chung với bộ phận tư sản cầm quyền là không thể tránh khỏi và sẽ dẫn đến một cuộc cách mạng dân chủ tư sản. Hcm nữa, các tầng lớp nhân dân ngày càng bất mãn với những chính sách phản động của chính quyền quân chủ lập hiến. Tháng 2/1848 cuộc khởi nghĩa vũ trang của lực lượng cách mạng bùng nổ, lật đổ chính thể quân chủ lập hiến. Ngày 25 tháng 2, nền cộng hoà thứ hai được tuyên bố thành lập, đó là nền cộng hoà tư sản. Ban đầu chính quyền tư sản phải thi hành một sô' chính sách tiến bộ. Quyền bầu cử cho nam giới từ 21 tuổi được thực hiện. Quyền tự do hội họp và lập hội được ban hành. Ngày 4 tháng 5, quốc hội lập hiến được thành lập và họp khai mạc. Quốc hội lập hiến cử ra một uỷ ban hành pháp (tức chính phủ). Đồng thời, quốc hội lập hiéa thông qua bản hiến pháp củã nển cộng hoà thứ hai. Hiến pháp công nhận quyền phổ thông đầu phiếu của nam giới đã được tuyên bố trong cuộc cách mạng tháng Hai, nhưng đặt thêm điều kiện cử tri phải cư trú thường xuyên một nơi ít nhất là 6 tháng. Dựa vào thuyết phân chia các quyền, hiến pháp trao cho quốc hội quyền lập pháp. Giai cấp tư sản ngại thượng viện xưa nay vẫn thuộc phái bảo hoàng nên hiến pháp quyết định quốc hội chì có một viện. Tổng thống (lần đầu tiên có trong cơ cấu của nhà nước tu sản Pháp) là người nắm quyền hành pháp. Theo hiến pháp, tổng thống cũng do phổ thông đầu phiếu bầu ra. Điều đó tạo ra cho tổng thống có vị trí, vai trò rất lớn, là người được nhân dân lựa chọn như quốc hội vậy, hình thành sự đối trọng quyền lực giữa quốc hội và tổng thống. Tổng thống có quyền hành lớn: bổ nhiệm hoặc bãi chức các bộ trưởng, các sĩ quan 254 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
cao cấp. các quan chức địa phương, ân xá,v.v.. Tổng thông có nhiệm kì 4 năm và không có quyền tái cử. Cuộc bầu cử ngày 10/12/1848 đưa Luy Bôna páctơ lên làm tổng thốna. thiết lập quyền thống trị của tầng lớp đại tư sản có xu hướng bảo hoàng, tập hợp trong đảng Trật tự. Tiếp đó là cuộc bầu cử quốc hội ngày 29/5/1849, đảng Trật tự giành được đa số trong quốc hội. Tầng lớp tư sản cộng hoà dần dần bị gạt ra khỏi vũ đài chính trị. Chính quyền đại tư sản tăng cường đàn áp phong trào đấu tranh của quần chúng, thi hành hàng loạt các chính sách phản động. Mâu thuẫn trong nội bộ tập đoàn thống trị, giữa tổng thống với quốc hội (đa số là đảng Trật tự). Đảng Trật tự thấy không cần đến vai trò của Luv Bônapáctơ. Còn Luy Bônapáctơ muốn xây dựng chính quyển độc tài cá nhân. Lợi dụng sự bất đồng giữa các phe phái trong nội bộ đảng Trật tự, Luy bôna páctơ từng bước loại dần đối thủ ra khỏi các chức vụ quan trọng của nhà nước, hạn chế quyền lực của nghị viện và cuối cùng ngày 2/12/1851 làm cuộc chính biến thắng lợi. Ngày 14/1/1852 hiến pháp mới được ban hành, quyền lực nhà nước tập trung vào tổng thống vói nhiộm kì 10 nãm, thượng viện được phục hồi. 3. Đế chê thứ II (1852 -1870) Ngày 2/12/1852 Luy bôna páctơ lên ngôi hoàng đế, lấy danh hiệu là Napôlêông III. Nền cộng hoà thứ II sụp đổ, đế chế thứ II được xác lập. Chính quyền Napôlêông III là chính thể quân chủ tư sản, trong đó quyền lực nhà nước được tập trung vào tay hoàng đế. Đó là nền chuyên chính của tư sản ngân hàng cấu kết với tu sản công nghiệp. Chế độ Bônapáctơ thủ tiêu mọi quyền tự 255 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
do dân chủ đa ban hành trong thời kì cách mạng 1848. truy nã gắt gao những người cộng hoà. Bộ máy quan liêu và cành sát được tăng cường đến mức chưa từng thấy. Nền kinh tế tư bản chủ nghĩa ở Pháp ngày càng phái triển. Pháp trở thành một trong những nước có nền kinh tê phát triển nhất. Vì vậy, đế quốc Napôlêông III càng đẩy mạnh chính sách bành trướng thuộc địa. Chúng tiếp tục mờ rộng chiến tranh xâm lược Angiêri. Đế quốc Pháp cấu kết với Anh, Mĩ,... nhiều lần tấn công Trung Quốc, buộc triều đình Mãn Thanh phải kí những điều ước không bình đẳng. Từ cuối những năm 50 của thế kỉ XIX, thực dân Pháp bắt đầu nổ súng xâm lược Việt Nam và các nước Đông Dương. Trong những năm 60 của thế kỉ XIX, thái độ bất mãn của nhiều tầng lớp tư sản và các phong trào đấu tranh cùa quần chúng làm cho chính quyền đế chế lâm vào khủng hoảng. Napôlêông in phải ban hành một số cải cách như bỏ một vài điều hạn chế tự do hội họp và tự do báo chí, mở rộng phần nào quyền hạn của viện lập pháp (hạ nghị viện) và viện nguyên lão (thượng nghị viện). Nhưng một số cải cách nhỏ giọt đó cũng không thay đổi được tình thế. Trong cuộc bầu cử viện lập pháp năm 1869, phe cộng hoà đối lập đã chiếm được 3,3 triệu phiếu bầu trong tổng số 7 triệu. Cuối cùng, năm 1870 sau khi bị thảm bại trong cuộc chiến tranh Pháp-Phổ. chính quyền đế chê II bị sụp đổ. Nền cộng hoà thứ III được xác lập. 4, Nền cộng hoà thứ ba (từ 1870)'1* Sau khi công xã Pari 1871 thất bại, chính quyền cộng (1). N ền cộn g hoà thứ ba tổn lại đến năm 1940. khi phái xít Đức chiếm đóng nước Pháp. Vì vậy. nền cộn g hoà thứ ba được tiếp tục trình bày ở chương sau 256 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
hoà tư sản thi hành chính sách khủng bố tàn khốc các chiến sĩ cùa công xã và mọi phong trào đấu tranh của quần chúng. Tuy là chính thể cộng hoà nghị viện, nhà nước tư sản Pháp ngày càng đi vào con đường độc tài và phản động. Từ cuối thế kỉ XIX, cũng như các nước tư bản khác, chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh của Pháp chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền. Nhìn ehõỉng lại, từ sau cuộc cách mạng tư sản, các cuộc đấu tranh giữa quần chúng nhân dân và tầng lớp tư sản tiến bộ với các thế lực đại tư sản phản động và thế lực phong kiến cõ vãn không kém phần quyết liệt. Trong cuộc đấu tranh đó, Về mặt chính trị xoay quanh vấn đề xác lập chính thể cộng hoà hay quân chủ lập hiến. Nhìn chung, do sự đấu tranh mạnh mẽ và bền bỉ của quần chúng cách mạng, xu hướng cộng hoà đã thắng thế. Nền cộng hoà tư sản đó là chính thể cộng hoà nghị viện. Trong quá trình đó, giai cấp tư sản ngày càng mất dần vai trò tiến bộ của nó. Chính quyền tư sản ngày càng thể hiện tính phản động. D. NHÀ NƯỚC QUÂN CHỦ NGHỊ VIỆN NHẬT BẢN Trong khi cả phương Đông còn chìm ngập trong đêm trường trung cổ thì cùng với các nước phương Tây, Nhật Bản đã lảm cuộc cách mạng tư sản thắng lợi. Cuộc cách mạng tư sản Nhật diễn ra dưới hìn thức một cuộc duy tân đất nước, tiếp thu ảnh hưởng của các cuộc cách mạng tư sản phương Tây. Cuộc cách mạng tư sản ở Nhật không triệt để. Nhà nước - thành quả chính trị của cuộc cách mạng đó, là chính thể quân chủ nghị viện. 257 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
I. CÁCH MẠNG T ư SẢN VÀ SựH ÌN H THÀNH NHÀ NUỚC T ư SẢN NHẬT BẢN 1Ề Cách mạng 1868 :Từ nửa sau thế kỉ XVIII, kinh tế tu bản chủ ngiũa ở Nhật Bản bắt đầu hình thành rà phát triển. Đến giữa thế kỉ XIX, chế độ phong kiến Mạc Phủ khủng hoảng ưầm trọng. Trong xã hội Nhật Bản lúc đó tồn tại các mâu thuẫn: mâu thuẫn giữa kinh tế tu bản chủ nghĩa với quan hệ sản xuất phong kiến lỗi thời, mâu thuẫn giữa nông dân, thị dán và giai cấp tư sản vói giai cấp phong kiến, mâu thuẫn giữa tầng lớp phong kiến có xu hướng tư sản hoá với tầng lớp phong kiến Mạc Phủ và mâu thuẫn giũa Nhật nguy cơ xâm lược cùa thực dán Âu - Mĩ đổi với Nhật Bản. Để giải quyết những mâu thuẫn đó, không cốo con đường nào khác là phải làm cuộc cách mạng tư sàn. So với các nước tư bản phương Tây, nền kinh tế tư bản chủ nghĩa ở Nhật kém phát triển và giai cấp tư sản Nhật còn non yếu. Bởi vậy, cách mạng Nhật do tầng lóp quý tộc tu sản hoá lãnh đạo. Từ giữa thế kỉ XVIII, các cuộc khởi nghĩa cùa nông dân và thị dân phát triển mạnh mẽ và rộng khắp, chống lại chế độ Mạc Phủ. Ngoài nông dân, thị dân, tư sản, còn có phe phong kiến đối lập với Mạc Phủ. Đó là những lãnh chúa không có quyền lực, những người thuộc tầng lớp võ sĩ có quan hệ chặt chẽ với thị trường và hoạt động kinh doanh công thương nghiệp (phong kiến tư sản hoá) muốn tiến hành cách mạng lật đổ Mạc Phủ. Phe phong kiến đối lập vói Mạc Phủ được hình thành ở phía Nam Nhật Bản. Đây là vùng tương đối biệt lập với chính 258 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
quyền trung ương và có nền kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển. Năm 1867 Muhuhitô lên ngôi thiên hoàng, lấy hiệu là Mâygi (Minh Trị). Cuối năm ấy đại biểu của liên minh chống Mạc Phủ đòi trả lại cho vua mọi quyền hành mà các tướng quân đã chiếm giữ trong nhiều thê kí qua. Trước sức mạnh cúa các lực lượng cách mạng, chỉnh quyền Mạc Phủ phải chấp nhận yêu cầu này, nhưng lại chuẩn bị lực lượng vũ trang để chống lại. Cuối cùng, Mạc Phủ cùng các thế lực ủng hộ đã nhanh chóng bị thất bại và bị xoá bỏ. Ngày 3/1/1868 chính quyền mói của thiên hoàng được thành lập. Cuộc cách mạng 1868 lả cách mạng tư sản. Bởi vì nó mở đường cho quan hệ tư bản chủ nghĩa phát triển và thắng lợi ở Nhật Bản. Mục tiêu giành chính quyền của phe cách mạng đã đạt được. Đó là chính thể quân chủ tư sản. Sau khi giành được chính quyền, bước tiếp theo của cách mạng là thực hiện cải cách, thúc đẩy chủ nghĩa tư bản phát triển. 2. Duy tân đất nước Ngày 4/6/1868, thiên hoàng Mây gi long trọng tuyên bô' cai trị theo ý nguyện của dân và đề ra cương lĩnh hành động gồm mấy điểm sau: - Tổ chức quốc hội. - Tất cả mọi người đều hành động vì quyền lợi của dân tộc. Không phân biệt quan, dân, ai cũng có thể thực hiện nguyện vọng và phát triển tài nâng của mình. Xoá bỏ các tục lệ xấu, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. - Học tập nước ngoài để xây dựng đất nước. Trên thực tế, cương lĩnh đó tuy không được thực hiện đầy đủ, song là cơ sở tiến hành các cuộc cải cách tư sản mà 259 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
trong lịch sử gọi là cuộc duy tân Mâygi (Minh trị duy tân). Các cuộc cải cách bao gồm: Cải cách về chính trị: Mọi quyền hành nhà nước tập trung vào thiên hoàng. Ngoài ra còn có chính viện (chính phủ), Hữu viện (tư pháp), tả viện (lập pháp), tất cả đều do thiên hoàng điều hành. Trong đó, tả viện (nghị viện) đuợc thành lập ngay từ năm 1868, gồm thượng viện (quý tộc) và hạ viện (võ sĩ và tư sản). Sau đó là sự thành lập hữu viện. Nhờ sự giúp đỡ của chuyên gia phương Tây. Nãm 1880, Nhật Bản ban hanh Bộ luật huih sự và Bộ luật tô' tụng hình sự theo mẫu Tây Âu. Năm 1885, nội các (chính phủ) được thành lập, điều xưa nay chưa từng có trong thực tiễn hành pháp Nhật Bản. Các phiên quốc hội bị xoá bỏ, các lãnh chúã phong kiến trở thành các quan tổng trấn ở địa phương. G i nước được chia thành các quận, huyện và thành phố. Quân đội của các tầng lớp vương công bị giải tán. Quân đội thường trực của thiên hoàng được thành lập, trên cơ sở chế độ nghĩa vụ quân sự được quy định trong sắc lệnh về nghĩa vụ quân sự toàn dân do thiên hoàng ban hành năm 1872. Quân đội được tổ chức theo mô hình của Châu Âu, nhưng tư tưởng vẫn theo cơ sở đạo đức của võ sĩ, tầng lớp trở thành sĩ quan nòng cốt trong quân đội thiên hoàng. Cải cách về xã hội. Thực hiện chế độ giáo dục thống nhất và bắt buộc được thực hiện. Lối học "tẩm chương trích cú" bị phê phán. Phương châm giáo dục theo khẩu hiệu "khoa học phương Tây và đạo đức phương Đông''. Cải cách về kinh tế. 260 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Thống nhất thuế quan, tiền lộ, xây dựng đường sắt, nhằm thống nhất thị trường trong cả nước. Công thương nghiệp được khuyến khích phát triển. Nhưng chế độ tư hữu phong kiến về ruộne đất hẩu như không bi đung chạm tới. Yêu cầu cơ bản của nông dân về ruộng đất không được giải quyết. Vì vậy, cuộc cách mạng tư sản ò Nhật mang tính chất không triệt để. Đó là cách mạng do quý tộc mới lãnh đạo. Cải cách về chính sách đối ngoại. Để thoát khỏi nạn ngoại xâm, chính phủ thiên hoàng học tập, mở rộng giao thiệp với phương Tây nhằm nâng cao dần vị trí của Nhật trên trường quốc tế và phát triển đất nước. n. HIẾN PHÁP 1889 VÀ TỔ CHỨC BỘ MÁY NHÀ NUỠCNHẬT Do phong trào đấu tranh của quần chúng và các lực lượng dân chủ, ngày 11/2/1889, chính quyền thiên hoàng phải ban hành hiến pháp. Trước đó, từ năm 1882 một phái đoàn chính quyền Nhật Bản đã đi khảo sát hiến pháp ở các nước Châu Âu. Hiến pháp 1889 cùa Nhật được xây dựng theo hình mẫu cùa Hiến pháp Phổ. Đây là bản hiến pháp tư sản đầu tiên ỞNhật.(l) 1. Thién hoàng Hiến pháp khẳng định: 'Thiên hoàng muôn đời thống trị đại đ ế quốc Nhật Bản", "Thiên hoàng là thẩn thánh bất khả xâm phạm". Theo hiến pháp, thiên hoàng có quyền hạn rất lớn: - Triệu tập hoặc giải tán quốc hội (1). Hiến pháp 1889 có hiệu lực đến khi ban hành hiến pháp mới nãm 1946 261 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Ban bố hoặc đình chỉ thi hành các đạo luật của quốc hội. - Bổ nhiệm hoặc bãi nhiệm thú tướng và các bộ trưởng. - Tổng tư lệnh quán đội - Tuyên bố tình trạng chiến tranh hoặc đình chiến, tuycn bố lệnh giới nghiêm. - Thưởng huân chương, ban lệnh đại xá. 2. Quốc hội Là cơ quan lập pháp gồm hai viện: - Viện quý tộc (thượng nghị viện) do thiên hoàng lựa chọn từ những người trong hoàng tộc, quý tộc, những người đóng thuế nhiều nhất, những người có công lao đặc biệt với nhà nước. - Viện dân biểu (hạ nghị viên) Quyền hạn của viện dân biểu tương đương với quyén của viện nguyên lão, trừ quyền thảo luận và thông qua ngân sách nhà nước. Viện dân biểu có thể bị thiên hoàng giải tán. Viện dân biểu có nhiệm kì 4 năm, do cử tri bầu ra. Củ tri là nam từ 25 tuổi, mỗi năm đóng thuế 15 yên và cư trú ở một nơi được trên một nãm rưỡi. Những điều kiện này đã loại bỏ phần lớn công dân ra khỏi danh sách cử tri. Trong tổng số 43 triệu dân thời bấy giờ, chỉ có 46 vạn cử tri (chiếm hơn 1%). 3. Nội các (chính phủ) Đứng đầu là thủ tướng, là cơ quan hành pháp. Các thành viên nội các không chịu trách nhiệm trước nghị viện, mà phải chịu trách nhiệm trước thiên hoàng. Đặc biệt trong bộ máy nhà nước, Bộ lục quân và Bộ hài 262 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
quân chỉ quản lí về hành chính đối với lục quân và hải quân. Tham mưu trưởng có quyền báo cáo trực tiếp lên thiên hoàng, không cần thông qua nội các. Vì vậy, thế lực của quân đội rất lớn và có vị trí độc lập nhất định đối với nội các. Rõ ràng theo Hiến pháp 1889, quyền hạn của thiên hoàng rất lớn, nhưng cơ cấu tổ chức nhà nước là theo chính thể quân chủ lập hiến. Bởi vì, quyền hạn của thiên hoàng không phải là vô hạn như thời phong kiến mà dược giới hạn trong hiến pháp. Và trong cơ cấu tổ chức nhà nước còn có nghị viện ỉà cơ quan nắm quyến lập pháp. Tuy càng chính thể quân chủ nghị viện, nhưng so với Anh, quyền hạn của thiên hoàng Nhật Bản rất lớn, còn quyền hành của hoàng đế nước Anh chì là hư quyền. Sau cách mạng tư sản, nền kinh tế tư bản chủ nghĩa Nhật Bản phát triển mạnh mẽ. Chính quyền thiên hoàng thẳng tay đàn áp các phong trào đấu tranh của quần chúng lao động, thực hành chính sách bành trướng xâm lược ra nước ngoài (Triều Tiên, Trung Quốc). Mặc dù, cuộc cách mạng tư sản ở Nhật được tiến hành muộn, nhung cũng từ cuối thế kỉ XIX, chủ nghĩa tư bản ở Nhật bắt đầu chuyển sang thời kì đế quốc chủ nghĩa. Tóm lại, do thê' lực còn non yếu, nên giai cấp tư sản Nhật Bản không giữ được vai trò độc quyển lãnh đạo cách mạng tư sản. Nó phải liên minh với tầng lớp phong kiến tư sản hoá để lãnh đạo cách mạng. Cuộc cách mạng tư sản thành công không thể thiếu vai trò quần chúng lao động - đội quân chủ lực của cách mạng. Sự liên minh trên đưa đến hậu quả là, vấn đề ruộng đất trong cách mạng tư sản không được giải quyết và từng bước hình thành chính thể quân chủ nghị viện, trong đó quyền lực của vua rất lớn. 263 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
E. PHÁP LUẬT Tư SẢN THỜ KÌ CẬN ĐẠI Pháp luật tu sản đã có mầm mống từ trong lòng xã hội phong kiến. Đến khi nhà nước tư sản được thiết lập bởi các cuộc cách mạng tư sản, pháp luật tư sản được hình thành hệ thống. Pháp luật tư sản là một phương tiện của nhà nước tu sản để thực hiện nền chuyên chính tư sản, bảo vộ chế độ tu hữu tư bản và địa vị, quyền lợi của giai cấp tư sản. I. HAI HỆ THỐNG CHÍNH CỦA PHÁP LUẬT TƯSẢN Đặc điểm của cuộc cách mạng tu sản ở Anh và của cách mạng tu sản ở Pháp không chỉ quyết định các loại hình chính thể tư sản, mà còn ảnh hưởng trực tiếp lớn lao tới dặc điểm pháp luật của từng nuớc. Pháp luật tu sản ở nhiều thuộc địa của hai nước này không nằm ngoài luồng ảnh hưỏng những đặc điểm của pháp luật chính quốc. Vì vậy, người ta chia pháp luật tư sản thành hai hệ thống chính. - Hệ thống pháp luật lục địa bao gồm pháp luật của Pháp, của các nước tư bản ở lục địa Châu Âu và nhiéu nước là thuộc địa của Pháp. - Hệ thống pháp luật Anh - Mĩ bao gồm pháp luật Anh - Mĩ và các nước là thuộc địa của hai đế quốc này như Ôtxtrâylia, Canada,... Những điểm khác nhau nổi bật của hai hệ thống pháp luật này là: - Nguồn luật chủ yếu của hệ thống pháp luật lục địa là các bộ luật mới được xây dựng. Còn nguồn luật chủ yếu của hệ thống pháp luật Anh - Mĩ là tiền lệ pháp và các bộ luật, nhưng không phải là những bộ 264 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
luật được xây dựng hoàn toànjnới mà là những bộ luật phong kiến cũ và đưa vào những nội dung tư sản. (Đương nhiên, trong thời kì sau, ở nhiều nước trong hệ thống pháp luật Anh - Mĩ đã phải xây dựng một số bộ luật mới, để đáp ứng sự phát triển cùa quan hệ tư sản). - Trong lĩnh vực điều chỉnh các quan hệ tài sản, hệ thống pháp luật lục địa gắn bó nhiều vói những nguyên tắc của luật La Mã, còn hệ thống pháp luật Anh - Mĩ thì không. - Chỉ có hệ thống pháp luật lục địa mới chia pháp luật thành công pháp và tư pháp, còn hộ thống pháp luật Anh - Mĩ thì không. Công pháp bao gổm những quy phạm pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước và giữa cơ quan nhà nước với công dân. Tư pháp bao gồm những quy phạm pháp luật điểu chỉnh các quan hệ giữa các công dân với nhau, như luật dân sự. Pháp luật của Anh và pháp luật của Pháp là hai điển hình của hai hệ thống pháp luật trên. 1. Pháp luật tư sản Anh Cuộc cách mạng tư sản Anh chống phong kiến không triệt để. Đặc điểm đó ảnh hưởng rất rõ tới pháp luật tư sản. ở Anh hầu như không xây dựng những ộộ luật mói. Sau cách mạng tư sản, hệ thống tư pháp, luật tô' tụng và luật lệ về ruộng đất phong kiến được bảo lưu, nhưng đưa vào đó nội đung tư sản. Tuy vậy, một sô' văn bản pháp luật đơn hành được ban bố. Như những sắc lệnh tịch thu ruộng đất của nhà thờ, của những người chống đối lại nhà nước và về việc bán sô' ruộng đất với giá rất cao để nông dân không thể mua nổi mà rơi vào tay tư sản và quý tộc mới. Những đạo luật của 265 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
nghị viện xoá bỏ sự hạn chế hoạt động công thương nghiệp, như Đạo luật 1650 về việc chấn chỉnh và khuyến khích thương mại, Đạo luật 1651 về giao thông đường thủy. Một nguồn luật rất quan trọng của pháp luật tư sản Anh là tiền lệ pháp, bao gồm tiẻn lệ hiến pháp và tiền lệ tư pháp. Tiền lộ hiến pháp là những tập quán chính trị về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nưóe. Những tập quán chính trị này có giá trị pháp lí như một hiến pháp không thành văn (ở Anh không có hiến pháp thành vàn). Tiền lệ tu pháp (án lệ) là những quyết định của các toà án cao cấp (toà án tối cao, toà phúc thẩm). Những quyết định này có tính chất bắt buộc đối với các toà án cấp dưới, cũng như ngay cả đối với các toà án cao cấp khi sau đố xét xử những vụ án tương tự. 2. Pháp luật tư sản Pháp. Bộ luật Napôlêông Cuộc cách mạng tư sản Pháp chống phong kiến triệt dể, nên trước hết pháp luật xoá bỏ các quan hệ phong kiến, sắc lệnh ngày 16/2/1791 giải tán chế độ phường hội. Các sắc lệnh vể hôn nhân tự do, cho phép ly hôn, xoá bỏ hiệu lực của luật lệ Thiên chúa, cấm lĩnh canh ruộng đất vĩnh viễn theo kiểu phong kiến. Đạo luật ngày 1/3/1791 cho phép mọi người có quyển tự do kinh doanh. Việc pháp điển hoá ở Pháp đã trở thành mẫu mục cho pháp luật tư sản. Những bộ luật chủ yếu đã được xây dựng và ban hành rất sớm: Bộ luật dàn sự 1804, Bộ luật thương mại 1807, Bộ luật tố tụng hình sự 1808, Bộ luật hình sự 1810. Trong đó Bộ luật dân sự 1804 là bộ luật nổi tiếng nhất. Bộ luật này do hoàng đế Napôlêông I khởi xướng và chỉ đạo quá trình xây dựng nên còn được gọi là Bộ luật Napôlêông. 266 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Mặc dù chịu ảnh hưởng của luật La Mã, nhung về cơ bản Bộ luật Napôlêông phản ánh những tư tưỏng của cách mạng tư sản Pháp. Nếu như luật La Mã là luật của kinh tế hàng hoá giản đơn, thì Bộ luật Napôlêông là bộ luật kinh điển của dân luật tu sản. Điều đó được thể hiện ở cả hai phương diện: nội dung và kĩ thuật lập pháp. Về nội dung, tức là về đối tượng quan hệ xã hội được bộ luật điều chỉnh: Trên nguyên tắc mọi công dán đểu được bình đẳng trước pháp luật, tất cả những quan hệ dân sự chủ yếu trong xã hội tu bản đều được bộ luật điều chỉnh: quyền sở hữu, hợp đồng trái vụ, hôn nhân và gia đình, thừa kế,... Đặc biệt, về kĩ thuật lập pháp có thể nói Bộ dân luật 1804 của Pháp là một cuộc cách mạng về kĩ thuật làm luật. Các chương, điều, các quy phạm pháp luật được sắp xếp theo từng chế định của dân luật. Những chế định này được trình bày rõ ràng và lôgíc. Bộ luật đã nêu đầy đủ và diễn đạt chuẩn xác các nguyên tắc của dần luật. Các khái niệm pháp lí được định nghĩa ngắn gọn nhưng chuẩn xác. Ngôn ngữ của bộ luật sáng sủa dễ hiểu. Chính vì vậy, Bộ luật Napôlêông trở thành khuôn mẫu cho pháp luật dân sự ở nhiều nước tư bản và ngày nay vẫn có hiệu lực. Tóm lại, sự phân biệt thành hai hê thống của pháp luật tu sản chỉ mang tính tương đối và hình thức. Trong từng hệ thống, tuỳ theo hoàn cảnh lịch sử cụ thể, pháp luật ở từng nước cũng có nhiều điểm khác nhau. Nhưng dù ở hộ thống nào, ở nước nào, pháp luật tư sản cũng cùng một bản chất. Càng vể sau, sự khác nhau giữa hai hệ thống của pháp luật tư sản được xoá bỏ dần theo sự phát triển của xã hội tư sản. 267 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
IIỖ NHŨNG CHẾ ĐỊNH c ơ BẢN CỦA PHÁP LUẬT TƯSẢN 1. Luật hiến pháp tư sản Trong lịch sử pháp luật, luật hiến pháp là ngành luật mới có từ khỉ nhà nước tu sản ra đời. Hiến pháp là đạo luật cơ bản của nhà nước tư sản. Trước đó, nhà nước ở chế độ chiếm hữu nô lộ và chế độ phong kiến không hề biết đến hiến pháp và không thể cố hiến pháp. Bởi vì, trong các chế độ đó, quyền lực của nhà vua là vô hạn. Vua là người sản sinh ra pháp luật và không thể có một trở lực nào hạn chế được quyền lực vô biên của vua. Khi nắm được quyền lực chính trị, nhà nước tu sản sáng lập ra hiến pháp vì: - Nhằm ngăn chặn sự phục hồi của nển quân chủ chuyên chế phong kiến. - Do sự thoả hiệp, phân chia và cân bằng quyển lực giữa các tầng lớp và phe phái trong nội bộ giai cấp tư sản. - Vừa để trấn áp nhân dân, củng cô' địa vị thống trị của giai cấp tư sản, vừa che đậy bản chất nền chuyên chính tu sản bằng những quyền tự do dân chủ và chủ quyền của toàn dân. Nhưng dù sao, nếu so với pháp luật chiếm hữu nô lệ và phong kiến và xét về hình thức pháp lí, thì sự ra đời của ngành luật hiến pháp là một cuộc cách mạng trong lịch sử luật pháp. Bản hiến pháp của nước Mĩ năm 1787 là bản hiến pháp đầu tiên. Tuy vậy, do nước Mĩ còn là "ngoại vi" của thế giới tư sản lúc bấy giờ nên tư tưởng và nguyên tắc lập hiến của Hoa Kì chưa kịp lan toả. Hình thức lập hiến ở Pháp giữ một vai trò rất quan trọng và có ảnh hưởng trực tiếp đến nhiều 268 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
nước, có ảnh hường lớn đến quá trình lập hiên trẽn thế giới. Còn nước Anh tuv làm cách mạnc tư sản từ thê ki XVII. nhima lại không có hiến pháp thành văn. Trong thế kí XIX. nhiều hiến pháp tư sàn đã được ban hành, như Hiến pháp Vương quốc Na Uy 1815, Hiến pháp cùa Vương quốc Bỉ 1831, Hiến pháp Đại công quốc Lúc xăm bua 1868, Hiến pháp Liên bang Thụy Sĩ 1874.... Nhìn chung hầu hết các hiến pháp là hiến pháp thành văn(1). Không phải vì là Mến pháp không thành văn mà hiến pháp kém hiệu lực. Bời những gì đã trở thành các quy định lập quán thì không mấy khi có thể vi phạm được. Nhiều hiến pháp tư sản có hiệu lực rất lâu dài. Hiến pháp 1787 của Mĩ, hiến pháp khóng thành vãn của Anh đến ngày nay vẫn có hiệu lực. Hiến pháp 1889 của Nhật Bản có hiệu lực đến tận khi ban hành Hiến pháp 1946. Nội dung của hiến pháp tư sản thường gồm 3 chế định: tổ chức bộ máy nhà nước, quyền và nghĩa vụ của công dân, chế độ bầu cử. Về chế định tổ chức bộ máy nhà nước, hiến pháp các nước Âu, Mĩ và Nhật Bản đều thừa hưởng thực tiễn thống trị cùa hai nhà nước Anh và Pháp. Tùy theo từng nước thể hiện ờ các hình thức: quân chủ nghị viện, cộng hoà nghị viện, cộng hoà tổng thống. Dù ở chính thể nào thì hiến pháp cũng quy định tổ chức của 4 loại cơ quan chủ yếu trong nhà nước: Nghị viện, chính phủ, toà án và người đứng đầu nhà nước (vua, tổng thống). V ề chế định q u y ền và nghĩa vụ của cô n g dàn. hầu hết các hiến pháp tư sản đéu ghi nhận quyền tư hữu là thiêng ( l) ễ Ngày nay có 3 nước có hiến pháp không thành vãn: Anh. Niuđilàn và Ixraen (là những nước thuộc đia cùa Anh tnrớc dãy). 269 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
liêng và bất khả xâm phạm. Thòi gian đầu, quyền công dân bị hạn chế rất nhiều. Do phong trào đấu tranh của nhân dân lao động, dần dần nhà nước tư sản phải ghi nhận thêm một số quyền công dân vào hiến pháp. Tuy vậy, quyển và nghĩa vụ của công dân đuợc ghi trong hiến pháp vẫn còn phiến diện, nghĩa vụ thường không đi đôi với quyền lợi. Về chế định bầu cử, so vói chế độ quân chủ chuyên chế phong kiến, việc áp dụng phương pháp bầu cử để lập ra các cơ quan nhà nước của chế độ tư bản ỉà một phương pháp dân chủ, một bước tiến lớn lao. Nó loại trừ quan niệm đã ngự trị từ bao đời: quyền lực nhà nước xuất phát do trời định sẩn (vua là thiên tử, quan lại là con dòng cháu giống,...). Tuy vậy, chế định bầu cử tư sản đã xác định một loạt điều kiện để hạn chế quyền bầu cử của nhãn dân lao động. ! /\ ìúb Đó là tư cách về tài sản. cử tri phải là người có số tài sản nhất định. Tây Ban Nha, Bỉ, Hà Lan và một số nước khác căn cứ vào mức độ đóng thuế cho nhà nước. Bồ Đào Nha, Braxin căn cứ vào mức độ thu nhập cá nhân... Còn người ra ứng cử phải là người có thế lực kinh tế, ví dụ: ứng cử viên phải lú quỹ một số tiền nhất định. Điều kiện vẻ trình độ văn hoá: cử tri phải là người có trình độ văn hoá nhất định. Điều kiện về tuổi tác: thường cử tri phải từ 21 tuổi trồ lên. Về giới tính: phụ nữ không có quyển bấu cử. Về chủng tộc: người da đen, người da đỏ không có quyền bầu cử. Điều kiện cư trú: công dân muốn được bầu cử hay ứng cử thường phải sống cố định ở một nơi trong khoảng thời gian nhất định. Ví dụ, ở Pháp thời gian cư trú của cử tri là 6 tháng. 270 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Đặc biệt, một số nước tư bản còn quy định có tầng lớp được quyền bỏ nhiều lá phiếu hơn những cử tri bình thường. Ví dụ: ở một số bang thuộc miền Tây Australia các chủ nhà máy, chủ đồn điền được bỏ 4 phiếu trong một lần bầu cử. Do phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân, sau này sang thế kỉ XX, hiến pháp tư sản dần dần phải xoá bỏ một số hạn chế quyền bấu cử của công dân. 2. Những chê định của dân luật tư sản Do sự phát triển của kinh tế tư bản chủ nghĩa và các quan hệ tư sản, dân luật tư sản giữ vị trí trung tâm trong pháp luật tư sản. Nội dung chủ yếu của dân luật tư sản là bảo vệ quyền tư hữu tư sản, điều chỉnh các quan hệ hợp đồng, hôn nhân gia đình, thừa kế,... Nguyên tắc cơ bản của dân luật tư sản là quyền bình đẳng của các công dân trong những quan hệ dân luật. a. Chế định quyền tưhĩm tư sản Quyền tư hữu tài sản là vấn đề cơ bản, là một trong những chế định quan trọng nhất của pháp luật tự sản, là hình thức pháp lí cơ sở của các quan hệ tư bản chủ nghĩa. Do vậy, quyền tư hữu tài sản không những được dân luật điều chỉnh mà còn đựoc cả luật hình, luật hành chính và nhiều ngành luật khác bảo vệ. Chế định quyền tư hữu thấm nhuần quan điểm tư sản: quyền tư hữu được coi là quyển tự nhiên của con nguời, đó là quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm. Quyền tư hữu gồm có ba quyền: quyền định đoạt, quyền chiếm hữu và quyền sử dụng. Luật tư sản không phân biệt tư hữu tư liệu sản xuất với tư hữu tư liệu sinh hoạt. Trong dân luật, quyền tư hữu đựoc bảo về đặc biệt. Luật tránh mọi 271 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
