vào những chức vụ của bộ máy nhà nưốc. Tóm lại, cách tổ chức nhà nước như trên thể hiện sâu sắc tính chất quý tộc của nền cộng hoà La Mã. Đó là chính thể cộng hoà quý tộc chủ nô. Giai cấp thống trị ở La Mã rất chú trọng xây dựng v} tăng cường lực lượng quân đội. Tất cả công dân La Mã từ 17 tuổi phải đi lính, và phải qua một thời kỳ đi lính mới đuọc ứng cử vào các chức vụ của bộ máy nhà nước. Từ chỗ là dân binh, được tập hợp tuỳ theo tình hình chiến tranh, dần dẩn biến thành quân thường trực. Ban đầu, những người đi lính phải tự túc lương ãn và vũ khí, chỉ có kỵ binh mới được nhà nước cho ngựa. Đến cuối thế kỷ V TCN, binh lính mới được nhà nước cấp lương thực và vũ khí. Từ chỗ chỉ có hai quân đoàn, quân đội La Mã đã phát triển lên tới 4 quân đoàn vào thế kỷ V TCN. Quân đội của đế quốc La Mã có khi lẻn tới hơn 70 quân đoàn. Mỗi quân đoàn có từ 2400 đến 6000 người. Hết hạn nghĩa vụ quân sự, người lính trở về quê hương và được chia ruộng đất để sinh sống. Cách tổ chức huấn luyện của quân đội La Mã rất công phu, chặt chẽ, tạo khả năng chiến đấu rất mạnh. Quân đội đế quốc La Mã thực sự đã gây bao nỗi kinh hoàng trên khắp lục địa châu Âu và nhiều vùng ở châu Á, châu Phi. 3. Đế quốc La Mã, sự thay thế nền cộng hoà quý tộc chủ nô bằng chính thể quân chủ chuyên chế chủ nô Sau khi thiết lập chính quyển nhà nước, giai cấp chủ nô La Mã tiến hành ngay các cuộc chiến tranh xâm lược. Trước hết chúng chiếm toàn bộ bán đảo Italia. Tiếp đó, chúng đánh chiếm các vùng xa xôi, lập nên một đế quốc rộng lớn. Đến thế kỷ I TCN lãnh thổ của đế quốc La Mã ở phía Đông tới bờ 104 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
sông Ôphrát (Lưỡng Hà), phía Tây tới bờ Đại Tây Dương, phía Bắc tới sông Ranh, phía Nam tới sa mạc Xahara. Trong đó nhiều quốc gia chiếm hữu nô lệ lớn cũng bị La Mã thống trị, như Maxêđoan, Hy Lạp, AiCập,... La Mã là đế quốc hùng mạnh nhất thời bấy giờ, là một đê quốc nối tiếng trong lịch sử thế giới cổ đại. Về kinh tế - xã hội, vào thế kỷ III - II TCN, La Mã đã đạt tới sự phát triển đầy đủ của xã hội chiếm hữu nô lệ cổ điển, vượt cả Hy Lạp về tốc độ và quy mô phát triển. Hàng loạt trang viên lớn của chủ nô được hình thành và gắn với quan hộ kinh tế hàng hoá. Thương nghiệp, nhất là ngoại thương phát triển vượt bậc. Số lượng nô lệ (chủ yếu là tù binh chiến tranh) tăng lên rất nhanh và rất đông, hơn hẳn các quốc gia chiếm hữu nô lệ khác. Lao động của nô lệ được dùng rộng rãi, chiếm vai trò chủ đạo trong các ngành sản xuất. Đặc biệt, với sự hình thành các trang viên lớn, giai cấp chủ nô La Mã đã thực hiện được một cách triệt để sự bóc lột nô lộ trên một quy mô vô cùng to lớn, vượt xa tất cả các quốc gia chiếm hữu nô lệ trước đó. Quan hệ nô lệ ở La Mã là quan hệ nô lệ điển hình. Dần dần, chế độ chiếm hữu nô lệ ở La Mã có dấu hiộu suy vong. Những mâu thuẫn giữa nô lệ, dân nghèo với giai cấp chủ nô, mâu thuẫn giữa các vùng bị đô hộ với đế quốc La Mã ngày càng gay gắt. Hình thức thống trị cộng hoà quý tộc chủ nô không còn phù hợp nữa, không đảm đương nổi chức năng thống trị của một đế quốc rộng lớn. Chế độ cộng hoà chủ nô La Mã bắt đầu khủng hoảng từ đầu thế kỷ I TCN, dần dần từng bước được chủ nô thay thế bằng chính thể quân chủ chuyên chế chủ nô. Quá trình đó là kết quả trực tiếp của quá trình đấu tranh 105 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
trong nội bộ giai cấp chủ nô, giữa tầng lớp chủ nô CÜ của nén cộng hoà và tầng lớp chủ nô mới - tầng lớp rất có thế lực về chính trị, kinh tế và nhất là về quân sự, tầng lớp ngày càng giữ vai trò chủ đạo trong giai cấp chủ nô. Và đương nhiên là các tầng lớp bình dân cũng bị lôi cuốn theo. Chế độ độc tài của Xi la là sản phẩm đầu tiên cùa cuộc đấu tranh ấy. Xi la là một tướng lĩnh cao cấp trong quân đội La Mã, đã dùng lực lượng quân sự để thực hiện mưu đồ của mình. Trước hết, Xi la đưa nhiều người của mình vào viện nguyên lão và tăng cường quyển lực cho cơ quan này. Viện nguyên lão có quyền thông qua tất cả các dự án luật. Nếu dự án pháp luật không được viện nguyên lão phê chuẩn thì không được đưa ra hội nghị công dân. Quyền hành của quan bảo dân bị thu hẹp. Năm 82 trướe công nguyên, Xi la được giao chức độc tài không kỳ hạn và nắm mọi quyên lực lớn của nhà nuớc. Xi la có quyên thay đổi cả luật pháp, xử tử bất cứ một công dân nào, tịch thu tài sản của bất kỳ ai, và tùy ý sử dụng tài sản của bất kì ai, truất ngôi và bổ nhiệm các vua của đồng minh. Xi la tăng số lượng quan lại, chuyển quyền xét xử của toà án và việc sử dụng tài sản của nhà nước cho viện nguyên lão, hạn chế tới mức độ thấp nhất vai trò của hội nghị nhân dân. Đó là nền độc tài thứ nhất trong lịch sử La Mã. Nó đánh dấn chế độ cộng hoà chủ nô bắt đầu lâm vào vòng suy sụp. Cũng từ đáy các tướng lĩnh La Mã luôn luôn dùng quân đội tham gia các cuộc đấu tranh giành độc tài. Giữa thế kỷ I trước công nguyên, năm 45 trước công nguyên, Xê da cũng là một tướng lĩnh cao cấp, lên nấm quyền thống trị La mã. Tên tuổi của Xê da được gắn liền với những chức vụ cao nhất và thiêng nhất của nhà nước La Mã: Hoàng đế Xê da, vị cha của Tổ quốc, độc tài vĩnh viễn. 106 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Xê da ra sức tập trung quyền lực vào tay mình và quan liêu hoá bộ máy nhà nước. Địa vị và quyền lực của Xêda lớn đến nỗi tất cả những điều Xẽda nói, ngay cả trong các buổi nói chuyện, đều trở thành luật pháp. Tuy rằng, những cơ quan nhà nước của nền cộng hoà chủ nô vẫn tổn tại, nhưng thực chất đã biến thành những cơ quan phục vụ cho chế độ dộc tài. Xêda đưa những tướng lĩnh thân cận của mình vào viện nguyên lão, nâng sô' ủy viên nguyên lão lên tới 900 người. Số lượng quan chức cao cấp đều tăng, bao gồm những tay chân của Xêda. Từ chế độ độc tài Xêda, nền cộng hoà chủ nô chỉ còn thoi thóp. Nền cộng hoà quý tộc chủ nô bị xoá bỏ vĩnh viễn và chính thể quân chủ chuyên chế chủ nô được xác lập hoàn toàn từ khi Oc ta vơ lên nắm quyền. Tháng 1 năm 27 TCN. ôc ta vơ nhận danh hiệu ôguyxtơ có nghĩa là thần thánh. Trước đó y đã được trao quyển bảo dân điều khiển mọi việc dân sự. Ôc ta vơ là viên tướng nắm quyền chỉ huy tối cao quân đội với danh hiệu hoàng đế. Nãm 12 TCN, y được bầu làm tăng lữ cao nhất. Như vậy, ố c ta vơ thực sự trở thành hoàng đế của đế quốc La Mã, có toàn quyền định đoạt mọi hoạt động của nhà nước, không những có uy quyền lớn nhất về quân sự, dân sự, mà cả về mặt tôn giáo nữa. Hầu hết các cơ quan nhà nước của nền cộng hoà chủ nô bị giải tán. Viện nguyên lão không còn giữ được vai trò của một tổ chức nhà nước của nền cộng hoà chủ nô, mà đã trở thành công cụ của chính quyền quân chủ chủ nô. Chính thể quân chủ chuyên chế chủ nô vừa là sản phẩm của thời kỳ suy vong và sụp đổ của chế độ chiếm hữu nô lệ, vừa là công cụ thống trị của giai cấp chủ nô của đế quốc La Mã. 107 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Từ cuối thế kỷ II sau CN, chế độ chiếm hữu nô lệ ớ đế quốc La Mã lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng. Nền kinh tế dựa trên cơ sở bóc lột nô lệ bị kiệt quệ, không còn sức phát triển nữa và trở thành vật chướng ngại kìm hãm lưc lượng sản xuất. Quan hệ nô lệ suy sụp và những nhân tô cùa quan hệ phong kiến đang nảy sinh, đống vai trò quyết định trong việc phá hủy chế độ chiếm hữu nô lệ. Phong trào đấu tranh của quẫn chúng lao động ngày càng mạnh mẽ và rộng khấp, chính quyền trung ương ngày thêm rệu rã, không còn đủ sức chi phối các thế lực cát cứ ở địa phương. Vào thế kỷ V, đế quốc La Mã già cỗi đang hấp hối thì bị các bộ lạc bên ngoài ào ạt tràn vào tiêu diệt đế quốc Tây La Mã, mở ra chế độ phong kiến ở Châu Âu. Còn đế quốc Đông La Mã cũng dần dần phong kiến hoá. II. LUẬT LA MÃ 1. Luật La Mã thời cộng hoà sơ kỳ - "Luật 12 bảng" Thời cộng hoà sơ kỳ là thời kỳ đầu, trong khoảng thế kỷ VI - IV trước công nguyên. Thòi kỳ này, nhà nước La Mã vừa thoát thai khỏi chế độ công xã nguyên thuỷ và bộ máy nhà nước cùa nền cộng hoà chủ nô đang trong quá trình hoàn thiện. Trong thời kỳ này, lãnh thổ La Mã chưa vượt ra ngoài phạm vi bán đảo Italia, quan hệ nô lệ còn mang tính gia trưởng, đặc biệt là kinh tế hàng hoá chưa phát triển mạnh. Bởi vậy, pháp luật trong thời kỳ này phát triển chưa cao, cả về phạm vi các quan hệ xã hội mà nó điều chỉnh và cả về kỹ thuật lập pháp. Tiêu biểu cho luật La Mã thòi cộng hoà sơ kỳ là "Luật 12 bảng". 108 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Phong trào đấu tranh của tầng lớp bình dân chống quý tộc diễn ra bằng nhiều hình thức để dòi quyền lợi của mình. Vào giữa thế kỷ V TCN, phong trào đó nổi lên lập ra khẩu hiệu đòi lập ra luật pháp ghi thành vãn bản. Bởi luật tục là luật không thành văn , nên đã bị bọn quý tộc sử dụng và vận dụng một cách tuỳ ý để mưu lợi riêng. Trải qua quá trình đấu tranh giữa hai phái, năm 451 TCN, một uỷ ban lập pháp gồm 10 nguời được bầu ra (uỷ ban 10 người). Nhưng qua một năm uỷ ban nảy vẫn chưa thảo ra được một bộ luật. Đến năm 450 TCN, một uỷ ban mới được cử ra, gồm 5 quý tộc và 5 bình dân, đến năm 449 TCN, uỷ ban này đã soạn thảo xong bộ luật bằng văn bản, được ghi trên 12 tấm bảng đồng, đặt ở nơi công cộng cho mọi người xem. Bộ luật này thường được gọi là "luật 12 bảng". Văn bản của luật 12 bảng tuy không còn giữ lại được đến ngày nay, song có thể khôi phục lại được nội dung của nó nhờ những đoạn trích dẫn của các học giả La Mã thời kỳ sau. Bộ luật 12 bảng là tư liệu quý, phản ánh đậm nét quan hệ kinh tế xã hội ở thời kỳ đầu của nền cộng hoà chủ nô La Mã. Nội dung chủ yếu của bộ luật là bảo vệ quyền tư hữu tài sản bằng nhiều biện pháp, kể cả bằng hình phạt tử hình. Theo bộ luật, kẻ nào xâm phạm đến tài sản của người khác, như đốt nhà, trộm cắp, phá hoại hoa mầu đều bị xử tử. "Nếu như kẻ nào đương đêm ăn trộm mà bị giết ngay tại chỗ, thì hành vi giết người ấy được coi là hợp pháp" (bảng 8, điều 12). Bộ luật quy định nhiều hình phạt dã man đối với con nợ không trả được nợ. Nếu đến hạn mà không trả được nợ, con nợ sẽ bị chủ bắt giam, gông cùm. Trong thời gian 60 ngày bị giam giữ, con nợ bị mang tới quảng trường 3 lần vào những phiên chợ để toà án xét xử. Nếu quá 60 ngày vẫn không trả được nợ 109 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
"chủ nợ có thể mang tùng xẻo thân thể con nợ. Con nợ bị tùng xẻo nhiều hay ít, chủ nợ cũng không phải chịu trách nhiệm về điều đó" (bảng 3, điều 6). Sau đó, nếu vẫn không trả được nợ, con nợ có thể bị giết chết, hoặc bị bán ra nước ngoài. Trường hợp con nợ vay nợ của nhiều người mà không trả được, các chủ nợ có quyền băm con nợ ra thành nhiều mảnh (bảng 3, điều 6). Bộ luật còn phản ánh tình hình quan hệ xã hội rất phức tạp ở La Mã, nhà nước đã ra đời, nhưng tàn dư thị tộc còn nặng. Luật 12 bảng thừa nhận hình thức trả thù ngang bằng. V í dụ, nếu đánh gãy tay người khác, thủ phạm cũng bị đánh gãy tay. Trong quan hệ gia đình, quyền lực người cha rất lớn Người cha có quyền bán con làm nô lệ. Người con chỉ được tự do trong diểu kiện nhất định, "nếu người cha đã bán con đến lần thứ bơ, thì người con được thoát khỏi sự cai quán của người cha" (bảng 4, điẻu 2). Theo bộ luật con cái không có quyền thừa kế tài sản, nếu như người cha không cho thừa kế. Luật còn quy định: người sắp chết được tự do để lại tài sản cho bất cứ người nào thừa kế. Để bảo vệ quyền lợi của nguời được thừa kế theo di chúc, hội nghị công dân có quyẻn giám sát việc phân chia tài sản đó. Trong gia đình quyền lực của người chồng hầu như tuyệt đối. Tài sản gia đình do người chổng quản lý. Con cái lấy chổng phải phụ thuộc vào chồng. Luật 12 bảng đồng có một số quy định về thủ tục tố tụng dân sự. Nhìn chung, thủ tục tố tụng dân sự còn quá máy móc, rườm rà, nên gây nhiều khó khãn, phiển phức trong quá trình tiến hành xét xử và không tạo điều kiện thuận lợi cho quan hệ kinh tế hàng hoá phát triển. 110 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
2ễ Luật La Mã từ thời cộng hoà hậu kỳ trở đi Thời kỳ cuối cùng không phải chỉ là thời cộng hoà hậu kỳ (Thế kỷ III TCN - thế kỷ I SCN) mà đế quốc La Mã còn tồn tại tiếp một thời gian dài nữa (đến thế kỷ V SCN). Bởi vậy luật La Mã thời kỳ cuối bao gồm thời cộng hoà hậu kỳ và cả thời hậu cộng hoà (tức thời quân chủ). Thời kỳ từ cộng hoà hậu kỳ trở đi là thời kỳ thịnh vượng nhất của nền luật học La Mãắ ở giai đoạn cuối của thời kỳ này, mặc dù chính thể cộng hoà chủ nô được thay thế bằng chính thể quân chủ chủ nô (từ cuối thế kỷ I SCN), quan hệ nô lệ trở nên lỗi thời, đế quốc La Mã dần dần bước vào giai đoạn suy vong, nhưng cũng chính giai đoạn cuối này, lãnh thổ của đế quốc La Mã được mở rộng nhất. Bởi vậy, nền kinh tế hàng hoá bắt đầu phát triển mạnh. Các nhà làm luật của La Mã không những tích luỹ đaợc nhiều kinh nghiệm qua thời cộng hoà, mà còn tiếp thu được nhiều thành tựu lập pháp của các nước đã bị La Mã chiếm đóng. Nền luật pháp La Mã tiếp tục phát triển. Cộng vào đó, việc cai quản một đế quốc rộng lớn cũng cần có công cụ pháp luật hỗ trợ. Trong thời cộng hoà hậu kỳ và hậu cộng hoà, nguồn của luật La Mã bao gồm: - Những quyết định của các hoàng đế La Mã. sở dĩ ngày nay còn biết được khá nhiều về nguồn luật này vì vào nửa đầu thế kỷ VI SCN hoàng đế La Mã, (đế quốc Đông La Mã)(1) lập một hội đồng tư vấn gồm các luật gia nổi tiếng, để hộ thống hoá những quyết định của các hoàng đế La Mã từ ( 1 ). Đ ể cứu vãn sự sụp đổ cùa đ ế quốc La Mã. ngay từ cuối thế kỷ IV. đ ế quốc La Mã đă được phân chia thành hai phần với hai bộ máy chính quyển riêng biệt. Đ ó là đ ế quốc Tây La Mã và đ ế quốc Đông La Mã. 111 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
thế kỷ III TCN đến thế kỷ VI SCN và trình lên hoàng đế lua chọn để áp dụng cho thời ông ta. - Các quyết định của cơ quan quyền lực cao nhất (viện nguyên lão). - Các quyết định của toà án. Khi xét xử tranh chấp dân sự mà tranh chấp đó không có các quy phạm pháp luật điều chỉnh, thì quan toà có quyền phán quyết, nhưng phải phù hợp với phong tục tập quán địa phương. Phán quyết đó có ý nghĩa như một nguồn luật. - Các quyết định của các quan thái thú các tỉnh*11 trong trường hợp không có luật điều chỉnh, mà cần phải giải quyết một vấn đề cấp bách nào đó có lợi cho hoàng đế La Mã, thì quan thái thú được phép ra quyết định buộc những nguời trong địa hạt quản lý của mình phải tuân thủ. - Tập quán pháp. Đó là một sô' tập quán của các tộc người hoặc các địa phương được nhà nước thừa nhận, thường được ghi lại thành vãn bản và được ban hành. - Hệ thống hoá luật pháp, các công trình của luật gia La Mã. Các luật gia La Mã thường hệ thống hoá luật pháp thành các bộ, quyển, chương, mục, để tiện cho việc nghiên cứu luật pháp và để tiện cho việc áp dụng chúng trong xét xử. Ngoài ra, các công trình nghiên cứu về luật pháp của các luật gia La Mã nổi tiếng cũng được coi là văn bản pháp luật. Trên cơ sở những nguồn luật đa dạng đó, luật La Mã được người ta chia thành các chế định, các ngành luật sau: (1). Chính quyền La M ã chia những vùng đất chiếm được ngoài bán đảo Italia thành 9 tình. La M ã cừ thái thú đến các tỉnh thống trị, nhiệm kỳ là 1 năm. Thái thú có quyền hành rộng lớn. nám quyền quân sự, dân sự, tư pháp, thậm ch í còn đạt ra những nguyên tác thống trị riêng. 112 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Các chế đinh của luật dán sự Trong luật La Mã, luật dân sự là luật phát triển nhất về quy mô phạm vi điều chỉnh và nhất là về kỹ thuật lập pháp. Các chế định luật dân sự La Mã rất phong phú bao quát hầu hết các quan hệ dàn sự. Đó là các chế định về quyẻn sở hữu, hợp đồng và trái phụ, hôn nhân và gia đình, thừa kế. Nội dung của từng chế định cũng rất phong phú và chi tiết. Chế định vê quyền sà hữu Khái niệm quyền sở hữu trong luật La Mã được hiểu là quyền sử dụng và quyền định đoạt tuyệt đối tài sản đó. Nhưng chủ sở hữu vẫn bị một số hạn chế do luật định. Ví dụ do yêu cầu canh tác ở nông thôn và sử dụng nước ở thành phố, người ta có thể dẫn nước qua ruộng người khác hoặc đặt ống nước qua sân hàng xóm. Theo luật La Mã, quyển chiếm hữu được hiểu là quyền sử dụng và ý muốn thực hiện quyền đó đối với tài sản của người khác trao cho mình chiếm giữ, để phục vụ cho chính bản thân mình. Hình thức chiếm hữu phổ biến nhất là chiếm hữu ruộng đất. Người được quyền chiếm hữu được sử dụng sô' hoa lợi mà mảnh đất đó đem lại và có nghĩa vụ nộp một khoản tiền thuê mảnh đất cho chủ sở hữu. C hế định hợp đồng và trái vụ. Theo tinh thần của luật La Mã, để hợp đổng có hiệu lực phải có hai điều kiện. Một là hợp đồng phải do sự thoả thuận giữa hai bên, không được lừa dối, không được dùng vũ lực. Hai là hợp đổng phải phù hợp với quy định của luật pháp. Trong thực tiễn xét xử, các luật gia La Mã đã phân hợp đồng thành hai loại. Một là hợp đồng thực tại: nghĩa vụ thực hiện và trách nhiệm nảy sinh từ thời điểm trao vật. Trong hợp 113 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
đổng thực tại có hợp đồng bảo quản và hợp đồng vay mượn. Đối với hợp đồng bảo quản, thời điểm phát sinh trách nhiệm kể từ khi nhận được vật. Trong hợp đồng cho vay, người vay phải trả lại vật tương tự. Trong hợp đồng cho mượn, nguời mượn phải trả chính vật được muợn. Hai là hợp đồng thoà thuận, gồm nhiều hình thức quan hệ pháp lý như mua bán, thuê mướn sức lao động, thuê súc vật, thuê nhà ở, lĩnh canh ruộng đất V.V.. Thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ của loại hợp đồng này bắt đầu ngay sau ký hợp đồng, chứ không đợi đến sau khi trao vật. Khi có sự vi phạm hợp đồng, trái vụ xuất hiện, vể trái vụ, luật gia Paven viết: "bản chất của trái vụ là bắt buộc phải có nghĩa vụ với chúng ta, bắt người đó phải trao cho, làm một cái gì đó". Các biện pháp để bảo đảm trái vụ là cẩm cố vật, sự bảo lãnh của người trung gian. Theo nguyên tắc chung, hợp đồng bị huỷ bỏ nếu có sự nhất trí của hai bên. Nhưng trên thực tế, trái vụ có thể bị đình chỉ khi có một trong các điểu kiện sau: hai bên thoả thuận chuyển khoản nợ CÜ sang trái vụ mới, người chủ nợ từ chối quyền đòi hỏi của mình, hết thời hiệu đưa đơn kiện (theo quy định của toà án), người mắc nợ gặp phải thiên tai địch họa không thể cưỡng lại được. Chê'định về hôn nhân và gia đình Hôn nhân theo quy định của pháp luật là một vợ một chồng và phải do sự tự nguyện đồng ý của hai người. Tài sản của vơ, tài sản của chồng là riêng biệt. Mọi chi phí trong thời gian hai vợ chồng chung sống do người chổng gánh vác. Người chồng có quyền định đoạt hoa lợi do của hồi môn của vợ đem lại. Nếu người vợ ly hôn chính đáng được toà án thừa nhận, thì người vợ có quyền nhận lại của hổi môn. So với 114 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
thời kỳ cộng hoà sơ kỳ, pháp luật thời kỳ này đã hạn chế bớt quyền lực của người cha. Giết trẻ em là tội phạm và người cha không có quyền bán con mình. Chế định thừa kế Có nhiều thay đổi và được quy định chi tiết. Theo luật pháp La Mã, thừa kế cũng có hai hình thức: thừa kế theo di chúc và thừa kế theo luật. Luật La Mã quy định diện và hàng thừa kế tài sản theo quan hệ huyết thống trong 6 đời của ngucá để lại di sản. Qua các chế định trên cho thấy, nguyên tắc bình đẳng giữa các đương sự trong các quan hệ dân sự được thể hiện đậm nét. Những chế định hình sự Trong nền pháp luật La Mã, nếu như những quy phạm pháp luật dân sự mang tính chất tiến bộ bao nhiêu, thì những chế định hình sự mang tính trì trệ bảo thủ bấy nhiêu. Phần lớn các đạo luật hình sự nhằm điều chỉnh các quan hệ chính trị. Hình phạt mang tính độc đoán tàn bạo và cách xét xử mang nặng yếu tố chủ quan của thẩm phán. Hình phạt phổ biến là cực hình và nhục hình. Nhưng tuỳ thuộc vào từng giai cấp, hình phạt được áp dụng theo cách khác nhau. Ví dụ, trong việc thi hành án tử hình, quý tộc và binh lính bị chém bằng gươm, dân tự do bị thiêu hoặc cho ngựa xé, còn nô lệ bị giết chết từ từ rất khủng khiếp. Như trong thời kỳ độc tài Xila, những người bị ghi vào danh sách là "kẻ thù của nhân dân", thì bất cứ người dân La mã nào cũng có quyền giết hoặc bắt đi đầy được. Tài sản của tội phạm bị xung công và một phần chia cho kẻ tô' giác. Nếu ai đó chỉ cần có một hành vi nhỏ làm trái ý kẻ độc tài thì bị coi là tội phạm và bị trừng trị. 115 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Nhi'cng Che dinh to tụng So với thời cộng hoà sơ kỳ, tổ chức toà án và tố tụng tu pháp có sự thay đổi cơ bản. Từ khi chính thể cộng hoà khung hoảng, giai cấp chủ nô đã gạt hội nghị công dân ra khoi việc xét xử những vụ án hình sự ở cấp cao nhất. Việt giải quyết những vụ án này thuộc thẩm quyển của hội đồng toà án đặc biẽt, gồm từ 30 đến 40 thẩm phán. Tùy theo từng vụ án mà số lượng thẩm phán trong hội đồng này nhiêu hay ít và bằng cách rút thăm. Để đi đến quyết định các vấn đề quan trọng trong vụ án, người ta dựa vào bỏ phiếu. Trên thực tế các quan chức hành chính cũng được trao quyền xét xử các vụ án hình sự và dân sự. Thẩm phán vừa làm công việc điều tra, xét hòi, vừa kết tội và tuyên bố hình phạt. Thông thường, biện pháp ưa tấn được sử dụng trong quá trình điẻu tra xét hỏi bị can. Toà án và các quy phạm pháp luật tô' tụng đã trở thành công cụ sắc bén của giai cấp chủ nô để đàn áp nhân dân lao động. 3ệ Đánh giá chung về trình độ phát triển và ý nghĩa lịch sử của luật La Mã Khi nghiên cứu vẻ luật La Mã, C.Mác đánh giá rất cao về nền luật pháp này, nhất là ỏ thời kỳ từ cộng hoà hậu kỳ. Theo ông, những người La Mã chính là những người đầu tiên khởi xướng ra luật tư hữu, luật trừu tượng, tư pháp (luật dân sự) và luật dân sự của nó đã đạt đến trình độ mang tính chất cổ điển. Luật La Mã phát triển rực rỡ ở cả hai phương diện: - Phạm vi điều chỉnh của luật La Mã rất rộng và sâu. Hầu hết các quan hệ xã hội thời bấy giờ được luật pháp hoá. Khống những nó bao gồm những quy phạm liên quan đến tổ chức và hoạt động của nhà nước (công pháp) mà còn cả 116 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
những quy phạm liên quan đến cá nhân như về sở hữu, hôn nhân và gia đình, hợp đổng, thừa kế (tư pháp). Các quan hệ xã hội đó được luật pháp điều chỉnh tỉ mỉ và cụ thể. - vể kỹ thuật lập pháp: lời văn trong các văn bàn rõ ràng, chuán xác, trong sáng. Đặc biệt, các nhà làm luật La Mã rất chú trọng nêu các định nghĩa khái niệm pháp lý và nêu một cách khá chuẩn xác, đưa ra đầy đủ các yếu tố của các quy phạm pháp luật, V.V.. Về mặt này, luật pháp La Mã cổ đại trở thành luật kinh điển của các nhà làm luật không những ở thời cổ đại, mà còn cả ở thời phong kiến, và trên chừng mực nhất định ở cả thời tư bản sau này. Vậy tại sao luật pháp La Mã cổ đại phát triển đến đỉnh cao như vậy? Nguyên nhân cơ bản và có tính quyết định là nền kinh tế hàng hoá ở La Mã, nhất là từ cộng hoà hậu kỳ, phát triển mạnh mẽ. Kinh tế hàng hoá phát triển dẫn đến những hệ quả sau: - Quan hệ xã hội trở nên đa dạng và phong phú đòi hỏi quan hệ pháp luật cũng phải đa dạng và phong phú. - Các loại quan hệ trong nền kinh tế hàng hoá mang tính chất chặt chẽ, rõ ràng. Nên nó thúc đẩy sự phát triển của kỹ thuật làm luật. - Quan hệ hàng hoá càng phát triển và đa dạng, những tranh chấp dân sự càng nhiều và đa dạng, đó là điều không thể tránh khỏi. Trong quá trình xét xử, các thẩm phán, các luật gia La Mã phải có những quyết định linh hoạt và sáng suốt. Những quvết định đó là một nguồn luật phong phú, đa dạng. Và như vậy, pháp luật cũng được thúc đẩy phát triển. Một nguyên nhân khác, rất quan trọng là, La Mã qua một 117 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
thời gian đi chinh phục có một lãnh thô rộng lớn. Việc cai trị một lãnh thổ rộng lớn như vậy đòi hỏi pháp luật cũng phải phát triển, để trở thành một công cuộc hữu hiệu của đế quốc La Mã. Đế quốc La Mã với lãnh thổ rộng lớn, tạo nên thị trường trao đổi và tiêu thụ hành hoá phát triển. Các nhà lập pháp La Mã có cơ hội tiếp thu các thành tựu lập pháp của các quốc gia bị chiếm đóng. Ở các vùng khác nhau của đế quóc La Mã có các tập quán phong phú và đa dạng, trong đó có không ít những tập quán dần dần trở thành tập quán pháp, làm phong phú thêm luật lệ La Mã. Luật pháp La Mã cổ đại có những ý nghĩa lịch sử to lớn. Thứ nhất, luật pháp, đến lượt nó lại là một yếu tố quan trọng thúc đẩy kinh tế hàng hoá của đế quốc La Mã phát triển. Luật pháp trở thành một nhân tố quan trọng của néa văn minh La Mã nổi tiếng. Thứ hai, đối với thế giới và đối với các thời đại, luật pháp La Mã, nhất là về kỹ thuật lập pháp, cũng có ý nghĩa lớn lao. Trong thời kỳ phong kiến sau này, không ít các nhà nuớc phong kiến ở phương Tây đã lấy những chế định luật dân sự La Mã áp dụng ở nước mình. Có thể nói, luật La Mã cổ đại là luật pháp của thời kỳ kinh tế hàng hoá giản đơn (tnrớe thời kỳ kinh tế hàng hoá tư bản chủ nghĩa). Sau này, các nhà làm luật tư sản đã kế thừa kỹ thuật lập pháp và nhiều hình thúc pháp lý dân sự của luật La Mã. 118 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
PHẦN THỨBA NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT THỜI KÌ TRUNG ĐẠI CHUƠNGIII NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT PHONG KIẾN PHƯƠNG ĐÔNG A. TRUNG QUỐC Iề NHÀ NUỚC l ế Sự hình thành chế độ phong kiến Chế độ phong kiến từng bước được hình thành ở cả hai yếu tố: quan hộ sản xuất phong kiến và thượng tầng kiến trúc - Nhà nước phong kiến. Vào thời kì Xuân Thu - Chiến Quốc, xã hội Trung Quốc có nhiều biến đổi quan trọng. Việc sử dụng công cụ lao động bằng sắt một cách phổ biến làm cho sức sản xuất phát triển nhanh chóng. Năng suất nông nghiệp tăng lên. Thủ công nghiệp có nhiều tiến bộ. Trên cơ sở đó, thương nghiệp cũng phát triển. Nhiều thành phố lớn trở thành trung tâm kinh tế công thương nghiệp. Trong thời kì này, chế độ sở hữu ruộng đất của nhà 119 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
nước lâm vào tình trạng tan rã. Ruộng đất tư ngày càng phát triển bời vì: + Chế độ phân phong ruộng đất bị phá vỡ, chế độ tỉnh điền"’ tan rã dần dần, nhiều ruộng đất của nhà vua trở thành ruộng tư của quý tộc. + Quý tộc sử dụng sức lao động của nô lệ khai hoang biến thành tư điền. + Việc mua bán ruộng đất ngày càng phổ biến. Những người có nhiều ruộng đất tư như quý tộc, quan lại, thương nhân, bắt đầu tiến hành phát canh canh tô. Nhiều nông dân do không có ruộng đất phải làm tá điền cày cấy ruộng đất của chủ đất. Một số khác do ít ruộng cũng phải lĩnh canh thêm ruộng đất của chủ đất. Như vậy, trong xã hội dần dần hình thành hài tầng lớp mới: tầng lớp địa chủ và tầng lớp nông dân tá điền. Đồng thời xuất hiện một phương thức bóc lột mới - bóc lột bằng địa tô. Trong hoàn cảnh xã hội ấy, chính quyển nhà Chu trở nên suy yếu. Các nước chư hầu lớn đều muốn tãng cường quyền lực của mình, vì thế đã xảy ra cuộc nội chiến triền miên giữa các nước để tranh quyền bá chủ. Đến nửa sau thế kỉ V trước công nguyên, ở Trung Quốc hình thành 7 nước lớn là: Tề, Yên, Triệu, Nguỵ, Hàn, Sở, Tần. Đến giữa (1). C hế độ "tinh điền" D o nhà T ây Chu thực h iện . Đ ể ch ia ruộng đất thành từng mành và dẫn nước vào ruộng, người ta đáp những bờ và đào những con m ương ngang d ọc, tạo thành hình như chữ “ tinh” . N hững mảnh đó chia cho hộ nông dân, hàpa năm họ phải nộp th uế và còn đ ể phản phong định kì cho quý lộc. 120 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
thế kỉ IV trước công nguyên, cuộc chiến giữa các nước này càng trở nên ác liệt. Cũng từ thời kì này, để có đủ tiềm lực theo đuổi chiến tranh, các nước lớn đều lần lượt thi hành những cải cách về chính trị, kinh tế. Nhờ thi hành cải cách, các nước đều cường thịnh hẳn lên trong đó nước Tần trở nên mạnh nhất. Khoảng giữa thế kỉ IV trước công nguyên, vua Tần là Tần Hiếu Công đã thực hiện đường lối cải cách của Thượng Uơng. Nội dung chủ yếu của cải cách Thượng u&ng gồm: - Bỏ chế độ tỉnh điền và ruộng đất được lự đo mua bán. - Thống nhất đo lường, miễn sưu địch cho những nông dân sản xuất được nhiều thóc. - Tăng cường trật tự trị an, khuyến khích lập quận công. - Tổ chức lại hệ thống hành chính theo chế độ quân huyện... Cải cách Thượng Ucmg và một số cải cách khác của các nước đã dẫn đến kết quả: về kinh tế nó thúc đẩy quan hộ sản xuất phong kiến phát triển, v ề chính trị là sự hình thành đội ngũ quan liêu, bên cạnh hình thức thế tập đã xuất hiện phương thức tiến cử. Qua đó cơ sở kinh tế và đặc quyền chính trị của tầng lớp quý tộc chủ nô cũ bị suy giảm nghiêm trọng. Ngược lại, tầng lớp địa chủ mới dần dần chiếm ưu thế về kinh tế và chính trị. Sau khi trở thành một nước hùng mạnh, nước Tần tiến hành công cuộc chinh phục toàn Trung Quốc. Đến nãm 221 trước công nguyên, nhà Tần hoàn thành việc thống nhất Trung Quốc. Vua Tần là Tần Doanh Chính xưng Hoàng Đế, 121 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
lấy hiệu là Thủy Hoàng Đế (Tần Thủy Hoàng) và tiếp tục áp dụng cải cách, nhằm xây dựng một nhà nước Trung ương tâp quyền chuyên chế. Tần Thủy Hoàng thâu tóm toàn quyền lưc trong tay. Chế độ quận huyện được xác lập. Hàng ngũ quan lại lấy từ tầng lớp bình dân và bị chính quyền trung ương chi phối chặt chẽ. Họ do Hoàng Đ ế và triều đình bổ nhiệm, bãi miễn. Quan lại được đào tạo có kế hoạch. Ngoài ra, nhà Tần còn thống nhất pháp luật, tiền lệ, các đcm vị đo luồng, vãn tự và thi hành một số chính sách tích cực nhằm phát triển nông nghiệp, mở mang công thương nghiệp. Vì vậy, quan hệ sản xuất phong kiến đã nảy sinh từ trước đây, nay giữ vai trò chủ đạo, giai cấp địa chủ phong kiến trỏ thành giai cấp thống trị nhà nước. Từ triều Tần Thuỷ Hoàng, không những lãnh thổ Trung Quốc được thống nhất mà quá trình hình thành chế độ phong kiến Trung Quốc cũng được hoàn thành. 2. Tổ chức bộ máy nhà nước Tổ chức bộ máy nhà nước phong kiến Trung Quốc ngay từ đầu và trong suốt quá trình tồn tại là chính thể quán chủ chuyên ch ế và ngày càng được hoàn thiện Nhà Tần (221 TCN - 206 TCN): Bộ máy nhà nuớc Tần với thể chế quan liêu rất quy mô và đẩy đủ, đặt cơ sờ cho việc xây dựng bộ máy nhà nước phong kiến Trung Quốc suốt hơn 2000 năm. Sau khi thống nhất Trung Quốc, công việc đầu tiên của Tần Thủy Hoàng là xây dựng bộ máy nhà nước Trung ương tập quyền theo chính thể quân chủ chuyên chế. 122 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Hoàng đế là người nắm mọi quyền lực nhà nước. Dưới Hoàng Đế là bộ máy quan lại Trung ương gồm Tam Công và Cửu Khanh. Tam Công là 3 chức quan đầu triều gổm Thừa tướng, Thái uý và Ngự sử đại phu. Thừa tướng là tổng quản chính vụ, giúp Hoàng Đế cai trị dân, nắm thu chi của nhà nước, quản lí các công trình công cộng trong toàn quốc Thái úy phụ trách về quân sự. Ngự sử đại phu nắm giữ vãn thư quan trọng và giám sát các quan. Dưới Tam Công là Cửu Khanh gồm 9 viên quan phụ trách các công việc khác như: Đình úy coi việc hình; Thiếu phủ coi việc thuế khoá; Lang trung lệnh cai quản quân túc vệ nhà vua; Vệ úy trông coi cung điện... Mọi công việc quan trọng của nhà nước đều được các đại thần thảo luận, nhưng Hoàng Đế là người quyết định cuối cùng. Mệnh lệnh của Hoàng Đế phải được chấp hành tuyệt đối. Đối với địa phương, Tần Thuỷ Hoàng không thi hành chế độ phân phong mà chia cả nước thành 36 quận, đứng đầu quận là Quận thú. Mỏi quận lại chia ra một số huyện do Huyện lệnh cai trị. Các quan ở quận, huyộn đều do trung ương bổ nhiệm. Như vậy từ thời Tẩn, chế độ quận huyện lần đầu tiên xuất hiện. Dưới huyện là xã, đứng đầu là xã trưởng. Rõ ràng, bộ máy nhà nước của triều Tần được tổ chức một cách quy củ, chặt chẽ. Đó là sự phát triển cả về lượng và chất. Có thể nói đây là cuộc cải cách tổ chức bộ máy nhà nước lẩn đầu tiên của Trung Quốc. Nó đặt cơ sở nền móng cho sự hoàn thiện chính thể quân chủ chuyên chế của các triều đại sau. 123 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Sơ đồ: Tổ chức bộ máy nhà nước Triều Tần Triều Hán (206 TC N - 220 SCN): Chủ trương thống nhá đất nước và xây dựng một nhà nước ương tập quyền vững mạnh của nhà Tần là phù hợp với yêu cầu phát triển lịch sử Trung Quốc lúc đó. Nhưng nhà Tần lại sử dụng những biện pháp thực hiện rất hà khắc làm cho nhân dân Trung Quốc vô cùng cực khổ. Nhiều cuộc đấu tranh giai cấp đã nổ ra nhằm chống lại ách thống trị tàn bạo của nhà Tần. Năm 206 trước công nguyên, triều Tần bị lật đổ, triều Hán được thành lập. 124 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Triều Hán chia thành hai giai đoạn: Tây Hán (206 TCN - 8 SCN) và Đông Hán (25 - 220). Buổi đầu, bộ máy nhà nước Hán về cơ bản vẫn theo chế độ thời Tần, nhưng chủ trương tập trung quyền lực vào trung ương chưa rõ rệt. Đời Hán Cao Tổ do sợ các công thần có thế lực tranh cướp quyền hành của mình nén vua đã tìm cách giết hại họ (như Hàn Tín. Kinh Bố...). Sau đó vua phong đất cho anh em, con cháu mình là vương hầu, để lấy chỗ dựa cho chính quyền trang ương. Vương hầu được quyền đặt quan lại, lập quân đội, thu tô thuế trên đất đai của mình v.v... Thế lực của họ ngày càng manh, có âm mưu phản loạn cát cứ. Năm 154 trước công nguyẽn, cuộc nổi loạn của vương hầu Ngô Vương Lưu Tụy, vua Hán cảnh Đế phải huy động quân đi đàn áp, sau ba tháng mới dẹp yên. Đến đời Hán Vũ Đế (140 - 87 trước cống nguyên) chế độ trung ương tập quyển mới được củng cố. Hán Vũ Đế thi hành nhiẻu biện pháp để làm yếu thế lực các các vương hầu. Trước hết ông ban hành mệnh lênh "mở rộng hơn", cho phép các vưcmg hầu được phong đất cho con mình, để phân tán đất và làm suy yếu thực lực của họ. Đồng thòi ông còn thay đỏi chế độ tuyển dụng quan lại. Không chỉ con em của đại thần được chọn làm quan mà hàng năm các địa phương phải tiến cử những người tài đức để bổ sung vào hàng ngũ quan lại. Bộ máy chính quyền trung ương về cơ bản vẫn theo chế độ Tam Công, Cửu Khanh. Từ đời Hán Vũ Đế trở đi, Thượng thư lệnh nắm quyền của Thừa tướng. ở địa phương toàn quốc chia làm 13 khu vực giám sát gọi là châu (bộ) nhưng chưa phải là đơn vị hành chính và đặt chức thứ sử giám sát các quận thú. về sau, châu trở thành đơn vị hành chính và bên dưới vẫn là quận, huyện... 125 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Quân độ thường trực ở trung ương đuợc gọi là "quân kì môn” và "quân vũ lâm" tức cấm vệ quân và túc vệ quân. Ngoài ra, để phù hợp với tình hình mới, Hán Vũ Đế đã sử dụng nho giáo làm tư tưởng chính thống cho nền thống trị của mình. Từ đây, nho giáo trở thành học thuyết chính trị - pháp lí của nhà nước phong kiến suốt 2000 năm. Nhà Hán, nhất là đời Hán Vũ Đế, là một triều đại nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc. Triều Đường (618 - 907). Cuối thời kì Đông Hán, nội chiến tàn khốc trên toàn lãnh thổ Trung Quốc, các tập đoàn phong kiến dần dần tập trung lại thành ba nước: Nguỵ, Thục và Ngô. Cục diện Tam Quốc bắt đầu từ đó. Và Trung Quốc bị nội chiến chia rẽ trong một thời gian dài gần bốn thế kỉ, trải qua các thời Tam Quốc (220 - 280); Tấn (265 - 420); Nam Bắc Triều (420 -589). Năm 589, nhà Tùy lại thống nhất được Trung Quốc. Nhưng sự ổn định của nhà Tùy chẳng được bao lâu. Năm 618, lợi dụng phong trào đấu tranh của nông dân, tập đoàn địa chủ quan liêu họ Lí đã lật đổ nhà Tùy, lập nên triều Đường, triều đại cực thịnh nhất trong lịch sử phong kiến Trung Quổc. Nhà Đường tiến hành cuộc cải cách về tổ chức bộ máy nhà nước, nhằm củng cố và tăng cường chính thể quân chù chuyên chế. Tam sảnh (Tam tỉnh); Lục bộ bắt đầu có từ nhà Tùy, giờ đây được phát triển và hoàn thiện, trở thành xương sống của hệ thống quan liêu. Tam Sảnh bao gồm: - Thượng thư sảnh (thượng thư tỉnh) giúp vua quản lí các công việc nhà nước. Thượng thư sảnh gồm 6 bộ: + Bộ lại: Phụ trách việc quản lí quan lại + Bộ lễ: Phụ trách việc lễ nghi, triều tiết 126 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
+ Bộ hình: Quản lí việc xét xử + Bộ hộ: Quản lí việc hộ, hôn, điền sản + Bộ binh: Phụ trách về quân sự + Bộ công: Quản lí thủ công nghiệp, buôn bán. - Trung thư sảnh (Trung thư tỉnh): Soạn thảo văn bản luật lệnh. - Môn hạ sảnh (Mòn hạ tỉnh): Tuyên cáo và giám sát việc thi hành luật lệnh. Tam Sảnh tuy có sự phân công, nhưng vẫn phải phối hợp với nhau trong công việc. Đứng đầu Tam Sảnh và hệ thống quan lại triều đình là tể tướng (thừa tướng). Đứng đầu mỗi bộ là thượng thư, phó chức là Thị lang. Ngoài ra nhà Đường còn lập một số cơ quan khác như: Đại lí tự - Cơ quan xét xử tối cao; Ngự sử đài - kiểm sát tối cao. Cả nước chia làm 10 đạo (đến thế kỉ VIII tăng lên 15 đạo). Đứng đầu mỗi đạo là Tiết độ sứ. Dưới đạo vẫn là quận (châu), huyện... như trước đây. Quan lại từ cấp huyện trờ lên đểu do triều đình bổ nhiệm. Để củng cô' nhà nước tập quyền, nhà Đường đã cải cách chế độ "sĩ tộc" và mở rộng khoa cử. Chế độ sĩ tộc không theo dòng dõi huyết tộc như thời Nam Bắc triều mà theo phẩm trật cao thấp của quan lại(â). Còn chế độ khoa cừ thì có tới tám khoa mục, trong đó quan trọng nhất là khoa tiến sĩ. Các đại thần nhà (1). Phẩm trật hay còn gọi là phẩm hàm hoặc tước vị. Phẩm hàm gổm 9 bậc (cửu phẩm) theo thứ tự cao thấp từ nhất phẩm đến cừu phẩm. Mỗi bậc lại có hai cấp. ví dụ: Chánh nhất phẩm và lòng nhấi phẩm. Như vậy, [hực tế có tát cả 18 cấp bậc. Chức và tước di liền với nhau. V í dụ: Người giữ chức lể tướng thì bao giờ cũng có hàm chánh nhất phẩm. Phẩm hàm dù cao. thấp cũng đều do vua ban cho. C hếdộ phẩm hàm lổn tại cho đến hết Ihời kì phong kiến ờ Trung Quốc. 127 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Đường phần nhiều xuất thân từ khoa tiến sĩ. Quân đội nhà Đường rất chú trọng phát triển kị binh Giữa thế kỉ VII, nhà Đường có khoảng 500.000 ngựa. Quân đội nhà Đường là lực lượng hùng mạnh lúc bấy giờ. Thanh thế đế chế Đường lừng lẫy, thịnh hơn cả thời Hán. Nhà Đường là một đế quốc nổi tiếng trong lịch sử thế giới trung đại. Bởi đế chế Đường, tổ chức hành chính - quân sự rất chặt chẽ, quân đội rất cơ động và linh hoạt tổ chức hậu cần giỏi, hoạt động bành trướng và ngoại giao rộng lớn. Sơ đồ tổ chức bộ máy nhà nước thòi Đường 128 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Triều Tống (960 -1279) Nhà Đường diệt vong, các thế lực phong kiến địa phương hình thành tình trạng cát cứ, hỗn chiến trong một thời gian dài hơn nửa thế kỉ (907 - 979). ở Miền Bắc có 5 triều đại kế tiếp nhau. Còn Miền Nam, bị chia cắt thành 10 nước. Lịch sử Trung Quốc gọi thời kì này là "Ngũ đại thập quốc" (năm đời mười nước). Năm 960, triều Tống được thành lập. Và lúc này vẫn còn một số nước nhỏ cát cứ độc lập, như nước Liêu (hay còn gọi là Khiết Đan); nước Kim, nước Hạ,... Triều Tống đã dùng nhiều biộn pháp cho đến nãm 979, nhà Tống về cơ bản đã thống nhất được Trung Quốc. Tổ chức bộ máy nhà nước triều Tống, về cơ bản giống mô hình của nhà Đường. Nhưng rút kinh nghiêm nhà Đường để cho quyền lực của Tiết độ sứ quá lớn, uy hiếp chính quyền trung ương, nhà Tống đã thu hồi binh quyền của tiết độ sứ bằng cách bãi bỏ các đạo. cả nước chia thành nhiều khu vực nhỏ hơn gọi là lộ, do tri lộ đứng đầu. Dưới lộ vẫn là châu, huyện, xã. Nhà Tống đặc biệt chú trọng xây dựng đội ngũ quan lại thông qua con đường khoa cử. Triều Nguyên (1271 -1368). Từ đầu thế kỉ 13, Trung Quốc dần dần bị quân đội thiện chiến của người Mông cổ chinh phục. Năm 1271, vua Mông Cổ dời đô tới Bắc Kinh và đặt tên nước là Nguyên. Đến năm 1279, nhà Tống mới hoàn toàn bị tiêu diệt. Đứng trước một dân tộc bị trị nhưng đã có nền văn minh cao hơn, nhà Nguyên đã bắt chước mô hình tổ chức nhà 129 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
nước, chế độ phân phong ruộng đất, chế độ thuế khoá,... cùa Trung Quốc trước đó. Mặt khác, nhà Nguyên thi hành sự phân biệt đối xử dân tộc trắng trợn. Cư dân được chia làm bốn hạng người. Hạng nhất là "người Mông C o'. Hạng nhì là "người sắc mục" (Người Hạ, Trung Á, Batư, ...)• Hạng ba là "người Hán" (người Khiết Đan, Hán, Cao Li,...). Hạng tư là "người Nam" (các tộc người ở Nam Trung Quổc). Các chức quan cao cấp trước dành cho người Mông c ổ rồi đến người sắc mục, sau đó mói đến người Hán. Quyền chỉ huy quân đội hoàn toàn thuộc vẻ người Mông cổ. Sau này, triều Nguyên khôi phục lại chế độ khoa cử, con em của địa chủ Hán đỗ đạt được làm quan rất nhiều. Đế chế Nguyên Mông là đế quốc khét tiếng trong lịch sử thế giới trung đại. Triều Minh (1368 -1644). Năm 1368, Chu Nguyên Chương lãnh đạo phong trào nông dân, lên ngôi Hoàng Đế, lập ra nhà Minh. Năm 1376, nhà Minh tiến hành một cuộc cải cách lớn về tổ chức bộ máy nhà nước, làm cho cơ chế thực hiện quyền lực quăn chủ phát triển tới mức chuyên ch ế cực đoan. Để tập trung quyền lực đến cao độ vào tay Hoàng Đế, chức thừa tướng bị bãi bỏ. Từng bộ của lục bộ phải chịu trách nhiệm trực tiếp trước nhà vua. Ngự sử đài được đổi tên thành đô sát viện, có chức năng kiểm soát quan lại và xét xử án kiện. Ngoài ra, còn có hàn lâm viện soạn thảo các vãn kiện; đông các viện sửa chữa các vãn kiện; quốc tử giám trông coi việc giáo dục; tư thiên giám coi thiên văn và định lịch pháp... 130 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Nhà Minh đổi Đạo, quận (châu), huyện thảnh tỉnh, phủ, huyện, xã. Quyền hành ở Đạo trước đây tập trung vào một quan chức, nay quyền hành ở tỉnh được chia cho Tam ti. *■ Thừa tuyên bô' chính sứ ti: nắm quyền quản lí hành chínhễ - Đé hình án sát sứ ti nắm quyền tư pháp - Đô chỉ huy sứ ti: nắm quyền chỉ huy quân sự. Tam ti do triều đình trực tiếp chỉ huy và thường xuyên chịu sự giám sát của Đô sát viện, các giám sát ngự sử. Cấp tỉnh là khu vực lớn nhất, dễ xưng hùng bá nên quyền lực ở đó được chia nhỏ ra như vậy. Đứng đầu phủ là tri phủ, ở huyện là tri huyện, ở xã là xã trưởng. Về quân đội, nhà Minh đặt ra ngũ quân đô đốc phủ (trung, tả, hữu, tiền, hậu). Các đô đốc phủ nắm sổ binh nhưng không trực tiếp chỉ huy quân đội. Khi có chiến tranh, Hoàng Đế cử tướng soái chỉ huy quân đội. Chiến tranh kết thúc, họ trả ấn, binh và lại vẻ nhiệm sở. Bằng cách đó, Hoàng Đế có thể xây dựng được một hàng ngũ võ quan có tài và vua trực tiếp nắm chắc được quân đội. Nhìn chung, tổ chức bộ máy quan lại nhà Minh theo 2 nguyên tắc: - Bỏ bớt khâu trung gian, Hoàng Đế trực tiếp chỉ huy các quan chức quan trọng. - Quyển hành không tập trung vào một quan chức mà được tản ra nhiều cơ quan khác nhau như Lục bộ, Tam ti. 131 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Sơ đồ tổ chức bộ m áy n h à nước thời M inh Tri phủ (phủ) Tri huyện (huyện) Xã trưởng (xã) Triều Thanh (1644 -1911). Người Mãn Thanh thuộc một tộc người ở vùng miền Bắc Trung Quốc. Lợi dụng phong trào dấu tranh của nông dân Trung Quốc chống lại nhà Minh, họ đã tiến công lật đổ triều Minh, lập ra nhà Thanh năm 1644. Là một triều đại ngoại tộc, lại có trình độ phát triển thấp hơn so với người Hán nên khi thống trị Trung Quốc, nhà 132 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Thanh vẫn tiếp tục xây dựng chế độ quân chù chuyên chế cực đoan. Mặt khác, nhà Thanh cũng thi hành chính sách phân biệt sắc tộc rõ rệt. Mọi việc do Hoàng Đế trực tiếp quyết định. Dưới Hoàng Đế là một cơ quan tối cao gọi là "Quán cơ xứ', do Hoàng Đế trực tiếp lãnh đạo để giải quyết những vấn đề quan trong nhu bổ nhiệm, bãi miễn quan lại. Thành viên của quận cơ xứ bao gồm các quý tộc cao cấp người Mãn tham dự. Sáu bộ chỉ là cơ quan chấp hành theo ý chí của Hoàng Đế. Theo quy định của Hoàng Đế thì chỉ một số quan lại cao cấp nhất định mới được phép tấu trình, còn các quan lại khác không được làm điều đó. Do vậy, Hoàng Đế nhà Thanh ngày càng xa dần cấp dưới. ở địa phương, Hoàng Đế trực tiếp bổ nhiệm quan lại các tỉnh. Quan lại người Hán không được nhận chức ở quê nhà. Quy định này nhằm ngăn ngừa quan lại Hán tộc liên hệ với nhân dân Hán ở địa phương. Chỗ dựa chủ yếu của chính quyền nhà Thanh là quân đội. Quân đội chia làm hai loại: Quân bát kì (của triều đình) và quân lục doanh (quân đội Hán tộc ở các địa phương). Quân bát kì là quân chủ lực, gồm cả người Mãn Thanh, người Mông, người Hán, đóng ở kinh đô và các vùng trọng yếu, được ưu đãi và khống chế cả quân lục doanh. 3. Đặc trưng của nhà nước phong kiến Trung Quốc a. Nhà nước phong kiến Trung Quốc là chính thể quân chủ chuyên chế điển hình ở pltương Đông, ơ bất cứ triều đại 133 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
nào, đều xây dựng theo mô hình quân chủ chuyên chế ngày càng phát triển mang tính cực đoan. Biểu hiện cơ bản, trước tiên của chính thể quân chù chuyên chế là thực hiện trung ương tập quyền cao độ. Trung ương tập quyền, nhrng quân quyền là trên hết. Hoàng Đ ế là người nắm mọi quyền lực, vương quyền,'thần quyền và pháp quyền. Quan lại các cấp đều là tôi tớ của Hoàng Đế, dân chúng trong nước đéu là thần dân của vua. Hệ thống quan lại được tổ chức hai cấp, cấp trung ương và cấp địa phương với đẳng cấp phân minh, biên chế chạt chẽ. Những quan lại của hai cấp chính quyền này thực hiện quyền lực của Hoàng Đế khắp hang cùng ngõ hẻm. Họ trở thành dại biểu của vua vi thông qua họ, nhà vua có thể kiểm soát được toàn quốc, toàn dân, nhờ đó chế độ quân chủ chuyên chế càng đuợc củng cố. Cơ cấu của nhà nước theo hệ thống nhất nguyên, ngoài quyền lực của Hoàng Đế, không có cơ cấu lập pháp, tư pháp và hành pháp. Người đứng đầu hành chính địa phương do Hoàng Đ ế bổ nhiệm đồng thời cũng là quan tư pháp. Tất cả các quan chức to, nhỏ và mọi cơ quan nhà nước chỉ có quyền tư vấn cho nhà vua và thực thi những mệnh lệnh bắt nguồn từ Hoàng Đế Trong lịch sử phát triển lâu dài của mình nhà nuớe phong kiến Trung Quốc không tránh khỏi những thời kì bị phân quyền cát cứ ngắn như thời Tam Quốc, Nam Bắc Triều, Ngũ đại thập quốc. Nhưng trạng thái phán quyền cát cứ chỉ là tạm thời, nó không phá vỡ được cả tiến trình phát triển của nền 134 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
quân chủ chuyên chế. Chính thể quân chủ chuyên chế phong kiến Trung Quốc tồn tại và phát triển dựa trên những cơ sở và do những nhu cầu sau: - Cơ sở kinh tế xã hội: Đó là chế độ sở hữu nhà nước về ruộng đất. Đó ĩà sự tồn tại của công xã nông thôn, tạo nên cơ sở vật chất của nhà nước quân chủ chuyên chế. - Cơ sở chính trị: Giai cấp địa chù Trung Quốc hầu hết là trung và đại địa chủ. - Cơ sở tư tưởng của nhà nước quân chủ chuyên chế Trung Hoa là thuyết chính trị nho giáo. Nhà nước quân chủ chuyên chế Trung Quốc được thiết lập, không chỉ đáp ứng nhu cầu tổ chức công cuộc trị thuỷ - thuỷ lợi, đàn áp phong trào đầu tranh của nhân dân trong nước mà còn đáp ứng yêu cầu bành trướng và xâm lược của giai cấp phong kiến ra bên ngoài. b. Một đặc trưng khác của nhà nước phong kiến Trung Quốc là trong gần như suốt thòi kì tồn tại của mình, nhà nước luôn luôn sử dụng Nho giáo làm hệ tư tưởng thống trị. Nho giáo là một học thuyết do Khổng tử khởi xướng từ thời Xuân Thu và sau đó được tiếp tục bổ sung phát triển trong các thời kì sau. Tư tưởng cơ bản của học thuyết Nho giáo là muốn tạo ra những thể chế xã hội ổn định trong trật tự gia đình, trong nhà nước, coi việc bảo đảm lợi ích của giai cấp thống trị là mục tiêu cơ bản. Phương pháp giải quyết các mối quan hệ trong xã hội của Nho giáo là bắt phải tuân theo vô điều kiện: Người trẻ 135 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
tuổi phải phục tùng người nhiều tuổi; người dưới phải phục tùng người trên; người không phải là người Trung Quốc phải phục tùng người Trung Quốc. Tam cương là nền tảng giáo lí của đạo Nho. v ề mặt chính trị, thực chất môi quan hệ vua - tôi; cha - con; chồng - vợ nhằm củng cố trật tự đẳng cấp phong kiến mà cụ thổ là trật tự quan liêu và trật tự gia trưởng. Trong đó, trung quân là cốt lõi của mọi trật tự xã hội và quan hệ xã hội. Rõ ràng, mục tiêu giáo lí của Nho giáo là xây dựng một nhà nước quân chủ chuyên chế và bành trướng xâm lược ra bên ngoài. Cho nên, ngay từ sớm và trong suốt quá trình tổn tại, giao cấp thống trị Trung Quốc đã lấy Nho giáo làm cơ sở lí luận và tư tường cho công cuộc xây dựng và cùng cố nhà nước. c. Một đạc trưng nữa của nhà nước phong kiến Trung Quốc là luôn luôn tiến hành các cuộc chiến tranh xâm lược nhầm m ỏ rộng lãnh thổ và ách thống trị của mình. Chức nãng xâm lược ra bên ngoài là một trong những chức năng cơ bản của nhà nước phong kiến Trung Quốc. Ở Trung Quốc, suốt lịch sử 2000 năm của thời kì phong kiến, hầu hết các triều đại đều là các đế chế lớn: Tần, Hán, Tùy, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh. Trên cơ sở lịch sử lâu đời và phát triển kế tiếp của các nền đế chế, nên nhà nước phong kiến Trung Quốc rất giàu kinh nghiệm và thủ đoạn trong việc áp bức bóc lột nhân dân trong nước và chinh phục đồng hoá các dân tộc khác. Theo quan niệm của đạo Nho, hệ tư tưởng của giai cấp thống trị phong kiến Trung Quốc thì thiên hạ rất rộng, tất 136 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
cả các vùng ngoài Trung Quốc đều là thiên hạ. Nó bao gồm hầu như tất cả các dân tộc và quốc gia trên trái đất đều thuộc về Hoàng Đế Trung Quốc, do vậy, thiên hạ đồng thời cũng là đế chê của Trung Quốc. Hoàng Đế Trung Quốc có nhiệm vụ "Bình thiên hạ" tức là phải chinh phục các naớc khác. Trong quá trình chinh phục các nước, các đế chế phong kiến Trung Hoa đã kết hợp nhiều phương thức và thủ đoạn. - Chinh phục đi đôi với đồng hoá là phương thức cơ bản và điển hình nhất. Muốn nô dịch và thôn tính các nước thì phải tiến hành chiến tranh xâm lược. Nhưng chinh phục bằng vũ lực phải gắn liền với việc thực hiện chính sách đổng hoá, thì mới xoá bỏ được cội nguồn của dàn tộc bị chinh phục và sát nhập vĩnh viễn quốc gia đó vào lãnh thổ Trung Quốc. - Kết hợp các thủ đoạn ngoại giao, kinh tế, chính trị, quân sự. Triệu Đà dùng thủ đoạn ngoại giao bằng cách cầu hôn công chúa MỊ Châu ở Âu Lạc cho con trai mình là Trọng Thuỷ. Trọng Thuỷ sang Âu Lạc ở ré và lấy cắp nỏ thần (một loại vũ khí lợi hại). Liền sau đó Triệu Đà đem quân sang xâm lược Âu Lạc. - Di dân, lấn chiếm lãnh thổ, quấy rối biên giới các nước láng giềng, tiến tới vũ trang xâm lược. - Lôi kéo, chia rẽ dùng nước này đánh nước khác. Thủ đoạn này thể hiện trong phương châm "Hợp tiểu dĩ công đại, địch quốc chi hình dã, dĩ Man di công Man di, Trung Quốc chi hìnli dã" (Hán Thư), nghĩa là: Liên kết các nước nhỏ để đánh nước lớn là hình thế của các nước địch, dùng Man di 137 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
đánh Man di là hình thế của Trung Quốc. Như vậy. với nền đế chê tồn tại lâu dài, phát triển liên tục và tiềm lực rất lớn về người và của, nhà nước phong kiến Trung Quốc luôn luôn củng cô tâm lí sô vanh, tư tưởng bá quyền nước lớn và tạo nên nhiều kinh nghiệm, thủ đoạn xâm lược, bành trướng. II. PHÁP LUẬT So với luật pháp trung cổ phương Đông, luật pháp phong kiến Trung Quốc tương đối phát triển. Luật pháp của nhà nước phong kiến Trung Quốc có 5 nguồn chủ yếu: Lệnh: Chiếu chỉ của Hoàng Đế ban ra. Luật: Quy định về chế độ ruộng đất, sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi, thương nghiệp v.v... Cách: Những cách thức làm việc của quan chức nhà nước. Thức: Thể thức có liên quan đến việc khám nghiệm, tra hỏi, xét x ử ... Lệ: Án lộ. Việc hệ thống hoá và pháp điển hoá được chú trọng và được tiến hành thường xuyên, đó là các bộ luật, các tập hội điển. Ớ mỗi triều đại phong kiến Trung Quốc đều ban hành và áp dụng luật pháp phù hợp với tình hình xã hội của triều đại mình. Sau khi thống nhất Trung Quốc, để bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị và xây dựng một nhà nước quân chủ chuyên chế, Tần Thuỷ Hoàng hết sức chỉnh đốn, sửa sang đất nước bằng chê độ pháp trị, hình pháp nghiêm ngặt. Gần đây. người ta đã phát hiện một tập hệ thống hóa luật 138 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
lệ của Nhà Tần trong một cuộc khai quật khảo cổ ở Vân Mộng (Hồ Bắc). Bộ luật này do Thừa Tướng Lý Tư sưu tầm và hệ thống hóa. Nội dung của Tần luật kế thừa bộ Pháp kinh của Lý Khôi thời Chiến Quốc. Nó bao gồm nhiều hình thức pháp luật như: - Lệnh (sắc lệnh, chiếu chỉ của Hoàng đế ban bố); - Luật (về chế độ ruộng đất, luật chăn nuôi, luật thương nghiệp, luật quản lý thuế má, luật quy định, ngạch bậc thủ công nghiệp nhà nước V.V.); - Pháp luật vấn đáp (giải thích hình luật); - Thức (Thể thức tra hỏi, xét xử...); - Lệ: Án lộ. Như vậy, luật nhà Tần đã thể hiện khá đầy đủ các chế định của dân sự, hình luật và tố tụng, về hình phạt, theo bộ luật này hình phạt giam cầm thay thế cho một số hình phạt mang tính chất nhục hình. Nhưng nhìn chung các hình phạt rất tàn ác. Từ đời Hán trở đi, tư tưởng Nho giáo trở thành linh hồn của luật pháp. Tuy đật ra hình luật nhưng nhà Hán lại đề cao đức trị. Đó là tư tưởng pháp lí "Đức chủ hình phụ" (lấy đức làm chủ yếu, còn hình phạt là phụ). "Lễpháp tịnh dụng" (lễ và pháp cùng áp dụng ngang nhau). Trên cơ sở đó, dưới thời Hán Cao Tổ (206 - 194 trước công nguyên) thừa tướng Tiêu Hà tham khảo luật các đời trước, soạn ra "Cửu chương luật". Bộ luật này có 3 chương mới được bổ sung là Hộ luật (hôn nhàn, gia đình); Hưng luật (thuế khoá, lao dịch...) và Cứu luật (quân đội, chuyên chở, chuồng voi, chuồng ngựa...). Đến đời Hán Vũ Đế (140 - 87 trước công nguyên) còn 139 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
cho soạn thảo những luật liên quan đến việc cảnh vệ ớ cung đình, luật liên quan đến việc lễ nghi, triều chính V.V.. Về hình phạt, nhà Hán đã có chính sách cải cách hình luật, giảm nhẹ nhục hình bằng cách áp dụng hình thức xử phạt khác như: cạo đầu, lấy vòng sắt buộc quanh trán đày đi làm lao công xây dựng thành, thay thế cho hình phạt khắc chữ trên mật, đánh roi thay cho hình phạt cắt mũi, chặt đầu gối... Đổng thời, còn đặt ra chế định giảm nhẹ hình phạt (đối với người già trên 70 tuổi, trẻ em dưới 10 tuổi, người tàn tật...) và miễn trách nhiệm hình sự (đối với người già trên 80 tuổi, trừ tội vu cáo và giết ngưòi, trẻ dưới 7 tuổi). Đến nhà Đường, chủ trương của nhà nước là "an nhân ninh quốc" (dân yên ổn, nước thái bình) và "ước pháp tỉnh hình" (pháp luật đơn giản, hình phạt nhẹ). Hình thức pháp luật chủ yếu là luật, lệnh, cách, thức. Trong đó luật là hình thức chủ yếu của pháp luật để dựa vào đó mà định tội và xử phạt. Hoạt động lập pháp thời Đường tập trung ở bốn đời vua: Cao Tổ. Thái Tòng, Cao Tông và Huyền Tông. Năm 624, Đường Cao Tổ chế định ra hộ luật Vũ Đức gồm 500 điều, áp dụng trong cả nước. Ngoài bộ luật đó ra, còn có 30 quvển lệnh (gồm các thể chế của quốc gia và pháp quy của chê' độ) và 14 quyển Ihức (thể thức công văn. lề lối làm việc của cơ quan nhà nước). Đời Đường Thái Tône (627 - 650). bộ luật Vũ Đức được tu chỉnh bổ sun? thành bộ "Luật Trinh Quán" cũng gần 500 điều. Ngoài ra, còn có 60 quyển lênh. 18 quyển cách và 20 quyển thức. Đời Đường Cao Tông (650 - 684) tướng quốc Trương tôn Vô KỊ hệ thống hoá luật thành bộ luật "Vĩnh H uy" trong đó cũng chia thành lệnh. 140 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
luật, cách Ihức. Đặc biệt, Trượng tôn Vô Kị đã sưu tầm. biên soạn các luật, lệnh của các đời vua nhà Đirờna thành bộ Đường luật sớ nghị hay còn gọi là Đường luật thư Iiíihĩa. Bộ luật này bắt đầu được xây dựng từ năm 624, qua nhiều lần sửa chữa, soạn thảo lại và hoàn thành vào nãm 653. Sau đó được sửa đổi nhiều lần nữa và văn bản hoàn chính được ban hành vào năm 737 đời vua Đường Huyền Tông. Đây là vãn bản mà ngày nay chúng ta biết đến, gồm 502 điều, chứa đựng các quy phạm về hộ, hôn, điền sản, hình luật, thể thức hành chính... Nội dung điều chỉnh của bộ luật khá rộng và li mỉ. Các đối tượng điều chỉnh được sắp xốp thành từng nhỏm theo các chương mục tương đối hợp lí rõ ràng. Các điều khoản đều dưới dạng quy phạm của luật hình. So với các triều đại trước, các loại hình phạt của Đường luật sớ nghị thể hiện rõ tính chất khoan hồng nhân đạo hơn. Nó bãi bỏ những hình phạt tàn khốc như lãng trì (xẻo từng miếng thịt); liệt (xc xát) và dinh tội có phần nhẹ hơn. Năm loại hình phạt từ thấp đèn cao quy định trong Đường luật sớ nghị là: Xuy. trương, đô. lưu. tư (gồm hai bậc: trảm và giảo). Đường luật sớ nghi là bỏ luát nòi tiếng trong luật pháp phong kiến Trung Hoa. có ảnh hương rát lớn đến các bộ luật Trung Quốc sau này cũng như các bộ luật Triều Lí, Triều Lê ở Việt Nam. Thời nhà Tống có bộ "Tống hình thống", thưc chất bộ luật này chủ yếu là phiên bản của Đường luật sớ nghi. Hay nói một cách cụ thế, những người biên soạn đã tập hơp những quy phạm hình sư trong lênh, cách, thức từ thời Đường khai nguyên năm thứ hai (714) đốn thời Tống sơ Kicn Long nãm thứ ba (962). lức trong khoảng thời gian 150 năm 141 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
rồi thẩm định và biên soạn thành sách. Đời Tống còn áp dụng lệ - lệ là những bản án do các quan xét xử. khi trong pháp luật không được quy định bằng văn từ rõ ràng được thẩm phán đối chiếu, so sánh thành lệ rồi định án. Nhưng theo quy định của thời Tống thì "phàm pháp luật không có ghi sau đó mới dùng lệ". Như vậy, lệ cũng có hiệu lực như pháp luật. Thời nhà Nguyên, nãm 1291, Hốt Tất Liệt ban bố bộ pháp điển đầu tiên có tên là "Chí nguyên tân cách". Đến năm 1323, có bộ luật thứ hai là "Đại nguyên thôhg ch ế'. Pháp luật nhà Nguyên thể hiện rõ sự kì thị và áp bức dân tộc. Người Hán phạm tội sẽ bị xử nặng hơn người Mông c ổ phạm tội. Nếu người Mông c ổ đánh người Hán, người Hán không được đánh lại, nếu người Hán đánh lại người Mông c ổ bị thương thì sẽ bị xử phạt rất nặng thậm chí có thể bị xử tử. Pháp luật đời nhà Minh có “Luật Đại Minh" quy định những hình phạt rất nghiêm ngặt. Vào năm 1500 nhà Minh còn ban hành "Vấn hình điều lệ", trong đó quy định đùng lê để bổ sung những điều luật thiếu sót. Trong thời nhà Thanh, ngay từ đời Thanh Thế Tổ đã ban bố "Đại Thanh Luật". Đến đời Càn Long năm thứ 5 (1740) tu chỉnh lại và có tên là "Đại thanh luật lệ" bao gồm 1412 điều. Bộ luật điều chỉnh nhiều lĩnh vực khác nhau, các quan hệ dân sự về ruộng đất, hôn nhân và gia đình, thừa kế, mua bán V. V.. Các loại tội phạm trong lĩnh vực kinh dịch và quán sự, các tội phạm hình sự và các trọng tội. Trong bộ luật hầu như tất cả các chế tài (kể cả nhiều chế tài dân sự) đều áp dụng chế tài hình sự. 142 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Luật nhà Thanh còn thể hiện rất rõ sự phân biệt đối xử giữa người Mãn Thanh và người Hán. Chẳng hạn, theo bộ luật "Đại thanh luật lệ" người Mãn Thanh phạm tội được xét xử ớ cơ quan riêng, vào nhà ngục riêng. Người Mãn Thanh được đặc quyền giảm hình như đánh bằng trượng thì thay bằng roi, đi đày thay bằng mang gông... Bộ luật còn có đủ các hình phạt tàn khốc của các triều đại trước thường dùng như thích chữ, diệt tộc, bêu đầu, lãng trì, xé xác... Ngoài ra, các triều vua Thanh còn cho biên soạn những bộ hội điển (pháp điển hành chính nhà nước) như Khang hi hội điển, Càn Long hội điển, Gia Khánh hội điển, Quang Tự hội điển... Nhìn chung, pháp luật của nhà nước phong kiến Trung Quốc có những đặc trưng nổi bật sau: 1. Luật pháp phong kiến Trung Quốc kết hợp giữa Lễ và Hình Lễ là nguyên tắc xử sự của con người thuộc các đẳng cấp khác nhau trong các quan hệ xã hội. Lễ là nội dung, trọng tâm của Nho giáo. Lễ giáo phong kiến xác lập và củng cố tam cương, ba mối quan hệ cơ bản trong xã hội, quan hệ vua - tôi, quan hệ cha mẹ - con cái, quan hệ chồng - vợ. Đó là trật tự của xã hội phong kiến. Hình là hình phạt, hay nói rộng ra là pháp luật. Từ thời nhà Hán trở đi, sự kết hợp giữa lễ giáo và hình luật ngày càng thể hiện nổi bật. trở thành tư lường chủ đạo trong xã hội phong kiến, trong việc xây dựng và thực thi pháp luật. Hán vũ Đô chủ trương "bãi truất bách ¡ịia, độc tôn 143 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
nho thiiật". Theo đó việc chế định pháp luật cũng nhu thực thi pháp luật đều lấy nhũng nguyên tắc lễ nghĩa của Nho giáo làm sự chỉ đạo. Trong mối quan hệ giữa lễ và hình thì hình dùng các nguyên tắc của lẽ làm sự chỉ đạo, còn lẻ mượn sự cưỡng chế của hình để duy trì. Nguyên tắc lẻ nghĩa của Nho giáo cũng được dùng để giải thích pháp luật và được dùng vào cả việc phán xét. Đó là sự Nho hoá các quy phạm pháp luật. Nhưng từ đó sinh ra hiện tượng ''tội đồng luận dị" (tội giống nhau, nhang phán xét lại khác nhau). Và do vậy, tệ quan lại xét xử một cách võ đoán hoành hành. Điển hình là Đổng Trọng Thư chủ trương dùng sách "Xuân Thù' của Khổng Tử để làm cơ sở cho việc xử án. Tam cương là nội dung cơ bản trong giáo lí của đạo Nho và được pháp luật bảo vệ bằng việc quy định 10 trọng tội (thập ác). Trong đó các tội trái với đạo hiếu có 6 tội (ác nghịch, bất đạo, bất hiếu, bất mục, bất nghĩa, nội loạn). Các tội bất trung đối vói hoàng quyền phong kiến có bốn tội (mưu phản quốc, mưu đại nghịch, mưu phản loạn, đại bất kính). Trong quan hệ hôn nhân, theo giáo lí đạo Nho và cũng là theo luật pháp quy định, người chồng có quyền li dị vợ nếu người vợ chỉ cần phạm một trong 7 điều sơ suất (thất suất): khóng con, dâm dật, không phụng sự cha mẹ chồng, miệng lưỡi nói năng lung tung, trộm cắp, ghen tuông, ác tật. Luật pháp từ Hán đến Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh đều "nhất chuẩn hồ lễ" (chỉ lấy lễ làm chuẩn). Hay nói cách khác luật pháp luôn luôn củng cô' và bảo vệ lễ giáo phong kiến, trật tự đẳng cấp của xã hội phong kiến, chính thể quân chủ chuyên chế phong kiến. 144 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
2. Sự kết hợp giữa Đức trị với Pháp trị và hòa đóng giữa quy phạm pháp luật vói quy phạm đạc đức Đổ trị dân, giai cấp thống trị có trăm ngàn biện pháp. Dụ dỗ và dọa nạt, khủng bố và lừa phỉnh, tất ca đều là những biện pháp để trị dân, nô dịch dàn. Hai quan điểm đối lập đã từng tổn tại dai dẳng trong trong xã hội phong kiến Trung Quốc: quan điểm của Pháp gia và quan điểm của Nho gia. Đó là việc nên dùng pháp luật mà trừng trị? Hay nên dùng đạo đức mà giáo dục? Nho gia chủ Irương lấy đạo đức để răn dạy con người, từ đó ổn định xã hội, giữ vững trật tự phong kiến. Đạo đức ờ đây là đạo đức Nho giáo. ở thời Xuân Thu, chủ yếu dùng pháp luật để cai trị. Chính sách của những ông vua thời Ngũ bá thiết thực, thướng phạt phân minh, đưa dân vào cuộc sống có quy củ Chính sách ấy gạt đạo đức sang một bên và có thổ tóm gọn như sau: Mọi người phải tôn trọng nhà vua. Vua là người đặt ra pháp luật, có quyên cho dàn sống, bắt dân chết. Nếu không tôn quân thì nước không được yên. Vua không yên thì bản thân dân cũng không được yên. Còn vua phải yêu dân thì dân mới phục tùng và vua mới mạnh Pháp trị đòi hỏi phải rành rọt về luật, lệnh, hình, chính. Luật để mọi người nhận rõ vị trí của mình. Lệnh để dân biết bổn phận phải làm gì. Hình để trừng trị kẻ phạm pháp. Việc trừng trị phải công minh thì kẻ có tội mới không oán, kẻ vô tội mới không lo sợ. 145 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Chính là tất cả các biện pháp kinh tế, chính trị đế sửa chữa cho dàn, đưa họ vào khuôn khổ pháp luật. Luật pháp phải minh bạch, phải hợp lí đối với đời sống nhân dân theo nguyên tắc thiên thời, địa lợi, nhân hoà. Muốn thi hành pháp luật thì phải chuẩn bị cho dân hiểu pháp luật rồi mới áp dụng. Muốn cho mọi người tuân theo pháp luật, thì người trên phải gương mẫu. Pháp luật trước khi ban hành phải được cân nhắc kĩ, không được nay sửa mai đổi thì dân sẽ không biết ứng xử ra sao, dù thưởng có lớn dân cũng không ham, phạt có nặng dân cũng không sợ. Sau cùng, việc xử án phải chí công vô tư, không khoan dung người mình yêu, không khắc nghiệt người mình ghét. Một nguyên tắc nổi tiếng của pháp trị là "Trời không vì một vật nào mà làm thay đổi bốn mùa. Minh quân, thánh nhân cũng không vì một vật nào mà thay đổi luật pháp". Chính vua cũng không được tùy tiện thay đổi luật pháp. Luật pháp phải được áp dụng nhất luật với mọi người. Nước nào mà vua tôi, trên dưới, sang hèn, đều theo pháp luật thì nước ấy rất bình trị. Đến thời Chiến quốc, nói đến pháp trị phải nói đến tên tuổi của Thương u&ng, Hàn Phi, Lí Tư. Đó là những người đã góp phần rất quan trọng làm cho nước Tần trở nên cường thịnh và thống nhất Trung Quốc. Theo Thương Uơng, muốn bảo đảm trật tự trong xã hội, thì phải làm cho dân tin cậy chính quyền và giữ gìn phép nước. Lệnh đã ban ra rồi, nhưng sợ dân còn chưa tin, Thương 146 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
uờng dùng biện pháp sau: Ông sai người chặt một cây gỗ ở cửa Nam kinh thành và cáo thị rằng: người nào vác được cây gỗ ấy từ cửa Nam sang cửa Bắc thì được thưởng 100 lạng vàng. Thấy thưởng hậu, mọi người lây làm lạ, không tin. Ông lại ra lệnh mới: ai dời cây gỗ thì được thường 500 lạng vàng. Một người đã thử dời cây gỗ đó xem có được thưởng gì không. Khi cây gỗ đã được chuyển tới cửa Bắc thì lập tức chiêng trống rầm trời. Thừa tướng đích thân mang 500 lạng vàng tặng cho người ấy. Từ đó, dãn Tần tin rằng, từ nay lệnh của triều đình đã ban hành ra thì thế nào cũng được thi hành đúng. Sau Thương Uơng phải kể đến Hàn Phi. ông mới thực là linh hổn của tư tưởng pháp trị. Theo Hàn Phi, xã hội biến thiên bản tính con người là mưu lợi riêng, chỉ có pháp luật mói bảo vệ được trị an, xã hội, mới loại bỏ được lòng tư lợi quá đáng của mọi người, pháp luật trở thành chuẩn mực cao nhất của việc trị quốc. Lí Tư làm tể tướng, giúp Tần Thủy Hoàng vận dụng pháp trị. Lí Tư lên án Nho giáo và cương quyết thanh trừng nhà Nho: "Trước đây, thiên hạ loạn lạc kliông thôhg nhất, các nhà Nho dấy lên, định bàn đến cái gi là dẫn đời xưa để làm hại đời nay, nói những lời trôhg rỗng để làm rối loạn trật tự... Nay Hoàng Đ ế đã gồm cả thiên liạ mà những nhà Nlio vẫncứ cùng nhau bác bỏ pháp giáo của nhà vua. Mỗi khi nhà vua có hiệu lệnh gì xuống lìỌ cứ lấy cái học của họ để nghị luận trong lòng không cho là phải, mà cứ túm nám lụm ba để bàn... Nếu để như thế mà không cấm thì ỏ trên uy thế của 147 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
VIta kém đi và ở dưới các đảng phủi xuất hiện, vậy xin cho cấm nga\ là tiện hơn cả”. Lí Tư kiến nghị: "Các sách Tlii Thư cùng Bách Gia Ngữ phải đem đất hết. Ai nói tliầm với nhan vê sách Thi Thư tlù chém bỏ xác nqpáì chợ. Ai lấy ẩ('ú xưa mà chê đời nay thì giết cả họ"... (theo Sử kí Tư Mã Thiên). Tần Thuỷ Hoàng đã ra lệnh đốt sách và sau đó chôn sống 460 nhà Nho tại Hàn Dương. Pháp trị cực đoan qua những hành động như trên được coi như một trong những nguyên nhân dẫn tới sự sụp đổ của nhà Tần, tạo điều kiện cho việc phục hồi tư tưởng đức trị cùa Nho giáo, hạ thấp vai trò pháp trị và từ đó gạt bỏ những nhân tố tiến bộ của pháp trị. Sau khi nhà Tần sụp đổ và thay thế bằng nhà Hán, Khổng Tử và học thuyết của ông được phục hồi. Theo Khổng Tử, pháp luật chỉ khiến người ta vì sợ mà không dám làm điều ác. Khi có thể dấu, khi có thể tránh được sự trừng phạt thì những kẻ xấu vấn làm điều ác. Đức trị thì khác, khi quyền lợi của giai cấp phong kiến biến thành quyền lợi của dân, nghĩa là thành hành vi tự nguyện của dân, thì họ sẽ không phạm tội nữa. Không phải vì sợ pháp luật mà vì sợ xấu liổ trước người khác, vì sợ bị cắn rứt bởi lương tâm của mình. Thực hành đức trị, giai cấp phong kiến đã đưa lợi ích và trật tự xã hội của nó thành những quy tắc đạo đức hàng ngày của mọi người. Đức trị là phương tiện lừa bịp của giai cấp thống trị. Nó khiến cho kẻ áp bức bóc lột dân lại trở thành ân nhân của dàn. Dùng bao thủ đoạn đê đồ vương tranh bá, nhưng lại nói rằng, vì thương dân mà phải làm vua, vua quan là bố mẹ của dân. 148 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Đức trị còn được bổ sung bằng lễ trị. Theo Khổng Tử, đạo đức chỉ được củng cô' bằng những nghi thức và những quy tắc trong đời sống. Cách ăn mặc, nói năng, chào hỏi... đều được quy định rất tỉ mi. Thái độ của bề tôi đối với vua, cúa con cái đối với cha mẹ, của vợ đối với chồng, đều được xác định rành rọt. Lễ trị là biện pháp chặt chẽ nhất để thực hiện Đức trị. Vi phạm các nguyên tắc của cái gọi là lễ ấy đều bị gia đình xỉ vả, xã hội lên án, nhà nước trừng trị. Từ thời Hán trở đi, nhìn chung trong suốt quá trình tồn tại của chế độ phong kiến, đức trị giữ vai trò chủ đạo. Vua chúa, vói địa vị độc tôn, không thi hành pháp luật một cách nghiêm chình. Khi nào đức trị không còn đủ sức mạnh để củng cố trật tự xã hội phong kiến thì nhà nước không ngần ngại sử dụng những biện pháp tàn bạo, vượt khỏi quy tắc thông thường của cả pháp luật và đạo đức. Đời Đường, đức trị của Nho giáo được hỗ trợ thêm bằng nhân trị kiểu phật giáo. Nhân trị ở đây khổng bao gồm nội dung khái niệm nhân của Nho giáo mà hiểu ở đây là lòng từ bir cứu nhân độ thế của phật giáo. Đến đời Tống, sự suy yếu của triều đại cũng thể hiện sự suy yếu của đạo đức Nho giáo. Một sô' học giả và quan chức muốn khôi phục pháp trị nhưng không thành. Lí Cấu (1009 - 1059) viết sách có nhiều chỗ ca ngợi những việc làm của Quản Trọng, Thương Uơng, Hàn Phi. Theo ông, nhà Nho bàn về chính trị chỉ biết ca ngợi vương đạo, mạt sát bá đạo(1), (1). N ho giáo thường coi đức trị là vương đạo, còn pháp trị là bá đạo. Vương đạo dùng chính giáo (giáo dục làm trọng). Bá đạo trọng hình pháp. 149 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
không biết rằng làm được như bá đạo cũng là một sự nghiệp to lớn và rất khó khăn. Người theo vương đạo chỉ bàn suông về nhân nghĩa mà bỏ qua cái cốt yếu, chính bá đạo lại thực hiện được, đó là làm cho nước mạnh. Vương An Thạch đã mạnh dạn áp dụng bá đạo để biến pháp (cải cách). Ông muốn theo chính sách của Quản Trọng, chú trọng phát triển kinh tế để làm cho dân giàu nước mạnh hơn là giáo dục suông về nhân nghĩa. Trong thòi kì suy thoái của nhà Minh, đại học sĩ Trương Cư Chinh phê phán Nho gia, muốn quay lại chính sách độc tài của nhà Tần, nhưng không thành công. Cuối đời Thanh, Nho giáo và tư tưởng đức trị cũng bị phê phán kịch liệt. Tóm lại, pháp trị là tư tưởng chủ đạo và đuợc thực hành ở thời kì xã hội chiếm hữu nô lệ (cụ thể là thòi Xuân Thu - Chiến Quốc) và ở buổi ban đầu của chế độ phong kiến (nhà Tần). Còn Đức trị (của Nho giáo) là tư tưởng chủ đạo được thực hành gần nhu suốt trong chế độ phong kiến từ Hán đến Thanh. Và đương nhiên, trong suốt quá trình đó, tư tưởng pháp trị trong một chừng mực nhất định đã đuợc lồng ghép và hoà trộn vào đức trị. Pháp trị hay đức trị đều cùng một bản chất. Đó chỉ là những biện pháp cai trị khác nhau, chỉ là sự khác nhau vể việc áp dụng pháp luật. Trung Quốc là nước lớn, có nền văn minh phát triển sớm và thường xuyên chinh phục, bành trướng đồng hoá các dân tộc, quốc gia lân cận. Văn hoá Trung Hoa có ảnh hưởng lớn tới nhiều nước phương Đông như Triều Tiên, Nhật Bản, Việt 150 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Nam. Riêng về nhà nước, pháp luật sự ảnh hưởng đó thể hiện ở bốn điểm nổi bật: 1. Tư tưởng chính trị pháp lí Nho giáo 2. Xác lập hình thức nhà nuớc quân chủ tuyệt đối trên cơ sở một nền kinh tế nông nghiệp tự nhiên, manh mún. 3. Mô hình tổ chức hành chính theo chế độ lục bộ và một số cơ quan chức nãng khác; mô hình tổ chức đơn vị hành chính địa phương theo chế độ quận huyện; chế độ quan lại,.. 4. Tư tưởng pháp luật kết hợp trong đó cả Đức trị và Pháp trị; hình thức pháp luật, kĩ thuật làm luật và nhiều chế định pháp luật B. NHẬT BẢN Mãi đến thế kỉ I, Nhật Bản mới bước vào thời kì đồ đổng. Trên cơ sở sự phát triển của sức sản xuất và phân hoá giai cấp, đến thế kỉ III, ở Nhật xuất hiện những nhà nước chiếm hữu nô lộ. Từ thế kỉ V, các nước được hợp nhất thành một nhà nước trung ương tập quyền. Cũng như nhiều nước khác ở phương Đông, quan hệ nô lệ ở Nhật Bản không phải là quan hệ nô lệ điển hình như ở phương Tây. I. CUỘC CẢI CÁCH TAI CA VÀ s ự THÀNH LẬP CHẾ ĐỘ QUÂN CHỦ CHUYÊN CHẾ PHONG KIẾN Từ thế kỉ VI, nhất là từ thế kỉ VII, sức sản xuất đã phát triển, nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp Nhật Bản có bước tiến rõ rệt. Nhưng tầng lớp nhân dân lao 151 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
động như nô lệ, nông dân tự do, bộ dân(l) vẫn bị bóc lột tàn khốc. Những cuộc phản kháng của họ thường xuyên xảy ra mà một trong những hình thức là bỏ trốn. Dần dẩn, một số chủ nô thay đổi hình thức bóc lột bằng cách: ruộng đất của chủ nô được chia làm hai phần. Một phần phát canh cho nô lộ và bộ dân để thu tô. Một phần vẫn do chủ nô trực tiếp quản lí và sử dụng nô lệ để cày cấy, nhưng cho phép nô lệ được tự do thân thể. Như vậy quan hệ phong kiến bắt đầu hình thành. Đồng thời, trong thời gian này ảnh hưởng của chế độ phong kiến Trung Quốc đối với Nhật ngày càng sâu rộng. Sự ảnh hưởng đó qua hai con đường, thứ nhất là qua những người Trung Quốc và Triều Tiên di cư sang Nhật, hai là qua một sô' quý tộc quan lại từng đi sứ sang Trung Quốc hoặc du học ở đó. Dần dần, trong giai cấp quý tộc Nhật Bản hình thành hai phái, một phái chủ trương tiếp tục duy trì chế độ cũ, phái khác, chủ trương noi theo mô hình tổ chức cùa phong kiến nhà Đường. Năm 645, Thái tử Cô tô cư (Hiếu Đức) đã từng du học ở Trung Quốc, lên ngôi Thiên Hoàng đặt niên hiệu là Tai Ca. Năm sau, Thiên Hoàng hạ chiếu cải cách, lịch sử gọi cuộc cải cách này là cải cách Tai Ca. Nội dung của cải cách Tai Ca như sau: - Bỏ chế độ tư hữu về ruộng đất của quý tộc, biến thành ruộng đất công. Bỏ chế độ bộ dân, biến thành thần dân của ( 1 ). Bộ dân khác nỏ lệ: H ọ là người c ó g ia đình và chút ít tài sàn riêng. H ọ bị lệ thuộc vào q uý tộc, phải đi lao dịch và nộp sản phẩm ch o chù. Đ ịa vị của bộ dân th íp hơn địa vị nông dân tự do. 152 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
nhà nước. Trên cơ sở đó, nhà nước thi hành chế độ "ban điền". Nông dàn, bộ dân cũ, một số nô lệ được chia ruộng cày cấy (theo định kì) nhưng họ không có quyổn sở hữu. Người nhân ruộng hàng năm phải nộp thuế "tô, dung, điệu" giống như nhà Đường. Tô, nộp bằng lúa; điộu nộp bằng tơ lụa, bông vải hay thổ sản; dung nộp bằng vải thay cho lao dịch. Như-vậy, vói cuộc cải cách này, trong xã hội hình thànli hai giai cấp cơ bản của chế độ phong kiến. Đó là nông dân được định kì cấp ruộng đất và trở thành đối tượng bóc lột chủ yếu của nhà nước và giai cấp thống trị. Còn quý tộc cũ tuy địa vị chính trị và quyền lợi kinh tế vẫn được bảo đảm, nhưng do phương thức bóc lột thay đổi nên họ trở thành giai cấp quý tộc phong kiêh. Dù làm quan chức hay không làm, các quý tộc đều được nhà nuớc ban cho những tước vị nhất định, căn cứ vào tước vị, chức vụ, công lao mà được ban cấp ruộng đất và các hộ nông dân sống ở đó. Quý tộc phong kiến phát canh cho nông dân thiếu ruộng đé thu tô. - Thiết lập bộ máy nhà nước quân chủ chuyên chế phong kiến. Thiên Hoàng là chủ sở hữu tối cao về ruộng đất trong cả nước, là người có quyền uy cao nhất. Thiên Hoàng được thẩn thành hoá, được coi như một vị thánh sống. Các quý tộc đều là bề tôi và phải lệ thuộc vào Thiên Hoàng. 0 triều đình, dưới quyền và giúp việc cho Thiên Hoàng có vị quan cao nhất là Tể tướng và hai chức phó là tả thừa tướng, hữu thừa tướng. Sau đó là các thượng thư trông coi 8 bộ (bộ lễ, bộ lại, bộ hộ, bộ binh, bộ hình, bộ công, bộ ngân khố, bộ cung cấm). 153 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn