150 nhấn mạnh, cụ thể hóa bằng nhiều giải pháp hiệu quả, hoạt động sôi nổi, tác động đến đa dạng các đối tượng thanh niên, sinh viên. Hai là, các câu lạc bộ, đội, nhóm trực thuộc từng tổ chức Hội phát triển khá mạnh mẽ, là kênh tập hợp thanh niên, sinh viên hiệu quả tại các địa phương, đơn vị. Công tác phát triển hội viên mới luôn được tập trung thực hiện, đạt và vượt chỉ tiêu hằng năm đề ra, trong đó có quan tâm đến các đối tượng thanh niên đặc thù. Các cấp bộ Hội tiếp tục triển khai các giải pháp nhằm nâng tỷ lệ tập hợp thanh niên thành phố, đa dạng hóa các loại hình tập hợp thanh niên, sinh viên theo sở thích, chuyên môn, nghề nghiệp, khu vực, đặc biệt là trên không gian mạng. Ba là, các cấp bộ Hội đã đầu tư nghiên cứu, nắm bắt nhu cầu, nguyện vọng, năng lực của thanh niên ở từng khu vực, đối tượng để đề ra nội dung hoạt động phù hợp, có sức thu hút, tập hợp thanh niên. Nâng cao vai trò của cán bộ Hội, Hội Sinh viên trong việc phối hợp xây dựng và tổ chức, thực hiện các phong trào của Hội; phát huy mạnh mẽ vai trò của các tổ chức Hội trong việc mở rộng mặt trận đoàn kết, tập hợp thanh niên, sinh viên và bồi dưỡng nguồn lực lượng bổ sung cho tổ chức Đoàn, phấn đấu đứng vào hàng ngũ của Đảng. Bốn là, đẩy mạnh việc vận động, tập hợp sinh viên, thanh niên dân tộc thiểu số, tín đồ tôn giáo, thanh niên, sinh viên Việt Nam ở nước ngoài… thông qua đa dạng các phong trào, giải pháp phù hợp, đặc biệt đầu tư các hoạt động tập hợp thanh niên trên không gian mạng. Tăng cường kết nối, gặp gỡ, giao lưu với thanh niên Việt Nam ở nước ngoài. Củng cố, xây dựng tổ
151 chức Đoàn, Hội tại các địa bàn quan trọng, có đông thanh niên, sinh viên. Khẳng định những kết quả đạt được, song, vẫn nghiêm túc nhìn nhận những thách thức, khó khăn mà Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, Hội Sinh viên Việt Nam Thành phố, đoàn viên, hội viên, sinh viên, thanh niên Thành phố phải đối diện khi tổ chức, triển khai và tham gia thực hiện công tác mở rộng mặt trận đoàn kết, tập hợp sinh viên, thanh niên. Cụ thể, vẫn còn nhiều sinh viên, thanh niên thành phố chưa đến với tổ chức Đoàn - Hội, chưa tích cực tham gia các hoạt động do Đoàn - Hội tổ chức, công tác tập hợp các đối tượng thanh niên đặc thù như sinh viên, thanh niên trí thức, tài năng, hoạt động trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật. Trên cơ sở đó, trong thời gian tới, Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam Thành phố trân trọng đề nghị Hội Sinh viên Việt Nam Thành phố cùng phối hợp thực hiện các nội dung sau đây: Một là, đổi mới phương thức tập hợp sinh viên, thanh niên, đặc biệt là trên không gian mạng áp dụng triệt để phương thức kết nối thanh niên thông qua mạng xã hội. Tăng cường phát huy vai trò, khả năng thu hút, tập hợp đoàn viên, thanh thiếu nhi trên mạng xã hội của cán bộ Đoàn, Hội, Đội. Tính sáng tạo, thích ứng, linh hoạt của mô hình tập hợp thanh niên qua không gian mạng để tham gia hoạt động tình nguyện đã giải quyết được các rào cản về thời gian, không gian, tiết kiệm quy trình và dễ tương tác. Tiếp tục sáng tạo thử nghiệm, tạo “những trào lưu tích cực” trên không gian mạng
152 để thu hút đông đảo cán bộ Đoàn, đoàn viên, thanh thiếu nhi hưởng ứng, vừa qua Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam Thành phố, Hội Sinh viên Việt Nam Thành phối hợp Ban Thường vụ Thành Đoàn thực hiện trào lưu tích cực “Sống xanh - Hành động nhỏ - Thay đổi lớn”, nâng cao nhận thức, xây dựng lối sống xanh, bảo vệ môi trường trong đoàn viên, thanh thiếu nhi năm 2023 thu hút đoàn viên, thanh thiếu nhi và người dân Thành phố. Các hoạt động tuyên truyền đã tận dụng được xu hướng mới trên mạng xã hội để thu hút đông đảo cán bộ Đoàn, đoàn viên, thanh thiếu nhi hưởng ứng. Mỗi chương trình phát động cần xác định mục tiêu chung, thông điệp ý nghĩa, lay động vừa kết hợp việc tuyên truyền, vận động vừa là động lực, mục tiêu chung hướng tới, việc xác lập các hoạt động trực tuyến trên không gian mạng không phải là “ảo” mà là thật. Hai là, việc tổ chức các hoạt động có tính “thu hút chủ động” đúng với nhu cầu nguyện vọng của hội viên, sinh viên, thanh niên Thành phố, chú trọng phát động các phong trào trọng điểm, phù hợp với tình hình từng giai đoạn, với phương thức tập trung các lực lượng con người, tập trung nguồn lực thực hiện, xác lập trọng điểm, phát động những cộng việc để giải quyết các vấn đề khó khăn của địa phương, đơn vị, của Thành phố, từ đó khơi gợi, hiệu triệu hội viên, sinh niên, thanh niên cùng tham gia thực hiện. Mỗi hội viên, sinh viên thanh niên đều có sự quan tâm nhất định đến sở thích, đam mê hoặc thế mạnh của bản thân, nên phong trào khi tạo ra cần khai thác được niềm đam mê và khao khát cống hiến của thanh niên thì mới thu hút được thanh niên đến
153 với mình, phá vỡ ranh giới về đối tượng khu vực, vị trí địa lý. Từ việc phát động các phong trào hành động cách mạng đồng bộ, rộng khắp, linh hoạt, điều chỉnh trong từng thời điểm, tập trung và cao điểm, qua đó đã tập hợp và phát huy được lực lượng đông đảo đoàn viên, thanh niên tham gia, góp phần vào việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, mục tiêu phát triển của địa phương, đơn vị, thành phố. Ba là, tiếp tục khẳng định phong trào thanh niên tình nguyện của Đoàn, Hội giữ vị trí trung tâm, dẫn dắt, định hướng hoạt động tình nguyện trong xã hội. Phối hơp xây dưng “Đề án Tăng cường năng lực quản lý, điều phối hoạt động tình nguyện cho đội ngũ cán bộ Đoàn - Hội các cấp giai đoạn 2022 - 2030”, tiếp tục duy trì và phát huy kênh GO VOLUNTEER, Cổng thông tin kết nối tình nguyện để thông tin, mời gọi và tập hợp thanh niên cùng tham gia các hoạt động tình nguyện, các dự án tình nguyện; góp phần hiệu quả kết nối nhu cầu tình nguyện và nhu cầu tổ chức các hoạt động tình nguyện; mở rộng kết nối lực lượng, nguồn lực tham gia hoạt động tình nguyện, trong đó kiên trì vận động người dân, thanh niên địa phương, kết nối và phát huy các đội hình tình nguyện trong nước, đội nhóm tình nguyện nước ngoài, ngoài tổ chức Đoàn - Hội, văn nghệ sĩ trẻ, du học sinh, nhân vật có ảnh hưởng… tham gia; phát triển các hình thức tập hợp thanh niên theo sở thích, chuyên môn, nghề nghiệp, lĩnh vực quan tâm, nhất là sinh viên, thanh niên dân tộc, tôn giáo, thanh niên thành phố ở nước ngoài, thanh niên, sinh viên khuyết tật.
154 Bốn là, tiếp tục phát triển các hình thức tập hợp thanh niên theo sở thích, chuyên môn, nghề nghiệp, lĩnh vực khu vực; kiên trì xây dựng và phát triển tổ chức Đoàn - Hội ở những nơi chưa có tổ chức Đoàn - Hội, tiếp tục tập trung xây dựng tổ chức Đoàn - Hội tại các đơn vị Trường học Tư thục ngoài nhà nước: Xây dựng phương thức hiệu quả nhằm tiếp cận, mời gọi sinh viên tham gia các hoạt động tổ chức Đoàn - Hội: quan tâm theo dõi, kết nối các đội nhóm nòng cốt tích cực tại các đơn vị có tập trung số lượng lớn thanh niên chưa có tổ chức Đoàn - Hội, củng cố tổ chức, xây dựng lực lượng nòng cốt tại các trường Đại học, Cao đẳng ngoài công lập, các doanh nghiệp ngoài nhà nước có số lượng lớn người lao động trong độ tuổi đoàn, khu chung cư mới…). Thực hiện tốt công tác hội nhập quốc tế, phối hợp phát huy vai trò của các tổ chức, đội nhóm của sinh viên, thanh niên Việt Nam tại nước ngoài: thông qua ký kết phối hợp chặt chẽ hoạt động với Hội Liên hiệp Thanh niên, sinh viên tại các nước, tăng cường giao lưu, kết nối, tổ chức các hoạt động theo phương thức trực tuyến kết hợp trực tiếp để thanh niên là kiều bào hoặc du học sinh ở các nước có thể nắm bắt sự phát triển của Thành phố, chia sẻ nguồn tri thức được học tập ở nước ngoài với sinh viên, thanh niên trong nước. Thành phố Hồ Chí Minh hiện có trên 3 triệu thanh niên, chiếm khoảng 1/3 dân số của thành phố, với 681.523 hội viên Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, 560.000 Hội viên Hội Sinh viên Việt Nam. Đây sẽ tiếp tục là lực lượng tiên phong, xung kích trong
155 nhiều lĩnh vực, tạo ra nguồn lao động mới đóng góp vào sự phát triển của Thành phố. Trong thời gian tới, cùng với sự phát triển của Thành phố, công tác đoàn kết, tập hợp thanh niên đứng trước nhiều cơ hội, thách thức, các cấp bộ Hội cần tiếp tục đổi mới, đa dạng hóa phương thức, nâng cao chất lượng công tác đoàn kết, tập hợp thanh niên Thành phố, qua đó góp phần vào thành công của các phong trào, hoạt động của Đoàn - Hội các cấp, góp phần trong việc xây dựng Thành phố có chất lượng sống tốt, văn minh, hiện đại, nghĩa tình. _____
156
157 Sinh viên trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo Ngô Hữu Thống17, Phạm Hồng Ngọc18 Tóm tắt: Các công cụ ứng dụng trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence - AI) đang dần trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của chúng ta. Từ việc nhận diện giọng nói, tự động hóa tiến trình sản xuất cho đến việc tư vấn cá nhân thông minh, AI đã và đang thay đổi cách chúng ta sống và làm việc. Trong bối cảnh này, sinh viên - lực lượng lao động tương lai của đất nước cũng không thể nào tránh khởi sự ảnh của trí tuệ nhân tạo. Trong bài viết này, chúng ta sẽ cùng điểm qua những quan điểm của các nhà lãnh đạo công nghệ và khám phá những khía cạnh cơ bản về lịch sử và hoạt động của trí tuệ nhân tạo. Chúng ta cũng sẽ tìm hiểu về Generative AI và những ứng dụng tiềm năng của nó trong các lĩnh vực. Cuối cùng, chúng ta sẽ cùng nhau suy nghĩ về tương lai của công việc và những kỹ năng cần thiết cho sinh viên trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo. Khái quát về lịch sử trí tuệ nhân tạo Trí tuệ Nhân tạo (Artificial Intelligence - AI) là một lĩnh vực của khoa học máy tính và công nghệ liên quan đến việc tạo ra các hệ thống máy tính có khả năng 17 Phó Viện trưởng Thường trực Viện Nghiên cứu Ứng dụng và Đổi mới Sáng tạo Doanh nghiệp (3AI), Email: [email protected]; 18 Học viên cao học, Trường Đại học Quốc tế - Đại học Quốc gia TP. HCM, Email: [email protected] .
