The words you are searching are inside this book. To get more targeted content, please make full-text search by clicking here.

Nhà nước và pháp luật là hiện tượng xã hội vô cùng phức tạp, luôn biến động và có những thay đổi to lớn trong những năm gần đây. Nhận thức về nhà nước và pháp luật đóng vai trò rất quan trọng trong nhận thức của cán bộ và nhân dân về xã hội, chính trị, văn hóa. Nhận thức đó giúp cho việc tiếp cận và giải quyết một cách dùng đến các vấn đề thực tiễn về nhà nước và pháp luật.
Một trong những nội dung quan trọng của khoa học về nhà nước và pháp luật là Lịch sử nhà nước và pháp luật thể giới. Môn học này trình bày những vấn đề cơ bản về lịch sử nhà nước và pháp luật qua các thời kỳ: Chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư sản và xã hội chủ nghĩa.


Để đáp ứng nhu cầu đào tạo, học tập và tìm hiểu về nhà nước và pháp luật, Trường Đại học Luật Hà Nội xuất bản cuốn Giáo trình lịch sử nhà nước và pháp luật thể giới. Cuốn sách sẽ là tài liệu bổ ích đối với các sinh viên luật được đào tạo dưới những hình thức khác nhau; các cán bộ làm công tác pháp lí, công tác quản lí cũng như những ai muốn tìm hiểu một cách có hệ thống về nhà nước và pháp luật.
Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc.

Discover the best professional documents and content resources in AnyFlip Document Base.
Search

Giáo trình lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới

Nhà nước và pháp luật là hiện tượng xã hội vô cùng phức tạp, luôn biến động và có những thay đổi to lớn trong những năm gần đây. Nhận thức về nhà nước và pháp luật đóng vai trò rất quan trọng trong nhận thức của cán bộ và nhân dân về xã hội, chính trị, văn hóa. Nhận thức đó giúp cho việc tiếp cận và giải quyết một cách dùng đến các vấn đề thực tiễn về nhà nước và pháp luật.
Một trong những nội dung quan trọng của khoa học về nhà nước và pháp luật là Lịch sử nhà nước và pháp luật thể giới. Môn học này trình bày những vấn đề cơ bản về lịch sử nhà nước và pháp luật qua các thời kỳ: Chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư sản và xã hội chủ nghĩa.


Để đáp ứng nhu cầu đào tạo, học tập và tìm hiểu về nhà nước và pháp luật, Trường Đại học Luật Hà Nội xuất bản cuốn Giáo trình lịch sử nhà nước và pháp luật thể giới. Cuốn sách sẽ là tài liệu bổ ích đối với các sinh viên luật được đào tạo dưới những hình thức khác nhau; các cán bộ làm công tác pháp lí, công tác quản lí cũng như những ai muốn tìm hiểu một cách có hệ thống về nhà nước và pháp luật.
Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc.

và địa vị của họ được coi ngang với địa vị phụ nữ đã lấy chồng. Nô lệ được sử dụng trong sản xuất và xây dựng, nhưng chù yếu nhất là làm công việc phục dịch hầu hạ ờ cung đình và gia đình quý tộc. Như vậy, ở Ấn Độ, nô lệ không giữ vai trò quan trọng trong đời sóng kinh tế, chính trị, xã hội. Xét ở khía cạnh đó, quan hệ nô lệ An Độ phát triển một cách hạn chế và mang tính chất gia trưởng như nhiều nước Phương Đông khác. b. C hế độ đẳng cấp ở Ân Độ, sự phân chia xã hội được gọi là chế độ đẳng cấp hay chế độ Vác na (Trong tiếng Phạn, chữ “Vác na" nghĩa là màu sắc, thực chất). Chế độ Vácna có 4 đẳng cấp. Đẳng cấp Bàlamôn (Braman) là tăng lữ của đạo Bàlamôn. Đẳng ấp Ksatơria gồm vua quan và những người trong quân đội. Đẳng cấp Vaisia gồm những người làm nông nghiệp, buôn bán và làm một số nghề thủ công mà nghể đó được coi là cao quý. Đẳng ấp Suđra gồm những người cùng khổ nhất trong xã hội. Họ là con cháu của những bộ lạc bại trận, không có tư liệu sản xuất và ờ ngoài tổ chức công xã. Suđra không phải là nô lệ. Nô lộ không được xếp vào đẳng cấp nào cả. Chế độ Vácna ở An Độ là chế độ đẳng cấp điển hình trong lịch sử thế giới cổ đại. Chế độ này ra đời sớm, tồn tại bển vững trong chê độ nô lệ và cả chế độ phong kiến. Chế độ vácna có sự cách biệt và khác biệt lớn giữa các đảng cấp trong mọi lĩnh vực nghề nghiệp, địa vị xã hội, quan hệ hôn nhân và địa vị pháp lí. 54 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


Chế độ Vácna Ấn Độ không chỉ được điều chỉnh bàng phong tục tập quán, quy tắc đạo đức, mà còn được quy định đầy đủ, chi tiết chặt chẽ trong luật pháp. Nói một cách khác, đó là sự chế định hoá chế độ đảng ấp bằng pháp luật (Xem chi tiết chứng minh ở phần bộ luật Manu). c. Công xã nông thôn tồn tại lâu đài, vững chắc ỏ Ân Độ Nhìn chung, công xã nông thôn tồn tại lâu dài ở các nước phương Đông, trong đó, Ân Độ là nơi nó tồn tại lâu dài và vững chắc nhất trong suốt thời kì lịch sử cổ trung đại. Công xã nông thôn Ấn Độ điển hình ở các yếu tố cấu thành nên công xã. Đó là quyền sở hữu chung của cả công xã về ruộng đất, công xã là những đơn vị kinh tế mang tính chất tự túc, tự cấp hoàn toàn, có quyền tự quản vè chính trị trong quan hệ vối nhà nước và mang tính chất khép kín về quan hệ xã hội với bên ngoài. Công xã nông thôn Ân Độ còn điển hình ở chỗ nó có sự tác động tích cực và tiêu cực đối với đời sống kinh tế, chính trị, xã hội. Công xã là cơ sở vững chắc của Nhà nước quân chủ chuyên chế. Sự tồn tại vững chắc của công xã hạn chế sự phá sản của nông dân, đã phần nào hạn chế sự phát triển của quan hộ nô lệ và còn duy trì nhiều truyền thống dân chủ của thời kì công xã nguyên thủy. Nhưng mặt khác, do chứa đựng những yếu tố bảo thủ lạc hậu, ncn công xã đã kìm hãm sự phát triển của xã hội Ân Độ, không tạo điều kiện cho nền kinh tế hàng hoá nảy sinh và phát triển. Và nó còn duy trì, phát sinh những tập tục cổ hủ mê tín dị đoan. 55 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


II. PHÁP LUẬT - BỘ LUẬT MANU Bộ luật Manu là bộ luật hoàn chỉnh nhất trong các luật lệ cổ của ấn Độ. Theo truyền thuyết, bộ luật này là một tác phẩm chép lại những lời rãn dạy của Manu (ông tổ của loài người) nên bộ luật này có tên gọi là bộ luật Manu. Thực chất, đây là những luật lệ, tập quán pháp của giai cấp thống trị được các trường thần học Bàlamôn tập hợp lại và viết thành trường ca. Bộ luật gồm 12 chương, 2685 điểu. Nội dung bộ luật không chỉ là những quan hệ pháp luật, mà còn là những vấn đề khác như chính trị, tôn giáo, quan niệm về thế giới và vũ trụ... Nhưng xem xét trên phương diện pháp lí, ta có thể phân bộ luật Manu thành những chế định chủ yếu sau đây: l ế Chế định quyền sở hữu Nói đến quyền sở hữu trước hết phải nói đến quỹẻn sở hữu ruộng đất. Bộ luật Manu phần nào phản ánh một thực tế: ruộng đất ở Ân Độ thuộc quyền sở hữu tối cao của vua, công xã có quyền sở hữu thực tế ruộng đất của công xã. Điều 246 ghi rõ: vườn đất ao hồ của mỗi thành viên công xã không thổ bị tước đoạt tùy tiện bằng đe dọa hay vũ lực. Việc tùy tiện thay đổi giới hạn các mảnh đất do công xã phân chia đều bị nghiêm cấm. Vua là sở hữu các mảnh đất đó. Bộ luật thừa nhận có một sô' ruộng đất thuộc quyền sở hữu tư nhân và việc mua bán ruộng đất được công nhận nhưng chịu sự giám sát của Nhà nước. Điều 9 quy định: nếu người bán bất động sản nhận được số tiền nhiều hơn giá quy định, nhà nước sẽ thu hồi số dư đó. Quyền sở hữu đối với những đồ vật khác chỉ được thừa 56 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


nhận khi có chứng cứ cụ thể chỉ rõ nguồn gốc của nó là do mua bán, thừa kế, ban thưởng “Nếu chít sở hữu cho người khác sử dụng đồ vật của mình trong vòng 10 năm liền mà không đòi lại thì người chủ này sẽ không có quyền đòi lại đồ vật đó” (Điểu 147). 2. Chế định về hợp đồng Chế định về hợp đổng của bộ luật Manu có nhiều điểm tiến bộ. Một hợp đồng không có hiệu lực khi hợp đồng đó kí với người điên, người già yếu, người say rượu, người chưa đến tuổi thành niên, hoặc phải kí do áp lực hoặc sự lừa dối (các Điều 163, 165, 168). Hợp đồng phải bảo đảm tính công khai. Tất cả những hợp đồng kí kết bí mật đều là bất hợp pháp. Bộ luật đề cập nhiều đến hợp đồng vay mượn, cẩm cố, trong đó quy định mức lãi tối đa phải trả mỗi tháng có khác nhau, tùy theo từng đẳng cấp trong xã hội. Bàlamôn chỉ phải trả 2%, Ksatơria trả 3%; Vaisia trả 4% và Suđra trả 5%. Nếu con nợ không trả được nợ thì bị biến thành nô lệ để trừ nợ. Nếu con nợ có khả năng trả được nợ nhưng không chịu trả, khất lần, thì chủ nợ có quyền đánh đập, hành hạ con nợ cho đến khi đòi được nợ. 3. Chế định hôn nhân gia đình và thừa kế Bộ luật thừa nhận hôn nhân mang tính chất mua bán. Người vợ được người chồng mua về và tất cả của hồi môn của người vợ trở thành sờ hữu của chồng. Người phụ nữ phải chịu sự bảo hộ của người đàn ông. Lúc nhỏ. họ phục tùng cha. khi có chổng phục tùng chồng, nếu chồng chết, phải 57 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


phục tùng con. Người chổng dù tàn bạo. ngoại tình, người vợ không có quyền li dị. Ngược lại, người chồng có thể bỏ vợ nếu người vợ đó không có con, hoặc sinh toàn con gái. Chế định thừa kế quy định các con đều có quyền thừa kế của cải của người cha, con gái cũng có quyền thừa kế để làm cuả hổi môn (Điều 104). 4. Những chê định hình sự Những chế định hình sự được đề ra theo nguyên tắc: khoan dung với những kẻ chà đạp lên quyền lợi của kẻ dưới, trừng trị thảng tay đối với những người xâm phạm đến tính mạng, tài sản. danh dự của người có địa vị xã hội cao hơn. Về tội trộm cắp, luật quy định hình phạt rất nặng. Trộm cắp vào ban đêm hay khoét ngạch vào nhà bị chặt tay hoặc ngồi trên chiếc cọc nhọn (Điều 276), nếu phạm tội lần thứ 3 bị tử hình (Điều 227). Trộm cắp tài sản của nhà vua, của đền chùa bị tử hình mà không cần xét xử. Tội xâm phạm đến quyền lực nhà nước, như gây rối trong dân chúng, sẽ bị thiêu chết. Nhìn chung, các hình phạt trong bộ luật mang tính rất dã man, nhằm duy trì sự bất bình đẳng giữa các đẳng cấp trong xã hộiể 5. Những chê định tô tụng Theo luật, để đảm bảo đúng sự thực, xử án phải có bằng chứng (nhân chứng, vật chứng). Nhưng chứng cứ lại phụ thuộc vào đảng ấp, giới tính. Điều 68 nêu: người làm chứng phải cùng đẳng cấp và giới với bị can. Nếu số phiếu của các nhân chứng bằng nhau, thì người xét xử ưu tiên cho những chứng cứ có nội dung tốt. Khi có sự mâu thuẫn giữa các 58 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


chứng cứ, chứng cứ của đẳng cấp trên được xem là chứng cứ đúng. Qua các chế định của bỏ luật Manu, nội dung bao trùm và rõ nét nhất là sự phân biệt đảng cấp. Theo bộ luật, sự phàn chia đảng cấp do tạo hoá định sẩn. Thần Brama (Thần sáng tạo) sinh ra những tầng lớp người khác nhau. Có 4 tầng lớp là Bàlamôn sinh ra từ mồm, Ssatơria sinh ra từ tay; Vaisia sinh ra từ đùi; còn Suđra thì sinh ra từ bàn chân của Thần Brama. Sau khi sáng tạo ra 4 đẳng cấp đó, thần ra lệnh cho Bàlamôn giảng và nghiên cứu kinh Vêđa, nhận và phân phát của bố thí, phụ trách việc tế lễ. Ksatơria có trách nhiệm bảo vệ nhân dân trong vùng mình cai trị, phân phát của bố thí, cúng lễ và nghiên cứu kinh Vêđa. Vaisia có nhiệm vụ chăn nuôi gia súc, canh tác, buôn bán, cho vay lãi, phân phát của bố thí, cúng lễ và nghiên cứu kinh Véđa. Còn Suđra chỉ có nhiệm vụ là phục vụ các đẳng cấp trên. Bộ luật còn quy định chỉ nên kết hôn giữa những người cùng đẳng cấp. Tuy nhiên, đàn ông vẫn có thể lấy vợ ở đẳng cấp dưới. Trong 4 đẳng cấp ấy, Bàlamôn là đẳng cấp có địa vị hết sức đặc biệt, được coi là cao quý nhất. Nếu Suđra xúc phạm đến Bàlamôn thì sẽ bị cắt lưỡi, dùng đinh dài bằng 10 ngón tay, nung đỏ chọc vào miệng, hoặc rót dầu sôi vào miệng vào tai; nếu giết một người Bàlamôn thì bị xử tội rất nặng; nếu giết một người Ksatơria thì bị xử bằng 1/4 tội giết một người Bàlamôn; nếu giết chết một người Vaisia thì bị xử tội bằng 1/8 và nếu giết một người Suđra thì chì bị xử tội bằng 1/16 tội giết một người Bàlamôn mà thôi. Ngược lại, nếu Bàlamôn 59 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


phạm những tội ác dã man cũng không bị xử chết. Đẳng cấp Suđra hết sức thấp kém, bị xã hội khinh rê. Suđra không có quyền được tham gia hội nghị công xã, không được dự tế lễ; không được bê xác chết của Bàlamôn... Như vậy, có thể nói sự phân biệt đẳng cấp chính là sự phân biệt về quyền lợi, nghĩa vụ, phân biệt đối xử rạch ròi trong các giai tầng của xã hội Ân Độ cổ đại. Đây cũng là một hiện tượng đặc biệt của luật pháp An Độ cổ đại. Chế độ đẳng cấp này được duy trì cho đến tận thời kì cận đại, làm cho xã hội cổ, trung đại Ân Độ trì trệ, không phát triển được. D. NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI I. NHÀ NUỚC 1. Quá trình hình thành nhà nước Trung Quốc là một trong 4 trung tâm văn minh lớn của phương Đông cổ đại. Cũng như Ai Cập, Luỡng Hà và Ấn Độ, ở đây, có hai dòng sông lớn chảy qua - Hoàng Hà ở phía Bắc và Trường Giang ở phía Nam. Lịch sử cổ đại Trung quốc kéo dài gần 2000 năm (khoảng thế kỉ 21 trước công nguyên - nãm 221 TCN). Trong thời gian đó, lãnh thổ Trung Quốc từ lưu vực sông Hoàng đã dần dần được mở rộng. Nhưng đến cuối thời Chiến Quốc (thế kỉ 3 TCN), lãnh thổ Trung Quốc phía Bắc chưa vượt qua dãy Trường Thành, phía Tây mới đến miền Đông Nam tỉnh Cam Túc ngày nay, phía Nam chỉ bao gồm 1 dải đất nằm dọc theo 60 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


hữu ngạn Trường Giang mà thôi. Thời xưa, ở Trung Quốc, tên nước được gọi theo tên triều đại. Đồng thời người Trung Quốc cổ đại cho rằng, nước họ là quốc gia văn minh ở giữa, xung quanh là các tộc lạc hậu gọi là Man, Di, Nhung, Địch. Vì vậy, họ dùng chữ Trung Hoa hay chữ Trung Quốc để chỉ vùng lãnh thổ của họ, nhằm phân biệt với các vùng xung quanh, chứ chưa phải là tên nước. Đến mãi 1912, Triều Thanh bị lật đổ, tên nước Đại Thanh bị xoá bỏ, chữ Trung Hoa mới trở thành tên nước chính thức, thông thường người ta quen gọi là Trung Quốc. Vào khoảng thiên niên kỉ 3 trước công nguyên, cư dân lưu vực Hoàng Hà lần lượt chuyển sang chế độ công xã thị tộc phụ hệ. Theo truyền thuyết, ở đây có nhiều bộ lạc nổi tiếng như Hoàng đế, Thiếu Hiệu, Thái Hiệu, Đế Cốc, Đế Chí, Đường Nghiêu, Ngu Thuấn, Hạ Vũ... Qua quá trình đấu tranh và liên hiệp giữa các bộ lạc, cuối cùng, hình thành một liên minh bộ lạc lớn mạnh do Đường Nghiêu, Ngu Thuấn, Hạ Vũ kế tiếp nhau, được bầu làm thủ lĩnh Trong thời kì này, kinh tế phát triển rõ rệt. Công cụ lao động vẫn là đá, gỗ, xương, nhưng do đất đai lưu vực sông Hoàng Hà màu mỡ, tơi xốp, do các còng trình thủy lợi được xây dựng, nên nghề nông phát triển hơn trước nhiều. Đến thời Hạ Vũ, người Trung Quốc đã biết đến nghề làm đồ gồm, nghề đúc đồng (nhưng đồ đồng chưa được sử dụng nhiều trong đời sống). Do kinh tế phát triển, sự phân hoá tài sản, phân hoá xã hội đã diễn ra. Thời Hạ, tầng lớp quý tộc thị tộc đã chiếm dụng nhiều ruộng đất của công xã. Thế lực và uy quyền của 61 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


họ ngày càng lớn. Theo truyền thuyết, có lần Hạ Vũ họp các tù trưởng, có người đến chậm, liền bị Vũ chém chết. Hành động độc đoán đó, chưa từng có ở thời Nghiêu, Thuấn. Dần dần tầng lớp quý tộc thị tộc hình thành một giai cấp - giai cấp qúy tộc chủ nô. Sô' lượng nô lệ ngày càng nhiểu lên với nguồn chính là tù binh chiến tranh. Nông dân công xã vẫn là lực lượng xã hội đông đảo lúc bấy giờ. Thời Hạ Vũ, mặc dù trong xã hội đã diễn ra sự phân hoá, nhưng vẫn là thời kì dân chủ quân sự đang tan rã. Sau khi Vũ chết, các quý tộc thân cận nhà Hạ trong liên minh bộ lạc đã ủng hộ con của Vũ là Khải lên thay. Việc bầu thù lĩnh liên minh bộ lạc đến đây là chấm dứt. Từ đó về sau, việc cha chuyền con nối được coi là đương nhiên, hợp tập quán và đạo lí. Khải trở thành ông Vua có quyển hành rất lớn mà những người khác phải phục tùng. Sự kiện trên đánh dấu sự hình thành nhà nước ở Trung Quốc. 2. Lược sử các triều đại * Triều đại nhà Hạ (khoảng thế kỳ XXI TCN - thế kỷ XVI TCN) Sau khi trờ thành ông vua đầu tiên ở Trung Quốc, Hạ Khải đóng đô ở An Ấp (thuộc tình Sơn Tây ngày nay). Do nhà nước mới ra đời, nên triều Hạ còn nhiều tàn dư của tổ chức thị tộc, bộ lạc. Nhà Hạ trải qua 16 đời vua, đến đời vua cuối cùng là Kiệt - một bạo chúa nổi tiếng, do đó mâu thuẫn xã hội phát triển gay gắt làm cho nhà Hạ suy yếu. Tộc Thương ở vùng hạ lưu Hoàng Hà vừa mới lập nước đã tấn công thôn tính và nhà Hà diệt vong. 62 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


* Triều đại nhà Thương (thế kỷ XVI TCN - thế kị’ XI TCN) Sau khi tiêu diệt nhà Hạ, nhà Thương chính thức được thành lập, trải qua 30 đời vua. Lúc đầu nhà Thương đóng đô ỏ Bạc (Phía Nam Hoàng Hà, thuộc Hà Nam ngày nay). Đen thế kỉ XIV TCN, nhà Thương rời đô sang đất Ân (Phía Bắc Hoàng Hà, thuộc Hà Nam ngày nay) nên còn được gọi là nhà Ân. Cũng từ đó, nhà Thương phồn thịnh một thời gian dài. Trong xã hội Ân - Thương về mọi mặt đều có bước phát triển lớn so với nhà Hạ. Công cụ và đồ dùng bằng đồng thau được sử dụng phổ biến. Việc trao đổi và buôn bán khá phát triển. Quan hệ nô lệ đã phát triển, nhưng công việc chủ yếu cùa nô lệ chỉ phục dịch trong gia đình chủ nô mà thôi. Trụ là ông vua cuối cùng của nhà Thương, nổi tiếng tàn bạo trong lịch sử. Trụ dùng nhiều hình phạt tàn khốc để đàn áp nhân dân, gây chiến tranh với các bộ lạc xung quanh. Nhân đó, nhà Chu ở phía Tây, vốn là một nước phụ thuộc vào nhà Thương đem quân tấn công, nhà Thương diệt vong. * Triều đại Tây Chu (thế kỳXITCN-771 TCN) Sau khi đem quân diệt triều Thương, nhà Chu đóng đô ở Cảo Kinh (phía Tây lưu vực Hoàng Hà), nên thời kỳ nhà Chu đóng đô ở đây, gọi là Tây Chu. Các vua thời Tây Chu thường xưng Vương và đặt tên hiệu cho mình, ông vua sáng lập triều Tây Chu là Cơ Phát, tên hiệu là Vũ Vương. Triều Tây Chu trải qua 12 đời vua. Những chính sách nổi bật trong thời Tây Chu là thực hiện chế độ tông pháp và chế độ phân phong đất đai kèm theo ban tước cho quý tộc, công thần với quy mô rộng lớn. 63 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


Chế độ tông pháp quy định: ngôi vua (Thiên tử) đời đời truyền cho nhau, chi có con trai trường (tông tử) mới được thừa kế vương vị của thiên tử, là “đại tông” cùa vương thất nhà Cha Nhũng người con trai khác được phong làm chư hầu, đối với thiên từ họ lại trở thành “tiểu tông”. Mỗi đời chư hầu, cũng chỉ có con trai trưởng mới có thể kế thừa ngôi vị chư hầu, là “đại tông” cùa nước chư hầu. Còn những người con trai khác đuợe phong là Khanh, Đại phu - “tiểu tông” của nước chư hầu. Đền đời Khanh, Đại phu cũng phải do con trai trưởng kế thừa chức Khanh, Đại phu của cha mình. Những người con trai khác được phong là sĩ. Con trai trưởng cùa sĩ vẫn kế thừa chức vị của cha mình, nhưng các con trai còn lại trở thành dân thường. Chế độ tông pháp cha truyền con nối có vai trò quan trọng củng cố đặc quyền cùa quý tộc. Chế độ tông pháp đặt nền móng cho nhà Chu thực hiện chế độ phân phong đất đai và ban tước vị. Tất cả đất đai trong cả nước thuộc quyền sờ hữu tối cao cùa nhà vua. Vua giữ lại cho mình vùng đất xung quanh kinh đô gọi là Vương kỳ, còn lại đất đai trong cả nước, vua phân phong cho con cháu họ hàng, công thần. Khi phong đất còn kèm theo phong tước (tước vị bao gồm Ngũ tước theo thứ tự cao thấp là Công, Hầu, Bá, Tử, Nam). Nguyên tắc phong đất và ban tước của nhà Chu là căn cứ vào quan hệ huyết thống gần hay xa với vua hoặc công lao lớn hay nhò sẽ được được phong đất nhiều hay ít, gần hay xa và tước cao hay thấp. Những vùng đất phong trở thành các nuớc chư hâu của nhà Chu và những người được phong đất, ban tước trở thành “Vua chư hầu”. Ruộng đất trong Vuơng kỳ hoặc 64 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


trong từng nước chư hầu lại được đem phong cho các quan lại, quý tộc của triều đình hoặc của nước chư hầu để họ hưởng thuế, kèm theo là tước khanh, đại phu, sĩ. Đất phong và tước vị được truyền lại cho con cháu của họ. Giữa Thiên từ nhà Chu với "vua chư hầu”, vừa có mối quan hệ huyết thống, vừa có sự lệ thuộc. Đối với Chu vương, “Vua chư hầu” phải có nghĩa vụ hàng năm chầu cống và nghĩa vụ quân sự khi có chiến tranh. * Triều đại Đông Chu (770 TCN - 256 TCN) - Thời Xuân Thu-Chiến Quốc (770 TCN-221 TCN) Năm 770 TCN, nhà Chu dời đô về Lạc Ấp (ở phía Đông Hoàng Hà), nên thời kỳ này nhà Chu được gọi là Đông Chu. Triều đại Đông Chu trài qua 25 đời vua tồn tại đến 256 TCN thì bị nước Tần tiêu diệt. Triều đại Đông Chu còn được gọi là thời Xuân Thu-Chiến Quốc. Xuân Thu (770 TCN - 475 TCN) và Chiến Quốc (475 - 221 TCN). Thời Đông Chu là thời kì thể chế nhà Chu ngày càng suy yếu. Các nước chư hầu ngày càng lớn mạnh và gây ra các cuộc chiến tranh để giành quyền bá chủ Trung Quốc. Cuối thế ki VI TCN,. Trung Quốc có 5 nước lớn là Tề, Tấn, Sở, Ngô, Việt, còn gọi là cục diện “Ngũ bá”. Sang thời Chiến quốc có 7 nước lớn nhất tranh quyền tranh bá là Te, Sờ, Yên, Hàn, Triệu, Ngụy, Tần, còn gọi là cục diện “thất hùng”. Đây là thời kì chiến tranh triền miên, quy mô rộng lớn, tính chất ác liệt gấp nhiều lần so với thời Xuân Thu. Một hiện tượng nổi bật trong nhiều nước lúc bấy giờ là tiến hành cải cách về các mặt, trong đó, cuộc cải cách do Thương Ường đề xướng và thực hiện ở nước Tần (359TCN) là nổi 65 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


