- Chuyến bay định kỳ Urumqi - Korla - Thả Mạt mỗi
tuần một lần. Tháng bảy năm 1979 chính thức bắt đầu.
Tôi hỏi:
- Trong mỗi chuyến bay có đủ chỗ cho hành khách
không?
- Chuyến nào cũng đầy khách. Giá vé rất rẻ, so với đi
bằng ô tô thì không đắt bao. nhiêu, mà lại an toàn, thoải
mái, tin tưởng.
- So với giá vé đi ô tô thì sao?
- Ồ! Đi xe thì phải vượt đèo, qua núi, rồi tiền ăn tiêu
dọc đường, tiền trú đêm ... còn đi máy bay, bay thẳng một
mạch.
- Ngoài hành khách trên tàu là cán bộ đi công tác và
viên chức các xí nghiệp ra, có dân thường mua vé đi máy
bay không?
- Cũng có sinh viên đến Urumqi học đại học, rồi những
học sinh các trường chuyên nghiệp, những nông dân đi
chữa bệnh ở bệnh viện thành phố, và cũng có những người
đi thăm bạn bè thân thích ... Sau khi có các chuyến bay,
người dân Thả Mạt có thể đọc báo chí, tập san mới phát
hành, chứ còn trước đó chỉ đọc các loại sách sử, sách văn
học mà thôi.
Người dân Thả Mạt như bị phong tỏa khá lâu, nay có
các chuyến bay hàng không dân dụng, họ rất hoan nghênh,
tâm tình vui vẻ ra mặt. Họ hăng hái tham gia lao động công
ích, chỉ trong một thời gian ngắn phi trường Thả Mạt được
tu sửa hoàn chỉnh.
434
NƯỚC LÂU LAN CỔ ĐẠI BỊ CHÔN VÙI TRONG
SA MẠC
Đoạn đường từ Thả Mạt đi Nhược Khương theo hướng
tây bắc dài 340 cây số, chúng tôi khởi hành từ lúc trời chưa
sáng. Ra khỏi huyện thành, trước hết đi về hướng nam đối
diện với dãy Côn Luân. Phía đông hửng sáng, mặt trời vẫn
chưa lên khỏi mặt đất, ánh hồng nhạt đã phản chiếu trên
đỉnh núi tuyết của dãy Côn Luân. Cả vùng đất mênh mông
còn chìm trong cõi tờ mờ của buổi chớm bình minh, núi
non tầng tầng lớp lớp như đang khoác trên mình tấm lụa
mỏng màu xanh nhạt, cho ta cái cảm giác huyền ảo, thần
bí. Tôi vẫn chú mục về phía đông để chính mắt mình được
thấy cảnh mặt trời mọc trên sa mạc. Nhưng chẳng may một
làn mây mỏng che khuất phía chân trời. Đợi đến lúc ánh
triều dương ra khỏi đám mây với ánh sáng rực rỡ mê hồn
thì đồng hồ đã chỉ tám giờ ba mươi làm phút (ở đây tính
theo giờ Bắc Kinh, còn giờ địa phương chỉ mới sáu giờ ba
mươi lăm).
Sau khi qua một con sông, chúng tôi rẽ về hướng đông
bắc, vin theo đường núi mà đi, thế đất tương đối cao, ngồi
trên xe nhìn xuống phía trái là mặt bắc thì biển cát mênh
mông, tựa như sóng biển nhấp nhô, trông rất hùng tráng.
Mười một giờ chúng tôi thấy một tấm bảng chỉ đường
ghi rõ là đã vào địa giới huyện Nhược Khương. Thỉnh
thoảng cồn cát chôn lấp cả mặt đường, chiếc Jeep của
chúng tôi đã hai lần chui vào cát, nhưng chúng tôi đã có
kinh nghiệm đi xe trên cát nên không có gì phải hoảng hốt,
chỉ cần lấy xẻng xúc hết lớp cát mịn dưới bánh xe và thân
xe, sau đó rú hết ga phóng lên phía trước, thế là thoát hiểm.
Tuy thế, tài xế vẫn luôn luôn chú ý cẩn thận trên những
đoạn đường có cát chảy, cát lún.
435
Ra khỏi đám cát chảy lại gặp một khu rừng hồ dương
tự nhiên, sau đó lại xuất hiện những đám lau sậy, thế là dần
dần đến vùng lục châu. Qua khỏi công xã Ngoa Thạch Giáp
thì đến huyện Nhược Khương.
Huyện thành rất nhỏ chỉ có một con phố lớn cỡ chưa
bằng một thị trấn nhỏ ở nội địa. Nhân khẩu toàn huyện chỉ
hai vạn hai ngàn người trên một diện tích Hy Lạp và Hà lan
cộng lại, tuyệt đại bộ phận là sa mạc, ao đầm và đất núi vô
sinh. Huyện có hồ La Bố Bạc nổi tiếng, thời cổ đại là hồ
lục địa do sông Tarim và sông Xa Nhĩ Thần hợp lưu gọi là
biển Bồ Xương hay Diêm Trạch, ngày nay đã khô cạn.
Vào thời Tây Hán, Nhược Khương là một tiểu quốc
nằm gần Dương Quan. Hán thư ghi chép: “Ra khỏi Dương
Quan, nước gần nhất là Nhược Khương ... phía tây tiếp giáp
với Thả Mạt, phía tây bắc kéo dài đến nước Thiên Thiện và
cũng là một thông đạo”. Như vậy nước Nhược Khương ở
lệch về phía nam, nó không nằm trên tuyến nam của con
đường tơ lụa.
Trên thực tế, huyện Nhược Khương ngày nay chính là
nước Lâu Lan thời cổ đại, hoặc là đất xưa của nước Thiên
Thiện. Đó là một nước đã từng có tên trong lịch sử.
Hán thư, phần truyện Tây Vực ghi về tuyến nam của
con đường tơ lụa như sau: “Từ Ngọc Môn quan, hay Dương
Quan đi Tây Vực có hai con đường. Từ Thiên Thiện đi cạnh
núi Nam Sơn và sông Bắc Ba theo hướng tây đến Sa Xa
gọi là nam đạo (tuyến nam) ...” Sách trên còn viết: “Ra khỏi
Ngọc Môn, qua Thiên Thiện, Thả Mạt và Tinh Tuyệt
đường dài hơn 3000 dặm để đến nước Câu Nhĩ”.
Như vậy, chúng ta có thể thấy nước Thiên Thiện là
trạm đầu tiên ở tuyến nam của con đường tơ lụa sau khi ra
khỏi Ngọc Môn quan.
436
“Nước Thiên Thiện vốn có tên là Lâu Lan, có vua trị
vì thành Vu Nê ... đất thiếu muối khoáng, thiếu ruộng, lúa
gạo, chỉ nhờ vào nước láng giềng. Nước chuyên sản xuất
ngọc, có nhiều lau sậy, liễu đỏ, hồ đồng, bạch thảo. Dân
sống bằng nghề du mục, chỉ dựa vào nguồn nước và cỏ
thiên nhiên, nuôi nhiều lừa và lạc đà ...”
Lâu Lan vốn là trạm đầu tiên trên con đường thông
vãng Tây Vực, mặt bắc giáp với Hung Nô, cho nên Lâu
Lan không thể tránh khỏi vòng xoáy của cuộc tranh chấp
giành quyền kiểm soát vùng Tây Vực giữa nhà Hán và
người Hung Nô.
Sứ thần nhà Hán đi Tây Vực thì Lâu Lan là nước đầu
tiên phải đi qua, quần thần vương quốc phải tiếp đãi chu
tất, phải gánh vác thêm những chi phí đôi lúc không kham
nổi. Hung Nô lợi dụng tình trạng này sách động người Lâu
Lan công kích sứ nhà Hán. Triều đình nhà Hán lại đem binh
thảo phạt, Lâu Lan phải hàng phục. Hung Nô nghe thế lại
hưng binh hỏi tội. Thế là vua Lâu Lan phải một cổ hai tròng
đành đưa con mình sang làm con tin ở cả hai nơi: Hung Nô
và Hán. Triều đình nhà Hán có quở trách tại sao làm như
thế thì họ bảo: “Một nước nhỏ nằm giữa hai nước lớn không
thể không phụ thuộc vào cả hai, nếu không làm thế, nước
chúng tôi làm sao có thể tự an được!” Như vậy, có thể thấy
thời bấy giờ tiểu quốc Lâu Lan lâm vào một tình trạng rất
khó xử.
Tình hình này kéo dài khá lâu, Lâu Lan phải chu toàn
cả hai bên Hán và Hung. Họ thường bị người Hung Nô sách
động phải sát hại sứ thần nhà Hán mỗi khi có sứ nhà Hán
đi Tây Vực. Năm 77 trước CN, tức Nguyên Phượng năm
thứ tư đời Hán Chiêu Đế, đại tướng Hoắc Quang sai Phó
Giới Tử hành thích vua Lâu Lan, lập Úy Đồ Kỳ lên làm
vua, đổi tên là nước Thiên Thiện.
437
Để được nhà Hán bản hộ, Úy Đồ Kỳ xin nhà Hán phái
tướng sĩ vào bổn quốc đóng đồn binh, xây đồn điền ở thành
Y Tuần.
CỐ ĐÔ NƯỚC LÂU LAN TẠI NƠI NÀO?
Nước Lâu Lan sau đổi tên là Thiên Thiện mà ngày nay
thuộc khu vực huyện Nhược Khương ở Tân Cương bao
gồm vùng La Bố Bạc là điều không còn nghi ngờ gì nữa.
Nhưng kinh đô Vu Nề của nước Lâu Lan và thành Y Tuần
của đồn binh thời nhà Hán rốt cuộc nằm nơi nào thì nhiều
học giả trong và ngoài nước lại có nhiều giả thuyết khác
nhau.
Nhà học giả chuyên về địa lý thời cổ là Phùng Thừa
Quân cho rằng huyện thành Nhược Khương (tiếng Uygur
gọi là Charklik) ngày nay chính là Vu Nê, kinh đô của nước
Lâu Lan, còn cách phía đông Mê Lan chừng tám mươi sáu
cây số chính là thành Y Tuần, đồn binh của nhà Hán ngày
xưa, và nay là một nông trường.
Nhà khảo cổ học người Anh là A.Stein thì cho rằng Mễ
Lan tức là Vu Nê, kinh đô của nước Lâu Lan, còn Charklik
mới là thành Y Tuần.
Năm 1900, một nhà khảo cổ học người Thụy Điển dưới
sự hướng dẫn của một người Uygur tên là Airtik đã phát
hiện một tòa cổ thành ở La Bố Bạc gần sa mạc có tọa độ cụ
thể là tám mươi chín độ bốn mươi lăm kinh đông và bốn
mươi độ bốn mươi vĩ bắc. Về sau, người ta đào được một
tấm gỗ ghi văn tự Tây Vực đọc âm là Koraina và cho rằng
đó là tiếng của nước Lâu Lan. Và cũng theo đó nhà học giả
ngoại quốc ấy cho rằng khu cổ thành ở sa mạc này mới là
thành Vu Nê, kinh đô của Lâu Lan cổ đại.
438
Hai nhà học giả Trung Quốc Hoàng Văn Bật và Vương
Quốc Duy không đồng ý với giả thuyết trên và cho rằng
không thể chỉ vì trong văn thư đào được có văn tự của
người Lâu Lan mà đoán định đó là kinh đô của nước Lâu
Lan được.
Nhưng những người làm công tác khảo cổ Trung Quốc
vẫn chưa đặt chân đến cổ thành này, mãi đến tháng tư năm
1980 Sở Nghiên cứu Khảo cổ Viện Khoa học Xã hội Tân
Cương mới cử Mục Thuần Anh và Vương Bính Hoa hướng
dẫn một đội làm công tác khảo cổ xuất phát từ Đôn Hoàng
và ngày mười sáu tháng tư thì đến khu cổ thành ấy. Họ làm
việc trong hai mươi ngày. Theo tìm hiểu và khảo sát của họ
thì cổ thành có diện tích vuông vắn, mỗi bề ước khoảng
300 mét, chung quanh có tường thành, bố cục kiến trúc bên
trong nội thành có chủ thứ phân minh. Phía đông thành có
một tòa tháp thật, chiều cao còn lại là mười mét bốn mươi
phân. Họ thu nhặt được nhiều văn vật gồm tiền tệ đời Hán,
chữ khắc trên gỗ bằng tiếng Hán và tiếng Khư Lô; đồ dệt
bằng tơ lụa hoặc bằng lông thú v.v... Mọi người đang chờ
đợi công bố kết quả nghiên cứu của họ. Còn riêng tôi, tôi
hy vọng họ sẽ có những phân tích mới mẻ về tòa cổ thành
ấy để khẳng định nó có phải là của nước Lâu Lan cổ đại
hay không.
KẾT THÚC CUỘC DU HÀNH QUANH SA MẠC
TAKLAMACAN
Sau khi từ biệt Nhược Khương, chúng tôi đi về hướng
bắc, như vậy là chúng tôi đã chuyển qua bờ đông của sa
mạc Taklamacan. Có lẽ việc tu sửa và bảo hộ cả đoạn
đường trên sa mạc này rất tốn hao tâm lực. Ngoài việc thực
hiện công trình ngăn cát bàng gỗ tấm làm hàng rào và các
phương cách phòng chống khác, còn có một con đường lớn
439
dài một trăm cây số lát bằng gạch. Đó là đoạn đường thuộc
vùng hạ lưu sông Tarim. Nước trong lòng đất khá ẩm ướt
nên rừng hồ dương tự nhiên ở đây rất xanh tốt. Du hành
trong sa mạc nhiều ngày tôi hầu như đã yêu thích rừng hồ
dương lúc nào không biết nữa.
Rừng hồ dương màu vàng óng, suốt chặng đường xe
chạy trên nền gạch, nó là bạn đồng hành của chúng tôi. Con
đường có lối cấu tạo mới lạ này dài chừng một trăm cây số
đã đưa chúng tôi đến huyện Uy Lê. Hai bên đường bắt đầu
xuất hiện lau sậy, rừng nhân tạo... và cuối cùng là ruộng lúa
và vườn trồng bông vải. Chạng vạng tối, chúng tôi đến
được nông trường quốc doanh số ba mươi tư thuộc châu tự
trị Mông Cổ
Ba-âm-cách-lăng. Sau bữa cơm tối ngon lành, chúng
tôi ngủ lại qua đêm ở đấy. Du hành ở vùng Tân Cương rộng
lớn, tôi rút được một kinh nghiệm là khi vào một nông
trường thường được ăn thức tươi ngon và giá tiền lại rẻ.
Sau bữa cơm còn được mời ăn dưa hấu, dưa Ha Mật và
hương lê. Vòng quanh sa mạc Taklamacan, trên đường đi
luôn đều được ăn dưa hấu và dưa Ha Mật. Theo nhận xét
của chúng tôi thì dưa ở đông bộ Tân Cương ngọt hơn so
với dưa ở tây bộ Tân Cương, trong đó dưa ở Ca Thập và
dưa ở A Khắc Tô là số một. Dưa ở nông trường số ba mươi
tư có thể sánh ngang với loại dưa Tolophan.
Chủ nhà thấy chúng tôi ăn dưa một cách thích thú, ông
xách ra một giỏ lớn bỏ lên xe, chúng tôi cố từ chối nhiều
lần, ông bèn nói:
- Dưa năm nay đặc biệt được mùa, lại không có người
thu mua, gởi các anh đem về Bắc Kinh ăn xem cho biết thế
nào, có gì phải ngại?
Tập đoàn sản xuất số bốn mươi ba là một tập đoàn sản
xuất nông nghiệp nằm ở cực đông dọc sông Tarim. Trong
440
quá khứ, đoạn cuối của sông Tarim chảy vào La Bố Bạc,
nhưng ngày nay trên dọc dòng chảy này người ta lợi dụng
chúng để lấy nước tưới tiêu nên đến nông trường số bốn
mươi ba lượng nước càng ngày càng giảm giống như đoạn
cuối của mũi tên vậy. Do đó, nông trường này có hơn mười
vạn mẫu đất canh tác, nay do lượng nước không đủ nên đã
giảm đi hơn sáu vạn mẫu.
Sáng hôm sau, chúng tôi men theo đường cái đi về
hướng tây bắc, ven đường là những đường mương chống
thẩm thấu, nước rộng thoáng thẳng tắp dẫn nước từ sông
Tarim lại. Hai bên mương là ruộng lúa hoặc rừng nhân tạo.
Buổi trưa, chúng tôi ngồi bên bờ nước dưới bóng cây râm
mát nghỉ ngơi chốc lát bỗng thấy một con hươu nhảy qua
mương nước, nhẹ nhàng nhanh chóng; tiếp theo là ba con
khác cũng nhảy qua. Thì ra đó là đàn hươu được thuần
dưỡng của nông trường sông Tarim.
Lại tiếp tục đi tới thì thấy dòng Tarim đang cuồn cuộn
chảy, nó làm tim tôi rung động. Từ khi đến Nam Cương
đến nay lúc nào tôi cũng nghĩ đến nó, tuy đã vượt qua ba
nguồn sông của nó là A Khắc Tô, Diệp Nhĩ Khương và Hòa
Điền, nhưng trước sau vẫn chưa nhận rõ chân diện mục của
nó. Hôm nay chính mắt mình trông thấy thì làm sao không
vui sướng cho được. Sông Tarim dài 2179 cây số. “Tarim”
tiếng Uygur có nghĩa là “trồng lúa” Từ thời nhà Hán bắt
đầu thông vãng Tây Vực sông Tarim đã từng nuôi dưỡng
sĩ tốt nhà Hán từ xa đến để lập đồn điền mở rộng ảnh hưởng
ngoài biên giới. Ngày nay, dọc sông, người ta lập ra rất
nhiều nông trường.
Sau khi chúng tôi từ biệt nông trường Ba Châu số ba
mươi tư thì lại qua nông trường Ba Châu số ba mươi tám
... Nhưng nông trường này thuộc huyện Uy Lê mà dưới
triều nhà Hán là nước Cừ Lê, tức một trong những địa khu
441
ở biên ải mà Nhị Sư tướng quân Lý Quảng Lợi khi viễn
chinh nước Đại Oản đã từng lập đồn binh ở đấy vào năm
101 trước CN.
Đến gần huyện lỵ Úy Lê, sau khi qua khỏi sông Khổng
Tước, xe chúng tôi trở lại trên đường nhựa sau nhiều tháng
xa cách, chúng tôi cảm thấy bình ổn, thư thái một cách đặc
biệt, và xe chạy êm ru và văng vẳng bên tai nghe có tiếng
nước chảy giống như một bản hợp tấu làm mê sướng lòng
người ... Tôi cảm nhận một giai điệu êm ả thích thú và trong
cõi mơ mơ hồ hồ ấy, chúng tôi đến Korla lúc nào không
hay, chúng tôi đang nằm gọn trong lòng dãy Thiên Sơn
tráng lệ, hùng vĩ.
Đã kết thúc chuyến vòng quanh đại sa mạc
Taklamacan hoàn toàn thuận lợi. Nhưng trong giờ phút
này, tâm hồn tôi đang bay tới bên kia dãy Thông Lĩnh.
Không biết đến bao giờ tôi có thể vượt qua cao nguyên
Pamia để đi về hướng Địa Trung Hải trên con đường tơ lụa
cổ đại ở ngoài địa phận Trung Quốc?
442