- Nếu bảo đây là ngón tay còn sót lại của một tượng
Phật thì cỡ của nó cũng bằng người thật nhỉ?
Ông nói:
- Đúng. Những mảnh vỡ ấy được tìm thấy gần một ngôi
miếu thờ Phật vừa mới khai quật. Ngoài ra còn đào được
một số tiền đồng đời Hán. Đây là một phát hiện vô cùng
quan trọng.
Ông còn nói Phật giáo từ Ấn Độ truyền nhập vào Trung
Quốc từ đời Đông Hán, nhưng đến nay vẫn chưa tìm thấy
tượng đất hay tượng vẽ đức Phật đời Đông Hán. Nếu các
mảnh ngón tay còn sót lại này đúng là của tượng Phật thì
chúng sẽ có giá trị rất lớn.
Có một thuyết cho rằng nước Vu Điền đóng đô tại Ước
Đặc Can tức nay là đội sản xuất thứ nhát thuộc khu quản lý
công xã Xuân Thu II huyện Hòa Điền.
Trong Tây Vực khảo cổ ký (những ghi chép về công
cuộc khảo cổ ở Tây Vực) của Amel Stein (1862 - 1943)
người Anh có viết: Di chỉ cố đô Hòa Điền ngày xưa có thể
được xác định là một nơi thuộc thôn Ước Đặc Can. Vùng
đất này nằm giữa hai con sông tức sông Ngọc Long Ca
Thập và sông Ca La Ca Thập, cách huyện lỵ Hòa Điền ngày
nay chừng bảy cây số về phía tây. Những thôn dân đi tìm
kho báu đã đào xới ở đây suốt 35 năm, đào đến một lớp
trầm tích lớn khá sâu đã phát hiện ra một tầng văn hóa hoàn
toàn hư nát được chôn dưới đó.
Trước khi đào xới thì ở đây người ta đã đào tìm vàng
lá. Theo một vị tăng người Trung Quốc thời cổ đại đã đến
đây có ghi chép lại thì đô thành Hòa Điền không chỉ có
tượng Phật, tức kiến trúc Phật giáo ở bề nổi, mà còn thếp
cả vàng lá trên tượng nữa.
384
- Chúng tôi đã đến thôn Ước Đặc Can như một bác
nông dân dẫn đường, đến chỗ xưa kia người ta đào tìm kho
báu thì thấy chỉ là một đám ruộng lúa thấp trũng. Có lẽ qua
nhiều năm đào xới, thế đất ngày càng trũng thấp, người ta
lợi dụng nó để trồng cấy lúa nước. Bác nông dân nói rằng
hàng năm cày cuốc có thể nhặt được nhiều mảnh gạch ngói
vỡ.
Thôn Ước Đặc Can thuộc công xã Xuân hoa, nó xinh
đẹp giống như tên gọi vậy, có thể nói đây là một nông thôn
Uygur điển hình khiến người ta phải mê thích. Nó không
những có cảnh quang tươi đẹp mà sản vật rất phong phú.
Người ta trồng lúa nước, tiểu mạch, bông vải sản xuất sữa
đậu nành, đậu xanh dùng làm đậu phụ và mì sợi. Trái cây
thì có mật đào, nho. Họ còn cả bãi nuôi dê và trại nuôi lợn.
Người ở đây rất coi trọng các loại kinh doanh sản xuất. Tôi
nói với anh xã trưởng:
- Nơi các anh ở hiện nay là thủ phủ của nước Vu Điền
vào thời cổ đại đấy!
Anh ta hầu như lần đầu nghe nói thế, nên có vẻ kinh
ngạc, nhưng sau cũng vui vẻ bảo:
- Phong thủy của công xã Xuân Hoa chúng tôi rất tốt!
Thời xưa đã nổi tiếng thì nay cũng phải không tồi chứ!
385
23. HÒA ĐIỀN - QUÊ HƯƠNG CỦA
NGỌC QUÝ
NGỌC ĐẸP Ở NGOÀI ẢI NGỌC MÔN
Còn nhớ khi đi hành lang Hà Tây, tôi có mua mấy thứ
đồ ngọc ở Tửu Tuyền đem về nhà, có người bạn thấy hỏi
đây là ngọc gì? Tôi nói là ngọc ở núi Kỳ Liên, anh buột
miệng nói:
- Thế thì đây là ngọc ở ải Ngọc Môn rồi? Còn nếu đúng
là ngọc ở núi Côn Luân thì phải nằm ngoài ải Ngọc Môn
mới là ngọc quý!
Người xưa thường lấy Ngọc Môn quan làm địa giới
phân nội địa và Tây Vực, cho nên gọi là “Xuân phong bất
độ Ngọc Môn quan” (Gió xuân không thổi đến được ải
Ngọc Môn) có nghĩa là ra khỏi cửa ải Ngọc Môn là xứ Tây
Vực với sa mạc hoang vu.
Vì sao có tên gọi Ngọc Môn quan? Giữa tên ải và ngọc
có sự liên quan. Tây Vực sản xuất nhiều ngọc ở Côn Luân,
theo người ta nói, ngọc được vận chuyển vào nội địa phải
đi qua cửa ải ấy do đó mà có tên là Ngọc Môn quan.
Ngọc Côn Luân được sản xuất tại một vùng rộng lớn
dưới chân núi Côn Luân trên tuyến nam của con đường tơ
lụa, bao gồm các xứ Taxkorcan, Sa Xa, Bì Sơn, Hòa Điền,
Lạc Phủ, Thả Mạt v.v... Đặc biệt ngọc sản xuất ở Hòa Điền
thì rất nhiều và rất đẹp nên gọi là “Ngọc Hòa Điền”. Hòa
Điền ngày nay là nước Vu Điền thời cổ đại, cho nên cũng
gọi là “Ngọc Vu Điền”.
Nhà y dược học Lý Thời Trân đời Minh nói: “Nước ta
có nhiều nơi sản xuất ngọc, ... nhưng chỉ có ngọc Vu Điền
là quý hơn cả”. Trong sách Thiên công khai vật (Sản vật
386
của tạo hóa cũng nói: “Phàm ngọc được quý trọng nhất phải
là ngọc Vu Điền”.
Như vậy có thể thấy vào thời cổ đại, tiếng tăm của ngọc
Vu Điền rất phổ biến.
Ngày nay, đồ ngọc quý của các triều đại còn được giữ
lại ở phòng lưu trữ đồ trân quý ở viện bảo tàng Cố Cung,
Bắc Kinh, không ít những đồ ngọc sản xuất ở Vu Điền được
vận chuyển đến nội địa qua cửa ải Ngọc Môn.
Tại phòng tàng trữ đồ trân quý có một bức chạm ngọc
khổng lồ độc chiếm nguyên một gian phòng, trên đó chạm
khắc bức vẽ vua Đại Vũ trị thủy. Khối ngọc này nặng đến
bốn tấn rưỡi, sản xuất ở núi Côn Luân thuộc phía nam vùng
Diệp Nhĩ Khương vào năm 1780, chuyên chở bằng đường
bộ, mỗi ngày đi được bốn, năm cây số và phải mất ba năm
mới đến được Bắc Kinh; sau đó, người ta chuyển đến
Dương Châu để chế tác và phải sáu năm sau mới chở trở
lại Bắc Kinh.
Tôi đến Hòa Điền không dám vọng tưởng đến khối
ngọc to lớn nào, nếu vận khí giỏi có thể kiếm được một
viên ngọc nho nhỏ giữa lòng sông lạnh ngắt lạnh ngắt, dù
có một viên như hạt đậu đi nữa cũng đủ cho bà con, bằng
hữu khoe mẽ một phen.
DƯỚI SÔNG VỚT NGỌC
Phía đông Hòa Điền có sông Ngọc Long Ca Thập, phía
tây có sông Ca La Ca Thập, cả hai con sông đều phát
nguyên từ núi Côn Luân chảy qua Hòa Điền. Hai con sông
này tạo thành một dải đất phì nhiêu dài và hẹp. Sau khi chảy
vào đến sa mạc Taklamacan, chúng hợp lưu và thành sông
Hòa Điền, thời xưa gọi là sông Vu Điền, cuối cùng chảy
vào sông Tarim. Sông Ngọc Long Ca Thập còn gọi là sông
387
Bạch Ngọc vì sau cơn nước lớn trong lòng sông có loại
ngọc màu trắng từ núi Côn Luân chảy về đọng lại; còn sông
Ca La Ca Thập gọi là sông Hắc Ngọc, sản sinh ra loại ngọc
đen tuyền hay xanh đen.
Tại Hòa Điền, trên hai con sông này người ta có thể
vớt ngọc. Sách sử có nhiều chỗ đã ghi chép.Tân Đường
thư viết: “Vu Điền có sông ngọc, dân trong nước hễ thấy
nơi nào trên sông sáng rạng nhất là nơi đó có ngọc đẹp”.
Tương truyền rằng nơi nào trong nước có ngọc thạch thì
mặt nước ban ngày và ban đêm sáng lên đặc biệt, cho nên
ban đêm, nơi nào có ánh trăng sáng nhất có thể tìm thấy
ngọc.
Ngũ đại sử (Sử đời Ngũ đại, thế kỷ thứ X) có viết:
“Mỗi năm, vào mùa thu nước cạn, nhà vua đi vớt ngọc dưới
sông, sau đó dân chúng mới được đi vớt ngọc”. Việc này
cũng giống như lễ “khai liềm” (mở đầu mùa gặt) của nghề
trồng trước mùa thu hoạch, biểu thị ý cầu chúc được bội
thu. Nhà vua xuống sông vớt ngọc trước hàm ý khích lệ
thần dân của mình đi tìm được nhiều ngọc.
Lúc lên xe đi đến Ca La Ca Thập lòng thầm nghĩ không
biết mình có nên vận khí lặn xuống sông vớt ngọc không.
Từ huyện lỵ đi về hướng đông chưa đầy năm phút đồng hồ
đã đến bờ sông Ngọc Long Ca Thập. Lòng sông rất rộng,
dễ chừng đến hàng trăm mét, nước sông không mạnh, có
lẽ, một là chưa phải mùa nước lớn, hai là ở thượng lưu
người ta đang tu sửa những dường mương dẫn nước. Có
một cây cầu lớn bằng xỉ-măng bắc qua sông. Chúng tôi lái
xe qua bên kia sông. Khi qua cầu, tôi bỗng đảo mắt nhìn
thấy dưới lòng sông đầy cả đá cuội hình quả trứng, bụng
bảo dạ không biết có phải mình thoáng thấy một viên ngọc
đẹp chăng? Nhưng đó chẳng quả chỉ do si mê vọng tưởng
mà thôi. Qua khỏi cầu, xe đi dọc bờ sông, đi một đỗi không
388
xa thì thấy một con mương dẫn nước thẳng tắp được xây
bằng đá cuội, nước chảy ào ào rất mạnh, trông nó như một
con sông chị em gì với sông Ngọc Long Ca Thập.
Đi dọc sông chừng hơn 40 cây số thì gặp một thôn
trang có tên nôm na là “Cosdak”, có nghĩa là “heo rừng”,
bên bờ sông có trạm thủy văn. Thế nước rất lớn, nước trong
thấy đáy, thấy rõ từng hòn cuội. Tôi nghĩ, nếu có ngọc thì
làm sao thoát khỏi cặp mắt của con người. Tôi đứng trên
bờ đưa mắt nhìn kỹ hoàn toàn chẳng thấy viên cuội nào có
vẻ giống ngọc cả.
Tôi hỏi người dẫn đường địa phương có bao giờ vớt
được ngọc dưới sông chưa Anh bảo chính mình thì chưa
từng vớt được ngọc quý, nhưng cũng may có nhặt được loại
đá có tên là “ca ngoa”, tức loại đá giống ngọc nhưng không
phải ngọc, nước màu bên ngoài thì bóng mịn, nhưng chất
đá thì mềm hơn nhiều so với ngọc.
Hằng năm vào mùa hạ, nước lũ ào ạt đổ về, ngọc thạch
lộ thiên từ núi Côn Luân theo cơn lũ cuốn tràn vào dòng
sông. Đến tháng chín, nước lụt rút đi, nước sông trở nên
trong suốt, dân chúng kẻo nhau xuống sông tìm ngọc. Họ
đứng thành hàng ngang, tay nắm tay, cứ thuận theo dòng
sông mà đi, nếu chân đạp được ngọc, họ cúi xuống nhặt
lên, người ta lấy ngọc toàn bằng đôi bàn chân.
Thế nhưng tìm ra được những viên ngọc lớn xưa nay
không phải là chuyện dễ dàng. Thời Bắc Tống, triều đình
yêu cầu vua nước Vu Điền dâng đại ngọc, qua nhiều năm
tìm kiếm, vua Vu Điền phái sứ giả về triều hồi báo, nói
rằng: “Hoàng thượng cầu ngọc, quốc vương tôi rất coi
trọng, đã tổn hao nhiều tâm lực nhưng rất khó tìm thấy.
Quốc vương tôi ra lệnh thần dân đi dọc hai bên bờ sông qua
lại nhiều lần để tìm ngọc, cuối cùng tìm được một viên ngọc
389
lớn theo yêu cầu của hoàng thượng, nay phái người dâng
lên hoàng thượng”.
Năm 1977, hai người chăn dê của công xã Hỏa Tiễn,
huyện Hòa Điền là Chu Ma và Mại Mại Đề đã tìm ra một
khối ngọc lớn nặng 168 ki-lô tại một cửa sông quanh năm
tuyết phủ. Nó trong sáng, bóng mịn như mỡ dê, nên gọi là
“Dương chi ngọc”. Khối ngọc này được nhà nước thu mua,
hai người chăn dê được nhận hơn 16000 nhân dân tệ.
NHỮNG GHI CHÉP VỀ VIỆC KHAI THÁC NGỌC
CỦA 3000 NĂM TRƯỚC
Ngọc Hoa Điền được phân loại theo màu sắc, tính ra
có bạch ngọc, hoàng ngọc, bích ngọc, hồng ngọc, tử ngọc,
thanh ngọc v.v..., trong đó bạch ngọc được xem là quý nhất.
