Trong thời kì phân quyền cát cứ phong kiến, nền tư pháp của lãnh chúa phong kiến chiếm ưu thế hơn nền tư pháp của nhà vua. Ở lãnh địa, lãnh chúa phong kiến có toà án riêng, luật lệ riêng, không phụ thuộc vào toà án nhà vua. Lãnh chúa tự mình hõâc ủy qtiýển cho đại diện của mình xét xử. Trong lãnh địa cùa mình, giáo hội cũng có toà án riêng và luật lộ riêng của giáo hội. Đến khi nhà nước quân chủ chuyên chế được thế lập, toà án nhà vua trở lại vị trí của nó, là toà án tối cao, toà án và luật lệ của lãnh chúa bị thủ tiêu. Luật La Mã và các luật lệnh cùa nhà vua đuợe áp dụng trong việc xét xử các vụ án. Tỏ chúc luật sư đã có từ thời đế quốc La Mã cổ đại. Đếni thời kì phong kiến, tỗ chức luật sư hoạt động nhu nhfing ngành nghề khác trong xã hội và có vai trò quan trọng trong đời sống chính trị - xã hội. Ví dụ: trong vụ tranh chấp quyền lực giữa nhà vua Pháp và giáo hoàng La Mã, giáo hoàng đã nhờ tổ chức luật sư can thiệp. Ở Pháp tổ chức luật sư được hình thành từ thời kì Louis IX (thế kỉ XIII). Cũng từ khoảng thời gian này, tổ chức luật sư được hình thành ở Anh. Theo luật pháp các nước Tây Âu, chỉ những luật sư ở trong tổ chức luật sư mới được tham gia vào việc tố tụng. Sau khi nghị viện ra đòi, viện công tố được hình thành, ủy viên công tố là thành viên của nghị viện, có chức năng theo dõi ngân khố quốc gia và giám sát công việc tô' tụng hình sự. Dần dần, viện công tố tách ra khỏi nghị viện và do một ủy viên công tố của nhà vua đứng đầu. ở Đức, Italia viện công tố ra đời khoảng thế kỉ XVI. 204 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
* Các quan hệ pháp lí vê' tài sản Nói đến các quan hệ pháp lí phong kiến về tài sản. trước hết phải nói về quyển sở hữu ruộng đất. Do người Frăng vừa thoát thai khỏi chế độ công xã thị tộc, nên buổi ban đầu của chế độ phong kiến, quyển sở hữu ruộng đất ở công xã (công xã láng giềng chứ không còn là công xã thị tộc) thuộc về công xã. Theo bộ luật Xa lích, ruộng đất được đem chia cho các thành viên của công xã và được cha truyền con nối. Điều 59 quy định, khi một thành viên công xã chết, ruộng đất chỉ có thể truyền lại cho con trai, còn con gái không có quyền thừa kế ruộng đất. Nếu người chết không có con trai, thì ruộng đất phải trả lại cho công xã. Đến thời vua Sinpê rích (561 - 584), nhà vua ban hành lệnh mà trong đó quy định: nếu người chết không có con trai, thì ruộng đất được truyền cho con gái, không phải trả lại cho công xã nữa. Đây là một bước quá độ chuyển sang chế độ tư hữu về ruộng đất. Theo luật Xalích, chế độ tư hữu về động sản đã xuất hiện. Điều đó được phản ánh qua các điều khoản quy định các hình phạt đối với các tội phạm trộm cắp hoặc gây thiệt hại tới gia súc, hoa màu của người khác. Trên danh nghĩa, toàn thể lãnh thổ của vương quốc được xem như tài sản của nhà vua, và các vua tiến hành việc phân phong ruộng đất cho các thần thuộc của mình. Dần dần các thần thuộc biến ruộng đất được phân phong thảng ruộng đất tư hữu. Từ đây, các quan hệ pháp lí về ruộng đất là do các lãnh chúa quy định. Đó thường là các quan hệ hợp đồng và trái vụ. Tuy luật lệ của các lãnh chúa có những điểm chi tiết khác nhau, những đều thể hiện nguyên tắc "không đất nào là không có chủ". Dựa theo nguyên tắc đó, những quy định về hợp đồng mua bán, chuyển nhượng đất 205 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
đai giữa các chủ đất được hình thành. Những quy định này dần dần trở thành các tập quán pháp. Trong nội bộ từng lãnh địa, đó là những quy định về lĩnh canh ruộng đất cùng các nghĩa vụ địa tô, lao dịch v.v. của nông nô đối với lãnh chúa, quy định về thủ tục thừa kê ruộng đất, lĩnh canh và nghĩa vụ thừa kế của người được thừa kế đối với lãnh chúa. Trên thục tế, nhiều khi lãnh chúa chà đạp cả bên luật lệ của mình cốt sao bóc lột được nông nô càng nhiều càng tốt. Đến thế kỉ XI - XII, trong các thành phô' tự trị, do công thương nghiệp phát triển, do sự ảnh hưởng ngày càng sâu rộng của luật La Mã, nên luật lệ của thành phố rất chú ưọng điều chính các loại hợp đồng và trái vụ, như các loại hợp đồng mua ban, đổi chác, trao tặng, thuê mướn, ủy thác. * Luật lệ vê' hôn nhân và gia đình Trong thời kì đầu của chế độ phong kiến, bộ luật Xalích nghiêm cấm tục cướp vợ hoặc mua bán vợ. Đồng thời luật quy định, sô tiền mua vợ được người chồng thay bằng quà cưới, sau đó trở thành tài sản chung của gia đình. Phụ nữ đi lấy chồng được mang theo của hổi môn. Theo phong tục, để giữ lại toàn bộ tài sản cho dòng họ, người phụ nữ goá thường phải lấy anh hoặc em trai chồng (chưa có vợ). Tuy nhiên, theo bộ luật Xalích, người phụ nữ goá có thể đi lấy chồng khác, nhưng với hai điều kiện; phải được gia đình chổng cũ ưng thuận và người chồng mới phải nộp cho gia đình người chổng cũ một khoản tiền nhất định. Địa vị pháp lí của người phụ nữ trong xã hội phong kiến có được cải thiện chút ít so với chế độ chiếm hữu nô lệ. Nhưng trong gia đình, họ vẫn phải phụ thuộc vào người cha, người chổng, con trai, và ngoài xã hội họ vẫn là người có địa vị thấp kém hơn những 206 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
người đàn ông cùng đẳng cấp. Càng về sau, luật hôn nhân và gia đình càng chịu ảnh hưởng của thế lực nhà thờ và luật lệ Thiên chúa giáo. Luật lệ tôn giáo và luật pháp nhà nước đểu không thừa nhận việc 11 hôn. Người phụ nữ thường bị mất năng lực pháp lí về tài sản. Pháp luật cho phép được dùng cực hình đối với phụ nữ, ở nông thôn trai gái làng này bị cấm kết hôn với làng khác, nên hay dẫn đến tình trạng loạn luân. Tuy nhiên, ở nhiều địa phương nước Anh, cho phép người vợ có quyền quản lí tài sản của mình. Miền Nam nước Pháp có tập quán khi người chồng chết, người vợ có quyền lấy lại của hồi môn và được gia đình chồng cấp phần đất riêng cho người phụ nữ goá chồng. * Luật hình sự Người Giéc manh từ xã hội thị tộc chuyển thẳng sang xã hội phong kiến, nên thời kì đầu của chế độ phong kiến, tục trả nợ máu vẫn tồn tại khá đậm nét. Bộ luật Xa lích quy dịnh: nếu tội phạm là kẻ nghèo hèn đến mức không đủ tiền nộp phạt và không có họ hàng nộp thay, thì phải mang mạng sống của mình ra chịu tội. Đối tượng của việc trả nợ máu là kẻ giết người hoặc con trai của người ấy. Luật pháp quy định cụ thổ những người được trả thù và thòi gian chờ trả thù. Cha, con trai, anh em trai của gia đình nạn nhân mới được trả thù cho người bị hại. ở Anh, luật quy định thời hạn trả thù là sau 12 tháng. Quy định này nhằm làm giảm bớt tính hung hãn của gia đình người bị hại và tạo điều kiện cho tội phạm có tiền nộp để chuộc tội. 207 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Như vậy, bên cạnh hình thức trả nợ máu, toà án có thể cho phép nộp tiền phạt thay thế. Theo bộ luật Xa lích, bất cứ tội phạm nào cũng có thể chuộc tội bằng tiền nộp phạt. Lúc đầu, mức phạt tùy thuộc vào sự thỏa thuận giữa hai bên. Về sau, luật pháp quy định mức nộp phạt cụ thể. Ví dụ, kẻ nào giết một người Fräng tự do thì phải nộp số vàng tương đưcmg giá 100 con bò kéo. Một nửa sô' tiền này được chia cho gia đình người bị hại, còn nửa kia được sung vào công quỹ. Luật pháp còn quy định trách nhiệm của họ hàng tham gia vào việc nộp phạt cho kẻ sát nhân. Ai bỏ tiền ra chuộc tội hộ, thì tội phạm sẽ trở thành nô lệ của người đó. Từ thế kỉ VI, luật quy định kẻ phạm tội phải tự mình bỏ tiền ra nộp phạt, cán người khác nộp thay. Múc tiẻn nộp phạt tùy thuộc vào địa vị xã hội của người bị hại. V í dụ: Kẻ nào đánh chết quý tộc thì phải nộp phạt gấp 3 bốn lần mức bình thường. Nếu giết nguòi thân thích của nhà vua, thì không được nộp phạt, mà bị tịch thu tài sản và tử hình. Trong pháp luật chưa có sự phân biệt giết người cố ý hay vô ý. Các tội phản quốc, không trung thành với vua hoặc lãnh chúa phong kiến, chống lại nhà thờ và luật lệ tôn giáo, trộm cắp tài sản của nhà nước, của nhà thờ, ... đểu bị coi là trọng tội. Nhưng luật pháp không nêu cụ thể thế nào là phản quốc, là không trung thành với vua,... Với những khái niệm về trọng tội không rõ ràng như vậy, quan toà thường xét xử một cách tùy tiện, võ đoán. Tất cả những trọng tội đểu không được dùng tiền chuộc, và những người phạm trọng tội đểu bị lĩnh án tử hình. Phương thức thực hiện án tử hình rất tàn bạo như: chém đầu, treo cổ, làm cho tội phạm chết dần dần trong đau đớn, hỏa thiêu. 208 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Tóm lại: - Pháp luật là một phương tiện của nhà nước để đàn áp, bóc lột quần chúng nhân dân lao động, bảo vệ địa vị, quyền lợi của tập đoàn phong kiến thế tục và tập đoàn phong kiến giáo hội. - Nhìn chung, so với pháp luật thời Hy La cổ đại, luật pháp Tây Âu kém phất triển, bởi mấy'nguyên nhân sau: * Thứ nhất, ưong một thòi gian dài, tình trạng phàn quyền cát cứ và kinh tế tự cung tự cấp đã kìm hãm sự phát triển của kinh tế hàng hoá. * Thứ hai, các lãnh chúa phong kiến phải tập trung vào các cuộc chinh phạt lẫn nhau, không có thời gian cho việc xây dựng pháp luật. Trong các lãnh địa, các quan hệ xã hội chỉ cần tập quán pháp và lệnh miệng của lãnh chúa điều chỉnh là đủ. * Thứ ba, tuyệt đại đa số cư dân mù chữ, thậm chí nhiều qúy tộc cũng không biết đọc biết viết. Nhận xét chung vê' nhà nước phong kiến í. Về quá trình chuyển biến sang chế độ phong kiến Sự hình thành chế độ phong kiến, nhà nước phong kiến lả cả một quá trình và có hai con đường: - Một là, có những nước là chế độ chiếm hữu nô lệ và trong lòng nó ở thời kì cuối đã có mầm mống quan hệ phong kiến, dần dần chuyển sang chế độ phong kiến, nhà nước chiếm hữu nô lệ chuyển sang nhà nước của giai cấp phong kiến. Như ở đế quốc Đông La Mã - By giăng xơ, Trung Quốc, Ấn Độ V.V.. 209 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Hai là, có những nước từ chế độ công xã nguyên thủy đang tan rã, bỏ qua chế độ chiếm hữu nô lệ tiến thẳng lên chế độ phong kiến và thiết lập nhà nước phong kiến. Bước nhảy vọt như vậy, trước hết là do yếu tố nội sinh bên trong (sự phát triển của lực lượng sản xuất và kinh tế, mầm mông của giai cấp và nhà nước). Nhưng một yếu tố khác rấl quan trọng là sự tiếp thu ảnh hưỏng của chê' độ phong kiến của các nước khác. Như các quốc gia ở Đông Âu, Triều Tiên, Việt Nam,.. Trong đó, những cuộc chiến tranh chinh phục giúp cho việc tiếp thu ảnh hưởng ấy một cách nhanh chóng; Như trường hợp các bộ tộc người Giéc manh chinh phục đế quốc Tây La Mã, Mông c ổ chinh phục Trung Quốc,.. Giữa phương Đông và phương Tây, sự hình thành chế độ phong kiến và nhà nước phong kiến có những điểm khác nhau rõ rệt: - Về thòi gian, ở phương Đông chế độ phong kiến được hình thành sớm nhất ở Trang Quốc từ thế kỉ m trước công nguyên. Ở phương Tây nó được hình thành sớm nhái đã là thế kỉ V sau công nguyên (ở Tây Âu). Tuy nhiên trong từng khu vực cũng có những nhà nước phong kiến ra đời muộn như Mông cổ , Thổ Nhĩ Kì, Lào... ở thế kỉ XII, như Dông Âu ở thế kỉ V II-X . - Về không gian, ờ phương Tây, chính thể phong kiếa ra đời trên cơ sở chế độ chiếm hữu nô lệ đã từng phát triển đến đỉnh cao, quan hệ nô lệ mang tính chất điển hình. Còn ở phương Đông, chế độ phong kiến ra đời trên cơ sở chế độ nô lệ phát triển không đầy đủ, quan hệ nô lệ mang tính chất gia trưởng. Đặc điểm này có ảnh hưởng rất lớn tới qúa trình phát triển của chế độ phong kiến và nhà nước phong kiến. 2 1 0 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
2. Về cơ sở kinh tế, chính trị, xã hội của nhà nước phong kiến Trong chế độ phong kiến có hai giai cấp cơ bản là địa chủ (ờ phương Tây thường gọi là lãnh chúa, hoặc chúa đát) và nông dân (ở phương Tây là nông nô), có phương thức bóc lột đặc trưng là địa tô. Ngoài ra còn có tầng lớp thợ thủ công, tầng lớp thị dân. Nhưng cũng tương tự như thời cổ đại, cơ sở kinh tế, chính trị, xã hội của nhà nước phong kiến ở phương Đông và ở phương Tây có một số điểm rất khác nhau: - Ruộng đất là tư liệu sản xuất chính trong chê độ phong kiến, ở phương Tây, chế độ tư hữu ruộng đất đã phát triển triệt để từ thời cổ đại. Trong thời phong kiến, chế độ tư hữu ruộng đất không những vẫn như vậy, mà còn phát triển thành tư hữu rất lớn, (các lãnh địa). Hầu hết nông dàn mất hết ruộng đất và trở thành nông nô. ớ phương Đông, chế độ ruộng đất không thuần nhất như vậy. Hiện tượng phổ biến về ruộng đất của chế độ phong kiến phương Đông tồn tại quyền sở hữu ruộng đất của nhà nước (của vua), đồng thời đối với ruộng đất tư nhân, vua cũng có quyền sở hữu tối cao. Tư hữu ruộng đất (hầu hết là của địa chủ, một phần nhỏ của nông dân) phát triển chậm. Nói tóm lại, trong khi ở phương Tây, ruộng đất hầu như hoàn toàn thuộc sở hữu tư nhân (lãnh chúa) thì ở phương Đông tồn tại song song sở hữu nhà nước và sở hữu tư nhân (chủ yếu là của địa chủ phong kiến) Đặc điểm về chế độ sở hữu ruộng đất luôn luôn là chìa khoá để đi vào tìm hiểu những đặc điểm khác. - Về định tính và định hình của giai cấp. Địa chủ phong 211 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
kiến là người có nhiều ruộng đất riêng của mình và bóc lôt bằng địa tô. Lãnh chúa phong kiến phương Tây là chủ sờ hữu ruộng đất lớn, nguồn lợi thu hầu hết bằng địa tô. Vì vậy, hình ảnh của vị địa chủ phong kiến phương Tây rất nổi, hay nói cách khác, định tính và định hình của giai cấp địa chủ phong kiến phương Tây rất rõ ràng và đậm nét. Nông nô phương T iy hoàn toàn không có ruộng đất, phải hoàn toàn lĩnh canh ruộng đất của lãnh chúa và nộp địa tô cho chủ. Người nông nô đúng 100% là người tá điền, hoàn toàn lệ thuộc vào chủ. Ở phương Đông, ruộng đất thuộc sở hữu của nhà nước, một phần được phân phong cho quý tộc quan lại (thường ruộng đất loại này, người được phong không có quyền mua bán), một phần được cấp cho nông dân theo định kì cày cấy để nhà nước thu thuế, như chế độ quân điền ở Trung Quốc, Việt Nam, chế độ ban điền ở Nhật Bản... Từ đó có hai hệ quả: Địa chủ phong kiến không chỉ bóc lột bằng địa tô từ số ruộng đất tư của mình, mà còn bóc lột bằng thuế được hưởng từ ruộng đất được phân phong. Người nông dân tuy vẫn phải lĩnh canh ruộng đất của địa chủ và nộp tô, nhưng cũng nhận được một phần ruộng đất của nhà nước và phải nộp thuế. Một số ít nông dân còn có ruộng đất riêng để cày cấy. Chính vì vậy, người nông dân phương Đông còn có quyền tự do thân thể hơn người nông nô phương Tây - người hoàn toàn bị lệ thuộc vào lãnh chúa. Như vậy, định tính và định lượng của các giai cấp ỏ phương Đông không sắc nét như ở phương Tây. - Trong khi châu Âu cho đến thế kỉ XIV, văn hoá, giáo dục vẫn bị giáo hội lũng đoạn kìm hãm, cả xã hội sống trong vòng lạc hậu, tối tăm, thì ở phương Đông; Trung Quốc, Ân 212 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Độ, Á Rập là những trung tâm vãn minh lớn của thế giới, với những thành tựu to lớn về vãn học, triết học, nghệ thuật, khoa học tự nhiên.... với những phát minh quan trọng như làm giấy, nghề in, thuốc súng, la bàn. Khác hẳn với phương Tây, tập đoàn vua quan phong kiến ở phương Đông thường là những nhà trí thức lớn trong xã hội. Trường hợp vua quan không biết chữ học ít học thức chỉ là cá biệt. Trong dân gian cũng có không ít người có học thức. Từ rất sớm phong cách văn minh, lịch sự, tao nhã đã trở thành nếp sống bình thường cùa người phương Đông. Chính người phương Tây đã học tập nếp sống vãn minh đó từ những cuộc viễn chinh sang phương Đông của thập tự quân cuối thế kỉ XI - XIII. Nhìn chung, kinh tế tự cung tự cấp giữ vai trò chủ đạo trong chế độ phong kiến. Nhưng đến cuối thời kì phong kiến ở phương Tày kinh tế tư bản chù nghĩa nảy sinh và phát triển, đưa phương Tây vượt lên hẳn phương Đông. Các nước phương Đông (trừ Nhật Bản) dần dần trở thành thuộc địa của chù nghĩa tư bản phương Tây. 3. Về hình thức và chức năng của nhà nước ớ phương Tây, hình thức kết cấu của nhà nước, phổ biến và bao trùm là phân quyền cát cứ, với những biểu hiện và được quyết định bởi những nguyên nhân khác nhau. Hình thức chính thể quân chủ chuyên chế chỉ xuất hiện ở thời kì cuối - thời kì suy vong của chế độ phong kiến và chỉ ở một số nước như Pháp, Anh, Tây Ban Nha,... Còn ở một số nước, như Italia. Đức,... trạng thái phàn quyền cát cứ tồn tại suốt cả chế độ phong kiến. Tính chuyên chế ở chính thể quân chủ chuyên chế không cao như ở phương Đông. Ngoài ra còn có 21? Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
hình thức chính quyền tự trị thành phố là chính quyền cục bộ, tổn tại trong những khoảng thời gian không lâu. Nó là chính quyền cộng hoà phong kiến, nằm trong phạm trù nhà nước phong kiến. Ở phương Đông, hình thức kết cấu của nhà nước phổ biến là trung ưcmg tập quyẻn, phát triển thành hình thức chính thể quân chủ chuyên chế và mang tính chuyên chế cực đoan. Chính thể quân chủ chuyên chế tồn tại trong suốt thời kì chế độ phong kiến. Trong chính thể đó, vua có uy quyền tuyệt đối, là đấng chí cao vô thượng và được thần thánh hoá là thiên tử (con trời), thiên hoàng (vua nhà trời),.. Chính thể quân chủ chuyên chế phương Đông hình thành, phát triển do những yếu tố sau: - Quyền sở hữu tối cao về ruộng đất thuộc nhà vua và sự tồn tại của các công xã nông thôn. - Do đòi hỏi của công cuộc xâm lược bành trướng hoặc của công cuộc chống chính phục. - Do tập quán chính trị và tâm lí chính trị truyền thống. Nhà nuớc quân chủ chuyên chế phong kiến là sự kế thừa và phát triển chính thể quân chủ chuyên chế chủ nô. - Do truyền thống kết hợp chặt chẽ giữa vương quyền và thần quyền. Cũng như trong thời kì chiếm hữu nô lệ, nhà nước phong kiến ở phương Đông vẫn có một chức năng đặc biệt và rất quan trọng, chức năng tổ chức công cuộc trị thủy và thủy lợi. Dù phương Đông và phương Tây có những điểm khác nhau, nhưng bản chất của nhà nước phong kiến dù ỏ đâu cũng chỉ là một. Nhà nước phong kiến là công cụ của giai cấp phong kiến để đàn áp, bóc lột nhân dân lao động, bảo vệ địa vị và quyền lợi của giai cấp phong kiến thống trị. 214 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
4. Về pháp luật Pháp luật phong kiến là một phương tiện cai trị của nhà nước phong kiến. Pháp luật phong kiến là pháp luật đặc quyền. Sự thể hiện cơ bản và bao trùm tính đặc quyền của pháp luật là nó bảo vệ địa vị và quyền lợi của một thiểu số trong xã hội - tức là những người của giai cấp địa chủ phong kiến, áp bức và bóc lột đa số cư dân trong xã hội, tức là quần chúng nhân dân lao động. Tính đặc quyền của pháp luật phong kiến được biểu hiện cụ thể như sau: - Bằng các chế định sở hữu, thừa kế, hợp đồng và nhất là các chế định hình sự, phát luật bảo vệ quyền sở hữu ruộng đất phong kiến, trói buộc người nông dân trong thân phận tá điền. Bất cứ ai xâm hại đến quyền sở hữu phong kiến, đều bị trừng trị rất nặng, thậm chí bị tội chết. - Pháp luật thể chế hoá trật tự đẳng cấp phong kiến, trật tự vua tôi, trật tự đẳng cấp quan liêu, trật tự gia trưởng. - Mức hình phạt phụ thuộc vào đẳng cấp và địa vị xã hội của tội phạm. Pháp luật phong kiến mang nặng tính chất tôn giáo, ở phương Tây, giáo lí của đạo thiên chúa chi phối nội dung pháp luật của nhà nước. Nhả thờ còn có luật lệ riêng, điều chỉnh cả những quan hệ không thuộc phạm vị tôn giáo, ở Trung Quốc, Triều tiên, Nhật Bản, Việt Nam, giáo lí của đạo nho thể chế hoá thành nội dung cơ bản của pháp luật, ở Ân Độ, giáo lí của Phật giáo, Ân Độ giáo, Hồi giáo thẩm thấu vào nội dung của pháp luật. Đặc biệt, ở vương quốc Hồi giáo Ả Rập, Kinh Cô ran 215 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
trong một thctì gian là pháp luật của nhà nước và về sau trờ thành cơ sở của pháp luật. Chế tài pháp luật phong kiến mang tính chất vô cùng hà khắc và tàn bạo. Không chỉ tội phạm hình sự, mà nhiều quan hệ dân sự khi, bị vi phạm cũng đều được áp dụng chế tài hình sự. Tội nhẹ nhung vẫn thường bị xử nặng. Nhìn vào thang hình phạt của luật pháp phong kiến bất cứ ai ngày nay cũng phải rùng mình bỏi các loại hình phạt như chém bêu đầu, như bỏ vào nước sôi hoặc dẩu sôi, tùng xẻo, xé xác, tru di tam tộc,... Đúng như C.Mác nói: pháp luật phong kiến là pháp luật quả đấm. So với sự phát triển pháp luật của chế độ nô lệ, Pháp luật phong kiến mang nặng tính trì trệ (nhất là ỗ phương Tây). Nếu xét về phạm vi điều chỉnh tính pháp điển hoá, Jă thuật lập pháp, thì khó có một bộ luật phong kiến nào vượt được bố luật Hăm mu ra bi và lại càng không so được với luật La Mã. Luật pháp thành văn phong kiến phương Tây mãi đến thế kỉ XII - XIII mới bắt đầu được phát triển. Đó là do trạng thái phân quyền cát cứ trầm trọng, một phần do không ít quý tộc quan lại không biết đọc biết viết và nhân dân lao động hầu như mù chữ. Ở phương Đông, lệ của các công xã vẫn giữ vai trò quan trọng trong việc điểu chỉnh các quan hệ xã hội ở cộng đồng. 216 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
