The words you are searching are inside this book. To get more targeted content, please make full-text search by clicking here.
Discover the best professional documents and content resources in AnyFlip Document Base.
Search
Published by ngoc.ngphuong, 2020-09-21 02:01:48

CON ĐƯỜNG TƠ LỤA - Xa Mộ Kỳ

CON ĐƯỜNG TƠ LỤA - Xa Mộ Kỳ

20. HAI TUYẾN ĐUỜNG VUỢT NÚI
THÔNG LĨNH

Trên những bích họa ở Đôn Hoàng và ở Thiên Phật
động Khắc Tư Nhĩ đều có những bích họa vẽ khách buôn
gặp kẻ cướp. Vở nhạc kịch Ti lộ hoa vư (Mưa hoa trên
đường tơ lụa) (sáng tác và diễn xuất của đoàn ca kịch tỉnh
Cam Túc) nổi tiếng trong và ngoài nước đã lấy tình tiết về
những lữ khách gặp cường đạo cướp bóc trên con đường tơ
lụa, triển khai những mẩu chuyện bi hoan ly hợp giữa người
Trung Quốc và người Ba Tư. Trên con đường tơ lụa dài
dằng dặc ấy, việc gặp đạo tặc uy hiếp, cướp bóc khách
thương đông tây qua lại là điều không thể tránh khỏi. Một
điều khá thú vị là các nhà khảo cổ học đã phát hiện tại vừng
núi hẻo lánh huyện Ô Kháp một đầu mối cướp đường hơn
1000 năm về trước. Mãi đến ngày nay vẫn chưa có ai học
tập cách điều tra tội phạm của Phúc nhĩ Ma tư, mà địa điểm
xảy ra vụ án còn để lại một số tiền và vàng Ba Tư cổ đại,
điều này càng chứng minh một cách hùng hồn rằng đường
núi phía tây huyện Ô Kháp là con đường giao thông ở bắc
bộ Trung Quốc dọc theo cao nguyên Pamia đi về hướng tây
của con đường tơ lụa. Thời cổ đại, từ nước Sơ Lặc (nay là
Ca Thập) đi Đại Oản đều phải qua con đường ấy.

Tôi cứ việc theo lời chỉ dẫn của Lý Ngẫu Xuân đi từ
huyện Ba Sở qua huyện Ô Kháp để tìm hiểu đoạn đường
cổ đại này. Còn ông bận tham dự công tác nghiên cứu số
tiền và vàng Ba Tư vừa khai quật được.

Rời huyện Ba Sở, xe phóng nhanh trên con đường bằng
phẳng về hướng tây, đi chừng 200 cây số thì đến A Đồ
Thập. Vùng nước non sung túc này rất trù phú so với vùng
A Khắc Tô, dọc đường nhiều lần phải vượt sông, qua cầu,
đôi khi còn thấy những hồ nước sóng bạc nhấp nhô, ngươi

334

địa phương gọi là “biển”. Như thế là chúng tôi đã đặt chân
lên vùng nam Tân Cương trù phú. Từ A Đồ Thập rẽ về
hướng tây đi tiếp chừng 100 cây số thì đến huyện Ô Kháp,
nơi xa nhất của tây bộ Trung Quốc.

Lộ tuyến chúng tôi đang đi song song với sông Khắc
Tư Lặc (tức sông Hồng Hà hoặc sông Ca Thập Ca Nhĩ hoặc
sông Xích Hà). Thời cổ đại, con sông này chảy qua Thoát
khố tư tát lai của huyện Ba Sở rồi nhập vào sông Tarim,
còn ngày nay, sau khi chảy đến Ba Sở thì đổi dòng.

Chúng tôi nghỉ lại một đêm ở huyện Ô Kháp tĩnh mịch,
những người bạn đồng hành đều cảm thấy nhức đầu, ngủ
không ngon giấc, có lẽ do địa thế khá cao, cao hơn mực
nước biển khoảng chừng 2500 mét.

Sáng sớm, lên xe rời huyện lỵ đi về phía tây, xe đi trên
đường bằng phẳng chừng 50 cây số thì vào vùng núi non,
xa xa về phía chân trời, những ngọn núi tuyết trắng phau
hiện ra. Đó chính là vùng núi phía bắc của cao nguyên

Pamia.

Pamia là cao nguyên được hình thành do ba dãy núi
lớn giao hội đó là dãy Côn Luân Ha la (Ha ra Korum), dãy
Hưng đô Khố lập và dãy Thiên Sơn. Cổ nhân gọi là Thông
Lĩnh. Các nhà chú thích ngày xưa chỉ xem cho mà đoán
nghĩa, cho nên ngộ nhận rằng núi Thông Lĩnh hẳn là xanh
tốt sum suê, nhưng thật ra cao nguyên Pamia là vùng đất
lạnh, núi băng đất tuyết cây cỏ khó sống.

Chúng tôi đi qua một mỏ than, người hướng đạo nói là
đã vào vùng “Bát thập đạo pha” (tám mươi đường đèo).
Suốt đường đi phải leo đèo, leo dốc, tổng cộng tám mươi
dốc đèo. Chiếc Jeep phải gian khổ quanh co trên đường đất
núi, cố mà leo lên. Tôi cũng không nhớ rõ mình đã qua
được bao nhiêu đèo chỉ cảm thấy cái lạnh ghê người, đang
giữa tháng chín mà phải mặc áo bông.

335

Cách huyện lỵ chừng 90 cây số là lòng chảo Ô lỗ Khắc
kháp đề, tứ bề núi non vây bọc, một con sông đầy phù sa
màu đỏ ào ào chảy qua lòng chảo. Đó chính là sông Khắc
Tư Lặc (tức sông Xích Hà). Lúc đó có mấy con lạc đà chở
đầy hàng hóa lội qua sông. Một người đội trên đầu chiếc
mũ da cao nghều đang dắt lạc đà đi trước dẫn đường. Tôi
chăm chú nhìn hồi lâu. Hình ảnh trước mắt họ chẳng phải
là những bích họa ở Đôn Hoàng, ở Thiên Phật động Khắc
Tư Nhĩ đang tái hiện cảnh khách thương thời cổ đại đó sao?

TIỂN BẠC BA TƯ ĐÀO ĐƯỢC NHIỀU NHẤT Ở
TRUNG QUỐC

Phần lớn tiền bằng bạc và vàng thỏi cổ Ba Tư đều đào
được ở Ô lỗ Khắc kháp đề. Lý Ngẫu Xuân đã cho tôi biết
tình hình sự việc ấy.

Tháng năm năm 1959, khi Lý Ngẫu Xuân đang làm
công tác tổng kiểm tra khảo cổ ở Ca Thập thì được người
ta cho biết công nhân làm đường huyện Ô Kháp đã tìm thấy
những đồng tiền cổ ở Ô lỗ Khắc kháp đề. Ông liền đến hiện
trường mới hay, khi công nhân đào đường bên vách núi thì
thấy từ hốc núi tiền và vàng hiện ra, xem xét kỹ lưỡng mới
nhận ra số tiền và vàng thỏi ấy từ trong một khe đá đổ ra.

Tại đây, Lý Ngẫu Xuân đã đào tìm và khảo sát. Khi
đào lên, vàng và tiền lộn chung với nhau, rất nhiều đồng
tiền bạc xâu thành chuỗi. Đồ đựng có thể là một túi xách
hay một khăn gói gì đó, nhưng đồ đựng ấy đã mục nát
không còn dấu vết gì cả. Nhặt riêng ra từng thứ thì được
mười ba thỏi vàng và 947 đồng tiền cổ Ba Tư. Tổng trọng
lượng số tiền ấy là 3820 gam, trong đó có hai đồng thuộc
đời thứ nhất vua Ba Tư Kuslao, thế kỷ thứ VI; 567 đồng
thuộc đời thứ hai vua Kuslao, cuối thế kỷ thứ VI đầu thế kỷ

336

thứ VII, 281 đồng thuộc triều đại Omia, những năm sáu
mươi của thế kỷ thứ VIII.

Đây là lần đầu tiên dào được một số lượng tiền bằng
bạc nhiều nhất thuộc vương triều Tashan của Ba Tư. (Thứ
đến là ở Tây Ninh, tỉnh Thanh Hải 67 đồng và ở Tân Cương
63 đồng). Sự kiện này đã khiến nhiều nhà khảo cổ học rất
chú trọng.

Đất lẫn lộn trong những mô đá, những khe đá, những
dốc đá và ngay cả một vùng vách đá và mặt đất kéo dày
mấy cây số, tất cả đều là màu đất đỏ đậm, chung quanh
không hề có một di chỉ kiến trúc cổ nào hay bất cứ một di
tích văn hóa nào. Rõ ràng đây là một vùng hẻo lánh rất dễ
xảy ra nạn chọn đường cướp của của bọn lục lâm thảo khấu.
Nghiên cứu địa điểm và tình hình chung quanh nơi khai
quật, Lý Ngẫu Xuân suy đoán số tiền bạc và số vàng thỏi
ấy chắc chắn không phải là đồ chôn theo trong các ngôi cổ
mộ, cũng không phải là đồ cất giấu của dân cư mà rất có
thể là thương lữ gặp tình hình bất trắc, khẩn cấp lúc qua
đây vội vàng chôn giấu bên đường. Niên đại chôn giấu
khoảng cuối thế kỷ thứ VII đến đầu thế kỷ thứ VIII, tức vào
thời Thịnh Đường, cũng chính là thời hưng thịnh nhất trong
việc giao lưu kinh tế văn hóa giữa

Trung Quốc và phương Tây.

Lý Ngẫu Xuân nói:

- Chúng ta thử tính, số lớn tiền và vàng ấy là tài sản
của những thương nhân kinh doanh buôn bán giữa Trung
Quốc và Ba Tư. Nhưng tại sao lại phải chôn giấu bên đường
ở một nơi hoang vắng như thế? Thật không khó để suy
đoán, thương nhân bất hạnh rất có thể giữa đường gặp
cường đạo, trong khi vợi vàng chạy trốn đem số tiền và
vàng mang theo ấy tạm chôn giấu đâu đấy, về sau có thể đã
bị giết hại hoặc vì một nguyên nhân nào khác không có cơ

337

hội để tìm lấy nên chúng đã nằm mãi cho đến ngày nay và
chúng đã cho chúng ta chứng cứ xác đáng bằng hiện vật để
hiểu thêm phần nào lịch sử thông thương giữa Trung Quốc
và phương Tây.

Theo những vị bô lão của bản địa nói, thời cận đại từ
huyện Ô Kháp đến Ô lỗ Khắc kháp đề, cho đến phía Tây
mẫu Ha la, nơi phát nguyên của con sông Khắc Tư Lặc có
đường đi đến liên bang Nga.

Chúng tôi rời Ô lỗ Khắc kháp đề để tiếp tục đi lên phía
trước, giữa đường gặp một thanh niên cưỡi ngựa đi tới,
người có da ngăm ngăm đen trông rất oai vệ, người hướng
dẫn giới thiệu với chúng tôi anh là xã trưởng công an xã
Cát Căn. Đứng trước mặt tôi là một người thuộc dân tộc
Kirghiz. Từ sáng sớm đến trưa, đi hơn 100 cây số, thì anh
ấy là người thứ hai chúng tôi gặp giữa đường, xem thế có
thể thấy vùng đất này dân số quá thưa thớt, toàn huyện chỉ
có hơn hai vạn người.

Lại tiếp tục men theo đường núi để đến công an xã Cát
Căn. Khi thấy những xã viên Kirghiz tôi mới có cảm giác
mình đang trở về với xã hội loài người. Có một cô gái đang
chăn gia súc trên thảo nguyên bên bờ sông Hồng (tức sông
Khắc Tư Lặc Xích Hà). Cô mặc áo đen và quần màu đỏ,
đầu đội khăn rằn, màu sắc rất tươi. Nhiều phụ nữ đang cày
cấy trên đồng ruộng. Trên bãi cỏ trước thôn, một cô gái
đang dệt vải bàng chiếc khung dệt thô sơ của mình. Hoa
văn tươi đẹp của tấm vải bày ra trên thảm cỏ màu lục đậm
trông rất thích mắt.

Công xã Cát Căn là một công xã ở cực tây của đất nước
Trung Quốc, chỉ khoảng vài ngàn xã viên người Kirghiz,
đa số sống bằng nghề chăn nuôi. Thế kỷ thứ III trước CN,
người Kirgiz chăn thả súc vật tại lưu vực sông Diệp Ni Tái,
khoảng những năm bốn mươi của thế kỷ thứ IX đã từng

338

dựng nước xưng vương, cương vực gồm đông từ hồ Bối
Gai Nhĩ, tây đến lưu vực sông Đáp La Tư ở Trung Á. Đầu
thế kỷ thứ XVI, một số người Kirgiz thiên di đến định cư ở
cao nguyên Pamia và khu vực Thiên Sơn.

DỪNG CHÂN TRÊN ĐƯỜNG BIÊN GIỚI XA NHẤT
Ở TÂY BỘ TRUNG QUỐC

Tiếp tục men theo sông Khắc Tư Lặc tiến về phía Tây,
quá 74 độ kinh đông, chúng tôi tìm thấy đồn biên phòng
Tây mẫu Ha la trong một khe núi. Chúng tôi được các chiến
sĩ biên phòng nơi biên giới xa nhất của tồ quốc đón tiếp
nồng nhiệt. Tây mẫu Ha la cùng với vùng biên cảnh bên
sông Hoắc nhĩ quả tư ở địa khu Y Lê, nơi tôi đã từng đi
qua, đều là biên giới phía tây của tổ quốc. Sau một chuyến
đi dài, được ngồi thư thả trong nhà ăn của đồn biên phòng
ăn một bát mì nóng, bao nhiêu hơi lạnh và lao nhọc đều tiêu
tan hết. Các chiến sĩ trẻ ở đây hầu như rất hợp với khí hậu
cao nguyên, nhìn họ chơi bóng rổ trên sân ai nấy đều khỏe
mạnh, chạy nhảy lui tới nhanh nhẹn vững vàng. Được các
chiến sĩ hướng dẫn, chúng tôi leo lên một ngọn núi cao hơn
3000 mét, nhìn bao quát thấy núi non trùng điệp bên kia
nước Nga. Mây mù bàng bạc, bàng tuyết trắng xóa, phải
chăng đó chính là một bộ phận của núi Thông Linh mà sử
sách Trung Quốc thường hay nói đến? Trong lịch sử biết
bao nhiêu người có chí khí đi tiên phong, không ngại gian
khổ vượt núi Thông Lĩnh, đã đem lại những cống hiến bất
hủ vì sự nghiệp giao lưu văn hóa Đông Tây.

Nghĩ đến điều đó, cả đoàn chúng tôi vô cảnh hưng
phấn: nơi chứng tôi đang đứng hiện nay rất có thể là thủ
phủ Diễn Tôn Cốc của nước Quyên Độc đời Hán. Hán
thư viết: “Nước Quyên Độc đô ở Diễn Tôn Cốc cách
Trường An 9860 dặm, có 380 hộ, nhân khẩu 1100 người ...

339

Phía tây là núi Thông Lĩnh, tức là nước Hưu Tuần, còn tây
bắc cách nước Đại Oản 1030 dặm ...”

Lần thứ nhất, Trương Khiên đi sứ Tây Vực phải đi từ
chân núi nam Thiên Sơn lên phía tây, rồi vượt núi Thông
Lĩnh để đến nước Đại Oản, rất có thể đã đi theo lộ tuyến từ
Ô lỗ Khắc kháp đề đến Tây mẫu Ha la. Sau khi ông về nước
đã báo cáo rõ tình hình Tây Vực lên triều đình. Sử ký, Đại
Oản liệt truyện chắc hẳn Tư Mã Thiên đã dùng tài liệu báo
cáo của Trương Khiên.

Căn cứ những báo cáo của Trương Khiên, thì nước Đại
Oản là một nước lớn ở Tây Vực, thành ấp trực thuộc có hơn
bảy mươi cái, nhân khẩu 30 vạn, lấy nông ngiệp làm chính,
cộng thêm nghề chăn nuôi; sản phẩm chính là lúa mạch và
rượu nho, một nhà giàu có thể cất giữ hàng vạn thạch rượu
nho, trải qua hàng chục năm không ai đánh bại. Trương
Khiên còn cho biết Đại Oản sản xuất ngựa quý, mồ hôi
ngựa xuất ra đỏ như máu nên gọi là hãn huyết mã, truyền
thuyết dân gian cho là con của ngựa trời. Người đời sau giải
thích ý nghĩa của “thiên mã” như thế này: “Nước Đại Oản
có núi cao, ngựa sống trên đó rất khó bắt, vì thường có ngựa
ngũ sắc từ trời xuống giao phối với ngựa ở đấy mà sinh ra
ngựa con (gọi là câu) mồ hôi đỏ như máu (hãn huyết câu)
nên gọi là con của ngựa trời (thiên mã tử)”. Về mặt di
truyền học ngày nay mà nói, đoạn truyền thuyết hoang
đường vô sử vô sách kể trên phần nào phản ánh người Đại
Oản đương thời đã biết cách tuyển chọn ngựa giống trong
việc giao phối sinh dục.

Vua Hán Vũ Đế rất thích giống ngựa hãn huyết mã,
bèn phái sứ giả đến Đại Oản dùng vàng ròng để đổi ngựa
quý. Bấy giờ Đại Oản và Hung Nô đang bất hòa, nên họ
không những không giao ngựa mà còn giết hại sứ giả nhà
Hán. Hán Vũ Đế tức giận liền sai Nhị Sư tướng quân Lý

340

Quảng Lợi đem quân chinh phạt Đại Oản, thắng trận, địa
vị của nhà Tây Hán được củng cố ở Tây Vực. Lần chiến
thắng này không những có được hãn huyết mã mà còn đem
về Trường An giống nho và giống cỏ linh lăng của bản
quốc nữa.

TRẠM ĐẦU TIÊN NGHỆ THUẬT PHẬT
GIÁO TRUYỀN VÀO TRUNG QUỐC

Từ Tây mẫu Ha la trở về huyện Ô Kháp nghỉ lại một
đêm rồi đi Ca Thập và trước tiên là đi gặp Lý Ngẫu Xuân
như đã ước hẹn. Tôi thích thú thuật lại việc tìm ra nơi mà
ông đã tìm thấy tiền bạc và vàng thỏi cổ Ba Tư trước đó.
Ông vui vẻ nói:

- Trên đường thông vãng với núi Thông Lĩnh có ba
hang đá nằm trên một hàng ngang, tục gọi là “Tam tiên
động” (ba động tiên), trong đó có những bích họa về Phật
giáo. Chúng để lại dấu tích của Phật giáo khi truyền vào
Trung Quốc qua con đường tơ lụa.

- Tam tiên động ở đâu? - Tôi hỏi.

- Từ huyện Ô Kháp anh đi về hướng đông, tại chỗ rẽ
phía nam đi Ca Thập một đoạn không xa thì đó là khu vực
“Tam tiên động” - Ông nói - Vị trí chính xác là 75,55 độ
kinh đông và 39,35 độ vĩ bắc.

- Như vậy có phải “Tam tiên động” là di chỉ Phật giáo
truyền nhập vào phương Đông ở tây bộ xa nhất của nước
ta phải không - Tôi hỏi.

- Vâng, cũng có thể cho là như vậy! Anh xem hiện nay
chùa hang động ở tây bộ xa nhất của nước ta là Thiên Phật
động Khắc Tư Nhĩ nằm giữa khoảng 82 đến 83 độ kinh
đông. Tam tiên động tuy chỉ có ba hang động không thể

341

sánh với các loại chùa hang động khác, nhưng vị trí của nó
lại ở phía tây Thiên Phật động của Khắc Tư Nhĩ, kinh độ
chỉ sai biệt sáu bảy độ và rất gần núi Thông Lĩnh, cho nên
đối với việc nghiên cứu nguồn gốc nghệ thuật Phật giáo
truyền nhập vào phương Đông, nó có một giá trị đặc biệt.

Lời giảng giải của ông khiến tôi đi thăm “Tam tiên
động” với một niềm hứng thú sâu đậm, và chứng tôi hẹn
ngày xuất phát.

Từ Ca Thập, chúng tôi đi xe trên con đường vừa mới
trùng tu để ra đường nhựa đi Ô Kháp. Xe chạy chừng hơn
10 cây số thì qua một chiếc cầu bằng xi-măng, rồi tách
đường cái xe chạy giữa lòng sông rộng, nước cạn, chảy yếu,
đi ngược về hướng tây. Xe chạy trên cát sỏi của lòng sông
chừng ba cây số thì dừng lại.

Trên lưng chừng núi ở bờ nam của dòng sông sừng
sững vách núi dựng đứng bày hàng ngang ba hang động,
đó chính là “Tam tiên động”. Cửa động hình chữ nhật, cách
mặt đất chừng 30 mét, nếu không có thang đủ cao không
thể leo lên được Người ta nói rằng gần đây có những người
Nhật nghe danh đến thăm viếng đứng nhìn động mà than,
họ chỉ còn cách đứng từ xa quan sát qua ống nhòm.

Tôi may mắn được đi với Lý Ngẫu Xuân, có điều kiện
thuận lợi. Trước hết, ông đề nghị xin đội cứu hỏa thành phố
Ca Thập lái đi theo một chiếc xe cứu hỏa, từ mặt đất bắc
thang ngay đúng cửa động ở giữa lên xuống hồ chiều.
Trước tiên mấy anh lính chữa cháy leo thang vào cửa động
trước rồi từ cửa động thòng dây bảo hiểm xuống, bấy giờ
mọi người mới lần lượt vin dây bảo hiểm đi lên.

“Tam tiên động” vốn không liền nhau, không biết
người ta đục mở vào thời nào. Ba động đều có trước sau
hai gian, gian trước dài rộng 4 mét, gian sau khoảng bằng
nửa gian trước, phần nóc là uốn kiểu mái vòm.

342

Dưới triều nhà Thanh, hang giữa đã bị quét vôi, bích
họa còn lại rất ít. Hang ở phía tây mặt đá lộ ra bên ngoài,
trên vách dấu đục ngang dọc chứng tỏ chưa làm xong, bị
bỏ nửa chừng. Hang ở phía đông bích họa được bảo quản
tương đối đầy đủ.

Lý Ngẫu Xuân thấy trên tường của hang động này toàn
là tượng Phật, còn giữ được đến hơn bảy mươi bức, điều
này làm ông phấn khích. Ông nói:

Trên các bích họa của động Phật không thấy có sự tích
được chép trong kinh Phật, cũng không có tượng người
cúng dường.

Có một tượng Phật ngồi, mình khoác áo cà sa có hoa
văn hình ô vuông, dùng màu xanh cánh trả và màu đỏ nhạt
vẽ thành, sau lưng vẽ những ngọn lá bồ đề. Ông đưa ra nhận

xét:

- Cách phục sức này chỉ có trên những tượng bích họa
của thời kỳ đầu.

Gian sau của một hang động có vẽ một bức tượng Phật
đứng là tương đối hoàn chỉnh nhất. Phần thân trên để trần,
tay phải nâng một vật đưa ngang thắt lưng, tay trái duỗi tự
nhiên. Cách phục sức của tượng Phật này rất ít thấy: phần
thân dưới mặc một loại quần gồm ba màu lục, xanh, hồng
kết thành sọc ngang, có vẻ hơi giống loại váy màu của
người vùng Đông Nam Á hay mặc.

Những người cùng đi, trừ Lý Ngẫu Xuân và nhà khảo
cổ học, còn có các họa sĩ, các nhà nhiếp ảnh. Mọi người
mượn cơ hội hiếm hoi này tranh nhau đo đạc, mô phỏng và
chớp hình, bận rộn tíu tít trong hơn hai tiếng đồng hồ mới
bịn rịn xuống thang y như lần đi lên. Xong xuôi, mọi người
đến bên cạnh bờ sông vây quanh Lý Ngẫu Xuân vừa ăn dưa
hấu vừa lắng nghe ông phát biểu cảm tưởng. Ông nói:

343

- Quý hóa quá? Thật là quý hóa. Thời kỳ đục mở hang
động sớm hơn nhiều so với dự đoán ban đầu của chúng tôi.

Căn cứ cách thể hiện nội dung các bích họa và phong
cách nghệ thuật mà phân tích, ông cho rằng thời gian đục
mở “Tam tiên động” không sớm lắm so với Thiên Phật
động ở Khắc Tư Nhĩ, chậm nhất là vào thế kỷ thứ IV CN.
Do đó, ba hang động này có thể là di tích sớm nhất còn lưu
lại sau khi Phật giáo du nhập vào Trung Quốc tại vùng tây
bộ xa nhất này. Ông nói:

- Không nên gọi là “Tam tiên động” nữa vì giữa chúng
và Đạo giáo không hề có quan hệ nào cả, có lẽ nên gọi là
“Tam Phật động” (ba động Phật) thì đúng hơn.

TRUYỀN THUYẾT VỀ THÀNH LŨY CÔNG CHÚA

Trở về Ca Thập, tôi và Lý Ngẫu Xuân theo một lộ
tuyến khác vượt qua núi Thông Lĩnh để tìm hiểu con đường
tơ lụa. Từ Taxkorcan vượt Thông Lĩnh đi Kashmir. Sau khi
từ Ấn Độ thỉnh kinh trở về, Huyền Trang cũng qua Kashmir
rồi vượt núi đến Taxkorcan sau đó mới trở lại Ca Thập.

Vùng Taxkorcan nằm giữa cao nguyên Pamla và núi
Côn Luân, thời nhà Hán gọi là nước Bồ Lê và nước Ỷ Nại
thuộc quyền quản hạt của Tây Vực Đô hộ phủ. Đến đời nhà
Đường đặt làm thủ tróc thông lĩnh, thuộc quyền quản hạt
của An Tây Đô hộ phủ. Đó là cứ điểm quân sự quan trọng
và là cửa khẩu trọng yếu ở núi Thông Lĩnh.

Thời Huyền Trang qua đây gọi là nước Yết Bàn Đà.
Trong Đại Đường Tây Vực ký ngài có viết: “Nước rộng.
thành lớn, thành nằm trên một núi đá cao, sau vách núi có
nhiều sông, núi này tiếp núi kia, đất hẹp, cây cối thưa thớt,
hoa quả ít oi ...” Rõ ràng đây là một nước nhỏ ở trên núi

cao.

344

Theo ghi chép của Huyền Trang, quốc vương nước Yết
Bàn Đà tự xưng là “Hán nhật thiên chủng”, bởi vì theo
truyền thuyết thì thân mẫu tổ tiên của nhà vua vốn là người
Hán, còn thân phụ là “mặt trời từ cõi trời bước xuống”,
dáng mạo giống người Hán mà thân thể thì mặc quần áo
người Hồ.

“Hán nhật thiên chủng” là một sự tích rất thú vị. Trước
khi nước Yết Bàn Đà được kiến lập thì trên núi Thông Lĩnh
chỉ là vùng hoang vu. Quốc vương xứ Ba Lợi Tư phái sứ
giả đi rước công chúa của triều Hán về nước đi ngang qua
vùng đất hoang vu này. Lúc ấy đang xảy ra chiến loạn, giao
thông đông tây bị gián đoạn. Sứ giả bèn đưa công chúa đến
an trí trên một ngọn núi vắng vẻ, núi cao vách hiểm, vệ sĩ
ngày đêm canh gác nghiêm mật, tuyệt đối không được để
mất công chúa. Trú lại ở đây một thời gian ba tháng, chiến
tranh mới chấm dứt. Chính lúc chuẩn bị bắt đầu lên đường
trở về nước thì công chúa có mang. Bọn sứ thần hết sức
hoảng sợ. Công chúa chưa thành thân mà đã mang thai thế
thì khi về nước trình bày thế nào với nhà vua đây? Thế là
sứ giả bắt đầu kiểm tra, thăm dò trong tất cả mọi người,
không tìm ra kẻ phạm pháp để trị tội không xong.

Đang khi mọi người hoảng loạn, một thị nữ của công
chúa nói thầm với sứ giả:

- Không cần phải quở trách nhau làm gì, không phải
người phạm tội đâu, mà là thần đấy. Hằng ngày vào giữa
trưa có một người đàn ông từ trên trời cưỡi ngựa phi xuống
và cùng với công chúa gặp nhau.

Bọn sứ thần nghe xong ai nấy đều kinh ngạc và không
biết nên làm như thế nào. Sau nhiều lần bàn bạc, họ không
dám trở về nước nữa, thế là ở lại trên ngọn núi cao, xây
thành đưa công chúa lên nhiếp chính. Về sau, công chúa
sinh ra một con trai, lớn lên lập làm quốc vương, người này

345

có thể bay lượn giữa trời, chế ngự được mưa gió, các nước
chung quanh không ai là không thần phục. Sau khi vua
chết, người ta an táng nhà vua trong một thạch động nằm ở
phía nam của thành hơn 100 dặm, thi thể nhà vua lâu ngày
trở thành khô, không bị thối rữa, trông như đang ngủ.
Người trong nước thường thay y phục cho nhà vua và luôn
luôn cúng bái hương hoa. Con cháu ngày càng đông đúc,
hiệu xưng là “Hán nhật thiên chủng” (người Hán giống
trời).

Ngày nay, trong hẻm núi ở phía nam huyện tự trị
Taxkorcan Tajik có một khu đất gọi là Kizikorcan. Tiếng
Uygur có nghĩa là “thành lũy của công chúa”.

Tôi hỏi Lý Ngẫu Xuân, theo góc độ của nhà khảo cổ
học, thành lũy này có ý nghĩa như thế nào? Ông cười, nói:

- Sự tích về truyền thuyết có phải là sự thật không? Có
điều mấy năm gần đây những người làm công tác khảo cổ
đến đây tìm thấy những đồ dùng bằng gỗ, họ đem giáo
nghiệm thì thấy cái gọi là “thành lũy công chúa” chỉ là di
chỉ được kiến trúc khoảng mấy trăm năm trở lại đây mà

thôi.

CON ĐƯỜNG XƯA THÔNG VÃNG KASHMIR

Lịch sử của tuyến đường Ca-thập - Taxkorcan -
Kashmir có nhiều nhà sư nổi tiếng, nhiều nhà du lịch và
nhiều nhà thám hiểm đã từng đi qua. Và tôi cũng không bỏ
lỡ cơ hội đi thăm một chuyến trên tuyến đường này. Nhưng
thật không may, trước khi đến Ca Thập, nhà đương cục địa
phương đưa ra quyết định: phàm du khách đến Taxkorcan
phải qua bác sĩ kiểm tra sức khỏe và phải có giấy bác sĩ cho
phép mới được đi lại. Nguyên nhân là trước đó xảy ra một
chuyện: có chị cán bộ đi Taxkorcan tham dự hội nghị, dọc

346

đường phải qua vùng cao nguyên cao trên 4000 mét phải bị
chết vì đau tim đột ngột. Tôi vốn cao huyết áp, chắc sẽ
không được bác sĩ cho phép, chỉ biết ngồi than thở không
biết làm gì hơn!

Nhưng rồi tôi men theo tuyến đường ấy dọc theo sông
Cái Tư mà đi, đi đến một nơi cách sông Cái Tư không xa
là ngọn núi chính của cao nguyên Pamia, ngọn Kongur cao

7719 mét.

Từ Ca Thập đi theo hướng nam chừng 80 cây số trên
vùng bình nguyên lục châu thì phải vào một vùng núi, sông
Cái Tư vẫn cuồn cuộn chảy về hướng bắc. Men theo dòng
phát nguyên của con sông to lớn ấy trên cao nguyên mà đi
chừng 40 cây số nữa thì đến đồn kiểm tra biên phòng.
Xuống xe ở đây, đi bộ qua chiếc cầu gỗ, dọc theo một con
đường nhỏ quanh co khúc khuỷu, rồi leo lên một dốc cao
khoảng 200 mét thì đến một vùng đất bằng nhỏ ở lưng
chừng núi. Trên đồng bằng này có ruộng lúa và nhà cửa, xã
viên người Kirghiz thấy có người lạ đến liền nghênh tiếp.
Thanh niên, phụ nữ mặc quần đỏ, áo đen tay cụt, đeo
khuyên tai và dây chuyền, trên dây chuyền có treo lủng
lẳng những đồ trang sức khác bằng đồng hoặc bằng bạc
trông rất lạ mắt.

Nói chuyện với một cán bộ hiểu tiếng Hán thì mới biết
đấy là đại đội Cái Tư thuộc công xã Bố Luân Khẩu, có tất
cả 467 người vừa canh tác vừa chăn nuôi. Có 130 mẫu đất
ruộng trồng đại mạch và thanh khỏa (tức một loại lúa mạch
trồng ở vùng lạnh). Tiểu mạch và lúa gạo không hợp thủy
thổ ở cao nguyên. Đại đội có một trường tiểu học dạy tiếng
Kirghiz và tiếng Hán.

Ở đây ngước đầu nhìn lên thì thấy núi tuyết, phải chăng
đấy là ngọn Kongur cao 7719 mét? Tôi cảm thấy hơi nhức
đầu, địa thế có lẽ không còn thấp nữa. Tôi nghĩ, nếu tiếp

347

tục đi vượt qua vùng núi cao có tên là “Tiểu đầu thống”,
“Đại đầu thống” theo như những nhà du lịch miêu tả thì tôi
e không nổi.

Hán thư, phần nói về Tây Vực có một đoạn miêu tả
tình trạng vượt đường qua núi Thông Lĩnh như sau: “Vượt
qua núi “Đại đầu thống”, “Tiểu đầu thống” ... trong người
hầu như lạnh ngắt, đầu đau váng vất, nôn mửa, không hề
thấy lừa ngựa ... Đường rất hẹp, khoảng chừng sáu, bảy tấc,
dài đến 30 dặm. Hai bên vách núi chênh vênh. Bên dưới là
vực sâu. Người qua lại phải dìu nhau từng bước, phải vịn
dây mà đi ...”

Huyền Trang cũng miêu tả núi Thông Lĩnh rất đúng:
“Có đến hàng trăm dây vách núi, hang sâu hiểm trở, băng
tuyết quanh năm, hơi lạnh thấu xương”. “Người đi qua đấy
chỉ thấy mây mù dày đặc, thương lữ vãng lai khổ sở gian
nan”.

Xem thế đủ thấy từ xưa đến nay, lữ khách trong ngoài
đều cho rằng con đường vượt qua núi Thông Lĩnh là con
đường đáng sợ, người không có óc mạo hiểm thường chỉ
đứng nhìn núi cao mà không dám đi tới.

Người hướng đạo chỉ cho tôi thấy con đường núi quanh
co trên dốc núi cao kia là con đường ngày xưa thông vãng
Taxkorcan. Đời nhà Thanh vẫn còn có khách thương qua
lại. Ngày nay đã được thay bằng đường công lộ men theo
sông Cái Tư. Con đường quốc tế này, sau khi ra khỏi biên
cảnh quốc gia sẽ qua Kashmir để đi Baishawa của nước

Pakistan.

Trên đường ngôi xe trở về Ca Thập, lòng tôi đầy xao
động không chỉ cảm thấy nuối tiếc mà còn cảm thấy xấu hổ
khi nghĩ đến những nhà thám hiểm cổ đại như Huyền
Trang, Huệ Siêu, Pháp Hiển ..

348

21. THÀNH PHỐ NƠI CỰC TÂY CỦA
TRUNG QUỐC - CA THẬP

Lần đầu tiên đến Tân Cương, nghe chúng bạn dùng bao
nhiêu lời tốt đẹp để nói về Ca Thập:

- Không đến Ca Thập, bạn chưa hiểu biết hết vẻ đẹp
của Tây Vực.

- Ca Thập là một đóa hoa của vùng Nam Cương.

- Dưới một của người Uygur, Ca Thập không kém gì
Urumqi ...

Thành trấn trọng yếu biên giới có sức hấp dẫn này dẫu
sao đối với người Tân Cương sống lâu năm ở Urumqi cũng
chỉ là một xứ sở xa vời. Từ Urumqi đi xe về Ca Thập phải
mất bảy ngày trên đoạn đường dài 1500 cây số. Do đó,
những chuyến bay nối liền Urumqi và Ca Thập luôn luôn
không sợ thiếu người.

CA THẬP, THÀNH PHỐ PHÍA TÂY ĐỐI DIỆN VỚI
ĐÔN HOÀNG, THÀNH PHỐ PHÍA ĐÔNG

Tôi men theo con đường tơ lụa ở bờ bắc của sa mạc
Taklamacan đi xe từng trạm để đến Ca Thập. Còn nếu từ
Đôn Hoàng men theo tuyến nam của con đường tơ lụa đi
dọc bờ nam của sa mạc Taklamacan cũng đến được Ca
Thập. Con đường giao thương giữa đông và tây ngày xưa
chạy ngang qua cả vùng Tân Cương rộng lớn mà đông là
Đôn Hoàng và tây là Ca Thập. Xa nhau mà lại đối nhau.
Đôn Hoàng có ải Ngọc Môn quan là cửa ngõ của Trung
Nguyên; Ca Thập nằm dưới núi Thông Lĩnh là yết hầu của
lòng chảo Tarim. Nếu đứng trên nóc nhà thế giới (chỉ cao

349

nguyên Pamia) mà nhìn ra xa thì đó là vùng bình nguyên
Trung Á rộng lớn.

Đi vào thị khu, cảnh phố xá phồn hoa khiến tôi vô cùng
kinh ngạc. Mặc dù đã nghe nói trước hàng loạt những lời
tán tụng Ca Thập, song tôi vẫn không ngờ thành phố biên
giới tây bộ của tổ quốc này lại giống như một nơi đô hội.
So với cơ ngơi hiện nay thì Ca Thập phồn vinh hơn Đôn
Hoàng rất nhiều, nhưng về mặt lịch sử có lẽ Đôn Hoàng
vượt xa Ca Thập.

Dọc hai bên đường phố chính của trung tâm thành phố
là nhà cửa kiến trúc theo kiểu phương Tây. Trên đường xe
buýt công cộng và các loại xe khác chạy như mắc cửi,
người người qua lại tấp nập. Trong các tủ kính của các hiệu
buôn hàng hóa trưng bày la liệt. Ấn tượng đầu tiên của tôi
là Ca Thập so với thành phố Y Ninh nổi tiếng ở Bắc Kinh
có phần vượt trội, chỉ có thua Urumqi một chút.

Nhà khách tọa lạc trên một khu phố yên tĩnh cách trung
tâm thị khu không xa lắm. Bước vào cổng nhà khách là một
công viên trồng toàn cây cảnh và hoa cỏ. Xen kẽ giữa hoa
viên, người ta bố trí những gian phòng có kiến trúc khác
nhau trông rất tân kỳ. Chúng tôi được dẫn vào một dãy tầng
trệt kiến trúc kiểu Âu có vẻ hơi xưa một chút. Gian phòng
rộng thoáng, những bức rèm cửa bằng nhung tím buông rủ
xuống đất. Kiểu bàn ghế và hoa văn trang trí mang phong
cách cổ điển châu Âu. Thảm trải nền dệt những đường hoa
văn mang nét điển hình của Tây Vực.

Có thể nói đây là nhà khách sang trọng nhất mà tôi
được trú ngụ suốt thời gian ở Tân Cương. Vị chủ nhà khách
cho biết đây vốn là lãnh sự quán của nước ngoài trước kia.
Trước giải phóng, ở Ca Thập có nhiều kiều dân ngoại quốc
buôn bán như Ấn Độ, Anh Quốc cư trú. Sau khi nước Trung
Quốc cách mạng được thành lập, họ lần lượt ra đi hết. Ngày

350

nay người nước ngoài đến Ca Thập du lịch, nghiên cứu,
ngày một nhiều, khu ngoại ô cần phải xây thêm nhiều nhà
khách mới đủ để đón tiếp.

Quảng trường Ngãi Đề Gã ở trung tâm thành phố khiến
người ta liên tưởng đến cảnh đường phố ở Trung Á. Trên
quảng trường có nhà thờ Thanh Chân với 400 năm lịch sử
nhắc nhở ta rằng có một thời Ca Thập đã từng là trung tâm
Hồi giáo lớn nhất ở phương Đông. Chung quanh quảng
trường là khu chợ buôn bán sầm uất. Hai bên đường người
ta dựng lên những căn lều đơn giản bày bán những mặt
hàng khác nhau như quần áo, mũ hoa, giày da, tạp hóa,
rương hòm ... Dạng thức hoa văn trên mũ hoa của người
Uygur Ô Ca Thập khác hẳn với dạng thức hoa văn ở
Tolophan, phần lớn đều rất trang nhã, dùng màu trắng làm
nền, thêu hoa bằng chỉ đen; một loại hoa văn khác rất điển
hình nữa đó là quả “ba đan mẫu”. “Ba đan mẫu”, tiếng Iran
tức là một loại hạnh đào, vốn được trong ở tây bộ châu Á,
vị ngọt như trái hạnh. Có một loại mũ hoa nữa thêu bằng
chỉ vàng trông rất hài hòa sang trọng thường thấy các bà
già hay đội. Dọc phố có quán trà mà trên nền của nó có một
bệ thấp phía trên trải thảm, ba mặt treo màn vải. Vài ba cụ
già ngồi xếp bằng trên tấm thảm quanh một ấm trà giữa
cảnh náo nhiệt, tĩnh tọa nhâm nhi hưởng cái thú của trà đạo.

Phụ nữ đi lại trên phố vẫn còn một ít người trùm khăn
che mặt không để cho người lạ trông thấy dung nhan của
mình. Quy luật cũ kỹ ấy của đạo Hồi rất ít thấy ở Tân
Cương và các thành phố khác. Một số đông phụ nữ trùm
khăn mặt đã được giải phóng, để cho mọi người thấy rõ
thần sắc, dung nhan của họ. Tôi để ý thấy một cặp vợ chồng
trung niên trên đường phố, họ vẫn nói cười đùa giỡn như
thường. Người phụ nữ kia tóc nâu, mắt xanh, mặt mày
thanh tú, hình dáng cân đối cử chỉ đoan trang khiến tôi liên
tưởng đến truyền thuyết về người đẹp năm xưa của Ca

351

Thập, đó là nàng “Hương phi” được vua Càn Long nhà
Thanh rất sủng ái.

MỘ HƯƠNG NẰM TRONG ĐÁM CÂY RỢP BÓNG

Mộ Hương phi tọa lạc tại một thôn trang cách Ca Thập
chừng 10 cây số là một danh thắng mà ai tới đây cũng phải
đi thăm. Chung quanh lăng mộ là cây xanh cao vút, có suối
nước róc rách, đó là một nơi thanh tịnh u nhã. Bước vào
cổng lớn của viên lăng, trước mắt sừng sững một kiến trúc
tráng lệ theo phong cách Trung Á. Tôi dừng bước nhìn
ngắm từ xa, bụng thầm kinh ngạc tán thưởng: “Ồ, thật là
một kiến trúc tuyệt vời! Đúng là một nghệ thuật tinh xảo,
siêu phàm!” Ở Ha Mật, tôi đã xem lăng mộ vua Ha Mật và
ở Y Lê tôi cũng đã thấy làng mộ của Ngột-hắc-lỗ-thiếp-
mộc-nhi, nhưng so với lăng mộ Hương phi đang hiện ra
trước mắt thì hoàn toàn không thể so sánh. Bắt đầu xây
dựng từ thế kỷ XVII theo kiểu cổ mộ Hồi giáo, ngôi mộ
này được bảo quản rất hoàn hảo.

Toàn bộ kiến trúc là một hình vuông, bốn góc có bốn
tháp viên trụ cao lớn vây quanh tòa mái vòm ở giữa. Đường
nét kiến trúc ngay ngắn, nhưng mềm mại, các đường thẳng
và đường cong kết hợp hài hòa tạo ra vô số đồ hình kỹ hà
học, cân xứng mà trang trọng. Trên khung cổng hình chữ
nhật và trên các tháp viên trụ có chạm trổ hoa văn rất tinh
tế, vừa nghiêm trang, vừa xinh đẹp. Khắp nơi, trên những
bức tường, trụ tháp và mái vòm lấp lánh ánh sáng gạch lưu
ly ngũ sắc như khoác lên mình khu lăng mộ một chiếc áo
nhiều màu hoa lệ, xinh đẹp. Nếu bảo lăng mộ hoàng hậu
Ấn Độ bằng đá cẩm thạch trắng trong cho chúng ta cảm
giác thanh khiết thì màu sắc bên ngoài của khu lăng mộ
Hương phi đem lại cho chúng ta một thứ tình cảm ôn nhu,
gần gũi.

352

Tôi đi chậm rãi vào cổng chính của lăng mộ liền bị hấp
dẫn ngay bởi lối trang trí hoa văn trang nhã tinh tế chung
quanh bốn trụ cổng. Dưới cùng dùng màu lam nhạt là
chính, ở giữa màu lục non và hồng nhạt, còn trên cùng dùng
đường kẻ chỉ màu trắng bạc vẽ cỏ cây hoa lá. Tôi mơ hồ
cảm thấy trên lối vào này như treo một bức màn xinh đẹp
mà trang nhã, bên trong là một người đẹp tuyệt trần đã cách
biệt thế gian.

Đang khi tôi mơ màng tưởng như vậy thì hướng dẫn
viên người Uygur Ngãi Sơn đã mở chiếc khóa đồng to
tướng dẫn tôi đi vào thế giới lăng mộ đầy thần bí và tĩnh
mịch. Trên chiếc khóa đồng có khắc chữ Ả Rập ghi rõ niên
lịch Hồi giáo năm chế tạo 1294, tức là năm 1877 CN.

Đại sảnh trong lăng cao rộng, vách tường quét vôi
trắng trông giản dị, tinh khiết. Trên bệ cao là mộ phần lớn
nhỏ nằm ngang dọc tổng cộng 72 cái, tất cả đều phủ rèm
vải màu. Ngài Sơn chỉ cho tôi một ngôi mộ tương đối nhỏ
nằm ở hàng sau cùng và bảo đó là mộ phần của Hương phi,
bên cạnh là nơi an nghỉ của thân mẫu, tổ phụ, cao tằng, cố
tổ của Hương phi, cộng năm đời họ hàng nam nữ.

Về nàng Hương phi tôi đã được nghe rất nhiều truyền
thuyết, nhưng lại rất khác nhau, nay đến chính quê hương
của nàng, điều trước tiên là xem cách giải thích của chính
dòng họ nàng nói ra. Hướng dẫn viên Ngãi Sơn trịnh trọng
giới thiệu thân thế liên quan đến Hương phi theo tục truyền.

Anh nói, Hương phi vốn tên là Mại mộc nhiệt Ngãi tư
mộc, cũng có một tên nữa là Y bá nhĩ Hãn. “Y bá nhĩ” có
nghĩa là thơm, vì lúc sánh tiền, hàng năm đến mùa xuân
hoa nở, nàng thích cài hoa táo trên người, hoa ngát hương
thơm khiến ai cũng ưa thích, do đó mà từ nhỏ đã được gọi
là “công chúa của hương hoa”. Hương phi là con gái của
một đầu mục tôn giáo ở Ca Thập, sinh năm 1734. Năm

353

1756, hai mươi hai tuổi được tuyển nạp về kinh làm cung
phi đời Càn Long. Bấy giờ gia tộc Hương phi đưa ra ba
điều kiện:

1. Được duy trì tập quán của người Uygur trong sinh
hoạt ở cung cấm.

2. Được người anh đưa tiễn về kinh.

3. Được đưa di thể về Ca Thập an táng cùng với tổ tiên
sau khi chết.

Ngãi Sơn nói Hương phi mất vào năm 1763, lúc nàng
mới 29 tuổi.

Quả nhiên Càn Long giữ lời hứa, phái 120 binh sĩ hộ
tống thi thể của nàng về đến Ca Thập an táng tại khu lăng
mộ này. Hiện nay còn lại một cái kiệu bằng gỗ, theo người
ta nói thì chiếc kiệu ấy dùng để đưa linh cửu Hương phi về
cố quận.

Ngãi Sơn nói, người Hán gọi khu viên lăng này là mộ
Hương phi, nhưng người Uygur lại cho là mộ của “A bá
Hòa trác”, bởi vì cha của A bá Hòa trác là Mã mộc đặc
Ngọc tổ phủ (người này là ông cao của Hương phi) là người
đã xây nên khu lăng mộ này vào năm 1640, và từ đó về sau
con cháu năm đời của gia tộc đều an táng tại đây.

Nghe Ngãi Sơn nói xong, tôi cảm thấy mối quan hệ gia
tộc của Hương phi có thể đáng tin, nhưng vẫn còn hai điều
nghi vấn: thứ nhất, năm mất của Hương phi; thứ hai, nơi
chôn cất chính xác thi thể của Hương phi. Mấy năm gần
đây, căn cứ việc nghiên cứu hồ sơ tài liệu về triều Thanh,
nhiều nhà học giả có cách nhìn nhận hai điều nghi vấn nói
trên khác với những gì Ngãi Sơn trình bày.

354

TRONG MỘ HƯƠNG PHI KHÔNG CÓ DI THỂ
HUƠNG PHI

Ở nội địa, từ thời cuối Thanh đầu Dân Quốc có lưu
truyền một câu chuyện có tính bi kịch về nàng Hương phi,
và có người đã viết thành một vở kinh kịch đem công diễn
gọi là: “Hận Hương phi”. Hàng loạt những lời dã sử được
ghi chép. Trong tập Thanh đại dật văn (những chuyện tản
mạn đời Thanh) nói tương đối rõ. Câu chuyện này so với
những gì Ngãi Sơn nói thì khác nhau rất xa. Đại ý như thế

này:

Vua Càn Long nhà Thanh nghe danh Hương phi, trong
lúc sai tướng quân Triệu Huệ đi bình định phản loạn ở Ca
Thập có bảo ông lưu ý tìm nàng. Triệu Huệ viễn chinh trở
về, quả nhiên có cả Hương phi cùng theo, nàng được đưa
rước cẩn thận về kinh thành rồi nhập cung. Vua Càn Long
rất vui. Nhưng Hương phi vẫn thờ ơ lãnh đạm khi nhìn thấy
vua, hỏi han trăm điều nàng vẫn lặng thinh không đáp xem
ra rất khó gần. Có một cung nhân khuyến dụ, nàng rút ra từ
tay áo một con dao nhọn và nói:

- Nước mất nhà tan, tôi đã quyết tâm muốn chết, nhưng
không thể chết vô duyên. Nếu hoàng thượng cưỡng bức tôi,
ắt hẳn tôi sẽ báo thù!

Thái hậu khuyên nhà vua:

- Chí của phi không thể khuất phục được, chi bằng bệ
hạ hoặc nên cho nàng hồi hương, hoặc ban cho nàng được
chết để thỏa ý nguyện của nàng.

Nhà vua không nở hạ quyết tâm. Mấy năm sau, thái
hậu theo nhà vua xuất cung, cho- gọi nàng đến rồi dùng lời
mềm mỏng ban cho nàng được chết.

Có một điểm cần lưu ý là trong câu chuyện đầy bi tráng
của Hương phi được lưu truyền ở Trung Nguyên hoàn toàn

355

không có chi tiết đưa di thể ra nàng về an táng ở quê nhà
Ca Thập.

Tôi thăm khu mộ xong trở về nhà khách cùng Lý Ngẫu
Xuân bàn bạc về những gì liên quan đến Hương phi, rất
muốn được nghe cách lý giải của nhà khảo cổ học. Vị học
giả này vẫn giữ thái độ khoa học đúng mực, trước hết khẳng
định khu viên lăng của gia tộc Hương phi là một tòa kiến
trúc cổ tuyệt đẹp rất ít thấy ở Tân Cương. Trước giải phóng,
nhà xiêu vách đổ chẳng ai lưu tâm. Sau khi nước Trung
Quốc cách mạng mới được kiến lập, nhiều lần xuất ngân
khoản lớn để duy tu bảo dưỡng mới có được diện mạo hoàn
hảo như ngày hôm nay và đã trở thành thắng tích đáng chú
ý trên con đường tơ lụa.

Lý Ngẫu Xuân nói:

- Hương phi không được chôn trong ngôi mộ của
Hương phi hoàn toàn không ảnh hưởng đến giá trị của kiến
trúc này, trên thực tế đồng bào người Uygur trước sau vẫn
gọi đây là khu mộ của A bá Hòa trát. Theo tôi, trong khu
lăng mộ này an táng năm đời con cháu bắt đầu từ Mã mộc
đặc Ngọc tố phủ cho nên nếu gọi mộ của Mã mộc trặc Ngọc
tố phủ Mã trát thì cũng chẳng hề gì, đôi khi lại còn hợp lý
hơn.

Tôi nói:

- Thế là anh cũng cho rằng di thể của Hương phi không
được đưa về Ca Thập, nhưng anh chàng hướng dẫn viên
Ngãi Sơn lại xác nhận rằng chiếc kiệu gỗ kia là bằng chứng
đưa linh cữu của Hương phi về Ca Thập. Anh là một nhà
khảo cổ học, anh nghĩ sao về việc này?

Ông cười, nói:

- Không cần phải có con mắt của nhà khảo cổ học cũng
có thể nhận ra chiếc kiệu gỗ kia không phải là thứ thật.

356

Ông nói tiếp, vào năm 1923 trong Tân Cương du
ký của Tạ Bân đã chỉ ra rằng chiếc kiệu ấy “được chế tác
thô sơ, trang trí sơ sài, tương truyền rằng do Càn Long ban
tặng ... Vào thời kỳ toàn thịnh của đời vua Cao Tông (tức
Càn Long), không thể tin được rằng nhà vua lại ban tặng
cho ái phi của mình một tặng phẩm thô sơ như vậy, thật
khó tin”. Có lẽ sau khi xem xong hiện vật, ông mới nói ra
điều ấy.

Tôi lại hỏi:

- Rốt cuộc, Hương phi được chôn cất ở đâu?

Lý Ngẫu Xuân nói:

- Thật khó nói cho cùng được? Có một vài biên khảo
của tác giả Tiêu Chi Hưng nhan đề “Phát hiện tài liệu mới
về Hương phi” đăng trên Tập san Văn vật số tháng hai năm
1979 đã tường thuật rất rõ. Tôi đồng ý quan điểm của bài
biên khảo này.

Sau này tôi đọc kỹ bài “Phát hiện tài liệu mới về Hương
phi và các bài văn khác của Tiêu Chi Hưng liên quan đến
vấn đề này và từ trong mớ rối rắm của sử liệu cũng tìm ra
được một số manh mối.

CUỐI CÙNG HƯƠNG PHI ĐƯỢC CHÔN CẤT Ở
NƠI NÀO?

Các học giả căn cứ vào các hồ sơ tài liệu mới tìm thấy
về triều Thanh để đoán định thì Hương phi trong truyền
thuyết dân gian gọi là Dung phi, vốn người Uygur được
vua Càn Long tuyển nạp.

Chính sử: Thanh sử cáo - Hậu phi liệt truyện (bản thảo
sử triều Thanh, phần truyện về các hậu phi) có ghi: trong
số cung phi của Càn Long có “Dung phi, họ Hòa Trác, theo

357

đạo Hồi”. Người con gái họ Hòa Trác người Uygur này
chẳng phải là nàng “Y bá nhĩ Hãn” đó sao? Nhưng chỉ một
bằng cớ đó thì cũng chưa thể khẳng định được. Gần đây,
theo sự phát hiện trong các hồ sơ tài liệu cung đình nhà
Thanh, trong danh sách ban thưởng lễ phẩm của triều đình
cho thân quyến Hương phi có “Đỗ Nhĩ Đô”, “vợ Đồ Nhĩ
Đô” và “Bá Nhĩ Tát” ... Căn cứ phổ hệ gia tộc Hương phi
đã tu chính ở Ca Thập thì Đồ Nhĩ Đô là anh ruột của Y bá
nhĩ Hãn Hương phi, còn Bá Nhĩ Tát là chú của nàng. Sự
phát hiện mới mẻ này khiến cho nhiều học giả có cơ sở để
đoán định rằng Hương phi trong truyền thuyết dân gian và
Dung phi ghi chép trong chính sử chỉ là một.

Cũng cần để ý một điều rằng ở nội địa (chỉ khu vực
Trung Nguyên thuộc dân tộc Hán) cũng có một Hương phi
truyền thuyết là vợ của một đầu mục tôn giáo làm phản ở
Ca Thập. Câu chuyện này chẳng qua chỉ là một chuyện
hoang đường. Theo sử liệu ghi chép thì thân quyến trực hệ
của Hương phi như người anh Đồ Nhĩ Đô chính là người
có công lớn giúp triều đình nhà Thanh bình định bọn phản
loạn. Năm 1759, nhân Đồ Nhĩ Đô đánh giặc lập công to
được triều đình triệu về kinh và được phong “Phụ quốc
công”. Năm đó Dung phi cùng theo người anh đến Bắc
Kinh, ít lâu sau được tuyển làm cung phi. Căn cứ tài liệu
cung đình nhà Thanh, Dung phi vừa nhập cung được phong
làm quý nhân, và vì là con gái của họ Hòa Trác nên gọi là
Hòa quý nhân, tiếp sau đó được thăng là “tần” (tức một
cung phi được vua sủng ái), rồi được tấn phong là “phi”.
Văn kiện trên còn nói rõ Dung phi từng được vinh thăng
đều căn cứ vào ý chỉ của hoàng thái hậu.

Tại cung đình, Hương phi ở vào địa vị đặc biệt, về sau,
trong số những cung phi của Càn Long, nàng được xếp vào
hàng thứ ba. Tập quán dân tộc quê hương của nàng được
đặc biệt tôn trọng, nàng vẫn luôn phục sức theo kiểu dân

358

tộc, thức ăn và vua ban tặng thường là thịt dê, gà hoặc vịt,
không bao giờ có thịt lợn.

Thế nhưng lúc chết Hương phi được chôn cất tại nơi
nào? Trước ngày mở màn cuộc kháng chiến chống Nhật,
một giáo sư đại học Bắc Kinh có viết bài “Hương phi khảo
thực”, trong đó nói rõ “vào năm 1913 hay gì đó có người
đến Đông lăng (một trong số khu lăng mộ của nhà Thanh
tại huyện Tuân Hóa, tỉnh Hà Bắc) để nhìn ngắm, thăm thú
lăng tẩm; đến một nơi mà người giữ lăng gọi là mộ Hương
phi có ghi trên mộ chí là lăng tẩm Dung phi”. Các năm
1913, 1914 tuy nền thống trị của nhà Thanh đã sụp đổ,
nhưng người giữ mộ ở Đông lăng vẫn là người giữ mộ xưa
nay của hoàng tộc nhà Thanh, họ nói mộ Dung phi chính là
mộ Hương phi là điều có thể tin được. Ngày nay cũng còn
một số tài liệu văn kiện chứng thực Hương phi tức là Dung
phi. Cho nên Hương phi an táng tại khu Đông lăng nhà
Thanh là hoàn toàn đáng tin cậy.

Gần đây, sở bảo tồn văn vật khu Đông lăng nhà Thanh
đã thực hiện một số điều tra về mộ Dung phi, người ta đã
tìm thấy phần trước và bên quan tài của Dung phi có mấy
chữ vàng viết tay bằng tiếng Ả Rập có thể nhận ra dạng chữ
với nghĩa “Lấy danh nghĩa của chân chúa ...” Điều này càng
chứng tỏ ngôi mộ này chính là mộ của Dung phi.

Hương phi trong truyền thuyết dân gian được hoàng
thái hậu ban cho được chết (tự tử) vào năm 29 tuổi, nhưng
trên thực tế, sau khi hoàng thái hậu chết mười một năm,
Hương phi mới qua đời tức vào năm 1788, thọ 55 tuổi.
Trong mộ Dung phi ở Đông lăng người ta phát hiện ra một
bím tóc dài, mà trong mớ tóc màu vàng mịn ấy có những
sợi tóc bạc, rõ ràng đây là vật chứng có sức thuyết phục

cao.

359

Tôi cảm thấy hứng thú phát hiện ra rằng qua sử liệu
còn nói đến người anh của Hương phi là Đồ Nhĩ Đô đã từng
được triều đình nhà Thanh ban tặng một dinh cơ đồ sộ ở
Bắc Kinh, tọa lạc tại số 46 đông nội thành, đúng là cùng
một ngõ phố với gia đình nhà tôi. Khi viết đến, đây, tôi chợt
nghĩ ra rằng anh em của nàng “Y bá như Hãn” đã từng là
hàng xóm của mình, tôi đành dừng bút ngồi suy tưởng.
Nghe nói ngõ phố này quả là đã có mấy nả là vương phủ
của triều đình nhà Thanh trước kia, nhưng không biết nơi
nào là trú sở của người hàng xóm nổi tiếng của tôi.

MỘT TRONG NHỮNG TRUNG TÂM HỒI GIÁO Ở
PHƯƠNG ĐÔNG CỔ ĐẠI

Vùng phụ cận Ca Thập còn có mấy di chỉ cổ thành
đáng tham quan. Lý Ngẫu Xuân muốn đi khảo sát khu cổ
thành Ha Nại cách 30 cây số về phía đông, tôi vui vẻ đi

theo.

Rời khỏi khu phố thị, chúng tôi đi vào vùng nông thôn.
Mỗi lần xe đi qua, đường đất bụi mù tung bay. Chiếc Jeep
của chúng tôi không thể không giữ khoảng cách nhất định
với xe của Lý Ngẫu Xuân đi trước. Hai bên đường bóng
cây rậm rạp, bên dưới là mương nước chảy ào ào. Nhà dân
cái này tiếp cái kia, chỉnh tề ngay ngắn, trong bức tường
rào thấp của mỗi nhà đều có vườn cây ăn trái, có trụ dàn
nho. Rất đông trẻ con đùa nghịch trong các mương nước
trước nhà. Xem ra nhân khẩu của vùng nông thôn này có
vẻ đông đúc, nguồn nước ở đây cũng rất dồi dào.

Điều này khiến tôi nghĩ đến nhà du hành người ý là
Marco Polo (1254 - 1324) đã miêu tả về Ca Thập trong du
ký nổi tiếng của mình. ông theo con đường tơ lụa thẳng tiến
về phía đông, qua Kashmir, vượt cao nguyên Pamia để vào

360

nội địa Trung Quốc, trạm đầu tiên ông dừng chân là Ca
Thập, ông viết như sau:

“Xưa kia Ca Thập Hát Nhĩ là một quốc gia ... trong
nước có nhiều thành quách, thôn xóm, nhưng lớn nhất và
đẹp nhất là thành Ca Thập Hát Nhĩ ... Ở đấy có vườn cây
cảnh rất đẹp, có vườn nho sum suê, sản nghiệp to lớn, sản
xuất bông vải, rất nhiều nhà buôn xuất thân từ đó đi khắp
thế giới kinh doanh buôn bán ...”

Xe chạy đến thôn Bá thập thác hồ la khắc, phía ngoài
thôn là một cánh đồng rộng mênh mông, ở giữa nổi lên một
ngôi thành nhỏ hình vuông, tường thành vẫn còn dấu tích.
Lý Ngẫu Xuân dẫn mọi người đi vào đo đạc, xem xét. Tôi
sải chân bước dọc tường thành, mỗi bên ước chừng tám
mươi bước. Trong thành khắp nơi là những mảnh sành màu
đỏ, tôi cúi nhặt một mảnh ngói lưu ly màu lục đã bị ôxy
hóa.

Tôi và Lý Ngẫu Xuân đứng trên bờ tường đất nhìn ra
tứ phía, bình nguyên bao la nhìn hút tầm mắt, ông lấy tay
vạch một vòng rồi nói:

- Di chỉ này cũng khá rộng đấy! Dưới chân chúng ta là
một tòa thành nhỏ hình vuông, người ở đây gọi là thành Ha
Nại, có nghĩa là hoàng cung. Theo vị trí mà xét thì quả
giống hoàng thành, tức là thành ở trong thành, cũng giống
như kiểu tử cấm thành ở thành Bắc Kinh vậy.

Tôi hỏi:

- Di chỉ lớn như vậy thì cổ thành này là gì? Xây dựng
vào triều đại nào?

Ông nói:

- Theo những mảnh gạch ngói nung hiện có trên mặt
đất mà xét thì hầu như cổ thành này thuộc đời nhà Đường

361

hoặc nhà Tống, tức khoảng thế kỷ thứ VII đến thế kỷ thứ
XIII. Nhà khảo cổ học Hoàng Văn Bật đã từng thu nhặt ở
đây những đồng tiền không có lỗ và trên hai mặt có chữ Ả
Rập. Theo đó, ông ta suy đoán đây chính là thành đô của
vương triều Kalahan.

Vương triều Kalahan là chính quyền được thành lập
bởi người Đột Quyết và người Hồi Hột vào khoảng thế kỷ
thứ X, cương vực bao gồm vùng đông và nam hồ Barcashi
và vùng tây bộ Tân Cương ngày nay. Các thủ lĩnh của
vương triều Kalahan thường chứng tỏ mình là người Trung
Quốc. Đầu họ đội mũ có dòng chữ đề: “Đào hoa Thạch
Hãn” tức có nghĩa là “vua Trung Quốc”. Vương triều này
có hai trung tâm chính trị, một là Bát la Sa cổn mà sử sách
Trung Quốc gọi là Bùi La tướng quân, và một là Ca Thập
Hát Nhĩ.

Vương triều Kalahan là vương triều đầu tiên theo tín
ngưỡng đạo Hồi. Bắt đầu từ thế kỷ thứ X, các thủ lĩnh của
vương triều nhiều lần dùng bạo lực cưỡng ép truyền bá đạo

Hồi và đôi khi còn tiến hành những cuộc “thánh
chiến”. Ca Thập Hát Nhĩ vừa là trung tâm chính trị của
vương triều Kalahan, vừa là một trong những trung tâm Hồi
giáo lớn nhất ở Tây Vực. Năm tháng trôi qua, nay tuy
không còn như xưa nữa, song những ảnh hưởng của lịch sử
vẫn còn lưu truyền mãi đến tận ngày nay.

DI CHỈ CỔ THÀNH ĐỜI ĐƯỜNG

Lý Ngẫu Xuân nói:

- Theo ý tôi thì di chỉ này có thể là trấn Sơ Lặc của đời
nhà Đường. Căn cứ chính để nói như vậy là do vị trí địa lý
của nó.

362

Qua người phiên dịch, ông nói chuyện với thôn dân
người Uygur về con sông bao quanh di chỉ và ông đem nó
đối chứng với bản đồ phác thảo trong bút ký trước đây của

ông.

Sông Khắc Tư Lặc chảy từ phía tây lại, trước khi qua
di chỉ cổ thành này phân ra một nhánh có tên là sông Kháp
hách mã hách; hai con sông chảy vòng đến phía đông của
di chỉ thì nhập lại làm một và có tên là sông Ca Thập Hát
Nhĩ rồi chứ thẳng theo hướng Ba Sở.

Tân Đường thư, phần địa chí, mục trấn Sơ Lặc có nói:
“Sông Xích Hà (tức sông Khắc Tư Lặc) bắt nguồn từ núi
Cát La ở phía tây trấn Sơ Lặc (tức Ô lỗ khắc kháp đề), chảy
đến phía tây của thành trấn thì phân nhánh rồi tụ hội ở phía
đông bắc của thành trấn.

Đối chiếu hai tài liệu với nhau thì cổ thành Ha Nại phù
hợp với địa điểm mà Tân Đường thư nói về vị trí của trấn
Sơ Lặc.

Từ đời Hán đến đời Tống, vùng Ca Thập thường được
sử sách gọi là nước Sơ Lặc. Đời Đường đặt làm trấn Sơ Lặc
cùng với trấn Quy Tư, trấn Yên Kỳ, trấn Toái Diệp tổng
xưng “Tây Vực đại trấn” (bốn trấn lớn ở Tây Vực). Hán
thư gọi là nước Sơ Lặc “có phố xá, tây giáp các nước Đại
Nguyệt Thị, Đại Oản, Khang Cự Đạo”. Xem thế có thể thấy
trước khi Trương Khiên mở đường thông Tây Vực thì Sơ
Lặc vốn nằm trên con đường thông thương trọng yếu của
các nước ở phía tây của núi Thông Lĩnh, là một trong
những trung tâm mậu dịch đông tây.

Những nhà cai trị của các triều đại ở Trung Quốc đều
luôn luôn coi trọng vị trí của Sơ Lặc. Thời Đông Hán, Ban
Siêu, người có công trong việc thống nhất Tây Vực đã
nhiều năm trú đóng ở Sơ Lặc và coi đây là cứ điểm triển

363

khai những cuộc chiến đấu qua lại với người Hung Nô xâm
nhập đánh phá Tây Vực.

Ban Siêu là một vị tướng văn võ song toàn, đa mưu túc
trí, thường ít dùng binh lực thủ thắng mà dùng uy đức để
thu phục nhân tâm, ông rất có uy vọng ở Tây Vực. Về sau,
hoàng đế Đông Hán triệu Ban Siêu về nước, tướng Sơ Lặc
là Lê Yếm nói:

- Sứ nhà Hán đã bỏ tôi, chúng tôi ắt bị nước Quy Tư
tiêu diệt, lòng tôi không nỡ nhìn sứ nhà Hán ra đi.

Nói xong lấy đao tự vẫn. Ban Siêu về đến nước Vu
Điền, từ các vương hầu trở xuống ai nấy cũng đều khóc và
nói:

- Chúng tôi xem Hán sứ như cha mẹ, thành khẩn mong
người đừng đi!

Rồi cùng nhau ôm chân ngựa của Ban Siêu ngăn cản.
Ban Siêu rất cảm động, cấp báo về triều đình sự chuyện này
và được phê chuẩn cho trở lại Sơ Lặc. Về sau ông xuất quân
từ Sơ Lặc liên hiệp với các nước đánh Quy Tư, Yên Kỳ đẩy
lui được thế lực của Hung Nô, hoàn thành nghiệp lớn trong
việc thống nhất Tây Vực.

VÉN TẤM KHĂN CHE MẶT CỦA CÔ DÂU

Trước đêm rời Ca Thập, có người thông báo hiện có
một đám cưới của đôi thanh niên nam nữ người Uygur, hỏi
xem chúng tôi có tham dự cho biết không. Thật là một cơ
hội tốt, làm sao bỏ qua được!

Chúng tôi bôn ba băng đường vượt ngõ để vào được
sân vườn của gia đình có đám cưới. Từ ngoài cổng, chúng
tôi đã nghe tiếng nhạc vui tươi khởi tấu, bên trong tiếng
người rộn rã. Khi bước vào sân, chú rể ăn mặc chỉnh tề ra

364

đón, dùng mấy câu tiếng Hán đơn giản tỏ ý hoan hỷ đón
tiếp. Chú rể tên là Aniwa, hai mươi hai tuổi, là công nhân
chế bản của tờ nhật báo Ca Thập, cô dâu tên là Atalait, cùng
tuổi với chú rể là giáo viên âm nhạc thuộc phân khoa học
viện nghệ thuật dân tộc trung ương tại Bắc Kinh.

Tôi hỏi ngay chú rể:

- Anh chị kết hôn do người mai mối hay tự do yêu
nhau?

Anh cười e thẹn, nói:

- Tự tìm hiểu làm quen.

Tôi nhìn quanh không thấy cô dâu, bèn hỏi:

- Cô dâu hiện ở đâu, có thể ngắm một chút được không
?

Chú rể có vẻ lúng túng, khó nói, xoa tay vẻ luống
cuống, im lặng. Cũng may đám bạn anh đến kịp lúc gỡ rối,
họ bảo:

- Xin hãy đợi một lát nữa, chưa đến lúc!

Hôn lễ của người Uygur được tiến hành trong hai ngày.

Ngày thứ nhất, nhà gái mở tiệc mời bà con, bạn bè nhà
trai đến dự, những vật dụng như gạo, mì, trứng, thịt, dầu,
đường ... đều do nhà trai dự trù đưa tới. Chiều tối, chú rể
cùng với mẹ, chị em, bạn bè do một ban nhạc nhỏ dẫn
đường đến nhà gái rước dâu. Trên đường đi, bạn bè chú rể
luôn miệng nói lớn “A la lua! A Khắc Tô la lua!” có nghĩa
là ‘Chúc mừng chuyện vui!”.

Khi cô dâu rời nhà mẹ và bước vào nhà bà gia đều phải
khóc thành tiếng. Nghi thức kết hôn do A Oanh chủ trì,
người này đọc một đoạn kinh Koran, sau đó bẻ đôi một
chiếc bánh lễ đưa cho chú rể và cô dâu cùng ăn, tiếp theo

365

hỏi hai người có tự nguyện lấy nhau hay không? Sau khi
cùng đáp “đồng ý”, cuộc hôn nhân đến đây mới chính thức
kết thúc. Sáng sớm ngày thứ hai, nhà gái đưa bữa ăn đến.
Buổi chiều, nhà trai mở tiệc mời bà con, bạn bè họ nhà gái.
Lúc này, cô dâu bên cạnh người bạn gái phù dâu, đội tấm
khăn che mặt, ngồi ngay ngắn trong phòng riêng không
được nhìn mặt khách đàn ông, con trai.

Ngay từ lúc đầu mới đến tham dự buổi hôn lễ, chúng
tôi đã mạo muội đề nghị xem mặt cô dâu, rõ ràng là không
đúng lúc. Họ mời chúng tôi vào nhà ngồi uống nước và nói
rằng sắp làm lễ vén khăn che mặt của cô dâu.

Trong phòng trải thảm, đám khách phụ nữ ngồi trên
chiếu đang thỏ thẻ chuyện trò. Chúng tôi được dẫn vào một
gian phòng, trên sập cạnh lò sưởi, đám thanh niên bạn của
chú rể ngồi chật cả. ớ đây, đám bạn trẻ theo tiếng đàn cùng
ca hát, rồi người này tiếp người kia biểu diễn những màn
độc vũ, không khí thật là náo nhiệt.

Họ nhảy say sưa đến độ khiến cho đám khách phụ nữ
nhìn qua vuông cửa sổ với ánh mắt đầy thán phục. Tôi cảm
thấy bất mãn trong lòng, tự hỏi tại sao những cô gái ngoài
kia không được nhảy múa? Phải chăng họ còn bị ước thúc
bởi lễ giáo phong kiến chăng?

Lát sau, tân khách vào phòng ăn. Mọi người lấn lượt
lấy nước đổ vào chiếc thau đồng rửa tay, chuẩn bị dùng tay
ăn món cơm om với thịt dê. Tôi muốn dùng nĩa, nhưng anh
bạn trẻ ngồi cạnh tôi bảo phải ăn bằng tay mới có hương
vị.

Tôi bắt chước cách ăn của anh bạn trẻ ấy. Dùng ba đầu
ngón tay của bàn tay phải nhón một nhúm cơm và bỏ vào
miệng, khi đưa tay ra khỏi miệng còn phải gọn gàng đừng
để cơm rơi vãi. Mọi người thấy tôi ăn uống vụng về như
vậy, ai nấy cũng bật cười. Theo luật của đạo Hồi không

366

được uống rượu, nhưng đám thanh niên bạn bè của chú rể
bỗng nổi hứng không nhịn được bèn rót một tô rượu trắng
luân phiên nhau uống, trông rất khoái trá, thú vị.

Sau bữa tiệc là cử hành lễ vén khăn che mặt cô dâu.
Đám bạn trai của chú rể xúm quanh anh kẻo đến phòng cô
dâu, vừa đi vừa reo hò có ý như muốn báo cho cô dâu biết
có người tới. Vào đến cửa, người thì đẩy anh vào, người thì
kẻo anh ra. Điều này chẳng qua chỉ cốt cho vui, tạo ra
không khí náo nhiệt mà thôi. Lúc ấy trong phòng cô dâu
cũng huyên náo cả lên. Em gái chú rể, cùng trong tiếng vỗ
tay múa một đường rất điệu nghệ, nhẹ nhàng vén tấm khăn
che mặt cô dâu. Chúng tôi chen chúc nhau trong đám đông
tranh nhau nhìn ngắm cô dâu, cô rõ là một người mắt
phượng mày ngài, mũi cao miệng nhỏ, da dẻ non nẻo, đôi
má hồng hào, đúng là một cô dâu xinh đẹp của mẫu người
Uygur điển hình.

367

22. TỪ CA THẬP ĐẾN HÒA ĐIỀN

Ngành thủ công nghiệp dân tộc của Ca Thập đã nổi
tiếng xưa nay ở Tân Cương. Sở công nghiệp nhẹ thành phố
phái một thông dịch viên người Uygur làm hướng dẫn viên
cho chúng tôi. Cô tên là Axia. Cô có đôi mắt rất xanh, long
lanh như hai giọt nước. Huyền Trang trong Đại Đường Tây
Vực kýđã từng nói người nước Khư Sa (tức Ca Thập) có
“đôi mắt xanh” quả rất đúng. Axia từ nhỏ học tập ở trường
người Hán nên nói tiếng Hán rất lưu loát, cô điềm đạm, ăn
mặc trang nhã, đúng là một nữ cán bộ người Uygur có giáo
dục.

MŨ HOA, NHẠC CỤ, DAO CẠO VÀ CÁC ĐẶC SẢN
KHÁC

Trước hết cô dẫn chúng tôi đến xưởng thêu, ở đây sản
xuất mũ hoa, khàn bàn, khăn ăn ... Mặt hàng mũ hoa khá
nhiều so với số hàng bày bán trên các phố, ngoài người
Uygur sử dụng, mũ hoa được người Kirghiz, người
Tadjikistan ưa chuộng. Trong xưởng hầu như toàn là phụ
nữ. Axia lặng lẽ chỉ cho tôi một nữ công nhân người Uygur
bên máy khâu, nói nhỏ:

- Ông xem, cô ta có giống Liza không?

Liza là vai nữ chính trong bộ phim ấn Độ có tên là “Kẻ
lang bạc”. Bộ phim này đã có một thời trở thành mốt ở Tân
Cương, lớp trẻ đặc biệt ưa thích bài hát trong phim bởi lẽ
khúc điệu của nó rất gần với âm nhạc của người Uygur.
Phải rồi, nhờ cô Axia nhắc tôi mới nhận ra cô công nhân
này có khuôn mặt rất giống những cô gái da trắng ở bắc Ấn
Độ. Ca Thập cùng với các nước lân cận như Ấn Độ,
Pakistan, từ xưa đến nay đã từng giao lưu qua lại với nhau

368

nên có sự pha trộn huyết tộc cũng là một hiện tượng tự
nhiên. Phụ nữ Uygur khác với phụ nữ người Hán hiện đại
... Đến nay họ vẫn còn thích đeo đồ trang sức, bất kể già trẻ
hầu như ai cũng đeo bông tai, nhẫn, dây chuyền. Trong
xưởng có một ông lão râu dài hướng dẫn lớp thợ trẻ dùng
sợi đồng, sợi bạc chế tạo hàng loạt những đồ trang sức tinh
xảo. Một đôi bông tai khảm ngọc túy hoặc lưu ly hồng đáng
giá từ năm mươi đến một trăm lười nhân dân tệ. Cho dù đồ
trang sức đáng giá một hai tháng lương của một công nhân
bình thường, họ vẫn mua sắm như thường.

Chúng tôi chuyển qua thăm lò chế tạo đồ gốm gần khu
thành cổ đúng lúc người ta đang xuất lò, chúng tôi thấy một
loạt khay, chén và bình gốm sứ tráng men ba màu, hình
dáng cổ xưa màu sắc trang nhã, tuy là đồ gốm nhật dụng
nặng chất địa phương song vẫn là những công nghệ phẩm
đáng lưu ý. Tôi bỏ ra một khoản tiền đáng giá hai gói thuốc
thơm để mua hai cái đĩa, một cái bát, một cái khay đưa về
Bắc Kinh đặt trên giá sách, mấy ông bạn có khiếu thẩm mỹ
không ai là không tán thưởng; họ cho rằng chúng mang
đậm phong cách Tây Vực. Khi tham quan, Lý Ngẫu Xuân
rút tập vở ghi chép của mình ra hỏi rõ phương pháp chế tạo
rồi ghi đầy đủ từ khâu làm đất, nung đất đến tên các loại
men và phân lượng. Theo như ông nói thì sản phẩm của
loại đất nung này có nhiều chỗ giống đồ sành sứ đào được
của hàng ngàn năm trước, cho nên nhân cơ hội này thu thập
những hiểu biết sống động từ miệng công nhân sành sứ nói
ra, giúp ta có những thẩm định đặc biệt đối với những văn
vật khai quật được.

Sau cùng, chúng tôi đi thăm xưởng làm nhạc cụ. Chủ
nhân đem các loại sản phẩm bày ra cho chúng tôi xem, gồm
bảy loại nhạc khí dân tộc, như nhiệt ngoa phủ, đô tháp nhĩ,
khố mộc tư, hồ tư pháp nhĩ v.v... (tên các nhạc cụ không có
tiếng Việt tương đương) Nhạc khí thường sơn màu đen,

369

trên có khảm xà cừ hoặc nạm ngọc, tạo thành những đường
hoa văn rất trang nhã, xinh đẹp và tinh tế. Mỗi nhạc cụ là
một công trình nghệ thuật, âm thanh và ngoại hình đều đẹp,
so với những nhạc cụ tôi đã xem ở Y Lê hay Urumqi thì
nhạc cụ ở đây tinh tế khéo léo hơn nhiều. Ông chủ nhiệm
xưởng nhạc cụ tự hào nói rằng nghề làm nhạc cụ ở Bắc
Cương là do từ Ca Thập truyền đến. Tôi yêu cầu một nhạc
công lớn tuổi đàn một khúc trên chiếc đàn đô đáp nhĩ của
chính tay ông làm ra. Chiếc đàn hai dây, với ngón tay điêu
luyện của ông, tiếng đàn sục sôi cuồn cuộn tựa như đàn
ngựa đang phi nước đại trên thảo nguyên, rồi dịu dàng vi
vút như tiếng thông reo trên núi cao, mạnh mẽ mà thâm
trầm. Khúc đàn chấm dứt tôi bỗng vỗ tay tán thưởng.

Axia nói ngành thủ công nghiệp truyền thống ở Ca
Thập, bất kể sản lượng, mặt hàng hay chất lượng chỉ đếm
trên đầu ngón tay ở tại Nam Cương. Toàn thành phố chỉ có
mười tám công xướng và hợp tác xã sản xuất các mặt hàng
đặc dụng cần cho sinh hoạt truyền thống dân tộc, chỉ
khoảng chừng 2600 công nhân đảm trách, sản xuất hàng
trăm chủng loại và sản lượng, mỗi năm đạt trên 20 vạn sản
phẩm.

Nhưng cô thừa nhận một điều rằng dao cạo sản xuất ở
Anh Cát Sa và thảm ở Hòa Điền vượt xa sản phẩm của Ca
Thập. Xem ra cô gái Uygur có học thức này không tự cho
xứ sở mình là số một.

Huyện Anh Cát Sa cách Ca Thập 40 cây số về phía
nam, sản xuất loại dao cạo tinh xảo nổi tiếng khắp Tân
Cương. Chúng tôi đi từ Ca Thập đến Hòa Điền có ghé qua
Anh Cát Sa khoảng hơn một tiếng đốm hồ để thăm xưởng
ngũ kim chế tạo loại dao cạo đặc sản.

Dao cạo Anh Cát Sa có màu lam bóng loáng, sắc bén
vô cùng. Một tay cầm con dao một tay nhón một sợi tóc

370

thổi nhẹ một cái, sợi tóc gặp lưỡi dao đứt đoạn. Trên mặt
dao có trang trí hoa văn quả “ba đan nẫu” (tức một loại đảo
có quả hình dẹp trồng nhiều ở Nam Cương); còn cán dao
thì trông rất đẹp mắt. Có loại cán dao mạ công trên có khảm
thủy tinh hữu cơ màu hồng tươi và màu tiếng bạc, hoa văn
tinh tế, ánh màu lấp lánh. Có loại cán dao bằng gỗ táo,
không sơn đen, chỉ đánh bóng, trên đó chạm trổ rất tinh vi,
màu gỗ mộc mạc cho ta cảm giác giản dị mà trang nhã.

Xưởng làm dao cạo này có khoảng 30 công nhân, hàng
năm sản xuất chừng mười toàn cái. Ở công đoạn cuối cùng,
tôi chứng kiến một bác công nhân lớn tuổi khắc hoa trên
cán dao. Tay phải điều khiển con dao khắc, chỉ trong một
thoáng, các đường hoa văn tinh tế hiện ra trên cán dao cầm

bên tay trái.

Tôi mua mười hai con dao cạo Anh Cát Sa để làm kỷ
niệm, đem về đến Bắc Kinh, chỉ trong mấy ngày bạn bè đã
lấy sạch.

CHỈ ĐỨNG NHÌN DÒNG SÔNG MÀ THAN

Chúng tôi rời Ca Thập đi về hướng đông nam, tôi và
Lý ngẫu Xuân cùng với các đồng sự của ông đi trên một
chiếc xe Jeep bảy chỗ ngồi. Trên xe, ngoài một số va-li tùy
thân, còn mang theo hai bao hành lý lớn, hai thùng đầy
nước uống hoàn bị cho khi đi vào sa mạc, lại thêm một
thùng gỗ chứa đầy vật dụng cần thiết của những người làm
công tác khảo cổ trong việc sưu tập văn vật hay tư liệu dọc
đường. Chiếc Jeep nhỏ ấy đã đầy ắp đồ đạc, lại thêm năm
con người ngồi nữa, rõ là chật chội. Thế nhưng chúng tôi
đã cùng kết bạn đồng hành đi hết con đường của người xưa
từ đầu đến cuối và nay lại sắp thâm nhập vào sa mạc nên ai
nấy đều phấn chấn tinh thần.

371

Tham quan xong xưởng ngũ kim ở Anh Cát Sa, chúng
tôi men theo đường cái bằng phẳng đi về hướng đông nam
chừng 130 cây số, xuyên qua một sa mạc nhỏ thì đến huyện
Sa Xa. Đây là một huyện có dân số đông nhất của Tân
Cương, có nhiều thành công trong việc trồng rừng phòng
hộ chống bão cát. Chúng tôi không dừng xe ở đây mà tách
khỏi đường cái đi về hướng bắc theo đường đất nông thôn
để đi đến huyện Mạch Cái Đề.

Giữa đường có báo cáo của phòng văn hóa Mạch Cái
Đề nói ở đấy người ta vừa phát hiện một số văn vật quan
trọng. Do đó, Lý Ngẫu Xuân quyết định rời đường cái rẽ
về hướng Mạch Cái Đề. Đường đất nông thôn quanh co
khúc khuỷu, thường gặp nhiều ngả rẽ, cũng may có anh cán
bộ người Uygur trên xe, nên có thể tùy lúc hỏi đường. Cơ
bản chúng tôi men theo dòng sông Diệp Nhĩ Khương mà đi
về hướng bắc.

Trên đường đi phải xuyên qua ba công xã nông thôn
thuộc huyện Sa Xa, hai bên đường cây cối rậm rạp, ruộng
đất phì nhiêu, bờ ngang bờ dọc liền nhau, trong thôn đầy
tiếng gà kêu, chó sủa, hoàn toàn không có cảm giác hoang
vắng của vùng ven sa mạc, rõ ràng đây là một khu trù mật
nhờ nguồn nước của sông Diệp Nhĩ Khương. Vừa đi vừa
ngăm cảnh của vùng lục châu, không ngờ bóng chiều đã
ngả về tây, vòng lửa to tướng lơ lửng phía chân trời trông
thật diễm lệ.

Lý Ngẫu Xuân ngồi ở ghế trước có lẽ như đói bụng, tự

nói:

- Không biết phòng Văn hóa huyện có chuẩn bị bữa ăn
tối cho chúng ta không nhỉ?

- Anh có thông báo cho họ biết tối nay mình đến à? -
Tôi hỏi.

372

- Sao lại không! Tối nay mình đến đó xem xét, giám
định một số văn vật kia mà?

Huyện Mạch Cái Đề nằm ở đầu phía tây của sa mạc
Taklamacan, đối diện sông Diệp Nhĩ Khương, vị trí tuy
cách đường chính của con đường tơ lụa, nhưng thời cổ đại
cũng có một đường nhánh thông vãng Ca Thập, đã từng có
nhà thám hiểm xuất phát từ Mạch Cái Đề theo hướng đông
đi vào sa mạc Taklamacan.

Đang khi chúng tôi chuyện trò thì gặp ngay một ngả
rẽ, sau khi thăm hỏi đường sá, chứng tôi rẽ phải, xuyên qua
một vườn cây ăn quả, trước mặt hiện ra dòng sông Diệp
Nhĩ Khương đang cuồn cuộn chảy. Nước sông chảy mạnh,
lòng sông rộng thoáng ước chừng năm, sáu trăm mét. Sông
Diệp Nhĩ Khương phát nguyên từ núi Côn Luân, dài 1079
cây số, là nguồn nước chính của sông Tarim. Mặt trời đã
xuống núi, nhìn qua bên kia sông trong đám lau sậy um tùm
thấy thấp thoáng có nhà cửa, dinh thự, thì đó là huyện Mạch
Cái Đề. Đưa mắt nhìn quanh chẳng thấy cầu, cũng chẳng
thấy bến đò qua sông đâu cả, đến bên thành mà không vào
được thành, chỉ còn cách đứng bên này sông mà kêu trời.

Anh tài xế thử tìm đoạn nước cạn để qua sông, nên bảo
chúng tôi xuống xe, còn mình lái chiếc xe không theo bãi
sông đi tới nhưng chưa đầy mười bước bánh xe bị lún vào
bãi sình trơn trợt. Chúng tôi vội hợp lực kéo chiếc xe ra
khỏi sình trở về chỗ cũ.

Chính trong lúc bận rộn ấy, có hai thanh niên người
Hán lái chiếc xe tải đi tới, trên xe chở đầy dưa Ha Mật, sửa
soạn lội nước qua sông về huyện Mạch Cái Đề. Chúng tôi
vội đến hỏi họ cách qua sông.

Họ nói hiện nay cuối tháng nước sông đang lớn, xe con
không thể qua được, chỉ có xe của họ bánh cao có thể tìm
đoạn bãi cạn mới khỏi bị ngập.

373

Họ hỏi:

- Các anh từ đâu đến đây?

- Từ huyện Sa Xa.

- Ồ thế thì các anh đi trật đường rồi? Phải qua cầu ở
huyện lỵ Sa Xa, đi về phía bờ đông của sông Diệp Nhĩ
Khương rồi rẽ về hướng bắc mới đúng đường.

Chúng tôi có hối cũng không kịp. Lý Ngẫu Xuân nhờ
hai chàng trẻ tuổi chuyển lời đến phòng văn hóa huyện nói
là chúng tôi đi lạc đường không thể đến đúng hẹn được.

Đưa mắt nhìn theo chiếc xe tải từ từ lội nước qua sông,
tôi ngồi xổm bên bờ sông lấy tay vốc nước uống một ngụm,
rồi rửa mặt. Ồ! Sông này là nguồn nước từ băng tuyết ở núi
Côn Luân chạy về đấy! Nước đổ về hướng bắc hội nhập
vào sông Tarim nuôi dưỡng lòng chảo Tarim, từ thời xa
xưa nó đã từng sinh dưỡng nền văn minh xán lạn mà hậu
thế phải khâm phục.

ĐÊM NGHỈ NGOÀI TRỜI TRÊN CON ĐƯỜNG TƠ
LỤA CỔ ĐẠI

Hôm ấy, mặt trời dần tắt, chúng tôi vội vã quay xe trở
lại đường cũ. Không được ăn tối ở phòng văn hóa huyện
Mạch Cái Đề chỉ là chuyện nhỏ, vạn nhất giữa đường xe cộ
có gì trục trặc chắc sẽ không tìm ra chỗ trọ, thế thì làm thế
nào đây? Tài xế nhấn ga tăng tốc, khi qua được công xã đầu
tiên thì trời đã tối mịt, xa xa vang vọng âm thanh của buổi
chiếu bóng ngoài trời. Quán xá nhỏ hai bên đường vẫn còn
chong đèn, chúng tôi tạt vào mua một ít bánh để ăn đỡ đói
rồi tiếp tục lên đường.

Đêm đen dày đặc, không trăng cũng không thấy ngôi
sao nào nhấp nhánh, chỉ thấy hai vạch sáng trước xe trên

374

con đường đất mấp mô, lồi lõm. Chung quanh vô cùng tĩnh
lặng, mọi người không ai nói năng, bụng thầm lo lắng.
Trong đêm tối nơi chốn ven sa mạc này có thể lạc mất
phương hướng như chơi! Có người nói anh tài xế lão luyện
này đi trở lại đường cũ thì làm sao lạc đường, nhưng chúng
tôi đang đi trong đêm tối đen giơ bàn tay ra không thấy,
làm sao yên tâm cho được. Xe cứ chạy, chạy mãi, chạy đến
một ngã ba, ngoàí những hàng bạch dương cao vút thẳng
tắp hai bên đường, còn thì không có dấu hiệu nào khác cả,
thật khó biết đi theo đường nào cho đúng. Tài xế chọn
đường rẽ phải, đi khoảng hơn mười cây số thì một con
mương to tướng chắn ngang trước mặt, đường bị cắt. Cũng
may gặp một bà lão đang quỳ bên bờ mương làm lễ thánh,
nhờ bà chỉ điểm. Xe chạy trở lại chỗ ngã ba, rẽ trái mới
đúng đường. Điều này khiến tôi nhớ đến vị bồ tát dẫn
đường cho khách thương trên bức bích họa ở Thiên Phật
động Khắc Tư Nhĩ. Bà giơ đôi tay biến thành bó đuốc chiếu
sáng dẫn đường cho khách lữ hành đi trong đêm tối trên
con đường tơ lụa.

Sau một hồi quanh co, cũng tìm ra được đường trở lại
Sa Xa, ai nấy đều thở phào nhẹ nhõm, nhưng bấy giờ đã
quá nửa đêm, nhà trọ, nhà khách đều đóng cửa. Lý Ngẫu
Xuân đề nghị dừng xe cạnh đường nghỉ ngơi đợi đến sáng
hàng hay. Anh tài xế trẻ tuổi chủ trương đi tiếp, rạng sáng
sẽ đến Diệp Thành. Anh bảo xe chạy trên đường nhựa bằng
phẳng còn thoải mái hơn nằm lại trên xe trên đường phố ở
huyện thành.

Mọi người tán thành đề nghị của tài xế. Ai ngờ đi một
đoạn vì quá mệt, anh ngủ gục trên tay lái, thật là nguy hiểm,
nên đành phải dừng tại một thị trấn nghỉ tạm. Vài người
nằm ngổn ngang trong xe đánh giấc. Còn tôi mệt quá cũng
thiếp đi lúc nào không biết. Tôi mộng thấy một tên cường
đạo đầu đội khăn trắng, trợn tròn đôi mắt, râu ria xồm

375

xoàm, tay cầm đoản kiếm kiểu Anh lao về phía chúng tôi.
Hoảng hốt tôi kêu lên một tiếng, thất kinh tỉnh ngủ. Lúc
này anh tài xế nằm sấp yên ắng trên tay lái ngáy đều đều.
Chỉ có Lý Ngẫu Xuân một mình tản bộ quanh xe.

Tôi nói:

- Ông giám đốc! ông canh gác cho chúng tôi ngủ đấy

à?

- Đâu có! Ngồi trong xe cảm thấy lạnh, đi quanh khởi
động một chút cho nóng người lên đấy thôi! - Ông nói.

Tôi mặc thêm áo ấm xuống xe đi bộ với ông. Đêm thu
nơi vùng ven sa mạc này có vẻ lạnh thật. Thời gian trôi qua
quá chậm, hừng đông ló dạng, đánh thức tài xế dậy tiếp tục
tiến về phía đông. Đã thấy Diệp Thành, nhưng đúng lúc xe
vừa hết xăng, buộc phải đừng lại. Ngồi đợi mãi mới thấy
một chiếc xe ca đi tới, Lý Ngẫu Xuân ra đón xe và hỏi
mượn một thùng nhỏ xăng, nhờ đó mà đi được về Diệp

Thành.

Bắt đầu vào tuyến nam của con đường tơ lụa thì gặp
ngay sự trở ngại nhỏ, tôi và Lý Ngẫu Xuân bàn tính, bây
giờ đi một bước cũng không được lơ đãng mà phải hết sức
cẩn thận.

Diệp Thành, Mạch Cái Đề và Sa Xa là những huyện
thuộc lưu vực sông Diệp Nhĩ Khuông, lấy sản xuất nông
nghiệp làm chính vào thời cổ đại nước Sa Xa.

Đầu đời Đông Hán, nước Sa Xa là một cường quốc ở
nam Thiên Sơn. Khi Hung Nô đánh nhau với Đông Hán,
để chiếm lại xứ Tây Vực cho mình chỉ có nước Sa Xa kiên
quyết kháng cự. Vua Vương Diên nước Sa Xa đã gởi con
đến Trường An kết thân, đồng thời khuyên con phải phụng
mệnh nhà Hán, không được phụ bạc. Diên mất, con. là
Khang lên vẫn theo đuổi chính sách thân Hán. Khi thế lực

376

Hung Nô được củng cố ở Tây Vực, nhiều quan lại, gia
thuộc của nhà Hán ở Tây Vực đều được vua Sa Xa bảo bọc,
tránh được sự sát hại của người Hung Nô. Năm 219 CN,
vua Đông Hán phong Khang làm Tây Vực Đại đô úy thống
lĩnh các nước Tây Vực. Khang mất, em là Hiền lên thay,
nước Sa Xa trở nên giàu mạnh, quân đội, vũ lực thu gồm
các nước. Nước Vu Điền không chịu sự áp bức nổi lên
chống đối, cuối cùng tiêu diệt nước Sa Xa, và thay quyền
Sa Xa tại đấy đứng đầu các nước Tây Vực ở tuyến nam của
con đường tơ lụa.

KHU PHỐ LỀU TRẠI CỦA CÔNG NHÂN DẦU MỎ

Nghỉ lại ở Diệp Thành một ngày rồi tiếp tục lên xe
hướng dãy Côn Luân đi tới, có một con đường thông Tây
Tạng. Thế kỷ VII CN, người Thổ Phồn (tên cũ của Tây
Tạng) đã từng xâm nhập Tây Vực, rất có thể đã đi theo con
đường này.

Men theo đường nhựa thẳng tắp, xe chạy ven rìa sa
mạc rằng phẳng mênh mông bỗng thấy một khu lều trại,
hàng lối chỉnh tề, càng đến gần càng thấy rõ chúng có đủ
ngõ phố, quãng trường, sân bãi, quả giống như một khu phố
bằng lều trại. Đây không phải là nhà ở của mục dân mà là
đại bản doanh của đoàn thăm dò dầu khí.

Chúng tôi được tiếp đãi đặc biệt, nhà trọ là loại phòng
áng gỗ có thể tháo rời khi cần, bên trong có lát gạch, có đèn
điện và lò sưởi. Chốn hoang mạc hẻo lánh này được như
thế là quá thoải mái rồi.

Chiều tối, nhà địa chất họ Hạ, khoảng chừng năm mươi
lại mang đến một tập bản đồ địa chất giảng giải cho chúng
,i nghe một hồi, ông say sưa nói về thành quả và triển vọng
của khu dầu mỏ ở lòng chảo Tarim.

377

Ông nói, dưới lòng đất của lòng chảo Tarim là địa tầng
trầm tích biển, vào khoảng một triệu năm trăm ngàn năm
trước, nước biển đã từng xâm nhập ba lần vào đây nên rất
lợi cho sự tạo ra dầu khí.

Lịch sử địa chất dầu mỏ Trung Quốc đã từng xảy ra
cuộc tranh luận lớn về địa tầng trầm tích biển và địa tầng
trầm tích lục địa trong sự tạo thành mỏ dầu. Có người đưa
ra lý lẽ bảo rằng phần lớn mỏ dầu trên thế giới đều do địa
tầng trầm tích biển và phủ định khả năng hình thành mỏ
dầu do từ địa tầng trầm tích lục địa. Thế rồi sự phát hiện ra
mỏ dầu địa tầng trầm tích lục địa ở Đại Khánh (tỉnh Hắc
Long Giang) đã kết thúc các cuộc tranh biện ấy. Thực tế
chứng minh ràng mỏ dầu được hình thành từ những sinh
vật trong nước trải qua nhiều thời kỳ địa chất, bất kể sinh
vật đại dương hay sinh vật hồ đầm trong điều kiện địa chất
nhất định đều có thể tạo thành dầu mỏ.

Trên tấm bản đồ lớn, nhà địa chất họ Hạ chỉ cho tôi
xem và giảng giải hàng triệu năm trước nước biển tại lòng
chảo Tarim là do nước biển từ Địa Trung Hải vận hành qua
đấy theo cửa khẩu Ô lỗ khắc kháp đề tràn vào Tarim.

Tôi nói đùa:

- Thế thì sinh vật đại dương cũng đi từ tây sang đông
theo con đường tơ lụa, hay nói cách khác dấu mỏ ở lòng
chảo Tarim đã vận chuyển từ tây sang đông qua con đường
tơ lụa đấy nhỉ?

Nhà địa chất họ Hạ cũng cười, nói:

- Xem ra anh có vẻ mê con đường tơ lụa quá đỗi, mọi
việc anh đều liên hệ cho được ... Nhưng có điều cái đó đã
xảy ra hàng triệu triệu năm trước, ngay từ lúc loài người
còn chưa xuất hiện!

378

Ông nhớ lại hồi năm 1952, đội thăm dò địa chất tiến
hành công tác khảo sát khu vực lòng chảo Tarim. Họ đã trải
qua chín lần xâm nhập đại sa mạc Taklamacan, đi ngang về
dọc, tiến hành điều tra xem xét năm biện pháp về trọng lực
và từ lực.

Tôi rất khâm phục họ và hỏi:

- Đi vào sa mạc hàng trăm cây số quả là phi thường!
Vấn đề nước uống, quý vị giải quyết bằng cách nào?

Ông bảo, khi đi vào sa mạc, mỗi người cần chuẩn bị
năm đến mười lạc đà chở nước và thức ăn, nhưng đôi khi
lạc đà cũng bị chết khát; lạc đà cứ đi, đi mãi rồi thình lình
ngã quỵ xuống đất không còn đứng lên nổi nữa.

Nhiều năm nay, đội thăm dò dầu khí dọc lòng chảo
Tarim đã khoan đào một loạt giếng thăm dò, đã thấy có
nhiều dấu hiệu khả quan nhưng bất ngờ nhất là vào năm
1977 đã đào thấy một giếng dầu khí có trữ lượng rất lớn

bên chân núi Côn Luân.

Qua ngày thứ hai, chúng tôi rời khu phố lều trại trên sa
mạc để đi vào khe núi; càng vào sâu, càng thấy lạnh, tuy
mới đầu thu nhưng phải mặc áo bông chống lạnh. Xe qua
một sơn thôn, một nhóm cán bộ xã viên người Uygur vây
quanh một chiếc máy kéo đang hoạt động. Chúng tôi dừng
xe nghỉ, vì ngôn ngữ không thông nên không đến chuyện
trò với họ. Một xã viên diện mạo phúc hậu nhìn thấy chúng
tôi, lặng lẽ đem tới một quả dưa hấu, đưa tay ra hiệu có ý
mời chúng tôi giải khát Trên người đang mặc áo bông,
miệng thì ăn dưa hấu mát lạnh, trông thật buồn cười. Nhưng
dù sao cách đối đãi của thôn dân vùng sơn cước này rất thật
thà, chất phác dễ mến.

Lại tiếp tục đi tới, trong hang núi hiện ra hàng dãy lều
trại và một dàn khoan đồ sộ. Xa xa đã nghe tiếng ầm ầm

379

đinh tai nhức óc, đó không phải là tiếng máy nổ của động
cơ mà là tiếng phun bắn của dòng khí mỏ nghe như tiếng
sấm.

Đến gần nhìn rõ, thì ra đó là âm thanh phóng ra của
một giếng dầu khí có trữ lượng cao nhất được tìm thấy vào
năm 1977. Nó khác với những gì tôi đã thấy ở những giếng
dầu khác, miệng giếng tiếp liền với bốn ống dẫn lớn để dầu
và khí phun ra phía ngoài. Vì áp lực bên trong quá lớn nên
không thể chứa dầu khí trong các xe goòng mà phải để
chúng phun vào hồ chứa lộ thiên. Trong hồ là một dịch thể
nửa trong suốt, là một loại dầu nhẹ chỉ cần dùng phương
pháp điều chế đơn giản là có thể dùng làm nhiên liệu cho
xe hơi.

Giếng dầu này bắt đầu phun từ năm 1977 đến tháng
chín năm 1979 là năm tôi đến tham quan, thế là đã trải qua
hai năm nhưng áp lực kinh người của nó vẫn chưa giảm,
điều này chứng tỏ trữ lượng dầu bên trong của nó rất lớn.

QUỐC GIA CỔ ĐẠI XƯNG HÙNG Ở TUYẾN NAM
CỦA CON ĐƯỜNG TƠ LỤA

Sau khi trở lại Diệp Thành, chúng tôi lại tiếp tục lên xe
đi về Hòa Điền, hai nơi này cách nhau chừng 250 cây số.
Tôi vốn lo đường sá không tốt, xe cộ trở chứng không biết
lúc nào, nhưng vượt qua một đoạn đường dài, mọi chuyện
đều tốt đẹp. Đường nhựa vừa mới tu sửa, xe băng băng qua
huyện Bì Sơn và huyện Hắc Ngọc Nhĩ thì đến Hòa Điền,
tức là địa sở của nước Vu Điền cổ đại.

Xuất phát từ Korla đi vòng quanh đại sa mạc
Taklamacan bằng đường nhựa đến Hòa Điền tổng cộng
khoảng chừng 2500 cây số Rồi theo hướng đông đi trên
đường đá dăm, xe cộ và bộ hành bắt đầu trở nên hiếm hoi.

380

Tây Hòa Điền có sông Ca La Ca Thập; đông Hòa Điền
có sông Ngọc Long Ca Thập. Cả hai sông này đều phát
nguyên từ núi Côn Luân, sau khi chảy ra khỏi Hòa Điền,
hầu như chúng cùng song song theo hướng bắc chảy vào
phía sa mạc.

Khoảng cách hai sông chưa đầy 20 cây số, chúng hình
thành một vùng lục châu hẹp phì nhiêu dài chừng 120 cây
số. Sau khi hai sông chảy ra hướng sa mạc Taklamacan,
chúng hợp lưu gọi là sông Hòa Điền rồi chảy vào sông

Tarim.

Được sự ban phát của hai dòng sông này, xưa nay Hòa
Điền có một nền nông nghiệp phát đạt, lịch sử phồn vinh
lâu đời được miêu tả như sau:

Thời Tây Hán, Hòa Điền là nước Vu Điền. Thời Đông
Hán, nhân khẩu gia tăng, xưng hùng xưng bá ở dọc tuyến
nam của con đường tơ lụa, quản hạt mặt tây đến Sa Xa,
đông đến Dân Phong, chịu dưới sự lãnh đạo hành chính của
quan trưởng sử Tây Vực do nhà Hán sai phái đến, Vu Điền
đã một thời trở thành trú sở và là trung tâm chính trị của
khu vực Nam Cương.

Đến đời Tùy Đường, sự giao hảo giữa Vu Điền và
Trung Nguyên càng mật thiết. Trường An đã từng là nơi
định cư của cha con thầy tăng Úy Trì Ất người nước Vu
Điền. Họ là những đại họa gia nổi danh trong nền nghệ
thuật Trung Quốc. Hồi ấy họ đã truyền bá một phương pháp
mới nổi tiếng khắp kinh thành gọi là “vựng nhiễm pháp”,
tức một phương pháp vẽ khiến bức tranh có hình khối kiểu
không gian ba chiều.

Ở hang động Mạc Cao Đôn Hoàng, trên bức bích họa
thứ 98 vẽ một bức tượng lớn về quốc vương Vu Điền Lý
Thánh Thiên, nét bút thật tinh mỹ thuộc trường phái tả thực,
có thể nhận thấy quốc vương Vu Điền không chỉ có “áo mũ

381

như người Trung Quốc” mà dung mạo cũng rất giống người
Hán. Ngụy thư có viết: Từ nước Cao Xương trở về phía tây,
người các nơi đều có mắt sâu, mũi cao, duy chỉ có người
nước Vu Điền là giống người Hoa Hạ. Cách nhận xét này
rất có lý.

Lý Thánh Thiên là người của thế kỷ thứ X CN, tương
ứng với thời Ngũ Đại. Dù cho thời kỳ này ở nội địa xảy ra
chiến loạn, nhưng Lý Thánh Thiên vẫn nhiều lần sai sứ đưa
ngọc quý tiến cống nội địa. Trong thời kỳ ông nhiếp chính,
từ quốc vương đến thứ dân đều dùng họ tên theo kiểu người
Hán, xây dựng cung điện đều trở mặt về hướng đông biểu
thị chủ ý lòng luôn hướng về Trung Hoa.

ĐI THĂM DI CHỈ CỐ ĐÔ CỦA VU ĐIỀN

Ngày thứ hai ở Vu Điền, Lý Ngẫu Xuân khẩn trương
đi thăm di chỉ cổ thành Mã-lợi-khắc-ngõa-đặc. Chúng tôi
lên xe đi về hướng nam, qua khỏi phi trường Hòa Điền, xe
chạy ven rìa sa mạc chừng 25 cây số thì đến di chỉ cổ thành
ở sất phía tây bờ sông Ngọc Long Ca Thập.

Phạm vi của di chỉ: nam bắc dài chừng 1500 mét, hai
đầu đông tây không đều nhau, đông rộng tây hẹp, phân ra
750 mét và 450 mét. Trên mặt đất không thấy tàn tích của
tường thành.

Điều đáng chú ý nhất ở di chỉ này là số lượng đá kê
chân cột rất nhiều, chúng rải rác tại ba, bốn nơi trên di chỉ,
có nơi có đến ba, bốn mươi chân cột. Cứ theo số đá kê ấy,
ta có thể tưởng tượng năm xưa nơi đây là cả một công trình
kiến trúc dàn dựng đồ gỗ rất đồ sộ, bề thế. Đá kê chân cột
hình tròn, một mặt bằng và nhẵn, còn mặt kia thì chung
quanh mỏng, ở giữa dày, mặt cắt có hình vòng cung. Lý
Ngẫu Xuân có hỏi ý kiến một nhà kiến trúc, người này cho

382

rằng đá chân cột có hình trạng như vậy chôn trên vùng đất
mềm xốp của sa mạc thì áp lực của tầng trên có thể tụ vào
tâm của hòn đá điều này phù hợp với nguyên lý lực học
trong kiến trúc.

Trên di chỉ có bốn nơi là lò gạch cũ. Chúng tôi xem xét
kỹ một nơi, trên đất đầy những mảnh gạch ngói và các tàn
tích của các loại đất nung khác.

Chúng tôi tiếp tục tìm xem tứ phía thu nhặt được nào
là đồ trang sức bằng ngọc, mảnh đồng “tiền ăn năm”. Mấy
năm trước, Lý Ngẫu Xuân đã thử đào xới ở đây và phát
hiện ra một lò đúc tiền, đã đào được 45 cân “tiền ăn năm”
đời Hán được cất giữ trong một cái hũ lớn.

Lý Ngẫu Xuân cho rằng cổ thành Mã-lợi-khắc-ngõa-
đặc là cố đô của nước Vu Điền. Có hai lý do: thứ nhất, theo
di vật đào được mà xét thì đây là thành nhà Hán; thứ
hai, Hán thư có ghi: “Quốc vương Vu Điền cai trị Tây
thành”. Hậu Hán thư cũng ghi: “Nước Vu Điền ở Tây
thành”. Gọi Tây thành có thể hiểu rằng thành ở bờ tây sông
Ngọc Long Ca Thập.

Mấy ngày sau, Lý Ngẫu Xuân lại nhờ người bạn làm
công tác khảo cổ đi đến cổ thành, khi trở về vui mừng hớn
hở, liền nói lớn: “Thành công rồi!”

Ông lôi ra từ bao mang trên lưng xuống rất nhiều mảnh
vụn. Có thứ bằng chất đất, có thứ bằng đất nung, có thứ
giống như thạch cao, nhất nhất ông chỉ cho tôi xem, rồi nói:

- Đây là một phần của lỗ tai, ... đây là đường viền áo
hình đám mây,... đây là một ngón tay nhỏ ...

Tôi cầm ngón tay nhỏ bằng đất kia đưa lên so với ngón
tay của mình thấy không sai biệt là bao. Tôi nói:

383


Click to View FlipBook Version