Ngọc trắng như mỡ dê, bóng mịn, sáng trong, gần như
trong suốt, không có tạp chất. Nó sản sinh tại đỉnh núi Côn
Luân, do sông Ngọc Long Ca Thập xói mòn mà chảy
xuống, đó là một loại ngọc cứng, chất lượng rất tốt, dao
thường không thể gọt khắc được. Hoàng ngọc thường ít
thấy, cũng là một loại ngọc quý như bạch ngọc.
Từ xưa đến nay, việc khai thác ngọc ở Hòa Điền theo
ba cách. Thứ nhất là xuống sông vớt ngọc, thứ hai là “đào
ngọc” giữa lòng sông khi nước cạn, thứ ba là lên núi “đạp
tìm ngọc”, người ta cưỡi một con bò rừng xứ Tây Tạng leo
rừng vượt núi đến tận nơi có ngọc trên núi Côn Luân đi tới
đi lui nhiều lần để đạp tìm ngọc, cứ dựa vào bốn chân của
con vật đạp tới đạp lui, cho đến khi những viên ngọc thạch
lộ ra rồi nhặt lấy, cho nên gọi cách khai thác này là “đạp
ngọc”. Về sau phương pháp này không còn sử dụng nữa,
người ta lại nghĩ ra cách đục núi khai mỏ, phá núi tìm ngọc.
390
Hòa Điền sản xuất ngọc bắt đầu được ghi vào chính sử
kể từ đời Tây Hán. Sử ký viết: “Sứ nhà Hán đi khắp nguồn
sông, các con sông chảy ra Vu Điền, lên đến núi, nơi phát
nguyên của các nguồn sông ấy có nhiều ngọc, người ta
lượm lặt đem về”. Điều này chứng minh rằng hơn 2000
năm trước, khi Trương Khiên đi sứ Tây Vực thì đã có người
từ nội địa đến nước Vu Điền tìm nhặt ngọc đưa về Trung
Nguyên. Có người cho rằng nhân dân thời cổ đại ở Trung
Quốc đã từng đến vùng núi Côn Luân để tìm ngọc thì phải
kể từ thời Mục Vương nhà Chu, tức khoảng 3000 năm
trước mới đứng, họ căn cứ vào sách Mục Thiên Tử truyện
(Truyện về Mục Thiên Tử - tức Chu Mục Vương).
Sách trên kể rằng, năm thứ mười ba Chu Mực Vương,
Mục Thiên Tử đến Tân Cương có lên núi Côn Luân. Năm
ấy tức là năm 934 trước CN. Trong tập sách này có mấy
chỗ ghi lại sự việc nhặt ngọc:
“Thiên Tử leo lên mặt bắc núi Thung Sơn nhìn ra tứ
phía rồi nói Thung Sơn là ngọn núi cao nhất trong thiên hạ
... Thiên Tử nhặt được hai thứ ngọc đó là “ngọc vinh” và
“chi tư”. Thung Sơn chính là núi Thông Lĩnh, tức nay là
cao nguyên Pamia. “Ngọc vinh” và “chi tư” tức hai thứ tinh
túy của ngọc.
Một chỗ khác cũng viết: “Thiên Tử sai người khai thác
ngọc, thu hoạch được ba xe ngọc và các đồ ngọc khác”.
Truyện về Mục Thiên Tử là tập sách viết vào khoảng
thế kỷ thứ IV trước CN, tức vào thời Chiến Quốc, chứ
không phải do người đời sau nguy tạo. Tập sách này được
tìm thấy trong một ngôi cổ mộ thời Chiến Quốc. Năm Thái
Khang thứ hai đời Tây Tấn (281 CN), ở cấp quân (nay là
huyện Cấp, tỉnh Hà Nam) có một người đào trộm mộ tên là
Bất Chuẩn, khi đào trộm mộ Ngụy Nhượng Vương thì được
tập sách Mục Thiên Tử truyện. Ngụy Nhượng Vương mất
391
vào năm 329 trước CN. Cho nên có thể đoán định tập sách
ấy được viết ra chậm nhất là vào thời Chiến quốc (475 -
211 trước CN). Tuy những điều ghi chép trong sách phần
lớn mang màu sắc thần thoại, song đọc toàn bộ tập sách ta
thấy tác giả rất am hiểu về địa lý vùng Tây Vực. Những gì
nói về tình hình sản xuất ngọc ở núi Côn Luân có phần như
thật. Mặc dù tác giả chưa lần nào đến Tây Vực, nhưng chắc
chắn đã từng nghe nói nhiều về xứ ấy.
Lần nữa chúng tôi lên xe đi ngược đòng sông Ngọc
Long Ca Thập, lòng sông càng ngày càng hẹp, hai bên bờ
sông là vách đá dựng đứng cao ước chừng năm, sáu chục
mét, hai vách tường đá đó hầu như muốn thách thức cùng
trời đất, hiên ngang cứng cáp. Đi xe dọc trên vách đá cheo
leo này chúng tôi cứ sợ nó ngã đổ ắt người sẽ thành đống
thịt nhão. Nước sông từ hẻm núi ào ào chảy ra. Đứng ở đầu
sông, tôi nhìn thấy những ngọn núi tuyết trắng phau thì đó
chính là dãy Côn Luân nghe danh từ lâu. Tôi ngẩng đầu
nhìn lên, lòng thầm nghĩ có phải Mục Thiên Tử đã thật sự
lên đến dãy núi này chăng?
SỰ TÍCH VỀ LONG NỮ
Sông Ngọc Long Ca Thập là sinh mệnh của Hòa Điền.
Ở đây có sự tích về Long nữ ngăn nước để cầu hôn, rất có
thể là ám chỉ dòng sông này. Trong Đại Đường Tây Vực
ký, những gì Huyền Trang ghi chép có phần khá rõ.
Tại nước Cù-tát-đản nọ (tức nước Vu Điền), ở phía
đông nam thành có một con sông lớn chảy theo hướng tây
bắc, người trong nước dùng nó để tưới tắm, sinh hoạt, một
hôm bỗng bị ngăn dòng, nhà vua rất lấy làm lạ, bèn hỏi một
cao tăng:
392
- Con sông này lâu nay vốn cung cấp nước cho dân
sinh hoạt, nay bỗng tắc nghẽn, nguyên nhân vì đâu? Có
phải quả nhân cầm quyền chính có gì sai trái chăng hay do
phẩm hạnh quả nhân bất chính chăng? Cớ sao trời lại trừng
phạt tôi nặng như thế?
Vị cao tăng thưa:
- Thật sự không phải do lỗi của đại vương, mà do Hà
long tác quái.
Nhà vua bèn cúng tế Hà long. Bỗng nhiên có một cô
gái từ trong nước hiện lên nói:
- Chồng tôi chết sớm, mong đại vương chọn một viên
quan kết làm chồng với tôi thì nước sẽ chảy lại như cũ.
Nhà vua chấp thuận. Viên quan được chọn cho Long
nữ mặc đồ trắng, cưỡi ngựa trắng cáo biệt đại Vương và tạ
từ dân chúng, lên ngựa nhảy xuống sông, nhưng vẫn đi trên
nước không chìm, cứ trôi nổi giữa dòng, ông bèn vung roi
vạch xuống nước một cái, nước tách ra một đường cả người
lẫn ngựa chìm nghỉm. Lát sau, bạch mã mới nổi lên ... Từ
đó nước sông chảy mãi mang lại hạnh phúc cho toàn dân.
Nhà vua thà hy sinh một vị đại thần sủng ái để đổi lấy
nước sông đừng bao giờ bị ngăn dòng, đủ thấy sự khô hạn,
thiếu nước uy hiếp nghiêm trọng đời sống của dân chúng
biết chừng nào.
Trên đường trở về, tôi thấy trong những mương nước
xây bằng đá cuội, dòng nước trong đang chảy mạnh, lòng
cảm thấy vui vui.
Số đá cuội nhiều vô kể này tuy không quý như ngọc,
nhưng chúng kết tụ lại với nhau xếp thành hàng tạo ra
những đường mương dẫn nước dài đem nước cung cấp cho
nhân dân toàn huyện Hòa Điền.
393
Vùng Hòa Điền có khí hậu khô nóng vào bậc nhất ở
Tân Cương. Lượng mưa bình quân hàng năm từ 34 đến 40
milimét, còn lượng bốc hơi lên đến 2737 … milimét. Do
đó lượng nước mưa ở đây không đáng kể trong sản xuất
nông nghiệp và trong sinh hoạt của nhân dân. Nguồn nước
chủ yếu hoàn toàn dựa vào nước tuyết tan từ trên núi Côn
Luân.
Ở Tân Cương, nước sông thẩm thấu vào cát sa mạc
thường tạo nên tình trạng đoạn lưu, điều này ảnh hưởng rất
lớn đến đời sống của nhân dân, cho nên thiết lập những
đường mương dẫn nước bằng đá cuội để phòng chống nước
thẩm thấu là tránh được tình trạng đoạn lưu, thực hiện công
tác thủy lợi hữu hiệu nhất trong việc lợi dụng hết công suất
nguồn nước.
Để thiết lập các mương nước, người ta rất quý đá cuội.
Có nhiều nông dân mỗi khi ra đường thường mang theo
một cái sọt, giữa đường thấy đá cuội sẽ nhặt lên bỏ vào sọt
mang về nhà gặp việc thì dùng. Vì quý nước như dầu nên
yêu đá như ngọc, những ai chưa đến Tân Cương chắc
không thể hiểu hết tình cảnh này.
Ngày nay, khu vực Hòa Điền bao gồm các huyện Bì
Sơn, Hắc Ngọc, Lạc Phủ, Sách Lặc, Vu Điền, Dân Phong
mà xưa kia là nước Vu Điền hưng thịnh quản hạt đã từng
có thời xưng bá trên tuyến nam của con đường tơ lụa, đã
kiến tạo 818 đường mương bằng đá cuội phòng chống thẩm
thấu nước, tổng chiều dài ước chừng 1500 cây số, lại càng
có công dụng hữu hiệu trong việc lợi dụng nước tuyết tan
từ núi Côn Luân. Diện tích canh tác toàn khu vực đã mở
rộng đến ba triệu mẫu.
394
TRUNG TÂM NGHỀ TƠ LỤA TRÊN TUYẾN NAM
CỦA CON ĐUỜNG TƠ LỤA
Khu vực Hòa Điền nằm trên tuyến nam của con đường
tơ lụa, một trung tâm về nghề dâu tằm và nghề dệt tơ lụa.
Ở đây có một sở nghiên cứu dâu tằm và có xưởng tơ lụa
lớn nhất của khu tự trị Tân Cương, sản xuất tơ lụa xuất
khẩu.
Tại sở nghiên cứu dâu tằm, chúng tôi được anh Trần
Vinh Lâm, kỹ thuật viên của viện nông học Triết Giang
nhiệt tình tiếp đãi. Chúng tôi đều là người Triết Giang, ở
chốn Tân Cương xa xôi này được gặp người đồng hương,
được nghe âm giọng quê nhà thật là vui mừng thân thiết.
Anh bưng ra một tách trà và một khay nho tươi mới hái ra
mời tôi. Tôi hỏi:
- Anh rời quê hương đến Hòa Điền từ bao giờ?
- Từ năm 1954. - Anh đáp: Khi Tân Cương mới giải
phóng, để khôi phục ngành sản xuất dâu tằm, chúng tôi một
loạt những nhân viên kỹ thuật ngành dâu tằm từ Giang Tô,
Triết Giang được điều đến Tân Cương, và tôi được phân
phối về Hòa Điền.
Tôi nghĩ, sở nghiên cứu dâu tằm duy nhất ở Tân Cương
này sau nhiều năm làm việc, nhất định có một quy mô
tương đối, tôi yêu cầu anh dẫn tôi đi tham quan một chuyến
rồi sẽ bàn luận. Anh tỏ vẻ hơi khó xử, nói:
- Thú thật chẳng có gì đáng xem cả.
Tôi cho anh tỏ ra khách sáo, bèn nói:
- Chúng tôi đều là nó ngoài nghề, chẳng qua chỉ muốn
xem cho biết mà thôi.
Anh thành thật nói:
395
- Đúng là chẳng có gì để xem thật, không nói giấu gì
các anh, biển “Sở nghiên cứu” mới lấy lên treo lại sau nhiều
năm gỡ xuống, những máy móc, thiết bị, tư liệu còn khóa
cả trong kho, những người làm công tác kỹ thuật chúng tôi
mới được điều về từ nông thôn …
Tôi bỗng hiểu ra, đồng thời cảm thấy đau lòng. Sở
nghiên cứu dâu tằm duy nhất ở Tân Cương cũng không
thoát khỏi cơn cuồng phong phá hoại sản xuất, phá hoại
văn hóa của bọn bạo loạn Lâm Bưu, bọn “Tứ nhân bang”
trên phạm vi toàn quốc. Trong khoảng mười năm gặp đại
nạn ấy, nó đã bị phong tỏa, hiện nay mới được đang khôi
phục.
Trấn Vinh Lâm và tôi cùng nhau ôn lại chặng đường
thịnh suy của nghề dâu tằm ở khu vực Tân Cương và Hòa
Điền mà bồi hồi cảm khái vô hạn.
Song song với việc vận chuyển tơ lụa từ Trung Quốc
sang Tây Vực, tất nhiên kỹ thuật nuôi tằm dệt tơ cũng được
truyền bá thông qua con đường tơ lụa. Điều đáng tiếc là
đến nay không có tài liệu lịch sử nào xác minh kỹ thuật
nuôi tằm dệt tơ truyền thống của Trung Quốc được du nhập
đến miền tây vào lúc nào? Và du nhập bằng cách nào?
Ở Hòa Điền có một câu chuyện cổ hay được truyền
tụng kể về tằm giống từ phương đông đến nước Vu Điền
như thế nào. Tân Đường thư, truyện về Tây Vực có ghi
chép, nhưng rõ nhất là những ghi chép của Huyền Trang
trong Đại Đường Tây Vực ký.
Trong một ngôi chùa cách kinh đô nước Vu Điền năm,
sáu dặm, Huyền Trang thấy rất nhiều cây dâu khô, người
ta nói giống của những cây dâu này do từ phương đông đưa
tới. Mà ngôi chùa này lại do Vương phi của tiên vương xây
dựng, bà chính là công chúa nhà Đường đã có công đem
giống dâu tằm truyền vào nước Vu Điền.
396
Nước Vu Điền vốn không biết trồng dâu, không biết
nuôi tằm, nhà vua bèn phái sứ giả đến Đông quốc cầu cứu.
Mà Đông quốc thì giữ bí mật về nghề nuôi tằm dệt tơ,
không được truyền cho nước khác. Vả lại, trên các trạm
kiểm soát biên giới, người ta kiểm tra rất nghiêm nhặt, đế
phòng dâu tằm giống lọt ra ngoài. Vua Vu Điền bèn cầu
hôn công chúa Đông quốc, lệnh sứ giả rằng: “Khanh cố nói
rõ với công chúa là nước ta không có giống dâu tằm, mong
nàng lấy giống mang về để phát triển nghề trồng dâu nuôi
tằm, tự dệt vải lụa may y phục”.
Thế là khi sắp nghênh hôn, công chúa bèn bí mật cất
giấu dâu tằm giống. Lúc qua cửa ải, áo quần, vật dụng, hòm
xiểng đều bị kiểm tra gay gắt, chỉ có chiếc mũ công chúa
đội trên đầu là không kiểm tra. Dâu tằm được cất giấu ở
đấy. Từ đó nước Vu Điền trồng dâu, nuôi tằm dệt lụa rất
thịnh hành.
Về lịch sử nước Vu Điền, trong sử liệu của nước Tây
Tạng cũng có đề cập đến câu chuyện này, nói vua nước Vu
Điền cưới con gái vua Đường nước Trung Quốc, vị vương
phi này đã đem giống tằm từ bổn quốc đến Vu Điền, từ đó
về sau, Vu Điền bắt đầu có nghề nuôi tằm.
Cũng thú vị hơn là trên một bức họa mộc bản tìm
được trong một đống đổ nát ở Tantan Ulik thuộc bắc bộ sa
mạc Hòa Điền có vẽ một bà quý tộc ở chính giữa ăn mặc
xinh đẹp, đầu đội mũ cao, bên cạnh có một cô gái đưa tay
trái chỉ vào chỗ mũ cao của bà quý tộc. Giữa hai người phụ
nữ có đặt một chiếc giỏ đầy kén tằm. Theo như lời giải
thích của người phát hiện thì nội dung của bức họa mộc bản
ấy chính là câu chuyện công chúa nhà Đường giấu dâu tằm
giống trong chiếc mũ để qua mắt người kiểm soát mà
truyền nhập vào Tây Vực.
397
Trên thực tế, kỹ thuật nuôi tằm dệt lụa ở nội địa được
truyền đến Tân Cương vào khoảng thế kỷ thứ VII (tức đầu
đời Đường). Trong các tầng trầm tích văn hóa đời Đường
ở cổ thành Thoát-khố-tư-tát-lai thuộc huyện Ba Sở, người
ta đào được kén tằm và tơ lụa, hiện đang trưng bày ở viện
bảo tàng Tân Cương. Trong số văn bản đào được ở
Tolophan có ghi chép những phiếu thuê mướn dâu tằm vào
đời Tây Lương Kiến Sơ năm thứ mười bốn (tức năm 418
CN). Điều này chứng tỏ rằng kỹ thuật nuôi tằm dệt tơ đã
được truyền vào Tân Cương vào thế kỷ thứ V CN, nhưng
đến thế kỷ thứ VII mới trở nên phổ biến.
Sau khi nghề nuôi tằm dệt tơ được đưa vào Tân Cương,
hơn một ngàn năm trở lại đây sự sản xuất tơ tằm không
những được tiếp tục kế thừa mà còn phát triển và nâng cao
hơn nữa.
Những người có tấm lòng với sự nghiệp dâu tằm Tân
Cương như Trần Vinh Lâm đã khôi phục ngành dâu tằm ở
Hòa Điền. Anh nói, sau khi “bọn tứ nhân bang” bị hạ bệ,
hính phủ đã đưa ra nhiều hình thức kinh doanh được nhân
dân tiếp nhận. Nhiều chính sách kinh tế hữu hiệu đã khích
lệ và bảo hộ người nông dân yên tâm trong nghề dâu tằm.
Nông dân vùng Hòa Điền lại có thói quen lâu đời nuôi tằm
kéo sợi, đất đai, khí hậu ở đây lại rất thích hợp cho cây dâu
sinh trưởng, sâu bệnh phá hoại cũng rất ít, nên chẳng bao
lâu, ngành dâu tằm trở nên phát triển. Họ đang nghiên cứu
phương pháp trồng dâu chóng lớn bằng sự giâm cành. Nếu
chính sách kinh tế ổn định lâu dài, việc khôi phục và sản
xuất nghề dâu tằm ở đây sẽ có triển vọng rất to lớn.
Cuối cùng anh dẫn tôi đi thăm vườn giâm cành giống
cây dâu. Thời kỳ sở nghiên cứu dâu tằm đóng cửa thì vườn
ươm giống này không dễ gì tồn tại được. Ở đây người ta đã
gây giống loại dâu trắng, cành lá thấp, rễ ăn sâu vào đất có
398
thể chịu được nắng hạn và gió bão. Lá dâu tuy nhỏ, nhưng
có giá trị dinh dương cao rất thích dụng cho ngành dâu tằm
phát triển.
NHỮNG ĐIỆU MÚA CỦA NGƯỜI HỒ
Vào một buổi chiều cuối tuần, chúng tôi nghỉ lại ở một
nơi gần một đại lễ đường, đèn đuốc sáng trưng, tiếng người
huyên náo, có lẽ người ta đang tổ chức đêm dạ hội cuối
tuần thì phải; chúng tôi rất muốn đi xem cho biết. Chúng
tôi được người ta đưa vào hội trường, chúng tôi rất vui vẻ
hào hứng.
Trong lễ đường người chật như nêm, người đi vào như
nước, chen chân không lọt. Vở diễn tối nay là một vở ca
kịch mới của người Uygur rất được khán giả hoan nghênh.
Nhưng chúng tôi nghe không hiểu lời ca tiếng nói nên
không thưởng thức được.
Người đồng hành của tôi đề nghị:
Thôi, mời các anh đi xem ca múa đi! Tiết mục của đoàn
ca múa văn công Tân Ngọc rất nổi tiếng, ngay cả thủ tướng
Chu Ân Lai và đồng chí Trần Nghị cũng rất tán thưởng.
Sau đó, chúng tôi đến chỗ ở của đoàn văn công Tân
Ngọc xem các diễn viên diễn tập, tiết mục quả nhiên rất
xuất sắc. Đặc biệt là các điệu nhảy múa, đúng là rất oai
dũng đẹp mắt, xem ra công lực của các diễn viên rất thâm
hậu. Người Uygur ca hay, múa đẹp. Họ được tuyển chọn từ
trong quần chúng, được huấn luyện chuyên môn kỹ lưỡng
nên kỹ thuật rất cao siêu.
Tôi cảm thấy các điệu nhảy múa của người Uygur cơ
hồ có mối quan hệ nào đó với các điệu múa xoay, múa nhảy
của người Hồ ở Tây Vực thời cổ đại. Vào đời nhà Đường,
399
các điệu nhảy múa từ Tây Vực truyền nhập vào Trung
Nguyên rất được ưa chuộng. Nhiều nhà thơ đã miêu tả hoặc
tô vẽ thêm thanh sắc cho các điệu nhảy múa ấy. Bài Hồ
toàn nữ (Cô gái Hồ múa xoay) của Bạch Cư Dị là một bài
thơ nổi danh:
Hồ toàn nữ, Hồ toàn nữ,
Tâm ứng huyền, thủ ứng cổ.
Huyền cổ nhất thanh song tụ cử,
Hồi tuyết phiêu dao chuyển bồng vũ.
Tả toàn hữu chuyển bất tri bì,
Thiên cân vạn chu vô dĩ thời.
Nhân gian vật loại vô khả tỉ,
Bon xa luân hoàn toàn phong trì …
Tạm dịch: Cô gái Hồ múa xoay, cô gái Hồ múa xoay,
tâm hòa với tiếng đàn, tay đưa theo nhịp trống. Đàn trống
cùng cất lên hai tay áo cùng đưa cao rung lắc; đang lung
linh như tuyết rơi, bỗng chuyển điệu múa ào ào. Xoay trái,
xoay phải không hề biết mệt, ngàn vòng, vạn vòng xoay tít
không ngừng. Người vật nào cũng không thể sánh nổi,
nhanh chậm như bánh xe quay tùy thích.
Bài thơ có đề cập đến “Cô gái Hồ múa xoay vốn xuất
thân từ nước Khang Cư” (Hồ toàn nữ, xuất Khang Cư).
Theo sử sách ghi chép, người Trung Nguyên rất thích điệu
múa xoay của người Hồ, nên các nước Tây Vực như nước
Mễ, nước Sử, nước Câu Mật ... đều dâng hiến những cô gái
xoay kiểu người Hồ.
Theo bài thơ của Bạch Cư Dị, ta có thể thấy điệu múa
xoay của người Hồ trở thành mốt của một thời, ngay như
ái phi của Đường Huyền Tông - Dương Quý Phi, cũng giỏi
400
về điệu múa xoay này và đã khiến đấng quân vương phải
mê mẩn.
Còn điệu “múa nhảy của người Hồ” (Hồ đằng vũ) thì
xuất phát từ nước Thạch ở Tây Vực truyền nhập vào Trung
Nguyên. Bài “Hồ đằng khúc” của Lý Đoan có tả: “Hồ Đằng
thân thị Lương Châu Nhi, cơ phu như ngọc, tỵ như chùy”
(Nghĩa là điệu múa nhảy kiểu người Hồ xuất phát từ Lương
Châu; da thịt vũ nữ trắng như ngọc, mũi cao thẳng như quả
chùy). Lương Châu là tên thường gọi để chỉ Tây Vực. Da
dẻ người Lương Châu trắng, mũi thẳng và cao, rõ ràng rất
khác với người Tây Vực ở Trung Nguyên. Theo bài thơ
miêu tả thì người nhảy điệu “đằng vũ” đầu đội mũ nhọn,
mình mặc áo chật thắt, cứ trên thảm hoa tùy theo tiết tấu
nhanh mạnh của âm nhạc, người nhảy đánh nhịp chân gấp
rút, phức tạp ... người xem phải hoa mắt, không biết đâu
mà lần.
Khi đứng xem đoàn văn công Tân Ngọc biểu diễn thấy
tư thế của nữ diễn viên thì xoay vòng, còn bước chân của
nam diễn viên thì nhanh gọn, điệu nghệ, điều này khiến tôi
nghĩ đến những câu thơ nói về “Điệu múa xoay người của
người Hồ” và “Điệu múa nhảy của người Hồ” ở trên.
Đoàn văn công Tân Ngọc biểu diễn tại nội địa đã
từngvang danh một thời. Họ nhớ lại những ngày vinh
quang nọ tươi cười đắc ý. Họ còn cho chúng tôi xem những
tấm hình đầy vui thích, hào hứng khi họ diễn xuất tại Bắc
Kinh, Thượng Hải, Diên An, Quảng Châu ...
401
24. CỔ THÀNH BỊ CHÔN VÙI TRONG SA
MẠC
Trên đường rời Hòa Điền đi Vu Điền, vị phó giám đốc
Viện Bảo tàng Tân Cương Lý Ngẫu Xuân nói đùa:
- Chúng ta đang từ Vu Điền đi Vu Điền đấy!
Tôi cười bảo:
- Thế thì hóa ra tên đất vốn không thay đổi ư?
Anh tài xế Tiểu Mã không hiểu, nói:
- Xe đang chạy rất nhanh từ nơi này qua nơi khác, cớ
sao các vị lại nói tên vốn không thay đổi nhỉ?
Thì ra nước Vu Điền cổ đại hiện nay không còn gọi là
huyện Vu Điền mà gọi là huyện Hòa Điền, chúng tôi đang
tiến về huyện Vu Điền nhưng không phải là nước Vu Điền
thời cổ đại mà là nước Câu Nhĩ. Người ta thường lẫn lộn
Hòa Điền với Vu Điền, có đích thân đi đến đấy mới có thể
phân biệt rõ ràng, thật ra hai nơi này cách nhau hơn 160
cây số.
VĂN VẬT MỚI ĐƯỢC PHÁT HIỆN TRONG SA
MẠC
Giữa đường qua huyện Sách Lặc. Chúng tôi được ông
chủ nhiệm văn phòng huyện ủy Vương Ức Quân mời nghỉ
lại. Ông tự xưng mình là người yêu thích khảo cổ nghiệp
dư, đã từng quen biết Lý Ngẫu Xuân. Năm 1978, hai người
là bạn đã từng đi vào khu bắc sa mạc thuộc huyện Sách Lặc
để tìm hiểu, khám phá, khảo sát một tòa cổ thành bị chôn
vùi trong cát. Việc đã xảy ra một năm, sau đó ông tập hợp
thêm tám người tiến vào sa mạc một lần nữa. Gần khu cổ
402
thành bỏ hoang tại Tantan Ulik, họ đã tìm ra nhiều văn vật.
Lúc chúng tôi đi qua, ông đang chuẩn bị tổ chức triển lãm
những văn vật lịch sử thuộc khu vực Sách Lặc; thấy có Lý
Ngẫu Xuân, ông rất vui mời bằng được chúng tôi ở lại vài
ngày xem xét, chỉ đạo.
Phòng triển lãm nho nhỏ, bày bố rất có trật tự. Người
đến xem đi qua một lượt có thể có một số ấn tượng sâu sắc
về lịch sử vùng Sách Lặc. Vùng sa mạc bắc bộ Sách Lặc có
một vài khu thành hoang phế bị cát chảy (lưu sa) chôn vùi,
trong đó có tháp Phật, chùa chiền và thôn trang. Các hiện
vật đem trưng bày phần lớn là những gì phát hiện được qua
hai lần tìm kiếm, khảo sát tại sa mạc, bao gồm chân đèn
khắc mài bằng ngọc (văn vật đời Tống, Nguyên), nhiều
nhất là tiền đồng, trong đó gồm có “tiền ăn năm” đời Hán,
tiền đồng có ghi văn tự Ả Rập, đồ đất nung có cách tạo hình
khá đẹp trên mặt có in phù hiệu chữ “Vạn”. Các văn vật
đào được này là những bằng chứng xác nhận sự giao lưu
vàn hóa kinh tế trên con đường tơ lụa.
Điều đặc biệt khiến ta chú ý xem xét đó là cái tráp gỗ
đào được trong thành hoang phế ở sa mạc, Lý Ngẫu Xuân
cho rằng nó là văn vật có trước đời Đường. Tráp gỗ hay
còn gọi là hòm gỗ, người ta ghép ván thành hai khối, một
khối dài, giữa có một rãnh bằng phẳng để có thể úp khối
ngắn hơn vào cho vừa vặn. Khi sử dụng, người ta viết văn
tự vào hai mặt bên của tráp, sau đó đậy lại; ngoài tráp đi
một cái rãnh dùng dây buộc chặt, phủ thêm ngoài một lớp
đất sét nữa có đóng con dấu phòng người ngoài tháo mở.
Trên tráp có viết chữ Tây Vực màu đen. Những năm qua,
các tráp gỗ được phát hiện ở khu vực này đa số viết bằng
chữ Khư Lô, nhưng cái tráp này thì không phải. Lý Ngẫu
Xuân chớp mấy kiểu ảnh đem về nghiên cứu. Ông sơ bộ
giám định đây là một khế ước viết bằng chữ Hòa Điền cổ.
403
Điều này đối với những nhà nghiên cứu lịch sử thời cổ rất
có giá trị.
Còn một điều đặc biệt khiến người ta chú ý nữa, đó là
bức tượng đất nung khá tinh xảo, cao khoảng hai centimét,
trên có khắc hai hình có dạng người, mặt đối mặt ôm nhau,
nhưng rất tiếc phần đầu đã bị mất, nhìn không ra người hay
vượn gì cả. Vương Ức Quân đoán là hình của Phục Hy và
Nó Oa, tổ tiên của loài người trong thần thoại cổ Trung
Quốc. Điều này nói lên rằng văn hóa cổ đại của người Hán
không chỉ truyền đến Tolophan (ví như trong một ngôi cổ
mộ ở Tolophan đời Đường, người ta đã phát hiện bức
vẽ Phục Hy Nữ Oa đồ) mà còn đến cả vùng Nam Cương.
Lý Ngẫu Xuân xem xét hồi lâu rồi phủ nhận sự phán
đoán của Vương Ức Quân. Ông nói, theo hoa văn trên phần
thân và đuôi dài ở phần mông sau của tượng đất nung mà
xem thì đây không phải là tượng hình người mà là tượng
hình vượn, cho nên không dính dáng gì đến Phục Hy - Nữ
Oa cả.
Hai lần vào sa mạc, họ thu thập không ít văn vật, điều
này đã cổ vũ rất lớn đối với sự việc chúng tôi sắp tiến vào
sa mạc. Chúng tôi đặc biệt yêu cầu Vương Ức Quân cho
biết kinh nghiệm đi lại trong sa mạc, ông đưa cho tôi một
tập bản thảo có tiêu đề “Ghi chép về lần thám hiểm đầu tiên
đi tìm di chỉ cổ tại Tantan Ulik”. Đọc xem thấy có nhiều
điều mới lạ thích thủ. Lý Ngẫu Xuân nói ở nam bộ đại sa
mạc Taklamacan có khá nhiều cổ thành hoang phế, nhưng
cần phải có nhiều cán bộ khảo sát và bảo quản văn vật cổ
nhiệt tình như Vương Đức Quân mới có điều kiện tìm kiếm
phát hiện đầy đủ được.
404
CHỢ PHIÊN VÀ CƯ DÂN Ở VU ĐIỀN
Trên đường từ Sách Lặc đi Vu Điền, ngoại trừ một
đoạn ngắn là sa mạc, còn toàn bộ là lục châu, không ruộng
vươn thì cũng ao đầm lau sậy sum suê. Huyện Sách Lặc có
ba con sông lớn nhỏ. Là một huyện có nguồn nước khá
sung túc.
Chúng tôi vốn cho rằng từ Hòa Điền xuôi về hướng
đông chắc là cư dân thưa thớt, giao thông bất tiện, ngoài
đường sẽ ít gặp người qua lại, sản xuất lạc hậu. Nhưng khi
vào đến huyện lỵ Vu Điền, cảm quan hoàn toàn đổi khác.
Có lẽ do ảnh hương của ngày kỷ niệm lễ quốc khánh
lần thứ ba mươi chăng? Vu Điền đã để lại cho tôi nhiều ấn
tượng tốt đẹp. Chúng tôi đến Vu Điền vừa đúng trước lễ
quốc khánh một ngày, huyện thành nho nhỏ này có dáng vẻ
vui nhộn hẳn lên. Con đường lớn thẳng tắp của trung tâm
huyện lỵ đã trải nhựa, được quét dọn sạch sẽ đến một ngọn
lá, một mảnh giấy vụn cũng không có. Nhựa rải đường
trước đây vốn không ai biết nó là thế nào, thế mà bây giờ
hàng thùng hàng thùng được vận chuyển đến từ nhà máy
lọc dầu Klamay và Độc Sơn Tử cách xa hàng 3000 cây số,
con đường tráng nhựa này rõ là rất khó khăn mới có được.
Các cửa hàng tuy không giăng đèn kết hoa nhưng được
quét vôi lại như mới. Hàng hóa khá đầy đủ, có hàng bách
hóa, thực phẩm từ Thượng Hải, Thiên Tân chở đến. Tôi
mua hai gói thuốc thơm Thượng Hải, ở Bắc Kinh mỗi gói
năm hào hai, ở đây năm hào tư, có thể nói không đắt vì
trong đó tính cả tiền cước phí, vận chuyển khá xa như vậy
mà chỉ hơn có hai xu xem ra nhà nước đã có chính sách
chiếu cố đến các dân tộc ở vùng biên cương xa xôi.
Nhân viên bán hàng người Hán tuổi đã trung niên, chị
nói giọng Thiên Tân, thái độ hòa nhã, chị đang nói chuyện
với khách hàng người Uygur, chắc chị nói tiếng Uygur lưu
405
loát và có vẻ hợp nhau lắm. Chị là thanh niên chí nguyện
từ thành phố Thiên Tân phồn hoa đến miền biên cương xa
xôi Vu Điền này đã hơn hai mươi năm.
Chợ phiên trước ngày lễ trở nên tấp nập vô cùng, đó là
những gì gọi là đông vui, náo nhiệt nhất mà tôi được chứng
kiến trên con đường tơ lụa. Hai bên con phố lớn, người ta
bày những gian hàng, có gian hàng quốc doanh, có gian
hàng hợp tác xã, cũng có những sạp hàng của nông dân đưa
hàng hóa từ nông thôn đến. Chiếc xe lửa hai bánh, bốn góc
dựng bốn trụ căng lên một tấm vải nhựa, thế là có một sạp
hàng tạm thời, không chê vào đâu được. Hàng hóa của
phiên chợ bày bán bao gồm từ tơ lụa Tô Châu, Hàng Châu
đến thảm dệt Hòa Điền; từ rượu hổ cốt của Hắc Long Giang
đến kẹo dừa Quảng Châu. Hàng hoá trên cả nước không
thiếu thức gì, nhiều nhất là dưa
Ha Mật trồng ở Vu Điền, nho, mũ hoa; rồi đã trang sức
bằng vàng bạc tinh xảo cùng thau chậu đồng chạm trổ tinh
vi đủ các kiểu, các loại, thiên hình vạn trạng. Đi dạo chợ
phiên “Ba trát” là một cái thú, chợ phiên kéo dài đến tận
quảng trường; người bán hàng và mua hàng chen chân
không lọt. Tiếng rao hàng, lời trả giá râm ran ầm ào như
sôi. Giữa trưa, trời nắng tôi đang ở ngay giữa chợ, người
qua kẻ lại chật cứng như nêm, mồ hôi đổ ra như tắm. Thật
tình tôi không có ý mua sắm gì cả chỉ muốn xem qua cho
biết mùi vị của một phiên chợ mang sắc thái Tây Vực mà
thôi.
Từ khu chợ đông người bước ra, tôi đi vào một xóm
nhỏ, dọc hai bên đường đất ngoằn ngoèo có mương nước
chảy róc rách, trụ dàn nho kéo từ sân ra đến đường cái,
trước mỗi cổng nhà đều có cây cầu nhỏ bắc qua mương
nước, đôi khi có những cây cầu nối dài bởi một dãy lan can
bằng gỗ. Một cụ già râu dài ôm cháu bé ngồi trên lan can,
406
vẻ an nhiên tự tại chẳng khác nào một bức tranh quê yên
tĩnh.
Lý Ngẫu Xuân nói nhà ở của cư dân nội thành huyện
Vu Điền có lối kiến trúc đặc biệt mang sắc thái vùng Nam
Cương nhiều nhất. Chúng tôi đi vào một gia đình, qua khỏi
cổng chính là sân nhà, điều đặc biệt kỳ lạ là sân nhà dùng
làm nơi để ở sân được đắp nền đất cao, trên trải thảm, một
bên là giương ngủ một bên là bếp lò theo kiểu Uygur. Tại
sao họ dùng sàn nhà làm nơi để ở? Điều này cũng có cái
thú của nó! Ở Nam Cương, mùa nóng kéo dài khá lâu, ngủ
ngoài trời há không sợ nắng thiêu mưa đốt chăng? Ồ, không
hề gì'! Tại đây lượng mưa quá ít, với lại quanh sân người
ta che chắn vách gỗ hẳn hoi, phần lộ thiên chỉ hiện ra một
khoảnh nhỏ ở chính giữa mà thôi nên không có gì đáng ngại
về chuyện mưa nắng cho lắm.
BỮA TIỆC NHÂN NGÀY QUỐC KHÁNH
Ngày thứ hai nhằm đúng ngày kỷ niệm quốc khánh lần
thứ ba mươi. Tôi đã đánh điện về nhà chúc mừng bạn bè
thân hữu ở thủ đô hưởng ngày quốc khánh vui vẻ. Còn tôi
phải làm gì đây để trải qua ngày lễ hiếm hoi này tại nơi biên
cương xa xôi này?
Ăn sáng xong, ông Lưu, huyện ủy phụ trách đón tiếp
chúng tôi nói:
- Các Vị lãnh đạo huyện ủy hôm nay đều đến làm việc
ở trạm thủy điện, các anh có muốn đến đó xem qua cho biết
không?
Khách đành tùy chủ. Chúng tôi lên xe đi về hướng tây
nam của huyện. Mặt đối mặt với dãy núi tuyết, đó chính là
dãy Côn Luân. Trên suốt đường đi đều là hoang mạc. Xe
chạy một đoạn chừng 36 cây số thì đến một nơi gọi là Thác-
407
hồ-la- khắc, tiếng Uygur có nghĩa là “cây ngô đồng lớn”,
nhưng lại không thấy bóng đáng cây ngô đồng nào cả mà
chỉ thấy trên rìa sa mạc một dãy lều trại, đó chính là công
trường trạm thủy điện Thác-hồ-la-khắc.
Sau khi xuống xe, chúng tôi đi về hướng trung tâm
công trường, thật không ngờ, chẳng thấy đập ngăn nước
của một công trình thủy lợi thường có, chúng tôi tiến đến
bên cạnh một giếng sâu. Cái giếng to tướng này đào bên rìa
sa mạc sâu đến ba mươi hai mét.
- Giếng sâu này để làm gì? - Tôi hỏi.
- Để tạo ra độ chênh lệch mực nước trên đất bằng.-
Người bạn đồng hành bảo.
Thì ra trạm thủy điện này nằm bên rìa sa mạc, lợi dụng
độ chênh lệch nước nhân tạo để dẫn nước sông Khắc Lý
Nhã dùng chạy máy phát điện.
Tôi nổi hứng bò xuống đáy giếng. Ở đấy người ta
chuẩn bị phòng ốc lắp đặt tuốc bin chạy máy phát điện. Bên
trái có một đường hầm khác dài đến 1300 mét có thể để cho
một người lớn đi thẳng thong thả bên trong, đó là đường
mương ngầm dưới lòng đất đưa nước thừa sau khi tuốc-bin
làm quay máy đến đường mương nằm trên mặt đất.
Tôi đi dọc theo đường dẫn nước ngầm này thì cách đấy
một đoạn có một cái giếng thông với mặt đất, tôi không đi
hết đoạn mương ngầm để ra khỏi lòng đất mà lại leo lên
theo miệng giếng này. Bấy giờ tôi mới vỡ lẽ và nói với họ:
- Thì ra các anh được gợi ý từ những “khảm nhi tỉnh”
ở Tolophan mà khởi phát công việc này chăng?
- Vâng, lợi dụng độ chênh lệch mực nước nhân tạo để
làm ra trạm thủy điện kiểu này là một sáng kiến chỉ ở đây
mới có.
408
Người trả lời câu hỏi của tôi là đồng chí Phàn Kiến
Phúc, phó bí thư huyện ủy huyện Vu Điền. Ông cho biết sơ
lược về việc kiến thiết công trình thủy lợi huyện Vu Điền.
Toàn huyện đã làm hơn 500 cây số mương dẫn nước bằng
đá cuội, xây 60 hồ chứa nước dùng để tưới tiêu cho hơn
bốn mươi vạn mẫu ruộng. Để lợi dụng số nước dưới lòng
đất, kế hoạch là phải đào hai vạn giếng bơm nên rất cần
phải có điện. Sông Khắc Lý Nhã lớn nhất của huyện có lưu
lượng nước khá lớn có thể dùng chạy máy phát điện. Nhưng
nếu vào núi sâu xây dựng trạm thủy điện tất phải đầu tư rất
nhiều vốn, vì thế mới nghĩ ra việc đào giếng sâu bên rìa sa
mạc để tạo độ chênh lệch mực nước dùng cho việc chạy
máy phát điện. Dung lượng trên thiết kế của trạm thủy điện
“Cây ngô đồng lớn” là 3,750,000 kilôwat. Sau khi hoàn tất,
cơ bản có thể đủ điện dùng cho toàn huyện Vu Điền. Năm
1949, Phàn Kiến Phúc đã theo quân giải phóng tiến vào Tân
Cương đến nay đã đúng ba mươi năm. ông có thể nói thạo
tiếng Uygur, đã hòa nhập vào cuộc sống của dân chúng ở
đây. Trong khoảng thời gian mười năm ác mộng của cuộc
cách mạng văn hóa, nhiều phần tử xấu đã muốn hãm hại
ông, nhưng ông được người Uygur bảo bọc giúp đỡ. Cùng
với ông theo đuổi ngành sản xuất nông nghiệp và tu tạo các
công trình thủy lợi là chủ nhiệm công xã Osman Smay, lúc
lâm chung, Osman Smay đã ký thác đứa con gái bé nhỏ của
mình cho ông chăm sóc, chiếu cố ... Thế là ông đã cắm rễ
sâu vào cuộc sống của quần chúng dân tộc thiểu số ở Tân
Cương.
Rời trạm thủy điện trở về huyện lỵ, tiện đường chúng
tôi ghé qua công xã Bồ Đào. Vừa vào phòng làm việc công
xã, người ta đã bưng ra bốn khay nho tươi gồm bốn loại
nho khác nhau: nho vú ngựa, nho Mulak, nho không hạt và
nho hồng. Mỗi thứ tôi đều nếm qua cho biết, rõ không thua
409
gì nho ở Tolophan. Đặc biệt thích nhất là loại nho không
hạt, trái tuy nhỏ nhưng nước nhiều, vị ngọt thanh.
Trước cuộc “Đại cách mạng văn hóa”, công xã Bồ Đào
trồng nho là chính, năm 1954 đã từng sản xuất đến 1250
tấn nho khô, sau bị phá hoại theo với cơn lốc văn hóa ấy,
hiện nay đang khôi phục.
Buổi trưa, công xã Bồ Đào mở tiệc chiêu đãi, đồng thời
mời khách thưởng thức rượu nho của chính công xã chế
tạo, vị đượm mùi thơm đến nay vẫn còn nhớ, vẫn cứ nghĩ
các thứ rượu nho mình đã uống trong đời thì rượu nho của
công xã Bồ Đào ở Vu Điền là thứ rượu nho tuyệt hảo nhất.
Tân Cương không hổ là quê hương của rượu nho. Trước
đời nhà Đường, cống phẩm của các nước Tây Vực thường
thường có rượu nho.
Vào đời Đường Thái Tông, Trường An mới học cách
chế tạo rượu nho.
Trong bữa tiệc có cả người Hán lẫn người Uygur, có
người từ Hoa Bắc, Hoa Nam đến, có người từ Bắc Cương,
Nam Cương lại có thể nói anh em bốn biển hội ngộ trong
ngày quốc khánh lần thứ ba mươi tại vùng lục châu bên rìa
sa mạc Nam Cương này thật vô cùng hãn hữu. Lý Ngẫu
Xuân nâng cốc chúc Tổ quốc phồn vinh thịnh trị, chúc nhân
dân các tộc an khang hạnh phúc.
DI CHỈ NI NHÃ
Sau ngày quốc khánh, chúng tôi từ Vu Điền đi về
hướng đông, phải hai lần vượt qua sa mạc mới đến huyện
Dân Phong, hành trình dài 120 cây số này chỉ gặp hai chiếc
xe khách từ Dân Phong đi về Vu Điền.
410
Dân Phong một huyện rất nhỏ, diện tích hơn năm mươi
ngàn cây số vuông, nhân khẩu hai mươi ba ngàn người.
Mặc dù ở nội thành của huyện có đường phố lớn rộng rãi
bề thế, kiến trúc nhà cửa hai bên đường cũng khá tân kỳ,
nhưng người đi lại trên đường phố quá thưa thớt, đặc biệt
so với cảnh tấp nập ồn ào ở Vu Điền trong những ngày có
chợ phiên trước lễ quốc khánh lại càng vắng lặng hơn nữa.
Vào thời Tây Hán, Dân Phong thuộc nước Tinh Tuyệt.
Thời Đông Hán thuộc nước Thiên Thiện. Di chỉ của nước
này ở hạ lưu sông Ni Nhã cách huyện Dân Phong 150 cây
số về phía bắc hiện nay đã bị chôn vùi trong sa mạc.
Lý Ngẫu Xuân cho biết phạm vi của di chỉ Ni Nhã khá
lớn, phân bố dọc sông Ni Nhã khô cạn, nam bắc dài chừng
mười cây số, đông tây rộng khoảng hai cây số, đây đó còn
thấy nhà cửa, phòng ốc làm bằng gỗ. Kèo cột và đòn tay
toàn đều bằng gỗ hồ dương. Phòng ốc thì lớp bằng rơm rạ,
phân dê và bùn đất; còn tường vách thì dùng loại hồng liễu
gài thành phên, hai mặt trát bùn đất nay vẫn còn tốt.
Trên khu di chỉ, người ta phát hiện nông cụ, thức ăn,
tơ lụa, đồ dệt bằng lông thú; ngoài ra cần tìm thấy những
thẻ tre và thẻ gỗ viết cho Khư Lô, chữ Hòa Điền cổ và chữ
Hán.
Lý Ngẫu Xuân nói văn vật được khai quật ở di chỉ Ni
Nhã rất phong phú, có một con dấu bằng chữ Hán có tên là
“Ty Hòa phủ ấn” (Con dấu của phủ Ty Hòa). Tại Tây Vực
đời nhà Hán đã thiết đặt phủ Ty Hòa, chuyên quản lý công
việc đồn điền. Sự phát hiện ra con dấu khắc chạm tinh tế
này ở di chỉ Ni Nhã đã cung cấp thêm thực chứng.
Trong số những thẻ tre đào được ở di chỉ Ni Nhã có rất
nhiều chứng từ “quá cảnh” thuộc đời Hán, đời Tấn. Điều
thú vị là người mang “giấy thông hành” hoặc “hộ chiếu” ấy
đa số là người “Nguyệt Chi hồ”, tức người thuộc nước Đại
411
Nguyệt Chi ở phía tây núi Thông Lĩnh. Họ là những nhà
buôn có tính chất mậu dịch quốc tế sớm nhất đi lại trên con
đường tơ lụa, họ mua tơ lụa của Trung Quốc rồi chuyển
vận đến Trung Á, Tiểu Á và qua đến châu Âu. Các giấy tờ
quá cảnh trên đều để lại tên tuổi, quê quán, đặc điểm của
họ. Ví như: “Hồ Chi Trụ, nước Nguyệt Chi, bốn mươi chín
tuổi, người tầm thước, da ngăm đen”. “... Ba mươi tuổi,
người tầm thước, da ngăm đen, mắt lớn, râu quai nón”. Tại
di chỉ Ni Nhã, người ta đào được một ngôi mộ hợp táng hai
vợ chồng thuộc đời Đông Hán, thì ngoài số lớn tơ lụa ra,
còn có một tấm vải in hoa bằng nến màu xanh có hình hoa
văn gồm có rồng, sư tử và người. Hình người kia nửa thân
trên ở trần, nửa thân dưới mang dây tua, tay cầm một vật
giống như ống quyển; điều thú nhất là trên đầu có vòng hào
quang. Có người cho đó là một kiểu nghệ thuật mang màu
sắc Phật giáo. Quả đúng như vậy. Thế thì tấm vải in hoa
nến thời Đông Hán ấy rất có thể là bức họa tượng phật có
sớm nhất được phát hiện ở Trung Quốc cho đến nay.
Tóm lại, cho dẫu thế nào thì về mặt hàng vải dệt không
còn nghi ngờ gì nữa tấm vải in hoa ấy là thứ hàng vải có
sớm được tìm thấy ở Trung Quốc cho đến nay và là tấm vải
duy nhất phát hiện được.
HÀNH LANG XANH
Di chỉ Ni Nhã đã qua bốn lần khai quật. Ở Dân Phong
còn có một tòa cổ thành bị chôn vùi trong sa mạc. Lý Ngẫu
Xuân chuẩn bị dẫn chúng tôi thử đi khu quật một lần xem
sao.
Nghỉ ngơi nửa ngày ở huyện Dân phòng, chín giờ sáng
hôm sau chúng tôi bắt đầu lên đường, nơi sẽ đến là mục
trường An Địch. Mục trường quốc doanh này nằm trong
lòng sa mạc Taklamacan, cách rìa sa mạc chừng 44 cây số.
412
Tôi hỏi Lý Ngẫu Xuân trong vòng vây của sa mạc như vậy,
người và vật sống như thế nào? ông đã từng đi qua đấy nói
rằng chẳng có gì phải lo ngại cả vì ở đây có con sông chảy
qua tên là An Địch Nhi cung cấp đủ nguồn nước cho sinh
hoạt. Chúng tôi sẽ lấy mục trường An Địch làm cứ địa, tiến
dần từng bước tìm kiếm cổ thành bị chôn vùi trong sa mạc.
Từ huyện Dân Phong đi về hướng đông, dọc đường
không thấy bóng người, thôn xóm. Ven bờ bắc là cồn cát
chập chùng liên tu bất tận, ven bờ nam là sa mạc bằng
phẳng mênh mông. Qua khỏi sông Cổ-thông-nhã-tư, đi
thêm một đãi xa nữa thì đến bờ sông An Địch Nhi, tất cả
hành trình dài 120 cây số. Ở đây có tên gọi là “lan can” An
Địch Nhi, tức ý muốn chỉ nơi nghỉ chân tạm thời, gồm mấy
gian phòng nhỏ trơ trọi lẻ loi dành cho những người đi
đường dừng chân trú ngụ qua đêm.
Chúng tôi không dừng chân ở chỗ “lan can” này mà từ
đây chúng tôi tách khỏi đường cái chuyển ngoặt lên hướng
bắc men theo bờ tây của sông An Địch Nhi theo hướng sa
mạc đi vào.
Đường đi khi đứt khi nối, lúc cao lúc thấp, thật là khó
đi. Có đoạn thì đất mịn, những cành hồng liễu đan kết nhau
khiến bánh xe không tài nào lăn nổi; có đoạn đất giống như
bụi phấn, nếu sơ ý lọt vào, bánh xe sẽ nằm bất động, không
quay được nữa, chỉ còn cách dùng xẻng đào đất mở đường.
Rồi lại có đoạn bị các mương nước chắn lối, không cầu,
không thuyền, chỉ có cách mạo hiểm lội băng qua. Suốt
đường đi luôn luôn phấp phỏng lo âu, sợ xe có sự cố gì xảy
ra chắc chúng tôi phải nằm lại nơi hoang mạc; nhưng cảnh
sắc ven đường thật kỳ lạ, hấp dẫn khiến chúng tôi phấn
chấn, vui vẻ, nếu không đích thân ở trong cảnh thì không
thể nào tưởng tượng nổi.
413
Cảnh sắc cuối thu rất hợp với lòng người. Màu thúy
lục và màu kim hoàng hai bên bờ sông An Địch Nhi kết
hợp hài hòa trông như một bức tranh sơn mài làm say đắm
lòng người. Những cây hồ dương tươi xanh có sức quyến
rũ đặc biệt, nhìn từ xa chúng không giống cây mà giống
như một vòng hoa rậm rạp với đáng vẻ ung dung sang
trọng. Tôi đang chú thần chiêm ngưỡng cay hồ dương xanh
thẳm ấy thì chiếc xe chuyển hướng, trước mắt hiện ra dòng
nước lấp lánh, bên kia bờ nước là sáu cây hồ dương xếp
hình chữ “nhất” như đang khoác trên mình chiếc áo lụa
mỏng màu kim hoàng phản chiếu ánh mặt trời lóng lánh
sắc vàng sáng láng. Bầu trời xanh ngắt một màu điểm vài
dải mây trắng lững lờ, lãng đãng ... Tôi say đắm ngây
người. Nếu là một họa sĩ, nhất định tôi sẽ vẽ một bức tranh
phong cảnh đầy những gam màu tươi đẹp với đề tài “cảnh
thu bên dòng sông An Địch Nhi”.
Lẽ nào đây là cảnh sắc ở sa mạc cơ chứ! Dĩ nhiên là
không phải. Chúng tôi đang đi vào lòng sa mạc Taklamacan
lớn nhất của Trung Quốc, có điều chúng tôi đang đi ngang
qua “hành lang xanh” của ven bờ sông An Địch Nhi nên có
thể tận hưởng cảnh đẹp của thế giới con ngươi. Dọc “hành
lang xanh” này rộng khoảng hai cây số, kéo dài hơn năm
mươi cây số trước khi tiếp giáp với sa mạc.
Cuộc sống phát triển tràn trề tại “hành lang xanh”,
nhưng rồi cũng bị sự uy hiếp của những cơn sóng cát chặn
lại. Trong hành hình bằng xe đầy gian nan của chúng tôi,
dọc đường phải qua nhiều nơi toàn là rừng hồ dương khô
héo. Nước ẩm ướt trong lòng đất cần cho cây cối kia không
biết vì lý do gì bỗng dưng biến mất, thế là rừng hồ dương
đang xanh tốt lần lượt từng mảng, từng mảng đột nhiên chết
khô, chết héo, trơ trụi, trọc nhẵn, không còn để lại một
phiến lá xanh nào, cái chết bao trùm cả một vùng rộng lớn.
Nhưng mỗi cây hồ dương chết đi vẫn ngoan cường chĩa
414
thẳng thân cây và cành nhánh lên không trung như đang
muốn lên án tố cáo. Trong cảnh tịch mịch của cõi chết ấy,
hầu như tôi vẫn nghe thấy tiếng kêu bất khuất của chúng:
“Chúng tôi muốn sống! Chúng tôi muốn sống!”
MỤC TRƯỜNG VÀ TRẠM KHÍ TƯỢNG TRONG
SA MẠC
Đường đi khi đứt khi nối, ngay cả người hướng đạo
cũng phải mất phương hướng. Để đến được căn cứ của mục
trường An Địch Nhi thì tổng cộng phải mất ba, bốn tiếng
đồng hồ trên một lộ trình chỉ hơn bốn mươi cây số.
Mục trường ẩn tàng trong chốn sa mạc thâm sâu này
mang nét hiện đại hóa vượt ra ngoài dự đoán của tôi. Có
đèn điện, có rạp chiếu bóng, có bưu cục, nhưng rất tiếc
không có điện thoại. Tôi thử gởi một bức thư từ bưu điện
nơi chốn sa mạc này đi Bắc Kinh xem mất bao nhiêu thời
gian, đặc biệt là chỉ gởi bằng thư thường. Mồng bốn tháng
mười gởi thì hai mươi ba tháng mười đến, và chính tôi nhận
được thư tại nhà, tôi rất trân trọng bức thư này, con dấu bưu
cục An Địch Nhi vẫn nằm sờ sờ trên phong bì!.
Cạnh phòng khách nơi chúng tôi trú ngụ có một hội
trường trong đó bày biện những nông sản phụ của mục
trường. Tôi lấy làm hiếu kỳ đẩy cửa vào xem thử ở sa mạc
người ta canh tác, sản xuất nông sản gì? Nào tiểu mạch,
gạo, bông vải, đậu lạc, đậu nành, đậu xanh … nào củ cải
đường, có củ nặng đến hai kí, dưa Ha Mật, có trái nặng đến
chín kí. Có một điều thú vị là loại cỏ linh lăng vốn từ Tây
Vực đưa đến Trung Nguyên vào đời Tây Hán thì tại đây nó
vẫn là loại sản phẩm nổi tiếng. Ngày nay cỏ linh lăng của
mục trường An Địch Nhi đã qua con đường tơ lụa và đường
biển Thái Bình Dương vận chuyển đến tận Australia. Còn
thích thú hơn nữa là có cả một hũ lớn mật ong, tôi lấy làm
415
lạ hỏi làm sao tại sa mạc lại có cả nguồn mật hoa nữa
chăng? Người ta trả lời: “vâng, có đấy! Trong số hoa đào,
hoa táo, hoa hạnh, hoa hồng liễu, hoa quỳ, hoa linh lăng ...
thì hoa táo là nguồn mật tốt nhất”.
Tôi hoàn toàn không ngờ những con ong mật lại cư trú
trên mục trường An Địch Nhi nơi sa mạc thâm sâu này để
tạo ra thứ mật thơm ngon cho đời.
Tôi càng không ngờ tại đây còn có cả đài ra đa hiện đại
dùng để thăm dò vùng trời. Đài ra đa này trang bị cho trạm
khí tượng An Địch Nhi. Ở đây, mỗi ngày theo giờ nhất định
người ta phóng thiết bị tự động thăm dò khí tượng lên cao
hơn ba mươi ngàn mét; một mặt dùng ra đa quan sát bầu
trời, một mặt dùng máy thu báo tiếp nhận số liệu về khí
tượng trên không do thiết bị tự động ghi nhận phát hồi.
Trạm khí tượng này được xây dựng vào năm 1960 là trạm
khí tượng duy nhất của Trung Quốc đặt tại sa mạc. Những
tư liệu về khí tượng của đài quan sát đo đạc được đối với
sự phân tích tổng hợp của đài khí tượng trung ương có một
giá trị đặc biệt.
NỖI SỢ VÀ NIỀM VUI KHI CƯỠI LẠC ĐÀ
Sáng sớm ngày thứ hai, đội lạc đà do mục trường sắp
đặt cho chúng tôi đã đến, tổng cộng có bảy con. Chúng tôi
sẽ cưỡi lạc đà vào sa mạc để thăm khu cổ thành. Thấy mấy
con lạc đà ai nấy đều cảm thấy thích thú nhưng cũng có
phần e sợ. Cả đời chưa từng cưỡi lạc đà, trông chúng có vẻ
ôn thuần, nhưng chúng cao lớn như thế làm sao leo lên cho
được, mà cho dù leo lên được, nhưng khi xuống phải làm
thế nào đây?
Người điều khiển lạc đà chẳng vội vàng gì cả, thủng
thẳng dắt bảy con lạc đà đi hàng một, bảo chúng nhất tề
416
quỳ xuống đất, sau đó gọi chúng tôi mỗi người cưỡi một
con. Lý Ngẫu Xuân cưỡi con đi đầu, còn tôi cưỡi con đi sau
cùng. Hai con này còn nhỏ, khoảng chừng sáu tuổi, rất dễ
bảo, vậy nên họ bố trí cho hai người lớn tuổi chúng tôi. Tôi
vừa leo đến khoảng giữa hai gù của con lạc đà, chưa ngồi
ổn chỗ thì nó đã đứng dậy. Khi lạc đà đứng, trước tiên hai
chân sau chống lên trước, đưa cao phần mông lên, sau đó
mới chống hai chân trước. Trong lúc lạc đà đưa phần mông
lên dần, người cưỡi nếu thân không ưỡn về phía sau thì rất
dễ bị ngã chúi về phía trước.
Lần đầu tiên cưỡi lạc đà tôi đâu có biết nguyên tắc đó,
nên khi nó đứng dậy tôi thất kinh hồn vía, cũng may nhờ
nắm chắc dây cương khỏi một phen ngã nhào xuống đất.
Lạc đà đi, chúng đi chậm nhưng không bình ổn, người
ngồi trên đó phải nhịp nhàng theo bước chân của nó mà
trước cúi sau ngửa giống như ngồi trong nôi vậy. Lúc đầu
tôi không hiểu, lưng cứ thẳng đơ, phải gồng sức nên hơi
mệt; về sau, quen dần cứ để sống lưng thoải mái thuận theo
bước chân tự nhiên của lạc đà mà lắc lư, bấy giờ mới hết
mệt. Người điều khiển lạc đà đi bộ phía trước dẫn đường,
ra khỏi thôn trang, vượt qua cồn cát, thỉnh thoảng nhìn lui
đoàn lạc đà, có lẽ ông ta lo mấy người cưỡi lạc đà không
quen chăng? Ông có mắt sâu, mũi cao, đầu đội mũ da lật
cao chóp, rất giống tượng “người Hồ dắt lạc đà” khai quật
được trưng bày ở Viện Bảo tàng Lịch sử Tây An.
Về cơ bản, đội lạc đà men dọc bờ lưng của những cồn
cát tuần hành. Hình bóng của lạc đà và của chúng tôi in
đậm trên cồn cát dưới ánh mặt trời chói chang, cũng vừa đi
vừa lắc lư trông rất ngộ.
Trong lòng sa mạc không phải hoàn toàn hoang vu như
tôi tưởng tượng, có những cồn cát đây đó từng đám cây cỏ
không tên màu vàng óng như tấm thảm khoe sắc dưới ánh
417
mặt trời; cũng có những cồn cát mọc đầy cây hồng liễu màu
đỏ tía nổi lên trên sa mạc màu vàng ối kia lại càng thêm rực
rỡ, diễm lệ. Rồi lại đi qua một khu rừng hồ dương chết khô
queo mà người ta gọi là rừng ma cho ta cái cảm giác âm u
đáng sợ. Trên suốt đường đi cồn cát lên cao xuống thấp
giống như đi vào chốn núi non trùng điệp.
Có thể có lý do gì đó kỳ lạ chăng, thế nên cưỡi lạc đà
đi vào lòng sa mạc kéo dài hơn bốn tiếng đồng hồ mà không
hề hay biết, lại càng không nhận ra đã qua một thời gian
dài như thế! Phía trước có người la lớn: “Đến rồi! Đã đến
Akkuxicar rồi!” Nhìn từ xa về phía trái một cồn cát có dựng
hai cột trụ ghi dấu và sau cồn cát kia là cổ thành Akkuxicar
mà chúng tôi cần thăm viếng, tìm hiểu.
Akkuxicar là tiếng Uygur có nghĩa là “Đại bạch công
dương” (Ông dê trắng lớn). Tại sao gọi tên như vậy thì
không ai rõ. Người điều khiển lạc đà bước nhanh về phía
trước, rẻ qua một cồn cát lớn, trước mắt hiện ra khu cổ
thành hình tròn hoang phế. Tường thành hình tròn vẫn còn
nhận ra rất rõ. Chúng tôi vui vẻ cưỡi lạc đà đi tiếp quanh
một vòng tường thành, sau đó hùng hùng hổ hổ tiến vào nội
thành. Đến một nơi chúng tôi gọi là “quảng trường” thì
dừng bước và xuống lạc đà nghỉ ngơi. Ngồi trên cát, bấy
giờ mới cảm thấy sống lưng đau ê ẩm và miệng khô đắng
rất cần được uống nước. Chúng tôi mang theo hai thùng
nước lớn và do Lý Ngẫu Xuân “định lượng cung ứng”, dưa
Ha Mật trở thành món thực phẩm được ưa chuộng, hoan
nghênh nhất.
THÀNH LŨY HÌNH TRÒN ĐỜI ĐƯỜNG
Sau khi ăn no uống đủ, Lý Ngẫu Xuân dẫn chúng tôi
đi xem toàn thành. Điểm đặc biệt nhất của cổ thành
Akkuxicar là có tường thành hình tròn, hầu như tròn vành
418
vạnh. Lý Ngẫu Xuân đo đạc, thành có đường kính 215 mét,
diện tích toàn thành là 36300 mét vuông.
Tường thành xây bằng đất sét, trên đỉnh tường người
ta dùng cây hồng liễu và gỗ cây hồ dương bện chặt lấy
nhau, vô cùng kiên cố. Toàn bộ tường thành bị chôn vùi
trong cát, phần lộ ra ngoài đã bị hỏa thiêu và có thể nhận
thấy tro than và đất đỏ. Một điều rất lạ là toàn bộ tường
thành hầu như bị cháy rụi, nhưng khu nội thành thì không
có dấu tích nào của cơn hỏa hoạn cả.
Phòng ốc nhà cửa ở khu nội thành san sát như bát úp,
theo những kèo cột còn sót lại có thể nhận ra dạng thức
kiến trúc phòng ốc. Có loại nhà hai gian và một đơn
nguyên, có loại nhà nhiều gian tạo thành một tiểu viện;
cũng có loại nhà có lầu có gác. Nhà cửa tiếp giáp lẫn nhau,
có hàng có lớp, hình thành bố cục của đường phố và ngõ
phố. Ngày nay phần lớn số phòng ốc, nhà cửa đều bị chôn
vùi trong cát, chỉ còn lộ phần nóc, nhưng chúng tôi có thể
đi dọc theo dấu vết của đường phố, ngõ phố của khu nội
thành; thỉnh thoảng có thể thấy trước sân sau vườn có cây
cối, đó là những cây sa táo và hồ dương khô. Tất cả sự sống
ở khu nội thành đều bị ngưng đọng, chỉ ở ngoại thành, trên
những cồn cát mới thấy những cây hồng liễu ngoan cường
rạng rỡ nét thanh xuân.
Lý Ngẫu Xuân dẫn tôi đi quan sát kỹ lưỡng cổng thành
duy nhất còn sót lại của thành lũy, tình trạng cổng thành
được bảo tồn hoàn hảo khiến nhà khảo cổ học không ngớt
ca ngợi, và ông cho rằng trên thế giới hiện nay rất hiếm
thấy được như vậy.
Cổng thành xây về hướng chính đông nhưng hơi chếch
về bắc một chút, dưới trên phải trái đều lấy trụ gỗ hình tròn
làm thành lối vào, khung cổng và hai cánh cổng đều được
bảo tồn hoàn chỉnh, một cánh cổng thì đóng, còn cánh kia
419
thì mở. Lý Ngẫu Xuân dùng thước dây đo đạc, cổng thành
cao ba mét bốn mươi, rộng ba mét, sâu năm mét bảy mươi.
Mỗi cánh cổng đều dùng sáu tấm gỗ thông mụ (sa mu) dày
mười milimét ghép thành, và thêm ba nẹp dằn ngang trên
đó dùng chốt gỗ đóng bồi vào. Tôi đi vào đi ra cổng thành
nhiều lần, mơ hồ thấy hàng đoàn người xưa đang chen lấn
tới lui ra vào. Tại sao người ta phải rời bỏ thành lũy này
nhỉ? Nó bị bỏ rơi vào triều đại nào? Tại sao lại bỏ rơi?...
Lý Ngẫu Xuân nói những vấn đề ấy chưa được tìm hiểu
rõ ràng, cần phải có những khai quật khoa học mới có câu
trả lời thỏa đáng. Đây là lần thứ hai ông đến lại đây để
chuẩn bị công tác khoa học.
Một người Anh tên là A. Stein đoán rằng khu thành
này Huyền Trang có nói trong Đại Đường Tây Vực ký gọi
là nước Đỗ Hóa La, và cũng có người nói là thủ phủ Bố
Tiên trấn của nước Thả Mạt đời Đường, nhưng Lý Ngẫu
Xuân cho là không phải. Ông cho rằng theo vị trí địa lý và
hình dáng hình tròn của thành lũy mà xét thì rất có khả năng
là thủ tróc Lan Thành đời Đường. Gọi là thủ tróc có nghĩa
là một cứ điểm quân sự. Dĩ nhiên phải chờ những khai quật
có tính khoa học mới có kết luận đúng đắn được.
Chúng tôi tản mác trong khu nội thành để tìm những
vật cổ. Tay ký giả nhiếp ảnh Tiểu Kim mở cờ đắc thắng
trước, anh nhặt được một trự tiền đồng, sau đó có người
đào thấy trong một đụn cát một mẫu vải hoa nền xanh, Lý
Ngẫu Xuân xem xong có vẻ rất vui cho là cứ theo hoa văn
mà xét, nó thuộc đời nhà Đường. Lại có một người phát
hiện ra một chiếc nhẫn đá quý màu xanh trong một góc
phòng. Lý Ngẫu Xuân phán đoán góc phòng kia là đống
rác; toàn bộ đang chuẩn bị đào xới sàng lọc cho sự tìm tòi
phát hiện mới.
420
Lý Ngẫu Xuân hướng dẫn mấy người sửa soạn chỗ ăn
ngủ cho tối nay tại sa mạc để sáng mai tiếp tục công tác.
Tôi và Tiểu Kim vì thời gian không cho phép không thể ở
lại lâu được, lưu luyến từ biệt cổ thành nơi sa mạc này cùng
với nhà khảo cổ học, phó giám đốc Viện Bảo tàng Tân
Cương.
Trên đường trở về, tôi cưỡi một con la. Ai ngờ ràng
cưỡi một con la nhỏ đi trên sa mạc còn khó hơn nhiều so
với cưỡi một con lạc đà cao lớn. Lên xuống những cồn cát,
lắc lư lắc lư, nếu vô ý một tý có thể bị ngã ngay. Tổng cộng
tôi ngã đến bốn lần, cũng may nhờ cát mềm nên không hề
hấn gì, nhưng có điều lưng đau ê ẩm không chịu được.
Hướng đạo dẫn tôi đi đường tắt mà cũng phải mất ba tiếng
rưỡi đồng hồ mới về đến nơi. Trên đường về, tôi được
thưởng thức cảnh đẹp lúc mặt trời lặn trên sa mạc và sự
thần bí của rừng hồ dương lúc trăng lên. Hôm đó đúng là
rằm trung thu, vầng trăng tròn vành vạnh trên bầu không
thăm thẳm tại chốn sa mạc khoảng khoát mênh mông này
tựa hồ như to hơn và sáng hơn.
421
25. KẾT THÚC MỘT VÒNG QUANG ĐẠI
SA MẠC
Suốt một ngày môn du trên sa mạc, về đến mục trường
An Địch Nhi thì đêm đã khuya. Cho dù ngồi trên mình lạc
đà lắc lư lưng đau ê ẩm, dù phải ngã bốn lần từ trên lưng
con la xuống cát, dù tim tôi đến bây giờ vẫn còn đập thình
thịch, nhưng cuối cùng tôi vẫn vui vẻ và an tâm. Tôi đã đi
vào “mê cung” của những cồn cát trùng điệp, tôi đã thăm
viếng tìm hiểu một tòa cổ thành hình tròn tại khu trung tâm
của chốn “mê cung” ấy trong lòng sa mạc. Bức tường thành
hoàn chỉnh kia, hai cánh cổng có thể đóng mở của tòa thành
kia, những cảnh vật giống như trong thế giới thần thoại ấy
thỉnh thoảng lại hiện ra trong giấc mộng của tôi.
Hôm đó tôi mệt nằm lăn ra thường không còn dậy nổi
nữa, nhưng trong bụng lại tính toán đến lộ trình ngày hôm
sau: lộ tuyến từ bờ sông An Địch Nhi đến Thả Mạt trên bản
đồ là một lộ tuyến không có hình dáng rõ rệt, đó là một “hư
tuyến” , không có con đương chính thức nào cả. Nếu chúng
tôi gặp thuận lợi đến được Thả Mạt thì nguyện vọng đi
vòng quanh đại sa mạc Taklamacan chắc chắn trở thành
hiện thực, bởi vì từ Thả Mạt đến Korla, nơi khởi điểm của
cuộc đi vòng quanh đại sa mạc sẽ có đường nhựa hẳn hoi
để đi lại bằng xe hàng hoặc xe khách.
Khi lên kế hoạch đi vòng quanh đại sa mạc
Taklamacan ở Urumqi, chúng tôi đã xem bản đồ nhiều lần
thì thấy từ huyện Dân Phong đến Thả Mạt đường sá không
chu chỉnh mà phát rầu. Nay chính là lúc thể nghiệm ý chí
vượt khó của chính mình.
422
GẶP NẠN TRONG SA MẠC
Lúc còn ở mục trường An Địch Nhi, chúng tôi đã ngỡ
bị lạc đường, nên khi rời mục trường chúng tôi xin nhờ một
người địa phương làm hướng đạo. Hai mươi cây số đầu rất
thuận lợi, có thể nói là bình an vô sự như đi trên đại lộ.
Không ngờ chưa được bao lâu thì xảy ra sự cố.
Chiếc Jeep vừa chạy đến một con sông nhỏ, đúng ra là
một mương nước, thì người dẫn đường nói: “Xuống xe để
thử dò tìm đường xem sao!” Ý của anh là muốn tìm một
đoạn đường nào đó có bãi cạn lội qua sông. Anh tài xế Tiểu
Đoàn nghe không hiểu và cũng có vẻ không cảnh giác nên
nói “không can gì đâu!” rồi lái xe chạy thẳng xuống mương
nước. Không ngờ bên bờ kia có một bậc thềm, khi nhấn ga
vượt qua dòng nước, xe đâm mạnh vào đấy, động cơ lập
tức bị tắt. Tiểu Đoàn vội khởi động lại lái thẳng về phía bờ
đối diện, nhưng do xe bị dừng một lát, rồi vừa cho nổ máy
lại nên xe mất đà, dù có qua khỏi sông nhưng vẫn không
thể nào leo lên dốc bờ được. Lúc ấy tay chân Tiểu Đoàn trở
nên lóng cóng. Anh cho lùi xe lại, lấy đà chuẩn bị tiến lên
phía bờ bên kia lần nữa, không ngờ bánh xe sau chui vào
đám bùn. Anh kêu lên: “Không xong rồi!” Ba người chúng
tôi ngồi trên xe vội nhảy xuống nước, cố sức đẩy bánh xe
sau lên, nhưng phí công vô ích, xe chẳng nhúc nhích tí nào.
Chiếc Jeep mắc kẹt giữa dòng sông. Nước sông chảy mạnh.
Bánh xe sau dần dần lún xuống.
Chúng tôi gấp rút lấy trong thùng xe ra toàn bộ máy
ảnh, vật dụng và ba lô hành lý chuyển lên bờ. Mấy quả dưa
hấu để dưới gầm xe không lấy kịp, chúng thoát cả ra ngoài
trôi nổi lềnh bềnh trên dòng nước.
Người dẫn đường nói đằng trước có trạm trông coi hệ
thống mương nước, ở đấy có điện thoại có thể gọi về mục
trường cầu cứu. Anh đi chừng nửa tiếng đồng hồ thì trở lại
423
nói điện thoại bị hư. Chỉ còn cách cùng đi với Tiểu Kim trở
lại mục trường nhờ người giúp đỡ. Còn tôi và Tiểu Đoàn
ngồi lại chờ đợi bên sông.
Tôi vừa ngồi hong khô quần áo, vật dụng, và động viên
Tiểu Đoàn không việc gì phải gấp, nhưng thật ra lòng tôi
thì lại đang rối bời.
Thấy bánh xe sau dần dần lún sâu, cả thân xe theo đó
cũng chìm xuống và đầu xe cũng đang bắt đầu dính nước.
Nếu động cơ ngập nước, dù có xe kéo lên được đi nữa cũng
không thể nào khởi động được. Những tưởng qua được tai
họa, nào ngờ nó lại xảy ra. Chúng tôi bị mắc cạn tại sa mạc
chẳng khác nào cá ra khỏi nước, thật là vô kế khả thi. Lòng
thầm nghĩ kế hoạch đi vòng sa mạc chẳng những không đi
tới đâu mà ngay cả sinh mạng của mình cũng bị uy hiếp …
Nửa tiếng dòng hồ đã trôi qua, rồi nửa tiếng khác cũng
trôi qua. ớ đây sao mà yên tĩnh lạ, chẳng nghe thấy tiếng
chân người cứu hộ. Thực ra, người dẫn đường và Tiểu Kim
có đi nhanh đến mấy đi nữa thì từ đây đến mục trường ít
nhất phải mất một tiếng đồng hồ, và còn phải trở lại nữa
chứ? Tiểu Đoàn âu sầu nhìn đầu xe sợ các bộ phận của động
cơ bị nước ngấm vào thì nguy. Thân xe tiếp tục lún xuống,
lún xuống ... Trên mặt nước đã nổi lên những váng dầu, rõ
ràng bình xăng đã bắt đầu vô nước. Tôi đi chân đất, xuôi
tay lui tới một hồi, lòng lo canh cánh.
Cứ như vậy chừng hơn nửa tiếng đồng hồ, bỗng nghe
từ rất xa tiếng lầm rầm truyền đến. Trong sa mạc tĩnh lặng
thanh âm truyền đi rất xa. Bầu không khí đang ngưng đọng
bắt đầu có những âm ba vang vọng, nhưng không rõ đó là
âm thanh gì. Tiểu Đoàn lấy làm lạ nhảy lên khỏi mặt đất
vui vẻ nói: “Có người đến rồi!”. Không quá mười phút sau,
quả đúng trước mắt hiện ra một chiếc máy kéo, sau rờ-
424
moọc chở hơn hai mươi người, người dẫn đường và Tiểu
Kim ngồi ra đằng trước.
Thì ra hai người bọn họ giữa đường gặp ngay chiếc
máy kéo này, thật đúng là “buồn ngủ gặp chiếu manh”,
chúng tôi vui vẻ như thế nào ắt các bạn cũng đoán ra. Cứu
tinh đã đến, thế giới trước mắt hoàn toàn thay đổi.
Nhìn chiếc máy kéo rẽ nước bình ổn qua sông, đằng
sau có một sợi dây cáp buộc chặt vào đầu chiếc Jeep. Hơn
hai mươi người chúng tôi đứng Phía sau, người đẩy kẻ
kéo, một tiếng hô lớn làm hiệu, loáng một cái. chiếc Jeep
được kéo lên bờ. Tiểu Đoàn chạy vội lên chỗ tay lái thử
khởi động máy, động cơ vẫn nổ ầm ầm. Anh mừng rỡ nói:
“Không hề gì! may quá!”. Cuối cùng nước vẫn chưa xâm
nhập vào các bộ phận máy móc. Thật trong cái rủi cũng còn
có cái may.
Chúng tôi bắt tay các vị cứu tinh người Uygur, nói lời
cảm ơn, rồi vẫy tay từ biệt. Sự giúp đỡ của họ đã đưa chúng
tôi ra khỏi cảnh nguy khốn ở sa mạc. Sau khi Tiểu Đoàn
chùi rửa sạch sẽ trong ngoài toàn bộ chiếc xe, chúng tôi lại
bắt đầu lên đường, trong lòng ai nấy đều vui vẻ phấn chấn.
ĐƯỜNG CÁI XUYÊN SA MẠC
Ra khỏi “hành lang xanh” của sa mạc để đến “lan can”
An Địch Nhi nằm ven đại lộ thì đã bốn giờ chiều. Đến đây
người dẫn đường từ giã chúng tôi chuẩn bị đáp xe về huyện
Dân Phong. Trạm nghỉ chân ở đây không có ai phụ trách
nấu nướng cả, chúng tôi đành ôm bụng đói tiếp tục đi về
hướng đông. Qua khỏi sông An Địch Nhi thì bắt đâu vào
địa phận huyện Thả Mạt. Lại đi thêm một đoạn hai mươi
cây số giữa đồng hoang nữa thì thấy một dãy nhà tường đất
trơ trọi ước chừng mươi gian, có một chiếc xe ca đang dừng
425
lại giữa đồng trống sửa chữa gì đấy. Chúng tôi dừng xe hỏi
đường. Một người Hán đi tới nói đây là trạm lưu trú của
mỏ Thạch Miêu thuộc huyện Thả Mạt để công nhân đội xe
vận chuyển Thạch Miêu có chỗ ăn ngủ dọc đường. Từ đây
đến huyện lỵ Thả Mạt chừng 160 cây số và phải đi mất
khoảng sáu tiếng đồng hồ.
Anh bảo chúng tôi chi bằng ngủ tạm tại đây một đêm,
sáng mai hẵng hay. Tôi nghĩ chiếc Jeep của chúng tôi đã
phải kéo từ dưới nước lên cũng cần được kiểm tra lại, con
đường phía trước cũng không tốt nên không dám mạo
hiểm, có lẽ nghe theo lời đề nghị của anh chàng người Hán
ấy là tốt nhất. Chủ nhân nhiệt tình nấu cho chúng tôi một
xong mì nóng, ăn uống no nê, Tiểu Đoàn kiểm tra lại xe cộ,
rồi chúng tôi tranh thủ đi ngủ sớm. Nửa đêm thức giấc nghe
bên ngoài gió lớn thổi mạnh, cát bay đá chạy, tiếng muông
thú kêu la, rõ thật đáng kinh người. May thay, chủ nhân dậy
đốt đèn gọi chúng tôi vào trú thân ở phòng nhà bằng đất
tránh gió và được nằm trong chăn ấm. Nếu không thì đêm
ấy sẽ phải khổ sở biết chừng nào.
Sáng sớm, ánh triều dương xán lạn, hết gió, mặt đất
yên ắng trở lại, nhưng có điều trời lạnh thấu xương.
Chủ nhân nhà lưu trú đề nghị chúng tôi cho ông theo
xe về huyện lỵ Thả Mạt, chúng tôi rất hoan hỷ vì có được
một người dẫn đường khác. Anh chàng hướng đạo của
chúng tôi đã chia tay trở về huyện Dân Phong trước đó rồi.
Từ Dân Phong cư Thả Mạt, dù trên bản đồ nói là không
có đường chính thức, nhưng thực ra vẫn có công lộ, chỉ có
điều một vài đoạn bị sa mạc xâm thực quá nghiêm trọng,
lúc có lúc không, nên người ta thường cho là con đường
đáng sợ, không dám mạo hiểm.
Dọc đường chúng tôi thấy rất nhiều người thi hành
công trình phòng chống cát sa mạc xâm thực, khắp nơi đều
426
bày bố những phương cách phòng chống cát giống như
người ta đang bủa vây bắt cát sa mạc vậy, họ cố gắng tối
đa ngăn cản chúng di chuyển gây họa. Trên đường đi còn
có nhưng dãy bờ rào chắn gió kết bằng lau say bện chặt vào
các trụ gỗ. Nhìn từ xa chẳng khác nào những tấm bảng
quảng cáo ở thành phố.
Nói đi một vòng quanh sa mạc Taklamacan thì cũng
không đúng hẳn. Vì thực ra, bắt đầu từ Korla men theo bờ
bắc sa mạc qua Khố Xa, A Khắc Tô đến Ca Thập rồi tiếp
tục men theo bờ nam qua sa mạc Sa Xa, Hòa Điền, Vu
Điền, toàn bộ chặng đường ấy chính là đi vòng bờ rìa sa
mạc; còn từ Dân Phong qua Thả Mạt, Nhược Khương để
trở lại Korla thì trên thực tế là đi xuyên sa mạc. Cánh trái
của đường đi là nội địa sa mạc Taklamacan, còn cánh phải
thì cũng ở trong lòng sa mạc cách bờ rìa khoảng bảy, tám
chục cây số.
Trên đường đi ở cả hai phía, thỉnh thoảng thấy những
đụn cát, có những đụn thì như tòa kim tự tháp, có những
đụn thì như đồi núi chập chùng liên tu bất tận, cho dù luôn
có người bảo hộ phòng chống cát xâm nhập dọc ven đường,
nhưng mặt đường vẫn bị cát xâm thực.
Đi được chừng 70 cây số, người dẫn đường dè chừng
bảo phía trước có một đoạn đường cát dài chừng mười cây
số, mặt đường trông có vẻ bằng phẳng, nhưng trơn trượt rất
nguy hiểm. Quả đúng như vậy, khi xe vừa đến đấy, đầu xe
bắt đầu lắc lư qua vẻ rất đáng sợ, tài xế cẩn thận chú tâm
vào tay lái, chỉ cần sơ ý một tí, xe sẽ lật nhào ngay vào
những đụn cát bên đường.
Chúng tôi phải khó khăn lắm mới vượt khỏi đoạn
đường nguy hiểm ấy. Người dẫn đường thở phào nhẹ
nhõm. Anh nói, cũng may gần đây người ta đã tu chỉnh
phần nào đoạn đường này, nếu không thì phải lần lượt chèn
427
gỗ vào dưới bánh xe mới dần dần đi tới được. Xe hơi qua
đoạn lộ trình này chắc chắn phải dùng một số ván gỗ. Gặp
một hố cát, người ta lát ván lên chờ cho xe chao chao đảo
đảo từ từ qua khỏi tấm ván gỗ. Gặp một hố cát, ngh ta lát
ván lên chờ cho xe chao chao đảo dảo từ từ qua khỏi tấm
ván lại tiếp tục đẩy ván từ sau lên để cho bánh xe lăn tới,
cứ thế cho đến hết cả đoạn đường dài. Đi từng bước bằng
cách chèn ván gỗ như vậy để vượt qua mười cây số ít nhất
phải mất cả ngày trời.
NHỮNG CÔ GÁI TÓC VÀNG TRÊN SA MẠC
RỪNG HỒ DƯƠNG
Qua khỏi mười cây số đường cát trơn trượt, trước mắt
hiện ra một đoạn đường đá gồ ghề, xe chạy trên đấy có vẻ
dễ yên tâm hơn. Lát sau, lại đi vào một khu rừng hồ dương
tự nhiên, những sợi lá trên mình chúng có màu vàng óng
ánh giống như những cô gái tóc vàng trông đẹp đến mê
người Chúng tôi dừng xe dưới một gốc cây hồ dương lớn
để nghỉ ngơi và bổ dưa hấu Ha Mật thơm ngon ra giải khát.
Gió nhẹ thổi qua, cành lá vi vu Tiểu Kim và Tiểu Đoàn cao
hứng hát lên mấy bài tình ca; bao nhiêu mệt nhọc hiểm
nguy trên đoạn đường xuyên sa mạc trước đó đều tan hết.
Hồ dương là nguồn tài vật thiên nhiên rất quý báu ở sa
mạc Taklamacan. Nó là giống cây chịu hạn và chịu phèn,
rễ của nó rất mạnh, có thể ăn sâu trong lòng đất từ mười
đến hai mươi mét để hút nước Cây hồ dương ở thời kỳ còn
nhỏ, rễ chưa phát triển nhiều nên lá của nó có hình kim để
có thể giảm bớt sự thoát hơi nước. Lúc trưởng thành lá lại
có hình quả trứng, tế bào biểu bì của nó không phải là kiểu
tế bào đơn tầng như các giống thực vật thường thấy mà là
do hai hay ba tầng tế bào cấu thành, tổ chức hệ thống mạch
428
dẫn bên trong vô cùng phát triển và vi tế. Đặc điểm ấy khiến
cây hồ dương có đặc tính chịu hạn rất tốt.
Theo điều tra khảo sát của Sở Lâm nghiệp Tân Cương,
lòng chảo Tarim, bao gồm cả sa mạc Taklamacan có cả
thảy hai mươi tám vạn héc-ta rừng hồ dương tự nhiên, phân
bố chủ yếu ở các lưu vực sông Tarim, sông Diệp Nhĩ
Khương, sông Hòa Điền, sông Xa Nhĩ Thần ... chảy vào
các nhánh sông dọc sa mạc, và một số khác đọc ven rìa sa
mạc. Rừng hồ dương tự nhiên ngăn chặn sự di động của cát
ở sa mạc Taklamacan, chúng có tác dụng rất quan trọng
trong sự điều hòa quân bình sinh thái ở vùng hoang mạc.
Rừng hồ dương là loại thực vật cổ đại thuộc thời kỳ
biến động địa chất lần thứ ba còn lưu lại, đã trải qua sáu
triệu rưỡi năm lịch sử. Hiện nay, rừng hồ dương trên thế
giới còn lại rất ít Rừng hồ dương ở lòng chảo Tarim có diện
tích phân bố lớn nhất thế giới, là một khu vực tập trung
nhất.
Điều đáng tiếc là do nhiều năm trở lại đây, việc phá
rừng khai hoang xảy ra không ngừng nên diện tích rừng hồ
dương tự nhiên dần dần bị thu hẹp. Hiện nay diện tích rừng
hồ dương ở lòng chảo Tarim chỉ còn khoảng bốn mươi lăm
phần trăm so với năm 1958, đây cũng là nguyên nhân làm
mất đi các giống động vật hoang dã quý hiếm như lạc đà,
hươu cao cổ ...
Sau khi qua khỏi rừng hồ dương rộng lớn, thấy có một
gian nhà nhỏ của chi đội tu sửa công lộ, rồi đi tiếp thì thấy
có hai thanh niên đang dùng cuốc xúc cát trên đường, có lẽ
họ là công nhân của chi đội tu sửa công lộ chăng? Chúng
tôi dừng xe hỏi han: Hai thanh niên người Uygur này rất
vui vẻ tiến về phía chúng tôi bắt tay. Tuy không hiểu. ngôn
ngữ của nhau, nhưng qua cách siết chặt hai tay cũng phần
nào nói lên tình cảm của họ. Có lẽ rất hiếm khi thấy khách
429
xứ khác đến đây nên họ cảm thấy lạ lẫm; còn đối với chúng
tôi, những người ngồi trên xe vượt qua những chặng đường
dài trên sa mạc thì họ là những người mang lại những thành
quả hữu ích trong việc tu sửa công lộ, giữa đường gặp nhau
thì lòng cảm kích của chúng tôi đối với họ cũng tự nhiên
bộc phát.
Xe chạy trong sa mạc chừng sáu tiếng đồng hồ mới
thấy một nhóm người trồng rừng. Đó là những cây sa táo
và bạch dương chống bão cát, đang sinh trưởng xanh tốt,
sum suê. Đang bị ánh mặt trời làm lóa mắt nơi sa mạc, nay
đột nhiên bước vào nơi râm mát của cây xanh, thật như lâu
ngày chịu nắng hạn khát nước gặp trận mưa rào mát ngọt
đúng lúc, mọi người đều cảm thấy thư thái, vui sướng.
Người dẫn đường nói đã đến Thả Mạt. Chúng tôi xuyên
qua dải rừng rậm rạp để đi vào huyện thành Cổ Lão.
“SA MẠC MINH CHU” - RỪNG TRỒNG BAO
QUANH THẢ MẠT
Thả Mạt không hổ với danh xưng là “sa mạc minh
chư”. Huyện thành nho nhỏ mà chung quanh là sa mạc bao
bọc. Sông Xa Nhĩ Thần (hay còn gọi là sông Thả Mạt) chảy
qua huyện lỵ tạo thành một vùng lục châu xanh tốt. Sông
Xa Nhĩ Thần dài hơn năm trăm cây số phát nguyên từ núi
Mộc Dư Tháp cách theo hướng từ nam lên bắc xuyên qua
huyện thành, rồi rẽ hướng đông bắc và mất hút vào sa mạc
mênh mông. Có ba mươi ba ngàn người sinh sống trên vùng
lục châu ấy, canh tác chừng hai vạn mẫu đất màu mỡ và
hàng năm có thể tự cung tự cấp các nhu phẩm cần thiết như
lương thực, dầu ăn, thịt. Trong lòng đất có nhiều khoáng
sản, người ta đã tìm ra mỏ đá quý, cẩm thạch, vân mẫu,
thủy tinh, và các mỏ kim loại khác như vàng, đồng, kền,
sắt, than đá v.v...
430
Vào thời Tây Hán (206 trước' CN - 8 CN), Thả Mạt là
một tiểu quốc ở tuyến nam của con đường tơ lụa, gồm 230
hộ với 1610 nhân khẩu. Hán thư có ghi: “Thiên Thiện nằm
trên đường giao thông của nhà Hán, thông với nước Thả
Mạt ở phía tây chừng 720 dặm”, tức có ý nói Thả Mạt nằm
trên khu vực La Bố Bạc giữa nước Thiên Thiện và nước
Lâu Lan, tức là ở:trên con đường trọng yếu thông Tây Vực
vào thời nhà Hán.
Tuyến nam của con đường tơ lụa, nếu xuất từ Đôn
Hoàng thì trạm đầu tiên phải qua là nước Thiên Thiện, rồi
đi về phía tây là nước Thả Mạt. Hán thư lại còn nói: “Từ
nước Thả Mạt trở đi người ta đều trồng ngũ cốc... đi về phía
tây cách nước Tinh Tuyệt chừng 200 dặm”. Nước Tinh
Tuyệt hiện nay tức là di chỉ Ni Nhã ở phía bắc huyện Dân
Phong. Như vậy có thể thấy Thả Mạt là một trạm ở tuyến
nam của con đường tơ lụa. Trong lịch sử, cao tăng Đường
Huyền Trang và nhà du hành người Ý Marco Polo đã từng
đi qua con đường này.
Cách huyện thành về phía tây chừng năm cây số có di
chỉ thành lũy cổ đại. Chúng tôi lái xe đến đấy thăm thú, tìm
hiểu thì thấy một khu đất cao nhìn xuống huyện thành. Cổ
thành đã bị cát sa mạc Gôbi chôn vùi. Trên mặt đất không
thấy dấu vết của tường vách đổ nát, nhưng có thể nhặt được
rất nhiều mảnh đất nung. Theo phân tích thì đó là những di
vật đồ đất nung thuộc đời Hán.
Đứng trên khu đất cao của di chỉ nhìn xuống huyện
thành Thả Mạt thì thấy bốn phương tám hướng đều có trồng
cây thành rừng. Cả một vùng huyện thành có đến ba mươi
lò gió nổi tiếng đến nay đều đã hoạt động tốt.
Chúng tôi lái xe đến khu ngoại thành đông bắc thuộc
công xã Đông Phương Hồng, nơi có cát sa mạch bị tàn phá
nghiêm trọng nhất. Ruộng lúa tựa sát vào các dải rừng, sa
431
mạc bị chận ngay từ phía ngoài các dải rừng. Người bạn
đồng hành chỉ một gian nhà ờ gần bờ rừng nói hộ gia đình
này vừa mới dời về. Năm 1950, trước khi chưa trồng rừng,
sa mạc nuốc dân vườn ruộng, nhà cửa của họ. Trong phạm
vi của công xã Đông Phương Hồng có hơn bốn ngàn mẫu
đất canh tác lần lượt bị cát sa mạc xâm thực, sáu hộ gia
đình ở gần bờ rìa sa mạc buộc phải thiên di nơi khác.
Năm 1960 mới bắt đầu có kế hoạch trồng cây gây rừng
phòng chống cát, người ta trồng tổng cộng hơn năm mươi
vạn cây gồm dương, liễu, sa táo, du, dương đen ... kéo dài
hai mươi cây số đã bị chặn đứng, không thể xâm thực được
nữa. Một phần mười diện tích đất canh tác vốn bị cát sa
mạc xâm thực nay đã cải tạo thành ruộng lúa, sáu hộ gia
đình từng thiên di nay đã trở lại.
Tại huyện thành Thả Mạt, các nhu yếu phẩm như gạo,
dầu ăn, thịt đủ để tự cung tự cấp; mấy năm gần đây sản
lượng các loại trái cây như nho, hạnh đào, hồng, táo ... càng
ngày càng gia tăng, nhưng vì giao thông bất tiện, việc vận
chuyển khó khăn nên giá bán các loại trái cây rất rẻ, giá
một cân hồng chỉ bằng một phần sáu giá ở Bắc Kinh.
TRẠM HÀNG KHÔNG ĐƠN SƠ CỦA HUYỆN THẢ
MẠT
Dù trong lịch sử nước Thả Mạt là vùng đất mà tuyến
nam của con đường tơ lụa phải đi qua, nhưng do sa mạc
cách trở, bao nhiêu thế kỷ trở lại đây, công cụ giao thông
vẫn chỉ là lạc đà và lừa ngựa. Có thể nói, từ những năm
năm mươi của thế kỷ này trở về hơn hai ngàn năm trước,
trình độ giao thông mãi mãi vẫn như cũ.
432
Trưởng khoa nông lâm huyện là Salimala trình bày cho
chúng tôi nghe về tình hình kiến thiết nông lâm của huyện.
ông là người Uygur quê ở A Khắc Tô. Sau giải phóng,
Salimala tích cực tham gia công tác cách mạng, ông
được phái đến Thả Mạt làm việc từ năm 1953. Ông nói hồi
ấy cán bộ được sai phái đi công tác thường được cấp ba con
lừa, một con để người cưỡi, một con chở hành lý, còn một
con chở lương thảo, nước uống. Phải đi hai ba mươi ngày
trời trong sa mạc. Salimala đi từ Korla đến Thả Mạt, toàn
bộ hành trình dài tám trăm cây số, đi mất bốn mươi ngày.
Lúc ra đi ông chỉ mới mười sáu tuổi, đến nay đã bốn mươi
ba tuổi. Ông đã cống hiến cả tuổi thanh xuân cho công cuộc
kiến thiết Thả Mạt.
Salimala nói:
- Ngày nay sự giao thông ở Thả Mạt đã khá thuận tiện.
Đi công tác ở Korla hay Urumqi có thể dùng ôtô hay máy
bay. Do đó khoảng cách giữa Thả Mạt và Urumqi hay Bắc
Kinh trở nên ngắn hơn, dễ dàng hơn.
Mặc dù chúng tôi chuẩn bị tinh thần vòng quanh sa
mạc Taklamacan bằng đường bộ và hoàn toàn không có ý
định trở về Urumqi bằng đường hàng không, nhưng để xem
phi trường Thả Mạt vừa xuất cánh những chuyến bay như
thế nào, tôi lấy xe đạp đến trạm hàng không dân dụng
Trung Quốc ở Thả Mạt.
Phi trường còn quá sơ sài, đó chỉ là một đường băng
đơn giản và một tháp hướng dẫn không lưu, không có
phòng đợi, trên sân bay không có máy bay hạ cánh năm
chờ. Những chuyến bay định kỳ từ Urumqi đến rồi bay trở
về ngay trong ngày. Trạm trưởng Dịch Phượng Nhất tiếp
đãi tôi rất nhiệt tình. Ông nói:
433