà
nghiên cứu lịch sử địa lý để thỉnh giáo: con đường tơ lụa từ
Trường An (nay là Tây An) đi đến hành lang Hà Tây phải
đi theo hướng nào? Có mấy đường? Qua sông Hoàng Hà
tại bến đò nào?

Họ tương đối nhất trí một phương cách là: Từ Trường
An đi hành lang Hà Tây có hai tuyến đường nam và bắc.
Tuyến nam là Tây An - Thiên Thủy - Lâm Thao - Lâm Hạ
- Vĩnh Tĩnh, tại huyện Vĩnh Tĩnh qua sông Hoàng Hà để đi
vào địa phận Thanh Hải, rồi men theo đường đi Hà Tây về
hướng bắc, qua Tây Ninh sau đó xuyên qua núi Kỳ Liên
cửa khẩu Biên Đô để vào hành lang Hà Tây. Tuyến bắc thì
Tây An - huyện Bân - Bình Lương - Cố Nguyên - Tĩnh
Viễn, tại hẻm núi Hồng Sơn thuộc huyện Tĩnh Viễn qua
sông Hoàng Hà tôi đi đến hành lang Hà Tây.

Cả hai tuyến đường trên đều không qua Lan Châu. Vậy
Lan Châu không phải là đồn trấn trọng yếu của con đường
tơ lụa chăng Có người nói phải; có người nói: không. Họ
cho rằng vào thời Hán Đường, Lan Châu không phải là nơi
trọng yếu. Tạm thời tôi không tranh luận về vấn đề này.

64

Trước tiên cần phải tìm bến đò vượt sông Hoàng Hà của
hai tuyến đường nam bắc nói trên rồi mới tính tiếp.

NƠI NƯỚC SÔNG HOÀNG HÀ ĐẢO DÒNG

Bến đò qua Sông Hoàng Hà của tuyến nam là tại hang
động chùa Bính Linh thuộc huyện Vĩnh Tĩnh. Hang động
này là một trong những kho báu về nghệ thuật Phật giáo
ngang hàng với các hang động Đôn Hoàng, hang động
Mạch Tích sơn; nó sừng sững bên một hẻm núi đá ở thượng
du sông Hoàng Hà. Năm 1974, thượng du Hoàng Hà trở
thành trạm thủy điện lớn nhất nước gọi là trạm thủy điện
Kẽm Lưu Gia (Lưu Gia giáp thủy điện trạm). Một bộ phận
nước của hồ chứa vĩ đại lan tận đến chân núi chùa Bính
Linh đã làm ngập con đường dẫn đến bến đò qua sông của
thời cổ đại. Do đó, tôi không thể theo dấu chân của người
xưa để đến chùa Bính Linh được. Người ta bảo tôi, ngày
nay có đường tắt đi chùa Bính Linh, tức là trước tiên đến
trạm thủy điện Kẻm Lưu Gia rồi lên tàu thủy đi ngược du
sông Hoàng Hà rất tiện lợi.

Cũng có một nhánh đường sắt từ Lan Châu đi thẳng
đến trạm thủy điện Lưu Gia. Tôi đi tàu thủy dọc sông
Hoàng Hà theo hướng tây nam ước chừng 100 cây số thì
đến trạm thủy điện, ở đây huyện lỵ của huyện Vĩnh Tĩnh
nằm sát ngay dưới đập thủy điện. Nguyên trấn Liên Hoa
trước đây (tức huyện lỵ cũ) nay đã chìm ngập trong hồ nước
lớn.

Huyện ủy phái một cán bộ địa phương là Kỳ Chính
Cương làm hướng đạo cho tôi. Anh công tác tại Hiệp Hội
Khoa Học của huyện và là người rất có công sưu tập sử liệu
địa phương. Chiều tối, anh dẫn tôi tản bộ dọc bờ sông.

65

Tại huyện Vĩnh Tĩnh, lượng phù sa của sông Hoàng
Hà không nhiều nước nên nước sông trong xanh. Hai bên
bờ sông là vách búi dựng đứng, lòng sông tương đối hẹp.
Theo như Kỳ Chính Cương nói thì ở thượng du có một nơi
gọi là “Dã hồ khiêu” (Chồn hoang nhảy). Cạnh bờ sông có
một dốc núi, chồn hoang theo triền núi chạy xuống đến bờ
sông, thuận thế nhảy một cái qua được bờ bên kia. Lòng
sông dọc huyện Vĩnh Tĩnh hẹp nên người xưa đã bắc cầu
qua sông, thật là thuận tiện.

Chúng tôi ngồi bên bờ, ngắm dòng sông. Bên kia sông
có một sơn thôn tĩnh mịch ẩn mình trong lùm cây nhuộm
bóng hoàng hôn. Kỳ Chính Cương kể lại một câu chuyện
thời xa xưa về cái sơn thôn xinh đẹp u nhã ấy.

Không biết từ bao nhiêu thế kỷ trước, vương tử nước
Ni-Bạc-Nhĩ không từ khó khăn gian khổ cất bước đến nơi
này tu hành ở động La Gia trên ngọn núi phía sau sơn thôn.
Vì sao chàng trai trẻ từ nơi xa Ni-Bạc-Nhĩ kia lại đến sơn
thôn huyện Vĩnh Tĩnh này? Thì ra chàng nằm mộng thấy
một vị cao tăng chỉ cho chàng đến cái nơi mà “đất đỏ trùm
đỉnh núi, sông vàng nước đổi dòng” (hồng thổ cái sơn đỉnh,
hoàng hà thủy đảo lưu) để truyền bá đạo Phật. Huyện Vĩnh
Tĩnh đúng là nơi sông Hoàng Hà đang chảy về hướng đông
bỗng đổi dòng chảy về hướng tây và trên đỉnh núi động La
Gia, đúng là loại núi đá cấu thành do sa thạch màu đỏ.

Trong sơn thôn ấy có một cô gái trẻ, hàng ngày đem
cơm cho cha cày ruộng dưới núi. Mỗi lần qua động La Gia,
cô thấy có một thanh niên từ nơi khác đến suốt ngày ngồi
tĩnh tọa làm một vị tăng khổ hạnh, không cầm được nỗi
thương tâm, cô thường để lại một ít cơm nước cho chàng.
Lòng tốt của cô gái đã làm động lòng kẻ tu hành. Mãi về
sau, giữa đôi nam nữ trẻ tuổi này nẩy sinh tình cảm vợ
chồng. Hành động bỏ kinh từ đạo của họ đã làm thiên đình

66

phẫn nộ, thế là trời sập đất nứt, đôi tình nhân bị vùi sống
dưới đáy núi. Không biết bao nhiêu năm về sau, một trận
động đất lớn nổ ra nâng họ lên khỏi mặt đất, thi thể của họ
vẫn còn nguyên, vẻ mặt sinh động như còn sống, một thời
trở thành giai thoại.

Sự tích câu chuyện trên nghe ra có vẻ hoang đường,
nhưng trong lịch sử của huyện Vĩnh Tĩnh đúng là có dấu
chân của các tăng nhân Tây Vực, có người sống lâu dài ở
đây để truyền giáo, chắc chắn đó là điều có thật vì dải đất
Vĩnh Tĩnh là một đoạn trọng yếu trên con đường tơ lụa.

THIÊN HẠ ĐỆ NHẤT KIỀU

Ngày thứ hai, Kỳ Chính Cương dẫn tôi đến trạm thủy
điện Kẽm Lưu Gia. Đó là một đập nước lớn, cao 147 mét,
ngăn chặn một khối lượng nước là 57000 triệu mét khối
nước. Dưới đập trạm thủy điện là các tổ máy có dung lượng
1225000 kilôwatt, cung ứng điện cho ba tỉnh Thiểm Tây,
Cam Túc và Thanh Hải.

Lên trên đập cao nhìn xuống, ta thấy mặt hồ xanh thẳm.
Chúng tôi đi tàu thủy, sau khi vượt qua một hẻm núi, con
tàu ra giữa lòng hồ phẳng lặng như một tấm gương, nhìn ra
tứ phía không thấy bến bờ.

Tàu đi chừng ba tiếng đồng hồ, sắc nước từ màu xanh
đậm đổi sang màu xanh nhạt, nước hồ cạn dần. Lúc ấy
trước mắt hiện ra mấy ngọn núi đặc biệt kỳ lạ, từ mặt nước
nhô lên, có ngọn giống như bảo tháp, có ngọn giống như
con thú khổng lồ. Cảnh sắc núi rừng sông nước hiện ra
trước mắt ta như non nước vùng Quế Lâm vừa xinh đẹp
vừa kỳ lạ.

Kỳ Chính Cương lấy tay chỉ hai ngọn núi từ đằng xa

nói:

67

- Đó là hai ngọn núi có tên là Tỷ Muội, chúng là cổng
chính của chùa Bính Linh. Nhìn theo tay anh chỉ, tôi thấy
hai ngọn núi đá xinh đẹp kia quả như hai cô gái mặc trang
phục cổ, tựa vào nhau thân thiết như hai chị em.

Con tàu đang hướng về phía núi Tỷ Muội lướt tới, khi
đến gần thì hơi chuyển hướng một chút và chui vào một
hang núi, nước cạn hơn, núi của hai mặt hang cao mà thẳng
giống như hai bình phong đối diện nhau. Con người đứng
dưới đó bỗng thấy mình quá nhỏ bé. Các khám thờ Phật
của hơn 190 hang đá ở chùa Bính Linh nằm rải rác trên các
vách đá dựng đứng ở mặt tây.

Chúng tôi leo lên chân núi phía đông, nơi Sở Bảo tồn
chùa Bính Linh tọa lạc để nghỉ ngơi. Ông giám đốc sở bảo
tồn đưa ra một bức họa bằng lụa, tác phẩm thời Đồng Trị
nhà Thanh, vẽ toàn cảnh chùa Bính Linh. Phần dưới của
bức họa vẽ một chiếc thuyền gỗ đang bơi trong sóng nước
cuồn cuộn của sông Hoàng Hà.

Ông giám đốc sở nói ở hẻm núi chùa Bính Linh đã từng
có một cái cầu đá để qua sông Hoàng Hà gọi là “Thiên hạ
đệ nhất kiều” (cây cầu số một trong thiên hạ). “Thủy kinh
chú” và “Hà châu chí” đều có nói đến Ất Phục thị, xứ Tây
Tần thời Đông Tấn đã đến đây xây cầu. Ông còn nói trên
vách đá của hẻm núi có khắc dòng chữ “Thiên hạ đệ nhất
kiều”, đến nay cầu đã ngập sâu trong hồ nước, nhưng cũng
may còn giữ lại bức ảnh khắc chữ ấy.

Để tìm hiểu di chỉ “Thiên hạ đệ nhất kiều” chúng tôi
bơi một chiếc thuyền gỗ nhỏ đến hẻm núi, thì vừa đúng có
một vị bô lão đã từng là Lạt ma của chùa Bính Linh trước
đây tháp tùng với chúng tôi. Thuyền qua núi Tỷ Muội, lão
tăng chỉ vào chỗ mặt nước gần đấy nói:

68

- Năm đại tự “Thiên hạ đệ nhất kiều” được khắc trên
vách đá tại dài chỗ nước này, vào mùa xuân nước rặc dòng
chữ khắc mới hiện ra, mỗi chữ cao hơn một thước.

- Ngoài năm chữ đó ra, cầu còn có dấu tích gì khác nữa
không? - Tôi hỏi.

- Có đấy. Hai bên bờ rõ ràng có những lỗ đục, xem ra
từ chúng dùng để đóng các trụ cầu.

- Hai bên cầu có đường đi không?

- Có một bên thì đi Lâm Hạ, còn một bên thì đi Thanh
Hải. Nhớ hồi tôi còn nhỏ, tôi đã từng thấy các nhà buôn
chuyển vận hàng hóa qua con đường này.

Vị bô lão ấy còn chỉ một bức bờ tường bằng đất sét,
nói:

Đời nhà Thanh còn phái binh lính đến canh gác cầu, và
đó là đồn binh của lính gác cầu.

Xem ra dây đúng là điểm giao thông trọng yếu vào thời
cổ đại.

MANĐALA VÀ MÚA ẤN ĐỘ

Thuyền cập bến, vị bô lão thuận tay nhổ một gốc cỏ
cao bằng nửa thân người rồi nói:

Cỏ này gọi là “manđala” có nguồn gốc từ Ấn Độ, do
các tăng nhân Tây Vực mang đến trồng ở chùa Bính Linh.
Hoa của nó có thể làm thuốc phiện.

Theo sự khảo sát của Kỳ Chính Cương thì khu vực
chùa Bính Linh có lắm cỏ quý cây lạ, không phải do bổn
địa sinh trưởng mà phần lớn là do tăng nhân từ Tây
Vực đưa sang, ngoài manđala, chùa Bính Linh còn có
mười cây đàn hương, bảy cây trầm hương được gọi là cây

69

quý của chùa. Cây đàn hương vốn sinh sản tại Ấn Độ, gỗ
của nó có mùi thơm, dùng làm nan quạt gọi là quạt đàn
hương; cây trầm hương cũng sinh sản tại Ấn Độ, gỗ của nó
là loại hương liệu trứ danh, còn được gọi là “già nam
hương” hay “kỳ nam hương”.

So với các hang động Mạch Tích sơn ở Thiên Thủy,
thì nghệ thuật trong các hang động ở chùa Bính Linh ảnh
hưởng văn hóa ngoại lai rất rõ nét. Trên các vách đá ở chùa
Bính Linh có rất ít khám thờ tượng Phật, chỉ có phù điêu ở
các tháp Phật. hình tháp đều có dáng kiến trúc kiểu Ấn Độ,
điều này rất ít thấy trong các hang động khác ở Trung Quốc.

Rõ ràng nhất là ở một số lớn phù điêu các hình bồ tát,
cao không đầy nửa mét, ở tư thế đứng có vẻ hơi biến hóa
khiến người ta liên tưởng đến hình nhảy múa cổ Ấn Độ. Có
hình thì thân trên ưỡn ra phía sau, chứng tỏ thân lưng rất
mềm nhuyễn, cách tạo hình hai bàn tay là những động tác
múa và kể cả các ngón tay cũng ở trạng thái ấy. Gần đây
tôi có xem một vũ công Ấn Độ đến thăm Trung Quốc và
biểu diễn múa cổ điển, càng làm cho tôi hiểu hơn nét điêu
khắc ở chùa Bính Linh. Rõ ràng chúng có bóng dáng của
những động tác múa cổ điển Ấn Độ.

Hang động chùa Bính Linh ở trên trục đường chính
thông vãng Đông - Tây đã dung nạp ảnh hưởng văn hóa từ
Tây Vực sang là điều không có gì phải tránh né. Thế nhưng
có những người chịu ảnh hưởng trào lưu cực tả đã cực lực
phủ nhận ảnh hưởng ngoại lai ấy. Tôi cho rằng họ thực sự
không chịu cầu thị và lại thiếu cả lòng tự tín dân tộc: Tiền
bối của chúng ta đã dũng cảm tiếp nhận ảnh hưởng ngoại
lai đưa chúng dung hợp vào nền nghệ thuật dân tộc của
mình một cách cao siêu, đã sáng tạo ra một phong cách
hoàn toàn mới. Cho nên họ có thể làm được như vậy chính

70

là để nói lên rằng đối với truyền thống nghệ thuật dân tộc
của bổn qưốc, họ có lòng tự tín rất mãnh liệt.

Hang động ở chùa Bính Linh và ở Mạch Tích sơn,
Thiên Thủy, đại thể lập ra trong cùng một thời đại. Gần
đây, trên bức bích họa ở hang thứ 169 thuộc chùa Bính Linh
người ta phát hiện ra dòng chữ ghi “Tây Tần Kiến Hoàng
nguyên niên” (tức năm 420 CN). Cho đến nay mà nói thì
đó là dòng ghi niên đại sớm nhất được tìm thấy trong các
hang động ở Trung Quốc. Nó minh chứng một điều rằng
vào thế kỷ thứ IV và đầu thế kỷ thứ V CN, con đường tơ
lụa và điểm giao thoa từ sông Hoàng Hà đã xuất hiện nghệ
thuật hang động một cách rực rỡ.

BẾN ĐÒ BỊ BỎ QUÊN

Tuyến bắc của con đường tơ lua thì từ Tây An muốn
đến hanh lang Hà Tây ắt phải men theo sông Kinh đi về
hướng tây bắc, qua Bình Lương, vượt Lục Bàn Sơn, qua
Cổ Nguyên, đến huyện Tĩnh Viễn qua sông Hoàng Hà để
đi hành lang Hà Tây.