tiếng và mang lại hiệu quả nhất. Nội dung chủ yếu của cuộc cải cách này là tăng cường trật tự trị an, khuyến khích việc sàn xuất nông nghiệp, khuyến khích lập quân công, mộng đất được tự do mua bán, thống nhất đơn vị đo lường... Qua cuộc cải cách ờ nước Tần và các cuộc cải cách ờ nhiều nước khác, cơ sờ kinh tế và đặc quyền chính trị cùa tầng lớp quý tộc cũ dần dần bị phá vỡ, tầng lóp địa chủ mới từng buớc chiếm ưu thế về kinh tế và chính trị. Quan hệ sản xuất phong kiến bắt đầu được hình thành. Đồng thời, qua cải cách, nirớc Tần hùng mạnh hản lên, đánh bại được 6 nước và thống nhất Trung Quốc vào năm 221 TCN. Từ đây, Trung Quốc bước sang chế độ phong kiến. 3. Tổ chức bộ máy nhà nước Bộ máy nhà nước Trung Quốc cổ đại được xác lập và hoàn thiện từng bước qua các triều đại. Triều đại Hạ - Thương: bộ máy nhà nước còn đơn giản, mang đậm nét tàn dư của tổ chức thị tộc. Đen triều đại Tây Chu, bộ máy nhà nước được hoàn thiện cả về quy mô và cơ cấu tổ chức, tàn dư công xã thị tộc phai nhạt dần. Sang thời Xuân Thu - Chiến Quốc, tổ chức bộ máy nhà nước cùa các nước đã kế thừa và phát triển cách thức tổ chức bộ máy nhà nước cùa nhà Tây Chu. a. Ngôi vua Vua là người đứng đầu bộ máy nhà nước Trung Quốc cồ đại. Thời Hạ -Thương, Vua được gọi là Đế, đến thời Tây Chu, gọi là Vương. Thời Xuân Thu - Chiến Quốc, ở những nước chư hâu lớn, vua cũng tự xưng Vương. Vua là người nắm mọi 66 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


quyền lực nhà nước. Trên danh nghĩa, vua là chủ sở hữu tối cao đối với ruộng đất trong cả nước. Vì vậy, vua có quyền thu thuế ruộng đất trong cả nước và có quyền phân phong ruộng đất cho các quý tộc, quan lại. Tuy nhiên, người nhận đất phong không có quyền mua bán ruộng đất đó. Vua nắm cả quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Vua còn tự thần thánh hóa bản thân. Thời Hạ, vua Kiệt ví mình như mặt trời. Thời Thương trờ đi, vua tự xưng Thiên Tử, thay mặt trời cai tộ nhân dân. Vì vậy, sách Kinh Thi khái quát chung về quyền lực vô tận cùa các vị vua như sau: “Ở dưới gầm trời, đâu cũng là đất vua, khắp trên mặt đất, ai cũng dân vua b. Bộ máy chính quyền trung ương Thời Hạ -Thương bộ máy chính quyền còn đơn giản. Chức quan có địa vị lớn nhất là chức Vu sử, giúp vua quản lý chung công việc ờ triều đình và trông nom việc thờ cúng, xem bói. Ngoài ra, còn có một số chức quan quản lý những công việc cụ thể như: Mục chính (quản lý chăn nuôi), Xa Chính (quản lý xe), Bảo chính (quản lý việc tiến dâng thức ăn cho vua). Từ thòi Tây Chu, bộ máy chính quyền ở trung ucmg đi vào quy cù và phát triển nhất với cơ cấu Tam Công, Lục Khanh. Tam Công bao gồm ba chức quan: Thái Sư, Thái Phó, Thái Bảo (Sư là dạy bảo chỉ dẫn, Phó là thông hiểu đức nghĩa, Bảo là giữ gìn sức khoẻ), có chức năng như một ban cố vấn cao cấp của nhà vua Giúp việc cho tam Công có Thiếu Sư, Thiếu Phó, Thiếu Bảo. Lục Khanh (lục quan) là sáu chức quan trực tiếp quàn lý các lĩnh vực cụ thể gồm: 67 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


+ Thái tể (còn gọi là Thiên quan, Chủng tể ), đứng đầu lục khanh trông nom công việc cai trị trong nước. + Tư đồ (còn gọi là địa quan, giáo quan) trông coi công việc hành chính, dân sự, giáo dục. + Tông bá (còn gọi là Xuân quan), trông coi việc tế tự, lễ, nhạc. + Tư mã (còn gọi là Hạ quan, chinh quan), trông coi quân sự và chinh phạt. + Tư khấu (còn gọi là Thu quan, hình quan), trông coi hình pháp, ngục tụng. + Tư không (còn gọi là Đông quan, Công quan), trông coi đất đai trong nuớc, kiến thiết xây dựng. Giúp việc cho Lục khanh là các Tòng quan. Song song với Lục khanh còn có Thái sử liêu gồm Tả sử - ghi chép lời nói của vua; Hữu sử - ghi chép lại các sự kiện lớn của quốc gia. Thời Đông Chu (Xuân Thu - Chiến Quốc), tổ chức bộ máy chính quyền trung ương không có thay đổi nhiều so với thời Tây Chu. Còn bộ máy triều đình ở các nước chư hầu giống mô hình nhà Chư nhưng quy mô nhỏ hơn. ở thời Chiến Quốc, xuất hiện chức quan cao nhất trong bộ máy quan lại của các nước, với những tên gọi khác nhau tùy theo từng nước như: Lệnh doãn, Dại doãn, Thái tể, Tướng quốc, Thừa tướng. c. Khu vực hành chính và bộ máy chính quyển địa phương - Thời Hạ - Thương, việc phân chia khu vực hành chính mới đang trong quá trình hình thành dần dần. Đơn vị phân chia khu vực hành chính lúc đó gọi là “nước”, hoặc “phương quốc” (là các nước chư hầu ở 4 phương) hình thành trên cơ sở các bộ 68 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


lạc. Người đứng đầu có thể là tù trưởng bộ lạc trước đó. Sừ ký Tư Mã Thiên ghi ràng: “Đời Hạ có họ Tự với 10 nước, trong đó nổi tiếng nhất là nước Côn Ngô; “triều Thương phân phong cho con cháu, lấy tên nước làm họ”. Như vậy, "nước” hay “phương quốc” lúc đó thực chất là những vùng mang tính chất tiền thân cùa đơn vị hành chính nhà nước sau này. - Thời Tây Chu, phân chia khu vực hành chính mở rộng và hoàn thiện hơn so với Hạ - Thương. Xung quanh kinh đô Cảo Kinh thiết lập Lục toại - sáu khu quản lý hành chính. Quan đứng đầu Toại gọi là Toại sư, quản lý đất đai và dàn số ờ toại. Do nhà Chu thục hiện chính sách phân phong, nên đã thiết lập một cấp hành chính địa phương trực tiếp cùa triều đình là các nước chư hầu. Bộ máy chính quyền của chư hầu là hình ảnh thu nhỏ của chính quyền trung ương. Đứng đầu nước chư hầu là Vua chư hầu, được cha truyền con nối. Vua chư hầu có quyền lập ra bộ máy chính quyền của mình theo mô hình của nhà Chu nhưng với quy mô nhỏ hơn và toàn quyền cai trị vùng đất mình được phong nhưng phải phục tùng Thiên Tử. Quan hệ cơ bản giữa vua chư hầu và vua Chu là Triều cống và Tuần thú. Đó là theo định kỳ hoặc đột xuất, vua chư hầu về triều đình yết kiến Thiên tù và nộp cống cho vua Chu các sản vật cùa địa phương. Còn Thiên tử nhà Chu thường đi tuần thú các nước chư hầu để nắm tình hình địa phương. Chư hầu nào không thực hiện việc triều cống hoặc nghĩa vụ quân sự sẽ bị xử phạt như: quờ trách, hạ tước vị, thu hồi đất đai V.V.. Thời Xuân Thu - Chiến Quốc, chiến tranh giữa các nước đã khiến cho các nước chư hầu trở thành các quốc gia độc lập với nhà Chu và vì thế, bộ máy chính quyền địa phương chư 69 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


hầu trở thành bộ máy chính quyền trung ương của một nước. Nước Tần là một trong số các nước cải cách lại khu vực hành chính, chia cả nước thành các quận, huyện. Đây chính là cơ sở cho việc thiết lập chế độ quân huyện của triều đại phong kiến Tần sau này. Chính quyền cấp cơ sở: Thời Hạ - Thương, đom vị hành chính cơ sở là công xã nông thôn (thôn), do Tộc trưởng (Thôn trưởng) đứng đầu. Thôn trưởng do công xã bầu ra, quản lý công việc chung của công xã và đại diện công xã trong quan hệ với chính quyền cấp trên. Thời Tây Chu, thôn trường vẫn do công xã bầu ra, nhưng phải được chính quyền cấp trẽn phê chuẩn. Thời Xuân Thu - CHiến Quốc, chính quyền cấp cơ sở có những thay đổi quan trọng. Chẳng hạn, nước Tần cấp cơ sở là xã. Một xã gồm một thôn hoặc vài công xã hợp lại. Viên quan đứng đầu xã là do chính quyền cấp trên bổ nhiệm. v ề quân đội: giai cấp thống trị Trung Quốc rất chủ ý đến xây dựng lực lượng quân đội. Ngay từ đời Thương, quân đội nhà vua được chia làm 3 sư là: hữu, trung, tả. Ngoài quân đội cùa trung ương, quý tộc địa phương và các chứ hầu cũng có lực lượng vũ trang riêng. Thời Xuân Thu - Chiến Quốc là thời kì các nước tranh hầu, tranh bá nên quân đội ngày càng tăng về số lượng và chất lượng. Như vậy, ở bất cứ triều đại nào, tố chức bộ máy nhà nước Trung Quốc cổ đại đều thể hiện là chính thể quân chủ quý tộc. Chính thể nhà nước đó tồn tại và phát triển dựa trên những cơ sở kinh tế, chính trị, xã hội sau: - về kinh tế: hầu hết ruộng đất trong cả nước thuộc quyền sở hữu tối cao của Vua. Tổ chức công xã nông thôn tồn tại bền 70 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


vững. Công xã vừa là đơn vị ban cấp (vua phân phong ruộng đất ờ công xã cho quý tộc, công thần), vừa là cơ sờ vật chất của nhà nước quân chù (Nhà nước bóc lột nông dân công xã bàng các hình thức tô thuế, lao dịch, binh dịch). - về chính trị-x ã hội: hệ thống quan lại được hình thành theo chế độ tông pháp cha truyền con nối. Hầu hết các chức vụ quan trọng từ trung ương đến địa phương đều do họ hàng nhà vua nám giữ. Tirớc vị cao hay thấp của quý tộc, quan lại căn cứ vào quan hệ huyết thống gần hay xa với vua. Có thể nói, hệ thống chính quyền và hệ thống gia tộc là một. Đây chính là cơ sở quy định điểm đặc biệt của nhà nước Trung Quốc cổ đại - nhà nước quân chủ quý tộc (chủ nô). II. PHÁP LUẬT 1. Pháp luật ở Trung Quốc, cho đến nay vẫn chưa tìm thấy một bộ luật cổ nào. Pháp luật được phản ánh gián tiếp và ít ỏi trong sử sách cổ Trung Hoa. + Thời Hạ, đã có pháp luật, được gọi chung là Vũ hình. Sách tả truyện có ghi: “Nhà Hạ chính trị rối loạn nên mới có hỉnh luật vua Vũ”.(l) Cũng theo sách Thượng Thư, nhà Hạ bất đầu định ra hình phạt gọi là ngũ hình, là loại hình phạt bắt chước theo nhục hình vốn có của tộc Miêu, khi nhà Hạ diệt một bộ lạc khác sau Miêu đề thống trị, bèn dùng theo nhục hình sẵn có cùa người Miêu. + Thời Thương, pháp luật được chế định trên cơ sở pháp (1). Dần theo Đàm Gia Kiện (chù biên), Lịch sừ văn hóa Trung Quốc, Nxb KHXH, Hà N ội, 1993, trang 45. 71 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


luật nhà Hạ. Sách Luận ngữ ghi: “Đời Ân dựa theo lễ nhà Hạ, phần thêm bớt có thể biết được” và “nhà Thương rối loạn chính sự nên mới đặt ra hình luật cùa vua Thang”.1 v ề hình phạt, Ngũ hình nhà Thương gồm 5 loại hình phạt chủ yếu là: Mặc: Thích chữ vào trán rồi bôi mực Tị: Xẻo mũi Phị: Chặt chân hoặc tróc bô xương bánh chè Cung: Nam giới bị cắt ngoại thận (thiến), nữ giới bị nhốt trong buồng kín Đại Tịch: Từ hình. Tử hình có nhiều hình thức như: chém đầu, chém ngang lưng, thiêu đốt, róc thịt, khoét thịt, v.v... + Thời Tây Chu: chính sách pháp luật nổi bật là trong khi hoàn thiện các quy định cùa pháp luật thì đồng thời thực hành lễ trị. Lễ bắt nguồn từ tập quán tế tự của xã hội nguyên thủy, đến xã hội có nhà nước, lễ phát triển thành chuẩn mực hành vi điều chỉnh mối quan hệ giữa người với người, giữa kẻ dưới vói người bề trên. Lễ nhà Tây Chu do Chu Công Đán (em Chu Vũ Vương) chế định trong khi quy định việc xây dựng nhà nước nhà Chu. Nội dung cùa lễ bao gồm các chế độ luật lệ, quy phạm hành vi và nghi thức lễ tiết của các mặt chính trị, kinh tế, quân sự, pháp luật, hôn nhân gia đình, đạo đức, luân lý, phong tục tập quán... Nguyên tắc cơ bàn cùa lễ là “thân thân, tôn tôn” (thân với người thân, tôn với người tôn quý). Mục đích cùa lễ nhằm “kinh lý quốc gia, ổn định xã tắc, đưa nhân dân vào vòng trật (1). Sđd, trang 45. 72 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


tự, làm lợi cho việc nối dõi về sau”.(l> Nhu vậy, lễ là sự thể hiện danh phận của các đẳng cấp trong giai cấp thống trị nhà Chu, là phản ảnh sự kết hợp quan hệ tông pháp và tổ chức chính quyền nhà nước. Hình là hình phạt (pháp luật). Xét về mặt hình thức, cả lễ và hình đều là những quy phạm xã hội điều chinh hành vi xừ sự cùa con người. Xét về mối quan hệ và vai trò của chúng thì lễ là mục tiêu, còn hình là biện pháp để duy trì việc thực hiện lễ. Hình trừng trị những cái gi mà lễ không cho phép, tức là bị Pháp cấm đoán. Rút kinh nghiệm sự thất bại của nhà Thương do vua Trụ dùng hình phạt quá tàn bạo nên nhà Chu đã đề ra nguyên tắc: “Minh đức thân phạt” (làm sáng tỏ đức, thận trọng khi dùng hình phạt). Hệ thống hình phạt cúa nhà Tây Chu kế thừa Ngũ hình nhà Thương và bổ sung thêm bốn hình phạt nữa nên gọi là “Cừu hình” (9 loại hình phạt). Bốn hình phạt bổ sung là: tiên (đánh bằng roi), phốc (đánh giữa chợ), lưu (đi đày) và thục (chuộc tội). Đến vương triều thứ năm là Chu Mục Vương, đặt ra Lữ hình (Lữ hình là do quan tư khấu Lữ Hầu (Lã Hầu) nhận lệnh Chu Mục Vương tham khảo pháp luật các triều đại trước để biên soạn). Lữ hình là Cửu hình được bồ sung và sừa đổi, thể hiện tư tường pháp luật “Minh đức thận phạt”. Đó là giảm thiểu nhũng điều khoản hình phạt nặng; mờ rộng phạm vi của Thục hình, người bị tuyên phạt hình có liên quan đến Ngũ hình, được phép dùng tiền chuộc để miễn hình phạt, số lượng tiền chuộc có quy định cụ thề. Đối tượng cùa việc chuộc tiền (1). Sdd, tr 48. 73 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


miễn tội hình hạn chế ở tội đang còn hiềm nghi. Mặt khác, khi định tội. lượng hình cần phải phân biệt lầm lỡ với cố ý, phạm tội nhất thời với tái phạm nhiều lần. Tội tuy nhó nhưng cố ý hoặc tái phạm thì nghiêm trị, tội lớn nhưng do lầm lỡ hoặc nhất thời thì có thế xử nhẹ. về tố tụng, Lữ hình còn quy định “Ngũ thính" nhằm phòng ngừa quan lại xử án lạm dụng pháp luật, “Ngũ thích” gồm: Xét xử phải dùng chứng cứ; quan sát sẳc mặt để phân biệt khẩu cung thật hay giả; giám sát quan tòa xét án; các vụ trọng án phài do Chư vương xét hỏi; quan xừ án nếu sợ quyền thế. đền ơn trà oán, ăn hối lộ, nhận nhờ vả thì cũng tội như kè phạm tội. + Thời Xuân Thu - Chiến Quốc chế dộ tư hữu và nền kinh tế hàng hóa ngày càng phát trien, các nước tiến hành cải cách theo đường lối Pháp trị, pháp luật đã có sự phát triển vượt bậc về số lượng, lĩnh vực điều chỉnh và đẩy mạnh về pháp điển. Năm 536 TCN, nước Trịnh soạn ra “Hình thư” và khắc lên đỉnh (đỉnh đúc bằng sắt). Đây là sự mở đầu việc công bố pháp luật thành văn mà chúng ta được biết qua sử sách. Thời Chiến Quốc, để tranh thủ sự ủng hộ cùa tầng lớp địa chủ mới xuất hiện, các nước ban hành một loạt các bộ luật như: nước Hàn có “Hình phù”, nước Sở có “Hiến lệnh”; nước Tề có “Thất pháp”, nước Việt có “Quốc luật”. Sau đó, quan Tư khấu cùa nước Hàn là Lí Khôi, tổng hợp kinh nghiệm lập pháp cùa các nước soạn ra bộ “Pháp kinh”. Pháp kinh đã thất truyền, nhưng theo sử sách thì đây là bộ luật hoàn chỉnh và nổi tiếng cùa TRung Quốc cổ đại. Nội dung cúa nó gồm 6 chương: - Đạo pháp: Quy định về tội trộm cướp - Tặc pháp: Quy định các tội làm giặc 74 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


- Tư pháp: Quy định thủ tục xét xử - Bố pháp: Quy định về việc bắt bớ giam cầm - Tạp pháp: Quy định về một số tội khác. - Bối pháp: Quy định về những nguyên tắc chung. Pháp kinh là công cụ bảo vệ chính quyền chuyên chế. Theo Pháp kinh, phàm những hành vi xâm phạm đến sự tôn nghiêm của quân vương và nguy hại đến chính quyền quân chủ (trộm cướp ấn dấu của triều đình, vượt thành trì, nhóm họp bè đảng...) đều bị coi là trọng tội. Không chì người phạm tội bị xử mà còn tru di cả họ. Pháp kinh còn bảo vệ quyền tư hữu. Kẻ nào ngoài đường nhặt được của rơi không trả lại người mất (mà bị bắt gặp) thì sẽ bị chặt chân. Tội trộm cướp nhẹ thì đày đi biên cương lao dịch khổ sai, nặng thỉ xử tử. Thậm chí mới có ý định trộm cướp cũng sẽ bị phạt nặng. Pháp kinh có ảnh hưởng lớn đến pháp luật nước Tần sau khi thống nhất Trung Quốc. 2. Một số học thuyết chính trị - pháp lý ở Trung Quốc cổ đại đã sớm xuất hiện và phát triển nhiều tư tưởng chính trị - pháp lý mà bản thân chúng vẫn còn giá trị đến ngày nay. Đặc biệt thời Xuân Thu - Chiến Quốc là thời kì xuất hiện nhiều yếu tố mới trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội, đưa đến sự ra đời cùa nhiều trường phái tư tường khác nhau. Trong đó, đáng chú ý nhất là Nho gia và Pháp gia. Nho gia là trường phái do Khổng Từ (551 - 479 TCN) sáng lập, được Mạnh Tử (372 - 289 TCN) và Đổng Trọng Thư (179 - 117 TCN) phát triển và hoàn thiện. về đường lối cai trị. Khổng Từ chủ trương Đức trị (dùng đạo đức để cai trị), phủ nhận ý nghĩa của luật pháp, ỏng cho 75 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


rằng: “Cai trị dân mà dùng mệnh lệnh, đưa dân vào khuôn phép mà dùng hình phạt thì dân có thể tránh được tội lỗi nhưng không biết liêm si. Cai trị dân mà dùng đạo đúc đưa dân vào khuôn phép mà dùng lễ thì dân biết liêm sỉ và thực lòng quy phục”. Trong bối cành thời Xuân Thu - Chiến Quốc, khi thế lực nhà Chu bị suy yếu, chiến tranh triền miên giữa các nước chư hầu, trật tự kì cương xã hội, đạo đức bị suy thoái thì không thể thiên về thực hiện đức trị mà phải dùng pháp luật để cai trị. Do đó, học thuyết của Khổng Tử không đuợc giai cấp thống trị đương thời áp dụng. Pháp gia là trường phái tu tường chủ trucmg Pháp trị (dùng pháp luật để cai trị), để củng cố quyền lực của chính quyền trung ương, thiết lập chế độ tập quyền chuyên chế. Đại biểu nổi tiếng nhất thời Xuân Thu là Quản Trọng. Đen thời Chiến Quốc, số nguời thuộc phái này ngày càng nhiều như: Thương Ưômg, Thân Bất Hại, Thận Đáo... Tuy nhiên, người có nhiều đóng góp nhất cho phái này là Hàn Phi. Hàn Phi (khoảng 280 - 230 TCN) là công tử nước Hàn. Theo ông, các nhà Nho dùng văn chương làm cho pháp luật hỗn loạn, nên phải “đốt Kinh thi, Kinh thư, mà sáng tỏ pháp luật”. Vì vậy, bổn phận của nhà vua không phải là chú trọng đến đạo tu thân mà cốt ở ấn định pháp luật cho minh bạch và ban bố cho mọi người đều biết mà tuân theo. Khi pháp luật được định rõ, các quan không dám xử kiện trái với pháp luật, còn nhân dân do biết luật không dám làm điều phạm pháp. Theo Hàn Phi, sở dĩ dùng pháp luật, mệnh lệnh, hình phạt để cai trị là phương pháp có hiệu quả nhất vì “dân vốn nhờn với lòng thương và chì tuân theo uy lực”. Như vậy, nhà nước rất 76 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


cần tới pháp luật vi pháp luật là công cụ để điều chình xã hội. Không chi đề cao ý nghĩa của pháp luật, Hàn Phi còn cho rằng mọi người phải được bình đẳng trước pháp luật: “Pháp luật không a dua quý tộc, pháp luật đã đặt ra thì người có tiền cũng không từ được, người dũng cũng không tránh được. Hình phạt không tránh quan đại thần, khen thưởng không bỏ rơi kẻ thường dân”. Nội dung của thuyết Pháp trị gồm 3 yếu tố: Pháp, Thế, Thuật. - Pháp: là pháp luật, mệnh lệnh, chiếu chỉ, xuất phát từ ý chí cùa nhà vua để thần dân tuân thủ. Mục đích của pháp luật là để trừng trị, răn đe cho dân sợ. Hàn Phi viết: “Trong một nước do một ông vua sang suốt cai trị, lời nói của vua không hàm hồ, pháp luật không thể giài thích theo hai loi khác nhau. Vĩ vậy, mọi lời nói và hành vi của dân nếu không đúng pháp luật đểu bị nghiêm cấm ”ẵ - Thế: muốn Pháp được thi hành, vua phải có thế, tức là phải có đầy đù uy quyền “Kiệt làm thiên tử, chế ngự được thiên hạ, không phải vì có tài đức mà vì thế trọng”(Hàn Phi). - Thuật: muốn cai trị được tốt, ngoài Pháp và Thế còn phải chú ý đến Thuật, là phương pháp điều hành, nghệ thuật quản lý con người. Thuật bao gồm ba mặt: bổ nhiệm, khảo hạch và thường phạt. Thuật bổ nhiệm là khi đề bạt quan lại chỉ căn cứ vào tài năng, chứ không cần kể đến dòng dõi. Đồng thời phải xuất phát từ yêu cầu cùa công việc để đặt chức quan. Chức quan nào không cần thiết thì bãi bỏ. Thuật khảo hạch và thuật thưởng phạt là căn cứ vào trách nhiệm để kiểm tra hiệu quả công việc, làm tốt thi thường, làm không tốt thì phái chịu phạt, kể cả xử từ. Phương pháp thường phạt có hiệu quả là “Nếu 77 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


thưởng thi không gỉ bằng và giữ đúng lời hứa để cho dân thích, nếu phạt thì không gi bằng nặng và nghiêm để cho dân sợ” (Hàn Phi) Với ba yếu tố: pháp, thế, thuật, vua có thể trờ thành một kẻ chuyên quyền, độc đoán, chi dùng hình phạt nghiêm khắc nặng nề để trị nước chứ không cần nhân nghĩa, không cần hâm mộ, trung tín. Như vậy, với việc đề ra đường lối cai trị bàng pháp luật, thuyết Pháp trị của phái Pháp gia đã đáp ứng được yêu cầu cùa xã hội đuơng thời là làm cho vương triều vũng mạnh, đất nước phát triển ổn định mọi mặt. Thuyết Pháp trị đã được áp dụng ờ một số nước lúc bấy giờ nhưng thành công nhất là nước Tần. Sau khi thống nhất Trung Quốc, nhà Tần tiếp tục cải cách đất nuớc theo đường loi của thuyết Pháp trị. 78 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


CHUÔNG II NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT PHƯƠNG TÂY CỔ ĐẠI ở phương Tây, khoảng thiên niên kỉ thứ IITCN, trên đảo Crét và vùng Mixen của bán đảo Hy Lạp đã xuất hiện những nhà nước và sau đó chúng bị tiêu diệt. Đến thế kỉ VIII - VI TCN, một sô' nhà nước lại được hình thành ở các thành bang Hy Lạp và ở La Mã. Trong tác phẩm "Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước", sự ra đời của các nhà nước ở Hy Lạp, La Mã cổ đại (và nhà nước của người Giéc manh sau này) được FắEngen miêu tả và đúc kết thành lí luận của phạm trà "nguồn gốc nhà nước". Hy Lạp, La Mã là nền văn minh lớn và phát triển nhất của thế giới cổ đại. A. HY LẠP CỒ ĐẠI Lãnh thổ của các quốc gia chiếm hữu nô lệ ở Hy Lạp cổ đại gồm lục địa Hy Lạp ngày này cùng các đảo thuộc biển Êgiê và vùng Tày Tiểu Á. Với giao thông biển thuận lợi, Hy Lạp đã sớm tiếp xúc với nền văn minh phương Đông. 79 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


I. NHŨNG NHÀ NUỚC TÔÌ c ổ . KHÁI QUÁT CHUNG LỊCH SỬ CÁC NHÀ NUỚC CỦA NHŨNG Q uốc GIA - THÀNH BANG SAU ĐÓ 1. Những nhà nước tối cổ ở Crét và Mi xen Qua hai tập sử thi "I li át" và "Ô đi xê" cùng các hiện vật của khảo cổ học, các nhà khoa học đã chứng minh được rẳng, ở thiên niên kỉ II TCN từng tồn tại nển văn hoá đồng thau Crét - Mi xen. Cư dân Crét giỏi nghề dệt, chăn nuôi, trồng trọt và buôn bán với Ai Cập, Tiểu Á. Do đó, sự phân hoá giai cấp diễn ra ngày càng sâu sắc. Đến đầu thiên niên kỉ II TCN, một số quốc gia chiếm hữu nổ lệ được hình thành và tồn tại độc lập với nhau. Đến giữa thiên niên kỉ đó, những tiểu quốc này được hợp nhất thành một nhà nước vói hình thức quân chủ chuyên chế như nhiều nước ở phương Đông. Ở Mi xen, sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế cũng dần dần phá vỡ trật tự của công xã nguyên thủy. Đến khoảng thế kỉ XVII TCN, một số nhà nước cũng được hình thành và cùng tồn tại khoảng 500 năm. Đó là các vương quốc quân chủ chuyên chế. Nhiều cuộc chiến tranh đã nổ ra giữa các vương quốc, như cuộc chiến tranh Tơ roa. Quan hệ chiếm hữu nô lệ ở Crét và Mi xen chưa phát triển lắm. Nô lệ chủ yếu được dùng vào việc hầu hạ chủ. Vào thế kỉ XII TCN, các nhà nước ở Crét và Mi xen đểu bị người Đô riêng chinh phục và tiêu diệt. Ở Hy lạp, hình thái công xã nguyên thủy được tái lập. 80 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


2. Khái quát chung về quá trình hình thành, phát triển và suy vong của các nhà nước ở các quốc gia - thành bang a. Sự hình thành nhà nước Quá trình hình thành các nhà nước thành bang trải qua hai giai đoạn. ■ Giai đoạn đáu (thế kỉ XI - IX TCN) cũng được phản ánh trong hai tập sử thi "7//ế át" và "ô đi xè" mà tương truyền tác giả là Hô - me, nên giai đoạn này thường được gọi là thời Hôme. Sau khi các quốc gia tối cổ bị hủy diệt, ở Hy Lạp tái lập hình thái công xã nguyên thủy, nhưng bắt đầu tan rã. Công cụ bằng sắt xuất hiện và được sử dụng rộng rãi, tạo cho kinh tế bước phát triển mới và nảy sinh sự phân hoá xã hội. Trong công xã vai trò của hội nghị nhân dân giảm sút rất nhiều, những công việc quan trọng hầu như do các quý tộc thị tộc quyết định. Thủ lĩnh quân sự vừa là kẻ chỉ huy lực lượng vũ trang, vừa là người xử án và phụ trách việc tế lễ. Đây chính là một tổ chức dân chủ quân sự điển hình trong lịch sử chế độ công xã nguyên thủy thế giới. Có thể nói thời Hô Me là giai đoạn chuẩn bị và chuyển tiếp từ chế độ công xã nguyên thủ sang xã hội có giai cấp và nhà nước. - Giai đoạn thứ hai (thế kỉ VIII - VI TCN) là giai đoạn xuất hiện giai cấp và nhà nước. Trong giai đoạn này, cơ sở kinh tế tiếp tục được phát triển và đưa đến hai hệ quả: Hệ qủa thứ nhất, nếu như ở thời Hô me có sự phân hoá xã hội thành các tầng lớp, thì ở giai đoạn thế kỉ VIII - VI TCN, xã hội hình thành ba giai cấp: chủ nô, nô lệ, nông dân và thợ thủ công. Trong đó chủ nô, nô lệ là hai giai cấp đặc trưng của chế độ nô lệ. Trong giai cấp chủ nô, bên cạnh tầng lớp chủ 81 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


nô quý tộc, có tầng lớp chú nô mới, không phải là quý tộc thị tộc. Đó là các chủ xưởng, chủ thuyền, thương nhân giầu có về kinh tế và khá đông đảo về số lượng. Hệ quả thứ hai, là sự hình thành các thành bang. Hy Lạp cổ đại có địa hình tự nhiên khá đặc biệt, có nhiều thung lũng hẹp, giao thông với nhau rất khó khăn. Các thành bang dần dần hình thành ở những thung lũng đó. Người dân coi thành bang như tổ quốc của mình. Thông thường hạt nhân của thành bang là một thành phố, bao quanh thành phố ià những cánh đồng. Diện tích của từng thành bang không lớn lắm từ 800 - 8000 km2, dân sô' cũng chỉ từ vài ngàn đến vài chục ngàn người. Các thành bang là những trung tâm kinh tế, chính trị, tôn giáo của Hy Lạp. Có thành bang chuyên sản xuất nông nghiệp. Có thành bang công thương nghiệp rất phát triển. Đa sô' các thành bang vừa có sản xuất nông nghiệp vừa có công thương nghiệp phát triển. Cả Hy Lạp có hàng chục thành bang, độc lập về chính trị với nhau. Mỗi thành bang đều có chính quyền riêng, lực lượng vũ trang riêng là luật lệ riêng. Như vậy, các thành bang đã trở thành những quốc gia - nhà nước theo đầy đù nghĩa của nó. Hình thức tổ chức nhà nước của từng quốc gia - thành bang không giống nhau, là cộng hoà quý tộc chủ nô hoặc là cộng hoà dàn chủ chủ nô. Và lịch sử nhà nước cổ đại ở Hy Lạp là lịch sử của những quốc gia thành bang ấy. b. Thời kì phát triển và phồn thịnh của nhà nước (trước th ế k lỉV T C N ) Sau khi các nhà nước thành bang được hình thành, trong suốt mấy thế kỉ, người Hy Lạp đua nhau đi chiếm hữu vùng đất mới ở ven biển Bắc Phi và vành đai quanh Hắc Hải, v.v. 82 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


Người Hy Lạp lập những thành bang ở những vùng đất mà họ chiếm được. Vào nửa đầu thế kỉ V TCN, đến lượt mình, các thành bang ở Hy lạp phải liên hợp với nhau chống lại cuộc chiến tranh xâm lược cúa đế quốc Ba Tư (V và giành được tháng lợi. Trước và sau cuộc chiến tranh chống Ba Tư đó, giữa các thành bang ở Hy Lạp thường diễn ra các cuộc chiến tranh với nhau, tiêu biểu là cuộc chiến tranh giữa những người Xpác cùng đổng minh với Aten và đổng minh của họ (431 - 404 TCN). Thắng lợi to lớn của người Hy Lạp đối với đế quốc Ba Tư, đã kích thích sự phát triển của các ngành kinh tế Hy Lạp. Quan hệ nô lệ phát triển đến tột đỉnh. Nô lệ được sử dụng rộng rãi trong mọi ngành kinh tế, nông nghiệp, công thương nghiệp. Nô lệ trở thành lực lượng sản xuất chủ yếu trong xã hội. Quan hệ nô lệ ở Hy Lạp trở thành quan hệ nô lệ điển hình trong lịch sử thế giới cổ đại. c. Thă kì suy vong và sụp đổ của nhà nước ( thế Id IV -IITCN) Từ thế kỉ IV TCN, các thành bang Hy Lạp lâm vào cuộc khủng hoảng và ngày càng trở nên trầm trọng. Từ giữa thế kỉ IV trước công nguyên, Hy Lạp bị đế quốc Ma xê đoan<2) tấn công và thống trị (mặc dù các thành bang Hy Lạp vẫn được mang hình thức độc lập). Trong các thành bang Hy Lạp, một sô' chủ nô càng trở nên giầu có. Ngược lại, hàng loạt người tự (1). Đ ế quốc Ba Tư dược hình thành từ Iran và bành trướng rất mạnh ra bên ngoài từ nửa cuối thế kì VI trước công nguyên, Ba Tư là một đ í quốc hùng mạnh, nổi tiếng trong lịch sứ thế giới cổ đại (2). Ma xê đoan nằm ở vùng đông bắc bán đảo Ban Câng là một quốc gia chiếm hữu nô lệ hình thành và phát triển sau các thành bang Hy Lạp. Đ ế quốc Ma xê đoan cũng là một đ ế quốc nổi tiếng trong lịch sử thê' giới cổ đại. 83 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


do (chủ yếu là nông dân, thợ thủ công) bị phá sản. Tầng lớp vô sản lưu manh ngày càng đông đảo. Mâu thuẫn giai cấp rất gay gắt. Các cuộc đấu tranh của nô lệ và dân nghèo diễn ra ngày càng quyết liệt. Thể chế dân chủ chủ nô mất dần vai trò của nó. Quan hệ bóc lột nô lệ trỏ nên lỗi thời, kìm hãm sự phát triển của xã hội. Từ thế kỉ III TCN, mầm mống quan hê sảr xuất phong kiến bắt đầu nảy sinh. Đến giữa thế kỉ n TCN, toàn bộ Hy Lạp bị rơi vào ách thống trị của La Mã một đế quốc chiếm hữu Ĩ1Ô lệ còn đang trên đà phát triển. Trong bức tranh toàn cảnh các nhà nước thành bang ở Hy Lạp, nổi lên hai thành bang lớn và tiêu biểu nhất, là Xpác và Aten. n. NHÀ NUỚC CỘNG HOÀ QUÝ TỘC CHỦ NÔ XPÁC Xpác nằm giữa vùng đồng bằng Lacôni, thuộc vùng nam Hy Lạp. Đất đai và sông ngòi ở xpác rất thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp. Nhà nước Xpác điển hình cho hình thức nhà nước cộng quý tộc chủ nô. 1. Sự ra đòi của nhà nước Quá trình hình thành nhà nước Xpác đồng hành với quá trình xâm lược và thiết lập ách thống trị của người Đô riêng ở Xpác. Vào thế kỉ XII - XI TCN, người Đô riêng tràn từ phương Bắc tới chiếm vùng Lacôni của người Akêăng. c ả hai tộc người này cùng đang ở trạng thái công xã nguyên thuỷ đang tan rã. Vào thế kỉ IX TCN, người Đô riêng xây dựng thành Xpác. Trong quá trình xâm chiếm của người Đô riêng, ở Xpác dần dần hình thành các mầm mống của xã hội có giai 84 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


cấp và nhà nước. Thế kỉ VIII - VIITCN, người Đô riêng tiếp tục tổ chức xâm lược vũ trang chiếm được thêm một vùng đồng bằng bên cạnh là và biến cư dân ở đây (người Ilốt) thành nô lệ tập thể. Sau cuộc xâm chiếm đó, quan hệ nô lệ xuất hiện trọn vẹn. Sự phân hoá giai cấp cũng được xác lập vững chắc với việc phân chia cư dân thành ba tập đoàn xã hội - ba giai cấp khác nhau. - Người Xpác (tức ngưòi Đô riêng và một số người Akêãng đã được "Đôriêng tioá”), là kẻ thống trị, hợp thành "cổng xã bình đẳng”. Toàn bộ ruộng đất thuộc quyền sở hữu của nhà nước. Ruộng đất ở Lacôni và Metxêni được chia thành nhiều khoảnh, giao cho các gia đình Xpác sử dụng, nhưng không được bán hoặc chia thảnh mảnh nhỏ. Người Xpác có quyền để lại cho con cháu ruộng đất và cả gia đình người Hốt cư trú ở đó. Nguồn sống chính của chủ nô Xpác là tô ruộng đắt. Họ không làm các nghề thủ công hoặc buôn bán.(1) - Người Ilốt là nô lệ tập thể của tập thể chủ nô Xpác. Nô lệ không thuộc quyền sở hữu riêng của từng chủ nô. Vì thế, chủ nô không có quyền bán hoặc giết nô lệ. Nhà nước quản lý và phân phối nô lệ. Khi nhà nước giao khoảnh đất cho người Xpác sử dụng thì cũng giao luôn những gia đình Ilốt cư trú ở đó cho người nhận ruộng. Người Ilốt cày cấy ruộng đất của chủ nô và nộp tô. Loại hình "nô lệ công cộng" của Xpác là một hiện tượng khá đặc biệt. - Người Piriecơ (gổm cư dân của vùng Lacôni tức người Akêãng bị chinh phục và những người từ nơi khác di cư tới), (1). Từ nửa đầu [hế kỷ Ihứ IV TCN. ch ế đó binh quân ruộng đất bị huy bò. Nhà nước cho phép mua bán ruộng đ ít. Nhiều người Xpác bị mất ruộng đất, biến thành vô sàn. N ghé buôn bán. cho vay nặng lãi thâm nhập mạnh vào nền kinh tế tự nhiên cùa người Xpác. 85 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


có một ít ruộng đất và làm nghề thủ công, buôn bán. Tuy là người tự do, nhưng họ không được tham gia "công xã hình đẳng", không dược hưởng các quyền chính trị. Họ phải nộp thuế cho nhà nước và đi lính. Nhà nước Xpác được thiết lập theo quá trình phàn hoá giai cấp như vậy. Nhầm ngăn chặn không cho tầng lớp công thương nghiệp tức người (Piriecơ) giàu lên, phát triển thế lực, nhà nước Xpác đã thi hành chính sách hạn chế cổng thương nghiệp. Thành bang Xpác là quốc gia nông nghiệp. 2. Tổ chức bộ máy nhà nước Đứng đầu nhà nước Xpác là hai vua, có quyền ngang nhau. Vua vừa là thủ lĩnh quân sự, vừa là tăng lữ tối cao, vừa là người xử án. Hai vua là thành viên trong hội đồng trưởng lão. Tuy vậy, quyền lực của hai vua không lớn lắm, không như các vị vua chuyên chế ỏ phương Đông. Hình thức hai vua là một tàn dư của chế độ công xã nguyên thủy, (trong liên minh bộ lạc thời nguyên thuỷ có hai thủ lĩnh tối cao, ngang nhau về chức trách và quyền hạn). Hội đồng trưởng lão gồm 28 vị trưởng lão và 2 vua. Trưởng lão là người từ 60 tuổi trở lên được lựa chọn trong hàng ngũ quý tộc có danh vọng. Hội đồng trưởng lão có vai trò quan trọng trong bộ máy nhà nước. Hội đồng có quyền quyết định những vấn đề có liên quan đến vận mệnh quốc gia, như chiến tranh và hoà bình. Về hình thức, hội nghị công dân là cơ quan quyền lực cao nhất. Mọi người Xpác từ 30 tuổi trở lên đều có quyền tham gia hội nghị công dân do vua triệu tập. Trong hội nghị, công dân có quyền thông qua hay phản đối những quyết định cùa hội đồng trưởng lão bằng những tiếng thét, chứ không được 86 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


thảo luận, góp ý gì. Khi biểu quyết vấn đề quan trọng, những người dự hội nghị xếp hàng theo hai phía đồng ý hay không đồng ý và bằng cách ấy người ta biết được bên nào đa số. Hội nghị công dân là cơ quan quyền lực cao nhất, nhưng lại mang tính huih thức. Hội nghị công dân do vua triệu tập. Nên nó không phải là cơ quan thường xuyên của nhà nước, có hội nghị hay không là do vua có triệu tập hay không. Trừ văn đề quan trọng, còn các vấn đề khác được biểu quyết bằng những tiếng thét. Phương thức biểu quyết này rất mơ hổ dễ bị lợi dụng làm sai lệch ý kiến của hội nghị. Đặc biệt, hội nghị công dân chỉ có quyền thụ động biểu quyết những quyết định của một cơ quan khác mà không có quyền thảo luận, góp ý gì cả, lại càng không có quyền chủ động quyết định những vấn đề quan trọng cùa quốc gia. Về sau do mâu thuẫn giai cấp ngày càng sâu sắc, xung đột giữa hội đồng trưởng lão và hội nghị công dân càng thêm trầm trọng, một cơ quan có quyền hạn rất lớn được thiết lập: Hội đồng 5 quan giám sát - Hội đồng này là đại biểu của tập đoàn quý tộc bảo thủ nhất. Chức quan giám sát được bầu hàng năm. hội đồng này có quyền giám sát vua, hội đồng trưởng lão, triệu tập và chủ trì hội nghị của hội đồng trưởng lão, hội nghị công dân, có quyền giải quyết mọi công việc ngoại giao, tài chính, tư pháp và kiểm tra tư cách của công dân. Như vậy, chức năng, quyền hạn của hội đồng 5 quan giám sát bao trùm lên tất cả các cơ quan khác. Thực chất, nó là cơ quan lãnh đạo tối cao của nhà nước, nhằm tập trung mọi quyền lực vào tay tầng lớp quý tộc chủ nô. Nhà nước Xpác đặc biệt chú trọng xây dựng lực lượng quân sự. Quân lính được trang thiết bị tốt, cách tổ chức chật chẽ, huấn luyện công phu, kỹ thuật tác chiến cao, đã nâng cao 87 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


sức mạnh chiến đấu của quân đôi... Lục quân Xpác là lực lượng tác chiến mạnh nhất ở Hy Lạp. Việc xây dựng quân đội không phải chỉ là trách nhiệm của nhà nước mà còn đòi hỏi mọi người dân Xpác phải quan tâm. Đến 7 tuổi, trẻ em trai khoè mạnh phải vào sống tập trung trong trại trẻ của nhà nước và chịu sự giáo dục rất nghiêm khắc. Cách huấn luyện của Xpác nhầm đào tạo những thanh niên khoẻ mạnh, dũng cảm, nhanh nhẹn, chịu khép mình vào kỷ luật. Đến 20 tuổi thanh niên Xpác mới được chính thức trở thành người lính và đến 60 tuổi họ mới trút bỏ được bộ quần áo lính. Trong quá trình phát triển của lịch sử Hy Lạp cổ đại, nhà nước Xpác là dinh luỹ của thế lực chủ nô lạc hậu, phản động nhất, chống lại những thành bang theo chính thể cộng hoà dân chủ chủ nô. Quyền lực nhà nưóc được tập trung đến mức «s đa vào tay tầng lớp quý tộc chủ nô và quyển dân chủ của những người tự do bị hạn chế tới mức tối thiểu. Bởi vậy, nhà nước Xpác là chính thể cộng hoà quý tộc chủ nô - một hình thức nhà nước cộng hoà quý tộc chủ nô điển hình. Vậy tại sao ở Xpác phát sinh hình thức cộng hoà quý tộc chủ nô mà không nảy sinh hình thức cộng hoà dân chủ chủ nô? Thứ nhất là do nguyên nhân kinh tế. Ruộng đất ở Xpác thuộc quyền sở hữu của nhà nước mà thực chất là thuộc quyền định đoạt của tầng lớp quý tộc thị tộc cũ. Những người bình dân là người Xpác tuy được chia ruộng đất để sử dụng, nhưng họ cũng chỉ là những chủ đất, chủ nô loại vừa và nhỏ và bị phụ thuộc vào tầng lớp quý tộc thị tộc Chủ nô lớn chính là những quý tộc thị tộc. Bởi vậy, họ là những người có thế lực và tiềm lực kinh tế rất mạnh. Ở Xpác trong một thời gian dài. việc mua bán ruộng đất bị cấm và công thương nghiệp bị hạn chế phát triển. Vì vậy tầng lớp chủ nô mới chậm phát 88 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


triển để làm đối trọng đối với tầng lóp quý tộc chủ nồ. Thứ hai là do nguyên nhân về chính trị xã hội. Nhà nước Xpác là kết quả trực tiếp của cuộc chiến tranh xâm lược và chinh phục, ncn giai cấp chủ nô phải có một tổ chức quyền lực nhà nước tập trung vào trong tay một số ít người để đảm hảo duy trì được ách thống trị của mình. Trong những người dân tự do, chỉ có người Xpác có quyền chính trị còn người Piriecơ không có quyền tham dự vào mọi sinh hoạt nhà nước, lại càng không có quyền tham gia chính quyền nhà nước. Vì vậy ở Xpác khác với nhiều thành bang khác, các cuộc đấu tranh của bình dân với tầng lớp quý tộc, chủ nô lớn phát triển chậm và ở mức độ ít quyết liệt hơn. Chính do cơ sờ kinh tế và những đặc thù chính trị - xã hội đó, nên ở Xpác phát sinh và tồn tại chính thể cộng hoà quý tộc chủ nô. III. NHÀ NUỚC CỘNG HOÀ DÂN CHỦ CHỦ NÔ ATEN Aten là trung tâm của vùng đồng bằng Attích, thuộc miền trung Hy Lạp. Bờ biển phía Tây của Aten có nhiều hải cảng tốt. Nhà nước Aten là điển hình của hình thức nhà nước cộng hoà dân chủ chủ nô. 1. Sự ra đời của nhà nước Cũng như nhiều vùng khác ở Hy Lạp, khoảng thế kỷ VIII - VI TCN, Aten dần dần bước vào xã hội có giai cấp và nhà nước. ở Aten, công thương nghiệp phát triển rất sớm và với tốc đô rất nhanh. Bẽn cạnh tầng lớp quý tộc chủ nô. tầng lớp chù 89 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


nô mới (chủ xưởng, chủ thuyền, thương nhân) xuất hiện rất sớm, tăng nhanh về sô' lượng và mạnh về kinh tế. Họ giữ vai trò quan Irọng trong quá trình hình thành, phát triển chính the cộng hoà dân chủ chủ nô sau này ở Aten. Nhờ kinh tê phát triển, Aten thống nhất được cả vùng Áttích. Sau đó mỗi bộ lạc ở đây được chia thành 12 vùng. Đổng thời cư dân tự do (trừ nô lệ) được phân thành 3 tầng lớp: quý tộc, nông dân, những người làm công thương nghiệp, ờ Attích còn có người Mêtếch ở những vùng xa xôi di cư tới. Họ không thuộc ba tầng lớp trên, nhưng họ có quyền tự do thân thể. Lúc đầu, tuy tổ chức thị tộc vẫn tồn tại, nhưng dần dần bị biến chất. Quý tộc thị tộc là những người có nhiểu quyển hành nhất. Hội nghị nhân dân đóng vai trò không quai trọng trước sự lộng quyền của hội đồng quý tộc. Hội đồng quan chấp chính do quý tộc bầu lên, dần dần nắm mọi quyền hành. Ban đầu nhiệm kỳ của quan chấp chính là suốt đời, về sau cứ 10 năm bầu lại một lán, cuối cùng thì một năm bầu một lần. Như vậy, tổ chức thị tộc dần dần đã bị phá hoại vẻ cả hai mặt. Một là, lần đầu tiên sự phân chia cư dân không phải theo những tập đoàn huyết thống, mà theo địa vực cư trú và tài sản. Hai là, trong xã hội xuất hiện một quyền lực công cộng - quyền lực nhà nước và bộ máy nhà nước. Với cách tổ chức bộ máy nhà nước như thế, quyền lực được tập trung vào tay nhóm quý tộc chủ nô. Rõ ràng, khi mới ra đời, nhà nước ờ Aten là nhà nước cộng hoà quý tộc chủ nô như nhà nước Xpác chứ chưa phải là chính thể cộng hoà dân chủ chủ nô. 90 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


2. Quá trình nhà nước Aten chuyên hoá sang chính thê cộng hoà dán chủ chủ nô Do sự độc quyền thống trị trong nhà nước của tầng lớp quý tộc chủ nô, nên trong xã hội Aten, bên cạnh màu thuần gay gắt giữa nô lệ với chủ nô, còn mâu thuẫn sâu sắc giữa các tầng lớp cư dân tự do (tầng lớp chủ nô công thương, nông dán, thợ thủ công và người Mêtếch) với tầng lớp quý tộc chủ nô. Trong cuộc đấu tranh gay gắt và dằng co giữa hai phe phái này, những thắng lợi của tầng lớp dân tự do được thể hiện qua các cuộc cải cách do chủ nô công thương khởi xưống, thực hiện. Và qua đó, chính thể cộng hoà dân chủ chủ nô từng bước được xác lập và phát triển. a. Cải cách của Xôlông đặt cơ sỏ và bước đầu hình thành chính thể cộng hoà dân chủ chủ nô Nãm 594 TCN, Xôlông - người đại diện cho tầng lớp chủ nô công thương, được bầu làm quan chấp chính, ông ra sắc lệnh bãi bỏ nợ nần, cấm quý tộc biến những người nông dân không trả được nợ thành nô lệ. Từ đây, hàng ngũ nông dân ngày càng đông đảo và trở thành chỗ dựa của nhà nưéc. Căn cứ vào tài sản, số lượng lương thực có được hàng năm, Xôlông chia cư dân tự do thành 4 đẳng cấp. Đẳng cấp thứ nhất (gồm những người giầu nhất) có thể nắm những chức vụ quan trọng nhất trong nhà nước, như quan chấp chính, ủy viên hội đồng trưởng lão. Song họ phải có nghĩa vụ cung cấp tiền của để xây dựng hạm đội và chi phí trong những ngày lễ quan trọng. Các đẳng cấp thứ hai, thứ ba có thể được bầu vào hội đổng 400 người do Xôlông lập ra Đẳng cấp thứ tư có quyền tham gia hội nghị công dân nhưng không được bầu vào các 91 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


chức vụ của Nhà nước. Hội đồng 400 người gồm đại biêu cù; các địa phương. Đó là cơ quan tư vấn cao cấp, chuán b những vấn đề quan trọng để đưa ra hội nghị công dân quy ế nghị, đồng thời có nhiệm vụ giải quyết một sô' công việc thường ngày. Hội đồng quý tộc được đổi tên thành hội don| trưởng lão. Xôlông còn lập ra toà án công dân. Mọi công dãr đều có quyền tự bào chữa cho mình và quyền được chông án. Cải cách của Xôlông đưa lại những hệ quả rất quan trọng. - Tước bỏ bớt được quyền lợi kinh tế và quyền lực chính trị của quý tộc. - Tạo ra cơ sở kinh tế - xã hội của chính thể cộng hoà dân chủ chủ nô. Đó là nền kinh tế công thương nghiệp phát triển tầng lớp chủ nô mới ngày càng mạnh, tầng lớp nông dân và thợ thủ công ngày càng đông đảo. - Bước đầu hình thành cơ chế quyển lực của chính thể cộng hoà dân chủ chủ nô. Qua cải cách của Xôlông, hội nghị công dân bước đầu có thực quyền. Cách phân chia đẳng cấp gắn liền với các quyền chính trị đã đưa các chủ nô công thương vào trong hội đổng trưởng lão và hội đồng quan chấp chính vốn trước đây toàn là quý tộc, tầng lớp thường dân cũng có quyển tham gia vào một cơ quan mới là hội đồng 400 người, được tham dự vào sinh hoạt chính trị của nhà nước. b. Cái cách của Clixten thiết lập chính thể cộng hoà dán chủ chủ nô Năm 509 TCN, quan chấp chính Clixten - người đại diộn cho tầng lớp chủ nô mới, tiếp tục tiến hành những cải cách quan trọng. Trước hết, ông chia cư dân Aten thành 3 khu vực. Cứ mỗi 92 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


khu vực lại chia thành 10 phân khu. Và cứ 3 phân khu hợp thành một "bộ lạc" mới. Như vậy, có tất cả 10 "bộ lạc". Sự phân chia cư dân theo cách đảo lộn và trộn lẫn như vậy đã xoá bỏ hoàn toàn những bộ lạc cũ, đồng thời cũng thủ tiêu anh hưòng của quý tộc đội với công dân. Clixten mở rộng hội đồng 400 người thành hội đồng 500 người, mỗi "bộ lạc" được cử 10 người. Mọi công dân đều có thể được bầu làm thành viên của hội đồng (thời Xôlông, những người của đẳng cấp thứ tư không được ứng cử vào hội đồng 400 người). Clixten còn lập ra hội đồng 10 tướng lĩnh. Hội đồng này nắm quyền chỉ huy quân đội, đồng thời cũng là cơ quan hành chính cao nhất. Rất nhiều ngoại kiều được ban cấp quyền công dân nên hàng ngũ công dân càng đông đảo hơn. Để chống lại âm mưu thiết lập nền độc tài, Clixten đặt ra luật bỏ phiếu bằng vỏ sò. Hàng năm vào mùa xuân, đại hội công dân họp phiên đặc biệt. Trong cuộc họp này mọi người có quyền viết tên người mà mình nghi là có âm mưu độc tài. Người nào có trên 6.000 phiếu, sẽ bị trục xuất khỏi Hy Lạp. Như vậy, đến thời Gixten, cơ sở xã hội của bọn quý tộc bị phá huỷ triệt để. Và vơí cơ cấu tổ chức quyền lực nhà nước, với việc công dân tham gia vào sinh hoạt chính trị như đã trình bày ở trên, chính thể cộng hoà dân chủ chủ nô đã được thiết lập đầy đủ, theo đúng nghĩa của nó. c. Cải cách của Pêriclét, clúnh thể cộng hoà dân chủ chủ nô phát triển tới đỉnh cao Vào giữa thế kỷ V TCN, Pêriclét, đại diện cho tầng lớp chủ nô mới tiếp tục thực hiện nhiều cải cách quan trọng. Nhà nước cấp một số lương cho nhân viên cơ quan nhà 93 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


nước. Sô tiền lương tuy không nhiều so với giá trị vật chất thời bấy giờ, nhưng cũng tạo điều kiện thuận lợi cho những công dan nghèo làm các chức vụ chính quyền. Từ năm 457 TCN trở đi, có một số người thuộc tầng lớp trung, tiểu nông được bầu làm quan chấp chính và những chức vụ khác. Cả sĩ quan, binh lính, thuỷ thủ cũng được cấp lương. Đạc biệt, Pêriclét xây dựng một bộ máy nhà nước quy cù, thể hiện đỉnh cao của chính thể cộng hoà dân chủ chủ nô và là một điển hình của chính thể nhà nước đó ở Hy Lạp. Những năm Pêriclét cầm quyền là thời kỳ phát triển rực rỡ nhất của nền chính trị Aten. Aten thực sự trở thành trường học lớn của toàn Hy Lạp vì thể chế chính trị tiến bộ thời bấy giờ. 3. Tổ chức bộ máy nhà nước Chính thể cộng hoà dân chủ chủ nô Aten từng bước được xác lập và bộ máy nhà nước được hoàn thiộn nhất vào thời Pêriclét. - Hội nghị công dân: là cơ quan quyền lực tối cao của nhà nước, cứ khoảng 10 ngày họp một lần. Trong những kỳ họp ấy, mọi công dân đều có quyền thảo luận và hội nghị đi đến quyết nghị những vấn để lớn của nhà nước, như chiến tranh và hoà bình, giám sát các cơ quan nhà nước, bầu những quan chức cao cấp của nhà nước, xét duyệt những việc quan trọng nhất của toà án. Hầu hết các chức vụ cao cấp của nhà nước do hội nghị công dân bầu bằng phương pháp bỏ phiếu hay biểu quyết. Hội nghị công dân còn có quyền ban hoặc tước quyền công dân, cung cấp lương thực cho thành phố V.V.. Như vậy, nếu như ở chính thể cộng hoà quý tộc chủ nô. quyền lực nhà nước tập trung vào hội đồng nguyên lão, thì € 94 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


chính thể cộng hoà dân chả chủ nô, quyền lực nhà nước được thể hiện ở hội nghị công dân. Đó là điếm khác nhau cơ bán giữa hai chính thể - hai hình thức nhà nước cộng hoà. - Hội đồng 500 người: có vai trò rất quan trọng sau hội nghị công dân, được bầu bằng cách bỏ phiếu. Mỗi "bộ lạc" được bầu 50 người của mình từ 30 tuổi trở lên. Hội đổng chia thành 10 nhóm luân phiên nhau làm việc trong một năm. Nó là cơ quan đại diện của nhà nước về đối ngoại. Hội đồng thi hành những quyết nghị của hội nghị công dân, giải quyết những việc không quan trọng giữa hai kỳ họp của hội nghị công dân. Hội đồng có quyền quản lý tài chính, giám sát công việc của các nhân viên chính quyền, thảo luận sơ bộ các vấn đề quan trọng trước khi đưa ra trình hội nghị công dân. - Hội đồng 10 tướng lĩnh: được bầu hàng năm bằng cách biểu quyết giơ tay trong hội nghị công dân. Thành viên cùa hội đồng có thể được bầu nhiều nhiệm kỳ. Hội đồng chỉ huy quân đội, thực hiện những chính sách đối ngoại, nhưng nó chịu sự kiểm soát của hội nghị công dân. Thành viên của hội đồng không được cấp lương nên chỉ những công dân giầu có mới đảm nhận chức vụ này. - Toà bồi thẩm: là cơ quan xét xử và giám sát tư pháp cao nhất, được bầu ra hảng năm bằng phương pháp bỏ phiếu ở hội nghị công dân. Công dân từ 30 tuổi có quyền ứng cử. Nhiều luật lệ đã được ban hành để ngăn chận tình trạng hối lộ, thiếu công minh trong xét xử. Mọi người có quyền phát đơn kiện, có quyền bào chữa cho bị cáo. BỊ cáo cũng có quyền tự bào chữa. - Quân đội và cảnh sát: là bộ phận rất quan trọng của nhà nước. Quán đội Aten được trang bị tốt và lực lượng hải quân rất mạnh. Cảnh sát là lực lượng bảo vệ trật tự xã hội. 95 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


Nhà nước Aten, về hình thức là cộng hoà dân chủ nhutig là chính thể cộng hoà dân chủ chủ nô. Cũng như các nha nước chủ nô khác, nhà nước Aten được xây dựng trên cơ sờ chế độ tư hữu và quan hệ bóc lột nô lệ. Nó bảo vệ địa vị và quyền lợi của giai cấp chủ nô. Chỉ có bọn chủ nô và rất ít người lao động tự do mới được hưởng quyền chính trị, còn phụ nữ, kiều dân, nô lệ ở ngoài vòng sinh hoạt chính trị. Luật pháp còn quy định ai có cha mẹ đều là người Aten thì mới được hưởng quyền công dân. Đời sống lao động nghèo khó không cho phép nông dân ở vùng At tích xa xôi có thể thực hiện được quyền công dân của mình. Vì vậy, tổng sô' công dân Aten có khoảng 3 vạn đến 3,5 vạn mà mỗi kỳ họp hội nghị công dân thường chỉ có khoảng 2 đên 3 ngàn người. Chỉ có những phiên họp đặc biệt bỏ phiếu bằng vỏ sò mới có tiên 6000 người. 4. Pháp luật Aten là thành bang công thương nghiệp, có chính thể cộng hoà dân chủ chủ nô phát triển nhất ở Hy Lạp, nên pháp luật phát triển. a. V ề nguồn luật Nguồn cơ bản của luật Aten là các đạo luật. Sự tuân thủ các đạo luật được coi là yếu tô' bức thiết của nền dân chủ. Một đạo luật được hình thành từ thế kỷ VI TCN là đạo luật mang tính hệ thống hoá cổ nhất của luật pháp Aten. Đạo luật này nổi tiếng bởi tính cực kỳ tàn bạo, ví dụ trộm cắp rau quả cũng bị trừng trị như tội giết cha: tử hình. Những nhà làm luật lúc đó cho rằng, các tội dù nhỏ cũng đáng được xử như vậy. Đến thời Xôlông, một số hình phạt quá nặng của đạo luật này bị bãi bỏ. Trong chính thể cộng hoà dân chủ chủ 96 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


nô, các đạo luật đều do hội nghị công dân thông qua. ơ Aten các đạo luật thường được ghi trên các tấm đá và đề ở quảng trường thành phố. Nguồn thứ hai của luật pháp Aten là những tập quán không thành vãn. Khi xét xử, nếu hành vi nào đó không có đạo luật quy định thì quan toà thường dựa theo tập quán pháp. b. Quan hệ pháp lý về tài sản Pháp luật điều chỉnh các quan hệ về tài sản đạt đến trình độ phát triển cao. Theo pháp luật, chủ sở hữu đương nhiên có quyền sử dụng đất đai, súc vật, nô lệ,... có lợi cho mình. Các quan hệ tiền tệ, trong đó có nạn cho vay nặng lãi, cũng được pháp luật điều chỉnh khá tỉ mỉ. Đặc biệt luật pháp của Aten và nhiều thành bang khác ở Hy Lạp đã coi quyền tư hữu là quyền thiêng liêng và bất khả xâm phạm. Quyền tư hữu được bảo vệ bằng nhiều biện pháp hà khắc. Trộm cắp thường bị xử phạt bằng án tử hình. Quan hệ hợp đồng cũng được luật pháp chú trọng. Điều kiện bảo đảm việc thực hiện hợp đồng là thế chấp, cầm cố, đặt cọc, người bảo lãnh. c. Luật hình sự Luật hình sự so với luật dân sự kém phát triển hơn. Luât hình Aten vẫn bảo tồn một số tàn tích của chế độ công xã nguyên thuỷ, đặc biệt là sự trả thù bằng máu. Ví dụ, khi phát hiện người vợ đang ngoại tình, người chồng có thể giết tình địch và được coi là vô tội. Việc giết hại hoặc xúc phạm sứ thần được xem là tội chống tôn giáo. Bởi theo quan niệm đương thời, sứ thần được thượng đế che chở, bảo vệ. Trong các tội phạm chính trị, những tội sau đây được coi là trọng tội: phản quốc, vô thần. Những 97 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


ai phạm vào các tội đó đều bị tử hình. Đặc biệt, luật pháp Aten đã có sự phân biệt nghiềm ngặt giữa tội cố ý và tội vô ý. Các tội giết người có chủ ý đều bị kết án tử hình. Còn các vụ làm chết người do thiếu cẩn trọng, hoặc do vô tinh, thì thường chỉ bị trục xuất ra khải đát nước. Việc lượng hình còn phụ thuộc vào mức độ hậu quả mà tội phạm gây ra, vào vai trò của từng bị cáo trong vụ án. Luật hình sự Aten có quan niệm: giảm nhẹ tội tuỳ theo một stf hoàn cảnh khách quan khi phạm tội. Các hình phạt do toà án áp dụng rất đa dạng: đánh bằog roi vọt, ngồi lên bàn chông, chọc mù mắt, tử hình bằng các hình thức: dùng đá đập cho đến chết, chặt đầu, nhẹ nhát là cho uống thuốc độc. Ngoài các hình phạt chính còn có các hình phạt phụ như: tịch thu tài sản, tuốc quyền công dân. Nhà tù thường là các hầm ngầm dưới đất, không có cửa sổ, không có ánh sáng lọt vào. d. T ố tụng Việc thẩm tra vụ án được thực hiện trước khi xét xử ỏ toà án. Người buộc tội và người bị buộc tội đều có thể đua ra vật chứng và nhân chứng. Yếu tố cơ bản của quá trình xét hỏi ở toà là tiếng nói của các bên. Thông thường các bên yêu cầu được biết các chúng cứ và được nghe đọc đạo luật áp dụng cho vụ án. Sau đó các bên tiếp tục đưa ra các chứng cứ cùng lời thề khai trung thực, người đứng đầu phiên toà đưa ra kết luận. Cuối cùng các quan toà tiến hành bỏ phiếu kín. Nếu số phiếu đồng ý và số phiếu không đồng ý bằng nhau, nguời đứng đầu phiên toà có quyền quyết định cuối cùng. 98 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


B. LA MÃ CỔ ĐẠI Bán đảo Italia vươn ra Địa Trung Hải, có nhiều đồng bằng rộng và đất đai mầu mỡ. Bán đảo Italia Ịà nơi gặp gỡ của những luồng vãn minh Đông và Tây Địa Trung Hải, Bắc Phi. Hoàn cảnh địa lý ấy tạo nên những ảnh hưởng rõ nét trên bước đường phát trién của La Mã. I. NHÀ NUỚC 1. Sự ra đời của nhà nước Trước khi La Mã chiếm toàn bộ Italia, về đại thể bán đảo này có 3 tộc người sinh sống ở 3 vùng. Vùng Nam Italia là nơi người Hy Lạp đã đến kinh doanh và lập một sô' thành bang từ thế kỷ VIII - VI TCN. Vùng Bắc Italia là nơi cư trú của người Êtơrúìxcơ; Người La tinh cư trú ở miền trung Italia. Thế kỷ VIII TCN, người Latinh dựng thành La Mã. Vì vậy, họ được gọi là người La Mã. Quá trình hình thành nhà nước La Mã là kết quả của cả hai yếu tố: Sự phân hoá xã hội, phân hoá giai cấp ở tộc người La tinh và tộc người Êtơrútxcơ và cuộc đấu tranh của người La Mã chống lại ách thống trị của người Êtơrútxcơ. Thế kỷ VIII - VI TCN, xã hội của người La Mã cũng giống như thòi Hôme ở Hy Lạp. Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, tài sản tư hữu xuất hiện. Hội nghị nhân dân và viện nguyên lão của chế độ thị tộc vẫn giữ vai trò nhất định song đã bị quý tộc thị tộc lợi dụng. Bên cạnh hai cơ quan đó, còn có một thủ lĩnh do hai cơ quan này bầu ra. Thủ lĩnh này là người chỉ huy 99 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


quân đội, táng lữ cao nhất, người xét xử những vụ kiện trong nội bộ công xã. Xã hội người La Mã thời kỳ này là chế độ dán chủ quân sự bộ lạc. Xã hội dần dần bị phân hoá thành quý tộc chủ nô, nô lệ, bình dân và từng bước chuyển sang xã hội có giai cấp. Vào thế kỷ VII - VI TCN, người Êtơrútxcơ đạt tới trình độ phát triển cao về thủ công nghiệp và buôn bấn. Theo truyền thuyết, người Êtơrútxcơ có 12 "thành phố' (có lẽ là những bộ lạc). Đứng đầu mỗi "tliành p hố' - bộ lạc là một thủ lĩnh quân sự kiêm tăng lữ và là chủ nô có thế lực. Đứng đầu 12 "thành phổ' - hộ lạc (tức liên minh bộ lạc) là một "vua" (thủ lĩnh của liên minh bộ lạc), do các "thành phô" bộ lạc bầu ra, có chức năng chỉ trông coi việc tế lễ mà thôi. Công xã nguyên thuỷ của người Êtơrútxcơ là chế độ dân chủ quân sự bộ lạc đang tan rã nghiêm trọng và dần dần giai cấp xuất hiện. Như vậy. IIcười La Mã và người Êtơrútxcơ đều ở trình độ phát triển tươnẹ đối giống nhau vẽ kinh tế và phân hoá giai cấp. Đây là tiền đé cơ sở vật chất chín muồi để nhà nước ra đời. Còn cuôc chinh phục và chống chinh phục giữa hai tộc người này chi là yếu tố thúc đẩy sự ra đời của nhà nước. Vào thê kỷ VI TCN, La Mã bị người Êtơrútxcơ chinh phục và thống trị. Cũng trong thời kì này, cuộc đấu tranh giữa bình dân và quý tộc rất gay gắt dẫn tới cuộc cải cách của vua Xécviút Tuliút. Ông tổ chức lại công xã La Mã theo nguyên tắc địa vị và tài sản. chứ không căn cứ vào quan hệ huyết thống. Ba bộ lạc trước kia bị xoá bỏ và xáo trộn. Thay vào đó là bốn ''bộ lạc" mới được xác lập. Thực chất, những "bộ lạc" mới này là các khu vực hành chính. Căn cứ vào tài sản ruộng đất. cư dân La Mã (những người có ruộng đất) 100 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


được chia làm 5 đẳng cấp. Do có nhiều thay đổi trong tiến trình phân hoá tài sản, nên cứ 5 năm đãng ký lại đẳng cấp một lần. Đẳng cấp thứ nhất (gồm những người có nhiều ruộng đất nhất) được tổ chức 80 Xăngturi (đơn vị) bộ binh và 18 Xãngturi kị binh. Các đẳng cấp thứ hai, thứ ba và thứ tư mỗi đẳng cấp có 20 Xãngturi bộ binh. Đẳng cấp thứ năm (gồm những người có ít ruộng đất nhất) có 30 Xãngturi bộ binh, (vì đẳng cấp này đông người nhất). Còn những người nghèo không có ruộng đất tuy không được xếp vào đẳng cấp nào cả, nhưng được tổ chức 5 Xăngturi bộ binh. Như vậy, I quân đội La Mã có tất cả 193 Xãngturi. Xăngturi không chỉ là đơn quân sự mà còn là đơn vị chính trị. Khi bầu cử, mỗi Xăngturi được bỏ một phiếu. Và như thế, đẳng cấp thứ nhất (đẳng cấp giầu có), bao giờ cũng chiếm được đa sô' phiếu: 98 phiếu trên tổng số 193 phiếu. Cuộc cải cách của Xécviút Tuliút đánh dấu sự sụp đổ của chế độ công xã thị tộc và sự hình thành nhà nước. F.Engen viết "Người ta phá vỡ cái trật tự xã hội cũ dựa trên sự liên hệ cá nhân vê' huyết thống, và thay vào đó, người ta đã lập ra một cơ cấu nhà nước mới, thực sự dựa trên cơ sở phân chia địa vực và trên sự chênh lệch vê' tài sản"m Song song với cuộc đấu tranh trên, còn có cuộc đấu tranh của nhân dân La Mã chống ách thống trị của bọn quý tộc Êtơrút xcơ và kết thúc bằng việc đánh đuổi tên vua cuối cùng của ngưòi Êtơrút xcơ là Tác canh II khỏi La Mã vào năm 509 TCN. Quá trình cuộc đấu tranh này cũng đã góp phần thúc đẩy sự ra đời của nhà nước La Mã. (1). F. Engen: N guổn gác cùa gia đình, cùa ch ế độ tư hữu và cùa nhà nước. NXB Sự thật, Hà N ội, 1961, tr 212. 101 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


2. Tổ chức bộ máy nhà nước cộng hoà quý tộc chủ nò Cơ cấu nhà nước La Mã được hình thành dần trong mấy thế kỷ, đến thế kỷ IIITCN mới được hoàn chỉnh. - Viộn nguyên lão: là cơ quan quyền lực của nhà nước, có quyền quyết định những vấn đề lớn của đất nước. Cơ quan này được phát triển từ hình thức hội nghị trưởng lão thời công xã nguyên thuỷ. Viện nguyên lão gồm các quý tộc giầu sang, có thế lực, đã từng nắm giữ chức quan cao cấp, do đại hội Xăng tu ri bầu ra. Sô' lượng người của viện nguyên lão từ 300 đến 600 vị, cuối thời cộng hoà đến 900 vị. Viện nguyên lão có quyền phê chuẩn những quan lại cao nhất mới được bầu ra quản lý tài sản của Nhà nước đề ra và chỉ đạo việc thực hiện chính sách đối nội và đối ngoại, trông coi cả nhũng công việc tôn giáo, có quyền thành lập phiên toà và điều tra sơ bộ các vụ án quan trọng, có quyền giải thích pháp luật, kiến nghị xây dựng luật mới. - Cơ quan hành pháp bao gồm hai hội đồng Hội đồng quan chấp chính gồm 2 viên quan chấp chính, do đại hội Xăng tu ri bầu ra với nhiệm kì một năm, là chức vị cao cấp trong hàng quan lại. Hai quan chấp chính có quyén rất lớn vể quân sự và dân chính, là tổng chỉ huy quân đội, có quyền triệu tập đại hội viện nguyên lão và đại hội nhân dân, chỉ đạo thực hiện những quyết nghị của viện nguyên lão và đại hội nhân dân, có quyền sa thải những quan lại cấp duói. Hội đồng quan án lúc đầu chỉ có 2 người sau tăng lên 7 người, cũng do đại hội Xăng tu ri bầu ra. Hội đồng quan án chuyên giả quyết vấn đề hình sự và dân sự. Khi hội đồng chấp chính vắng mặt thì hội đồng quan án đảm nhiệm thêm thẩm quyền của quan chấp chính. 102 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


- Viện giám sát (hay còn gọi là viện quan bảo dân). Phong trào đấu tranh chống quý tộc của bình dân ngày càng quyết liệt. Trong những bình dân giàu (tầng lớp chủ nô mới) có thế lực về kinh tế muốn vươn lên địa vị chính trị cao. Còn tầng lớp bình dân nghèo thì đòi được quyển sử dụng đất nhiều hơn, chống bần cùng hoá và nô lộ hoá. Sức mạnh đấu tranh của bình dân đã buộc quý tộc phải nhượng bộ, chúng phải đổng ý cho bình dân cử ra quan bảo dân để bảo vệ quyền lợi cho họ. Ban đầu có hai quan bảo dân, sau tăng lên 10 người. Quan bảo dân do đại hội nhân dân bầu ra. Viện quan bảo dân có quyền phủ quyết những quyết nghị của viện nguyên lão, có quyền bắt giữ và lấy phúc cung của quan lại hoặc nhân viên nhà nước. Tuy vậy, quyền lực của quan bảo dân chỉ hạn chế ở thành phố, chưa vươn tới nông thôn, chưa có quyền lực về mặt quân sự. Có những thời kỳ sau này, viện quan bảo dân phải ngừng hoạt động. - Đại hội công dân gồm có đại hội xăng tu ri và đại hội nhân dân. Đại hội xăng tu ri tức là đại hội theo đơn vị của quân đội của các đảng cấp (mỗi xăng tu ri được bỏ một phiếu). Đại hội xăng tu ri có quyền hành lớn, như giải quyết vấn đề chiến tranh và hoà bình, bầu các chức quan cao nhất cùa Nhà nước. Đại hội nhân dân: mang tính hình thức. Vì nó bị bọn quan lại cao cấp khống chế, nên không được quyết định những vấn đề quan trọng của nhà nước. Theo luật pháp mọi công dân đều có quyền ứng cử vào các chức vụ của bộ máy nhà nước. Song các chức vụ đều không có lương và phải bỏ nhiều tiền của để chiêu đãi, biếu tặng các công dân khi vận động bầu cử, nên những người nghèo không có điều kiện để 103 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


Click to View FlipBook Version