158 thực hiện các tác vụ, đổi mới và sáng tạo các nghiệp vụ và quy trình thông minh hơn mà trước đây chỉ có con người có thể thực hiện. Mục tiêu chính của Trí tuệ Nhân tạo là tạo ra các chương trình máy tính (phần mềm - software) hoặc hệ thống máy tính có khả năng học và tự học, tự định hướng, và thích ứng môi trường một cách tự động. Các hệ thống này có khả năng tiếp nhận và xử lý dữ liệu lớn (big data), tìm kiếm thông tin, tư duy, rút ra kết luận, và thực hiện các hành động dựa trên những thông tin đã học được. Chúng có thể thực hiện các tác vụ phức tạp và đưa ra quyết định chính xác và nhanh chóng. Trí tuệ Nhân tạo bao gồm nhiều phương pháp và kỹ thuật, trong đó các phương pháp học máy (machine learning) là một phần quan trọng. Học máy cho phép máy tính học hỏi từ dữ liệu khổng lồ được tiếp cận trên không gian mạng mở mà không cần được lập trình cụ thể cho mỗi tình huống. Do đó, ứng dụng của Trí tuệ Nhân tạo rất đa dạng và bao gồm các lĩnh vực như tự động lái xe, hỗ trợ y tế, hỗ trợ giáo dục, chơi cờ vua, xử lý ngôn ngữ tự nhiên, phân tích dữ liệu, hỗ trợ quyết định, hội thoại tự động (chatbot), và nhiều lĩnh vực khác. Trí tuệ Nhân tạo đang ngày càng trở nên phổ biến và có ảnh hưởng sâu rộng trong cuộc sống hàng ngày của con người. Trong bài báo năm 2004, John McCarthy đưa ra định nghĩa sau “Trí tuệ Nhân tạo là khoa học và kỹ thuật chế tạo máy móc thông minh, đặc biệt là các chương trình máy tính thông minh. Nó liên quan đến nhiệm vụ tương tự là sử dụng máy tính để hiểu trí thông minh của con người, nhưng AI không nhất thiết phải
159 giới hạn bản thân trong các phương pháp có thể quan sát được về mặt sinh học”. Tuy nhiên, nhiều thập kỷ trước định nghĩa trên, sự ra đời của một cuộc trò chuyện về trí tuệ nhân tạo đã được đánh dấu bằng tác phẩm nổi tiếng của Alan Turing, “Máy tính và trí thông minh”, được xuất bản năm 1950. Trong bài báo này, Turing, thường được gọi là “cha đẻ của khoa học máy tính”, đặt câu hỏi sau: “Máy móc có thể suy nghĩ không?” và từ đó, ông ấy đưa ra một bài kiểm tra nổi tiếng là “Bài kiểm tra Turing”, trong đó một người được thẩm vấn sẽ cố gắng phân biệt giữa máy tính và phản hồi văn bản của con người. Mặc dù bài kiểm tra này đã được xem xét kỹ lưỡng kể từ khi xuất bản, nhưng nó vẫn là một phần quan trọng trong lịch sử của AI cũng như một khái niệm đang diễn ra trong triết học khi nó sử dụng các ý tưởng xung quanh ngôn ngữ học. Stuart Russell và Peter Norvig sau đó đã tiến hành xuất bản tác phẩm “Trí tuệ nhân tạo: Phương pháp tiếp cận hiện đại” trở thành một trong những cuốn sách giáo khoa hàng đầu về nghiên cứu AI. Trong đó, họ đi sâu vào bốn mục tiêu hoặc định nghĩa tiềm năng về AI, giúp phân biệt các hệ thống máy tính trên cơ sở tính hợp lý và suy nghĩ so với hành động: - Cách tiếp cận của con người: Hệ thống suy nghĩ như con người; Hệ thống hoạt động như con người; - Cách tiếp cận lý tưởng: Hệ thống suy nghĩ hợp lý; Hệ thống hành động hợp lý Định nghĩa của Alan Turing sẽ thuộc danh mục “các hệ thống hoạt động như con người”.
160 Ở dạng đơn giản nhất, trí tuệ nhân tạo là một lĩnh vực kết hợp khoa học máy tính và bộ dữ liệu mạnh mẽ (khổng lồ - vast data), để cho phép giải quyết vấn đề. Nó cũng bao gồm các lĩnh vực phụ của học máy và học sâu (deep learning), thường được đề cập cùng với trí tuệ nhân tạo. Các nguyên tắc này bao gồm các thuật toán AI tìm cách tạo ra các hệ thống chuyên gia đưa ra dự đoán hoặc phân loại dựa trên dữ liệu đầu vào. Trong những năm qua, trí tuệ nhân tạo đã trải qua nhiều chu kỳ phát triển, đặc biệt gần đây, việc phát hành Chat GPT của OpenAI dường như đánh dấu một bước ngoặt, nhảy vọt là về xử lý ngôn ngữ tự nhiên. Và đó không chỉ là ngôn ngữ: Các mô hình tổng quát cũng có thể học ngữ pháp của mã phần mềm, phân tử, hình ảnh tự nhiên và nhiều loại dữ liệu khác. Trong quá trình phát triển Trí tuệ Nhân tạo, 3 loại AI được nhấn mạnh: 1) AI yếu - còn được gọi là AI hẹp hoặc Trí tuệ nhân tạo hẹp (Artificial Narrow Intelligence - ANI) - là AI được đào tạo và tập trung để thực hiện các nhiệm vụ cụ thể. ANI là bước đầu thúc đẩy hầu hết AI xung quanh chúng ta ngày nay. 'Thu hẹp' có thể là một mô tả chính xác hơn cho loại AI này vì nó không yếu; nó cho phép một số ứng dụng rất mạnh mẽ, chẳng hạn như Siri của Apple, Alexa của Amazon, Watson của IBM và các phương tiện tự hành. 2) AI tạo sinh (Generative AI hay Gen AI), là một dạng lý thuyết của AI trong đó một cỗ máy sẽ có trí thông minh ngang bằng với con người; nó sẽ có ý thức tự nhận thức có khả năng giải quyết vấn đề, học hỏi và
161 lập kế hoạch cho tương lai. Ngoài công cụ ứng dụng ChatGPT của OpenAI, những chatbot đang trong quá trình phát triển mạnh như: Bing Chat, Google Bard, Claude AI,… 3) Siêu Trí tuệ Nhân tạo (Artificial Super Intelligence - ASI) - còn được gọi là siêu trí tuệ - sẽ vượt qua trí thông minh và khả năng của bộ não con người. Mặc dù Siêu AI vẫn hoàn toàn là lý thuyết mà không có ví dụ thực tế nào được sử dụng ngày nay, nhưng điều đó không có nghĩa là các nhà nghiên cứu AI không khám phá sự phát triển của nó để biến những câu chuyện khoa học viễn tưởng thành hiện thực như con người đã làm trong quá khứ. Từ những giai đoạn phát triển này, chúng ta có thể thấy rằng trí tuệ nhân tạo đã và đang tiến bộ nhanh chóng và có tiềm năng lớn trong tương lai. Generative AI là gì? Generative AI là một trong những ứng dụng của AI dựa trên mạng neural. Nó được xây dựng trên cơ sở của bài toán “sinh dữ liệu.” Thay vì dựa trên dữ liệu có sẵn, Generative AI có khả năng tạo ra những dữ liệu mới hoàn toàn. Các mô hình Generative AI có thể được huấn luyện với một lượng lớn dữ liệu và sau đó có thể tạo ra những đầu ra mới, không giống bất kỳ dữ liệu nào đã được huấn luyện trước đó. Ví dụ, một mô hình Generative AI có thể tạo ra bức ảnh mới hoàn toàn dựa trên những bức ảnh đã được huấn luyện trước đó.
162 Với khả năng tạo ra những đầu ra mới, Generative AI có thể được áp dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, từ giải trí cho đến kinh doanh. Tiềm năng ứng dụng của Generative AI trong các lĩnh vực Giải trí: Một trong những lĩnh vực mà Generative AI có thể đem lại hiệu quả cao nhất là trong giải trí. Các công ty sản xuất phim và trò chơi điện tử có thể sử dụng Generative AI để tạo ra nhân vật, bối cảnh và câu chuyện mới hoàn toàn. Điều này giúp tiết kiệm thời gian và chi phí trong việc thiết kế và sản xuất các sản phẩm giải trí. Nghệ thuật: Generative AI có thể được sử dụng để tạo ra những bức tranh hoặc âm nhạc mới hoàn toàn. Việc này không chỉ mang lại những sản phẩm mới mẻ mà còn là một nguồn cảm hứng cho các nghệ sĩ. Kinh doanh: Với khả năng tạo ra những dữ liệu mới, Generative AI có thể được sử dụng để phân tích và dự đoán xu hướng thị trường, từ đó giúp các doanh nghiệp có thể tối ưu hóa chiến lược kinh doanh của mình. Giáo dục: Generative AI cũng có thể được áp dụng trong giáo dục để giải thích các vấn đề phức tạp một cách dễ hiểu hơn. Bằng cách tạo ra những đầu ra mới, Generative AI có thể giúp sinh viên có cái nhìn tổng quát và cụ thể hơn về những khái niệm khó hiểu. Tương lai việc làm sẽ ra sao? Với sự tiến bộ của AI và đặc biệt là Generative AI, không thể phủ nhận rằng công việc sẽ trải qua
163 những thay đổi lớn trong tương lai gần. Theo một báo cáo của Đại học Oxford, khoảng 47% các công việc hiện tại có khả năng bị thay thế bởi trí tuệ nhân tạo. Tuy nhiên, chúng ta cũng không nên quá lo lắng về việc mất việc làm do sự tiến bộ của AI. Thực tế, AI cũng sẽ tạo ra nhiều cơ hội mới cho các ngành nghề khác, nhưng điều quan trọng là chúng ta cần có những kỹ năng và kiến thức phù hợp để thích nghi với cuộc sống trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo. Tốc độ bổ sung kỹ năng AI của lao động các nước Theo một báo cáo của LinkedIn công bố gần đây, thu thập dữ liệu từ 25 quốc gia cho thấy, Singapore có tỷ lệ người lao động bổ sung các kỹ năng AI vào hồ sơ của họ nhanh nhất, tăng 20 lần kể từ tháng 1/2016. Con số này cao hơn đáng kể so với mức trung bình toàn cầu là 8 lần. Cũng theo báo cáo của LinkedIn, từ tháng 7/2021 đến tháng 7/2023, tin tuyển dụng việc làm liên quan đến trí tuệ nhân tạo (AI) hoặc AI tổng quát đã tăng gấp đôi trên toàn cầu. Nhiều quốc gia thậm chí còn chứng kiến sự tăng trưởng mạnh mẽ hơn so với trung bình toàn cầu. Cụ thể, số lượng bài đăng tuyển dụng liên quan đến AI trên toàn cầu đã tăng trung bình 2,2 lần; trong khi ở Vương quốc Anh, tăng lên 2,3 lần, ở Đức và Pháp tăng lần lượt 2,6 và 2,8 lần. Olivier Sabella, phó chủ tịch LinkedIn Talent Solutions, cho biết sự thay đổi này đang diễn ra trong nhiều ngành khác nhau. “Chúng tôi thấy nhu cầu về kỹ năng liên quan đến AI đang gia tăng ở nhiều ngành công nghiệp và vùng địa lý khác nhau”, ông nói thêm.
164 Sabella giải thích rằng “Mức độ kỹ năng AI trong các tin tuyển dụng có sự biến đổi, từ các vị trí mà các chuyên gia AI sẽ làm việc trực tiếp trong lĩnh vực phát triển AI, ví dụ như kỹ sư AI, đến các tin tuyển dụng mà AI được liệt kê là một kỹ năng cần thiết, như vị trí Giám đốc sản phẩm kỹ thuật số hoặc chuyên gia tư vấn an ninh mạng.” Sự thay đổi đang diễn ra phá vỡ các mô hình làm việc truyền thống Khung giờ làm việc truyền thống (8h/ngày, 5 ngày/tuần) đang dần trở nên lỗi thời trong kỷ nguyên AI. Các công ty đang dần thay đổi cách làm việc của mình, cho phép nhân viên linh hoạt trong việc quản lý thời gian và không giới hạn bởi khung giờ cố định. Ngoài ra, sự tiến bộ nhanh chóng về robot và trí tuệ nhân tạo cũng đang thay đổi bản chất của các công việc. Nhiều công việc truyền thống sẽ bị thay thế bởi các máy móc và AI, tạo ra những công việc mới và loại bỏ những lao động không thích nghi với tình hình này. Trong khi những thay đổi đang diễn ra trong công việc truyền thống, cũng có những xu hướng mới đang nổi lên như khởi nghiệp và lao động tự do. Nhờ vào sự phát triển của Generative AI và công nghệ thông tin, nhiều người đã có thể làm việc từ xa và tạo ra những sản phẩm mới mà không cần phải tuân theo khung giờ làm việc truyền thống.
165 Yêu cầu người lao động cần trang bị kỹ năng và kiến thức mới liên tục Trong kỷ nguyên AI, người lao động không chỉ cần phải có kiến thức chuyên môn mà còn cần phải được trang bị kỹ năng và kiến thức mới liên tục. Dưới đây là ba nhóm kỹ năng cần thiết: 1. Khả năng học tập suốt đời và thích ứng linh hoạt: Học tập suốt đời: Sinh viên cần thúc đẩy tinh thần học hỏi và dấn thân vào việc nắm bắt kiến thức và kỹ năng mới liên quan đến AI. Điều này có thể thông qua việc tham gia các khóa học trực tuyến, khóa học chuyên ngành, hoặc tự học thông qua tài liệu trực tuyến. Thích ứng linh hoạt: AI phát triển nhanh chóng và đòi hỏi sự thích ứng nhanh với các thay đổi. Sinh viên cần phải làm quen với việc thích nghi với công nghệ mới, khái niệm mới và mô hình kinh doanh mới. 2. Kỹ năng tư duy phản biện và phân tích dữ liệu: Tư duy phản biện: Khả năng đặt ra câu hỏi, suy luận logic, và phân tích một vấn đề từ nhiều góc độ khác nhau là quan trọng. Kỹ năng này giúp đưa ra giải pháp sáng tạo trong việc sử dụng AI để giải quyết vấn đề. Phân tích dữ liệu: sinh viên cần biết cách thu thập, xử lý và phân tích dữ liệu. Kỹ năng này quan trọng để hiểu và sử dụng dữ liệu để đào sâu vào các ứng dụng AI. 3. Trí tuệ cảm xúc và các kỹ năng thực hành xã hội: Trí tuệ cảm xúc (EQ): Đối với công việc liên quan đến AI, trí tuệ cảm xúc là một yếu tố quan trọng.
166 Điều này bao gồm khả năng quản lý stress, tương tác xã hội, và làm việc hiệu quả trong nhóm. Kỹ năng mềm: Kỹ năng giao tiếp, làm việc nhóm, quản lý thời gian, và khả năng giải quyết xung đột là quan trọng để làm việc hiệu quả trong môi trường làm việc đòi hỏi sự hợp tác và giao tiếp. Kết luận Generative AI đang mang lại những tiềm năng lớn trong nhiều lĩnh vực khác nhau và dẫn đến những thay đổi to lớn trong cuộc sống và công việc của con người. Việc chủ động bổ sung kỹ năng và kiến thức mới liên tục là điều cần thiết để có thể thích nghi và thành công trong tương lai. Tuy nhiên, chúng ta cũng không nên lo lắng quá mức vì sự tiến bộ của AI cũng tạo ra nhiều cơ hội mới cho con người và giúp cho cuộc sống trở nên thuận lợi hơn. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. What is Artificial Intelligence (AI) ? | IBM 2.https://vnexpress.net/buoc-tien-cua-ai-4630886.html 3. https://tapchicongthuong.vn/bai-viet/chuyen-doi-soo-viet-nam-hien-nay-mot-so-van-de-dat-ra-va-giaiphap-102058.htm 4. https://www.technocracy.news/oxford-47-jobs-willdisappear-within-25-years/ 5. https://tuoitrethudo.com.vn/lao-dong-nuoc-nao-apdung-ky-nang-ai-nhanh-nhat-the-gioi-232343.html
167 Hãy trở thành người có giá trị! Ông NGUYỄN TUẤN QUỲNH Nguyên Ủy viên Ủy ban trù bị Hội Sinh viên TP.HCM Nguyên Phó Chủ tịch Hội Sinh viên ĐH Kinh tế TP.HCM Chủ tịch Hội đồng quản trị Saigon Books Hơn 30 năm trước, khi đứng trước ngưỡng cửa vào đại học và chọn nghề, tôi đã quyết định học kinh tế. Tôi nghĩ đơn giản là, học kinh tế sẽ dễ kiếm tiền, làm giàu. Khi tốt nghiệp đại học, đi làm, thì mục tiêu lớn nhất vẫn là làm sao để hoàn thành xuất sắc các công việc được giao để thăng tiến trong sự nghiệp. Bước ngoặt cuộc đời là khi tôi rời doanh nghiệp nhà nước và bắt đầu dấn thân trên con đường làm chủ. Tôi đối diện với nhiều thách thức hơn, nỗ lực nhiều hơn và cũng gặt hái được nhiều kết quả tốt đẹp. Kinh tế bản thân cũng nhờ vậy mà tốt hơn. Nỗi lo cơm áo gạo tiền không còn ám ảnh nữa. Và trên hết, tôi tin là mình có thể sống tốt bằng chính năng lực bản thân. Trong quá trình trưởng thành đó, tôi nhận ra một chân lý: nếu như tôi chết đi với gia tài 100 triệu USD hay là 10 USD thì cũng không khác gì nhau. Chết là hết. Vì vậy, giá trị của cuộc đời không phải là gia tài vật chất bạn để lại cho con cháu mà chính là những đóng góp có giá trị cho cộng đồng trong suốt cuộc đời của bạn. 29 năm sau ngày tốt nghiệp đại học, tôi đã làm việc cho hơn 40 công ty, đi được trên 40 nước, chia sẻ kiến thức với hàng ngàn sinh viên, bạn trẻ, viết hàng trăm bài báo, tác giả của 4 cuốn sách …
168 Tuy vậy, cuộc sống của tôi không phẳng lặng. Tôi cũng đã trải qua những thất bại trong công việc và trong tình cảm. Tôi đã có nhiều lúc thất vọng về bản thân và gây tổn thương cho những người yêu thương mình. Nhưng nhờ vậy, tôi đã trưởng thành hơn từ những nỗi đau của mình trong cuộc sống. Tôi sống chậm lại và quan sát cuộc đời. Theo thời gian, tôi hiểu về những giá trị mình có thể cống hiến cho đời, những suy nghĩ tích cực giúp cho mình sống có ích. Tôi nhận ra, ý nghĩa của cuộc sống không nằm ở tài sản vật chất mình có được mà chính từ những giá trị tích cực mình tạo ra mỗi ngày. Để trở thành một người có GIÁ TRỊ là một chặng đường dài. Đầu tiên và cũng là quan trọng nhất, bạn cần phải HOÀN THIỆN bản thân mình. 1. Không ngừng học hỏi để trưởng thành: Tôi tốt nghiệp Đại học năm 1994, đi học cao học năm 1995 và đi thi nghiên cứu sinh năm 1999. Tuy nhiên, quá trình học hỏi từ nhà trường, tôi nghĩ là không đủ. Tôi học qua các công việc mình được làm. Đó cũng là lý do mà tôi có liên quan đến 40 công ty trong 29 năm. Tôi học cách đối nhân xử thế từ những người lãnh đạo và đồng nghiệp của mình. Trong đó, bài học mà tôi luôn ghi nhớ đó là tình yêu thương. Tốt nghiệp đại học, tôi nặng 54kg, ốm nhom, mặt hình tam giác. Trong công ty, có một người nấu bếp mà tôi gọi là “Má Thường”. Các buổi ăn trưa, tô canh của tôi luôn có một cục mỡ heo to tướng nhưng giá tiền vẫn vậy. Khoảng 2-3 ngày, má Thường mua óc heo và chưng cho tôi ăn. Má muốn tôi mập lên vì như vậy trông mới khỏe và đẹp
169 trai. Sau 5 năm được Má Thường chăm sóc, tôi lên hơn 20kg và có thể làm người mẫu! Má Thường đã mất cách đây 15 năm. Tôi học từ sách. Tôi chọn công việc hiện nay liên quan đến sách cũng từ niềm đam mê của mình. Tôi đọc sách, thấy điều gì hay là áp dụng ngay, đặc biệt trong quá trình điều hành doanh nghiệp. Tôi tâm đắc với câu nói của Thomas Carlyle: “Chúng ta sẽ trở thành gì phụ thuộc vào điều chúng ta đọc sau khi tất cả thầy cô giáo đã xong việc với chúng ta. Trường học vĩ đại nhất chính là sách vở”. Tuy nhiên, hiện nay, qua quan sát, tôi thấy có nhiều bạn trẻ bằng lòng với công việc mình đang làm. Các bạn còn thờ ơ với sách vở, xem việc có tấm bằng đại học là đã đủ. Nhiều bạn chỉ thích lang thang trên mạng và như đang trôi vô định trong dòng đời. Nhiều bạn đang chọn cuộc sống làng nhàng và không có nhu cầu tự học hay tự hoàn thiện bản thân. Và như là một sự tất yếu, may mắn chỉ mỉm cười với những người luôn nỗ lực vươn lên và chủ động tạo cơ hội cho mình. Là người lãnh đạo hay đàn anh đi trước, chúng tôi chỉ có thể gợi mở, định hướng, tạo điều kiện chứ không thể bắt ép các bạn nhân viên trẻ đọc sách hay thúc ép tham gia các khóa học. Chưa kể dù có ngồi trong lớp học đi nữa mà người đó không thích hoặc không muốn ứng dụng điều mình học vào cuộc sống, biến kiến thức của thiên hạ thành tài sản của bản thân thì thời gian ngồi trong lớp học cũng thành vô ích! Cho nên, để hoàn thiện bản thân, tôi cho rằng điều đầu tiên cần phải xác định học hỏi là một nhu cầu của
170 bản thân, để mỗi người có thể giỏi hơn, hoàn thiện mình hơn ngày hôm qua. Một ngày trôi qua mà không tiếp thu, tích lũy được điều gì mới, có ích thì đó là một ngày lãng phí! Việc tích cực học hỏi có thể chưa mang lại ngay vị trí tốt hơn trong công việc nhưng chắc chắn với tinh thần cầu tiến và thái độ sẵn sàng học hỏi, các bạn sẽ làm tốt hơn công việc được giao và giúp ích được những người xung quanh. Hơn nữa, chính kiến thức được tích lũy và những thành công nho nhỏ trong công việc sẽ giúp chúng ta tự tin và vui sống. 2. Sẵn sàng trải nghiệm: Tôi thử thách bản thân qua các cuộc thi và kết quả là tôi thường đạt được những giải cao nhất. Ví dụ như: Giải Nhất Cuộc thi do tàu Peace Boat và Hội Liên Hiệp Thanh Niên VN tổ chức và giải thưởng là du lịch vòng quanh thế giới năm 1999; Giải nhất cuộc thi do Đại sứ quán Ấn Độ tổ chức về mối quan hệ VN-Ấn Độ trong thế kỷ 21 và giải thưởng là một chuyến du lịch Ấn Độ năm 2001; Giải nhất cuộc thi Tùy bút xanh của Báo Tuổi Trẻ Online năm 2010, 2011; Giải thưởng Doanh nhân được yêu thích nhất năm 2011; Giải thưởng Giảng viên doanh nhân được yêu thích nhất năm 2013; Giải Nhất báo chí TP.HCM năm 2017;… Tôi nghĩ rằng, khi đặt mục tiêu rõ ràng trong công việc với những yêu cầu cao dành cho bản thân, tôi có đích đến cụ thể để vươn tới. Vấn đề là định ra con đường và dám dấn thân, bắt tay vào thực hiện nó. Bên cạnh đó, với tố chất của một cán bộ Đoàn- Hội SV, tôi luôn tích cực tham gia các hoạt động xã hội cũng như
171 sẵn lòng hỗ trợ, giúp đỡ những người xung quanh, đặc biệt là dìu dắt những bạn trẻ. Tôi xem sự thành công của họ cũng chính là sự thành công của mình. Tôi cũng xốc nổi, đa mang và va vấp, thất bại nhiều nhưng tôi chưa bao giờ nản chí hoặc thiếu tự tin. Tôi đã trưởng thành từ những thất bại của bản thân, nhất là trong việc điều hành kinh doanh và đối nhân xử thế. Tôi cho là may mắn giữ vai trò hết sức quan trọng trong cuộc sống. Nhưng với tôi, trong nhiều trường hợp trừ việc mua xổ số hoặc đánh bài, may mắn chính là kết quả của sự nỗ lực, dấn thân, làm việc trước đó. Tôi đã từng có cơ hội để kiếm tiền, tôi đã “chộp” lấy cơ hội đó. Nhưng cơ hội chỉ mở ra cho tôi khi tôi đã làm việc cật lực và xuất sắc. Tôi tin mọi thứ trong cuộc đời này đều có “duyên” của nó. Và “may mắn” cũng là “duyên” của sự cố gắng, nỗ lực mà đôi khi chúng ta không nhìn thấy rõ ràng được. 3. Làm những việc nhỏ với tình yêu lớn: 29 năm trước, tôi tốt nghiệp đại học với thành tích xuất sắc và được nhận vào làm ở một công ty dầu khí lớn. Tôi có những dự định to tát, nhưng những công việc đầu tiên tôi được giao là photocopy tài liệu, đánh máy văn bản, giao nhận hồ sơ, dịch tài liệu… Thật sự đó là những công việc rất nhàm chán. Tuy vậy, tôi đã rất vui vẻ và tập trung để làm tốt. Chính những công việc “nhỏ nhoi” này đã giúp tôi rất nhiều sau này, trong những hoàn cảnh đặc biệt, tôi có thể “độc lập tác chiến” từ photocopy, fax tài liệu đến phiên dịch. Ngoài ra, các nhân viên của tôi cũng kính nể sếp hơn khi thấy sếp có
172 thể làm tốt cả những công việc tầm thường?”. Bằng tốt nghiệp đại học chỉ là “mảnh giấy thông hành” cho bạn “bước chân” vào các công ty. Nó chỉ thể hiện khả năng học tập của sinh viên trên giảng đường đại học nhưng không thể chứng minh cho năng lực làm việc của một nhân viên trong môi trường công sở. Hãy bắt đầu tích lũy kinh nghiệm từ những công việc nhỏ nhất và hoàn tất nó một cách xuất sắc với tình yêu lớn nhất! 4. Phấn đấu trở thành người giỏi nhất Tôi tin rằng mỗi bạn sinh viên đều xuất sắc hơn những gì chúng ta nghĩ về mình. Vấn đề quan trọng là chúng ta có dám tin vào điều đó hay không! Suy cho cùng, hành trình cuộc đời chính là khám phá và đánh thức con người tuyệt vời trong mỗi người! Do môi trường làm việc của mình, tôi thường xuyên tiếp xúc với rất nhiều bạn trẻ có khát vọng làm giàu cháy bỏng. Một khiếm khuyết phổ biến của họ là rất tin vào các câu chuyện làm giàu nhanh chóng nhờ đầu tư vào vàng, chứng khoán hay địa ốc; họ luôn cố gắng tìm kiếm các cơ hội làm giàu ở bên ngoài; sẵn sàng bỏ công việc mà mình yêu thích và nhảy việc chỉ vì tiền lương chênh lệch vài trăm USD. Họ không nhận ra rằng, con đường để trở nên giàu có đòi hỏi thời gian, sự nỗ lực phấn đấu để hoàn thiện bản thân cũng như trở thành người giỏi nhất, chuyên nghiệp nhất trong lĩnh vực nghề nghiệp của mình. Khát vọng làm giàu là hoàn toàn chính đáng. Tôi biết nhiều bạn ngồi đây cũng giống tôi 29 năm trước: Vào đời với 2 bàn tay trắng. Vậy làm thế nào để giàu?
173 Qua chính kinh nghiệm của bản thân, tôi nhận ra rằng, một trong những con đường làm giàu chính đáng và có cơ may thành công nhất chính là hãy làm tốt nhất công việc mà bạn yêu thích, đam mê. Hãy luôn phấn đấu trở thành một trong những người giỏi nhất, chuyên nghiệp nhất trong lĩnh vực nghề nghiệp của mình. Tôi đã kiếm được 1 triệu USD đầu tiên chính nhờ bí quyết này. Tôi làm điều hành kinh doanh gas cho một công ty Nhà Nước. Sau 3 năm, dẫn dắt, thương hiệu gas đó đã tái khẳng định vai trò số 1 Việt Nam về sản lượng và lợi nhuận. Nhờ thành tích này, tôi được một quỹ đầu tư mời về điều hành 1 công ty gas tư nhân. Chúng tôi bắt đầu bằng con số 0. Sau 3 năm gầy dựng, chúng tôi trở thành Top 5 công ty gas hàng đầu phía Nam. Các cổ đông đã quyết định bán toàn bộ công ty gas này cho một công ty nước ngoài. Tôi đã thu được tiền lãi từ bán cổ phần công ty là trên 1 triệu đô la. Đó là năm 2007 và tôi 35 tuổi. Tôi có cơ hội này vì tôi được đánh giá là người kinh doanh gas giỏi nhất tại thị trường lúc đó! Công thức để trở thành người giỏi nhất trong lĩnh vực nào đó thì cần phải hội đủ 3 yếu tố: có ước mơ, có thầy giỏi và kiên trì luyện tập từ 8.000 giờ - 10.000 giờ theo đúng định hướng. Bên cạnh đó, bạn cũng cần phải nhanh nhạy nắm bắt được các cơ hội mở ra như hợp tác, cộng tác với người khác hoặc tự mình xây dựng và phát triển một hay nhiều doanh nghiệp. Ngay cả khi bạn không thích trở thành doanh nhân hoặc chủ doanh nghiệp thì ít nhất bạn sẽ là một người làm thuê xuất sắc và chuyên nghiệp với chế độ đãi ngộ thỏa đáng.
174 5. Luôn theo đuổi những giấc mơ: Nhìn lại về những năm tháng đã qua, tôi tin rằng, cuộc đời mình được dẫn dắt bởi những ước mơ. Khi còn nhỏ, tôi ước mơ lớn lên mình sẽ theo nghiệp của cha mẹ là làm giáo viên. Và bây giờ, trong cuộc sống bận rộn của mình, tôi đã dành nhiều thời gian để chia sẻ với sinh viên và học viên về khởi nghiệp, con đường làm giàu, quản trị công ty… Những ngày đi làm đầu tiên, tôi ước ao được đi du lịch nước ngoài, để tìm hiểu về thế giới bao la xung quanh mình. Tuy nhiên, điều kiện kinh tế gia đình và cá nhân không cho phép. Vậy là tôi đã đăng ký tham gia các cuộc thi mà giải thưởng là các chuyến đi du lịch. Vượt trên 10.000 người, tôi đã xuất sắc đoạt Giải Nhất Cuộc thi Thanh niên Việt Nam và thanh niên Châu Á bước vào thế kỷ 21 do Tàu Peace Boat và Hội Liên Hiệp Thanh Niên Việt Nam tổ chức. Giải thưởng của tôi là một chuyến đi vòng quanh thế giới trên Tàu Hoà Bình trong 90 ngày qua 18 quốc gia. Sau này, khi bắt đầu con đường kinh doanh, tôi mơ ước mình trở thành triệu phú đô la. Tôi không nghĩ có 1 triệu đô là là mình giàu có mà tôi coi đó là một thách thức. Tôi đã nỗ lực hết mình trong công việc, sống tích cực, cởi mở với mọi người, quan tâm đến khách hàng và yêu thương nhân viên cùng với quyết tâm luôn phấn đấu trở thành người giỏi nhất. Trời đã không phụ lòng người. Năm tôi 35 tuổi, tôi đã cầm được trong tay 1 triệu đô la Mỹ đầu tiên nhờ vào kết quả làm việc xuất sắc của mình. Thị trường chứng khoán Việt Nam đi vào hoạt động, tôi lại ước mơ: một ngày nào đó, tôi sẽ được điều
175 hành một công ty niêm yết. Tên và thông tin về công ty của tôi sẽ được nhiều người biết đến. Chỉ là mơ ước vậy thôi bởi vì lúc đó, tôi còn đang làm việc tại một công ty quốc doanh. Không hiểu sao, dòng đời cuốn tôi đi, trải qua nhiều công việc và công ty khác nhau. Để hôm nay nhìn lại, tôi đang là thành viên HĐQT của 3 công ty niêm yết. Giấc mơ ngày xưa đã thành hiện thực! Và trong sâu thẳm, tôi mong muốn sẽ có được những tác phẩm của riêng mình. Tôi muốn nhìn thấy tên mình trên bìa sách. Và bây giờ, tôi là tác giả của 4 cuốn sách. Trong đó, cuốn sách “ Hãy sống ở thể chủ động” đã bán được 20.000 bản và trở thành một trong những cuốn sách kỹ năng bán chạy nhất hiện nay. Tôi nhận ra rằng, khi bạn có những ước mơ cháy bỏng, thôi thúc và bạn hăm hở bắt tay thực hiện nó, bạn sẽ tạo ra được một cuộc sống thú vị và có giá trị. Tôi cho rằng, hành trình cuộc đời của con người, chính là khám phá ra những năng lực và khả năng của bản thân. 6. Chỉ có hành động mới mang lại kết quả: “Kể cả khi không có sức mạnh lựa chọn điểm xuất phát, chúng ta vẫn có thể lựa chọn nơi mình muốn đến. Chúng ta vẫn có thể làm được nhiều điều!” Đúng vậy. Dù hoàn cảnh hay vị trí hiện tại của bạn có thế không như ý muốn, thì điều đó cũng không quan trọng bằng việc bạn có định hướng thế nào và mong muốn điều gì cho tương lai của mình. Và điều cốt yếu nhất, bạn phải hành động. Vì chỉ có hành động mới từng bước đưa bạn đến nơi mình muốn. Chẳng phải nhiều người thành công và giàu có, lúc đầu cũng có điểm xuất phát rất thấp hay sao?
176 Cứ mạnh mẽ làm việc cần làm, hướng đến điều mình mong muốn và bạn sẽ thay đổi được số phận của mình. Con người hơn thua nhau không phải ở điểm xuất phát, mà là ở đích đến và cách để tiến nhanh về đích. Cứ hành động đúng định hướng, rồi bạn sẽ có được điều bạn muốn! Bạn muốn có được tình yêu? Hãy cho đi tình yêu. Bạn muốn có được sự trân trọng? Hãy trân trọng mọi người. Bạn muốn có được niềm vui? Hãy mang lại nụ cười cho những người bên bạn. Bạn muốn có được thành công? Hãy giúp người khác thành công... Sẽ vô vọng nếu bạn không Cho mà chỉ mong được Nhận! Tạo hoá vốn công bằng! Jack Canfield đã chia sẻ: “Người thành công luôn duy trì sự tập trung tích cực vào cuộc sống bất kể điều gì đang diễn ra quanh họ. Họ tập trung vào những thành công hơn là những thất bại trong quá khứ. Họ tập trung vào các bước hành động kế tiếp, cần thực hiện để đưa bản thân mình tiến gần hơn đến việc hoàn thành các mục tiêu...” Luôn luôn có cơ hội thành công và trở thành người có giá trị cho những ai không ngừng học hỏi và nỗ lực vươn lên. Cuộc sống vốn công bằng. Bạn sẽ nhận được những gì mình nỗ lực và cho đi. Hãy đừng bằng lòng với một cuộc sống buồn tẻ, làng nhàng mà hãy cố gắng hoàn thiện bản thân, dấn thân, trải nghiệm để sống một cuộc đời có ích. Xin chúc tất cả các bạn sinh viên sẽ trở thành những người có GIÁ TRỊ! _____
177 Hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên các trường Đại học, Cao đẳng: Thực trạng và giải pháp TS. HỒ VĂN TƯỜNG - Giảng viên thỉnh giảng Trường Đại học Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh “Nghiên cứu khoa học là sự tìm hiểu khám phá những thuộc tính bản chất nhất của sự vật hoặc hiện tượng, phát hiện quy luật vận động của chúng, đồng thời vận dụng những quy luật ấy đế sáng tạo các giải pháp cải tạo thế giới khách quan” (Vũ Cao Đàm, 1995). Từ đó, chúng ta có thể thấy rằng nghiên cứu khoa học của các sinh viên thực hiện trong các trường cao đẳng, đại học là một hoạt động thiết thực và hữu ích cho sinh viên, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, giúp sinh viên tiếp cận làm quen và vận dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học; góp phần rèn luyện tư duy khoa học, khả năng phản biện, xây dựng tinh thần hợp tác giúp đỡ nhau trong nghiên cứu khoa học. Nghiên cứu khoa học và học tập là hai nhiệm vụ chính của sinh viên ở các trường đại học và cao đẳng. Nghiên cứu khoa học chính là kết quả của quá trình học tập, do sinh viên thực hiện dưới sự chỉ bảo của giảng viên hướng dẫn. Trong thực tế, nghiên cứu khoa học không diễn ra đại trà và cũng không diễn ra thường xuyên như học tập, chỉ diễn ra đối với từng cá nhân sinh viên hay từng nhóm sinh viên, cho nên đã triển khai với nhiều khó khăn hơn là thuận lợi. Tuy nhiên, thực
178 hiện hoàn tất công trình nghiên cứu khoa học thì các sinh viên như đã nắm trong tay tấm hộ chiếu để bước vào tương lại một cách vững chắc bởi đã trang bị được tinh thần nghiên cứu khoa học. Theo “Quy chế về nghiên cứu khoa học của sinh viên trong các trường đại học và cao đẳng” được ban hành kèm theo quyết định số 08/2000/QĐ-BGD&ĐT ngày 30/3/2000 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, chỉ rõ nghiên cứu khoa học của sinh viên nhằm 03 mục đích: góp phần nâng cao chất lượng đào tạo; tiếp cận và vận dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học; giải quyết một số vấn đề khoa học và thực tiễn. Tham luận này chỉ đề cập đến hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên được thể hiện qua những đề tài nghiên cứu khoa học ở cấp khoa, trường… Trên hành trình chinh phục tri thức, nghiên cứu khoa học có ý nghĩa quan trọng đối với sinh viên. Khi tiến hành thực hiện nghiên cứu khoa học, sinh viên sẽ có điều kiện để tiếp cận với các đề tài ở quy mô nhỏ, cùng với sự hướng dẫn của giảng viên, sinh viên sẽ bắt đầu định hình được cách thức, quy trình để thực hiện một công trình nghiên cứu khoa học chất lượng, hiệu quả. Hoạt động nghiên cứu khoa học giúp sinh viên vận dụng sáng tạo, linh hoạt các phương pháp nghiên cứu và thông tin khoa học vào thực tiễn cuộc sống. Nhờ vậy, sinh viên có khả năng đào sâu kiến thức, mở rộng và nâng cao vốn hiểu biết cũng như rèn luyện các kỹ năng nghề nghiệp cần thiết, từ đó góp phần giải quyết những vấn đề khoa học đang được đặt ra. Trên cơ sở đó, nghiên cứu khoa học sẽ tạo nền tảng vững chắc để sinh viên có cơ hội được tiếp cận với khoa học và con
179 đường học thuật chuyên nghiệp, góp phần đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế. Cách nay hơn 2500 năm, Khổng Tử đã từng cho rằng: “Ngã thính đáo, ngã vong ký; ngã khán đáo, ngã ký đắc; ngã luyện tập, ngã lĩnh hội” 我 听 到 我 忘 记 我 看 到 我 记得 我 练 习 我 领 会 , mà người ta đã dịch sang tiếng Anh là: “I hear and I forget. I see and I remember. I do and I understand”, tạm dịch: “tôi nghe, tôi quên; tôi thấy, tôi nhớ; tôi làm và tôi hiểu”. Công việc nghiên cứu khoa học ngày nay dành cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng chính là “ngã luyện tập, ngã lĩnh hội” 我 练 习 我 领 会 I do and I understand” mà Khổng Tử đã khẳng định vậy! 1. Lợi ích nghiên cứu khoa học: Lợi ích đầu tiên là khuyến khích được sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học, lợi ích thứ hai là tạo ra một phong trào sôi động từ những sinh viên trẻ và từ đó làm cho trường đại học có sinh khí nghiên cứu. Quá trình nghiên cứu khoa học sẽ giúp sinh viên rèn luyện tư duy độc lập, biết bảo vệ lập trường khoa học của mình. Một số đề tài khoa học thường do một nhóm từ hai sinh viên trở lên cùng thực hiện do một sinh viên làm trưởng nhóm vì vậy việc cùng thực hiện một đề tài nghiên cứu cũng giúp sinh viên phát triển các kỹ năng mềm, như: làm việc theo nhóm với sự chia sẻ ý thức và
180 trách nhiệm, thêm vào đó là kỹ năng tra cứu tư liệu, phương pháp phân tích, tổng hợp. Bên cạnh đó, việc thực hiện và bảo vệ một đề tài nghiên cứu khoa học sẽ rèn giũa cho sinh viên kỹ năng diễn đạt, trình bày một vấn đề, kỹ năng thuyết trình, tập cho sinh viên phong thái tự tin khi bảo vệ trước một hội đồng khoa học. Đây cũng là trải nghiệm rất quý báu và thú vị mà không phải bất kỳ sinh viên nào cũng có được trong quãng đời sinh viên của mình. Ngoài những kiến thức và kinh nghiệm thu được thông qua việc nghiên cứu khoa học, sinh viên còn được tạo điều kiện trong việc nâng cao kết quả học tập. Mỗi sinh viên tham gia viết bài báo khoa học, bài tham luận hội thảo hay thực hiện đề tài nghiên cứu sẽ được cộng thêm điểm rèn luyện. Đây cũng là cách thức giúp các sinh viên đạt được kết quả học tập cao cuối năm học. Một lợi ích khó đong đếm mà việc thực hiện đề tài nghiên cứu mang lại cho sinh viên là việc gây dựng các mối quan hệ xã hội. Cụ thể là quá trình tiếp cận với các giảng viên hướng dẫn sẽ thúc đẩy sự gắn bó hơn trong quan hệ của sinh viên với các giảng viên. Sau quá trình cộng tác sinh viên sẽ học hỏi được rất nhiều từ các giảng viên kiến thức cũng như những kinh nghiệm thực tế. Tóm lại, việc nghiên cứu khoa học trong sinh viên có bốn kết quả to lớn: nâng cao và củng cố kiến thức, đào sâu suy nghĩ; phát triển và rèn luyện kĩ năng mềm; có cơ hội nhận điểm thưởng từ Khoa và Nhà trường; và tạo dựng mối quan hệ xã hội.
181 2. Thuận lợi và khó khăn của sinh viên khi tham gia nghiên cứu khoa học Tuy nghiên cứu khoa học mang lại nhiều lợi ích cho sinh viên, cũng như cho giảng viên hướng dẫn và cho nhà trường đại học, cao đẳng, nhưng trong quá trình triển khai hoạt động này thời gian qua không chỉ gặp nhiều thuận lợi mà còn vướng phải không ít khó khăn. 2.1. Thuận lợi 2.1.1. Sức trẻ trong nghiên cứu của sinh viên Trong dòng chảy hiện đại, con người và đặc biệt là giới trẻ, ngày càng có nhiều cơ hội để tiếp cận, kết nối và trải nghiệm nhờ sự phát triển vượt bậc của công nghệ thông tin. Thế nên, là những công dân toàn cầu, sinh viên rất linh hoạt, nhạy bén trong việc nắm bắt và phát hiện các nhu cầu của xã hội. Ngoài ra, nhờ được tiếp xúc và trao đổi với nhiều nguồn thông tin khác nhau, sinh viên có góc nhìn đa chiều, bao quát và thú vị về những vấn đề khoa học đáng quan tâm. Điều này được thể hiện rõ nét qua các đề tài nghiên cứu đầy mới mẻ, sáng tạo, có tính thời sự và khả năng ứng dụng cao trong thời gian gần đây. Với niềm đam mê khoa học cùng tinh thần ham học hỏi, thích tìm tòi và khám phá cái mới, có thể nói, sinh viên đang tham gia hoạt động nghiên cứu khoa học ngày càng tích cực, cởi mở và chủ động hơn. Đội ngũ giảng viên trong các cơ sở giáo dục đại học đang từng bước được cải thiện về số lượng lẫn chất lượng. Tất cả giảng viên đều tốt nghiệp Thạc sĩ trở lên, được trang bị các kiến thức khoa học và có kinh nghiệm thực hiện nhiều đề tài nghiên cứu khoa học, công bố quốc tế. Thế nên, năng lực nghiên cứu, trình độ chuyên
182 môn cùng kỹ năng nghiệp vụ đều được đảm bảo để có thể hỗ trợ sinh viên một cách tốt nhất. Bên cạnh nghiên cứu, giảng viên còn là những người làm giáo dục nên có xu hướng thấu hiểu tâm lý và thân thiết, gần gũi với sinh viên, rất nhiệt tình, năng động trong việc hướng dẫn sinh viên thực hiện đề tài nghiên cứu. Trong thời đại 4.0, ngoài sách vở truyền thống, sinh viên tìm kiếm tài liệu ngày càng dễ dàng và nhanh chóng hơn với sự trợ giúp của công nghệ hiện đại cùng các nguồn học liệu mở trên internet. Không những thế, nhờ được đầu tư ngoại ngữ từ sớm nên sinh viên có khả năng chọn lọc và khai thác các nguồn tài liệu tiếng Việt lẫn tiếng nước ngoài. Điều này tạo ra những thuận lợi đáng kể trong việc tiếp cận một số hướng nghiên cứu mới, giúp sinh viên xác định và làm chủ thông tin trong quá trình nghiên cứu khoa học. Sự quan tâm, chỉ đạo cũng như động viên, khuyến khích từ phía nhà trường là một trong những nguồn động lực to lớn giúp sinh viên hoàn thành tốt đề tài nghiên cứu của mình. Các chính sách chú trọng hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên cho thấy sự quan tâm đặc biệt của nhà trường trong việc phát hiện và bồi dưỡng nhân tài cũng như tầm nhìn và triết lý giáo dục toàn diện, khai phóng của đội ngũ giảng viên. Bởi lẽ, hoạt động nghiên cứu khoa học sẽ “hiện thực hóa” lý thuyết, gắn lý luận với thực tiễn, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo mà sinh viên đóng vai trò trung tâm, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học, cải thiện chất lượng đào tạo trong nhà trường và đáp ứng được những nhu cầu của nền giáo dục hiện đại.
183 Hơn nữa, nghiên cứu khoa học trong sinh viên các trường đại học, cao đẳng là một chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo, lại được Trung Ương Đoàn và Thành Đoàn tổ chức giải thưởng cho nên rất thuận lợi. 2.1.2. Lực lượng giảng viên hùng hậu luôn sẵn sàng hướng dẫn sinh viên Tất cả giảng viên ở các trường đại học, cao đẳng đều có bằng Thạc sĩ trở lên, cho nên phương pháp nghiên cứu khoa học đều đã trải qua. Cho nên việc hướng dẫn cho sinh viên trong các trường đại học, cao đẳng thực hiện các công trình nghiên cứu khoa học vô cùng thuận lợi. Tình nghĩa thầy trò và tinh thần trách nhiệm của các giảng viên hướng dẫn chắc chắn sẽ giúp cho sinh viên thực hiện công trình nghiên cứu vừa nghiêm túc, lại vừa đạt hiệu quả cao. Qua các công trình nghiên cứu khoa học này, sinh viên như được “tập dượt” những công việc tương lai của bản thân khi ra trường có thể tiếp cận ngay, không phải trải qua quá trình “đào tạo lại” vừa gây hao tốn kinh phí cho đơn vị bố trí việc làm, vừa tạo nên sự hụt hẫng trong sinh viên sau ba, bốn năm học tập! 2.1.3. Sức trẻ của sinh viên Sinh viên ngày nay mang trong mình sức trẻ của thời đại mới, luôn tìm kiếm hướng đi cho mình một cách tích cực, không ngại thể hiện ý tưởng mới của mình. Đây là một đặc điểm rất cần thiết cho hoạt động nghiên cứu khoa học. Sự sáng tạo giúp mở ra các hướng nghiên cứu, vấn đề nghiên cứu mới. Tính năng động tạo điều kiện cho người nghiên cứu chủ động tìm tòi,
184 học hỏi, và sự tự tin giúp họ đứng vững với lập trường của mình. Đây là những tố chất cần có ở một nhà nghiên cứu chân chính. Bước vào ngưỡng cửa đại học, thời gian lên lớp của sinh viên đa số các ngành, nhất là các ngành xã hội, kinh tế, không nhiều như khi học phổ thông. Nhiều trường đại học hiện nay đã chuyển đổi sang đào tạo theo học chế tín chỉ. Cách thức này giúp sinh viên chủ động hơn trong việc bố trí lịch học của mình sao cho thuận tiện nhất. Vì vậy, sinh viên ngày nay xem ra có nhiều thời gian rảnh rỗi hơn so với thời học phổ thông. Trong khi đó, thời gian là một yếu tố quan trọng làm nên một công trình nghiên cứu khoa học khả thi. Điều đó cho thấy sinh viên có khả năng hoàn thành tốt bài nghiên cứu của mình nếu các bạn biết tận dụng tối đa thời gian của mình. 2.2. Khó khăn: 2.2.1. Sinh viên gặp nhiều rào cản để tạo tính khoa học cho công trình nghiên cứu a) Đây là khâu cực kỳ quan trọng và đóng vai trò then chốt. Trước hết là việc lựa chọn đúng đề tài nghiên cứu sẽ là kim chỉ nam cho mọi công đoạn về sau, giúp sinh viên xác định chính xác vấn đề mà mình quan tâm và có hướng nghiên cứu đúng đắn, phù hợp. Tuy nhiên, lựa chọn được một đề tài hay, sáng tạo, khả thi, có ý nghĩa lý luận lẫn thực tiễn và phù hợp với năng lực của sinh viên là một điều không hề dễ dàng. Khi bắt tay thực hiện đề tài, sinh viên thường gặp phải ba trường hợp: một là sinh viên không biết nên làm về vấn đề nào nên thường đưa ra những lựa chọn
185 cảm tính: theo định hướng của giảng viên hướng dẫn hoặc theo ngân hàng đề tài của nhà trướng gợi ý. Đây là một sự lựa chọn thiếu chắc chắn, vốn không phải thế mạnh và sở thích của sinh viên; hai là sinh viên ôm đồm quá nhiều, thứ gì cũng muốn làm nên dẫn tới tình trạng lựa chọn đề tài quá phức tạp và lan man, vượt quá khả năng của bản thân; ba là sinh viên tìm được đề tài trong quá trình học tập, tuy nhiên đó lại là những kiến thức sách vở vốn tương đối ổn định và quen thuộc, thậm chí nhiều thông tin đã không còn phù hợp với bối cảnh hiện tại nên khó đảm bảo được tính mới và khả năng ứng dụng của đề tài. Chúng tôi đã từng hướng dẫn cho một sinh viên gốc Hoa làm đề tài nghiên cứu khoa học. Sự thành công trong kinh doanh của dân tộc Hoa đã khiến cho sinh viên chọn để tài về “kinh doanh của người Hoa trên toàn thế giới”. Chúng tôi phân tích cho bạn sinh viên biết rằng đây là một đề tài khoa học cho nên phải có số liệu chính xác để minh họa mới mang tính thuyết phục, cho nên với đề tài của bạn chọn phải di chuyển khắp năm châu để lấy số liệu thực tế. Nghe vậy, bạn sinh viên đủ thu nhỏ phạm vi đề tài lại là “kinh doanh người Hoa ở châu Á”. Chúng tôi tiếp tục phân tích để cho bạn sinh sinh thấy rằng châu Á rất rộng lớn, liệu bạn ấy có đủ khả năng tài chính và đủ quỹ thới gian để đáp ứng những chuyến đi đến tất cả quốc gia ở châu Á không? Bạn sinh viên hơi cau mày suy nghĩ và đổi ngay đề tài lại là “kinh doanh người Hoa ở Đông Nam Á”. Một lần nữa, chúng tôi phân tích giá vé máy bay, chi phí khách sạn, nhà hàng, cho phí đi lại và tiêu dùng ở 10 quốc gia Đông Nam Á liệu rằng bạn có đủ thời gian và đủ kinh
186 phí để phục vụ cho công trình nghiên cứu khoa học không? Cuối cùng, bạn sinh viên đã “xuống nước” khá nhanh để chọn đề tài “kinh doanh của người Hoa ở khu vực Chợ Lớn, TP. Hồ Chí Minh” ! b) Việc tìm kiếm và xử lý tài liệu là điều mà hầu hết sinh viên thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học đều gặp phải không ít khó khăn. Sinh viên tìm kiếm tài liệu bằng nhiều phương thức khác nhau như internet, giáo trình trên thư viện, tài liệu giảng viên cung cấp hoặc số liệu từ các điều tra thực tế. Song, không phải ai cũng biết cách quản lý và sử dụng tài liệu hiệu quả. Thực tế chỉ ra rằng sinh viên thường thiếu chọn lọc trong việc tìm kiếm tài liệu. Trong khi đó, các tài liệu chuyên ngành có liên quan và thực sự cần thiết lại khó tiếp cận với nhiều lý do khác nhau như vấn đề bản quyền, giá cả tốn kém hoặc hạn chế về ngôn ngữ. Vì thế, sinh viên gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận nguồn tài liệu chất lượng. Trong trường hợp tìm kiếm được nguồn tài liệu phù hợp thì việc xử lý những tài liệu đó cũng gặp phải nhiều vấn đề. Sự khác biệt về quan điểm, chênh lệch về số liệu từ các nguồn khác nhau sẽ khiến sinh viên bối rối trong quá trình xử lý. Thêm nữa, đối với những đề tài cần khảo sát thực tế hoặc điều tra điền dã, sinh viên chưa có đủ kinh nghiệm, kiến thức và kỹ năng trong việc tổng hợp, xử lý và phân tích thông tin. Do đó, ý nghĩa của các con số, hình ảnh hay biểu đồ sẽ không được khai thác chính xác và hiệu quả.
187 c) Nghiên cứu khoa học là một hoạt động trí tuệ cao, người nghiên cứu cần có tố chất và năng lực nghiên cứu. Nó đòi hỏi tư duy phản biện, khả năng lập luận chặt chẽ, hệ thống lý luận vững chắc và số liệu thống kê chính xác. Bởi lẽ đó, làm quen và diễn đạt ngôn ngữ theo văn phong khoa học sẽ là một thách thức lớn đối với sinh viên khi phần lớn đều đã quen thuộc với phong cách ngôn ngữ sinh hoạt hằng ngày, thiếu vốn từ chuyên ngành và không có nhiều kiến thức lẫn kinh nghiệm trong nghiên cứu. Vì vậy, nhiều đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên vẫn còn mắc lỗi chính tả, dùng sai từ, hành văn lủng củng hoặc lập luận thiếu logic, dẫn tới việc đề tài nghiên cứu không được đánh giá cao bởi hội đồng khoa học. Tiếp theo là trình bày khoa học là một trong những yếu tố quyết định tính thuyết phục của đề tài. Dĩ nhiên, trình bày theo đúng quy định và quy cách không phải đơn giản và điều này sẽ tốn một thời gian nhất định. Đơn cử, việc trình bày bìa, tài liệu tham khảo, các chữ viết tắt, phụ lục hay danh mục hình ảnh, bảng biểu, sơ đồ,… đều phải tuân theo quy chuẩn của văn bản hướng dẫn. Thế nên, sinh viên sẽ vấp phải những khó khăn nhất định. Các lỗi kỹ thuật trong khi trình bày đề tài như lỗi phông chữ, hình vỡ nét, sai biểu đồ,… cũng khiến đề tài không được hoàn thiện. Chẳng hạn như trường hợp nhiều sinh viên tuy đã được tham gia học phần “Nghiên cứu khoa học” do giảng viên có kinh nghiệm trình bày, nhưng do nhiều yếu tố đã khiến cho không ít sinh viên đã thực hiện phần “Tài liệu tham khảo” ở cuối công trình nghiên cứu không đúng với quy cách: tên tác giả không ghi theo
188 thứ tự A, B, C; thiếu nhiều thông tin cần thiết như ngày tháng năm công bố tác phẩm đối với các bài đăng trên các website… Việc này tuy nhỏ, nhưng dễ bị đánh giá… thiếu tính khoa học! Ngoài trình bày trên văn bản, không thể không nói đến việc trình bày kết quả nghiên cứu trước hội đồng khoa học. Trình bày không chỉ dừng lại ở việc báo cáo kết quả mà còn là cơ hội để sinh viên làm rõ nghiên cứu của mình trước các chuyên gia, từ đó nhận được những đóng góp, nhận xét hữu ích để hoàn thiện đề tài nghiên cứu của mình. Song, không phải sinh viên nào cũng rèn luyện được kỹ năng trình bày trước đám đông. Khó khăn mà sinh viên thường gặp phải khi trình bày chính là giọng nói. Giọng địa phương khiến nhiều sinh viên gặp khó khăn trong việc truyền đạt và trao đổi với thầy cô. Số khác lại nói nhỏ, nói nhanh hoặc nói vấp vì tâm lý căng thẳng. Thiếu phong thái tự tin và đánh mất sự bình tĩnh, tâm thế chủ động cũng là nguyên nhân dẫn đến việc sinh viên quá tập trung vào trang trình chiếu mà quên mất sự tương tác qua lại giữa hai bên, khiến bài trình bày trở nên thiếu thuyết phục và hấp dẫn. Một vấn đề cần quan tâm nữa, đó chính là việc trả lời câu hỏi từ hội đồng khoa học. Trong nghiên cứu khoa học, bất đồng quan điểm là điều bình thường, không có đúng - sai hoàn toàn. Vì vậy, việc phản biện và dũng cảm thể hiện quan điểm cá nhân là tốt, tuy nhiên nên có chừng mực và giới hạn nhất định. Trong một số trường hợp, nhiều sinh viên khá hiếu thắng, mong muốn chứng tỏ “cái tôi” nên dễ sa vào cuộc tranh
189 luận hơn thua, “bật” lại mọi ý kiến của hội đồng - một điều mà giới khoa học không đề cao. 2.2.2. Nguồn tài chính hỗ trợ Bên cạnh những yếu tố chủ quan, khó khăn về mặt khách quan cũng là một bài toán nan giải đối với sinh viên, đặc biệt là nguồn tài chính hỗ trợ. Hiện nay, kinh phí thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên chưa nhận được sự quan tâm đúng mức và kịp thời. Sự hỗ trợ từ nhà trường nhìn chung chỉ mang tính chất động viên, khuyến khích, chỉ được nhận sau khi sản phẩm đã hoàn thành, bên cạnh đó việc hỗ trợ từ phía doanh nghiệp cũng gần như bị bỏ ngỏ. Trong quá trình thực hiện đề tài, sinh viên thường phải tự bỏ tiền túi để chi trả các khoản tiền (di chuyển, in ấn, mua dữ liệu, điều tra khảo sát,...) - đây là một khó khăn đối với nhiều bạn trẻ chưa thể tự chủ tài chính. Kinh phí eo hẹp cũng là một trong những nguyên nhân khiến chất lượng và khả năng ứng dụng của đề tài bị hạn chế. Do đó, sinh viên không có đủ điều kiện và cơ hội để thể hiện năng lực nghiên cứu cũng như tận dụng, khai thác hiệu quả các ý tưởng khoa học. Đó là chưa kể đến một số trường đại học và trường cao đẳng gần như “bỏ qua” công tác nghiên cứu khoa học của sinh viên, với lý do là không đủ quỹ thời gian của nhà trường và quỹ thời gian của sinh viên vì phải dạy và học cho đủ số lượng tín chỉ đã được duyệt! 2.2.3. Quỹ thời gian dành cho nghiên cứu khoa học chưa được phân bố hợp lý
190 Trong thực tế, ở bậc đại, cao đẳng tuy không còn phải học cả ngày đêm như thời phổ thông, nhưng sinh viên thường có thời gian biểu dày đặc: lịch học trên lớp, công việc làm thêm, hoạt động ngoại khóa hoặc các lớp luyện thi để lấy chứng chỉ…, chưa kể đến việc gặp bạn bè, chơi games… Trong khi đó, nghiên cứu khoa học lại đòi hỏi thời gian và công sức khá nhiều. Chính vì thời gian eo hẹp nên sinh viên gặp nhiều khó khăn trong việc sắp xếp thời gian để thực hiện đề tài, tập hợp các thành viên cùng thảo luận hay hẹn lịch phỏng vấn với chuyên gia. Quá tải công việc, không thể cân bằng cuộc sống khiến nhiều sinh viên cảm thấy “ngộp thở” và luôn trong trạng thái căng thẳng, mệt mỏi. Có trường hợp sinh viên làm nhiều việc cùng lúc để tiết kiệm thời gian nhưng thực chất lại không đem lại hiệu quả, kéo theo đó là kết quả học tập sụt giảm và sự trì hoãn trong tiến độ nghiên cứu. 3. Một số giải pháp 3.1. Nâng cao nhận thức của sinh viên về hoạt động nghiên cứu khoa học Để thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học, trước hết phải nâng cao nhận thức cho sinh viên về vai trò của hoạt động nghiên cứu khoa học đối với sinh viên. Đây là nhiệm vụ thường xuyên quan trọng nhằm tạo ra những chuyển biến quan trọng trong nhận thức của sinh viên về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của nghiên cứu khoa học trong trường đại học. Do đó, trong quá trình đào tạo, cần thống nhất tính chất và nội dung hoạt động nghiên cứu khoa học, đó là hoạt động có phạm vi, nội dung rộng, thâm nhập và có quan hệ chặt chẽ với các
191 hoạt động khác trong nhà trường, đặc biệt được đặt ngang tầm với hoạt động học tập, rèn luyện, giáo dục, đào tạo. 3.2. Chú trọng bồi dưỡng nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học cho sinh viên Hoạt động nghiên cứu khoa học đòi hỏi những kiến thức và kỹ năng, để đẩy mạnh hoạt động này nhất thiết phải bồi dưỡng nâng cao kiến thức và kỹ năng cho sinh viên, trong đó chú trọng nâng cao trình độ vận dụng phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu khoa học; kỹ năng phân tích, đánh giá một công trình, đề tài nghiên cứu khoa học, áp dụng những kết quả nghiên cứu vào trong thực tiễn. Để thực hiện được việc này, nhà trường và các khoa đào tạo cần phải quan tâm: Một là, cần rà soát, đánh giá đúng thực trạng kỹ năng nghiên cứu khoa học của sinh viên, xác định điểm mạnh, điểm yếu trong hoạt động này để có biện pháp phù hợp. Hai là, các khoa, bộ môn chủ động xây dựng kế hoạch bồi dưỡng nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học (kiến thức, kỹ năng) cho sinh viên, đáp ứng yêu cầu đào tạo của nhà trường. Ba là, tổ chức các hoạt động để sinh viên có cơ hội trải nghiệm sáng tạo, rèn luyện và khẳng định năng lực nghiên cứu khoa học của bản thân dưới các hình thức phong phú như: thông qua sinh hoạt khoa học ở khoa và bộ môn; tổ chức tọa đàm, trao đổi học thuật, kinh nghiệm nghiên cứu khoa học; giao nhiệm vụ có phân công giúp đỡ, kiểm tra, giám sát: Các bài tập lớn trong
192 khi học chuyên ngành; tham gia làm đề tài trong nhóm sinh viên (hoặc cùng các giảng viên); khuyến khích sinh viên tham gia viết bài cho Kỷ yếu Hội thảo, Tạp chí khoa học; tham gia Hội thảo, Hội nghị nghiên cứu khoa học (trình bày báo cáo); nhận xét, đánh giá kết quả nghiên cứu trong nhóm nghiên cứu. Bốn là, tổ chức đánh giá, tổng kết kinh nghiệm định kỳ, hằng năm… có những khen thưởng kịp thời cho những sinh viên thực hiện tốt. 3.3. Gắn chặt hoạt động nghiên cứu khoa học với hoạt động học tập, tự học, tự nghiên cứu học của sinh viên Học tập và nghiên cứu khoa học là hai nhiệm vụ cơ bản của sinh viên ở các trường đại học, cao đẳng. Hai hoạt động này không thể tách rời với nhau. Còn học tập, còn phải nghiên cứu; học tập và nghiên cứu vừa là kết quả vừa là điều kiện để giúp nhau cùng phát triển. Trong quá trình đào tạo nếu đưa yếu tố học tập của sinh viên thâm nhập sâu vào hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên sẽ trực tiếp góp phần làm cho tư duy lý luận và năng lực nghiên cứu khoa học của họ phát triển, đáp ứng được yêu cầu đào tạo, nghiên cứu khoa học của nhà trường (Bùi Ngọc Hoàng, 2015: 116). Bên cạnh đó, để hoạt động học tập và nghiên cứu khoa học có hiệu quả sinh viên phải phát huy năng lực tự học, tự nghiên cứu nhằm mở mang kiến thức, cập nhật thông tin, khai thác thông tin, hình thành ý tưởng mới. Muốn vậy, cần hướng dẫn sinh viên xây dựng kế hoạch tự học, đồng thời phải tăng cường kiểm tra quá
193 trình tự học và kết quả tự học của sinh viên. Để tiến hành nghiên cứu khoa học, sinh viên cũng cần phải được rèn luyện để hình thành những phẩm chất của người làm công tác nghiên cứu, như sự kiên trì, bền bĩ, chịu khó vượt qua những thử thách trên con đường khám phá tri thức. 3.4. Tạo môi trường thuận lợi và động lực cho sinh viên nghiên cứu khoa học Để thu hút sinh viên tham gia tích cực, say mê, thực hiện nghiên cứu khoa học một cách có hiệu quả cần chú trọng thực hiện một số những giải pháp sau đây: Thứ nhất, cần tạo dựng môi trường nghiên cứu khoa học chuyên nghiệp, có tính cạnh tranh dành cho sinh viên, dưới sự hướng dẫn, tạo điều kiện tối đa của giảng viên và nhà trường; Thứ hai, cần khuyến khích, tạo động lực cho sinh viên tham gia tích cực những hoạt động nghiên cứu khoa học thông qua việc biểu dương thành tích tại các cuộc thi, các cuộc hội thảo nghiên cứu khoa học ở các cấp. Thứ ba, cần định hướng cho sinh viên lựa chọn những đề tài phù hợp với thực tiễn, trình độ kiến thức và phù hợp với ngành nghề được đào tạo. Thứ tư, tăng cường các điều kiện phục vụ hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên bằng cách đầu tư hệ thống thông tin thư viện, phương tiện kỹ thuật hiện đại để hỗ trợ cho sinh viên trong việc tìm kiếm, thu thập tài liệu, thông tin. Thứ năm, tạo điều kiện để những thành tựu, kết quả nghiên cứu khoa học có chất lượng của sinh viên được áp dụng vào thực tiễn; tạo động lực cho sinh viên
194 tích cực thực hiện những nghiên cứu khoa học vừa mang tính lý luận vừa mang tính ứng dụng thực tiễn. Thứ sáu, bản thân sinh viên cần phải nhận thức được vai trò thiết thực của hoạt động nghiên cứu khoa học, từ đó, có ý thức tự giác, nghiêm túc và kiên trì theo đuổi thực hiện thành công những đề tài nghiên cứu mà mình đã lựa chọn. Tóm lại, nghiên cứu khoa học là hoạt động có ý nghĩa quan trọng, xuất phát từ đòi hỏi của nhà trường, xã hội và cá nhân trong quá trình đào tạo. Nghiên cứu khoa học không chỉ là quyền lợi mà còn là trách nhiệm của người học. Các trường đại học, cao đẳng cần quan tâm tạo điều kiện để sinh viên thực hiện quyền và nhiệm vụ này để đào tạo nên thế hệ chủ nhân tương lai của đất nước nắm vững phương pháp nghiên cứu khoa học để vận dụng vào thực tế nghề nghiệp trong quá trình đất nước hội nhập cùng các quốc gia trong khu vực và trên toàn thế giới./.
195 Thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên theo tinh thần kiến tạo trong giáo dục TS. NGUYỄN QUANG TRUNG - Phó Trưởng Khoa Marketing Trường Đại học Kinh tế - Tài chính TP. Hồ Chí Minh Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng của đất nước và vai trò đầu tàu về kinh tế, trung tâm khoa học giáo dục của Thành phố Hồ Chí Minh thì nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực đại học chất lượng cao hội đủ kiến thức, kỹ năng và năng lực tự chủ, tự chịu trách nhiệm luôn được xác định là nhiệm vụ quan trọng nhất của các trường đại học. Để thực hiện được mục tiêu đó, những năm qua phong trào nghiên cứu khoa học trong sinh viên đã nhận được sự quan tâm đầu tư phát triển cả về chất lẫn về lượng nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, phát huy tính tích cực, sáng tạo của sinh viên đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp và nhu cầu xã hội vì thực chất nghiên cứu khoa học là hoạt động trí tuệ, giúp sinh viên tiếp cận các vấn đề khoa học, vận dụng lý thuyết, phương pháp nghiên cứu khoa học trên giảng đường vào thực tiễn, góp phần giải quyết các vấn đề khoa học đời sống hay nghề nghiệp tương lai. Lý thuyết kiến tạo trong giáo dục cho rằng người học xây dựng kiến thức thay vì chỉ tiếp thu thông tin một cách thụ động, khi sinh viên trải nghiệm thế giới và suy ngẫm về những trải nghiệm đó, họ xây dựng cách trình bày của riêng mình và kết hợp thông tin mới vào kiến thức đã có từ trước của họ thông qua quá trình đồng hóa (assimilation) thu nhận thông tin mới và điều chỉnh nó
196 vào một “lược đồ” tri thức hiện có và quá trình điều tiết (accommodation) sử dụng thông tin mới thu được để sửa đổi và phát triển lại tri thức hiện có. Hàm ý của Lý thuyết kiến tạo trong giáo dục là sinh viên học tốt nhất khi tham gia vào các trải nghiệm học tập (ở đây là hoạt động nghiên cứu khoa học) thay vì tiếp nhận thông tin một cách thụ động, học tập vốn là một quá trình xã hội vì nó gắn liền với bối cảnh xã hội khi sinh viên và người hướng dẫn làm việc cùng nhau để xây dựng kiến thức, bởi vì kiến thức không thể được truyền đạt trực tiếp tới sinh viên nên mục tiêu của việc dạy học nói chung, nghiên cứu khoa học trong sinh viên nói riêng là cung cấp những kinh nghiệm tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng kiến thức. Nếu như phương pháp giảng dạy truyền thống tập trung vào việc truyền đạt, cung cấp thông tin cho sinh viên thì tinh thần kiến tạo cho rằng những người dạy không thể trực tiếp truyền đạt thông tin này mà chỉ có trải nghiệm mới có thể tạo điều kiện cho sinh viên xây dựng kiến thức cho riêng mình cho nên mục tiêu của việc giảng dạy là thiết kế những trải nghiệm này. Các phân tích dưới đây góp phần làm rõ, đồng thời thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên theo tinh thần kiến tạo xoay quanh tinh thần kiến tạo trong nghiên cứu khoa học; Internet, chuyển đổi số góp phần kiến tạo hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên và tổ chức hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên theo tinh thần kiến tạo rằng việc giải quyết vấn đề là trọng tâm của học tập, tư duy và phát triển, khi sinh viên giải quyết vấn đề và ghi nhận thành quả, thông qua việc suy ngẫm về những kinh nghiệm trong quá khứ và
197 trước mắt - họ thì đó là quá trình xây dựng sự hiểu biết, học tập là một quá trình tích cực đòi hỏi sự thay đổi tích cực từ phía sinh viên. 1. Thuyết kiến tạo và quan niệm đúng về hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Tư duy Kiến tạo (Constructivism Theory) trong giáo dục hình thành và phát triển từ sự kết hợp giữa nhánh Triết học Nhận thức luận (Epistemology) xoay quanh các phạm trù logic của tri thức (knowledge) kết nối với các ý tưởng Tâm lý học giáo dục (Educational Psychology) mang tính đột phá nhằm thực hiện các ý tưởng cải cách giáo dục trước tiên ở Âu-Mỹ, sau là trên toàn thế giới. Lý thuyết này xem việc hình thành tri thức là một chủ thể tích cực tạo ra các cấu trúc nhận thức trong mối tương tác với môi trường được hợp thành từ ba nguồn ý tưởng sư phạm lớn là: Ý tưởng của nhà tâm lý học và cải cách giáo dục người Hoa Kỳ - John Dewey (1916) rằng giáo dục phụ thuộc vào hành động - kiến thức và ý tưởng chỉ xuất hiện từ tình huống mà người học phải rút ra những kinh nghiệm có ý nghĩa quan trọng đối với họ, suy nghĩ của sinh viên là giải quyết vấn đề thực tế, được tiến hành bằng cách thử nghiệm các giả thuyết, những trải nghiệm giải quyết vấn đề này xảy ra trong bối cảnh nhất định; Thuyết phát triển nhận thức (The theory of Genetic Epistemology) của nhà tâm lý học người Thụy Sĩ - Jean Piaget (1971) về mối quan hệ giữa trải nghiệm (experiences) và ý tưởng (ideas), theo Piaget (1971) thì sự phát triển trí tuệ con người tiến hành thông qua sự thích nghi (adaptation) và tổ chức (organization), thích
198 nghi là một quá trình đồng hóa và kết nối, trong đó các sự kiện bên ngoài được đồng hóa (assimilated) với sự hiểu biết hiện có, còn những sự kiện xa lạ không phù hợp với kiến thức hiện có được kết nối, đưa vào tâm trí, từ đó dẫn đến sự thay đổi (changing). Thuyết Văn hóa xã hội và Phát triển nhận thức (Lev Vygotsky's Sociocultural Theory of Cognitive Development) của nhà tâm lý học người Nga - Lev Vygotsky (1978) nhấn mạnh tầm quan trọng của việc học văn hóa xã hội, Vygotsky (1978) tin rằng mọi thứ đều được học ở hai cấp độ là thông qua tương tác (interaction) với những người khác và sau đó tích hợp (integrated) vào cấu trúc tinh thần của cá nhân, cách người học tương tác với những người có năng lực hơn để hình thành cấu trúc tinh thần thông qua vùng phát triển gần (Zone of Proximal Development - ZPD), tức khoảng cách giữa những gì người học có thể làm khi không được hỗ trợ và những gì họ có thể làm khi được hỗ trợ. Khuyến nghị là: Với tinh thần kiến tạo thì nghiên cứu khoa học là một hoạt động quan trọng của quá trình dạy và học, nó đặt sinh viên ở vị trí trung tâm, xem giải quyết vấn đề là trọng tâm của học tập, tư duy và phát triển, khi sinh viên giải quyết vấn đề và ghi nhận thành quả, thông qua việc suy ngẫm về những kinh nghiệm trong quá khứ và trước mắt - họ thì đó là quá trình xây dựng sự hiểu biết, nghiên cứu khoa học là một quá trình tích cực đòi hỏi sự thay đổi ở sinh viên, họ chỉ hiểu sâu sắc những gì chính họ đã xây dựng. Mục tiêu sư phạm của nghiên cứu khoa học theo lý thuyết kiến tạo theo đó có thể được tóm tắt gồm (1) cung cấp kinh nghiệm
199 về quá trình xây dựng kiến thức, SV xác định nó thông qua ý thức, kiến thức và mục tiêu nghiên cứu khoa học, (2) cung cấp kinh nghiệm và đánh giá đa chiều, đề cao sự sáng tạo, các sáng kiến, giải pháp từ sinh viên, (3) kết nối việc học vào bối cảnh thực tế, (4) lấy sinh viên làm trung tâm và (5) khuyến khích nhận thức về quá trình xây dựng tri thức và nghiên cứu khoa học. 2. Internet, chuyển đổi số góp phần kiến tạo hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên hiện nay Internet là một kho dữ liệu học thuật khổng lồ: Sự phát triển vượt bật của công nghệ thông tin và viễn thông, Internet toàn cầu đã làm thay đổi đáng kể diện mạo nền kinh tế xã hội của các quốc gia thông qua việc “xây dựng Chính phủ số, nền kinh tế số, xã hội số, đồng thời hình thành và phát triển các doanh nghiệp số, có năng lực toàn cầu hóa”. Đặc biệt internet đã khai sinh ra lĩnh vực kinh doanh điện tử gồm các quy trình kinh doanh kéo dài toàn bộ chuỗi giá trị từ mua hàng, quản lý chuỗi cung ứng, tiếp thị, bán hàng, dịch vụ khách hàng và mối quan hệ kinh doanh (electronic business, e-business), thương mại điện tử (electronic commerce) là một mắc xích quan trọng của e-business, đây là những hoạt động mua hoặc bán sản phẩm bằng phương pháp điện tử trên các dịch vụ trực tuyến hoặc qua Internet, các công nghệ như thương mại di động, thanh toán điện tử, quản lý chuỗi cung ứng, tiếp thị qua Internet, tất cả đã mang lại nhiều thay đổi trong tất cả các lĩnh vực đời sống con người. Số hóa (Digitization): còn được hiểu là số hóa thông tin, chỉ quá trình chuyển đổi thông tin sang định