Tuyến bắc là một con đường tắt, từ xưa đã có dịch đạo
(đường đã có trạm đổi ngưa Từ xa xưa hơn 2000 năm trước,
Hán Vũ Đế đi tuần thú tây bắc bằng con đường này. Hán
thư có ghi “Vũ Đế tây lâm Tổ Vệ nhi hoàn” (Vua Hán Vũ
Đế từng đến sông Tổ, sông Vệ rồi trở về). Nơi nước sông
Tổ và sông Vệ cùng chảy vào sông Hoàng Hà chính là
huyện Tĩnh Viễn, cho nên Hán Vũ Đế ngự hành phía tây
chỉ đến Tĩnh Viễn không qua sông thì đã hồi loan về kinh.

Một chuyên gia nói: bến đờ qua sông có thể ở tại hẻm
núi Hồng Sơn, tức ngày nay gần thị trấn Ha Tư, công xã
Thạch Môn. Địa phương chí của huyện có ghi: Thời Vạn
Lịch có làm cầu dây cách phía tây Ha Tư chừng mươi dặm

71

... Vạn Lịch là niên hiệu thời Minh từ năm 1573 - 1619, tức
cách nay khoảng 400 năm, ở đây chắc đã có cầu dây. Thời
Hán Đường, lữ khách qua sông Hoàng Hà bằng cách nào
không thấy sách vở nào ghi chép.

Một ký giả nhiếp ảnh đồng hành là Kim Bá Hoằng,
muốn chụp một số hình ảnh ở bến đò qua sông Hoàng Hà
thuộc tuyến bắc của con đường tơ lụa đã một mình đi huyện
Tĩnh Viễn cách Lan Châu về phía bắc hơn một trăm cây số,
sau khi trở về, ông tả lại như sau:

“Từ huyện Tĩnh Viễn dùng xe việt dã đi về hướng tây
bắc khoảng hơn ba tiếng đồng hồ thì đến thị trấn Ha Tư,
công xã Thạch Môn. Đây chỉ là một thôn trang miền núi
bình thường khoảng ba, bốn mươi hộ gia đình, trước mặt
thôn là ngọn núi cao có tên là Ha Tư Sơn, do đó mà có tên
thị trấn Ha Tư. Đến đây có một thanh niên tên là Thạch
Phúc Quý làm hướng đạo cho tôi.

“Rời khỏi thị trấn Ha Tư chúng tôi đi vào một hang
núi, đi một đoạn không xa nữa thì men theo đường đất để
leo lên núi. Chúng tôi hổn hển leo lên, con đường men chân
núi đứt đứt, nối nối, lúc rộng lúc hẹp cũng gây cho tôi niềm
hứng thú. Đường toàn là cỏ dại, nhưng cũng có vài nơi có
thể thấy được vết bánh xe hằn sâu hai bên đường, rõ đây là
con đường cơ quan vào thời cổ đại đã bị bỏ quên”.

“Đi thêm nửa tiếng đồng hồ nữa, lại trèo lên một đỉnh
núi có tên là “Tỏa kiều lương”. Đứng ở đây nhìn ra tứ phía,
có thể thấy giữa các hang núi hướng tây bắc một dòng nước
uốn khúc lấp lánh dưới ánh mặt trời, đó là sông Hoàng Hà.
Trên đỉnh các dãy núi chập chùng bên kia sông có thể thấy
dãy tường đất bị phong hóa uốn lượn quanh co từ bắc
xuống nam, tôi lập tức nhận ra đó là Vạn Lý Trường
thành”.

72

“Đường xuống núi càng đi càng nhanh, chúng tôi theo
hướng sông Hoàng Hà có thể nghe được tiếng sóng vang
vọng, tôi bỗng dừng lại. Bến đò xưa hiện ra trước mắt. Ta
có thể thấy rõ dưới chân núi, đường qua bên kia sông
Hoàng Hà đã bị cắt đứt, một vùng đất hoang hiện ra hai bên
đường, bên kia sông cũng có một vùng như vậy nhưng rộng
hơn, xem ra đó là một thôn trấn thời cổ đại có hơn 300 hộ
đã bị sông Hoàng Hai phân làm hai”.

“Chốn thôn trấn cô tịch không người này có dựng một
bia đá, trên bia có khắc năm chữ “Sơn giáp tu lộ bị” (Bia
ghi việc sửa đường qua hẻm núi) vào đời Càn Long nhà
Thanh năm thứ mười lăm (1780); thân sĩ trong làng và
thương nhân các nơi đóng góp để dựng bia sau khi tu sửa,
trên bia có ghi tiền xuất ra làm đường gồm các tỉnh Sơn
Tây, Thiểm Tây, Ninh Hạ, Cam Túc và gần một trăm hiệu
buôn thuộc các khu tự trị. Vậy có thể thấy thương nhân
đương thời đối với con đường giao thông quan trọng trong
nội địa với biên thùy tây bắc rất được coi trọng”.

“Sông Hoàng Hà chảy từ phía tây lại rồi rẻ ngoặt sang
hướng bắc, tại đây lòng sông hẹp, cổ nhân chọn nơi này
làm bến đò qua sông rõ là một điều hợp lý. Cả dọc hẻm núi
Hồng Sơn trừ chỗ có năm chùa Phật hiện ra thì các nơi khác
ở hai bờ sông đều là núi cao, sa mạc, không nơi nào có thể
qua sông được Do đó, ngày xưa con đường tơ lụa chắc chắn
phải lấy nơi này làm bến đò qua sông”.

“Trên đường về, người bạn tháp tùng với tôi là Tiểu
Thạch vừa đi vừa nói chuyện. Tiền bối lâu đời của anh đều
sống ở thị trấn Ha Tư. Nghe các cụ kể thôn trang của họ
vốn gọi là phố Ha Tư, khá đông đúc, có đến hơn 3000
người, khu phố có đến hai mươi bốn ngôi miếu, mười tám
nhà nghỉ lớn, một đêm thu cả đấu vàng. Lại còn có lầu cao,

73

có lầu chuông, lầu trống v.v... người bản địa tự khoe là một
tiểu Bắc Kinh”.

“Đi trên con đường giao thương buôn bán thời cổ dại,
tôi hầu như đang hình dung các thương nhân nghỉ lại phố
Ha Tư mốt đêm, chỉnh đốn hành trang, cho ngựa ăn uống
để sáng mai ra bến đò qua sông Hoàng Hà, hoặc hầu như
đang nghe tiếng nhạc ngựa lanh canh và tiếng hò hét của
những người đuổi ngựa vang vọng lại trong hang núi.
Không biết bắt đầu từ khi nào, không biết vì nguyên nhân
gì mà bỗng nhiên tiếng nhạc ngựa biến mất, đám thương
nhân không còn lui tới nữa, dân chúng ở phố Ha Tư lần
lượt đi đâu cả. Hiện nay, phố Ha tư chỉ là một thôn trang
nhỏ bé ước khoảng 200 người, một vết tích nhỏ năm nào
cũng không còn được lưu dấu”.

LAN CHÂU LÀ MỘT BẾN ĐÒ CHĂNG?

Sau những gì được biết về hai bến đò nam bắc của sông
Hoàng Hà, tôi trở lại chú tâm khảo sát Lan Châu qua sử
sách để xem đây có phải là nơi con đường tơ lụa đi qua
không?

Trước khi đến Lan Châu, tôi đã đọc Đại Từ Ân tự Tam
Tạng Pháp sư truyện. Bộ sách do đệ tử của thầy Huyền
Trang viết ra này, đã kể lại rõ ràng lộ trình mà sư phụ đã đi
thỉnh kinh ở Ấn Độ, trong đó có nói đến lúc ngài ra khỏi
kinh đô Trường An như sau: “Có vị tăng Hiếu Đạt ở Tần
Châu đã từng học kinh Niết bàn tại kinh đô, học xong, về
quê đi với ngài đến Tần Châu, nghỉ lại một đêm, rồi tiếp
tục đi Lan Châu, cũng nghỉ lại một đêm, sau đó, gặp người
ở Lương Châu tiễn đưa người chăn ngựa cho triều đình trở
về, ngài theo người này nghỉ lại ở đây hơn một tháng …”.

74

Đoạn văn trên nói rõ lộ trình của Đường Huyền Trang
Tây du là: “Trường An - Thiên Thủy (Tần Châu) - Lan -
Châu - Vũ Uy {Lương Châu).

Điều mà đoạn văn trên đề cập rất đáng chú ý là: Tại
Lan Châu, Huyền Trang “gặp người Lương Châu tiễn
người chăn ngựa cho triều đình trở về”. Hành lang Hà Tây
từ thời Hán Đường có một khu vực nuôi ngựa rất rộng lớn
cho triều đình để cung cấp ngựa xe và ngựa chiến, mà
người Lương Châu (tức Vũ Uy) từ tây đi về đông để hộ
tống quan coi việc chăn ngựa cho triều đình, thì nơi đến của
họ rất có thể là kinh đô Trường An. Mà người đã từ hành
lang Hà Tây hộ tống từng đoàn ngựa quan về kinh đô thì
phải qua Lan Châu, như vậy có thể thấy vào đời Đường,
Lan Châu là trạm giao thông trọng yếu giữa hành lang Hà
Tây và Trường An.

Đọc qua đoạn văn trên, nếu bảo con đường tơ lụa mà
không qua Lan Châu là một điều rất khó chấp nhận Khi
thăm giáo sư Tiên Tiên Uy công tác tại Sở Nghiên cứu Lịch
sử Địa lý thuộc khoa Địa lý trường Đại học Lan Châu, tôi
xin ý kiến chỉ giáo về đoạn văn ấy. Giáo sư cho rằng Đại
Từ Ân tự Tam Tạng Pháp sư truyện là do đệ tử của ngài
Huyền Trang viết ra, chắc chắn chính tai mình đã nghe lời
sư phụ kể lại. Do đó, những gì nói trong sách về lộ trình
Tây du đều có thể đáng tin.

Ông còn nói với tôi: Lan Châu vào đời Hán đã từng gọi
là huyện Kim Thành, đến đời Đường đổi là Lan Châu. Vì
vậy, chỗ trong sách nói là Lan Châu thì ngày nay cũng là
Lan Châu ấy, chứ không phải một nơi nào khác cả.

Căn cứ vào kết quả nghiên cứu của giáo sư, thì xuất
phát từ Trường An đi hành lang Hà Tây còn có một tuyến
đường nữa, đó là: Trường An - Thiên Thủy - Lan Châu -
Vũ Uy. Tuyến đường giữa này chỉ là do diễn biến từ cơ sở

75

của tuyến nam mà thôi. Việc khai thông tuyến đường này
có thể muộn hơn so với tuyến nam và tuyến bắc.

Tiên Tiên Uy cũng đã tìm ra một căn cứ khác qua thơ
Đường, nói rõ Lan Châu là nơi qua lại của một dịch đạo xa
xưa. Nhà thơ Sầm Tham đời Đường qua đề tài về biên tái
có một bài thơ vịnh ải Kim Thành như sau:

Cổ thú ỷ trùng hiểm,

Cao lâu tiếp Ngũ Lương;

Sơn căn bàn dịch đạo,

Hà thủy tẩm thành tường.

Tạm dịch: Lính thú xưa dựa vào nơi hiểm trở, lầu cao
thành vọng gác tiếp với Ngũ Lương; dọc chân núi xây
đường dịch đạo, nước sông Hoàng Hà thấm ướt tường

thành.

Thành cổ Lan Châu xây dựng bên bờ sông Hoàng Hà
cho nên nói “Hà thủy tẩm thành tường” (nước sông thấm
vào tường thành), dưới chân núi Cao Lâu là bình nguyên
Quan Trung trải đài về phía đông, còn phía tây thì tiếp giáp
với dịch đạo đọc hành lang Hà Tây, nên nói “sơn căn bàn
dịch đạo” (chân núi xây địch đạo). Rõ ràng nhà thơ đã miêu
tả một cách chân thực Lan Châu là nơi trọng yếu trên con
đường thông vãng Tây Vực.

Sau này tôi có hỏi lại các giáo sư khoa sử thuộc trường
Đại học Cam Túc, họ cũng cho rằng có hai sự thực của lịch
sử quan trọng có thể nói rõ Lan Châu là nơi trọng yếu trên
con đường thông thương đông tây: Thứ nhất, theo Tam
quốc chí ghi thì tướng Thục là Khương Duy xuất binh đánh
Ngụy, bao vây quân Ngụy tại Địch đạo (Lâm Thao) thuộc
khu vực phía nam tỉnh Cam Túc. Triều đình nhà Ngụy khẩn
cấp điều binh cứu viện đi dọc hành lang Hà Tây, qua Kim

76

Thành (Lan Châu) xuống phía nam để giải vây. Do đó, ta
có thể thấy, ngày xưa vào thế kỷ thứ III CN, Lan Châu là
đường giao thông trọng yếu dọc hành lang Hà Tây giữa
đông Hoàng Hà và tây Hoàng Hà. Thứ hai, theo Tân Dường
thư năm 822 CN, triều đình nhà Đường phái đại thần Lưu
Nguyên Đỉnh đến địa giới tây nam cùng với nước Thổ Phồn
(Nay là khu tự trị người Tây Tạng) hội thề. Lưu Nguyên
Đỉnh xuất phát từ Trường An, qua Thành Ký (nay là huyện
Tần An, quận Lũng Tây) đến Lan Châu bên bờ sông Hoàng
Hà, rồi đi tiếp về hướng tây. Bấy giờ Lan Châu bị người
Thổ Phồn chiếm cứ. Sử liệu ghi rằng: “Đất Lan Châu toàn
trồng lúa và các loại cây đào, lý, du, liễu, ... xanh tươi, nhà
cửa toàn của người Đường, thấy sứ giả mặc áo lông mịn
thảy đều chạy đến xem”.

Tại phòng triển lãm quy hoạch thành phố Lan Châu,
tôi còn tìm ra được một chứng cứ có sức thuyết phục đó là
bức Kim Thành lãm thắng đồ (bức họa thắng cảnh ở Kim
Thành) vào đời Quang Tự nhà Thanh; bức họa vẽ chiếc cầu
nổi bắc ngang sông Hoàng Hà; đối diện với cầu là một tòa
tháp bằng gỗ Theo như người làm công tác văn vật cổ nói,
thì tòa tháp gỗ này là công trình kiến trúc thuộc đời Đường.
Trước giải phóng, tòa tháp gỗ đã bị thiêu hủy. Trên tháp có
một cái đỉnh bằng sắt trên có khắc dòng chữ Trinh Quán
cửu niên Cao Xương vương Cúc Văn Thái tạo (vua Cao
Xương Cúc Văn Thái năm Trinh Quán thứ chín kiến lập).

Cao Xương là một chư hầu của nhà Đường, nay là
Tolophan, Tân Cương. Thời Sơ Đường, vua Cao Xương
Cúc Văn Thái rất cung kính đối với triều đình nhà Đường
đã từng cống nạp cho Đường Cao Tông loại chó cảnh gốc
từ La Mã cao sáu tấc dài một thước, có thể dùng miệng
ngậm đuốc, có thể dắt dây cương ngựa lôi đi. Đường Thái
tông tức vị, vua Cao Xương Cúc Văn Thái là người đầu
tiên đến Trường an bái yết. Nếu ông ta đã dựng tháp ở Lan

77

Châu, như vậy thì từ Tân Cương đi Trường An ắt phải đi
qua Lan Châu.

Cây cầu nổi bắc qua sông Hoàng Hà được vẽ trên Kim
Thành lãm thắng đồ tạo dựng năm Hồng Vũ thứ chín đời
Minh (tức năm 1376). Đó là cây cầu có sớm nhất ở Lan
Châu.

Sách sử ghi chép: trước thế kỷ XIV người ở Lan Châu
qua sông Hoàng Hà chỉ dùng thuyền đò mà thôi.

Qua việc tìm hiểu trên, thì khuynh hướng của tôi đứng
về phía những người cho là con đường tơ lụa phải đi qua
Lan Châu. Tôi cho rằng những người chỉ giữ thái độ hoài
nghi và không đưa ra được chứng cứ chỉ là lối phiếm luận
thiếu căn cứ lịch sử mà thôi. Khi tôi đưa ra việc tìm hiểu
các tài liệu thì họ cũng có thể hiện những thái độ đáng suy
nghĩ.

RỪNG RẬM NGUYÊN THỦY

Tính chất trọng yếu của Lan Châu trên con đường tơ
lụa cổ đại đối với Trung Quốc ngày nay đã hơn hẳn bất cứ
thời đại nào của lịch sử. Từ những năm năm mươi trở
lại, đây, tôi đã ba lần đến Lan Châu, và sau mỗi lần đều để
lại ấn tượng đặc biệt.

Năm 1953, lần đầu tiên đến Lan Châu, bấy giờ đường
sắt Thiên Thủy - Lan Châu vừa mới đưa vào sử dụng thì
đường sắt Lan Châu - Tân Cương đang bắt đầu khởi công.
Như vậy Lan Châu được xem là mô hình của một đầu mối
giao thông ở khu vực Đại Tây Bắc đã bắt đầu rõ nét.

Khu thành cổ Lan Châu rất nhỏ, vẻn vẹn chỉ 16 cây số
vuông mà còn đối mặt với núi cao và sông Hoàng Hà chảy
ngang qua. Tôi trọ trong nhà khách ở lưng chừng núi Cao

78

Lan, chung quanh toàn là núi trọc, và hút tầm mắt là
những núi đất màu vàng, cơ hồ không có màu xanh. Dù là
sắc vàng thống trị toàn bộ cao nguyên hoàng thổ ấy khiến
người ta không mấy thích thú, song không khí kiến thiết
bừng bừng của cuộc sống mới ở khu cổ thành này cũng
phần nào có sức truyền cảm. Trên con phố nhỏ hẹp của thị
khu, đám người pha trộn giọng nam, giọng bắc đang kề vai
sát cánh. Tất cả họ đều mang trong mình bầu nhiệt huyết
tiến lên kiến thiết khu Đại Tây Bắc của tổ quốc.

Cách hơn hai mươi năm sau, năm 1974, tôi trở lại Lan
Châu, cảm quan của tôi đã khác trước. Tôi trọ tại một khách
sạn ở Lan Châu. Vừa mở cửa sổ, trước mắt tôi đã hiện ra
một bồn hoa nhiều màu trên quảng trường trưng tâm thành
phố. Nhìn thấy màu sắc xán lạn ấy, cái ấn tượng cũ về cao
nguyên đất vàng nằm sâu trong tiềm thức tôi bỗng trở lại.
Về sau đi sâu vào một số đường lớn rợp bóng những hàng
bạch dương cao ngất của thị khu thì bao nhiêu thành kiến
trước đây đều tiêu tan hết. Ai đã từng thấy Lan Châu ngày
trước thì mới hiểu được sâu sắc rằng màu xanh đối với Lan
Châu quý như thế nào.

Cổ thành trên con đường tơ lụa đã chính thức được
kiến tạo thành đầu mối giao thông của khu Đại Tây Bắc.
Trước giải phóng, ở Lan Châu một tấc đường sắt cũng
không có, nhưng hiện nay có đến bốn đường chính: Đường
sắt Lan Châu đi Tân Cương, Lan Châu đi Tây Ninh, Lan
Châu đi Bao Đầu và Lan Châu đi Thiên Thủy. Hệ thống
đường nhựa ở Lan Châu cũng được hình thành. Cầu để qua
sông Hoàng Hà dành cho đường sắt và đường nhựa tư một
tăng lên chín chiếc cầu.

Thành quả lao động của những người khai phá hơn hai
mươi năm nay tôi đã được chứng kiến, chính bàn tay họ đã
xây dựng nên một thành phố công nghiệp, diện tích được

79

mở rộng đến hơn 2000 cây số vuông (Lan Châu cũ chỉ 16
cây số vuông), so với diện tích ban đầu tăng gấp 130 lần.
Tôi thường tham quan công nghiệp hóa học dầu khí và công
nghiệp máy khai thác dầu khí ở đây, có thể thấy được tiềm
năng to lớn của thanh phố công nghiệp khu Tây Bắc này:
Cam Túc có nguồn tài nguyên phong phú về kim loại quý
hiếm, về dầu khí, than đá, lại có nguồn thủy điện vô tận ở
thượng du Hoàng Hà. Trong tiến trình bốn hiện đại hóa,
Lan Châu chắc chắn sẽ phát huy tác dụng một cách đặc sắc.

Gần đây, một lần nữa tôi đến Lan Châu, ngoài việc tìm
hiểu bến đò xưa của con đường tơ lụa, lúc rảnh tôi đi thăm
các nơi đã phát hiện ra vừng đất mới đã không bị con người
bỏ quên.

Một bên cầu nổi thời cổ đại, nơi vua Cao Xương có
xây một tháp gỗ đối diện, còn có núi Bạch Tháp mà ngày
nay người ta kiến tạo thành công viên núi Bạch Tháp. Toàn
bộ đình đài lâu các đều là tác phẩm của kiến trúc sư Nhậm
Chấn Anh, công viên này dựa trên cơ sở kiến trúc truyền
thống của dân tộc Trung Quốc mà nhà thiết kế có cách cấu
tứ xảo diệu, có phong cách riêng biệt, cụ thể. Chẳng hạn
như cái đình hình tam giác rõ là tinh xảo mới lạ. Để cải tạo
bộ mặt núi đồi trọc nhẵn trước đây, người ta đã dẫn nước
sông Hoàng Hà tưới khắp cả 2800 mẫu rừng trồng, có thể
nói thật là lao tâm khổ tứ.

Người hướng đạo nói: thời cổ đại cả một dải đất Lan
Châu này núi rừng rất xanh tốt, tôi tỏ vẻ không dám tin,
anh nói tiếp:

- Ngày mai mời ông đi thăm vùng rừng rậm nguyên
thủy của chúng tôi rồi sẽ thấy.

Từ Lan Châu đi xe về hướng đông chừng bốn mươi
cây số, qua huyện Du Trung (truyền thuyết có kể Huyền
Trang đã từng trú lại mấy ngày tại trấn Định Viễn thuộc

80

huyện này), luồn qua một hang núi vắng vẻ thì đến dưới
chân núi Hưng Long. Ở đây có một con suối nhỏ phía trên
một chiếc cầu độc đáo bắc qua. Thân cầu giống như một
hành lang, hai đầu có đình. Qua khỏi cầu, chuẩn bị leo bậc
lên núi để tìm “rừng rậm nguyên thủy”.

Lưng chừng núi có vết tích của mộ chí Thành Cát Tư
Hãn. Thời kháng Nhật, mộ Thành Cát Tư Hãn được tộc
người Nội Mông là Y-Khắc-Chiếu-Minh Y-Kim-Hoắc-
Lạc-Kỳ thiên di đến núi Hưng Long. Ngày nay lăng mộ của
tay giặc trời (thiên kiêu) một thời này đã được đưa về cố
hương, chỉ còn dấu cũ tường xiêu vách đổ và hai cây cổ
tùng cao thấu tầng mây. Thân cây thẳng cao dễ đến hơn
bốn mươi mét.

Đi trước là một họa sĩ, bỗng la lớn: “Nhanh lên đến
xem này, đẹp quá?” Ai nấy Vội chạy lên thì thấy chị đã lấy
vở vẽ ghi nhanh phong cảnh. Trước mắt là núi non cây cối
rậm rạ. Trời đã vào thu, màu sắc cây lá sặc sỡ dưới ánh mặt
trời chiếu rọi, nào là màu vàng óng, màu xanh lục, màu đỏ
thẫm thật là mỹ lệ. Đối mặt với sắc thu mê mẩn, tôi thật
khó dứt ra cho được, vừa ngắm thưởng sắc núi vừa tốc họa
bằng bút màu, chị họa sĩ nói:

- Màu sắc ở đây có thể nói là khó tìm thấy, đẹp như
một thiếu phụ nhưng lại không kiêu sa kiều diễm, trong cái
tươi sáng đó lại lộ ra cái tự nhiên, cái đoan trang …

Chúng tôi đang ngắm nhìn cảnh sắc thì đằng trước có
người kêu lớn: “Đến đây nhanh lên! Trên đỉnh mới là rừng
rậm nguyên thủy đấy!”

Đứng trên đỉnh cao nhìn bao quát xuống dưới, tầng
tầng lớp lớp những dãy núi hiện ra từ xa đến gần, trên mỗi
dãy núi thấy toàn màu xanh của cây thông mụ, tươi tốt sum
suê. Ánh mặt trời phản chiếu càng làm tăng thêm vẻ tráng
lệ của rừng rậm nguyên thủy. Tôi nằm trên một thảm cỏ

81

vừa ngắm vừa suy nghĩ cảnh đẹp này hầu như mình đã nhìn
thấy ở một nơi nào đấy rồi, rất quen thuộc. Ồ, phải rồi, hoàn
toàn đúng là một bức họa phong cảnh Đông sơn của họa sĩ
nổi tiếng người Nhật Khôi Di.

Núi Hưng Long là dư thế của dãy Kỳ Liên kéo dài về
phía đông. Chỉ cần bước xuống một bước là tôi có thể qua
sông Hoàng Hà để đến hành lang Hà Tây, tiến thẳng vào
lòng núi Kỳ Liên để tìm hiểu thêm phần nào phong cảnh
của những ngọn núi tuyết trắng phau ấy.

82

6. ĐI DỌC HÀNH LANG HÀ TÂY

Tôi đi tàu hỏa trên đường sắt Lan Châu - Tân Cương.
Rời khỏi Lan Châu, trên suốt đường đi tôi luôn ngắm nhìn
cảnh sắc biến đổi bên ngoài cửa sổ.

Bầu trời xanh ngắt, xanh đến độ trong suốt khiến lòng
người mê mẩn. Sát hai bên đường, hàng bạch dương thưa
thớt đã nhuốm sắc vàng của mùa thu vươn thẳg mình lên
trời xanh. Nhìn xuyên qua hàng cây, có thể thấy các dãy
núi xa xa trọc nhẵn hình cánh cung không góc cạnh,nó cho
ta cái cảm giác đôn hậu, an ổn. Ngoài ra, mặt đất thì toàn
là đá vụn và đá cười mênh mông bát ngát, thô tháp nhưng
cũng hào phóng.

Đó là tôi đang đi dọc hành lang Hà Tây, lần đầu am
hiểu được phần nào phong cánh của vùng lại Tây Bắc.

Hành lang Hà Tây còn được gọi là hành lang Cam Túc,
đó là một dải đất dài và hẹp, dài hơn 1200 cây số, rộng
chừng 100 cây số. Phía nam là dãy Kỳ Sơn cao hơn mặt
nước biển bốn, năm ngàn mét. Phía bắc, trừ một đoạn ngắn
là núi non, còn thì mênh mông là sa mạc: Sa mạc Tengger
và sa mạc Badain Jaran. Dải đất hẹp và dài ấy nằm giữa núi
cao và sa mạc là điều kiện thiên nhiên cung cấp để hình
thành con đường tơ lụa cổ đại thông vãng Đông Tây.

QUÁI THẠCH Ở DÃY KỲ LIÊN

Đầu đời Tây Hán, hành lang Hà Tây là đất của dân du
mục Hung Nô. Thời Hán Vũ Đế, Trương Khiên là sứ giả
Tây Vực lập được công lớn. Lần thứ nhất vào năm 139
trước CN, ông đi sứ Tây Vực bị người Hung Nô bắt giam
hơn 10 năm, ở đây ông cưới vợ sinh con. Nhưng ý chí của

83


Click to View FlipBook Version