The words you are searching are inside this book. To get more targeted content, please make full-text search by clicking here.

Nhà nước và pháp luật là hiện tượng xã hội vô cùng phức tạp, luôn biến động và có những thay đổi to lớn trong những năm gần đây. Nhận thức về nhà nước và pháp luật đóng vai trò rất quan trọng trong nhận thức của cán bộ và nhân dân về xã hội, chính trị, văn hóa. Nhận thức đó giúp cho việc tiếp cận và giải quyết một cách dùng đến các vấn đề thực tiễn về nhà nước và pháp luật.
Một trong những nội dung quan trọng của khoa học về nhà nước và pháp luật là Lịch sử nhà nước và pháp luật thể giới. Môn học này trình bày những vấn đề cơ bản về lịch sử nhà nước và pháp luật qua các thời kỳ: Chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư sản và xã hội chủ nghĩa.


Để đáp ứng nhu cầu đào tạo, học tập và tìm hiểu về nhà nước và pháp luật, Trường Đại học Luật Hà Nội xuất bản cuốn Giáo trình lịch sử nhà nước và pháp luật thể giới. Cuốn sách sẽ là tài liệu bổ ích đối với các sinh viên luật được đào tạo dưới những hình thức khác nhau; các cán bộ làm công tác pháp lí, công tác quản lí cũng như những ai muốn tìm hiểu một cách có hệ thống về nhà nước và pháp luật.
Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc.

Discover the best professional documents and content resources in AnyFlip Document Base.
Search

Giáo trình lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới

Nhà nước và pháp luật là hiện tượng xã hội vô cùng phức tạp, luôn biến động và có những thay đổi to lớn trong những năm gần đây. Nhận thức về nhà nước và pháp luật đóng vai trò rất quan trọng trong nhận thức của cán bộ và nhân dân về xã hội, chính trị, văn hóa. Nhận thức đó giúp cho việc tiếp cận và giải quyết một cách dùng đến các vấn đề thực tiễn về nhà nước và pháp luật.
Một trong những nội dung quan trọng của khoa học về nhà nước và pháp luật là Lịch sử nhà nước và pháp luật thể giới. Môn học này trình bày những vấn đề cơ bản về lịch sử nhà nước và pháp luật qua các thời kỳ: Chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư sản và xã hội chủ nghĩa.


Để đáp ứng nhu cầu đào tạo, học tập và tìm hiểu về nhà nước và pháp luật, Trường Đại học Luật Hà Nội xuất bản cuốn Giáo trình lịch sử nhà nước và pháp luật thể giới. Cuốn sách sẽ là tài liệu bổ ích đối với các sinh viên luật được đào tạo dưới những hình thức khác nhau; các cán bộ làm công tác pháp lí, công tác quản lí cũng như những ai muốn tìm hiểu một cách có hệ thống về nhà nước và pháp luật.
Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc.

Quốc 1900, Panama 1903, Cộng hoà Đôminica 1904. Nicaragoa 1912, Mêhicô 1914, Haiti 1915,ế.. Từ sau chiến tranh thế giới II, đế quốc đứng ra đóng vai trò sen đầm quốc tế. Chính quyền MI lập hàng trăm căn cứ quân sự nước ngoài, cầm đầu các khối quân sự của các đế quốc. Các tổng thống Mĩ đã vạch ra nhiều chiến lược toàn cầu. Từ chiến lược "giáng trả ồ ạt", đến chiến lược "phản ứng linh hoạt", từ "học thuyết Ních xơrí' đến "học thuyết Thái Bình Dương" của Pho,.. Đế quốc M ĩ tiến hành một loạt cuộc chiến tranh xâm lược ở Triều Tiên 1950, LiBăng 1958 và 1983, Cu Ba 1961, Cộng hoà Đôminica 1965, Grênađa 1983,...Cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam là cuộc chiến tranh kéo dài và tàn bạo nhất từ sau chiến tranh thế giới lần thứ II Chính phủ MI đã đưa vào Việt Nam 60 vạn quân Mĩ và chư hầu, huy động lúc cao nhất tới 68% bộ binh, 32% lực lượng không quân chiến thuật, 50% lực lượng không quân chiến lược Mĩ, và tiêu phí 352 tỉ đô la. Cùng với việc chống phá phong trào giải phóng dân tộc ở các thuộc địa, mũi nhọn chính sách đối ngoại của chính quyền Mĩ là phá hoại phe xã hội chủ nghĩa. M ĩ lôi kéo các đế quốc khác bao vây kinh tế các nước xã hội chủ nghĩa. CIA tổ chức các cuộc bạo động ở Hungari, Tiệp Khắc. Mĩ tiến hành các chiến dịch "diễn biến hoà bình'' nhằm vào các nước xã hội chủ nghĩa. Sau khi Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ, Mĩ chưa từ bỏ vai trò sen đầm trên trường quốc tế, vẫn tiếp tục mưu đồ ''diễn biển hoà bình" với các nước xã hội chủ nghĩa. Khi cần thiết, chính quyền MI tiến hành các cuộc can thiệp vũ trang như ở Irắc, Xômani,... trong mấy năm qua. 304 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


III. ANH Từ cuối thế kỉ 19, nước Anh chí còn đứng ờ hàng thứ ba trong nền sản xuất công nghiệp thế giới. Đếr đầu thế kí 20, nhiều công ti lũng đoạn đã xuấl hiện trong hầu hết các nghành công nghiệp, khai thác thau, dệt, hoá chất, luyện kim, vận tải,... Về chính trị, sau thời kì chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh, các tập quán chính trị truyền thống (hiến pháp không thành văn) và cơ cấu bộ máy nhà nước đã được ổn định và về cơ bản, chính thể quân chủ nghị viện không có nhũng thay đổi lớn. Tuy nhiên, từng bước, chính quyền nhà nước thuộc sự độc tôn của tư bản lũng đoạn, mà đại diện là hai đảng tư sản Bảo thủ và Công đảng thay nhau cầm quyền (chế độ lưỡng đảng). Sự khác nhau của các đảng tư sản có chăng chỉ là sự khác nhau về chính sách và thủ đoạn cai trị. Các đảng phải chính trị ở Anh gồm: - Đảng Bảo thủ thành lập năm 1867, đại biểu lợi ích của đại tư sản, địa chủ quý tộc tư sản hoá và sau dó là của tư bản độc quyền. - Đảng Tự do thành lập năm 1877, đại diện cho lợi ích của tầng lớp trung và tiểu tư sản và một bộ phận tri thức. Nhưng từ đầu thế kỉ 20, vai trò và uy thế chính trị của đảng Tự do phải nhường bước cho một đảng tư sản mới là Công đảng. - Công đảng thành lập nãm 1900 - Công đảng tự xưng là "dàng của công nhân" và đưa ra cương lĩnh lừa bịp về "chủ nghĩa xã hội dân chủ", "xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa trong khuôn khổ cliủ nghĩa tư bản". Thực chất, Công đảng là tổ chức chính trị của tầng lớp tư sản cải lương và dần dần cùng là một chính đảng của tư bản độc quyền. 305 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


- Nãm 1981, phái hưu của Công đảng tách ra và thành lập đảng Xã hội dân chủ. - Đảng cộng sản thành lập 1920, bảo vệ lợi ích của những người lao động. Những năm cuối thế kỉ 19, trên chính trường nước Anh có hai đảng chủ chốt là đảng Bảo thủ và đảng Tự do. Hai đảng này luân phiên cầm quyền. Trong đó, ưu thế chính trị thuộc vể đảng Bảo thủ nhiều hơn. Vấn đề sống còn đặt ra trước mắt giai cấp tư sản Anh là tình trạng giảm sút của nước Anh trên thị trường quốc tế, sự cạnh tranh của các nước mà chủ yếu là Đức. Dù vậy, đảng Tự do vẫn theo đuổi chính sách tự do buôn bán. Ngược lại, đảng Bảo thủ chủ trương bảo hộ mậu dịch bằng hàng rào thuế quan, không cho hàng nưóc ngoài tự do xâm nhập vào thị trường của đế quốc Anh. Chính sách này của đảng Bảo thủ được giai cấp tư sản Anh ủng hộ. Sự lớn mạnh của phong trào công nhân luôn là mối đe dọa đối với chính quyền tư sản. Nên cả hai đảng đểu nhất trí ban hành những đạo luật ngãn cản đình công, bắt công nhân phải bồi thường cho chủ những thiệt hại do bãi công gây nên và khi cần thiết quân đội, cảnh sát thẳng tay đàn áp. Từ đầu thế kỉ 20 tới nay, đảng Bảo thủ và Công đảng là hai đảng lớn nhất và thay nhau cầm quyền. - Trước năm 1945: Chính quyền nhà nước thường xuyên nằm trong tay đảng Bảo thủ. - 1945 -1951: chính quyền của Công đảng. - 1951 - 1964: chính quyền của đảng Bảo thủ. - 1964 - 1970: Công đảng là đảng cầm quyền. - 1970 - 1974: Bảo thủ là đảng cầm quyền. - 1974 - 1979: chính quyền thuộc Công đảng. 306 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


- 1979 - 1997: chính quyền thuộc đảng Bao thù. - Từ 1997: chính quyền chuyển sang Công đảng. Về chính sách của các đảng tư sản cẩm quyền và pháp luật của nhà nước tư sản, cũng như chế độ hai đảng ở Mĩ. hai đảng Bảo thủ và Công đảng ở Anh đều phục vụ quyền lợi của giai cấp tư bản lũng đoạn. Một đạo luật được ban hành năm 1912 cho phép chính phủ được quyền tuyên bố tình trạng khẩn cấp, quyền khám xét, bắt giữ, kiểm duyệt những người chống đối. Trong những nãm giữa hai cuộc chiến tranh thế giới, nhiều vãn bản pháp quy do chính phủ ban hành có ý nghĩa như luật của quốc hội. Người ta tính rằng, nếu quốc hội thông qua một đạo luật, thi chính phù cũng ban hành tới 15 - 20 vãn bản pháp quy. Trong đó, có nhiều điều trái với luật. Trong những năm này, việc chính phủ thường xuyên giải tán quốc hội trước thời hạn là hiện tượng phổ biến. Bởi vì bộ máy nhà nước được xây dựng trên cơ sở ý chí và quyền lực chính trị của các tập đoàn tư bản. Gẩn 80% hạ nghị sĩ là các chủ doanh nghiệp. Những người đứng đầu chính phủ thường là các trùm tư bản. Bộ máy nhà nước Anh còn được củng cố bằng hệ thống các quan hệ chính trị giữa Anh và các xứ tự trị như Canađa, ôxtrâylia, Niudilân,... Các quan hệ chính trị này được quy định trong quy chế Oét minh tơ năm 1931. Theo quy chế này, thống đốc các xứ tự trị Anh là người bản xứ, do vua Anh bổ nhiệm. Thống đốc chịu sự quản lí chính phủ chính quốc. Pháp luật của xứ tự trị có hiệu lực riêng. Trong trườrỀg hợp pháp luật đó trái ngược với tinh thần pháp luật của chính quốc, thì luật pháp của nước Anh sẽ có hiệu [ực trên xứ tự trị đó. Do các phong trào đấu tranh dân chù. năm 1982, chính quyền Anh đã phải cải cách chế độ bầu cừ. Theo đó, phụ nữ được thừa nhận quyền bầu cử như nam giới. 307 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


Sau chiến tranh thế giới lần thứ II, chính phủ Công đảng thực hiện chính sách quốc hữu hoá ngân hàng, công nghiệp than, hơi đốt, đường sắt, hàng không dân dụng, luyện kim. điện lực, vô tuyến điện. Thực chất biện pháp này nhằm tăng cường chủ nghĩa tư bản lũng đoạn nhà nước. Tý trọng mà các xí nghiệp được quốc hữu hoá chiếm 25% tổng sản phẩm cóng nghiệp. Nhà nước tu sản tăng cường chức năng quản lí kinh tế. Hơn 50 % vốn đầu tư vào công nghiệp thuộc về thành phần kinh tế nhà nước. Trong một số lĩnh vực kinh tế, nhà nước trực tiếp điều chỉnh hoặc thực hiện chức năng kế hoạch hoá. Hệ quả của chính sách trên là quy mô của bộ máy hành chính nước ngày càng phát triển. Đó là sự xuất hiện một số cơ quan mới như bộ lao động, bộ vật tư, bộ năng lượng,... Và số lượng các viên chức nhà nưóc gia lăng nhanh chóng. Sô' lượng viên chức trong các cơ quan quản lí kinh tế của nhà nước tăng 6 lần, trong các cơ quan quốc phòng, tư pháp, cảnh sát, ngoại giao tăng 8 lần. Đồng thời Công đảng đã tiến hành hai cải cách chính trị quan trọng vào năm 1948 và 1949. Theo các đạo luật về cải cách đó, vai trò biểu quyết các dự luật của nghị viện bị suy giảm. Chính phủ Công đảng mở rộng sự can thiệp vào đời sống chính trị - xã hội, Nội các gia tăng số lượng quan chức có thực quyền. Ngoài thủ tướng, còn có 4 quan chức đứng đầu các bộ phận quan trọng, giữ quyền ra quyết định quan trọng nhất. Và trên thực tế, mọi quyết định của nội các đều được các ủy ban gồm các nhà đại tư bản xem xét. Để mị dân, chính phù Công đảng nâng tiền lương danh nghĩa của công nhân, nhưng lại tăng thuế, tăng giá hàng, hạ giá đổng bảng. Nên thực tế, mức sống người lao động bị hạ thấp. Chính phủ còn dàn áp các cuộc bãi công, ra lệnh loại những người cộng sản ra khỏi các cơ quan nhà nước, quân đội, xí nghiệp. Năm 308 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


1948, chính quyền Công đảng tiến hành cải cách luật hầu cử. Theo luật mới này, các công dân Anh từ 18 tuổi đều có quyền bầu cử. Trong những năm đảng Bào thủ cầm quvền. sự kiểm soát của các tập đoàn tư bản độc quyền đòi với quốc hội và chính phủ càng được tăng cường. Các thủ tướng, các bộ trưởng Bảo thủ đều là những nhà đại tư bản, giám đốc các ngân hàng, các công ti lớn. Dưới chính quyền Bảo thủ, các giám đốc của 8 ngân hàng lớn nhất đã hoặc đang chiếm giữ hàng trăm chức vụ nhà nước. Tư bản lũng đoạn đã hoàn toàn khống chế bộ máy nhà nước tư sản. Chính quyển của đảng Bảo thủ đã thi hành chính sách giảm ngân sách y tế, giáo dục, bảo hiểm xã hội và phúc lợi công cộng. Đặc biệt, từ năm 1979, chính quyển của đảng Bảo thủ đã thực hiện chính sách xoá bỏ quá trình quốc hữu hoá và trên thực tế xoá bó chính sách của Công đảng trước đó. Thay vào đó là chương trình tư nhân hoá hàng loạt các cơ sở kinh tế thuộc sở hữu nhà nước. Chương trình này gắn liền với tên tuổi của người khởi xướng là bà thù tướng Thát chơ. Chính sách đó của chính quyền Bảo thủ cũng không ngoài mục đích bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản, cứu nguy và ổn định nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, trật tự xã hội tư sản hiện đại. Nói đến nhà nước tư sản Anh không thể không nói tới sự tan rã của hệ thống thuộc địa của đế quốc Anh. Bời nước Anh tư bản vốn có hệ thống thuộc địa lớn nhất. Nhưng từ cuối thế kì 19 và nửa đầu thế kỉ 20. trước sự tranh giành của các đế quốc khác, nhất là Mĩ, thuộc địa của Anh đã bị lung lay và xấm lấn. Nhất là từ sau chiến tranh thế giới lần thứ II, do phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc lẽn cao, hệ thống thuộc địa cùa Anh dán dần đã bị tan rã. 309 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


IV. PHÁP Về hệ thống chính trị trong các nước tư bản, nếu ở Mĩ, Anh chế độ đa đảng dưới hình thức lưỡng đảng, thì chế độ đa đảng ở Pháp có rất nhiều đảng phái mạnh. Trong thời hiện đại, ở Pháp có những đảng phái tư sản chủ yếu như sau: Liên minh ủng hộ nền cộng hoà, đảng Cấp tiến và xã hội cấp tiến, Trung tâm của những người dân chủ xã hội, Liên minh vì nền dân chủ Pháp, Đảng xã hội, Phong trào cấp tiến cánh tả, v.v. Chế độ đa đảng ở Pháp là một yếu tô' có ảnh hưởng rất lớn tói việc tranh giành quyền lực chính trị giữa các tầng lớp tư sản. Nếu như hình thức chính thể quân chủ nghị viện ờ Anh và cộng hoà tổng thống Mĩ không có thay đổi lớn, thì hình thức chính thể cộng hoà đại nghị ở Pháp có sự biến đổi. Nên có thể chia lịch sử nhà nước và pháp luật ở Pháp thời kì này làm hai giai đoạn sau: 1. Nền cộng hoà thứ III và nền Cộng hoà thứ IV: sự phát triển và hoàn thiện của chính thể cộng hoà dại nghị Nền cộng hoà thứ III (1870 - 1940). Sau khi đàn áp được cuộc cách mạng vô sản - Công xã Pa ri 1871, giai cấp tư sản bắt tay vào việc củng cô' chính quyền của mình. Năm 1875, bản hiến pháp mới, hiến pháp của nền Cộng hoà thứ III, được ban hành. Nền Cộng hoà thứ III tồn tại đến năm 1940, khi nước Pháp bị phát xít Đức chiếm đóng. Nền Cộng hoà thứ III được thiết lập, cũng là sự mở đầu bước chuyển biến từ chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh sang chủ nghĩa tư bản độc quyền. Theo Hiến pháp 1875, nhà nước của nền Cộng hoà thứ III vẫn với hình thức chính thể cộng hoà nghị viện, và được tổ 310 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


Nghị viện là cơ quan lập pháp gồm hai viện: hạ nghị viện và thượng nghị viện. Hạ nghị viện và thượng nghị viện thường họp riêng, khi họp chung thì được gọi là quốc hội. Bất kì một đạo luật nào cũng phải được hạ nghị viện và thượng nghị viện tuần tự thông qua thì mới có hiệu lực. Về hạ nghị viện, nghị sĩ được bầu theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu. Theo nguyên tắc này, trừ quân nhân tại ngũ, còn tất cả nam công dân đủ tuổi thành niên và không bị tước quyền chính trị, đểu có thể được bầu làm hạ nghị sĩ. Hạ nghị viện do dân bầu ra. Nhưng bằng cách chia khu vực bầu cử, điều kiện cư trú của công dân và một sô' điều kiện bất bình đẳng khác, chế độ bẩu cử đã gạt bỏ quyền bầu cử của phụ nữ, quân nhân và đông đảo nhân dân lao động. Tổng số nghị viện có trên 600 người, được phân bổ theo từng tinh, theo tỷ lệ dân số của các tỉnh. Nhiệm kì của hạ nghị viện là 4 năm. Về thượng nghị viện, thượng nghị sĩ được bầu không theo chế độ phổ thông đầu phiếu. Danh sách cử tri được lập theo lừng tỉnh, bao gồm tất cả các ủy viên của hội đồng hàng tỉnh, các hội đồng hàng quận, hội đồng thành phô' và các hạ nghị sĩ trong tỉnh đó. Nhiệm kì của thượng nghị viện là 9 năm và cứ 3 năm phải tổ chức bầu lại 1 phần 3 tổng số thượng nghị sĩ. Ngoài quyền lập pháp, riêng thượng nghị viện còn có quyền tư pháp đặc biệt. Nội dung của quyền này là: - Theo đề nghị tổng thống, thượng viện có quyền giải tán hạ nghị viện. - Nghị sĩ thượng nghị viện có thể nhóm họp thành một toà án cao cấp (hay còn được gọi là tối cao pháp đình) để xét xử từ tổng thống cho đến thủ tướng, bộ trưởng và nghị sĩ thượng, hạ viện. chức như sau: 311 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


Tổng thống là người đứng đầu nhà nước, do quốc hội bầu ra, với nhiệm kì 7 năm. Trừ những thành viên thuộc những gia đình hoàng tộc đã từng trị vì nước Pháp trước kia. còn tất cả nam công dân Pháp không bị tước quyền dân sự và quyền chính trị đều có thể được bầu làm tổng thống. Tổng thống có những quyền hạn chủ yếu sau: - Quyền đề nghị nghị viện sửa đổi hoặc thay đổi hiến pháp. - Quyền trình dự án luật ra trước nghị viện. - Quyền ban bố đạo luật sau khi đã được nghị viện thông qua. - Quyền ra sắc lệnh mang tính tập lập quy, song sắc lệnh phải được một hay nhiều bộ trưởng kí bên dưới tùy theo sắc lệnh đó liên quan đến một hay nhiều bộ. - Quyền đé cử nhũng người giữ các chức thủ tướng, bộ truởng. Chính phủ: Tổng thống chỉ là người đứng đầu nhà nước về danh nghĩa. Người thực sự nắm quyền hành pháp trong đối nội cũng như đối ngoại là thủ tướng. Các bộ trưởng chịu trách nhiệm trước thủ tướng và nghị viện. Thủ tướng và các bộ trưởng do hạ nghị viện bầu hoặc bãi miễn và phải chịu sụ giám sát chặt chẽ của nghị viộn. Nền Cộng hoà thứ m luôn luôn có sự thay đổi chính phủ. Tính chất đa đảng phái của nghị viện thường dẫn đến các chính phủ liên minh, do đó chính phủ khó có sự bển vững. Nếu tính từ tháng 1 - 1870 (thời điểm Ôlivêtê được cử làm thủ tướng) đến tháng 3/1940 (Râynô được cử giữ chức thủ tướng cuối cùng trước khi Pê tanh lên cầm quyền vào tháng 7/1940) thì nước pháp đã có tói 70 lần thay đổi chính phủ, 43 nhân vật thay nhau ngồi nghê' thủ tướng. Như vậy, trang bình mỗi chính phú chí tổn tại được 1 năm. Và 43 nhân vật trên đều thuộc các đảng phái tư sản, trong đó phần lớn các đảng: Cộng hoà, Xã hội, Cấp tiến. 312 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


Trong lịch sử nhà nước và pháp luật nước Pháp, ở nền Cộng hoà thứ III có một hiện tượng chính trị đặc biệt. Đó là Mặt trận nhân dân Pháp. Trước nguv cơ chú nghĩa phát xít lên nắm quyền ớ Pháp, năm 1936, Đảng cộng sản lièn minh vói các đảng Xã hội và Cấp tiến, thành lập Mặt trận nhân dân. Đường lối chính trị và những biộn pháp phát triển xã hội của Mặt trận nhân dân đã chặn đứng được nguy cơ đảo chính cùa các thế lực phát xít, giành thắng lợi trong cuộc bầu cử quốc hội năm 1939. Mặt trận nhân dân thu được 5,6 triệu phiếu bầu trong tổng sô' 9,8 triệu phiếu, giành 375 ghế trong tổng số 618 ghế, chiếm đa số trong nghị viện (Đảng cộng sản 72 ghế so với lần trước chỉ có 10 ghế, đảng Xã hội 148 ghế,...)- Chính phủ Mặt trận nhân dân được thàng lập do Lêông Blum (lãnh tụ cánh hữu đảng Xã hội) đứng đầu. Được sự hỗ trợ của phong trào đấu tranh sôi động của quần chúng và để củng cô' quyền lực của mình, Mặt trận nhân dân thực hiện các biện pháp mang tính tiến bộ như sau: - Giải tán và tịch thu vũ khí của tổ chức "thập tự binh" phát xít. - Chuyển vào sở hữu nhà nước một sô' ngành công nghiệp quốc phòng. - Quy định tuần làm việc 40 giờ vả nâng lương cho công nhân thêm 7 - 15%, lập các ủy ban công nhân ở nhà máy, xí nghiệp,Ệ.. - Pháp điển hoá các văn bản pháp quy mà có nội dung tiến bộ của nhà nước đã ban hành từ năm 1919 trở đi. Do sự chống phá cùa các nhà bâng, các tơ rớt, năm 1937, Mặt trận nhân dân tan rã. Quyền lực chính tạ lại tập trung vào tay các đáng phái cánh hữu. Chính phủ mới đưa nước Pháp vào con đường đầu hàng chú nghĩa phát xít, dẫn đến 313 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


hậu quả nước Pháp rơi vào ách chiếm đóng của Đức quốc xã (1940- 1944). Nền Cộng hoà thứ IV (1946 - 1958): Sau khi nước Pháp bị phát xít Đức chiếm đóng, năm 1941 tướng Đờ Gôn thành lập ủ y ban dân tộc Pháp ỏ Luân Đôn. ủ y ban dân tộc Pháp được các nước phe Đồng minh công nhận và được coi nhu là một chính phủ lâm thời của Pháp ở hải ngoại. Tại nước Pháp bị chiếm đóng, Đảng cộng sản là hạt nhân của phong trào kháng chiến chống phát xít Đức và chính quyền tay sai của chúng. Đảng cộng sản còn liên minh, phối hợp với lực lượng của tướng Đờ Gôn, uy tín của Đảng cộng sản lên cao chưa từng thấy. Sau khi nước Pháp được giải phóng, một trong những vấn đề quan trọng là vấn để thể chế nhà nước. Một cuộc trưng cầu ý dân được tổ chức tháng 10/1945. 18 triệu trong tổng số 19 triệu cử tri ủng hộ việc tổ chức quốc hội lập hiến và soạn thảo hiến pháp mới. Cuộc bầu cử quốc hội lập hiến cũng được tổ chức đồng thời với cuộc trưng cầu ý dân. Đảng cộng sản thu được nhiều phiếu bầu nhất, hơn 5 triệu phiếu (giành 150 ghế). Trong thời kì chiến tranh, nhiểu đảng phái tư sản cũ bị tan rã. Sau khi nước pháp được giải phóng, giai cấp tu sản vội vàng tập hợp lại lực lượng. Họ thành lập một đảng mới, có tên là Phong trào cộng hoà nhân dân (MRP). Thực chất, đảng này là đại diện của tầng lớp tư bản lũng đoạn. Trong cuộc bầu cử quốc hội lập hiến, Phong trào cộng hoà nhân dân được 4,5 triệu phiếu bầu, chiếm vị trí thứ 2. Vị trí thứ 3 thuộc về đảng Xã hội, được hơn 4 triệu phiếu. Đảng Xã hội từ chối hợp tác với Đảng Cộng sản để thành lập chính phủ liên hiệp của hai đảng. Bời vậy, chính phủ được thành lập là chính phủ liên hiệp của 3 đảng (Cộng sàn. Xã hội và 314 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


Phong trào cộng hoà nhân dân). Trong đó. người của Đảng cộng sản giữ một số chức vụ quan trọiiíi như phó thú tướns. bộ trưởng các bộ lao đ ộn g, kinh tế. quốc phòng, y tế. sản xuất công nghiệp, về dự tháo hiến pháp, các đàng phái thỏr.g nhất được với nhau về những vấn đề: chính thể cộng hoà, quốc hữu hoá một số lĩnh vực then chốt của ngành công nghiệp, tự do dân chủ,... Quan điểm chính trị của các đảng mâu thuẫn ở vấn đề chủ yếu: quốc hội một viện hay hai viện? quyền lực của tổng thống? Đảng cộng sản đề nghị: quốc hội một viện vả quốc hội phải có quyền chi phối chính phù, tổng thống không có nhiều độc quyền. Tháng 9/1946, bản hiến pháp mang tính thỏa hiệp chính trị, được quốc hội lập hiến thông qua, thiết lập nền cộng hoà thứ IV. Do phong trào đấu tranh của quần chúng và vai trò chính trị của Đảng cộng sản, Hiến pháp 1946 chứa đựng một số yếu tố tiến bộ. Trong phần mở đầu, hiến pháp nhắc lại Tuyên ngôn nhân quyền và dán quyền năm 1789 và bổ sung thềm một số quyền tự do dân chủ: quyền tổ chức bãi công của công đoàn và công nhãn, quyền bình đẳng của phụ nữ, tự do chính kiến chính trị và tín ngưỡng, cấm kì thị dân tộc, giáo dục không mất tiền,... Theo Hiến pháp 1946, tổ chức bộ máy nhà nước của nền cộng hoà thứ IV vẫn là chính thể cộng hoà đại nghị. Quốc hội có hai nghị viện, với nhiệm kì 5 năm. Số ghế trong nghị viện được phân bổ theo tỷ lệ số phiếu được bầu của các đảng. Chính phủ do quốc hội cử ra, chí chịu trách nhiệm trước quốc hội và có thể bị giải tán. Trong vòng 18 tháng, nếu quốc hội không thông qua được danh sách thành phần chính phủ m ới. thì qu ố c hội giái tán để bầu nghị viện m ới. T rong thời gian này, một chính phủ lâm thời được thành lập, gồm M 5 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


đại diện của các đảng phái trong quốc hội và do chú tịch quốc hội đứng đầu. Quyền hạn của tổng thống bị giảm nhiều so với trước chiến tranh. Để tổ chức tư pháp không bị phụ thuộc vào quốc hội, chính phủ và đóng vai trò trọng tài tối cao về các vấn đề pháp luật và trật tự pháp luật, hiến pháp thành lập ủy ban chấp chính tối cao, gồm tổng thống, bộ trưởng tư pháp, 6 thành viên khác do quốc hội đề cử và 4 đại diện của các cơ quan xét xử. Hệ thống toà án phụ thuộc vào ủy ban này. Trong nền cộng hoà thứ IV, tư bản lũng đoạn nắm trong tay những vị trí chỉ huy trong nền kinh tế và bộ máy nhà nước. Chúng tìm cách loại bỏ những người cộng sản ra khỏi bộ máy nhà nước tư sản. Tháng 5/1947, thù tướng Ramađiê (người của phái Xã hội cánh hữu) lấy cớ là các bộ trưởng cộng sản đã "phá hoại sự đoàn kết các bộ", gạt những người cộng sản ra khỏi chính phủ. Từ đó, những thành quả dân chủ dần dần bị thủ tiêu. Thuế má tăng, trợ cấp giảm,... Năm 1947, quốc hội thông qua đạo luật "Về bảo vệ cộng hoà và tự do lao động", vi phạm nguyên tắc hiến pháp vể quyền tự do bãi công. Theo đạo luật này, những lãnh tụ công đoàn, những người lãnh đạo các ủy ban bãi công có thể bị bắt giam trong những trường hợp nhất định. 2. Nền cộng hoà thứ V (1958 đến nay): Sự chuyển hoá của chính thê cộng hoà Chính sách đối nội và đối ngoại của chính quyền tu sản gây nên sự bất mãn sâu sắc trong dãn cư. Bãi công, biểu tình liên tiếp nổ ra. Trong cuộc hầu cử quốc hội 1956, Đảng cộng sản lại g iàn h được số p h iếu n h iều n hất (5 ,6 triệu ). N c a y c ả bọn phản động cực hữu cũng bất mãn vì sự bàt lực cùa những 316 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


chính phủ luôn luôn thay đổi (trong những năm của nền Cộng hoà thứ IV đã 25 lần thay đổi nội các). Hoảng sợ trước đà phát triển của cao trào dân chủ mới, tập đoàn tài phiệt xoá bỏ nền cộng hoà thứ IV. Tháng 6/1958. quốc hội chuyển giao chính quyển vào tay tướng ĐỜGôn. Tháng 10 năm đó, hiến pháp của nền Cộng hoà thứ V bắt đầu được thực hiện. Theo hiến pháp 1958, quyền lực nhà nước lập trung vào tổng thống, quyền lực của quốc hội bị suy giảm. Tổ chức nhà nước của nền Cộng hoà thứ V vừa có một số đặc điểm của Cộng hoà đại nghị vừa có một số đặc điểm của Cộng hoà tổng thống. Như vậy, với hiến pháp 1958, chính thể cộng hoù đại nghị đã chuyển thànli chính thể cộng ìioà lưữiig lính (cộng hoà đại nghị cộng hoà tổng thống). Điều đó được thể hiện cụ thể trong cơ cấu nhà nước: Cơ quan lập pháp gồm hai nghị viện: hạ nghị viện được bầu trong cuộc đầu phiếu trực tiếp, thượng nghị viện được bầu trong cuộc đầu phiếu gián tiếp. Trung tâm của bộ máy chính quyền nhà nước là tổng thống. Tổng thống không do nghị viện bầu ra như trong chính thể cộng hoà đại nghị thuần nhất trước đây. Theo hiến pháp 1958, tổng thống do đoàn cử tri bầu ra. Cử tri đoàn gồm các thành viên của quốc hội, các hội đồng hàng tỉnh, hội đổng thành phố, các hội đồng hàng tỉnh của các lãnh thổ hải ngoại. Đến năm 1962, theo sự chỉnh lí lại hiến pháp, tổng thống do dân trực tiếp bầu ra. Nhiệm kì của tổng thống là 7 năm. Tổng thống không chỉ là nguyên thủ quốc gia đứng đầu nhà nước, m à còn là người có tác động trực tiếp đến bộ m áy hành pháp. Hiến pháp 1958 tách quyền hành pháp thành hai lĩnh vực: hoạch định chính sách quốc gia, thực thi chính sách này. Với tư cách là người đứng đầu nhà nước, tổng thống có 317 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


quyền hoạch định chính sách quốc gia, chủ tọa hội nghị hội đồng các bộ trưởng để thông qua chính sách này. Với tư cách là người đứng đầu bộ máy hành pháp, thủ tướng có quyền chỉ đạo chính phủ thực thi chính sách quốc gia của tổng thống và phải chiu trước quốc hội việc thực hiện chính sách này. Tổng thống có cả quyền giải tán nghị viện (như ưong chính thề cộng hoà đại nghị), có cả quyền thành lập chính phủ (như trong chính thể cộng hoà tổng thống). Thủ tướng do tổng thống bổ nhiệm, (thủ tướng là ngưòi của đảng chiếm nhiều ghế nhất trong nghị viện). Giống như trong chính thể cộng hoà đại nghị, thủ tướng là người đứng đầu cơ quan hành pháp. Hiến pháp 1958 tăng cưòng sự chịu trách nhiệm của bộ trưởng trước tổng thống, giảm tính chịu trách nhiệm của bộ trưởng tnróc nghị viện. Như vậy, vai trò và quyển hạn của tổng thống rẩt lớn, tuy khôog lớn bằng tổng thống trong chính thể cộng hoà tổng thổng. Nền cộng hoà thứ V được xác lập, thể hiện cao độ sự thống trị của tư bản độc quyền trong đời sống kinh t ế , chính trị. Từ cuối những năm 70 đầu 80, chính quyền nhà nuóe từng bước thi hành những cải cách về kinh tế, xã hội, chính trị, nhằm phát triển và ổn định nển kinh tế tư bản, hệ thống chính trị và nền dân chủ tư sản. V. LIÊN BANG ĐỨC 1. Nước Đức thống nhất và nền quân chủ nghị viện (1871-1918) Đến giữa thế kỉ 19, ở Đức, chủ nghĩa tư bản đã phát triển nhưng vẫn trong chế độ phong kiến và ở tình trạng chia cắt thành 31 tiểu vương, 4 thành phố tự trị. Trong đó, Phổ là 318 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


vương quốc lớn nhất, chiếm 60% dân cư và một nửa lãnh thổ. Bởi vậy, cách mạng tư sản Đức là một cuộc đấu tranh thống nhất đất nước, xoá bỏ chế độ phong kiến, xác lập chế độ tu sản. Quá trình đấu tranh thống nhất nước Đức tiến hành từ giữa thế kỉ 19 và kéo dài hơn hai thập kỉ. Cuộc đấu tranh gắn liền với tên tuổi người lãnh đạo là Ôttôphôn Bixmác (1815 - 1898). Ông là thủ tướng kiêm bộ trưởng bộ ngoại giao Phổ, người đại diện cho quyền lợi của đại tư bản và tầng lớp địa chủ quý tộc tư sản hoá. Ngày 18/1/1871, lễ thành lập đế chế Đức được tổ chức tại cung điện Vécxai ở Pháp đang bị Phổ ciúếm đóng. Vua Phổ Vim hem I chính thức lên ngôi hoàng đế Đức. Sau đó, hiến pháp liên bang được ban hành ngày 16Í/4/1871. Hiến pháp 1871 quy định Đức là một nhà nước liên bang, gdm 22 vương quốc và 3 thành phô' tự do. Các bang thành viên vẫn giữ chính phủ và vua riêng, có quyền hạn riêng về hành chính, thu thuế, giáo dục, nhà thờ. Liên bang Đức theo chính thể quân chủ lập hiến và thể hiện rõ rệt tinh thần "Phổ hoấ' nước Đức. Hoàng đế là người đứng đầu nhà nước. Vua Phổ đồng thời là hoàng đế Đức. Hoàng đế Đức có quyền hạn khá lớn: thống lĩnh quân đội, bổ nhiệm hoặc cách chức các quan chức cao cấp liên bang, thủ tướng, thượng nghị sĩ,... kí các điều ước quốc tế, tuyên chiến. Hoàng đê có quyền triệu tập, giải tán, hoãn các phiên họp của hội đổng liên bang (thượng viện), hạ nghị viện và không chịu trách nhiệm trước quốc hội. Cơ quan lập pháp là nghị viện, gồm hai viện: Hội đồng liên bang (thượng nghị viện) có 58 thành viên, trong đó Phổ chiếm 17 ghế. Các bang khác có từ 1 đến 6 đại biểu trong mỗi bang. Đạo luật do hạ nghị viện đã thông qua 319 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


vẫn có thể bị hội đồng liên bang bác bỏ. Hội đổns không thể thông qua một quyết định khi có 14 phiếu trổng (trong đó riêng Phổ đã có 17 phiếu và sau này là 22 phiếu). Hạ nghị viện (quốc hội) có nhiệm kì 3 năm, từ năm 1987 là 5 năm. Hạ nghị sĩ do dân bẩu. Nhưng quyển bầu cử của người lao động bị hạn chế nhiều. Hạ nghị viện có thể bị thượng nghị viện giải tán. Chính phủ là cơ quan hành pháp. Quyên hạn của chính phủ tập trung vào thủ tướng. Các bộ trưởng chỉ giữ vai trò như những người tư vấn, phụ tá cho thủ tướng. Quyền hạn của chính phủ (thực chất là quyển hạn của thủ tướng) khá lớn về mọi lĩnh vực quân sự, kinh tế, hành chính, tư pháp. Thủ tướng do hoàng đê bổ nhiệm hoặc cách chức. Nhưng các văn bản của hoàng đế ban hành phải có chữ kí kèm theo của thủ tuớng. Như vậy trong bộ máy nhà nước, thượng viện có quyền hạn hcm hạ nghị viện. Và quyền lực nhà nước tập trung vào hoàng đ ế và thủ tướng. Chính thể quân chủ lập hiến là sản phẩm của cuộc cách mạng tư sản chống phong kiến không triệt để. Nhà nước tư sản Đức thể hiện rõ nhất sự cấu kết giữa đại tư bản với táng lớp quý tộc tư bấn hoá (quý tộc joong ke - theo cách gọi của C.Mác) và mang nặng tính quân phiệt. C.Mác nhận xét: đó là "nền độc tài quân sự được tổ chức theo lối quan liêu, được bảo vệ bằng cảnh sát, được trang sức bằng những hình ¡hức nghị viện, với một m ó hổn hợp những yếu tố phong kiến và đồng thời đã chịu ảnh hưởng của giai cấp tư sản”, là đế quốc Joong ke(l) Bixmác (thủ tướng suốt 20 năm: 1871 - 1890) (1). C.M ác: Phê phán cương lĩnh G ôta.C .M ác - F.Engen: tuyển tập, tập IV, N xb. sự thật, Hà n ội. 1984, tr. 192. 320 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


chính là hiện thân của sự cấu kết và tính chất trên. Nước Đức được thống nhất, mở đường cho kinh tế tư bản của nghĩa phát triển mạng mẽ. Đến đầu thế kỉ XX, kinh tế Đức vươn lên hàng đầu ở châu Âu và đứng hàng thứ hai trên thế giới (sau Mĩ). Tuy cuộc cách mạng tư sản được tiến hành muộn, nhưng từ cuối thế kỉ 19, chủ nghĩa tư bản ở Đức cũng bắt đầu chuyển sang chủ nghĩa tư bản độc quyền. Trong hệ thống chính trị của nền quân chủ nghị viện Đức cớ nhiều đảng phái chính trị tư sản: Đảng bảo thủ, Đảng bào thủ tự do, Đảng dân tộc tự do, Đảng trung tâm cơ đốc giáo. Giai cấp công nhân có đảng là Đảng xã hội dân chủ Đức. Trong chính thể quân chủ nghị viện, trên thực tế đi hình thành chế độ độc tài Bixmác. Thủ tướng Bixmác buộc vua Vin hem I phải theo ý mình không kể gì đến quốc hội. Bixmác trấn áp mọi sự phản kháng bất kể là tầng lớp chính trị nào. Năm 1872, ông ta đã ép nghị viện thông qua đạo luật cấm các giáo sĩ tuyên truyền chính trị, tưóc quyền kiểm soát của nhà thờ đối với trường học, nhà nước đào tạo và bổ nhiệm tăng lữ... Các công việc đăng kí kết hôn, khai sinh, khai tử, .. đều tách khỏi luật lộ của nhà thờ. Bixmác chia mũi nhọn tấn công vào phong trào cống nhãn bằng “đạo luật đặc biệt". Đạo luật này được ban hành năm 1878 và bị bãi bỏ cùng với sự mất chức của Bimác năm 1890. Đạo luật này giải tán các tổ chức công nhân, đóng cửa các toà báo và tạp chí công nhân, bắt bớ và truy nã các đảng viên đảng xã hội, dân chủ,.. Là đế quốc sinh sau đẻ muộn, chính phủ Đức đã đẩy mạnh chiến tranh xâm lược thuộc địa. Nhất là đầu thế kỉ 20, đế chế Đức tãng cường chạy đua vũ trang. Đế chế Đức là một trong những kẻ gây ra cuộc chiến tranh thế giới lần thứ I. 321 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


Cuộc chiến tranh thế giới I giữa các đế quốc kết thúc bằng sự thảm bại của Đức. Điều đó đẩy nước Đức vào tình trạng kiệt quệ mọi mặt. Thắng lợi vĩ đại của Cách mạng tháng mưcã Nga có ảnh hưởng rộng lớn. Phong trào đấu tranh của công dân và nhân dân lao động Đức bùng nổ mạnh mẽ. Ở nhiều nơi, phong trào đã thành lập Xô viết đại biểu công nhân và binh lính. Nhung do sự phản bội của các nhà lãnh đạo Đảng xã hội dân chủ, sụ biến chất của Đảng này, các Xô viết đã bị thất bại. Đi đôi với việc chống phá phong trào của quần chúng lao động, giai cấp tư sản đã lợi dụng những thắng lợi của phong trào đó để thiết lập một chính quyẻn tu sản mới. Ngày 19 f jB1919, giai cấp tư sản tiến hành bầu cử quốc hội (quốc hộiilẠp hiến). Hai đảng lớn trong quốc hội là Trung tâm cơ đốc giáo và Xã hội - dân chủ (thực chất đã biến thành đảng của tư sản). Ngày 6-2, Quốc hội gồm 432 đại biểu, họp ở thành phô' Vâyma, tuyên bố thành lập chế độ cộng hoà (nên còn được gọi là nền cộng hoà Vâyma). Hiến pháp của nền cộng hoà được ban hành ngày 1 1 -8 -1 9 1 9 . N hư vậy, cuộc cách mạng dân chủ tư sản 1918 đã xoá bỏ nền quân chủ lập hiến. Và thay thế vào đó vẫn là một chính quyền tư sản, nhưng dưới một hình thức mới, là chính thể cộng hoà. Theo hiến pháp 1919, đó là chính thể cộng hoà đại nghị. Nghị viện liên bang vẫn gồm hai viện: Hội đồng liên bang (Reisơrát) là cơ quan đại diện cho các bang. Thời kì này có 18 bang. Từng bang thành viên có hiến pháp, cơ quan lập pháp và chính phủ riêng. Tuy vậy, quyền 2. C hính thể cộng hoà đại nghị (1918 - 1933) 322 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


lực nhà nước được tập trung ở cấp liên bang. Các lĩnh vực quan trọng đối như đối ngoại, quán sự, tài chính, thuế khoá, hải quan, thông tin, giao thông, ... đều phụ thuộc vào chính quyền liên bang. Hạ nghị viện (Raisơrát) được bầu theo nguyên tắc bầu phiếu trực tiếp. Hạ nghị viện có quyền phê chuẩn thành phần chính phủ và chính phủ phải chịu trách nhiệm trước hạ viện. Như vậy, trong thời kì này, vai trò và quyền hạn của hạ viện được tăng cường. Hạ viện có nhiệm kì 4 năm. Tổng thống là người đứng đầu nhà nước, có nhiệm kì 4 năm, cũng được bầu theo nguyên tắc bầu phiếu trực tiếp. Tổng thống có quyền tương đối rộng: tổng chỉ huy quân đội, chọn các thành viên chính phủ để trình hạ viện phê chuẩn. Tổng thống có quyền tuyên bố chiến tranh, kí các điều ước quốc tế, tuyên bố tình trạng khẩn cấp. Tổng thống có quyền tuyên bố giải tán hạ viện khi những đảng phái chiếm đa số ghế trong hạ viện rút khỏi hạ viện. Chínhphủ có đầy đủ quyền hành của cơ quan hành pháp và phải chịu sự giám sát của quốc hội. Hiến pháp cho phép hoạt động nghiệp đoàn, tụ do ngôn luận, quyền lao động, bảo hiểm lao động. Đó là kết quả của phong trào đấu tranh của quần chúng sau chiến tranh thế giới lẩn I. Chính quyền tư sản của nền cộng hoà Vâyma, trên thực tế, ngày càng thiên hữu, nhất là từ cuối những năm 20. Nó luôn luôn đại biểu cho quyền lợi của giai cấp tư bản lũng đoạn. Chính phủ Bruninh (1930 - 1932) - chính quyền của đảng Trung tâm cơ đốc giáo, đã thẳng tay đàn áp nhân dán, cấm đoán các hoạt động của Đảng cộng sản. 323 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


3. Chính quyền tu sản phát xít (1933 - 1945) Sau chiến tranh thế giới I, nền kinh tế Đức dần dần được phục hồi. Nhưng chảng bao lâu sau, Đức lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 - 1933. Phong trào đấu tranh của công nhân và nhân dân lao động ngày càng phát triển mạnh mẽ. Uy tín và vị trí chính trị của Đảng cộng sản được tăng cưòng. Trong cuộc bầu cử hạ viện tháng 11 - 1932, Đảng cộng sản thu được 5.972.000 phiếu (hơn lần trước 606.000phiếu). Kết quả bầu cử này làm cho giai cấp tư sản lo sợ. Trước tình trạng hệ thống chính trị tư sản bị lung lay tận gốc bởi cuộc khủng hoảng kinh tế - chính trị 1929 - 1933, ngày 31/11/1933, tập đoàn tư bản lũng đoạn đưa Ađôn Hítle - thủ lĩnh "Đảng công nhân quốc xã Đức" lập lên chính phủ mới, thiết lập nền chuyên chính tư sản phát xít. Ngay từ những biện pháp đầu tiên, chính phủ Hítle đã giải tán quốc hội và chuẩn bị lực lượng để giành ưu thế trong quốc hội mới, nắm trọn vẹn chính quyền nhà nước. Cuộc bầu cử quốc hội (hạ viện) ngày 5 - 3 - 1933 diẽn ra trong không khí đàn áp và khủng bố. Tuy vậy, bọn phát xít chỉ đuợe 44% tổng số phiếu, chiếm 288 đại biểu. Chúng liên minh với bọn Quốc gia (đảng phái triệt để ủng hộ chủ nghĩa phát xít, được 8% số phiếu với 52 đại biểu). Sau cuộc tuyển cử, Hítle vận động, gấy áp lực và được Quốc hội trao quyền hành đặc biệt. Do vậy, quốc hội không có quyền kiểm soát chính phù nữa và hiến pháp cũng chỉ còn có hiệu lực trên giấy tờ. Tiếp đó, các cơ quan lập pháp ở các bang bị xoá bỏ trên thực tế. Ngày 30 - 1 - 1934, hội đồng liên bang - cơ quan đại diện cho các địa phương, đã làm lễ trao quyền cho trung ương. Và như vậy, bộ máy chính quyền độc tài phát xít được hoàn chỉnh. 324 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


Chính quyền phát xít điên cuồng đàn áp mọi lực lượng tiến bộ và cách mạng, đặc biệt là đối với Đảng cộng sản. Ngày 27 - 12 - 1933, chúng tổ chức đốt cháy nhà quốc hội và vu cáo cho Đảng cộng sản là thủ phạm. Đồng thời chúng đã ra sắc lệnh thủ tiêu các quyền tự do cá nhãn, ngôn luận, báo chí, hội họp. Cũng theo sắc lệnh này, Đảng cộng sản không được hoạt dộng, cơ quan ngôn luận của Đảng bị đóng cửa. Tiếp đó, nhiều đảng phái chính trị và các tổ chức quần chúng cũng bị giải tán. Ngày 2 - 8 - 1934, Hítle tuyên bô' hủy bỏ hiến pháp Vây - ma, sáp nhận chức tổng thống với thủ tướng và y trở thành quốc trưởng. Hành vi độc tài đó được hợp thức hoá bằng cuộc trưng cầu dân ý kiểu phát xít sau đó. Chính quyền phát xít đẩymạnh chưa từng thấy cuộc chạy đua vũ trang, xây dựng bộ máy chiến tranh khổng lồ. Theo sắc lộnh ngày 01 - 5 - 1933, thanh niên Đức từ 18 - 25 tuổi phải thực hiện chế độ lao động "tự nguyện'' trong 2 năm. Họ phải sống trong các doanh trại, đời sống bị hoàn toàn quân sự hoá. Năm 1935, Hítle ban luật tổng động viên. Đi đôi với việc phát xít hoá bộ máy Nhà nước, quân sự hoá đời sống kinh tế xã hội và các chiến dịch khùng bố, chủ nghĩa phát xít còn ra sức tuyên truyền mị dân, lừa bịp quần chúng. Chúng đưa ra 3 học thuyết chính trị phản động: thuyết địa lí - chính trị, thuyết chủng tộc siêu đẳng, thuyết chủ nghĩa xã hội Đức. Chúng mê hoặc quần chúng bằng các luận điệu lừa bịp: "chủ nghĩa phát xít là một phong trào cách mạng chống chủ nghĩa tư bản”, "thủ tiêu những thu nhập không lao động", "cải cách ruộng đất"... Nói tóm lại, chủ nghĩa phát xít đã triệt để lợi dụng sự bất mãn của quần chúng đối với chính thể dân chủ tư sản trong những năm khủng hoảng kinh tế. 325 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


v ề đối ngoại, chính quyền phát xít ráo riết chuẩn bị và tiến hành phát động cuộc chiến tranh thế giới mới. Ngày 25/11/1935, Đức kí với Nhật một hiệp ước gọi là: "Hiệp ước chống quốc tế cộng sản". Ngày 6/11/1937 nước Italia phát xít tham gia hiệp ước này. Tháng 7/1936 ĐÍ'C cùng Italia can thiệp vũ trang vào Tây Ban Nha. Tháng 3/1938, Hítle dùng vũ lực thôn tính Áo. Năm 1938, chúng xâm chiếm Tiệp Khắc. Ngày 01/9/1939, Đức phát xít tấn công Ba Lan gây ra cuộc chiến tranh thế giới thứ II. Nhưng kết cục cuối cùng là chủ nghĩa phát xít đã bị thất bại, Chính quyền phát xít bị sụp đổ nãm 1945. 4. Chính thể cộng hoà đại nghị (1949 - nay) Sau chiến tranh thế giới thú II, các nước đồng minh xác lập chế độ tạm chiếm ở Đức. Phần Đông Đức do Liên Xô kiểm soát, phần Tây Đức chịu sự kiểm soát của Mỹ, Anh* Pháp. Ở Tây Đức, được sự che trở của quân đội Mĩ, Anh, Pháp, các tập đoàn tư bản lũng loạn Đức trở lại cầm dầu các ngành kinh tế và các cơ quan hành chính. Việc dãn chủ hoá nước Đức cũng bị phá hoại. Quăn chiếm đóng của Mĩ, ANh, Pháp ở Tây Đức đã ngăn chặn hoạt động cùa Đảng cộng sàn và các tổ chức dân chủ, đồng thời giúp cho sự ra đời của các đảng phái chính trị tư sản mà trong đó tiêu biểu là Liên minh dân chủ Thiên chúa giáo. Năm 1949 vùng chiếm đóng của Mĩ, Anh, Pháp thành lập nên nước Cộng hoà Liên bang Đức (ngày 7 - 9). Theo hiến pháp 1949 Cộng hoà Liên bang Đức theo hình thức kết cấu nhà nước liên bang và chính thể cộng hoà nghị viện, Thủ đô là Bon. Cộng hoà Liên bang Đức có 10 bang, từng bang có quốc 326 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


Quốc hội Liên bang Đức là cơ quan luật pháp cao nhất, gồm 2 viện: Hội đồng liên bang (Thượng nghị viện) gồm đại diện của các bang thành viên. Thượng nghị sĩ Liên bang cịo chính phủ bang bổ nhiệm hoặc bãi miễn. Hạ nghị viện là cơ quan dân cử, được bầu theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu. Nhiệm kì của hạ nghị viện là 4 nãm. Tổng thống là nguyên thủ quốc gia, nhưng thực quyền không nhiều. Tổng thống có nhiệm kì là 5 năm, do các hạ nghị sĩ Liên bang và nghị sĩ các bang bầu. Chính phủ Liên bang là cơ quan hành pháp và chịu trách nhiệm trước quốc hội. Hạ nghị viện bầu thủ tướng là người của đảng chiếm đa số ghế trong hạ nghị viện. Trên cơ sở đề nghị của thủ tướng, tổng thống bổ nhiệm hoặc bãi chức các bộ truờng. Theo tinh thần của Hiến pháp, thủ tướng là người có thực quyền hơn Tổng thống. Trong suốt hai thập niên đầu, Liên minh dân chủ Thiên chúa giáo là đảng cầm quyền. Thực hiện ý chí của tư bản lũng đoạn, Chính quyền của đảng này thi hành nhiều chính sách phản dân chủ. Năm 1956, Chính quyền đặt Đảng cộng sản ra ngoài vòng pháp luật. Gần 200 tổ chức tiến bộ bị cấm, nhũng nhà hoạt động tiến bộ đấu tranh cho hoà bình, dân chủ bị truy nã. Tháng 9/1969, Đảng xã hội dân chủ dành thắng lợi trong cuộc bầu cử quốc hội (hạ nghị viện) và trở thành đảng cầm quyền. Chính quyền của đảng này thi hành một số chính sách đối ngoại tiến bộ. Ngày 12/8/1970, Liên Xô và Cộng hoà Liên bang Đức kí hiệp ước công nhận tất cả các đường hội và chính phù riêng. 327 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


biên giới hiện tại ở Châu Âu. Từ thập niên 80 đến nay, Chính quyền lại thuộc về Liên minh dân chủ Thiên chúa giáo. Ngày 3/10/1990, Cộng hoà Liên bang Đức và Cộng hoà dãn chũ Đức thống nhất thành Cộng hoà Liên bang Đức. Phần lãnh thổ của Cộng hoà dân chù Đức trở thành 5 bang mới của Cộng hoà Liên bang Đức. Hiện nay ở Cộng hoà Liên Bang Đức có nhiều đảng phái tư sản, như Liên minh dân chủ Thiên chúa giáo, Xã hội dân chủ, Dân chủ tự do... VI. ITALIA 1Ế Nước Italia thống nhất và nền quân chủ lập hiến (1870-1922) Cũng như Đức, đến giữa thế kỉ 19, Italia vẫn nằm trong chế độ phong kiến và tình trạng chia cắt thành nhiều vương quốc nhỏ, hơn nữa có vùng còn chịu ách thống trị hoặc phụ thuộc nước ngoài (Áo , Pháp). Bởi vậy cách mạng tư sản Italia là cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, xoá bỏ chế độ phong kiến, thống nhất đát nước và thiết lập chế độ tư sản. Sau hai thập kỉ đấu tranh, ngày 20/09/1870, nước Italia được hoàn toàn thống nhất. Cuộc cách mạng tư sản Italia không triệt để. Nó thiết lập một nhà nước tư sản dưới chính ■thểquãn chủ lập hiến, trong dó quyền hạn của nhà vua rất lớn. Thực chất đó là chính quyền của quý tộc tư sản hoá và đại tư sản. Sau khi hoàn thành cuộc đấu tranh thống nhất đất nước, 328 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


chủ nghĩa tư bản Italia có điều kiện phát triển mạnh mẽ. Trong khi tiến lên chủ nghĩa đế quốc, nước Italia vẫn chưa ra khỏi tình trạng nông nghiệp lạc hậu. Phần lớn ruộng đất vẫn ờ trong tay quý tộc, bên cạnh kiểu kinh doanh theo phương thức tư bản chủ nghĩa, vẫn còn tàn dư kiểu bóc lột phong kiến. Đế quốc Italia, theo như nhận xét của V.I Lênin là "chủ nghĩa đế quốc nghèo khổh. 2. Chính quyền phát xít (1922 -1943) Tuy là một trong những nước thắng trận trong chiến tranh thế giới thứ I, nhưng Italia bị thiệt hại nặng nề. Sau chiến tranh, phong trào đấu tranh của quần chúng phát triển mạnh mẽ. Năm 1919, lực lượng cánh tả đã giành thắng lợi lớn trong cuộc bầu cử Quốc hội, 31 % cử tri bỏ phiếu ủng hộ. Năm 1921, Đảng cộng sản ra đời. Chính thể quân chủ lập hiến tỏ ra bất lực trong việc giải quyết những khó khăn kinh tế - chính trị. Trước tình hình đó, các tập đoàn tư bản lũng đoạn tìm cách thay đổi hình thức và phương thức thống trị. Được sự ủng hộ của tầng lớp đại tư sản, đảng phát xít của Mútxôlini đã thành lập ủy ban cướp chính quyền và tổ chức "Đoàn quân áo đen" gồm 40 vạn người. Tháng 10/1922, chúng tiến về thủ đô Rôma. Vua buộc phải bổ nhiệm trùm phát xít Mút xô Lini làm thủ tướng. Mútxôlini nhanh chóng thực hiện viộc thủ tiêu các hình thức thể chế dân chủ tư sản, thiết lập nền độc tài chuyên chính, đại biểu cho quyền lợi của tư bản lũng đoạn. Nhà vua vẫn được duy trì vì vua còn có uy tín tinh thần, nhưng vua phải phục tùng đảng phát xít. Quốc hội cũng được giữ lại nhưng chỉ còn là hình thức. Cuộc tuyển cử 1924, đảng phát xít dùng những biện pháp mị 329 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


dân và vũ lực, chiếm đa số trong quốc hội: 405/535. Nãm 1927, 123 nghị sĩ chống đối trong quốc hội bị tước quyền, bị bắt bị đưa đi đầy. Một đạo luật năm 1928 tạo quyền cho Mútxôlini lựa chọn đại biểu quốc hội. Tiến xa hơn nữa. với đạo luật được ban hành ngày 11/03/1938, quốc hội bị giải tán và thay thế bằng "Viện nghiệp đoàn". Tất cả 700 đại biểu của tổ chức này đều do MútxôLini lựa chọn. Mọi quyền lực Nhà nước đều tập trung vào thủ tướng Mútxôlini. Theo đạo luật năm 1925 " Vê' quyển tối cao cùa người đímg đẩu chính phủ", thủ tướng hoàn toàn không phụ thuộc vào quốc hội, các thành viên chính phủ do thủ tướng quyết định không cần quốc hội phê chuẩn. Theo đạo luật năm 1926 ''Vé quyền của cơ quan hành pháp ban hành chuẩn mực pháp l ỉ \ người đứng đầu chính phủ có quyẻn ban bố sắc luật, thay thế quyền lập pháp của quốc hội, các quan chức chính quyền địa phương do thủ tướng bổ nhiệm trực tiếp. Mútxôlini thành lập các tổ chức chính trị, nhằm tạo cơ sỏ xã hội cho chính quyền phát xít. Đó là các nghiệp đoàn phát xít, tổ chức thanh niên phát xít... Mútxôlini tiến hành kí kết với Giáo hoàng để lợi dụng lực lượng công giáo. Từ năm 1870, Giáo hoàng mất Rôma. Để phản kháng, từ đó, Giáo hoàng đã không ra khỏi cung điện. Ngày 11/02/1929 Mútxôlini và Giáo hoàng kí kết một hoà ước. Theo đó Giáo hoàng thừa nhận quyền của nhà vua trên đất nước Italia, trừ Vaticăng. Hoà ước công nhận Vaticãng rộng 1/2 Km2 thuộc quyền Giáo hoàng. Hoà ước có lợi cho cả hai bên và là một thắng lợi của chế độ phát xít. Đương nhiên ngay từ đầu, chính quyền phát xít đã thảng tay đàn áp các phong trào đấu tranh và giải tán các chính đảng. Chúng đã ban hành một loạt " các dạo luật dặc biệt". 330 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


cấm các tổ chức công đoàn, các chính đảng hoạt động, lập các toà án đặc biệt để xét xử khẩn cấp "phạm nhân chính trị"... Đồng thời chính quyền phát xít tung ra hàng loạt luận điệu mị dần. Đi đôi với việc xoá bỏ các quyền tự do dân chủ, phát xít hoá bộ máy Nhà nước, chính quyền phát xít càng tăng cường bộ máy và tiềm lực chiến tranh. Tháng 12/1939, đạo luật "Về quân sự hoá dân tộc Italia" đuợc ban hành, quy định việc huấn luyện quân sự cho trẻ em ngay từ khi bắt đầu đi học cho đến khi sử dụng được vũ khí. Chính quyén phát xít Italia cấu kết chặt chẽ với các chính quyền phát xít Đức, Nhật... phát động cuộc chiến tranh thế giới và kết cục chúng đã bị thảm bại. 3. Chính thể cộng hoà nghị viện (1946 - nay) Tháng 9/1943, Italia kí đầu hàng không điều kiện quân đội đồng minh, ủ y ban giải phóng dân tộc (liên minh các đảng phái Italia chống phát xít) tạm thời nắm quyền. Italia là nước chiến bại, nên sau chiến tranh bị quân đội Anh, Mĩ chiếm đóng. Khi tiến vào Italia, quân đội Mĩ, Anh giải giáp các đơn vị du kích, giải tán các ủ y ban giải phóng dân tộc. Sau chiến tranh, 3 đảng mạnh nhất ở Italia (3 đảng trong Liên minh cũ chống phát xít) là Đảng cộng sản và 2 đảng tư sản: Xã hội, Dân chủ Thiên chúa giáo. Theo sáng kiến của Đảng cộng sản, tháng 6/1946, cuộc bầu cừ quốc hội lập hiến được tổ chức đồng thời với cuộc trưng cầu ý dân, theo nguyên tắc nam, nữ bình đẳng và phổ thông đầu phiếu. Do phong trào đấu tranh của nhân dân, vai trò lịch sử của Đảng cộng sản, bản hiến pháp được ban hành nãm 1946 là bản 331 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


hiến pháp tư sản tiến bộ nhất trong các hiến pháp của các nước tư bản bấy giờ. Hiến pháp Italia thừa nhận các quyền tự do dân chù tư sản và xác lập chính tliểcộng hoà dại nghị. Quốc hội, cơ quan lập pháp gồm hạ nghị viện và thượng nghị viện, có nhiệm kì 5 năm và có quyền hạn ngang nhau. Nghị sĩ cả hai viện đều do phổ thông đầu phiếu bầu ra. Tổng thống là nguyên thủ quốc gia, có nhiệm kì 7 năm. Tổng thống do thượng viện, hạ viện và đại biểu đại diện từ các hội đồng tỉnh bầu ra. Theo tinh thần của hiến pháp, tổng thống không có thực quyền. Thủ tướng, các thành viên của hội đồng bộ trưởng (chính phủ) do quốc hội bầu ra và tổng thống bổ nhiệm. Vì vậy, thủ tướng và các bộ trưởng, trong thực tế, là người eija đảng chiếm đa sô ghế trong nghị viện. Chính phủ là cơ quan hành pháp và Thủ tướng là người có nhiều thực quyền. Sau chiến tranh, do phong trào đấu tranh mạnh mẽ của quần chúng, chính quyền tư sản buộc phải thực hiện một số cải cách. Cải cách ruộng đất được thực hiện hạn chế. 1,5 triệu ha ruộng đất chuyển sang tay nông dân bằng cách mua lại. Trong công nghiệp, Nhà nước giúp đỡ rất nhiều cho các độc quyền. Chính phủ thúc đẩy quá trình tập trung tư bản. Cũng như Cộng hoà liên bang Đức và Nhật Bản, trong những năm 50, kinh tế Italia phát triển với tốc độ rất cao. Về chính trị, để ngãn chặn quá trình dân chủ hoá đất nước, tháng 5/1947, đảng Dân chủ thiên chúa giáo gây ra cuộc khủng hoảng chính phủ, gạt những người cộng sản và xã hội ra. độc chiếm chính quyền suốt vài chục năm đó. Hiện nay. Italia có những đảng phái tư sản chủ yếu: Dàn chủ thiên Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


chúa giáo, Cộng hoà, Xã hội, Xã hội dân chủ, Tự do, Phong trào xã hội. VII. NHẬT BẲN Lịch sử nhà nước và pháp luật Nhật Bản từ cuối thế kỉ 19 đến nay có thể được chia làm hai giai đoạn. l ế Quá trình quân phiệt hoá và phát xít hoá nhà nước của chính thê quân chủ lập hiến (từ cuối thê kỉ 19 -1945) Tuy cách mạng tư sản nổ ra muộn, nhưng ngay từ cuối thế kỉ 19, chủ nghĩa tư bản Nhật cũng bắt đầu chuyển sang thời kì chủ nghĩa tư bản độc quyền. Nhật bản là nước nghèo nàn về tài nguyên và chật hẹp về thị trường. Trong nhà nước tu sản Nhật, tầng lớp quý tộc phong kiến cũ (quý tộc tư sản hoá) có thế lực rất mạnh.. Đó là hai nguyên nhân thúc đẩy nền quân chủ lập hiến Nhật đi vào con đường quân phiệt hoá và phát xít hoá. Trong nền quân chủ lập hiến của Nhật, theo hiến pháp 1889, vai trò quyền hạn của nghị viện rất mờ nhạt. VỊ trí đặc thù của nội các là, một mật nó phụ thuộc vào hoàng đế, mặt khác hoàn toàn độc lập vói nghị viộn. Quyền lực nhà nước do hai thế lực chi phối. - Thế lực của giới tài phiệt mà tiêu biểu là hai tập đoàn tư bản lớn. Tập đoàn Misui tài trợ cho đảng Tự do. Thành viên của đảng này là các nghị sĩ, quan chức chính quyền địa phương, chủ tiệm buôn, chủ tịch các thị trường chứng khoán... Tập đoàn thứ hai là tổ hợp Misubisi mà đại diện chính trị của nó là đảng Chính trị nhân dân. - Thế lực quân phiệt là những tướng tá quân đội. Thủ tướng, các bộ trưởng và nhiều quan chức cao cấp khác trong 333 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


Các thế lực trên kết cấu chạt chẽ với nhau. Chúng là hai nhưng lại là một. Chúng chi phối đời sống chính trị Nhật bản, tạo nên tính quân phiệt của chính quyền nhà nước. Tính quân phiệt của Nhà nuớc còn đuợc biểu hiện ờ việc dùng vũ lực đàn áp thẳng tay các trào lưu dãn chủ. Chính phủ Thiên, hoàng ban hành các đạo luật vẻ giữ gìn trật tự, cấm bãi công, cấm hoạt động của công đoàn và các tổ chức của giai cấp công nhân. Đảng xã hội dân chủ (thành lập 1901); Đảng xã hội chù nghĩa (thành lạp 1906) đều bị chính quyền ngăn cấm hoạt động và lần lượt bị giải tán. Năm 1904, báo Hâyminxinbun đăng " Tuyên ngôn cùa Đảng cộng sản" nên bị tịch thu, các biên tập viên bị truy nã, phải ra nước ngoài sinh sống. Sau đó, Đảng cộng sản (ra đời 1922) cũng bị đình chỉ hoạt động. Năm 1925, Chính phủ Katô ban hành luật bầu cử mới. Theo luật này, tất cả nam giới trên 25 tuổi và đã cư trú trong khu vực bầu cử hơn một năm đều có quyền bẩu cử, nam giới trên 30 tuổi có quyền tranh cử. Với sự ra đời của đạo luật này, sô' cử tri tăng từ 3 triệu lẽn hcm 12 triệu. Tùy vậy, phần lớn nhân dân vẫn không có quyền bầu cử. Sau đó, Chính phủ ban hành đạo luật về " những tư tưởng nguy hiểm", cho phép nhà đương cục kết án khổ sai hoặc tù chung thân (sau này bổ sung hình phạt tử hình) đối với những người có xu hướng dân chủ. Tính quân phiệt cùa chính quyền Nhật Bản đặc biệt thể hiện ở chính sách đối ngoại hiếu chiến xâm lược. Cuối thế kì 19, đế quốc Nhật tấn công Trung Quốc nhằm xâu xé Trung Quốc với các đế quốc phương Tây, xâm lược Triều Tiên. Sau đó là cuộc chiến tranh Nga - Nhật (1904 - 1905) Nhật cũng là nước tham gia tích cực vào cuộc chiến tranh thế giới I, để bộ m áy N hà nước thường vốn là các tướng tá. 334 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


tranh giành thuộc địa với các đế quốc khác. Chủ nghĩa quân phiệt Nhật phát triển tới đỉnh cao thành chủ nghĩa phát xít. Quá trình xác lập chế độ phát xít ở Nhật tương đối chậm chạm, kéo dài từ 1929 đến 1939. Và chính quyền phát xít tồn tại đến khi kết thúc chiến tranh thế giới n. Khủng hoảng kinh tế bùng nổ, kích thích việc phát xít hoá bộ máy nhà nuớc. Sau khi nội các Tanaca đổ (2/7/1929), Hamaguxi, lãnh tụ đảng Chính trị nhân dân (đảng Dân chính) lên cầm quyền. Tháng 12/1931, giới quân phiệt đưa Inucai, người của hội Chính hữu, làm thủ tướng, Araki, nhà tư tưởng quân phiệt, làm bộ trưởng lục quân. Đến mùa hè 1932, Nhật hoàn toàn chiếm Đông Bắc Trung Quốc, lập ra Mãn Châu quốc. Nhưng sau đó, kế hoạch mở rộng chiến tranh ở Trung Quốc thất bại. Vì vậy, ngày 15/5/1932, nhóm "Sĩ quan tre" theo xu hướng phát xít đã ủng hộ bộ trưởng lục quân Araki, gây chính biến ở Tôkyô, chúng tấn công dinh thủ tướng, giết chết thủ tướng Inucai, tấn công trụ sở hội Chính hữu... Cuối cùng, cuộc đảo chính thất bại. Từ sau khi Inucai bị hại đến lúc Nhật bại trận năm 1945, có 11 tướng tá trong quân đội thay nhau lập chính phủ, trong đó có 4 đô đốc và 7 đại tướng lục quân. Thay thế Inucai, đô đốc Xaitô được đứng ra thành lập chính phủ mới. Mùa hè 1934, chính phủ Xaitô đổ, Chính phủ ôcađa lên thay. Trong thời gian này, nhiều biện pháp phát xít được thực hiện. Chính quyền tăng cường tuyên truyền tư tưởng phát xít trong dân chúng. Thiên hoàng được đưa ra để mê hoặc dân chúng. Sau thất bại trong cuộc bầu cử quốc hội tháng 02/1936, thế lực phát xít âm mưu làm đảo chính để nắm toàn bộ chính quyền. Ngày 26/02/1936, nhóm "Sĩ quan trẻ" thuộc phía Araki làm đảo chính nhưng không thành. Chính biến quàn sự là một bằng chứng rõ rệt về 335 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


sự bất đồng quan điểm trong nội bộ giói cầm quyền. Đến lúc này, giai cấp tư sản lũng đoạn muốn chấm dứt đấu tranh nội bộ, để tập trung lực lượng xâm lược bên ngoài và đàn áp phong trào nhân dân trong nước. Muốn vậy phải có một chính phủ phát xít không đảng phái. Vì lẽ đó, tướng Hirôta được cử ĩàm thủ tướng và tưởng Tôgô làm bộ trưởng lục quân. Thời kì nội các gồm các đảng phía đã chăm dứt. Ngày 25/11/1936, Nhật kí với Đức "hiệp ước chống quốc tế cộng sản", hình thành Liên minh phát xít quốc tế. Ngày 7/7/1937, Nhạt phát động cuộc chiến tranh quy mô đánh chiếm Trung Quốc. Mùa xuân 1938, Chính phủ Cônôêban hành luật "Tổng động viên toàn quốc" và đạo luật quân sự hoá nền kinh tế. Chính phủ thiết lập chế độ kiểm duyệt các tổ chức công đoàn. Tháng 5/1939, phát xít Nhật tán công nuớc Cộng hoà nhãn dân Mông cổ . Và trong những năm 1940 - 1945, phát xít Nhật tiến hành cuộc bành trướng xâm lược quy mô lổm ở Đông Nam Á và Thái Bình Dương. Ngày 15/8/1945, chính quyền Nhật Bản phải kí đầu hàng không điều kiện phe Đồng Minh. Như vậy, chế độ phát xít ở Nhật do tập đoàn quân phiệt dựng lên. Trong quá trình thiết lập chế độ phát xít diễn ra cuộc đấu tranh nội bộ giữa các phe phái có bản chất giống nhau, nhưng đướng lối xâm lược khác nhau. Chù nghĩa phát xít đã vấp phải cuộc đấu tranh mạnh mẽ của nhân dân. Đó là những nguyên nhân làm cho chế độ phát xít ở Nhật xác lập tương đối chậm hơn các nước phát xít khác. 2ế Sự thay đổi và quá trình dân chủ hoá trong chính thể quân chủ nghị viện (1946 - nay) Từ sau chiến tranh thê giới II đến nay, Nhà nước tư sản 336 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


Nhật Bản vẫn là chính thể quân chù nghị viện. Nhưng nó đã khác thời kì trước ở hai điểm. - Sự thay đổi cơ cấu quyền lực trong chính thể. Hoàng đế không còn quyền hành to lớn nhu. trựớc .đầy, mà trợ thành người không có thực quyền. Vai trò của quốc hội được tăng cường và thụíưáũgià người có thực quyền nhất. - Quá trình dân chủ hoá xã hội tu sản. Từ 8/1945, quân đội Đồng minh, trên thực tế là quân Mĩ, chiếm đóng nước Nhật bại trận. Cùng với những cải cách về kinh tế, xã hội, ngày 3/11/1946, hiến pháp mói của Nhật được công bố. Hiến pháp này do lực lượng chiếm đóng soạn thảo và sau đó được quốc hội Nhật thông qua. Hiến pháp mới là "tuyên ngôn hoà bình”, "không công nhận quyền tham gia chiến tranh với bất cứ nước nào" (Điều 9). Hiến pháp công nhận các quyền tự do dân chủ tư sản, như quyền nam nữ bình đẳng, quyền đình công, quyền bình đẳng trước pháp luật.v.v.. Hoàng đế là nguyên thù quốc gia. Hoàng đế chỉ là người đứng đầu nhà nước có tính chất tượng trung. Hoàng đế có các quyền: bổ nhiệm thủ tướng do quốc hội bầu ra, triệu tập quốc hội, tuyên bô' kết quả tổng tuyển cử... Hoàng đế không có thục quyền, vì theo điều 3 "mọi hành vi của hoàng đế, trong lĩnh vực đại diện quốc gia, phải có sự tham khảo ý kiến và chấp thuận của chính phủ, nội các chịu trách nhiệm vê' hành vi trêrí'. Vai trò của hoàng đế chi là "tiêu biểu quốc gia và sự thôhg nhất của dân tộc" (Điều 1). Quốc hội gồm hai viện, đều do dân bầu theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu. Quốc hội là cơ quan lập pháp. Nhiệm kì hạ nghị viện là 4 năm. Nhiệm kì thượng nghị viện là 6 337 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


năm , cứ 3 năm, nửa số thượng nghị sĩ được bầu lại. Khi đa số nghị sĩ rút khỏi hạ nghị viện, thì hạ nghị viện bị giải tán. Nếu thượng viện không đồng ý về dự án luật đã được hạ nghị viện thông qua, thì dự án đó chỉ trở thành đạo luật nếu hạ viện biểu quyết lần thứ hai với đa sô 2/3 dân biểu có mặt. Cơ quan hành pháp là nội các (chính phủ). Thủ tướng do quốc hội bầu ra (thực tế là thủ lĩnh đảng chiếm đa số trong quốc hội). Thủ tướng có quyền bổ nhiệm hoặc cách chức bộ trưởng. Nội các có thể bị hạ viện giải thể. Thủ tuớng là người đứng đầu chính phủ, có quyền rộng lớn cả về đối nội và đối ngoại. Các chính đảng, bị giới quân phiệt bóp nghẹt trong thời kì chiến tranh, đã được phục hồi. Hội Chính hữu đổi tên là đảng Tự do. Đảng Dân chính có tên mới là đảng Tiến bộ, sau đó đổi tên là đảng Dân chủ. Đến năm 1955, hai đảng Tự do và Dân chủ sáp nhật thành đảng Tự do - Dân chủ (viết tắt tiếng Anh là LDP). LDP đại biểu lợi ích của tư bản độc quyềnẾ Ngoài LDP còn có các đảng tư sản: Xã hội, Cômây, Xã hội dán chủ... LDP là đảng cầm quyền suốt từ sau chiến tranh. Sau 4 thập kỉ, tháng 8/1993, LDP phải nhường bước cho phe đối lập. Chính phủ mới được thành lập là chính phủ liên minh 7 đảng. Tiếp đó là tình trạng bất ổn định trên chính trường Nhật Bản. Trong năm 1994, ba thủ tướng liên tiếp nhau cầm quyền ở Nhật. Từ đó đến nay, các chính phủ cũng thường là chính phủ liên hiệp giữa các đảng phái và các chính phủ cũng thường xuyên bị đổ. Tinh trạng này ở Nhật Bản cũng không khác gì ở Italia hiện đại. Nhưng dù đó là chính phủ một đảng hay chính phủ đa đảng, thì chính quyền tư sản ở Nhật Bản vẫn là người đại biểu cho giai cấp tư sản. Những cải cách dân chủ tư sản là 338 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


kết quả đấu tranh kiên cường của giai cáp công nhân và nhần dân lao động Nhật bản. VIII. PHÁP LUẬT TƯSẢN TRONG THÒI KÌ HÊN ĐẠI 1. Đặc điểm chung của pháp luật tư sản trong thời kì này Bản chất giai cấp của pháp luật tư sản không thay đổi. Tuy vậy, đo những biến động lớn lao về mọi mặt kinh tế, chính trị, xã hội, nên trong thời kì chủ nghĩa tư bản lũng đoạn, chủ nghĩa tư bản hiện đại, pháp luật tư sản cũng có nhiều biến đổi Pháp luật tư sản trong thời kì này có những đặc điểm chủ yếu sau đây: 1. Do những đặc điểm và một số chức năng mới của Nhà QUỚC tư bản độc quyền, nên khối lượng các văn bản pháp luật tăng lên gấp bội, nhất là hình thức án lệ. Chẳng hạn ở Pháp, trong 10 năm (1926 - 1936), số đạo luật mới ban hành đã bằng tổng số các đạo luật đã được ban hành trong 40 năm trước đó. Tiếp đó, nước Pháp tiếp tục ban hành nhiều đạo luật mới khác, như luật thuế đất nông nghiệp 1946, luật thuê nhà ở 1946, luật về quyền tác giả 1958, luật thương mại 1967... ở Đức, Italia, Anh và các nước tư bản khác, tình hình cũng tương tự như vậy. Số lượng các văn bản pháp luật nhiều đến nỗi mà thời hạn hiệu lực của chúng chổng chéo lên nhau, có những tập hợp luật lệ chưa kịp xuất bản đã trở nên lạc hậu. ở các nước tư bản, các án lệ ngày càng phát triển. Xu hướng này được luật ghi nhận. Khối lượng các án lệ của từng nhà nước tu sản đến nay đã lên đến con số hàng vạn. 2. Nhà nước tư bản độc quyền có chức năng mới là chức 339 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


năng quản lí kinh tế. Bởi vậy pháp luật cùa thời kì này góp phần vào việc điều tiết kinh tế tư bản chủ nghĩa. 3. Trong một thời gian dài, Nhà nước tư sản đã ban hành và thực hiộn nhiều đạo luật phát xít, trái với hiến pháp tư sản. Sau đó, các đạo luật này dần dần bị bãi bỏ, cáo chế định dân chù cùa pháp luật tư sán từng bước được phục hồi và phát triển. 4. Từ mấy thập niên trở lại đáy, là thời kì hoàn thiện và phát triển của các c h ế định dân chủ của pháp luật tư sản, thời kì hưng thịnh của pháp chế tư sản. Điéu đó nhằm ổn định xã hội tư sản, bảo vệ trật tự pháp luật tư sản, trật tự của chế độ tư bản chủ nghĩa. Để hiểu cụ thể hơn những thay đổi và đặc điểm cùa pháp luật của Nhà nước tu bản độc quyền, cần tìm hiểu các nghành luật. 2. Luật hiến pháp tư sản Trong thời kì nhà nước tư bản độc quyền, có những nước vẫn duy trì hiến pháp của thòi kì truớc, tuy rằng có một số điểm được sửa đổi hoặc bổ sung. Những hiến pháp này vẫn còn có hiệu lực pháp lí đến ngày nay. Điển hình là hiến pháp Mĩ, với sức sống đã hơn 200 năm. Ngoài ra còn có hiến pháp của Vương quốc Na Uy có từ năm 1814, hiến pháp của Vương quốc Bỉ có từ năm 1831, hiến pháp của Đại công quốc Luých Xăm Bua 1868, của Liên bang Thụy Sĩ 1874, hiến pháp không thành văn của Anh,... ở những hiến pháp này chứa đựng một số lượng rất hạn chế các quy định vê quyẻn và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Điểm hạn chế này từng bước được bổ sung vào hiến pháp hoặc bằng luật bầu cử. 340 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


Bên cạnh một sô' nước vẫn giữ lại hiến pháp của thời kì trước, các nước tu bản khác đã xây dựng lại hiến pháp hoặc xây dựng hiến pháp đẩu tiên (ở những quốc gia tư sản mới được thành lập). Đó là hiến pháp Áo 1920, hiến pháp Phần Lan (bao gồm luật về chính thể Phần Lan 1928), hiến pháp Thụy Điển 1974. hiến pháp Canada 1982.V.V. Trong đó có những nước đã nhiều lần thay đổi hiến pháp mới (Đức, Italia, Nhật Bản...). Từ cuối thế kỉ 19 đến nay, nước Pháp có 3 lần thay đổi hiến pháp, hiến pháp của nền cộng hoà thứ ba, hiến pháp của nền cộng hoà thứ tư và hiện nay là hiến pháp của nền cộng hoà thứ năm. Dù ở thời kì nào, hiến pháp tư sản cũng đều là đạo luật cơ bản của Nhà nước tư sản, củng cô' địa vị thống trị của giai cấp tư sản. Nếu xét trên bình diện mối tương quan lực lượng trong xã hội, thì hiến pháp tư sản ở những thế ki trước là hiến pháp ghi nhận mối tương quan lực lượng chính trị xã hội giữa giai cấp tư sản và phong kiến. Còn hiến pháp tư sản hiện đại là văn bản pháp lí ghi nhận mối tương quan lạc lượng xã hội giữa giai cấp tư sản thống trị và một bên là nhân dân lao động. Vì hiện nay vai trò của phong kiến đã chấm dứt. Phản ánh sự nhượng bộ nào đó của giai cấp tư sản trước cuộc đấu tranh của nhân dân, hiến pháp tư sản hiện đại chứa đựng một số điều khoản có nội dung dân chủ hơn thời kì trước. Đó là những quy định quyển tự do bầu cử, quyền có việc làm, quyền bình đẳng nam, nữ... 3. Luật dàn sự tư sản a. Quyền sỏ hữu tu sản Nếu như thế kỉ trước, các luật gia tư sản thường khảng định vé sự bất khả xâm phạm quyền tư hữu về "tính khônạ bị 341 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


hạn ch ế của quyén tài sản", về việc "nhà nước khóiiỊi nén can thiệp vào quan hệ sở hữu", thì hiện nay họ lại giải thích khác. Họ sử dụng khái niệm như "hạn chế sở hữu", "sử dụng quyền sở hĩcu vào những mục đích xã hội và với sự kiểm soát của nhà nước''... Điéu này chứng tỏ buớc sang thời kì chủ nghĩa tu bản độc quyến, dân luật tư sản đã có nhiều biến dộng lớn. Đó thực chất là sự hợp pháp hoá quá trình điểu chỉnh của nhà nước tu sản đối vói quan hệ tư hữu, nhằm mục đích không phải là xã hội hoá quyển sở hữu, càng không phải là tước đoạt quyền tu hữu của giai cấp tư sản, mà nhằm tạp chung tư bản vào tay tư bản độc quyền. Hay nói cách khác, ngày nay, pháp luật tư sản không phải bảo vệ triệt để quyền tư hữu nói chung, mà bảo vệ tư hữu tư bản độc quyền. Pháp luật tư sản ở thế kỉ tnrốc tước quyền sử dụng lòng đất của chủ sở hữu. Pháp luật tự sản hiện dại càng đi xa han nữa, tước quyển sử dụng năng lượng nước và quyền sử dụng không phận. Ở Pháp, theo các đạo luật được ban hành trong những năm 1919 - 1938, việc sử dụng năng lượng nuớe phải do Nhà nước cho phép thông qua các hợp đồng. Thời hạn của hợp đồng là từ 30 năm đến 75 năm. Sau khi hết hạn hợp đồng, các công trình đã được nguời nhận hợp đồng xây dụng trở thành sở hữu nhà nước và có bồi thường. Một số đạo luật ban hành trong khoảng 1924 - 1935, quy định quyển bay qua các vùng đất mà không phải bồi thường. Điền chủ không được xây dựng những công trình mà có thể đe doạ sự an toàn việc lưu thông trên không. Năm 1922, ở Đức đã ban hành đạo luật tương tự như vậy. Việc trưng thu, trưng mua quyền sử dụng đất được tiến hành để xây dựng đường giao thông, các công trình quân sự ở các nước. Thể lệ trung thu. trưng mua quyền sử dụng đất được đơn giản hoá. 342 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


Ví dụ ở Anh, Mĩ, việc này do hạ viện và thượng viện quyết định theo từng vụ cụ thể. Thực chất, những quy định pháp luật trên đây đã hạn chế quyên tư hữu nhỏ, phục vụ cho các tập đoàn tư bản độc quyền. Bởi chỉ có các tập đoàn tư bản lớn mới có đủ vồn và khả năng xây dựng những công trình đồ sộ. Viộc trưng thu và hạn chế quyển sở hữu còn được áp dụng đối với động sản. Trong thời kì chiến tranh thế giới I, các nước tham chiến đã tiến hành trung thu nguyên liệu, phương tiộn sản xuất công nghiệp cùa các chủ sỏ hữu nhỏ và vừa. Trong chiến tranh thế giới II cũng vậy. Với chính sách của nhà nước, nhiều sở hữu chủ loại nhỏ và vừa đã phải phụ thuộc vào các sở hữu chủ cỡ lớn. Cẩc xí nghiộp cỡ lớn chịu sự kiểm soát của nhà nước và phục vụ cho nhu cầu chiến tranh. Một trong những chế định mới và quan trọng của pháp luật tư sản thời kì chủ nghĩa tư bản độc quyền là chế định về quyền sở hữu tư bản nhà nước. Từ sau chiến tranh thế giới n, sở hữu tư bản nhà nuớc phát triển mạnh. Nhưng từ những năm 1980 tỉ trọng tư bản nhà nước giảm sút nhiều do chính sách tư nhân hoá nhiều cơ sở kinh tế của Nhà nước. Chế định về quyền sở hữu tư bản nhà nước điều chỉnh quan hệ sở hữu tư bản nhà nước, nhằm vừa có lợi cho quốc tế dân sinh, vừa mang lại lợi nhuận độc quyền tối đa của tu bản độc quyền. Về tổ chức của xí nghiệp tư bản nhà nước, có thể phân biệt thành 3 hình thức pháp lí sau: - Các xí nghiộp tư bản nhà nước tồn tại dưới hình thức công ty trách nhiệm vô hạn, công ty trách nhiệm hữu hạn. Đây là hình thức áp dụng đối với xí nghiệp tư bản nhà nước hoặc liên hợp các xí nghiệp hỗn hợp của nhà nước và tư nhân hợp doanh. Hình thức này được áp dụng nhiều ở Pháp, Italia, còn ở Anh thì hầu như không có. 343 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


- Liên hiệp các xí nghiệp tư bản nhà nước. Liên hiệp có quyền và tài chính riêng, có trách nhiệm tài sản độc lập. Các xí nghiệp thành viên không có tư cách pháp nhân. Hình thức tổ chức này của sở hữu tư bản nhà nước là hình thức duy nhất ở Anh, được dùng phổ biến ở Pháp và cũng được dùng ở Công hoà liên bang Đức. - Xí nghiệp không có quyền độc lập vé kinh tế và tài chính. Tất cả chi tiêu, thu nhập của xí nghiệp đều thuộc ngân sách nhà nước. Xí nghiệp chịu sự điều khiển trực tiếp của bộ, tổng cục, hoặc cơ quan hành chính địa phương. Pháp luật tư sản hiện đại khuyến khích mọi người có vốn tham gia công ty cổ phần (tư sản, công nhân..). Quyền tham gia quản lí công ty của người có cổ phiếu nhỏ bị hạn chế. quyền quản lí công ty cổ phần chủ yếu thuộc về những người có cổ phiếu nhiều. Trong các công ti cổ phần tư bản quốc tế, luật của mỗi nước tư sản đều bảo vệ quyền lợi của tư bản trong nước. Đạo luật nám 1967 của Pháp quy định, các ban quản lí công ty cổ phần tư bản quốc tế đóng ở Pháp đều phải tuân theo các đạo luật của Pháp. b. Các đạo luật chống tơ rớt Ở nửa đầu thế kỉ 20, do phong trào đấu tranh của quần chúng, hầu như tất cả các nhà nước tư sản đều ban hành những đạo luật chống tơ rớt (luật chống độc quyển). ở Mĩ, đạo luật chống tơ rớt năm 1890 tuyên bô' rằng, bất cứ hợp đổng nào với mục đích thành lập các tơ rớt để hạn chế hành nghề và thương mại giữa các bang, đều không hợp pháp. Năm 1914, một đạo luật mới được ban hành, thay thế đạo luật 1890, nghiêm cấm chặt chẽ hơn việc định giá cả độc quyền các mặt hàng công nghiệp. Trên thực tế, các đạo luật này không được áp dụng. 344 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


ở Nhật, sau chiến tranh thế giới II, 83 công ty cổ phần và 57 gia đình đaibátxu phải giao nộp tài sản. tổng cộng lên tới 233 triệu cổ phiếu và được bán cho các cá nhân, các hiệp hội. Tháng 4/1947, "luật cliung độc quyên" được ban hành, nhằm ngăn chặn bọn tài phiệt phục hổi và cũng là một đạo luật thể hiện nguyên tắc cơ bản cùa nền kinh tế Nhật sau chiến tranh. Tháng 12/1947, *luậl thủ tiêu tập trung quá mức sức mạnh kinh tê" được thông qua, nhằm giải tán các công ti nắm quá nhiều sức mạnh kinh tế. Nhưng đến nãm 1953, đạo luật này được sửa đổi, cho phép Chính phủ thành lập các ten "chôhg khủng hoảng''. Thực chất đây là sự hợp pháp hoá việc thành lập các độc quyền dưới hình thức sở hữu tư bản Nhà nước. Tiếp đó, năm 1955, một đạo luật mới đã tạo cho các nhà tư sản khả năng cùng hiệp đồng hành động, để độc quyền sản xuất và độc quyền giá cả. ở các nước tư bản khác, những đạo luật chống tơ rót cũng lần lượt được ban hành. Nhưng các đạo luật này cũng lần lượt bãi bỏ. ở Pháp năm 1953, Cộng hoà Liên bang Đức 1957, Anh 1964 - 1965, nhà nước đã ban bô' các đạo luật hủy bỏ các luật chống độc quyền. Như vậy, các đạo luật chống độc quyền không có hiệu lực trên thực tế, hoặc chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn. Bởi chúng không phù hợp với quy luật phát triển tất yếu của chủ nghĩa tư bản. c. Chế định hợp đồng Sự độc quyền về nguyên liệu, thị trường, giá cả đã hạn chế tự do hơp đổng, một nguyên tắc cơ bản trong thời kì chủ nghĩa tư bán tự do cạnh tranh. Trong nhiều hợp đổng, một bên thường là tư bản độc quyền, ra điều kiện cho khách hàng 345 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


của mình. Người khách hàng bị đặt trước sự "lựa cliọn": mua theo giá độc quyền hoặc không mua, rốt cuộc tất nhiên là phải mua. Nhà nước tư sản từng bước can thiệp vào quan hệ hợp đồng. Sự điều tiết của nhà nước được tăng cường trong chiến tranh do sự cần thiết phải tổ chức nền kinh tê thời chiến. Việc điều tiết của nhà nước đối với hợp đồng được thực hiện theo trinh tự ban hành các vãn bản luật và vãn bản hành chính. Các văn bản này điều chỉnh một cách chi tiết các loại hợp đồng: giao chất đốt, nguyên vật liệu, vận tải, tiền tệ và tín dụng... Hiện nay, các loại hợp đồng trong nước và quốc tế nhiều khi chịu sự can thiệp của nhà nước theo định hướng quản lí kinh tế vĩ mô của quốc gia. Để chống lại sự can thiệp từ phía Nhà nước, các công ty thường đưa ra chuẩn mực cho hợp đồng hay còn được gọi là các công thức chuẩn. Những công thức chuẩn này được áp dụng trong trật tự quan hệ giữa các công ti hoạt động dịch vụ, sau đó lan dần sang lĩnh vực quan hệ buôn bán thương mại. Trước chiến tranh thế giới I, hợp đổng mà các bên đã thoả thuận, được coi là bất khả vi phạm. Trách nhiệm thực hiện hợp đồng mang tính bắt buộc, nếu các bên không đồng ý chấm dứt hoặc thay đổi các điều khoản của hợp đồng. Từ chiến tranh thế giới I, nguyên tắc "không sửa đổi hoặc hủy bỏ hợp đổng" đã có sự thay đổi. Hiện tượng này có nghĩa là được hủy bỏ hoặc sửa đổi hợp đồng, nếu trong khi thực hiện gặp phải tai biến khách quan. Nhưng việc sửa đổi hoặc hủy bỏ đó phải do toà án giải quyết. Hiện tượng này bắt đầu xảy ra ở Pháp. Chẳng hạn năm 1916, công ty hơi đốt thành phó Boócđô đề nghị tăng giá hơi đốt với lí do chiến tranh. Toà án bác bỏ đề nghị này, vì cho rằng hợp đồng đã kí kết thì không được VI phạm. Vụ này chuyển lên Hội đồng nhà nước. Hội 346 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


đồng nhà nước phê chuẩn để nghi của công ty hơi đốt nói trên. Và từ đây tạo ra một tiền lẽ pháp. Ở Anh. Liên bang Đức, Mĩ, tình trạng nói trẽn cũng xảy ra tương tự. Các thẩm phán được đào tạo theo tinh thần dân luật La Mã phản đối tình hình thực tiễn này. Nhưng người ta vần coi tình trạng đó như là kết quả của một loạt biến động về kinh tế - xã hội sau chiến tranh. d. Chế định hôn nhân và gia đình Luật hôn nhân và gia đình cũng có những biến đổi mới so với thời kì tnrớc. Do phong trào đấu tranh của quần chúng, do vai ưò của lực lượng lao động nữ, nên địa vị pháp lí của người phụ nữ một mặt vẫn bị hạn chế, mặt khác tìmg bước được cải thiện. Phụ nữ dần dần đã được hưởng những quyền của mình. Ở Pháp, năm 1907 đã có một đạo luật cho phép phụ nữ toàn quyền sử dụng thu nhập của mình. Năm 1938, luật của Pháp quy định phụ nữ có chồng được quyền khiếu nại với toà án nếu chồng chọn chỗ ở không vừa ý. Còn người chồng được khiếu nại trong trường hợp anh ta thấy cần phải bắt vợ thôi việc vì "lợi ích gia đình". Năm 1965, Pháp ban bô' luật cho phép người vợ được tự ý lựa chọn nghề nghiệp mà không phụ thuộc vào người chồng. ở Anh, năm 1935, quốc hội ban hành luật quy định quyền bình đẳng nam nữ. ở Mĩ, quan hệ hôn nhân và gia đình được điều chỉnh bằng luật pháp các bang, nên địa vị pháp lí của người phụ nữ không giống nhau. Những đạo luật do quốc hội liên bang thông qua trong những nãm 1964 - 1965, đã phần nào câng 347 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


cao vị trí người phụ nữ trong xã hội, do sự xoá bỏ sự phân biệt, kì thị theo màu da, tôn giáo, sắc tộc. Ở Nhật, hiến pháp 1946 thừa nhận quyền bình đảng nam nữ. Luật 1947 cấm sự cưỡng ép kết hôn và xác nhận quyền thừa kế của các con trong gia đình. Xu hướng đơn giản hoá trình tự và điều kiện li hôn được thể hiện rõ trong luật hôn nhân và gia đình tư sản. Ví dụ, ở Anh, từ năm 1923, vợ chồng được luật pháp cho phép cùng bình đẳng trong li hôn. Từ năm 1965, luật cho li hôn trong các trường hợp vợ chồng không chung thủy, đối xử tàn nhẫn, mắc bệnh nan y. Vẻ quan hệ thừa kế, nhìn chung luật pháp tư sản cũng có những thay dổi như sau: - Xác lập trật tự thừa kế đối với các loại tài sản (kể cả bất động sản). - Đảm bảo điểu kiện vật chất cho phụ nữ goá bụa. - Con ngoài giá thú và các loại con khác đéu được tham gia hệ thừa kế. Địa vị của người phụ nữ được cải thiện trong quan hệ hôn nhân - gia đình, mà còn cả trong quan hệ ngoài xã hội. Từng bước, phụ nữ được quyền bầu cử. Đến năm 1972, trên thế giới, chỉ còn 7 nước, phụ nữ không có quyền bầu cử. Hiện nay, quyền bình đẳng nam nữ trong các quan hệ xã hội ở các nước tư bản nhìn chung mang tính toàn diện. Tuy vậy vẫn còn một số bất bình đẳng. Nổi rõ nhất ĩà khi làm cùng một công việc, lương của người phụ nữ thường thấp hơn lương cùa nam eiới. Trong một số nước Hồi giáo hiện nay, địa vị xã hội, địa vị pháp lí của người phụ nữ vẫn còn bị hạn chế nhiều. 348 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


Do phong trào đấu tranh của giai cáp công nhân và nhân dân lao động, do ảnh hưởng cùa chế độ xã hội chủ nghĩa, nên nhà nước tư sản phải có những nhượng bộ nhất định. Mặt khác, Nhà nước tư bản độc quyền từng bước can thiệp vào quan hệ lao động, quan hộ giữa chủ và người làm thuê, vừa để bảo vệ quyền lợi của giai cấp tư sản, vừa để ổn định trật tự cùa xã hội tư sản. Vì vậy, trong hệ thống pháp luật tư sản xuất hiện ngành luật mới: Luật lao động. Luật lao động tư sản điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình sử dụng lao động làm thuê, như hợp đồng lao đông, bảo hộ lao động, tranh chấp lao động, bổi dưỡng nghề nghiệp cho công nhân, tổ chức công đoàn, bãi công V.V.. Luật lao động tư sản từng bước được cải cách theo chiều hướng tiến bộ, theo tiến trình phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Trong mấy thập kỉ lại đây, luật lao động là một trong những phương tiện của nhà nước tư sản để làm dịu mâu thuẫn xã hội, ổn định xã hội trong trật tự của chế độ tư bản chủ nghĩa. 5. Luật hình sự Trong thời kì từ chiến tranh thế giói I đến vài thập niên sau chiến tranh thế giói II, các nhà nước tư sản đã ban hành nhiều đạo luật hình "đặc biệt" về tội chính trị. Nội dung của các đạo luật này là cán các đảng cộng sản hoạt động, hạn chế hoặc cấm các tổ chức công đoàn, các cuộc bãi công và các trào lưu dân chủ khác. Những hình phạt quy định ở các đạo luật này rất khắc nghiệt: chung thân, từ hình,... Đây thực chất là những đạo luật mang tính phát xít, chà đạp lên ngay 4. L uật lao dộng r.. 349 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


hiến pháp tư sản. Ở Nhật, đạo luật năm 1923 "về việc tuyên truyền tin đồn nhảm' quy định "những ai xúi giục qua báo chí, thư từ việc nổi loạn, hoặc những ai bịa dặt điều xấu cho xã hội" thì đều coi là tội phạm, phải chịu hình phạt chung thần hoặc tử hình. Ở Mĩ, như đã nói ỏ trên, những nãm sau chiến tranh thế giới II, chính quyền M ĩ đã ban hành một đạo luật chống đảng cộng sản, phong trào công nhân,... Ở Cộng hoà liên bang Đức, năm 1951 có đạo luật "chống lại sự phản bội quốc gia". Những người chuyển sách quốc cấm, hoặc có hành chống tổng thống, thủ tướng, chính phủ, quốc hội bị phạt tù từ 5 - 15 năm. Ở Anh năm 1964 cũng ban hành đạo luật trừng phạt khẩn cấp "trong trường hợp toàn xã hội hay phần lớn xã hội mất các điều kiện tồn tại cần thiết". Trước đó, ở Pháp, đạo luật năm 1960 tăng mức độ hình phạt đối với các tội phạm chính trị: từ 10 - 20 năm, tù chung thân, tử hình. Lời văn trong các đạo luật đặc biệt trên rất mập mờ để vận dụng tùy tiện. Trong những năm đó, luật hình tư sản tăng cường nguyên tắc tương tự. Điều đó không chỉ đơn thuần lấp chỗ trống trong luật, mà chủ yếu nhằm tạo điều kiện cho các cơ quan trấn áp dễ dàng đàn áp phong trào đấu tranh của quần chúng. Đi đôi với việc ban hành các đạo luật mang tính phát xít, các nhà nước tư sản đẩy mạnh các cuộc đàn áp ngoài vòng pháp luật. Bộ máy trấn áp của nhà nước tư sản bỏ tù hoặc đã giết hại những người cộng sản và những người tiến bô khác 3 50 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


mà không cần xét xử, thẳng tay đàn áp các cuộc biểu tình, bãi công. Điển hình nhất là trong chế độ phái xít. Phát xít Đức đã giết hại hàng chục triệu ngirời trong các trại giam, mà không cần xét xử. Từ vài thập kỉ lại đây, nhìn chung các đạo luật trái với hiến pháp tư sản từng bước bị bãi bỏ. Chính quyền tư sản thay các biện pháp đàn áp trắng trợn bằng các biện pháp ôn hoà. ở các nước tư bản, các tội thường phạm không ngừng gia tăng cả về sô' lượng và mức độ nguy hiểm. Ví dụ, ở Mĩ, năm 1933 có 2.259.000 tội phạm nghiêm trọng, năm 1957 con số đó đã lên đến 3.750.000 và năm 1967 là 5.568.000. Trong số các quốc gia tư bản. tỉ lệ phạm tội ở Anh tương đối thấp hơn. do sự "bên vững" của các thiết chế chính trị, gia đình và dạ J đức xã hội. Để chống lại tình trạng nói trên, các nước tư sản đã dùng nhiều biện pháp. Một trong những biện pháp là gia tăng khung hình phạt đối với những tội phạm tái phạm. Ví dụ theo luật hình của Mĩ những nãm 1929 - 1930, nếu tái phạm lần đầu sẽ bị trừng phạt gấp đôi so với mức của lần phạm tội đầu tiên. Và càng tái phạm thì hình phạt cảng nặng hơn. Các nước tư bản khác cũng áp dụng biện pháp tương tự như vậy. Trước chiến tranh thế giới II, các nước tư sản đều tăng cường mức án tử hình. Hiện nay, nhiều nước đã bãi bỏ án tử hình, như Đức, Italia, Thụy Sĩ, Anh, Pháp... Nhưng có những nước vẫn giữ án tử hình như Áo, Bỉ, Hà Lan, Đan Mạch, Na Uy, Niudilân, một số bang Hoa Kì... 6. Luật tô tụng Trong một thời gian dài, nửa đầu thế kỉ XX, chế định dự thẩm - một chế định mang tính dân chủ tư sản, bị hạn chẽ hoặc xoá bỏ. Như ở Pháp chẳng hạn, từ năm 1932, chế định Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


dự thẩm đần dần bị xoá bỏ. Một ví dụ điển hình, ờ các nước do chủ nghĩa phát xít cầm quyền, chề độ dự thẩm bị vứt bó ngay. Sau chiến tranh thế giới II, chế định dự thẩm dần dần được phục hồi ở các nước tư bản. Ở Áo từ năm 1950, ở Pháp từ năm 1958... Nguyên tắc suy đoán vô tội - một trong những hình thức ' dân chủ tư sản, cũng bị bãi bỏ trong thời kỉ phát xít thống trị. Ví dụ, luật hình Italia từ năm 1930 đã không áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội. Quyền của bị cáo trước toà (nhất là trong các vụ án chính trị) và nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật cũng bị xoá bỏ hoặc chà đạp trong một thời kì dài. Hiện nay, ở hầu hết các nước tư bản, những nguyên tắc và những chế định dân chủ tư sản của luật tố tụng dần dần dã được phục hồi. Tóm lại, những thay đổi trong hệ thống pháp luật tu sản hiện đại là kết quả sự phát triển kinh tế - chính tr ị- x ã hội tu sản, hoặc là kết quả phong trào đấu tranh của các trào luu dân chủ. Nhưng dù có những sự thay đổi lớn lao thì pháp luật tư sản vẫn ỉà pháp luật tư sản. 352 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


CHUÔNG VII NHÀ NỪỚC VÀ PHÁP LUẬT XÃ HỘI CHỦ NGHĨA A. NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT x ô VIẾT (1917-1991) I. CÁCH MẠNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA THÁNG MUỒI. NHÀ Nư3c VÀ PHÁP LUẬT XÔ VẾT ở NGA (1917-1922) 1. Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười và sự thiết lập Nhà nước Xô Viết Nga Đầu thế kỷ XX, nước Nga đã chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc hầu như đồng thời với các cường quốc tư bản. Nhưng nước Nga vẫn là đế quốc lạc hậu về kinh tế, chính trị. Chủ nghĩa tư bản Nga ở trình độ trung bình và tàn dư của chế độ nông nô còn rất đậm nét. về chính trị, Nga vẫn là một nước quân chủ chuyên chế. Giai cấp tư sản đã không làm cách mạng lật đổ chế độ phong kiến. Ngược lại, giai cấp tư sản cấu kết với giai cấp địa chủ, trở thành hai cột trụ của chế độ Nga hoàng. Giai cấp tư sản thoả mãn vói những cải cách chính trị đã đưa họ vào Viện Đuma quốc gia, để từ đó tác động đến chính sách của Nga hoàng và được chế độ Nga hoàng bảo hộ. Trong đế quốc Nga, các dân tôc thuộc địa bị áp bức và phân biệt đối xử tàn tệ. Do lạc hậu về kinh tế và chính trị, yếu kém về quân sự, Nga luôn luôn bị thua kém 353 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn


Click to View FlipBook Version