Các đơn vị hành chính ở địa phương gồm có: quốc (tình); quận, lí (xã). Đứng đầu các cấp địa phương đó là quốc ti, quận ti, lí trưởng. Quan lại từ quốc ti trở lên đều do Thiên Hoàng bổ nhiệm, họ không được cha truyền con nối. Như vậy, trên cơ sở sự phát triển của yếu tô'bẽn trong và tiếp thu yếu tô'phong kiến Trung Quốc, tầng lớp tiến bộ trong giai cấp thống trị Nhật Bản đã tiến hành cải cách đất nước, xác lập cơ sở hạ tầng của chế độ phong kiến và thiết lập kiến trúc thượng tầng của nó là nhà nước quán chù chuyên c h ế phong kiến. II. QUÁ TRÌNH TỒN TẠI VÀ PHÁT TRIEN c ủ a NHÀ NUỚC PHONG KIÊN NHẬT BẢN 1. Nhà nước trong thời kì thống trị của Thiên Hoang (thế kỉ V II thẻ kỉ XD) Sau cuộc cải cách Tai Ca, ảnh hưởng của văn hoá Trung Quốc ngày càng sâu sắc, quyền lực của Thiên Hoàng được củng cố. Nhưng từ thế kỉ IX trở đi, bọn quý tộc chiếm đoạt nhiều ruộng đất mà nông dân đã được phân chia, các trang viên của quý tộc vì thế được mở rộng. Do bị mất ruộng đất, nhiều nông dân phải tha phương hoặc trở thành nông dân phụ thuộc trong các trang viên. Vì vậy, nguồn binh lính của nhà nước cũng cạn dần và sức chiến đấu của quân đội sút kém nghiêm trọng. Nhà nước phải bỏ chế độ binh dịch, thay bằng chế độ lính mộ. Đồng thời nhà nước ra lệnh cho các quận ty phải tổ chức huấn luyện quân sự cho con em mình. Chính sách đó tạo điều kiện cho các quý tộc địa 154 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
phương thành lập lực lượng vũ trang riêng. Từ đó dẫn đến sự hình thành một tầng lớp mới trong giai cấp phong kiến - tầng lớp võ sĩ (võ sĩ đạo). Quyền lực của Thiên Hoàng bị một số dòng họ lớn thâu tóm. Người của những dòng họ lớn này kế tiếp nhau làm quan bạch. Quan bạch là chức quan có từ năm 887, do Thiên Hoàng buộc phải phong và được cha truyền con nối. Quan bạch có quyền thay mặt Thiên Hoàng phê chuẩn các tấu sớ rồi tâu lại vói Thiên Hoàng. Thực chất, đây là viên quan nhiếp chính và là tiền thân của chức tước Tướng quân thời Mạc Phủ sau này. 2. Nhà nước trong thời kì thống trị của chính quyền Mạc Phủ (thế kỉ x n - thế kỉ XIX) Từ 1184, dòng họ Minamôtô đã thành lập một chính quyền riêng ở miền Đông Nhật Bản gọi là chính quyền Camacưra. Nám 1192, Yôrimôtô, người đứng đầu chính quyền này được Thiên Hoàng phong danh hiệu Tướng quân. Sự kiện này đánh dấu sự ra đời của chính quyền Mạc Phủ(1) ở Nhật Bản. Chính quyền Mạc Phủ tồn tại đến mãi 1868 và có ị Mạc Phủ nổi tiếng nhất Nhật Bản là: - Mạc Phủ Camacưra (1192 - 1333) của dòng họ Minamôto. - Mạc Phủ Murômachi (1338 - 1573) của dòng họ Asicaga. - Mạc Phủ Tô cư ga oa (1603 - 1868) của dòng họ Tô cư (1). Tên gọi "Mạc Phủ" là tổng hành dinh cùa tướng quân, hay còn để chì đó là bộ máy chính quyển cùa tướng quân. 155 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
ga oa. Chính quyền Mạc Phủ là chính quyền của các dòng họ lớn kế tiếp nhau tổn tại song song với chính quyền Thién Hoàng. Trên thực tế, mọi quyền hành đều tập trung trong tay chính quyền Mạc Phủ cùa tướng quân, còn Thiên Hoàng chỉ là bù nhìn. Cơ sở giai cấp của chính quyền Mạc Phủ là tẩng lớp võ sĩ phong kiến. Tầng lớp này ngày càng phát triển, họ được tướng quân ban cho nhiều ruộng đất và ngày càng chiếm ưu thế về mọi mặt. Ngược lại, tầng lớp quý tộc quan lại của triều đình Thiên Hoàng ngày một suy yếu. Tổ chức bộ máy chính quyền Mạc Phủ có những điểm đặc biệt sau đây: Đứng đầu Mạc Phủ là Tướng quân, được cha truyền con nối. Tướng quân là địa chủ lớn nhất trong cả nước, đổng thời nắm mọi quyền hành. Thực chất tướng quân là Thiên Hoàng thực tế của Nhật Bản. Giúp việc cho Tưóng quân có nhiều quan chức, là những võ sĩ thân tín của Tuớng quân. Từ thời Mạc Phủ Murôma chi đặt ra chức quán lĩnh, gồm ba người có nhiệm vụ giúp Tướng quân giải quyết mọi công việc ở các địa phương, Tướng quân lập ra chức Thủ hộ. Ở địa phương, và Địa đáu. Thủ hộ có nhiệm vụ giúp quốc ti quản lí công việc quân sự ở tỉnh. Còn địa đầu làm nhiệm vụ quản lí ruộng đất, thu tô thuế, lùng bắt giặc cướp ở quận, lí. Thực chất, các thủ hộ và địa đầu là chính quyền cùa Mạc phủ ở địa phương và còn có nhiệm vụ chỉ đạo, giám sát, hệ thống quan lại địa phương của Thiên Hoàng. Các thủ hộ và địa đầu cũng đều do các võ sĩ thân cận của Tướng quân giữ. Vì vậy, có thể nói, chính quyền Mạc Phủ là chính quyền quân sự, mang tính quân phiệt. 156 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Có thể diễn giải tổ chức chính quyền kép của nhà nước phong kiến thời Mạc Phủ bằng sơ đồ sau: Trong thời kì thống trị của Mạc Phủ, từ thế kỉ XV, dẩn dần hình thành trạng thái phân quyền cát cứ của các lãnh chúa địa phương và tồn tại song song với chính quyền kép ở trung ương. Do được phân phong và do chiếm đoạt đất đai, các lãnh chúa lớn ở địa phương dần dần củng cố, tăng cường thế lực của mình. Các lãnh chúa phần đông là các thủ hộ, số còn lại là quý tộc quan lại... Các lãnh chúa lớn, thường được gọi là "Đại danh". Thực chất, các lãnh chúa là những địa chủ lớn, như những ông vua trong vương quốc nhỏ của mình, họ có chính quyền riêng luật lệ, quân đội riêng... Khi chính quyền Mạc Phủ suy yếu, các đại danh đánh lẫn nhau để tranh hùng tranh bá, tiêu biểu là cuộc nội chiến 1467 - 1573 mà lịch sử Nhật Bản gọi là "Thời Chiến Quốc". Thời Chiến Quốc kéo 157 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
dài hơn 100 năm, trong thời gian này, Tướng quàn họ Asicaga tuy tồn tại nhưng không có thực quyền. Cục diện thời Chiến Quốc không những làm cho nhân dân khốn khổ mà còn gây trở ngại cho sự phát triển cùa xã hội. Ngay tầng lớp phong kiến loại vừa và nhỏ cũng có yêu cầu thống nhất đất nước để xây dựng một nhà nước trung ương tập quyền vững mạnh, đủ sức đàn áp các cuộc bạo động của nông dân, ngăn chặn bọn đại danh xâm chiếm đất đai của họ. Trong hoàn cảnh lịch sử ấy, một số lãnh chúa đã kế tiếp nhau tiến hành cuộc đấu tranh chống lại các đại danh cát cứ để thống nhất đất nước. Kết quả của quá trình đấu tranh này là đến cuối thế kỉ XVI, đầu thế kỉ XVII, sự thống nhất của Nhật Bản được khôi phục, củng cố. Chính quyền Mạc Phủ Tôcưgaoa được thiết lập, nắm m ọĩ quyền hành trong nước. Trước sự áp bức, bóc lột nặng nề của phong kiến Mạc Phủ nên từ thế kỉ 18 và nửa đầu thế kỉ XIX, phong trào khởi nghĩa của nông dân phát triển mạnh mẽ. Trong hoàn cảnh ấy, giai cấp phong kiến bị phân làm hai phái: phái Mạc Phủ và phái chủ trương Mạc Phủ phải trả chính quyền lại cho Thiên Hoàng. Đến nửa sau thế kỉ XIX, cuộc đấu tranh giữa hai phe phái đó đã phát triển thành cuộc nội chiến. Kết quả, ngày 3/1/1868 tướng quàn Mạc Phủ phải trao quyển cho Thiên Hoàng lúc bấy giờ là Mây gi (Minh Trị). Sau đó, Minh Trị đã tiến hành cuộc cải cách (Minh Trị Duy Tân). Sự kiện trên chứng tỏ sự sụp đổ của chính quyền Mạc Phủ và đồng thời đánh dấu sự kết thúc của chê độ phong kiến ở Nhật Bản. 158 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Tóm lại, quá trình tồn tại và phát triển của nhà nước phong kiến Nhật Bản rất phức tạp và đa dạng. Có thời kì, nó là nhà nước trung ương tập quyền, quân chủ chuyên chế. Có thời kì, nó ờ trạng thái phân quyền cát cứ. Hoặc trong thời gian dài, nó ở trạng thái chính quyền kép, mang tính chất quân phiệt. Nhà nước phong kiến Nhật vừa có yếu tố giống các nước phong kiến phương Đông, lại vừa.có.yjị’u tố giống các nước phong kiến phương Tây. Chính sự đa dạng và phức tạp như trên tạo nên đặc trưng của nhà nước phong kiến Nhật Bản. m . PHÁP LUẬT Cũng như thể chế nhà nước, pháp luật phong kiến Nhật Bản rất phức tạp và có hai đặc điểm nổi bật sau đây: - Pháp luật rất đa dạng. Nó bao gồm nhiều hệ thống pháp luật như luật pháp của Thiên Hoàng, luật pháp của Mạc Phủ, luật pháp của lãnh chúa phong kiến. Trong thời kì thống trị của chính quyền Mạc Phủ, luật pháp của tướng quân có hiệu lực cao nhất, hcm cả luật pháp của Thiên Hoàng. Luật pháp phong kiến Nhật Bản chịu nhiều ảnh hưởng của pháp luật phong kiến Trung Hoa, đặc biột là luật Tùy - Đường. Qua quá trình tiếp thu văn minh Trung Quốc, các nhà làm luật Nhật Bản học hỏi các hình thức pháp luật Trung Quốc như chiếu chỉ, đạo dụ của Hoàng Đế, luật, lệnh, cách, thức, lệ. Về kĩ thuật làm luật, đó là cách phân định các quan hệ xã hội do pháp luật điều chỉnh theo hộ, hôn, điền sản, các trọng tội, các hình thức chế tài và cách thực hiện các hình thức chế tài hình sự. Tư tưởng Nho giáo Trung Quốc thám đượm vào nội dung của luật pháp Nhật Bản. Đó là việc luật pháp hoá các 159 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
mối quan hệ vua - tôi. cha - con. chồng - vợ, theo quy tắc tam cương của Nho giáo. Đó là sự tương hỗ lẫn nhau giữa lễ - hình trong việc định hướng và điều chính các hành vi xử sự của con người trong trật tự xã hội phong kiến. Hiện nay, theo tư liệu lịch sử, bộ luật đầu tiên ở Nhật được ban hành năm 604. Bộ luật này có 17 điều, sơ khai một thiết chế quân chủ. Điều 12 của bộ luật khẳng định: trong nước không thể có hai vua thì người dân không lẽ nào thờ hai chủ. Thuế phải nộp cho vua để lo việc nước. Phu dịch là đê xây dựng quốc gia. Năm 622, một bộ luật khác được ban hành và sau đó được bổ sung nhiều lần. Nhưng hiện nay, bộ luật này không còn nữa mà chỉ còn được nhắc đến trong các sách sử cổ của Nhật. Bộ luật năm 701 là bộ luật phong kiến xưa nhất mà ngày nay còn lại. Bộ luật này được sửa lại vào nãm 718. Bộ luật gồm hai phần. Phần luật quy định thể thức về hình phạt, phần lệnh quy định về quan chế, chế độ quân điền, sưu thuế. Bộ luật này thực chất là sự pháp điển hóa những chính sách cải cách Tai ca. Nó đặt nẻn tảng pháp lí cho việc tổ chức nhà nước phong kiến trong suốt mấy thế kỉ sau đó. Năm 757, Thiên Hoàng lại ban bố một bộ luật. Điều đáng chú ý là bộ luật này về hình thức vẫn giống với mô hình luật Trung Quốc, nhưng về nội dung thì rất khác. Vi dụ: luật hình ít khắt khe hơn, còn Luật hành chính cũng có nhiều điểm mới, cho phù hợp với Nhật Bản. Đến thời Mạc Phủ, luật pháp thể hiện sự kết hợp giữa Pháp trị và Đức trị. Chính quyển Mạc Phủ thường công bố 160 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
luật pháp bằng hình thức các bảng treo ở cột cao tại những nơi dễ nhìn thấy trong khắp các thành thị và làng quê. Một trong những bảng nổi tiếng nhất thời đó là Bảng Thân huynh. Bảng này chỉ rõ, các thành viên trong gia đình phải sống hoà hợp, ké tỏi tớ phái trung thành, còn chú phải công minh, mọi người phải cần cù, tiết kiệm, giũ đúng địa vị xã hội của mình trong cuộc sống. Những loại bảng như vây rất phổ biến, nhất là từ năm 1700 dưới thời Mạc Phủ Tôcưgaoa. Mặt khúc, đối với các trọng tội, luật pháp vẫn có các hình phạt rất tàn bạo, để bảo vệ trật tự phong kiến. Như các hình phạt chém bêu đầu, moi gan, phanh thây,... có phạm nhân bị chôn đến cổ và mọi người dự cuộc hành hình đều được phép dùng cật tre xẻo thịt phạm nhân, thân thể nạn nhân thường được giao cho võ sĩ để thử gươm. Những người gây hoả hoạn thường bị dùng hình phạt hoả thiêu. Hình thức tra tấn cực hình được áp dụng trong khi xét hỏi bị can. Pháp luật mang nặng tính đẳng cấp, nhất là từ thời Tocưgaoa. Xã hội được chia thành bốn đẳng cấp: sĩ, nông, công, thương. Trong hình luật cũng như ưong dân luật, cùng một vi phạm nhưng được xử khác nhau, tuỳ thuộc vào đảng cấp. Ví dụ: cùng phạm một tội ác, thì dân thường bị tử hình, còn võ sĩ được giải thích chỉ là một sự "qúa khích". Thậm chí, luật pháp của Mạc phủ Tôcưgaoa nêu rõ ràng một nguyên tắc: mọi tội phạm đều được trừng phạt theo địa vị xã hội. Trong luật pháp phong kiến Nhật Bản, tiêu biểu nhất là bộ "Bách pháp” (100 đạo luật). Thực chất, ở đây, bộ luật không phải có đúng 100 đạo luật mà là một tập hợp hệ thống hóa luật lệ, gồm nhiều vãn bản pháp luật đơn hành được chọn 161 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
lọc, sắp xếp theo thòi gian và theo các lĩnh vực của đời sống xã hội. Tuy bộ luật này chưa chia thành từng ngành luật cụ thể, nhưng nó đã chứa đựng những quy phạm pháp luật về dân sự, hình sự và tố tụng. Đó là các chế định sở hữu mà chủ yếu là số hữu Vẻ Túộng đất, hợp đồng mua bán, hợp đổng vay mượn, hôn nhân và gia đình, tội phạm và hình phạt, cách thức tra hỏi, xét xử,... Trong nhiều quy phạm pháp luật, trong các quy định về tội phạm, cách trình bày, diễn giải của các nhà lập pháp không rõ ràng, mạch lạc và rất khó hiểu. Điều đó khiến cho việc tìm hiểu bộ luật rất khó khăn. Sự khó hiểu không rõ ràng của bộ luật còn tạo điều kiện cho quan lại phong kiến vận dụng tùy tiện luật pháp trong công việc xét xử theo hưóng có lợi cho họ. Đặc biệt quan niệm của phong kiến Nhật Bản cho rằng, luật pháp hình sự không được công khai hoá mà cần phải giữ bí mật. Điêu đó càng tạo điều kiện cho các quan toà xét xử một cách tùy tiện. Đương nhiên, luật pháp phong kiến Nhật Bản là một công cụ của nhà nước để đàn áp, bóc lột quần chúng nhân dân, bảo vệ địa vị và quyền lợi của giai cấp thống trị, đặc biệt là tầng lớp võ sĩ. 162 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
CHƯƠNG IV NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT PHONG KIẾN TÂY ÂU Chế độ phong kiến phương Tây là châu Âu phong kiến. Sự hình thành, phát triển và suy vong của chế độ phong kiến châu Âu là cả một quá trình từ giữa thế kỉ V, đến khi bùng nổ các cuộc cách mạng tư sản. ở Tây Âu, chế độ phong kiến được hình thành sớm nhất, ữên cơ sở sự suy tàn của đế quốc Tây LaMã. Còn ỏ Đông Âu, chế độ phong kiến được xác lập muộn hơn và bao gồm: - Phần lãnh thổ ở Đông LaMã sau được gọi là đế quốc Bygiăngxơ (vì kinh đô là Bygiăngtiom), có lãnh thổ gổm các vùng ở Bắc Phi, Tiểu Á và một vùng ở châu Âu. ở Buygiăngxơ, quá trình tan rã của quan hệ chiếm hữu nô lệ và hình thành chế độ phong kiến diễn ra chậm chạp hơn so với Tây Âu. - Các quốc gia - nhà nước phong kiến của người Xla vơ phương Tây, như công quốc Xamô(l>, công quốc đại Marivi, tiếp đó là nhả nước phong kiến Tiệp Khắc, quốc gia phong kiến Ba Lan. - Các quốc gia - nhà nước của người Xlavơ phương (1). Gọi là công quốc, vì đứng đầu nhà nước là công tước. 163 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Đòng, như nhà nước Nga Ki ép, sau đó là nhà nước Nga. Các quốc gia phong kiến của người Xlavơ được xác lập cũng muộn hơn chế độ phong kiến Tây Âu. Người Xlavơ từ xã hội công xã nguyên thủy đang tan rã tiến thẳng lên chế độ phong kiến. Đó là bức tranh khái quát về các quốc gia phong kiến ở châu Âu. Trong đó, Tây Âu phong kiến là mảng nổi bật nhất I. NHÀ NƯỚC TRONG THỜI KÌ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CHẾ ĐỘ PHONG KIỂN TÂY Â u. NHÀ NUỒC PHONG KIẾN FRANG VÀ TRẠNG THÁI PHONG QUYỀN CÁT CỨ PHONG KIÊN 1. Quá trình phong kiến hoá xã hội Tây Âu. Nhà nước phong kiến Frăng a. Quá trình phong kiến hoá xã hội Tây Ẩn Quá trình phong kiến hoá xã hội Tây Âu dựa trên hai yếu tố. Sự hình thành quan hệ phong kiến trong lòng đế quốc LaMã đang hấp hối là yếu tố cơ bản và có tính quyết định, công cuộc chính phục của các bộ lạc người Giec Manh là yếu tố thúc đẩy quá trình phong kiến hoá đó. Từ thê kỉ II trở đi, lãnh thổ của đế quốc La Mã không những không thể mở rộng thêm được nữa, mà còn luôn bị các tộc người bên ngoài đe dọa. Một nguồn lợi lớn của chủ nô La Mã là của cải và nô lệ do các cuộc chiến tranh xâm lược đem lại thì nay không còn nữa. Hơn nữa, do bị chủ nô bóc lột và đối xử ngày càng tàn tệ, nô lệ thường tìm cách lãn công, phá hoại hoặc bỏ trốn. Để đối phó với nguy cơ phá sản do sự khủng hoảng của quan hệ bóc lột nô lệ gay ra 164 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
và nhằm duy trì lợi tức của mình, bọn chủ nô thường chia trang viên ra thành hai phẩn. Phần nhỏ (khoảng 1/3 hoặc 1/4 diện tích trang viên) do chủ nô trực tiếp quản lí, buộc những nông dân lệ thuộc phải đến lao động không công một số ngày (tô lao dịch). Phần lớn đất đai của trang viên được chia thành nhiều mảnh nhỏ đem phát canh cho những nông dân tự do và cho cả nhiều nô lộ nữa. Những người lĩnh canh ruộng đất có nghĩa vụ phải nộp cho chủ một khoản tiền (sau này là hiện vật) hàng nãm - (địa tô). Ngoài ra, như trên đã nói, người lĩnh canh ruộng đất còn phải đến làm cho chủ một số ngày không được trả công, người ta gọi những người lĩnh canh ruộng đất là lệ nông. Họ chính là tiền thân của nóng nô thời phong kiến. Vào thời kì này, vẫn tồn tại một số nông dân tự do. Nhưng nhà nước La Mã đã quá suy yếu không còn đủ sức bảo vệ cho các thần dân trước nạn cướp bóc đang hoành hành. Những nông dân tự do, có khi là cả một vùng phải tìm đến một chủ đất lớn xin được "bảo hộ" và đương nhiên phải biến ruộng đất của mình cho chủ đất và biến thành lệ nông Ể Lợi dụng tình trạng hỗn loạn của xã hội và địa vị của mình, các chủ đất lớn đã tổ chức ra quân đội riêng để bảo vệ trang viên và giữ gìn trật tự an ninh. Chúng nắm lấy quyền thu thuế, lập toà án riêng và nhà tù. Thế lực của chúng ngày càng mạnh, có xu hướng thoát li sự kiểm soát của chính quyền trung ương, dần dần trở thành như những ông vua nhỏ ở trang viên của mình. Nếu gọi lệ nông là tiền thân của nông nô thời trung cổ thì theo cách nói đó, cũng có thể gọi những tên chúa đất lớn này là tiền thân của những chúa phong kiến tương lai. Như vậy, trong đế quốc La Mã, nhất là ở Tây Âu, xã hội 165 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
từng bước hình thành hai giai cấp đặc trưng của chế độ phong kiến (địa chủ, lệ nông - nông nô) và phương thức bóc lột đặc trưng của phong kiến là địa tô. Phía Đông đường biên giới sông Ranh và sông Đa nuýp của đế quốc La Mã là địa bàn cư trú các bộ lạc người Giéc manh, bao gồm người Iaraniêng người Hung nô, người Frâng, v.v. Trước khi chinh phục vùng Tây Âu của đế quốc La Mã, người Giéc manh đang ở vào giai đoạn quá độ từ công xã nguyên thủy lên một chế độ có giai cấp và nhà nước. Từ giữa thế kỉ IV, nhất là từ thế kỉ V, các bộ lạc người Giéc manh đã tràn vào chinh phục đế quốc Tây La Mã. Thắng lợi của cuộc chinh phục có tác dụng thúc đẩy mạnh mẽ bước quá độ của cả hai phía: xã hội Tây Âu đang quá độ bước sang chế độ phong kiến, xã hội người Giéc manh đang quá độ chuyển sang xã hội có giai cấp và nhà nước. Bởi vì, người ta không thể nào kết nạp người La Mã vào các tập đoàn thị tộc của người Giéc manh hoặc không thể nào dùng những tổ chức thị tộc - một xã hội chưa có giai cấp và nhà nước để thống trị tộc người bị chinh phục. Những thủ lĩnh quân sự của các bộ lạc người Giéc manh là những người được tín nhiệm nhất, có thế lực nhất trong bộ lạc. Và " Sự an ninh của lãnh thổ đã chính phục được, an ninh cả bên trong lẫn bên ngoài, đòi hỏi phải tăng cường quyền lực của người ấy. Đã đến lúc mà quyền chỉ huy quân sự phải chuyển hoá thành vương quyền; sự chuyển hoá đó đã được thực hiện" (l). Lúc này, người Giéc manh cũng không thể thiết lập chế độ chiếm hữu nô lệ, vì chế độ này ở đế quốc La Mã tỏ ra không còn tồn tại được nữa. Khi vào thống trị Tây Âu, người Giéc manh (1 ) C .M ác, F.engen: T uyển tập. tập II. N xb Sự Thật Hà N ội 1962 Tr. 4 9 2 . 166 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
chiếm đoạt đất đai và theo cách bóc lột địa tô của chúa đất địa phương. Chủ đất người La Mã nào không chống đối người Giéc manh thì ruộng đất của họ được bảo toàn. Quá trình phong kiến hoá xă hội Tây Âu và sự ra đời của nhà nước phong kiến ở Tây Âu đã được diễn ra như vậy. Trong đó, người Giéc manh có bước tiến nhảy vọt, từ chế độ công xã nguyên thủy tan rã, bỏ qua chế độ chiếm hữu nô lệ, tiến lên chế độ phong kiến. Đến nửa sau thế kỉ V, trên sự tan rã của đế quốc La Mã già cỗi, người Giéc manh đã thiết lập được một số vương quốc phong kiến ở Tây Âu: Vương quốc Vi di gốt gồm Tây Ban Nha và miềm Tây Nam Gô lơ, Vương quốc Buyếc gông ở miền Nam Gô lơ, Vương quốc Fráng ở Bắc Gôlơ, vương quốc Xắc xông ờ Anh, Vương quốc Ôxtơrôgốt ở Italia,... b. Sự thiết lập, quá trình phát triển và tan rã của nhà nước Fräng Trong số các vương quốc đó, vuơng quốc Frăng là nước biểu hiện rõ nhất quá trình hình thành chế độ phong kiến ở châu Âu. Từng bước, nhà nước Fräng đánh bại các vương quốc khác, mở rộng lãnh thổ ra toàn Tây Âu. Người sáng lập ra nhà nước Fräng là Clôvít (481 - 511). Yếu tố quan trọng nhất của Clô vít và những người kế tục ông là ngoài thao lược, còn thuyết phục được dân chúng Frăng theo cơ đốc giáo, do vậy nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của nhà thờ. Nhà nước Frăng tổn tại qua hai triều đại. - Triều đại Mô rô vanh giêng - Triều đại Ca rô lanh giêng. Triều đại Mê rô vanh giêng của dòng họ Mê rô vanh (dòng họ của Clôvít). Từ thế kỉ VIII vương triều này suy yếu 167 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
tới mức vua không nấm được quyển lực, thậm chí không còn đủ tư cách tham dự công việc của nhà nước. Do vậy, đương thời người ta gọi những ông vua này với cái tên nhạo báng là "vua lười", những vị vua ngồi làm vì. Trong khi đó, quý tộc dòng họ Carôlanh ngày càng mạnh lên. Họ đã có rất nhiẻu ruộng đất. Đến thời các "Vua lười”, chức thừa tuớng trong triều thường thuộc về quý tộc Carôlanhắ Họ nắm quyền chỉ huy quân đội, phân phối ruộng đất, quản lí việc thu thuế, dần dần thâu tóm mọi quyẻn lực nhà nước, đặc biệt là dưói thời thừa tuớng Sáclơ Mác ten. Năm 751, Papaiíh người thừa kê chức thừa tướng của cha là Sác lơ Mác ten đã lật đổ triẻu đại của dòng họ Mê rô vanh, lập ra triều Ca rô lanh giêng (dòng họ của Pa Panh). Vương quốc Frâng cực thịnh nhất dưới thời con của Pa panh, là hoàng đế Sác lơ (768 - 8Ị4). Lãnh thổ của đế quốc Frăng lúc này bao gồm hầu hết đất đai của đế quốc La Mã xưa kia, chạy dài từ phía Nam dãy Piarênê đến sông Enbơ và Bôêm, từ Địa Trung Hải tới Bắc Hải. Năm 800, Sác Lơ sang La Mã được giáo hoàng phong làm hoàng đế, nên người ta gọi là Sáclơmanhơ. Lu y (con của Sáclơmanhơ) là ông vua bạc nhược, bất tài, thiên vị trong việc đối xử với các con, nên đã gây ra mâu thuẫn trong gia đình, dẫn đến nội chiến, tranh giành đất giữa nhà vua với các con và giữa những người con này với nhau. Cuối cùng, năm 843 ba người con của Lu y đã kí với nhau một hoà ước ở Véc đoong, chán dứt nội chiến và phân chia đất đai. Người anh cả được chia phần đất gồm Italia, miền Frigi và một miền nằm giữa sông Ranh và sông Rôn. Anh hai được chia phần phía Đông của đế quốc Fräng sau trở thành nước Đức. Người em út được chia phần phía Tây của đế quốc, sau trở thành nước Pháp. Như vậy, hoà ước Véc đoong năm 843 không những là 168 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
mốc đánh dấu sự diệt vong của nhà nước Fräng, mà đồng thời còn là cái mốc quan trọng trên con đường hình thành ba nước: Pháp, Đức, Italia. c. Tổ chức bộ máy nhà nước Tổ chức bộ máy nhà nước Frăng còn tương đối đơn giản. Đứng đầu nhà nước là vua. Nhà vua coi toàn bộ lãnh thổ vương quốc như sản nghiệp của mình. Còn các quan chức trong tổ chức bộ máy nhà nước chỉ là bầy tôi, giúp vua quản lí sản nghiệp đó. Vua không chỉ phong chức, mà còn ban tước cho một số quý tộc quan lại. Dần dần hình thành nên 5 bậc tước vị từ cao xuống thấp, là công tước, hầu tước, bá tước, tử tước và nam tước. Những tước vị này thường được cha truyền con nối. Vua là tổng chỉ huy quân đội, giữ quyền xét xử tối cao, quyền thu thuế. Bộ máy quan lại trung ương có một số quan chức cao cấp, tuy đã có sự phân công nhưng chưa rõ ràng bao gồm: quan hầu phòng, quan coi kho rượu, quan coi kho bạc, pháp quan, quan chỉ huy quân đội,... Đứng đầu hàng ngũ quan lại có một viên quan quản lí tạm gọi là thừa tướng. Quyền hành của viên quan này ngày càng lớn, tới cuối triều đại Mê rô vanh giêng, trên thực tế là người cai quản toàn vương quốc. Sang triều đại Ca rô lanh giêng, chức quan này bị bãi bỏ. ở triều đình, công việc văn thư giấy tờ được giao cho một bộ phận riêng toàn tăng lữ, vì họ là người có học. Dưới thời Pêtanh và Sác lơ ma nhơ nhà vua thường cử những đoàn quan khâm sai về các địa phương. Mỗi đoàn thường do một viên tãng lữ cao cấp và một quý tộc thế tục cầm đầu. Họ đại diện cho nhà vua kiểm tra việc thực hiện các mệnh lệnh của vua và trấn áp các hành vi lạm quyền của quan lại ở địa phương. 169 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Từ thời Lu y trở đi, nhà vua thưòng giao nhiệm vụ khâm sai cho chính ngay những giám mục và bá tước ở địa phương. Làm như vậy, nhà vua đã tạo điều kiện thuận lợi cho phong kiến địa phương tăng thêm quyền lực Đơn vị hành chính địa phương là khu quản hạt. Đứng đẩu mỗi quản hạt là một viên bá tước, nắm quyền hành chính, tư pháp, tài chính và quân sự. Lâu dần, chức quan quản hạt này được cha truyển con nối. Các triều vua Ca rô lanh giêng còn đặt thêm một loạt đơn vị hành chính, dặc biệt ở các vùng biên giới, gọi là biên trấn. Đứng đầu biên trấn là một bá tước, hoặc công tước, hay hầu tước. Quyền hạn của viên quan trấn thủ này lớn hơn quyén hạn của bá tước thông thường. Một viên trấn thủ thường đúng dầu vài ba khu quản hạt của bá tước. Vẻ toà án, trên hết có toà án của nhà vua, do một viên pháp quan thay mặt nhà vua chủ trì việc xét xử. Các viền dự thẩm của toà án này gồm những quý tộc do vua lựa chọn. Mỗi khu quản hạt có một toà án địa phương do bá tước chủ trì việc xét xử. Các đoàn khâm sai do nhà vua phái về các địa phương cũng có quyền mở các phiên toà để xét xử. Dưới thời Clôvít, quân đội Frăng vẫn còn là một tổ chức gồm toàn người Fräng tự do có vũ trang. Ngoài đội thân binh gồm những người thân cận, trung thành với nhà vua, bộ phận quân đội còn lại được biên chế theo những đơn vị hàng chục, hàng trăm, hàng nghìn người cho phù hợp với tổ chức gia tộc, bộ lạc lúc ấy. Đến thời con cháu của Clôvít đội thân binh của nhà vua ngày càng phát triển và trở thành tổ chức quân đội chuyên nghiệp. Bộ phận thứ hai của quân đội không tập hợp theo từng gia tộc, bộ lạc như trước kia nữa, mà theo địa 170 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
hạt, dưới cờ của bá tước do nhà vua bổ nhiệm. Với cuộc cải cách quân đội của Sáclơ Mácten, quân đội Frăng không phải chỉ toàn người Frăng như trước, mà giờ đây còn cả binh lính thuộc những bộ tộc Giéc manh khác. Quân dịch trở thành nghĩa vụ đối với mọi người dân tự do không phải lệ nông trong vương quốc. Ai trốn tránh sẽ bị trừng phạt. Quân lính phải tự túc lương thực, quân trang, vũ khí. Nghĩa vụ quân dịch trở thành một tai vạ đối với nông dân. Đến thời Sác lơ ma nhơ, do sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của kị binh, nên bộ binh (gồm những người nông dân tự do làm nghĩa vụ quân dịch) ngày càng bị thu nhò và chỉ đóng vai trò phụ trợ trong chiến đấu. Thành phần chủ yếu của quân đội dưới thời Carôlanhgiêng gồm hai bộ phận sau: - Một lực lượng binh sĩ chuyên nghiệp đánh thuê, do nhà vua hoặc chúa phong kiến trả lương. Không riêng gì các lãnh chúa thế tục, cả những lãnh chúa phong kiến là giáo sĩ, cũng có lực lượng này. - Một lực lượng quân đội gồm những thần thuộc hay bồi thần và binh sĩ tùy tòng của họ. Những binh sĩ dưới cờ của vua hoặc của chúa phong kiến lớn, nếu không phải là những lính đánh thuê, thì phần lớn đều là những bồi thần. Khi nhà vua ra lệnh động viên, các bồi thần phải đến tập trung tại nơi quy định, đem theo những bổi thần lớp dưói của họ. Những bổi thần loại hai này loại có những bồi thần hạng dưới nữa và cứ thế xuống tới bổi thần ở bậc thấp nhất là kị sĩ. Các kị sĩ này tập trung dưới tôn chủ trực tiếp của họ là một chúa phong kiến có cờ hiệu riêng và hợp thành một đơn vị chiến đấu. Theo sau mỗi đơn vị là những binh sĩ nông dán sống dưới quyền cai quản của chúa phong kiến. Nhiệm vụ của họ 171 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
thường là đánh xe, vận chuyển lương thực, chiến lợi phám. Trang bị của nột kị sĩ dưới thời Carôlanhgiêng trị giá băng 45 con bò cái. Vì phải tự trang bị tốn kém như vậy, nén quân đội chỉ gồm những phần tử phong kiến. Cưỡi ngựa, mặc giáp, đem gươm được coi là một nghề cao quý và trở thành một thứ độc quyền của họ. 2. Trạng thái phản quyền cát cứ phong kiến Phân quyền cát cứ là trạng thái cơ bản, nổi bật nhất trong thời kì phát triển của chế độ phong kiến Tây Au. Nó bao trùm và chi phối mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội và chính trị phong kiến. Vậy trạng thái phân quyền cát cứ được biểu hiện như thế nào? Nó bắt nguồn từ những nguyên nhân gì? và hệ quà của nó ra sao? Ngay từ thời đế quốc Frăng đã nảy sinh hiện tượng phân quyền cát cứ. Sau khi Clôvít chết năm 511, Vương quốc Frăng đã bị chi phối thành bốn phần do những người con của ông cai quản. Từ cuối thế kỉ VI, nội chiến giữa các anh em dòng họ Mê rô vanh giêng thường xuyên diễn ra, khiến cho quyền lực của các ông vua ngày càng suy yếu. Trong khi đó thế lực của bọn quý tộc ngày càng mạnh, lấn át cả nhà vua, biến vua thành lá chắn để che đỡ trong việc tranh giành nhau quyền lợi. Nhiều vùng trước kia thần phục, nay thoát li khỏi phạm vi thế lực của nhà vua, trở thành những vùng độc lập. Mãi tới đầu thế kỉ VIII, thừa tướng Sác lơ Mác ten dùng vũ lực khôi phục lại trật tự cũ trong toàn vương quốc. Từ sau Hoà ước Véc đoong, Tây Âu hoàn toàn ở trạng thái phân quyền cát cứ. Không những đế quốc Frăng bị chia cắt và tan rã mà ngay mỗi vương quốc cũng bị tiếp tục bị 172 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
chia cắt làm nhiều mảnh. Sau khi quyền lực của hoàng đế bị các vua lấn át đến lượt uy quyền của các vua bị các chúa phong kiến coi thường. Nội chiến giữa các chúa phong kiến diễn ra triền miên cùng với nạn ngoại xâm làm cho nhân dân lao dộng vô cùng cơ cực. Pháp là nước phân quyền cát cứ nhất ở Tây Âu. Nếu như ở Pháp, Anh từ thê ki XV, chính thể quân chủ chuyên chế được xác lập, thì ở Đức, Italia trạng thái phân quyền cát cứ tồn tại vững chắc trong suốt thời phong kiến, cho đến khi nước Đức, Ý được thống nhất (1> trạng thái này mới được chấm dứt. ở Đức, thế lực của các "chư hầu" (lãnh chúa lớn) mạnh đến mức họ bầu ra hoàng đế Đức. Nếu hoàng đế có mưu đồ tăng cường thế lực của mình thì lập tức bị đánh đổ và được thay thế bằng người khác. Trạng thái phân quyền cát cứ ờ Italia còn nặng nề hơn. ở Italia không có hoàng đế và chính quyền trung ương, dù chỉ là hình thức. Italia chia thảnh ba vùng khác nhau là Bắc, Trung, Nam. Trạng thái phân quyền cát cứ của phong kiến Tây Âu bắt nguồn từ những nguyên nhân sau: - Nguồn gốc sâu xa là đế quốc Frãng được dựng lên do kết quả của những cuộc chiến tranh xâm lược và được duy trì bằng bạo lực, không có cơ sở kinh tế, chỉ là một liên hiệp tạm thời không vững chắc. Trong phạm vi cả Tây Âu và trong phạm vi từng nước, các cộng đổng dân cư ở vào trình độ phát triển kinh tế, xã hội khác nhau, do đó đều có khuynh hướng phát triển riêng, muốn tách ra khỏi sự ràng buộc của (1) Đức thống nhất nãm 1870. ý thống nhất 1861. 173 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
chính quyền trung ương. - Nguyên nhân cơ bản, có tính quyết định là về kinh tế. Trong đó, trước hết phải nói đến chế độ sở hữu phong kiến về ruộng đất. Đó là sở hữu tư nhân rất lớn của phong kiến được hình thành từ hai nguồn: Nguồn thứ nhất từ chế độ phân phong ruộng đất và chế độ thừa kế ruộng đất. Các vua đều ban cấp ruộng đát cho những người trong họ hàng, cho bầy tôi và cho giáo hội để trả công cho họ, hoặc để mua chuộc sự ủng hộ của họ khi tiến hành chiến tranh. Đến lượt mình, các quý tộc, các lãnh chúa lớn cũng phải làm như vậy, tức là cũng phải đem ruộng đất vừa được vua phân phong để chia cho tuỳ tùng của mình. Chê độ phân phong như vậy theo hình chóp từ trên xuống dưổi đã tạo ra các quan hệ thẩn thuộc và tôn chủ, đó là quan hệ giữa người nhận đất và người phong đất. Người nhận đất phải trung thành và phải gánh vác một số nghĩa vụ dối với tôn chủ, trong đó quan trọng nhất là nghĩa vụ quân dịch. Khởi đầu, các đất phong chưa trở thành vật sở hữu có thể thừa kế. Sau đó trên thực tế, tất cả các con cái đều đttỢc thừa kế đất đai mà cha ông mình được phong. Dần dần để lãnh địa không bị chia nhỏ và quyển lực của chúa phong kiến cũng không bị phân chia theo cùng với đất đai, nên một tập quán đã được hình thành từ thế kl XI: chỉ người con trưởng mới được thừa kế. Một bộ phận đất tự do là tài sản tư hữu của con cháu những địa chủ La Mã xưa kia và của chúa phong kiến địa phương do thừa kế và cưỡng đoạt mà có. Những chúa đát này sẽ không thể nào giữ được tính mạng và tài sản, nếu không có trong tay một lực lượng vũ trang và một đám thân thuộc xung quanh để làm chỗ dựa. Vì vậy, những chúa đất này cũng phải thực hiện việc phân phong ruộng đất tương tự 174 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
như đã nói ở trên. Nguồn thứ hai là số ruộng đất ít ỏi của những nông dân tự do, nằm rải rác trong khu đất đai của lãnh địa, giống như những ốc đảo trên sa mạc. Nông dân tự do ngoài nghĩa vụ đi lính cho nhà vua, còn là nạn nhân của các cuộc nội chiến, là một đối tượng cướp bóc của giặc ngoại xâm, nên họ phải nhờ chúa phong kiến ở lãnh địa "bảo hộ" cho mình. Và đương nhiên họ phải hiến đất cho lãnh chúa và trở thành lộ nông hoặc nông nô. Như vậy, các phần tử trong giai cấp phong kiến luôn Taôn đứng trước một mâu thuẫn, một mặt bao giờ chúng cũng muốn tăng cường quyền lực và mở rộng lãnh địa của mình tới mức độ lớn nhất, những mặt khác, muốn làm được như vậy, chúng lại phải chia sẻ quyền lực và lãnh địa của mình cho các thần thuộc bên dưới để biến bọn này thành chỗ dựa. Chế độ phân phong và thừa kế như trình bày ở trên đã dẫn tới hậu quả quyền sở hữu tối cao ruộng đất không thuộc nhà vua và dẫn tới trạng thái phân quyền cát cứ. Trạng thái phân quyền cát cứ đẻ ra trạng thái kinh tế tự 'cấp tự túc. Đến lượt nó nền kinh tế tự nhiên nó lại là một yếu tố kinh tế củng cố trạng thái chính trị phân quyền cát cứ. Về giao thông, những con đường có từ thời đế quốc La Mã, do chiến tranh loạn lạc không được sửa chữa, nên đều bị hư hỏng. Việc đi lại chuyên chở không được an toàn vì nạn cướp bóc dọc đường thường xuyên xảy ra. Chính tình trạng giao thông vận tải khó khăn, trắc trở khiến cho mối liên hệ giữa các vùng không thường xuyên chặt chẽ. Đây là một trong số các nguyên nhân dẫn tới khuynh hướng cát cứ địa phương của các chúa phong kiến. 175 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Ngoài ra, ở từng nước còn có thêm những nguyên nhân khác. Như ở Pháp, có triều vua mà lãnh địa của vua nhò hơn rất nhiều so với lãnh địa của nhiều lãnh chúa. Do lãnh dịa hẹp, thu nhập ít, thế lực của các vua Pháp rất hạn chế. Tuy là chu hầu của nhà vua. Nhưng các lãnh chúa lớn thường có tbé mạnh ấp đảo nhà vua và tranh giành quyền lợi giũa bọn chúng với nhau. Hoặc ở Italia, do sự hình thành của các quốc gia thành thị, do sự xâm lược và xâu xé của nhiều thế lực từ bên ngoài, do sự hình thành quốc gia của giáo hoàng ỏ miền Trung Italia, nên toàn Italia không có chính quyền trung ưcmg. ở Đức, bọn chúa phong kiến rất chú trọng việc xảm lược để thỏa mãn nhu cầu ruộng đất và của cải. Thế lực cùa chúng rá mạnh, nên cục diện cát cứ ở Đức rất trầm trọng, thế kỉ XV ở Đức có tới khoảng 300 lãnh địa lớn nhỏ. Nối đến trạng thái cát cứ là nói về lãnh địa và lãnh chúa phong kiến. Đất đai được phân phong dần dần biến thành vật tư hữu và tạo nên lãnh địa. Đồng thời, thế lực của người nhận đất phong ngày càng lớn và trở thành lãnh chúa. Cuối cùng, nhà vua ở trung ương, trên thực tế, cũng như một lãnh chúa mà thôi. Lãnh địa gồm hai loại, các lãnh địa của phong kiến và các lãnh địa của giáo hội thiên chúa. Vê' kinh tế, mỗi lãnh địa có nhiều trang viên. Giống như thời kì cuối của đế quốc La Mã. Trang viên phong kiến cũng được chia làm hai phần. Phần thứ nhất gồm lâu đài và một số ruộng đất, vườn tược, do lãnh chúa trực tiếp quản lí và sức lao động ở đây là tô lao dịch của nông nô. Phần thứ hai chủ yếu gồm đất đai canh tác được chia thành nhiều khoảnh nhỏ cấp cho các gia đình nông dân lĩnh canh. Kinh tế cùa lãnh địa là nền kinh tế tự cấp tự túc. 176 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Vê xã hội, quan hệ cơ bản là quan hệ giữa lãnh chúa (gồm cả tãng lữ cao cấp. thực chất cũng là lãnh chúa) với nông dân. Nông dân có ba loại: nông dân tự do, lệ nòng và nông nô. Trong đó. lệ nông dần dán trở thành nông nò. Ngay cả nông dân tự do trước sau cũng bị biến thành nông nô. Nông nô lệ thuộc vào chúa phong kiến cả về ruộng đất và thân thế. Hộ bị cột chặt suốt đời vào ruộng đất phong kiến, khổng có quyền bỏ đi nơi khác. Nếu chúa phong kiến chuyển nhượng ruộng đất thì cũng chuyển nhượng luôn những nông nô sống trên đó. Nông nô phải làm lao dịch không công, nộp địa tô cho chủ.... Đối với lệ nông, không phải nông nô. thì số ngày lao dịch và khoản tô hiện vật được giảm nhẹ hơn. Vì nông nó lệ thuộc vào chúa phong kiên về mặt thân thế, nên họ phải nộp thuế thân cho chúa phong kiến. Nông nô lấv vợ. lấy chổng phải nộp thuế kết hôn. Con cái nông nô muôn kế thừa tài sản của cha cũng phải nộp khoản thuế gọi là thuế thừa kế. Nhưng so với nô lệ trong xã hội cổ đại thân phận của nông nô có khá hơn. Nông nỏ có nhà cửa, công cụ sản xuất, kinh tế gia đình riêng. Về chính trị: Những tước vị và chức vụ trong chính quyền mà nhà vua trao cho các lãnh chúa nay đã trở thảnh cha chuyền con nối. Không những thế chúng còn biến luôn cả khu vực hành chính do chúng đứng đầu thành lãnh địa riêng. Nhà vua không thể điều động, thuyên chuyển hoặc thay thế chúng bằng người khác. Chúng còn dùng uy quyển biến các thần thuộc của nhà vua thành thần thuộc của chúng, biến những thần dân của nhà vua thành thần dân của chúng. Các lãnh chúa đều có toà án riêng xét xử những thần dân trong lãnh địa dám chống lại chúng. Những vụ xct xử còn đem lại cho lãnh chúa một khoản thu nhập lớn nhờ những 177 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
món tiền phạt và những vụ tịch thu tài sản. Quyền đúc tiển cũng đem lại cho lãnh chúa một nguồn lợi không nhỏ. Quyền thu thuế ở địa phương cũng thuộc về lãnh chúa. Giữa các chúa phong kiến thường xảy ra chiến tranh, nhằm cưỡng đoạt đất đai, tài sản, mở rộng phạm vi thế lực. Bộ phận quân đội của lãnh chúa hoàn toàn tách khỏi sự điẻu dộng của nhà vua. Như vậy, tiên thục tế các lãnh địa dã bở thành nhQng quốc gia nhỏ. Các lãnh chúa trở thành vua trên lãnh địa của mình, có đầy đủ quyền: lập pháp, hành pháp, tư pháp, có bộ máy chính quyển, toà án, quân đội, luật lệ riêng. Thậm chí ở Đúc, vua Sác lơ IV (1347 - 1378) phải ban hành "Đạo luật vàng' xác nhận quyển lực của các lãnh chúa. Hay nói cách khác, cục diện phân quyền cát cứ được thể chế hoá cả bằng pháp luật. Chính trong trạng thái phận quyền cát cứ đó, quan hệ phong kiến được thể hiện rõ nét nhất, thể hiện qua chế độ sở hữu phong kiến, quan hệ địa chủ phong kiến, nông nô, địa vị của hai giai cấp này trong xã hội và phương thức bóc lột địa tô. Như vậy, thời kì phân quyền cát cứ là thời kì phát triển của chế độ phong kiến Tây Âu. 3. Chính quyền tự trị thành phô và cơ quan đại diện đẳng cấp Trong quá trình phát triển của chế chộ phong kiến, sự phát triển của lực lượng sản xuất từ thế kỉ IX - XI tuy rhạm chạp, nhưng đã có tác dụng làm cho thủ công nghiệp tích khỏi nông nghiệp. Thợ thủ công và nông nô từ các vùng nông thôn lân cận kéo vào thành thị làm ăn, buôn bán. Phần lớn những thành thị phong kiến là những thành thị cũ đã có từ thời cổ đại, sau một thời gian dài kinh tế bị suy sụp, đã 178 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
được phục hổi. Nhiều thành thị mới được xây dựng. Người thợ thủ công bây giờ sản xuất chủ yếu không phải để tự túc như trước, mà để trao đổi với thị trường. Họ trở thành những người sản xuất hàng hoá nhỏ. Dần dần, trong xã hội phong kiến hình thành một lực lượng xã hội mới là thị dân. Trong quá trình phát triển kinh tế, một bộ phận thị dân ngày càng giàu và có vai trò quan trọng không chỉ trong kinh tế, mà cả trong đời sống chính trị của chế độ phong kiến. a. Chính quyền tự trị thành phô' Thành thị nằm trên đất đai của chúa phong kiến nên bị lệ thuộc vào lãnh chúa. Chúa phong kiến cai trị thành phố như các bộ phận khác trong lãnh địa, thị dân bị coi như nông nô, nên họ phải gánh vác các nghĩa vụ của nông nô. Mâu thuẫn giữa thị dân với chúa phong kiến ngày càng quyết liệt. Phong trào đấu tranh của các thành thị để được giải phóng khỏi ách thống trị của chúa phong kiến bắt đầu ngay từ thế kỉ XI và sôi nổi nhất là ở thế kỉ XII - XIII. Chế độ tự quản mà các thành phô' giành được bằng các biện pháp sau: - Một số thành phố giàu có, không cam chịu địa vị lệ thuộc đã nộp sô' tiến lớn cho lãnh chúa để được hưởng quyền tự trị. - Những thành thị không giàu lắm, nhưng cư dân đoàn kết được chặt chẽ với nhau, thì họ tiến hành khởi nghĩa vũ trang, trong đó có những nông nô trốn chủ cũng tham gia. Khác vói nông dân, thị dân giàu có, có tổ chức. Vì thế, các cuộc khởi nghĩa thường đi đến thắng lợi. Tùy theo tương quan lực lượng và hoàn cảnh cụ thể ở tỉmg nơi, mức độ tự trị mà các thành thị giành được cũng khác nhau. 179 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Ở Italia, các thành thị đã giành được thắng lợi tuơng đối nhanh chóng vì kinh tế ở đây phát triển sớm hơn các nơi khác. Tầng lớp phong kiến bên dưới là kị sĩ bị lôi cuốn vào nền kinh tế hàng hoá - tiền tệ, nên họ đã đứng về phía thị dân, ủng hộ các thành thị chống lại bọn phong kiến lớn. Các thành thị ở Italia không những giành được quyền tự trị hoàn tC/àrí, mà còn khống chế được cả những vùng nông thôn lân cận, phát triển lên thành những quốc gia cộng hoà thành thị độc lập. Tuy thể chế chính trị trong từng nước cộng hoà thành thị có kkác nhau, nhưng chính quyền đều tập tning trong tay tầng lớp thị dân giàu có, chúng bóc lột tầng lớp thị dân nghèo (thợ thủ công, dân nghèo). Mâu thuẫn giữa các quốc gia thành thị trong việc tranh giành thị trường ngoài nước đã dẫn đến những cuộc xâm lược vũ trang tàn khốc, chúng xây dạng hạm đội và thành lập quân đội đánh thuê. Cuộc chiến tranh giữa hai quốc gia thành thị là Vơ ni dơ và Giên nơ là tàn khốc nhất(l). - Ở một số nơi khác, ví dụ như ở Pháp, tuy khôngthành lập các nước cộng hoà thành thị nhưng thị dân cũng thành lập được các công xã thành phô' và giành được quyền tự trị hoàn toàn. Cư dân ở đây giành được quyền tự do thân thể. Họ bầu ra hội đồng thành phố. Đứng đầu hội đồng thành phố cũng do tuyển cử bầu ra. Thị trưởng và các thành viên hội đồng thành phố thường là các thị dân giàu có. Hội đồng thành phố có quyền ban hành pháp luật, buộc mọi người trong thành phố phải tuân theo, quản lí công nghiệp, chỉ huy (1). V ào thời kì cu ối cù a ch ế đ ộ phong kiến, ờ các quốc gia thành thị Italia lần lượt thành lập c h ế độ đ ộc tài ch u yên c h ế thế tập do bọn chù ngân hàng, bọn tướng tá quân đ ội đứng đầu 180 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
lực lượng vũ trang của thành phố, quyết định nhưng vấn đề thuế khoá, tài chính. Trong luật lệ của cộng hoà thành phố, luật thị trường giữ vai trò quan trọng. Luật lệ bảo đảm tính bất khả xâm phạm của hàng hoá mà thương nhân đưa ra chợ, trừng phạt nặng đối với những tội phạm xảy ra trong thời gian các phiên chợ, bảo hộ công thương nghiệp phát triển. Luật lộ về phường hội cũng được chú trọng, ở Pháp, năm 1268, có cuốn "Công nghệ'1 thư", tập hợp những tập quán của các phường hội, ngành nghề. Luật lệ phường hội chống lại sự cạnh tranh nội bộ. Viộc làm phá sản người cùng phường hội bị coi là phạm tội và bị xử phạt. Việc quảng cáo hàng, bán hàng rong, thu hút khách hàng của nhau, hạ giá thành sản phẩm... đều bị cấm. Những điều đó thể hiện tính bình quân chù nghĩa của tổ chức phường hội. Trong quan hấệ với chúa phong kiến, vì thành phố nằm ữên đất đai của chúa phong kiến nên hàng nãm, cộng hoà thảnh phố phải nộp cho chúa phong kiến một khoản địa tô và một số nghĩa vụ binh dịch có quy định. Ngoài ra, thành thị không còn nghĩa vụ gì đối với chúa phong kiến. Trong chế độ phong kiến, đương nhiên quan hệ phong kiến là phổ biến và giữ địa vị thống trị, chi phối mọi quan hệ xã hội nên một sô' nghĩa vụ mà cộng hoà thành thị phải gánh vác đối với lãnh chúa phong kiến là điều không thể tránh khỏi. Thành thị sau khi đã được tự trị, một mặt có đầy đủ quyền hành như một lãnh chúa phong kiến, mặt khác, cộng hoà thành thị có địa vị và tính chất như một thần thuộc của lãnh chúa. Do vậy, cộng hoà thành thị bấy giờ là cộng hoà phong kiến. Mức độ giành được quyền tự trị của một số thành thị rất 181 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
hạn chế. Đó là một sô' thành thị ở Pháp, ở Anh. Phần lớn nhũng thành thị này thuộc loại nhỏ, thủ công nghiệp và thương nghiệp còn kém phát triển, cư dân ít, nên chưa đủ lực để giành quyền tự trị hoàn toàn. Có khi, đó là những thị trấn nhỏ do chúa phong kiến lập nên. Do ảnh hưởng của các thành thị tự trị, chúa phong kiến phải cho cư dân ở những thị trán này hưởng m ột số quyền tự trị ở những mức độ nào đó, nhằm lôi kéo cư dân ở nơi khác đến làm ăn, sinh sống đem lại nguồn lợi cho chúa phong kiến. Những thành thị này cũng có quyền bầu cử cơ quan quản lí thành phố. Nhưng trước khi giải quyết các công việc hành chính, tư pháp... của thành phố, cơ quan này phải thảo luận với lãnh chúa phong kiến. Các thành thị tự trị (ở những mức độ khác nhau) tạo tiền đề chính cho king tế phát triển. Trong quá trình phát triển, chính quyền thành thị bị quý tộc thành thị chiếm giữ và lợi dụng. Từ thế kỉ XIV, sau khi chiến thắng chúa phong kiến, ở các thành thị lại diễn ra cuộc đấu tranh kịch liệt giữa những thị dàn nghèo với tầng lớp quý tộc thành thị. Cũng trong quá trình phát triển của thành thị tự trị, những liên minh các thành thị được thiết lập nhằm tăng cường sức mạnh chống các lãnh chúa phong kiến, bảo vộ quyền lợi của các thành thị. Chính quyền tự trị thành phố chưa phải là nền cộng hoà tư sản. Nó là hình thức chính quyền cục bộ ở thành thị, nằm trong chế độ phong kiến. Nó là hình thức cộng hoà phong kiến. Tuy nhiên,trong đó buớe đầu phôi thai hình ảnh một vài yếu tố của nền cộng hoà sau này. b. Cơ quan đại diện đẳng cấp * Cơ quan đại diện đẳng cấp ở Pháp Để duy trì quyền lực của giáo hội, giáo hoàng La Mã 182 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
luôn luôn chủ trương củng cố tình trạng phán quyền cát cứ phong kiến Tây Âu. Một trong những biện pháp quan trọng của vua Pháp Phi lip IV nhằm củng cô' vương quyền, là tiến hành cuộc đấu tranh với giáo hoàng. Để có nhiều tiền bạc chi phí trong cuộc đấu tranh này, năm 1032, Phi lip IV triệu tập hội nghị đại biểu của ba đẳng cấp có thế lực và giàu có trong xã hội lúc bấy giờ: tăng lữ, quý tộc phong kiến, thị dan giàu có. Trong số các đại biểu về dự họp, đại biểu quý tộc do vua chỉ định, các đại biểu khác do bầu cử lên. Hội nghị đẳng cấp đã đứng về phía nhà vua, đấu tranh chống lại giáo hoàng La Mã. v ể sau mỗi khi cần đánh thuế mới, nhà vua lại triệu tập hội nghị đẳng cấp. Hội nghị đó được gọi là cơ quan đại diện đẳng cấp. Chức năng cơ bản của nó là giải quyết vấn đề thuế khoá. Trong một thời gian dài, hội nghị ba đẳng cấp đóng vai trò quan trọng trong sinh hoạt chính trị nước Pháp. Sau này chính thể quân chủ chuyên chế được thiết lập, vai trò của cơ quan đại diện đẳng cấp bị thu hẹp. Đến thế kỉ XVIII trong cuộc đấu tranh chống chế độ phong kiến, đẳng cấp thứ ba (tư sản) ở hội nghị ba đẳng cấp đã châm ngòi cho đại cách mạng Pháp 1789. * Nghị viện ở Anh Dưới thời vua Giôn (1189 - 1216), mâu thuẫn giữa nhà vua với các tầng lớp trong cư dân trở nên vô cùng gay gắt. Vua Giôn tiến hành chiến tranh với Pháp. Vị vua này ra sức vơ vét tiền của giáo hội, thị dân, kị sĩ, nông dân để chi phí cho chiến tranh. Vì vậy, các phong trào đấu tranh chống lại nhà vua ngày càng mạnh mẽ. Nãm 1215, Vua Giôn phải kí vào bản yêu sách của những người khởi nghĩa. Đó là bản 183 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
"Đại hiến chương tự do" nổi tiếng trong lịch sử. Vãn bản này có 63 Điều, là bản giao kèo giữa nhả vua và thần dân (quý tộc. thị dân, nông dân) nhằm hạn chế sự độc đoán của nhà vua, xác nhận quyền tự trị của các thành phố và quyẻn tự do đi lại buôn bán. Nội dung của nó mang tính tiến bộ. Nhưng Giôn và các vua sau đó tìm cách không thực hiện "Đại hiến chương tự do", nên nhiều qúy tộc liên hợp với kị sĩ, thị dân, nông dân khởi nghĩa. Năm 1263 nổ ra cuộc nội chiến giữa một bên là một số lãnh chúa lớn do Ximông ĐơMôngpho cầm đầu liên minh với kị sĩ, thị dân giàu có, một bên là vua Häng ri III. Đầu năm 1264 liên minh đã đánh bại quân đội của Hăng ri in. Chính quyền rơi vào tay Đơ Mông pho. Đầu năm 1265, liên minh triệu tập một hội nghị gồm tất cả các lãnh chúa (đã tham gia liên minh), đại biểu kị sĩ (mỗi quận hai đại biểu), đại biểu thị dân (mỗi thành thị hai đại biểu). Cuộc hội nghị này được coi là sự hình thành nghị viện ở Anh. Lợi dụng tình hình phong kiến đang tranh giành nhau, nông dân nhỉẻu nơi nổi dậy phá phách trang viên phong kiến. Một số lãnh chúa lớn rất sợ hãi phong trào đấu tranh của nông dân đã ngả về phía Hăng ri III. Quân đội nhà vua đánh bại quân đội Đơ Mông Pho. Bọn thống trị thoả hiệp với nhau đình chỉ nội chiến. Nhà vua phải tuyên bô' thừa nhận nghị viện là cơ quan đại biểu của lãnh chúa, kị sĩ và thị dân. Từ đó trở đi, khi nào cần ban hành luật thuế mới, nhà vua lại phải triệu tập nghị viện để thông qua luật đó. Đến năm 1343, nghị viện Anh chia thành hai viện: thượng nghị viện gồm đại biểu của đại quý tộc và giáo hội, hạ nghị viện gồm đại biểu của kị sĩ và thị dân giàu. Theo chế độ bầu 184 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
cử, bất cứ chủ sở hữu nào, không phụ thuộc vào dòng dõi, nhưng phải có chứng chỉ hiệp sĩ, mới được ứng cử vào hạ nghị viện, ở Anh có 180 thành thị lớn nhỏ, nhưng trên thực tế chí có 80 thành phố được quyền tham gia hạ nahị viện. Và cũng tÊn thực tế, các đại diện của thành phố tham gia vào hạ nghị viện thường không do bầu cử, mà do một nhóm quan chức thành phố hoặc giới quý tộc thành phô' lựa chọn. So với cơ quan đại diện đẳng cấp ở Pháp, quyền hành của nghị viện Anh nhiều hơn: vua không được thu các loại thuế trực tiếp hoặc gián tiếp nếu chưa được nghị viện nhất trí. Vua bị tước quyền thu thuế hàng hoá. Hay nói cách khác, vấn đề thuê khoá, ngân sách thuộc thẩm quyền của nghị viện. Dần dần, nghị viện còn là hội đồng thẩm phán tối cao. Dù tên gọi, hình thức tổ chức và phạm vi quyền hạn có khác nhau, nhưng các cơ quan đại diộn đẳng cấp ở Anh hoặc ở Pháp đều là một bộ phận trong vương quyền và chính quyền nhà vua đại biểu cho quyền lợi của những người giàu có trong xã hội. Nên người ta gọi đó là chế độ quàn chủ đại diện đẳng cấp. Tóm lại, sự ra đời của chính quyền tự trị thành phố và cơ quan đại diện đẳng cấp chứng tỏ: - Tầng lớp thị dân giàu có xuất hiện, ngày càng có thế lực về kinh tế mà vua chúa phong kiến không thể không tính đến. Tầng lớp thị dân đó trở thành một tầng lớp xã hội quan trọng trong chế độ phong kiến. Tầng lớp thị dân giàu có - tiền thân của giai cấp tư sản sau này, bắt đầu khao khát quyền lực nhà nước. - Chính quyền tự quản thành phố hay các cơ quan đại diện đẳng cấp đều thuộc về các tầng lớp giàu có. Những cơ 185 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
quan này đều là bộ phận của thượng tầng kiến trúc của chế độ phong kiến, một chế độ đang ở trạng thái phân quyền cát cứ và chuẩn bị chuyển sang chính thể quân chủ chuyên chế phong kiến. - Cơ quan đại diện đảng cấp và chính quyén tự trị thành phố là một nét độc đáo trong chế độ phong kiến phương Tây. II. QUÁ TRÌNH XÁC LẬP CHÍNH THE QUÂN CHỦ CHUYÊN CHẾ TRONG THỜI KÌ SUY VONG CỦA CHẾ ĐỘ PHONG KIẾN 1. Quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa và giai cấp tu sản ra đòi Từ thế kỉ XIV trô đi, Tây Âu bưóc vào một thời kì phát triển mới về kinh tế. Những mầm mống của quan hộ sản xuất tư bản chủ nghĩa ra đời và phát triển. Trên cơ sỏ đó, giai cấp tư sản dần dần được hình thành, mà tiền thân củã nó là tầng lớp thị dân giàu có. Tuy vẫn nằm trong khuôn khổ của chế độ phong kiến, kinh tế tiểu nông vẫn chiếm ưu thế, nhưng sự ra đời của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa và giai cấp tư sản đã ảnh hưỏng lớn lao đến đời sống chính trị thời bấy giờ. - Nếu trước đó, kinh tế hàng hoá giản đơn đã góp phẩn làm tan rã bước đầu quan hệ bóc lột nông nô, thì nay kinh tế hàng hoá tư bản chủ nghĩa giáng tiếp một đòn vào quan hệ bóc lột nông nô - quan hệ bóc lột chủ đạo trong chế độ phong kiến, làm lung lay tận gốc chế độ phong kiến. - Giai cấp tư sản ra đời làm cho mâu thuẫn giai cấp trong chế độ phong kiến thêm đa dạng và gay gắt. Đó không chỉ 186 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
là mâu thuẫn giữa lãnh chúa với nông nô mà còn là mâu thuẫn giữa tư sàn và phong kiến. Những mâu thuẫn đó ngày càng phát triển và làm cho chế độ phong kiên khùng hoảng sâu sắc. Về mặt nhà nước, khi chưa thể giành được chính quyền giai cấp tư sản muốn xoá bỏ tình trạng phán quyền cát cứ và thiết lập một nhà nước phong kiến trung ương tập quyền, để thống nhất thị trường, tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển. Vì vậy giai cấp tư sàn ùng hộ nhà vua trong cuộc đấu tranh để xác lập nhà nước quân chủ chuyên chế phong kiến. Ngoài nguyên nhân cơ bản trên, việc thiết lập nhà nước quân chủ chuyên chế còn có mấy nguyên nhân sau: - Trong thời kì suy vong của chế độ phong kiến, phong trào đấu tranh của nông nô và các tầng lớp nhân dân lao động khác càng phát triển mạnh mẽ. Để đối phó với phong trào đấu tranh đó, giai cấp phong kiến phải có một chính quyền nhà nước tập trung. - Qua các cuộc thập tự chinh thê kỉ XII - XIII, đa số bọn lãnh chúa hiếu chiến tham gia Đông chinh không trở về (chết, hoặc ở lại Phương Đông). Một số trở về thì phá sản hoặc nghèo đi vì phải bán cơ nghiệp hoặc vay nợ để tham gia Đông chinh. Thế lực lãnh chúa giảm đi là điều kiện tốt cho nhà vua mở rộng vương quyền. Quá trình thiết lập nhà nước quân chù chuyên chế trải quan hai giai đoạn: - Bước dầu là việc xoá bỏ cục diện phân quyền cát cứ và xác lập chính quyền trung ương tập quyền. Đồng minh của nhà vua trong giai đoạn này là thị dân giàu có - tư sản và 187 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
chúa phong kiến nhỏ. Đây là bước đặt nền móng, chuẩn bị cho bước sau. - Bước thứ hai là nhà nước trung ương tập quyền phát triển thành chính thê quân chủ chuycn chế. Cơ sở giai cấp, lực lượng hậu thuẫn của chế độ quân chủ chuyên chế là phong kiến quý tộc ( thế tục, giáo hội) và tư sản. Mặc dù lúc này quý tộc phong kiến đã mất cơ sở cát cứ địa phương, nhưng bọn chúng còn nhiều đặc quyền lợi về kinh tế, chính trị. Chúng cần có vương quyền vững mạnh để trấn áp sự phản kháng của quần chúng nhân dân, bảo vệ những đặc quyền đặc lợi của mình. Tư sản cũng cần có vương quyền lớn mạnh để xoá bỏ đặc quyền của quý tộc phong kiến, phát triển công thương nghiệp. Giáo hội thiên chúa cũng ủng hộ vương quyển, chống lại sự phân liệt trong nội bộ giáo hội (phong trào dị giáo chống thiên chúa giáo). Ba tầng lớp trên, mặc đù xung đột nhau về quýền lợi, nhưng đểu thống nhất với nhau về mặt củng cố vương quyền. Đó là điều kiện tốt cho chế độ quân chủ chuyên chế hình thành. Quá trinh xác lập nhà nước trung ương tập quyền và chính thể quân chủ chuyên chế là quá trình đấu tranh với các thế lực cát cứ địa phương với vai trò quá lớn của giáo hoàng La Mã trong đời sống chính trị của nhà nước. Nhà nước quân chủ chuyên chế ra đời vào thế kỉ XV và tồn tại cho đến khi giai cấp tư sản làm cách mạng thắng lợi. 2. Chính thê quân chủ chuyên chẽ ở Pháp Nhà nước quân chủ chuyên chế ở Pháp là chính thể quân chủ chuyên chế điển hình ở Châu Âu. Trong cuộc đấu tranh chống các lãnh chúa lớn, vua Pháp 188 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
có hai đổng minh là thị dân và chúa phong kiến nhỏ. Trước tình trạng quốc gia bị chia cắt và sự hoành hành của những lãnh chúa lớn, thị dân - tầng lớp giàu có trong xã hội thấy cần phải ủng hộ vương quyền, chấm dứt tình trạng cút cứ. xây dựng nhà nước trung ương tập quyền, để phát triển còng thương nghiệp. Còn các lãnh chúa nhỏ thấy cần phải ủng hộ vương quyền thì mới đàn áp được cuộc đấu tranh của nông dân và đấu tranh với các lãnh chúa lớn. Trong cuộc đấu tranh chống các lãnh chúa lớn, các vua Pháp từng bước dẹp được nạn cát cứ. Đến cuối thế kỉ XIII, việc thống nhất lãnh thổ nước Pháp về cơ bản đã hoàn thành. Vua Lu y IX thực hiện ba cải cách quan trọng về: tư pháp, hành chính và quân sự. Tất cả những vụ án hình sự quan trọng, đặc biệt là các vụ án chính trị, đều phải do toà án nhà vua xét xử. Cấm dùng phương pháp quyết đấu để giải quyết tranh chấp giữa các lãnh chúa. Nhà vua lưu hành một loại tiền thống nhất, có đủ trọng lượng và do nhà vua đúc. Dân binh phong kiến được thay thế bằng lính đánh thuê. Những cải cách trên tãng cường chính quyền trung ương, làm yếu thế lực của các lãnh chúa lớn. Sau đó, vua Philip IV (cháu Lu y IX) lại thi hành một số biện pháp quan trọng để củng cố chính quyền trung ương. Nhà vua buộc giáo hoàng La Mã, người chủ trương duy trì tình trạng cát cứ, phải phục tùng mình. Ngôi giáo hoàng do vua Pháp chỉ định. Đến thời Lu y XI (1461 - 1483) các xứ còn lại là Buốc gô nhơ, Picácđi và Prôvăngxơ (trong đó có hải cảng quan trọng Mác Xây) được nhập vào vương quốc. Những lãnh chúa nào ý đổ cát cứ đều bị đàn áp thảng tay. Thời Lu y XI, nước Pháp được thống nhất hoàn toàn, nhà nước trung ương tập quyền được xác lập trọn vẹn. 189 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Từ thời Fràng xoa I m (1515 - 1547), nhà nước trung ương lập quyền đă phát triển thành chính thể quân chù chuyên chế. Bọn quv tộc ớ địa phương đua nhau về Pa ri. thề trung thành phục vụ nhà vua đế được hướng chức cao bống hậu. Do đó vương quyền được đề cao. Suốt trong thời gian thống trị của mình, Frăng xoa I không triệu tập hội nghị đảng cấp, vì cơ quan này là một chướng ngại vật đối với việc cùng cố chính quyền chuyên chế. Nhà vua trực tiếp nắm quyền chỉ huy quân đội. Quyền hành chính tập trung vào hội đổng nhà vua. Hội đồng này chịu trách nhiệm trước nhà vua. Các phiên họp của hội đồng đều do vua quyết định và điều hành. Những việc quan trọng đều do những người thân cận được vua ủy nhiệm giải quyết. Toà án tối cao và toà án Pa ri phải phục tùng vô điều kiện nhà vua. Năm 1561, Frăng xoa I buộc giáo hoàng phải kí một hiệp ước. Theo hiệp ước này, chế độ bầu cử của giáo hội bị bãi bỏ, các giáo chức trên đất Pháp đều do vua chỉ định. Thực tế, vua pháp trở thành đầu não của giáo hội, buộc giáo hội phải phục tùng chế độ quân chù chuyên chế. Từ thế kỉ XVII trở đi, nền quân chủ chuyên chế phát triển tới đỉnh cao. Nhà vua nắm mọi quyền hành, không chịu một sự kiểm soát nào. Vua có quyền quyết định mọi công việc đôi nội và đối ngoại, bổ nhiệm hoặc cách chức, ban bố hoặc hủy bỏ các đạo luật, trừng phạt hoặc ân x á ,... Vua Lu y XVI lên ngôi năm 1774, thường tự coi ý muốn của nhà vua là pháp luật và quyền lực của nhà vua là trời ban cho để trị nước. Nhà thờ thần thánh hoá nhà vua, khuyên nhủ mọi (1). Frãng xoa I là ôn g vua nổi tiếng ch uyên ch ế. Các sắc chi cùa vua này bao g iờ cũng có câu “Thiện ý của ta là như vậy” và tự ch o rằng d ó là bảo đảm chác chắn nhất cùa luật pháp. 190 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
người tuyệt đối trung thành với nền quân chú. Vua cử những quan lại thân tín nhất về làm tổng quán ớ các địa phương. Mọi hành vi cử chỉ hàng ngày của vua đều có lễ nghi. Nói tóm lại, trong chính thể quán chu chuycn chê ờ Pháp, quyền lực của nhà vua không chịu bất kì một hạn chế nào, dù là hạn chế về mặt hình thức. Vua kiểm soát hoàn toàn các địa phương. Chế độ tự quản thành phố không được thừa nhận. Cơ quan đại diện đẳng cấp không còn hoạt động. Nhà thờ trở thành công cụ của nhà vua. 3. Chính thê quán chủ chuyên chè ở Anh Trong thời kì đẩu của chế độ phong kiến, nạn cát cứ ơ Anh không trầm trọng như nhiều nước khác ờ phương Tây. Từ cuối thế kỉ XV ở Anh đã có một chính quyền trung ương tập quyền và bắt đầu phát triển thành quàn chù chuyên chế. Hăngri VII, người sáng lập triều đại Tuđo (1485 - 1603) dựa vào tầng lớp tư sản và tầng lớp quý tộc mới ( quý tộc tư sản hoá) đấu tranh không khoan nhượng với bọn đại quý tộc phong kiến. Các cuộc vũ trang bạo loạn của đại quý tộc đều bị đập tan. Hãngri VII lập toà án đặc biệt, gồm một số đại thần tin cậy, chuyên xử những vụ án bạo loạn. Hãng Ri VII còn giải tán lực lượng vũ trang của các quý tộc lớn và làm suy yếu tiềm lực kinh tế của tầng lớp này bằng cách bắt chúng nộp cống phú nặng nề. Những chức vụ quan trọng ở các quận, các thành thị đều do trung tiểu quý tộc và tiểu tư sản, những người ủng hộ chế độ quân chủ, nắm giữ. Đến cả các biên khu phía đông và các quận phía bắc trước đây có ít liên hệ với chính quyền trung ương, thì đến đầu thế kỉ XVI 191 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
cũng phải ngoan ngoãn phục tùng nhà vua. Khác với Pháp và Tâv ban nha, khi chế độ quân chủ chuyên chê ra đời thì cơ quan đại diện đảng cấp phải ngừng hoạt động, nhà nước quân chủ chuyên chế ở Anh vần duy trì nghị viện và biên nó thành công cụ để tăng cường quyền lực của nhà vua. Nãm 1533, Hăngri VIII cắt đút quan hệ về tôn giáo với La Mã và thành lập giáo hội, riêng của nước Anh do chính ông đứng đầu. Hăngri VIII có toàn quyén bổ nhiệm các chức vị tôn giáo và quy định các giáo điều. Tuy là tôn giáo riêng, nhưng về cơ bản, Anh giáo không khác Thiên chúa giáo. Như vậy, từ thế kỉ XVI, nhà nước quân chủ chuyên chế đã được củng cố. Trong 45 năm thống trị (1558 - 1603) của Êlidabét I (con gái của Hãngri VIII) chế độ quân chủ chuyên chế ở Anh bước sang giai đoạn cực thịnh. Thế lực Thiên chúa giáo bị đánh bại hoàn toàn, Anh giáo trở thành một bộ phận của nhà nước quân chủ chuyên chế. Năm 1603 nữ hoàng Êlidabét chết, không có con nối ngôi, chấm dứt thời kì thổng trị của vương triều Tuđo. Người kế vị là Giêm I, mở đầu Iriều đại Xtuát. Từ đây, tính chất chuyên chế của nền quân chủ đuợe tăng cường, Giêm I tuyên bố vương quyền là do thượng đế ban cho. Nhà vua không chịu một sự kiềm chế nào cả. Vì thế trong một thời gian (1611 - 1621), Giêm I không chịu triệu tập nghi viện. Vua nắm trong tay mọi cơ quan cao cấp cai trị đất nước. Trong đó, đóng vai trò quan trọng là hội đồng cơ mật mà thành viên là những nhà quý tộc nổi tiếng do vua chỉ định và trở thành những cố vấn của nhà vua. Vua là người đứng đầu giáo hội Anh, nám trong tay vương quyền và cả thần quyền. Tuy nhiên, ngoài tô thuế, nhà vua không còn 192 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
khoản thu nào khác để bù đắp sự ãn tiêu phung phí. Nên cung đình luôn rơi vào tình trạng túng thiếu. Điều đó làm cho quyền hành của nhà vua bị hạn ché bởi nghị viện (mặc dù có thời gian nghị viện không được triệu tập họp). Thượng nghị viện (viện nguyên lão) là cơ quan có thẩm quyền xây dựng dự án luật và cũng là chỗ dựa vững chắc của nhà vua. Đại biểu của thượng nghị viện do vua chỉ định và được cha chuyền con nối. Những đại biểu này thường là những quý tộc lớn. Hạ nghị viện gồm đại biểu của quý tộc vừa và nhỏ được lựa chọn thông qua bầu cử. Đến giữa thế kỉ XVII, thành phần của hạ nghị viện có thay đổi, đa số là quý tộc mới (tầng lóp có thế lực kinh tế hùng hậu). Hạ nghị viện có quyền thông qua các đạo luật về thuế khoá, nhờ đó kiểm soát được việc chi tiêu của nhà vua. Nghị viện được triệu tập theo ý muốn của nhà vua. Các đạo luật chỉ có hiệu lực khi đã được vua phê chuẩn. Dần dần, hạ nghị viện trở thành nơi đấu tranh gay gắt giữa thế lực mới, tiến bộ (tư sản, quý tộc tư sản hoá) chống lại nhà vua cùng tập đoàn phong kiến phản động. Như vậy, ở Anh nghị viện vẫn được tổn tại trong thời kì chế độ quân chủ chuyên chế. Nó là một bộ phận, một công cụ của chính quyền quân chủ. Nhưng mặt khác, nó cũng hạn chế phần nào quyền hành của nhà vua. Tính chất chuyên chế của nền quân chủ ở Anh không cao như ở Pháp và một số nơi khác. Tóm lại, thực chất chính thể quân chủ chuyên chế ở các nước Tây Âu là nền chuyên chính của giai cấp phong kiến thống trị, có nhiệm vụ bảo tồn chế độ phong kiến, nhưng hình thức đã thay đổi so với hình thức ở giai đoạn trước đó. 193 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Nhà nước quân chủ chuyên chế được xác lập trong điều kiện lịch sử Tây Âu có nhiều biến đổi trong tương quan giai cấp, trong cơ sở kinh tế. Chỗ dựa chủ yếu của nền quân chủ chuyên chế ở các nước Tây Âu là tầng lớp qúy tộc phong kiến loại tiểu và trung. Còn tầng lớp đại qúy tộc phong kiến hoặc đã bị xoá bỏ, hoặc bị mua chuộc trở thành quý tộc đình thần sống bằng trợ cấp của nhà vua. Sự tồn tại của nền quân chủ chuyên chế nhờ vào sự liên minh tạm thời giữa nhà nước phong kiến, mà đại diện là nhà vua, với giai cấp tư sản. Nhà nước phong kiến sử đụng giai cấp tư sản trong cuộc đấu tranh chống phong kiến cál cứ đổ thống nhất đất nước, lợi dụng thế lực kinh tế tư sản để củng cố nền tài chính phong kiến. Lúc đầu giai cấp tư sản có lợi cho nhà nước quân chủ chuyên chế, nên nó được che chở. Chẳng hạn, nhà nước ban hành các chế độ bảo hộ mậu dịch, thuế quan, thống nhất tiền tệ, đo lường, thậm chí khi cần có thể tiến hành chiến tranh để cướp thị trường. Bản thân giai cấp tư sản vừa mới hình thành, cũng cần đến sự che chở, ủng hộ của một chính quyền tập trung, nên sẩn sàng phục vục nhà vua. ý thức giai cấp của tư sản lúc đó cũng chua phát triển rõ rệt. Nhiều nhà tư sản mơ ước được vào hàng ngũ quý tộc phong kiến. Và thực tế, nhiều người đã dùng tiên mua chức, tước, mua lãnh địa của quý tộc phong kiến. Mặt khác, tư sản và phong kiến là hai giai cấp có địa vị và những lợi quyền khác nhau. Do vậy, chế độ quân chủ chuyên chế tồn tại trên sự mâu thuẫn ngày càng tăng giữa quý tộc phong kiến với tư sản, giữa quan hộ kinh tế tư bản tiên tiến với quan hệ phong kiến lỗi thời. Nhà nước quân chù chuyên chế tạm thời tồn tại là sự thể hiện cân bằng lực lượng khi mà giai cấp tư sản chưa đủ mạnh để giành chính quyền. 194 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Nhà nước quàn chủ chuyên chế xuất hiện trong giai đoạn quá độ trước khi nhà nước tư sản ra đời. Như vậy, chính thể quân chủ chuvcn chê phonc kiến Tây Âu vừa là sản phẩm vừa là biểu hiện của sự khùng hoảng và suy vong của chế độ phong kiến. III. GIÁO HỘI THIÊN CHÚA VỚI NHÀ NUÓC PHONG KIẾN. TOÀ ÁN GIÁO HỘI l ẵ Giáo hội Thiên chúa với nhà nước phong kiến ở phương Đông, chế độ quân chủ chuyên chế rất mạnh và có nhiều tôn giáo trong cùng một nước. Cúc tôn giáo đéu không có tổ chức giáo hội mang tính quốc tế. Nên nhìn chung tôn giáo chỉ là lực lượng hỗ trợ cho giai cấp thốnc trị. chứ không trở thành lực lượng chi phối được chính quyền nhà nước phong kiến. Nhưng ỏ phương Tây thì khác. Đạo Cơ đốc - Thiên chúa giáo ra đời từ dầu công nguyên. Thuở ban đầu, đạo cơ đốc là tôn giáo của nô lệ và những người nghèo khổ trong cuộc đấu tranh chông áp bức, bóc lột của bọn chủ nô. Dần dần, sang thời kì phong kiến, Thiên chúa giáo mà đại diện là toà thánh Vaticãng trở thành một thế lực rất mạnh. Toà thánh Vaticãng nắm thần quyền, là chỗ dựa vững chắc cho vương quyền phong kiến phương Tây. Giáo lí của đạo Thiên chúa chúa là công cụ tinh thần của tập đoàn phong kiến thế tục và nhà thờ để thống trị quần chúng nhân dân. Mặt khác, giáo hội Thiên chúa luôn luôn tìm cách can thiệp, chi phối chính quyền phong kiến đổ củng cố địa vị. quyển lợi của giáo hội. Ngay từ cuối thế kì V, đổ ngăn ngừa sự chống dối của 195 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
những cư dân theo đạo cơ đốc bị chinh phuc ở đê quốc Tây La Mã, Clôvít đã theo đạo cơ đốc, chịu lễ rửa tội. Khoảng giữa thế ki VI, người Lông ba xâm nhập bán đảo Italia và đe dọa lãnh địa của giáo hoàng La Mã. Giáo hoàng sợ hãi vội cáu cứu vua Frăng. Đế trả ơn việc giáo hoàng đã phong vương cho mình, Pê panh đã dùng áp lực quân sự ngăn chặn được âm mưu xâm lược của người Lông ba. Từ đấy, sự cấu kết giữa giáo hội cơ đốc, đại biểu là giáo hoàng và nhà vua ngày càng chặt chẽ. Hai thế lực hỗ trợ nhau để cùng thống trị xã hội. Được sự trợ lực của các vua triều đại Carôlanh giêng trong các lần viễn chinh sang Italia, thế kỉ IX, nước giáo hoàng đã được thành lập ở miền Trung Italia. Mưu đổ của giáo hoàng là muốn duy trì tình trạng cát cứ ở các quốc gia Tây Âu. Để thần thánh hoá quyền hành của mình trong quốc gia, giáo hoàng đã đưa ra những tài liệu giả dối để chúng minh rằng mình có toàn quyền thống trị trong nước giáo hoàng. Hơn nữa giáo hoàng còn buộc các vua và hoàng đế Tây Âu phải phục tùng mình. Đến thời giáo hoàng Inô xăng III (1198 - 1216) quyền lực của giáo hoàng được tăng cường. Chỉ có những hoàng đế hoặc quốc vương có thế lực lớn mới được phép hôn tay giáo hoàng, còn các quốc vương khác thì phải hôn giày giáo hoàng. Trung tâm của giáo hội là toà thánh Vaticăng. Tổ chức giáo hội thiên chúa chẳng khác gì mô hình của chính quyền quân chủ phong kiến. Tổ chức đó mang tính quốc tế, ờ các nước, các vùng đều có các giáo hội trực thuộc giáo hoàng La Mã. Tổ chức thiên chúa giáo song song tồn tại với các chính quyền phong kiến ở các nước. Giáo hoàng La Mã và các giáo hội ở các nước có rất nhiều ruộng đất để lập thành các lãnh địa. Số ruộng đất cùa 196 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
giáo hội Thiên chứa có thời kì chiếm tới 1/3 đất đai canh tác của loàn châu Âu. Ruộng đất giáo hội, một phần do vua chúa phong kiến cấp. phần còn lại do mua bán và cưỡng đoạt của nông dán. Giáo hoàng và tầng lớp tăng lữ cao cấp thực chất là những lãnh chúa phong kiến lớn. Họ cũng tiên hành bóc lột nhân dân lao động như các lãnh chúa thế tục. Trong các lãnh địa của giáo hội cũng có quân đội riêng, để trấn áp các cuộc nổi dậy của nông nô và bành trướng xâm lấn đất đai. Mối quan hệ giữa giáo hội và chính quyền nhà nước phong kiến thể hiện ở hai mặt. Mặt thứ nhất - mặt cơ bản, là sự cấu kết giữa giáo hội và phong kiến trong việc thống trị và bóc lột quần chúng nhân dân. Sự cấu kết này được thể hiện cụ thể như sau: - Phong kiến thế tục trợ lực để giáo hội giữ vững thần quyền, bằng cách cấp ruộng đất cho giáo hội, ngăn chặn các thế lực xâm phạm đến lãnh địa giáo hội, chống đối giáo hội - Về phía giáo hội, thần dân của nhà nước phong kiến đồng thời là tín đồ của thiên chúa giáo. Thông qua việc tuyên truyền giáo lí, giáo hội góp phần rất quan trọng vào việc trói buộc quần chúng lao động trong vòng trật tự của xã hội phong kiến và trật tự tôn giáo. Nhiều khi giáo hoàng còn tiến hành việc phong vương cho cho các thế lực phong kiến, để tăng thêm uy lực của vương quyền. - Thế lực phong kiến thế tục và thế lực giáo hội cùng phối hợp với nhau trong việc đàn áp các phong trào nổi dậy của quần chúng, các cuộc khởi nghĩa của nông dân, tiến hành các cuộc chinh phục để cướp đất đai và của cải, mà điển hình là các cuộc thập tự quán Đông chính thế kỉ XI - XIII. Mặt khác, bẽn cạnh quyền lợi chung thì giữa tập đoàn 197 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
phong kiến thế tục và tập đoàn phong kiến giáo hội còn có những quyền lợi riêng mâu thuẫn và xung khắc với nhau. Trong thời kì phân quyền cát cứ phong kiến, thế lực phong kiến bị phân tán. Lợi dụng tình hình đó, giáo hội La Mã một mặt vừa cấu kết vói các thế lự : phong kiến, mặt khác luôn tìm cách khống chế các thế lực phong kiến, nhất là các lãnh chúa phong kiến nhỏ, để nâng cao địa vị chính trị và lợi ích kỉnh tế của giáo hội. Khi chế độ quân chủ chuyên chế được thiết lập ở một số nước, thì uy thế chính tri và lợi ích kinh tế (chủ yếu là ruộng đất) của giáo hội ở những nước đó bị suy giảm nghiêm trọng. Sự suy giảm đó là do một phần uy thế chính trị và lợi ích kinh tế của giáo hội chuyển vào chính thể quân chủ. Hay nói cách khác, thần quyền từng bước được chuyển hoá vào vương quyền, làm tăng tính chuyên chế của chế độ quân chủ phong kiến. Từ đây, giáo hội tuy uy thế chính trị và và quyền lực kinh tế vẫn còn rất lớn, nhưng đã trở thành công cụ ngoan ngoãn của nhà nước quân chủ chuyên chế. Ở Pháp, từ đời vua Luy XIII (đầu thế kỉ XVII), tăng lữ không còn dược giữ những chứ vụ quan trọng ở triều đình. Ở Anh, vua Hăng Ri VIII (đầu thế kỉ XVI) đã cắt đứt quan hệ về tôn giáo với La Mã và thành lập giáo hội giêng của nước Anh do chính ông đứng đầu. Hăngri VIII có toàn quyền bổ nhiệm các chức vị tôn giáo và quy định các giáo điều. 2. Toà án giáo hội Một trong những công cụ đặc biệt và hữu hiệu của giáo hội để bảo vệ giáo lí thiên chúa - hệ tư tưởng của chế độ 198 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
phong kiến Tây Âu là Toà án giáo hội. Từ thế kỉ XII, với uy lực của mình, giáo hoàng La Mã và các giáo chủ thường đứng ra với tư cách như một vị quan toà cao nhất, để giải quyết nhiều vụ tranh chấp giữa các quốc vương hoặc giữa các lãnh chúa phong kiến với nhau, nhằm từ đó can thiệp sâu vào chính quyền phong kiến. Vũ khí lợi hại của giáo hội để gâỵ áp lực với chúa phong kiến là rút phép thông công. Toà án giáo hội chính thức được thiết lập từ thế kỉ XIII. Năm 1232, giáo hoàng La Mã ra quyết định cho các tăng lữ phải giải quyết các vụ việc tà giáo. Từ đó, các toà án giáo hội được lập ra ở khắp châu Âu khi mà có những vụ viộc phương hại đến giáo hội Thiên chúa, toà án giáo hội là những phiên toà đặc biột của giáo hội để xét xử các tội tà giáo, bỏ đạo và tất cả những người có chính kiến khác với giáo hội Thiên chúa. Ngoài ra toà án giáo hội còn xét xử nhiều tội phạm khác như: làm nghể phù thủy, trộm cắp tài sản nhà thờ, dùng bạo lực đối với các cha đạo, lấy hai vợ, phân chia tài sản giữa những người thừa kế hợp pháp và thực hiện di chúc v.v. Như vậy, những vụ việc được đem ra xét xử ở toà án giáo hội không chỉ là những vụ án hình sự mà cả án dân sự, không chỉ những vụ việc thuộc phạm trù tôn giáo, mà cả những vụ việc trần tục mà giáo hội cho là phương hại đến nhà thờ Thiên chúa. Đối tượng trấn áp chính của toà án giáo hội là nông nô và những người nghèo khổ khác. Ngoài ra, nếu lãnh chúa phong kiến phạm tội trên đất của nhà thờ cũng bị xét xử ở toà án giáo hội. Toà án giáo hội chỉ có một quan toà, mà thường là tăng lữ cao cấp ở địa phương đó. Vị quan toà tăng lữ này vừa là 199 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
người điều tra, xét hỏi, vừa là người ra quyết định bản án. Để thực hiện việc xét xử, quan toà thường cho tay chân tiến hành lục soát, bắt bớ, giam cầm, thậm chí dùng cả nhục hình và cực hình để tra khảo kẻ tình nghi. Toà án giáo hội không phụ thuộc vào chính quyền phong kiến, không thừa nhận bất kì đạo luật nào, mà chỉ dựa vào luật lệ Thiên chúa giáo và ý muốn chủ quan của một quan toà tãng lữ. Hình phạt mà các toà án giáo hội thưcmg dùng là rút phép thông công, giam cầm, xử tử bằng hỏa thiêu. Chính một số nhà tư tưẻmg, nhà khoa học lỗi lạc của nhân loại thời bấy giờ đã phải chết trên dàn thiêu oan nghiệt của giáo hội. Rõ ràng các toà án giáo hội là hình thúc khủng bố công khai, tràn lan, tàn bạo, làm cho bầu không khí xã hội thời trung cổ càng ngột ngạt đối với cuộc sống của quần chúng nhân dân. Trong các chế độ người bóc lột người, chính quyển của giai cấp thống trị thường sử dụng tôn giáo như là một công cụ để áp bức quần chúng lao động. Giáo hội thiên chúa giáớ phương Tây thời Trung cổ không chỉ có thế, mà còn vai trò to lớn bởi vì: - Đạo thiên chúa là tôn giáo duy nhất ở châu Âu phong kiến, nên giáo hội Thiên chúa giữ độc quyền trong việc thục hiện chức năng trên của tôn giáo - Châu Âu phong kiến ở trạng thái phân quyền cát cứ trầm trọng và kéo dài, thế lực phong kiến thế tục bị phân tán, nên thế lực của giáo hội Thiên chúa càng phát triển. Dù sau đó, ở một số nước hình thành chế độ quân chủ chuyên chế, trên một chừng mực nhất định, thần quyền được hoà nhập 2 0 0 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
vào vương quyển, nhưng không phải vì thế mà thần quyền bị triệt tiêu. Trái lại, sự kết hợp đó tạo nên sức mạnh không phải là cấp số cộng, mà là cấp số nhân của các thế lực áp bức và bóc lột trong xã hội. IV. PHÁP LUẬT PHONG KIÊN TÂY Â u 1. Nguồn luật của pháp luật phong kiến Tây Âu Do tình hình thực tế của chế độ phong kiến Tây Âu nên nguồn luật rất phức tạp và đa dạng: - Tập quán pháp là một trong những nguồn quan trọng nhất của pháp luật. Nó bắt nguồn từ nhiều phong tục tập quán của các bộ tộc người Giéc manh. Những tập quán pháp chủ yếu được tập hợp trong bộ luật Xa lích (vào khoảng cuối thế kỉ V đầu thế kỉ VI). - Nguồn luật thứ hai cũng rất quan trọng lả những quy định dẫn chiếu từ luật La Mã cổ đại. Vậy tại sao luật La Mã của thời kì chiếm hữu nô lộ lại được viện dẫn trong thời kì phong kiến? Thứ nhất là do luật pháp thành văn của chế độ phong kiến Tây Âu ra đời chậm, tập quán pháp không bao trùm được hết các quan hệ xã hội phổ biến. Thứ hai là do, luật La Mã điều chỉnh rất rộng và cụ thể các quan hệ xã hội, nhất là các quan hệ dân sự, kĩ thuật lập pháp lại rõ ràng, chuẩn xác. - Nguồn luật thứ ba cũng không kém phần quan trọng là luật pháp của triều đình phong kiến, bao gồm chiếu chỉ, mệnh lệnh của nhà vua, các án lệ và quyết định của toà án nhà vua. - Đặc biệt, luật lộ của giáo hội thiên chúa cũng là một 201 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
nguồn luật. Luật lệ nhà thò không chỉ điều chỉnh các quan hệ xã hội về tôn giáo, mà còn điều chỉnh nhiều quan hệ khác trong xã hội, như quan hộ hôn nhân, quan hệ thừa kế, quan hệ trái vụ,... - Ngoài ra còn có luật lẹ của các lãnh chúa, của chính quyền ở các thành phố tự trị. Nguồn luật này rất đa dạng và phức tạp. Tùy theo từng vùng, từng thời kì, vai trò của từng nguồn luật có khác nhau. Khi chế độ phong kiến mới được hình thành, luật pháp được áp dụng hầu như chỉ là tập quán pháp. Ví dụ, trước khi Clô vít ban hành luật Xa liêng bằng vãn bản, mọi tội phạm của người Frãng đều được xét xử trong đại hội nhân dân hay hội đồng xét xử của công xã Mác cơ (các công xã nông thôn). Trong khi xét xử, nếu không tìm đuợc chúng cứ phạm pháp, thì dùng phương pháp "thần thánh tài phán”. Phương pháp này được thực hiện bầng hai cách. Một là, bị cáo và toàn thể gia đình phải thề độc, vì con người thời bấy giờ cho rằng thần thánh không bao giờ cho bị cáo thề sai. Hoặc là, bị cáo phải cầm vào một miếng sắt nung đỏ, hay nhúng tay vào nước sôi. Vết thương được buộc lại. ít lâu sau, nếu vết thương khỏi thì bị cáo vô tội, và ngược lại. Ở từng vùng, việc sử dụng các nguồn luật cũng khác nhau. Vi dụ, ờ miền Bắc nước Pháp, yếu tô' kinh tế hàng hoá kém phát triển, nên ở đây chủ yếu sử đụng tập quán pháp của bộ luật Xalích. Người ta coi miền Bắc nước Pháp là quê hương của tập quán pháp hay pháp luật không thành văn. Ở miền Nam nước Pháp, yếu tô' kinh tế hàng hoá phát triển hơn miền Bắc, nên luật La Mã có ảnh hưởng sâu rộng và luật thành vãn cũng 2 0 2 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
sớm phát triển so với miền Bắc. Nhìn chung ở Tây Âu phong kiến đến đầu thế kỉ VI, bất đầu có các bộ luật thành văn, như luật Xalích, luật Vidigốt, luật xắc xông... những luật này được biên soạn rất đơn giản, hầụ như chỉ quy định việc nộp phạt của các loại tội. Thực chất, những luật này chỉ là những tập quán của các tộc người trước đây giờ được văn tự hoá, nhưng đã ít nhiều phản ánh được những quan hệ kinh tế, xã hội buổi ban đẫu của chế độ phong kiến. Chẳng hạn, theo luật Xalích của người Frâng, số tiền phạt khi giết một người lính của nhà vua gấp ba lần sô' tiền phạt giết một người dân thường, giết một người La Mã tự do thì sô' tiền phạt chỉ bằng một phần ba số tiền phạt giết một người Frãng, giết một lô nệ thì sô' tiền phạt lại càng ít, chỉ bằng tiền phạt ăn cắp một con bò. Mãi đến thế kỉ XI - XII, luật pháp thành văn của Tây Âu mới phát triển. Một số tập hệ thống hoá luật lệ ra đòi ở Italia, Đức, Pháp. Tiêu biểu là tuyển tập luật Lambatsky ở Italia. Hoặc hai tuyển tập luật ở Đức gồm 60 tập cỡ lớn và trên 300 tập cỡ nhỏ. Đặc biệt là bộ Pháp điển toàn thư của Pháp, bộ luật này ra đời muộn, đề cập nhiều tới thương nghiệp. Bộ luật này là kết quả của sự tiếp thu luật La Mã cổ đại một cách có chọn lọc và được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với quan hệ phong kiến. 2. Nội dung của pháp luật phong kiến Tây Âu * Pháp luật về tô'tụng và tư pháp Trong thời kì hưng thịnh của chế độ phong kiến, một nguyên tắc hoạt động của toà án là người xử án phải có tài sản ít nhất bằng tài sản của người bị xử. Do vậy, chỉ có kẻ giàu có mới có thể trở thành quan toà. 203 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn