trong các cuộc cạnh tranh quốc tế. Trong những năm chiến tranh thế giới I, máu thuẫn giữa đế quốc Nga với các dê quốc khác phát triển đến mức quyết liệt. Tất cả những điều đó làm cho đế quốc Nga trờ ihành nơi thể hiện gay gắt nhất các mâu thuẫn, là khâu yếu nhất trong hệ thống toàn cầu của chủ nghĩa đế quốc. Đồng thời, Nga là nước có lực lượng cách mạng và phong trào cách mạng phát triển mạnh mẽ nhất. Đầu thế kỷ XX, giai cấp vô sản Nga, so với giai cấp vô sản ở Tây Âu và Bắc Mỹ, chưa đông về số lượng, nhưng mạnh về giác ngộ cách mạng và trình độ tổ chức. Đặc biệt, giai cấp vô sản Nga đã có một chính đảng(l) thực sự cách mạng của mình và có vị lãnh tụ thiên tài là V.I.Lênin. Phát triển học thuyết C.Mác, V.I.Lênin chỉ rõ: cách mạng vô sản có thể thắng trước hết trong một sô' ít nuớe tư bản. Không có sự ngãn cách nào giữa cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới với cách mạng xã hội chủ nghĩa. Giai cấp vô sản không những phải hết sức tích cực tham gia cách mạng dân chủ tư sản, mà còn phải giữ vai trò lãnh đạo trong cuộc cách mạng đó. Liên minh công nông là điều kiện cơ bản bảo đảm quyền lãnh đạo của giai cấp vô sản, bảo đảm thắng lợi của cách mạng dân chủ tư sản và cách mạng xã hội chủ nghĩa. Sau khi giành được chính quyền, giai cấp vô sản phải ( 1). Đ àng còn g nhãn dân chù - xã hội N ga ra đời nãm 1898. Tại D ại hội n của Đ ảng 1903. những người cách m ạng chân chính trung thành với chú nghía M ác, do Lẽnin lãnh đạo, đã hình thành phái B ônsẽvích chiếm đa số, chống lại phái M ensẽvích theo chù nghĩa cải lương tư sản. Đ àng B ônsêvích trẽn thực tế ra đời từ dãy. Đ ến Đ ại hội VII năm 1918, Đáng chính Ihức đổi tén là Đ ảng cộn a sân (B òn sẽvích ) N ga. 354 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
xây dựng nhà nước vô sản với những hình thức thích hợp với điều kiện cụ thể của từng nước. Sự lãnh đạo của chính đảng cùa giai cấp công nhân là điều kiện tiên quyết bảo đảm thắng lợi của cách mạng vô sản và nhà nước vô sản. Tóm lại, nước Nga đầu thế kỷ XX mang trong lòng những mâu thuẫn gay gắt cần được giải quyết và lực lượng cách mạng có thể giải quyết được những mâu thuẫn đó. Những tiền đề khách quan và chủ quan của cách, mạng đã chín muồi. Cách mạng vô sản Nga phát triển không ngừng qua hai giai đoạn: từ cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới thiết lập chính quyền chuyên chính công nông, tiến thẳng lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, xác lập chuyên chính vô sản. 1.1. Cách mạng dàn chủ tư sdn<l> tháng Hai và tình trạng hai chính quyền song song tồn tại Bước sang năm 1917, những mâu thuẫn sẩn có trong xã hội (1) Cẩn phân biệt các kiểu cách mạng xã hội trong lịch sứ nhân toại: - Cách nạng tư sản: Cách mạng do giai cấp tư sản lãnh đạo, lật đổ ch ế độ phong kiến, thiết lập nhà nước tu sản. - Cách mạng dân chù tư sản (kiểu cũ): cách mạng do tầng lớp tư sản tiến bộ lãnh đạo, xoá bỏ chính quyền tư sản phản động và vẫn thành lập lại nhà nước tư sản, nhưng dân chù hơn. Cuộc cách mạng này nằm trong phạm trù kiểu cách mạng tư sản. V í dụ cuộc cách mạng dân chủ tư sản Pháp 1848. - Cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới: Cách mạng được liến hành ở những nước còn nặng tàn dư phong kiên, do giai cấp vô sản lãnh đạo, xoá bò tàn dư phong kiến, thiết lặp chính quyền công nông và tiến Ihầng lẽn cách mạng xã hội chù nghĩa. Cuộc cách mạng đó nằm Irong phạm trù kiểu cách mạng vô sản. Ví dụ cuộc cách mạng dân chù tư sàn Nga 1905-1907. ờ các nước thuộc địa phong kiến, cuộc cách mạng đó đươc gọi là cách mạng dãn tộc dân chù nhân dân. - Cách mang võ sàn (hay còn gọi là cách mạng xã hội chù nghía): Cách mạng xoá bỏ iư sàn. xác lập chuyên chính vò sản. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
phát triển đến mức độ cực kỳ gay gắt. Các cuộc đấu tranh cùa quần chúng iên cao. Tinh thế cách mạng trực tiếp hình thành. Từ ngày 17 tháng Hai (theo lịch Nga), ở thủ đô Pêtrỏgrát, các cuộc bãi công, biểu tình, tuần hành nổ ra rầm rộ và sang ngày 25 đã chuyển thành tổng bãi công. Chính phú Nga hoàng ra sức trấn áp, nhưng không ngăn cản được làn sóng bãi công ngày càng tăng. Ngày 26, hưởng ứng lời kêu gọi và dưới sự lãnh đạo của những người Bônsêvích, bãi công chính trị chuyển thành khỏi nghĩa vũ trang quần chúng. Nhiều binh lính ngả sang hàng ngũ cách mạng. Ngay hôm đó, thủ đô Pêtrôgrát nằm trong tay quẫn chúng khởi nghĩa. Nền quân chủ chuyên chế Nga hoàng bị lật đổ. Các Xô viết đại biểu công nhân và binh lính ra đời, như một cơ quan chính quyền cách mạng. Từ thủ đô, cách mạng phát triển nhanh chóng về các địa phương. Ở tất cả các tỉnh và thành phố, các Xô viết đại biểu công nhân và binh lính là cơ quan lãnh đạo khởi nghĩã, đổng thời là cơ quan chính quyền công nông. Xô viết đại biểu công nhân và binh lính Pêtrôgrát đóng vai trò nhu một cơ quan đại diện cho các Xô viết trong cả nước. Cuộc cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới tháng Hai ở Nga giành thắng lợi. Nhưng cuộc cách mạng đã để lại một hệ quả chính trị rất độc đáo. Đó là tình trạng hai chính quyền song song tồn tại: Xô viết đại biểu công nhân và binh lính, chính phủ lâm thời của giai cấp tư sản. Ngày 2 tháng ba, được sự ủng hộ của bọn Mensêvích và Xã hội cách mạng, Uỷ ban lâm thời của Viện Đuma quốc gia thành lập chính phủ lâm thời. Các thành viên chính phủ là những chính khách tư sản và địa chủ tư sản hoá. Chính phủ lâm thời tư sản khôn° làm gì để đáp ứng đòi hỏi của quần 356 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
chúng cách mạng: "hoà bình, bánh mì và ruộng đất". Trong khi hứa hão sẽ triệu tập quốc hội lập hiến để giải quyết mọi nguyện vọng cùa quần chúng, thì chính phủ lâm thời thực hiện những chính sách bảo vệ quyền lợi cùa giai cấp tư sản. tiếp tục tham gia cuộc chiến tranh thế giới I. Nền chuyên chính của công nhân và nông dân là các xô viết đại biểu công nhân và binh lính (binh lính phần đông là nông dân). Trong đó, Hội đồng các xô viết bị bọn Mensêvích và Xã hội cách mạng chiếm tỉ lệ đa số. Hội đồng này công nhận chính phủ lâm thời tư sản và ra sức kêu gọi quần chúng ủng hộ chính phủ đó. Còn chính phủ lâm thời tư sản thì công nhận Hội đồng này như một cơ quan giám sát hoạt động của chính phủ. Tại Guyrích (Thuỵ Sĩ), ngày 2 tháng ba, V.I.Lênin đã nhận được những tin tức đầu tiên về sự kiện cách mạng Nga, về Xô viết đại biểu công nhân và binh lính Pêtrôgrát, về chính phủ lâm thời. Ngay trong bản thảo viết về nhiệm vụ của giai cấp vô sản trong cách mạng Nga, Người đã chỉ rõ: chính phủ lâm thời là chính phủ của bọn tư sản, địa chủ đã đoạt chính quyền của giai cấp vô sản. Còn bọn Mensêvích và Xã hội cách mạng chỉ là những chính khách tiểu tư sản theo đuôi bọn tư bản, địa chủ. Sự cải cách dân chủ ở nước Nga chỉ có thể thực hiện được dưới sự lãnh đạo của giai cấp vô sản, nghĩa là trong quá trình của một cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa. Về nguyên nhân sâu xa dẫn đến tình trạng hai chính quyền song song tồn tại, V.I.Lênin lý giải: thứ nhất là do tính chất tiểu tư sản của xã hội nước Nga. Thứ hai là sự hạn chế về trình độ giác ngộ và tổ chức của giai cấp vô sản trong thời điểm đó. Về khách quan, đó là do âm mưu của gia cấp tư sản 357 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Nga, được sự ủng hộ của giai cấp tư sản quốc tế, hòng hạn chế sự phát triển và tiến tới thủ tiêu cách mạng Nga. Và tình trạng trên "chỉ phản ánh một thời kỳ quá độ trong sự phái triển của cuộc cách mạng, khi mà cuộc cách mạng này đã vượt qua khuôn khổ của một cuộc cách mạng dân chù tu sản thông thường, nhưng vẫn chưa đạt đến chuyên chính thuần íuý của giai cấp vô sản và nông dârì'([) Tóm lại, cách mạng dãn chủ tu sản tháng Hai đã lât đổ chế độ Nga hoàng, nhưng có hai chính quyển song song tồn tại, quần chúng nhân dân chưa dược giải phóng khỏi sự bốc lột giai cấp và áp bức dân tộc. Cách mạng phải phát triển đi lên, lật đổ chính quyền tư sản, thiết lập nhà nước vô sản. 1.2. Thắng lợi của cách mạng xã hội chả nghĩa tháng Mười và thiết lập nhà nước vô sản Sau cách mạng tháng Hai, Đảng Bônsêvích chuyển ra hoạt động công khai. V.IẾ Lênin về nước. Ngày 4 tháng tư, tại một cuộc họp của những người Bônsêvích tham gia hội nghị xô viết đại biểu công nhân và binh lính toàn Nga, V.I.Lênin trình bày bản báo cáo nổi tiếng mà sau này đi vào lịch sử vói tên gọi "Luận cương tháng Tứ', v ê vấn đề chính quyền, bản luận cương nêu rõ: "Điều độc đáo trong tình hình hiện nay của nước Nga chính là bước quá độ từ giaiđoạn thứ nhất của cách mạng, là giai đoạn đã đem lại chính quyền cho giai cấp vô sản còn thấp kém, tiến lên gia đoạn thứ hai của cách mạng, là giai đoạn phải đem lại chính quyền cho giai cấp vô sản và những tầng lớp nghèo trong nông dân"(l>. (1). V.I.Lénin: Toàn tập. NxbTiến bộ. Matxcơva. 1981, tiếng Việt, tập 31. tr. 183. 358 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