PHẦN THỨTƯ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT THỜI KỈ CẬN ĐẠI CHUÔNG V NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT T ư SẢN Từ thế kỷ XV - XVII, ở phương Tây chế độ phong kiến lâm vào thời kỳ khủng hoảng ngày càng trầm trọng. Quan hệ kinh tế tư bản chủ nghĩa hình thành và phát triển. Giai cấp tư sản ra đời, là giai cấp tiến bộ, đại diện cho lực lượng sản xuất mới. Giai cấp tư sản lãnh đạo quần chúng nhân dân lao động, tiến hành cách mạng tư sản, lật đổ chế độ phong kiến, thiết lập nhả nước tư sản. Cuối thế kỷ XVI, cách mạng tư sản nổ ra đầu tiên ở Nê đéc lan.(l> Cuộc cách mạng thành công, nhưng ảnh hưởng của nó không sâu rộng. Đến giữa thế kỷ XVII, cách mạng tư sản ở Anh bùng nổ và giành thắng lợi. Cách mạng tư sản Anh có ảnh hưởng lớn đến tiến trình của lịch sử thế giới. Nên nó được coi là cái mốc mở đầu thời kì lịch sử thế giới cận đại. (1). Nê đéc lan; nghĩa là "đất thấp", gồm lãnh thổ các nước Hà Lan, Bi, Lúc xâm bua và một số vùng thuộc Đ òng Bắc nước Pháp ngày nay. Với Ihắng lợi của cuộc cách mạng tư sàn, các tỉnh miền Bắc Nê đéc lan thành lập một nước, mang tên tình lớn nhâì: Hà Lan. 217 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Tiếp đó, trong thế kỷ XVIII-XIX, cách mạng tư sản thắng lợi ở Pháp, Mĩ, Nhật và nhiều nưốc khác ở Châu Au. Như vậy, Nhà nước tư sản ra đời là hệ quả tất yếu của quá trình phát triển phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, là thành quả trực tiếp của cách mạng tư sản. Từ sau cách mạng tư sản, đến cuối thế kỷ XIX là thời kỳ chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh. A. NHÀ NƯỚC QUÂN CHỦ NGHỊ VIỆN ANH Là sản phẩm của cuộc nội chiến cách mạng chống phong kiến không triệt để, nhà nước tu sản Anh điển hình cho chính thể quân chủ nghị viện. Trong thời kỳ chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh, Anh là nước tư bản lớn nhất thế giỗi, là trung tâm áp bức, bóc lặt nhân dân lao động Anh và nhân dân lao động thế giới. I. CÁCH MẠNG TƯ SẢN VÀ S ự R A ĐỜI NHÀ NUỠC TƯ SẢN ANH Đến giữa thế kỷ XVII, nước Anh vẫn là một nước quân chủ chuyên chế phong kiến. Mâu thuẫn giữa giai cấp phong kiến với giai cấp tư sản và nhân dân lao động ngày càng gay gắt. Trước khi cuộc nội chiến cách mạng bùng nổ, phong trào đấu tranh chống phong kiến đã phát triển mạnh mẽ. Trước hết, đó là những cuộc nổi dậy khởi nghĩa của quần chúng. Đồng thời có cuộc đấu tranh gay gắt giữa nhà vua vói tư sản diễn ra ở nghị viện. Lúc này hầu hết nghị viện là tư sản hoặc quý tộc mới (quý tộc tư sản hoá). Nên nghị viện là dinh luỹ chính trị của giai cấp tư sản. Quá trình cách mạng tư sản Anh diễn ra qua hai cuộc nội 218 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
chiến: cuộc nội chiến lần thứ nhất (1642-1646) và cuộc nội chiến lần thứ hai (1648). Do cao trào đâu tranh cua quán chúng và áp lực của nghị viện, trước ngưỡng cửa của cuộc nội chiến, vua Sáclơ I cùng các quý tộc trung thành đã bỏ Luân Đôn và chuyến sang thành phò' Oxpho. Như vậy, lúc này có hai chính quyền song song: Chính quyền phong kiến của nhà vua ở Oxpho, nghị viện ở Luân Đôn thực hiện chức năng chính quyền của tư sản. Nghị viện tuyên bố giải tán quân đội nhà vua và lập thành quân đội của nghị viện. Ngày 22/8/1642, vua Sáclơ I chính thức tuyên chiến với lực lượng cách mạng (lực lượng tư sản tiến bộ và toàn thể quần chúng nhân dân). Lúc này, xuất phát từ quyền lợi khác nhau, nội bộ nghị viện phân hoá thành hai phái: Phái trướng lão chiếm đa số, đại diện cho tầng lớp đại tư sản, chủ trương thoả hiệp với vua, coi chiến tranh là phương tiện để ép vua phải chịu nhượng bộ một số quvền lợi. Phái độc lập chiếm thiểu số trong nghị viện, đại biểu cho quyền lợi của tầng lớp tư sản bậc trung, được sự ủng hộ của đông đảo quần chúna nhân dân, có thái độ kiên quyết với nhà vua hơn. Thái độ đối với chiến tranh và cuộc tranh giành quyền lãnh đạo trong nội bộ giai cấp tư sản có ảnh hường trực tiếp đến quá trình diễn biến của nội chiến cách mạng. Lúc đầu quân đội của nghị viện liên tiếp bị thất bại. Nhưng sau đó quân đội của nghị viện, do được cải tổ lại mà trong đó nòng cốt là đạo quân kị binh của Crôm Oen, dã nhanh chóng phản công thắng lợi. Crỏm Oem là một trong những lãnh tụ xuất sắc của phái độc lập, đồng thời trở thành lãnh tụ cùa cách mạng tư sản. Bọn sĩ quan của phe trưởng lão bị loại, quân đội nằm trong tay phái độc lập. Năm 1646, Sáclơ I bị bắt. Sau cuộc nội chiến lần thứ I. phái đôc lâp khống chế 2 1 9 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
được nghị viện. Phái độc lập lại chủ trương thương lượng với vua để hợp pháp hoá chính quyền tư sản do họ nắm giữ và không đáp ứng các yêu cầu của quần chúng nhân dân. Trong lúc phái trưởng lão và sau đó là phái độc lập tìm cách thương lượng vói nhà vua, thì Sáclơ I vẫn ngoan cô' và tìm cách phục hồi chế độ quân chủ chuyên chế phong kiến. Sáclơ I trốn khỏi nhà giam và tập hợp lực lượng phản kích lại quân cách mạng. Cuộc nội chiến lần thứ hai bùng nổ. Quân đội cách mạng do Crôm Oen chỉ huy đánh bại quân đội nhà vua. Đến tháng 8/1648 cuộc nội chiến kết thúc. Sáclơ I lại bị bắt. Trước áp lực của quần chúng nhân dân, ngày 23/12/1648, nghị viện trong tay phái độc lập thông qua sắc lệnh xét xử nhà vua. Ngày 4/1/1649 nghị viện thông qua nghị quyết, khẳng định quyền tối cao của hạ nghị viện trong bộ máy nhà nước (kể cả đối với thượng nghị viện, nhà vua). Nghị quyết viết: "7. Nhân dân, dưới quyền lực của thượng đế, là gốc rễ của mọi chính quyền chân chính. 2. Hạ viện do nhân dân bầu ra, có quyền lực tối cao trong quốc gia. 3. Những gì hạ viện tuyên bô'là pháp luật thì nó có hiệu lực, dù cho các thượng nghị sĩ, nhà vua có phản bác". Nghị viện cử ra toà án tối cao gồm 135 ủy viên, phụ trách xét xử nhà vua. Ngày 30/1/1649 Sác lơ I phải lên đoạn đầu đài. Ngày 19/5/1649, trước sức mạnh đấu tranh của quần chúng, nền cộng hoà được tuyên bố chính thức thành lập. Hạ nghị viện nắm quyền lập pháp. Thượng nghị viện bị giải tán. Quyền hành pháp được giao cho nội các do nghị viện bầu ra. Những người của phái độc lập chiếm ưu thế trong chính 2 2 0 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
quyền nhà nước tư sản. Tầng lớp sĩ quan quân đội đứng đầu là Crôm Oen. nắm giữ những chức vụ quan trọng. Như vậy, lúc đầu nhà nước tư sản Anh mang chính thể: Cộng hoà nghị viện và chính thể này chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn. II. NHÀ NUỚC SAU CÁCH MẠNG TƯSẢN. SựTHIÊT LẬP CHÍNH THỂ QUÂN CHỦ NGHỊ VIỆN VÀ T ổ CHỨC CỦA Bộ MÁY NHÀ NƯỚC 1. Sự thiết lập chính thể quân chủ nghị viện Sau khi cuộc nội chiến cách mạng kết thúc, quần chúng nhân dân tiếp tục đấu tranh mạnh mẽ, đòi chính quyền tư sản phải thực hiện lời hứa với quần chúng cách mạng. Giai cấp tư sản rất lo sợ phong trào của quần chúng nhân dân. Vì vậy, giai cấp tư sản, một mặt thẳng tay đàn áp phong trào quần chúng, mặt khác sẩn sàng thủ tiêu nền cộng hoà đổ xây dựng một chính quyền có "bàn tay sắt" vừa có đủ sức mạnh trấn áp phong trào trong nước, vừa có khả năng chiến thắng những quốc gia cạnh tranh bên ngoài. Năm 653, Crômm Oen và Hội đồng sĩ quan của ông ta đưa ra một văn bản có tính lập hiến, nhưng với cái tên kỳ quặc là "công cụ điều hành". Theo vãn bản này, những công dân phải có thu nhập hàng năm từ 200 bảng mới có đủ tư cách cử tri bầu hạ nghị viện. Quy định này loại phần đông dân chúng ra khỏi chế độ bầu cử. Văn bản đó tước bỏ quyền lập pháp, quyền tha thuế của nghị viện và-tập trung vào quan bảo hộ. "Công cụ (liều hành " ghi đích danh Crôm Oen là quan bảo hộ. Từ đó. nghị viện (tức hạ nghị viện) chỉ còn là hình thức. 221 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
các nghị sĩ được chọn cẩn thận. Crôm Ocn mang danh "lìliù b ả o họ' nhưng đã trở thành kẻ độc tài, nắm mọi quyền hành, tổng tư lệnh quân đội, kiểm tra tài chính và toà án. quyết định chính sách đối nội và đôi ngoại. Toàn quốc chia làm 11 khu đứng đầu là thông đốc - các tướng tay chân cùa Crôm Oen. Trật tự quân sự, cảnh sát ngự trị trong cả nước. Như vậy, nền cộng hoà đã bị thủ tiêu. Tuy vậy, liều thuốc đó cũng không cứu được chính quyền tư sản thoát khỏi những khó khăn ngày càng trầm trọng. Làn sóng cãm phẫn của quần chúng nhân dân vẫn không ngừng bùng lên và lan tràn trong toàn quốc, công thương nghiệp bị đình trệ. Tinh hình trên làm cho bọn đại tư sản và quý tộc mới có khuynh hướng bảo hoàng không tin tưởng ở sức mạnh của chính quyền "bảo hộ" và muốn thay thế bằng một chính quyền khác, một chính thể khác. Tướng Môncơ, tư lệnh quân đội Anh ở Xcốt len, đại diện cho khuynh hướng đó, đưa quân về Luân Đôn ủng hộ phái tư sản bảo hoàng. Chế độ hai viện cùa nghị viện được phục hồi và phần lớn nghị viện là các phần tử cánh hữu. Đồng thời năm 1660, Sáclơ II đang lưu vong ở nước ngoài, được mời về nước lên ngôi vua. Năm 1685 Sáclơ II chết, em là Giêm II nối ngôi vua, nhưng chỉ được cai trị trong 3 năm. Các vị vua này đều không muốn nằm trong khuôn khổ của chính thể quân chủ nghị viện, mà đã từng bước tìm cách khôi phục chế độ quân chủ chuyên chế phong kiến, đe dọa địa vị và quyền lợi của giai cấp tư sản. Vì vậy những đại biểu của tư sản và quý tộc mới trong Đảng Uých (tiền thân của đảng Bảo thủ, gồm chủ ngân hàng, thương nhân, chủ đồn điền,...) và đảng Tôry (tiền thân của đảng Tự do gồm các địa chủ) hợp tác với nhau, để tìm cách lật đổ nền thống trị của Giêm II và tìm một vị quân vương khác dễ sai khiến hơn. Người đó là Vin 2' ) ' ) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
hem Orãng giơ. về danh nghĩa dòng ho. Vin hem có đủ tư cách thay thế ngôi vua, vì ông ta là con rể cua Giêm II. về ihưc tế Vin hem là nhà tư sản. Đầu tháng 11 năm 1688, được sự chỉ đạo và ùng hộ của giai cấp tư sản, Vin hem dần quán vổ Luân Đôn, lật đổ Giêm II và lên ngôi vua, lấy danh hiệu là Vin hem III. Để đảm bảo chắc chắn địa vị, quyền lợi cùa giai cấp tư sản và quý tộc mới, tháng 2/1689, nghị viện thòng qua "đạo luật về quyền hành". Theo đạo luật này, quyền lực nhà nước tập trung vào nghị viện, nhà vua khống có thực quyền. Đạo luật về quyền hành quy định: 1. Mọi đạo luật và mọi thứ thuế chỉ đều do nghị viện quyết định. 2. Không một ai, ngoài nghị viện, có thể chấm dứt hiệu lực của đạo luật. 3. Bảo đảm sự tự do tranh luận tại nghị viện. 4. Hàng nãm, nghị viện xác định thành phần và số lượng quân đội, xét duyệt kinh phí quốc phòng. Đồng thời tư sản và phái quý tộc đã đi tới những thỏa hiệp sau: - Giai cấp tư sản chấp thuận để giới quý tộc tham gia vào bộ máy nhà nước. Những quý tộc ruộng đất vẫn được giữ nguyên quyền lợi ruộng đất, nhưng việc kinh doanh ruộng đất không được đi ngược lại quyền lợi của giai cấp tư sản. - Các nghị sĩ quý tộc phải bỏ phiếu đồng ý cho các đạo luật phù hợp với lợi ích của giai cấp tư sản. Đạo luật về quyền hành và nhũng thoả hiệp của liên minh tư sàn với quý tộc trở thành cơ sở pháp lí và sự bền vững của nền quân chủ lập hiến, là một trong những nguồn của hiến pháp 2T3 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
không thành văn bản ở Anh. Từ đây, chính thể quân chủ nghị viện đã được xác lập. Anh là nước có nẻn quân chủ nghị viện sớm nhất. Sau cách mạng tu sản, giai cấp tư sản Anh phải xoá bỏ hình thức nhà nước cộng hoà nghị viện và thay vào đó là chính thể quân chủ nghị viện vì: - Hoàng sợ trước lực lượng cách mạng quần chúng nhân dân, giai cấp tu sản phải liên minh với thế lực phong kiến cũ để bảo vệ địa vị, quyền lợi của mình, tức là phải thiết lập nhà nuớc tư sản dưới hình thức quân chủ nghị viện. - Cuộc cách mạng tu sản Anh chống phong kiến không triệt để. Sau cách mạng, tuy chính thể quân chủ chuyên chế đã bị xoá bỏ, nhưng thế lực phong kiến vẫn tồn tại và là lực lượng chính trị trong xã hội. Sự cấu két giữa giãi cấp tư sản và thế lục phong kiến được phản ánh ở thượng tầng kiến trúc, là bình thúc nhà nước quân chủ nghị viện mà quyền lực nhà nước tập trung vào nghị viện. - Do tập quán và tâm lí chính trị truyền thống, chế độ quận chủ phong kiến đã từng tồn tại hàng trăm năm. Sau cách mạng tư sản, trong thành phần giai cấp tư sản có tầng lóp vốn xuất thân từ quý tộc phong kiến, tức quý tộc tư sản hoá. Nên hình ảnh một quân vương vẫn còn sống động trong tâm lí chính trị của họ. Việc thiết lập hình thức quân chủ lập hiến còn nhằm hoà hợp được với Châu Âu phong kiến lúc đó. 2. Quá trình hình thành ''hiến pháp không thành ván". Tổ chức bộ máy nhà nước quân chủ nghị viện Sau khi được xác lập và những năm tiếp theo (từ cuối thế kỷ XVII đến cuối thế kỷ XIX- đầu thế kỷ XX), thể chế của nền quân chủ lập hiến ở Anh được hoàn thiện và định hình 224 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
từng bước. Quá trình này được thê’ hiện bằng một số đạo luật bổ sung và đặc biệt là theo tiền lệ (sự hình thành các tập quán chính trị). Đó cũng là quá trình hình thành hiến pháp không thành văn của Anh. Cụ thể sau đây là một số minh chứng tiêu biểu: Luật về quyền hành 1689 dần dần được bổ sung: - “Văn kiện ba năm" năm 1694 quy định nhiệm kì của hạ viện là 3 năm. Từ những năm 1870, nhiệm kì của hạ viện là 7 năm. - "Văn kiện" năm 1701 đặt cơ sở bước đầu hình thành hai nguyên tắc quan trọng. Nguyên tắc "chữ ký thứ hai". Nguyên tắc này là bất cứ văn kiện nào của nhà vua để có hiệu lực thì cần phải có chữ ký thứ hai - chữ ký của thủ tướng hoặc cùa một bộ trưởng bộ có liên quan tới vấn đề có ghi trong văn bản đó. Nãm 1711, nguyên tắc "chữ ký thứ hai" được bổ sung thêm nguyên tắc: không chịu trách nhiệm của nhà vua, nhà vua không được làm điều ác, người phải chịu trách nhiệm về văn bản của vua là bộ trưởng hoặc thủ tướng. Mục đích thực tiễn của nguyên tắc chữ kí thứ hai là hạn chế quyền lực của hoàng đế. Nguyên tắc thứ hai là "không thay thế quan toà". Mục đích ban đầu của nguyên tắc này là ngãn ngừa sự chuyên quyền của nhà vua. Nguyên tắc này là nhà vua bổ nhiệm các thẩm phán, nhưng việc thay đổi các quan toà lại thuộc quyền của nghị viện. Trong thế kỷ XVIII - XIX cũng là quá trình hình thành tiền lộ pháp được gọi là nguyên tắc "chính phú trácli nhiệm". Trong luật pháp thành văn, nội các chưa bao giờ tồn tại. Nhưng trên thực tế dần dần nó được hình thành và nó không chỉ hoạt động, mà ngày càng được củng cố. Nhờ vào nghị viện, nội các hạn chế được quyền lực cùa nhà vua. Song cũng 225 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
nảy sinh những mâu thuẫn giữa nghị viện và nội các vê quyền hạn. Do nghị viện nắm quyền lập pháp, quyết định ngân sách,... nên nội các muốn tồn tại được thì phải được sự ủng hộ của đa số thành viên hạ viện. Và dần dần hình thành tập quán chính trị: nghị viện giành cho mình quyén giám sát nội các, hay nói cách khác, chính phủ phải có trách nhiệm trước nghị viện (cụ thể là trước hạ viện). Ngoài ra một loạt các nguyên tắc cơ bản khác cùa chính thể quân chủ lập hiến cũng dần dần được định hình theo con đường "tiền lệ pháp", như tập quán truyền ngôi vua, mổi quan hệ giữa thượng viện và hạ viện V.V.. Tổng hợp những vấn đề cơ bản mang tính nguyên tắc đó, được người ta gọi là "hiến pháp không thành văn" của nước Anh. Vậy tại sao nước Anh tư sản chỉ có hiến pháp khổng thành văn, mà không có hiến phấp thành văn nhu các nước tu sản sau này. Thứ nhất, nhà nuớc tư sản Anh là nhà nước tư sản đầu tiên. Cuộc cách mạng tư sản Anh cũng là cuộc cách mạng luật pháp lớn lao đầu tiên. Nó có nhiều sáng kiến pháp luật nổi tiếng, nhưng không thể sáng tạo đầy đủ được. Trong đó nó chưa nghĩ ra được hình thức hiến pháp. Thứ hai, ở Anh các nguyên tắc và những quy chế mang tính lập hiến tạo nên chính thể tư sản là kết quả của cả một quá trình đấu tranh lâu dài giữa giai cấp tư sản và thế lực quý tộc cũ. Nên ngay từ đầu không thể có một văn bản cơ bản mang tính hiến pháp đầy đủ. Cuối cùng, chính thể quân chủ nghị viện Anh được định hình như sau: chính thể này gồm ba bộ phận cơ bản. 226 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
+ Hoàng đế; Hoàng đế Anh truyền ngôi cho con trai, nếu không có con trai thì được truyền ngôi cho con gái. Người muốn lên ngôi hoàng đế phải là người nghiêm túc. trong sạch, theo nếp sông "khuôn vảng lliước ngọc" cúa lẻ giáo phong kiến, khỏng được kết hôn hai lần trở lên, không ngoại tình, phải là người theo quốc giáo nước Anh. Hoàng đế là nguyên thủ quốc gia. Nhưng hoàng đế chi nặng về vai trò tượng trưng. Mọi hoạt đông của hoàng đế chi nhằm một mục đích chính thức hoá về mật nhà nước các hoạt động của nghị viện, của chính phủ. Mọi quyết định của hoàng đế chỉ có hiệu lực thực thi khi có chữ ký kèm theo cúa thú tướng. Tóm lại: Hoàng đế khòng có thực quyổn và đúiiíỉ như câu ngạn ngữ: "nhà vua trị vì, nhưng khống Ctn Trị". + Nghị viện Nước Anh là quê hương của nghị viện tư sản. Thòi kì chủ nghĩa tư bàn tự do cạnh tranh là thời hoàng kim cua Ìighi viện. Nghị viện thật sự có ưu thế hơn hẳn các cơ quan nhà nước khác. Lúc bấy giờ, người Anh có câu ngạn ngữ "nghị viện có quyền được làm tất cả, chi trừ wệc biến đàn ỏng tliành đàn bá". Nghị viện có những quyền hạn: - Quyền lập pháp. - Quyền quyết định ngân sách và thuế. - Quyền giám sát hoạt động của nội các, báu hoặc bãi nhiệm các thành viên của nội các. Vai trò và quvền hạn của nehị Viện kí» nhú vậy là dể hạp chế tới mức tối đa quyền hạn của nhà vua, làm chu ngai \ănjỊ 277 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
trở thành hư vị. Nước Anh cũng là nước có cơ cấu hai viện vào loại sớm nhất. Sau khi xác lập chính thể quân chủ nghị viện, thượng nghị viện được khôi phục. Dần dần cơ cấu tổ chức, chức năng và quyẻn hạn của nó được định hình. Thượng nghị viện hay còn gọi là viện nguyên lão, đúng nhu tên gọi, gồm: đại quý tộc mới, không phải qua bầu cử mà do tầng lớp đại tư sản quý tộc cử ra. Lúc đẫu thượng nghị viện có uy quyền hơn hạ nghị viện. Dần dần, do là đại diện của thế lục bảo thủ, lỗi thời, đã hết vai trò lịch sử trong xã hội, nên thượng nghị viện vừa hoạt động rất hình thức, mang tính chất danh nghĩa, vừa là thế lực kiẻm chế và đối trọng của hạ viện. Vai trò kiềm chế và đối trọng đó được thể hiện ở chỗ: khi có thuợng viện, ít nhất trong công đoạn làm luật, làm cho việc thông qua các quyết định phải được tiến hành dài hơn, vói nhũng thủ tục rườm rà, để ngăn chặn sự quá tả, vội vàng của hạ nghị viộn. Thượng nghị sĩ được hình thành từ bốn nguồn sau: - Thượng nghị sĩ là những quý tộc có phẩm hàm (tước vị). Trong đó từ bá tước trở lên thì được cha truyẻn con nối chức thượng nghị sĩ. - Các thủ lĩnh tôn giáo đương nhiệm - Các thủ tướng Anh hết nhiệm kì. - Một số khác do đích thân hoàng đế bổ nhiệm. Hạ nghị viện đại diện cho các tầng lớp trong cư dân và do dân bầu ra, nên còn được gọi là viện dân biểu. Buổi ban bầu, quyển hạn của hạ nghị viện và chế độ bầu cử còn bị hạn chế rất nhiều. Lúc đầu, sau cuộc chính biến của Vin hem năm 1688, trong số gần 7 triệu dân Anh, chi có 25 vạn người có quyền tuyển cử. Gần một nửa số hạ nghị sĩ là những người 228 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
được bầu ra từ những "thị trấn hoang tàn"01 . Đó là những vùng rất ít dân cư, thường bầu và cử theo ý muốn của chúa đất. Khi mảnh đất được bán đi, thì người chủ mới thay thê người chủ cũ làm hạ nghi sĩ. Ghế nghị viện được mua đi bán lại. Phiếu bầu cử cũng được mua. Sau đó mặc dù đã trải qua ba cuộc cải cách chế độ tuyển cử (từ 1832-1884) cũng chi có 4,5 triệu người trong tổng số 36 triệu người (chiếm 12,55%) được bầu cử (2>. Đại đa số công nhân lớp dưới, cô' nông, người đi ở và toàn thê phụ nữ bị gạt ra ngoài đời sống sinh hoạt chính trị - bầu cử. Sau này, hạ nghị viện ngày càng có nhiều quyền lực, lấn át vai ưò, quyền hạn của thượng nghị viện. Chế độ đa đảng ở Anh là chế độ hai đảng. Thông qua việc giói thiệu các ứng cử viên của đảng để bầu vào hạ viện, hai đảng tư sản thay nhau khống chế nghị viện. Trong khoảng những năm 50-60 của thế kỉ XIX, ưu thế thuộc về đảng Tự do. Từ những năm 70 trở đi, ưu thế đó chuyển sang đảng Bảo thủ. + Chính phủ. ở Anh, tiền thân của nội các là viện cơ mật. Thế kỷ XVII, trước cách mạng tư sản, viện cơ mật được vua lập ra và giữ vai trò tư vấn cho nhà vua. Sau cách mạng tư sản, từ năm 1714 một vị vua Anh mang dòng máu Đức là George, không biết rành rọt tiếng Anh, nên rất chểnh mảng dự các phiên họp của viện cơ mật. Không có nhà vua chủ trì các phiên họp, dần dần viộn cơ mật tách khỏi sự kiểm soát của nhà vua, thành viên viện cơ mật được gọi là bộ trưởng, hội nghị viện cơ mật thành nội các, vị chủ trì các phiên họp được gọi là thủ (1). Vũ Dương M inh - N guyên Văn Hóng: Đại cương lịch sừ thế giới cận Đại, Tập 1, Nxb. Giáo dục, Hà N ội. 1995, tr.32 (2). Vũ Dương Minh - N guyễn Văn Hổng. Sđd, tr. 279. 229 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
tướng. Nội các độc lập với nhà vua. Sau đó nội các trở thành cơ quan có thực quyền, nám quyền hành pháp. Thủ tướng được hoàng đế bổ nhiệm là thủ lĩnh đảng cầm quyền, đảng chiếm được đa số ghế trong hạ nghị viện. Điều này sau trở thành tập quán hiến pháp không thành vãn của Anh. Hay nói cách khác, thực chất hạ nghị viẹn cử ra thủ tướng. Sau khi được hoàng đế bổ nhiệm, thủ tướng đứng ra thành lập chính phủ (các bộ trưỏng nhất thiết phải là đại biểu của hạ viện hoặc thượng viện). Đó là chính phủ của đảng chiếm đa số trong hạ viện. Ở Anh, lập pháp và hành pháp đều nằm trong tay một đảng. Vì vậy, không mấy khi hạ viện bị giải tán. Hạ nghị viện chỉ có thể bị giải tán, nếu chính phủ thấy đảng của mình có đa số mỏng manh trong hạ viện, muốn có đa số vững chắc hơn, thì yêu cầu hoàng đế giải tán hạ nghị viện để bầu ra hạ nghị viện mới, với hy vọng sẽ có sự ủng hộ của đa số nhiều hơn, nhằm kéo dài thời gian cầm quyền của đảng mình. N hư vậy, thực chất cơ chế chính trị ở Anh là hai đảng tư sản thay nhau nắm chính quyền nhà nước. Trong thời ki chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh, nước Anh có nền kinh tế phát triển nhất, trở thành công xưởng của thế giới. Anh cũng là đế quốc xâm chiếm nhiều thuộc địa nhất. Đến năm 1900 đế quốc "Mặt trời không bao giờ lặn" đó có đất đai thuộc địa rộng tới 33 triệu km2 với số dân 370 triệu người(,). Tư bản Anh là trung tâm áp bức, bóc lột nhân dân Anh và nhân dân thế giới. (1). Vũ D ư ơns M inh - Vũ V ãn H ồn e. Sđd. tr.282. 230 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
B. NHÀ NƯỚC CỘNG HOÀ TổNG THỐNG ở HỢP CHỦNG QUỐC HOA KÌ Cuộc cách mạng tư sản tại các thuộc địa Anh ở Bắc Mĩ là cuộc chiến tranh giành độc lập và xoá bỏ những tàn tích phong kiến. Nhà nước tư sản Mĩ điển hình về chính thể cộng hoà tổng thống và hình thức nhà nước liên bang tư sản, điển hình về chế độ hai đảng tư sản thay nhau nắm chính quyền, điển hình về tổ chức nhà nước tu sản theo thuyết tam quyền phân lập. I. CUỘC CHIẾN TRANH GIÀNH ĐỘC LẬP ở BẮC MỸ. S ự THÀNH LẬP HỢP CHỨNG QUỐC HOA KÌ VÀ NHÀ NUỚC TƯSẢN Thổ dân Bắc Mĩ là người da đỏ, thường được gọi là người Anh Điêng. Họ sống trong giai đoạn nguyên thủy. Quá trình xâm thực tàn bạo của thực dân Châu Âu bắt đầu từ thê kỷ XIV sau cuộc thám hiểm của Crixtốp Côlôngbô. Đến năm 1752 Anh đã thành lập được 13 vùng thuộc địa ở Bắc Mĩ. ír Về tổ chức chính trị, thực dân Anh chia các thuộc địa ra làm hai loại, một số bang tự trị, còn ở những bang khác Anh cử thống đốc tới cai trị. Cả 13 bang đều không có luật pháp riêng, mà phải tuân theo luật pháp Anh. Đại diện của nhà vua Anh nắm quyền chỉ huy quân đội và hải quân. Về kinh tế, xã hội, công thương nghiệp tư bản thuộc địa phát triển nhưng không khỏi mâu thuẫn với chính quốc. Chính phủ Anh tìm mọi cách ngãn chặn sự phát triển công thương nghiệp Bắc Mĩ, muốn các thuộc địa chí là thị trường tiêu thụ hàng hoá của chính quốc, cung cấp nguyên liệu, thực 231 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
phẩm cho Anh quốc. Trong nông nghiệp, tuy kinh tế tư bản cũng phát triển nhưng trong các đồn điền còn phổ biến bóc lột kiểu nông nô và nô lệ. Kinh tế nông nghiệp cũng không thoát khỏi sự lệ thuộc vào chính quốc. Đại đa sô' nhân dân không có quyền chính trị. Bên cạnh các mâu thuẫn giai cấp, mâu thuẫn giữa các thuộc địa với chính quốc lúc này nổi lên thành mâu thuẫn hàng đầu. Bởi vậy, nhân dân các thuộc địa, dưới sự lãnh đạo của giai cấp tư sản đã nổi dậy tiến hành cuộc chiến tranh để dành độc lập. Đó cũng chính là cuộc cách mạng tư sản, vì nó không chỉ dành độc lập cho các thuộc địa mà còn xoá bỏ tàn tích phong kiến, dọn đường cho chủ nghĩa tư bản Bắc lyp phát triển mạnh mẽ. Tháng 12 năm 1773, ba chiếc tầu chở chè của Anh đến Bôxtơn bị người Mĩ tẩy chay và vất chè xuống biển. Từ sự kiện này chiến tranh hầu như khó tránh khỏi. Những người lãnh đạo phong trào cách mạng thấy cần có một hội nghị của các thuộc địa để biểu lộ ý chí chung. Hội nghị lục địa lần thứ nhất họp từ ngày 5 tháng 9 đến ngày 25 tháng 10 năm 1774 gồm 56 đại biểu của 12 bang (trừ bang Gioóc gia). Hội nghị đã ra bản "Tuyên ngôn về quyền hạn và khiếu nại". Tuyên ngôn đòi quyền đánh thuế do thuộc địa quyết định, xoá bỏ những luật cấm vô lí của chính quyền Anh đối với thuộc địa. Nhưng các yêu sách này bị chính phủ Anh bác bỏ. Hội nghị lục địa lần thứ I biểu tượng cho xu hướng thế độc lập và thống nhất của các thuộc địa. Cuối năm 1774 đầu 1775, cả hai bên đều đẩy mạnh chuẩn bị chiến tranh. Ngày 19 tháng 4 năm 1775 quân Anh 232 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
tiến hành đánh chiếm kho vũ khí ở Côn Coóc và bị giết hơn 200 tên. Chiến tranh bùng nổ. Hội nghị lục địa lần thứ II, gồm đại biểu của 13 bung, khai mạc ngày 10 tháng 5 năm 1775. Hội nghị quyết định thành lập "quân đội lục địa" và bổ nhiệm Oasinhtơn làm tổng chỉ huy. Từ năm 1776, các bang đã thành lập chính quyển của mình. Hội nghi lục địa lần thứ II hoạt động như một chính phủ lầm thời liên bang, nhưng quyền hạn không có là bao. Ngày 4 tháng 7 năm 1776 Hội nghị long trọng công bố bản Tuyên ngôn độc lập, khẳng định nền độc lập của các thuộc địa và tuyèá bố thành lập Hợp chúng quốc Hoa Kì. Bản tuyên ngôn nêu rõ: "Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hoá đã ban cho họ những quyền không thể tước bỏ, trong đó có quyền sống, quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc”. Tuyên ngôn khẳng định chỉ nhân dân mới có quyền thiết lập chính quyền và huỷ bỏ chính quyền khi nó đi ngược lại quyền lợi cùa quần chúng. Tuyên ngôn là văn kiện có tính chất dân chủ, tự do tư sản và nêu cao chủ quyền của nhân dân. Tuy nhiên, Tuyên ngôn không có điều khoản thủ tiêu bóc lột và buôn bán nô lệ. Mặc dù vậy, Tuyên ngôn độc lập của Mĩ là một tiến bộ lớn lao lúc bấy giờ. Đó là một văn kiện chính trị - pháp lí nổi tiếng trong lịch sử thế giới. Tiếp đó, ngày 7 tháng 10 năm 1776, Hội nghị lục địa thông qua bản "Các điều khoản của liêng bang". Do sự tranh cãi và yêu sách về biên giới, lãnh thổ giữa các bang, nên mãi đến năm 1781 Các điều khoản của liên bang mới được chính quyền của các bang phê chuẩn. Văn kiện này bước đầu thiết lập chính quyền tư sản liên bang. Chính quyền đó chưa có nghị viện, toà án, tổng thống. Chính phủ liên bang mang tên 233 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Hội đồng lục địa, được thành lập gồm đại diện của 13 bang. Muốn giải quyết vấn đẻ gì, Hội đồng lục địa phải có 9/13 bang đổng ý, muốn thay đổi điểu nào trong các điều khoản của liên bang phải được cả 13 bang chấp thuận. Những người kí kết vãn kiện này chủ trương xây dựng một chính quyền liên bang "yếu", vì sợ sự lạm dụng quyển hành nhu trong chế độ quân chủ nghị viện ở Anh. Ngược lại, các bang còn giữ nhiều quyền hạn lớn, có quyền tự trị hoàn toàn về chính sách đối nội của bang, đặc biệt là quyền thu thuế và buôn bán. Cuộc chiến tranh giành độc lập ở Bắc Mỹ đã được nhiều nước Châu Âu ủng hộ như: Pháp, Tây Ban Nha, Hà Lan. Cuối cùng trước thất bại nặng nề vé quân sự, thực dân Anh phải kí với Bắc Mỹ Hiệp ước Véc xay ngày 3/9/1783. Theo Hiệp ước này, nước Anh phải thừa nhận nền độc lập của các thuộc địa ở Bãc Mĩ và giao cho Hoa Kì cả miền Tây Mítxixipi rộng lón. Hiệp ước Véc xay đánh dấu sự thắng lợi của cuộc đáii tranh giành độc lập của nhân dân Bắc Mỹ, mở đường cho phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển. II. NHÀ NUÖC TƯ SẢN SAU c u ộ c CHIÊN TRANH GIÀNH ĐỘC LẬP. TỔ CHỨC BỘ MÁY NHÀ NUỚC 1. Hiến pháp 1787 và tổ chức bộ máy nhà nước Sau khi thành lập nước Hoa kì vẫn chưa có hiến pháp. Hơn nữa, qua thực tiễn của thời gian này, người MI nhận thấy hậu quả của một chính phủ liên bang yếu là rất nhiều vấn đề quan trọng của liên bang không được giải quyết. Vì vậy, tháng 5/1787 Hội nghị liên bang được triệu tập để xoá 234 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
bỏ các điều khoản của Liẽn bang và xây dựng hiến pháp liên bang. Sau 4 tháng rưỡi tranh luận và thảo luận, 55 đại biểu mới thông qua được bản hiến pháp. Song phải đến năm 1789, hiến pháp mới được chính quyền các bang phê chuẩn. Lúc mới ra đời, Hiến pháp Hoa Kì có 7 điều, chỉ quy định về cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước. Sau đó đến năm 1791, mười điều bổ sung đầu tiồn được thông qua và có hiệu lực, quy định về các quyền của công dân và quyền của con người. Chẳng hạn, điều bổ sung thứ nhất cấm quốc hội Mĩ đưa ra các đạo luật hạn chế tự do ngôn luận, báo chí, hội họp, thỉnh cầu,tôn giáo. Điểu bổ sung thứ hai cho phép các công dân Mĩ được mang súng. Các điều bổ sung 3,4,5 khẳng định tính bất khả xâm phạm vẻ nhà ở, thư tín, cấm các cuộc khám xét vô cớ, cho phép các công dân khước từ việc cung khai mà có thể làm hại cho họ. Năm 1798, Quốc hội Mĩ thông qua điều bổ sung thứ 11 về quyền của mỗi công dân trong khi liên quan đến tư pháp ở tiểu bang. Điều bổ sung thứ 12 được thông qua năm 1804. Các điều bổ sung 13,14,15 được thực hiện ngay sau cuộc nội chiến Nam - Bắc. Trong đó, điều bổ sung thứ 13 tuyên bố xoá bỏ chế độ nô lệ ở Mĩ. Sau này, Hiến pháp đó được bổ sung và sửa đổi một sô' điều khoản. Ngày nay bản hiến pháp này vẫn có hiệu lực. Hiến pháp 1787 thiết lập nhà nước cộng hoà tổng thống. Hình thức chính thể cộng hoà tổng thống là hình thức nhà nước mà ở đó tổng thống vừa là nguyên thủ quốc gia, vừa là người đứng đầu bộ máy hành pháp. Mọi thành viên của chính phủ đều đo tổng thống bổ nhiệm, chịu trách nhiệm trước tổng thống, không chịu trách nhiệm trước nghị viện, không có chức danh thủ tuớng. Vậy tại sao ở Mĩ lại xây dựng nhà nước tư sản 235 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
theo chính thể cộng hoà tổng thống. Có ba quan điểm lí giải khác nhau. Một sô' người cho rằng vì nước Mĩ ở xa xôi cách biệt, đường biển đi lại khó khăn, nên các nhà lập hiến Hoa Kì không thể tiếp thu một cách kịp thời những gì gọi là tiến bộ của Châu Âu ỉục địa và của Anh quổc. Quan điểm thú hai cho rằng chính thể cộng hoà tổng thống cho phép áp dụng được triệt để thuyết tam quyền phân lập, và thể hiện đúng quan điểm thỏa hiệp của các tầng lớp trong giai cấp tu sản. Những ngưòi khác lại cho rằng, nhằm ngăn chặn làn sóng đấu tranh của nhân dân và nhằm điều hành nhanh ahạy công việc nhà nước, nên Mĩ thiết lập chính thể cộng hoà tổqg thống. Hiến pháp MI thể hiện sự áp dụng đầy đủ và triệt để thuyết tam quyền phân lập. Nguyện tắc tổ chức nhà nuớe đuợc chia ra ba quyẻn: lập pháp, hành pháp và tư pháp. Ba cơ quan giữ ba quyền này tạo ra sự cân bằng và dối trọng quyển lục, để phòng ngừa sự lạm dụng quyền lực. Nếu xét vế bản chất, viộc tổ chức nhà nước theo thuyết tam quyền phân lập không chỉ nhằm chống lại sự độc đoán, chuyên quyền và dàn xếp mâu thuẫn trong nội bộ giai cấp tư sản, mà còn nhằm che đậy bản chất của nhà nước tư sản, lừa bịp quần chúng nhân dân. Trên cơ sở của thuyết tam quyén phân lập, nhà nuóe tư sản Mĩ được tổ chức theo ba nguyên tắc sau: - Ba bộ phận của nhà nước có nguồn gốc hình thành khác nhau. - Ba bộ phận đó có nhiệm kì khác nhau. - Ba bộ phận đó có sự độc lập và kiềm chế lẫn nhau, bảo đảm cho chúng không loại trừ hoặc tiếm quyền nhau. Nghị viện: Nghị viện là cơ quan lập pháp, gồm hai viện: 236 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Hạ nghị viện là cơ quan dân biểu, do dân chúng các tiểu bang bầu lên. Sô' đại biểu tỉ lệ với số dân của tiểu bang. Nhiệm kì của hạ viện là hai năm. Thượng nghị viện là cơ quan đại diện của các bang. Nhiệm kì của thượng nghị viện là sáu năm và cứ hai nãm bầu lại 1/3 số thượng nghị sĩ. Mỗi tiểu bang có hai thượng nghị sĩ, không kể bang lớn hay nhỏ, dân số nhiều hay ít. Theo khoản 3 điều 1, thượng nghị sĩ (ở liên bang) do quốc hội tiểu bang bầu lên. Sau đó, theo điều bổ sung và sửa đổi sau này (điều 17), thượng nghị sĩ cũng như hạ nghị sĩ, đều do dân chúng trực tiếp bầu ra. Khi là nghị sĩ của một viện, thì không được bầu là nghị sĩ của viện kia và cũng không được làm thành viên của cơ quan hành pháp hay cơ quan tư pháp. Các nghị sĩ được hưởng lưcmg, có văn phòng và người giúp việc. Nghị viộn có quyền lớn, như quyền thông qua các đạo luật, quyền sửa đổi bổ sung dự án luật và dự án ngân sách của tổng thống, quyền tán thành hoặc không tán thành các quan chức cao cấp do tổng thống bổ nhiộm, quyền phê chuẩn hoặc bác bỏ các điều ước quốc tế do tổng thống đã ký. Xuất phát từ nguyên tắc đối trọng và cân bằng quyền lực nên hai viện có chức năng, quyền hạn khác nhau. Ví dụ: hạ nghị viện có quyền luận tội các quan chức cao cấp nhất của nhà nước, kể cả tổng thống, nhưng lại không có quyền kết tội, quyền này thuộc về thượng viện. Bởi vậy không thể nói rằng viện nào nhiều quyền hơn viện nào. Có những người cho rằng, cơ cấu hai viện như vậy của Mĩ nhằm cân bằng với bộ máy hành pháp, nghị viện không thể lấn át các cơ quan nhà nước khác. Nhưng lại có quan 237 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
điểm khác cho rằng, trong quá trình xây dựng hiến pháp đã hình thành hai phe. Đại diện các bang lớn, với sô dân đông muốn sô' lượng nghị sĩ theo số dân từng bang. Đại diện của các bang nhỏ, với sô' dân ít lại muốn số nghị sĩ của từng bang bằng nhạu, Và để dung hoà giữa hai phe này, Quỏc hội Mĩ được cơ cấu hai viện như ưên. Tổng thổng. Theo Hiến pháp 1787, tổng thống vừa là nguyên thủ quốc gia, vừa là người đứng đầu bộ máy hành pháp: "Quyền hành pháp Hợp chúng quốc Hoa Kì được trao cho tổng thống". Nắm quyền hành pháp, tổng thống là người duy nhất quản lí đất nước. Tổng thống có những quyền hạn rất lớn. - Tổng thống bổ nhiệm các bộ trưởng. Chính phũ chỉ là cơ quan tư vấn cho tổng thống. - Tổng chỉ huy các lực lượng vũ trang. - Trình dự án luật và dự án ngân sách lên nghị viện. - Kí các điều ước quốc tế và cử các đại diện ngoại giao. - Bổ nhiệm thẩm phán của pháp viện tối cao - Ban bố hoặc phủ quyết các đạo luật của nghị viện. Quy trình phủ quyết một đạo luật như sau: nếu một dự án luật (quyền trình dự án luật là quyẻn của nghị sĩ) được hạ nghị viện và thượng nghị viện thông qua với đa số phiếu tương đối (quá nửa nghị sĩ của từng viện đồng ý) thì đưa sang tổng thống. Nếu tổng thống phủ quyết, thì đạo luật đó được chuvển lại hai viện. Và lần này đạo luật đó phải được từng viện thông qua với đa số tuyệt đối (2/3 tổng số nghị sĩ) thì tổng thống phải kí ban bố. Nếu đạo luật không được nghị viện thông qua với đa số tuyệt đối, đạo luật phải bị hủy bỏ. 238 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Nhiệm kì của tổng thống là 4 năm. Người muốn ứng cử tổng thống phải là công dân Hoa Kì, từ 35 tuổi trờ lên, đã cư trú ở Mĩ trên 14 năm. Tổng thống do toàn dân bầu ra, nhưng theo đầu phiếu gián tiếp. Bởi các nhà lập hiến 1787 sợ rằng, nêu được bầu theo lói đáu phiêu trực tiếp, thì tóng thống, với sự tấn phong của toàn dân, dễ có nhiều uy tín, dễ lấn át nghị viện và sẽ có khuynh hướng độc tài. Cuộc bầu cử tổng thống diễn ra qua ba giai đoạn: - Giai đoạn các chính đảng đề cừ ra ứng cử viên của mình, hay còn gọi là giai đoạn bầu cử sơ bộ. Đây là giai đoạn rất quan trọng. Trước tiên các đảng bộ ở tiểu bang bầu đại biểu của mình đi dự đại hội đảng toàn liên bang. Người trúng ứng cử viên tổng thống phải chiếm được đa số tuyệt đối sô' phiếu bầu trong đại hội đảng toàn liên bang nếu không thì phải bầu ở vòng 2, vòng 3,... - Giai đoạn bầu cử chính thức: cử tri trực tiếp bầu ra tuyển cử đoàn của tiểu bang mình. Số người trong tuyển cử đoàn bằng số lượng nghị sĩ của tiểu bang ở Quốc hội Hoa Kì và phải không là nghị sĩ, không lả quan chức của tiểu bang, của liên bang, ứng cử viên tổng thống nào có nhiều đại diện trong tuyển cử đoàn thì đương nhiên sẽ được hưởng cả số lượng phiếu tuyển cử đoàn của tiểu bang đó. Chỉ cần cộng tổng sô' người của các tuyển cử đoàn là biết được ai thắng cử tổng thống rồi. Hay nói cách khác, nhân dân chỉ cần bầu xong tuyển cử đoàn, thì đã xác định được ai là tổng thống. - Giai đoạn các tuyển cử đoàn họp ở từng tiểu bang để bầu tổng thống và gửi kết quả lên thượng nghị viện ở Mĩ. Đây là giai đoạn tuyển cử mang tính chất hình thức. Nếu ai được quá nửa số phiếu thì sẽ trúng tổng thống. Nếu trong trường hợp 239 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
không phân thắng bại thì hạ nghị viện sẽ họp để bầu tổng thống. Pháp viện tối cao. Pháp viện tối cao gồm 9 thẩm phán do tổng thống bổ nhiệm và được sự chấp thuận của thượng nghị viện. Pháp viện tối cao có những quyền hạn chủ yếu sau: - Phán quyết các đạo luật có hợp hiến hay không. - Giải thích pháp luật. - Quyền tối cao về xét xử. 2. Thủ đoạn hai đảng tư sản thay nhau cầm quyền Sau khi nước Mĩ ra đời, hai đảng tư sản được thành lập. Đảng Cộng hoà ra đời năm 1851, đại biểu cho đại tư sản công nghiệp và tài chính. Đảng Dân chủ được thành lập 1791, đại biểu cho đại điền chủ và tư sản miển Nam. Các đảng tư sản có những chức năng chủ yếu sau: - Cạnh tranh với nhau để trở thành đảng cẫm quyền. Đảng phái chính trị tư sản trở thành đảng cầm quyền thông qua các cuộc bầu cử nghị viện và tổng thống. Thực tiễn lịch sử cho thấy, không mấy người ứng cử tự đo (không đảng phái) mà đắc cử. Đảng cầm quyền là đảng chiếm đa sô' trong nghị viện, đảng có ứng cử viên thắng cử trong cuộc bầu cử tổng thống. Chính kiến của nghị sĩ, chính sách của tổng thống thể hiện ý chí của đảng. Chủ tịch hạ nghị viện, hoặc chủ tịch thượng nghị viện, các chủ tịch các uỷ ban của hai viện thường là người của đảng chiếm đa sô' trong nghị viện. Các cuộc bầu cử nghị viện và bầu cử tổng thống không được tiến hành đồng thời. Nên có trường hợp tổng thống và đa số nghị sĩ không cùng một đảng. Nhưng dù thế nào cũng đều chỉ là người của đảng Dân chủ và đảng Cộng hoà. Chính 240 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Đa vít Côlơ - một học giả tư sản đã nhận định: "Hai đảng rất giống nhau ở rất nhiều điềm đến nỗi đôi khi hai đảng được gọi là anh em sinh đôi. Cứ hai năm một làn, hai dâng loại tìioả tluiận và so tài một trận, mà trong đó cà hai đều được bảo vệ vừa đủ để tránh thiệt hại cho phe thua"{i>. Như vậy, thực chất của chế độ lưỡng đảng ở Hoa Kì là: Thứ nhất là bảo đàm cho giai cấp tư sản độc quyển thống trị nhà nước. Thứ hai là ngăn chặn đại biểu của quần chúng nhân dân trở thành quan chức trong bộ máy nhà nưởc tư sản. Thứ ba là các đảng tư sản là nơi cung cấp đội ngũ quan chức cho bộ. - Chức năng thứ hai của đảng phái tư sản là chức năng kìm chế và đối trọng quyển lực. Chức năng này thể hiện nổi bật trong ba trưòng hợp. Nếu một đảng vừa có người là tổng thống vừa chiếm đa sô' trong nghị viện, thì đảng kia trở thành đảng đối lập. Trường hợp thứ hai, một đảng có người là tổng thống, còn đảng kia chiếm đa số trong cả hai viện của quốc hội. Trường họp thứ ba là một đảng có người là tổng thống và chiếm đa số trong một viện, còn đảng kia chiếm đa sô' ở viện kia. - Chức năng thứ ba của đảng phái tư sản là phổ biến tuyên truyền, giáo dục tư tưởng tư sản trong quần chúng, chia rẽ và kìm hãm sự giác ngộ cách mạng của giai cấp vô sản và nhân dân lao động. Tất cả những chức năng trên của các đảng phái tư sản đều nhằm một mục đích duy nhất là bảo vệ địa vị thống trị (1). Đavít Côlơ: Cách Ihức tổ chức và sự điều hành cùa nền chính trị Hoa Kì.Sài Gòn. 1972, Tr.27 241 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
của giai cấp tư sản, duy trì nền dân chủ tư sản. 3. Việc thực hiện chức năng đối nội và chức năng đối ngoại của nhà nước tư sản Mĩ v ể chức năng đối nội, sau cuộc chiến ưanh giành dộc lập, chính quyền tu sản Bắc Mĩ đã thủ tiêu các hình thúc chiếm hữu phong kiến và danh hiệu quý tộc phong kiến, bãi bỏ chế độ lĩnh canh ruộng đất cha truyển con nối, mở đường cho kinh tế tư bản chủ nghĩa trong nông nghiệp phát triển. Đồng thời, công thương nghiệp tư bản chù nghĩa cũng được khuyến khích phát triển. Bằng con đường mua lại đất của Pháp, Tây Ban Nha, dồn đuổi da đỏ, bành trướng về miền Tây Bắc Mĩ, đến giữa thế kỉ XIX, Hoa Kì đã có 30 bang(1>. Cuộc nội chiến 1861-1865 là cuộc chiến tranh giữa quân đội của các bang miển Nam và quân đội liên bang (thực chất là quân đội của cấc bang miền Bắc). Kết quả của cuộc nội chiến là quân đội liên bang giành thắng lợi, sự thống nhất của toàn liên bang được khôi phục, kiểu bóc lột nô lệ của các tư sản - chủ nô miền Nam bị xoá bỏ. Sau cuộc nội chiến, nền kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển mạnh mẽ hơn. Đến cuối thế kỷ XIX, Mĩ trở thành nước có nền kinh tế lớn mạnh nhất thế giới. Về chức năng đối ngoại, trọng tâm bành trướng và xâm lược của chính quyền Mĩ là MI Latinh. Ngoài ra, M ĩ bắt đầu nhòm ngó và can thiệp vào nhiều nước Châu Á, như Triều Tiên, Trung Quốc. Cùng với sự phát triển về kinh tế, đến cuối (1). Sau này H oa Kì có 5 0 bang: 48 bang nằm giữa lục dịa Bắc M ĩ. tách biệt với 48 bang này là bang A laxca ò phía Tây Bắc lục địa Bắc M i và bang Ha Oai nằm ờ giữa Thái Bình Dương. 242 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
thế ki XIX. Mĩ đã trở thành đối thủ đáng gườm của các thực dân Châu Âu trong cuộc tranh giành thuộc địa. c. NHÀ NƯỚC CỘNG HOÀ NGHỊ VIỆN ở PHÁP Cách mạng tư sản Pháp là cuộc cách mạng tư san triệt dê nhất. Cuộc cách mạng đó quyết định hình thức của thượng tẩng chính trị - pháp lí: nhà nước tư sản được thiết lặp ở Pháp là chính thể cộng hoà nghị viện điển hình. Cách mạng tư sản Pháp và sản phẩm chính trị của nó là chế độ cộng hoà nghị viện, đã có ảnh hường lớn trên thê giới thời kì Cận đại. I. CÁCH MẠNG TƯ SẢN VÀ s ự RA ĐỜI CỦA NHÀ NƯỚC TƯ SẢN (1789-1794) Cuối thế kỉ XVIII, chế độ quân chủ chuyên chế phong kiến Pháp đã khủng hoảng trầm trọng. Quần chúng nhân dãn nổi đậy ở khắp nơi. Mùa hè 1789, nước Pháp đứna trước ngưỡng cửa của một cuộc cách mạng tư sản. Nhán dân lao động dưới sự lãnh đạo của giai cấp iư sán đã đứng lẽn tiến hành đấu tranh lật đổ chế độ phong kiến, lập nên chính quyền tư sản. Quá trình đó có thể được chia làm 3 giai đoạn: 1. Cách mạng bùng nổ và nền quân chủ lập hiến của đại tư sản (14/7/1789 - 10/8/1792) Trước khi cách mạng bùng nổ, cơ quan đại diện đảng cấp vốn bị bỏ quên đã lâu, nay mới được nhà vua hỏi đến để giải quyết tình trạng tài chính quẫn bách của triều đình. Ngày 5/5/1789, hội nghị đại diện đáng cấp khai mạc, dưới sự chủ toạ của nhà vua. Nhưng do mâu thuẫn gay gắt giữa một bên là đẳng cấp thứ ba (tư sản. thị dân. nông dân) với một 243 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
bên là nhà vua và hai đẳng cấp kia (quý tộc, tăng lữ) nên ngày 17/6, các đại biểu của đẳng cấp thứ ba tự tuyên bố thành lập hội đồng dân tộc. Tiếp đó, ngày 9/7, Hội đồng dân tộc lại tự tuyên bố là quốc hội lập hiến. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, đẳng cấp thứ ba không đếm xỉa đến nhà vua, chuyển quyền lập pháp về tay mình. Quân đội nhà vua được điều động về Pari để chuẩn bị đàn áp quần chúng. Ngày 14/7, cuộc khởi nghĩa vũ trang của quần chúng cách mạng nổ ra ở Pari, lật đổ chế độ quân chủ chuyên chế phong kiến. Ngày này trở thành ngày quốc khánh của nưóc Pháp. Những ngày sau đó, ở nhiẻu vùng nông thôn, thành thị khắp cả nước, quần chúng cách mạng cũng tiến hành các cuộc khởi nghĩa vũ trang thắng lợi. Chính quyền mới được thiết lập, đại diện cho quyền lợi của tầng lớp đại tu sản và quý tộc tư sản hoá. Vì họ chiếm đa số trong quốc hội lập hiến, trong các cơ quan chính quyển ở Pari và các tỉnh. Họ là những chủ ngân hàng, chủ thuyển buôn, các nhà công nghiệp và thương nghiệp lớn. Ngày 26/8/1789 quốc hội lập hiến thông qua bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền gồm 17 điều. Đó là văn kiện chính trị-pháp lí nổi tiếng trong lịch sử thế giói. Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền khẳng định những nguyên lí cơ bản của xã hội tư sản nhằm xoa dịu cao trào đấu tranh của quần chúng. Tuyên ngôn xoá bỏ quyền lực của vua chúa cùng chế độ đảng cấp phong kiến, nêu ra quyền bình đẳng của con người và chủ quyền của nhân dân. Tuyên ngôn thấm nhuần tư tưởng của các nhà triết học Pháp thế kỉ XVII được kết tinh trong khẩu hiệu: Tự do, bình đẳng, bác ái. Cụ thể bản tuyên ngôn gồm những điểm sau đây: 244 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
1. Mọi người đều có quyền tự do, bình đẳng và được nhà nước bảo đảm. Quyền tự do là quyền có thể làm tất cả những gì mà không gây hại cho người khác và không bị pháp luật nghiêm cấm. 2. Quyền lực tối cao của nhà nước thuộc về nhân dân. Pháp luật phải biểu hiện ý chí của tãit cả các thành viên trong xã hội. Mọi người đều có thể tham gia vào việc xây dựng luật pháp bằng hình thức trực tiếp hay thông qua đại biểu của mình. Và mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật. 3. Mọi người đều có quyền tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận, tự do báo chí. Ai lạm dụng những quyền này thì bị truy tố trước pháp luật. 4. Sỡ hữu là thiêng liêng và bất khả xâm phạm. 5. Luật hình có 3 nguyên tắc quan trọng: - Không có tội nếu tội đó không được quy định trong luật hình. - Không bị bất cứ hình phạt nào ngoài những hình phạt đã được quy định trong luật hình. - Không có tội, nếu như không đủ chứng cứ buộc tội. Trong thời kì mà nền chuyên chế phong kiến đang ngợ trị thế giới, mọi quyền của con người bị tước đoạt, thì những điều mà tuyên ngôn nêu ra là rất mới mẻ và là sự tiến bộ lón lao, có ý nghĩa thời đại. Sự tiến bộ ấy là thành quả đấu tranh của quần chúng nhân dân. Đương nhiên, tuyên ngôn mang tính chất tư sản, không thể tránh khỏi mặt hạn chế của thời đại, là khẳng định quyển tư hữu thiêng liêng và bất khả xâm phạm. Một vãn kiện pháp lí rất quan trọng khác là Hiến pháp 245 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
1791 được quốc hội lập hiên ban hành. Đây là ban hiến pháp đầu tiên của Pháp. Bản hiến pháp xác lập chính the: Quân chủ lập hiến tư sản. Đứng đầu nhà nưức là vua giữ quyền hành pháp. Vua là tư lệnh tối cao các lực lượng vũ trang,là người có quyền phê chuẩn hav bác bỏ các đạo luật, bổ nhiệm hoặc cách chức các bộ trưởng, quan chức ngoại giao, các tư lệnh quân đội. Đồng thời, điều đó không có nghĩa là vua có quyền hành vô hạn như ở thời phong kiến. Nhằm ngăn chặn sự lạm quyén của nhà vua, hiến pháp quy định: - Nhà vua điều hành theo pháp luật. - Các bộ trưởng do nhà vua bổ nhiệm có thể bị đưa ra toà theo quyết định của quốc hội. - Vãn bản của nhà vua phải có chữ kí cùa bộ trưởng bộ có liên quan tới vấn để đó (nguyên tắc chữ kí thứ hai). - Nếu một đạo luật đã được quốc hội thông qua, nhưng nhà vua không kí công bố, đạo luật đó lại được đem ra biểu quyết và nếu lại được Quốc hội thông qua thì nó không cần phải có chữ kí của nhà vua. Quyển lập pháp thuộc về quốc hội (một viện), do nhân dân bầu ra. Nhưng chế độ tuyển cử trong hiến pháp, đã chia cõng dân thành hai loại tùy theo tài sản của họ: công dân tích cực và công dân tiêu cực. Quyển bầu cử chỉ dành cho công dán tích cực. là những nam giới từ 25 tuổi trỏ lên, không làm thuc cho ai, phải có tên trong danh sách vệ quốc quân và phải đóng một số thuế thực thu ít nhất bằng ba ngày lương. Quy định này đã làm cho hàng triệu người lao động không có quvền bầu cử. Năm 1791. trong số 26 triệu dân, chì có 4.28 246 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
triệu công dân tích cực.(1> Rõ ràng, Hiến pháp 1791 đã vi phạm ngay những nguyên tắc tự do, bình đẳng, bác ái được ghi trong Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền. Theo hiến pháp, một quốc hội mới đã được bầu ra, thay thế quốc hội lập hiến. Tuy không một thành viên nào của quốc hội lập hiến trúng cử, nhưng đại biểu của tầng lớp’đại tư sản vẫn chiếm ưu thế trong quốc hội mới. Louis XVI vẫn tiếp tục được giữ ngôi vua. Nhà vua và các thế lực phong kiến cũ tìm cách chống đối cách mạng và quốc hội, cầu cứu các nước quân chủ phong kiến Châu Âu đem quân vào Pháp, đổ nhằm khôi phục chế độ quân chủ chuyên chế ở Pháp. Như vậy, chính quyền tư sản được thiết lập đầu tiên ở Pháp là chính quyền của tầng lớp đại tư sản. Đó là chính thể quân chủ lập hiến. Tầng lớp đại tư sản ngày càng tỏ ra rằng, họ không muốn giải quyết các yêu cầu của quần chúng và không kiên quyết với các thế lực phong kiến. 2. Sự thiết lập chính thê cộng hoà của tầng lớp tư sản địa phương (10/8/1792 - 2/6/1793). Sự mở đầu của nền cộng hoà thứ I ở Pháp Cùng với các thế lực phong kiến, tầng lớp đại tư sản mà đại diện của chúng là chính thể quân chủ lập hiến đã trở thành lực lượng phải động và là đối tượng của cách mạng. Một minh chứng là từ năm 1791, quốc hội đã thông quan đạo luật việc tổ chức và hoạt động của công hội và những ai tham gia bãi công có thể bị bỏ tù. Ngày 10/8/1792, quần chúng cách mạng ở Pari lại khởi (1). Vũ Dương Minh - N guyễn Vãn Hổng. Sđd. tr.91. 247 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
nghĩa vũ trang. Lật đổ nền thống trị của đại tư sản. đưa phái Girông đanh, đại diện cho tư sản địa phương lên nắm chính quyền và lãnh đạo cách mạng. Vua Louis XVI bị bắt giam. Một sắc lệnh của lực lượng cách mạng được ban hành, quy định việc thành lập hiệp hội dân tộc thay thế quốc hội cũ, quy định chế độ bầu cử phổ thông đẩu phiếu cho tất cả nam giói từ 21 tuổi ữở lên. Chính phủ mới đã được thành lập, gọi là Hội đồng hành pháp lâm thời. Trong đó, hầu hết các bộ trưởng là người của phái Girông danh. Ngày 20/9/1792, quân Pháp đã đánh bại liên quân xâm lược của Áo-Phổ. Ngay sau chiến thắng đó, ngày 21/9, Hiệp hội dân tộc khai mạc, tuyên bô' bãi bỏ chính thể quân chủ lập hiến, xác lập nền cộng hoà, mở đầu kỉ nguyên mói trong lịch sử nuớc Pháp: sự hình thành, phát triển của chúih thể cộng hoà nghị viện. I Trước áp lực cùa quần chúng, ngày 21/1/1793, Louis XVI phải lên đoạn đầu đài. Sau khi đã nắm được chính quyển nhà nước, phái Gữông đanh không muốn cách mạng tiến xa hơn nữa vì sợ hãi lực lượng quần chúng sẽ uy hiếp đến địa vị và quyển lợi của họ. Họ trở thành bảo thủ và dần dần chuyén thành đối tượng của cách mạng. 3Ễ Chính thể cộng hoà của tầng lớp tư sản lớp dưới (2/6/1793 - 27/7/1794). Sự phát triển và kết thúc của nền cộng hoà thứ I Đây là giai đoạn phát triển cao nhất và cũng là giai đoạn kết thúc của cuộc cách mạng tư sản Pháp. Cách mạng ở giai đoạn này do phái Giacôbanh, đại diện cho tầng lớp tư sản lớp dưới lãnh đạo. 248 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trước các chính sách phản động của phái Girôngđanh quần chúng cách mạng lại đứng lên khởi nghĩa vũ trang. Ngày 2/6/1793, những người Girôngđanh trong hiệp hội dân tộc bị bắt. Chính quyền nhà nước chuyển sang tay phái Giacôbanh. Ngay sau khi phái Giacôbanh lên nắm quyền, trước đòi hỏi bức xúc của quần chúng cách mạng, hiệp hội dân tộc đã ban hành các sắc lệnh xoá bỏ chế độ ruộng đất phong kiến và quan hệ bóc lột phong kiến, chia ruộng dất cho nông dân. Như vậy, những người Giacôbanh đã làm được một việc cực kì quan trọng mà các chính quyền tư sản trước không thực hiện. Việc làm đó phá huỷ được tận gốc chế độ phong kiến, xác lập kinh tế tiểu nông, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của kinh tế tư bản chủ nghĩa. Đó là sự thể hiện tính triệt dể của cuộc cách mạng tư sản Pháp. Để tạo cơ sở pháp lí nhằm củng cố nền cộng hoà tư sản, chi sau hai tuần lễ chuẩn bị, ngày 24/6/1793, hiệp hội dân tộc đã thông qua bản hiến pháp mới, bản hiến pháp cộng hoà tư sản đầu tiên trong lịch sử nước Pháp. Cơ cấu tổ chức theo Hiến pháp 1793 là chính thể cộng hoà nghị viện. Quốc hội một viện là cơ quan lập pháp. Các dự luật được nhân dân thảo luận trong các cuộc họp ở cơ sở. Quốc hội được bầu lại hàng năm vào ngày 1/5. Hiến pháp 1793 xoá bỏ chí độ phân loại công dân tích cực và tiêu cực. Nam giói người Pháp tứ 25 tuổi trở lên đều được đi bầu quốc hội. Hội đổng hành pháp (tức chính phủ) gồm 24 người do quốc hội bầu ra và phải chịu trách nhiệm trước quốc hội. Hàng năm, một nửa sô' thành viên của hội đồng được bầu mới. Lúc này, nền cộng hoà đang hết sức nguy kịch bởi thù trong giặc ngoài câu kết với nhau. Đế ngăn ngừa kẻ thù lợi 249 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
dụng những điều khoản dân chủ và tăng cường chuyên chính đối với chúng. Chính quyền Giacôbanh quyết định tạm chưa thi hành hiến pháp. Đó là một biện pháp đúng đắn. Hiệp hội dân tộc vẫn đảm nhận chức năng như một quốc hội lâm thời. 21 uỷ ban nhà nước ỉà cơ quan hành pháp ưực thuộc hiệp hội dân tộc. Trong đó, quan trọng nhất là uỷ ban an ninh, có nhiệm vụ trấn áp bọn phản động, xây dựng lực lượng vũ trang để chống thù trong giặc ngoài. Năm 1793, các nước Anh, Áo, Phổ, Hà Lan, Tây Ban Nha lại liên minh với nhau, tấn công nước Pháp cách mạng. Theo sáng kiến của quần chúng, ngày 23/8/1793 hiệp hội dân tộc thông qua sắc lệnh tổng động viên toàn quốc. Nhân dân hăng hái tham gia lực lượng vũ trang và chiến dấu rất dũng cảm. Đến đầu năm 1794, quân xâm lược bị quét sạch khỏi nước Pháp. Khi không còn phải tập trung lực lượng để đánh đuổi ngoại xâm, thì nội bộ phái Gia cô banh mâu thuẫn và bị chia rẽ trầm trọng. Nhiều chính sách của họ đi ngược lại yêu cầu của quần chúng cách mạng. Chính quyền Gia cô banh ngày càng suy yếu. Cuối cùng ngày 27/7/1794, tầng lớp tư sản phản động cướp được chính quyền nhà nước. Tóm lại: Cuộc cách mạng tư sản Pháp là cả một quá trình phát triển từ thấp đến cao. Đến thời kì Giacôbanh, các nhiệm vụ của một cuộc cách mạng tư sản đã được hoàn thành. Trong quá trình của cuộc cách mạng do phong trào đấu tranh rất mạnh mẽ và kiên quyết của quần chúng nhân dân, cuộc cách mạng tư sản đã được tiến hành một cách triệt để. v ề cơ sở kinh tế. chế độ ruộng đất và quan hệ bóc lột phong kiến bị phá bỏ hoàn toàn, v ề thượng tầng nhà nước, chính thể cộng 2 50 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
hoà nghị viện được xác lập. Đó là sự hình thành và tồn tại của nền cộng hoà thứ nhất. II. NHÀ NƯỚC SAU CÁCH MẠNG TƯ SẢN. Tổ CHỨC BỘ MÁY NHÀ N ự ớc 1. Chính quyền của tư sản phản cách mạng. Đế chê thứ I Cuộc chính biến ngày 27/7/1794 đã chuyển chính quyền từ phái tư sản cách mạng Gia cô banh sang tay phái tu sản phản cách mạng. Đây là tầng lớp tư sản gồm những người mới gịầu có trong thời gian cách mạng, nhờ việc buôn bán gian lận, đầu cơ tích trữ, tham ô công quỹ, chiếm đoạt ruộng đất, ăn bớt trong khi cung cấp cho mặt trận. Sau khi lên nắm chính quyền, họ ban hành bản Hiến pháp 1795. Hiến pháp này hạn chế các quyền tự do dân chủ, trở lại chế độ bầu cử với điều kiện tài sản rất cao. Theo bản hiến pháp này, quyền lực nhà nước tập trung vào ủy ban đốc chính gồm 5 người. Vì vậy, thời kì này được gọi là thời kì Đốc chính. Cụ thể, theo Hiến pháp 1795, quốc hội gồm hai viện: Hạ nghị viện (hay còn được gọi là hội đồng 500 người) có quyền đưa ra và thảo luận dự luật, nhưng không có quyền biểu quyết thông qua. Thượng nghị viện (hay còn được gọi là Hội đồng trưởng lão) nắm quyền biểu quyết thông qua hoặc bác bỏ dự luật, nhưng không có quyền dự thảo điều luật. ủy ban đốc chính do quốc hội bầu ra. ủy ban này nắm quyền cử hoặc cách chức các bộ trưởng mà không cần đến quốc hội, tổng chỉ huy quân đội, quản lí các cơ quan nhà nước ở địa phương. 251 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Hoảng sợ trước phong trào đấu tranh của nhân dân và lo lắng sự phục hồi của thế lực phong kiến dòng họ Buốc bông, giai cấp tư sản muốn có một chính quyền mạnh mẽ theo kiểu độc tài Crôm oen ở nước Anh. Được sự hậu thuẫn của giai cấp tư sản, viên tướng trẻ Napôlêông Bonapáctơ làm cuộc chính biến ngày 9/11/1799 xoá bỏ chính quyền Đốc chính và tự xưng là hoàng đế và lên nắm chính quyền, đồng thời ban hành hiến pháp mới. Hiến pháp 1799 quy định chế độ bầu cử phản dãn chủ, tước đoạt quyền bầu cử của phần đông công dân. Theo hiến pháp mới vẫn có quốc hội (hai viện). Nhưng nó chỉ tổn tại một cách hình thức, bởi quy trình lập pháp nhu sau: các dự luật đều được soạn thảo bởi một hội đồng nhà nước, sau đó được thảo luận ở toà án tối cao và£uối cùng được thông qua hoặc bác bỏ tại quốc hội. Thực chít bong ba cơ quan này, ctt quan đầu tiên thực tế là cơ quan làm luật, cơ quan thứ hai chỉ cứ chức năng tranh luận, còn cơ quan thứ ba (quốc hội) chỉ là ngưòi thừa hành sao cho khéo với chức năng được giao, hay n ã cách khác là chỉ có chức năng thông qua dự luật. Quyển hành pháp nằm trong tay ba tổng tài, trong đó chỉ có đại tổng tài có quyền quyết định, còn tổng tài thứ hai và tổng tài thứ ba chỉ có quyền bàn bạc, tham gia ý kiến. Quyền lực nhà nước nằm trong tay đại tổng tài mà hiến pháp chỉ đích danh là Napôlêông Bônapáctơ. Theo hiến pháp, đại tổng tài có quyển thay thế và lãnh đạo công việc của hội đồng nhà nước, tức là có ảnh hưởng quyết định đối với việc lập pháp. Đại tổng tài bổ nhiệm hoặc bãi nhiệm các bộ trưởng, các sĩ quan quân đội, các chánh án toà hình sự và dân sự, các đại sứ,... Napỏlêông tuyên bô' suốt đời là đại tổng tài (năm 1802), lập nên nền đế chế thứ nhất. Chính quyền Napôlêông I là chính thể quân chủ lập hiến tư sản. Nhưng trong đó, quyền lực 252 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
tập trung vào hoàng đế. Đó là chính quyền tư sản độc tài chuyên chế. Chính quyền Napôlêông I tiến hành cuộc chiến tranh nhằm giành quyền bá chủ Châu Âu. Đến năm 1812 đế quốc Napôlêông I đã chiếm được nhiều vùng ờ lục địa Châu Âu với số dân gần bằng một nỉra dân só lục địa này. Khi mở cuộc chiến tranh xâm lược sang nước Nga, Napôlêông I bị thảm bại trong trân Bôrỏđinô nổi tiếng (8/1812). Sau đó quân đội Pháp bị truy đuổi đến tận sào huyệt. Cuối cùng lực lượng quân đồng minh Châu Âu đánh bại hoàn toàn Napôlêông I tại trận Oatéclô (6/1815). Đế chếNapôlêông I sụp đổ. Trong quá trình lực lượng quân đồng minh phong kiến Châu Àu tiến vào Pháp, thế lực phong kiến Buốc bông đã theo chân họ về nước, lập lại vương triều. Nhưng mọi mặt ở Pháp lúc này đã khác xưa nên quyền lực của vương triều Buốc bông phải chịu sự hạn chế của hiến pháp. Cơ sở kinh tế tư bản chủ nghĩa, kể cả chế độ ruộng đất mới được thực hiện trong thời Gia cô banh, vẫn được duy trì mà không một thế lực nào có thể xoá bò được. Cuộc đấu tranh của quần chúng nhân dân lao động và giai cấp tư sản chống thế lực phong kiến phục hồi mà đỉnh cao là cuộc cách mạng tháng 7/1830 lật đổ hoàn toàn nền thống trị của dòng họ Buốc bông. Thay vào đó là chính thể quân chủ lập hiến được thiết lập đo Luy Philip làm vua, đại diện cho lợi ích của bộ phận đại ta sản ngân hàng là dòng dõi quý tộc. 2. Cuộc cách mạng dân chủ tư sản 1848 và sự thiết lập nền cộng hoà thứ II (1848 -1852) Chính quyền quân chủ lập hiến trên chưa phải là chính quyền của giai cấp tư sản mà mới ở trong tay một nhóm nhỏ đại tư sản tài chính nên mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản nói 253 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn