The words you are searching are inside this book. To get more targeted content, please make full-text search by clicking here.
Discover the best professional documents and content resources in AnyFlip Document Base.
Search
Published by ngoc.ngphuong, 2020-09-21 02:01:48

CON ĐƯỜNG TƠ LỤA - Xa Mộ Kỳ

CON ĐƯỜNG TƠ LỤA - Xa Mộ Kỳ

ông cũng nói thêm những gì chưa được khoa học khai phá
thì chưa thể kết luận được. Sự tìm hiểu này dầu chưa có kết
quả xác đáng song cũng khiến tôi ý thức rõ rằng lộ trình mà
tôi đã đi qua về cơ bản vẫn phù hợp với tuyến bắc cua con
đường tơ lụa thuộc đời Đường.

Tại phòng làm việc của Tư Văn Trị thấy có mấy khối
“vân văn ngỏa đang” và “thằng văn đồng ngỏa”. Đây là
phong cách kiến trúc điển hình về nghệ thuật ghép mảnh
sành trong các nhà cửa quan gia đời Hán. Nó cho thấy lực
lượng chính quyền triều Hán thời bấy giờ đã lan tới vùng
bắc Thiên Sơn và còn uy hiếp cả người Hung Nô tận khu
vực này. Người ta còn đào được ở đây một khối “vân văn
ngỏa đang” và đã từng đem triển lãm tại phòng trưng bày
văn vật thuộc con đường tơ lụa ở Nhật Bản, và đã khiến
nhiều chuyên gia chú ý.

Từ thế kỷ thứ II trước CN, sau khi Hán Vũ Đế phái
Trương Khiên đi sứ Tây Vực, nhà Hán và Hung Nô đã tiến
hành nhiều cuộc chiến tranh kéo dài hơn bảy mươi năm tại
Tây Vực. Đến đời Hán Tuyên Đế niên hiệu Thần Tước năm
thứ hai (năm 60 trước CN), vua Hung Nô là Nhật Trục
Vương dẫn đại binh đầu hàng nhà Hán, bấy giờ nhà Hán
mới chính thức thiết đặt việc đô hộ Tây Vực, cử trưởng
quan tối cao thống lĩnh địa hạt Tân Cương. Lúc đó bắc lộ
Thiên Sơn vẫn còn một phần đất thuộc Hung Nô. Đến năm
58 trước CN, toàn bộ vùng đất này mới trực thuộc chính
quyền trung ương nhà Hán. Những năm đầu đời Đông Hán,
khu Tân Cương xảy ra tình hình cát cứ, bắc Tân Cương bị
người Hung Nô chiếm lại. Chính quyền Đông Hán một lần
nữa phải tiến đánh mới thu phục lại toàn bộ Tân Cương.

Theo đó, chúng ta thấy lối kiến trúc chính thức thuộc
đời Hán tại huyện Kỳ Đài bắc Tân Cương có một ý nghĩa
rất lớn. Từ Văn Trị nói Thạch Thành Tử hiện ở một nơi

184

cách phía nam huyện ly chừng 50 cây số, tôi quyết định tự
mình đến đấy để xem thử thế nào.

MẬT ONG, HOA HOUBLON ...

Lên xe rời huyện lỵ đi về hướng nam, rồi tiến vào khu
núi đồi ở phía bắc chân núi Thiên Sơn, qua nông trường
quốc doanh Tam Phân để ăn trưa thì gặp ngay ông Trần
Nhất Tinh, là phó giám đốc nông trường. Ông vốn là người
Vô Tích, tỉnh Giang Tô, thấy có khách từ nội địa đến, ông
rất vui vẻ, ông tha thiết mời chúng tôi lưu trú, tham quan.
Ông nói:

- Mục dân Hazak trong núi đang cử hành mỗi năm một
lần đàn ca xướng hát, cớ sao các anh không ở lại nông
trường một đêm, sớm ngày mai hàng đi, tham quan cổ
thành xong rồi đi lên núi xem qua cuộc vui của mục dân
Hazak há chẳng phải không hay lắm sao?

Bạn đồng hành của tôi đồng ý thì tôi cũng đành phải
theo thôi?

Đây là một nông trường có dạng như một hoa viên. Ở
đây người ta trồng hạnh, táo. Có một khu thí nghiệm trồng
cây ăn quả khá lớn, người ta trồng nhiều loại cây ăn quả,
cây thuốc. Tại đây còn được thấy quả văn quan nổi tiếng
xưa nay. Nó là loại cây ép dầu có năng suất rất cao. Chúng
tôi đang tham quan bộ phận nuôi ong, được thưởng thức
mùi vị mật ong tuyệt hảo. Trạm thủy điện tự cung ứng điện
cho cả nông trường và chuẩn bị đưa điện về huyện lỵ. Tản
bộ bên bờ suối giữa rừng xanh, không khí ẩm ướt cơ hồ
như quên khuấy mình đang ở nơi biên tái khô hạn của sa
mạc.

Tiện đường, chúng tôi ghé vào một gia đình làm nông
nghiệp phổ thông, nhà cửa phòng ốc rộng rãi thoải mái,

185

trong nhà bài trí gọn gàng sạch sẽ, lịch sự, thật hoàn toàn
nằm ngoài dự đoán của tôi. Bước vào cổng chính là một
vuông sân rộng được quét tước gọn sạch. Giữa sân là một
bồn hoa trồng hoa nguyệt quý, hoa phiên liên. Phía nam là
một dãy nhà bốn phòng, trước hiên nhà có hàng cột chống
đỡ dãy hành lang, đó là phỏng theo lối kiến trúc của người
Uygur. Chính giữa là một gian phòng rộng chừng 20 mét
vuông. Một bên là giường nằm, chăn chiếu xếp đặt gọn
gàng, lấy khăn vải phủ lên. Phía trên bàn thờ sát tường có
treo một cái đồng hồ ở ngay giữa, hai bên treo bầu rượu,
đĩa và các thứ trang trí khác, tất cả đều ở dạng đối xứng,
người ta nói đó là phỏng theo tập quán của người Uygur.
Con trai của gia chủ là một giáo viên tiểu học. Theo lối sinh
hoạt thường nhật của gia đình này mà xét thì mức thu nhập
tương đối khá cao, bằng mức thu nhập của nông dân ở nội
địa.

Sau này Trần Nhất Tinh nói với tôi là gia đình này gốc
người Thiểm Tây, đời trước chạy lánh nạn đói đã đến Tân
Cương sinh sống đến nay đã năm đời, tự xưng mình là “Lão
Tân Cương”. Người xưa nói “vui đến nỗi không nhớ nước
Thục”, theo tôi thấy thì gia đình “Lão Tân Cương” này đã
mải “vui không còn nhớ gì đến Thiểm Tây” nữa.

Buổi tối, tôi và Trần Nhất Tinh, người quê Thái Hồ,
tỉnh Giang Nam xa xôi đến chốn biên ải này ngồi nói
chuyện phiếm. Tôi hỏi ông có phải ông cũng đã “mải vui
không còn nhớ gì nước Thục” chăng? Ông thẳng thắn thừa
nhận rằng đời sống vật chất ở đây tuy rất tốt nhưng vẫn nhớ
về cố hương, cách vài ba năm ông lại về thăm cha mẹ một
lần. Ông nói con người luôn luôn lưu luyến đến đất cũ
người xưa, huống chi đất Giang Nam từ xưa đến nay vốn
được tôn xưng là “thiên đường của nhân gian”, thử hỏi làm
sao không nhớ cho được!

186

Ông là sinh viên tốt nghiệp khoa nông nghiệp, có chí
nguyện đi kiến thiết vùng biên cương. Ngày nay ông đã đưa
vợ con đến, nhà cửa ổn định, vật dụng phòng ốc đầy đủ,
giống như một người Tân Cương chính cống. Ông nói:

- Tôi làm việc, sinh sống trên mảnh đất này đã 15 năm,
mắt đã chứng kiến núi hoang thành cây trái, nên đã có tình
cảm sâu nặng, nguyện suốt đời cống hiến cho vùng Thiên
Sơn này!

Ông cho là tiền đồ phát triển vùng Thiên Sơn này rất
to lớn. Khí hậu ở đây vuông ấm, hè mát, đôi khi còn ẩm
ướt nữa, điều đó là do khí nóng ở lòng chảo Chuẩn Hát Nhỉ
bốc cao vận hành về hướng nam bộ núi Thiên Sơn chận lại
và vùng đồi án ngữ phía trước mà hình thành một lớp ôn
nhiệt tương đối ổn định. Do đó ở đây có điều kiện phát triển
các hình thức kinh doanh về cây ăn quả, cây dược liệu, hoặc
nuôi ong lấy mật v.v... Gần đây, Trần Nhất Tinh cùng các
bạn đồng nghiệp thí nghiệm thành công việc trồng hoa bia
(houblon, hốt-bố). Nông trường của họ được nhà nước chỉ
định là một trong những vùng trồng cây hoa bia cung cấp
cho toàn quốc, giọng ông nói nghe rất đỗi tự hào.

Đêm tâm sự với người đồng hương xứ Giang Nam đã
làm ấm lòng kẻ “du tử” là tôi này và họ đã giành được sự
kính trọng sâu xa từ trong đáy lòng tôi.

SỰ TÍCH VỀ CỔ THÀNH

Sáng hôm sau, từ biệt Trần Nhật Tinh tiếp tục đi đến
lòng chảo Sơn Gian, tức là vùng đất thuộc công xã Bán
Triệt Câu rồi leo núí lên đến tận đội sản xuất Ma Câu
Lương đi thăm di chỉ “Thạch Thành Tử”.

Một tráng niên người địa phương. dẫn chúng tôi leo
lên một ngọn núi, đến đỉnh, anh chỉ cho thấy di chỉ Thạch

187

Thành Tử. Tường thành không còn nhận ra nữa, ở khu nội
thành cũ, người ta trồng tiểu mạch nhưng ven bờ ruộng có
thể nhặt được những “vân văn ngỏa đang” và “thằng văn
đồng ngỏa” đời Hán. Đến phía bắc bờ tường thành hoang
phế, đứng trên cao nhìn xuống mới thấy địa thế của khu cổ
thành này vô cùng hiểm yếu.

Phía nam cổ thành là thảo nguyên và núi tuyết, phía
bắc giáp lòng chảo, hai phía đông tây là vách đá dựng đứng.
Cạnh đông cổ thành có một con suối sâu chừng mươi thước
chảy theo hướng bắc ven dọc bình nguyên. Từ trên cao nhìn
xuống thành lũy được phòng thủ vô cùng kiên cố. Thành
này khiến tôi nghĩ đến một sự tích có tính chất truyền kỳ
được ghi trong sử sách nói về danh tướng đời Đông Hán,
đó là Cảnh Cung khi đi đánh Hung Nô.

Cảnh Cung là viên quan chấp chưởng quân sự của triều
đình Đông Hán được phái đến đóng quân ở bắc Thiên Sơn.
Quân Hung Nô quấy nhiễu vùng Xa sư Hậu quốc, ông cố
thủ thành Kim Mãn (nay là Jimusar) và đẩy lui quân địch.
Sau đó Cảnh Cung cho là “cạnh thành Sơ Lặc có một con
suối có thể cổ thủ được, bèn dẫn quân đến trấn giữ. Tháng
bảy, quân Hung Nô lại đến tấn công … và chắn ngang dòng
suối ở dưới thành.

Trong thành, Cảnh Cung sai người đào giếng sâu đến
15 trượng mà vẫn không thấy nước , tướng sĩ đều khát,
đành phải vắt phân ngựa lấy nước uống”. (Hậu Hán thư -
truyện Cảnh Cung). Trong thời điểm nguy cấp ấy, Cảnh
Cung thở ra nói: “Nhị sư Tướng quân Lý Quảng Lợi cũng
trong cơn nguy cấp như vầy đã rút đao đâm xuống núi thì
suốí_nước tuôn trào, nay ta là quan của triều Hán thần minh
lẽ nào ta lại không làm được như vậy?” Nói xong, ông sửa
lại mũ áo quỳ về phía giếng quỳ lạy, ngẩng mặt lên trời cầu
đảo. Lát sau nước giếng phun lên, quân sĩ đứng chung

188

quanh tung hô vạn tuế. Cảnh Cung ra lệnh “quân sĩ hãy
phun nước lên cao để thị uy bọn giặc, giặc lấy làm lạ cho
là thần linh bèn rút lui”.

Từ sự tích của Hậu Hán thư ghi chép mà xét thì thành
Sơ Lặc ở trong lãnh địa của Xa sư hậu quốc, cách Jimusar
không xa, bên thành có suối nước, trong thành có đào giếng
sâu 15 trượng mà không thấy nước. Những điều đó phù hợp
về điều kiện địa lý của thành Thạch Thành Tử. Sau này tôi
tìm ra một số văn kiện lịch sử có liên quan đến huyện Kỳ
Đài xác minh rằng Thạch Thành Tử cũng chính là thành Sơ
Lặc đời Hán, nhưng rất tiếc là chưa đưa ra đủ chứng liệu.

CẢNH ĐẸP TRÊN MỤC TRƯỜNG VÀO MÙA HẠ

Lưng của Thạch Thành Tử dựa vào núi tuyết, đó là dãy
Bogda của Thiên Sơn, trong đó ngọn núi chính là Bogda
mà xưa nay vốn được các thi nhân ngâm vịnh, núi cao đến
5445 mét. Từ thành phố Urumqi nhìn theo hướng đông
cũng có thể thấy được. Những ngọn núi tuyết, chung quanh
Thạch Thành Tử đều có độ cao hơn mực nước biển trên
4000 mét.

Rời khỏi Thạch Thành Tử, chúng tôi hướng núi sâu đi
tới, không khí càng trong lành, cảnh sắc càng ngày càng
tráng lệ. Bầu trời trong xanh làm nổi bật các đỉnh núi tuyết
sáng lóng lánh hiện ra sau lớp kính cửa xe, xưa nay vẫn là
đề tài muôn thuở của hàng loạt bức tranh phong cảnh thiên
nhiên.

Xe chầm chậm leo lên một con đường đèo, tay ký giả
nhiếp ảnh Tiểu Cầm ngồi trên xe đột nhiên kêu lớn: “Đẹp
hết ý! Làm ơn dừng xe lại đi?” Chúng tôi xuống xe nhìn
ngắm, trước mắt hiện ra cảnh sắc tươi đẹp, chúng tôi ngơ
ngẩn giương mắt nhìn.

189

Đứng trên một bãi cỏ rộng, dưới chân toàn là hoa dại
muôn màu khoe sắc. Tôi nằm dài trên thảm cỏ xanh tận
hưởng hương vị của cỏ thơm và hoa dại tản mác quanh tôi.

Cạnh đầu chỗ tôi nằm cùng có thể nhìn thấy nào hoa
hồng, màu hồng phấn, màu tím nhạt, màu vàng non ... tựa
hồ như đang tập hợp lại tạo thành một bức tranh đầy màu
sắc, vừa tự nhiên vừa kỳ diệu. Xa xa là hàng hàng lớp cây
vân sâm xanh thẫm, nhưng đẹp nhất là giữa đám vân sâm
ấy, trên một đỉnh núi vắt ngang một tấm thảm màu vàng
óng, lấp lánh, mượt như nhung, và nếu ta đưa tay vuốt ve
nó thì có thể nhận ra cái vẻ mềm mại mượt mà như bộ lông
thiên nga. Đó chính là vườn hoa cải đang lúc nở rộ như tạo
thành một thứ ảo giác trước mắt ta. Trong không khí như
cảnh thần tiên khiến người ta say đắm ấy thì những ngọn
núi tuyết kia - núi tuyết ở Thiên Sơn mãi mãi thuần khiết -
ngạo nghễ sừng sững dưới bầu trời xanh thẳm. Từng đám
mây trắng như vững cái áo và khăn quàng đang vẫy múa
bên cạnh.

Tôi chăm chú nhìn cảnh tượng hiện ra trước mắt mình,
bỗng cảm thấy ân hận mình, không có khả năng âm nhạc
thiên phú. Nếu không thì tôi rất muốn viết một khúc giao
hưởng phổ lại những âm sắc tươi đẹp của cảnh thiên nhiên
diễm lệ này để ca tụng dãy Thiên Sơn hùng vĩ, ngạo nghễ
này của đất nước.

Theo bản tính tự nhiên, lòng tôi bỗng hứng khởi một
khát vọng về âm nhạc như vậy thì không lâu sau đó trong
buổi liên hoan hát xướng của các “a khẳng” (ca sĩ) đã đem
lại cho tôi sự đền bù xứng đáng.

“A khẳng” là tiếng Hazak có nghĩa là ca sĩ. Được đặt
danh hiệu là “a khẳng” trong số những mục dân là một danh
dự tối cao. Một “a khẳng”có thể tự biên tự diễn, vừa là
người diễn xướng vừa là một nhà thơ. Lịch sử có nói rằng

190

có tranh chấp xảy ra giữa những người trong bộ lạc Hazak
kéo dài mãi không thôi thì một “a khẳng” nổi tiếng xuất
hiện đứng ra hòa giải, chỉ cần đàn hát một bài là có thể biến
can qua thành bình định.

HỘI DIỄN ÂM NHẠC TRÊN ĐỒNG CỎ

Chúng tôi vượt qua một rừng tùg xanh tốt thì đi vào
một hang núi, sau đó là một vùng chăn thả có núi non bao
bọc chung quanh, người ta gọi đó là Hạ Oa Tử - tức bãi cỏ
chăn thả súc vật vào mùa hè. Ở đây lều trại mọc lên như
rừng, cờ hồng phấp phới, các cô gái Hazak áo quần sặc sỡ
và các chàng trai oai phong cưỡi trên những con tuấn mã
từ bốn phương tám hướng đi lại. Một bà lão khoác chiếc
khăn lụa trắng dài phết đất bên cạnh là cô cháu gái dìu đi,
cũng rời lều trại đến hội trường. Chúng tôi đến đúng giờ,
hội liên hoan hát xướng sắp bắt đầu.

Nghi thức buổi lễ ngắn gọn, hội đàn hát khai mạc bằng
một bài độc tấu đàn Ca-dắc Một người đàn ông khoảng năm
mươi tuổi ôm cây đàn Ca-dắc ngồi biễu diễn ngay trên thảm
cỏ. Ông một tay vuốt dây, một tay gảy đàn, bắt đầu bằng
nhịp chầm chậm, giai điệu ngọt ngào như bài mục ca, như
nước suối chảy, tiếng đàn như đưa ta đến nơi u tĩnh có trăng
thanh gió mát, lướt qua cảnh ý rừng thông. Rồi lát sau, khúc
đàn dần dần lên cao, hùng mạnh như thiên binh vạn mã
phóng nhanh trong bão tố cuồng phong, đàn cho đến lúc
cao trào bỗng nhiên im bặt. Tiếng vỗ tay nổi lên tứ phía
vang dội cả núi rừng.

Lúc hội đàn hát tạm nghỉ, rất nhiều mục dân vây quanh
ông yêu cầu đàn thêm mấy khúc nữa. Tôi cũng đứng một
bên thưởng thức. Khi hết đàn, tôi có hỏi họ tên của ông.
Ông tên là Tàng-ni-nhĩ Ha-bố-nhĩ. Tôi rất tiếc là không
mang theo máy cassette, nếu không thì mỗi khi nhớ vết kỷ

191

niệm ở Thiên Sơn tôi có thể mở máy lại để nghe tiếng đàn
Ca-dắc của Tàng-ni-nhĩ Ha-bố-nhĩ.

Xem ra nam nữ thanh niên rất thích nghe tiết mục hát
xướng. Hai phụ nữ chừng bốn, năm mươi tuổi đứng một
bên, hai người đàn ông đứng một bên. Đại khái hội dung
đàn hát là nhớ lại tình yêu thời trai trẻ, trong cái nét trữ tình
ấy có mang hơi hướng của sự hài hước, đôi khi làm cho cả
hội trường cười rộ. Lời ca đều do cảm hứng mà sáng tác,
bên hỏi, bên đáp, thi thố cùng nhau. Phụ nữ thường được
vỗ tay tán thưởng, xem ra có vẻ ưu thế hơn. Tôi thấy nữ ca
sĩ đầu tóc bạc phơ kia thỉnh thoảng nghiêng tai nói nhỏ với
đồng bạn, chị này gật đầu mỉm cười như đồng ý những xảo
tứ của bạn. Người nghe lúc đâu còn giữ trật tự ngồi yên một
bên, phân trên phân dưới hẳn hoi, nhưng về sau họ càng
nghe càng thích ý, đần dần tiến lên, cuối cùng họ bao vây
luôn cả bốn ca sĩ ...!

Hát cho đến khi thắng bại khó phân thì bên nữ đứng ra
chủ động đàn hòa, hát rằng:

- Thính giả giờ đây bụng đói cồn cào, nếu các anh
không cam lòng thấy mình thua trận thì hãy để cho chị em
tôi ăn no rồi tái đấu có được chăng? Hỡi nào!” Thính giả
bỗng cười ồ, rồi chấm dứt ra về.

Hội đàn ca xướng hát kéo dài sáu ngày, trong đó có
xen các tiết mục truyền thống của người Hazak như đua
ngựa và kéo dê. Chúng tôi muốn trở về huyện lỵ, nhưng
lưu luyến không dứt, hy vọng ở một mục trường khác sẽ có
cơ hội vui vẻ với anh chị em người Hazak một vài lần nữa!

192

12. HAI THỦ PHỦ XƯA VÀ NAY -

JIMUSAR VÀ URUMQI

Thời Thịnh Đường, biên giới phía tây xa đến tận Hàm
Hải. Để cai quản khu tây bắc rộng lớn ấy, triều đình nhà
Đường đã thiết lập ở đây hai trung tâm chính trị quân sự:
một là An Tây Đô hộ phủ, đặt tại nước Quy Tư (nay là
huyện Khố Xa, Tân Cương), cai quản từ vùng Thiên Sơn
đến địa phận phía nam sông Toái Diệp; và một là Bắc Đình
Đô hộ phủ, đặt tại Đình Châu (nay là huyện Jimusar, Tân
Cương), cai quản từ bắc Thiên Sơn đến khu đông bộ Hàm
Hải.

THI NHÂN NGÂM VỊNH CỔ THÀNH NƠI BIÊN
TÁI

Rời huyện lỵ Kỳ Đài men theo tuyến bắc của con
đường tơ lụa, tôi tiếp tục tiến về phía tây chừng 37 cây số
thì đến huyện Jimusar. Cát mộc và kim mãn (đầy vàng) hài
âm với nhau (jimu - kinman). Sar (Tát nhỉ) tiếng Uygur có
nghĩa là “thành lũy”. Tóm lại, Jimusar (Cát-mộc-tát-nhỉ)
tức là “Kim mãn thành” (thành đầy cả vàng). Thời Đông
Hán đã từng đóng quân ở thành Kim Mãn. Còn Đình Châu
đời Đường chính là dựa trên cơ sở thành Kim Mãn đời Hán
mà phát triển thêm, đến Trường An năm thứ II (702 CN),
nữ hoàng Võ Tắc Thiên mới thiết đặt Bắc Đình Đô hộ phủ
tại Đình Châu để cai quản vùng lãnh thổ bắc Thiên Sơn.
Đó là một trong hai thủ phủ ở Tây Vực thời cổ đại. Tôi vốn
ngưỡng mộ tiếng tăm Bắc Đình Đô hộ phủ từ lâu, nên khi
vừa mới đến Jimusar, tôi liền lên xe đi thăm cổ thành. Địa
sở cũ cách huyện lỵ 11 cây số về phía bắc, nay thuộc hai
đội sản xuất của công xã Quốc Khánh. Đang là mùa hạ,

193

ruộng tiểu mạch hứa hẹn một mùa bội thu, sự phát triển tốt
đẹp đã làm vui lòng mọi người dân ở đây.

Tại di chỉ cổ thành, rải rác đây đó những đoạn tường
xiêu vách đổ. Trèo lên góc tây bắc của đoạn tường thành
đổ nát nhìn bốn chung quanh thì cổ thành này là một hình
vuông có thể mang máng nhận ra. Thành phân ra nội ngoại
hai vòng: vòng thành ngoài có châu vi chừng 5000 mét.
Bước qua khỏi một cái động dùng làm cổng thành thì vào
đến nội thành, ở đây khắp nơi đều thấy những gạch bể, ngói
vụn.

Trước giải phóng đã từng có người ngoại quốc đến đây
đào bới khai quật bất hợp pháp. Nắn 1973, đội công tác văn
vật Trung Quốc đã tìm được một con dấu bằng đồng tại nội
thành và phát hiện ra gạch hoa hình vuông có hoa văn hình
bông sen, một đặc điểm trang trí trên gạch đời nhà Đường,
thêm vào đó còn có tiền đồng có khắc “Khai nguyên thông
bảo”, “Càn Nguyên trọng bảo” (Nhà Đường). Tại đây,
chúng tôi gặp đội khảo cổ thuộc phòng khảo cổ Trung Quốc
đang khai quật, hy vọng họ có thêm những phát hiện mới.

Khu cổ thành này, qua khảo sát, nghiên cứu, các
chuyên gia, họ đều nhất trí xác nhận là khu hành chính của
Bắc Đình đô hộ phủ.

Tôi đứng trên thành trông vời bốn phía nam là dãy
Thiên Sơn dài ngàn dặm, bắc là sa mạc Gôbi mênh mông
vô tận, đông có một con sông nhỏ, bên kia là sông là con
đường xưa quanh co uốn lượn chạy dài theo hướng Barkol.
Đúng là “Cô thành Thiên bắc bạn, Tuyệt vực Hải tây đầu”
(nghĩa là thành lũy lẽ loi bên bờ bắc Thiên Sơn, vùng đất
tận cùng tại phía tây Hãn Hải).

Đó là mấy câu thơ của Sầm Tham đời Đường sáng tác
khi đến nhậm chức ở Bắc Đình. Thơ nói về biên tái của ông
có nhiều bài đề cập đến Bắc Đình và Luân Đài thuộc Đình

194

Châu. Dưới ngòi bút của ông, thế giới băng tuyết ở biên
cương phía bắc được miêu tả một cách rất chân thật, ví dụ
như đoạn thơ sau đây:

“Bắc phong quyển địa bạch thảo triết,

Hồ thiên bát nguyệt khước phi tuyết.

Hốt như nhất dạ xuân phong lai ,

Thiên thu vạn thụ lê hoa khai.

Tán nhập chu liêm thấp la mạc,

Cô cừu bất noãn cẩm khâm bạc.

Tướng quân giác cung bất đắc khống,

Đô hộ thiết y lĩnh nan trước.

Hãn hải lan can bách trượng băng,

Sầu vân thảm đạm vạn lý ngưng.

Trung quân tri tửu ẩm quy khách,

Hồ cầm tỳ bà dữ Khương địch.

Phân phân mộ tuyết há viên môn,

Phong xiết hồng kỳ đống bất phiên …”

Tạm địch: Gió bắc thổi quét sát mặt đất, cây cỏ gãy
liệt, trời xứ hồ tháng Tám đã có tuyết rơi. Bỗng một đêm
gió xuân về, ngàn vạn cây lê hoa nở rộ. Tỏa lan vào phòng
làm ướt màn lụa. Áo đơn không đủ ấm, lại thêm chăn gấm
mỏng. Cung nỏ tướng quân bị đóng băng cứng không rút
ra được, áo giáp sắt của quan đô hộ lạnh đến nỗi rất khó
mặc. Dọc ven hành năng bờ Hãn Hãi băng đóng dài hàng
trăm trượng. Mây buồn áo não ngưng đọng ngoài ngàn
dặm. Trong quân mở tiệc rượu đãi khách trở về, tiếng đàn
tỳ bà xứ Hồ, cùng tiếng sáo đời Khương tấu xướng. Trời

195

chiều tuyết rơi ào ào ngoài cổng trại quân, đến nỗi cờ hồng
treo trên đó cũng đóng băng cứng, gió không lay động nổi.

Xem thế, ngay cả quân kỳ treo trước cổng trại cũng bị
đông cứng không thể tung bay trước gió thì ta có thể tưởng
tượng chân tay tướng sĩ tê lạnh biết chừng nào. Từ đó ta
liên tưởng đến tình cảnh người chiến binh thời xưa ở chốn
biên cương chịu gian nan vất vả đến thế nào trong việc
thống nhất Tây Vực, duy trì và bảo vệ sự thông thương của
con đường tơ lụa. Rõ ràng họ đã lập công to trong sự chinh
phục khu tây bắc.

CUỘC ĐẤU TRANH THÔNG NHẤT TÂY VỰC
HƠN 1300 NĂM TRƯỚC

Việc thiết lập An Tây Đô hộ phủ và Bắc Đình Đô hộ
phủ đánh dấu sự nghiệp to lớn của nhà Đường. đối với sự
thống nhất Tây Vực. Có một thời việc gian thương đông -
tây trên con đường tơ lụa bị gián đoạn nay mới được khôi
phục và còn đạt đến trình độ phồn thịnh mà trước đó chưa
từng có. Điều này có được là nhờ vua quan nhà Đường đã
trải qua nhiều năm tranh đấu, tiêu diệt sự quấy nhiễu của
người Tây Đột

Quyết. Thời Tùy - Đường, Tây Đột Quyết thường hay
uy hiếp Tây Vực giống như người Hung Nô đối với thời
Lưỡng Hán.

Đột Quyết là một dân tộc du mục cổ lão ở trên các sa
mạc phía bắc Trung Quốc, trước khi đã từng liên minh Với
bộ lạc Hung Nô, sau bộ lạc này giải thể mới bắt đầu dùng
tên gọi “Đột Quyết” và xuất hiện trên vũ đài lịch sử Trung
Quốc. Vào khoảng năm 552 CN, nước Đột Quyết thành
lập, nhưng không lâu sau đó lại bị phân liệt thành Đông Đột
Quyết và Tây Đột Quyết.

196

Tây Đột Quyết khống chế một khu vực rộng lớn từ bắc
Thiên Sơn, Tây A Nhĩ Thái Sơn đến đông Hắc Hải. Vào
thời cực thịnh của Tây Đột Quyết thì một số nước nhỏ ở
Nam Thiên Sơn đều bị họ khống chế hoặc uy hiếp.

Tây Đột Quyết và chính quyền trung ương nhà Đường
có mối quan hệ thân thuộc. Nhiều đời vua Tây Đột Quyết
chịu nhận sắc phong của vua Đường và hàng năm về triều
tiến cống. Sứ giả ngoại quốc gọi người Tây Đột Quyết là
người Trung Quốc và cho rằng lãnh thổ phía tây của tây
Đột Quyết là cương vực tây bộ của Trung Quốc. Thế nhưng
Tây Đột Quyết lại dùng quân cát cứ, đôi khi làm loạn, thậm
chí còn đem quân đánh lại nhà Đường.

Là một bộ lạc du mục, nên sự thống trị của Tây Đột
Quyết ở Tây Vực cực kỳ dã man. Họ cướp bóc lương thực,
súc vật của các nước nhỏ, đốt phá làng mạc, thành quách,
bắt bớ tù binh, nô lệ. Thương khác lai vãng trên con đường
to lục đôi khi cũng bị uy hiếp, cướp đoạt. Tây Đột Quyết
còn mưu đồ lũng đoạn việc buôn bán tơ lụa của Trung Quốc
với phương Tây đến nỗi phá vỡ mối quan hệ hòa mục của
người Ba Tư. Hàng loạt những hành động bạo ngược của
Tây Đột Quyết đã làm trở ngại sự tiến bộ của Tây Vực và
sự phồn vinh của nền giao thương của phương Tây.

Sau khi nhà Đường thống nhất Trung Nguyên, các tiểu
quốc ở Tây Vực và các quốc gia Tây Á tấp nập cử sứ thần
về triều yêu cầu nghiêm trị bọn Tây Đột Quyết để khôi phục
con đường tơ lụa.

Thế là trước hết nhà Đường đem quân tiểu trừ lực
lượng tây Đột Quyết ở nam Thiên Sơn, vào năm 658 CN,
nhà Đường đặt An tây Đô hộ phủ tại Quy Tư, xác lập vị trí
vững chắc của chính quyền trung ương tại đây.

Sự kiện này khiến Tây Đột Quyết cát cứ ở bắc Thiên
Sơn phải chấn động. Tù trưởng bộ lạc A-sử-na-hạ-lỗ không

197

đánh mà hàng, đích thân đến Trường An triều kiến Đường
Thái Tông và xin thần phục. Đường Thái Tông bèn lập Dao
Trì Đô đốc phủ tại bắc lộ Thiên Sơn, giao A-sử-na-hạ-lỗ
làm đô đóc, đóng trú sở tại Đình Châu (nay là Jimusar).

Đường Thái Tông dùng chính sách “dĩ di trị di” (lấy
người di trị người di), công lớn hoàn thành, nhà vua cảm
khái trong lòng nói: “Bốn biển đã yên, nghiệp đế đã vững,
trẫm nay vui quá!”.

Thực ra, A-sử-na-hạ-lỗ rất xảo quyệt, nấp dưới ngọn
cờ của nhà Đường, từ trong nội bộ của bộ lạc, hắn ta đã tự
gây dựng thế lực, chờ ngày đủ lông đủ cánh nổi dậy xưng
vương, dời đô đến lưu vực sông Y Lê, đồng thời lần nữa
đem binh tiến đánh nhà Đường.

Sau khi ảo tưởng về một nền hòa bình thống nhất Tây
Vực của nhà Đường bị phá vỡ, bắt đầu từ năm 652, nhà
Đường nhiều lần đem binh đánh giáp công A-sử-na-hạ-lỗ
từ hai cánh nam bắc, rồi tổng công kích tại lưu vực sông Y
Lê; A-sử-na-hạ-lỗ đại bại đào thoát về phía tây, chạy thẳng
đến Thạch Quốc và bị người Thạch Quốc bắt đem giao cho
quân đội nhà Đường. Từ đó, Tây Đột Quyết xưng hùng
xưng bá ở Tây Vực bị diệt vong, nhà Đường hoàn thành
công cuộc thống nhất Tây Vực vào năm 657 CN.

Nhà Đường thiết lập hai Đô hộ phủ ở Côn Lăng và
Mông Trì tại bắc lộ Thiên Sơn, phân chia việc cai trị lãnh
thổ vùng tây sông Toái Diệp. Năm 702, để tăng cường sự
thống trị tại Bắc Lộ Thiên Sơn, nữ hoàng Võ Tắc Thiên lập
Bắc Đình Đô hộ phủ ở Đình Châu, quản hạt luôn hai Đô hộ
phủ Côn Lăng và Mông Trì với số binh sĩ hơn hai vạn.

Nhờ sự thiết lập Bắc Đình Đô hộ phủ mà con đường
thông vãng đông-tây ở bắc Thiên Sơn lại được khai thông.
Sau khi khách thương trên con đường tơ lụa ra khỏi Đôn
Hoàng, không những có thể theo tuyến năm và tuyết bắc từ

198

sa mạc Taklamacan đi về phía tây mà còn có thể qua
Barkol, Bắc Đình đi thẳng đến lưu vực sông Y Lê tiến lên
phía tây để đến Ba Tư.

MỤC TRƯỜNG XINH ĐẸP - THỦ PHỦ CỦA KHU
TỰ TRỊ

Rời Jimusar tiếp tục men theo chân núi phía bắc Thiên
Sơn tiến về phía tây, đường đi toàn cát phẳng mênh mông,
hoang vu không người. Khi qua đây, tôi nghĩ ngay đến mấy
câu thơ của Sầm Tham đời Đường: “Luân đài cửu nguyệt
phong dạ, nhất xuyên tái thạch đại như đấu, tùy phong mãn
địa thạch loạn tẩu” (nghĩa là ban đêm thánh chín ở Luân
Đài gió gầm rú, cả một vùng đá lăn lóc to như cái đấu cũng
theo gió thổi bay chạy lung tung). Luân Đài vào đời Đường
thuộc Đình Châu, theo sử sách ghi chép thì cách phía tây
Đình Châu chừng 400 dặm, ước chừng ngày nay là vùng
gần Urumqi; lúc Sầm Tham đến nhậm chức ở Bắc Đình có
lẽ ông thường đến Luân Đài. Căn cứ vào những bài thơ của
Sầm tham trong tập “Toàn Đường Thi”, có đến mười chỗ
ông nói về Luân Đài. Có người ngộ nhận xem Luân Đài đời
Đường cũng là Luân Đài gần Đô hộ phủ Tây Vực đời Hán,
có vị trí tại phía đông huyện Khố Xa thuộc Nam Cương
ngày nay. Thế là họ không biết rằng tên gọi Luân Đài đời
Đường tuy lấy nguồn gốc Luân Đài đời Hán, nhưng vị trí
địa lý của hai nơi này lại rất xa nhau. Sầm Tham trong bài
“Phó Bắc Đình độ Lũng tư gia” (Đi Bắc Đình qua Lũng
Sơn nhớ nhà) có viết:

“Tây hướng Luân Đài vạn lý dư,

Dã tri hương tín nhật ưng sơ.

Lũng Sơn anh vũ năng ngôn ngữ,

Vi báo gia nhân số kí thư”.

199

Tạm dịch: Luân Đài ở phía tây xa xôi vạn dặm, nên tin
thư ở quê nhà ngày một thưa; trên núi Lũng Sơn chim anh
vũ hay thóc mách nhắn nhe là người nhà sẽ gửi nhiều tin
thư đến để báo tin đấy!

Trên đường nhà đi Bắc Đình, nghĩ đến “tây hướng
Luân Đài” ý muốn chỉ Luân Đài thuộc Bắc Đình Đô hộ phủ
mà hiện nay là khu vực bắc Thiên Sơn. Rất tiếc, ngày nay
không ai phát hiện ra di chỉ của Luân Đài cả nên tôi cũng
thể nào tìm cho ra ý cảnh trong câu thơ “Luân Đài thành
đầu dạ xuy giác” (trên thaàh Luân Đài đem khuya nghe
tiếng tù và thổi).

Trên đường đi, ngang qua ngọn núi tuyết Bogda tráng
lệ thì lát sau sẽ đến thành phố Urumqi. Ngày nay, Urumqi
là trum tâm văn hóa kinh tế, chính trị của khu tự trị người
Uygur ở tân Cương. Urumqi dịch âm tiếng Mông Cổ có
nghĩa là “mục trường xinh đẹp”. Thời cổ đại, con đường tơ
lụa thông suốt thì ở đây là vùng thảo nguyên mênh mông.
Thế nhưng ngày nay những người muốn tìm hiểu lịch sử
của con đường tơ lụa trước hết ai cũng phải đến Urumqi để
nghỉ ngơi, chuẩn bị những gì cần thiết cho chuyến đi dài.

Xuất phát từ Ha Mật men theo tuyến bắc của con
đường tơ lụa đi về phía tây. Lần thứ hai tôi đến thành phố
này. Lần trước, tôi đi máy bay từ Bắc Kinh đến. Lần đi ấy
đã để lại trong tôi nhiều ấn tượng sâu sắc đến nay tôi vẫn
còn nhớ rõ.

Tôi còn nhớ hôm trước khi máy bay cất cánh từ Bắc
Kinh, tôi được thưởng thức màn độc tấu “hắc quản” bài
“Ca ngợi Thiên Sơn” trong đêm nhạc hội do viện âm nhạc
trung ương tổ chức. Các giai điệu như mộng ảo kia đã khiến
tôi say mê. Trên chuyến bay ngàn dặm đi Urumqi này, trên
trời không một áng mây; nhìn xuống đất, cảnh vật như hiện
ra trước mắt. Máy bay lướt qua Vạn lý Trường thành, qua

200

sa mạc Gôbi, qua Gia Dụ quan rồi vào địa phận Tân Cương.
Tôi ngủ gật một thoáng và khi tỉnh ra thì trước mắt tôi hiện
ra ngọn núi tuyết Bogda tráng lệ, thần kỳ. Từ không trung,
nhìn xa xa về ngọn núi trứ danh độc đáo ấy của dãy Thiên
Sơn. Tôi kinh ngạc tự bảo: “Giấc mộng đi Tây Vực của
mình cuối cùng đã trở thành hiện thực đấy chăng?”

Vào thời cổ đại, Tây Vực dùng để chỉ vùng đất rộng
lớn ở về phía tây Đôn Hoàng, nó chiếm một khu vực trọng
yếu vừa rộng vừa dài, đó là vùng nam bắc dãy Thiên Sơn
và đông tây dãy Thông Lĩnh. Ngày nay lấy Urumqi làm thủ
phủ khu tự trị của người Uygur ở Tân Cương, đúng là vùng
đất trung tâm của Tây Vực thời cổ đại.

DU LỊCH TRÊN KHÔNG BAY QUA CON ĐƯỜNG
TƠ LỤA

Trong phòng đợi rộng thoáng bề thế của sân bay
Urumqi, du khách qua lại nhộn nhịp, đông vui. Những phụ
nữ người Uygur ăn mặc hoa lệ đi tới như đàn bướm lượn
làm mọi người chú ý, còn đám thanh niên người Hazak
chân mang giày cao cổ, để ria mép hình chữ bát trông thật
oai nghiêm. Trong phòng, tiếng cười nói râm ran, nhiều
nhất là tiếng Uygur và tiếng Hazak, thanh âm trầm bổng,
ngừng - nói vô chừng, còn tôi là một người hoàn toàn xa
lạ. Tôi tìm đến một nữ phục vụ người Hán nói chuyện,
nhưng nhận thấy ngay giọng nói của nàng rất lạ thường,
nhưng rất êm tai. Sau này tôi mới biết đó là thứ tiếng Hán
lai ngữ điệu tiếng Uygur, người ta gọi là tiếng Tân Cương.
Một địa phương có nhiều dân tộc cư trú, người ta sẽ dễ nhận
ra ảnh hưởng của nhau trên nhiều phương điện khác nhau.

Nhìn bảng chỉ dẫn các chuyến bay, Urumqi không
những có các chuyến bay đi Bắc Kinh, Thượng Hài, Lan
Châu mà còn có những chuyến bay định kỳ đến mười thành

201

phố trong khu tự trị như Ha Mật, Hòa Điền, Khố Xa, Y Lê,
Thả Mạt v.v... Đó chẳng phải là những nước nằm trên con
đường tơ lụa cổ đại như Sơ Lặc, Vu Điền, Quy Tư, Ô Tôn,
Thả Mạt... đó sao? Tôi thầm nghĩ nếu muốn nhanh hơn, ta
có thể đu lịch trên không bay qua con đường tơ lụa để tránh
sự lặn lội khổ nhọc qua một chặng đường dài trên đất liền.
Như người ta nói đường đi Thả Mạt chẳng hạn bị cách trở
bởi sa mạc, nên đến nay người ta vẫn còn sợ không dám đi.
Nhưng khi tôi đến Urumqi thì Thả Mạt vừa có tuyến hàng
không, thế thì tại sao mình không đi thử nhỉ? Ồ, nhưng tôi
đổi ý ngay vì tôi muốn khảo sát thực địa của con đường tơ
lụa, chính mình phải đích thân thể nghiệm một lần nữa sự
gian khổ trong việc khai mở con đường giao thương giữa
đông và tây của người xưa, vậy đi đường bộ là hay nhất.

Mỗi tuần, phi trường Urumqi có sáu mươi sáu chuyến
bay, hàng năm chuyên chở hơn mươi vạn hành khách, trọng
lượng hàng hóa khoảng hơn 1500 tấn. Nó là trạm hàng
không quan trọng của đường bay quốc tế ở nước ta đi các
nơi như Karachi, Téhéran, Frankfurt, Paris... Từ đó, ta có
thể thấy Urumqi có một vị trí đặc biệt trên “con đường tơ
lụa ngày nay”.

“BA TRÁT” VÀ QUANG CẢNH PHỐ PHƯỜNG

Đi sâu vào các khu thị tứ mới thấy thành phố ở đây
khác với thành phố ở Trung Nguyên, nó mang sắc thái Tây
Vực rất rõ nét. Hai bên đường phố lớn có nước chảy róc
rách dùng để tưới những cây dương đen. Giữa ngày trời
nắng, ta có thể ngồi dưới bóng cây hoặc bên bờ nước thật
là mát mẻ. Y phục đầy màu sắc của phụ nữ làm tăng thêm
vẻ tươi đẹp trên đường phố. Những ai cho trang phục ở Bắc
Kinh, Thượng Hải là đơn điệu thì tại Urumqi này sẽ cảm
thấy hài lòng. Có một số kiến trúc mái vòm sơn màu xanh

202

lục, có tâm nhọn, cổng hình cánh cung. Ở cửa nam khu cổ
thành có xây một nhà hát tân thời vừa trang trọng vừa xinh
đẹp với phong cách kiến trúc Trung

Á. Có một nơi mà người bản xứ gọi là “ba trát” (khu
họp chợ) thì đó là khu buôn bán. Có cửa hàng bán thịt dê
nướng, cơm bốc, nem nướng, bánh bao ... Những hương vị
độc đáo đó làm tôi nhớ lại buổi đi dạo qua một “ba trát” ở
Tamashica hơn hai mươi năm trước. Tôi bước vào một tiệm
bán nhạc cụ, bề ngoài trông có vẻ sơ sài, cô bán hàng người
Uygur mặc áo lụa, niềm nở tiếp đón. Trong tiệm treo đầy
các loại nhạc cụ dân tộc thiểu số, hình dáng rất kỳ lạ nhưng
rất đẹp mắt. Rất nhiều nhạc cụ có khảm xà cừ, đá quý, hiện
rõ nét hoa văn tinh tế. Điều này khiến tôi nhớ lại lần đi du
lịch Trung Đông có mua đem về một hộp gỗ nhỏ trên đó
người ta khảm hoa văn cách điệu trông rất giống hoa văn
khảm trên các nhạc cụ ở đây.

Cư dân Urumqi hiện nay khoảng hơn tám mươi vạn
người. Ngoài thành phần chiếm đa số là người Uygur còn
có các dân tộc anh em như Hồi, Hazak, Mông Cổ, Kirgiz,

Hán ...

Hơn hai ngàn năm trước, chu vi mục trường Urumqi
bao gồm các nước Ty Lục, Đơn Hoàn, Đông Thả Nhĩ, Tây
Thả Nhĩ, tức là các “hành quốc” (nước di chuyển) của các
bộ lạc du mục đi tìm nguồn nước và cỏ để chăn thả và cư
trú; nhân khẩu tổng cộng khoảng hơn 4000 người. Bấy giờ,
tại Tây Vực thì số dân như vậy xem ra tương đối nhiều.
Qua hàng ngàn năm biến đổi, lần hồi có dân du mục người
Đột Quyết, người Mông Cổ, người Hồi Cất tiếp nhau tiến
vào lưu vực sông Urumqi. Người Hồi Cốt vốn là tổ tiên của
người Uygur chiếm đa số ở Tân Cương. Họ xuất hiện sớm
nhất vào khoảng đầu thế kỷ thứ V CN tại mạn bắc Thiên
Sơn, nhưng phần lớn định cư tại

203

Tây Vực thì phải đến thế kỷ thứ IX. Cuộc sống của các
giống dân du mục tại lưu vực sông Urumqi là “không xây
thành quách, nhà cửa, không có chỗ ở nhất định, cho thuận
theo thời tiết, tìm nơi có nguồn nước và cỏ chăn thả bò ngựa
làm kế sinh nhai”. Do đó, khách thương lai vãng trên con
đường tơ lụa khi qua sông Urumqi thường không thấy nhà
cửa, thành quách. Phải đến thế kỷ thứ XVIII nhà Thanh
mới bắt đầu xây đựng doanh trại quân đội ở đây và dần dần
phát triển thành thị phố xá lớn vào bậc nhất tại Tân Cương.

Urumqi “nằm ở chân núi bắc Thiên Sơn, có đường
thông thương các nơi”. Phía đông là dãy Bogda của hệ
Thiên Sơn; phía nam là núi Ky~nhĩ-cổ-tử, giữa hai dãy núi
hình thành một vùng đất trũng, nam bắc dài chừng 120 cây
số, đông tây rộng chừng 20 cây số. Vùng trũng này giống
như một dải áo nối đến lòng chảo Chuẩn Hát Nhĩ của bắc
Tân Cương với lòng chảo Tolophan cửa nam Tân Cương,
nó còn giống một con dao lớn như muốn cắt ngang sống
lưng của dãy Thiên Sơn ra làm đông tây hai đoạn. Khu vực
chính của Urumqi nằm ở phía bắc của vùng trũng, núi non
bao bọc, sông nước vây quanh. Với vị trí ưu đãi như vậy,
Urumqi trong điều kiện lịch sử nhất định sẽ phát triển thành
trung tâm chính trị, văn hóa và kinh tế của cả vùng Tân
Cương rộng lớn.

CƠN SỐT VỀ CON ĐƯỜNG TƠ LỤA

Vào thời kỳ mà con đường tơ lụa thông thương, thì
Urumqi chưa xuất hiện, nhưng đến nay nó lại là địa điểm
quy tụ của nhiều tổ chức đoàn thể tạo thành một cơn sốt về
con đường tơ lụa.

Vừa đến nhà khách Urumqi thì thấy nhóm săn tin của
tờ “Họa báo Nhân dân” đang chớp ảnh. Họ nói với tôi Đài
Truyền hình Bắc Kinh và Hội Liên hiệp Phát thanh Nhật

204

Bản phái họ đến hoạt động trước ở Urumqi. Phân xã
Tân Cương của Tân Hoa xã chuẩn bị đón tiếp đoàn tìm hiểu
con đường tơ lụa của thông tấn xã Nhật Bản. Tân Hoa xã
cũng phái ký giả của mình đến thu lượm tin tức. Du khách
các nước đều dùng chiêu bài đoàn lữ hành tham quan con
đường tơ lụa cũng ùn ùn kéo đến. Các lữ quán ở Urumqi lo
không đủ chỗ cho khách. Ngoài ra, giới nghiên cứu lịch sử
của Urumqi đang chuẩn bị hội thảo có tính cách học thuật
về con đường tơ lụa lần đầu tiên kể từ khi lập quốc đến nay.
Tôi có gặp mấy vị học giả đã chuẩn bị đầy đủ cho các
chuyên luận của mình.

Bị cuốn hút vào cơn xoáy rầm rộ của phong trào tìm
hiểu con đường tơ lựa, Viện Bảo tàng Tân Cương trở nên
rộn rịp. Phó viện trưởng Lý Ngẫu Xuân bận đón tiếp khách
trong và ngoài nước suốt ngày. Ông làm công tác khảo cổ
ở Tân Cương đã hơn 25 năm nay. Khi tiếp tôi, ông sôi nổi
hào hứng nói là ông đã bỏ ra nhiều năm để viết các báo cáo
về công tác khảo cổ và các luận văn mang tính học thuật
nhưng chưa công bố, trong đó có những bộ nghiên cứu về
hang động ở Tân Cương và nhiều bài khảo sát về các di chỉ
cổ thành.

Tôi nói:

- Kết quả của các công trình nghiên cứu ấy rất đáng
quý, đối với chúng tôi việc làm đó khiến những người có
tâm huyết với con đường tơ lụa phải theo đuổi.

Ông khiêm tốn nói:

- Còn chưa được hoàn chỉnh lắm. Tôi đang chuẩn bị đi
tìm hiểu thêm nữa.

Mở tấm bản đồ Tân Cương ra, ông lấy tay vạch một
vòng quanh sa mạc Taklamacan ở phía nam Tân Cương rồi

nói:

205

- Tôi rất muốn theo dấu chân của các thương nhân thời
cổ lại đi một vòng xem sao?

- Tôi nghĩ thầm: “Hay lắm! Việc đó đáng làm lắm!”.
Dọc đường có biết bao nhiêu di chỉ cổ thành và chùa hang
động rên con đường tơ lụa ấy. Nếu có ông ta dẫn đường,
chỉ điểm thì lý tưởng biết chừng nào.

Thế là tôi không để lỡ cơ hội, đưa ra yêu cầu:

- Nếu anh đồng ý, tôi xin tình nguyện đi theo anh.

Ông lắc đầu và nói:

- Không, chúng ta phải là bạn đồng hành chút.

Về sau, tôi và tay ký giả nhiếp ảnh quả có đi một vòng
sa mạc Taklamacan, hành trình ước chừng 4000 cây số.
Tuy trước sau chúng tôi không cùng đi một đường với Lý
Ngẫu xuân, nhưng tôi cũng đã cưỡi lạc đà đi với ông một
đoạn đường dài 70 cây số trong sa mạc để tìm hiểu cổ thành
đời Đường bị sa mạc chôn vùi, thật là một cuộc tương ngẫu
đầy thú vị mà cả đời rất khó gặp. Về chuyến đi này, tôi sẽ
nói rõ sau.

BẢN KHẮC ĐÁ VÀ GIẤY THÔNG HÀNH

Dưới đề mục Con đường tơ lụa, viện bảo tàng Tân
Cương trưng bày nhiều văn vật quý báu. Những hiện vật
quý hiếm ấy là thành quả của những người làm công tác
khảo cổ Tân Cương đã mất nhiều năm lao động cần mẫn,
gian khổ. Xem qua một lượt, ta chọn mấy hiện vật có ý
nghĩa nhất để giới thiệu.

Đối với thực tế lịch sử, triều đại nhà Hán đã hết sức
duy trì bảo vệ con đường tơ lụa, Bài tụng ở đình ghi công
Lưu Bình Quốc (Lưu Bình Quốc tác đình tụng) (bản dập
lại) để lại một bằng chứng không còn nghi ngờ gì nữa.

206

Nguyên văn được khắc trên vách đá hang núi Bozeklak
(Bác giả khắc la khắc) ở đông bắc huyện Bái Thành, nam
Tân Cương. Bài tụng kiểu chữ lệ, khắc lõm, dạng chữ nắn
nót, rõ ràng dễ nhận, cả thảy có 101 chữ.

Nội dung của bản khắc đá trên là: “Tả tướng quân Lưu
Bình Quốc nước Quy Tư” suất lĩnh một số “người Tần”
(tức ý chỉ người Hán) như Mạnh Bá Sơn, Địch Hổ Bôn,
Triệu Đương Ty v.v... đi đục đá ở hang núi Bozeklak, lập
cửa ải, kiểm tra lữ khách. Năm khắc bản đá là Vĩnh Thọ
năm thứ tư Tuyên Đế đời Đông Hán, tức năm 158 CN.

Người làm công tác khảo cổ Trương Bính Hoa nói với
tôi là hang núi Bozeklak ở huyện Bái Thành là đường thông
thương từ nam Tân Cương vượt Thiên Sơn đến lưu vực
sông Y Lê ở bắc Tân Cương, mà vào thời cổ đại là cửa khẩu
thông vãng giữa nước Quy Tư và nước Ô Tôn. Khe núi này
rộng chỉ khoảng 6 mét 7, hai bên là vách đá dựng đứng, rõ
ràng là một cửa ải trọng yếu. Đến nay dưới vách đá vẫn có
thể thấy hốc đá sâu hơn một mét. Gần bản khắc đá còn có
di chỉ lũy đá của thời cổ đại phía đồng bằng ngoài khe núi
có một cổ thành bỏ hoang.

Liên kết các di chỉ nhìn thấy ở bên ngoài với nội dung
bản khắc đá mà phân tích thì thấy cuối đời Đông Hán, nhà
nước trung ương phái tả tướng quân Lưu Bình Quốc trú
đóng ở nước Quy Tư suất lĩnh thợ xây thành ải núi
Bozeklak để bảo vệ giao thông an toàn.

Bản khắc đá còn chứng minh là vào đời Hán có một
con đường núi đi từ nam Tân Cương vượt Thiên sơn để đến
lưu vực sông Y Lê ở bắc Tân Cương. Có thể nói đó là một
chi tuyến của con đường tơ lụa.

Tại viện bảo tàng Tân Cương, tôi thấy có một số giấy
thông hành dùng để đi lại trên con đường tơ lụa thuộc đời
nhà Đường, lúc bấy giờ gọi là “quá sở” (tương tự như visa

207

ngày nay), đọc kỹ những chữ ghi trên những tờ giấy thông
hành ấy cũng rất thú vị.

Có một tờ “quá sở” của nhà buôn người Tây Châu (nay
là Tolophan) tên là Thạch Nhiễm Điển. Ông ta giữ giấy
thông hành đi Qua Châu (nay là huyện An Tây, Cam Túc),
buôn bán trở về, trên đó có ký tên và lời phê của các viên
quan châu, huyện, thủ tróc nơi đương sự đã đi qua, đồng
thời đăng ký địa điểm và thời gian dọc đường nơi phải qua.
Trên tờ thông hành ấy người ta có thể thấy rõ chữ ký và
dấu triện của viên chế sử Y Châu (nay là Ha Mật) là Trương
Tân đồng thời có phê hai chữ “nhậm khứ” (được phép đi)
nữa.

Lại có một tờ “quá sở” khác của Mễ tuần chức người
Đình Châu (nay là Jimusar) đi Tây Châu (nay là Tolophan)
còn giữ được trên đó viết: “Tuần chức nay đem các nô tỳ
X, X ... kể ra dưới đây ... muốn đến Tây Châu buôn bán,
nhưng ngại đồn sở tại không cho phép nên kính quý ông
xét ...” và đoạn văn dưới đây là lời phê của quan viên:
“Người dân tuần chức X được phép đi Tây Châu buôn bán,
mong đồn sở tại xem xét”. Những giấy “quá sở” trên đều
khai quật được từ các ngôi cổ mộ thuộc đời Đường ở
Tolophan. Căn cứ vào những tờ “quá sở” ấy ta thấy vào đời
nhà Đường, việc kiểm tra thương khách lai vãng trên con
đường tơ lụa được tiến hành một cách nghiêm ngặt, đúng
mực .

“Quá sở” là tờ văn kiện chứng minh không thể thiếu
được đối với những lữ khách thời bấy giờ. Phàm lữ khách
không mang theo giấy “quá sở” thì không thể đi lại được.
Người xin giấy “quá sở” phải trình báo đầy đủ lai lịch bản
thân, nói rõ số nô tỳ đem theo và các đặc điểm, các cửa ải
mình sẽ đi qua và lý do xin đi. Sau khi trình báo, hương lý
phải kiểm tra lại rồi chứng nhận mới lần lượt trình lên cấp

208

trên. Và cuối cùng phải được phê chuẩn cấp phép mới được
đi lại.

Ngày nay, căn cứ vào các địa danh ghi trên “quá sở”,
người ta có thể kiểm tra được lộ tuyến của con đường tơ
lụa cổ đại. Đây là một vấn đề được giới học thuật thường
tranh luận. Ví dụ, con đường tơ lụa ngày xưa có đi qua Lan
Châu không thì giới học thuật có cách nhìn nhận mỗi người
một khác. Tôi đã đưa ra một số tài liệu nói rõ Lan Châu là
nơi con đường tơ lụa có đi qua, ở đây có một tờ “quá sở”
cung cấp thêm bằng chứng xác đáng cho lời quả quyết trên.

Đường Mạnh Khiêm người Tây Châu (nay là
Tolophan) có người chú đang nhậm chức tại Phúc Châu,
ông xin đem nô tỳ và ngựa từ Tây Châu đến Phúc Châu cho
người chú. Nhà đương chức cấp cho ông giấy “quá sở” trên
đó ghi rõ các trạm kiểm soát phải qua là Ngọc Môn, Kim
Thành ... Đường Mạnh Khiêm từ Tây Châu đến Phúc Châu
tất phải qua Kim Thành mà ngày nay chính là Lan châu.
Điều này chỉ rõ rằng Lan Châu dưới đời nhà Đường là
thành phố mà con đường tơ lụa đã đi qua.

TƠ LỤA NGÀY XƯA KHIẾN NGƯỜI TA PHẢI
LÓA MẮT

Tại phòng triển lãm viện bảo tàng Tân Cương, điều
khiến người ta tán thưởng nhất là màu sắc tươi đẹp của các
thứ tơ lụa khai quật được. Tôi đi từ Tây An qua một chặng
đường dài, bất luận ở Thiểm Tây hay Cam Túc nơi có con
đường tơ lụa đi qua thì không nơi nào có lượng tơ lụa nhiều,
với màu sắc hoa văn tinh tế xinh đẹp như ở đây. Nếu không
phải chính mắt mình trông thấy thì thật khó tin, nghĩa là từ
thời Đông Hán (năm 25 - 220 CN), thời Đường (618 - 907)
xa xưa, tơ lụa được truyền lại đến nay vẫn còn giữ được
màu sắc tươi đẹp đến như thế.

209

Số hiện vật đem triển lãm ấy một mặt phản ánh tình
hình buôn bán tơ lụa thịnh vượng diễn ra trên con đường tơ
lụa, mặt khác còn cho thấy trình độ nghề dệt, nhuộm và in
hoa của người Trung Quốc cổ đại thật là cao siêu. Qua
nghiên cứu của các nhà chuyên môn, người ta còn phát hiện
ra bóng dáng của sự giao lưu văn hóa đông tây qua cách
dệt và cách trình bày hoa văn:

Ông Lý Ngẫu Xuân nhắc tôi chú ý là vào năm 1959,
tại huyện Dân Phong nam Tân Cương, ông đã phát hiện
một chiếc áo gấm hoàn chỉnh, thời Đông Hán, cách nay hơn
1700 năm. Chiếc áo gấm đã dùng chỉ tơ năm màu là hồng
thắm, trắng sáng, xanh ngọc, nâu nhạt, cam nhạt, dệt nên
và may ra, màu sắc lóng lánh, tao nhã. Trên mặt gấm có
hàng chữ “diên niên ích thọ đại nghi tử tôn” (tuổi thọ kéo
dài, con cháu tốt lành). Theo nghiên cứu của nhà khảo cổ
học Hạ Nãi thì loại gấm này phải cần 75 tấm thêu hoa kết
lại mới có được, đúng là một kiểu vải công phu, phức tạp
nhất thời bấy giờ.

Đồng thời, người ta còn đào được loại gấm có hàng
chữ “vạn thế như ý” dệt bằng tơ năm màu và loại gấm có
chữ “dương” (mặt trời) có hoa văn hình thoi dệt bằng tơ ba
màu. Ngoài ra, người xưa còn đã ra loại lụa rất tinh tế và
loại lụa có màu nhuộm đều đặn. Tôi nghĩ nếu các thứ lụa
mềm, lụa mỏng này khoác trên mình một người đẹp thời cổ
đại ắt hẳn tha thướt yêu kiều quyến rũ biết bao!

Hàng loạt các thứ tơ lụa quý báu ấy đều do những
người làm công tác khảo cổ như Lý Ngẫu Xuân phát hiện
tại di chỉ nước Tinh Tuyệt đời Hán. Di chỉ này nằm bên bờ
sông Nê Nhã cho nên gọi là di chỉ Nê Nhã (ruins of Niya).
Đến nay, mỗi khi nhắc đến các phát hiện ấy, Lý Ngẫu Xuân
vẫn còn thấy hứng thú.

210

Khi đào ngôi mộ thời Đông Hán này, họ nhận thấy nam
nữ chủ nhân (của ngôi mộ) đều nằm, mình mặc áo gấm, hài
cốt nguyên vẹn, dáng mặt là người Tây Vực, mắt sâu, mũi
cao. Tay người nữ khoác trên mình người nam. Đồ chôn
theo phần lớn là tơ lụa và đồ thêu. Căn cứ vào các chữ Hán
dệt trên tơ lụa thì rõ chúng có xuất xứ từ Trung Nguyên,
còn những đồ chôn theo khác như cung tên, nhẫn, dây
chuyền và thiết đao thì rõ là mang sắc thái của Tây Vực.
Những người làm công tác khảo cổ có được những di vật
ấy tất nhiên họ rất hứng thú. Họ làm một giá gỗ đặc biệt
giống như một cái kiệu đặt hai hài cốt cùng các đồ chôn
theo lên trên đó và cho lạc dà đưa ra khỏi sa mạc, ngày nay
dang bày tại Viện Bảo tàng tân Cương để mọi người chiêm
ngưỡng nghiên cứu.

Trong phòng triển lãm còn trưng bày rất nhiều tơ lụa
đào được ở Tolophan, niên đại từ thế kỷ V đến thế kỷ thứ
VIII, tức tương đương thời Nam Bắc triều và đời nhà
Đường. Trong đó cũng có khá nhiều hàng tơ lụa có hoa văn
liên chu, một phong cách nghệ thuật của xứ Ba Tư.

Gọi là hoa văn theo phong cách Ba Tư tức là dệt một
vòng tròn hình viên ngọc ở giữa, các bên dệt chim hay thú
đói xứng nhau. Hoa văn lioên chu trên tơ lụa đào được ở
Tolophan gồm rất nhiều loại như: đôi chim, đôi gà, đôi vịt,
đôi ngựa, đôi sói, đôi khổng tước ... có một số tơ lụa không
chỉ có hoa văn theo phong cách Ba Tư mà còn dùng cả cách
dệt theo kỹ thuật Ba Tư nữa.

Ba Tư dưới triều đại Tashan (thế kỷ thứ III đến thế kỷ
thứ VII CN) đã học cách nuôi tằm dệt tơ từ Trung Quốc,
đồng thời có thể dệt gấm và sáng tạo hoa văn, có cách dệt
riêng của mình. Trong lịch sử Trung Quốc cũng có nói đến
gấm Ba Tư. Theo ghi chép của Lương thư (sách sử của
nước Lương) thì năm 520 CN, nước Hoạt Quốc (tức Yalta

211

ngày nay) sai sứ sang Trung Quốc đem tặng lễ vật trong đó
có loại “gấm Ba Tư”.

Tơ lụa có phong cách Ba Tư đào được ở Tân Cương
có thể có một số từ Ba Tư đem tới. Sản phẩm vốn có nguồn
gốc từ Trung Quốc do người nước ngoài học hỏi chế tạo
rồi trở lại nguyên xứ. Hiện tượng lịch sử hoàn toàn không
thể loại trừ và cũng không có gì lạ, nhưng có điều tơ lụa
Trung Quốc chuyển vận đến các nước phương Tây là điều
chủ yếu như lịch sử đã từng ghi chép. So số lượng gấm theo
phong các Ba Tư đào được trong các ngôi mộ ở Tolophan
với tơ lụa theo phong cách Trung Nguyên cùng thời kỳ thì
xem ra loại sau có vẻ nhiều hơn. Các nhà chuyên môn suy
đoán loại sản phẩm ấy có thể người Trung Quốc vì nhu cầu
thị trường Trung Á thích dùng mà đặc biệt chú trọng dệt
nhiều hơn để cung ứng thị trường ngoại dịch.

Nhà khảo cổ học Hạ Nãi phát hiện nhiều loại gấm có
hoa văn liên chu đào được ở Tolophan thì thấy cách dệt vẫn
duy trì cách dệt truyền thống của gấm Trung Quốc. Ông
cho rằng số lụa gấm ấy dùng hoa văn dạng Tashan có lẽ là
để bán ta nước ngoài.

Ông còn chỉ cho thấy một tấm gấm dệt hình dắt lạc đà,
bộ phận chân của người dắt và chân lạc đà nối nhau, chu
vi tấm gấm cũng có một vòng liên chu bao quanh, nhưng ở
giữa có dệt hai chữ Hán “Hồ Vương”. Điều này chỉ rõ hàng
do Trung Quốc chế tạo.

Hoa văn liên chu trên các hàng dệt của Trung quốc đã
từng xuất hiện. Công nghệ mỹ thuật Ba Tư thông qua con
đường tơ lụa mà truyền đến phương đông và được người
Trung Quốc cổ đại tiếp thu. Đây cũng là một hiện tượng
lịch sử giao lưu văn hóa đáng ca tụng.

212

13. TỪ SÔNG MANAS ĐẾN HỒ TARIM

Từ Urumqi đi về hướng tây đến thành phố Y Ninh trên
bờ sông Y Lê là một đoạn đường dài hơn 700 cây số. Trên
bản đồ nhà Hán, lộ trình dài dằng dặc ấy hầu như là một
vùng trống vắng, không thành quách, không nhà cửa. Đến
đời Đường, dọc đường mới xuất hiện một số cứ điểm quân
sự gọi là “thủ tróc” như thủ tróc Trương Bảo, thủ tróc Diệp
Hà, thủ tróc Đông Lâm, thủ tróc Tây Lâm ... nhưng lại
không để lại thành lũy, di chỉ nào cả.

Duy chỉ bên bờ sông Manas, một nơi cách thành phố
Thạch Hà Tử không xa, có di tích của một vòng thanh
tường bằng đất hình vuông, bên cạnh có một đống đất cao
giống như một phong hỏa đài, đến nay vẫn chưa có người
khai quật.

Đường Urumqi đi Y Lê ngày nay có thể nói là con
đường tốt nhất vùng Tân Cương, một con đường có lưu
lượng vận chuyển bận rộn nhất. Ở nội địa, xe cộ qua lại như
vậy là chuyện bình thường, nhưng ở đây lại khác. Tôi từ
Barkol đến Mulei tìm kiếm dấu tích của con đường tơ lụa
ngày xưa đã từng phải trải qua nhiều gian khổ, nay đi lại
trên con đường nhựa bằng phẳng này, trong lòng không
khỏi thầm cám ơn những công nhân làm đường. Họ làm
việc trong điều kiện khắc nghiệt của thiên nhiên: khô hạn,
lạnh giá, bão cát, họ vì mọi người mà tạo ra con đường tốt
đẹp này.

Hiện nay, trước mắt khu nam bắc Thiên Sơn đã có
6800 cây số đường nhựa, ước chiếm một phần ba tổng số
đường ô tô trên toàn vùng Tân Cương. Trước sau tôi đã đi
khắp ba tuyến đường chính của con đường tơ lụa cổ đại

213

thuộc địa phận Tân Cương, tổng cộng lộ trình gần 4000 cây
số, trong đó tính sơ sơ thì một nửa là đường nhựa.

Hiệu suật sử dụng đường ô-tô Urumqi - Y Lê tại tân
Cương là cao nhất. Tân Cương đất rộng người thưa, trên
một diện tích đất 1,600,000 cây số vuông chỉ có hơn 10
triệu người cư trú, tương đương với dân số thành phố
Thượng Hải, do đó xe cộ qua lại trên đường tương đối vắng
vẻ, thông thường mỗi ngày chỉ thấy vài ba chiếc xe là cùng,
nhưng đường ô-tô Urumqi - Y Lê thì xe cô tương đối đông
đúc. Trên đường người ta thường thấy các đoàn xe chở
xăng dầu, da lông thú và lương thực.

Cách vận chuyển tấp nập trên đường ô-tô phản ảnh sự
phát triển công nông nghiệp của Tân Cương. Trên con
đường này người ta mới xây một xưởng lọc dầu, đó là
xưởng Độc Sơn Tử. Dầu thô của mỏ dầu Klamay chảy qua
ống dẫn đến Độc Sơn Tử, tại đây người ta tinh chế ra xăng,
dầu diesel và các sản phẩm phụ khác cung ứng nhiên liệu
cho toàn Tân Cương. Sau giải phóng, trên con đường này
người ta đã lập nên hai thành phố mới đó là Khuê Đồn và
Thạch Hà Tử. Hai thành phố này là do Quân đội giải phóng
nhân dân Tân Cương buổi đầu tiên đóng hồi năm 1950, rồi
sau đó khai khẩn đất đai mà lập nên, và ngày nay chúng trở
thành kho lương thực của Tân Cương.

Bước vào thành phố Thạch Hà Tử vốn là thành tựu tốt
đẹp do quân đôi khai khẩn, tôi lại nghĩ đến sự tích lập đồn
điền ở Tây Vực vào đời Hán.

ĐỒN ĐIỀN THỜI CỔ ĐẠI - BẮT ĐẦU VÀ KẾT
THÚC

Theo Hán thư ghi chép thì đồn điền bắt đầu vào năm
101 trước CN, năm đó Nhị Sư tướng quân Lý Quảng Lợi

214

lần thứ hai viễn chinh nước Đại Oản thắng lợi. Tiếp thu lời
răn dạy về sự khó khăn trong việc cấp dưỡng lương thực
trong các cuộc viễn chinh, nhà Hán bắt đầu lập đồn điền ở
Tây Vực, đặt quan chuyên môn quản lý công việc đồn điền.

Đánh chiếm nước Đại Oản xa xôi là một cuộc chến có
ý nghĩa quyết định nhằm củng cố địa vị của nhà Hán Tây
Vực. Nước Đại Oản nằm ngoài cao nguyên Pamia, trường
kỳ bị người Hung Nô khống chế, đối với việc ngoại giao
thời nhà Hán như vậy là mạo phạm. Năm 104 trước CN,
Hán Vũ Đế phái đặc sứ đi Đại Oản để mua đổi ngựa quí,
nhưng bị cự tuyệt và sú giả bị làm nhục. Tin tức truyền đến
Trường An, Hán Vũ Đế giận dữ bèn lệnh cho Đại tướng Lý
Quảng Lợi xuất chinh. Nước Đại Oản có thành tên là Nhị
Sư, sản sinh ngựa quí. Hán Vũ Đế lấy tên là Nhị Sư tướng
quân ban cho Lý Quảng Lợi biểu thị quyết tâm chinh phục
Đại Oản.

Nhị Sư tướng quân suất lĩnh 6 ngàn kỵ binh và hàng
vạn quân sĩ ra Ngọc Môn quan hướng tây chinh phạt. Khi
đến vùng đất phèn ở La Bố thì mọi người đều mệt mỏi, yếu
sức. Sau đó trên dường tiến về cao nguyên Pamia lại gặp
quân Hung Nô sách động các nước nhỏ đánh lén, cắt đứt
xe lương, đại quân trên đường tiến đến Đại Oản đã mất hết
lợi thế. Năm 102 trước CN, Nhị Sư tướng quân bị thất bại
phải rút lui về Đôn Hoàng, đám tàn quân chỉ còn lại một,
hai phần mười.

Ông sai sứ trình thư về triều đình yêu cầu bãi binh,
trong thư viết: “Đường sá xa xôi, vận lương, khó khăn, binh
lính không sợ chiến đấu mà chỉ lo đói khát, người ít không
đủ đánh thắng Đại Oản”. Hán Vũ Đế nghe Lý Quảng Lợi
thua trận rút lui rất làm giận dữ, hạ lệnh: “Kẻ bại trận bước
vào Ngọc Môn quan, chém”. Đồng thời tại triều, quan văn
nào chủ trương đinh chiến, hòa hoãn cũng bị trị tội. Nhà

215

vua hạ quyết tâm dốc toàn lực tăng cường tinh binh viễn
chinh một lần nữa.

Năm 101 trước CN, nhị Sư tướng quân chinh phạt
miền tây lần thứ hai. Ông suất lĩnh 6 vạn binh sĩ, ba ngàn
chiến mã và hơn một vạn trâu, lừa, ngựa, lạc đà chuyển vận
lương thảo và khí giới. Một đội quân hùng mạnh hơn bao
giờ hết ào ào tiến về phía tây, các tiểu quốc dọc đường đều
chấn kinh, tranh nhau dâng cấp rượu thịt. Đại quân thủ
thắng sau hơn 40 ngày vây chặt thành Đại Oản. Nước Đại
Oản bại trận phải dâng tặng ngựa quí hàng chục con, ngựa
tốt hàng ngàn con. Hán Vũ Đế không tiếc sức người, sức
của cả nước đi viễn chinh Đại Oản, nếu nói là để lấy về
ngựa quí thì tại sao không nói là để đẩy lùi thế lực của
người Hung Nô ở Tây Vực, tăng cường uy thế của nhà Hán
tại đây. Từ trước đến nay, ở Tây Vực bất kể là Đại Oản
hoặc các tiểu quốc khác đều bị sự khống chế và ảnh hưởng
của Hung Nô dưới nhiều mức độ khác nhau.

Sau lần viễn chinh này, vị trí của nhà Hán ở Tây Vực
được củng cố hơn lên, quan viên quân sự, hành chính bắt
đầu đặt trụ sở lâu dài ở Tây Vực, đồng thời cũng cho lập
đồn điền bảo đảm việc cấp dưỡng lương thực cho quan
viên, quân sĩ tại đây. Hán thư có ghi: “Từ sau khi Nhị Sư
tướng quân chinh phạt Đại Oản thành công, toàn xứ Tây
Vực khiếp sợ, nhiều nước sai sứ triều cống, người Tây Vực
nào có công sẽ được ban chức ... Luân Đài, Cừ Lê đều có
hàng trăm lính canh điền, đặt hiệu úy trông coi ...”

Luân đài và Cừ Lê đời Hán nay là vùng trung được lưu
vực sông Tarim thuộc nam Tân Cương, nằm trên tuyến
giữa của con đường tơ lụa, đất cát phì nhiêu, nước nôi sung
túc, khí hậu ôn hòa, theo báo cáo của các quan đại thần nhà
Hán và Tang Hoằng Dương thì các đồn điền Luân Đài và
Cừ Lê sau 10 năm khai khẩn, đất canh tác có đến năm ngàn

216

khoánh, trồng ngũ cốc bội thu và chín cùng với lúa ở Trung

Nguyên.

Vói tầm nhìn rộng lớn của Tang Hoằng Dương, ông
đưa ra kế hoạch từng bước mở rộng đồn điền tại Tây Vực
lên vua Hán Vũ Đế. Ông đề nghị khảo sát, xem xét địa hình,
khai thác nguồn thủy lợi, sửa mương đào rãnh, phổ biến
kinh nghiệm canh tác ở nội địa. Ông còn đề xuất binh sĩ
sau khi khai khẩn tạo được thành tích có thể cho di dân từ
nội địa đến để thay thế và làm tiếp.

Các đề nghị của Tang Hoằng Dương không được triều
đình bấy giờ chấp nhận, phải đợi đến 10 năm sau mới được
Hán Chiêu Đế tiếp thụ. Hán Chiêu Đế bổ nhiệm thái tử
nước Vu Di làm hiệu úy tướng quân chủ quản công việc
đồn điền ở khu vực Luân Đài. Về sau, việc lập đồn điền mở
ra khắp các nơi ở Tây Vực, nổi tiếng nhất là các đồn điền
ở Tolophan, Ha Mật, Jimusar, Korla, A Khắc Tô v.v... thậm
chí còn lan qua vùng phụ cận hồ Issyk Kul thuộc địa phận
Liên Xô cũ ngày nay.

Tùy vào sự phát triển đồn điền, các nông cụ bằng sắt
và nghề rèn được truyền vào Tây Vực, ngoài ra, công tác
thủy lợi tưới tiêu và kỹ thuật đào giếng cũng được phổ biến.
Công cụ và kỹ thuật sản xuất tiên tiến ở nội địa lần lượt
được du nhập vàp Tây Vực, cuộc sống kinh tế của nhân dân
ở đây và những ảnh hưởng canh tác nông nghiệp mang lại
đã có những bước tiến rõ rệt và sâu sắc.

THÀNH BẠCH DƯƠNG Ở GÔBI

Tân Cương sau giải phóng, với sự nghiệp khai phá đồn
điền dưới sự lãnh đạo của quân đội giải phóng và bình đoàn
kiến thiết sản xuất, trong lịch sử từ trước đấy chưa từng có
quy mô phát triển như ngày nay. Thành phố Thạch Hà Tử

217

là khu vực chính của binh đoàn khai phá đất nông nghiệp
và kiến thiết sản xuất ở Tân Cương vào lúc mới giải phóng.

Ba mươi năm trước, ở đây chỉ có ba hộ gia đình cư trú,
sinh sống cạnh một con suối mà mà chung quanh là bãi lau
sậy mênh mông. Tướng Vương Chấn dẫn đại quân tiến vào
nơi đây, quyết định đưa một sư đoàn khai phá lau sậy và
khai khẩn đồn điền tại Gôbi, bộ chỉ huy sư đoàn đặt bản
doanh gần mấy hộ gia đình kia.

Ngày nay vùng hồ đầy lau sậy không còn nữa, hơn năm
triệu mẫu ruộng được khai khẩn, nhà cửa mọc lên san sát,
đường sá ngang dọc, một thành phố mới sừng sững bên rìa
sa mạc Gôbi.

Ấn tượng đầu tiên của tôi đối với thạch Hà Tử là một
thành phố của những hàng bạch dương xinh đẹp. Bạch
dương ở đây không giống bạch dương ở nội địa, đó là một
loại cây có thân cao lớn, vút thẳng lên trời cao, sững sững
hiên ngang như vươn cao mãi. Những hàng cây như vậy
làm cho thiên nhiên thêm phần hùng vĩ. Bước vào thành
phố, tôi hỏi khách bộ hành đường đến tòa thị chính, người
ta chỉ thẳng theo hướng rừng bạch dương. Tôi cho đó là
một công viên, nhưng không ngờ dãy lầu của tòa thị chính
lại ẩn mình trong rừng bạch dương sâu kín này. Về sau tôi
mới để ý thấy giữa khu công xưởng và khu thị tứ cũng cách
nhau bởi hàng chục cây bạch dương với dụng ý là phòng
gió cát, ô nhiễm và cách âm.

Xứ Gôbi khô hạn làm sao có thể sinh trưởng cây cối
tốt tươi như thế được nhỉ? Mỗi sáng sớm ra ngoài tản bộ,
nghe tiếng nước ào ào thì thấy một người đàn ông đang tưới
hàng cây dọc đường phố. Nước của sông Manas được dẫn
từ xa tới. Quanh Thạch Hà Tử có mười bảy nông trường
được cơ giới hóa thì cơ bản dựa vào công trình thủy lợi tưới
tiêu của nước sông Manas ...

218

Tôi ngồi xe đi quanh một vòng nông trường 143 được
khai phá trước nhất ở sa mạc Gôbi thì thấy toàn là ruộng
giống như ô bàn cờ trên một diện tích đất canh tác hơn 20
vạn mẫu, chúng cách nhau bởi những mương dẫn nước
thẳng tắp, bởi đường đi và dãi rừng, mỗi lô chừng hai, ba
trăm mẫu. Ngoài ruộng lúa mạch và lúa chiêm ra, còn có
hơn hai vạn mẫu bông vải và hai vạn mẫu củ cải đường.
Trong vườn cây ăn quả thì trồng táo, lê và đào. Lúc sinh
tiền Chu Đức có đến thị sát ở đây và đã khen là nông trường

hoa viên.

Nghe chiến sĩ lão niên Hầu Chính Nguyên, người đã
từng tham gia phong trào khai hoang hồi ấy nói chuyện thì
bộ đội vào đến Tân Cương, vừa cởi bỏ hành trang chưa kịp
tẩy rửa bụi đường thì đã nhận lệnh lập đồn khai khẩn biên
nhung, một tay cầm súng, một tay cầm cuốc, nêu cao tinh
thần Diên An, triển khai cuộc vận động sản xuất lớn.
Không có máy kéo, không có súc vật thì phải dùng sức
người kéo cày gieo hạt. Không có nhà ở thì đào hang. Mùa
hè không có mùng màn, người bị muỗi đốt không ngủ
được, nhưng sĩ khí đang hăng, gian khổ chẳng nề. Sau một
năm, lương thực và thực phẩm cơ bản tạm đủ cho bộ đội ở
đây. Hầu Chính Nguyên nói, lúc bấy giờ việc giao thông ở
Tân Cương rất bất tiện, nếu bộ đội ở đây không tự giải
quyết vấn đề sinh hoạt mà chờ vào sự vận chuyển lương
thực từ nội địa đến là một điều không thể được, còn dựa
vào địa phương ư? Cũng tức là tạo thêm gánh nặng cho dân
tộc thiểu số ở đây. Thế nên tự khai khẩn nhung biên là cái
thế phải làm.

Trong một thời gian năm năm, bộ đội đã khai phá trên
một triệu mẫu đất ở vùng nam - bắc Thiên Sơn, thành lập
hai khu khẩn hoang lớn là Thạch Hà Tử và Tarim, xây mới
tám công trình thủy lợi, làm cho sự nghiệp hiện đại hóa
nông nghiệp Tân Cương có cơ sở vững chắc.

219

Năm 1954, bộ đội tham gia khẩn hoang ở đây đổi tên
thaàh binh đoàn kiến thiết sản xuất Tân Cương. Sau này lại
tiếp nhận hàng loạt giới trí thức từ các nơi như Thượng Hải,
Thiên Tân đến là cho sự nghiệp khẩn hoang từng bước ổn
định và phát triển, đồng thời làn lượt thiết lập những công
xưởng có liên quan mật thiết đến nông nghiệp như xưởng
dệt vải, dệt lông thú, xưởng làm đường, xưởng nông cơ ...

SỰ TÍCH VỀ HỒ TARIM

Rời vùng lục châu Thạch Hà Tử, đi xuyên sa mạc Gôbi
chừng 100 cây số thì thấy một vùng lục châu khác, đó là
vùng khai hoang do binh đoàn sản xuất Tân Cương khai
phá có tên là Khuê Đồn. Chúng tôi không dừng chân ở đây
mà đi tiếp thêm 150 cây số nữa và ngủ đêm ở huyện Tinh
Hà. Huyện này có sông Tinh Hà chảy qua mà đặt tên.

Vào đời nhà Đường, phía tây huyện Tinh Hà là cơ quan
hành chính của Song Hà Đô đốc phủ. Gọi “Song Hà” là để
chỉ sông Tinh hà và sông Bortala. Dân số huyện Tinh hà
ngày nay chừng bảy vạn người, chủ yếu là người Mông Cổ
và người Hazak, nhưng cũng có người Uygur, người Hồi
và người Hán. Người Mông Cổ từ phía đông thiên di đến
vào khoảng thế kỷ thứ XVII, phần lớn đều đã thay đổi thói
quen sống du mục của họ mà định cư lâu dài bằng cuộc
sống canh tác nông nghiệp. Tinh Hà sản xuất dưa hấu nổi
tiếng xưa nay, trái lớn nhất có thể nặng đến 45 kílô, đáng
gọi là “qua vương” (vua dưa).

Xuất phát từ huyẹn Tinh Hà, tiếp tục hướng biên giới
Nga-Trung đi tới chừng 100 cây số thì trước mắt hiện ra hồ
Tarim, phong quang kỳ thú. Hồ này trên núi cao nằm giữa
ranh giới châu tự trị Mông Cổ Bortala và châu tự trị Y Lê

Hazak.

220

Nước hồ xanh ngắt, xanh đến độ làm say lòng người,
xanh như nước đại dương. Xa xa thấp thoáng bóng núi phản
chiếu ven hồ. Đến gần thì thấy thảo nguyên rộng lớn bằng
phẳng trải dài dọc theo chân núi, cỏ mọc sum suê xanh tốt
lan thẳng đến ven hồ. Vòng hồ dài chừng 100 cây số, đi
ngựa phải mất hai ngày.

Tôi xuống xe đi thẳng đến bên hồ, nước trong thấy đáy,
có thể nhìn rõ từng viên cuội bên dưới, và thuận tay có thể
nhặt một vài viên ném tung giữa lòng hồ phẳng lặng tạo
thành những sóng nước lăn tăn. Tôi chợt nhớ đến những
thú vui thời còn nhỏ vẫn nô đùa bên bờ Bột Hải. Nếu không
bị cái lạnh của chốn núi cao rừng sâu này, tôi muốn cởi
phăng áo quần nhảy xuống nước bơi lội một hồi cho phỉ.

Quay đầu nhìn về phía núi, những cây tháp tùng xanh
thắm rải rác khắp nơi, nổi rõ dưới bầu trời xanh và những
đám mây trắng lững lờ như nét chấm phá của một họa sĩ
trong một bức tranh thủy mặc, lấm chấm từ đỉnh núi đến
lưng chừng núi.

Trên bãi cỏ xanh non bên bờ hồ, tản mác đầy đó là
những lều bạt màu trắng thưa thớt li ti. Dọc hồ phía tây là
mục trường mùa hè lý tưởng của mục dân Hazak.

Tôi tìm người để hỏi về lai lịch của hồ Tarim thì không
ai biết cả, nhưng lại kể được sự tích có tính chất truyền
khẩu về cái hồ này.

Vào thuở xa xưa nọ, có một cặp vợ chồng người Hazak
mới cưới, họ cùng cưỡi một con ngựa và dắt theo một cặp
dê đến bãi cỏ Tarim. Qua mấy năm lao động cần cù, cặp dê
đẻ được một bầy. Lúc ấy không biết từ đâu hiện ra một
người mục chủ ngang ngược nói rằng bãi cỏ Tarim là do
hắn ta sở hữu, hắn không những cướp đoạt bầy dê mà còn
cưỡng chiếm luôn người vợ của mục dân ấy nữa. Hai vợ
chồng không đấu lại đám thủ hạ nanh vuốt của người mục

221

chủ, bèn nhảy lên ngựa chạy về phía sơn lâm. Tên mục chủ
sai bọn tay chân truy bắt. Bất hạnh thay người chồng trúng
tên chết, người vợ xuống ngựa ôm xác chồng kêu khóc. Lúc
ấy cả bọn của mục chủ chạy đến vây chặt lấy nàng, la ó, hò
hét muốn bắt sống nàng. Trong tình hình nguy cấp ấy,
người nữ mục dân sờ soạng trên bãi cỏ thấy có một hòn đá
muốn giật lên để ném vỡ đầu tên mục chủ; nhưng hòn đá
lún sâu trong đất, dù lắc qua lắc lại vẫn không bật lên được,
thế là nàng bị kẻ thù bắt, đưa lên ngựa đi mất. Nàng vừa
buồn vừa hận, ngửa mặt lên trời kêu cứu. Trong tiếng kêu
cứu kinh thiên động địa ấy, bỗng bên dưới hòn đá bị nàng
lắc nhổ lúc nãy phụt lên một suối nước, chẳng bao lâu bãi
cỏ lênh láng cả nước là nước tạo thành một cơn hồng thủy.
Tên mục chủ tàn bạo và toàn bộ đám tay chân bị vùi thây
dưới dòng nước lũ, người nữ mục dân trung trinh bất khuất
với tiếng kêu cứu chấn động sơn lâm đã bay lên trời.

Từ đó, núi non bao bọc quanh bãi cỏ và xuất hiện hồ
Tarim mênh mông rộng lớn này.

NGÀY HỘI CỦA MỤC TRƯỜNG

Ngày nay thảo trường bên hồ Tarim thuộc sở hữu tập
thể. Sự bóc lột của mục chủ đối với mục dân không còn
nữa. Mục dân trở thành xã viên của công xã, đội nuôi
dưỡng dê cứ chiếu công lao động mà hưởng thù lao thích
hợp. Tôi tự tiện bước vào căn lều của một gia đình xã viên,
chủ nhà tên là Khảm Bố Nhĩ niềm nở mời tôi ngồi ra trước.
Vợ anh đi vắng, đứa con gái đang ngồi trên thảm đứng dậy
bằng một tách trà sữa ra mời tôi. Nhìn quanh đồ đặc trưng
bày trong trại rất gọn gàng, sạch sẽ. Trên một chiếc rương
gỗ chạm khắc hoa văn chất đầy chăn đệm. Cạnh cửa treo
một dãy túi xách thêu hoa, bên trong chứa đầy thức ăn. Chủ

222

nhà nói cuộc sống ở đây khá tốt, công lao động mỗi ngày
chừng hai nguyên (đơn vị nhân dân tệ).

Tôi đến bờ đông của hồ Tarim, ở đó có bãi cỏ tên là
“tùng thụ đầu”. Tại đây, người ta đang cử hành ngày hội
giao dịch, tổ chức mỗi năm một lần, mục dân tứ xứ quy tụ
về đây vô cùng đông đúc náo nhiệt.

Trên bãi cỏ, lều trại dùng để trưng bày hàng hóa xếp
theo hình chữ nhất dài ước khoảng 200 mét. Tôi chú ý đến
số hàng hóa đầy những thứ quý giá, trong đó được ưa thích
nhất là vải hoa, khăn vấn đầu, hàng len dạ, len sợi, giày cao
cổ.

Mục dân Hazak ăn mặc rất lịch sự, phụ nữ diện rất mốt.
Tôi thấy mấy cô thiếu nữ Hazak đứng chớp ảnh bên hồ, gió
nhẹ phất phơ bộ váy nhiều màu trên người và dải khăn lụa
mềm mại trên đầu của họ trông thật tự nhiên, đáng yêu. Tôi
để ý thấy một em bé người Hazak chừng năm, sáu tuổi,
ngực ưỡn, hai tay áp sát vào dây thắt lưng, lắc lư đi qua.
Nhìn cung cách ăn vận kiểu kỵ sĩ của chú bé, ai cũng bật
cười. Chú bé như biết tôi đang nhìn, nhảy phóc lên mình
ngựa chạy tới chạy lui trước đám đông, trông dáng vẻ rất
tự hào. Tôi muốn choàng chàng kỵ sĩ tương lai này hôn lên
đôi má tròn căng hồng hào của nó quá.

Tại quầy bán thực phẩm của ngày hội giao dịch, tôi ăn
một bữa cơm bốc. Đó là thứ cơm chiên với thịt dê và củ cải
chế biến mà thành, mùi vị của nó ngon hơn cơm chiên trứng
rất nhiều. Tôi còn uống bia của họ tự chế nữa, người ta cho
mật ong vào nên bia có một chất vị rất đặc biệt. Uống hai
cốc lớn tôi cảm thấy say say.

Trong ngày hội giao dịch này, người ta còn tổ chức đua
ngựa và bồng dê. Đây là tiết mục vui chơi của người Hazak.
Trên bãi cỏ, người ta để một con dê vừa mới giết Nghe hiệu
lệnh, các kỵ sĩ tham gia cuộc đua phóc lên ngựa chạy, kỵ sĩ

223

nào đoạt được dê phá vòng vây mà ra, một cơn ngựa dẫn
đầu, còn những người khác quất ngựa đuổi theo, lần này
một cuộc chiếm đoạt dê được triển khai trên lưng ngựa.
Nhìn thấy họ rượt nhau, hoặc ôm mình dê, hoặc kéo đùi dê,
tranh tranh đoạt đoạt thật là náo nhiệt khẩn trương.

Người Hazak ở Tân Cương có gần 60 vạn, chủ yếu
sống bằng nghề du mục, cư trú quanh vùng thảo nguyên
bắc Thiên Sơn. Tổ tiên lâu đời của tộc người Hazak là
người Ô Tôn; về sau lại pha trộn thêm huyết thống của
người Tái Chủng, người Đột Quyết và người Mông Cổ. Về
vẻ mặt xem ra rất gần người Mông Cổ. Ngôn ngữ thuộc hệ
ngôn ngữ Đột Quyết. Dân tộc Hazak có tính cách hào sảng,
hiếu khách, rộng rãi, vui tính như tiền bối, đáng kính đáng
yêu của họ. Mặt trời sắp tắt, tôi lưu luyến từ biệt thảo
trường hồ Tarim, tiến về hang Y Lê phía trước, đi thăm và
tìm hiểu tổ tiên của tộc người Hazak, đó là vùng đất xưa
của người Ô Tôn

224

14. SÔNG Y LÊ (1)

QUẢ TỬ CÂU THƠM LỪNG

Rời vùng hồ Tarim, đi theo phía nam để đến sông Y
Lê phải xuyên qua hẻm núi Tháp Lặc Kỳ dài 30 cây số. Hai
bên hẻm là núi cao xanh ngắt, trên đó chi chít những cây
tùng sam. Trong khe núi hẹp, có tiếng suối róc rách, chúng
hợp lưu mà tạo ra sông Y Lê. Đường đi theo dòng chảy uốn
lượn của con sông mà dẫn xuống. Hai bên đường thỉnh
thoảng thấy những cây táo, cây hạnh hoang. Người ta gọi
hẻm núi tĩnh mịch này là “Quả Tử Câu” (ngòi nước đầy

hoa trái).

Đường bộ đi từ Urumqi đến sông Y Lê tất phải qua
Quả Tử Câu. Từ đời Hán đến đời Đường, đây không phải
là nơi cần phải đi qua của tuyến bắc con đường tơ lụa; điều
này tôi chưa dám khẳng định, bởi vì chưa thấy có một văn
bản nào ghi chép, thế nhưng ít ra vào những năm đầu của
triều nhà Nguyên thì đây là con đường nối lòng chảo Chuẩn
Hát Nhỉ với sông Y Lê. Người đời Nguyên là Lý Chí
Thường khi viết

Trường Xuân chân nhân tây du ký (Ghi chép vế chuyến
Tây du của Trường Xuân chân nhân) có tả rất rõ về Quả Tử
Câu như sau:

“Sáng sớm, đi về hướng tây nam chừng 20 dặm thì thấy
một cái hồ. Hồ rộng chừng vài trăm dặm, núi tuyết bao
quanh in bóng xuống hồ, sư thầy đặt tên là Thiên Trì”
(Thiên Trì đây chỉ hồ Tarim).

“Men theo hồ đi về hướng nam, núi đá cao chất ngất,
tùng bách rậm rạp, cao hơn trăm thước (thước là đơn vị đo
chiều dài của Trung Quốc trước đây tương đương 0,33
mét). Từ đỉnh núi đến chân núi, đâu chỉ hàng vạn cây mà

225

không biết cơ man nào kể cho xiết. Nước từ nhiều nơi đổ
vào hẻm núi cuồn cuộn tuôn trào, uốn lượn quanh co dễ
chừng sáu, bảy chục dặm” (Hẻm núi ở đây chỉ Quả Tử

Câu).

“Nhị thái tử tháp tùng chinh tây, trước tiên phải đục đá
thông đường, chặt gỗ làm 48 cây cầu để có thể cho xe qua
được Đêm xuống ngủ lại trong hẻm. Hôm sau mới bước ra,
nước chảy vào sông Đông Tây”. (Sông ở đây chỉ sông Y
Lê chảy từ đông sang tây).

Đoạn ghi chép trên cho thấy, đương thời lúc Thành Cát
Tư Hãn chinh phạt miền tây, nhị thái tử đã từng suất lĩnh
binh lính sửa đường, làm cầu ở Quả Tử Câu, đủ thấy đoạn
đường này rất quan trọng.

Về sau, cũng có một tập du ký của người đời Thanh
miêu tả về Quả Tử Câu. Đại thần Lâm Tắc Từ đã có công
trong việc kiểm tra và cấm chỉ lưu hành thuốc phiện ở
Quảng Châu, nhưng triều đình hôn ám và nhu nhược, khuất
phục dưới sự uy hiếp của chiến hạm và trọng pháo của đế
quốc Anh, nên ông bị kết tội và đày đến Y Lê. Bấy giờ, khi
đi qua Quả Tử Câu, ông có miêu tả một đoạn rất sinh động
trong nhật ký của mình như sau:

“Sau khi xuống núi, đường núi quanh co khuất khúc có
tên là Quả Tử Câu, đây rõ là một ngòi nước kỳ lạ, có một
không hai. Trong Hành ký của Kỳ Hạc Cao tiên sinh, ông
gọi xứ này là cảnh non tiên kỳ tuyệt, như đi vào hang núi
vạn hoa. Nay đang vào mùa đông, hoa khoe màu xanh đậm,
đỏ thắm không thể nào thấy hết, trùng trùng điệp điệp
không kể xiết. Sau đợt tuyết rơi, núi trắng tùng xanh, thiên
nhiên đẹp như một bức tranh. Đường núi vắng vẻ quanh co,
suối nước trong xanh mát lạnh, dài hai mươi dặm có dư,
mỗi bước đi qua là dẫn ta vào cảnh lạ”.

226

Lâm Tắc Từ chống đế quốc Anh xâm lược, lòng dân ai
cũng biết, thế nhưng có kẻ gian vu họa nên bị triều đình
sung quân nơi biên ải; ông giong ngựa xuôi về miền viễn
tây, trên đường đi lòng trĩu nặng, đầy bi phẫn. Đọc Tây
hành nhật ký của ông, thấy ông miêu tả cảnh sắc rất ít, hầu
như không còn lòng dạ nào để thưởng ngoạn cánh đẹp nữa
chăng? Nhưng quang cảnh ở Quả Tử Câu vẫn khơi dậy
được tấm lòng bi tráng của một đại anh hùng.

NHÀ DÂN VÀ VƯỜN CÂY ĂN QUẢ

Ra khỏi hang núi thì đến thung lũng sông Y Lê, lại một
lần nữa đối diện với cảnh sắc ở đây. Ruộng đồng khoảng
khoát, đất đai bằng phẳng, mương rãnh dọc ngang, rõ giống
như một Giang Nam nơi biên ải.

Sông Y Lê là nơi hội nhập của ba chi lưu, đó là sông
Đặc-khắc-tư sông Nãi-tư và sông Ca-thập, chảy từ đông
sang tây và đổ ra hồ Borcashi thuộc địa phận Kazakhstan.
Sông Đặc-khắc tư bắt nguồn từ ngọn núi chính của dãy
Thiên Sơn; ngọn Hãn-đằng-tư-lý cao 6995 mét. Thung
lũng Y Lê tây rộng đông hẹp, đông cao tây thấp, vừa có thể
nhận được hơi nước từ phía tây mang lại, vừa có sườn núi
cao hai bên ngăn chặn được những đòng gió nóng thổi từ
sa mạc Gôbi theo hướng nam tới, cho nên ở đây khí hậu
tương đối ôn hòa, ẩm ướt. Thung lũng Y Lê là vùng đất phì
nhiêu nhất của Tân Cương.

Y Ninh là trung tâm kinh tế chính trị của thung lũng Y
Lê, có những chuyện máy bay đi Urumqi, tuy ở chốn biên
cương xa xôi nhưng vẫn liên lạc mật thiết với nội địa,
không bao giờ bị gián đoạn. Trên các đường phố Y Ninh,
người ta ăn mặc xinh đẹp không kém gì ở thành phố
Urumqi. Ở đây người ta cũng có trình độ văn hóa khá cao,
tôi thật không ngờ. Tình Cờ tôi gặp một anh cán bộ người

227

Hán đã mấy đời lập nghiệp ở đây, nói về khuynh hướng âm
nhạc ở Bắc Kinh và Thượng Hải, anh biết rất rõ. Gần đây,
đứa con gái mười tuổi của anh thi đỗ vào lớp âm nhạc thiếu
niên thuộc Học viện âm nhạc Thượng Hải, cháu đang theo
học dương cầm. Trẻ em các thành phố lớn ở nội địa được
trúng tuyển vào học viện âm nhạc đã là một điều hy hữu,
huống hồ là em bé gái ở chốn biên cương xa xôi này.

Y Ninh được khen là thành phố của hoa viên, thật danh
bất hư truyền. Tôi tản bộ trên những đường phố yên tĩnh ở
đây thì thấy mọi nhà đều có vườn cây ăn quả xanh tốt. Tôi
tùy tiện bước vào nhà của một người Uygur, chủ nhà tên là
A-hách Mặc-đức làm công tác thư viện, vợ anh là một giáo
viên trung học. Vườn nhà riêng của anh có diện tích chừng
một mẫu, vườn cây ăn quả chiếm nửa mẫu. Bước vào vườn
cây, anh tự hào chỉ cho tôi xem những cây ăn quả mà anh
đã tận tình chăm bón như mười hai cây táo, bốn cây hạnh,
bốn cây lê, bốn cây đào. Khoảng sân nhỏ trước nhà là
những trụ dàn nho, đưa tay lên thì có thể hái được những
chùm nho trắng bụ bẫm. Tiền thu nhập từ vườn cây ăn quả
đủ cho cả nhà tiêu dùng suốt năm. Vườn còn trồng các loại
rau dưa như dưa chuột, bí ngô, cà chua, ớt hành tây, hẹ, tỏi
và rau thơm, thật là cần gì có nấy. Sống ở thành phố mà
được hưởng thú điền viên, điều này ở Y Lê là chuyện
thường tình, nhưng ở nội địa chắc phải rất khó. Nhà An-
hách Mặc-đức có ba gian làm bằng gỗ, tổng diện tích chừng
50 mét vuông. Người Uygur không có thói quen ngủ
giường, họ nằm trên thảm. Sáng ra tất cả chăn đệm được
xếp vào một góc, phòng nhà trở nên rộng rãi. Đồ đạc trong
phòng trưng bày giản dị, gọn gàng, cửa sổ trang hoàng rất
nhã và lịch sự. Một lớp vải hoa làm rèm và thêm một lớp
lụa trắng. Trên bệ cửa sổ phía ngoài đặt mấy chậu hoa đang
nở.

228

A-hách Mặc-đức còn dẫn tôi đi xem vườn hạnh bên
cạnh nhà. Mười mấy cây hạnh có trái đang chín. Một chú
bé trèo lên cây rung nhẹ một cái, hạnh chín vàng rơi xuống
đầy đất. Bọn trẻ nhặt lên ngồi ăn. Nhìn đôi mắt trong như
nước mùa thu của một bé gái thật là dễ mến. Tôi nói với cô
bé bằng tiếng Uygur vừa mới học được: “tienailak” (rất
đẹp). Cô bé cười rất xinh trên má lộ hai núm đồng tiền.

TRẠM VẬN CHUYỂN TƠ LỤA THỜI CỔ ĐẠI

Cách thành phố Y Ninh chừng 25 cây số có một thôn
của người Uygur gọi là “bờ rào Tolophan”. Theo như người
ta nói cư dân của thôn này là từ huyện Tolophan ở đông bộ
Tân Cương thiên di đến, do đó mà có tên gọi như vậy. Cạnh
thôn có một di chỉ có thành, tuy chưa được giới khoa học
khảo chứng là cổ thành thuộc đời nào, nhưng có người cho
đó là thành “Cung Nguyệt” đời Đường.

Thành Cung Nguyệt đời Đường là một thị trấn trọng
yếu của con đường tơ lụa. Đông thông với Bắc Đình Đô hộ
phủ đóng ở Đình Châu (tức Jimusar); tây thông với trấn
Toái Diệp (nay là Takmak thuộc Liên Xô cũ), phía nam
thông với An Tây Đô hộ phủ đóng ở Quy Tư (nay là Khố
Xa). Vùng đất này ở nơi xung yếu và cũng là trung tâm của
thung lũng Y Lê trù phú, do đó tự nhiên hình thành địa
điểm mua bán và chuyển vận tơ lụa thời cổ đại. Có một văn
kiện gọi là Cao Xương huyện thường An Tây Đô hộ phủ
Điệp (Công văn của huyện Cao Xương trình lên An Tây
Đô hộ phủ) chứng thực cho điều này.

Văn kiện trên được đào trong ngôi mộ của Astana ở
huyện Tolophan vào năm 1966, đó là một báo cáo của
huyện Cao Xương lên An Tây Đô hộ phủ, nội dung là việc
tranh chấp dân sự Nguyên bản đã hư nát, nhưng đại thể chữ
nghĩa có thể nhận ra.

229

Có một người “xuất thân là người Hồ, không hiểu tiếng
Hán” tên là “Lộc Sơn” tố giác một “người Hán ở kinh sư”
tên là ‘Thiệu Cần” lên quan trưởng sử Tây Châu. Lộc Sơn
tố cáo là Thiệu Cần đã lấy đi của y 275 tấm vải và các tài
sản khác từ thành Cung Nguyệt rồi chở đi bằng lạc đà, trâu
và lừa đến Quy Tư thì mất dấu. Theo văn kiện trên mà suy
đoán thì giữa hai người hầu như đã có khế ước mua bán gì
đấy, nhưng bị cáo (tức Thiệu Cần) không thực thi đúng khế
ước.

Văn kiện trên đề cập đến sự kiện tụng dân sự về tài vật
trong dân chúng, nó chứng minh một số sự thực lịch sử rất
có ý nghĩa.

Thứ nhất thành Cung Nguyệt đời Đường là trạm vận
chuyển trọng yếu trên con đường tơ lụa. Thương nhân ở
đây một lần có thể xuất kho một số tơ lụa lớn đến 275 tấm,
điều này cho thấy lượng tơ lụa được tàng trữ trong thành
rất là nhiều.

Thứ hai, từ thành Cung Nguyệt đến Quy Tư cũng tức
là từ thung lũng Y Lê đến Khố Xa nằm bên bờ sông Tarim
có một chi tuyến của con đường tơ lụa xuyên qua Thiên
Sơn. Con đường này đã có từ đời Hán và đến đời Đường
vẫn còn thông thương.

Thứ ba, tại Tây Vực, vào đời nhà Đường việc hành xử
quyền quản lý rất hữu hiệu. Người hồ và người Hán phát
sinh việc kiện tụng dân sự có liên quan đến hai địa phương
Quy Tư và thành Cung Nguyệt từ quan lại huyện Cao
Xương đứng ra giải quyết rồi trình báo lên An Tây Đô hộ
phủ. Do đó có thể thấy nhà Đường đặt An Tây Đô hộ phủ
không chỉ quản lý việc quân sự và hành chính mà còn giải
quyết những tranh chấp dân sự với nhau nữa.

Vốn ngưỡng mộ danh tiếng thành Cung Nguyệt từ lâu,
nay đến Y Ninh tôi không thể không đi thăm di chỉ cổ thành

230

ở bờ rào Tolophan được. Từ Y Ninh đi xe theo hướng đông
bắc thì đến đội sản xuất của công xã Hồng Tinh, huyện Y
Ninh, tức nơi có tên bờ rào Tolophan. người hướng đạo dẫn
tôi lội bộ qua một con sông nhỏ gọi là sông Cát Lý Cách
Lang. Leo lên một gò cao thì thấy một bãi đất hoang, đó
chính là di chỉ cổ thành. Thành tường chỉ còn lại chân
tường, có dạng hình vuông chu vi chừng 1400 mét. Trong
khuôn viên thành có rất nhiều hào rãnh, đó là dấu tích khai
quật đào xới hồi năm 1936 dưới thời Thanh Thế thống trị
Tân Cương, chúng đã phá hoại nghiêm trọng di chỉ này. Ý
đồ của ông ta là đào tìm vàng bạc, châu báu của người xưa
để lại. Người bản địa gọi nơi này là “đại kim trường”, “tiểu
kim trường”, tức có ý nói nơi đào ra vàng. Sau giải phóng,
người ta đào được ở đây loại đèn đất nung và cho là thuộc
đời Đường, ngoài ra còn tìm thấy cả tiền đồng Ả Rập.

NHỮNG NGÔI MỘ Ở Ô TÔN VÀ NGỰA Ô TÔN

Ngược dòng Y Lê , vượt quá chi lưu Ca Thập, rồi men
theo một chi lưu khác là Củng Nãi Tư và tiếp tục đi nữa thì
vào khu vực lăng mộ gần khu chăn thả súc vật của dân. Tôi
để ý thấy hai bên đường có những nấm đất tròn nhỏ, vừa
giống gò đống hình thành tự nhiên vừa giống những nấm
đất un lên do bàn tay con người. Người ta bảo đó là quần
thể cổ mộ.

Trên mục trường Xuân Thu của lưu vực sông Y Lê, rải
rác khá nhiều mồ mả của mục dân Ô Tôn thời cổ đại, chúng
có đặc điểm là nấm đất un mộ rất lớn, nấm lớn nhất có thể
cao đến 10 mét và chu vi đáy dài đến 200 mét. Các nhà
khảo cổ học có khai quật một ngôi mộ Ô Tôn lớn nhất, thì
trong một thất gồm có quách gỗ và hòm gỗ. Quách gỗ thì
dùng gỗ súc chất thành, hình dạng giống như nhà gỗ trú
đông của mục dân Hazak ngày nay.

231

Ô Tôn là dân tộc cổ lão ở tây bộ Trung Quốc, cư trú
rất sớm dọc Đôn Hoàng, Cam Túc; về sau thiên di đến lưu
vực sông Y Lê. Sử ký có nói Ô Tôn là xứ nhiều ngựa, nhà
giàu có đến bốn, năm ngàn con. Vua Ô Tôn hiến cống một
ngàn ngựa quý cho vua Hán Vũ Đế. Nhà vua rất vui thích
và gọi là “thiên mã” (ngựa trời). Về sau, có hãn huyết mã
của xứ Đại Oản mới đổi tên ngựa Ô Tôn thành “ngựa tây
cực” (tây cực mã) và gọi ngựa Đại Oản là “thiên mã”. Ô
Tôn có nhiều ngựa quý và đồng cỏ trù phú ở thung lũng Y
Lê, tất nhiên có mối quan hệ. Ngựa Y Lê ngày nay cũng là
giống ngựa trứ danh của Trung Quốc. Tôi để ý thấy đàn
ngựa dọc đường tôi đi qua có phần thân đầu rất đẹp, tai nhỏ,
mắt to, lưng rộng, cổ dài ngẩng cao, bốn chân mạnh chắc,
trông rất uy nghi lẫm liệt, thật không hổ là hậu duệ của
ngựa Ô Tôn cổ đại. Sử ký có ghi: “Vua Ô Tôn đem ngàn
con ngựa quý làm lễ vật cưới con gái nhà Hán”. Ở đây có
một câu chuyện về cuộc hôn nhân giữa nhà Hán và vua xứ
Ô Tôn như một hình thức liên minh để đánh bại người

Hung Nô.

CÔNG CHÚA NHÀ HÁN LÀM DÂU XỨ Ô TÔN

Người Ô Tôn thường vốn bị người Hung Nô coi
thường. Phụ vương của Côn Mạc - vua Ô Tôn - bị vua
Thiền Vu Hung Nô sát hại; lúc còn bé xíu, Côn Mạc bị vứt
ra ngoài đồng hoang. Tục truyền rằng chim quạ thường
ngậm thịt bay đến cho Côn Mạc ăn, sói hoang thường chạy
đến cho Côn Mạc bú, Thiền Vu biết được chó là việc thần
kỳ, thế là đem về nuôi dưỡng nên người. Côn Mạc trưởng
thành, lãnh đạo dân Ô Tôn thiên di về khu vực thung lũng
sông Y Lê, nhằm thoát ra khỏi vòng vây khống chế của
người Hung Nô, kẻ thù đã giết cha mình, nhưng ông vẫn
luôn luôn đề phòng.

232

Nội tình uẩn khúc ấy sau lần đi sứ Tây Vực đầu tiên
Trương Khiên có biết, nên ông đã tấu trình lên Hán Vũ Đế
và đề nghị nhà vua cho kết thân với vua Ô Tôn, đồng thời
khuyên họ quay lại Đôn Hoàng chiếm đóng dọc hành lang
Hà Tây để chặt bớt cánh tay mặt của Hung Nô.

Mục đích của Trương Khiên đi Tây Vực lần thứ hai là
để du thuyết Ô Tôn kết thân và liên minh. Nhưng bấy giờ
nội bộ Ô Tôn bất hòa, lại không biết gì nhiều về nhà Hán,
thêm vào đó họ quá khiếp sợ sự hùng mạnh và cường bạo
của Hung Nô, nên không chấp thuận. Tuy mục đích chính
của lần đi sứ này không đạt kết quả như ý, song Trương
Khiên đã phái phó sứ của mình đi liên hệ các tiểu quốc ở
Tây Vực, tăng thêm mối quan hệ giữa nhà Hán và Tây Vực.

Người Hung Nô có biết sự liên hệ giữa nhà Hán và Ô
Tôn bèn lấn tới, áp bách Ô Tôn. Lúc bấy giờ vua Côn Mạc
Ô Tôn đã biết rõ sự hùng mạnh của nhà Hán, nhất quyết
muốn được nhà Hán bảo trợ, sai đặc sứ đem một ngàn con
ngựa quý dâng tặng, thỉnh cầu nghinh hôn công chúa. Ông
vua anh tài đảm lược Hán Vũ Đế liền chấp thuận, lập con
gái của Giang Đô Vương Lưu Kiến là Tế Quân làm công
chúa và gả cho Côn Mạc.

Đây không phải là thứ quan hệ hôn nhân tự nhiên mà
là một dạng liên minh chính trị. Vua Thiền Vu Hung Nô
giảo hoạt hay tin ấy, cũng gấp rút đem một công chúa gả
cho Côn Mạc. Thế là Cơn Mạc phong Tế Quân làm Tả phu
nhân và công chúa Hung Nô làm Hữu phu nhân, một tả,
một hữu gần như cân bằng, nhưng sự việc xảy ra sau này
không phải chỉ đơn giản như thế.

Sau khi Tế Quẩn đến Ô Tôn thường “mở tiệc ăn uống,
đem tiền bạc, vải vóc ban phát cho tả hữu quan lại của nhà
vua”, bắt đầu hoạt động để tranh thủ giới quý tộc Ô Tôn.
Để lấy lòng Tế Quân, Côn Mạc đặc biệt cho xây dựng cung

233


Click to View FlipBook Version