thống nhất Đức, nhằm tạo điều kiện cho đảng của giai cấp công nhân nắm chắc chính quyền. Năm 1948, Hội đồng nhân dân Đức được thành lập. T h á n g 9 /1 9 4 9 , c ác đ ế q u ố c p h ư ơ n g T â y và g iai c ấp tư sản Táy Đức thành lập nước Cộng hoà liên bang Đức. Trước tình hình đó, ngày 7/10/1949, Hội đồng nhân dân Đức đổi tên thinh Viện nhân dân lâm thời, tuyên bố thành lập nước Cộng hoà dân chủ Đức và thông qua Hiến pháp của Cộng hoà dân chủ Đức. Ngày 10/10/1949, ủ y ban quân chính Liên Xô, theo lệnh của chính phủ Liên Xô, trao chức năng quản lý Đông Đức cho chính phủ lâm thời nước Cộng hoà dân chủ Đức. Sau khi thành lập nước và thông qua hiến pháp, dựa trên cơ sở hiến pháp, Cộng hoà dân chủ Đức tiến hành bầu cử quốc hội và quốc hội cử ra chính phủ. Cộng hoà dân chủ Đức bước sang thời kỳ cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đến những năm 1970, Cộng hoà dân chủ Đức đã được nhiều nước trên thế giới công nhận và từ năm 1973 là thành viên của Liên hợp quốc. Đồng thời, Cộng hoà dân chủ Đức đã ban hành bản hiến pháp mới. Cơ quan quyền lực cao nhất của nhà nước là quốc hội. Hội đồng nhà nước là cơ quan thường vụ cùa quốc hội. Cơ quan hành pháp cao nhất là Hội đồng bộ trưởng. Ngày 3/10/1990, Cộng hoà dân chủ Đức sáp nhập vào Cộng hoà Liên bang Đức. 5. Cộng hoà nhân dân H unggari Trước và trong chiến tranh thế giới II, chính quyền phát xít Hunggạri là chư hầu của phát xít Đức. Tháng 3/1944, Đức chiếm đóng toàn bộ lãnh thổ Hunggari. 4 04 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Tháng 5/1994, Mặt trận Hunggari được thành lập, gồm Đảng cộng sản, Đảng xã hội dân chủ, Đảng nông dán toàn quốc, Đảng tiểu nông. Cương lĩnh giải phóng dân tộc và cải cách dân chủ của Đảng cộng sản là cơ sở của cương lĩnh Mặl trận Hunggari. Tháng 10/1994, quân đội Liên Xô tiến vào giải phóng Hunggari. Mặt trận Hunggari cải tổ thành Mặt trận dân tộc độc lập Hunggari. Tháng 12/1994, quốc hội lâm thời được triệu tập, thành lập chính phủ lâm thời. Chính phủ này tuyên chiến với phát xít Đức và đàm phán với Liên Xô. Tháng 1/1945, hiệp định đình chiến với Liên Xô được ký kết. Sau ngày giải phóng, chính quyền dân chú nhân dân thực hiện cải cách dân chủ. Ngày 17/3/1945, chính phủ lâm thời ban bố sắc lệnh cải cách ruộng đất. Các thế lực phản động tìm mọi cách chống lại các cải cách dân chủ. Đảng tiểu nông, một trong những chính đảng lớn nhất hổi đó, trở thành trung tâm thu hút các thế lực phản động. Trong cuộc bầu cử quốc hội mùa thu 1945, Đảng tiểu nông chiếm được đa sô' phiếu (57%). Đảng này đứng ra lập chính phủ và âm mưu đưa Hunggari trở lại con đường tư bản chủ nghĩa, định huỷ bỏ cải cách ruộng đất. Trước tình hình này, Đảng cộng sản đã đứng ra thành lập liên minh phái tả (gồm Đảng cộng sản, Đảng xã hội dân chủ, Đáng nông dân toàn quốc và các công đoàn) Liên minh phái tả tổ chức các cuộc biểu tình lớn của quần chúng nhân dân, phản đối việc trá lại ruộng đất cho địa chủ, đòi qu ố c hữu hoá các ngành cổng nghiệp, đ u ổ i bọn phản động ra khỏi bộ m áy nhà nước. T rước áp lực m ạnh m ẽ của quần chúng ch ú n g , bọn phài'ấ động phải nhượng bộ. Đ ảng cộng sản, tuy k h ô n g có đa số trong quốc hội và ch ín h phú. 405 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
nhưng dựa vào sự ủng hộ của đông đảo nhân dân và liên minh phái tả, nên thực tế đã lãnh đạo công cuộc khôi phục k in h tế v à cải c á c h d â n ch ủ . T h á n g 1 2 /1 9 4 6 . c ơ q u a n công an. do những người cộng sản nắm. phát hiện ra một âm mưu đao chính do những người lãnh đạo Đàng tiểu nông cám đáu. Vụ mưu phản bị dập tắt. Các phần tử phản động bị gạt ra khỏi các cơ quan cao cấp của nhà nước. Tháng 8/1947, cuộc bầu cử quốc hội mới được tiến hành trước thời hạn, vì quốc hội cũ không còn phù hợp với tình hình lúc đó nữa. Kết quả, các lực lượng tiến bộ thu được 60,2% số phiếu bầu, thế lực cánh hữu chỉ còn 39,8% tổng sô' phiếu. Chính phủ mới được thành lập, trong đó Đảng cộng sản giữ địa vị chủ yếu. Từ cuối năm 1947 đến đầu 1948, chính phủ quốc hữu hoá các ngân hàng, các xí nghiệp có trên 100 công nhân. Ngày 12/6/1948, Đảng cộng sản và Đảng xã hội dân chủ hợp nhất thành Đảng lao động Hunggari. Ngày 18/8/1949, quốc hội thông qua hiến pháp. Hiến pháp 1949 tuyên bố thành lập nước Cộng hoà nhân dàn Hunggari. Đất nước chuyển sang thời kỳ cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Năm 1956, lợi dụng những khó khăn về kinh tế và những thiếu sót về lãnh đạo của Đảng và nhà nước, bọn phản động, được sự giúp đỡ của phương Tây, tiến hành cuộc bạo loạn. Chúng thành lập "ú y ban cách mạng", "ú y ban dán tộc", dựng lên chính phủ phản động, tuyên bô' giải tán Đảng lao động Hunggari. Trước tình hình nguy ngập của đất nước, những người cộng sản chân chính đã đứng lên bảo vệ chế độ xã hội chủ nahĩa. Nsày 3/11/1956. Chính phủ công nông cách mạns được thành lập. Chính phủ kêu gọi nhân dân đứng lèn chốn” bon phiến loan, yêu cầu sự giúp đỡ cùa Liên Xô. 406 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Quân đội Liên Xô và lực lượng cách mạng Hunggari nhanh chóng dẹp tan cuộc bạo loạn. Sau vụ bạo động phản cách mạng, những người cộng sản Hunggari cải tổ lại hàng ngũ, thành lập Đảng công nhân xã hội chủ nghĩa. Bộ máy nhà nước được thiết lập lại. Hiên pháp mới được ban hành. Tổ chức bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa bao gồm: quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất và cơ quan thường vụ của nó là Hội đồng chủ tịch quốc hội. Cơ quan hành pháp cao nhất là Hội đồng bộ trưởng. Ngày 18/10/1989, Hiến pháp được sửa đổi Cộng hoà nhân dân Hunggari đổi thành Cộng hoà Hunggari. Cuối nãm 1989 - năm 1990, chế độ cộng hoà dân chủ nhân dân ở Hunggari đã sụp đổ. 6. Cộng hoà nhản dân Rumani Từ trước chiến tranh thế giới II, chính quyền Rumani đã phát xít hoá bộ máy nhà nước và trở thành một nước chư hầu của phát xít Đức. Ngày 23/11/1940, Rumani gia nhập "Liên minh chống quốc tế cộng sản". Phong trào chống phát xít phát triển mạnh từ khi hồng quân Liên Xô truy kích quân Đức trên đất Rumani. Tháng 5/1944, Đảng cộng sản ký hiệp nghị thống nhất hành động với Đảng xã hội dân chủ. Một tháng sau đó, khối dân chủ được thành lập, gồm Đảng cộng sản, Đảng xã hội dân chủ, Đảng dân tộc. Tháng 6/1944, Đảng cộng sản thảo ra kế hoạch khởi nghĩa vũ trang, thành lập uỷ ban quàn sự cách mạng. Ngày 23/8/1944, khởi nghĩa vũ trang bùng nổ khắp đất nước. C hính q u y ền phát xít bị lật đổ. N hưng chính quvền lại rơi vào tay giai cấp tư sàn. Chính quyền gồm đa số lực 407 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
lượng thiên hưu, chỉ có một bộ tnrởng cộng sản. Ngày 12/9/1944. hiệp định đình chiến giữa Rumani và Liên Xô được ký kết. Chính phủ cánh hữu tìm cách phá hoại việc thi hành hiệp định đình chiến và ngăn cản việc thưc hiện các cải cách dân chủ. Đại biểu của Đảng dần tộc và Đảng tự do dân tộc trong chính phủ khước từ hiệp định thống nhất hành động với các lực lượng dân chủ. Khối dân chủ bị tan vỡ. Đảng cộng sản lãnh đạo cuộc đấu tranh của nhân dân chống lực lượng phản động. Tháng 10/1944, Mặt trận dân tộc dân chủ được thành lập. nhằm tập hợp lực lượng nhân dân. Cương lĩnh của Mặt trận đo Đảng cộng sản soạn thảo, nêu rõ: Rumani phải tích cực tham gia cuộc chiến tranh chống phát xít Đức, cải cách ruộng đất, thực hiện cải cách dân chủ. Đảng cộng sản thành lập các đội công nhân về nông thôn tổ chức các ủ v ban nône thôn, tiến hành cải cách ruộng đất. Đồng thời ở các nhà máy. công nhân nắm quyền kiểm soát sản xuất. Lực lượng phản động âm mưu phát động nội chiến, để đàn áp phong trào dân chủ. Sự có mặt của quân đội Liên Xô đã ngăn chặn kịp thời cuộc nội chiến. Đảng cộng sản tổ chức nhiều cuộc biểu tình lớn trong cả nước, đòi chính phủ từ chức. Ngày 6/3/1945, Chính phủ cánh hữu bị đổ. Chính phù của Mặt trận dàn tộc dân chủ lên thay. Ngày 20/3/1945, luật cải cách ruộns đất được ban hành. Tháng 11/1946, cuộc bầu cử quốc hội được tiến hành đầu tiên sau chiến tranh. Các lực lượns d â n c h ủ s ià n h đ ư ơ c 3 7 7 g h ế. C ác đ à n g p h á i p h ả n động chỉ được 35 ị.hế. Tháns 2/1947. Chính phủ quốc hữu hoá naán hàng quoc 2Ía. Mùa hè 1947. Nhà nước kiểm soát hoạt đ ộ n g c ủ a c ác ? í nghiệp tư n h à n . 408 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Ngày 30/12/1947, quốc hội thông qua hiến pháp, chính thức tuyén bố thành lập nước Cộng hoà nhân dân Rumani. Rumani chuyển sang thời kỳ cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đến năm 1965, đất nước Rumani đã có những thay đổi lớn lao. Quốc hội thông qua hiến pháp mới. Cơ quan quyền lực tối cao của nhà nước là quốc hội. Chủ tịch nước, do quốc hội bầu ra, là nguyên thủ quốc gia, đồng thời là tổng tư lệnh tối cao các lực lượng vũ trang và chủ tịch hội đồng quốc phòng. Cơ quan hành pháp cao nhất là Hội đồng bộ trướng. Tháng 12/1989, tình hình Rumani có biến động lớn. diễn ra nhiều cuộc biểu tình và xung đột vũ trang. Chế đô cộng hoà dân chủ nhân dân sụp đổ. 7. Liên bang Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Tiệp Khác Tiệp Khắc với tư cách là một nước độc lập từ ngày 28/10/1918. Từ tháng 3/1939, Tiệp Khắc bị Đức chiếm đóng. Trong thời kỳ chiến tranh, nhiều chính khách của chính quyền tư sản chạy sang Pháp rồi sang Anh. Họ thành lập hội đồng nhà nước và chính phủ lưu vong, mưu tính sẽ trỏ về nước cùng với quân đội các nước phương Tây. ở trong nước, cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc do Đảng cộng sản lãnh đạo. Mùa thu 1941, uỷ ban cách mạng nhân dân được thành lập. Các uỷ ban dân tộc và những đội du kích ra đời ớ nhiều địa phương. T rong giai đoạn cuối của cuộc chiến tran h th ế giới II. khi quân đội L iên X ô truy kích quân Đ ức. thì cu ộ c đấu tran h giải p hóna dãn tộc ờ T iệp Khấc 409 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
chuyển sang giai đoạn mới. Tháng 4/1944, các cuộc khởi nghĩa vũ trang nổ ra ở nhiều nơi. Đảng cộng sản củng cô' chế độ dân chủ nhân dân ở khu giải phóng và tập hợp các lực lượng yêu nước trong Mặt trận dân tộc thống nhất. Tháng 3/1945, chính phù tư sản lưu vong đàm phán với Đảng cộng sản và đã đi đến việc thành lập Mặt trận dân tộc toàn quốc và chính phủ của Mặt trận. Đảng cộng sản có 8 đại biểu trong số 25 thành viên chính phủ. Tháng 4/1945, Chính phủ thông qua bản cương lĩnh do Đảng cộng sản đề nghị. Theo bản cương lĩnh, nhà nước dân chủ nhân dân sẽ thực hiện những cải cách dân chủ, như thanh trừ những phần tử phát xít ra khỏi chính quyền, xoá bỏ các tổ chức độc quyền tư bản, quốc hữu hoá các ngân hàng, xí nghiệp, cải cách ruộng đất. Tháng 5/1945, được sự giúp đỡ của quân đội Liên Xô, cuộc khởi nghĩa vũ trang giành toàn thắng. Chính quyền chuyển vào tay chính phủ của Mặt trận dân tộc. Nhưng chính quyền chưa hoàn toàn vào tay giai cấp công nhân và quyẻn lãnh đạo cách mạng của giai cấp công nhân vẫn chưa được củng cố vững chắc. Trong chính phủ và các cơ quan khác của nhà nước, còn có nhiều đại biểu của giai cấp tư sản. Họ tìm cách ngăn cản cải cách ruộng đất và quốc hữu hoá trong công nghiệp. Trong cuộc bầu cử quốc hội ngày 25/6/1946, Đảng cộng sản giành được nhiều phiếu nhất (38%) chiếm 114 ghế. Đảng cộng sản được đứng ra thành lập chính phủ liên hiệp. Chính phủ đưa ra chương trình xây dựng nhà nước dân chủ nhân dân và kế hoạch 2 năm khôi phục, phát triển kinh tế (1947 - 1948). Tháng 2/1948, các thế lực phản động, được sự giúp đỡ 410 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
của phương Tây, đã gây ra cuộc khùng hoảng trong chính phủ liên hiệp, hòng xoá bỏ các thành quả cách mạng. Lưc lượng cách mạng tổ chức cuộc đấu tranh chính trị rộng lớn của quẩn chúng, đòi loại trừ các phẩn lử tư sản ra khỏi chính quyền nhà nước. Cuộc cách mạng tháng 2/1948 đã kết thúc cuộc đấu tranh giành chính quyền giữa giai cấp vô sản và tư sản bằng thắng lợi của giai cấp vô sản, đưa Tiệp Khấc tiến lên giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tháng 6/1948, Đảng cộng sản và Đảng xã hội dân chủ hợp nhất thành Đảng cộng sản Tiệp Khắc. Ngày 11/7/1960, quốc hội thông qua hiến pháp mới, đổi tên nước Cộng hoà Tiệp Khắc thành nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Tiệp Khắc. Năm 1968, những phần tử hữu khuynh xét lại trong Đảng cộng sản, được sự giúp đỡ của phương Tây, làm cuộc tạo phản, hòng tách Tiệp Khắc ra khỏi cộng đồng xã hội chủ nghĩa. Những người cộng sản chân chính và đông đảo quần chúng yêu nước yêu cầu sạ giúp đỡ của Liên Xô. Quân đội Xô Viết cùng lực lượng cách mạng Tiệp Khắc đã đập tan được cuộc bạo động đó. Sau sự kiện trên, tổ chức Đảng cộng sản và nhà nước được củng cố lại. Quốc hội ban hành hiến pháp mới, xác lập hình thức nhà nước liên bang xã hội chủ nghĩa, ở Tiệp Khắc có hai dân tộc Séc và Xlôvaki. Bởi vậy phải thành lập hình thức thức nhà nước liên bang đé cùng cố khối đoàn kết toàn dân. Nhà nước Liên bang Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Tiệp Khắc gồm hai nước cộng hoà: Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Séc, Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xlôvaki. Cơ quan lập pháp tối cao liên bang là quốc hội liên bang, gồm hai viện: Viện dân tộc và Viện nhân dân. Hai viện có 411 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
quyền ngang nhau, đều do phổ thông đầu phiếu bẫu ra. Viện dân tộc đại biểu cho lợi ích của các dân tộc và mỗi dân tộc đều có số lượng đại biểu như nhau. Viện nhân dân đại biểu cho lợi ích chung của mọi công dân. không kể thuộc dân tộc nào, sô đại biểu tỉ lệ với sô' dân ở từng khu vực bầu cử. Chủ tịch nước Tiệp Khắc do quốc hội liên bang bầu ra. Cơ quan hành pháp cao nhất là chính phủ liên bang. Thủ tướng do Chủ tịch nước đề nghị, được quốc hội thông qua và phải chịu trách nhiệm trước quốc hội. Cơ quan quyền lực ở mỗi nước cộng hoà là Hội đồng dân tộc. Mỗi nước cộng hoà cũng đều có chính phủ và thù tướng. Cuối 1989 đầu 1990, chế độ cộng hoà dân chủ nhân dân ở Tiệp Khắc bị sụp đổ. II. CÁC NHÀ NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA CHÂU Á Chiến thắng của quân Liên Xô đối với phát xít Nhạt tạo ra thuận lợi lớn cho cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc của các nước châu Á. Nhiều nước đã tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và tiến lên chủ nghĩa xã hội: Triều Tiên, Trung Quốc, Lào, Việt Nam.(,) Quá trình hình thành và phát triển của các nhà nước dân chủ nhân dân ở châu Á mang một số đặc điểm riêng biệt sau đây: Thứ nhất, các nước xã hội chủ nghĩa ở châu Á vốn trước đàv là những nước thuộc địa - phong kiến. Và khác với các nước Đông Âu. những nước ở châu Á chưa trải qua giai đoạn (1 V N hà nước C òn2 hoà xã hội chù n sh ĩa V iệt Nam được trình bày trons giáo trinh Lịch sừ nhà nước và pháp luât V ièt Nam. 41 2 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
phát triển tư bản chủ nghĩa. Vì vậy đã đưa đến hệ quả: - Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và nhiệm vụ chuvên chính công nông của nhà nước phải thưc hiên trong thời gian dài. Công cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội gặp rất nhiều khó khăn. - Ý thức pháp luật ở mức độ rất thẩp, quá trình xây dựng ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa cũng gặp rất nhiều khó khăn và kéo dài. Thứ hai, khác với các nước Đông Âu, ở các nước châu Á, giai cấp vô sản có một chính của mình là Đảng cộng sản. Còn các đảng tư sản thì non yếu. Đảng cộng sản ngay sau khi ra đời đã độc quyền lãnh đạo cách mạng. Sau khi cách mạng dân tộc dân chủ nhãn dân thắng lợi, giai cấp vô sản đã nắm được toàn bộ chính quyền (không phải đấu tranh quyết liệt với giai cấp tư sản để giành trọn chính quyền như ở các nước Đông Âu), mà chỉ cần nâng cao vai trò lãnh đạo của giai cáp công nhân trong hệ thống chính quyền nhà nước và chuyển nó từ chuyên chính công nông sang chuyên chính vô sản trong thời kỳ cách mạng xã hội chủ nghĩa, xây dựng chủ nghĩa xã hội. l ễ Cộng hoà nhân dân Mòng cổ (1921 -1990) Vào đầu thế kỉ XX, Mông cổ còn là một trong những nước lạc hậu nhất châu Á. Ngày 11/7/1921, cuộc cách mạng dân chủ nhân dân ở Mông cổ giành được thắng lợi. Ngày 26/11/1924, Mông cổ tuyên bố là nước Cộng hoà nhân dân Mông Cổ. Từ một nước lạc hậu. Mỏng cổ đã vượt qua nhiều khó khăn, tiến hành các cải cách dân chủ trong một thời gian 413 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
dài. Đến trước chiến tranh thế giới thứ II, được sự giúp đỡ của Liên Xô, dưới sự lãnh đạo của Đảng nhân dân cách mạng, nhà nước Mông cổ đã đập tan sự phản kháng của bọn phàn động, xoá bỏ hoàn toàn cơ sờ kinh tế của bọn chủ nỏ phong kiên và tư bản nuớc ngoài, xây dựng được một số ngành kinh tế trong nước. Nãm 1939, phát xít Nhật tấn công Mông Cổ nhưng bị lực lượng hồng quân Xô viết và quân đội Mông Cổ đánh bại. Sau chiến tranh thế giới thứ II, Cộng hoà nhân dân Mông Cổ tiến hành công cuộc khôi phục kinh tế và bước vào thời kì cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Theo Hiến pháp Mông cổ , cơ quan quyền lực cao nhất là quốc hội. Đoàn chủ tịch quốc hội là cơ quan thường trực của quốc hội. Cơ quan hành pháp cao nhất là hội đồng bộ trưởng đứng đầu là chủ tịch hội đồng bộ trưởng do quốc hội bầu ra và phải chịu trách nhiệm trước quốc hội. Năm 1990, chế độ Cộng hoà dân chủ nhân dân ở Mông Cổ bị sụp đổ. 2. Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên Triều Tiên trở thành thuộc địa của Nhật từ năm 1910. Ngày 15/8/1945, quân đội Liên Xô tiêu diệt đội quân Quan Đông của Nhật và cùng nhân dân Triều Tiên giải phóng Bắc Triều Tiên. Trong tháng 8 và tháng 9 năm 1945, nhân dãn ở hai miền Nam Bắc Thều Tiên nổi dậy, lật đổ các thế lực phản động, thành lập các ủy ban nhân dân. Theo quyết định của Hội nghị Yanta, Triều Tiên tạm thời bị chia cát làm hai miền và lấy vĩ tuyến 38 làm ranh giới. Miền Bắc 4 14 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
thuộc quyền quân quản của Liên Xô, miền Nam là vùng quân quản của Mí. ở miền Bắc, dược sự giúp đỡ của Liên Xô, cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, có điều kỉện thuận lợi phát triển. Ngay sau ngày giải phóng, các cơ quan chính quyền địa phương, các đoàn thể quần chúng được thành lập. Ngày 8/2/1946, ủy ban nhân dân lâm thời - cơ quan chính quyền cao nhất của Bắc Triều Tiên ra đời. ủy ban nhân dân lâm thời ban hành Luật cải cách ruộng đất (tháng 3/1946), Luật quốc hữu hoá ngân hàng, công nghiệp, giao thông vận tải, bưu điện (tháng 8/1946), sau đó là các Luật về quyền bình đẳng nam nữ, Luật lao động. Tháng 8/1946, Đảng Cộng sản và đảng Tàn dân hợp nhất thành Đảng Lao động Triều Tiên. Tháng 2/1947, Hội nghị nhân dân tối cao (cơ quan hành pháp cao nhất) được thành lập. Tháng 2/1948, quân đội nhân dãn Triều Tiên chính thức được thành lập. Tháng 5/1948, ở khu vực quân đội Mĩ chiếm đóng thành lập nước Cộng hoà Triều Tiên (Hàn Quốc). Tháng 8/1948, chính quyền cách mạng Bắc Triều Tiên tổ chức cuộc bầu cử quốc hội (Hội nghị nhân dàn tối cao). Ngày 9/9/1948, Hội nghị nhân dân tối cao họp, tuyên bô' thành lập nước Cộng hoà dân chủ nhân dãn Triều Tiên, thông qua hiến pháp và bầu chính phủ. Ngày 25/6/1949, Mặt trận Tổ quốc dân chủ thống nhất Triều Tiên ra đời, với cương lĩnh đoàn kết toàn dàn, đấu tranh thực hiện thống nhất đất nước và xây dựng một nước cộng hoà dãn chủ độc lập, giàu mạnh. Ngày 25/6/1950, quàn đội Nam Triều Tiên được MI trực 415 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
tiếp xây dưng và trang bị, vượt qua vĩ tuyến 38 tấn cõng Bắc Triều Tiên. Ngày 27/6, đế quốc Mĩ chính thức tuyên chiến với Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên. Quân đội nhân dân Triều Tién cùng quân tình nguyện Trung Quốc đã đẩy lùi quân đội cùa Mĩ, Nam Triều Tiên và một số nuớc khác. Ngày 27/7/1953, các bên kí Hiệp định đình chiến. Hiệp định này quy định lấy chiến tuyến cuối cùng của hai bên (trùng với vĩ tuyến 38) làm giới tuyến giữa hai miền. Sau chiến tranh, Cộng hoà dân chủ nhân dán Triều Tiên bắt tay vào khôi phục kinh tế và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Năm 1972, Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên ban hành bản hiến pháp mới. theo đó, tổ chức bộ máy nhà nước như sau: Hội nghị nhân dân tối cao là cơ quan quyền lực cao nhá của nhà nước, có nhiệm kì 4 năm. Các đại biểu do phổ thông đầu phiếu bầu ra. Hội nghị nhân dân tối cao là cơ quan lập hiến. ủ y ban thường trực Hội nghị nhân dân tối cao do Hội nghị nhàn dân tối cao bầu ra. ủ y ban nhân dân trung ương là cơ quan lập pháp, do Hội nghị nhân dán tối cao bầu ra và do Chủ tịch nước đứng đầu. Chủ tịch nước là nguyên thủ quốc gia, người đứng đầu nhà nước. Hội đồng hành chính (chính phủ) đứng đầu là thù tướng, do Uy ban nhân dân lập ra. Từ cuối những nãm 1980, Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên và Cộng hoà Triều Tiên bắt đầu các cuộc đàm phán về kinh tế, về việc hoà bình thông nhất bán đảo Triều Tiên. 416 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Đầu thế kỷ 20, Trung Quốc là đối tượng xâm lược, xâu xé của nhiều đế quốc tư bản và trở Ihành nước nửa thuộc địa nửa phong kiến. Năm 1911, cuộc cách mạng Tân Hợi, do Tôn Dật Tiên lãnh đạo, đã lật đổ triều đại Mãn Thanh, tuyên bô' thành lập nước Cộng hoà Trung Hoa. Đó là cuộc cách mạng dân chủ tư sản. Sau khi Tôn Dật Tiên chết, Tưởng Giới Thạch nắm quyền lãnh đạo Đảng quốc dân và làm tổng thống. Năm 1937, phát xít Nhật mở rộng cuộc chiến tranh xâm lược Trung Quốc. Tháng 8/1945, quân đội Liên Xô đánh tan đội quân Quan Đông của Nhật, giải phóng Mãn Châu, buộc Nhật phải đầu hàng Đồng Minh. Được sự giúp đỡ của Liên Xô, các lực lượng vũ trang của Đảng cộng sản Trung Quốc giải phóng được nhiều ở bắc và đông - bắc Trung Quốc. Những năm sau đó, ở Trung Quốc diễn ra cuộc nội chiến khốc liệt, cuối cùng, lực lượng Tưởng Giới Thạch, được Mỹ ủng hộ, đã thất bại, phải chạy ra Đài Loan. Ngày 1/10/1949, nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa tuyên bô' chính thức thành lập. Thắng lợi của cách mạng Trung Quốc và sự ra đời của nhà nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa là một trong những sự kiện to lớn và có ý nghĩa quan trọng, củng cô' sức mạng của hệ thống xã hội chủ nghĩa, làm thay đổi so sánh lực lượng trên thế giới, có lợi cho cách mạng. Sau một thời gian dài bị chiến tranh tàn phá, Cộng hoà nhân dàn Trung Hoa phải khôi phục kinh tế, hoàn thành nốt những nhiệm vụ còn lại của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và tiến lên chủ nghĩa xã hội. 3. Cộng hoà nhân dân T rung Hoa 417 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Ngày 30/6/1950, luật cải cách ruộng đất được ban hành. Nhà nước quốc hữu hoá các nhà máy, hầm mỏ, ngân hàng, bưu điện, giao thông vận tải,... Đồng thời, Hiến pháp của nước Trung Hoa mới được ban bố. Mười năm của "cuộc cách mạng văn hoẩ' (1966 - 1976) đã làm đảo lộn đòi sống chính trị, kinh tế và xã hội cùa Trung Quốc. Sau "cuộc đại cách mạng văn hoá", tổ chức nhà nước và hộ thống chính trị được củng cô' lại. Từ những năm 1980, Tmng Quốc bắt đầu tiến hành công cuộc cải cách và mở cửa. Đến nay, Trung Quốc đã đạt nhiều thành tựu to lớn về mọi mặt. Theo Hiến pháp sửa đổi năm 1982, tổ chức nhà nước Cộng hoà nhãn dãn Trung Hoa như sau: Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc ỉà cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, có quyền lập pháp. Đại biểu do phổ thông đầu phiếu bầu ra, có nhiệm kỳ 5 năm. Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc cừ ra ủ y ban thường trực của đại hội. Chù tịch nước là nguyên thủ quốc gia, do Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc bầu ra. Quốc vụ viện (chính phủ) do thủ tướng đứng đầu. Đại hội đại biêu nhân dân toàn quốc cử thủ tướng và các thành viên khác của quốc vụ viện. Mặt trận dân tộc thống nhất ở Trung Quốc có tên gọi là Hội nghị hiệp thương chính trị toàn quốc. Một bộ phận lãnh thổ Trung Quốc không nằm dưới quyền kiểm soát của Nhà nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa. Đó là: 418 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
1. Đài Loan nằm ở phía nam bờ biển Trung Quốc, diện tích gồm 36.000km\ dân số gần 20 triệu. 2. Ma Cao nằm ở miền duyên hải phía nam Trung Quốc, diện tích 16 km2, số dãn vài trăm ngàn. Nãm 1553, lái buôn Bồ Đào Nha đến Ma Cao và thuê mảnh đất này của triều đình Trung Quốc. Đến năm 1557, Bổ Đào Nha thiết lập cơ quan hành chính ở đây. Từ nãm 1850, Ma Cao là đất tô nhượng cùa Bổ Đào,Nha. Năm 1887, theo hiệp nghị ký với Trung Quốc, Bồ Đào Nha được "vĩnh viễn cai quản" Ma Cao. Nhưng hiện nay, việc này đã được thương lượng lại, trả Ma Cao cho Trung Quốc vào năm 1999. 3. Hồng Công nằm ở duyên hải miền nam Trung Quốc, diện tích 1066 km2, số dân hơn 5 triệu, năm 1842, Anh chiếm Hồng Công. Năm 1898, Anh mua Hồng Công của Trung Quốc với thời hạn 99 nãm. Theo hiệp ước được ký kết giữa Anh và Trung Quốc năm 1984, đến ngày 1/7/1997, Anh trả Hồng Công cho Trung Quốc. 4. Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào Năm 1893, thực dân Pháp thôn tính Lào. Trong chiến tranh thế giới II, Lào bị phát xít Nhật chiếm đóng. Tháng 8/1945, nhân dân Lào dươi sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Đông Dương - tiền thân của Đảng nhân dân cách mạng Lào sau này, nổi dậy giành chính quyền. Ngày 12/10/1945, chính phủ lâm thời được thành lập, tuyên bô' nước Lào độc lập. Như vậy, sau Việt Nam, một nhà nước độc lập nữa đã ra đời trên bán đảo Đông Duơng, đánh dấu bước phát triển lớn lao trong lịch sử Lào. 419 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Đầu năm 1946, thực dân Pháp quay trở lại xâm lược Lào, chính phủ lâm thời phải tạm lưu vong sang Bãng Cốc (Thái Lan). Trước tình thế khó khăn này, chính phủ lâm thời bị phân hoá. một số người đi theo Pháp. Từ năm 1947, được sự giúp đỡ cùa Việt Nam, các chiến khu dần dần được thành lập ở Tây Lào, Thượng Lào và Đông Bắc Lào. Ngày 20/1/1949, quân giải phóng nhân dân Lào được chính thức thành lập. Ngày 13/8/1950, Đại hội toàn quốc kháng chiến tuyên bố thành lập Mặt trận Lào tự do và chính phủ kháng chiến Lào. Ngày 11/3/1951, liên minh Việt - Lào - Khơ me được thành lập, dựa trên các nguyên tắc bình đẳng, tương trợ và tôn trọng chủ quyền của nhau, nhằm tăng cường tình đoàn kết chiến đấu giữa quân dân ba nước Đông Dương, chống kẻ thù chung là thực dân Pháp. Tháng 7/1954, Pháp phải ký hiệp nghị Giơnevơ về Đông Dưcmg, công nhận độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Lào, Việt Nam, Cămpuchia, công nhận địa vị hợp pháp của chính phủ kháng chiến Lào, thừa nhận hai tỉnh tập kết Phongxalì và Sầm nưa là khu vực quản lý trực tiếp của lực lượng cách mạng Lào. Cuộc kháng chiến đã kết thúc thắng lợi. Nhưng nhiệm vụ của cách mạng Lào còn nặng nề, gần một nửa đất nước chưa được giải phóng. Sau khi hiệp nghị Giơnevơ được ký kết, đế quốc Mỹ hất cẳng Pháp, độc chiếm Lào, biến Lào thành một thuộc địa kiểu mới. Mỹ xé bỏ hiệp nghị Giơnevơ, xây dựng hệ thống nguỵ quân, nguỵ quyền Lào. Dưới sự lãnh đạo của Đảng nhân dân cách mạng Lào, ngày 6/1/1956. Mặt trận Lào yêu nước được thành lập, đoàn kết mọi lực lượng chống Mỹ - ngụv. Ngày 22/10/1957, Mỹ - 420 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
ngụy phải ký hiệp nghị Viên Chăn, thành lập chính phủ liên hiệp, có sự tham gia thích đáng của Mặt trận Lào yêu nước. Dựa vào sức mạnh đấu tranh của quần chúng, lực lượng cách mạng buộc chính phủ liên hiệp phải ban hành Hiến pháp 1957. Hiến pháp thể hiện một số tiến bộ, như thực hiện dân chủ, bình đẳng nam nữ, bình đẳng giữa các dân tộc. Hiến pháp là cơ sở pháp lý cho quần chúng đấu tranh bảo vệ hoà bình và tiến bộ xã hội. Tháng 5/1958, trong cuộc bầu cử quốc hội, các lực lượng Lào yêu nước chiếm được một số vị trí quan trọng trong quốc hội và sau đó là trong chính phủ liên hiệp. Hoảng sợ trưóc vai trò và sự lớn mạnh của cách mạng, ngày 18/8/1958, Mỹ - ngụy lật đổ chính phủ liên hiệp, xé bỏ Hiệp nghị Viên ChãD, tìm cách tiêu diệt lực lượng cách mạng. Một số người ở tầng lớp trên trong bộ máy nguỵ quyền, tò ra bất mãn và ngày càng hiểu rõ chính nghĩa của cách mạng. Ngày 9/8/1960, tại thủ đô Viên Chăn, một cuộc đảo chính yêu nước nổ ra, đưa đến việc thành lập chính phủ mới. Chính phủ này tuyên bô' đi theo con đường hoà bình trung lập và hoà hợp dân tộc. Lực lượng hoà bình trung lập yêu nước đó được sự ủng hộ tích cực của lực lượng cách mạng, nên ngày càng phát triển. Ngay sau khi bị lật đổ, những phần tử cực hữu, được Mỹ giúp đỡ, đã thành lập chính quyền riêng của chúng ở Xavanakhét và tìm cách phản công lại các lực lượng yêu nước và cách mạng. Như vậy, từ đây, ở Lào có 3 lực lượng chính trị và tương ứng là 3 chính quyền của ba phái: cánh hữu, lực lượng trung lập, lực lượng cách mạng. Do những thất bại nặng nề về quân sự và chính trị, ngày 23/7/1962 Mỹ - ngụy buộc phải ký Hiệp nghị Giơnevơ về 421 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Lào. Hiệp nghị này công nhận Chính phủ liên hiệp dân tộc lâm thời (đã được thành lập từ tháng 6 năm 1962, do hiệp thương của đại diện 3 phái ở Lào tại hội nghị cánh mạng Đồng Chum). Nhưng cũng chẳng bao lâu sau, Mỹ - ngụy đã xé bỏ Hiệp nghị Giơnevơ về Lào, tiến hành chiến lược ''chiến tranh đặc biệt". Quân và dân Lào phối hợp với quân tình nguyện Việt Nam giáng cho chúng những đòn thất bại nặng nề. Những thắng lợi liên tiếp của nhân dân ba nước Đông Dương làm cho đế quốc Mỹ và tay sai ngày càng sa lẫy, lúng túng. Vì vậy, ngày 21/2/1973, Mỹ và tay sai ở Lào buộc phải ký Hiệp định Viên Chăn, lập lại hoà bình, thực hiện hoà hợp dân tộc, thành lập Hội đồng quốc gia chính trị liên hiệp và chính phủ liên hiệp dân tộc lâm thcà. Hiệp định này tạo ra điéu kiện thuận lợi cơ bản để Lào tiến tới hoàn thành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Năm 1975, lực lượng cách mạng Lào đã đập tan bộ máy thống trị phản động, giành toàn bộ chính quyền. Ngày 1/12/1975, Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc khai mạc. Đại hội chấp nhận đơn xin thoái vị của vua Lào, đơn xin giải thể của Hội đồng quốc gia chính trị liên hiệp và chính phủ liên hiệp dân tộc lâm thời (được lập theo Hiệp đinh Viên Chăn 1973). Ngày 2/12/1975, Đại hội chính thức tuyên bố thành lập nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, thành lập Hội đồng nhân dân tối cao, cử chủ tịch ủ y ban trung ương mặt trận Lào yêu nước làm chủ tịch nước, kiêm chủ tịch hội đồng nhàn dân tối cao. Sau ngày đất nước hoàn toàn được giải phóng, nhà nước 422 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Lào còn phải tiếp tục thực hiện nốt một số nhiệm vụ của chuyên chính công nông và từng bước chuyển sang thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội. Theo Hiến pháp hiện hành, Hội đồng nhân dân tối cao, do dân bầu ra, là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, nắm quyền lập pháp. Chủ tịch nước, do Hội đồng nhân dân tối cao bầu ra, là nguyên thủ quốc gia. Hội đổng bộ trưởng (chính phủ) do Hội đồng nhân dân tối cao bầu. Đứng đầu Hội đồng bộ trưởng là chủ tịch hội đồng bộ trưởng (thủ tướng). Từ cuối những năm 1980, Lào bắt đầu thực hiện cổng cuộc đổi mới đất nước và đã thu được những thắng lợi quan trọng. III. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHÁP LUẬT CỦA CÁC NHÀ NUỚC DÂN CHỦ NHÂN DÂN l ễ Đặc điểm chung Pháp luật của mỗi nhà nước dân chủ nhân dân có những nét đặc thù. Đồng thời, do có một sô' điều kiện lịch sử giống nhau nên pháp luật xã hội chủ nghĩa ở các nước dân chủ nhân dân có một số đặc điểm chung. Một là, việc tạm thời sử dụng một sô' luật lệ của chế độ cũ. Cách mạng thành công, đương nhiên pháp luật của chế độ cũ phải được xoá bỏ. Nhưng ngay một lúc, nhà nước không thể xây dựng được một hộ thống pháp luật mới hoàn chình. Một số năm đầu sau ngày cách mạng thành công, nhà nước dân chủ nhân dân phải tạm thời sử dụng một sô' điều trong luật hình và dân luật của chế độ cũ, để quản lí xã hội. Thời gian còn sử dụng luật lệ đó có dài ngắn khác nhau, Tiệp 423 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Khắc trong 3 năm, Rumani 6 năm, Việt Năm 9 năm V .V .. Tuy nhiên, việc đó được tuân thủ trên nguyên tắc những luật lệ cũ không được trái với chính thể mới và quyền lợi chính đáng của công dân. Đồng thời, các nhà nước dân chủ nhân dân khẩn trương xây dựng hệ thông pháp luật mới. Hai là, khác với pháp luật Xô viết, pháp luật của nhà nước dân chủ nhân dan có đối tượng chuyên chính hẹp hơn và đối tượng được hưởng quyền công dân rộng hơn. Trong thời gian đầu khá dài, do mức độ tính chất gay gắt củã đấu tranh giai cấp, do hình thức chính thể Xô Viết chỉ có hai giai cấp công nhân và nông dân tham gia, nên pháp luật Xô viết đã tước quyển bầu cử và ứng cử của tư sản, địa chủ, phú nông, quan chức trong chính quyền cũ. Thành phần tham gia vào chính quyền dân chủ nhân dân rất lông rãi, nên pháp luật thừa nhận quyền công dãn của tất cả mọi nguci, nếu họ không chống lại nền độc lập và dân chủ. Ba là, pháp luật của nhà nưốc .dân chủ nhân dân đã ttải qua hai giai đoạn phát triển. - Pháp luật củã giai đoạn cách mạng dân tộc dãn chủ nhân dân. Trong giãi đoạn này, pháp luật mang tính chất dãn tộc dân chủ nhân dân(( tất nhiên nố nằm trong phạm trù kiểu pháp luật xã hội chủ nghĩa). Đó là những sắc lệnh về cải cách ruộng đất, quốc hữu hoá, vể xoá bỏ chính quyền cũ, và xây dựng chính quyền mới..., và những hiến pháp của giai đoạn này. Thòi gian của pháp luật dân tộc dân chủ nhân dân khá dài, ở Đông Âu 1945-1949, Trung Quốc đến đầu những năm 1950, Việt Nam 1945-1954... - Đến giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội, pháp luật chuyển sang tính chẫt xã hội chủ nghĩa 424 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Bốn là, pháp luật của các nhà nước dân chủ nhân dân chịu ảnh hưởng nhiều của pháp luật Xô viết. Do vai trò và uy tín cùa nhà nước Xô viết, do pháp luật Xô viết là hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa đầu tiên, do cùng một bản chất pháp luật xã hội chủ nghĩa, nên đương nhiên pháp luật của nhà nước dân chủ nhân dân tiếp thu nhiều ảnh hường, kinh nghiệm của pháp luật Xô viết. Sự tiếp thu đó thể hiện ỏ nhiều mặt: tư tường pháp lý, kỹ thuật làm luật, hình thức pháp luật, nội dung nhiều chế định pháp luật,... 2. Một sô chẻ định pháp luật chủ yếu Luật hiến pháp. Các hiến pháp đầu tiên của các nhà nước dân chủ nhân dãn lần lượt được ban hành vào cuối những năm 1940 và những năm 1950. Khi bước sang thời kỳ cách mạng xã hội chủ nghĩa, các nước đã ban hành hiến pháp mới. Và sau đó, qua mỗi giai đoạn phát triển của đất nước, hiến pháp thường được sửa đổi cho phù hợp với sự phát triển của các quan hệ xã hội. Các hiến pháp thưcmg có các chế định: - Chế định vể chế độ chính trị là chế định cơ bản nhất. Chế định này xác định bản chất của nhà nước, vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản, nguyên tắc thực hiện quyền lực nhà nước, vai trò của mặt trận dân tộc thống nhất. - Chế định về chế độ kinh tế - xã hội. - Chế định vể quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. - Chế định về tổ chức bộ máy nhà nước, với các loại cơ quan chù yếu: cơ quan quyền lực nhà nước, cơ quan hành pháp, toà án và viện kiểm sát. 425 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Pháp luật về quản lý kinh tế. Pháp luật về việc xoá bỏ các quan hệ sản xuất phong kiến và tư bản chủ nghĩa, xác lập và điều chỉnh quan hệ kinh tế xã hội chủ nghĩa. Về quản lý nông nghiệp, có các luật ruộng đất, luật hợp tác xã nông nghiệp, luật thuế nông nghiệp,... Về quản lý công thương nghiệp, có các luật về hợp đồng kinh tế, luật thương mại, điều lệ xí nghiệp,... Đặc biệt ở Cộng hoà dân chủ Đức có bộ luật kinh tế. Từ giữa những năm 1980 trở lại đây, pháp luật thừa nhận sự tồn tại của nền kinh tế nhiều thành phần với nhiều hình thức sở hữu (nhà nước, tập thể, tư nhân,...). Pháp luật điéu chỉnh nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Pháp luật về các vấn đề xã hội là các luật hôn nhân và gia đình, luật lao dộng, luật cồng đoàn, luật xuất bản, luật bảo vệ và chăm sóc trẻ em,... Luật hình sự. Đó là những sắc lệnh được ban hành ngay sau khi chính quyền dân chủ nhân dân được thiết lập, nhằm trừng trị bọn tội phạm chiến tranh, bọn phản cách mạng, để bảo vệ chế độ mới. Như luật bảo vệ nhà nước (năm 1944) của Ba Lan, luật bảo về chính quyền nhân dân (năm 1945) của Bungari. v.v. Vào những năm 1960 - 1980, nhiều bộ luật hình được xây dựng ở các nước Đông Âu, Trung Quốc,... ở Việt Nam vào cuối những năm 1980. Luật dân sự có các chế định như chế định quyền sở hữu, chế định hợp đồng dân sự, chế định thừa kế, chế định bản quyền,... Cũng trong những năm 1960 - 1980, nhiều nước lần lượt ban hành các bộ luật dân sự. 426 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Tổ chức tư pháp và tố lụng. Cách mạng thành công, hệ thống toà án của chế độ cũ bị thủ tiêu. Các nước đã thành lập hệ thống toà án và hệ thống viện kiểm sát. Bên cạnh các toà án chuyên nghiệp, còn có các tổ chức tư pháp quần chúng, toà án đồng chí ở các nước Đông Âu, tổ hoà giải ỏ Việt Nam,... Việc pháp điển hoá luật tố tụng hình được tiến hành ở các nước, như ở Hungari năm 1951, Bungari và Cộng hoà dân chủ Đức 1952, Việt Nam 1989,... và nhiều bộ luật tố tụng dân sự cũng được ban hành ở nhiều nước. IV. NHÀ NUỚC VÀ PHÁP LUẬT CỘNG HOÀ cu BA Năm 1942, Crítxtốp Côlông đặt chân đến Cu Ba. Sau đó, thực dân Tây Ban Nha thống trị Cu Ba hơn 400 năm. Do phong trào đấu tranh mạnh mẽ của nhân dân Cu Ba, đặc biệt là cuộc khởi nghĩa năm 1895 do Hô xê Mác ti lãnh đạo, năm 1902, Tây Ban Nha phải công nhận nền độc lập cùa Cu Ba. Nhưng trên thực tế, Cu Ba lại rơi vào ách thống trị thực dân mới của Mỹ. Từ nãm 1952, chính quyền độc tài quân sự Batixta tập trung đàn áp những người yêu nước. Đảng xã hội nhân dân, đội tiên phong của giai cấp công nhân, để ra cương lĩnh đấu tranh nhằm đánh đổ chế độ độc tài tay sai Mỹ, thành lập một chính phủ dân chủ và tiến bộ. Nhưng về phương pháp đấu tranh, Đảng chưa nhận thức được đầy đủ về đấu tranh vũ trang để giành chính quyền. Trong khi đó, ngày 26/7/1953, một nhóm thanh niên yêu nước do Phi đen Caxtơrô lãnh đạo, đã tiến công pháo đài Môncađa, mở đầu cuộc đấu tranh chống chế độ độc tài. Cuộc tấn công này không thành công. Năm 1955, Phi đen và một số chiến sĩ cách mạng được địch trả lại tự do và sang Mêhicô. ở đày, họ 427 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
bí mật tập hợp lực lượng, tổ chức lại đội ngũ và liên hệ với tổ chức "Phong trào 26 tháng 7" ở trong nước (từ sau cuộc khởi nghĩa Môncađa, phong trào cách mạng trong nước được gọi là Phong trào 26 tháng 7). Ngày 25/11/1956, trên con tàu Graniha, Phi đen cùng đồng đội từ Mêhicô vượt biển về tổ quốc. Họ phát động chiến tranh du kích, xây dựng căn cứ địa cách mạng. Ngày 13/3/1957, một nhóm sinh viên yêu nước do ÊchêGuêvara tổ chức và chỉ huy, mở cuộc tiến côiỊg vũ trang táo bạo vào dinh tổng thống, định giết chế tên độc tài Batixta rồi kêu gọi nhân dân đứng lên khởi nghĩa, phối hợp chiến đấu với nghĩa quân Phi đen. Cuộc tiến công vũ trang đó không thành. Nhưng tổ chức "Phong trào 13 tháng ba" hình thành và phát triển mạnh. Ngày 20/7/1958, Phong trào 26 tháng bảy cÙHg các đảng đối lập với chính quyền độc tài họp hội nghị hiệp thương ở Caracát (thủ đô của Vênêxuêla), ký kết bản hiệp nghị, thành lập Mặt trận cách mạng công nhân. Đây là mặt trận dân tộc thống nhất, tập hợp đông đảo các lực lượng yêu nước và dân chủ. Cuối năm 1958, lực lượng quân sự và lực lượng chính trị của cách mạng đã phát triển vượt bậc. Đến ngày 1/1/1959, được sự phối hợp chặt chẽ của cuộc tổng bãi công chính trị ở thủ đô và trong cả nước, lực lượng vũ trang cách mạng tiến vào giải phóng Habana. Sau khi cách mạng thắng lợi, chính phủ do Phi đen đứng đầu, tiến hành những cải cách dân chủ, nhằm hoàn thành nốt những nhiệm vụ cơ bản của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ 428 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
nhân dân. Chính phủ cách mạng đã tiến hành những biện pháp kiên quyết, đập tan bộ máy chính quyền cũ, trấn áp bọn phản cách mạng. Bộ máy chính quyền cách mạng nhiều lần được cải tổ, qua đó thanh lọc các phần tử phản động ra khỏi các cấp chính quyền. Chính phủ còn chú trọng xây dựng một quân đội cách mạng chính quy, đồng thời tổ chức lực lượng dân quân tự vệ rộng khắp trong cả nước. Tháng 5/1959, chính phủ ra sắc lệnh về cuộc cải cách ruộng đất lần thứ nhất, tịch thu các đồn điền lớn của tư bản Hoa Kỳ và của bọn địa chủ phản động chia cho dân nghèo. Tháng 10/1963, chính phủ ra sắc lệnh thực hiện cuộc cải cách ruộng đất lần thứ hai, xoá bỏ hoàn toàn quyền sở hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ, đồng thời đưa nông dân vào con đưcmg làm ăn tập thể. Từ tháng 6/1960, chính phủ ra sắc lệnh quốc hữu hoá các công ti, xí nghiệp của tư bản lũng đoạn Mỹ và của tư bản trong nước. Cũng trong năm 1960, cbính phủ phát động thanh toán nạn mù chữ, cải tạo toàn bộ hệ thống giáo dục, thực hiện chế độ giáo dục mới. Tháng 4/1961, quân dân Cu Ba đập tan cuộc tấn công xâm lược của quân đội đánh thuê của Mỹ và tay sai ở bãi biển Gứôn. Đồng thời, ngày 16/4/1961, lãnh tụ Phi đen Caxtơrô tuyên bô' Cu Ba chuyển sang cách mạng xã hội chủ nghĩa. Tổ chức đảng và chính quyền được củng cô' thèm một bước mới. Ngày 26/7/1961, Phong trào 26 tháng bảy, Đảng xã hội nhân dân và Phong trào 13 tháng ba hợp nhất thành Tổ chức cách mạng thống nhất (gọi tắt là ORI). Ngày 13/3/1962, tổ chức này lấy tên là Đảng thống nhất cách mạng xã hội chủ nghĩa. Ngày 3/10/1965, Đảng lấy tên là Đảng cộng sản Cu Ba. 429 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
v ề tổ chức bộ máy nhà nước, do đế'quốc Mỹ ở sát cạnh và liên tục bao vây Cu Ba về mọi mặt, sự phá hoại điên cuồng của các thế lực phản động ở trong và ngoài nước, nên để bảo vệ sự sống còn của tổ quốc, từ sau ngày giải phóng đến trước khi ban hành hiến pháp xã hội chủ nghĩa, toàn bộ quyền lập pháp và hành pháp đẻu tập trung vào chính phủ do thỉ tướng Phi đen Caxtơrô đứng đầu. Tháng 3/1968, chính phủ ban hành sắc lệnh quốc hữu hoá các xí nghiệp nhỏ Và vừa cùa tư nhân. Năm 1973, chính phủ ban hành luật tổ chức hệ thống tư pháp. Ngày 15/2/1976, hiến pháp được ban hành. Theo đó, cơ cấu bộ máy nhà nước có sự thay đổi lớn lao. Quốc hội, do phổ thông đầu phiếu bầu ra, là cơ quan quyền lực nhà nước tối cao, nắm quyền lập pháp. Hội đồng nhà nước là cơ quan thường vụ của quốc hội, đứng đầu là chủ tịch Hội đồng nhà nước, do quốc hội bầu ra. Hội đồng bộ trưởng được quốc hội bầu, là cơ quan hành pháp cao nhít, do chủ tịch đứng đầu. Sau hiến pháp 1976, nhà nước cộng hoà Cu Ba đã từng bước ban hành các luật vẻ tổ chức các cơ quan nhà nước, hôn nhân và gia đình, dân sự, hình sự, tố tụng,... Được sự giúp đỡ to lớn, toàn diện của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa, cộng hoà Cu Ba đã đúng vững, phá vỡ tùng bước thế bao vây của chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là Mỹ. Từ sau khi Liên Xô sụp đổ, Cộng hoà Cu Ba gặp phải nhiều khó khãn. Nhưng Đảng, Nhà nước Cu Ba đã từng bước tháo gỡ. Từ mấy năm trở lại đây, Cu Ba cũng bắt đầu thực hiện công cuộc cải cách đổi mới đất nước và đã thu được một số thành tựu quan trọng. 430 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Nhận xét chung về nhà nưóc và pháp luật xã hội chủ nghĩa: 1. Nhà nước xã hội chủ nghĩa, thuộc về bản chất của nó, là nhà nước của dân, do dân và vì dân. Cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại mở ra thời đại mới. Thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên thế giói. Từ đó đến nay, lịch sử nhà nước và pháp luật xã hội chủ nghĩa có thể được chia làm 3 giai đoạn: - Từ năm 1917 đến năm 1945, là thời kỳ ra đời và phát triển một nhà nước xã hội chủ nghĩa duy nhất trên thế giới - nhà nước Xô viết. Mặc dù đơn độc giữa sự bao vây, chống phá của thế giới tư bản chủ nghĩa, nhưng nhà nước Xô viết không những vẫn đứng vững, mà còn phát triển về mọi mặt, và là thành trì của cách mạng thế giới. - Từ 1945 đến những năm 1989 - 1991. £dU chiến tranh thế giới thứ II, chủ nghĩa xã hội vượt ra phạm vi một nước, thành hệ thống xã hộ: chủ nghĩa thế giới. Các nhà nước xã hội chủ nghĩa đã nêu cao tình hữu nghị, hợp tác. Trong đó tiêu biểu là tổ chức Hội đồng tương trợ kinh tế và tổ chức Hiệp ước Vácsava. Các nhà nước xã hội chủ nghĩa giữ vai trò trọng yếu trong đời sống chính trị quốc tế. - Từ những nãm 1989 - 1991 đến nay. Giai đoạn này được mở đầu bởi sự sụp đổ của các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, Liên Xô và Mông cổ. Sự kiện nổi bật thứ hai là các nước xã hội chủ nghĩa còn lại, đang tiến hành công cuộc cải cách, đổi mới toàn diện đất nước và đã thu được những thắng lợi to lớn. Về giai đoạn hiện nay của chủ nghĩa xã hội, Đảng ta nhận định: "Chếđộ xã hội chít nghĩa ỏ Liên Xô và các nước 431 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Đông All sụp đổ khiến chủ nghĩa xã hội tạm then lâm vào thoái trào, rthiơig điều đó không làm thay đổi tính chất cùa then đại: loài người vẩn đang trong thời đại từ chủ nghĩa tư bản lẽn chủ nghĩa xã hội."oì 2. Đến nay, về hình thức chính thể, các nhà nuớc xã hội chủ nghía đã có 3 hình thức. Công xã Pari là hình thức đầu tiên. Đó là hình thức sơ khai, chưa đầy đủ và vững chắc. Cộng hoà Xô viết là hình thức thứ hai. Và Cộng hoà dân chủ nhân dân là hình thức thứ ba. Về hình thức kết cấu của nhà nước, ngoài hình thức đơn nhất, có hình thức liên bang xã hội chủ nghĩa (Liên Xô, Tiệp Khấc). 3. Sự sụp đổ của nhà nưốc xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và cấc nước Đông Âu vừa qua đã gây ra sự chấn động mạnh mẽ, sâu sắc đến tư tưởng, tình cảm của chúng ta. Điều khiến mọi người quan tâm hơn cả là nguyên nhân và hậu quả của sự kiện to lớn này. Sự sụp đỏ này là hệ quả tổng hoà của nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân bên trong và nguyên nhân bên ngoài, nguyên nhân sâu xa và nguyên nhân trực tiếp. Cần phải có thời gian để truy tìm và đúc kết một cách đầy đủ và cụ thể những nguyên nhân của sự kiện này. Hiện nay, các nhà nghiên cứu mới khẳng định được một số nguyên nhân chính như: - Sự vận dụng và phát triển sai lệch học thuyết Mác-Lênin. - Xây dựng mô hình nhà nước ngày càng mang đậm các (1). Đ ảng cộ n g sản V iệt Nam : V ăn kiện Đ ại hội đại biểu toàn quổc lần thứ Vin. N X B C hính trị quốc gia, H à N ộ i. 1996. tr 76. 432 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
yếu tố độc đoán, chuyên quyền, quan liêu, mất dân chủ. - Chính sách, pháp luật không quán triệt đầy đủ quan điểm tất cả vì con người và từ con người. - Nặng về cải tổ chính trị, nhẹ về cải cách kinh tế. - Sự chống phá của kẻ thù bên ngoài (các nuớc phuơng Tây). Do nhQng sai lầm vô cừng nghiêm trọng, sự sụp đổ của các nhà nuớc xã hội chủ nghĩa đó, từ không tất yếu đã trở thành tất yếu. Ngược lại, hiện nay những nhà nước xã hội chủ nghĩa còn lại đã và đang thu được những kết quả to lớn nhờ biết kịp thời đổi mới và nhất là đổi mới một cách đúng đắn. Xét riêng về phương diện nhà nước và pháp luật, công cuộc cải cách, đổi mới ở các nưóc xã hội chủ nghĩa hiện nay được tiến hành theo những phương châm cơ bản sau: - Đổi mới kinh tế là trọng tâm, làm cơ sở cho việc đổi mới từng bước hệ thống chính trị nhà nước. Hệ thống chính trị (trong đó có nhà nước) được đổi mới từng buớc vững chắc, để ổn định chính trị, tạo điều kiộn thuận lợi cho viộc đổi mới kinh tế. - Nhà nước chuyển từ cơ chế quản lý tập trung quan liêu -bao cấp sang cơ chế quản lý thị trường và theo định hướng xã hội chủ nghĩa. - Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, lối sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật. - Đa phương hoá và đa dạng hoá trong quan hệ quốc tế trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của mỗi nước và các bên cùng có lợi. 433 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
M ỤC LỤC Trang Phần tbứ nhất S ự TAN RA CỦA CÔNG XÃ NGUYÊN THỦY QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH NHÀ NƯỚC 7 VÀ PHÁP LUẬT I. Tổ chức cùa công xã nguyên thủy 7 n. Tổ chức công xã nguyên thủy tan rã và sự hình thành nhà nước. Đặc điểm con đường hình thành nhà nước ở phương Đông 9 III. Sự ra đời của pháp luật Phần thứ hai 17 NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT THỜI KÌ c ổ ĐẠI 21 Chương I NHÀ NUỚC VÀ PHÁP LUẬT 21 PHUƠNG ĐÔNG CỔ ĐẠI A. Nhà nước Ai Cập cổ đại 21 I. Quá trình hình thành nhà nước 21 II. Tổ chức bộ máy nhà nước 23 B. Nhà nước và pháp luật Lưỡng Hà cổ đại 27 I. Quá trình hình thành nhà nước ở Lưỡng Hà 27 II. Quốc gia cổ Babilon và tổ chức bộ máy nhà 29 nước 434 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
32 48 48 56 60 60 71 79 79 80 84 89 99 99 108 119 119 119 435 Pháp luật - Bộ luật Hammurabi Nhà nước và pháp luật Ãíi Độ cổ đại Nhà nước Pháp luật - Bộ luật Manu Nhà nước và pháp luật Trung Quốc cổ đại Nhà nước Pháp luật Chương n NHÀ NUỚC VÀ PHÁP LUẬT PHUƠNG TÂY CỔ ĐẠI Hi Lạp cổ đại Những nhà nước tối cổ. Khái quát chung lịch sử các nhà nuớc của những quốc gia - thành bang sau đố Nhà nước Cộng hòa quý tộc chủ nô Xpác Nhà nước Cộng hòa dân chủ chủ nô Aten La Mã cổ đại Nhà nước Luật La Mã Phần thứ ba NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT THỜI KÌ TRUNG ĐẠI Chương III NHÀ NUỚC VÀ PHÁP LUẬT PHONG KIẾN PHUƠNG ĐÔNG Trung Quốc Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
119 138 151 151 154 159 163 164 186 195 201 217 217 218 218 221 Nhà nước Pháp luật Nhật Bản Cuộc cải cách Tai ca và sự thành lập chế độ quân chủ chuyên chế phong kiến Quá trình tồn tại và phát triển của Nhà nuớc phong kiến Nhật Bản Pháp luật ChưongIV NHÀ NUỚC VÀ PHÁP LUẬT PHONG KẾN tâ y â u Nhà nước trong thời kì hình thành và phát triển của chế độ phong kiến Tây Âu. Nhà nuớc phong kiẽh Frăng và trạng thái phân quyẻn cát cứ phong kiến Quá trình xác lập chính thể quân chủ chuyên chế trong thòi kì suy vong của chế độ phong kiến Giáo hội Thiên chúa với nhà nước phong kiến. Tòa án giáo hội Pháp luật phong kiến Tây Âu Phần thứ tư NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT THỜI KÌ CẬN ĐẠI Chương V NHÀ NUỚC VÀ PHÁP LUẬT TƯSẢN Nhà nước quân chủ nghị viên Anh Cách mạng tư sản và sự ra đời Nhà nước tư sản Anh Nhà nước sau cách mạng tư sản. Sự thiết lập chính thể quân chủ nghị viện và tổ chức của bộ máy nhà nước Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
B. Nhà nước cộng hòa tổng thống ở Hợp chủng quốc Hoa Kì I. Cuộc chiến tranh giành độc lập ở Bắc Mĩ. Sự thành lập Hợp chủng quốc Hoa Kì và nhà nước tư sản II. Nhà nước tư sản sau cuộc chiến tranh giành độc lập. TỔ chứò bộ máy nhà nước c. Nhà nước cộng hòa nghị viện ở Pháp I. Cách mạng tư sản và sự ra đời cùa nhà nước tư sản (1789- 1794) II. Nhà nước sau cách mạng tư sản. Tổ chức bộ máy nhà nước D. Nhà nước quân chủ nghị viện Nhật Bản I. Cách mạng tư sản và sự hình thành nhà nước tư sản Nhật Ban II. H iến pháp 1889 và tổ chức bộ m áy nhà nước N hật E. Pháp luật tư sản thời kì cận đại I. Hai hệ thống chính của pháp luật tư sản n. Những chế định cơ bản của pháp luật tư sản Phần thứ năm NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT THỜI Kl HIỆN ĐẠI Chương VI NHÀ NUỚC VÀ PHÁP LUẬT TƯSẢN THỜI KÌ HIỆN ĐẠI I. Khái quát lịch sử và đặc điểm chung của nhà nước tư sản trong thời kì này II. Mĩ 231 231 234 243 243 251 257 258 261 264 264 268 285 285 286 295 437 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
III. Anh 305 IV. Pháp 310 V. Liên bang Đức 318 VI. Italia 328 VII. Nhật Bản 333 VIII. Pháp luật tư sản trong thòi kì hiện đại Chương v n 339 NHÀ NUỔC VÀ PHÁP LUẬT XÃ HỘI CHỦ NGHĨA 353 A. Nhà nước và pháp luật Xô viết 353 I Cách mạng xã hội hcủ nghĩa tháng Mười. Nhà nước và phap luật Xô viết ở Nga (1917 - 1922) 353 II. Nhà nước và pháp luật Liên bang Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô viết (Liên Xô) 374 B. Nhà nước và pháp luật các nước cộng hoà dân chủ nhân dân và cộng hoà Cu Ba 391 I. Các nhà nước xã hôi chủ nghĩa Đông Âu (1945 - 1990) 396 II. Các nhà nước xã hội chủ nghĩa Châu Á 412 III. Khái quát chung về pháp luật của các nhà nước dân chủ nhân dân 423 IV. Nhà nước và pháp luật Cộng hòa Cu Ba 427 438 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Giáo trình I4CHSỬNHÀNUỔC VÀ PHÁP LUẬT THỂGIỚI C hịu trách nhiệm xuất bản Đại tá PHÙNG THIÊN TÂN B iên tập ĐỖ HƯƠNG CÚC T hiết k ế bìa ĐẶNG VINH QUANG T rình bày và c h ế bản tại PHÒNG BIÊN TẬP SÁCH VÀ TRỊ s ự TẠP CHÍ TRUỒNG ĐẠI HỌC LUẬT HA NỘI In 3.000 cuốn khổ 14.5 X 20,5 cm tại Xí nghiệp in Nhà xuất bản Lao động-xã hội - Minh Khai, Hai Bà Trưng, Hà Nội. Số đãng ký KHXB: 8 0-2012/CXB/66- 90/CAND. In xong và nộp lưu chiểu quý I nãm 2012. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn