The words you are searching are inside this book. To get more targeted content, please make full-text search by clicking here.

Các báo cáo chuyên đề, công trình, chương trình, đề án và tham luận Đại hội đại biểu Hội Sinh viên Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ VII, nhiệm kỳ 2023 - 2028

Discover the best professional documents and content resources in AnyFlip Document Base.
Search
Published by binhlethanh.1503, 2023-11-02 02:59:00

Các báo cáo chuyên đề, công trình, chương trình, đề án và tham luận Đại hội đại biểu Hội Sinh viên Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ VII, nhiệm kỳ 2023 - 2028

Các báo cáo chuyên đề, công trình, chương trình, đề án và tham luận Đại hội đại biểu Hội Sinh viên Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ VII, nhiệm kỳ 2023 - 2028

50 viên, tự chủ đại học có thể gây ra nhiều khó khăn về tài chính khi học phí tăng cao, đặc biệt là đối với các gia đình có thu nhập thấp, không có điều kiện hỗ trợ học phí. Các sinh viên cũng phải đối mặt với nhiều áp lực về việc lựa chọn ngành học và trả học phí, đặc biệt là những sinh viên có hoàn cảnh gia đình khó khăn. Ngoài học phí, sinh viên, đặc biệt là sinh viên từ các tỉnh, thành khác đến Thành phố Hồ Chí Minh học tập còn chi trả chi phí khác như: chi phí ăn uống, chi phí đi lại, chi phí sinh hoạt (nhà trọ, điện, nước, internet, điện thoại), chi phí giải trí,… khiến áp lực tài chính ngày một nặng nề. Qua khảo sát 18.988 sinh viên thành phố, có 8.735 sinh viên đồng ý sẵn sàng vay nếu có hình thức hỗ trợ sinh viên vay tín chấp, chiếm tỷ lệ 46%, mục đích vay đa phần dùng cho việc đóng học phí (15.900/18.988 ~ 83,7%). Nhằm giúp sinh viên, đặc biệt là sinh viên có hoàn cảnh khó khăn đang học đại học, cao đẳng, trung cấp, Chính phủ đã có những chính sách tín dụng, miễn giảm học phí cho sinh viên, cụ thể: Quyết định số 157/2007/QĐ-TTg ngày 27 tháng 9 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ về tín dụng đối với học sinh, sinh viên và gần đây nhất là Quyết định số 05/2022/QĐ-TTg ngày 23 tháng 3 năm 2022 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 157/2007/QĐ-TTg ngày 27 tháng 9 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ về tín dụng đối với học sinh, sinh viên. Theo Quyết định số 05/2022/QĐ-TTg, chính sách tín dụng được áp dụng để hỗ trợ cho học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn đang theo học tại các trường đại học (hoặc tương đương đại học), cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và tại các


51 cơ sở đào tạo nghề được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam1 . Việc cho vay được áp dụng cho việc chi trả chi phí học tập, sinh hoạt của sinh viên trong thời gian học tập tại trường gồm: tiền học phí; chi phí mua sắm sách vở, phương tiện học tập, chi phí ăn, ở, đi lại. Phương thức cho vay được thực hiện theo phương thức vay thông qua hộ gia đình (trừ trường hợp sinh viên mồ côi cả cha lẫn mẹ hoặc chỉ mồ côi cha hoặc mẹ nhưng người còn lại không có khả năng lao động). Mức vay tối đa là 4.000.000 đồng/tháng, lãi suất ưu đãi cho vay là 0,55%/tháng (6,6%/năm). Tuy nhiên, chính sách tín dụng này vẫn có những hạn chế về đối tượng vay vốn, số tiền được vay, thời gian vay, lãi suất hỗ trợ cũng như điều kiện, thủ tục vay còn khá phức tạp. Bên cạnh chính sách tín dụng, Nhà nước cũng có chính sách miễn, giảm học phí cho sinh viên, học sinh có hoàn cảnh khó khăn, gần đây nhất là Nghị định 81/2021/NĐ-CP ngày 28 tháng 8 năm 2021 của Thủ tướng Chính phủ quy định về cơ chế thu, quản lý học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân và chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập; giá dịch vụ trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo. Theo Nghị định, sinh viên đang học tại các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân theo quy định của Luật Giáo dục, Luật Giáo dục đại học, Luật Giáo 1 Gồm các đối tượng: Sinh viên mồ côi cả cha lẫn mẹ hoặc chỉ mồ côi cha hoặc mẹ nhưng người còn lại không có khả năng lao động; sinh viên là thành viên của hộ gia đình thuộc một trong các đối tượng: hộ nghèo - hộ cận nghèo - hộ có mức sống trung bình theo chuẩn quy định của pháp luật; sinh viên mà gia đình gặp khó khăn về tài chính do tai nạn, bệnh tật, thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh trong thời gian theo học có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú.


52 dục nghề nghiệp, gia đình thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo, gia đình chính sách, dân tộc thiểu số, gia đình có hoàn cảnh khó khăn hoặc sinh viên theo học các chuyên ngành đặc thù theo quy định có thể được hưởng các chính sách miễn hoặc giảm học phí theo mức được quy định cụ thể cho từng nhóm đối tượng. Cùng với việc tiếp cận các chính sách tín dụng, miễn giảm học phí, hiện nay sinh viên có thể tiếp cận các quỹ học bổng của các trường, các tổ chức chính trị - xã hội hỗ trợ cho sinh viên. Tuy nhiên, nhìn chung, đối tượng được tiếp cận các chính sách, chương trình hỗ trợ này có giới hạn và mức hỗ trợ còn khiêm tốn so với nhu cầu thực tế của sinh viên. Ở phạm vi Thành phố, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (ĐHQG-HCM) triển khai từ năm học 2020 - 2021 Chương trình cho sinh viên đang theo học tại các trường đại học thành viên của ĐHQG-HCM vay ưu đãi để học tập tại ĐHQG-HCM với lãi suất 0%, nhằm hỗ trợ sinh viên thuộc diện hộ nghèo, gia đình có thu nhập thấp, khó khăn về tài chính do tai nạn, bệnh tật, thiên tai, dịch bệnh có thể trang trải một phần kinh phí trong quá trình học tập. Sinh viên sẽ được xét vay theo từng học kỳ cho tới khi tốt nghiệp, số tiền được vay tối đa bằng học phí và hiện không quá 20 triệu đồng/học kỳ. Tuy nhiên, chưa có những chính sách hay chương trình, đề án, giải pháp ở quy mô cấp Thành phố nhằm giúp sinh viên được tiếp cận nhiều hơn những nguồn tín dụng phục vụ cho việc học và các chi phí trong quá trình học tập tại Thành phố. Trong bối cảnh tự chủ đại học, việc xây dựng một chính sách tín dụng riêng, tạo điều kiện cho sinh viên tiếp cận, được hỗ trợ để đảm bảo duy trì


53 việc học là cần thiết. Trên cơ sở đó, Hội Sinh viên Việt Nam Thành phố xây dựng Đề án “Hỗ trợ sinh viên tiếp cận nguồn vốn tín dụng phục vụ nhu cầu học tập tại Thành phố Hồ Chí Minh”, giai đoạn 2023 - 2028, từ đó tiếp tục tham mưu Ủy ban nhân dân Thành phố ban hành Đề án của Thành phố, tạo cơ chế thuận lợi để triển khai thực hiện và hỗ trợ tốt nhất cho sinh viên. II. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ ÁN: 1. Tạo điều kiện cho sinh viên có nhu cầu được vay vốn ngân hàng để duy trì việc học và hỗ trợ cấp bù lãi suất trong thời gian sinh viên học tại các trường đại học, học viện, cao đẳng trên địa bàn Thành phố, qua đó góp phần đầu tư cho nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển Thành phố trung và dài hạn; trang bị kiến thức, kỹ năng, giới thiệu việc làm bán thời gian phù hợp nhằm hạn chế việc sinh viên vướng vào tín dụng đen. 2. Xây dựng tinh thần chủ động trong sinh viên đối với việc vay tín dụng phục vụ học tập và ý thức hoàn trả sau khi có việc làm, tiếp tục đồng hành cùng chương trình để hỗ trợ cho các sinh viên lớp theo sau. 3. Thành lập Quỹ xã hội theo Nghị định số 93/2019/NĐ-CP của Chính phủ về tổ chức, hoạt động của quỹ xã hội, quỹ từ thiện để tiếp nhận các nguồn lực, hỗ trợ cấp bù lãi suất cho sinh viên vay tín dụng từ các ngân hàng thương mại.


54 PHẦN II NỘI DUNG CỤ THỂ I. XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH TÍN DỤNG RIÊNG CHO SINH VIÊN VÀ TRIỂN KHAI CHƯƠNG TRÌNH CẤP BÙ LÃI SUẤT CHO SINH VIÊN THUỘC ĐỐI TƯỢNG 1. Phối hợp với Ngân hàng Nhà nước, các ngân hàng thương mại tạo lập chương trình tín dụng riêng cho sinh viên phục vụ nhu cầu học tập: Hội Sinh viên Việt Nam Thành phố phối hợp với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh để làm việc, đề nghị các ngân hàng thương mại (NHTM) trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh xây dựng chương trình/gói vay tín dụng dành riêng cho sinh viên phục vụ nhu cầu học tập, sinh hoạt với các nội dung sau: 1.1. Hình thức vay: Tín chấp. 1.2. Đối tượng vay, điều kiện cho vay: Sinh viên đảm bảo các điều kiện sau: - Đang học hệ chính quy các trường đại học, học viện, cao đẳng tại Thành phố Hồ Chí Minh có nhu cầu vay tín chấp: + Sinh viên năm thứ nhất phải có giấy báo trúng tuyển hoặc giấy xác nhận được vào học của nhà trường. + Sinh viên từ năm thứ hai trở đi phải có xác nhận của nhà trường về việc đang theo học tại trường. - Có học lực học kỳ hoặc năm học trước đó liền kề (quy sang thang điểm 10) từ 6,5/10 (hoặc 2,4/4) trở lên, đạt điểm rèn luyện 70/100 trở lên và có giấy xác


55 nhận của Nhà trường về kết quả học tập và rèn luyện (trừ sinh viên năm thứ nhất). - Sinh viên không bị xử phạt hành chính trở lên về các hành vi: cờ bạc, nghiện hút, trộm cắp, buôn lậu. - Sinh viên đang không ở trong quá trình bị kỷ luật, đình chỉ học tập. - Sinh viên có cam kết tốt nghiệp trong thời gian quy định của khóa học (không tính thời gian được phép gia hạn). - Có cam kết của cha, mẹ hoặc người đại diện hợp pháp. - Đảm bảo thêm các điều kiện của các NHTM đối với chương trình này. - Ưu tiên xét các trường hợp sinh viên chưa được vay từ nguồn Ngân hàng chính sách xã hội; chưa được nhận học bổng bảo trợ hàng năm có giá trị từ 10 triệu đồng trở lên. 1.3. Hạn mức vay: Tùy theo mục đích vay, chương trình có các gói tín dụng khác nhau, cụ thể: + Chương trình vay hỗ trợ học phí: Bằng mức học phí sinh viên phải đóng nhà trường. Tối đa 60 triệu đồng/năm học; giải ngân trực tiếp vào tài khoản nhà trường theo thông báo đóng học phí. Mức vay có thể điều chỉnh tùy theo tình hình mặt bằng chung học phí của các trường đại học, học viện, cao đẳng. + Chương trình vay sinh hoạt tiêu dùng: Phục vụ cho việc sinh hoạt và tiêu dùng ngoài học phí. Mức vay linh động theo từng ngân hàng quy định để giúp sinh viên đảm bảo các nhu cầu tối thiểu của cuộc sống; giải ngân thông qua tài khoản cá nhân sinh viên.


56 Ngân hàng tham gia sẽ xác định số tiền cho vay cụ thể đối với từng sinh viên căn cứ vào thông báo học phí của từng trường, mức tiền trọ và mức sinh hoạt phí theo địa bàn, nhưng không vượt quá mức tối đa theo quy định. 1.4. Phương thức cho vay: Việc cho vay đối với sinh viên được thực hiện theo một trong số các phương thức cho vay sau: - Đại diện hộ gia đình là người trực tiếp vay vốn và có trách nhiệm trả nợ tại Chi nhánh Ngân hàng nơi hộ gia đình thường trú. - Sinh viên trực tiếp vay vốn và có trách nhiệm trả nợ tại Ngân hàng nơi nhà trường đóng trụ sở, có bảo lãnh của đại diện hộ gia đình. 1.5. Lãi suất: Có chính sách ưu đãi lãi suất dành riêng cho chương trình này. Trong đó, đề nghị các NHTM áp dụng mức lãi suất ưu đãi thấp hơn tối thiểu 2% so với lãi suất phổ thông. Khuyến khích các ngân hàng xây dựng chương trình hỗ trợ cho sinh viên của các trường đại học, học viện, cao đẳng mà ngân hàng đang có liên kết, hợp tác. - Lãi suất nợ quá hạn được tính bằng 130% lãi suất khi cho vay. 1.6. Thời hạn vay và trả nợ: 1.6.1. Đối với cho vay đóng học phí, trang trải tiền nhà trọ (hoặc ký túc xá) - Thời hạn cho vay tối đa: 10 năm tính từ ngày bắt đầu nhận vốn vay đến ngày trả hết nợ (gốc và lãi) ghi trong hợp đồng tín dụng.


57 - Thời hạn phát tiền vay tối đa: 05 năm tính từ ngày đối tượng được vay vốn nhận khoản vay đầu tiên cho đến ngày sinh viên kết thúc khoá học, kể cả thời gian sinh viên được các trường cho phép nghỉ học có thời hạn và được bảo lưu kết quả học tập (nếu có). - Kỳ hạn phát tiền vay: Đầu mỗi học kỳ theo chương trình đào tạo mà sinh viên theo học. - Thời điểm bắt đầu hoàn trả nợ gốc: + Đối tượng được vay vốn phải trả nợ gốc lần đầu tiên ngay sau khi sinh viên có việc làm, có thu nhập nhưng không quá 12 tháng kể từ ngày sinh viên kết thúc khóa học. Trường hợp không thực hiện được do gặp khó khăn tài chính thì có thể nộp đơn đề nghị giãn hoãn nợ. + Đối tượng được vay vốn phải trả nợ gốc lần đầu tiên ngay sau khi sinh viên có thu nhập chạm ngưỡng đóng thuế thu nhập cá nhân (sau khi đã giảm trừ gia cảnh cho bản thân và người phụ thuộc) nhưng không quá 12 tháng kể từ ngày sinh viên kết thúc khóa học. Trường hợp không thực hiện được do gặp khó khăn tài chính thì có thể nộp đơn đề nghị giãn hoãn nợ. - Thời điểm bắt đầu hoàn trả lãi vay: Đối tượng được vay vốn phải trả lãi vay định kỳ hằng tháng, lần đầu tiên là 1 tháng ngay sau khi giải ngân khoản vay. Trường hợp không thực hiện được do gặp khó khăn tài chính thì có thể nộp đơn đề nghị giãn hoãn nợ. 1.6.2. Đối với cho vay trang trải sinh hoạt phí: Áp dụng theo quy định cho vay theo hạn mức thẻ tín dụng do Ngân hàng quy định. 1.7. Phương thức giải ngân:


58 1.7.1. Đối với cho vay đóng học phí: Giải ngân một lần một học kỳ, giải ngân trực tiếp vào tài khoản nhà trường dựa trên thông báo thu học phí. 1.7.2. Đối với cho vay trang trải tiền trọ: Giải ngân một lần 1 học kỳ, giải ngân trực tiếp vào tài khoản nhà trọ hoặc kí túc xá dựa trên hợp đồng thuê nhà. 1.7.3. Đối với cho vay đóng sinh hoạt phí: Giải ngân bằng thẻ tín dụng. Hạn mức thẻ đúng bằng hạn mức được vay. 1.8. Hồ sơ vay vốn, trình tự và thủ tục cho vay, trả nợ: Theo chương trình cụ thể của từng Ngân hàng tham gia. 1.9. Cách thức triển khai: Từng ngân hàng khi tham gia Đề án xây dựng kế hoạch chi tiết, đăng ký với Ủy ban nhân dân Thành phố; phối hợp với Thành Đoàn, Hội Sinh viên Việt Nam Thành phố, các trường đại học, cao đẳng, triển khai cho sinh viên; tiến hành duyệt hồ sơ và phát vay theo từng mốc thời gian cụ thể trong năm học. 2. Triển khai chương trình cấp bù lãi suất và bảo lãnh rủi ro cho sinh viên thuộc chương trình tín dụng trên: 2.1. Nội dung chương trình: Hỗ trợ cấp bù lãi suất thông qua Quỹ xã hội đối với các sinh viên được duyệt vay gói tín dụng thông qua các ngân hàng thương mại để phục vụ nhu cầu học tập và sinh hoạt; xử lý các rủi ro phát sinh khi cho sinh viên vay vốn tín dụng. 2.2. Về cấp bù lãi suất vay cho sinh viên:


59 + Mục tiêu: Cấp bù lãi suất để lãi suất sinh viên thực trả trong quá trình học bằng hoặc thấp hơn mức lãi suất của Ngân hàng Chính sách xã hội đang cho học sinh, sinh viên vay. + Mức cấp bù lãi suất của Quỹ tối đa là 3%. Bên cạnh đó huy động ngân hàng thương mại, nhà trường, doanh nghiệp, mạnh thường quân cùng tham gia hỗ trợ lãi suất cho sinh viên thuộc chương trình. + Đối tượng, điều kiện: Sinh viên đang học hệ chính quy các trường đại học, học viện, cao đẳng tại Thành phố Hồ Chí Minh đang được vay các chương trình tín dụng từ NHTM như mục 1. Sinh viên được duy trì mức hỗ trợ cấp bù lãi suất khi duy trì kết quả học tập từ trung bình khá trở lên, được nhà trường xác nhận kết quả học tập và rèn luyện. + Thời gian được hỗ trợ cấp bù lãi suất: Kể từ khi phát vay đến khi sinh viên tốt nghiệp ra trường, không quá 5 năm. 2.3. Về bảo lãnh rủi ro: + Sinh viên vay vốn tín dụng phải thực hiện bản cam kết có xác nhận của nhà trường, gia đình; ngân hàng thương mại đánh giá hồ sơ theo điều kiện đặt ra của chương trình tín dụng do ngân hàng triển khai trước khi xét duyệt cho vay. + Việc vay vốn tín dụng phục vụ học tập của sinh viên sẽ được cập nhật vào lịch sử tín dụng của sinh viên, trường hợp sinh viên không đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ sẽ ảnh hưởng đến việc tiếp cận vay các nguồn tín dụng khác trong tương lai.


60 + Vận động mạnh thường quân, doanh nghiệp cam kết hỗ trợ, bảo lãnh các rủi ro phát sinh cụ thể trong quá trình cho sinh viên vay. Các trường hợp rủi ro sẽ được Quỹ phối hợp với ngân hàng thương mại xem xét, xử lý theo từng trường hợp cụ thể. II. TRANG BỊ CÁC KỸ NĂNG TÀI CHÍNH VÀ GIỚI THIỆU VIỆC LÀM THÊM PHÙ HỢP CHO SINH VIÊN - Tổ chức các chương trình tư vấn, trang bị kỹ năng quản lý tài chính cho sinh viên như khóa học/hội thảo về quản lý tài chính cá nhân; kỹ năng quản trị thu nhập và chi phí,… thông qua các chương trình, sinh viên sẽ biết quản lý và sử dụng tài chính hiệu quả, phù hợp. - Tổ chức các chương trình giúp sinh viên nhận biết các hình thức lừa đảo mới và tín dụng đen, tránh các loại hình cho vay bất hợp pháp và lãi suất cao, ảnh hưởng đến quá trình học tập của sinh viên. - Tăng cường công tác tìm kiếm, giới thiệu các việc làm thêm phù hợp với sinh viên, giúp sinh viên có thu nhập thêm trang trải cho học tập và sinh hoạt. Thông qua đó tích lũy kinh nghiệm việc làm sẵn sàng cho hành trang nghề nghiệp chính thức sau khi tốt nghiệp. - Tổ chức các chương trình trang bị kỹ năng về việc làm, đáp ứng nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp, tăng thêm cơ hội tìm kiếm việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp. - Tổ chức các chương trình giới thiệu việc làm, tạo việc làm có thu nhập ổn định cho sinh viên sau khi tốt nghiệp.


61 III. CÔNG TÁC THÔNG TIN, TUYÊN TRUYỀN: - Thông tin, tuyên truyền các nội dung hỗ trợ sinh viên của Đề án; thể hiện sự quan tâm của Thành phố Hồ Chí Minh đến lực lượng sinh viên đang học tập tại Thành phố, từ đó thu hút nhân lực chất lượng cao, phục vụ cho các đề án phát triển chung của Thành phố. - Nâng cao nhận thức trách nhiệm của sinh viên đối với các khoản vay; phát huy năng lực, rèn luyện, học tập để bổ sung vào lực lượng nhân lực tương lai của Thành phố Hồ Chí Minh. - Phối hợp với Ngân hàng Chính sách xã hội tuyên truyền điều kiện và hướng dẫn thủ tục đối với các sinh viên thuộc đối tượng được vay vốn từ Ngân hàng chính sách xã hội. PHẦN III KINH PHÍ THỰC HIỆN - Huy động các ngân hàng thương mại xây dựng chương trình tín dụng riêng với lãi suất ưu đãi dành cho sinh viên. - Huy động, kết nối các nguồn lực xã hội để hỗ trợ cấp bù lãi suất, bảo lãnh rủi rõ trong quá trình triển khai. - Huy động sự tham gia trách nhiệm đóng góp của các trường đại học, học viện, cao đẳng có sinh viên đang được thụ hưởng từ Đề án. - Ngân sách nhà nước hỗ trợ các khóa học, chương trình đào tạo kỹ năng quản lý tài chính cho sinh viên (tiếp cận từ nguồn Ngân sách dành cho các chương trình, đề án theo Chương trình phát triển thanh niên Thành phố giai đoạn 2023 - 2030 và Nghị quyết số


62 61/NQ-HĐND ngày 09/12/2022 của Hội đồng nhân dân Thành phố về phát triển thanh niên Thành phố giai đoạn 2022 - 2030). PHẦN IV TỔ CHỨC THỰC HIỆN 1. Hội Sinh viên Việt Nam TP. Hồ Chí Minh - Chịu trách nhiệm xây dựng đề án và chủ trì phối hợp với các đơn vị liên quan xây dựng kế hoạch, chương trình hàng năm đảm bảo thực hiện các mục tiêu của Đề án. - Phối hợp với các ngân hàng thương mại tham gia đề án xây dựng các khung chương trình, các gói tín dụng phù hợp với nhu cầu của sinh viên; triển khai cho sinh viên đăng ký tham gia. - Truyền thông, triển khai rộng rãi cho sinh viên các trường đại học, học viện, cao đẳng về nội dung của Đề án; đảm bảo các sinh viên khó khăn và đủ điều kiện khi có nhu cầu đều được tư vấn, hỗ trợ. - Phối hợp với Sở Nội vụ tham mưu thành lập Quỹ xã hội; Đề xuất cơ chế, bộ máy, biên chế vận hành Quỹ xã hội; chịu trách nhiệm vận hành, quản lý Quỹ xã hội theo đúng quy định. - Cùng với các đơn vị liên quan vận động nguồn lực tham gia vào Quỹ xã hội để thực hiện các nội dung của Đề án. - Cùng với Quỹ xã hội phê duyệt các trường hợp được hỗ trợ lãi suất trong khả năng của Quỹ thông qua hội đồng thẩm định hồ sơ.


63 - Xây dựng các quy định, giáo dục, định hướng về ý thức, trách nhiệm của sinh viên, học sinh đối với các khoản nợ đã được hỗ trợ cho vay; tổ chức các hoạt động tư vấn, trang bị kỹ năng, kiến thức, giới thiệu việc làm thêm phù hợp và tư vấn, giới thiệu việc làm cho sinh viên khi ra trường. - Thực hiện các chế độ cáo cáo định kỳ; tổ chức hội nghị sơ kết/tổng kết Đề án và các báo cáo khác theo yêu cầu. 2. Phối hợp Sở Nội vụ Thành phố - Tham mưu cho Ủy ban nhân dân Thành phố thành lập Quỹ xã hội để thực hiện nhiệm vụ cấp bù lãi suất và bảo lãnh rủi ro cho sinh viên vay vốn tín dụng từ chương trình theo Nghị định số 93/2019/NĐ-CP ngày 25 tháng 11 năm 2019 của Chính phủ về tổ chức, hoạt động của quỹ xã hội, quỹ từ thiện. - Tham mưu, điều chỉnh các cơ chế, chính sách hỗ trợ sinh viên phù hợp với các quy định của pháp luật. 3. Phối hợp Sở Tài chính Thành phố - Tham mưu các cơ chế ngân sách nhà nước đảm bảo cho các nội dung của Đề án (nếu có). 4. Phối hợp Hội đồng hiệu trưởng các trường đại học trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh và Hội đồng hiệu trưởng các trường cao đẳng và trung cấp trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, Ban Giám hiệu/Ban Giám đốc các trường đại học, cao đẳng: - Triển khai thông tin các nội dung của Đề án cho sinh viên trong trường.


64 - Khuyến khích và vận động hỗ trợ một phần lãi suất cho sinh viên của trường mình đang được hỗ trợ từ Đề án thông qua đóng góp vào Quỹ xã hội. - Có trách nhiệm phối hợp với các ngân hàng trong việc xét duyệt, theo dõi, đánh giá sinh viên hàng năm. - Phối hợp nhắc nhở, xây dựng ý thức hoàn trả khoản vay (gốc và lãi) trong sinh viên sau khi có việc làm. 5. Phối hợp Ngân hàng Nhà nước chi nhánh TP. Hồ Chí Minh và các ngân hàng thương mại có hội sở/chi nhánh tại TP. Hồ Chí Minh - Phối hợp với Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh triển khai Đề án này đến các NHTM trên địa bàn, khuyến khích các ngân hàng thương mại xây dựng triển khai gói tín dụng hỗ trợ sinh viên vay học tập/sinh hoạt qua hình thức tín chấp, cùng ưu đãi lãi suất cho sinh viên. - Phối hợp với các ngân hàng thương mại: + Phối hợp với nhà trường trong việc duyệt hồ sơ vay của sinh viên. + Quản lý hồ sơ tín dụng của sinh viên và có chế độ báo cáo định kỳ nhằm đánh giá hiệu quả của đề án. + Vận động các NHTM tham gia đóng góp vào Quỹ xã hội. PHẦN V TIẾN ĐỘ THỰC HIỆN - Năm 2023: Ban hành chính thức Đề án; Xúc tiến thành lập Quỹ xã hội; công bố truyền thông Đề án; xây dựng phương án thí điểm thực hiện năm đầu tiên.


65 - Năm 2024 - 2028: Triển khai thí điểm thực hiện năm 2024; đánh giá phương án thí điểm và định hướng triển khai đại trà. Định kỳ tổng kết hàng năm. - Năm 2025: Hội nghị sơ kết 02 năm thực hiện đề án. - Năm 2028: Hội nghị tổng kết đề án và phương hướng phát triển giai đoạn tiếp theo. BCH HỘI SINH VIÊN VIỆT NAM TP. HỒ CHÍ MINH KHÓA VI, NHIỆM KỲ 2020 - 2023


66


67 ĐỀ ÁN Nâng cao năng lực Cán bộ Hội Sinh viên Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2023 - 2028 ____ I. CƠ SỞ HÌNH THÀNH ĐỀ ÁN: Hội Sinh viên Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh là đơn vị dẫn đầu cả nước về số lượng cơ sở Hội với 61 cơ sở Hội trực thuộc và đội ngũ cán bộ Hội là sinh viên. Tính đến thời điểm trước Đại hội đại biểu Hội Sinh viên Việt Nam Thành phố lần thứ VII, nhiệm kỳ 2023 - 2028 (tháng 11/2023), Thành phố có 910 cán bộ Hội cấp Trường, 45.850 cán bộ Hội cấp cơ sở. Hiện nay, với sự thay đổi về thời gian đào tạo tại các trường, cụ thể các trường Đại học, Học viện, Cao đẳng đều có học kỳ tăng cường (học kỳ hè là học kỳ chính thức), chương trình rút ngắn chương trình học tập bằng hình thức học vượt, học tăng cường tín chỉ,... Do đó, việc đội ngũ cán bộ Hội với đặc thù đa phần đều là sinh viên đang khiến Hội Sinh viên Thành phố đối mặt với sự chuyển biến mạnh mẽ trong thay đổi nhân sự cán bộ Hội cấp cơ sở một cách liên tục. Trong thời gian qua, các cấp bộ Hội Thành phố đã có nhiều mô hình, giải pháp nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ Hội tuy nhiên việc triển khai vẫn chưa có tính hệ thống, đồng đều giữa các cơ sở Hội và có một khung năng lực để đánh giá năng lực cán bộ qua quá trình công tác. Bên cạnh đó, hầu hết các cán bộ Hội chủ chốt đều là nhân sự mới nhận nhiệm vụ, chưa có nhiều kinh nghiệm, đồng thời sự thay đổi cán bộ Hội trong quá trình công tác nhanh dẫn đến một số cán bộ


68 Hội thiếu kinh nghiệm trong quá trình điều hành hoạt động, việc kết nối và chuyển giao công tác giữa các thế hệ ở nhiều đơn vị chưa làm tốt. Công tác tập huấn, bồi dưỡng cho cán bộ Hội tại một số đơn vị vẫn còn mang tính phong trào, chưa đi sâu vào những vấn đề cốt lõi của tổ chức Hội Sinh viên, dẫn đến vẫn còn tình trạng cơ sở Hội, đội ngũ cán bộ Hội còn lúng túng trong thực tiễn xử lý công việc. Đội ngũ cán bộ Hội Đội ngũ cán bộ Hội là sinh viên thế hệ Z, Alpha có những đặc điểm riêng, bản thân cán bộ Hội cũng gặp phải những thách thức đồng trang lứa, việc tiếp cận và có giải pháp phù hợp trong nâng cao năng lực, rèn luyện và phát huy, hỗ trợ cán bộ Hội thế hệ này còn chậm. Trước yêu cầu và đòi hỏi của thực tiễn khách quan, tính cấp thiết của công tác cán bộ Hội trong thời gian qua, Hội Sinh viên Việt Nam Thành phố cần phải đầu từ nhiều hơn công tác tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng để chuẩn hóa, nâng cao năng lực cán bộ Hội Sinh viên Việt Nam Thành phố từ sớm, từ xa; đề xuất các cơ chế phù hợp cho đội ngũ cán bộ Hội trong quá trình công tác. Vì vậy, Hội Sinh viên Việt Nam Thành phố xây dựng Đề án “Hỗ trợ nâng cao năng lực cán bộ Hội Sinh viên Việt Nam Thành phố” giai đoạn 2023 - 2028 nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ Hội các cấp đảm bảo trình độ, năng lực đáp ứng yêu cầu công tác Hội và phong trào sinh viên thành phố trong tình hình mới. II. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ ÁN: - Xây dựng khung năng lực cán bộ Hội Sinh viên Việt Nam TP. Hồ Chí Minh từ đó đổi mới, nâng chất công tác bồi dưỡng, tập huấn, đánh giá cán bộ Hội.


69 - Tổ chức đánh giá năng lực cán bộ Hội Sinh viên viên Việt Nam các cấp, khuyến khích cán bộ Hội tự trau dồi, rèn luyện theo những yêu cầu, tiêu chuẩn chung, đóng góp cho công tác Hội và phong trào sinh viên. - Đảm bảo công tác tạo nguồn, phát huy tốt vai trò đội ngũ cán bộ Hội Sinh viên Việt Nam các cấp; tăng cường kết nối, tạo cơ chế chăm lo, động lực cho cán bộ Hội Sinh viên Việt Nam các cấp. III. CHỈ TIÊU CỤ THỂ: 1. 100% Cán bộ Hội các cấp mới nhận nhiệm vụ được tham gia ít nhất 01 lớp tập huấn về chuyên môn công tác. 2. 100% Hội Sinh viên Việt Nam các Trường có ít nhất 01 hoạt động triển khai, tuyên truyền về khung năng lực cán bộ Hội cho cán bộ Hội các cấp tại đơn vị. 3. 80% Cán bộ Hội các cấp đạt chuẩn theo khung năng lực cán bộ Hội. Phấn đấu đến cuối nhiệm kỳ tỷ lệ 100% Cán bộ Hội đạt chuẩn theo khung năng lực cán bộ Hội. 4. 100% Hội Sinh viên Việt Nam các Trường tổ chức Hội trại rèn luyện cán bộ Hội. Cấp Thành tổ chức định kỳ Hội thi “Thủ lĩnh sinh viên TP. Hồ Chí Minh” và ít nhất 03 Hội trại “Tự hào cán bộ Hội Sinh viên Việt Nam Thành phố”. 5. Kết nối, hỗ trợ học bổng học tập cho ít nhất 500 cán bộ Hội. 6. Hỗ trợ giới thiệu ít nhất 05 cán bộ Hội tham gia công tác tại các cơ quan Nhà nước theo Đề án 01- ĐA/TU ngày 05/02/2021 của Ban Thường vụ Thành ủy


70 về hỗ trợ, phát triển tài năng trẻ và lãnh đạo tương lai của Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2020 - 2035. IV. NỘI DUNG VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN: 1. Xây dựng và triển khai khung năng lực cán bộ Hội Sinh viên Việt Nam Thành phố 1.1. Đối với cấp Thành - Xây dựng, khảo sát và ban hành khung năng lực cán bộ Hội Sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2023 - 2028; tổ chức quán triệt, hướng dẫn thực hiện khung năng lực cán bộ Hội trong các cấp bộ Hội, trong cán bộ Hội Thành phố; lồng ghép triển khai các tiêu chí vào công tác đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn, đánh giá cán bộ Hội. - Triển khai các hoạt động tuyên truyền giúp cán bộ Hội hiểu được tầm quan trọng của việc trang bị năng lực công tác trong tình hình hiện nay, đánh giá về thực trạng cũng như nêu giải pháp, phương pháp để hỗ trợ cán bộ Hội nâng cao năng lực, chuyên môn công tác. - Tổ chức định kỳ mỗi năm học các diễn đàn, hội thảo về phương pháp xây dựng hình ảnh cán bộ Hội Sinh viên Việt Nam Thành phố. 1.2. Đối với cấp Cụm, Hội Sinh viên các trường và cơ sở - Tăng cường các hoạt động nâng cao nhận thức của cán bộ Hội trong việc nâng cao năng lực công tác. 100% Hội Sinh viên Trường có kế hoạch tổ chức tuyên truyền, triển khai khung năng lực trong cán bộ Hội Thành phố cho cán bộ Hội các cấp và Ban chủ nhiệm các CLB - Đội - Nhóm trực thuộc trong mỗi năm học.


71 - Trên cơ sở khung năng lực do cấp Thành ban hành, Hội Sinh viên Trường nghiên cứu bổ sung các tiêu chuẩn, tiêu chí năng lực phù hợp với tình hình thực tiễn của đơn vị (nếu có); tham mưu gắn khung năng lực cán bộ Hội với các danh hiệu, giải thưởng, tuyên dương trong cán bộ Hội định kỳ. 2. Tổ chức các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn và tạo môi trường rèn luyện trong cán bộ Hội Sinh viên Việt Nam các cấp theo khung năng lực 2.1. Đối với cấp Thành - Phối hợp với Trường Đoàn Lý Tự Trọng xây dựng kế hoạch, tài liệu bồi dưỡng, tập huấn cán bộ Hội các cấp giai đoạn 2023 - 2028 theo khung năng lực, ban hành sổ tay cán bộ Hội. - Duy trì tổ chức chương trình tập huấn Cán bộ Hội Sinh viên các cấp và chương trình bồi dưỡng chức danh Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội Sinh viên Việt Nam trường. - Xây dựng cơ chế, khuyến khích đội ngũ cán bộ Hội, đặc biệt là đội ngũ cán bộ Hội chủ chốt các trường tham gia các lớp đào tạo, tự đào tạo để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ gắn với khung năng lực, có chú ý các tiêu chuẩn để tiếp tục phát huy đội ngũ cán bộ Hội tham gia Đề án số 01-ĐA/TU của Ban Thường vụ Thành ủy về hỗ trợ, phát triển tài năng trẻ và lãnh đạo tương lai của Thành phố. - Xây dựng hệ thống tập huấn cán bộ Hội trực tuyến, hệ thống E-learning, MOOC; phát huy các mô hình, giải pháp chuyển đổi số của cơ sở Hội về tập huấn cho cán bộ Hội các cấp và thông qua công trình “Cổng


72 dữ liệu số về phong trào học sinh, sinh viên và Hội Sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh”. - Tổ chức các hoạt động nhằm phát hiện nhân tố mới, phát huy sinh viên có sức ảnh hưởng trong sinh viên vào các hoạt động chung của Hội, phát huy đội ngũ cán bộ Hội cơ sở trong các hoạt động chung của Hội Sinh viên Việt Nam Thành phố và tham gia các hoạt động chung của Trung ương Hội Sinh viên Việt Nam thông qua Hội thi “Thủ lĩnh Sinh viên TP. Hồ Chí Minh”. Chú trọng cách thức và nội dung phải được đầu tư đổi mới, đặc biệt là bổ sung khung năng lực cán bộ Hội vào nội dung, phương thức tổ chức Hội thi. - Tổ chức các sân chơi, hoạt động rèn luyện cán bộ Hội cấp Thành, tạo môi trường rèn luyện, sân chơi giao lưu và phát triển bản thân cho đội ngũ cán bộ Hội Sinh viên Việt Nam Thành phố: Hội trại “Tự hào cán bộ Hội Sinh viên Việt Nam Thành phố”, Ngày hội cán bộ Hội, các hội thi, liên hoan văn nghệ, hội thao dành cho cán bộ Hội… với các hình thức đa dạng, phong phú nhằm tạo sự gần gũi và tạo môi trường để cán bộ Hội rèn luyện, trao đổi kinh nghiệm. 3.2. Đối với cấp Cụm, Hội Sinh viên các trường và cơ sở - Tổ chức các sân chơi để khuyến khích cán bộ Hội tự nâng cao năng lực công tác. - Thành lập mới các Câu lạc bộ cán bộ Hội theo hướng đa dạng hóa sân chơi, hỗ trợ trao đổi chuyên môn, công tác giữa các cấp cán bộ Hội, tạo môi trường rèn luyện giúp sinh viên nâng cao năng lực và không ngừng phát triển.


73 - Hội Sinh viên Việt Nam các Trường tổ chức Hội trại rèn luyện cán bộ Hội tại đơn vị, cấp Cụm, tạo nguồn tham gia Trại cấp Thành. - Triển khai kế hoạch đào tạo cán bộ Hội theo từng năm học, phù hợp với tình hình, đặc điểm tại đơn vị, có quan tâm gắn các nội dung theo khung năng lực, đặc biệt là đội ngũ cán bộ Hội mới nhận nhiệm vụ. - Tổ chức các lớp tập huấn được đa dạng về hình thức tổ chức, theo chuyên đề cụ thể, kết hợp nhiều phương thức tập huấn, bồi dưỡng phù hợp theo khung năng lực. - Cụm liên kết Hội Sinh viên Việt Nam các Trường tổ chức các hoạt động giao lưu và trau dồi kinh nghiệm, rèn luyện theo khung năng lực do cấp Thành triển khai vào trong chương trình Cụm dành riêng cho cán bộ Hội. 3. Tổ chức đánh giá năng lực cán bộ Hội Sinh viên viên Việt Nam các cấp 3.1. Đối với cấp Thành: - Triển khai hệ thống đánh giá năng lực cán bộ Hội. - Đưa các tiêu chí về khung năng lực cán bộ Hội vào các tiêu chuẩn hiệp thương các chức vụ chủ chốt, giải thưởng, danh hiệu tuyên dương dành cho cán bộ Hội. - Xây dựng các tiêu chuẩn cán bộ, tiêu chí các giải thưởng cấp Thành có chú trọng đến khung năng lực cán bộ Hội; nâng cao tiêu chuẩn nâng lực cán bộ Hội cấp Thành qua từng năm để cán bộ Hội liên tục rèn luyện, phấn đấu trau dồi kỹ năng, chuyên môn. - Định kỳ mỗi năm học tổ chức kiểm tra, khảo sát ít nhất 02 lần vào cuối các học kỳ để có đánh giá và


74 cung cấp chứng chỉ công nhận chuẩn năng lực cho đội ngũ cán bộ Hội các cấp. 3.2. Đối với cấp Cụm, Hội Sinh viên các trường và cơ sở: - Xây dựng chương trình kiểm tra đánh giá phù hợp với số lượng, quy mô cơ sở Hội tại đơn vị. Triển khai các đợt kiểm tra, đánh giá cán bộ Hội cấp cơ sở. - Có kế hoạch phối hợp kiểm tra năng lực cán bộ Hội, từ đó có cơ sở đánh giá việc trang bị kỹ năng, kiến thức cho đội ngũ cán bộ Hội qua từng năm học. - Tuyên truyền triển khai đảm bảo 80% cán bộ Hội các cấp đạt chuẩn theo khung năng lực cán bộ Hội. Phấn đấu đến cuối nhiệm kỳ tỷ lệ 100% Cán bộ Hội đạt chuẩn theo khung năng lực cán bộ Hội. - Tổ chức Hội thi “Thủ lĩnh Sinh viên”, hội thi kiểm tra năng lực cán bộ Hội tại đơn vị, tạo nguồn cán bộ tham gia Hội thi cấp Thành. - Tiếp tục bình chọn và tuyên dương cán bộ Hội tiêu biểu vào cuối mỗi năm học. 4. Công tác tạo nguồn, chuyển giao đội ngũ cán bộ Hội Sinh viên Việt Nam các cấp: 4.1. Đối với cấp Thành: - Trong công tác cán bộ, chú trọng phát triển, bồi dưỡng cho cán bộ Hội cấp cơ sở, tiếp tục thực hiện chủ trương Chủ tịch Hội Sinh viên Việt Nam trường là sinh viên, Hội Sinh viên Việt Nam Thành phố đã kiên trì thực hiện nhiều giải pháp tạo nguồn, tập huấn, đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, kỹ năng công tác cho đội ngũ cán


75 bộ Hội; quan tâm việc dự nguồn cán bộ Hội chủ chốt tiệm cận khung năng lực trước khi nhận nhiệm vụ. - Phát huy đội ngũ cán bộ Đoàn Trung học phổ thông trúng tuyển vào Đại học, Học viện, Cao đẳng hằng năm với chương trình “Tuyên dương Cán bộ Đoàn THPT Trúng tuyển Đại học, Học viện, Cao đẳng”, Liên hoan “Gương mặt thủ lĩnh trẻ”, tổ chức ký kết phối hợp với Đoàn các Quận - Huyện, Thành phố Thủ Đức bàn giao, giới thiệu danh sách cán bộ Đoàn học sinh THPT trúng tuyển cho Đoàn, Hội các trường Đại học, Học viện, Cao đẳng trên địa bàn Thành phố nhằm tạo nguồn cho Hội Sinh viên Việt Nam các cấp. - Thực hiện kế hoạch bồi dưỡng, phát huy đội ngũ cán bộ Hội trở thành lãnh đạo tương lai theo Đề án 01- ĐA/TU; phối hợp tổ chức chương trình “Cán bộ Đoàn - Hội tài năng” với cơ chế tuyển dụng sinh viên tiêu biểu đã tốt nghiệp và đã từng là Ủy viên Ban Chấp hành Đoàn - Hội cấp cơ sở trở lên về tham gia công tác tại cơ quan chuyên trách Thành Đoàn và các cơ sở Đoàn trực thuộc Thành Đoàn. - Phối hợp Ban Thường vụ Thành Đoàn tiếp tục tham mưu cho Thành ủy tổ chức chương trình “Lãnh đạo Thành phố gặp gỡ sinh viên tiêu biểu trên các lĩnh vực” và “Chương trình gặp gỡ Cán bộ Đoàn - Hội - Đội các cấp” qua đó tạo động lực cho cán bộ Hội Sinh viên Việt Nam các cấp tiếp tục phấn đấu đáp ứng nhu cầu với Đề án 01-ĐA/TU ngày 05/02/2021 của Ban Thường vụ Thành ủy về hỗ trợ, phát triển tài năng trẻ và lãnh đạo tương lai của Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2020 - 2035.


76 4.2. Đối với cấp Cụm, Hội Sinh viên các trường và cơ sở - Tổ chức rà soát, tiếp nhận chuyển giao đối với tân sinh viên là Cán bộ Đoàn THPT, ưu tiên đào tạo, giới thiệu, phát huy trở thành cán bộ Hội theo khung năng lực. - Chú ý đầu tư công tác quy hoạch, đào tạo, dự nguồn cán bộ Hội các cấp, đặc biệt bồi dưỡng “Sinh viên 5 tốt” các cấp thành cán bộ Hội Sinh viên tại cơ sở và cán bộ Hội các cấp phấn đấu đạt danh hiệu “Sinh viên 5 tốt”, khuyến khích Hội Sinh viên các trường có giải pháp đánh giá năng lực cán bộ Hội gắn với việc đạt danh hiệu “Sinh viên 5 tốt” các cấp; phối hợp với các phòng, ban chuyên môn trong nhà trường tạo điều kiện cho cán bộ Hội trong tiếp cận các nguồn học bổng, chính sách khuyến khích học tập. - Tuyên truyền, giới thiệu các chương trình hội thảo, nghề nghiệp có liên quan đến công tác cán bộ theo Đề án 01-ĐA/TU ngày 05/02/2021 của Ban Thường vụ Thành ủy về hỗ trợ, phát triển tài năng trẻ và lãnh đạo tương lai của Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2020 - 2035. Đảm bảo chỉ tiêu 100% cán bộ Hội được tuyên truyền về Đề án 01-ĐA/TU. 5. Công tác kết nối, chăm lo, tạo động lực cho cán bộ Hội Sinh viên Việt Nam các cấp: 5.1. Đối với cấp Thành - Rà soát, phối hợp cùng với Đảng ủy, lãnh đạo các Trường củng cố, chăm lo, tạo điều kiện cho đội ngũ cán bộ Hội Sinh viên tại các trường.


77 - Phát triển nguồn học bổng “Bồ câu trắng”, hỗ trợ khuyến khích đối với cán bộ Hội đạt các giải thưởng, thành tích tiêu biểu, đảm bảo đánh giá năng lực. 5.2. Đối với cấp Cụm, Hội Sinh viên các trường và cơ sở - Tham mưu Đảng ủy - lãnh đạo nhà trường quan tâm và hỗ trợ triển khai hoạt động nâng cao năng lực cho cán bộ Hội Sinh viên Việt Nam trường, xây dựng cơ chế hỗ trợ cho cán bộ Hội tại đơn vị. - Liên kết các doanh nghiệp, đơn vị chuyên môn, đồng hành tổ chức kiểm tra trình độ theo khung năng lực cho cán bộ Hội sinh viên trường; kịp thời phát hiện, quan tâm, động viên, hỗ trợ cụ thể đối với các cán bộ Hội có hoàn cảnh khó khăn. V. TỔ CHỨC THỰC HIỆN: 1. Ban chỉ đạo đề án: Ban Thư ký Hội Sinh viên Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh. 2. Ban Điều hành đề án: - Phân công 01 đồng chí Thường trực Hội Sinh viên Việt Nam Thành phố chuyên trách làm trưởng ban điều hành đề án. - Phân công đồng chí Trưởng Ban Kiểm tra Hội Sinh viên Việt Nam Thành phố làm Phó Ban thường trực điều hành Đề án. Ban Kiểm tra Hội Sinh viên Việt Nam Thành phố là bộ phận thường trực tham mưu đề án, tham mưu cơ chế, chính sách và kế hoạch triển khai thực hiện mỗi năm học.


78 - Phân công đồng chí Chánh Văn phòng Hội Sinh viên Thành phố là Phó Ban Đề án. Văn phòng Hội Sinh viên Việt Nam Thành phố là bộ phận tham mưu cơ chế tài chính để triển khai, tham mưu khen thưởng các cá nhân, tập thể có thành tích trong thực hiện đề án. - Phân công một số đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Hội Sinh viên Việt Nam Thành phố là thành viên của Ban điều hành đề án với các cơ cấu: + Ban Tổ chức - Kiểm tra Thành Đoàn + Ban Tuyên giáo - Đối ngoại Thành Đoàn + Đơn vị sự nghiệp trực thuộc Thành Đoàn + Sở Nội vụ Thành phố + Cán bộ Hội chủ chốt Hội Sinh viên các trường - Mời đại diện lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo, Đảng ủy Khối Đại học, Cao đẳng Thành phố, Đảng ủy Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đoàn Lý Tự Trọng, Học viện Cán bộ Thành phố, một số đơn vị, doanh nghiệp, chuyên gia, cựu cán bộ Hội tham gia thành viên Ban Điều hành với vai trò cố vấn xây dựng khung đánh giá năng lực, biên soạn các tài liệu sát với từng thời điểm, tình hình, tham gia nghiên cứu, đánh giá định kỳ về chất lượng đội ngũ cán bộ Hội Thành phố. BCH HỘI SINH VIÊN VIỆT NAM TP. HỒ CHÍ MINH KHÓA VI, NHIỆM KỲ 2020 - 2023


79 PHẦN III: CÁC THAM LUẬN


80


81 Đại hội Hội Sinh viên Việt Nam TP. Hồ Chí Minh: Tin yêu và Hy vọng Đồng chí PHẠM CHÁNH TRỰC Nguyên Bí thư Trung ương Đoàn, Nguyên Phó Bí thư Thường trực Thành ủy, Nguyên Bí thư Thành Đoàn, Chủ nhiệm Câu lạc bộ Truyền thống Thành Đoàn Thế hệ trẻ thời đại nào cũng phải đối diện hai câu hỏi cơ bản: Một là, Học để làm gì? Và hai là, Đâu là lẽ sống ở đời hay Lý tưởng của thanh niên là gì? I. HỌC ĐỂ LÀM GÌ? Sau 50 năm giải phóng, thống nhất Tổ quốc, tình hình đất nước ta có nhiều thay đổi, thế giới bước vào thời đại cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nền giáo dục nước ta đã trải qua một quãng đường dài với biết bao thăng trầm, vượt khó khăn gian khổ để đào tạo được nhiều thế hệ tuổi trẻ trưởng thành, cống hiến trí tuệ, tài năng và cả tuổi thanh xuân cho công cuộc cứu nước, giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc. Trong giai đoạn xây dựng kinh tế - xã hội hiện nay thế hệ trẻ nói chung và sinh viên nói riêng có nhiệm vụ đương nhiên là học tập. Nhưng học để làm gì? Đọc lại Bác Hồ chúng ta nhận ra những tư tưởng vượt thời đại, hết sức nhân văn, cao cả mà rất thiết thực.


82 “Các thầy giáo có nhiệm vụ nặng nề và vẻ vang là đào tạo cán bộ cho dân tộc. Vậy giáo dục cần nhằm vào mục đích là thật thà phụng sự nhân dân” (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 7, tr400). “Bây giờ xây dựng kinh tế. Không có cán bộ không làm được. Không có giáo dục, không có cán bộ thì cũng không nói gì đến kinh tế, văn hóa”. (Hồ Chí Minh toàn tập, tr10, tr345). Trong thư cuối cùng gửi ngành Giáo dục nhân dịp khai giảng năm học 1968 - 1969, Bác Hồ dặn dò: “Giáo dục nhằm đào tạo những người kế tục sự nghiệp cách mạng to lớn của Đảng và nhân dân ta”. (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 15, tr508). “Mục đích giáo dục bây giờ là phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, đào tạo lớp người, lớp cán bộ mới” (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 10, tr344). Trong quyển Sổ vàng của trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định tập trung sâu sắc mục tiêu của nền giáo dục cách mạng: “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ, Học để phụng sự Đoàn thể, để phụng sự giai cấp và nhân dân, để phụng sự Tổ quốc và Nhân loại.” (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, tr208) Tháng 8 năm 1963, tại Hội nghị tổng kết phong trào thi đua “Dạy tốt, Học tốt”, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Nội dung giáo dục cần chú trọng hơn nữa về mặt đức dục”. (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 14, tr746).


83 Một lần nữa, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh “giáo dục làm người” là mục đích cao nhất. Vì sao cần xác định giáo dục đào tạo “Làm người” là mục tiêu số 1? Thực tiễn xã hội nước ta đang có những vấn đề bức xúc. Đó là các giá trị truyền thống, đạo đức, văn hóa... bị xuống cấp nghiêm trọng. Đó là tệ nạn xã hội tràn lan: ma túy không ngăn chặn được, rượu chè cờ bạc làm tan nát nhiều gia đình, phạm pháp giết người vô cảm, bạo lực trường học, bạo lực gia đình, nhóm lợi ích lũng đoạn nhà nước, tham nhũng tràn lan... Những mâu thuẫn toàn cầu đương đại chưa ai giải quyết được: Đói nghèo, dịch bệnh, bất bình đẳng xã hội, phân biệt chủng tộc, xung đột sắc tộc, tôn giáo, chiến tranh, khủng bố, tệ nạn xã hội, ... Robot và trí tuệ nhân tạo là áp lực buộc con người phải khác biệt và vượt trội. Bởi lẽ không thể để robot và trí tuệ nhân tạo (AI) đánh bại con người. Tiềm lực con người chưa được phát huy cao độ. Bản thân con người chưa nhận thức hết “thế giới của bản thân mình” và “thế giới của muôn loài”. Tất cả những bất cập nêu trên đặt ra yêu cầu phải chấn chỉnh và xây dựng con người thật sự là con người văn minh, có đạo đức, văn hóa, đầy nhân tính, biết tư duy tích cực, sáng tạo, tâm hồn trong sáng, luôn hướng đến chân, thiện, mỹ, biết làm chủ bản thân, làm chủ tự nhiên, khoa học công nghệ và làm chủ xã hội. Tư tưởng Hồ Chí Minh còn chỉ ra “giáo dục là việc chung” đặt ra nhiệm vụ cho ta phải nâng tầm nền giáo dục Việt nam lên trình độ mới, đó là:


84 Nền giáo dục Việt nam bao gồm ba thành phần cấu tạo cơ bản, gắn bó chặt chẽ, là giáo dục gia đình, giáo dục trường học và giáo dục xã hội. Không gian giáo dục là môi trường thống nhất, thời gian giáo dục là học suốt đời. Ba chủ thể của nền giáo dục Việt nam là: Cha mẹ (ông bà, anh chị) và con cái, Thầy và trò, Đoàn thể và công dân. Vậy Mục tiêu giáo dục đào tạo trong thời đại cách mạng 4.0. là: “Dạy và học làm Người, làm Nghề và biết tư duy Sáng tạo.” Ngay từ lúc còn ở giảng đường, sinh viên cần đi sâu nghiên cứu, thực nghiệm, không ngại tìm tòi cái mới, sáng tạo khoa học công nghệ hay sáng tác văn học nghệ thuật. Sinh viên ta có nhiều ưu điểm mà nổi trội là có phương pháp tư duy khoa học, nhiều khát vọng vươn lên và luôn năng động, luôn sáng tạo. Nhưng sinh viên cũng có nhược điểm chủ yếu do thiếu trải nghiệm cuộc đời, như tự do tư tưởng và hành động có khi không kiềm chế đúng mực, sẵn sàng tiên phong hành động nhưng nhiều lúc chưa dự tính mọi bất trắc, phức tạp. Vì vậy sinh viên cần chủ động với sự hỗ trợ của gia đình và đoàn thể, không để bị hoàn cảnh chi phối, tác động tiêu cực. Có những gia đình nghèo, đông con, nhưng cha mẹ lao động miệt mài, hy sinh chịu đựng gian khổ để lo cho đàn con học hành tới nơi tới chốn, thậm chí đổ đại học, hay hơn nữa nhiều sinh viên vừa đi học vừa đi làm để cho gia đình đỡ lo chi phí. Lại cũng có nhiều gia đình giàu có, cha mẹ bận công việc kinh doanh hay công tác xã hội không chăm sóc chu đáo gia đình nên con cái tiêu xài phung phí, đua đòi lối


85 sống thời thượng nước ngoài nên lắm khi sa ngã, phóng túng…Thánh Gandhi (Ấn độ) có nói: “Ăn một miếng không cần ăn là ăn cắp miếng ấy của kẻ nghèo”, ngẫm ra những sinh viên, thanh niên ấy phụ lòng những hy sinh không kể xiết của các thế hệ trước đây đã đổ xương máu hằng trăm năm mới giành được độc lập tự do cho Tổ quốc, cho dân tộc. Hơn nữa nước ta chưa giàu, một bộ phận nhân dân còn nghèo khổ, là thanh niên, là sinh viên không thể dửng dưng vô cảm. II. LÝ TƯỞNG THANH NIÊN: Sinh viên là con em của nhiều tầng lớp trong xã hội, vì vậy quan tâm đối với sinh viên là quan tâm đến mọi tầng lớp đồng bào ta. Sinh viên, bộ phận trí thức của thanh niên “rường cột nước nhà”, là tương lai của Tổ quốc. Tuổi trẻ luôn có ước mơ hoài bão. Nhưng tuổi trẻ không tự mình định hướng được trong suốt cuộc đời. Trong quá trình trưởng thành sinh viên chịu nhiều tác động của gia đình, nhà trường và xã hội, kể cả qua mạng internet và văn hóa hội nhập toàn cầu, nên đã hình thành nhận thức và ý thức tư tưởng hướng dẫn hành động. Nếu được định hướng đúng và tác động tích cực những nhận thức, ý thức tư tưởng đó sẽ trở thành lý tưởng cao đẹp của sinh viên. Ngược lại, nếu bị lôi kéo vào những nhóm thanh niên hư hỏng, những xu hướng tiêu cực thì sinh viên sẽ nhiễm thói ích kỷ, vụ lợi, cá nhân chủ nghĩa, cuối cùng là bị tha hóa. Vì vậy vai trò của gia đình, của nền giáo dục và Đoàn thanh niên cộng sản có tầm quan trọng quyết định lối sống và lý tưởng của thế hệ trẻ.


86 Lý tưởng, đó là sự nhất quán, hòa quyện giữa nhân sinh quan chân chính và thế giới quan tiến bộ, nói cách khác là sự phù hợp của ước mơ, khát vọng chính đáng của mỗi người với quy luật của tự nhiên và của xã hội loài người. Thế hệ thanh niên và sinh viên hiện nay lớn lên khi đất nước đang phát triển theo nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, do đó có điều kiện để phát huy năng lực cá nhân cao độ, mạnh mẽ, đó là mặt thuận lợi. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư càng thúc đẩy sinh viên vươn lên làm chủ công nghệ để có thể cống hiến cao nhất cho đất nước phát triển. Trong quá khứ cũng như từ khi thống nhất đất nước, sinh viên nước ta, thành phố ta đã thể hiện sâu sắc lòng yêu nước, thương dân. Trước tình cảnh nghèo khổ của đồng bào, khi thiên tai bão lũ hay qua đại dịch COVID-19 mới đây, thanh niên và sinh viên thành phố đã thường xuyên quan tâm, vận động các phong trào tình nguyện xã hội, cứu trợ, giúp đỡ, sát cánh cùng mọi hoàn cảnh hiểm nghèo của đồng bào với tình cảm sâu sắc, hoạt động liên tục năm này sang năm khác không mệt mỏi. Đó là tình cảm cao đẹp hết sức tự nhiên và đáng quý. Tuy nhiên, trong quá trình hội nhập toàn cầu mà chủ nghĩa tư bản đang chi phối nền kinh tế thế giới, sinh viên nước ta không tránh khỏi chịu ảnh hưởng trực tiếp cả mặt tích cực và tiêu cực của thế giới tư bản, nhất là dễ bị cuốn hút vào chủ nghĩa cá nhân thực dụng, chạy theo tiền mù quáng, thậm chí bị tha hóa bởi nhiều tệ nạn xã hội.


87 Vì vậy, “định hướng xã hội chủ nghĩa” đối với sinh viên là việc khó khăn nhưng nhất thiết phải được Đoàn kiên trì thuyết phục và giác ngộ bằng nhiều mức độ và với những phương thức thích hợp. Trong giai đoạn hiện nay lý tưởng của thanh niên và sinh viên là nỗ lực thực hiện mục tiêu mà Đại hội Đảng lần thứ XIII đã đề ra: “Xây dựng nước ta dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, bảo vệ Tổ quốc và tiến lên Chủ nghĩa xã hội”, cụ thể là phấn đấu đến năm 2045 nước ta trở thành nước công nghiệp phát triển có thu nhập cao, phát triển đất nước nhanh, bền vững và bao trùm. Giúp thanh niên có định hướng đúng, có niềm tin và động lực lập thân, lập nghiệp, lập công cho Tổ quốc, trang bị lý tưởng cách mạng cho thanh niên và sinh viên phù hợp từng giai đoạn phát triển của đất nước và phù hợp quy luật phát triển của xã hội loài người - tiến lên Chủ nghĩa xã hội - đó là nhiệm vụ vẻ vang và là sứ mệnh cao cả của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh!


88


89 Tư duy đổi mới trong giáo dục đại học PGS.TS. VŨ HẢI QUÂN Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Thành uỷ viên, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc ĐHQG-HCM Gần đây nhiều trường đại học đã bổ sung năng lực về tư duy đổi mới (entrepreneurial mindset) vào chuẩn đầu ra cho chương trình đào tạo với mong muốn người học sau khi tốt nghiệp là những người có khả năng đặt ra những câu hỏi mới; có thể nghĩ khác, làm khác và đặc biệt là phải dám đối diện với thách thức và tìm giải pháp vượt qua thách thức. Bài viết trình bày này giới thiệu một ví dụ về tư duy đổi mới qua ý tưởng đề xuất cải cách giáo dục đại học của các nhà khoa học thuộc Trường Đại học Stanford (Hoa Kỳ). Bài viết cũng liên hệ tới chiến lược phát triển Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2021-2030 tầm nhìn 2045 với tâm thế đổi mới! 1. Tư duy lối mòn và sự cần thiết phải thay đổi Cơ chế quan liêu bao cấp, môi trường làm việc thiếu tính cạnh tranh, công việc hằng ngày đơn điệu, có tính lặp lại... là những nhân tố khiến con người tư duy theo lối mòn. Các biểu hiện thường thấy của tư duy lối mòn là không muốn thay đổi, dù biết sự thay đổi có thể mang tới cơ hội mới; dễ dàng từ bỏ, nhất là khi đối diện thách thức, không nỗ lực để vượt qua thách thức; không dám làm, không dám chịu trách nhiệm, thường xuyên phát biểu những ý kiến không mang tính xây dựng như


90 cho rằng việc này không làm được vì chưa có trong quy định, chưa có kinh phí để triển khai. Thế giới ngày nay đang chứng kiến sự phát triển rất nhanh của các công nghệ đột phá. Đó là sự phát triển theo hàm mũ, thể hiện qua 3 yếu tố: (1) năng lực xử lý của máy tính tăng gấp đôi sau mỗi 18 tháng (Moore); (2) tốc độ truyền thông tin trên cáp quang tăng gấp đôi sau mỗi 9 tháng (Butter); (3) khả năng lưu trữ dữ liệu tăng gấp đôi sau mỗi 13 tháng (Kryder). Khi các công nghệ đột phá diễn ra rất nhanh, sự cạnh tranh ngày càng gay gắt. Nhiều nghề nghiệp truyền thống dần bị biến mất hoặc bị robot tự động thay thế; đồng thời nhiều nghề nghiệp mới đang được tạo ra. Như vậy, để tồn tại và phát triển, tư duy lối mòn cần được thay thế bằng tư duy đổi mới. Nokia bị phá sản vì lãnh đạo của họ tư duy theo lối mòn khi cho rằng chiếc điện thoại chỉ đơn thuần là thiết bị để gửi tin nhắn và giao tiếp. Tư duy lối mòn khiến Kodak bỏ qua cơ hội tiếp cận công nghệ kỹ thuật hình ảnh số và rồi thất bại. Tư duy lối mòn cản trở sự phát triển của quốc gia ở nhiều khía cạnh như năng suất lao động thấp, chậm đổi mới sáng tạo, chưa phát huy hết vai trò của khoa học và công nghệ. 2. Thay đổi bắt đầu từ các câu hỏi thách thức truyền thống Thế giới đang thay đổi nhanh dưới tác động của các công nghệ đột phá làm ảnh hưởng tới rất nhiều lĩnh vực, trong đó có giáo dục đại học. Tuy nhiên, cũng giống như nhiều lĩnh vực khác, các trường đại học trên


91 thế giới đang vận hành theo một mô hình truyền thống, có lịch sử tồn tại hàng ngàn năm. - Đó là thời điểm bắt đầu và kết thúc quá trình học đại học của hầu hết sinh viên đều nằm trong độ tuổi từ 18 đến 22. - Đó là thời gian đào tạo được xây dựng tuyến tính liên tục suốt 4 năm học cho hầu hết sinh viên đại học. - Đó là định hướng đào tạo theo các chuyên ngành, được phân cấp quản lý theo bộ môn. - Đó là việc chỉ chú trọng trang bị kiến thức chuyên môn theo từng ngành học. Các nghiên cứu về giáo dục đại học trên thế giới nói chung và ở Hoa Kỳ nói riêng gần đây đã chỉ ra rằng: (1) 300 triệu người đang theo học trên nền tảng giáo dục trực tuyến (MOOC). (2) 96% lãnh đạo các trường đại học khẳng định sinh viên tốt nghiệp đáp ứng ngay yêu cầu của nhà tuyển dụng. Tuy nhiên, chỉ 11% lãnh đạo các doanh nghiệp đồng ý với nhận định này. (3) Chỉ có 28% sinh viên khối ngành Khoa học xã hội và Nhân văn và 35% sinh viên khối ngành Khoa học và Công nghệ tin rằng họ được trang bị đầy đủ kỹ năng để có thể thành công trong công việc sau này. (4) Kể từ khi tốt nghiệp đại học năm 22 tuổi cho đến khi 50 tuổi, mỗi người Mỹ trung bình sẽ phải làm 11 nghề nghiệp khác nhau. (5) Học phí đại học đã tăng gấp đôi trong khoảng thời gian từ năm 1989 đến năm 2016; tăng nhanh gấp 8 lần so với mức tăng lương trung bình của các doanh nghiệp trả cho người lao động.


92 (6) Có đến 1.200 cơ sở giáo dục đại học ở Mỹ đã bị đóng cửa; hơn 530.000 sinh viên đã bị ảnh hưởng bởi việc đóng cửa của các trường đại học trong khoảng thời gian từ năm 2014 đến năm 2018. Những số liệu này đặt ra nhiều câu hỏi mới mang tính thách thức đối với giáo dục đại học truyền thống, trong đó có 4 câu hỏi đến từ các nhà khoa học thuộc Trường Đại học Stanford: 1. Vào đại học có nhất thiết phải là năm 18 tuổi và tốt nghiệp năm 22 tuổi? 2. Thời gian đào tạo có nhất thiết phải là 4 năm liên tục? 3. Có nhất thiết phải đào tạo theo chuyên ngành với cấu trúc bộ môn, khoa? 4. Chương trình đào tạo có nhất thiết chỉ bao gồm kiến thức chuyên môn? Hai câu hỏi đầu tiên liên quan đến thời điểm nhập học và thời gian hoàn thành chương trình đào tạo. Tại sao không thể bắt đầu học đại học sớm hơn hoặc trễ hơn? Tại sao phải học liên tục mà không phải là một cơ chế mềm dẻo, linh hoạt để người học có thể ra đi làm cho doanh nghiệp và quay lại trường học tiếp khi cảm thấy cần thiết? Tại sao mỗi cá nhân với năng lực khác nhau lại không có lộ trình học khác nhau? Hai câu hỏi cuối liên quan đến chương trình và mục tiêu đào tạo. Tại sao mỗi cá nhân sau khi tốt nghiệp đại học phải làm trung bình đến 11 nghề khác nhau mà trường đại học chỉ dạy kiến thức cho một chuyên ngành? Tại sao kỹ năng, nhất là kỹ năng thực hành, thực tiễn lại chưa được tích hợp nhiều trong chương trình đào tạo?


93 3. Từ câu hỏi đến các ý tưởng đột phá Các nhà khoa học đã đề xuất 4 ý tưởng mới, thách thức giáo dục truyền thống. - Thứ nhất, đó là “Mô hình vòng lặp đại học”. Theo mô hình này, người học có thể đi ra làm việc cho doanh nghiệp và quay lại trường để học tiếp bất cứ lúc nào. Họ có tổng cộng 6 năm trong toàn bộ cuộc đời của mình để hoàn thành chương trình học và nhận bằng đại học. Mô hình này tạo ra sự đa dạng về độ tuổi, kinh nghiệm giữa các thành viên trong lớp học, khuyến khích sự hợp tác, chia sẻ giữa các cá nhân trong lớp học. - Thứ hai là “Giáo dục theo nhịp độ cá nhân”. Mỗi cá nhân sẽ có lộ trình và thời gian hoàn thành chương trình học của riêng mình, trong đó có tính đến yếu tố rất quan trọng là khả năng tự học. Chương trình đào tạo được cấu trúc theo 3 giai đoạn: khởi động, tăng tốc và về đích. Giai đoạn khởi động nhằm định hướng cho người học về mục tiêu nghề nghiệp. Giai đoạn tăng tốc sẽ tập trung đào tạo kỹ năng và kiến thức theo định hướng mục tiêu nghề nghiệp. Và giai đoạn về đích là lúc người học trải nghiệm những kiến thức và kỹ năng trong môi trường thực tế công việc. - Thứ ba là “Chuyển đổi trọng tâm đào tạo”. Theo đó, các chương trình đào tạo được thiết kế theo định hướng lấy kỹ năng làm nền tảng chứ không chỉ đơn thuần ưu tiên truyền đạt kiến thức chuyên ngành. Rõ ràng khi yêu cầu nghề nghiệp thay đổi liên tục thì việc chỉ tập trung đào tạo kiến thức chuyên ngành có thể khiến người học bị động nếu sau này phải chuyển qua làm ở lĩnh vực khác.


94 - Và cuối cùng là “mục tiêu nghề nghiệp”. Sinh viên được khuyến khích xác định mục tiêu nghề nghiệp lâu dài chứ không đơn thuần chỉ là việc chọn một chuyên ngành để học. Điều này giúp các em cảm thấy việc chọn lựa của mình là có ý nghĩa, mang lại động cơ tự học, tự nghiên cứu. Ví dụ, thay vì nói học chuyên ngành hóa dược thì sinh viên sẽ nói tôi đang theo đuổi lĩnh vực hóa dược để có thể điều chế ra nhiều loại thuốc mới giúp điều trị các bệnh nhân ung thư. Báo cáo mới nhất của Trường ĐH Stanford cho thấy kết quả bước đầu cũng như các thách thức trong quá trình tự thay đổi của một số trường đại học trên thế giới. Thách thức lớn nhất vẫn là sự chuyển đổi từ tư duy lối mòn sang tư duy đổi mới. Nhiều người trong cuộc, bao gồm cả lãnh đạo đến các giáo sư có thâm niên đều đặt câu hỏi rằng tại sao lại phải thay đổi? Thành trì đại học với lịch sử hàng trăm năm, thậm chí vài trăm năm với những giảng đường cổ kính được xây cất từ những viên gạch cũ đã đào tạo ra biết bao nhà khoa học lỗi lạc thì tại sao phải thay đổi. Nhưng cũng có những người làm về giáo dục đại học như các nhà khoa học của Trường ĐH Stanford lại đặt câu hỏi về sự cần thiết phải thay đổi và cổ vũ cho những thay đổi này. 4. Thực tiễn tại ĐHQG-HCM Ở trong nước, vào đầu thập niên 1990, công cuộc đổi mới của đất nước đạt được những thành tựu bước đầu quan trọng trên các lĩnh vực, nhất là khi cánh cửa giao lưu quốc tế mở rộng thì khát vọng về một nước Việt Nam công nghiệp, hiện đại, công bằng, dân chủ, văn minh càng trở nên cháy bỏng hơn bao giờ hết.


95 Nhưng đây cũng là thách thức đối với một đất nước nông nghiệp lạc hậu, bị chiến tranh tàn phá nặng nề, lại qua thời kỳ dài trong cơ chế bao cấp. Nền giáo dục đại học nước ta, từ mô hình quản lý đến công tác đào tạo, từ chỉ tiêu tuyển sinh đến phân công việc làm sau khi tốt nghiệp cũng không nằm ngoài cơ chế bao cấp này. Chương trình đào tạo tại các trường phần lớn theo hướng đơn ngành, đơn lĩnh vực, khép kín, thiếu chuẩn hóa; thiếu liên thông giữa các trường đại học; việc hội nhập quốc tế còn rất hạn chế; hệ thống giáo trình, cơ sở vật chất chưa theo kịp sự phát triển. Ý tưởng thành lập các đại học quốc gia không phải là phát kiến của một cá nhân mà đến từ cơ sở lý luận và thực tiễn. Nhưng để hiện thực hóa ý tưởng thì cần phải có những lãnh đạo có tầm nhìn, tâm huyết và quyết tâm thay đổi đến cùng. Trong bối cảnh đó, Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã khơi mào ý tưởng về mô hình đại học trọng điểm có quyền tự chủ cao, đa ngành, đa lĩnh vực, đào tạo nguồn nhân lực đạt chất lượng cao, phục vụ cho mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Với tầm nhìn chiến lược xác định giáo dục, khoa học - công nghệ là quốc sách hàng đầu, ngày 14/01/1993, Hội nghị Trung ương 4 (Khóa VII) đã ban hành Nghị quyết trong đó chỉ rõ nhiệm vụ: “…Xây dựng một số trường đại học trọng điểm quốc gia…”. Ngày 27/01/1995, Thủ tướng Võ Văn Kiệt ký Nghị định 16/CP thành lập ĐHQG-HCM với sứ mệnh làm đầu tàu và nòng cốt cho hệ thống giáo dục đại học nước nhà, phục vụ đắc lực cho công cuộc đổi mới, phát triển đất nước. Sau hơn 28 năm xây dựng và phát triển, từ 3 trường đại học thành viên nòng cốt trong 3 lĩnh vực


96 khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn, kỹ thuật công nghệ, đến nay ĐHQG-HCM đã trở thành trung tâm đào tạo đại học, sau đại học, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ trong hầu hết các lĩnh vực quan trọng như: kỹ thuật công nghệ, khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn, kinh tế - luật, khoa học sức khỏe, sư phạm, nông nghiệp. ĐHQG-HCM đã và đang hình thành một mô hình hệ thống các trường đại học hiện đại trong quản trị, xuất sắc trong đào tạo, nghiên cứu khoa học và hiệu quả, thiết thực trong phục vụ cộng đồng. Khai thác triệt để quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm, tận dụng hiệu quả các nguồn đầu tư từ nhà nước và xã hội, ĐHQG-HCM đã thực hiện sứ mệnh tiên phong trong hệ thống giáo dục đại học của Việt Nam: dẫn đầu cả nước về số lượng các chương trình đào tạo đạt chuẩn khu vực và quốc tế (tính đến tháng 8/2023 có 126 chương trình được kiểm định quốc tế); về số lượng bài báo quốc tế (năm 2022 công bố ~2.300 bài trong danh mục Scopus); về vị trí trên các bảng xếp hạng đại học quốc tế (năm 2023 có 9 nhóm ngành được xếp trong top 50 đến top 630 trên bảng xếp hạng đại học theo lĩnh vực do Tổ chức QS công bố). Trong giai đoạn 2021-2030, ĐHQG xác định tầm nhìn trở thành hệ thống đại học nghiên cứu trong tốp đầu châu Á, nơi hội tụ nhân tài và lan tỏa tri thức, văn hóa Việt Nam, với sứ mạng: (1) Đào tạo, bồi dưỡng nhân tài có kiến thức toàn diện, có trách nhiệm xã hội, có tư duy khởi nghiệp, có năng lực lãnh đạo; (2) Nghiên cứu, phát triển, ứng dụng khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhằm giải quyết các nhiệm vụ quốc gia, khu vực và thế giới; (3)


97 Thực hiện thí điểm các chính sách mới trong giáo dục đại học; (4) Đóng góp cho sự phát triển kinh tế bền vững, thúc đẩy tiến bộ xã hội, làm giàu thêm kho tàng tri thức nhân loại và nền văn hóa Việt Nam. ĐHQG-HCM cũng đặt mục tiêu đến năm 2030 thuộc nhóm 100 cơ sở giáo dục đại học hàng đầu châu Á, kiến tạo động lực tăng trưởng mới, không gian phát triển mới, nhanh và bền vững cho vùng Đông Nam Bộ nói riêng và cả nước nói chung thông qua các hoạt động đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, nghiên cứu, phát triển và ứng dụng Khoa học - Công nghệ, khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo, gắn kết và phục vụ cộng đồng. Cụ thể, đến năm 2030 (1) Có hơn 200 chương trình đào tạo bậc đại học, sau đại học được kiểm định bởi các tổ chức kiểm định quốc tế; (2) Đào tạo và cung cấp cho Vùng và cho cả nước khoảng 140.000 cử nhân, kỹ sư, bác sĩ, thạc sĩ, tiến sĩ có kiến thức toàn diện, có trách nhiệm xã hội, có tư duy khởi nghiệp và có kỹ năng lãnh đạo; (3) Tỷ lệ sinh viên có việc làm sau một năm tốt nghiệp đạt trên 90%; (4) Công bố hơn 35.000 bài báo khoa học trong danh mục Scopus; (5) Hoàn thành xây dựng và đưa vào hoạt động Trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia với tổng diện tích sàn xây dựng 42.000 m2 và ươm tạo ít nhất 10 công ty khởi nghiệp gọi vốn thành công với quy mô trên 10 triệu USD/dự án; (6) Các chương trình đào tạo và nghiên cứu về Công nghệ bán dẫn, Chuyển đổi số và Trí tuệ nhân tạo, Công nghệ sinh học nằm trong top 50 của châu Á; (6) Hoàn thành việc xây dựng Khu đô thị ĐHQG-HCM xanh, thân thiện và hiện đại.


98 Để thực hiện được các mục tiêu này, ĐHQG-HCM đề ra một số nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu như: (1) Tuyển chọn và đào tạo sinh viên, học viên chương trình tài năng các ngành khoa học cơ bản, thúc đẩy nghiên cứu cơ bản; (2) Thu hút, giữ chân và phát triển các nhà khoa học trẻ xuất sắc, các nhà khoa học đầu ngành; (3) Phát triển chương trình đào tạo liên ngành cho một số lĩnh vực then chốt như Công nghệ bán dẫn, công nghệ sinh học, Công nghệ thông tin và Trí tuệ nhân tạo thuộc nhóm hàng đầu châu Á; (4) Phát triển Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc gia, kết nối với Vùng và khu vực châu Á; (5) Nghiên cứu, đề xuất giải pháp phát triển một số mô hình tăng trưởng đảm bảo bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu như lĩnh vực kinh tế số, kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh, năng lượng mới, (6) Xây dựng Khu đô thị ĐHQGHCM xanh, thân thiện, hiện đại. 5. Kết luận Báo cáo đặt vấn đề về tư duy đổi mới và thách thức của các trường đại học, bao gồm cả ĐHQG-HCM. Việc phân tích, bình luận có nên thay đổi hay không nằm ngoài phạm vi bài viết này. Ở đây chỉ nhấn mạnh đến nội hàm của tư duy đổi mới và sự cần thiết phải truyền cảm hứng cho các em sinh viên tư duy rất quan trọng này để có thể thích ứng với bối cảnh mới. Tài liệu tham khảo [1]Open Loop University, http://www.stanford2025.com/open-loopuniversity ______


99 Phát huy vai trò của Hội Sinh viên Việt Nam Thành phố trong tham mưu thực hiện Đề án số 01-ĐA/TU của Ban Thường vụ Thành ủy về hỗ trợ, phát triển tài năng trẻ và lãnh đạo tương lai của Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2020 - 2035 Ban Tổ chức Thành uỷ TP. Hồ Chí Minh Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánh giá cao vị trí, vai trò quan trọng của thanh niên - lực lượng kế cận của Đảng đối với sự nghiệp của Đảng, tương lai, vận mệnh của dân tộc, tiền đồ của Tổ quốc. Trong thư gửi thanh niên và nhi đồng toàn quốc nhân dịp Tết sắp đến (tháng 1 năm 1946), Người viết: “Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội. Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Người luôn dành tình cảm đặc biệt cho thanh niên, quan tâm bồi dưỡng, giáo dục, rèn luyện thế hệ cách mạng cho đời sau”2 . Trong bài nói chuyện tại hội nghị chuyên đề sinh viên quốc tế họp tại Việt Nam (ngày 01 tháng 9 năm 1961) Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Thời đại này là thời đại vẻ vang của thanh niên. Mà thanh niên phải là những đội xung phong trên các mặt trận chính trị, kinh tế, khoa học, kỹ thuật. Thanh niên đã thực hiện những điều mơ ước của loài người từ bao thế kỷ”3 . 2 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, HN. 2000, t.4, tr .194. 3 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, HN. 2000, t.13, tr.188.


Click to View FlipBook Version