quy định làm phương hại đến quyền tu hữu. Chảng hạn, quyền tư hữu được quy định trong bộ luật Napôlêông là "quyền sử dụng một cách tuyệt đối nhất sao cho trong khuôn khổ pháp luật". Bộ luật chia vật sở hữu thành hai loại: động sản và bất động sản. Những bạn chế quyền sở hữu do bộ luật quy định chỉ liên quan đến hành vi làm ảnh hưởng xấu tới quyẻn lợi của người khác. Ví dụ cấm xây dựng nhũng ngôi nhà làm tổn hại tới hàng xóm. b. C h ế định hợp đồng và trái vụ tư sản Hợp đồng là hình thức trao đổi chủ yếu của chủ nghĩa tu bản. Dân luật tư sản xác định quyền bình đẳng và tự do biểu lộ ý chí của các bên tham gia hợp đồng. Nhưng trong thực tế, nhiều khi quyẻn binh dẳng đó khó có thể trỏ thành hiện thạc. Ví dụ: người công nhân buộc phải kí kết hợp đồng lao động bất công với chủ tư bản, nếu không thì thất nghiệpệ Hoặc, trong tình trạng cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các tệp đoàn tư bản, các chủ doanh nghiệp nhỏ phải kí kết hợp đồng bất lợi với đại tư sản, nếu không sẽ bị phá sản. Các bộ dân luật tư sản đều quy định rõ những điều kiện đảm bảo thực hiện hợp đổng. Hợp đồng phải được thực hiện nghiêm chỉnh trong bất kì hoàn cảnh nào. Pháp luật chỉ cho phép huỷ bỏ hợp đồng trong trường hợp có sự đồng ý của tất cả các bên đã tham gia kí kết hợp đồng. Chiến tranh, thiên tai hoặc những tai biến khác chỉ là lí do để trì hoãn việc thực hiện hợp đồng, chứ không phải là căn cứ để huỷ bỏ hợp đồng. Dân luật tư sản quy định nhiều phương pháp để bảo đảm việc thực hiện hợp đổng như cầm cố, đặt cọc, tiền phạt, bảo lãnh,... Họp đồng là cơ sở phổ biến nhất để phát sinh trái vụ. 272 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trái vụ là một trong nhũng chế định quan trọng nhất của dân luật tư sản. Theo luật tư sản, trái vụ là một quan hệ pháp luật, trong đó m ột người hoặc m ột số người phải thực hiện hành vi nào đó đối với một người, hoặc một số người khác. Nếu như quyền sở hữu thể hiện những quan hệ tài sản trong trạng thái của nó, thì quyền trái vụ là hình thức của quá trình biến đổi các quan hệ tài sản đó. Trái vụ là hình thức pháp lí trung gian cơ bản của quan hệ bóc lột tư bản chủ nghĩa, của việc phân chia lại giá trị thặng dư giữa các tập đoàn tư bản. c. Chế định pháp nhân và công ly cổ phần tư sdn Chế định về pháp nhân và công ti cổ phần nhằm cúng cô địa vị kinh doanh của nhà tư bản, đồng thời không ngừng tập trung vốn, mở rộng kinh doanh và dẫn tới độc quyền, thu lợi nhuận ngày càng cao. Thời gian đầu, việc thành lập các công ty cổ phần phải có chính phủ cho phép. Nhưng sau đó để bảo đảm quyền tự do kinh doanh, quy định trên bị bãi bó. Việc thành lập công ty cổ phần chỉ cần đăng kí vói chính phủ. Cũng như các xí nghiệp, công ty cổ phần có tư cách pháp nhân. Nghĩa là có tài sản riêng, có đầy đủ quyền quản lí và tham gia lưu thông dân sự thông qua người đại diện. Các nhà tư bản góp vốn để thành lập công ty cổ phần. Đổng thời, công ty thu hút vốn của các chủ doanh nghiệp nhỏ, của quan chức,tầng lớp thượng lưu, của giới trí thức,... Việc thành lập các công ty cổ phần nhằm tích tụ và tập trung tư bàn. Cơ quan quản lí cao nhất của công ty là hội nghị các cổ đỏng. Trong hội nghị, số đầu phiếu không tính theo đầu người, mà tính theo cổ phiếu. Như vậy, quyền quản lí công ty thực chất thộc về các nhà tư ban lớn. 273 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
d. C hế định về hôn nhân gia đình Trong dân luật tư sản, hôn nhân là một loại hợp đổng tức là một biến dạng của hành vi pháp lý dân sự. Quan hệ tài sản quyết định trong quan hệ hôn nhân và gia đình. Theo dân luật tư sản vịêc kết hôn phải có đủ hai điéu kiện sau: - Người kết hôn phải có năng lực pháp lí tức là phải đạt đến độ tuổi nhất dịnb. Không ít nước quy định tuổi kết hôn ở tuổi vị thành niên. - Hai bên nam, nữ đồng ý lấy nhau. Về hình thức kết hôn, có nước quy định chỉ hình thức kết hôn dân sự (do chính quyền chứng nhận) mới có giá trị pháp lí, như Pháp, Đức,... có nuớc thì chỉ kết hôn theo hình thức tôn giáo mới có hiệu lạc, như Tây Ban Nha, Hy Lạp,..Ế có nước coi cả hai hình thức kết hôn trên đều có giá trị pháp lý như Anh, một số bang Hoa Kì,... Ở một số nước, còn ảnh hưởng lớn của thiên chúa giáo, pháp luật cãin ly hôn. Dân luật tư sản củng cô' quan hệ không bình đẳng trong gia đình, giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con cái. Người vợ bị hạn chê năng lực pháp lí và năng lực hành vi pháp lí dân sự. Trong quan hệ cha mẹ và con cái, quyền tài sản lấn át quyền nhân thân. Pháp luật bảo vệ quyền lợi tài sản của gia đình hợp pháp, bảo vệ quyền lợi của con cái trong giá thú. Bộ luật Napôlêông xác định chồng là người đứng đầu trong gia đình, bảo hộ người vợ, do đó người vợ phải phục tùng. Vợ phải sống nơi chồng lựa chọn, không có quyền tham gia các hợp đổng và đệ đơn tới toà. Bộ luật cho phép người chồng ly dị vợ khi chứng minh được rằng người vợ "không còn xi'fng đáng". Còn người vợ được quyển li dị chồng chỉ khi nào chứng minh được rằng chồng mình sống với nhân tình ngay 274 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
trong cùng m ột nhà. e. Chế đinh thừa kế Quan hệ thừa kế là một bộ phận trọng yếu của quan hệ tài sản trong xã hội tu bản. Theo luật dân sự tư sản, thừa kế có hai hình thức: 1. Thừa kế theo chúc thư: Chúc ihư là cách cho thừa kế ihuận tiện nhất. Hầu hết các vụ thừa kế lớn đều có chúc thư. Dân luật tư sản, một mặt xác định nguyên tắc tự do chúc thư, mật khác, luật pháp nhiều nước còn hạn chế sự độc đoán của người làm chúc thư, để bảo vệ quyền lợi của những người trong gia đình. Ví dụ, luật của nước Pháp quy định người làm chúc thư không được tước quyền thừa kế của những người họ hàng theo luật định. 2. Thừa kế theo luật xảy ra khi người chết không đế lại chúc thư, hoặc chúc thư bị công nhận là vô hiệu, hay chúc thư không giải quyết hết tất cả tài sản để lại. Thừa kế theo luật dựa trên hai nguyên tắc: - Bảo đảm quyền lợi thừa kế hợp pháp của những người trong gia đinh. - Đề cao giá trị của chủ tư hữu, cho thừa kế không chỉ những người trong gia đình, mà cả trường hợp nếu như không có những người trong gia đình, thì những người họ hàng xa xôi sẽ được thừa kế. Về mặt pháp lí, người ta còn phân biệt loại thừa kế của hệ thống pháp luật lục địa và loại thừa kế của hệ thống pháp luật Anh - Mĩ. ở các nước thuộc hệ thống pháp luật lục địa, tài sản thừa kế được chuyển thảng cho những người được thừa kế. Còn ở hệ thống pháp luật Anh - Mì, tài sản được chuyển qua 275 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
người trung gian (người này có thể được chỉ định trong chúc thư và được toà án phê chuẩn, nếu không thì do toà án chỉ định). Sau khi người trung gian làm những thủ tục theo luật thì tài sản được chuyển cho người được thừa kế. 3. Những chế định của luật hình tu sản So vói pháp luật phong kiến, luật hình tư sản có những tiến bộ lớn về hình thức pháp lí: chống lại sự độc đoán xélxử của vua chúa, mọi công dân đéu bình đẳng truớc pháp luật, không có quy định về tội chống tôn giáo và các nguyên tắc về hình luật mà bản Tuyên ngôn về nhân quyẻn và dân quyền của Pháp đã đề ra. Nhưng về bản chất, luật hình tư sản là cơ sở pháp lí trọng yếu và trực tiếp của nhà nước tư sản, để đàn áp nhãn dãn lao động và các thế lực khác chống đối. Bộ luật hình của Pháp nãm 1810 quy định án tử hình đối với nhiểu tội danh không đáng áp dụng dạng hình phạt này. Nó còn bảo lưu nhiều hình phạt nhục hình như đóng dấu, chặt tay, ... Nó không thừa nhận tình tiết giảm nhẹ, hình phạt do hoàn cảnh khách quan của việc phạm tội. Sau cách mạng dân chủ tư sản 1830, luật hình Pháp mới bãi bỏ các nhục hình. Luật hình sự Pháp có ảnh hưởng lớn tới luật hình các nước Italia, Tây Ban Nha, Hà Lan, Thổ Nhĩ Kì, Nhật Bản,v.v... Đến thế kỉ XIX, các đạo luật hình ở Anh cũng vẫn áp dụng hình phạt tử hình đối với hầu hết các tội danh, không chỉ tội giết người, cướp, mà thậm chí cả tội làm tổn hại súc vật, chặt gỗ rừng,... Việc thi hành hình phạt này là cho xe cán, chặt tứ chi và đầu, mổ bụng moi lục phủ ngũ tạng, ... Năm 1819 các hình phạt man rợ này bị bãi bỏ và giảm nhẹ hình phạt cho những tội không nặng. 276 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
vể hình phạt tù, các nước thường có ba hình thức: biệt giam, khổ sai, đưa đi đầy ở thuộc địa. Hình thức biệt giam được áp dụng ở Pháp từ năm 1875 và cho những người có hạn tù ngán. Bộ luật hình sự Đức nãm 1871 quy định thời hạn biệt giam tối đa là 4 năm. Có nơi, ở Mĩ kết hơp biột giam với lao động khổ sai, tù nhân bị biệt giam vể đèm còn ban ngày thì cũng bị lao động khổ sai. Hình thức đi đày ở thuộc địa vừa giảm bớt được gánh nặng cho các nhà tù ở chính quốc, vừa góp phần đáp ứng như cầu về lao động nặng nhọc ở thuộc địa. Từ cuối thế kỉ XIX, hình thức án treo bắt đầu xuất hiện ở một nước. Luật hình tư sản có rất nhiều đạo luật đặc biệt, mà trọng tâm là vể các tội chính trị, để đối phó với phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và các tầng lớp nhân dân lao động khác. Những đạo luật này quy định những hình phạt rất nghiêm khấc đối vói các hành vi và những tư tưởng chống đối nhà nước tư sản. 4. Tổ chức tư pháp và tố tụng tư sản So với chế độ phong kiến, một tiến bộ lớn lao của pháp luật tư sản là tách quyền tư pháp ra khỏi quyền hành pháp, quan chức hành pháp không được nắm quyền xét xử, mà quyền này được trao cho một cơ quan chuyên trách là toà án, tố tụng được tách thành tố tụng hình sự và tô' tụng dân sự. Tổ chức tư pháp là một trong những cơ quan trấn áp chủ yếu của nhà nước tư sản. Tố tụng tư sản là cơ sở pháp lí bảo đảm cho hệ thống tư pháp thực hiện chức năng của nó, là đàn 277 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
áp mọi sự chống đối, bảo vệ địa vị và quyển lợi của giai cấp tư sản. bảo vệ an toàn trật tự xã hội tư sản. Ở các nước tư bàn khác nhau, tổ chức tư pháp cũng có sự khác nhau, ơ Pháp, việc xét xử của phung kiến trước kia đã được thay thế bằng hệ thống toà án tư sản, bao gồm toà phúc thẩm, toà thượng thẩm, toà sơ thẩm, toà hoà giải: - Toà hoà giải: giải quyết các vụ dân sự và hình sự nhỏ. - Toà sơ thẩm: xét xử các vụ án lớn hơn - Toà thượng thẩm: xử các vụ án hình sự nghiêm trọng, xem xét lại các bản án của toà sơ thẩm. - Toà phúc thẩm (cả nước có một toà): xem xét lại các bản án của toà thượng thẩm. Tổ chức tư pháp của hầu hết các nước lục địa Châu Âu theo mô hình của Pháp. Ở Anh, mặc dù quyên tu pháp đuợc tách ra khỏi quyền hành pháp, nhưng hệ thống tư pháp của phong kiến hầu như vẫn được giữ nguyên. Mãi sau này, hộ thống tư pháp Anh mới có một sô' cải cách, chủ yếu là đối với toà án tối cao. Từ thế kỉ XIX, theo luật tố tụng của các nước tư bản, quyển khởi tố vụ án thuộc về viện công tố. Trong luật tố tụng tư sản dần dần hình thành những nguyên tắc chủ vếu sau đây: - Nguyên tắc tranh tụng trong phiên toà: người buộc tội là viện công cố, người gỡ tội là bị cáo và luật sư bào chữa. - Nguvên tắc suy đoán vó tội: khi chưa có đủ chứng cứ buộc tội. thì bị can vẫn được coi là nsười vô tội. Từ neuyên 278 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
tắc suy đoán vô tội nên bị can có quyền được bào chữa, còn trách nhiệm buộc tội thuộc về ủy viên công tố, bản án được quyết định bởi đa số trong hội đồng xét xử, không ai có quyền kháng cáo đối với việc trắng án. - Nguyên tắc không thay đổi thẩm phán. Nhận xét chung về nhà nước và pháp luật tư sản thời kì cận đại. Nhà nước và pháp luật tư sản ra đời, là thành quả chính trị cơ bản và trực tiếp của cách mạng tư sản, là hệ quả của quá trình phát triển của một phương thức sản xuất mới - phưcmg thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Trong các cuộc cách mạng tư sản, đội quân chủ lực là quần chúng nhân dân lao động. Lúc bấy giờ, giai cấp tư sản là người đại diện cho phương thức sản xuất mới, tiến bộ nên họ giữ vai trò lãnh đạo cuộc cách mạng tư sản. Xét về bản chất, sự hình thành của nhà nước tư sản chỉ là sự thay thế nhà nước bóc lột này bằng kiểu nhà nước bóc lột khác, pháp luật của kiểu nhà nước bóc lột này bằng pháp luật của kiểu nhà nước bóc lột khác. Nhà nước tư sản cùng pháp luật của nó là công cụ thống trị, bảo vệ địa vị, quyền lợi của giai cấp tư sản. Bản chất đó của nhà nước tư sản được thể hiện qua những chức nãng sau đây: - Bảo vệ chế độ tư hữu tư bản là chức năng cơ bản của nhà nước tư sản. - Trấn áp các phong trào đấu tranh của giai cấp công 279 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
nhân và nhân dân lao động là chức nãng chủ yếu nhất. - Chức năng trọng yếu là chống lại sự xâm lược của nước ngoài để bảo vệ quyền lợi của giai cấp tư sản và nhất là tiến hành chiến tranh xâm lược để biến các nước thành thuộc địa hoặc phụ thuộc. Trong thời kì đầu, thời kì mà chế độ phong kiến vừa mới bị diệt vong, nhung một sô' thế lực phong kiến chua bị xoá bỏ hẳn, thời kì mà chủ nghĩa tư bản là chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh, nhà nước và pháp luật tư sản có những đặc điểm nổi bật sau: 1. Trong thòi kì này, giai cấp tư sản mà công cụ của nó là nhà nước tư sản, còn phải đấu tranh quyết liệt và dai dẳng với thế lực phong kiến. Một số thế lực phong kiến ở trong nước ngóc đầu dậy định khôi phục lại chế độ quân chủ chuyên chế phong kiến. Thế lực các nhà nước quân chủ phong kiến có mưu đồ dập tắt các phong trào dân chủ tư sản ở bên ngoài, để khỏi tác động đến phong trào đấu tranh ở nước chúng. Ở Anh từ chính thể cộng hoà nghị viện được thiết lập trong cách mạng tư sản, sau cách mạng tư sản, đã phải chuyển sang chính thể quân chủ nghị viện. Một trong những nguyên nhân của sự thay đổi đó là tương quan lực lượng giữa tư sản và thế lực phong kiến cũ. Ngay ở Pháp, nơi mà cuộc cách mạng tư sản được tiến hành triệt để thì sau cách mạng, giai cấp tu sản vẫn phải thường xuyên đấu tranh với thế lực phong kiến cũ trỗi dậy. Tiêu biểu là cuộc cách mạng tháng 7/1830 lật đổ chính quyền quân chủ phong kiến của dòng họ Buốc bông đã được tái lập từ năm 1815. Nước 280 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Pháp cách mạng cũng đã phải chống trả lại những cuộc can thiệp của các nước phong kiến Châu Âu. ở Châu Âu, cho đến giữa thế kỉ XIX mới có ba nhà nước tư sản được thiết lập: Hà Lan, Anh, Pháp. Đến mãi nửa sau thế kỉ XIX ở một loạt nước khác như Đức, Italia mới được thống nhất. Chế độ phong kiến đã từng tồn tại hàng nghìn nãm nên việc lật đổ nó không phải là viộc dễ dàng và ngay cả khi nhà nước tư sản đã được thiết lập thì việc chống trả lại sự trỗi dậy của thế lực phong kiến cũng không kém phần quyết liệt và dai dẳng. 2. So vói chế độ quân chủ chuyên chế phong kiến thì sự ra đời của nhà nước tư sản là một bước tiến lớn lao trong lịch sử. Từ chế độ quân chủ chuyên chế sang chế độ cộng hoà tư sản, là một cuộc cách mạng về cơ chế tổ chức quyền lực chính trị. Trong thời kì chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh, khi mà giai cấp vô sản chưa đủ năng lực đứng ra lãnh đạo quần chúng làm cuộc cách mạng vô sản để thiết lập chế độ xã hội chủ nghĩa, thì so với chế độ phong kiến, sự tồn tài của nhà nước tư sản trong thời kì này mang tính chất tiến bộ. Tuy rằng, càng về cuối thời kì này chính sách của nhà nước tư sản dần dần đã bộc lộ tính chất phản động, nhưng do vai trò chủ lực của quần chúng trong cách mạng tư sản, nhìn chung nhà nước tư sản đã phải thể hiện vai trò tiến bộ của mình đối với sự phát triển của xã hội, như chống phong kiến, phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa, đề ra một số quyền tự do dân chủ. Đó là một đặc điểm của nhà nước tư sản trong thời kì chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh. 281 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
3. Đặc điổm về tổ chức của nhà nước tư sản thời kì canh tranh tự do. - Bộ máy của nhà nước tư sản không lớn bằng thời kì chủ nghĩa tư bản độc quvền. Nhiều bộ phận của nó kê thừa của nhà nước phong kiến như: quân đội, cảnh sát, nhà tù. Bộ máy nhà nước chưa lớn bằng thời kì sau, bởi vì lúc này nhà nước tư sản chưa can thiệp vào quá trình sản xuất và trao đối tư bản. Nhà nước tư sản cũng là một kiểu nhà nước bóc lột nên không cần triệt tiêu tất cả bộ máy nhà nước cũ. Nhà nước tư sản cải tạo, sử dụng một số bộ phận của nhà nước cũ để phục vụ cho nền chuyên chính của giai cấp tư sản. - Ở các nước có sự khác nhau về tương quan lực lượng giữa phong kiến và tư sản, về mức độ đấu tranh của quần chúng nhân dân, nên có sự khác nhau về chính thể của nhà nước tư sản: chính thể quân chủ tư sản, chính thể cộng hoà tư sản (cộng hoà đại nghị và cộng hoà tổng thống). Trong thời kì chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh chỉ có 3 nhà nưóc mang hình thức chính thể cộng hoà. Cộng hoà nghị viện ở Pháp và Thụy Sĩ, cộng hoà tổng thống ở Mĩ. Hình thức chính thể phổ biến của các nhà nước tư sản trong thời kì này là quân chủ nghị viện. Bởi vì, nhìn chung ở các nước thế lực của phong kiến cũ còn khá mạnh. - Dù ở chính thể nào thì trong thời kì này, vai trò và quyén hạn của nghị viện đều rất to lớn. Điều đó không những được ghi nhận trong hiến pháp mà còn được thực hiện trong thực tế. Nghị viện là cơ quan có đầv đủ thực quyển. Các cuộc đấu tranh chính tri giữa các tầng lớp tư sản 282 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
diễn ra tập trung ờ nghị viện. Có thổ nói đây là thời kì hoàng kim của nghị viện tư sản, nên người ta còn gọi chế độ chính trị của nhà nước tư sản trong thời kì này là chế độ đai nghị. Sỡ dĩ trong thời kì này, giai cấp tư sản phái đề cao và thực hiện vai trò và quyền hạn to lớn của nghị viện vì: Thứ nhất là, để chống lại sự phục hồi của chính thể quân chủ chuyên chế phong kiến, đồng thời để lừa bịp nhân dân lao động, tập hợp lực lượng cách mạng quấn chúng chống lại thế lực phong kiến cũ. Thứ hai, nghị viện là nơi phân chia quyền lực chính trị một cách thuận lợi giữa các tầng lớp tư sản, nên nghị viện phải có thực quyền. Thứ ba, lúc này nhà nước tư sản chưa can thiệp vào quá trình sản xuất và trao đổi tư bản, nên cơ quan hành pháp chưa cần bành trướng về quy mô và quyền hạn để có thể lấn át vai Irò và quyển hạn của nghị viện. 4. Đặc điểm và chức năng của nhà nước. Nhà nước tư sản chua can thiệp vào quá trình sản xuất và trao đổi tư bản. Bởi vì, đây là thòi kì chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh. 5. Đặc điểm về pháp luật của nhà nước tư sản trong thời kì này. - Pháp luật tư sản ra đòi là một tiến bộ lớn lao trong lịch sử nhà nước và pháp luật. Lần đầu tiên, hiến pháp và một loạt nguyên tắc mới của pháp luật xuất hiện. Kĩ thuật lập pháp, với việc phân chia pháp luật thành các ngành luật, các chế định, với việc nêu ra các khái niệm pháp lí, với việc pháp điển hoá,... đã có sự tiến bộ nhảy vọt. Có thể nói, về phương 283 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
diện hình thức pháp lí và kĩ thuật lập pháp, sự ra đời của pháp luật tư sản là một cuộc cách mạng ưong luật pháp. Trong những thế kỉ XVII - XIX, pháp luật tư sản đã đóng vai trò tích cực trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội, thúc đẩy xã hội phát triển. - Những thế kỉ XVII - XIX cũng là thời kì từng bước hình thành và phát triển nền dân chù tư sản và nó được thể chế hoá bằng pháp luật. Pháp luật trỏ thành một phương tiộn quan trọng nhất của nhà nước tư sản để quản lí xã hôi. - Hệ thống pháp luật tu sản tuy đã ra đời, nhưng chưa đầy đủ và hoàn thiện. Thời kì này, khối lượng các văn bản pháp luật chưa nhiểu như thời kì sau. Và cũng khác với thời kì chủ nghĩa tư bản độc quyền, pháp luật tư sản ở thời kì này bảo vệ tự do cạnh tranh trong sản xuất và trao đổi tu bản của các nhà tư sản. Nhưng trước sau, nhà nước và pháp luật tư sản đều thể hiện đầy đủ bản chất giai cấp của nó. 284 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
PHẦN THỨNẢM NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT THỜI KÌ HIỆN ĐẠI CHUÔNG VI NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT Tư SẢN THỜI KÌ HIỆN ĐẠI Từ cuối thế kỉ 19, chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh phát triển thành chủ nghĩa tư bản lũng đoạn hay còn gọi là chủ nghĩa tư bản độc quyển, chủ nghĩa đế quốc. Từ sau chiến tranh thế giới lần thứ II đến nay, nó là chủ nghĩa tư bản lũng đoạn Nhà nước, hay còn gọi Ịà chủ nghĩa tư bản hiện đại. Dù ở thời kì nào, giai đoạn nào, bản chất giai cấp của chủ nghĩa tư bản, của Nhà nước và pháp luật tư sản cũng không thay đổi. Tuy vậy, do là thượng tầng kiến trúc của hình thái kinh tế xã hội tư bản chủ nghĩa, nên Nhà nước và pháp luật tư sản có những biến đổi lớn lao theo sự phát triển hạ tầng của thời kì chủ nghĩa ta bản lũng đoạn, (trong đó có giai đoạn chủ nghĩa tư bản hiện đại). 285 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
I. KHÁI QUÁT LỊCH s ử VÀ ĐẶC ĐIEM c h u n g CỦA NHÀ NƯỚC TƯSẢN TRONG THỜI KÌ NÀY 1. Khái quát lịch sử Từ cuối thế kỉ 19, đầu thế kỉ 20, quy luật phát triển không đồng đều giữa các nước tư bản tác động mạng mẽ vào các mặt đời sống chính t r ị - x ã hội. Anh, Pháp từ chỗ đứng đẩu và thứ hai trong nền công nghệ thế giới, đã phải nhường vị trí đó cho M ĩ và Đức. Để giành giật nhau thị trường thuộc địa, những cuộc đấu tranh gay gắt giữa các đế quốc đã diễn ra: chiến tranh Mĩ - Tây Ban Nha (1898), chiến tranh Nga - Nhật 1904 - 1905... Dần dần, ở châu Âu hình thành hai tập đoàn gây chiến, chống đối nhau và gây ra cuộc chiến tranh thế giới I. Một bên là các nước Hiệp ước gồm Anh, Pháp, Nga, sau thêm Nhật (1914), Italia (1915). Một bên là phe Liên minh gồm Đức, Áo, Hung, sau thêm Thổ Nhĩ Kì (1914), Bungari (1915). Chiến tranh thế giới I kết thúc bằng thất bại của phe Liên minh. Cuộc chiến tranh thế giới làm đảo lộn trật tự thế giới tư bản. Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười năm 1917 ở Nga thành công đã chặt đứt khâu yếu nhất trong hệ thống tư bản chủ nghĩa. Do ảnh hưởng của Cách mạng tháng Mười Nga, phong trào cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dán lao động phát triển ở nhiều nước. Chính quyền Xô Viết được thành lập và tồn tại ở Đức, ở Hunggari trong những năm 1918-1919. Một số quốc gia tư sản tuyên bố độc lập. Năm 1918, chính quyền Xô Viết Nga tuyên bố hủy bỏ hiệp ước bất bình đẳng về việc chia cắt Ba Lan từ thời Nga hoàng. Kết quả là một quốc gia Ba Lan tư sản độc lập ra đời. Hiến pháp 1921 286 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Cuối năm 1918 đế quốc Áo - Hung tan rã. Kết quả là Tiệp Khắc và Nam Tư được độc lâp. Theo hiến pháp 1920. Tiệp Khắc theo chính thể cộng hoà đại nghị. Nam Tư lập chính thể quân chủ lập hiến. Phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động ở các nước tư bản bị chính quyền tư sản thẳng tay đàn áp. Nhung phong trào cũng đã buộc chính quyền tư sản thực hiện một sô' cải cách dân chủ. Chẳng hạn chính phủ ở các nước Ba Lan, Tiệp Khắc, Áo, Nam Tư, Đan Mạch, Tây Ban Nha, Pháp, Bồ Đào Nha, Thụy Sĩ, Thụy Điển, Hà Lan, Bỉ, Anh, Mĩ... ban bô' quy định 7 giờ làm việc trong một ngày hoặc 48 giờ làm việc trong một tuần. Tiền lương, bảo hiểm, y tế, bảo hiểm thương tật và thất nghiệp... dần dần được pháp lí hoá. Chế độ bầu cử cũng được cải cách, ở một sô' nước,phụ nữ bắt đầu có quyển bầu cử. Sau chiến tranh thế giới I được ít năm, các nhà nước tư sản bị phân thành hai nhóm: - Nhóm các quốc gia vẫn duy trì dân chủ tư sản: Anh, Pháp, Mĩ, Bỉ, Hà Lan,... - Nhóm các nhà nước tư sản phát xít: Italia, Đức, Nhật, sau đó là Bungari, Rumani, Hunggari. Các cuộc khủng hoảng kinh tế của hệ thống tư bản chủ nghĩa, nhất là cuộc khủng hoảng 1929 - 1933 đã dẫn đến hậu quả nghiêm trọng. Từ khủng hoảng kinh tế dẫn đến khủng hoảng chính trị, làm cho những mâu thuẫn vốn có của xã hội tư sản rất gay gắt. Giai cấp tư sản thấy rằng không thể dùng phương pháp thống trị như cũ - nén dân chủ tư sản, mà phải phát xít hoá bộ máy nhà nước. Đó là nguyên nhân thứ nhất của sự thiết lập chính xây dựng chính thể nhà nước cộng hoà đại nghị. 287 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
quyền xít. Nguyên nhân thứ hai là một bộ phận tiểu tư sản và một bộ phận nông dân tin tưởng mù quáng vào chinh sách mị dân của chủ nghĩa phát xít. Nguyên nhân thứ ba, ở những nước này, đảng cộng sản và phong trào công nhân chưa đủ mạnh để ngăn chặn chủ nghĩa phát xít lên cầm quyển. Đimitơrôp - lãnh tụ quốc tế cộng sản bấy giờ, đã nêu rõ: bản ! chất của chính quyền phát xít là "nền chuyên chính khùng bố công khai của những phần tử phản động, sô vanh nhất, đế quốc chủ nghĩa nhất của tư bản tài chính". Cuộc chiến tranh thế giới II (1939 - 1945) kết thúc bằng sự thất bại hoàn toàn của phe phát xít. Sau chiến tranh, hệ thống tư bản chủ nghĩa bị mất từng mảnh lớn. Tám nuóe ỏ Đông Âu xoá bỏ chế độ tư bản, thiết lập chế độ xã hội chủ nghĩa. Hệ thống thuộc địa của dế quốc bị tan rã từng mảng và bị xoá bỏ vẻ cơ bản từ những nãm 1970. Chế độ phát xít ở Đức, Itali, Nhật... bị thủ tiêu và thay vào đó là sự phục hồi nền dân chủ đại nghị tư sản. Từ sau chiến tranh thế giới lần II, chủ nghĩa tư bản lũng đoạn phát triển thành chủ nghĩa tư bản lũng đoạn nhà nước. Ở các nước tư bản diễn ra quá trình kết hợp, dung hợp của nhà nước vói các tập đoàn tư bản lũng đoạn thành một bộ máy thống nhất, có quyền lực vô hạn, nhằm phục vụ quyền lợi của tư bản độc quyền. Sự dung hợp đó được tiến hành bằng cách, những đại diện của chính phủ tham gia vào việc quản lí những công ty lũng đoạn, những nhà tư bản lũng đoạn nắm những chức vụ trong bộ máy nhà nước. Từ sau chiến tranh thế giới II đến nay, Mĩ vẫn là một cường quốc tư bản, có vai trò to lớn trong hệ thống tư bản chủ nghĩa. Nhưng dần dần, Đức, Nhật vươn lên thoát khỏi sự 288 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
lệ thuộc vào Mĩ. Và hiện nay thế giới tư bản hình thành ba trung tâm kinh tế - chính trị: Mĩ, Tây âu, Nhật Bản. Hơn hai chục năm lại đây, nhiều nhà nước ở tư bản đã tiến hành các cuộc cải cách kinh tế - chính trị để cứu nguy cho chủ nghĩa tư bản.'Nhờ những cuộc cải cách đó, chủ nghĩa tư bản không những không "giẫy chết" mà còn tồn tại và tạm thời phát triển hơn. Từ đầu những năm 1980, phần lớn các nước tu bản đã tiến hành quá trình tư nhân hoá, tức là quá trình chuyển những đơn vị kinh tế sở hữu nhà nước thành sở hữu hỗn hợp, lấy sỏ hữu tư nhân làm đầu, chấm dứt thời kì lấy sở hữu nhà nước làm trọng của chủ nghĩa tư bản lũng đoạn nhà nước, ở Mĩ, chương trình tư nhân hoá được bắt đầu khi RiGân trúng cử tổng thống, ở Anh chương trình này gắn liền với tên tuổi của thủ tướng ThátChơ. ở Pháp, Nhật bắt đầu tư nhân hoá tư liệu sản xuất, chậm hơn, vào khoảng cuối những năm 80. Đồng thời với việc tư nhân hoá tư liệu sản xuất, nhà nước tư sản bãi bỏ hàng loạt những đạo luật kiểm soát, hạn chế phạm vi hoạt động của kinh tế tư nhân, giảm bót một sô' chức năng kinh tế do nhà nước đảm nhiệm, tăng cường vai trò tự điều tiết của thị trường. Từ cuối những năm 1970 đến nay, nhà nước tư sản đã thực hiện cải cách chính trị xã hội. Đó là quá trình dân chủ hoá đời sống chính trị - xã hội, làm cho nền dân chủ tư sản, các thể chế tư sản phát triển tới đỉnh cao. Tóm lại, nhà nước tư sản vẫn là nhà nước tư sản, nhưng có sự biến đổi không ngừng. Chính vì vậy, có một số học giả lấy mốc của chủ nghĩa tư sản hiện đại là từ cuối những năm 1970. 2. Những đặc điểm Trong thời kì chủ nghĩa tư bản lũng đoạn, chủ nghĩa tư 289 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
a. Những nhà tư bản độc quyền trực tiếp giữ các chức vụ quan trọng trong bộ máy nhà nước Trong thời kì chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh, các nhà tư sản nắm quyền lực chính trị thông qua những người đại diện của mình trong bộ máy nhà nước. Đến thời kì chủ nghỉà tư bản lũng đoạn, nhà nước tư sản không chỉ quản ỉí hành chính mà còn quản lí cả kinh tế - xã hội. Các nhà tư bàn độc quyền phải trực tiếp giữ các chức vụ quan trọng của nhà nước để làm cho việc tích tụ tư bản, thu chi ngân sách, chính sách giá cả thị trường, phân phối lại thu nhập quốc dân,... bảo vệ được quyẻn lợi của các tập đoàn tư bản lũng đoạn. Ngay từ cuối thế kỉ 19 và nửa đầu thế kỉ 20, trong bộ mậy cùa nhà nước đã hiộn diện nhiều nhà đại tư sản. Từ sau chiếp tranh thế giới thứ II đến nay, khi chủ nghĩa tu bản lũng đoạn chuyển sang chủ nghĩa tư bản lũng đoạn nhà nước thì các trùm tư bản càng trực tiếp giữ các chức vụ chủ chốt của bộ máy của nhà nước. Các tổng thống, thủ tướng, chủ tịch thượng hoặc hạ viện, bộ trưởng,... thường là tỉ phú, triệu phú. b. Vai trò và thực quyền của tổng thống, thủ tướng - của cơ quan hành pháp - ngày càng được tăng cường Thời kì hoàng kim của nghị viện tư sản trong thời kì chủ nghĩa tư bản do cạnh tranh không còn nữa. Sự phức tạp, phiền toái nặng thủ tục hành chính, sự đối lập giữa các đảng phái ở nghị viện nhiều khi gây khó khăn, chậm trễ cho sự quản lí của nhà nước trong một thời đại mới đầy biến động ở trong nước và trên trường quốc tế về kinh tế và về chính trị. Sự tăng cường vai trò và quyền hạn của cơ quan hành pháp bản hiện đại, nhà nước tư sản có những đặc điểm sau: 290 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
(tổng thống, thủ tướng, chính phủ) không chỉ diễn ra trong thực tế mà còn được ghi nhận trong hiến pháp ớ nhiều nước. Hiến pháp năm 1958 của Pháp tăng quyển hạn cho tổng thống. Hiến pháp năm 1946 của Nhật bỏ tlnrc quyền cùa hoàng đế và trao nhiều quyền hành cho thủ tướng chính phủ. Xu hướng đó cũng được thể hiộn trong Hiến pháp của Đức, Italia,... hiện nay. Nói đến vai trò và quyền hạn của cơ quan hành pháp, tức là nói đến vai trò và quyền hạn của tổng thống trong chính thể cộng hoà tổng thống (Mĩ), của thủ tướng trong chính thể cộng hoà đại nghị và quân chủ nghị viện (Đức, Italia, Anh...). Thậm chí hiện nay, trong các nước cộng hoà đại nghị hoặc quân chủ nghị viện (Anh), thực quyền của thủ tướng lớn đến nỗi người ta còn gọi đó là nền "cộng hoà thủ tướng”. Sự tăng cường vai trò và thực quyền của cơ quan hành pháp đương nhiên phải ra tăng số lượng nhân viên và các cơ quan hành chính lên gấp bội so với thời kì trước. Sự tăng cường vai trò và thực quyền của cơ quan hành Í )háp không có nghĩa lả nghị viện mất hết vai trò và quyền ực. Nghị viện vẫn là nơi tranh giành quyền lực chính trị của các đảng phái tư sản (phe đa số và phe thiểu số trong nghị viện, bầu thủ tướng). Tại nghị viện tư sản, các phe đối lập gặp gỡ nhau, tranh luận công khai. Tại đây, các chính sách khác nhau được đề nghị, được phân tích, được đánh giá,... Việc tăng cường thực quyền của cơ quan hành pháp cũng không làm mất đi vai trò của cơ quan tư pháp. Các toà án tư sản vẫn là thành trì bảo vệ tự do dán chủ tư sản. Vì ở đây là nơi có quyền tranh tụng hoặc kiện chính phù khi chính phủ hoặc các cơ quan nhà nước xâm phạm đến quyền tự do dân chủ tư sản. Các toà án có sự độc lặp tương dối với hành pháp. 291 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Toà án Hoa Kì vẫn có vai trò không những phải ngân chặn việc sử dụng độc đoán quyền hành pháp, mà còn cản trở việc vi phạm hiến pháp của phe đa số trong Nghị viện. c. Nhà nước tư sản thực hiện chức năng quản lí kinh tế Mục đích sự điều hành của Nhà nước là nhằm bảo đảm hoạt động bình thường cho cơ chế kinh tế thị trường tư bản chủ ngtũà. Đây là một chức năng mới của nhà nước tư sản trong thời kì này và nó được thẻ hiện nhu sau: - Nhà nước tư sản đề ra kế hoạch phát triển kinh tế hàng năm và dài hạn. Điểu này thường thấy ở nhiều nước, nhất tà ở Anh, Pháp, Itali, Nhật Bản,.ồ. Để phục vụ cho việc này, Nhà nước thành lập cơ quan chuyên trách như Hội đồng Kế hoạch quốc gia, Bộ ldnh tế - K ế hoạch... Tuy nhiên, kế hoạch hoá tu bản chủ nghĩa chù yếu mang tính định hướng. Thông thuờng kế hoạch bao gồm hai phần: chương trình đầu tư cơ bản của Nhà nưóc, chương trình gợi ý và khuyến khích đầu tu tu nhân tập chung vào một số ngành kinh tế nhất định. - Nhà nước tư sản ban hành các văn bản pháp luật kinh tế, trong đó chủ yếu xác định những quy tắc vê kinh doanh, cạnh tranh, đôn đốc các chủ thể kinh tế tuân theo pháp luật, xử lí vi phạm kinh tế. - Nhà nước tư bản điều chinh các chinh sách kinh tế, như chính sách thuế, tín dụng,.ẾỄ - Nhà nước tư sản trực tiếp đầu tư và quản lí các công tình công cộng, công trình cơ sở, góp cổ phần vào những xí nghiệp có tầm quan trọng đối với quốc tế dân sinh. - Nhà nước tư sản quản lí giá cả một sô' mật hàng quan trọng, nhằm bình ổn giá. Ví dụ các nước trong Khối thị trường chung châu âu (EC) đều chỉ đạo bán các sản phẩm 292 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
sữa và lương thực theo giá đã bàn định. - Nhà nước tư sản thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội, bảo trợ xã hội, bảo trợ thất nghiệp, can thiệp vào lĩnh vực quan hệ lao động như quy định giờ làm việc, tuổi lao động, điều kiện sa thải lao động V.V.. - Nhà nước tư sản đưa ra các chính sách chống khủng hoảng, lạm phát, vẽv.. - Nhà nước tư sản thành lập các tổ chức, cơ quan thích hợp để quản lí kinh tế. d. Nhà nước tư sản chĩa mũi nhọn trấn áp vào phong trào đấu tranh do Đdng cộng sản lãnh đạo, phát triển nền dân chù tư sản Chủ nghĩa Mác được hình thành từ giữa thế kỉ 19, dẩn trở được truyền bá vào phong trào công nhân. Từ đầu thế kỉ 20 trờ đi, ở nhiều nước, các Đảng cộng sản lần lượt được thành lập. Vì vậy, trong thời kì này chức năng trấn áp của nhà nước tư sản chĩa mũi nhọn vào phong trào công nhân và Đảng cộng sản. Trong một thời gian dài, các Đảng cộng sản đều bị đặt ra ngoài vòng pháp luật. Nhung do phong trảo đấu tranh kiên cường và mạnh mẽ của giai cấp công nhân và nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, của các trào lưu tiến bộ khác, sự hình thành của các nước xã hội chủ nghĩa và để ổn định trật tự của xã hội tư sản, nhà nước tư sản từng bước củng cố và tăng cưòng nén dân chủ tư sản. Điều đó được thể hiện ở những việc sau: - Xoá bỏ các thể chế phát xít và tái lập nền đại nghị tư sản. - Bãi bỏ các "đạo luật đặc biệt" trái với Hiến pháp và nền dân chủ tư bản. 293 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Từng bước cải cách chế độ bầu cử: hủy bỏ dần những hạn chế về tư cách cử tri, để bảo đảm nguyên tắc phổ thông đầu phiếu. - Từng bước, địa vị pháp lí và quyền lợi của phụ nữ, của người da màu được cải thiện. đ. Chức năng đối ngoại của nhà nước tư bản độc quyền cũng k’iác thời kì tn(ớc về đối tượng và phương pháp Nhà nước tư bản lũng đoạn ra đời và tồn tại trong hoàn cảnh thế giới có những thay đổi lớn lao. Đó là sự ra đời của nhà nước xã hội chủ nghĩa Xô Viết 1917 và của các nhà nước xã hội chủ nghĩa sau chiến tranh thế giới lần II. Đó là sự phát triển mạnh mẽ của phong trào giải phóng dân tộc. Đó là sự cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các tập đoàn tư bản ở các nước tư bản khác nhau. Do đó, nội dung chức năng đối ngoại của Nhà nước tư bản có những thay đổi lớn. - Nhà nước tư sản tập chung chống phá các nước xã hội chủ nghĩa và phong trào giải phóng dân tộc. Chính quyền ở nhiều nưóc tư bản hợp tác thành lập các khối quân sự, như khối Bắc Đại Tây Dương (NATO), Khối hiệp ước an ninh Thái Bình Dương (NNIUS), khối Trung tâm (CENTO). Để chống phá các trào lưu cách mạng trên thế giới, chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là Mĩ, đã tiến hành đủ mọi biện pháp, từ quân sự đến chính trị, tư tưởng, văn hoá, từ "chiến tranh lạnh" đến "chiêh tranh cục bộ”, chiến tranh đặc biệt, "diễn biến hoà bình”, từ chủ nghĩa thực dân cũ đến chủ nghĩa thực dân mới.ẵ. - Thông qua vai trò quyền lực và chính sách của Nhà nước, tư bản lũng đoạn các nước vừa cạnh trạnh quyết liệt với nhau, vừa có sự liên hợp quốc tế (hay còn gọi là "nhất thể hoá quốc tể'). Sự cạnh tranh thị trường đã đưa đến hai cuộc 294 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
chiến tranh thế giới, sự "nhất thể hoá quốc tế' đã dẫn đến sự thành lập các tổ chức kinh tế quốc tế mang tính chất hợp tác nhà nước, như Khối thị trường chung Âu, Qũy tiền tệ thế giới, Khối thị trường chung Bắc Mĩ... e. Như đã nói ở trên, trong hơn hai thập kỉ qua, chủ nghĩa tư bản đã cỏ nhiều biến đổi. Đặc điểm cơ bán của nhà nước tư sản hiện nay là hệ thống chính trị tư sản ổn định, ít có khủng hoảng chính tri, lợi dụng tối đa những thành tựu của khoa học và công nghệ vào quản lí nhà nước, dùng biện pháp thoả hiệp ôn hoà để giải quyết các vấn đề xã hội, tăng cường pháp chế tư sản, các quan chức cao cấp cũng phải tuân thủ pháp luật. Tất cả những điều đó nhằm ổn định và phát triển trật tự xã hội tư sản, đảm bảo quyền lợi tư bản độc quyền. II. Mĩ Sau cuộc chiến Nam - Bắc 1861 - 1865 (thực chất là cuộc cách mạng dân chủ tư sản), nền kinh tế MI từ chỗ lệ thuộc châu Âu, đã nhanh chóng trở thành một quốc gia công nông nghiệp đứng hàng đầu thế giới. Tuy vẫn là hình thức kết cấu liên bang và chính thể cộng hoà tổng thống, nhưng nhà nước và pháp luật tu sản Mĩ từ cuối thế kỉ 19 tới nay đã có nhiều biến đổi. 1. Mở rộng liên bang và tu chính hiến pháp Sau cuộc chiến tranh Nam - Bắc, quyền rút ra khỏi liên bang bị bãi bỏ (theo phán quyết của Toà án tối cao Mĩ năm 1868). Vẫn bằng con đường mua đất đai lãnh thổ và bành trướng, xua đuổi người da đỏ, Hoa Kì thành lập thêm 14 bang mới, đó là: Nèbrasca 1867, Colorado 1876, Bắc Đacôta 1889, Nam Đacôta 1889, Môntana 1889, Oasinhtơn 1889, 295 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Aiđơhô 1890, Oaiôminh 1890, Uta 1896, Oklahoma 1907, Niw Mêhicô 1912, Ariđôna 1912, Alasca 1959, Haoai 1959 và tổng số bang của Hợp chủng quố Hoa Kì là 50. Hiến pháp 1787 của liên bang vẫn có hiệu lực đến ngày nay và vẫn giữ những nội dung cơ bản của nó. Tuy vậy, sau khi được ban hành, hiến pháp được bổ sung một số điểm. Và từ sau cuộc nội chiến Nam - Bắc đến nay có một số điểm bổ sung đáng chú ý sau: - Điểm bổ sung thứ 13 (năm 1865) xoá bỏ chế độ nô lệ tại Mĩ. - Điểm bổ sung thứ 20 (năm 1993) thay đổi thời gian bắt đầu nhiệm kì tổng thống, nghị sĩ, thay đổi thời gian của các kì họp quốc hội.ắ. - Điều bổ sung thứ 22 (năm 1951) quy định một người không được làm tổng thống quá 2 nhiệm kì. - Điểu bổ sung thứ 25 (năm 1967): Trong trường hợp tổng thống qua đời, vé hưu, từ chức thì phó tổng thống tiở thành tổng thống. Nếu phó tổng thống khuyết thì tổng thống sẽ bổ nhiệm người được đa sô' nghị sĩ 2 viện tán thành làm phó tổng thống. - Điểm bổ sung thứ 26 (năm 1971) giảm độ tuổi bầu cử của công dân xuống 18 tuổi. 2. Vai trò của tư bản độc quyền và của cơ quan hànb pháp ngày càng được tăng cường ở Mĩ, giai cấp tư bản độc quyền thông qua hai chính đảng của họ để độc chiếm nhà nướs. Đó là thực chát chế độ lưỡng đảng của Mĩ. Từ trước đến nay, tất cả các tổng thống đều là người đảng Dân chủ hoãc của đảng Cộng hoà. Phần 296 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
đông các nghị sĩ, các bộ trưởng, các thống đốc bang là những triệu phú. Từ sau chiến tranh thế giới lần II đến nay, các nhà đại tư sản càng trực tiếp nắm giữ những chức vụ chủ chốt trong bộ máy nhà nước. Trong những năm 1946 - 1948 trong số 125 người được tổng thống Tơruman cử vào các cương vị cằủ chốt của bộ máy nhà trắng, đã có 66 tư bản cỡ lớn. Thời tổng thống Aixenhao (1952 - 1960), chính phủ gồm những trùm công nghiệp và tài chính, đại diện của 86 công ti lớn nhất ở Mĩ. Chính phủ Kenơđi có ít nhất 6 tỉ phú: tổng thống, bộ trưởng bộ ngoại giao, bộ trưởng bộ quốc phòng, bộ trưởng bộ tư pháp,... Họ đại diện cho các tập đoàn tư bản Rốc cơ phen lơ, Moócgan, Pho,... Trong chiến dịch bầu cử tổng thống năm 1964, hai ứng cử viên Giônxcm và Giônđâutơ đều là tỉ phú. Lịch sử nhà nước Mĩ gắn liền với vai trò của các tổng thống. Đứng đầu cơ quan hành pháp là tổng thống. Kể từ khi lập nước đến thời tổng thống Clintơn hiện nay, nước Mĩ đã trải qua 42 tổng thống. Theo hiến pháp, trong chính thể cộng hoà tổng thống, vai trò và quyền lực của tổng thống đã rất lớn. Nhưng trong thực tế, vai trò và thực quyền của tổng thống còn ngày càng được tăng cường. Các tổng thống Mĩ thường dùng các thủ đoạn sau để lạm quyền: - Lợi dụng hiến pháp với lời văn và từ ngữ rộng rãi và luật ủy quyền của nghị viện giao cho, tổng thống ra văn bản pháp luật đáng ra phải do hiến pháp hoặc đạo luật của nghị viện quy định. Ví dụ, theo hiến pháp, tổng thống được quyền kí các hiệp ước, nhưng phải được 2 phần 3 tổng số thượng nghị sĩ phê chuẩn. Nên tổng thống thường thay hình thức hiệp ước bằng hình thức hiệp nghị của hành pháp để tránh sự phê chuẩn của thượng nghị viện. 297 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Lợi dụng quyền phủ quyết, thông qua các nghị sĩ trong đảng của mình, mua chuộc hoặc gây sức ép trong nghị viện, tổng thống là người tác động trực tiếp đến việc lập pháp của nghị viện. Điển hình là tổng thống Rudơven, trong 3 nhiệm kì (1933 - 1945) đã sử dụng quyền phủ quyết tới 631 lần, trung bình mỗi nhiệm Kì có hơn 200 lẩn phủ quyết. Hoặc năm 1964, tổng thống Giônxơn đã giả dối dựng lên cái gọi là "sự kiện vịnh Bắc bộ" đánh lừa và gây sức ép để quốc hội cho tổng thống toàn quyền m ở rộng cuộc chiến tranh xâm lược ở Việt Nam. - Trên thực tế, pháp viện tối cao phụ thuộc vào tổng thống. Lợi dụng quyền phán quyết, quyền giải thích luật, quyền quyết định các tiền tệ tư pháp, pháp viện tối cao lái quá trình lập pháp và thi hành pháp luật theo sự chỉ thị của tổng thống. - Trong thực tế xuất hiện nhSng thỏa thuận không thành văn và dần dần trở thành những tập quán chính trị (như hiến pháp không thành văn) mà các chính phủ và hai dàng đều kiên định noi theo. Ví dụ, nguyên tắc không thành văn là các cử tri bầu tổng thống phải bỏ phiếu cho ứng cử viên của đảng mình, hoặc tập quán thượng nghị viện không can thiệp vào việc tổng thống lựa chọn các bộ trưởng V.V.. Song hành với việc gia tăng vai trò và thực quyển của tổng thống là sự bành trướng tổ chức hành phápễ Hiện nay chính phủ liên bang có 12 bộ: Bộ ngân sách, Bộ quốc phòng, Bộ ngoại giao, Bộ tư pháp, Bộ nội vụ, Bộ bưu điện, Bộ nông nghiệp, Bộ thương mại, Bộ lao động, Bộ giáo dục - y tế - đời sống, Bộ phát triển nhà ở và đô thị, Bộ giao thông. Cơ quan hành pháp của tổng thống còn có nhiều các cục, ủy ban, hội đồng. Như Cục tình báo trung ương Mĩ (CIA), Cục điều tra liên ban Mì (FBI), Hội đồng an ninh quốc gia... Số lượng quan 298 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
chức và nhân viên nhà nước gia tăng rất nhanh, từ 600 ngàn người năm 1930, đến năm 1950 đã lên đến 2,5 triệu (nếu tính cả các bang thì con số đó lên tới 8 triệu). Năm 1990, con sô' quan chức và nhân viên của riêng cơ quan hành pháp của tổng thống là 47 ngàn ngưòi. Một trong những nguyên nhân của sự gia tăng bộ máy và nhân viên của cơ quan hành pháp là đáp ứng chức năng quản lí kinh tế của nha nước tư sản trong thời kì chủ nghĩa tư bản lũng đoạn. 3. Trấn áp các trào lưu tiến bộ và phát triển nền dân chủ tư sản Thắng lợi của cuộc chiến tranh chống chế độ nô lệ (1861 - 1865) đem lại những điều kiện cải thiện nhất định đối với đời sống của người da đen. Ớ nhiều bang miền Nam, người da đen có quyền bầu cử và tham gia các cấp chính quyền. Song điều đó tồn tại không được lâu. Năm 1872, nghị viện Mĩ đã thông qua đạo luật ân xá cho bọn chủ nô trước đây. Và vói đạo luật này, người da đen bị loại dần ra khỏi các cơ quan, bị tước đoạt quyền bầu cử bởi những quy định tư cách cử tri về tài sản, mức độ đã đóng thuế, trình độ vàn hoá,... Từ nãm 1881 có đạo luật quy định người da đen di tàu phải ngồi toa riêng, không được tới khách sạn, vườn hoa hoặc những nơi công cộng khác dành cho người da trắng, không được kết hôn với người da trắng. Tổ chức phân biệt chủng tộc Klu - Klux - Klan (3K) được chính quyền dung túng, khủng bố gắt gao người da đen. Thậm chí, nãm 1898 toà án tối cao liên bang đã thừa nhận những hạn chế về tư cách cử tri của người da đen. Việc chống cộng sản và phong trào công nhân trong thời gian dài đã trở thành quốc sách của chính quyền Mĩ và được 299 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
núp dưới khẩu hiệu "nguy cơ đ ở '. Đảng cộng sản bị cám hoạt động, đảng viên cộng sản bị coi là những gián điệp của ngoại quốc và phải rời khỏi nước Mĩ. Vào những năm sau chiến tranh thế giới II, khi hệ thống xã hội chủ nghĩa được hình thành, chính quyền Mĩ đã ban hành một loạt đạo luật đặc biệt chổng phong trào công nhân và đảng cộng sản Mĩ. - Đạo luật Hốp bơ (tên của nghị sĩ trình dự án luật) năm 1946 coi các yêu cầu của công đoàn về việc tăng lương là tội hình sự. - Đạo luật Táp hác lây (tên của nghị sĩ trình dự án luật) năm 1947, coi mọi cuộc bãi công của công nhân nếu vượt ra ngoài phạm vi vì quyền lợi kinh tế cũng bị coi là tội phạm. Theo đạo luật này, các tổ chức công đoàn phải báo cáo truớc 60 ngày cho chủ doanh nghiệp trước khi bãi công. Tổng thống có quyền ra lệnh cho công nhân phải hoãn cuộc bãi công lại 80 ngày, kể cả trường hợp bãi công đã nổ ra. Đạo luật còn buộc các công đoàn phải gạt bỏ những người cộng sản ra khỏi ban lãnh đạo. - Sắc lệnh vẻ việc "kiểm tra lòng trung thành của công chức" do tổng thống Tơruman ban hành 1947. Với sắc lệnh này, 12 triệu công chức phải làm các thủ tục khai báo lòng trung thành vỡi nhà nước. Và theo sắc lệnh này, các quan chức có quyền đuổi việc bất cứ ai có thái độ không trung thành với chính phủ. - Đạo luật Mác ca ran - Vút (tên của hai nghị sĩ trình dự án luật) năm 1950. Đạo luật này có tên chính thức là "Luật về an ninh quốc gia". Theo đạo luật này, đảng cộng sản Mĩ bị coi là một tổ chức tay sai của nước ngoài, đảng cộng sản và các đảng viên phải đến đãng kí tại bộ tư pháp. Hàng năm, đảng cộng sản phải báo cáo cho bộ tư pháp biết tên, địa chỉ 300 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
những người lãnh đạo Đảng, các nguồn thu chi, số lượng máy in ấn của Đảng,... Nếu ai vi phạm những quy định trên thì phải nộp phạt 10 ngàn đô la hoặc bị 5 nãm tù giam. Sau khi đăng kí, mọi đảng viên cộng sản không được phép giữ các chức vụ trong bộ máy nhà nước, công đoàn, không được làm việc trong nghành quốc phòng, không được xin cấp hộ chiếu ra nước ngoài. Cũng theo đạo luật này, trong thời gian có tình trạng khẩn cấp, bộ trưởng bộ tư pháp có quyền tống giam bất cứ ai bị tình ghi có hành vi gián điệp hoặc gây bạo loạn. - Đạo luật Máccaran - Uôntơ (tên của hai nghị sĩ trình dự án luật) năm 1952 nhằm ngăn cản những người tiến bộ, những ảnh hưởng tư tưởng của chủ nghĩa cộng sản vào Mĩ. Theo đạo luật này, người nước ngoài có được vào Mĩ hay không là do bộ trưởng bộ tư pháp Mĩ quyết định,sau khi đã xác định người đó có chống đối nước MI hay không. Những người sóng ở Mĩ mà không mang quốc tịch Mĩ, thì đều phải đăng kí và khai báo địa chỉ với bộ tư pháp, đều bị cảnh sát thường xuyên kiểm soát, thậm chí có thể bị buộc ra khỏi nước Mĩ. Ngay cả những người nước ngoài đã nhập quốc tịch Mĩ, nhưng nếu không tuân theo sự kiểm soát của cơ quan có chức trách thì có thể bị tước quyền công dân, bị đuổi ra khỏi nước Mĩ. Trên cơ sở các đạo luật trên, chính quyền Mĩ đã đẩy mạnh các cuộc đàn áp phong trào công nhân, giam giữ và thủ tiêu nhiều nhà lãnh đạo công đoàn và cộng sản. Tinh trạng trên kéo dài cho tới năm 1965, khi toà án tối cao liên bang coi việc bắt đảng cộng sản phải đăng kí là trái với hiến pháp. Bộ tư pháp phải ngừng việc truy kích đảng cộng sản. Theo tinh thần đó, cuối năm 1967, toà án tối cao liên bang tuyên bố việc cấm các đảng viên cộng sản làm việc 301 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
ở ngành quốc phòng là trái với hiến pháp. Dần dần, các đạo luật trên bị bãi bỏ. Mặc dù các quyẻn tự do dân chủ tư sản nhiều khi bị chính quyền tư sản trà đạp như vậy, nhưng nước Mĩ vẫn dược coi là nước có nền dân chủ tư sản phát triển nhất. Cũng chính vì vậy và cùng với những nguyên nhân về mức sống cao hom, về công ăn việc làm, từ cuối thế kỉ 19 đến nhiểu thập kỉ của thế kỉ 20, dòng thác di cư từ khắp các châu lục đã đổ xô vể nước Mĩ. Từ chỗ nước M ĩ từng nổi tiếng về chính sách phân biệt chủng tộc suốt hàng bao thập kỉ, đến nay, mọi luật lệ vể kì thị màu đa đã bị bãi bỏ. Thậm chí, trong quốc hội, chính phủ và toà án tối cao liên bang có sự hiện diện của những quạn chức người da đen. Tuy vậy, đời sống của đại đa số người da đen vẫn ở mức thấp nhất trong xã hội và tình trạng tội phạm cũng ở mức cao nhất. Chế độ bầu cử cũng từng bước được cải cách theo chiều hướng dân chủ. Ngày nay, chế độ bầu cử đã xoá bỏ nhũng hạn chế về tư cách cử tri và thực hiện theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu, không phân biệt nam nữ, chủng tộc. Trong vài thập kỉ trở lại đây, hoạt động của các cơ quan nhà nước ngày càng phải dựa trên cở sở của hiến pháp và pháp luật. Các vụ bê bối chính trị thường là những vụ vi phạm hiến pháp, pháp luật. Các vụ đó thuờng làm cho nhiều quan chức cao cấp (kể cả tổng thống) bị sụp đổ. Ví dụ các vụ Oatơghết, Iranghết,... Như vậy, trong hơn thế kỉ qua, trong đời sống chính trị - pháp lí Hoa Kì, nhà cẩm quyền vừa trấn áp các trào lưu tiến bộ, vừa phát triển nền dân chủ tư sản. Những việc đó nhìn bẻ 302 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
ngoài tưởng như mâu thuẫn với nhau. Nhưng thực ra đều nhằm bảo vệ và ổn định trật tự của xã hội tư sản, nền dân chủ tư sản, bảo vệ quyền lợi của giai cấp tư sản. Trong mấy chục năm trớ lại đây, nền dân chủ tư sản tương đối ổn định và phát triển. Trong đó, quyền tự do dân chủ tư sản được bảo đám. Điều đó là kết quả phong trào đấu tranh của công dân và nhân dân lao động Mĩ hàng thế kỉ nay. 4. Bành trướng xàm lược và sen đầm quốc tê Trên cơ sở nền kinh tế tư bản chủ nghĩa đứng đầu thế giới và để thực hiện sự bành trướng xâm lược, sen đầm quốc tế, nhà cầm quyền Mĩ đã xây dựng bộ máy quân sự khổng lồ. Ví dụ, trong mấy thập niên sau chiến tranh thế giới II, quân đội Mĩ luôn có 3 triệu lính thường trực (trong đó có hơn 1 triệu đóng ở nước ngoài). Trong vòng 32 năm (1946 - 1968), chi phí quân sự trực tiếp đạt tới hơn 1 ngàn tỉ đỏ la (gấp hai lần so với chi phí quân sự trong 200 năm trước đó). Năm 1946, ước tính có 11% số lượng công nhân làm trong các ngành công nghiệp quốc phòng. Ngay từ cuối thế kỉ 19, đầu thế kỉ 20, đế quốc Mĩ đã đẩy mạnh chính sách bành trướng xâm lược và tranh giành thuộc địa với các đế quốc khác. Năm 1904, Tổng thống Mĩ Têôđo Rudưven đưa ra trước quốc hội "chính sách cái gậy lớn''. Chính sách đó tự trao cho Mĩ nhiệm vụ sen đầm Táy bán cầu, đứng ra can thiệp vào nội bộ các nước ở châu Mĩ hoặc các vụ tranh chấp giữa các đế quốc châu Âu với khu vực này. Bằng "chinh sách cái gậy Um", Mĩ đã nắm được về chính trị và kinh tế một số nước Mĩ la tinh như Mêhicô, Nicaragoa,. .. xác lập quyền không chế Tân bán cầu. Trong thời gian này, MT đã can thiệp vũ trang vào nhiều nơi: Haoai 1893. Trung 303 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn