ta sinh sống, lao động và phát triển sản xuất tạo dựng văn
hóa đã làm nên một Đôn Hoàng đầy chất nghệ thuật nổi
tiếng thế giới.
ĐÔ HỘI THỊNH VUỢNG THỜI CỔ ĐẠI
Trước thế kỷ XI trước CN và có thể còn sớm hơn nữa,
Đôn Hoàng đã có những dân tộc thiểu số sinh sống. Về sau,
người Khương Nhung, người Nguyệt Thị và người Hung
Nô lần lượt chiếm hữu vùng đất này. Họ đều là những dân
tộc lấy du mục làm sinh kế. Sau khi Hán Vũ Đế đem binh
đến hành lang Hà Tây tiến đánh Hung Nô và chiến thắng
thì đưa dân từ nội địa đến để khai khẩn canh tác, lúc đó
Đôn Hoàng mới phát triển về nông nghiệp, tạo dựng làng
xóm và thị tứ, và dần dần phát triển thành một cứ điểm
trọng yếu thông vãng Tây Vực được sử sách gọi là “một đô
hội lớn”.
“Đôn Hoàng” có nghĩa là “Thịnh đại”. Hán Vũ Đế
Nguyên Đỉnh năm thứ sáu (111 trước CN) lần đầu tiên lấy
tên “Đôn Hoàng” đặt thành quận cho cả dải đất rộng lớn
này, đứng đầu trong sáu huyện như Đôn Hoàng, Long Lặc
... Hán Vũ Đế đặt ở Hà Tây bốn quận mà trong đó quận
Đôn Hoang sát về phía tây nhất, nó là yết hầu của con
đường tơ lụa.
Kể từ đó trở đi, người xưa có thói quen lấy Đôn Hoàng
làm biên giới, ra khỏi đó đi về hướng tây gọi là Tây Vực
bao gồm các tiểu quốc thuộc chính quyền trung ương ở
phạm vi trong và ngoài núi Thông Lĩnh và kể cả một số
quốc gia ở Trung Á và châu Âu. Ba lộ tuyến của con đường
tơ lụa đi qua địa phận Tân Cương đều xuất phát từ Đôn
Hoàng. Bất luận thương nhân, lữ khách nào đi về phía đông
hoặc lên phía tây đều phải đi qua Đôn Hoàng.
134
Điều sử sách nói về các con đường đi Tây Vực “tất cả
đều chụm lại ở Đôn Hoàng” là có ý nghĩa như vậy.
Đôn Hoàng là một lục châu đầy nước và cỏ, nhưng tất
nhiên cũng nhờ vào sự giao lưu kinh tế giữa đông và tây
mà phát triển. Các thương lữ từ nội địa đi Tây Vực đến Đôn
Hoàng dừng chân nghỉ ngơi, lấy thêm lương thực, chuẩn bị
vượt sa mạc Taklamacan rộng lớn; còn các thương lữ từ
Tây Vực đến, sau cuộc giong ruổi đường dài gian khổ trên
sa mạc đến đấy cũng phải nghỉ ngơi lấy lại sức rồi tiếp tục
đông tiến để thăm thú phong cảnh, mua sắm các sản vật
vùng Hoa Hạ. Như vậy có thể tưởng tượng ra cảnh người
qua lại tấp nập, tiếng chương lạc đà đinh đang trên đường
phố Đôn Hoàng thời cổ đại, trong đó không thiếu những
người mũi cao, mắt sâu, râu rậm của các nước Âu Á.
Đôn Hoàng ngày nay là một huyện thành nhỏ xanh um
cây lá yên tĩnh đáng yêu. Trên đường phố, nhà cửa, cây cối,
quầy hàng ... đều đem lại cho ta một cảm giác mới. Trên
các ngã tư đường, xe hàng qua lại không thiếu những biển
số của xứ Thanh Hải, Tây Tạng. Tàu lửa, máy bay đã thay
thế lạc đà trong thời đại mới này, nhưng Đôn Hoàng vẫn là
một đầu mối giao thông của dải cao nguyên vùng tây bắc
của tổ quốc.
XUÂN PHONG DĨ ĐỘ NGỌC MÔN QUAN
Ngày thứ hai ở Đôn Hoàng, tôi nhờ một người làm
công tác khảo cổ của phòng văn hóa huyện hướng dẫn tôi
đi thăm Ngọc Môn Quan, anh tên là Vinh Ân Kỳ.
Ra khỏi thành, chúng tôi đi về hướng bắc đến sông Lặc
Hà thì men theo bờ sông đi về hướng tây. Vinh Ân Kỳ nói
Đường Huyền Trang không đi qua Đôn Hoàng, ngài rời
Qua Châu (An Tây) thì men theo sông Sơ Lặc theo hướng
135
tây để đến Ngọc Môn Quan. Lòng sông rộng, nước chảy rất
yếu. Trên bãi sông, xã viên công xã Nhân dân đàng đào
muối ăn.
Không có đường nhựa đến Ngọc Môn Quan, chiếc
Jeep của chúng tôi lúc thì chạy trên sa mạc, lúc thì chạy bên
bờ sông. Dọc đường không thấy vườn ruộng, thỉnh thoảng
mới gặp một đàn gia súc. Trên đất toàn mọc những cây chịu
hạn của sa mạc. Tình cờ chúng tôi thấy một gò đất ven sông
mọc một giống cây xanh mướt và theo lời anh tài xế nói dù
đó là một loại cây thuốc cam thảo hoang. Tôi nhổ lên một
cây rứt một đoạn nhai thử, quả nhiên vị giống như cam
thảo, tính hàn và có vị ngọt.
Men theo bờ sông tiến về phía tây, ta có thể thấy dấu
vết của Trường thành đời Hán, đứt nối vô chừng. Cách
huyện thành 60 cây số, chúng tôi đến một nơi gọi là “Đại
phương bàn thành”. Đây là kho lương lớn cửa đời nhà Hán,
dung tích chứa lương thảo để quan binh nơi biên ải và sứ
thần lai vãng sử dụng. Tường thành của kho lương thảo
hiện vẫn còn phế tích.
Lại đi tiếp chừng 20 cây số nữa thì thấy một tòa thành
luỹ bằng đất sừng sững trên một mô đất bên bờ sông Càn
Hà. Cạnh thành dựng một tấm bia đề ba chữ “Ngọc Môn
Quan”. Tường thành cao 10 mét, hình vuông, chiếm một
diện tích đất rộng 633 mét vuông. Tôi theo vết nứt của bờ
tường leo lên đỉnh, gió rất to, đứng không vững, chỉ có cách
ngồi áp vào tườngl thành ló đầu nhìn ra.
Vinh Ân Kỳ chỉ về hướng tây bảo tôi nhìn theo: biển
cát mênh mông trải dài hút tầm mắt. Nơi đó là địa giới tỉnh
Tân Cương, lại nhìn về hướng tây thì đó là hồ nội địa La
Bố Náo Nhĩ, người xưa gọi là biển Bồ Xương.
Ngày xưa vượt ra khỏi Ngọc Môn Quan gọi là Xuất
Tái (ra khỏi cửa ải). Trong thơ Đường có nhiều bài thơ nói
136
về nỗi buồn nơi biên tái. Ví như bài “Xuất tác của Vương
Chi Hoán là một trong những bài nổi tiếng:
(1) “Hoàng hà viễn thướng bạch vân gian,
Nhất phiến cô thành vạn nhận san.
Khương địch hà tu Oán dương liễu,
Xuân phong bất độ Ngọc Môn Quan”.
Tạm dịch: Sông Hoàng Hà lên xa mãi tận làn mây
trắng, mảnh thành trơ trọi đứng giữa muôn tầng núi cao;
tiếng sáo người Khương kia cớ sao lại tấu khúc “triết liễu”
làm gì, vì người ra đi nhớ nhà thì cứ nhớ, nhưng không về
được cũng như làn gió xuân không thổi tới được Ngọc Môn
Quan xa xôi nơi sa mạc khô cằn này.
(1) Bài Xuất Tái có 2 bản chép lại:
1.- của Nguyên Hiến Lê:
Hoàng hà treo ngọn giữa mây xanh
Vạn bậc non cao một mảnh thành
Sáo rợ buồn chi lời chiết liễu
Gió xuân chẳng vượt Ngọc Môn Quan.
(Nguyễn Hiến Lê - NXB Trẻ)
2.- của Cao Tự Thanh:
Cát vàng chen thẳng vào mây trắng
Một mảnh thành côi núi vạn trùng
Sáo rợ trỗi chi lời Liễu Oán
Gió xuân đã bị Ngọc Môn Quan.
(Giai Thoại Thơ Đường - NXB Phụ Nữ).
137
Người xưa khi tiễn biệt nhau thường bẻ cành liễu để
biểu thị sự lưu luyến, tiếng sáo nói lên ý mùa thu ly biệt.
Nhà thơ thường đem tiếng sáo, bẻ cành liễu và oán biệt liên
kết lại với nhau để nói lên sự xa cách. Cớ sao tiếng sáo
người Khương lại tấu khúc “triết liễu” (bẻ cành liễu) kia
chứ? Gió xuân không đời nào thổi đến phía ngoài Ngọc
Môn Quan thì thật là thê lương buồn bã làm sao!
Ngày nay chúng tôi đang đứng cạnh Ngọc Môn Quan
nhìn về phía tây, nhưng tâm tình hoàn toàn khác hẳn. Cần
nhớ Diệp Kiếm Anh đã từng sống quá nửa cuộc đời nhung
mã có làm bài thơ đề “Ngọc môn”, khẩu khí nghe ra rất hào
hùng. Ông mượn hai câu sau của Vương Chi Hoán, nhưng
có ý ngược lại, bài thơ như sau:
“Dẫn đắc xuân phong độ Ngọc quan,
Tịnh phi dương liễu thị thanh niên;
Anh hùng nhất đại thiên thu nghiệp,
Cảm thuyết tiền hiền quỹ hậu sinh”.
Tạm dịch: Đã đưa gió xuân đến tận Ngọc Môn Quan,
hoàn toàn không phải do “dương liễu” mà là do những
chàng trai trẻ; anh hùng của một thời chính là sự nghiệp
của ngàn năm và dám có thể nói rằng hiền nhân ngày trước
đôi khi cũng phải thẹn với đám hậu sinh ngày nay.
Tôi ngước đầu nhìn về phía tây, bỗng nhiên tôi nghĩ
đến đứa cháu nơi phương xa, nó đang làm việc tại cơ quan
nghiên cứu khoa học tỉnh Tân Cương. Năm nọ khi về Bắc
Kinh nó có tặng cho tôi một cành sen tuyết ở Thiên Sơn.
Hỏi tình hình việc nghiên cứu của nó, nó bảo:
- Bác cứ đến chỗ chúng cháu để xem cuộc sống mới ở
đấy cho biết!
138
Lời nói của nó nghe rất tự tin. Ngày nay, tôi quả thật
muốn vượt khỏi Ngọc Môn Quan để đến xem lớp thanh
niên mới đã cống hiến đời mình cho khu vực nam bắc Thiên
Sơn như thế nào.
Đứng ở Ngọc Môn Quan nhìn về phía nam thấp thoáng
trong núi đồn chập trùng có thể thấy các “phong toại đài”
(đài dùng để đốt lửa vào ban đêm, hoặc un khói vào ban
ngày, để báo hiệu có chiến tranh xảy ra trong thời cổ đại).
Vinh Ân Kỳ nói cứ nhắm phong toại đài đi thẳng về phía
nam thì đến Dương Quan, cách Ngọc Môn Quan chừng 50
cây số.
Tôi hỏi:
- Từ đây có thể đi thẳng đến Dương Quan được không?
Anh bảo:
Dĩ nhiên là được, nhưng đi xe jeep thì rất khó. Chi bằng
chúng ta trở về thành, ngày mai sẽ đi theo một lối khác và
trên đường đi ta có thể nhìn ngắm nhiều cảnh tượng thú vị
khác.
CÂU CHUYỆN VỀ LỬA HIỆU
Hôm sau, ra khỏi tây thành huyện Đôn Hoàng thì thấy
một đoạn tường thành. Vinh Ân Kỳ bảo đó là vị trí cũ của
cổ thành Đôn Hoàng, cách đó không xa có một tòa tháp,
hình dáng tương tự như Bạch tháp ở công viên Bắc Hải của
Bắc Kinh có tên là tháp Bạch Mã. Tương truyền rằng vị cao
tăng Cưu Ma La Thập xứ Tây Vực từ nước Quy Tư đến
Lương Châu đi qua Đôn Hoàng thì con bạch mã của ngài
bị bệnh chết, người ta làm đám táng cho bạch mã rồi sau
đó xây tháp cho nó.
139
Ra khỏi thành đi đường nhựa về hướng tây. Mặt nam
là một dãy núi có hình dáng rất kỳ lạ, sống núi nhọn như
đao. Vinh Ân Kỳ nói: “Đó không phải là loại núi như
thường thấy mà là núi cát đấy”. Qua cách giảng giải của
anh, tôi thấy trên núi quả nhiên có những hoa văn ngoằn
ngoèo giống như sóng nước. Nó lại không giống như những
cồn cát hình thường mà quanh năm cố định, không hề di
động, kéo dài hơn 40 cây số, ngọn cao nhất cao đến 250
mét, nhìn xa trông như một dãy núi có tên là núi Minh Sa.
Tiếp tục đi về hướng tây, đường nhựa sắp tiếp giáp với
bãi sa mạc Gôbi hoang vắng. Phía nam ra dường là sông
Đảng Hà, nước chảy đào khoét lòng sông thành một ngòi
nước sâu. Nếu không đến gần ngòi nước cúi nhìn xuống thì
không thấy được lòng sông, con sông này mang lại cuộc
sống và văn hóa cho Đôn Hoàng.
Trên sông Đảng Hà, người ta kiến tạo hồ chứa nước và
sản xuất điện lực. Bên cạnh hồ chứa nước là phong toại đài
có từ đời nhà Hán. Đó là một phong hỏa đài hoàn chỉnh
nhất mà tôi được thấy khi đi dọc hành làng Hà Tây này.
Người xưa đã dùng đất sét, thân lau sậy và đá cuội mà xây
nên.
Trên phong hỏa đài ấy có xây một giá thật cao, trên đó
treo một cái giỏ lớn, trong chứa đầy củi khô, cỏ khô. Nếu
ban đêm phát hiện có kẻ địch thì đốt lửa lên nên gọi là
“phong” (tức lửa báo hiệu). Ngoài ra, trên đài còn chứa
thêm củi và cỏ. Nếu ban ngày phát hiện có kẻ địch thì un
khói làm tín hiệu nên gọi là “toại” (tức khói báo hiệu).
Tương truyền rằng thời cổ đại người ta thường dùng phân
của con sói để un khói vì khi đốt lên chúng bốc nhiều khói
đen nên gọi là “lang yên” (khói của phân sói).
Phong toại đài thời cổ đại thì cách nhau vài dặm lập
một đài theo dọc đường cái. Cứ qua từng trạm truyền đạt
140
tin tức thì nhanh hơn nhiều so với đi ngựa để báo tin. Phong
toại đài dùng làm công cụ thông tin của thời cổ đại không
phải chỉ bắt đầu từ đời Hán, mà trước đó vào cuối thế kỷ
thứ VIII trước CN đã lưu truyền một câu chuyện có liên
quan đến phong toại.
Chu U Vương có một ái phi tên là Bao Tự. Suốt ngày
nàng luôn sầu muộn không vui. U Vương đã dùng trăm
phương ngàn kế cũng không mua được một nụ cười của mỹ
nhân. Vị hoàng đế chơi hoang ấy lại nghe theo kế của một
kẻ vô lại nào đó bèn hạ lệnh cho đốt lửa báo hiệu có chiến
tranh. Các nước chư hầu thấy khói lửa báo hiệu cho là triều
đình đang gặp nạn, vội vàng dẫn binh đêm ngày vượt
đường sá xa xôi đến kinh thành. U Vương đưa nàng Bao
Tự ngồi trên lầu cao nhìn xuống thấy các lộ mà chư hầu bị
lừa đang rầm rộ kéo quân đến, nàng không nhịn được bỗng
cười lên một tiếng. U Vương mừng rỡ, bèn thưởng cho
người hiến kế một ngàn lạng vàng. Thế nên người ta thường
nói ngàn vàng mua một nụ cười là do từ sự tích ấy. Về sau,
địch xâm nhập thực sự, U Vương hạ lệnh đốt lửa báo hiệu
thì chư hầu không tin nữa nên không đem binh đến cứu, kết
quả U Vương bị giết, Bao Tự bị bắt.
LỤC CHÂU BÊN BÃI HOANG
Tiếp tục đi lên phía trước, qua những phong toại đài
sừng sững trên các đồi núi thì đến một tòa cổ thành bị cát
chôn vùi gọi là thành Thọ Xương. Đó là vị trí cũ của huyện
Long Lặc, quận Đôn Hoàng thuộc đời nhà Hán; đến đời
Đường đổi tên là huyện Thọ Xương. Vinh Ân Kỳ nói các
đội thương lữ ngày xưa xuất phát từ huyện Đôn Hoàng rồi
men theo con đường chúng ta vừa đi qua, trước tiên đến
thành Thọ Xương, sau đó đi tiếp một đoạn nữa thì đến
Dương Quan và thế là tiến vào xứ Tây Vực.
141
Bờ tường của cổ thành Thọ Xương vẫn còn một phần
lộ ra trên cồn cát. Chúng tôi đi vòng quanh bờ tường hoang
phế ấy, có lúc như đang bước trên bức bờ tường đất đổ nát,
có lúc thì như đi trên cồn cát. Góc đông nam tường thành
là lò thiêu ngày trước. Đứng trên bờ tường hoang phế này
nhìn xa xa thì thấy cát vàng trùng trùng từng đợt mù mịt
bay từ hướng bắc đến dần dà nuốt gọn cả cổ thành có diện
tích hơn tám mươi ba ngàn mét vuông này. Sức tàn phá của
gió cát thật sự đã làm cho con người khiếp sợ. Cạnh cổ
thành Thọ Xương có một dọc rừng phòng cát xanh tốt chắn
bớt sự tiến công của cát vàng. Chúng tôi rời khỏi cồn cát,
đi xuyên qua dãy rừng phòng cát, qua các ruộng ngô và
bông vải, đi vào một con đường trồng toàn bạch dương tỏa
bóng mát, hai bên đường là hai dãy nhà ở ngay ngắn, đây
chính là công xã nhân dân Nam Hồ của huyện Đôn Hoàng.
Rời khối cổ thành bị cát chôn vùi, chúng tôi vào đến
lục châu, ngửi thấy mùi hương trong lành tỏa lan của lá
cành cây cối, nhìn thấy tư thái nhàn nhã của dân mục đồng
ngồi trên mình trâu và nghe thấy tiếng nước chảy róc rách
... trong lòng bỗng cảm thấy sảng khoái lạ.
Sở dĩ nhân dân Nam Hồ sản xuất và sinh hoạt được
trong cảnh bao vây của cát sa mạc là nhờ bốn con suối
ngầm phun từ lòng đất, trong đó có một con suối lởn nhất,
lưu lượng mỗi giây đạt 0,8 mét khối. Tôi đến xem suối
ngầm ấy thì thấy có một cái đập xây bằng đá để giữ nước
phun lên đưa vào một hồ nhỏ. Đập này xưa nay vốn có tên
là đập hoàngThủy: Ven hồ có nhiều cỏ mọc, ngựa, la và dê
đến uống nước ở đấy.
Hồ nước này vào đời Hán gọi là Ốc Oa trì (ao nước
trũng). Vinh Ân Kỳ nói sự tích ngựa trời xuất sanh ở ao ốc
Oa do từ đấy mà ra. Thời Hán Vũ Đế có một người ở Tân
Dã, Nam Dương, tên là Bộc Lợi Trường vì phạm pháp bị
142
tội lưu đày đến huyện Đôn Hoàng để khai khẩn đất đai, ông
thường thả súc vật ở cạnh ao Ốc Oa. Có lần ông nhận thấy
trong số những con ngựa đến uống nước có một con kiêu
mãnh xuất chúng. Ông nghĩ ra một kế để bắt con ngựa
hoang ấy. Trước tiên ông làm một tượng người bằng đất
đứng cạnh ao, cho mặc áo quần, tay cầm một sợi dây. Ngựa
hoang đến uống nước thấy tượng người thì tránh xa. Càng
lâu về sau, thấy người cầm sợi dân ấy không hề làm hại gì
cả, nên dần dần quen đi và cũng không còn dè chừng nữa.
Thế rồi Bộc Lợi Trường thay tượng đất và chính mình đứng
vào chỗ ấy. Ngựa hoang theo thường lệ vẫn đến uống nước,
rồi tới cận dần; Bộc Lợi Trường thừa cơ bất kỳ bất ý quăng
sợi dây ra bắt được ngưa đem dâng cho Hán Vũ Đế, và nói:
“Ngựa trời xuất sanh ở ao Ốc Oa”. Hán Vũ Đế cho là thật
và sáng tác ra bài ca “Thiên mã”.
DƯƠNG QUAN - BÃI “ĐỒ CỔ”
Di chỉ Dương Quan cách ao Ốc Oa về hướng tây bắc
không đầy một cây số. Vinh Ân Kỳ dẫn tôi đi xuyên qua
rừng phòng cát dọc phía tây công xã nhân dân Nam Hồ để
đi vào sa mạc, nhưng phải vượt qua bốn mươi vồng cát lớn
mới thấy di chỉ Dương quan. Anh nói di chỉ này cách huyện
Đôn Hoàng 70 cây số vế phía tây nam. Trên phần đất của
di chỉ này không thấy cảnh vách đổ tường xiêu mà chỉ thấy
toàn là cồn cát, đất đai cằn cỗi, nhưng lại có dấu tích của
nền tường.
Khi đến đây bỗng dưng Vinh Ân Kỳ trở nên hăng hái
hẳn lên, vừa khom lưng cúi đầu tìm kiếm “đồ cổ” trong cát,
vừa giảng giải cho chúng tôi những kiến thức cơ bản về
việc giám định các văn vật. Có sáu người học cách của anh,
lui tới dùng mắt trần tìm kiếm xem trên mặt đất, may ra
phát hiện được gì nơi ải Dương Quan cố cựu này.
143
Bỗng đằng kia có một người gọi lớn:
- Anh Vinh ơi! Tôi tìm được của quý đây này!
Vinh Ân Kỳ chạy đến xem, rồi nói lớn:
- Hay lắm, đây là mũi tên đồng thời nhà Hán đấy.
Chỗ khác lại có người kêu:
- Anh Vinh ơi! Mau đến xem. Đây có phải là đồ cổ
không?
Vinh Ân Kỳ chạy lại thấy một viên ngọc lưu ly liền
đoán:
- Đây là đồ trang sức gắn trên mũ của người xưa.
Tôi cũng nhặt được một đồng tiền thời nhà Hán, tuy rỉ
đồng bám đầy nhưng cũng có thể thấy rõ trên mặt có hai
chữ “ngũ thù” (năm tiền, một tiền bằng nửa lạng). Tôi còn
nhặt thêm một viên đá nhỏ, giữa có một cái lỗ, theo lời
giám định của Vinh Ân Kỳ thì đó là “con thoi” dệt vải thời
xưa.
Ở di chỉ Dương Quan, người ta thường nhặt được các
mảnh văn vật nhỏ nên được gọi là “bãi đồ cổ” và có thể nói
hầu như người ta không thể nhặt hết các văn vật nơi di chỉ
này. Mãi cho đến ngày nay, chúng ta chỉ cần để ý một chút
cũng có thể nhặt được một vài mảnh “đồ cổ” như thường.
Về vấn đề này, Vinh Ân Kỳ giải thích: vị trí cũ của
Dương Quan đã từng bị dòng nước chảy qua công phá.
Ngày nay những cồn cát trên nền đất cũ thường bị gió làm
di động. Gió không những có tác dụng chôn vùi “đồ cổ”
mà cũng có tác dụng làm lộ ra “đồ cổ” bị ẩn tàng trong cát.
Anh vừa đi vừa nói, bỗng đứng sững lại, chắp hai tay
đưa lên đầu la lớn: “Dừng lại?” Thì ra có thứ văn vật quý
hiếm gì đó đang xuất hiện trước mắt anh. Anh quỳ xuống
144
một chân cẩn thận nhặt lên một mảnh đá xanh ở giữa có
một lỗ tròn tròn, rồi nhẹ nhàng đặt lại vào chỗ cũ, quay lưng
nói với chàng ký giả Tiểu Kim:
- Làm ơn chớp giùm cho mình một pô tại nguyên chỗ
của nó. Đây là cái đao bằng đá thuộc thời kỳ đồ đá mới,
trước nay chưa ai tìm thấy.
Đây là lần đầu tiên anh phát hiện ra văn vật thuộc thời
kỳ đỗ đá mới tại di chỉ Dương Quan. Tôi hỏi đã có ai tìm
được một vật gì tương tự như thế chưa, thì anh nói:
- Chưa từng nghe thấy. Sự phát hiện này chứng minh
khu vực quanh Dương Quan đã có cư dân sinh sống vào
thời kỳ đồ đá mới.
Chúng tôi tìm tòi của quý tại di chỉ Dương Quan chỉ
trong hai tiếng đồng hồ thật chưa đã thích chút nào. Trời
gần tối không thể ở lâu được nữa, chúng tôi bên leo lên
phong toại đài ở phía bắc núi Đôn Đôn nhìn quanh một lượt
lần cuối cùng. Mặt trời lặn dần, phía chân trời hiện ra một
vầng ráng chiều đầy màu sắc phản chiếu ánh hồng trên lớp
sóng cát mênh mông của buổi hoàng hôn. Dương Quan ơi!
Xin giã biệt!
145
9a. HANG ĐỘNG Ở MẠC CAO VÀ CON
ĐƯỜNG TƠ LỤA
Chúng tôi về đến Đôn Hoàng thì trời vừa tối. Từ gọi
điện thoại cho Thường Thư Hồng, giám đốc Sở Nghiên cứu
Văn vật huyện Đôn Hoàng thông báo là chúng tôi đã đi
Dương Quan và Ngọc Môn Quang sau đó mới đi thăm hang
động ở Mạc Cao. Nghe qua điện thoại, giọng ông ôn tồn,
nhỏ nhẹ:
- Hoan nghênh, hoan nghênh các anh! Có chớp nhiều
ảnh không? Có phải các anh định cho ra một tập bưu ảnh
về Đôn Hoàng, đúng không?
- Lần này chúng tôi chỉ muốn biết thêm về mối quan
hệ giữa nghệ thuật Đôn Hoàng và con đường tơ lụa mà thôi.
- Tôi nói.
LẦN THỨ HAI ĐI THĂM HANG ĐỘNG MẠC CAO
Năm 1975, tôi đã đến thăm hang động Mạc Cao. Ông
bạn ký giả họ Địch cùng với tôi đã đi qua Đôn Hoàng cũng
vì những bích họa rực rỡ và những tượng hình chạm khắc
tinh mỹ trong các hang động ở Mạc Cao làm mê hoặc
chúng tôi, nên bấy giờ chúng tôi đã chớp khá nhiều tấm
ảnh. Hồi đó, “Tứ nhân bang” đang lúc hung hăng cuồng
loạn, họ cấm chỉ những cuộc triển lãm và những họa báo
có hình ảnh Đức Phật và các vị Bồ tát. Do đó, những bức
ảnh có dính dáng đến những cấm kỵ ấy chỉ còn cách đem
cất giấu cho xong, đợi đến khi họ bị hạ bệ, mới sửa chữa
lại và cho xuất bản. Đối với việc xuất bản tập bưu ảnh ấy,
Thường Thư Hồng đã hỗ trợ hết mình (1).
(1) vì vậy lần này gặp lại, Thường Thư Hồng mới hỏi về
việc chớp ảnh và xuất bản tập ảnh về Đôn Hoàng.
146
Đi xe từ Đôn Hoàng đến hang động Mạc Cao mất độ
nửa tiếng đồng hồ. So với lần trước, tôi cảm thấy Đôn
Hoàng có sự thay đổi rõ ràng. Ngày nay có xe hợp đồng
đưa đón khách tham quan. Đường đất ven sa mạc Gôbi đã
trở thành đường rải nhựa. Chúng tôi chạy cạnh chân núi
Minh Sa, vượt qua cây cầu xi-măng mới xây và dừng xe
trước một nhà bia có bút tự của Quách Mạt Nhược và thế
là đã đến hang động Mạc Cao. Con đường rợp bóng cây,
yên tĩnh trước hang động sạch bong đến độ không có lấy
một ngọn lá sót lại. Và một lần nữa nghe tiếng chuông gió
đinh đang trên cao lại cảm thấy sao mà thân thiết lạ?
Tôi được dẫn vào phòng tiếp tân của viện Tứ Hơp yên
tĩnh. Lần trước lúc chúng tôi đến chỉ có anh bạn họ Địch
và tôi, hai người trông thật cô đơn. Bấy giờ, dưới bóng đen
càng quấy của “Tứ nhân bang”, hang Mạc Cao trông thật
thảm hại. Còn ngày nay thì trở nên náo nhiệt đông vui. Ở
đây có rất nhiều khách từ Đại học Bắc Kinh, Đại học Lan
Châu, học viện Mỹ thuật Triết Giang, Viện Bác cổ Lịch sử
Tân Cương đến. Ngoài ra, trong một tòa viện khác, đội
nhiếp ảnh thuộc xưởng làm phim Thượng Hải trú ngu. Họ
đang làm những cuốn phim tài liệu về nghệ thuật.
Tôi đến phòng làm việc của Thường Thư Hồng để
thăm. Ông đang chủ trì một cuộc tọa đàm. Vào hội trường,
ông nhiệt tình kéo tôi ngồi xuống nghe giáo sư Đại học Bắc
Kinh Chu Tổ Mô thuyết giảng. Đầu đề của bài nói chuyện
là “Văn học cổ điển và lịch sử”. Các đồng chí trong vở
nghiên cứu ngồi chật cả hai trường đang để hết tinh thần
lắng nghe, xem ra công tác này đã trải qua một giai đoạn
tiêu đoạn tiêu điều linh lạc, nay mới trùng tân làm sống lại.
Sau buổi tọa đàm, tôi đi theo Thường Thư Hồng về phòng
làm việc của ông. Điều khiến tôi chú ý là trên tường có treo
một bản đồ họa thiết kế nhà khách theo kiến trúc truyền
thống.
147
Ông nói:
- Đồ họa này là của một ông bạn mới đây đã vẽ giúp
cho chúng tôi nhà đón khách du lịch tham quan đấy!
- Ồ, chuẩn bị đón hàng loạt khách du lịch đấy nhỉ? -
Tôi nói - Thật không ngờ mới chỉ có ba năm mà ở đây các
anh đã làm thay đổi không ít!
NHỮNG TẤM THẢM BA TƯ RỰC RỠ
Nói đến mối quan hệ giữa nghệ thuật Đôn Hoàng và
con đường tơ lụa, Thường Thư Hồng bắt đầu từ cách cấu
tạo các bích họa, chạm khắc tượng và khám thờ trong hang
động đều có thể thấy sự liên hệ trực tiếp hoặc gián tiếp đến
con đường tơ lụa, ông đề nghị hãy đi xem trước rồi bàn sau.
Vừa lúc đó chị Tưởng Nghị Minh, người đã giảng giải
và giúp đỡ chúng tôi chớp ảnh lần trước muốn giáo sư Chu
Tổ Mô cùng đi tham quan Mạc Cao, tôi đã tháp tùng với
họ.
Vào đến hang thứ 324 (thời Sơ Đường), tôi đang ngắm
nhìn bức bích họa có vị bồ tát cưỡi trên mình voi thì giáo
sư Chu chỉ các hoa văn trang trí trên đỉnh hang tán thưởng
nói:
- Ồ! một tấm thảm Ba Tư thật tuyệt hảo!
Tưởng Nghị Minh cười tỏ ý tán đồng. Chị nói với tôi:
- Con mắt của giáo sư Chu thật tinh tế. Hoa văn Đôn
Hoàng rõ ràng mang ảnh hưởng của Tây Vực. Anh đợi tôi
một chút, chúng ta đến hang thứ 158 (thời Trung Đường),
anh hãy chú ý đến cái gối của tượng Phật ở niết bàn.
Lần đi trước tôi như bị hấp dẫn bởi cái vẻ đẹp thâm
trầm thư thái của hình Đức Phật nằm ngủ. Tuy đã từng
148
đứng nhiều góc độ để chớp một số kiểu ảnh và đã chọn một
kiểu phóng lớn treo trong nhà và đã được nhiều bạn bè tán
thưởng, song lúc ấy tôi hoàn toàn không chú ý đến chiếc
gối kia. Lần này qua sự chỉ điểm của Tưởng Nghị Minh,
tôi mới phát hiện ra trên gối có hoa văn tạo thành từng
vòng, từng vòng cánh hoa sen. Trong mỗi vòng lại có một
vành ngọc tròn, ở giữa là một đôi chim.
Theo lời của các chuyên gia nói đó là dạng hoa văn
“liên chu đối điểu” một phong cách hoa văn điển hình của
Ba Tư.
Ánh sáng trong hầu hết các hang động ở Mạc Cao thật
mù mờ, những bộ phận vi tế trên các bích họa cần phải nhờ
ánh sáng của đèn pin soi cận vào và quan sát kỹ mới thấy
rõ. Ở hang thứ 156 (thời Vãn Đường), tôi cầm đèn gìn rọi
lên bờ vách chiếu đèn thật kỹ vào thì thấy đôi mắt ngọc
xanh biếc và chăm chú nhìn mới phát hiện ra người ấy đang
nghe Đức Phật thuyết pháp, với khuôn mặt trắng, mũi cao,
mắt sâu, rất giống người Nam Âu ở Địa Trung Hải.
Sau khi xem, Chu giáo sư nói:
- Có lẽ họa sư thời cổ đại đã từng thấy người châu Âu
nên họ mới vẽ giống như vậy.
Tôi nghĩ Đôn Hoàng nằm trên trục lộ chính của con
đường tơ lụa ắt hẳn không thiếu những người thuộc các
nước Âu Á đến Trung Quốc, nhưng con mắt của các họa
sư đương thời thật là sắc sảo. Ví như bức họa tân vương
các nước làm lễ táng (hang 158), hoặc bức họa tín đồ các
nước nghe thuyết pháp (hang 98) đều mặc trang phục của
dân tộc ngoại quốc và dân tộc thiểu số, nhưng họ vẽ rất linh
động.
Theo sự chỉ điểm của người giảng giải có vốn hiểu biết
phong phú, chúng tôi vừa xem vừa bàn khiến tôi từ cái biết
149
vụn vặt đến việc nắm bắt một số mặt chủ yếu, hiểu rõ thêm
về mối liên hệ vi diệu mà mật thiết giữa nghệ thuật Đôn
Hoàng và con đường tơ lụa.
HANG ĐỘNG SỐ MỘT TRONG SỐ HÀNG NGÀN
ĐỘNG PHẬT
Văn hóa Phật giáo có mặt ở các hang động Mạc Cao là
do con đường tơ lụa từ Ấn Độ truyền nhập vào nội địa
Trung Quốc qua hai cửa ải Ngọc Môn Quan và Dương
Quan kể từ sau khi Đức Phật ra đời. Đứng trên một góc độ
ý nghĩa nào đó mà nói thì không có con đường tơ lụa tức
sẽ không có hang động Mạc Cao tại Đôn Hoàng.
Rất sớm trước khi Trương Khiên mở đường sang Tây
Vực vào thời Tây Hán, thì Phật giáo đã xuất hiện vào thế
kỷ thứ V trước CN ở Ấn Độ và đã từ đấy, vượt qua núi
Thông Lĩnh đi về phía đông truyền nhập vào khu vực Tân
Cương. Sau đó theo con đường tơ lụa mà vào Trung
Nguyên. Đôn Hoàng là cửa khẩu lớn của Trung Nguyên đã
tiếp nhận các vị khách từ phương tây đến đồng thời cũng
tiếp nhận luôn nghệ thuật kiến tạo chùa hang động.
Phật giáo từ ngoài vào Trung Quốc thật sự được định
hình là vào thời kỳ mười sáu nước Đông Tấn, thời ấy chiến
loạn liên miên, nhân dân thống khổ trầm trọng, suốt gần
100 năm từ đầu thế kỷ thứ IV đến đầu thế kỷ thứ V CN.
Chính trong giai đoạn này, hang động Mạc Cao bắt đầu
khai sinh. Đứng về góc độ lịch sử mà xét thì đó là kết quả
tất nhiên về yêu cầu tín ngưỡng của nhân dân.
Sự đục mở hang đá đầu tiên tại hang động Mạc Cao
chỉ do một sự kiện ngẫu nhiên. Năm Kiện Nguyên thứ hai
Tiền Tần (tức năm 366 CN), có một vị hòa thượng tên là
Lạc Tăng từ Trung Nguyên lên phía tây đến dưới chân núi
150
Minh Sa ở Đôn Hoàng. Lúc đó mặt trời đang lặn nhanh
xuống núi, hòa thượng thấy ba ngọn núi cao phía trước rực
lên ánh kim quang làm lóa mắt trông giống như có hàng
ngàn hàng vạn vị Phật hiển hiện trong ánh kim quang ấy.
Hòa thượng cho đây là vùng đất thánh bèn quyết định treo
mình lên vách đá dựng đứng ở núi Minh Sa đục mở một
động để một mình vào đó trú ngụ tu hành.
Chúng tôi đứng trên hang Mạc Cao trông vời về hướng
đông thấy phía đối diện là một dãy núi đá màu hồng tía thì
đó là Tam Nguy sơn (ba ngọn núi cao chót vót). Tưởng
Nghị Minh nói đá trên Tam Nguy sơn có hàm lượng
khoáng chất, trời chiều phản chiếu sẽ phát ánh kim quang
sáng lóa. hiện tượng này được hòa thượng Lạc Tăng gọi là
“Phật quang”.
Hơn 1600 năm trước, hang động đầu tiên ở Mạc Cao
được đục khai như thế. Còn hang động thứ hai thì do hòa
thượng Pháp Lương khai mở.
Về sau hang động Mạc Cao phát triển trở thành loại
chùa hang đá lớn nhất Trung Quốc và có mối tương quan
mật thiết về vị trí địa lý đối với khu vực Đôn Hoàng. Ba
tuyến đường từ Trung Quốc đi Tây Vực của con đường tơ
lụa đều lấy Đôn Hoàng làm nơi xuất phát.
Hang động Mạc Cao tuy ẩn tàng trong sa mạc Gôbi
hẻo lánh nhưng cách huyện Đôn Hoàng không xa lắm chỉ
ước khoảng 20 cây số. Khách thương lai vãng trên con
đường tơ lụa, sau khu ra khỏi Ngọc môn Quan, hoặc Dương
Quan thường muốn đến hang động Mạc Cao để dâng hương
lễ Phật, ước nguyện đi đường bình an vô sự, còn những
người từ phía tây vào ải cũng thường qua đấy hiến cúng
một số tài vật để khai đục hang động và cảm tạ Phật tổ, Bồ
tát. Nơi đây dần dần trở nên nổi tiếng, hang động dần dần
ngày một nhiều. Từ thế kỷ thứ IV đến thế kỷ thứ XIV, ở
151
đây đã khai đục đến con số ngàn hang động xứng danh với
“thiên Phật động”. Đến nay số hang động còn giữ được 492
cái trải qua mười triều đại từ Đông Tấn mười sáu nước, Bắc
Ngụy, Tây Ngụy, Bắc Chu, Tuỳ, Đường, Ngũ Đại, Tống,
Tây Hạ và Nguyên Mông ...
KHÁCH THƯƠNG QUA CẦU, KHÁCH THƯƠNG
GẶP KẺ CƯỚP
Trong khi đi thăm các hang động, tôi đặc biệt chú ý
đến hình tượng khách thương trên bích họa và tượng chạm
khắc, vì rõ ràng đó là những hình ảnh phản ảnh trực tiếp
những sinh hoạt trên con đường tơ lụa đối với nghệ thuật
Đôn Hoàng.
Hiện vật có tính chất đai biểu nhất là bức vẽ tượng
người trên gạch nung thuộc đời Đường đào được ở miếu
thờ Phật ở Đôn Hoàng. Phù điêu khắc trên gạch là một
người thuộc Tây Vực đầu đội mũ dạ có chóp nhọn, đang
dắt một con lạc đà chở đầy hàng hóa.
Giáo sư Chu và chị Tưởng Nghị Minh hiểu rõ ý định
của tôi nên trong khi tham quan các hang động thường nhắc
nhở chỉ bảo tôi: khi thì nói “Ở đây có đội khách thương chỗ
lạc đà”, khi thì bảo “Anh nhà buôn này sao mà giống người
Ả Rập đến thế! …
Vào đến bang thứ 246 (thời Bắc Chu), tôi thấy bức họa
vẽ đội khách thương qua cầu trông thật thú vị. Bên trái là
người cưỡi ngựa lùa mấy con lừa trên lưng chở hàng hóa
bước lên cầu, bên phải là một người có vóc dáng người Tây
Vực đang dắt con lạc đà chở đầy hàng hóa cũng bước lên
đầu kia cầu. Khách buôn người Trung quốc đi về hướng
tây, và khách buôn ngoại quốc đi về hướng đông lại gặp
nhau trên một cây cầu; đó họ chẳng phải là cảnh tượng
152
thường diễn ra trên một con đường tơ lụa thời cổ đại chăng?
ớ hang thứ 45 (thời Thịnh Đường) có một bức họa “Khách
buôn người Hồ gặp kẻ cướp”, trong đó vẽ sáu khách thương
Tây Vực, so với bức họa “Qua cầu” kể trên thì có vẻ tươm
tất, tỉ mỉ hơn nhiều. Không những tướng mạo, y phục của
họ khác thường mà chính sự biểu lộ tình cảm của họ cũng
mỗi người một khác. Điều này chứng minh rằng đầu óc ghi
giữ đại hình thể người Tây Vực của các họa sư Đôn Hoàng
thật là bén nhạy, đầy đủ, nên khi vẽ lại mới sống động như
thật.
Trong số những bích họa ở Đôn Hoàng, đề tài về sự
tích Đức phật thường là nội dung chính, nhưng cũng có một
bức chỉ chuyên miêu tả về sự tích con đường tơ lụa. Đó là
bức “Trương Khiên xuất sứ Tây Vực đồ” (Bức họa về
Trương Khiên đi sứ Tây Vực) ở hang thứ 323 (thời Sơ
Đương). Trên bức họa có vua Hán Vũ Đế cưỡi ngựa dẫn
đám quần thần ra ngoài thành tống biệt Trương khiên đi sứ
Tây Vực. Người cầm hốt quỳ dưới đất để nói lời từ biệt đó
là Trương Khiên, sau ông là đoàn tùy tùng. Đến những nơi
có dấu chân Trương Khiến đi qua, rồi xem lại bức bích họa
của người đời Đường vẽ, không thể không khiến ta nghĩ
đến công tích lớn lao của ông đối với sự khai thông con
đường tơ lụa.
BÀI CA KHẢI HOÀN CỦA ĐOÀN QUÂN CHIẾM
LẠI ĐẤT ĐAI ĐÃ MẤT
Tưởng Nghị Minh dẫn tôi đến hang thứ 156 (thời
Thịnh Đường) xem hai bức bích họa có tương quan mật
thiết với con đường giao thông trọng yếu trong khu vực
hành lang Hà Tây, đó là bức Trương Nghị Triều thống quân
thu phục Hà Tây đồ (Bức họa về Trương Nghị Triều thống
suất binh đội chiếm lại Hà Tây) và bức Tống phu nhân xuất
153
hành đồ (Bức họa về phu nhân nước Tống xuất hành). Hai
bức bích họa này có kích cỡ đồ sộ, hình ảnh sinh động, màu
sắc tươi đẹp, bố cục xảo diệu, thật xứng danh là tác phẩm
ưu mỹ của nghệ thuật bích họa Đôn hoàng, do đó, trong
nhiều tập ảnh xuất bản về bích họa Đôn Hoàng đều được
chọn.
Trương Nghị Triều, người Đôn hoàng sống vào thế kỷ
thứ XI thời Vãn Đường, là một anh hùng dân tộc, ông có
công rất lớn đối với sự ổn định và phồn vinh của dải hành
lang Hà Tây. Phu nhân nước Tống là vợ của ông.
Việc duy trì sự thông thương của con đường tơ lụa
không phải luôn luôn thuận buồm xuôi gió. Cuối thế kỷ
thứ VIII và đầu thế kỷ thứ IX, dân du mục Thổ Phồn (Tây
Tạng) quấy nhiễu lãnh thổ nhà Đường, họ chiếm hành lang
Hà Tây, phá hoại sản xuất, cản trở việc giao lưu văn hóa
kinh tế giữa Trung Quốc và các nước phương Tây. Quân
dân Đôn Hoàng (Sa Châu) đã anh dũng chống lại trong hơn
mười một năm, cuối cùng, lương thảo hết, vũ khí thiếu nên
phải thất bại.
Năm 848, một người Đôn Hoàng tên là Trương
Nghị Triều lãnh đạo dân chúng khởi nghĩa, sử gọi là “cuộc
khởi nghĩa ở Sa Châu”. Nhân cơ hội nội bộ nước Thổ Phồn
lục đục, ông bí mật liên kết với hào kiệt trong xứ vạch kế
hoạch khởi nghĩa lấy lại đất đai đã mất về cho triều đình.
ông suất lĩnh dân chúng các châu phủ dựng cờ khởi nghĩa,
toàn thể nhân dân Đôn Hoàng hưởng ứng. Tướng soái Thổ
Phồn hay tin hoảng sợ đào tẩu. Mọi người tôn Trương Nghị
Triều lên lãnh đạọ chính sự ở Sa Châu, đồng thời dâng biểu
về triều cấp báo và được triều đình phong làm “Sa Châu
phòng ngự sứ”. Về sau, ông lại suất lĩnh binh mã thu phục
lại phần lớn đất đai dọc hành lang Hà Tây từ trong tay Thổ
Phồn rồi phái anh là Trương Nghị Trạch đem địa bộ Hà
154
Tây và mười một châu thuộc Tân Cương về Trường An.
Triều đình phong ông làm “Sa Châu quy nghĩa quân Tiết
độ sứ”. Dưới sự lãnh đạo của ông, nhân dân khu vực Hà
Tây khôi phục lại sản xuất, sửa sang nhà cửa, vườn tược.
Con đường tơ lụa trở lại cảnh tượng phồn vinh như trước.
Sử sách ghi chép về sự kiện Trương Nghị Triều quá ít
ỏi. Căn cứ vào các bích họa ở Mạc Cao, chúng ta mới có
thể thấy được hình tượng oai hùng của nhân vật anh hùng
ấy, đồng thời thấy được những gì mà đội quân hùng hậu
dưới sự thống suất của ông ca khúc khải hoàn trong chiến
thắng. Còn trong bức họa phu nhân nước Tống, vợ ông,
xuất hành thì có hàng hàng lớp lớp màn hiểu diễn ca hát,
nhảy múa đã phản ảnh phong tục tập quán của dải đất hành
lang Hà Tây.
TRUYỀN THÔNG DÂN TỘC VÀ ẢNH HƯỞNG
NGOẠI LAI
Sau khi thăm thú một lượt các hang động chính, tôi
muốn tiến thêm một bước nữa trong việc tìm hiểu mối quan
hệ giữa truyền thống dân tộc của nghệ thuật Đôn Hoàng và
ảnh hưởng của ngoại lai. Nhân ngày chủ nhật rảnh rỗi, tôi
đến nhà riêng của Thường Thư Hồng để thăm viếng và
thỉnh giáo đôi điều.
Tôi đã từng đến nhà ông ở Lan Châu. Trong một vuông
sân nhỏ trồng nhiều loại, hoa, trong thư phòng treo một bức
họa chân dung của ông vẽ tại Paris. Tôi rất thích những tập
tranh trong và ngoài nước mà ông đã sưu tập từ nhiều năm
nay. Lần đầu tiên bước vào chỗ ở của ông tại Đôn Hoàng,
cũng như thấy những cây hoa đã được ông dày công chăm
sóc trước sân, thì trên tường của chỗ ở mới này của ông lại
treo một bức tranh thiên thần mô phỏng trên các bích họa
về Phật giáo trong các hang động. Ông thuận tay đưa cho
155
tôi xem một tập tranh giới thiệu nghệ thuật điêu khắc tượng
Hy Lạp và Ấn Độ. Tôi vừa lật xem vừa lắng nghe những
kiến giải của ông về nghệ thuật Đôn Hoàng.
Ông cho rằng cuộc viễn chinh phương đông của
Alexandre Đại đế vào thế kỷ thứ IV trước CN là một sự
kiện lớn đối với sự hình thành lịch sử văn hóa nhân loại.
Văn hoá của ba nước có nền văn minh cổ đại của thế giới -
Hy Lạp, Ấn Độ, Trung Hoa - hội tụ tại phía tây núi Thông
Lĩnh. Hay nói rõ hơn nghệ thuật Hy Lạp, Phật giáo Ấn Độ
và văn hóa cổ đại Trung Quốc đều hội họp tại khu vực Đôn
Hoàng, Kỳ Liên. Ba nền văn hóa ấy giao hòa lẫn nhau tạo
thành một nền văn hóa mới. Nghệ thuật hang đá Kiến Đà
La cũng theo Phật giáo truyền xuống phía đông mà vào
Trung Quốc sau khi Trương Khiên mở đường sang Tây
Vực.
Nghệ thuật Phật giáo Ấn Độ và Kiến Đà La đã sớm có
ảnh hưởng khá sâu đậm đối với nền điêu khắc tượng và
bích họa ở Đôn Hoàng. Tôi đã hai lần tham quan hang động
Mạc Cao đều gặt hái được những ấn tượng sâu sắc về
phương diện này. Không thừa nhận ảnh hưởng ngoại lai
trong nghệ thuật Đôn Hoàng là không thực tế. Thường Thư
Hồng cũng chỉ rõ:
- Nghệ thuật Đôn Hoàng đặt trên cơ sở truyền thống
dân tộc của nhân dân Trung Quốc, hấp thụ những thành
phần tốt đẹp của nước ngoài mà sáng tạo ra một nền nghệ
thuật hang động mang phong cách thời đại và đặc sắc dân
tộc.
Đục thành hang động trên vách đá đã sớm xuất hiện ở
Trung Quốc vào thời cổ đại. Vào đời nhà Hán, thạch thất
tương đối phổ biến. Chừa hang động ắt hẳn bắt nguồn từ
Ấn Độ. Người Trung Quốc tiếp nhận Phật giáo từ phía tây
truyền sang thì cũng có nghĩa là tiếp nạp luôn loại chùa
156
hang động của nó, mà trên thực tế đời Hán vốn đã có thạch
thất làm cơ sở nên khiến nó trở thành một trong những loại
hình kiến trúc Phật giáo của Trung Quốc.
Tại Ấn Độ, chùa hang động là do các tín đồ Phật giáo
muốn kỷ niệm Đức Thích ca Mâu ni mà làm ra, phần lớn
là đục mở thành hang động trên các vách đá dựng đứng,
hoặc nơi ít có dấu chân người qua lại, mục đích là để tu
luyện và cúng bái.
Hang động thời Bắc Ngụy có hai loại. Một loại là gian
trước có hình vuông, giữa không có cột, bốn vách chung
quanh người ta đục ra những khám thờ phật cỡ nhỏ. ngay
ngắn chỉnh tề. Loại hang động này chịu ảnh hưởng loạt
hang tịnh xá của Ấn Độ. Bốn vách hang tịnh xá có nhiều
động nhỏ dùng để các tăng lữ tĩnh tọa tu hành. Còn loại
hang động thứ hai thời Bắc Ngụy có hình dáng loại hang
“chi đề” của Ấn Độ. Chính giữa hang chi đề là tháp “Xá
lợi”, chung quanh tháp có một khoảng không để tín đồ đi
vòng cúng bái. Hang động thời Bắc Ngụy trong hệ thống
hang động Mạc Cao có hình vuông, giữa có cột lớn, đó
chính là sự chuyển hóa từ tháp Xá lợi mà ra. Khoảng không
hình tròn chung quanh tháp cũng cải biến thành hình vuông
tương ứng. Nóc hình chữ nhân trên đỉnh hang càng biểu
hiện rõ phong cách kiến trúc kết cấu nhà gỗ của dân tộc
Trung Hoa.
Tượng hình bồ tát thuộc thời Thịnh Đường và Trung
Đường là những nghệ thuật phẩm trác tuyệt của hang động
Mạc Cao.
Bồ tát đến từ ấn Độ, để người Trung Quốc cảm thấy
gần gũi, dưới bàn tay của các nhà nghệ thuật, Bồ tát đã biến
thành người Hán. Thân hình của họ đẹp đẽ, phong thái dịu
dàng, mỗi bức tượng đều chiếu theo người đẹp đời Đường
mà tạo ra. Người xưa có nói: “Bồ tát như cung nữ” là có ý
157
như vậy. Có một số tượng vẫn giữ được đặc điểm Ấn Độ
bằng vào lối phục sức. Đó là những tượng có bụng phẳng,
vai trần, cổ và tay đeo chuỗi ngọc, mặc quần áo mỏng dán
sát trên người. Đó là những vị Bồ tát hóa trang thành phụ
nữ Ấn Độ nhưng mặt mũi, vóc dáng lại là người Hán; cũng
có những vị Bồ tát trang phục đời Đường nhưng hoàn toàn
bị Hán hóa. Vị Bồ tát ở hang thứ 194 được khen là người
phụ nữ quí phái điển hình đời Đường đã trở thành một đại
biểu đặc sắc.
Thường Thư Hồng nói với tôi rằng điêu khắc tượng và
bích họa của Trung Quốc có nguồn gốc từ rất lâu chứ không
phải đợi đến khi nghệ thuật Phật giáo Ấn Độ truyền sang
mới bắt đầu. Về phương diện bích họa mà nói thì đã có từ
đời nhà Chu, bốn vách chung quanh của kiến trúc cổ
thường là tượng của các vị đế vương. Đến đời Hán, bích
họa trở thành thông dụng nhất. Theo như các bích họa trong
các ngôi mộ đời Hán phát hiện được ở vùng đông bắc và
bắc Trung Hoa mà xét cách họa của chúng so với các bích
họa trong hang động Mạc Cao có cùng một nguồn mạch.
Bích họa trong ngôi cổ mộ thời Ngụy Tấn mười sáu nước
được phát hiện ở khu vực Tửu Tuyền, Gia Dụ Quan thì về
mặt nội dung không có liên quan gì đến Phật giáo nhưng
về cách họa và kĩ thuật họa lại có nhiều điểm tương đồng
với các bích họa ở hang động Mạc Cao.
Trên các bích họa ở hang động Mạc Cao, nhiều sự tích
Phật giáo bắt nguồn từ Ấn Độ thì dưới ngòi bút của các họa
sư Trung Quốc, chúng đã biến thành dạng thức Trung Hoa.
Ta lấy bức họa Duy Ma Cật kinh biền đồ làm ví dụ.
Duy Ma Cật là cư sĩ thành Tì Da Ly ở Ấn Độ, nói hay
luận giỏi đã từng cùng với Bồ tát Văn Thù tranh luận suốt
mấy ngày đêm. Họa gia cổ đại Trung Quốc lại có cảm hứng
đặc biệt đối với vị cư sĩ có tài biện luận này. Các họa gia
158
nổi tiếng như Cố Khải Chi thời Đông Tấn và Diêm Lập
Bổn, Ngô Đạo Tử đời Đường đều đã lấy đề tài này để vẽ.
Các bích họa đời Đường trong hang động Mạc Cao đã có
nhiều bức về Duy Ma Cật kinh biến đồ rất đặc sắc. Duy Ma
Cật xuất hiện dưới nét vẽ truyền thống Trung Quốc thì
không còn là người Ấn Độ nữa mà là người Hán, mặc áo,
đội mũ của người Hán. Ông có bộ râu dài, trán rộng, mắt
sáng, đó là hình tượng của một sĩ đại phu trí thức Trung
Quốc biện bác hơn người. Cố Khải Chi đã dùng đường nét
để miêu hội bức họa gọi là Duy Ma Cật kinh biến, rất tiếc
nguyên tác đã thất lạc, nhưng chúng ta có thể ngầm thấy
phong cách nội dung đại thể tiến các bức bích họa ở hang
động Mạc Cao.
Thường Thư Hồng cho rằng hang động Mạc Cao ở
Đôn Hoàng và chùa hang đá ở Tân Cương có mối quan hệ
mật thiết. Ông đem bản thảo của mình viết về đề tài nghiên
cứu nghệ thuật hang đá Tân Cương cho tôi mượn tham
khảo thêm trong chuyến thăm viếng miền tây này của tôi.
159
10. TÌM HIỂU TUYẾN BẮC THIÊN SƠN
CỦA CON ĐƯỜNG CỔ ĐẠI
GHI CHÉP VỀ CHẶNG ĐƯỜNG GIAN KHỔ MÀ
HUYỀN TRANG ĐÃ ĐI QUA
Cao tăng Huyền Trang đời Đường Tây du, rời Ngọc
Môn Quan tiến vào xứ Tây Vực thì trạm đầu tiên là Y Ngô
(tức nay là Ha Mật).
Ra khỏi Ngọc Môn Quan, dọc theo tuyến tây bắc có
năm phong hỏa đài, mỗi đài cách nhau một trăm dặm Ngoài
năm phong hỏa đài ấy ra là sa mạc Mạc Giá Diễn, ở đây
trên trời không có chim bay, dưới đất không có thú chạy,
không cỏ, không nước. Suốt ngày gió nổi cát bay mù mịt
như mưa. Ban đêm ma lửa nhấp nhoáng sáng như sao đầy
trời.
Lúc bấy giờ, khi Huyền Trang rời khỏi cửa ải, nghe
những người tốt bụng khuyên bảo, ngài cưỡi một con ngựa
thuộc đường đem theo một chàng trai trẻ làm hướng đạo.
Nào ngờ giữa đường chàng trai nổi tà tâm, đang đêm dùng
dao muốn đâm chết thầy để đoạt của. Huyền Trang bỗng
giật mình tỉnh giấc ngồi dậy tọa thiền và cảm hóa được kẻ
hành hung. Anh chàng quỳ rạp xuống đất liên tiếp khấu đầu
chịu tội, đồng thời khuyên sư phụ đừng tiếp tục đi nữa, con
đường phía trước lành ít dữ nhiều. Lẽ nào Huyền Trang nửa
đường lại chịu thối lui; thế là ngài đem chia cho chàng ta
một ít tiền của rồi cho trở về ải, còn mình ngài trơ trọi tiếp
tục hướng sa mạc đi tới.
Đi được mấy ngày, nước đem theo đã hết, ít ra cũng đã
bốn đêm năm ngày không có một giọt nước thấm giọng,
miệng khô bụng đói, sắp chết đến nơi, đang khi nguy cấp
ấy, con ngựa bỗng dưng hứng chí ngẩng đầu đi tới. Huyền
160
Trang dù có rị gấp dây cương ngựa vẫn không chịu quay
đầu. Đi một đoạn không xa bỗng thấy một bãi cỏ xanh, cách
đó mươi bước thì mấy một hồ nước trong vắt. Người ngựa
uống thỏa thuê, sự sống được bảo toàn.
Đệ tử của ngài Huyền Trang. có ghi lại đoạn lữ trình
này trong Đại Từ Ân tự Tam Tạng pháp sư truyện như sau:
“Ra khỏi Lưu Sa thì đến Y Ngô, đây là vùng đất đầy nguy
hiểm không sao kể xiết”. Dưới ngòi bút của đệ tử nhà Phật,
dọc đường Huyền Trang đã làm được điều kỳ lạ là chuyển
nguy thành an, dĩ nhiên điều đó đến quy về sự phù hộ của
Phật tổ, nhưng ngày nay chúng ta đọc lại không thể không
khâm phục nghị lực và ý chí tuyệt vời của Huyền Trang.
TÌM KIẾM CON ĐƯỜNG XƯA QUA ẢI NGỌC
MÔN
Tôi đi tàu lửa trên tuyến đường sắt Lan Châu - Tân
Cương để đến Ha Mật, sự an toàn thoải mái trên suốt đường
đi so với hành trình lội bộ của người xưa thì không cần phải
nói nữa. Tuyến đường sắt từ Tửu Tuyền tỉnh Cam Túc
sẽ nối liền với Ha Mật mà không cần phải qua Đôn Hoàng
và ải Ngọc Môn. Cần nhớ trên mé cửa phía tây của lầu
trống trong nội thành Tửu Tuyền có đề bốn chữ “Tây đạt Y
Ngô”. Y Ngô đây là địa danh của thời Hán Đường và ngày
nay cũng chính là Ha Mật chứ hoàn toàn. không phải là Ha
Mật ở phía tây bắc cách hụyện Y Ngô hiện nay hơn 120
cây số.
Khi đến Ha Mật tôi liền hỏi thăm xem có ai biết con
đường xưa từ Đôn Hoàng đến Ha Mật không, thăm hỏi
quanh co mãi sau mới tìm đến một vị tráng niên người
Uygur tên là Tư Địch Khắc hiểu biết dường sá vùng phía
nam Ha Mật thuộc công xã Nam Hồ.
161
Anh có thân thể tráng kiện, đầu húi cao, giọng nói
trong, rõ, trông có vẻ đầy hào khí. Tôi chi chiếc xe hơi đỗ
bên đường mời anh lên xe dẫn đường giúp chúng tôi. Anh
ngồi chồm hổm dưới bóng cây, lắc đấu quầy quậy và dùng
tay dấu như muốn nói: “Cần phải đem theo nước, đem theo
thức ăn ... còn như thế này thì đi làm sao được”. Anh hiểu
nhầm cho chúng tôi là muốn vượt sa mạc Gôbi để đến Đôn
Hoàng. Nhưng sau đó, người thông dịch nói rõ là chúng tôi
chỉ muốn đi một đoạn xem qua đoạn đường mà ngài Huyền
Trang từng đi qua vào thời xa xưa mà thôi. Anh cười sảng
khoái đứng dậy lên xe.
Tư Địch Khắc dẫn chúng tôi xuyên qua đồng ruộng đi
về hướng nam, rồi leo một con dốc nhỏ tiến vào sa mạc
Gôbi bằng phẳng bao la. Anh chỉ dải núi có màu đỏ thẫm
xa xa chạy dọc theo con đường này và nói: “Vượt qua khỏi
ngọn đèo chắn ngang kia là đường đi Đôn Hoàng”. Anh đã
từng dẫn đường cho đoàn địa chất khảo sát sa mạc, đã từng
gặp người ta lùa dê từ Đôn Hoàng đến Ha Mật. Dọc đường
đúng là có những phong hỏa đài, may họa lắm mới gặp
được suối nước.
Chiếc xe men theo con đường xưa lờ mờ khó đi, khi
thông khi tắc và chỉ chạy được một đoạn thì trời đã về
chiều, chúng tôi đành quay xe trở về. Rời khỏi Gôbi, lần
nữa lại trèo đèo và rồi trước mặt đã hiện ra hàng bạch
dương cao vút, đồng ruộng xanh um, khói chiều trong thôn
bốc lên. Đây chẳng phải là vùng lục châu Y Ngô mà ngài
Huyền Trang đã vui sướng trông thấy thấy sau mấy mươi
ngày giong ruổi lênh đênh khốn khó trên sa mạc Gôbi đó
sao!
Sau khi trở lại thôn trang, chúng tôi đã đi thẳng đến
vùng canh tác. Nam nữ xã viên người Uygur đang còn bón
phân trên các ruộng dưa. Dưa Ha Mật sản xuất tại đây đã
162
cung ứng cho các thị trường trong và ngoài nước và đã khá
nổi tiếng. Bình quân mỗi mẫu sản xuất chừng một tấn dưa,
sản lượng cao nhất có khi đạt đến bốn, năm tấn. Mấy năm
gần đây, mỗi năm công xã Nam Hồ xuất khẩu khoảng 200
tấn dưa qua công ty mậu dịch ngoại quốc. Mức thu nhập
bình quân của xã viên cao nhất so với toàn vùng nông
nghiệp Tân Cương.
Dưa Ha Mật là một loại dưa bở được trồng ở Tân
Cương đến nay ít nhất đã hơn 500 năm. Hình dáng và mùi
vị của nó không giống loại dưa bở ở nội địa. Vỏ mỏng, thịt
dày, giòn ngọt, thơm ngon, màu sắc lại rất đẹp, chủng loại
rất nhiều, có thể chia ra ba loại chính tùy theo mùa: loại
chín sớm, loại chín vào mùa hạ, loại chín vào mùa thu. Dưa
mùa thu chín rộ vào tháng chín có thể cất giữ đến mùa
đông. Dưa Ha Mật có thể cắt thành miếng phơi khô và trở
thành loại thực phẩm quý.
Ở Tân Cương đâu đâu cũng có thể trồng loại dưa Ha
Mật, nhưng có người đem giống về trồng ở nội địa thì
không thành công. Nguyên gốc sản xuất của nó không phải
ở Ha Mật mà là ở huyện Thiên Thiện gần Tolophan. Thế
tại sao được gọi là dưa Ha Mật?
Năm 1404, nhà Minh đặt Nha Ha Mật tại đây và phong
An-Khắc-Niêm-Mộc-Nhi, người Mông Cổ làm Trung
Thuận vương. Vương đem đặc sản dưa Tân Cương tiến
cống nhà vua. Vua ăn thấy ngon bèn gọi người đến hỏi là
loại dưa gì. Đình thần trong triều không ai biết đó là loại
dưa gì, chỉ biết là đem từ xứ Ha Mật đến, nên tâu lên vua
nói là dưa Ha Mật. Từ đó, dưa Ha Mật trở thành cống phẩm
truyền thống, duy mãi đến đời nhà Thanh.
163
CỔ THÀNH Y NGÔ ĐỜI ĐUỜNG TẠI NƠI NÀO?
Bộ mặt huyện thành Ha Mật ngày nay trông ngay ngắn
và sạch sẽ, đường phố chính được trồng cây xanh tươi tốt,
diện mạo của cổ thành đã đổi khác. Chúng tôi trú ngụ bên
ngoài phòng khách của sở tiếp tân, nơi có suối nước chảy
róc rách. Qua khỏi một cây cầu gỗ là bước vào một rừng
cây du cổ thụ, ánh nắng gay gắt của mùa hè cũng không lọt
vào được. Từng đoàn học sinh nhỏ do thầy giáo hướng dẫn
đang vui đùa cạnh suối nước. Bên ngoài rừng du là đồi chè
xanh non bụ bẫm. Tôi đang tận hưởng cảnh đẹp rừng núi
thiên nhiên tại nơi này. Mỏ dầu và mỏ thiếc ở Ha Mật đều
đã được khai thác. Sau khi tuyến đường sắt Lan Châu - Tân
Cương được thành lập, trạm Ha Mật sẽ trở thành trạm chính
có quy mô tương đối lớn chuyển vận người và hàng hóa từ
nội địa vào Tân Cương. Một xưởng cung ứng vật tư cho
tuyến đường sắt được dựng lên. Khi đến tham quan tại đây,
chúng tôi thấy cônh nhân đang sản xuất hàng loạt bộ phận
của cầu bê-tông chịu lực để cung cấp cho tuyến đường sắt
Nam Tân Cương đang khẩn trương tăng tốc thi công. Công
trình của đoạn thiết lộ mới này sẽ đi từ Tolophan đến Korla
mà lộ tuyến chính phải đi qua là một đoạn của con đường
tơ lụa cổ đại.
Nội thành Ha Mật không thấy có một kiến trúc cổ nào
cả. Chỉ ở ngoài cửa thành phía tây có kiến trúc lăng mộ
kiểu Islam là có vẻ hùng vĩ, người thời đó gọi là Vương mộ
Ha Mật. Đó là sách phong sáu đời vua Ha Mật Bá Tích Nhỉ
(người Uygur) dựng lên vào đời nhà Thanh, thời gian xây
dựng kéo dài đến 20 năm. Trong lăng táng vợ chồng Bá
Tích Nhỉ với hài cốt của các đời sau. Lăng mộ cao hơn 10
mét, dạng lầu hình vuông, phần chóp hình tròn màu lục
đậm, vách tường đều có nạm khảm hoa từ phương chuyên
cực kỳ tráng lệ.
164
Điều mà tôi quan tâm và thích thú nhất chỉnh là nơi
con đường tơ lụa đi qua thành Y Ngô dưới triều nhà Đường
rốt cuộc là tại nơi nào? Người ta cho tôi biết khu vực phía
tây của công xã Ngũ Bảo có một di chỉ cổ thành, cứ thử đi
đến đó xem sao! Chúng tôi lên xe men theo đường cái đi
chừng 50 cây số, rồi rẽ về hướng nam tiến vào sa mạc Gôbi
hoang vắng, lát sau thì đến một khu cây cối xanh um, đó
chính là thôn trang của người Uygur tụ cư sinh sống. Ngày
nay sa mạc Gôbi hoang vắng đã có nước cho sinh hạ để xây
dựng cuộc sống và văn hóa. Đi suốt từ hành lang Hà Tây
đến đây, tôi cảm nhận một điều rằng giá trị của nước đối
với cả khu vực rộng lớn này trở nên quá quan trọng.
Hai bên đường kéo dài hàng cây số là nhà ở của nông
dân, hàng lớp ngay ngắn. Sân vườn nhà nào cũng có trồng
lê, hạnh và trụ dàn nho. Mương nước róc rách chảy qua sân
vườn từng nhà tưới ướt cây cối xanh tươi Xem ra nước nôi
ở đây khá sung túc, cuộc sống của người dân tương đối
thảnh thơi.
Viên cán sự người Uygur làm công tác quản lý văn
giáo công xã ngũ Bảo dẫn tôi đến đôi sản xuất Tứ Bảo thăm
khu cổ thành. Tiếng Uygur gọi là cổ thành La Phủ Kiều Nhỉ
Khắc, nghĩa là cổ thành Tứ Bảo. Tường thành vẫn còn phế
tích, vị trí thành chưa đuợc đo đạc cụ thể nên không biết
đúng diện tích là bao nhiêu, nhưng theo như tôi từng thấy
các thành tại hành lang Hà Tây thì cổ thành này có diện tích
lớn gấp bội, cũng có thấy có tượng Phật và bích họa. Như
vậy có nghĩa là ở đây vốn đã có chùa miếu thờ Phật.
Nhân chuyện này tôi lại nghĩ đến một đoạn trong Đại
Từ Ân tự Tam Tạng pháp sư truyện. Huyền trang lặn lội vất
vả đến Y Ngô bước vào một ngôi chùa, “trong chùa có ba
vị tăng người Hán, trong đó có một vị đã già, không kịp
mặc áo ôm ngài mà khóc thảm thiết nghẹn ngào mãi không
165
thôi, rồi bảo lâu quá nay mới được gặp người đồng hương”.
Kẻ xuất gia đến xứ Tây Vực xa xôi này vẫn chưa gột bỏ hết
chốn hồng trần, thì ra quan niệm của kẻ tu hành kia vẫn
không khác người trần tục là bao!
Về sau, tôi đến hỏi những nhà làm công tác khảo cổ ở
Tân Cương thì họ xác nhận rằng La-phủ-Kiều-Nhỉ-khắc
đúng là thành xưa của nhà Đường. Lúc bấy giờ Y Châu bao
gồm ba huyện: Y Ngô, Nạp Chức và Nhu Viễn. Có điều
La-Phủ-Kiều Nhỉ-Khắc rốt cuộc thuộc huyện Y Ngô hay
Nạp Chức thì các nhà nghiên cứu mỗi người giữ một ý, vẫn
chưa xác định rõ ràng.
HAI LẦN CHIẾN DỊCH CỦA HAI ĐỜI HÁN -
ĐƯỜNG
Trong thời Hán Đường, Y Ngô là một vị trí trọng yếu,
có thể nói là một trong những cửa khẩu thông Tây Vực và
là vùng đất có tầm quan trọng về chiến lược quân sự.
Tuyến giữa của con đường tơ lụa, sau khi ra khỏi Ngọc
Môn Quan thì đi đến đoạn đầu Xa Sư thuộc nhà Hán hoặc
nước Cao Xương thuộc nhà Đường (nay là khu vực
Tolophan) rồi men theo chân núi phía nam dãy Thiên Sơn,
cũng tức là đi ven phía bắc của sa mạc 'Taklamacan đi về
hướng tây; hay nói chung là trước hết phải qua Y Ngô. Hậu
Hán thư - Tây Vực chí có ghi: “Từ Đôn Hoàng muốn đi Tây
Vực thì ra khỏi Ngọc Môn Quan đi về hướng bắc thẳng đến
Y Ngô hơn ngàn dặm, rồi từ Y Ngô thẳng đến thành Cao
Xương chừng một ngàn hai trăm dặm”- Chính Đường
Huyền Trang đi Tây Vực đã theo con đường này.
Tuyến bắc của con đường tơ lụa trước hết cũng qua Y
Ngô, sau đó đi theo hướng bắc qua Thiên Sơn để đến biển
Bồ Loại (nay là hồ Barkol), rồi ngoặt về hướng tây đi tiếp
166
đến đoạn cuối Xa Sư thuộc nhà Hán hoặc đô hộ phủ Bắc
Đình thuộc nhà Đường (nay là vùng phụ cận huyện
Jimuzar); rồi men theo chân núi phía bắc dãy Thiên Sơn đi
lên hướng tây. Tuyến bắc của con đường tơ lụa này đã bị
một số học giả xem thường, bỏ qua, nhưng trên thực tế, Bùi
Củ đời Tùy đã nói rõ trong Tây Vực đồ ký của ông như sau:
“Con đường phía bắc đi từ Y Ngô qua biển Bồ Loại ...”, rồi
theo hướng tây mà đi. Con đường này có nhiều cỏ, nhiều
nước đi vào mùa hè thì rất thuận tiện.
Như vậy có thể thấy Y Ngô khống chế cả chân núi nam
và bắc Thiên Sơn của hai con đường thông vãng đông tây,
nó là một vị trí trọng yếu. Chính vì thế mà Y Ngô thời cổ
đại là vùng đất có tầm chiến lược quan trọng, chiến sự xảy
ra liên miên.
Hán Vũ Đế đã từng phái quân đội đến Y Ngô đánh với
người Hung Nô, nhưng chưa đóng đồn, chưa để lại binh
lính trấn giữ. Về sau, Y Ngô bị Hô Diễn vương chiếm cứ.
Để chống lại sự xâm lấn của người Hung Nô, năm 73
CN, vua Minh Đế đời Đông Hán đã phái Cảnh Trung suất
lĩnh một vạn hai ngàn kỳ binh đến Y Ngô đánh bại Hô Diễn
vương, truy kích tàn quân đến biển Bồ Loại. Lấy lai Y Ngô,
nhà vua ra lệnh cho tướng tá, binh sĩ ở lại lập đồn điền, đặt
chức “Nghi hòa Đô úy” trông coi việc quản lý hành chánh
và quân sự địa phương.
Trong chiến dịch nổi tiếng lần ấy có một tiểu tướng
nhiều lần lập được công trạng rõ là một tài năng kiệt xuất.
Người đó chính là chàng tuổi trẻ Ban Siêu đã “xếp bút
nghiên theo việc kiếm cung”(Chinh phụ ngâm).
Từ nhỏ Ban Siêu đã có chí lớn, không nệ tiểu tiết, đã
từng làm thư lại ở quan phủ Lạc Dương, suốt ngày sao sao
chép chép. Bấy giờ Hung Nô quấy nhiễu biên cương, dân
chúng mất ăn mất ngủ. Ban Siêu lo nghĩ đến dân đến nước,
167
quăng bút than: “Là đại trượng phu, phải bắt chước Trương
Khiên, lập công nơi biên ải, cớ sao ta lại phải sống nhờ vào
cái cán bút này?”. Mọi người chung quanh nghe thế cười
ồ, cho là chàng này nói khoác. Về sau, quả nhiên chàng
theo đại tướng Đậu Cố đi đánh Y Ngô, bước dầu đã lộ rõ
tài năng, được Đậu Cố thăng chức. Thế rồi Ban Siêu được
phái đến Tây Vực. Sau này ông đảm nhận chức hưởng quan
hành chính, quân sự tối cao đại diện cho triều đình tại Tây
Vực. Lập được nhiều công được vua quan và dân chúng
các nước Tây Vực ủng hộ hoan nghênh.
Y Ngô dưới đời nhà Đường cũng đã tự trải qua một
chiến dịch nữa trong sự duy trì bảo vệ con đường tơ lụa
thông thương.
Nước Cao Xương ở phía tây Y Ngô nằm trên con
đường trọng yếu của tuyến giữa con đường tơ lụa. Vua Cao
Xương là Cúc Văn Thái phản phúc vô thường, đã từng cấu
kết với vợ Đột Quyết chống đối lại vua nhà Đường, đặc
biệt là việc ngăn cản sứ thần và khách thương qua lại trên
con đường tơ lụa, phá hoại sự giao thông giữa đông và tây.
Sứ thần và khách thương các nước nhao nhao yêu cầu vua
nhà Đường trừng phạt. Đường Thái Tông hạ chiếu gọi Cúc
Văn Thái vào triều hỏi tội. Cúc giả bệnh không vào. Năm
640 CN, Đường Thái Tông bổ nhiệm Hầu Quân Tập làm
tổng quản Giao hà Đại đạo suất lĩnh hàng vạn kị binh qua
Y Ngô tiến đánh Cao Xương. Mỗi lần xuất trận, quân Cao
Xương đều bị bại. Từ đó họ Cúc nước Cao Xương không
còn tồn tại nữa.
Đáng nhắc lại một điều là khi Hầu Quân đánh nước
Cao Xương, ông đã sử dụng khí giới công thành tương đối
mới: có xe đâm thành vào cổng thành, có thang mây để trèo
lên tường thành, bắn đá vào thành địch v.v… Những loại
khí giới công thành ấy đều do phó tổng quản Khương Hàng
168
Bổn sáng chế. Ông “suất lĩnh dân binh đến Y Châu, dựa
vào núi chế tạo vũ khí công cự”. Núi ở đây chỉ núi Thiên
Sơn ở phía bắc Ha Mật.
Ở đấy vốn đã có tấm bia kỷ niệm chiến công của Ban
Siêu. Khương Hành Bổn đến đó mài đá khắc chữ, ghi chép
lại chiến dịch đánh Cao Xương của Hầu Quân Tập và việc
chế tạo vũ khí công thành của mình. Người đời sau cũng
có bia kỷ niệm công huân của Khương Hành bổn dựng trên
đỉnh núi Thiên Sơn tức là nơi từ Ha Mật đến hồ Barkol tất
phải đi qua.
Về tấm bia ghi công của Khương Hành Bổn, trong Tây
Vực thủy đạo ký có lưu lại một truyền thuyết: “Người ta nói
bia ấy có thần, tránh không được đụng đến, nếu đụng đến
ắt sẽ xảy ra gió to tuyết dày làm gián đoạn việc đi lại.
Lúc tôi đến hồ Barkol để qua Thích Sơn lại gặp tuyết
lớn. Tháng sáu đầu hè, một ngày trước đó trên các ruộng
dưa người ta đổ mồ hôi như tắm, nhưng chỉ cách có mươi
giờ đồng hồ, khi đi qua khu đất dựng bia Khương Hành
Bổn thì hoa tuyết rơi đầy trời, dù đã mặc áo bông mà vẫn
thấy lạnh co ro, chẳng phải do nghĩ đến truyền thuyết về
tấm bia ấy bởi vì bia đã được đưa về đặt tại Viện Bảo tàng
Tân Cương rồi thì ai có thể đụng đến được nữa.
ĐI TRONG TUYẾT VƯỢT THIÊN SƠN
Lúc bắt đầu đi vào buổi sáng, trời mưa nhỏ. Rời huyện
thành Ha Mật đi về hướng bắc một đọan không xa chúng
tôi tiến vào sa mạc Gôbi. Đi được 31 cây số thì đến cửa
khẩu phía nam Thiên Sơn, hình thế cửa khẩu rất hiểm yếu,
có phong hỏa đài và một bãi đá lớn. Men theo dòng sông
quanh co cuồn cuộn chảy để leo lên núi, núi cao, cao mãi,
mưa rơi biến thành tuyết lúc nào không hay, trong hang núi
169
bầy dê quay lưng về hướng gió, không kêu, cũng không
gặm cỏ, trông chúng thật hiền hòa dễ bảo. Trên bãi cỏ xanh,
tuyết đã phủ một lớp mỏng trông giống như một tấm lụa
màu trắng phơn phớt nhẹ trên nền cỏ xanh lục, rõ là một
cảnh tượng đặc biệt. Chúng tôi lên đến điểm cao nhất, cao
ước 3400 mét. Sau đó xe bắt đầu rẽ ngoặt đi xuống. Trong
cảnh hoa tuyết mây mù mờ mịt mông lung ấy bỗng hiện ra
một khoảng rộng mọc đầy cây vân sam xanh mướt, chúng
cũng được phủ một lớp hoa tuyết trông giống như đang
khoác một tấm lụa trắng mỏng tinh khiết.
Bắc Thiên Sơn khí hậu khô ráo, núi đồi trọc nhẵn,
nhưng nam Thiên Sơn thì khí hậu ẩm ướt, những cây tùng
sâm mọc đầy xanh tốt sum suê bao phủ cả một vùng rộng
lớn thật hùng vĩ tráng lệ. Nội địa huyện Barkol còn có khu
rừng nguyên sinh diện tích ước khoảng 5600 hecta toàn là
cây vân sam và cây tùng rụng lá sừng sững cao vút. Ngày
xưa Khương Hà Bổn “Dựa vào núi chế tạo vũ khí” chính
là lợi dụng cây rừng bất tận của vùng núi này để hành sự.
Trên đường xuống núi, xe của chúng tôi hoàn toàn len
lỏi quanh co trong khu rừng nguyên sinh này, cảnh sắc thay
đổi liên tiếp trong chớp mắt qua cửa kính, không thể tiếp
nhận kịp. Tôi yêu cầu tài xế dừng xe. Ra khỏi xe, tôi đứng
dưới lớp mưa tuyết trắng tinh ngắm nhìn no say cảnh đẹp
của tạo hóa. Tôi vươn vai hít sâu không khí trong lành của
chốn núi rừng để tẩy rửa tỳ phế của mình. Người tôi nóng
lên, cái rét, mệt bỗng tiêu tan.
Giữa trưa, xuống đến cửa khẩu phía bắc của dãy Thiên
Sơn có tên là “Khẩu môn tử”, ở đây có nhà trọ, hàng ăn và
tiệm trà. Nghỉ ngơi qua loa một lát rồi tiếp tục đi vào đại
thảo nguyên mênh mông thăm thẳm. Đó là chiến trường
xưa, nơi đã diễn ra những trận chiến đẫm máu của các
tướng sĩ thời cổ đại. Đồng cỏ bằng phẳng, khoáng đãng vô
170
biên, la liệt hàn ngàn xe ngựa, tha thồ mặc sức tung hoành.
Nghĩ đến năm xưa trên thảm cỏ xanh này máu rơi loang lổ,
không biết bao nhiêu chiến sĩ đã bỏ mạng chốn sa trường!
Cỏ dành cho súc vật trên thảo nguyên này thật phong
phú, cỏ cao đến ngang thắt lưng. Nhớ hồi nhỏ đọc bài “Sắc
lặc ca” của nhà thơ dân tộc du mục Hộc Luật Kim trong đó
cô câu: Thiên thương thương, dã mang mang, phong xuy
thảo đê kiến ngưu dương” (Bầu trời trong xanh, đồng cỏ
mênh mông, gió thổi cỏ rạp mới thấy được bò dê), lúc ấy
không thể hiểu được, vì lẽ nào cỏ lại cao hơn cả dê bò? Bây
giờ chính mình ở trong cuộc mới thể hội được phần nào.
Ngày nay thảo nguyên Barkol nổi tiếng đã thiết lập bãi chăn
thả ngựa, nuôi toàn ngựa Barkol. Đây là một giống ngựa
tráng kiện, dũng mãnh, chạy giỏi, tiện cho việc kéo xe, là
một trong những giống ngựa có tiếng ở Tân Cương.
Đi dọc theo núi Thiên Sơn về hướng tây một đoạn
không xa thì đến khu tự trị Barkol Hazak. Huyện lỵ rất nhỏ,
chỉ có một con đường từ đông sang tây, trên đường có tiệm
buôn, nhà trọ, bưu điện, nhà hát ... Diện tích toàn huyện 22
vạn hecta, nhân khẩu hơn 9 vạn người, trong đó dân tộc
Hazak chiếm 2 vạn, đa số sống bằng nghề chăn nuôi. Sau
bữa cơm chiều, tôi đến nhà hát, trên đường phố, nam nữ
thanh niên Hazak đi thành từng đoàn nói cười vui vẻ, xem
ra so với thanh niên người Hán, họ cởi mở hoạt bát hơn
nhiều. Sau cơn mưa, trời tạnh sáng, phía tây ráng chiều rực
rỡ. Tôi quay đầu nhìn về phương nam, dãy Thiên Sơn nguy
nga hùng vĩ sừng sững trước mắt. Mặt trời chiều treo lơ
lửng trên dải đất bằng nhuộm hồng ngọn núi tuyết xa xa,
dãy Thiên Sơn phản chiếu ánh hồng hiện lên từng mảng
sáng vừa tráng lệ vừa đáng yêu.
Tâm hồn tôi bị chinh phục bởi cảnh tượng ấy. Nhưng
khi mặt trời tắt hẳn, ánh màu rực rỡ của núi tuyết làm mê
171
hoặc lòng người cũng tiêu thất luôn. Tôi có cái may mắn
chính mắt mình nhìn ngắm cảnh đẹp chỉ diễn ra một lóng
rồi mất hút ấy, suốt đời vẫn nhớ mãi …
Khu vực cách phía tây huyện lỵ 10 cây số là hồ Barkol
rộng lớn, nó dài chừng 10 cây số, rộng chừng 3 cây số, tổng
diện tích 30 cây số vuông. Hồ không có rong rêu, tôm cá vì
là hồ nước mặn, ven hồ người ta khai thác muối ăn.
Về mặt lịch sử, hồ Barkol chính là biển Bồ Loại nổi
tiếng, ven hồ có xứ Bồ Loại. Hậu Hán thư có ghi: “Xứ Bồ
Loại ở khu vực hang Sơ Dụ, phía tây núi Thiên Sơn … có
hơn 800 hộ, 3000 nhân khẩu, binh lính 700 người, vây màn
để ở, tìm nơi có nguồn nước để sinh sống, biết canh tác, có
bò, ngựa, lạc đà; biết nuôi dê, làm cung tên. Nước sản xuất
nữa tốt”. Lúc bấy giờ xứ Bồ Loại bị người Hung Nô cai
quản. Tra cứu lại sử sách ghi chép thì tướng sĩ nhà Hán có
ít nhất là ba lần truy kích quân Hung Nô đến tận biển Bồ
Loại. Nhưng chỉ ghi có một lần, phải chăng sách sử bỏ sót?
Thời cận đại, ở phía bắc huyện lỵ Barkol, người ta đã tìm
thấy một tấm bia đá, gọi là bia ghi công của Bùi Sầm. Văn
bia ghi xe chiến sự ấy như sau: năm 137 CN, thái thú Đôn
Hoàng Bùi Sầm suất lĩnh 3000 kỵ binh đánh Hô Diễn
Vương ở biển Bồ Loại, “trừ tai ương cho Tây Vực và dịch
họa cho bốn quận thuộc Trung Quốc”. Bia ghi công kỷ
niệm Bùi Sầm hiện đã đưa về đặt ở Viện Bảo tàng Tân
Cương.
Huyện tự trị Barkol Hazak lấy chăn nuôi làm nghề sinh
sống, là một trong nhiều khu chăn nuôi súc vật phát đạt
nhất tỉnh Tân Cương. Nông nghiệp cũng khá phát triển, cây
trồng thì có tiểu mạch, đại mạch, rau cải v.v… nổi tiếng
nhất là loại khoai tây với củ to, phẩm chất hảo hạng.
172
MỘT ĐOẠN ĐƯỜNG XƯA SỚM BỊ CHÔN VÙI
Xe đi từ Ha Mật đến Barkol rồi tiến về phía tây thì hết
đường, nhưng lúc ấy lòng tôi muốn lần theo vết chân người
xưa đi suốt tuyến bắc của con đường tơ lụa bỗng trở nên
mãnh liệt. Tôi rất lo vì không biết ý nguyện ấy có thực hiện
được không. Huyện tự trị Barkol Hazak cách huyện tự trị
Mulei Hazak chừng 150 cây số về hướng tây. Cứ nhìn về
hướng ấy thì không thấy đồng cỏ, chỉ cỏ sa mạc, núi đồi
hoang vu không có bóng người ... Thế thì xe có thể đi dược
không? Tài xế có dám đồng ý mạo hiểm vì mình không?
Tôi thổ lộ sự lo lắng ấy với người bạn đồng hành, anh
tài xế Tiểu Cao ngồi bên cũng nghe rõ, anh chủ động nói:
- Cứ đi thử xem!
Tôi vui mừng ra mặt luôn miệng cám ơn. Anh chàng
mảy may để ý, nói:
- Không có chi! Độ cũng chỉ là công tác cả thôi!
Thế nhưng Barkol vừa mới trải qua một trận mưa lớn,
đường đất phía ngoại thành sình lầy, mọi người nghe chúng
tôi muốn vượt thảo nguyên đi Mulei hết lòng can ngăn, họ
bảo dọc đường không có thôn xóm, người qua lại hiếm hoi,
ngộ nhỡ xe cộ bị rơi vào hố sình làm sao xoay xở cho được?
Tôi không có lời nào để biện hộ, nhìn qua Tiểu Cao xem
anh ta tính thế nào. Anh im lặng ngồi nghe mọi người bàn
tán, chẳng nói chẳng rằng, sau cùng anh buột miệng hỏi
luôn mấy câu: Nước con sông nào đang dâng cao? Nước đã
chảy vào khe núi nào ...?
Tôi đi ngủ sớm, trong giấc ngủ vẫn nghe người ta tranh
biện, có thể đi qua được đoạn đường xưa của con
đường tơ lụa đã bị chôn vùi không. Sáng sớm tỉnh dậy thấy
173
mền chiếu trên giường của Tiểu Cao đã xếp gọn ngăn nắp.
Chạy ra sân thấy anh đang kiểm tra xe và nói với tôi:
- Chúng ta vào ăn sáng cho sớm để còn đi!
Bấy giờ tôi mới yên tâm. Anh đã tìm được một tài xế
sở tại thuộc đường cùng đi, anh nói:
- Dọc đường ta có thể giúp đỡ lẫn nhau.
Chúng tôi mua lương khô, mang theo đầy đủ nước
uống. Tiểu Cao còn chuẩn bị một khẩu súng săn ... thế là
chúng tôi lên đường.
Vừa ra khỏi thành thì gặp ngay một phong hỏa đài.
Tiểu Cao nói:
- Dọc đường có nhiều phong hỏa đài lắm đấy!
Tôi để ý đếm thử, trên đường đi có cả thảy mười hai
cái, hình dáng rất giống nhau. Bất kể các phong hỏa đài ấy
thuộc triều đại nào cũng đủ chứng minh rằng con đường
chúng tôi đang đi qua thì ngày xưa cũng chính là con đường
mà khách thương và quân đội đã từng qua lại.
Ra khỏi thành không xa, chúng tôi men theo hồ Balkol
đi về hướng tây. Ven hồ có vườn ruộng, hoa cải vàng và
hoa khoai tây trắng xen lẫn trông thật thích mắt. Rời khỏi
bờ hồ, đường đất càng ngày càng nhiều bùn khó đi. Phụ nữ
Hazak mặc quần áo màu sặc sỡ, đầu vấn khăn lụa đi lẫn
trong đoàn xe ủi đất làm đường. Một con đường nhựa thông
với công xã chăn nuôi Sa-nhỉ-kiều-khắc đang được khẩn
trương thi công.
Xe chúng tôi dừng trước cổng lớn của công xã nghỉ
ngơi. Một thiếu nữ người Hazak, hình vóc mảnh khảnh,
mặt mày thanh tú thủng thỉnh đi lại gọi Tiểu Cao và bắt tay
chúng tôi. Tiểu Cao nói với tôi cô ta là một thiếu nữ rất tốt,
tên là Sa Ma Li Han: Có lần trong một trận bão tuyết, một
174
mình cô đã cứu cả một đàn dê tránh qua cơn bão mà không
để mất con nào trong một thời gian khá dài. Cô được huyện
ủy tuyên dương. Tôi hỏi cô:
- Cô là ủy viên hội phụ nữ công xã hay còn chăn thả
súc vật?
Cô trả lời tôi bằng một thứ tiếng Hán không được lưu
loát cho lắm:
- Làm cán bộ, nhưng thỉnh thoảng cũng xuống bãi chăn
thả.
Vào đời nhà Hán, vùng đất Barkol là nơi chăn thả súc
vật của người Bồ Loại và người Hung Nô. Về sau, người
Đột Quyế,t người Hồi Cất, Người Mông Cổ trước sau sống
bằng nghề du mục tại đây. Đến thế kỷ XIX, tộc người
Hazak mới từ vùng tây bắc thiên di đến. Ngày nay dân du
mục trong cả huyện hầu như toàn là người Hazak.
Rời công xã Sa-nhỉ-kiều-khắc, chúng tôi đi vào sa mạc
Gôbi. Đường đi lúc có, lúc không, khi bàng phẳng, khi
chông chênh. Tiểu Cao và người bạn đồng hành hầu như
rất hiểu nhau, vừa đi vừa nói: “Chuyện chẳng có gì lớn cả!”
Và chính lúc đó xe rẽ qua một khúc ngoặt thì một vũng
nước lớn nằm trờ ra. Tiểu Cao bình tĩnh lui số, nhấn ga,
chiếc Jeep rồ máy chồm lên vượt qua vũng nước.
Chúng tôi lên đến đỉnh của một ngọn núi nhỏ có tên là
Hồng Tỉnh Tử thì đã hai giờ chiều, ngồi trên xe bốn tiếng
đồng hồ chỉ đi được 81 cây số.
Trên đỉnh núi có một ngôi nhà nhỏ trơ vơ, đó là trạm
nghỉ chân cho khách lai vãng do dân du mục công xã Sa-
nhỉ-kiều-khắc dựng lên. Một cặp vợ chồng trẻ người Hazak
dẫn chúng tôi vào nhà. Chúng tôi đã vượt qua một đoạn
đường gian khổ như vậy, không những đã đói bụng mà còn
cảm thấy lành lạnh nữa, có lẽ địa thế ở đây tương đối cao.
175
Chủ nhà hội ý liền chẻ củi nhóm lửa hâm trà. Thật không
ngờ tháng sáu đầu hè mà lại ngồi quanh bếp lửa uống trà
sữa nóng bỏng vừa giải khát vừa trị lạnh. Có lẽ bụng đang
đói, thưởng thức món bơ thủ nhân bưng ra mời mới nhận
ra rằng so với bơ của các hiệu ăn ở Bắc Kinh còn ngon hơn
gấp bội.
Trước khi đi, tôi định trả tiền, Tiểu Cao đưa mắt ra hiệu
bảo đừng. Sau đó anh mới nói mục dân Hazak rất hiếu
khách. Đừng nói chi đến uống trà ăn cơm khỏi trả tiền mà
ngay cả chiêu đãi một con dê anh cũng khỏi phải chi tiền,
nếu không sẽ bị hiểu nhầm là coi khinh họ.
Chúng tôi tiếp tục lên đường, xe đi vào một khe núi và
xuyên qua một hang núi ngoằn ngoèo không biết tên là
hang gì. Tiếp theo lại có một hang núi khác vừa đủ cho một
chiếc xe qua lọt, hơi vô ý một tí thì thân xe có thể va vào
vách đá hai bên. Vừa ra khỏi miệng núi, thì gặp ngay một
khúc cua xuống rất ngặt. Tiểu Cao đúng không hổ là một
tài xế dày dạn kinh nghiệm, xe vừa lên đến chỗ cao nhất,
anh lập tức thắng xe dừng lại, lấy hai yên đá chen ngay dưới
hai bánh xe. Anh hít hơi thở mạnh, đi cho xe từ từ đi
xuống. Tôi là người ngồi trên xe mà cũng toát mồ hôi lạnh
thay cho anh.
Quả nhiên trên suốt chặng đường không hề thấy có
thôn trang nào cả, cũng chẳng thấy chiếc xe nào chạy qua,
thỉnh thoảng chỉ gặp một vài mục dân cưỡi ngựa đi qua.
Đến chỗ ranh giới của hai huyện Barkol và Mulei mới thấy
có dấu vết của thôn trang bỏ phế. Xuống xe, đến tận nơi
xem xét thì thấy hiện ra dấu tích thành tường giống như
miếu thờ hoặc dịch trạm gì đó của thời cổ đại. Nhặt mấy
viên gạch và ngói lợp đem cất, sau nhờ người làm công tác
khảo cổ chứng nghiệm thì biết chúng thuộc đời nhà Thanh.
176
Qua tám tiếng đồng hồ tròng trành lênh đênh trên một
lộ trình 140 cây số vừa như là đường, vừa không phải là
đường, cuối cùng cũng tìm ra được đường nhựa mới làm
lại hẳn hoi. Đi vào một hang núi xanh xanh, nhìn thấy đàn
dê đang uống nước bên bờ suối róc rách, lòng tôi bỗng thay
đổi. Không lâu sau, chúng tôi lại đi vào vùng bằng phẳng,
qua các thôn trang có trồng những hàng bạch dương cao
ngất, rồi một lần nữa nhìn thấy một phong hỏa đài cuối
cùng, thì trước mặt là một cánh đồng hoa cải vàng rực rỡ,
không dằn lòng được bèn hát lên mấy câu vu vơ. Với đôi
bàn tay sáng tạo của con người, thiên nhiên trở nên tươi
đẹp làm sao!
Sau khi chiếc xe chầm chậm lên đỉnh dốc, nhìn xuống
là đông bằng mênh mông hút tầm mắt. Bấy giờ, mặt trời
đang lặn, khói cơm chiều vấn vít bay lên, huyện ly Mulei
đã hiện ra trước mắt. Nhìn đồng hồ thì giờ Bắc Kinh là 8
giờ 25 (còn giờ ở đây là 6 giờ 25). Chúng tôi đi tổng cộng
11 tiếng đồng hồ với một hành trình 230 cây số. Người xưa
đi ngựa, cưỡi lạc đà vượt qua cạn đường dài như vậy không
phải là chuyện bình thường, họ phải trải qua bao nhiêu ngày
đêm gian nan vất vả nhỉ?
177
11. TỪ SÔNG MỘC LŨY ĐẾN MỤC
TRƯỜNG THIÊN SƠN
MỘT CON ĐƯỜNG XƯA VÀO ĐỜI NHÀ ĐƯỜNG
Vào đời Đường, có một con đường lớn từ cửa ngõ Y
Ngô (Ha Mật) của Tây Vực đến trung tâm quân sự - chính
trị Bắc Đình thuộc khu vực bắc Thiên Sơn, rồi theo hướng
tây đi qua sông Y Lê để đến Toái Diệp (Đây là nơi sinh của
nhà thơ Lý Bạch đời Đường, nay là ven hồ Issyk Kul (thuộc
Liên Xô cũ).
Để bảo vệ sứ thần và khách thương lai vãng trên con
đường thông vãng đông tây ấy một cách an toàn, dọc đường
người ta đặt nhiều “thủ tróc” (trạm canh phòng và bắt
những người khả nghi), tức là những cứ điểm quân sự, ví
như “La Hộ thủ tróc”, “Hắc Thủy thủ tróc” v.v...
Tôi đi từ huyện Barkol theo hướng tây để đến huyện
Mulei phải qua một “thủ tróc” (cứ điểm quân sự) trọng yếu,
đó là “Độc Sơn thủ tróc”. Sau khi đi vào một nơi thuộc
huyện Mulei thì có một mô đá lớn nằm chắn ngang giữa
đường, đường nhựa qua đó buộc phải đi vòng. Anh tài xế
nói:
- Địa phương này có tên là “Đại Thạch đầu” (hòn đá
lớn), và trước mặt là công xã Đại Thạch đầu.
Vào đời Đường, “Độc Sơn thủ tróc” đặt tại Đại Thạch
đầu, huyện Mulei. Cứ điểm này chẹn giữa điểm giao nhau
của hai yếu đạo từ phía đông đến: một từ Barkol, một từ Ha
Mật, do đó nó có vị trí rất quan trọng.
Tôi đi từ Ha Mật qua Barkol mà đến, nhưng còn một
con đường tắt khác thông qua Barkol, tức là đi thẳng từ Ha
Mật tới cũng được. Trong Tân Đường thư - phần địa chí có
178
ghi rõ như sau: “Từ huyện Nạp Chức thuộc Y Châu đi theo
hướng tây chừng 390 dặm thì đến cứ điểm La Hộ, sau đó
lên đến đỉnh Phạp Lư (đỉnh lừa mệt), rồi đi về hướng bắc
chừng 300 dặm nữa thì đến cứ điểm Độc Sơn (Độc Sơn thủ
tróc, tức nay là công xã Đại Thạch đầu), đi tiếp qua huyện
Bồ Loại chừng 160 dặm mới đến Bắc Đình.
Các địa điểm được xác định về các địa danh cổ nói
trên, có nơii thì chính tôi đến hiện trường để tìm hiểu xem
xét, có nơi thì tôi tra cứu qua các địa danh hiện tại, ví như:
- Huyện Nạp Chức, nay thuộc địa phận Ha Mật, có thể
là cổ thành La-phu-kiều-nhĩ-khắc mà tôi đã thăm qua.
- La Hộ thủ tróc, cũng là cứ điểm quân sự thời nhà
Đường. Căn cứ Hán Tây Vực đồ khảo nay là bắc Ha Lạt và
Trác Chi thuộc địa phận Tolophan.
- Đỉnh Phạp Lư là một trong những ngọn núi của dãy
Thiên Sơn.
- Độc Sơn thủ tróc, tức Đại Thạch đầu thuộc huyện
Mulei đã nói ở trên.
- Bắc Đình nay ở phía bắc huyện Jimusar.
Chỉ còn huyện Bồ Loại ngày xưa tại nơi nào thì chưa
rõ mà thôi. Nhưng đem địa điểm đã biết kể trên liên kết lại
với nhau, vẽ ra một lộ tuyến thì huyện Bồ Loại vào thời nhà
Đường rất có thể là huyện Mulei hay một phần huyện Kỳ
Đài ngày nay. Nếu tôi tìm ra huyện Bồ Loại tức là tôi có
thể nghiễm nhiên lần theo dấu chân của người xưa đi từ
Độc Sơn thủ tróc đến Bắc Đình.
ĐƯỜNG LẠC ĐÀ
Mulei là do sông lấy tên sông Mộc Lũy mà đặt tên, lịch
sử hành chánh của huyện còn rất mới, năm 1930 mới thành
179
lập huyện. Sau giải phóng, năm 1954 mới trở thành huyện
tự trị Mulei Hazak. Dân số hiện có hơn 7 vạn 4 ngàn người,
phần lớn đều sống bằng nghề chăn nuôi.
Theo như người ta nói Mulei là biến âm của Pulei (Bồ
Loại). Đời Đường gọi là huyện Bồ Loại, phía nam có một
cổ thành, nhưng không ai biết rõ tên thành ấy là gì: Nghe
người ta nói trên sa mạc Gôbi có một con đường lạc đà của
lái buôn hay qua lại, điều này khiến tôi vô cùng thích thú .
Trương phòng văn hóa người Hazak của huyện là
Xialifuhan dẫn tôi đi tìm con đường lạc đà ấy. Ra khỏi
thành, theo hướng bắc đi vào sa mạc Gôbi. Đằng xa xuất
hiện bóng cây phản chiếu hồ nước, đúng là hình ảnh cuốn
hút người chết được, Xialifuhan cười nói:
- Có cả đời anh cũng không đến được hồ ấy?
Thì ra do tác dụng phản xạ của ánh mặt trời, đó là loại
ảo giác thường xuất hiện trên sa mạc Gôbi.
Tại một nơi cách thành chừng 15 cây số, chúng tôi thấy
tương đối rõ dấu tích của con đường cổ đại tại sa mạc này,
cỏ hoang mọc đầy, ở đấy phảng phất mùi thơm kỳ lạ của
loại cỏ nhục tử, Xialifuhan nói:
- Đây chính là con đường lạc đà.
Tại sao lại mọc đầy cỏ hoang? - Tôi hỏi.
- Nhiều năm lạc đà qua lại, lâu ngày lún sâu thành
mương rãnh, có nước đọng, nên cỏ mọc um tùm.- Anh nói.
Tuy là sa mạc, nhưng có nước, tức là có thể trồng cấy,
và dọc đường chúng tôi thấy những đám ruộng lúa mạch,
những vườn trồng cải lấy nước từ sông Mộc Lũy để tưới.
Xialifuhan nhớ hồi nhỏ thường thấy cảnh lặn lội của
các đội khách thương bằng lạc đà qua lại trên con đường
này nối liền giữa Kỳ Đài và Hohhot ở Nội Mông. Người
180
Hazak gọi con đường lạc đà này là “hoành lộ”, tức con
đường nằm ngang, ý muốn nói con đường song song với
dãy Thiên Sơn.
Sau này tôi hiểu ra những gì Xialifuhan nói về “con
đường lạc đà”. Con đường này có từ đời nhà Thanh. Thời
đó, huyện Kỳ Đài là trung tâm thương nghiệp của vùng bắc
bộ Tân Cương, sự phồn thịnh của nó vượt xa Urumqi (Ô-
lỗ-mộc-tề), thủ phủ của khu tự trị Tân Cương hiện nay. Từ
Kỳ Đài qua Mulei, Barkol đến thảo nguyên và sa mạc ở
Mông Cổ có con đường dùng lạc đà làm phương tiện vận
chuyển hàng hóa. Con đường này có khoảng cách gần hơn
so với con đường lớn từ Tẩy An qua Cam Túc đến Urumqi,
và cước phí vận chuyển cũng tương đối thấp. Cả hành trình
mất khoảng 3 tháng. Mỗi con lạc đà có thể chở 200 kg hàng
hóa, giá cước vận chừng 10 lạng bạc. Phần lớn các hàng
hóa từ nội địa chở đến Kỳ Đài rồi từ đó phân tán ra các nơi
ở Tân Cương, gồm từ tơ lụa, len dạ, vải bô, đến trà, thuốc,
sành sứ. Các thứ hàng này là nhu phẩm cần thiết đối với
dân tộc thiểu số sống bằng nghề chăn nuôi. Hàng hóa từ Kỳ
Đài đưa vào nội địa gồm lông thú, sừng dê, gạc nhung, câu
kỷ, bối mẫu, nho khô, ngọc thạch.
Con đường lạc đà thời cận đại này hình thành và diễn
biến có vẻ giống con đường tơ lụa thời cổ đại; nhưng trong
một tình hình nhất định nào đó, cũng có thể nói rằng con
đường lớn thông vãng đông tây dọc chân núi phía bắc dãy
Thiên Sơn có nước và cỏ phong phú hơn dọc chân núi phía
nam, thích hợp cho lạc đà trong việc vận tải hàng hóa đi lại.
TIỀN NHẬT BẢN TIỀN Ả RẬP
Rời huyện Mulei, chúng tôi men theo con đường nằm
ngang (hoành lộ) song song với dãy Thiên Sơn tiến về
huyyện Kỳ Đài. Vào đến địa phận huyện, chúng tôi thấy
181
hai bên đường những hàng cây du và cây bạch dương thẳng
tắp rất đẹp và kéo dài hàng chục cây số.
Huyện kỳ Đài rất lớn so với huyện Mulei, dân số toàn
huyện ước khoảng 17 vạn người, dân số tại huyện lỵ chừng
2 vạn 2 ngàn người. Đường sá khu nội thành ngang dọc,
nhiều cửa hàng buôn bán, quán xá mọc lên như rừng, có
thể nhận ra bộ mặt phồn vinh của một thời đã từng là trung
tâm thương nghiệp trọng yếu của khu bắc bộ Tân Cương.
Đường phố sạch sẽ, ngay ngắn đã gây nơi tôi ấn tượng rất
sâu đậm. Hai bên đường có nước chảy róc rách. Buổi trưa
trời nắng, người đi đường có thể ngồi bên mương nước,
hoặc dưới bóng cây hóng mát. Đó là một thị trấn yên tĩnh,
đáng yêu ở phía bắc Trường Thành.
Anh Từ Văn Trị ở phòng văn hóa huyện rất nhiệt tình
đối với công tác khảo cổ. Trong phòng làm việc của anh,
tôi thấy có bộ sưu tập các loại tiền tệ từ đời Hán đến đời
Thanh. Có một đồng tiền Nhật Bản được đúc từ thời Thủy
Vĩ Thiên Hoàng, trên mặt có in bốn chữ Hán “Khoan Vĩnh
thông bảo”. Anh còn cất giữ 100 đồng tiền bạc cổ Ả Rập,
nặng chừng tám lượng. Số tiền tệ cổ trong và ngoài nước
này đứng về một góc độ nào đó chứng minh rằng Kỳ Đài
giữ một vị trí trọng yếu trong lịch sử giao lưu kinh tế đông
tây của thời cổ đại.
Tôi hỏi xem tiền bạc Ả Rập được tìm thấy ở đâu? Anh
bảo ở tại Đường Triều Đôn cổ thành tức phía tây huyện lỵ
Kỳ Đài, do các cháu nhỏ tình cờ phát hiện.
Năm 1973, các cháu nhỏ đang chơi tại di thỉ Đường
Triều Đôn cổ thành (mô đất thành cổ đời Đường) thì thấy
trên mặt đất nổi lên một quai bình bằng sành. Bọn trẻ lấy
tay đào lên, đổ ra một đống tiền cổ. Chúng cho là đồ chơi
nên chia nhau mỗi đứa một ít. Về sau, Từ Văn Trị nghe có
người nói lại, bèn khuyên chúng giao nạp văn vật ấy cho
182
phòng văn hóa huyện, đồng thời tặng cho mỗi cháu một số
quà tưởng lệ.
Thế là tôi yêu cầu Từ Văn Trị dẫn tôi đến thăm mô đất
thành cổ đời Đường ấy. Nó cũng gần huyện lỵ Kỳ Đài,
tường thành vẫn còn dấu cũ, người ta dùng đất nện truyền
thống xây nên, thành có hình chữ nhật, bề đông tây dài 315
mét, bề nam bắc dài 90 mét. Phía đông có sông Thủy Ma,
ven sông là bãi cỏ. Chúng tôi tản bộ trong thành thấy có
nhiều mảnh sành. Từ Văn Trị nhặt lên mấy mảnh, can chấp
lại một cách thành thạo thì nhận ra đó là bình sành một quai
thuộc đời Đường. Anh nói từ những gạch ngói, tiền tệ trước
sau đào được ở đây, đem phân tích các văn vật thì thấy đồ
vật tại cổ thành này có sớm nhất vào đời Đường, và chậm
nhất vào đời Nguyên.
Tôi hỏi:
- Đúng là cổ thành thuộc đời Đường, nhưng quy mô
của nó lớn như thế này thì đây có phải là huyện Bồ Loại
nhà Đường xưa kia không?
Anh có vẻ do dự một chút rồi nói:
- Theo góc độ khảo cổ mà xét thì rất khó nói. Sử sách
của ta có ghi chép nói rõ rằng huyện Bồ Loại nhà Đường
xưa kia nay chính là huyện Kỳ Đài.
Hán Tây Vực đồ khảo (Nghiên cứu bản đồ xứ Tây Vực
đời Hán) có ghi: “Đường Trinh Quán năm thứ mười sáu
(640) đặt ra huyện Bồ Loại, nay tức là Cổ 'thành”. Đất sở
tại của huyện của huyện Kỳ Đài ngày nay có tên gốc của
nó là “Cổ thành tử”.
Sau này, tôi có đến thỉnh giáo ông phó giám đốc Viện
Bảo tàng Lịch sử Tân Cương là Lý Ngẫu Xuân, ông cho
rằng mô đất thành cổ đời Đường (Đường triều Đôn cổ
thành) rất có thể huyện Bồ Loại nhà Đường xưa kia, nhưng
183