V.I.Lênin kêu gọi tuyệt đối không ủng hộ chính phủ lâm thời tư sản, vạch trần tính giả dối của chúng. Người khẳng định, chê độ cộng hoà xô viết là hình thúc chính trị thích hợp duy nhất của chính quyền cách mạng. V.I.Lênin đề ra khẩu hiệu "Tất cả chính quyền vé. íay Xô viết". Theo Người, trước mắt có khả năng giành hoàn toàn chính quyền bằng phương pháp hoà bình. Bởi vì, vũ khí ờ trong tay quán chúng, còn chính phủ lâm thời thì chưa thể và chưa dám sử dụng bạo lực đối với quần chúng. Nhiệm vụ đặt ra trước những người Bônsêvích là phải tiến hành công tác tuyên truyền giải thích, để giác ngộ quần chúng. Từ tháng tư đã diễn ra những cuộc đấu tranh chính trị của quần chúng cách mạng, do Đảng Bônsêvích giác ngộ, tổ chức và lãnh đạo, chống lại những chính sách phản dân, hại nước của chính phủ lâm thời tư sản và bọn đồng loã. Trên thực tế lúc bấy giờ, Xô viết Pêtrôgrát có khả năng nắm lấy chính quyền mà không cần dùng đến hành động quân sự. Nhưng các phần từ Mensêvích và Xã hội cách mạng chiẾm đa số trong xô viết không làm như vậy. Vấn đề chính quyền đã trở thành một trong những vấn đề nổi bật nhất trong Đại hôi các xô viết đại biểu công nhân và binh lính toàn Nga lần thứ nhất, khai mạc ngày 3 tháng tư. Tại Đại hội, V.I.Lênin trình bảy lập trường Bônsêvích. Nhưng Mensêvích và Xã hội cách mạng chiếm đa số trong Đại hội, đã từ chối đề nghị chuyển toàn bộ chính quyền về tay các xô viết. Phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng (biểu tình, tuần hành bãi công) ngày càng mạnh mẽ. Dần dần, quần chúng thấy rõ bộ mặt giả dối, phản động của chính phù lâm thời tư sản và của bọn Mensêvích - Xã hội cách mạng trong xô viết. Uy tín của ISO Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Đảng Bônsẻvích ngày càng cao. Từ đầu tháng bảy, chính phủ lâm thời dùng súng đạn đàn áp phong trào quần chúng. Tiếp đó là chiến dịch khủng bô' Đảng Bônsêvíc1!. Báo Sự thật bị đóng cửa. Nhiều đơn vị công nhân bị tước vũ khíễ Nhiều đơn vị quân đội bị quy tội "nhiễm bệnh Bônsêvích" và bị đẩy ra mặt trận. Những vụ bắt bớ, khám xét liên tiếp xảy ra. V.LLênin bị truy nã. Đảng Bônsêvích phải chuyển sang hoạt động bí mật. Đại hội lần thứ 6 Đảng Bônsêvích họp từ ngày 26 tháng bảy đến ngày 3 tháng tám, nhận định rằng: giai đoạn hai chính quyền song song tồn tại và cách mạng bằng phương pháp hoà bình đã chấm dứt. Đại hội chỉ rõ, trong giai đoạn mới, Đảng phải lãnh đạo quần chúng chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang lạt đổ chính phủ lãm thời, giành toàn bộ chính quyẻn cách mạng. Như vậy, sau cách mạng tháng Hai đến tháng bảy là giai đoạn cách mạng dùng phương pháp hoà bình (giáo dục, giác ngộ quần chúng, tổ chức các cuộc đấu tranh chính trị), vạch trần bộ mặt thật của chính phủ lâm thời tư sản, Mensêvích. Mục tiêu của giai đoạn này, qua phương pháp cách mạng hoà bình, xoá bỏ chính phủ lâm thời tư sản, loại bỏ các phần tử Mensêvích - Xã hội cách mạng ra khỏi xô viết, giành toàn bộ chính quyền cách mạng. Qua các phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng trong thời gian qua, các xô viết hoạt động sôi nổi trở lại và ngày càng được Bônsêvích hoá. Ngày 31 tháng tám, Xô viết Pêtrỏgrát thông quan nghị quyết tán thành chủ trương của Đảng Bônsêvích về việc chuyển toàn bộ chính quyền về tay các xỏ viết. Ngày 5 tháng chín, Xô viết Matxcơva cũng 360 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
thông qua nghị quyết tương tự. Tiếp theo là các xô viết của nhiều địa phương lần lượt ngả về lập trường chính trị của Đảng Bônsêvích. Đồng thời, từ tháng tám, công cuộc chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang cũng được khẩn trương tiến hành. Ngày 7 tháng 10, V.I.Lênin trở về Pêtrôgrát trực tiếp lãnh đạo việc chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền. Cuộc khởi nghĩa vũ trang bắt đầu nổ ra từ ngày 24 tháng mười. Biết trước kế hoạch chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang của Đảng Bônsêvích, chính phủ lâm thời đã tiến hành nhiều biện pháp khẩn trương, hòng ngăn chận và trấn áp cuộc khởi nghĩa. Tới sáng 25 tháng mười, chính phủ lâm thời ở trong tình trạng hoàn toàn tuyệt vọng. Chúng co lại ẩn náu trong cung điện Mùa Đông. Trên thực tế, từ 10 giờ sáng ngày 25 tháng 10, lực lượng cách mạng đã làm chủ được thủ đô. ủy ban quân sự cách mạng, trực thuộc xô viết đại biểu công nhàn và binh lính, phát đi lời kêu gọi "Gỉđ các công dân nước Nga", do V.I.Lênin soạn thảo, tuyên bố "Chính phủ lâm thời đã bị lật đổ. Chính quyền nhà nước đã chuyển qua tay của xô viết đại biểu công nhân và binh lính Pêtrôgrát"m Đêm ngày 25, chiến hạm Rạng Đông của quân cách mạng trên sông Nêva mở đầu cuộc tấn công vào cung điện Mùa Đông. Toàn bộ thành viên của chính phủ lâm thời tư sản bị bắt (trừ Kêrenxki đã bỏ trốn). Ngày 25 tháng mười (theo lịch Nga), tức là ngày 7/11/1917 (theo dương lịch) đã đi vào lịch sử là ngày thắne lợi của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười nga vĩ đại. (1) .V.I.Lênin: Toàn tập. tập 35. NxbTiến bộ, Matxcơva, 1976. liếng Việt. 361 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Đồng thời, cũng vào ngày này, Đại hội các xô viết đại biểu công nhân và binh lính toàn Nga khai mạc tại điện Xmônưi. Những người Bônsêvích chiếm đa số trong Đại hội (390 trong tổng sô' 649 đại biểu). Thấy thế, những người Mensêvích và Xã hội cách mạng rút khỏi Đại hội. Ngày 26, Đại hội thông qua sắc lệnh hoà bình, nhằm rút nước Nga ra khỏi cuộc chiến tranh thế giới I. sắc lệnh nói rõ chính quyền xô viết chủ trương ký ngay tức khắc một hoà ước không có thôn tính và không có bồi thường, sắc lệnh tuyên bố chiến tranh đế quốc là một tội ác lớn nhất đối với loài người, kêu gọi chính phủ các nước tham chiến ký ngay một bản hiệp định đình chiến, kêu gọi giai cấp công nhân và nhân dân các nước đấu tranh cho hoà bình. Ngày 27, Đại hội thông qua Sắc lệnh vẻ ruộng đấtế Theo sắc lệnh, ruộng đất là tài sàn quốc gia. Sắc lênh quy định: "1. Nay huỷ bỏ ngay lập tức và không có bồi thường quyền sỏ hữu ruộng đất của địa chủ. 2. Các điền trang của địa chủ, cũng như ruộng đất của các thái ấp, của các nhà tu và giáo hội, với toàn bộ gia súc và nông cụ, tất cả những kiến trúc và nhà cửa phụ thuộc đêu giao cho các uỷ ban m ộng đất của tổng và các xô viết đại biểu nông dân huyện xử ỉý".m Như vậy, trong ngay ngày đầu tiên ra đời, chính quyền xô viết đã thông qua hai sắc lệnh thoả mãn hai yêu cầu bức thiết nhất của nhân dân là hoà bình và ruộng đất. Đại hội đã thành lập chính phủ công nông, gọi là Hội đồng các uỷ viên nhân dân. Lênin được bầu làm chủ tịch Hội (1). V.I.Lénin: Toàn tập. tập 35. Sđd. tr.26. 362 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
đồng các uỷ viên nhân dân. Đại hội lần thứ hai của các xô viết toàn Nga đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử trọng đại, khẳng định thắng lợi của cuộc khởi nghĩa vũ trang, xác lập Nhà nước vô sản, mở ra quá trình các xô viết thành hệ thống cơ quan chính quyền nhà nước. Sau khi giành thắng lợi lịch sử ở thủ đô Pêtrôgrát tới cuối tháng 3/1918 là quá trình chính quyền xô viết được thiết lập ở các địa phương. Ngày 3/11, chính quyền xô viết giành được thắng lợi hoàn toàn ở Mátxcơva. Chỉ trong thời gian ba tháng, kể từ khi khởi nghĩa thắng lợi ở Pêtrôgrát và Mátxcơva, chính quyền xô viết đã được xác lập trên toàn bộ lãnh thổ của đế quốc Nga cũ. Trong số 84 tỉnh lỵ và thành phố lớn, chỉ có 15 nơi phải tiến hành đấu tranh giành chính quyền. Những nơi còn lại, cách mạng được tiến hành một cách hoà bình. 1.3. Ý nghĩa lịch sử của Cách mạng tháng Mười và sự thiết lập nhà nước Xô viết ở Nga a. Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga với việc thiết lập nhà nước vô sản Là cuộc cách mạng vĩ đại trong lịch sử loài người. Cách mạng tháng Mười đã giành chính quyền cho quần chúng lao động, xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa, trong đó nhân dân làm chủ vận mệnh của mình, xây dựng cuộc sống tự do và hạnh phúc. Cách mạng tháng Mười không những mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử các dân tộc Liên Xô, mà đồng thời, đã m ở ra m ột thời đại m ới trong lịch sử loài người, thời đại quá độ từ chù nghĩa tư bàn lên chù nghĩa xã hội trên pham vi 363 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
toàn thế giới. Cách mạng tháng Mười không những làm sụp đổ một mảng lớn và quan trọng của hệ thống chủ nghĩa đế quốc quốc tế, mà còn làm rung chuyển những trận địa còn lại của chủ nghĩa đế quốc, đẩy chủ nghĩa tư bản vào thời kỳ tổng khùng hoảng của nó. Cách mạng tháng Mười ảnh hường mạnh mẽ, sâu sắc và mở ra một giai đoạn mới trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Giai cấp vô sản và những người cộng sản trên thế giới tập hợp lại dưới lá cờ cùa chủ nghĩa Lênin, dưới sự lãnh doạ của Quốc tế cộng sản. Chỉ hai nãm sau thắng lợi của Cách mạng tháng Mười, các đảng cộng sản đã được thành lập ở 13 nước. Các tổ chức công đoàn, các tổ chức quần chúng trong các nước tư bản phát triển mạnh mẽ. Cách mạng tháng Mười ảnh hưởng sâu sắc và sâu rộng tới phong trào giải phóng dân tộc ở các nuớc thuộc địa và phụ thuộc ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ Latinh. b. Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười đ ể lại nhiều kinh nghiệm của cuộc cách mạng giành chính quyền Đó là: - Quá trình phát triển không ngừng từ cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới tiến thẳng lên cách mạng xã hội chủ nghĩa. - Vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản. - Vai trò của liên minh công nông. - Phương pháp cách mạng và bạo lực cách mạng: đấu tranh chính trị, khởi nghĩa vũ trang, phương pháp cách mạng hoà bình, phương pháp bạo lực cách mạng,... - Mối quan hệ mật thiết giữa cách mạng trong nước và trên thế giới. 364 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
C. Cách mạng Nga đã sáng tạo ra một hình thức mới của nlià nước vô sản - hình thức xô viết Xô viết đã được hình thành từ trong cuộc cách mạng dân chủ tư sản 1905. Xô viết do tự bản thân quần chúng cách mạng sáng tạo ra. Lúc đầu, Xô viết được lập ra để tổ chức, chi đạo các cuộc bãi công. Sau đó, Xô viết đảm nhận chức nâng của chính quyền cách mạng. Trong cuộc cách mạng dân chủ tư sản tháng Hai 1917,lúc đầu. các xô viết cũng đóng vai trò tổ chức các cuộc đấu tranh cách mạng (bãi công, biểu tình, khởi nghĩa vũ trang). Sau đó, xô viết trở thành hình thức tổ chức của chính quyền cách mạng. Sau khi cách mạng tháng Mười thắng lợi, Xó viết trở thành hình tliức chính thể cùa nhà nước Nga. Từ thực tiễn cách mạng Nga, V.I.Lênin rút ra kết luận: Xô viết là hình thức chính quyền duy nhất phù hợp ờ Nga. Nói Xô viết là một hình thức chính thể cùa nhà nước, vì các xô viết là hệ thống cơ quan quyền lực của nhà nước và khác với các hình thức chính thể khác của nhà nước vô sản, chính thề xô viết chỉ có đại diện của hai giai cấp công nhân và nông dân. Còn các giai cấp tư sản, địa chủ, thậm chí cả tẩng lớp phú nông đều là đối tợng của chuyên chính vô sản. Bời vì, ở Nga, cuộc đấu tranh giai cấp diễn ra gay go và quyết liệt nhất. 2. Nhà nước Xô viết Nga sau Cách mạng tháng Mười. Tổ chức bộ máy nhà nưóc và Hiến pháp 1918 2Ế/. Tổ chức bộ máy nhà nước và Hiến pliáp 1918 Ngav sau Cách mạne tháng Mười, chính quyén xỏ viết đã ban hành hàng loạt đạo luật, sắc lệnh dập tan bộ máy nhà 365 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
nước cũ bằng việc bãi bỏ các cơ quan của nó: các bộ. viện Đuma, toà án, cảnh sát, quân đội,v.v.. Các quan chức cũ và bọn nhân viên phản động đều bị cách chức, sa thải. Trong thời gian cuối năm 1917 đầu năm 1918. hê thống bộ máy nhà nước vô sản được thiết lập và hoàn thiện từng bước từ trung ương đến địa phương. Tổ chức nhà nước được xây dựng trên cơ sở hệ thống các xô viết từ trung ương đến địa phương, liên hệ chặt chẽ với các đoàn thể quần chúng. Đại hội xô viết toàn Nga là cơ quan quyền lực tối cao. Ban chấp hành trung ương xô viết toàn Nga là cơ quan thường trực giữa hai kỳ đại hội. Hội đồng các uỷ viên nhân dân (chính phủ) chịu trách nhiệm trưóe Đại hội xô viết toàn Nga và Ban chấp hành trung ương xô viết toàn Nga. Ngày 14/11/1917, Ban chấp hành trung ương Xô viết toàn Nga phê chuẩn "những nguyên tắc vê' sự kiểm soát của cóng nhân đối với sản xuất và phân phối sản phẩm công nghiệp". Ngày 2/12/1917, Ban chấp hành trung ương xô viết toàn Nga và Hội đồng các uỷ viên nhân dân thành lập Hội đồng tối cao về kinh tê quốc dân, để lãnh đạo toàn bộ hoạt động kinh tế của đất nước. Ngày 20/12/1917, Uỷ ban đặc biệt toàn Nga được thành lập. Đó là cơ quan an ninh quốc gia, trực thuộc Hội đồng các ủy viên nhân dân. Ngày 15/1/1918, Hội đồng các ủy viên nhân dân ban hành sắc lệnh thành lập hồng quân công nông. Ngày 19/1, Hội đồng lại ban bô sắc lệnh thành lập hải quân cóng nông. 366 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Đổng thời với việc thủ tiêu bộ máy nhà nước cũ, xây dựng bộ máy nhà nước mới, chính quyền xô viết đã ban hành các sắc lệnh xoá bỏ những trật tự xã hội cũ như chế độ phân biệt đẳng cấp, kỳ thị dân tộc. đặc quyền của nhà thờ, V.V.. ban bô các quyẻn tự do dân chủ của nhãn dãn xô viếtồ Trên cơ sở những kinh nghiệm và thực tế bộ máy nhà nước đã được hình thành từ sau cách mạng, Đại hội xô viết toàn Nga lần thứ in (tháng 1/1918) chính thức tuyên bố: - Nước Nga là chính thể cộng hoà xô viết đại biểu công nhân, binh lính và nông dân. Tất cả quyển lực nhà nước từ trung ương đến địa phương phải nằm trong tay các xô viết. - Nước Nga là hình thức kết cấu nhà nước liên bang. Các thành viên được tham gia liên bang và các tổ chức của liên bang trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Những nguyên tắc cơ bản của liên bang được khẳng định. Như vậy, nước Cộng hoà xô viết Nga trờ thành nước Cộng tioà xô viết liên bang Nga. - Tổ chức bộ máy nhà nước liên bang gồm: Đại hội xô viết toàn Nga là cơ quan quyền lực nhà nước tối cao (quốc hội). Ban chấp hành trung ương xô viết toàn nga do Đại hội xô viết toàn Nga bầu ra, là cơ quan thường trực của Đại hội. Hội đồng các uỷ viên nhân dân (chính phủ) cũng do Đại hội xô viết toàn Nga bầu ra, đứng đầu là Chủ tịch Hội đồng các uỷ viên nhân dân. Hội đồng có các thành viên là những bộ trường cùa các bộ uỷ viên nhân dân. Bản Hiến pháp của nước Cộng hoà xô viết liên bang Nga được thông qua tại Đại hội xô viết toàn Nga lần thứ V (tháng 7/1918). 367 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Đây là bản hiến pháp đầu tiên của nhà nước xô viết, cũng là bản hiến pháp xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới. Bản Hiến pháp ghi nhận chính thể cộng hoà xô viết, kết cấu nhà nước liên bang, tổ chức bộ máy nhà nước mà đã được Đại hội xô viết toàn Nga lần thứ III tuyên bô' Bản Hiến pháp khẳng định các quyển tự do dân chủ của chế độ xô viết. Bản Hiến pháp xác định những nhiệm vụ cách mạng của nhà nước và nhân dân Xô viết. 2.2. Nhà nước Xô viết trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước a. Hiệp ước Brét-Litốp giải thoát nước Nga khỏi cuộc chiến tranh đ ế quốc Cuộc chiến tranh đế quốc mà Nga hoàng tham gia và chính phủ lâm thời tư sản theo đuổi chỉ đem lại đau khổ cho quần chúng, đe doạ nước Cộng hoà Xô viết non trẻ. Nhân dân Xô viết cần hoà bình để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chính phủ Xô viết nhiều lần kêu gọi chính phủ Mỹ, Anh, Pháp và các cường quốc khác đàm phán hoà bình. Nhung Anh, Pháp, Mỹ tuyên bố không thừa nhận chính quyền xô viết và không đàm phán. Trong khi đó, Đức và các nưóe thuộc phe Đức thông báo với chính phủ Xô viết họ sẵn sàng đàm phán. Âm mưu của họ là muốn ký hoà ước ở mặt trận phía đông, để tập trung lực lượng về phía tây đánh bại Pháp, Anh trước khi quân Mỹ kịp sang Châu Âu, đồng thời hy vọng bằng cách ký hoà ước, có thể từng bước thôn tính nước Nga. Cuộc đàm phán Nga-Đức bắt đầu từ ngày 20/11/1917 tại Brét-Litốp. Phái đoàn Nga đưa ra dự án hoà ước không có 368 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
thôn tính và bồi thường chiến tranh. Phía Đức đòi thôn tính một phần lãnh thổ nước Nga mà họ đã chiếm được trong những nãm chiến tranh, rộng hơn 15 vạn km2, gồm toàn bộ Ucraina, một phần Bêlôruxia và các nước ven bờ Ban tích (Lítva, Látvia, Extônia). Nước Nga đứng trước một tình thế cực kỳ khó khăn, phức tạp. Nhưng nếu không ký được hoà ước với Đức, thì nuớc Nga sế rơi vào một tình thế cực kỳ nguy hiểm. Ngay trong cơ quan lãnh đạo Đảng và nhà nước Xô viết, có nhiều người không tán thành ký hoà ước, mà cầm đầu là Bukharin, Trốtxki. Ngày 18/2/1918, quân Đức lại mở cuộc tấn công trên toàn mật trận Nga-Đức, nhằm thẳng huớng Pêtrôgrát và Mátxcơva. V.I.Lênin đã thuyết phục được đa sô' trong Ban chấp hành Trung ương Đảng và chính phủ đồng ý ký hoà ước. Ngày 3/3/1918, hoà ước được ký kết. Hoà ước Brét-Litốp quy đinh: - Chấm dứt tình trạng chiến tranh giữa nước Nga với các nước thuộc phe liên minh Đức, Áo, Hung. - Nước Nga phải cắt một phần lãnh thổ gồm các nước ven bờ Bantích, một phần Bêlôruxia, toàn bộ Ucraina và Ba Lan để sáp nhập vào lãnh thổ Đức. Phần lan trờ thành quốc gia phụ thuộc vào nước Đức. Các thành phố Cácxơ, Batun, Ácđagan thuộc về Thổ Nhĩ Kì. - Nước Nga phải bồi thường cho Đức 6 tỷ Mác. Những điều kiện mà nước Nga phải chịu đựng trong hoà ước là rất nặng nề. Nhưng hoà ước đã đưa nước Nga khỏi cuộc chiến tranh đế quốc, tạo ra điều kiện xây dựng và củng cố sức mạnh của nhà nước Xô viết, để đánh bại cuộc phản 369 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
loạn của bọn phản động trong nước và cuộc can thiệp vũ trang của các nước đế quốc sau đó. Tháng 11/1918, khi cách mạng Đức bùng nổ, chính phủ Xô viết tuyên bố xoá bỏ hiệp ước Brét-Litốp. b. Xây dựng kinh tế. Đánh bại cuộc can thiệp vũ trang của đ ế quốc và cuộc nổi loạn của bọn phản động trong nước Đại hội Xô viết toàn Nga lần thứ VI, tháng 3/1919 quyết định chuyển thủ đô về Mátxcơva. Sau khi giành được chính quyền và ra khỏi cuộc chiến tranh đế quốc, đứng trước một nền kinh tế quyệt kệ, Chính phủ Xô viết đã tiến hành những biện pháp cách mạng trong lĩnh vực kinh tế. Sắc lệnh vẻ ruộng đất đã tịch thu ruộng đất của giai cấp địa chủ, giao cho nông dân sử dụng. Hàng loạt các sắc lệnh được ban hành, nhằm đập tan thế lực kinh tế của giai cấp tư sản. Nhà nước ban hành Điều lệ về chế độ kiểm soát của công nhân đối với sản xuất và phân phối sản phẩm trong các ngành kinh tế quốc dân. Sắc lệnh ngày 28/6/1918 quốc hữu hoá toàn bộ các xí nghiệp thuộc các ngành công nghiệp nặng. Chính phủ Xô viết giữ độc quyền ngoại thương, tịch thu các công ty thương nghiệp của tư bản nước ngoài. Bọn đế quốc hoảng sợ trước thắng lợi của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười. Cách mạng tháng Mười đã diễn ra và thắng lợi nhanh chóng khi cuộc chiến tranh đế quốc đang trong giai đoạn quyết liệt, bọn đế quốc không kịp trở tay can thiệp. Nhưng ngay sau thắng lợi của Cách mạng tháng Mười, chúng từng bước và điên cuồng chống phá, xâm 370 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
lược, hòng bóp chết nước Cộng hoà Xô viết trẻ tuổi. Đồng thời, các lực lượng phản động trong nước cũng điên cuồng đánh phá cách mạng. Mùa hè 1918, tổ quốc Xô viết ở trong tình huống vô cùng khó khăn và hiểm nguy. Khoảng 30 vạn quăn cùa 14 nước đế quốc và chư hầu cùng khoảng 1 triệu quân của bọn phản động đủ các loại đã xâm chiếm khoảng 3 phẩn 4 lãnh thổ cùa đất nước Xô viết. Nước Nga Xô viết không chùn bước trước hiểm hoạ đó. Ngày 30/11/1918, Hội đồng quốc phòng công nông được thành lập, do V.I. Lênin làm chủ tịch. Đây là cơ quan đặc biệt và tối cao của nhà nước Xô viết, có đầy đù quvền lực để tiến hành mọi công việc, huy động mọi sức mạnh của đất nước cho cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Để động viên toàn bộ sức người sức của. ngav từ mùa hè 1918, nhà nước Xô viết đã quyết định thi hành chínlì sách cộng sán thời chiến. Thông qua Hội đồng tối cao kinh tế quốc dân, nhà nước kiểm soát toàn bộ hoạt động của ngành công nghiệp, nắm trong tay toàn bộ mặt hảng công nghiệp. Ngành công nghiệp quân sự được ưu tiên phát triển. Nhà nước nắm độc quyền lúa mì, thực hiện chính sách trưng thu loàn bộ lượng thực ngoài định lượng của nông dân, với nguyên tắc "tuyệt đối không thu cùa nông dân nghèo, thu với mức độ vừa phái của trung nông và thu nhiêu của phú nông". Chính quyền thi hành chính sách lao động bắt buộc. Tất cả mọi công dân từ 16 đến 50 tuổi đều có nghĩa vụ tham gia lao động, "ai không làm tliì không ăn". Chính sách cộng sản thời chiến, như V.I.Lêni chỉ rõ. là một chính sách khônc bình thường và c ó tính ch ất tạm thời. N hưng trong hoàn cành lúc bấy giờ ở nước Nga, chỉ có chính sách đó mới bảo vệ được 371 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
chính quyền Xô viết, mói bảo đảm được thắng lợi cùa cuộc chiến tranh chống bọn đế quốc và phản động. Xây dựng lực lượng hồng quân hùng mạnh là nhiệm vụ quan trọng bậc nhất, bảo dảm thắng lợi cho cuộc chiến tranh. Đầu mùa hè 1918, quân sô' của hồng quân mới chì hơn 30 vạn nguời, không đủ đáp ứng yêu cầu của cuộc chiến đấu trìn các chiến trường. Cuối tháng 5/1918, Ban chấp hành Xô viết toàn Nga ban bô' nghị định về nghĩa vụ quân sự. Hàng chục vạn thanh niên hăng hái tham gia hồng quân. Đến cuối năm 1918, quân sô' của hồng quân lên tới 1 triệu người. Hồng quân được tổ chức thành nhiều binh chủng: bộ binh, kỵ binh, pháo binh, thiết giáp, công binh, không quân. Cuộc chiến đấu gian khổ, đầy hy sinh và anh dũng của hồng quân và nhãn dân các dân tộc Xô viết giành dược thắng lợi hoàn toàn vào cuối năm 1920. Chiến tranh kết thúc. Nhiệm vụ hàng đầu là khôi phục nền kinh tế vừa bị tàn phá nặng nề. Chính sách cộng sản thòi chiến được thay bằng chính sách kinh tế mới đầy sáng tạo, năng động và hiệu quả. Chính sách kinh tế mới bắt đẫu từ sự đổi mới trong chính sách quản lý nông nghiệp. Chế độ trưng thu lương thực được thay bằng thuế lương thực. Mức thuế lương thực căn cứ vào diện tích ruộng đất, số lượng nhân khẩu trong gia đình, tình trạng nông cụ canh tác. Sau khi đã nộp đủ thuế, nông dân có quyền tự do bán nông phẩm. Về công nghiệp, nhà nước chỉ kinh doanh công nghiệp nặng và những ngành công nghiệp quan trọng đối với quốc tế dân sinh qua hệ thống các xí nghiệp đã được quốc hữu hoá hoặc mới xây dựng. Các chủ xí nghiệp nhỏ chưa quốc hữu 372 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
hoá vẫn được tiếp tục kinh doanh. Nhà nước cho tư nhân thuê hoặc xây dựng các xí nghiệp nhỏ, cho tư bản nước ngoài thuê một số xí nghiệp dưới hình thức tô nhượng để kinh doanh và đặt dưới sự kiểm soát của Nhà nước. Về thương nghiệp, nhà nước độc quyền ngoại thương và kinh doanh nội thương đối với một số mặt hành thiết yếu cho sản xuất và đời sống. Trên cơ sở vai trò chủ đạo cùa thương nghiệp xã hội chủ nghĩa, nhà nước cho phép thị trường tự do tồn tại, để lưu chuyển và tiêu thụ hàng hoá giữa thành thị - nông thôn, giữa các miền khác nhau của đất nước. Vì thế, V Ị Lênin đã chỉ thị cho những người cộng sản là phải "học tập buôn bán". Khi mói ban hành, chính sách kinh tế mới không được một số cán bộ và quần chúng thấu hiểu. Họ vẫn bị ràng buộc bởi tư duy kinh tế "cộng sản thời chiến". Họ lo sợ chủ nghĩa tu bản phục hồi, vì chưa đủ niềm tin đối với sức mạnh của chủ nghĩa xã hội. Nhưng qua thực tế đã chứng tỏ, chính sách kinh tế mới của nhà nước Xô viết do V.I.Lênin khởi thảo, đã có một ý nghĩa cực kỳ quan trọng về thực tiễn cũng như về lý luận, đối với thời bấy giờ và cả ngày nay. c. On định lãnh thó Đồng thời với việc thực hiện chính sách kinh tế mới, chính phủ Cộng hoà xô viết liên bang Nga cố gắng ổn định lãnh thổ, để tạo điều kiện bình ổn xây dựng đất nước. Trên cơ sở nguyên tắc tự nguyện, nước ở lại tuyên bố hẳn hoi, nước tách ra ký kết đàng hoàng. Ucraina và Bêlôruxia trước kia có hoang mang muôn 373 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
thoát ly, hoặc bị Đức, Phần Lan, Ba Lan nhòm ngó muốn tách khỏi Nga. Nhưng sau đó, hai nước này đều tuyên bố ở lại nước Nga: Ucraina ngày 29/12/1920, Bẻlôruxia 16/1/191. Đồng thời, Adécbaidan, Grudia, Ácmêni cũng tuyên bô' như vậy. Chính phủ Nga kỷ hoà ước thừã nhân ba nước vùng Ban Tích (Lítva, Látvia, Extônia) độc lập (năm 1920). Phần Lan không chịu theo chính quyển Xô viết, tuyên bố độc lập tháng 12/1917, thành lập nhà nước tư sản. Chính phủ Nga thừa nhận Phần Lan độc lập trong hoà ước tháng 10/11920. Với hoà ước Riga ngày 18/3/1921 giữa hai nước Nga - Ba Lan, Nga công nhận Ba Lan độc lập và định rõ ranh giới giữa hai bên. II. NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT LIÊN BANG CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA XÔ V Ế T (1922 -1991) 1. Sự thành lập Nhà nước Liên bang cộng hoà xã hội chủ nghĩa x ỏ viết (Liên Xô) Cách mạng tháng Mười giải phóng không chỉ nhân dân Nga, mà còn cả các dân tộc vốn là thuộc địa của Nga hoàng. Trong quá trình cách mạng giành và bảo vé chính quyền Xô viết, các dân tộc đã thiết lập khối liên minh dân tộc. Tới năm 1922, trên lãnh thổ nước Nga trước đây đã thành lập khối liên minh gồm 6 nước cộng hoà Xô viết: Nga, Ucraina, Bêlôruxia, Adécbaidan, Ácmêni, Grudia. Những nhà nước cộng hoà đó đều đạt dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản (Bônsêvích) Nga và đều được hồng quân bảo vệ. Đó là những tiền đề vững chắc cho sự thành lập liên bang xã hội chủ nghĩa Xô viết. Bước sang giai đoạn cách mạng mới - giai đoạn xây 374 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
dựng chủ nghĩa xã hội. sự phát triển mối quan hệ giữa các nước cộng hoà Xô viết về mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế. quân sự. ngoại giao,... đòi hỏi phải thành lập một nhà nước liên bana trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng và hữu nghị. Trong các tháng 1 0 -1 2 năm 1922, tất cả các nước cộng hoà Xô viết đã tiến hành các đại hội Xô viết, thảo luận và nhất trí việc thành lập liên bang. Ngày 30/12/1922, Đại hội lần thứ nhất các Xô viết Liên bang cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô viết khai mạc tại Mátxcơva. 2215 đại biểu tới dự đại hội. Sô lượng đại biểu cùa từng nước cộng hoà được quy định theo ti lệ dân sô: Liên bang Nga có 1727 đại biểu. Ucraina có 364 đại biểu. Liên bang Ngoại Cápcadơ (Adécbaidan, Ácmêni, Grudia) có 91 đại biểu, Bêlôruxia có 33 đại biểu. Đại hội nhất trí thông qua bàn Tuyên ngôn thành lập Liên bang cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô viết (gọi tắt là Liên Xô) và bản hiệp ước liên bang. Bản tuyên ngôn xác định những nguyên tắc tổ chức nhà nước Liên bang: hoàn toàn tự nguyện, bình đảng, hữu nghị và giúp đỡ lẫn nhau. Bản hiệp ước liên bang quy định thể thức của các nước cộng hoà xin gia nhập hoặc tách ra khỏi Liên bang, quy định những luật pháp về cơ cấu và quyền hạn cửa các cơ quan tối cao cùa nhà nước. Đại hội bầu ra cơ quan lặp pháp tối cao Liên bang là Ban chấp hành trung ương Xô viết Liên Xô do M.I. Calinin làm chủ tịch và bầu V.I.Lênin là chủ tịch Hội đồng uỷ viên nhân dân Liên Xó. Như vậy, nsày 30/12/1922. Liên bang cộn° hoà xã hội chủ nghĩa Xổ viết ra đời. gồm: Liên bang Nga, Ucraina, Liên 375 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
bang Ngoại Cápcadơ, Bêlôrutxia. Các nước cộng hoà Xô viết khác có thể gia nhập Liên Xô. Nãm 1936, Liên bang Ngoại Cápcadơ lại được tách thành ba nước cộng hoà nằm trong Liên Xô: Adécbaidan, Ácmêni và Grudia. Chủ nghĩa xã hội đã làm thay dổi đâí nước và cuộc sông của nhân dân ở 5 nước Cộng hoà Xô viết vùng Trung Á. Các dân tộc đó lạc hậu, vốn cũng là thuộc địa của Nga hoàng, từ những trình độ khác nhau, tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội và lần lượt gia nhập Liên xô. Đó là các nước cộng hoà: Cadắcxtan, Tuamênixtan, Udơbêkixtan, Tátghikixtan, Kiếcghidi. Tháng 3/1940, nước Cộng hoà Xô viết Carêli - Phần Lan được thành lập, gồm lãnh thổ của Cộng hoà tự trị Carêli và một vùng đất mổi sáp nhập vào Liên Xô theo Hiệp ước Liên Xô - Phàn Lan Năm 1940. Tại vùng Bantích, chính quyến công nông đã bị bọn đế quốc xoá bỏ từ năm 1918-1919 trong cuộc nội chiến. Năm 1940, sau khi lật đổ chính quyẻn phản động, ba nước cộng hoà (Látvia, Lítva, Extônia) tham gia vào Liên bang Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô viết. Tháng 6/1940, theo sự thoả thuận giữa Chính phủ Liên Xô và Chính phù Rumani, vùng Bétxarabi (mà Rumani đã xâm chiếm của Nga năm 1918) và vùng Bắc Bucôvin được chuvển giao cho Liên Xô. Tháng 8/1940, Xô viết tối cao Liên Xô quyết định thành lập Cộng hoà Xô viết Mônđavia, gồm phần lãnh thổ của Cộng hoà tự trị Mônđavia và vùng đất ở Bétxarabi (cư dân chủ yếu là người Ucraina) và vùng Bucôvin thì gia nhập Cộng hoà Xô viết Ucraina. Như vậy, đến năm 1940, Liên Xô có 16 nước cộng hoà. 376 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Tháng 7/1956, Cộng hoà Carêli-Phần Lan đổi thành Cộng hoà tự trị Carêli và được nhập vào Liên bang Nga. Từ đó đến khi sụp đổ, Liên Xô có 15 nước cộng hoà. 2. Nhà nước x ỏ Viết trong quá trình tổn tại của Lién Xô. Tổ chức bộ máy nhà nước qua các hiến pháp 2.1. Hiến pháp 1921. Công cuộc xảy dựng chủ nghĩa xã hội Liên bang Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô viết được thành lập, Hiến pháp 1918 - hiến pháp của Cộng hoà Xô viết Liên bang Nga không còn phù hợp nữa. Hiến pháp mới được khẩn trương xây dựng, để làm cơ sở pháp lý cơ bản của Liên bang Xô viết. Đại hội Xô viết Liên xô (tháng 1/1924) thông qua Hiến pháp của Liên Xô, được xây dựng trên cơ sở những nguyên tắc của chủ nghĩa Lênin về quan hệ dân tộc. Hiến pháp quy định nhà nước Liên bang có toàn quyền trong các lĩnh vực chính sách đối ngoại, ngoại thương, tổ chức lực lượng vũ trang, mạng lưới giao thông toàn liên bang. Các vấn đề khác thuộc thẩm quyền của các nước cộng hoà thành viên. Các nước cộng hoà có chính quyền riêng và pháp luật riêng. Theo Hiến pháp, bộ máy nhà nước Liên bang gồm - Đại hội các xô viết toàn liên bang là cơ quan lập hiến, cứ 1-2 năm, Đại hội họp một lần và có thể họp hất thường. Đại biểu Đại hội do các Đại hội Xô viết cấp tỉnh bầu ra. - Ban ch ấp hành trung ương toàn liên bang là cơ quan thường trực giữa hai kỳ Đại hội. Ban chấp hành irung ươna toàn liên bang là c ơ qu an có quyồn lặp pháp, gồm hai viện 377 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
ngang quyền nhau. Viện liên bang có 451 đại biểu, do Đại hội các Xô viết toàn liên bang bầu ra. Viện Dân tộc có 136 đại biểu, do các nước cộng hoà cừ ra. Ban chấp hành trung ương toàn liên bang cử Chủ tịch đoàn của Ban chấp hành. Chủ tịch đoàn gồm hai ban lãnh đạo của hai viện và chín người được hai viện bầu chung. - Hội đồng các uỷ viên nhân dân (Chính phủ) do Ban chấp hành trung ương toàn liên bang bầu ra. Sau khi ban hành bản hiến pháp đầu tiên của Liên bang cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô Viết, nhà nước Liên Xô tập trung vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, tiến hành công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa và tập thể hoá nông nghiệp. Đến năm 1936, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội đã giành được những thắng lợi cơ bản. Từ một nuớc nông nghiệp lạc hậu dưới chế độ Nga hoàng, Liên Xô đã trở thành một cường quốc xã hội chủ nghĩa, có kinh tế công nông nghiệp phát triển, tiềm lực quốc phòng hùng mạnh. Các giai cấp bóc lột tư sản, địa chủ, phú nông) đã bị xoá bò. Trong xã hội chỉ có hai giai cấp công nhân, nông dân và tầng lớp trí thức cách mạng. Chế độ áp bức và ký thị dân tộc đã bị thủ tiêu. Các dân tộc Xô Viết sống trong bình đẳng, hữu nghị, giúp đỡ lẫn nhau trong đại gia đình Liên bang cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô viết. Sự chênh lệch vể trình độ phát triển kinh tế-văn hoá giữa các dân tộc, giữa các vùng của đất nước được giảm bớt. Mức sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt. Âm mưu và hành động bao vây phong toả của chú nghĩa đê quốc quốc tế đối với nhà nước Xô viết, vổ c ơ b ả n , đ ã bị th ấ t b ại. 378 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
2.2. Hiến pháp 1936. Cuộc chiến tranh giũ nước vĩ đại và tiếp tục cóng cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội Những biến đổi cơ bản trong đời sống xã hội của Liên Xô, đòi hỏi phải có một hiến pháp mới. Từ mùa hè năm 1936, dự thảo hiến pháp mới được công bố, để toàn dân góp ý kiến. Ngày 5/12/1936, Đại hội Xô Viết Liên Xô thông qua bản hiến pháp mới. Đây là bản hiến pháp Xô viết thứ 3, sau Hiến pháp 1918 và H iến pháp 1924, là bản hiến pháp thứ hai của L iên bang cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô viết. Hiến pháp 1936 khẳng định những thành tựu của nhân dân Liên Xô trong quá trình xây đựng chủ nghĩa xã hội, quy định những nguyên tắc tổ chức của xã hội Xô Viết, của khối thống nhất giữa các dân tộc. Hiến pháp xác định hệ thống kinh tế và chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa dưới hai hình thức toàn dân và tập thể, là cơ sở kinh tế của Liên Xô. Liên bang Cộng hoà xã hội chủ nghĩa là nhà nước xã hội chủ nghĩa của công nông. Tất cả quyển lực thuộc vé nhân dân. Cơ sở chính trị của nhà nước là hệ thống các xô viết đại biểu nhân dân lao động. Hiến pháp khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản (Bônsêvích) Liên Xô đối với mọi lĩnh vực của đời sống đất nước. Hiến pháp quy định tổ chức bộ máy nhà nước, dựa trên nguyên tắc bảo đảm sự bình đảng giữa các dân tộc, giữa các nước cộng hoà liên bang. Đại hội Xô viết Liên Xô nắm quyén lập hiến. Xô viết tối cao Liên Xô là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, cơ quan lập pháp của liên bang. Liên Xô là quốc gia 379 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
có nhiều dân tộc, là nhà nước liên bang, nên Xô viết tối cao có hai viện. Hai viện ngang quyền nhau, đều do tất cả công dân Xô viết bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. c ả hai viện đều có nhiệm kỳ 4 năm. Viện liên bang đại biểu cho lợi ích chung của mọi công dân toàn liên bang, không kể thuộc dân tộc nào. Cứ 30 vạn cử tri được bầu 1 đại biểu (theo tỉ lệ dân số). Viện dân tộc đại biểu cho lợi ích của các dân tộc. Mỗi nước cộng hoà thành viên Liên Xô được bầu 25 đại biểu, mỗi nưóc cộng hoà tự trị 11 đại biểu, tỉnh tự trị 5 đại biểu, quận dân tộc 1 đại biểu. Xô viết tối cao Liên Xô bầu ra chủ tịch đoàn Xô viết tối cao, mà đứng đầu là chủ tịch chủ tịch đoàn Xô viết tối cao, Hội đổng các uỷ viên nhân dân, chánh án và các thẩm phán của Toà án tối cao Liên Xô, kiểm sát trưởng và các kiểm sát viên của Viện kiểm sát tối cao Liên Xô. Tất cả những cơ quan này chịu trách nhiệm và báo cáo công tác của mình trước Xô viết tối cao Liên Xô. Chủ tịch đoàn Xô viết tối cao gồm 37 uỷ viên, có những quyền hành lớn: cử những uỷ viên nhân dân giữa hai kỳ họp của Xô viết tối cao, huỷ bỏ những quyết định không đúng của uỷ viên nhân dân, ra sắc lệnh về tổng động viên, tuyên chiến, ký điều ước quốc tế,... Hội đồng các Úy viên nhân dân là chính phủ, gồm 34 bộ. Như vậy, tổ chức bộ máy nhà nước Liên Xô theo quy định của Hiến pháp 1936 đã được cải tiến nhiều so vói Hiến pháp 1924. Hiến pháp 1936 mở rộng hơn nữa quyền và nghĩa vụ cơ b án c ú a c ò n g n h â n . C ô n g dân X ô viết c ó quyền la o động, 380 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
quyền nghỉ ngơi, quyền học hành, quyền được bảo hộ vật chất khi tuổi già, ốm đau, mất sức lao động,... Phụ nữ được hưởng mọi quyền ngang như nam giới. Quyền bình đảng cùa mọi công dân, không phân biệt dân tộc và chùng tộc. Mọi công dân đều có quyển tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp và quyền bất khả xâm phạm về thân thể, chỗ ở,... Đặc biệt, Hiến pháp 1936 xoá bỏ những hạn chế về quyền bầu cử trong các hiến pháp trước (những người thuộc giai cấp bóc lột không có quyền bầu cử và ứng cử). Khi các giai cấp bóc lột mất đi, thì mọi công dân đều có quyền bầu cử. Đồng thời, hiến pháp 1936 quy định các nghĩa vụ công dân: tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, tuân theo kỷ luật lao động, làm tròn nghĩa vụ xã hội một cách trung thực, tôn trọng những nguyên tắc của đời sống xã hội chủ nghĩa, bảo vệ tổ quốc,... Hiến pháp 1936 đánh dấu một bước hoàn thiện thượng tầng chính trị- pháp lý, tương ứng với có sở hạ tầng xã hội chủ nghĩa. Hiến pháp Xô viết 1936 còn có ý nghĩa quốc tế lớn lao. Nó nêu gương và cổ vũ phong trào đấu tranh dân chủ ở các nước tư bản, nhất là ở các nước phát xít. Căn cứ vào Hiến pháp mới, ngày 12/12/1937 đã tổ chức bẩu cử Xô viết tối cao Liên Xô. Tháng 1/1938, trong kỳ họp đầu tiên, Xô viết tối cao Liên Xô tiến hành bầu ra các cơ quan cao cấp của nhà nước Liên bang. Sau khi Hiến pháp 1936 được ban hành, Liên Xô tiếp tục củng cố, phát triển nền kinh tế, nền văn hoá mới. Đồng thời, trong tình hình quốc tế cãng thẳng do chủ nghĩa phát xít lên nắm q uyền ở Đ ứ c, Italia, N hật,... L iên X ô phải tăn a cường khả nâng phòng thả của đất nước, cùng các lực lượng dàn 381 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
chủ và hoà bình trên thế giới đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít và chiến tranh, bảo vệ hoà bình thế giới, sẵn sàng giáng trả mọi hành động xâm lược. Đến khi chiến tranh giữ nước bùng nổ, Liên Xô là một trong những cường quốc kinh tế trên thế giới, có tổng sản lượng công nghiệp đứng đầu Châu Âu và thứ hai thế giới (sau Mỹ). Nhà nước Xô viết đã tiến hành khẩn trương những khối lượng công việc to lớn, nhằm tãng cường nhanh chóng lực lượng quốc phòng. Tháng 1/1939, Bộ dân uỷ công nghiệp chiến tranh được phân ra thành bốn bộ: Bộ dân uỷ công nghiệp hàng không, Bộ dân uỷ công nghiệp đóng tàu, Bộ dân uỷ công nghiệp vũ khí và Bộ dân uỷ công nghiệp đạn dược. Ngày 1/9/1939, nhà nước Xô viết ban bô' luật nghĩa vụ quân sự. Giữa năm 1941, lực lượng vũ trang Xô viết gồm 5 triệu người, gấp 2,8 lần so với năm 1939. Trong những nãm tháng hiểm nguy của vận mệnh loài người trước hoạ phát xít, Liên Xô là cường quốc trung thành với hoà bình thế giới, với vận mệnh của các dân tộc. Tháng 3/1933, tức là ngay sau khi Hít Le lên cầm quyền ở Đức, tại Hội nghị quốc tế về giải trừ quân bị, chính phủ Liên Xô đưa ra một đề nghị về định nghĩa kẻ xâm lược, nhằm đề phòng hành động của bọn gây chiến. Không một cường quốc tu bản nào ủng hộ đề nghị đó. Tuy vậy, trước mối đe doạ thực sự của phát xít và do sức mạnh, uy tín của Liên Xô trên trường quốc tế, dần dần, Mỹ, Anh, Pháp cải thiện quan hệ và hợp tác với Liên Xô chống chủ nghĩa phát xít. Ngày 15/9/1934, theo đề nghị của Pháp, Hội quốc liên mời Liên Xô tham gia tổ chức quốc tế này. Chính phủ Liên Xô ký các hiệp ước tương trợ với một loạt nước. Các hiệp ước đó quy định hai bên có 382 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
nghĩa vụ chi viện lẫn nhau trong trường hợp một trong hai nước bị nước khác tấn công. Ngày 23/8/1939, Liên Xô ký với Đức hiệp ước không xâm phạm lẫn nhau. Với việc ký hiệp ước này, âm mưu của Hítle là muốn tập trung lực lượng tấn công xâm lược các nước tư bản châu Âu trước, sau đó sẽ dùng sức người, sức của của cả châu Âu tư bản quay sang tấn công Liên Xô. về phía Liên Xô, với việc ký hiệp ước đó, đã làm phá sản âm mưu của các chính phủ Anh, Pháp, Mỹ hòng xô đẩy Liên Xô vào cuộc chiến tranh với Đức. Đồng thời, hiệp ước này đưa lại cho Liên Xô một khoảng thời gian hoà bình quý báu, để tăng cường khả năng quốc phòng, chuẩn bị cho cuộc chiến tranh vệ quốc. Sau khi đánh chiếm các nước tư bản Châu Âu, ngày 22/6/1941, phát xít Đức mở cuộc tấn công xâm lược Liên Xô. Nhân dân Liên Xô phải tiến hành cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại (1939-1945). Trải qua biết bao nhiêu khó khăn, thử thách, chịu đựng bao gian khổ hy sinh, Liên Xô đã toàn thắng. Thắng lợi vĩ đại đó là nhân tố quyết định thắng lợi của cuộc chiến tranh chống chủ nghĩa phát xít trên phạm vi toàn thế giới, cứu loài người ra khỏi thảm hoạ phát xít, mở đường thắng lợi cho các trào lưu cách mạng thế giới. Sau chiến tranh, Nhà nước Xô viết bắt tay vào công cuộc khôi phục kinh tế và xây dựng đất nước. Từng bước, Liên Xô trở thảnh một cường quốc trên thế giới, có công nông nghiệp phát triển, khoa học kỹ thuật tiên tiến. Liên Xô là thảnh trì của hệ thống xã hội chủ nghĩa và phong trào c ác h m ạ n g th ế giớ i. V ới sức m ạn h và uy tín của m ìn h , Chính phủ Xô viết không ngừng đấu tranh vì nền hoà bình thế giới. 383 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
2.3. Hiến pháp 1977 và sứa đổi Hiến pháp 1990. Công cuộc cải tổ và sự sụp đổ của Liên Xô Từ khi thông qua Hiến pháp 1936 đến những năm 1 9 7 0 đ ã c ó n h iề u biến đ ổ i lớ n la o tro n g đời s ố n g c h ín h trị-kinh tế-xã hội Liên xô. Do đó việc soạn thảo hiến pháp mới là cần thiết. Ngày 4/7/1977 dự thảo Hiến pháp được công bố để toàn dân thảo luận, góp ý kiến. Ngày 7/10/1977, Đại hội Xô viết Liên xô thông qua bản Hiến pháp mới. So với các hiến pháp trước, Hiến pháp 1977 có những điểm mới nổi bật: - Trước hết, Hiến pháp 1977 xác định, nhà nước Xô viết lúc này là nhà nưóe toàn dân: ",Sau khi hoàn thành nhiệm vụ của chuyên chính vô sản, nhà nước xã hội chủ nghĩa đã trỏ thành nhà nước toàn dân'. Theo tinh thần của Hiến pháp và các văn kiện của Đảng cộng sản Liên Xô, sau khi thực hiện xong sứ mệnh lịch sử về xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa, nhà nước chuyên chính vô sản dần dần phát triển thành nhà nước toàn dân. Nhà nước toàn dân ra đời là kết quả cùa việc hoàn thành sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội phát triển và chuyển sang xây dựng chủ nghĩa cộng sản. Cơ sỏ của quá trình phát triển từ nhà nước chuyên chính vô sản lên nhà nước toàn dân là những biến đổi sâu sắc về phương thức sản xuất, cơ cấu giai cấp, cũng như những thay đổi trong lối sống và tám ]ý cùa hàng triệu nhân dân lao động. Trong nhà nước xã hội chủ nghĩa toàn dân, quyền lực chính trị được mở rộng và phát triển. Nếu như nhà nước chuyên chính vô sản mang một nền dân chủ phổ biến, thì trong nhà nước toàn đân, nền dân 384 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
chủ đó được hoàn thiện hơn. Thời kỳ chuyên chính vô sản, quyền lực chính trị là quyền lực của giai cấp công nhân và nông dân tập thể. Đến thời kỳ nhà nước xã hội chủ nghĩa toàn dân, tất cả các giai cấp và tầng lớp xã hội đều tham gia như nhau vào việc quản lý nhà nước. Như vậy, nhà nước toàn dân là nhà nước xã hội chủ nghĩa ở trình độ phát triển cao nhất. - Về tổ chức bộ máy nhà nước, cơ quan lập hiến là Đại hội đại biểu nhân dân Liên Xô. Cơ quan hành pháp (chính phủ) là Hội đồng bộ trưởng Liên Xô. Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng và các bộ trưởng do Xô viết tối cao bầu ra. Ngày 13/3/1990, Đại hội đại biểu nhân dân Liên Xô sửa đổi và bổ sung Hiến pháp 1977, lập chức vụ tổng thống Liên Xô. Tổng thống do phổ thông đầu phiếu bầu ra, có nhiệm kỳ 5 năm. Tổng thống có quyền hạn rộng lớn: đứng đầu Hội đổng liên bang Liên Xô, tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang Liên Xô, đề cử hoặc đề nghị bãi nhiệm chủ tịch Hội đồng bộ trưởng Liên Xô,... Sau khi ban hành Hiến pháp 1977, Liên Xô đẩy mạnh công cuộc xây dựng hoàn thiộn chủ nghĩa xã hội. Từ tháng 4/1985, đặc biệt là sau Đại hội lần thứ 27 của Đảng cộng sản Liên Xô, Đảng và nhà nước Xô viết tiến hành cuộc cải tổ đất nước. Trong quá trình lãnh đạo và tổ chức công cuộc xây dựng đất nước, nhất là từ khi cuộc cải tổ được thực hiện, Đảng và nhà nước Liên Xô đã phạm những sai lầm nghiêm trọng, đưa đến sự sụp đổ của Liên bang cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô viết. Trong năm 1991, các nước cộng hoà lần lượt rút ra khỏi liên bang. Chế độ Xô viết ở các nước thuộc Liên Xô cũ đều bị xoá bỏ. 385 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
3. Khái quát chung về hệ thống pháp luật Liên Xô 3.1. Đặc điểm Hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa ờ Liên Xô. do những điều kiện lịch sử, nên có những đặc điểm nổi bật. a. Pháp luật Xô viết là hệ thôhg pháp luật xã hội chù nghĩa đầu tiên trên th ế giới Trước đây, Công xã Pari chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn ngủi, nên pháp luật Công xã chưa là một hệ thống, chủ yếu ở dạng chính sách, giải quyết những vấn đề cấp bách của chế độ mới. Liên Xô là thành trì của phe xã hội chù nghĩa thế giới, pháp luật Xô Viết là hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa đầu tiên, nên pháp luật Liên Xô có ảnh huởng lớn lao tới pháp luật của các nhà nước xã hội chủ nghĩa khác ỏ những mức độ khác nhau. Sự ảnh hưởng đố thể hiện chủ yếu ỏ các mặt. - Tư tường chính trị-pháp lý. - Hình thức pháp luật và cơ cíu của hệ thống pháp luật. - Nội dung của chế định pháp luật. b. Pháp luật Liên Xô gồm nhiều hệ thống pháp luật - Hệ thống pháp luật chung của toàn Liên bang cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô viết. Pháp luật Liên Xô có hiệu lực cao nhất trong toàn liên bang. - Hệ thống pháp luật ở từng nước cộng hoà. Liên Xô là Nhà nước liên bang, nên mỗi nước cộng hoà thành viên đều có hệ thống pháp luật riêng, bao gồm hiến pháp, các bộ luật,... riêng. Pháp luật ở các nước cộng hoà phản ánh trình độ phát triển và hoàn cảnh lịch sử đặc thù của địa phương, 386 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
nhưng không trái với tinh thần và nội dung của luật pháp toàn liên bang. c. Do tính chất cực kỳ gay gắt của cuộc đấu tranh giai cấp, nên trong một thời gian khá dài (trước Hiến pháp 1936), đối tượng chuyên chính của pháp luật Xô viết cũng có nét đặc biệt. Trước Hiến pháp 1936, những người từng là quan chức của chế độ cũ, hoặc là tư sản, địa chủ, phú nông, đều bị pháp luật tước quyền bầu cử và ứng cử. Từ Hiến pháp 1936 trở đi, trong xã hội Xô viết chỉ có hai giai cấp công nhân và nông dân lao động cùng tầng lớp trí thức cách mạng, thì đương nhiên, sự hạn chế trên được bãi bỏ. 3.2. Những ngành luật chủ yếu Hộ thống pháp luật Liên Xô gổm những ngành luật chủ yếu: luật hiến pháp, luật hành chính, luật lao động, luật nông trang tập thể, luật hôn nhân và gia đình, luật dân sự, luật hình sự, luật tố tụng hình sự, luật tố tụng dân sự, luật lao động cải tạo,... Luật hiến pháp Xô Viết là ngành luật cơ bản chủ chốt. Liên Xô lần lượt ban hành ba bản hiến pháp: Hiến pháp 1924, Hiến pháp 1936, Hiến pháp 1977. Trước đó, Cộng hoà Xô viết liên bang Nga đã có bản Hiến pháp 1918. Sau này, Hiến pháp 1977 của Liên xô được sửa đổi vào nãm 1990. Ngoài ra, các nước cộng hoà cũng ban hành nhiều hiến pháp, mà con số tới gần 100. Luật hiến pháp Xô viết là một hệ thống các quy phạm, điều chỉnh các mối quan hệ cơ bản, phát sinh trong quá trình thực hiện quyền lực nhà nước. Luật nhà nước củng cô' chế độ kinh tế và nền chính trị của Liên Xô, các mối quan hệ giữa nhà nước và công dân, mối 387 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
quan hệ giữa các dân tộc. Luật nhà nước xác định nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước. Luật nhà nước quy định những nguyền tác và phương thức để các đoàn thể quần chúng Iham gia vào công việc quản lý nhà nước. Hiến pháp khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản đối với nhà nước và toàn xã hội. Chế định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân cũng giữ vị trí trọng yếu trong hiến pháp Xô viết. Tóm lại, luật hiến pháp xác định những nguyên tắc cơ bản, làm xuất phát điểm cho các ngành luật khác. Luật hành chính Xô viết điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình hoạt động, chỉ đạo và chấp hành của các cơ quan quản lý nhà nước. Luật hành chính cũng điẻu chỉnh cả hoạt động của các cơ quan nhà nước khác và các tỏ chức xã hội trong trường hợp các cơ quan, các tổ chức này thực hiện công việc mang tính chất quản lý nhà nước. Luật hành chính tác động tích cực đến việc áp dụng chính sách của Đảng cộng sản trong các lĩnh vực khác nhau của đòi sống xã hội. Luật tài chính Xô viết điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong việc huy động và phân bổ nguồn tiền tệ của nhà nuớe. Bộ phận chủ yếu của ngành luật tài chính là Luật về ngân sách. Đó là đạo luật về ngân sách của Liên Xô được thông qua tháng 10/1959. Trên cơ sở của đạo luật này, các nước cộng hoà đã ban hành các văn bản tương tự. Luật đất dai Xô viết quy định về việc quản lý đất đai với tính cách là tài sản của nhà nước xã hội chủ nghĩa và việc sử dụng đất đai một cách hợp lý. Nguồn luật chủ yếu của ngành luật này là Luật về các nguyên tắc cơ bản của luật đất đai Liên Xô và các nước cộng hoà liên bang (năm 1968) và 388 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Luật dân sự Xô viết điều chỉnh các mối quan hệ về tài sản và các mối quan hệ nhân thân phi tài sản. Đó là các chế định về quyền tư hữu tài sản, hợp đồng dân sự, thừa kế.... Nguồn luật chủ yếu của ngành luật này là Luật về các nguyên tắc cơ bản của luật dân sự Liên Xô và các nước cộng hoà liên bang, được ban hành năm 1961, các bộ luật dân sự cùa các nước cộng hoà. Luật lao động Xô viết điều chỉnh các quan hệ lao động của công nhân, viên chức. Nguồn luật chủ yếu của ngành luật lao động là Luật về các nguyên tắc cơ bàn của luật lao động Liên Xô và các nước cộng hoà liên bang năm 1979, các bộ luật lao động của các nước cộng hoà. Luật nông trang tập thể Xô viết điều chỉnh các quan hệ lao động, quan hệ tài sản, quan hệ về quản lý, ... phát sinh trong các nông trang tập thể, việc gia nhập hoặc ra khỏi nông trang tập thể của các thành viên. Nguồn luật chủ yếu của ngành luật này là Điều lộ mẫu của nông trang tập thể. Luật hôn nhân và gia đình Xô viết điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình. Luật quy định điều kiện và trình tự kết hôn, quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản trong gia đình, giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con cái, giữa các thành viên khác với nhau. Luật còn quv định về việc nhận con nuôi, vể việc ly hôn. Nguồn luật chủ yếu của ngành luật này là Luật về các nguyên tắc cơ bản của luật hôn nhân và gia đình Liên Xô và các nước cộng hoà liên bang (năm 1968), các đạo luật hôn nhân và gia đình của các nước cộng hoà. nhưng bộ luật đất đai của các nước cộng hoà. 389 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Luật hình sự Xô viết quy định những hành vi nguy hiểm như thế nào đối với xã hội thì bị coi là tội phạm, các hình phạt tương ứng với các tội phạm. Các bộ luật luật hình sự có hai phần. Phần chung khẳng định các nguyên tắc của luật hình Xô viết, khái niệm chung về các hành vi phạm tội, cơ sở và điểu kiện phải chịu trách niệm về các hành vi đó,... Phần nâng quy định cụ thể các loại tội phạm và các thang hình phạt tương ứng. Nguồn luật chủ yếu của ngành luật này là Luật vẻ các nguyên tắc cơ bản của luật hình sự Liên Xô và các nước cộng hoà liên bang (năm 1958), Luật vẻ trách nhiệm hình sự về các tội đối với tổ quốc (năm 1958), Luật về trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm quân nhân (năm 1958), những bộ luật hình sự của các nước cộng hoà. Luật tố tụng hình sự Xô viết quy định quá trình tố tụng đối với với các vụ án hình sự. Nguồn luật chủ yếu của ngành luật này là Luật vé các nguyên tắc cơ bản về tố tụng hình sự Liên Xô và các nước cộng hoà liên bang (năm 1958), các bộ luật tố tụng hình sự của các nước cộng hoà. Luật tố tụng dãn sự Xô viết quy định quá trình tố tụng dân sự. Nguồn luật chủ yếu của ngành luật này là Luật về các nguyên tắc cơ bản của tô' tụng dân sự Liên Xô và các nước cộng hoà liên bang (năm 1961), những bộ luật tố tụng dân sự của các nước cộng hoà. Luật cải tạo bằng lao động quy định những nguyên tắc của chính sách cải tạo bằng lao động, thủ tục và điều kiện chấp hành hình phạt. Nguồn chủ yếu của ngành luật này là Luật về các nguyên tắc cơ bản của pháp luật về cải tạo bằng lao động của Liên Xô và các nước cộng hoà liên bang (nãm 1969). những bộ luật cùng loại của các nước cộng hoà. 390 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Hệ thống pháp luật Xô viết được hình thành, phát triển và tổn tại trong quá trình hơn bảy thập niên. Đó là hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đổ sộ, bao gồm các hiến pháp, nhiều bộ luật, đạo luật,... của đủ các ngành luật. Hệ thống pháp luật Xố viết, tuy có những khuyết tật, sai lầm, nhưng khác hẩn về bản chất so với pháp luật tư sản. Đó là nền pháp luật kiểu mới, của dân và vì dân. B. NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT CÁC NƯỚC CỘNG HOÀ DÂN CHỦ NHÂN DÂN VÀ CỘNG HOÀ c u BA Thắng lợi vĩ đại của nhân dân Liên Xô trong cuộc chiến tranh chống chủ nghĩa phát xít đã tạo những điều kiện khách quan vô cùng thuận lợi cho phong trào cách mạng ở các nước. Sau chiến tranh thế giới II, một loạt các nước xã hội chủ nghĩa ra đời. Hệ thống xã hội cluỉ nghĩa Ihê'giới được hình thành và pliát triển. Các nhà nước cộng hoà dân chủ nhân dân có những đặc điểm chung nổi bật sau đây: I. Các nhà nước xã hội chủ nghĩa này là thành quả của quá trình cách mạng không ngừng: từ cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến thẳng lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, từ chính quyền chuyên chính công nông chuyển sang làm nhiệm vụ lịch sử của chuyên chính vô sản. Đặc điểm này là do một loạt yếu tô' quy định: - Các nước này vốn dưới sự thống trị của chủ nghĩa phát xít, chủ nghĩa đế quốc và còn nhiều tàn tích của chế độ phong kiến. Bởi vậy, Irước hết, các nước này phải làm cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. để giải phóng dân tộc, 391 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
xoá bỏ tàn tích phong kiến, thiết lập chính quyền chuyên chính công nông. Trong giai đoạn này, chính quyền chuyên chính công nông đã thực hiện những nhiệm vụ chủ yếu sau: + Thực hiện cải cách ruộng đất triệt để, củng cô' khối liên minh công nông. Ở các nước Đông Âu, đến những năm 1947 - 1948, nói chung đều hoàn thành cơ bản việc cải cách ruộng đất. Các nước ở châu Á tiến hành có chậm hơn và đến những năm 50 thì xong. + Quốc hữu hoá những tài sản của đất nước trước đây bị các giai cấp thống trị chiếm đoạt. Trước cách mạng, các công ty lũng đoạn phương Tây đã bành trướng thế lực đến các nưóc phụ thuộc và thuộc địa. Sau cách mạng, các nuớc đân chủ nhân dân đã tiến hành việc quốc hữu hoá. + Củng cố quyền lãnh đạo cách mạng củã giai cấp công nhân, xây dựng chính quyển dân chủ nhân dân. Trong các nước dân chủ nhân dân ở châu Á, chính đảng của giai cấp công nhân đã nắm độc quyền lãnh đạo cách mạng. Còn ở các nước Đông Âu, cuộc đấu tranh chính trị diễn ra gay go. Các phần tử đại diện cho giai cấp tư sản, phá hoại việc thực hiộn các cải cách dân chủ. Nhưng các phần tử tư sản phản động, cuối cùng bị loại trừ ra khỏi chính quyền cách mạng. Sự có mặt của quàn đội Liên Xô ở các nước này góp phần ngăn chặn những âm mưu đen tối của các thế lực thù địch với chế độ mới. Sau khi hoàn thành những nhiệm vụ của giai đoạn cách mạng dân tộc dán chủ nhân dân, các nước chuyển sang giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa, chính quyền cách mạng chuyển sang làm nhiệm vụ lịch sử của chuyên chính vô sản. 392 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Các nước từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến thẳng lên cách mạng xã hội chủ nghĩa và xác lập nền chuyên chính vô sản, bởi các nước này đã có đủ các điều kiện: + Đảng của giai cấp công nhân nắm quyền lãnh đạo cách mạng + Có khối liên minh công nông vững chắc. + Có chính quyền dân chủ nhân dân làm nhiệm vụ chuyên chính công nông. 2. Do hoàn cảnh đặc thù của cách mạng, những nhả nước xã hội chủ nghĩa này mang hình thức chính thể mới - cộng hoà dân chủ nhân dân Do ảnh hưởng của Cách mạng tháng Mười Nga, nãm 1918 -1919, ở Đức, Hung ga ri, cao trào cách mạng đã thiết lập được chính quyền Xô viết. Nhưng do nhiều nguyên nhàn (khách quan và chủ quan), chính quyền Xô viết chỉ tồn tại được ít tháng. Trong đó chứng tỏ rằng, hình thức chính quyền xô viết không phù hợp với phong trào cách mạng ở nhiều nước. Bởi. vói hình thức chính quyền này, cách mạng không thể tập hợp được đông đảo lực lượng ngoài công nông. Đến nửa đầu những năm 1930, trước nguy cơ lan rộng của chủ nghĩa phát xít, phong trào cách mạng ở một số nước, như ở Pháp, Tây Ban Nha, đã thành lập Mặt trận nhân dân, tập hợp rộng rãi các lực lượng dân chủ, nhằm vào kẻ thù chính là chủ nghĩa phát xít. Để đối phó với nguy cơ thảm hoạ phát xít, từ ngày 25 - 7 đến 25-8 năm 1935, Quốc tế cộng sản(l) họp Đại hội lần thứ (1). Quốc tế cộng sản được thành lâp tháng 3/1919 ờ Mátxcơva. Quốc tế cộng sản do V.I.Lênin sáng lập và lãnh đạo. 393 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
7 tại Mátxcơva. Trên cơ sở phân tích tình hình quốc tế, tổng kết và phát triển những kinh nghiệm của phong trào cách mạng, Quốc tế cộng sản xác định việc thành lập các mặt trận nhân dân. Mặt trận nhân dân bao gồm: - Các mặt trận nhân dân chống phát xít ở những nước bị chủ nghĩa phát xít thống trị. - Các mặt trận thống nhất chống đế quốc ở những nước thuộc địa, phụ thuộc chủ nghĩa đế quốc. - Một mặt trận nhân dân thế giới chống phát xít. Đại hội vạch rõ, phong trào đấu tranh mạnh mẽ của các tầng lớp nhân dân dẫn đến triển vọng thành lập chính phủ của mật trận nhân dân. Chính phủ đó phải được sự ủng hộ rộng rãi của các tẩng ỉớp nhãn dân: công nhân, nông dân, lao động trí óc, tiểu chù, thợ thủ công và những phần tử dãn chủ. Chính phủ của mặt trận nhân dân sẽ xuất hiện trước và không phải sau khi giai cấp tư sản bị tiêu diệt. Chính phủ mặt trận nhân dân hoạt động dựa vào cương lĩnh chống chủ nghĩa tu bản lũng đoạn, chủ nghĩa phát xít và chiến tranh. Cương lĩnh đó bao gồm những điểm chủ yếu như sau: quốc hữu hoá ngân hàng và các ngành công nghiệp chủ yếu, chia ruộng đất của bọn chiếm hữu lớn về ruộng đất cho nông dân, loại trừ bọn phản động ra khỏi những cơ quan của nhà nước mới, cải thiện đòi sống của nhân dân lao động. Đại hội kêu gọi các Đảng cộng sản phải lãnh đạo phong trào đấu tranh, giành quyền lãnh đạo mặt trận nhân dân, phải thực hiện liên minh công nông, phải đấu tranh đòi chính phủ của mặt trận •nhân dân thi hành chính sách thiên tả, hướng đến những nguyện vọng và lợi ích của đông đảo nhân dân lao động. Như vậy, từ những năm 1930. với chủ trương thành lập một loại tổ chức 394 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
chính trị mới là mặt trận nhân dân và chính phủ của mặt trận nhân dân, hình ảnh của chính thể nhà nước cộng hoà dân chủ nhân dàn đã được phôi thai. Từ sau Đại hội lần thứ 7 của Quốc tế cộng sản, ở nhiều nước, Đảng cộng sản đã thành lập mặt trận nhân dân chống phát xít hoặc mặt trận thống nhất chống đế quốc, với các tên gọi khác nhau (sau này được gọi bằng một tên chung là mặt trận dân tộc thống nhất). Sau khi cách mạng thành công, các đại diện của các giai cấp, tầng lớp yêu nước và những phần tử dần chủ được tham gia vào bộ máy nhà nước mới. dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản. Và sau khi hoàn thành những nhiệm vụ của giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, chính quyền cách mạng đó chuyển sang làm nhiệm vụ chuyên chính vô sản, và vẫn là hình thức chính thể cộng hoà dân chủ nhân dân. Đó là lịch sử quá trình phôi thai và hình thành của hình thức chính thể cộng hoà dân chủ nhân dân của nhà nước xã hội chủ nghĩa. Hình thức chính thể nhà nước cộng hoà dân chủ nhân dân, so với hình thức chính Xô viết có hai đặc điểm nổi bật: - Tham gia vào chính quyền nhà nước không chỉ có đại diện của hai giai cấp công nhân và nông dân, mà còn có đại diện của các tầng lớp và cá nhân yêu nước, tán thành độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội (một số người vốn xuất thân từ thành phần tư sản, địa chủ, công chức của chế độ cũ). - Có mặt trận dân tộc thống nhất (với những tên gọi cụ thể khác nhau) là cơ sở chính trị-xã hội của nhà nước. Năm 1959, cách mạng Cu Ba thành công. Nhà nước xã 395 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
hội chủ nghĩa đầu tiên được thiết lập ở Tây bán cầu. Do sự chống phá quyết liệt và thường xuyên của đế quốc MT-nước ở sát nách Cu Ba, nên hình thức tổ chức của nhà nước Cộng hoà Cu Ba là hình thức đặc biệt. I. CÁC NHÀ NUỔC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA ĐÔNG Â u (1945- 1990) Các nước Đông Âu vốn là những nước tư bản độc lập, nhưng lạc hậu so với các nước Tây Âu và bị lệ thuộc vào các nước tư bản lớn Anh, Pháp, Đức. Trong chiến tranh thế giới II bùng nổ, các nước Đông Âu bị phát xít Đức, Italia xâm lược (Tiệp Khắc, Ba Lan, Anbani), hoặc trước dó chính quyền phát xít trong nước cai trị và rồi bị quan đội phát xít Đức vào "bảo hội' (Hunggari, Rumani, Bungari). Trong những năm 1944-1945, được sự giúp đỡ của Hồng quân Liên Xô, phong trào cách mạng do Đảng cộng sản lãnh đạo ở các nước này đã giải phóng đất nước khỏi ách phát xít, hoàn thành nhiệm vụ dân tộc. Các nhà nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, từ sau chiến tranh thế giới II đến khi bị sụp đổ, đã trải qua hai giai đoạn. - 1945-1949: Nhà nước làm nhiệm vụ chuyên chính công nông trong cách mạng dân chủ nhân dân. - 1949-1990: Nhà nước làm nhiệm vụ chuyên chính vô sản trong cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội. 1. Cộng hoà nhân dàn xã hội chủ nghĩa Anbani Sau hàng thế kỷ dưới ách thống trị của đế quốc Ottoman (Thổ Nhĩ Kỳ), ngày 28/11/1912, Anbani tuyên bô' độc lập. 396 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Cuối năm 1924, Anbani thiết lập chế độ quân chủ lập hiến. Ngày 7/4/1939, phát xít Italia tấn công xâm lược Anbani. Chính quyền Anbani đầu hàng và đến ngày 13/4/1939, quân đội phát xít chiếm được Anbani. Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, Mặt trận giải phóng dân tộc đoàn kết đuợc các tầng lớp nhân dán trong cuộc đấu tranh chống phát xít. Đầu tháng 9/1943, phát xít Italia đầu hàng các lực lượng Đồng minh. Quân đội giải phóng nhân dân Anbani đã đánh đuổi được quân xâm lược ra khỏi đất nước. Ngày 10/9/1943, phát xít Đức tấn công và chiếm được Anbani. Khi quân đội Liên Xô đang Iruy kích lực lượng phát xít ở vùng Ban căng, quãn giải phóng nhân dân Anbani giải phóng được đất nước. Chính phủ lâm thời được thành lập và được ba nước lớn Liên Xô, Mĩ, Anh công nhận. Tháng 12/1945, Anbani tiến hành cuộc bầu cử quốc hội. 92% cử tri tham gia bầu cử. Mặt trận dàn chù (Mặt trận giải phóng dân tộc trước đây) được 82% tổng số phiếu. Ngày 11/1/1946. quốc hội tuyên bố Anbani là nước cộng hoà nhân dân. Sau khi giải phóng, hiến pháp được ban hành. Anbani bắt tay vào xây dựng lại đất nước. Chính phủ Anbani tiến hành quốc hữu hoá các ngân hàng, xí nghiệp của tư bản Italia, Đức và các phần tử phản động. Ngày 29/8/1945, Luật cải cách ruộng đất được ban hành, nhằm thực hiện cuộc cải cách dân chù quan trọng nhất, thủ tiêu quyền sở hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ, chia ruộng đất cho nống dân. Sau khi hoàn thành kế hoạch kinh tế hai năm (1949- 1950), Anbani bước vào thực hiện những kế hoạch 5 năm. Từ một nước nông nghiệp lạc hậu, Anhani trở thành một nước xã hội chủ nghĩa, có ncn công nông nghiệp phát triển, văn 397 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
hoá-khoa học tiên tiến ở vùng Bancăng. Năm 1976, Anbani ban hành hiến pháp mới. Hiến pháp đổi tên nước là Cộng hoà nhân dân xã hội chủ nghĩa Anbani. Cơ quan quyền lực cao nhất của nhà nước là quốc hội, do phổ thông đầu phiếu bẩu ra, với nhiệm kỳ 5 năm. Cơ quan thường vụ của quốc hội là Đoàn chủ tịch quốc hội, đứng đầu là Chủ tịch đoàn chủ tịch quốc hội, do quốc hội bầu ra. Hội đổng bộ trưỏng là cơ quan hành pháp cao nhất, đứng đầu là thủ tướng. Hội đồng bộ trưởng do quốc hội bầu. Đầu thập kỷ 90, chế độ dân chủ nhân dân ở Anbani đã sụp đổ. 2ắ Cộng hoà nhân dân Ba Lan Ba Lan là một quốc gia phong kiến hùng mạnh từ thế kỳ XIV đến thế kỷ xvn . Từ thế kỷ XVII, Ba Lan bị các nước Áo, Nga, Thổ chia cắt. Tháng 11/1918, Ba Lan giành được độc lập và thiết lập chế độ cộng hoà đại nghị. Năm 1939, sau khi xâm chiếm Ba Lan, phát xít Đức đã thiết lập ở đây chế độ thống trị đẫm máu, tàn sát 6 triệu người (bằng 22% dân số Ba Lan). Chính phủ tư sản Ba Lan chạy sang Rumani, sau đó sang Pháp. Năm 1940, khi Pháp bị Đức xâm chiếm, Chính phủ tư sản lưu vong Ba Lan lại chạy sang Luân Đôn. Ở trong nước, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, do Đảng công nhân Ba Lan lãnh đạo, đã thành lập các đội cận vệ nhân dân (5/1942) và sau đó phát triển thành quân đội nhân dân. Năm 1943, được sự giúp đỡ của Liên Xô, lực lượng vũ trang dân chủ của Ba Lan, gồm những kiểu dân Ba 398 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Lan yêu nước, được thành lập trên lãnh thổ Liên Xô. Ngày 1/1/1944, do sáng kiến của Đảng công nhân Ba Lan, các đảng phái dân chủ thành lập Hội đổng dân tộc Ba Lan. Hội đồng dân tộc đề ra cương lĩnh, nhằm xây dựng đất nước Ba Lan độc lập, dân chủ và đật quan hệ hữu nghị với Liên Xô. Ngày 21/7/1944, khi quân đội Liên Xô cùng quân đội Ba Lan tiến vào đất nước Ba Lan, Hội đổng dân tộc thông qua sắc lệnh thành lập ủy ban giải phóng dân tộc (bao gồm đại biểu của Đảng công nhân, Đảng xã hội, Đảng nhân dân, Đảng dân chủ), ủy ban giải phóng dân tộc công bố bản tuyên ngôn gửi nhân dân Ba Lan (cơ sở của bản tuyên ngôn này là cương lĩnh của Hội đồng dân tộc) và tuyên bố nước Dân chủ nhân dân Ba Lan ra đời. Ngày 31/12/1944, ủy ban giải phóng dân tộc chuyển thành chính phủ lâm thời. Trước đó Hội đồng dân tộc đã thống nhất quân đội nhân dân với quân đội Ba Lan ở Liên Xô thành quân đội Ba Lan thống nhất và nắm quyền chỉ huy tối cao quân đội. Tháng 1/1945, quân đội Liên Xô cùng quân đội Ba Lan giải phóng hoàn toàn đất nước Ba Lan. Chính quyền dân chủ nhân dân được thành lập trong cả nước. Hội đổng dân tộc Ba Lan thực hiện chức nãng của cơ quan quyền lực cao nhất của nhà nước. Chính quyền dân chủ nhân dân thực hiện các cải cách dàn chủ. Đến cuối năm 1945, những tàn tích phong kiến bị thủ tiêu. Trước đó, tháng 2/1945, Hội đồng dân tộc đã ra sắc lệnh đặc biệt về việc thành lập các uỷ ban nhà máy, nhằm thiết lập sự kiểm soát của công nhân trong các xí nghiệp. Các ngân hàng, đường sắt, vận tải đường biển và đường sông đều thuộc quyền quản lý của nhà nước. Nhà nước nắm độc quyền ngoại thương. 399 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trước sự biến đổi cách mạng trong nước, chính phủ tư sản lưu vong ở Luân Đôn chống đối kịch liệt. Họ cấu kết chặt chẽ với các đế quốc Anh, Mỹ phá hoại phong trào cách mạng và uy tín của chính phủ lâm thời ở trong nước. Theo quyết nghị của Hội nghị cao cấp Yanta giữa Liên Xô, Mỹ, Anh (tháng 2/1945), chính phủ lâm thời Ba Lan mở rộng cho các thành viên trong chính phủ tư sản lưu vong tham gia. Tháng 6/1945, chính phù liên hiệp được thành lập và được các nước Đồng minh công nhận. Tháng 1/1946, theo đề nghị của Đảng công nhân, Hội đồng dân tộc thông qua luật quốc hữu hoá các ngành công nghiệp lớn và vừa, ngân hàng, ngành vận tải, bưu điện. Các tổ chức lũng đoạn của nước ngoài ở Ba Lan bị thủ tiêu. Các thế lực phản động tìm mọi cách chống lại các cài cách dân chủ. Ngày30/6/1946, Ba Lan trưng cầu ý dân về những vấn đề chủ yếu của chính sách cải cách dân chủ đó. Trong cuộc bầu cử quốc hội ngày 19/1/1947, khối dân chủ, gồm Đảng công nhân, Đảng xã hội, Đảng dân chúng (gồm trung, tiểu nông), do Đảng công nhân lãnh đạo, giành được 384 trong tổng số 444 ghế. Thế lực phản động thất bại thảm hại, bị loại khỏi chính quyền nhà nưóe. Ngày 1/7/1947, quốc hội thông qua kế hoạch 3 năm khôi phục và phát triển kinh tế (1947 - 1949). Tháng 2/1948, Đảng công nhân và Đảng xã hội hợp nhất thành Đảng công nhân thống nhất Ba Lan. Sau khi hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ, Ba Lan chuyển sang thời kỳ cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Năm 1952, quốc hội Ba Lan thông qua hiến pháp. Hiến pháp 1952 xác định Ba Lan là nhà nước dân chủ nhân dân. Cơ quan quyền lực tối cao của nhà nước là 400 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
quốc hội, do phổ thông đầu phiều bầu ra. Chủ tịch nước là nguyên thủ quốc gia, đứng đầu nhà nước. Chủ tịch nước do quốc hội bầu ra. C ơ quan hành pháp cao nhất là chính phù. N ăm 1976, hiến pháp có một số sửa đổi. Trong đó ghi: "Nước cộng hoà nhân dân Ba Lan là nhà nước xã hội chủ nghĩa”. Cơ quan hành pháp cao nhất được gọi là Hội đồng bộ trưởng, do chủ tịch Hội đồng bộ trưởng đứng đầu. Hiến pháp 1989 quy định quốc hội Ba Lan có hai viện, thượng nghị viện và hạ nghị viện. Đứng đầu nhà nước là tổng thống, do quốc hội bầu ra, nhiệm kỳ 6 năm. Cơ quan chấp hành và quản lý cao nhất là Hội đồng bộ trưởng. Đến cuối 1989, quốc hội lại thông qua luật sửa đổi hiến pháp. Theo đó, cộng hoà nhân dân Ba Lan đổi thành Cộng hoà Ba Lan, tổng thống do toàn dân bầu ra. Năm 1990, Lếchvalesa - thủ lĩnh công đoàn Đoàn kết trúng cử tổng thống. Chế độ cộng hoà dân chủ nhân dân Ba Lan sụp đổ. 3Ễ Cộng hoà nhán dán Bungari Từ cuối thế kỷ 14, Bungari nằm dưới ách thống trị của đế quốc ốttơman. Năm 1878, Bungari giành được độc lập. Năm 1923, Bungari thiết lập chế độ phát xít. Năm 1941, chính quyền phát xít Bungari gia nhập "liên minh chống quốc tế cộng sán", để cho quân đội Đức vào chiếm đóng đất nước. Dưới sự lãnh đạo của Đảng công nhân, nhân dân Bungari tiến hành cuộc đấu tranh vũ trang chống phát xít Đức chiếm đóng và chính quyền tay sai phản động. Năm 1942. Mặt trận Tổ quốc Bungari được thành lập. đoàn kết mọi lực lượng yêu nước và dân chù chống phát xít. Mặt trận công bỏ' cương lĩnh 401 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
với mục tiêu lật đổ chế độ phát xít trong nước và thành lập chế độ dân chủ. Năm 1943, các đơn vị du kích tập hợp thành quân đội giải phóng nhân dân. Trước tình hình quốc tê phát triển thuận lợi cho cách mạng, ngày 26/8/1944. Đàng còng nhân ra chi thị đặc biệt gửi toàn dân, kiên quyết đáu tranh chống chế độ phát xít và chuyển chính quyền vào tay Mặt trận Tổ quốc. Ngày 9/9/1944, được sự giúp đỡ của quân đội Liên Xô, cuộc khởi nghĩa vũ trang nổ ra và giành thắng lợi. Chính phủ của Mặt trận Tổ quốc được thành lập. Chính quyền dân chủ nhân dân hình thành trong cả nước. Ngày 17/9/1944, cương lĩnh của nhà nước Bungari được công bố. Cương lĩnh khẳng định chính sách hợp tác, hữu nghị với Liên Xô. v ể đôi nội, nhà nước thủ tiêu tàn tích cùa chù nghĩa phát xít, xoá bỏ các tổ chức tư bản lũng đoạn, kiểm soát ngoại thương, cải cách ruộng đất. Trong cuộc bầu cử quốc hội ngày 18/11/1945, hơn 88% cử tri bỏ phiếu cho các ứng cử viên của Mặt trận Tổ quốc. Quốc hội thông qua các sắc lệnh của chính phủ về cải cách dân chủ. Sắc lệnh về cải cách ruộng đất (tháng 3/1946). Sắc lệnh về việc quốc hữu hoá các xí nghiệp công nghiệp tu nhân, các hầm mỏ, ngân hàng (tháng 12/1947). Ngày 26/7/1946, quốc hội thông qua luật tnmg cầu ý dân về hình thức nhà nước Bungari. Ngày 15/9/1946, nước Cộng hoà nhân dân Bungari được tuyên bố thành lập. Ngàyl/4/1947, quốc hội thông qua kê' hoạch 2 năm khôi phục kinh tế (1947 - 1948). Nhà nước đã đập tan nhiều âm mun phá hoại của các thế lực phản động. Từ cuối 1948. Bungari bước vào thời kỳ cách mạng xã hội chú nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội. 402 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Theo Hiến pháp 1971, cơ quan quyền lực cao nhất của nhà nước là quốc hội. Cơ quan hành pháp cao nhất là Hội đồng bộ trưởng. Năm 1990, Bungari thay đổi chế độ, từ cộng hoà dân chủ nhân dân sang công hoà nghị viện. 4ẳ Cộng hoà dân chủ Đức Sau chiến tranh thế giới II, theo quyết nghị của Hội nghị Pốtxđam, quân đội bốn nước Liên Xô, Mỹ, Anh, Pháp chiếm đóng nước Đức và sẽ chuẩn bị ký hoà ước với nước Đức, nhằm đảm bảo cho nước Đức phát triển theo con đường hoà bình và dân chủ. Nhưng do Uy ban quân chính và quán đội chiếm đóng ở Đức thuộc hai nhóm nước có chế độ chính trị khác nhau, nên điều đó quyết định xu thế phát triển của hai miền Đông và Tây Đức. ở Đông Đức, do Liên Xô chiếm đóng, tàn tích của chủ nghĩa phát xít bị xoá bỏ, chế độ dân chủ nhân dân từng bước được thiết lập. Các tổ chức chính trị dàn chủ chống phát xít được hoạt động. Tháng 6/1945, Đảng cộng sản Đức ra hoạt động hợp pháp. Khối dân chủ chống phát xít được thành lập, bao gồm Đảng cộng sản, Đảng xã hội dân chủ, Đảng dân chủ tự do, Đảng liên minh dân chủ thiên chúa giáo, công đoàn và nhiều tổ chức quần chúng khác. Dưới quyền quản lý của cơ quan quân chính Liên Xô, các xí nghiệp của bọn tội phạm chiến tranh, các tổ chức lũng đoạn đều bị tịch thu và được chuyển giao cho các cơ quan tự quản thành phố. Cóng cuộc cải cách ruộng đất được thực hiện trong những năm 1945 - 1946, đ ã thủ tiêu giai cấp địa chủ, chia ruộng đất cho nông dân. Tháng 4/1946, Đảng công nhân và Đàng xã hội dân chủ hợp nhất thành Đảng xã hội 403 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn