Hoa Kỳ 5-2023 NGUYỄN LÝ TƯỞNG THUYỀN AI ĐỢI BẾN VĂN LÂU NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ
2 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng THUYỀN AI ĐỢI BẾN VĂN LÂU Nguyễn Lý Tưởng Tái bản lần thứ nhất, 5-2023, California, Hoa Kỳ, có bổ sung. Hình bìa: Nguyễn Ngọc Nhâm Trình bày: Nguyễn Phan Nhật Nam Liên lạc: Nguyen Ly Tuong 8952 Champion Ave., Westminster, CA 92683 U.S.A Email: [email protected] Bản quyền của tác giả và gia đình.
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 3 ĐÔI LỜI TÂM SỰ Năm 1998, tôi cho ra đời tác phẩm “ĐÀN BƯỚM LẠ TRONG VƯỜN” trong đó có những bài liên quan đến lịch sử. Tôi không dám cho rằng đó là những công trình nghiên cứu lịch sử có giá trị. Nhưng khi đưa cho bạn bè xem, đa số đều khuyến khích tôi nên có một tác phẩm gồm những bài nghiên cứu về lịch sử như thế để giúp độc giả, nhất là thế hệ sau này biết về quê hương, đất nước của mình. Từ Mỹ qua Pháp rồi trở về Mỹ, hơn ba năm qua, số phận của “đứa con tinh thần” này thật là long đong, ba chìm bảy nổi! Xin cám ơn những người bạn đã khuyến khích và giúp đỡ để tác phẩm này được tới tay bạn đọc. Đa số những bài nghiên cứu lịch sử trong sách này mang hình ảnh xứ Huế, nơi đã un đúc cho tôi tinh thần tranh đấu. Khởi đầu với câu chuyện: “THUYỀN AI ĐỢI BẾN VĂN LÂU”, nơi có nhiều liên hệ đến cuộc đời của vua Duy Tân và những biến cố lịch sử xảy ra năm 1916, đã ảnh hưởng đến nhiều người, nhiều gia đình trong đó có gia đình chúng tôi. Xin tưởng nhớ đến vong hồn cha, mẹ, anh, chị, các cháu và bà con, bạn bè đã khuất, những chiến sĩ và đồng bào đã hy sinh để bảo vệ quê hương, bảo vệ tổ quốc và bảo vệ chính nghĩa quốc gia. Xin tưởng nhớ công ơn những vị Thầy: - Đã hướng dẫn tôi vào con đường nghiên cứu lịch sử, - Đã giúp tôi biết đọc chữ Hán để hiểu được các sử liệu, các văn bia, các thi phú của tiền nhân để lại khắp nơi trong các thư viện, nhà bảo tàng, các lăng tẩm, di tích lịch sử ở Huế, Thừa Thiên, Quảng Trị cũng như trên khắp Việt Nam và Thế Giới.
4 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Bể học mênh mông, những điều hiểu biết của tôi có giới hạn. Kính mong các vị thức giả, những bậc đàn anh và tất cả mọi người, vui lòng chỉ giáo cho những chỗ sai sót. Xin chân thành cám ơn. Nguyễn Lý Tưởng Biên soạn xong ngày Rằm tháng Tư năm Kỷ Mão (29-5-1999) Bổ túc lần chót ngày Rằm tháng Tư Nhuận năm Tân Tỵ (6-6-2001)
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 5 THUYỀN AI ĐỢI BẾN VĂN LÂU Khi tôi lớn lên thì cha tôi đã chết trong nhà tù Cộng Sản (Việt Minh) và mẹ tôi thường ngâm câu hò Huế: Chiều chiều trước bến Văn Lâu, Ai ngồi ai câu, ai sầu ai thảm, Ai thương ai cảm, ai nhớ ai trông? Thuyền ai thấp thoáng bên sông, Đưa câu mái đẩy, chạnh lòng nước non. Ba chữ “BẾN VĂN LÂU” đã in vào trí óc của tôi, không bao giờ phai nhạt. Hơn mười tuổi, tôi được mẹ cho vào học trường Dòng Pellerin Huế, nơi hơn ba chục năm trước cha tôi đã từng học ở đây. Những ngày Chúa Nhật, lễ nghỉ, tôi thường đến ngồi trên bến Văn Lâu để nhớ về người cha đã khuất, nhớ mẹ ở quê nhà và câu hò “mái đẩy” trên đây bỗng vọng lại trong tôi. Những danh xưng cũng như cảnh sắc nơi đây đối với tôi đều rất quen thuộc. Tôi xem nơi đây như là chỗ thân tình của bản thân và gia đình. “PHU VĂN LÂU” có nghĩa là cái lầu (LÂU ) để phô bày (PHU hay PHÔ ) văn hóa (VĂN ) của nước nhà. Sách “Đại Nam Nhất Thống Chí” do Quốc Sử Quán nhà Nguyễn biên soạn, cho biết năm 1819, Gia Long thứ 18, xây lầu này ở phía ngoài kinh thành, giữa tường thành bên ngoài phía Nam, hướng về Chính Nam; dùng để niêm yết bảng kết quả thi Hội (Tiến Sĩ, Phó Bảng); thi Đình (Trạng Nguyên, Bảng Nhãn, Thám Hoa; nhà Nguyễn thì gọi là Đệ Nhất Giáp, Đệ Nhị Giáp
6 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Phu Văn Lâu (có tấm biển đề ba chữ Phu Văn Lâu, đọc từ phải qua trái Lâu Văn Phu)
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 7 và Đệ Tam Giáp Tiến Sĩ). Mỗi năm đến tháng Chạp ban lịch mới hoặc khi vua có công bố điều gì quan trọng cho toàn dân cũng tổ chức ở đây. Trước lầu có dãy nhà Long Thuyền và Ngư Hộ là nơi có thuyền của vua đậu và bến câu cá dành cho vua giải trí, vì thế mới có câu: Chiều chiều ông Ngự ra câu, Cái ve, cái chén, cái bầu sau lưng... Ngự là chỉ nhà vua. Cái gì thuộc về vua thì gọi là Ngự như Ngự Thiện (vua ăn) Ngự Bút (nét bút của vua), Ngự Chế Thi (bài thơ vua ban), Ngự Giá (xe rước vua đi...), Ngự Tửu (chén rượu vua ban) v.v... Phu Văn Lâu là một cái lầu cao 5 mét quay mặt về phía Nam, chu vi 44 mét 40. Vua ngự ở ngai vàng tại điện Thái Hòa quay mặt ra hướng Nam, các quan quay mặt về hướng Bắc mà lạy. Từ điện Thái Hòa trông thẳng ra cửa Ngọ Môn, kỳ đài (cột cờ), Phu Văn Lâu và thẳng một đường tới Nam Giao là nơi vua tế Trời cứ ba năm một lần. Khách đi đường ngang qua Phu Văn Lâu phải chú ý đến tấm bảng đá có khắc bốn chữ “KHUYNH CÁI, HẠ MÔ nghĩa là phải xếp dù lại và xuống ngựa đi bộ qua chỗ này để tỏ lòng kính trọng nhà vua ở trong điện Thái Hòa hoặc đang ở trong hoàng cung. Năm 1847, vua Thiệu Trị cho dựng một bia đá cao 2m60, rộng 1m20 có khắc bài thơ (ngự chế thi) lấy tên là Hương Giang Hiểu Phiến (Buổi Sáng Chơi Thuyền Trên Sông Hương) đặt tại công trường Phu Văn Lâu. Vào mùa Hè, gặp lúc thời tiết oi bức, nhà vua ra lệnh cho thuyền đậu chung quanh bến Phu Văn Lâu rồi lính mang màn ra che kín cả một vùng để cho các cung phi, công chúa, cung tần, mỹ nữ ra tắm... Ai tò mò đến xem thì bị chém đầu! Dưới thời Pháp thuộc, Nhà Nước quyết định dùng chữ Quốc Ngữ thay chữ Hán thì người dân trong nước quên dần chữ Nho, chữ PHU có nghĩa là phô trương, phơi bày ra..., chỉ cần thêm dấu “SẮC” là thành chữ PHÚ nghĩa là giàu có. Chữ VĂN là văn hóa, văn chương, vẻ đẹp... thì đổi ra VÂN là mây. PHU VĂN LÂU thì đọc thành PHÚ VÂN LÂU, chẳng có ý nghĩa gì hết! Nhiều địa danh ở Huế cũng bị đổi tên như PHỦ CAM thành ra PHÚ CAM, phi trường PHÙ BÀI thành ra phi
8 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Phu Văn Lâu. trường PHÚ BÀI. Dưới thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm, người ta chọn một chỗ đất nằm giữa các làng THẦN PHÙ, PHÙ BÀI và LƯƠNG VĂN để lập một trại định cư gọi là PHÙ LƯƠNG. Về sau có người không hiểu PHÙ LƯƠNG nghĩa là gì nên đọc ra PHÚ LƯƠNG. Ở Quảng Trị có quận Hướng Hóa là nơi đa số dân miền núi, nên triều đình đặt quan cai trị để hướng dẫn dân thiểu số (mọi) về với văn hóa nhưng nhiều người cứ đọc là HƯƠNG HÓA (Hương nghĩa là Thơm, hương thơm). Động CỒN TIÊN là vùng đồi núi tương truyền trên núi có hình bàn cờ và thường có tiên đến đó đánh cờ... Khi người Mỹ đến nước ta, họ ghi vào bản đồ hai chữ CÔN THIÊN, nếu đọc theo tiếng Mỹ thì chữ TH đọc như chữ T trong tiếng Việt (nghĩa là Cồn Tiên). Nhưng nhiều người cứ đọc là CÔN THIÊN (Thiên là Trời) làm sai cả ý nghĩa lịch sử của địa danh này... Và còn biết bao trường hợp sai lầm như thế mà không ai chịu để ý sửa chữa lại, dần dần thành thói quen, không thay đổi được nữa. Lúc nhỏ tôi cũng đọc nhầm PHU VĂN LÂU ra PHÚ VÂN
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 9 LÂU nhưng khi lớn lên, học chữ Hán, tôi mới biết rằng mình đọc sai... Câu chuyện “BẾN VĂN LÂU” có liên hệ đến gia đình tôi... Mẹ tôi kể lại, năm cha tôi 18 tuổi, đang học ở trường Dòng Pellerin, Huế, một hôm bỗng nhiên vội vã trở về báo tin “sắp có biến” và khuyên mọi người không được ra khỏi nhà, phải cửa đóng then cài cẩn thận. Hôm đó là ngày 4-5-1916, nhằm ngày 3 tháng 4 âm lịch năm Bính Thìn, niên hiệu Duy Tân thập niên. Tối hôm trước, vào đêm 3 rạng ngày 4-5-1916, vua Duy Tân đã cải trang làm một người dân thường, bí mật ra khỏi Hoàng Cung. Các ông Tôn Thất Đề và Nguyễn Quang Siêu cùng hai tên thị vệ thân tín hộ tống nhà vua đi ra bờ sông Hương. Một chiếc thuyền đậu ở bến Phu Văn Lâu từ từ đi về Thương Bạc đón nhà vua rồi quay ngược lên hướng sông Lợi Nông (thường gọi là sông An Cựu) gần Cầu Ga xe lửa Huế, ngang qua Bến Ngự, Phủ Cam và theo sông An Cựu về Hòa Đa ra đầm Hà Trung... thuộc huyện Phú Vang tỉnh Thừa Thiên. Hai nhà cách mạng Thái Phiên và Trần Cao Vân đã chủ mưu rước vua ra ngoài để lãnh đạo cuộc khởi nghĩa nhưng cuộc khởi nghĩa thất bại vì kế hoạch đã bị tiết lộ. Nguyên tại dinh Án Sát Quảng Ngãi có người lính tên là Võ Huệ, em ruột của Võ An, người làng Long Phụng, phủ Tư Nghĩa (Quảng Ngãi). An đã tham gia trong tổ chức cách mạng. Võ An cho Võ Huệ biết sắp có biến cố và khuyên Võ Huệ nên xin quan Án Sát Phạm Liệu cho về nhà trước để tránh tai họa... Võ Huệ đã không khéo trình bày nên kế hoạch bị tiết lộ và quan Án Sát vì sợ bị trách nhiệm nên đã báo cho Công Sứ Pháp là De Tastes ở Quảng Ngãi biết. De Tastes đã đánh điện báo cho Khâm Sứ Charles ở Huế... nên người Pháp đã ra lệnh đề phòng. Trong khi đó, Trần Quang Trứ, một người quan trọng trong Bộ Tham Mưu Khởi Nghĩa, phụ trách vận động binh lính trong đồn Mang Cá nổi dậy, lại phản bội, đi báo cho Pháp biết việc vua Duy Tân đã xuất cung và địa điểm của ngài đang trú ẩn... Đến giờ đã định, không thấy hiệu lệnh nên hai ông Thái Phiên và Trần Cao Vân biết là việc đã bị bại lộ bèn cho người
10 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Nghinh Lương Đình (Nhà nghỉ mát tại bến sông trước Phu Văn Lâu) đi báo tin cho vua biết. Trong khi đó, các tỉnh khác vẫn y hẹn ngày giờ khởi nghĩa, quân cách mạng tấn công vào các đồn lính Pháp đều bị thất bại, người chết, kẻ bị bắt... Tại Huế, hai ông Thái Phiên và Trần Cao Vân đi dò xét tình hình thấy trong thành, ngoài phố đều vắng vẻ, Pháp biết trước sẽ có biến nên đã ra lệnh thiết quân luật, không cho lính ra khỏi trại, súng đạn đều cất vào kho hết. Biết sự việc đã bị bại lộ nên hai ông vội vàng đưa vua về nhà cụ Mai Trí, một đảng viên cách mạng tại Hà Trung, sau đó tính tìm đường núi vào Quảng Nam, Quảng Ngãi nhưng không hiểu sao người dẫn đường lại đưa vua đến một ngôi chùa trên núi Ngũ Phong nằm ở phía sau núi Ngự Bình, phía Nam Kinh Thành... Vua và đoàn tùy tùng vào nhà Võ Đình Cơ là suất đội lính giản ở Hộ Thành, cũng là người trong đảng cách mạng của Trần Cao Vân. Lúc đó, chỉ có mặt vợ đội Cơ ở nhà vì đêm hôm trước đội Cơ bận trực ở Hộ Thành chưa về. Vua cải trang làm người dân thường, nhờ vợ đội Cơ nấu cơm cho ăn. Một người lính đi theo vua đã cho vợ đội Cơ biết người trẻ nhất trong đoàn chính là Hoàng Đế Duy Tân nên vợ
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 11 đội Cơ đã tiết lộ cho em chồng là Võ Đình Tồn (tức Trùm Tồn, tên rao mõ trong làng) biết. Tồn liền đi gặp quan quân đang bao vây, lùng sục quanh vùng báo tin... Sáng ngày 6-5-1916, bọn Pháp gồm có Le Fol (Đổng Lý Văn Phòng Khâm Sứ Huế), Sogny (Chánh Mật Thám), Lanneluc (Giám Binh, chỉ huy quân đội) được tin liền dẫn lính đến vây chùa Thuyền Tôn vì nhà đội Cơ ở trong khuôn viên chùa này. Nhà vua đã bị quân Pháp bắt tại đây và đưa về giam ở Tam Tòa (Bộ Hình). Sau khi có bản án, chúng liền chuyển vua đến giam tại đồn Mang Cá trong thành nội Huế một thời gian rồi bị đày qua đảo Réunion (Phi Châu) cùng một chỗ với phụ hoàng là vua Thành Thái. Những người quan trọng chủ xướng cuộc khởi nghĩa đi theo vua đã bị bắt có các ông Trần Cao Vân, Thái Phiên, Nguyễn Quang Siêu, Tôn Thất Đề v.v... Một viên đội trong đoàn lính theo hộ giá, khi thấy người Pháp dẫn lính đến bắt vua liền leo lên cây mít sau nhà thắt cổ tự tử. Hàng trăm, hàng ngàn người ở các tỉnh tham gia cách mạng bị bắn chết trong khi chiến đấu, hoặc bị bắt, bị xử tử hay bị tù tội đày đi những nơi rừng thiêng nước độc..., trong đó có Phan Thành Tài (Quảng Nam) bị xử tử, Nguyễn Súy (tức Cử Súy ở Quảng Ngãi), Lê Ngung (Quảng Ngãi), Nguyễn Đức Đạt (tức Thừa Phong ở Quảng Nam) đã tự tử... Ngày 16-4-1916, bốn nhà chí sĩ Thái Phiên, Trần Cao Vân, Tôn Thất Đề, Nguyễn Quang Siêu bị đem ra chém đầu tại cầu An Hòa (cách Huế 4 cây số) trên đường đi Quảng Trị. Trước khi chết, Trần Cao Vân đã nhờ người đao phủ chuyển cho Thượng Thư Hồ Đắc Trung câu đối sau đây: “Trung là ai? Nghĩa là ai? Cân đai võng lọng là ai? Thà để cô thần tử biệt! Trời còn đó! Đất còn đó! Xã tắc sơn hà còn đó! Mong cho Thánh Thượng sinh toàn”. Ý của Trần Cao Vân muốn nhắn với Thượng Thư Hồ Đắc Trung: cứ đổ hết tội lỗi cho hai ông Trần Cao Vân và Thái Phiên để cứu vua Duy Tân khỏi án tử hình. Câu chuyện trên đây người dân ở Huế, nhất là người trong gia đình tôi đều biết một cách tường tận. Sau này, khi đi học, có điều kiện đọc lại sử sách, tôi thấy những gì cha tôi kể lại cho mẹ tôi và mẹ tôi kể lại cho tôi nghe đúng như trong
12 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Cột cờ. sách vở đã ghi chép, không thiếu một chi tiết nào. Tôi không hiểu tại sao cha tôi lại biết cái tin vua Duy Tân bí mật ra khỏi kinh thành và đã chạy về báo tin cho gia đình đúng vào thời điểm xảy ra biến cố sớm như vậy? Tôi lớn lên thì cha tôi đã chết trong nhà giam của Việt Minh (Cộng Sản) năm 1947 và mẹ tôi vẫn thường hát câu hò mái đẩy: “Chiều chiều trước bến Văn Lâu...” Cái “BẾN VĂN LÂU” kia có liên hệ gì đến cuộc đời của cha tôi và câu chuyện vua Duy Tân đi theo hai nhà cách mạng Trần Cao Vân và Thái Phiên mưu đồ khởi nghĩa chống Pháp, tại sao lại được mọi người trong gia đình tôi biết đến một cách tường tận và thường hay kể lại cho con cháu nghe như thế? Mãi cho đến năm 16 tuổi, tôi mới được người cậu là Linh Mục Dương Văn Minh thuộc Tu Viện Châu Sơn và người chú là cụ Hoàng Trọng Thuần (bạn đồng chí với cha tôi) giải thích cho biết lý do: Cha tôi là con trai thứ ba và cũng là con trai út, ông nội tôi mất sớm nên cha tôi được bà nội cưng chiều, cho vào Huế
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 13 học. Tính cha tôi hay giao du bạn bè và thích các hoạt động văn hóa xã hội. Cha tôi có quen biết mấy người lính giản, canh gác trong thành nội và từ đó được móc nối gia nhập đảng cách mạng của hai ông Trần Cao Vân và Thái Phiên, ủng hộ vua Duy Tân khởi nghĩa chống Pháp. Theo kế hoạch đã định thì vào giữa đêm 3 rạng ngày 4-5- 1916, các trại lính trong thành sẽ nổi dậy cướp kho súng rồi chiếm các cơ quan và bắt hết người Pháp... Trước giờ khởi sự, vua Duy Tân sẽ cải trang đi ra khỏi cung để lãnh đạo phong trào... Tuy có tham gia trong tổ chức, nhưng hồi đó cha tôi mới 18 tuổi, còn quá trẻ, ít ai biết mặt, biết tên. Nhờ có giao du với mấy ông giản binh nên cha tôi biết được nhiều chuyện trong nội bộ của nhóm người này. Theo sự phân công, đêm 3-5-1916, cha tôi đến PHU VĂN LÂU để đợi mấy người bạn trong đội lính Hộ Thành để cùng tham gia khởi nghĩa, nếu thấy có quân Pháp đến thì đốt lửa báo tin. Cha tôi ngồi một mình trước bến PHU VĂN LÂU cho đến khuya mà không thấy một người nào trong nhóm bạn bè xuất hiện, chỉ có một chiếc thuyền đậu ở giữa sông đang từ từ đi vào bến Thương Bạc. Cha tôi liền đi theo xa xa vì nghĩ rằng thuyền đó là của phe mình. Một nhóm người đứng trên bờ như đang đợi thuyền trong đó, có một người trẻ tuổi mà cha tôi chưa bao giờ biết mặt. Đó là vua Duy Tân. Khi thuyền đã đi xa rồi, cha tôi liền trở về chỗ cũ ngồi đợi phát súng lệnh báo hiệu giờ khởi sự... nhưng mãi đến gần sáng mà không có một ai đến đón. Sinh nghi, cha tôi liền tìm đến nhà một người trong bọn thì được biết đại sự đã hỏng rồi vì bọn Pháp biết trước kế hoạch của mình nên đã ra lệnh cấm trại, không cho lính đi ra khỏi đồn và kho súng bị khóa chặt. Hiện giờ bọn Pháp đang dẫn lính đi lùng bắt nhà vua ở khắp nơi... Trời vừa tảng sáng, cha tôi từ giã người bạn, chạy về nhà báo tin cho bà nội tôi biết “Kinh Thành có biến” và khuyên mọi người không nên ra khỏi nhà, cửa ngỏ phải khóa lại cẩn thận. Hơn 30 năm trước đó, vào đêm 22 rạng ngày 23 tháng 5 âm lịch năm Ất Dậu (tức đêm 4 rạng ngày 5-7-1885), “Kinh Thành Thất Thủ”, Tôn Thất Thuyết phò vua Hàm Nghi chạy ra Quảng Trị, sau đó, ban hịch Cần Vương, “Bình Tây Sát Tả...”.
14 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Ngai vàng các Vua nhà Nguyễn tại Điện Thái Hòa. Khắp nơi dân chúng nổi dậy theo chân quân lính kéo đến bao vây các làng theo đạo Công Giáo, đốt nhà, cướp của, giết hại dân lành vô tội... Ngày 8-9-1885 có 2.500 giáo dân bị giết tại làng Dương Lộc, Triệu Phong, Quảng Trị trong đó có 4 Linh Mục và 65 nữ tu... Dòng họ của tôi chết gần hết chỉ còn lại ông nội và vài ba người cả đàn ông lẫn đàn bà. Gia đình họ Hoàng ở làng Phúc Lộc gần đó cũng bị giết chết, cả nhà chỉ còn lại ba người con gái sống sót... trong đó có bà nội tôi. Vì thế, khi
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 15 nghe tin vua Duy Tân đã ra khỏi cung thì bà nội tôi quá kinh hoàng và cứ nghĩ đến cái cảnh cả nhà bị chết thảm, chết oan dưới thời vua Hàm Nghi năm 1885... Mấy hôm sau, cha tôi được tin vua Duy Tân và các ông Trần Cao Vân, Thái Phiên, Tôn Thất Đề, Nguyễn Quang Siêu đã bị bắt vào sáng ngày 6-5-1916. Tiếp đó là hàng trăm nho sĩ, lính tráng ở Kinh Thành Huế và các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi cũng bị bắt theo. Nhiều người bị thương, bị chết trong khi tấn công vào các cơ sở của Pháp; nhiều người bị xử tử... Cha tôi tuy có tham gia trong tổ chức cách mạng nhưng còn nhỏ tuổi, chưa có hành động gì và cũng không phải là quân nhân nên không ai biết... Tuy nhiên người cũng rất lo sợ nhỡ có ai trong số bạn bè cũ phản bội đi tố cáo mình thì sao? Vì thế trong suốt nửa tháng nằm ở nhà, cha tôi bỏ ăn bỏ ngủ, thần sắc một ngày một sa sút... Thấy vậy, bà nội tôi bèn bắt cha tôi phải nói thật mọi chuyện cho bà biết để liệu đường chạy chữa... Cha tôi tình thật khai hết mọi chuyện từ ngày vào Huế học, giao du bạn bè ra sao cho đến khi tham gia tổ chức bí mật của hai ông Trần Cao Vân và Thái Phiên ra sao... Đêm 3 rạng ngày 4-5-1916, cha tôi đã tận mắt chứng kiến những gì... Sau khi nghe hết mọi chuyện, bà nội tôi bắt cha tôi phải thề từ nay không được giao du với bạn bè như thế nữa... Khoảng nửa tháng sau ngày vua Duy Tân bị bắt, vua Khải Định lên ngôi, bà nội tôi liền dẫn cha tôi đến nhà cụ Thượng Thư Nguyễn Hữu Bài là một người đồng hương, vốn quen biết với ông nội tôi ngày trước... để nhờ cụ bảo bọc, che chở... Cha tôi sống trong nhà cụ hơn ba năm, được cụ đối xử như con cháu. Năm 21 tuổi, cha tôi xin về nhà và lập gia đình với mẹ tôi sau này. Từ đó cha tôi chỉ chuyên lo trông coi ruộng vườn, chăn nuôi gia súc, buôn bán làm ăn và tạo dựng được một cơ nghiệp lớn, có tiếng giàu có trong vùng. Cha tôi săn sóc bà nội mười mấy năm, cho đến khi bà qua đời vào năm 1929 thì cha tôi lại bắt đầu đi đây đi đó, giao du bạn bè trở lại. Khoảng 1930 trở đi, ở miền Trung có một tổ chức gọi là “HƯNG NGHIỆP HỘI XÔ do cụ Trương Bội Hoàng ở Phú Yên thành lập, quy tụ một số nhà Nho chuyên đi buôn bán làm ăn. Cha tôi và cụ Hoàng Trọng Thuần (thân sinh của Trung Tướng Hoàng Xuân Lãm) đã tham gia Hội đó. Tuy bên ngoài
16 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Vua Duy Tân, 8 tuổi (lúc đăng quang).
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 17 Hội chỉ lo kinh doanh thương mãi, hoạt động xã hội từ thiện và văn hóa... nhưng bên trong có mục đích tạo ra phương tiện tài chánh để giúp đỡ cho anh em tham gia các tổ chức cách mạng chống Pháp. Thời gian sống ở Huế và nhất là thời gian nương tựa trong nhà cụ Thượng Thư Nguyễn Hữu Bài, cha tôi có quen biết một số trí thức trẻ, có tinh thần yêu nước, trong đó cũng có những ông Tri Phủ, Tri Huyện, Tuần Vũ, Án Sát của Chính Phủ Nam Triều hay các ông Tham Phán, Tham Sự, công chức của Chính Phủ Bảo Hộ... Những bạn cũ ngày xưa trong tổ chức ủng hộ vua Duy Tân còn trốn tránh hoặc mãn hạn tù trở về..., cha tôi đều có liên lạc với họ... Trong khi đi tỉnh này tỉnh khác, cha tôi có đem theo một thanh niên, người cùng xã tên là Trần Hữu Dực để giúp việc. Về sau Trần Hữu Dực chuyển hướng, đi theo Cộng Sản. Năm 1945, khi Việt Minh mới cướp chính quyền, Trần Hữu Dực lên làm Chủ Tịch Trung Bộ, lãnh đạo toàn miền Trung từ Thanh Hóa đến Phan Thiết. Trong khi đó, cha tôi lại tham gia Mặt Trận Quốc Dân Đảng (Đại Việt và Việt Nam Quốc Dân Đảng hợp nhất), là một tổ chức của những người Quốc Gia yêu nước chống Pháp nhưng đối lập với Việt Minh (Cộng Sản). Vì thế cha tôi bị Việt Minh bắt giam tất cả 3 lần tại nhà giam Quảng Trị, Ba Tơ (Quảng Ngãi) và Trại Đưng (Hà Tĩnh). Cha tôi đã chết tại Trại Đưng (gần xứ Đàng Truông), vùng núi thuộc huyện Hương Khê, Hà Tĩnh ngày 25 tháng 10 âm lịch năm Đinh Hợi (tức 25-11-1947). Anh tôi cũng bị bắt giam tại Hà Tĩnh năm 1946, dịp Tết năm 1949, vượt ngục về đến nhà, mấy tháng sau cũng bị Việt Minh giết. Khi cha tôi chết rồi, mẹ tôi thường nói với tôi: “Cha con đã không nghe lời Bà Nội, cứ giao du bạn bè, theo tổ chức này, tổ chức nọ để rồi bị bắt, bị tù và chết trong nhà giam (25-11-1947). Năm 1916, trong vụ Duy Tân, cha đã may mắn thoát cảnh tù tội... thì năm 1945, cha lại vướng vào chuyện quốc sự (chính trị) để rồi bị tù tội và chết trong nhà giam của Việt Minh... Sau này lớn lên, con phải nhớ cái gương của cha, của anh mà cố tránh đừng tham gia hoạt động cách mạng nữa”. Tôi vẫn suy nghĩ mãi câu đó. Thế rồi, mẹ vẫn kể cho tôi nghe những chuyện cha kể lại cho mẹ: Một người đảng viên cách mạng tên là Phan Hữu Khánh
18 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Vua Duy Tân (lúc 30 tuổi).
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 19 đã được bố trí vào làm tài xế cho vua để tìm cách chuyển đến tận tay nhà vua một văn bản nội dung nói về chương trình hoạt động cách mạng, đánh đuổi thực dân Pháp để giành lại độc lập cho đất nước, đồng thời làm nhiệm vụ liên lạc, trao đổi tin tức giữa vua và ông Trần Cao Vân. Sau đó ông Trần Cao Vân đã làm người đi câu và thông qua cống vào Hậu Hồ ở trong hoàng thành để gặp vua qua sự trung gian sắp đặt của Phan Hữu Khánh. Nhà vua đã đồng ý sẽ trốn ra khỏi hoàng cung để lãnh đạo cuộc khởi nghĩa... Chuyện cụ Thượng Thư Nguyễn Hữu Bài theo hầu vua Duy Tân ra Cửa Tùng (Quảng Trị) tắm biển, khi ngồi trên thuyền, vua ra câu đối để dò ý cụ: - Ngồi trên nước khôn ngăn được nước, trót buông câu, đã lỡ phải lần... Cụ Thượng Bài đối lại: - Gẫm việc đời mà ngán cho đời, liều nhắm mắt, đến đâu hay đó... Ý cụ Thượng Bài muốn khuyên vua nên ẩn nhẫn chờ thời vì tình thế hiện tại chưa thuận lợi. Hoặc có lần vua hỏi: - Tay bẩn thì lấy gì làm cho sạch? Cụ trả lời: - Lấy nước mà rửa cho sạch. Vua lại hỏi: - Vậy thì nước bẩn lấy gì làm cho sạch. Ý vua muốn xây dựng lại đất nước, muốn làm một cuộc cách mạng, một cuộc khởi nghĩa đánh đuổi người Pháp giành độc lập... Cụ Thượng Bài chưa biết trả lời ra sao thì vua liền nói: - Phải lấy máu mà rửa. Vua chủ trương tranh đấu bạo động, chấp nhận hy sinh xương máu, hy sinh cả tính mạng của mình... Chuyện vua “nạp phi” nghĩa là chọn Hoàng Hậu (Chánh Phi) mẹ tôi cũng biết rõ như sách vở đã thuật lại: Quan Thượng Thư Hồ Đắc Trung có người con gái lớn đã được vua Duy Tân cho người mang lễ vật đến nhà hỏi cưới và chỉ còn hai tháng nữa thì sẽ đưa vào cung nhưng bỗng nhiên nhà vua đổi ý và từ chối nên con gái ông Hồ Đắc Trung phải
20 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Phủ Phụ Chánh: Từ trái sang phải: Tôn Thất Hân, Nguyễn Hữu Bài, An Thành Công Miên Lịch, Lê Trinh, Huỳnh Côn và Cao Xuân Dục. trả của lễ lại cho nhà vua. Có lần nhà vua cùng Thái Hậu (mẹ vua) ra chơi Cửa Tùng, Thái Hậu hỏi ý kiến vua về việc “nạp phi”..., thay vì trả lời thì vua cứ suốt ngày đưa tay đào cát chơi và nói một mình: “Đãi cát tìm vàng”... Thái Hậu hiểu ý nhà vua muốn chọn cô Mai Thị Vàng, con gái của quan Phụ Đạo Mai Khắc Đôn, người thôn Kim Long, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên là thầy dạy của vua. Sau đó, hoàng gia cho người đến hỏi cô Mai Thị Vàng làm Chánh Phi (Hoàng Hậu). Năm đó, vua Duy Tân được 16 tuổi và cô Mai Thị Vàng 17 tuổi, hơn vua một tuổi. Cô Mai Thị Vàng được rước vào cung hơn ba tháng thì xảy ra biến cố đêm 3 rạng ngày 4-5-1916. Khi vua Duy Tân bị đày qua đảo Réunion (3-11-1916), Chánh Phi Mai Thị Vàng cũng đi theo vua qua đó, được ba tháng vì không chịu nổi khí hậu khắc nghiệt, sinh bệnh, nên nhà vua đã cho Thái Hậu và Hoàng Phi trở về lại Việt Nam.
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 21 Bà Mai Thị Vàng qua đời tại thôn Kim Long (Huế) ngày 11-3-1980 thọ 82 tuổi ta. Vua Duy Tân tử nạn máy bay ngày 25-12-1945 (21-11 Ất Dậu) tại Địa Trung Hải, Âu Châu. * * * Vâng theo lời mẹ dạy, lớn lên, tôi đã chọn ngành Sư Phạm, làm nhà giáo, không tham gia hoạt động chính trị, cứ tưởng như thế là được yên ổn trọn cuộc đời, vui sống với quê hương nhưng “cái nghiệp” của gia đình, dòng họ, những lời mẹ và bà con kể lại về cuộc đời tranh đấu của cha, anh. Hình ảnh đẹp tuyệt vời của một vị vua trẻ, dám từ bỏ ngai vàng, từ bỏ bao cung phi mỹ nữ với cuộc sống giàu sang sung sướng để dấn thân làm cách mạng, cam chịu tù tội, nhục nhã và chết nơi đất khách quê người... đã nung nấu bầu nhiệt huyết của tuổi trẻ đang sôi sục trong lòng tôi. Sau 1963, không khí chính trị tràn ngập các Đại Học miền Nam Việt Nam và tôi đã dấn thân vào con đường tranh đấu, tham gia hoạt động cách mạng, ứng cử vào Quốc Hội (1967)... và sau ngày 30-4-1975, cùng chung số phận với Quê Hương, Đất Nước và đồng bào, tôi đã mang thân vào vòng tù tội cho đến ngày 25-7-1994 mới thoát khỏi chế độ Cộng Sản Việt Nam đến định cư ở vùng đất tự do Hoa Kỳ. Nguyễn Lý Tưởng
22 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng PHONG TRÀO YÊU NƯỚC CHỐNG PHÁP CUỐI THẾ KỶ 19 ĐẦU THẾ KỶ 20 TẠI HUẾ (GIA ĐÌNH CỤ VÕ BÁ HẠP, NHÂN CHỨNG VỀ CÁI CHẾT VÀ NGÔI MỘ CỦA CỤ TĂNG BẠT HỔ...) Trên Đặc San Tây Sơn số Xuân Đinh Sửu, 1997 do ông Đặng Phú Phong chủ trương, phát hành tại Nam California, Hoa Kỳ, có đăng bài “Ai Về Bình Định” của chúng tôi (Nguyễn Lý Tưởng), có một chi tiết liên quan đến cái chết của nhà cách mạng tiền bối Tăng Bạt Hổ, qua lời thuật lại của một người dân địa phương... Sau khi trao bài cho nhà báo Đặng Phú Phong, tôi lại may mắn được gặp cụ Võ Như Nguyện sau hơn ba mươi năm xa cách. Cụ là Giáo Sư tại Viện Hán Học Huế từ 1960 và cũng là thầy dạy Hán Văn của tôi ngày xưa. Cụ cũng là trưởng nam của nhà cách mạng Võ Bá Hạp, cùng thời với cụ Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng, Tăng Bạt Hổ v.v... Tôi được nghe cụ kể lại đầy đủ chi tiết về cái chết của cụ Tăng Bạt Hổ... mà thân sinh của cụ là người có mặt từ đầu cho đến khi chôn cất. Tôi liền gọi điện thoại cho anh Đặng Phú Phong xin hoãn lại bài báo để tôi bổ túc một vài chi tiết nhưng không kịp nữa rồi, vì báo đã in gần xong. Tôi liền có ý định sẽ viết một bài khác, đầy đủ hơn để đính chính điều sai sót trong bài báo nói trên. Thế rồi, mùa Xuân năm 1997, vì phải lo tổ chức lễ tưởng niệm nạn nhân Tết Mậu Thân (1968) nên tôi chưa kịp thực hiện ý định nói trên thì đã có người lên tiếng về điều sai lầm
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 23 đó của tôi rồi... Trên báo Người Việt và báo Thời Luận xuất bản tại Nam California, Hoa Kỳ, một người ký tên là “THỰC TẾ” đã viết: “Sau hơn hai mươi năm bôn ba việc nước nơi hải ngoại. Năm 1914, cụ Tăng Bạt Hổ trở về nước hoạt động, nhưng bị Pháp bắt và giam tại Huế rồi bỏ mình tại đây”. (Báo Người Việt ra ngày 2-4-1997 trang B1 bài: Bạn đọc viết: “Đôi điều về bài: “Ai về Bình Định” của ông Nguyễn LýTưởng”. Báo Thời Luận ra ngày 3-4-1997 trang 18 bài: “Xin làm sáng tỏ đôi điều trong bài viết “Ai về Bình Định” của ông Nguyễn Lý-Tưởng”) Những điều bổ túc trên đây cũng gần với ghi nhận của ông Nguyễn Huyền Anh trong tác phẩm: “Tiểu Tự Điển Nhân Vật Lịch Sử Việt Nam”, Thùy Phương xuất bản tại Việt Nam năm 1972 trang 198: “Tăng Bạt Hổ. Liệt sĩ suốt đời hy sinh tranh đấu cho lý tưởng Quốc Gia Dân Tộc. Mất năm 1914 tại Huế. Người Bình Định (Trung Phần). Tham gia phong trào Cần Vương cứu quốc. Đến năm 1887, ông xuất dương, thường bôn ba khắp nơi (Nhật Bổn, Trung Hoa, Xiêm, Nga...) để vận động quốc sự. Trở về nước hoạt động, ông bị bắt và bỏ mình trong nhà lao”. Qua hai dẫn chứng trên, chúng tôi thấy có ba vấn đề cần làm sáng tỏ: a. Cụ Tăng Bạt Hổ bị Pháp bắt. b. Cụ bỏ mình (chết) trong nhà lao. c. Cụ về nước năm 1914 và chết trong năm đó. Trước khi đưa ra những bằng chứng mà chúng tôi cho là có giá trị, liên quan đến cái chết của cụ Tăng Bạt Hổ, do hai người con trai của cụ Võ Bá Hạp (bạn cùng thời với cụ Tăng Bạt Hổ) là cụ Võ Như Nguyện (sinh 1915) và cụ Võ Như Vọng (sinh 1920) cung cấp, chúng tôi xin phép được trình bày lại bối cảnh lịch sử của đất nước vào cuối thế kỷ 19 và sự liên hệ giữa các nhà cách mạng tiền bối với gia đình cụ Võ Bá Hạp và con cháu của cụ ở Huế. Từ đó mới có thể đánh giá đúng mức về nhân chứng và lời thuật lại của họ. Chúng tôi cũng mong rằng sự đóng góp của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ những nghi vấn về cuộc đời và dấu vết cuối cùng của nhà cách mạng Tăng Bạt Hổ.
24 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng 1. TỪ VIỆN HÁN HỌC ĐẾN MAI KHÔI TRANG Do sắc lệnh số 389-GD ngày 8-10-1959 của Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa thành lập Viện Hán Học trực thuộc Đại Học Huế, tôi đã trở thành một trong số 30 sinh viên khóa đầu tiên, trúng tuyển vào năm thứ I Viện Hán Học ngày 28-12-1969 cách nay gần 40 năm. Tại đây, chúng tôi được quen biết cụ Võ Như Nguyện, Chủ Sự Viện Hán Học và là Giáo Sư Hán Văn của chúng tôi (1960). Về sau cụ được cử làm Phó Giám Đốc, rồi Giám Đốc Viện Hán Học (1962-63). Giám Đốc Viện Hán Học đầu tiên là Linh Mục Cao Văn Luận, Viện Trưởng Đại Học Huế kiêm nhiệm và cụ Lương Trọng Hối, Cử Nhân Hán Học, Dân Biểu Quốc Hội làm Phó. Vị Giám Đốc Viện Hán Học sau cụ Võ Như Nguyện là Giáo Sư Trần Điền (Cựu Tỉnh Trưởng, Dân Biểu, Nghị Sĩ và đã bị Việt Cộng sát hại trong Tết Mậu Thân 1968 tại Huế). Niên khóa 1965-66, Viện Hán Học chấm dứt, không còn tiếp tục giảng dạy nữa. Cụ Võ Như Nguyện (Giám Đốc Viện Hán Học) và GS Nguyễn Lý Tưởng
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 25 Cụ Võ Như Nguyện là trưởng nam của cụ Cử Nhân Võ Bá Hạp, một trong những nhà cách mạng tiền bối tại miền Trung cùng thời với các cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Tăng Bạt Hổ, Nguyễn Thành, Kỳ Ngoại Hầu Cường Để v.v... Trước khi trở về lại ngành giáo dục, làm Giáo Sư tại Viện Hán Học, cụ Võ Như Nguyện đã từng là Phán Sự Tòa Khâm Sứ Huế, Chánh Văn Phòng cho Bác Sĩ Trần Đình Nam (Tổng Trưởng Bộ Nội Vụ trong chính phủ Trần Trọng Kim 1945), Năm 1947-1948, thời cụ Trần Văn Lý làm Hội Đồng Chấp Chánh Lâm Thời Trung Việt thì cụ Võ Như Nguyện là Phó Chủ Sự Nha Thông Tin Trung Việt và Giám Đốc Thuận Hóa Ấn Quán, đã chủ trương một tờ tuần báo lấy tên là “Lòng Dân” và cộng tác với tờ “Dân Đen” và vài tờ báo khác tại Huế. Cuối năm 1948, cụ Trần Văn Lý từ chức, Phan Văn Giáo lên thay, đã bổ dụng cụ làm Chủ Sự kiểm soát tài chánh, rồi đưa đi làm Phó Tỉnh Trưởng Quảng Bình, nhưng cụ từ chối nên bị Phan Văn Giáo cho nghỉ việc. Lúc đó, Hiệu Trưởng trường Quốc Học (trường Khải Định) là Giáo Sư Huỳnh Hòa đã vận động bổ dụng cụ làm Giáo Sư trường này niên khóa 1948-1949 và 1949-1950. Sau đó, dưới thời ông Phan Văn Thiết làm Thủ Hiến Trung Việt, 1950, cụ bị Thủ Tướng Nguyễn Văn Tâm “trưng dụng” làm Giám Đốc Công An Trung Việt (1950-1955). Năm 1954, khi cụ Ngô Đình Diệm về nước thành lập Chính Phủ, cụ Võ Như Nguyện vẫn giữ chức Giám Đốc Công An Trung Việt, 5 tháng sau thì được bổ nhiệm làm Tỉnh Trưởng Bình Định (1955-1956). Tháng 10-1955, cụ từ chức Tỉnh Trưởng Bình Định để ứng cử và đắc cử Dân Biểu Quốc Hội tỉnh Thừa Thiên (từ 1956-1959). Trước 1944, cụ đã từng cộng tác với báo Tiếng Dân của cụ Huỳnh Thúc Kháng. Cụ thường được thân phụ, thân mẫu sai đi liên lạc, tiếp xúc với cụ Phan Bội Châu thời gian cụ Phan bị Pháp an trí tại Huế (1925-1940). Cụ cũng có nhiều liên hệ với các cụ Ngô Đình Khôi, Ngô Đình Diệm nhất là từ 1933, sau khi cụ Ngô Đình Diệm từ chức Thượng Thư và cũng đã được hai cụ Ngô trao phó cho nhiều công tác trong thời gian còn hoạt động bí mật trước và sau 1945 cho đến khi cụ Ngô Đình Diệm về nước chấp chánh 7-7-1954.
26 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Các Giáo Sư và sinh viên Viện Hán Học Huế (1961). Kỷ niệm đệ thập chu niên Tòa Báo Tiếng Dân 1937.
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 27 Cuộc đời của cụ cũng có lúc thăng trầm, đã từng bị tù dưới nhiều chế độ... Khi trở về Viện Hán Học, cụ cũng đã nhiệt thành muốn phục hồi nền cổ học, gầy dựng cho lớp hậu sinh như chúng tôi một căn bản về Hán Học để sau này còn có người nối nghiệp các bậc đàn anh. Tại Viện Hán Học, tôi được tiếp xúc với các vị uyên thâm Nho Học cũng như về văn hóa, lịch sử Việt Nam như cụ Nguyễn Huy Nhu (Tiến Sĩ), Linh Mục Nguyễn Hy Thích (Sảng Đình), Linh Mục Nguyễn Phương (Trưởng Ban Sử Đại Học Văn Khoa và Sư Phạm Huế, Hội Trưởng Hội Sử Học Việt Nam), Cụ Hà Ngại (Phó Bảng), cụ Nguyễn Duy Bột (Quốc Tử Giám), cụ Phạm Lương Hàn (Quốc Tử Giám), cụ Hồ Đắc Định (học giả), cụ Ngô Đình Nhuận (Tú Tài), cụ Bửu Kế (học giả), cụ Phan Văn Dật (nhà văn, học giả), Giáo Sư Nguyễn Văn Dương (Cao Học Việt Hán) v.v... và nhất là Phòng Nghiên Cứu Lịch Sử Việt Nam (Đại Học Văn Khoa Huế) và Ban Phiên Dịch Sử Liệu (cạnh Viện Hán Học), là những nơi cất giữ nhiều tài liệu quan trọng mà các Giáo Sư, nhà văn, nhà báo hay học giả bên ngoài khó mà có được. Đa số các Giáo Sư tại Viện Hán Học cũng là Giáo Sư Đại Học Văn Khoa và Sư Phạm như Linh Mục Nguyễn Hy Thích, Linh Mục Nguyễn Phương, Giáo Sư Nguyễn Văn Dương... nên chúng tôi vẫn được các vị ấy tiếp tục hướng dẫn trong thời gian chuyển qua Đại Học Văn Khoa và Sư Phạm cho đến khi tốt nghiệp Đại Học. Một số lớn các cụ ở đây là nhân chứng trực tiếp hoặc ít nữa cũng xuất thân từ những gia tộc lớn, đã từng đóng những vai trò quan trọng trong lịch sử Việt Nam thời cận đại từ hậu bán thế kỷ 19 cho đến 1954... Tôi đã khám phá ra nơi cụ Võ Như Nguyện cả một kho tài liệu sống, với những hiểu biết rất chính xác và giá trị. Mỗi lần đến thăm cụ tại Mai Khôi Trang, cách Huế chừng bốn, năm cây số, tôi thường trầm trồ khen ngợi: “Nhất cận thị, nhì cận giang”. Chỗ đó vừa gần sông, vừa gần chợ; trên bến, dưới thuyền, giao thông thuận lợi, phong cảnh hữu tình chắc chắn phải là nơi địa linh, nhân kiệt, tao nhân mặc khách thường lui tới. Vừa bước vào nhà, hình ảnh đầu tiên đã làm cho tôi sửng
28 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng sốt và khâm phục, đó là chân dung của cụ cử Võ Bá Hạp đặt trên bàn thờ: Một lão ông phương phi, khôi ngô, tuấn tú mặc quốc phục Việt Nam, đầu đội khăn đóng với bộ râu dài rất đẹp mà tôi chẳng mấy khi gặp được một con người với vẻ bề ngoài tốt tướng như thế. Cụ đã ngoài bảy mươi mà phương phi như vậy, huống chi vào thời trai trẻ, 24 tuổi, mới thi đỗ Cử Nhân thì “trang thanh niên” ấy khôi ngô tuấn tú biết bao! Thời đó, ở Huế, không ai mà không biết tiếng cụ! Các bậc cha anh trong gia đình tôi, nhiều người biết tiếng cụ Cử Võ và rất khâm phục chí khí hào hùng của cụ. Dân quanh vùng Bao Vinh xem cụ như là một tiên ông, một lương y cứu nhân, độ thế, một nhà cách mạng với mười năm tù về tội quốc sự, đã từng nếm đủ mọi mùi gian nan thử thách, phải chịu tra tấn, đày ải dã man... Cụ đã hy sinh trọn cả tuổi thanh xuân cho đại cuộc. Từ đó tôi để ý đến cụ và tìm đọc sách vở, báo chí nói về cụ cũng như trực tiếp tìm hiểu các hoạt động của các bậc tiền bối cách mạng cùng thời với cụ qua lời thuật lại của các nhân chứng trong gia đình, con cháu của cụ. 2. KHOA THI NĂM CANH TÝ (1900): KẾT BẠN ĐỒNG CHÍ Cụ Võ Bá Hạp (theo cách đọc của miền Bắc là Vũ Bá Hợp) tự Nguyên Bích, hiệu Trúc Khê, bút hiệu Xuân Pha và Song Xuân, sinh năm Bính Tý (1876), niên hiệu Tự Đức thứ 29 tại làng Phong Lâm, huyện Gia Lộc, phủ Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương (Bắc Việt), con trai duy nhất của cụ ông Vũ Văn Giáp (1854- 1935) và cụ bà Lê Thị Từ Châu. Họ Vũ này cùng một tổ Vũ Hồn, là dòng họ danh tiếng ở miền Bắc từ lâu đời. Phong Lâm là một làng nổi tiếng về nghề thuộc da và làm giày dép, hia hài nên vào năm Nhâm Ngọ (1882), niên hiệu Tự Đức thứ 35, cụ Vũ Văn Giáp được nhà vua cho gọi vào Huế để truyền dạy nghề thuộc da và phụ trách sản xuất giày dép cho Đại Nội. Cụ đã chọn một địa điểm gọi là “Xóm Trâu” thuộc xã An Hòa, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên là nơi có lò tể sinh (làm thịt súc vật) để tiện làm nghề thuộc da vì nơi đó có sẵn da sống (Chữ Hán “thục” đọc trại ra “thuộc” nghĩa là chín; da sống được chế biến thành “da thuộc” tức da chín, da
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 29 khô, dùng làm giày dép, bao bị v.v...). Sau 5 năm làm việc, cụ được nhà vua ban cho tước Cửu Phẩm Văn Giai. Khi vào Huế, cụ có đem theo người em là Vũ Văn Bính để giúp cụ truyền nghề cho dân địa phương. Sau một thời gian, ông Vũ Văn Bính đã trở lại quê hương ở miền Bắc. Năm 12 tuổi, cậu Vũ Bá Hợp theo mẹ là Lê Thị Từ Châu vào Huế ở với cha để tiếp tục học văn hóa. Năm Thành Thái thứ bảy (1896), cậu Vũ Bá Hợp được ông bà Nguyễn Văn Tiếp, người làng Mỹ Xá, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên mời về dạy học tại nhà. Năm đó cậu mới 20 tuổi. Đến năm 27 tuổi (1903) cậu cưới con gái chủ nhà là Nguyễn Thị Cân, 18 tuổi, làm vợ. DUYÊN KỲ NGỘ: VÕ BÁ HẠP - PHAN BỘI CHÂU PHAN BỘI CHÂU có tên là Phan Văn San, về sau đổi là Phan Bội Châu, sinh năm Đinh Mão (1867) tại làng Sa Nam, xã Đông Liệt, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, học giỏi nhưng không chịu đi thi, có chí hướng làm cách mạng. Năm Đinh Dậu (1897), Phan Bội Châu ở Nghệ An vào Thừa Thiên, đến nhà cụ Vũ Văn Giáp ở An Hòa dạy học, từ đó cậu Vũ Bá Hợp và Phan tiên sinh đã trở nên đôi bạn thân. Vũ Bá Hợp nhỏ thua Phan mười tuổi nên vẫn xem Phan là bậc đàn anh. Ở nhà cụ Vũ Văn Giáp được hai năm thì Phan Bội Châu trở về Nghệ An để chuẩn bị thi Hương khoa Canh Tý (1900). Năm đó, cậu Vũ Bá Hợp cũng ứng thí tại Thừa Thiên. Thời xưa, muốn ứng thí phải có hồ sơ do làng xã chứng nhận vì thế Vũ Bá Hợp phải nhờ cụ Hoàng Hữu Quý là một chức sắc có uy tín ở làng Dương Xuân giúp cho nhập tịch làng này vì trở về Bắc quá xa xôi cách trở, đi lại khó khăn, tốn kém. Từ đó, làng Dương Xuân, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên (miền Trung) đã trở thành chánh quán của cậu Vũ Bá Hợp và theo cách đọc của miền Trung thì Vũ Bá Hợp thành VÕ BÁ HẠP. Khoa Canh Tý (1900), niên hiệu Thành Thái thứ 12, Võ Bá Hạp 24 tuổi, đậu Cử Nhân tại trường thi Thừa Thiên, từ đó được gọi là Cụ Cử Võ hay Cụ Cử Nhân Võ Bá Hạp. Khoa thi này, Phan Bội Châu, 34 tuổi, đỗ đầu (giải nguyên) tại trường Nghệ An; Huỳnh Thúc Kháng, 24 tuổi (cùng tuổi với Võ Bá
30 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Chân dung cụ Võ Bá Hạp (1876-1948)
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 31 Hạp) đỗ đầu và Phan Chu Trinh, 19 tuổi cũng đậu Cử Nhân cùng khoa. Năm sau thi Hội, Huỳnh Thúc Kháng đỗ đầu Tiến Sĩ, Phan Chu Trinh, Phó Bảng. Những người này, cùng đỗ đạt một khoa Cử Nhân, cùng chí hướng, cùng thời nên đã trở thành bạn thân và bạn đồng chí, hoạt động cách mạng với nhau. Phan Bội Châu vào Huế kết giao với nhiều người có tinh thần ái quốc như các ông Đặng Nguyên Cẩn (hiệu Thái Sơn lúc đó đang làm ở sử quán), ông Khiếu Năng Tĩnh (đang giữ chức Quốc Tử Giám Tế Tửu tức Hiệu Trưởng trường Quốc Tử Giám), ông Nguyễn Thượng Hiền (hiệu Mai Sơn, Tiến Sĩ) v.v... Trong những người này, Phan Bội Châu và Võ Bá Hạp đã từng ở chung một nhà nên thân nhau hơn. Sau này khi Phan Bội Châu bị an trí ở Huế vào năm 1926 thì sự đi lại thân tình giữa họ Phan và họ Võ càng khắng khít nhiều hơn nữa. 3. TỪ PHONG TRÀO DUY TÂN VÀ ĐÔNG DU ĐẾN VIỆT NAM QUANG PHỤC HỘI Các ông Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Chu Trinh, Võ Bá Hạp... sau khi thi đỗ đã không ra làm quan. Người thì dạy học, người thì làm thầy thuốc và đã dành thì giờ đi đây đi đó, tiếp xúc với nhân sĩ khắp nơi để vận động cho phong trào cách mạng. Phan Bội Châu đã từng vào Quảng Nam gặp Tiểu La Nguyễn Thành là một trong những người thời đó có tư tưởng tiến bộ, đã nghiên cứu nhiều sách gọi là “tân thư” của các nhà tư tưởng tiến bộ Trung Hoa và Nhật Bản. Đó là những sách nghiên cứu về các chế độ chính trị và chế độ dân chủ... Họ đã thành lập Duy Tân Hội (1904), về sau đổi tên là Việt Nam Quang Phục Hội và đưa Kỳ Ngoại Hầu Cường Để, một người trong hoàng tộc dòng dõi Hoàng Tử Nguyễn Phúc Cảnh, con trưởng của vua Gia Long lên làm minh chủ. Phan Bội Châu cũng bí mật vào Nam để liên lạc với giới trí thức qua sự giới thiệu của Tiểu La Nguyễn Thành. Thành phần trí thức khoa bảng ở miền Trung như Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp, Phan Chu Trinh, Võ Bá Hạp, Nguyễn Thượng Hiền, Đặng Thái Thân, đều ủng hộ Phan Bội Châu. Ở Huế, ngoài Võ Bá Hạp, cùng chí hướng với Phan, còn có Lê Ngọc Nghị (vợ là chị của Kỳ Ngoại Hầu Cường Để), Lê Minh Châu và em gái là Lê Thị Đàn, Trần Trinh Linh (tức Ngũ
32 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Chân dung cụ Phan Bội Châu tại từ đường Bến Ngự (Huế).
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 33 Lang, bố vợ của cụ Võ Như Nguyện)... là những người tích cực hoạt động cho phong trào. Phong trào chủ trương kêu gọi dân chúng trong nước duy tân, đổi mới, bỏ cái học từ chương để theo khoa học thực dụng, gây ý thức tự lực, tự cường, đưa thanh niên qua Nhật du học (gọi là Đông Du) hoặc qua Trung Hoa học hỏi tiến bộ của nước người. Phải mở mang dân trí trước mới mong có ngày đánh đuổi thực dân giành độc lập được. Theo sự phân công của Hội, từ Quảng Nam trở vào do Tiểu La Nguyễn Thành (tức Nguyễn Hàm) phụ trách; từ Nghệ Tĩnh trở ra Bắc do Đặng Thái Thân phụ trách; ba tỉnh Thiên, Trị, Bình do Võ Bá Hạp phụ trách. Phan Bội Châu sẽ đến những vùng xa hơn như trong Nam và ngoài Bắc để sắp xếp, tổ chức người phụ trách các vùng đó. Hai người có nhiệm vụ hướng dẫn thanh niên trong nước qua Tàu, qua Nhật là Tăng Bạt Hổ và Lý Tuệ (tức Nguyễn Hữu Tuệ). Tăng là kiện tướng trong phong trào Văn Thân 1885 dưới quyền chỉ huy của Mai Xuân Thưởng tại Bình Định. Sau khi phong trào thất bại, ông bí mật đi khắp nơi để hoạt động, đã từng qua Xiêm, qua Tàu, qua Nhật... Còn Lý Tuệ (tên thật là Nguyễn Hữu Tuệ) thời đó đang làm đầu bếp thương thuyền, thường đem thanh niên giấu dưới gầm tàu để đưa ra ngoại quốc. Ngày 20 tháng Giêng năm Ất Tỵ (1905), Phan Bội Châu ra Bắc để theo Tăng Bạt Hổ sang Trung Quốc (23-5-1905), sau đó qua Nhật Bản. Qua sự giới thiệu của Lương Khải Siêu, một nhà cách mạng Trung Hoa đang sống lưu vong ở Nhật, Phan Bội Châu đã gặp hai nhân vật quan trọng trong chính giới Nhật Bản là Bá Tước Đại Ôi Trọng Tín và Tử Tước Khuyễn Dưỡng Nghị, hai người này đã từng làm Thủ Tướng nước Nhật. Phan Bội Châu đã xin họ giúp cho thanh niên Việt Nam qua Nhật du học, đồng thời cũng đưa Kỳ Ngoại Hầu Cường Để ra khỏi nước để mưu đồ đại sự, vận động chính trị sau này. Được hai chính khách nói trên hứa hẹn giúp đỡ, Phan liền tìm cách trở về nước định đưa Kỳ Ngoại Hầu Cường Để qua Nhật nhưng khi Phan vừa về đến Hà Tĩnh, thì nghe tin Pháp đang có lệnh tầm nã mình và một số bạn bè đã bị bắt liền ra
34 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Sào Nam tử Phan Bội Châu chi mộ Sính ư Tự Đức Đinh Mão thập nhị nguyệt sơ nhất nhật Tốt ư Bảo Đại Canh Thìn cửu nguyệt nhị thập cửu nhật
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 35 Hải Phòng và qua Nhật trở lại, riêng Kỳ Ngoại Hầu Cường Để thì đã được Tăng Bạt Hổ đưa qua Nhật vào đầu năm 1906 một cách an toàn rồi. 4. PHÁP ĐÀN ÁP PHONG TRÀO: CỤ VÕ BÁ HẠP VÀ CÁC ĐỒNG CHÍ BỊ BẮT Khi được tin Phan Bội Châu đi rồi thì Pháp ra lệnh bắt giữ một số người tình nghi hoạt động chống Pháp. Phan Bội Châu trước đây đã từng ở trong nhà của Võ Bá Hạp mấy năm nên khi Pháp theo dõi hoạt động của Phan, chắc chắn không bỏ qua địa chỉ này. Võ Bá Hạp lại là người đứng đầu phong trào tại ba tỉnh Thiên, Trị, Bình nên anh em thường lui tới, gặp gỡ, hội họp tại nhà ông. Lính Pháp vào nhà cụ Vũ Văn Giáp, thân sinh cụ Võ Bá Hạp, tại làng An Hòa, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên, bao vây lục xét. Không có bằng chứng cụ thể nhưng chúng vẫn bắt Võ Bá Hạp đi và tra khảo dã man. Chúng dẫn cụ đi từ Quảng Bình vào đến Quảng Ngãi để đối chất với những người tình nghi ở các địa phương. Cụ cam chịu cực hình và không hề khai cho một người nào để anh em khỏi bị liên lụy. Cuối cùng chúng đem cụ về giam tại nhà giam tỉnh Quảng Ngãi (gọi là Quảng Ngãi phối sở) và kết án chín năm tù khổ sai vì can tội: “Thông giao ngoại bang, mưu đồ lật đổ chính quyền bảo hộ”, ý muốn nói đến việc phong trào tổ chức đưa thanh niên Việt Nam qua Trung Quốc và qua Nhật. Cụ cũng bị thu hồi bằng Cử Nhân... Trong khi cụ Võ Bá Hạp bị tù thì cuối năm đó, thân mẫu của cụ, bà Lê Thị Từ Châu, bị bệnh nặng qua đời vào ngày 18 tháng Chạp Bính Thân (16-1-1897). Gia đình bên vợ, ông bà Nguyễn Văn Tiếp thấy hoàn cảnh cụ Vũ Văn Giáp, vợ chết, con trai độc nhất lại đang bị tù, con dâu chưa có cháu... nên mới thu xếp cho dời nhà từ An Hòa về Bao Vinh, nơi đó vừa gần sông, gần chợ, liên lạc giữa gia đình họ Nguyễn và họ Vũ theo đường sông rất thuận tiện. Bà Nguyễn Thị Cân, vợ cụ Võ Bá Hạp ở bên nhà cha mẹ mà vẫn săn sóc cho bố chồng là cụ Vũ Văn Giáp được.
36 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Chân dung cụ Phan Bội Châu tại từ đường Bến Ngự (Huế).
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 37 NGUYỄN VĂN NGHĨA, NGƯỜI EM NUÔI TRUNG THÀNH Gia đình cụ Vũ Văn Giáp có nuôi một cậu thanh niên tên Nguyễn Văn Nghĩa, thường đi theo hầu hạ, giúp đỡ cụ Cử Võ Bá Hạp, những lúc đến trường thi thì Nghĩa đi theo mang tráp, sách vở và lều chõng cho cụ. Khi cụ bị tù, vẫn đi theo để giúp. Một hôm, lính dẫn cụ đến Quảng Trị đối chất, nọc cụ ra giữa sân, chân tay đều bị trói vào cọc, đánh đòn rất dã man. Thấy cụ cử chịu không nỗi nữa nên Nghĩa bèn nhảy vào nằm úp lên người cụ, đỡ đòn cho cụ. Bọn lính cố ý đánh nặng tay để cho Nghĩa vì đau mà phải lánh ra nhưng Nghĩa quyết chịu đòn thay cho cụ cử Võ... Lính cứ tiếp tục đánh cho đủ số đòn theo hình phạt được áp dụng. Khi chúng nghỉ tay thì Nghĩa cũng đã tắt thở rồi! Bọn lính đem chôn xác Nguyễn Văn Nghĩa ở bên ngoài thành Quảng Trị, gần sân vận động và trường Trung Học Nguyễn Hoàng sau này. CÔ LÊ THỊ ĐÀN TỬ TIẾT TRONG TÙ Cô Lê Thị Đàn, em ruột của cụ Lê Minh Châu, người xã Thế Lại Thượng, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên là người của tổ chức Việt Nam Quang Phục Hội, phụ trách về tài chánh, dưới sự điều động của cụ Võ Bá Hạp. Khi cụ Võ Bá Hạp bị bắt thì cụ Lê Minh Châu, anh của cô, cũng bị bắt và một số tài liệu quan trọng tại nhà cụ Lê đã bị tịch thu. Trong số những người làm việc cho Pháp có Đốc Phủ Hinh, người miền Nam, làm phán sự tại Tòa Công Sứ Thừa Thiên, muốn cưới cô làm vợ, nhưng cô không chịu. Nay vì hoàn cảnh bất đắc dĩ, nên cô phải lấy hắn để tìm cách thủ tiêu các tài liệu quan trọng, cứu anh em còn ở ngoài vòng... Từ đó, người ta gọi cô là cô Đốc. Nhờ thế lực của chồng, cô đã đến các nhà tù tiếp tế cho anh em. Cô thường theo dõi bọn lính dẫn tù đi từ tỉnh này qua tỉnh khác để tìm cách ngoại giao, mua chuộc bọn chúng hầu giúp anh em đỡ nhọc nhằn. Có lần cụ cử Võ bị lính dẫn từ Quảng Ngãi ra Quảng Trị, lúc ngang qua địa phận tỉnh Thừa Thiên, cụ quá đuối sức, bước không nỗi nữa. Một tên lính thị oai dùng roi mây quất mạnh vào lưng của cụ và thét lớn: “Đi nhanh lên!”, tức thì cô Lê Thị Đàn xuất hiện, chạy đến giật chiếc roi mây, vừa đánh vừa mắng tên lính ấy: “Bọn chúng bây
38 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng là tay sai hạ đẳng của đám mãi quốc, sao dám cả gan vô lễ với quan Cử Nhân mà mọi người kính trọng!”. Có một lần, cô Lê Thị Đàn đến thăm và tiếp tế cho cụ Võ Bá Hạp tại nhà giam Quảng Trị, cô gởi vào cho cụ một vịm cháo. Khi lấy muỗng múc cháo, cụ khám phá trong đáy vịm có con dao nhỏ rất sắc bén. Ý cô muốn nhắn với cụ, nếu chịu không nổi thì tự tử, đừng khai cho anh em. Cụ bèn nhắn lại cho cô biết, cứ yên tâm, tinh thần của cụ vẫn vững vàng, anh em không có điều gì phải lo lắng cả. Cô thường có những hành động quá táo bạo làm cho người Pháp nghi ngờ. Sau đó, cô đã bị bắt giam và bị tra tấn cực hình nhưng cô đã tỏ ra bất khuất, không chịu cung khai một lời nào. Ngày 16 tháng 3 năm Canh Tuất, niên hiệu Duy Tân thứ tư, tức là ngày 25-4-1910, cô yêu cầu được tắm rửa sạch sẽ, ăn uống đầy đủ và cung cấp giấy mực để khai báo nhưng thay vì khai báo về tổ chức hoạt động của phong trào cách mạng, cô đã viết bài lên án bọn thực dân Pháp và làm mấy bài thơ tuyệt mệnh để lại, rồi dùng dải lụa thắt cổ chết. Bọn quan lại đem chôn cô ở bãi tha ma bên ngoài thành Quảng Trị, gần sân vận động (sau này là trường Trung Học Nguyễn Hoàng) nơi đã chôn xác ông Nguyễn Văn Nghĩa, em nuôi của cụ Võ Bá Hạp. Báo Tiếng Sông Hương, xuất bản ở Dallas, Texas (Hoa Kỳ), năm 1994, Lệ Vân có trích dẫn 3 bài thơ của cô Lê Thị Đàn bằng Hán văn và Đặng Thái Mai đã dịch ra Việt văn như sau: 1. (Âm Hán): Huyết khô, lệ kiệt, hận nan tiêu, Trường đoạn Hương Giang dạ nhật trào. Ngô đảng tảo thanh cừu lỗ nhật, Phần tiền nhất chỉ vị nùng thiêu. (Dịch ra Việt văn): Huyết lệ dầu khan giận chưa sờn, Chiều hôm tê tái nước sông Hương. Nhóm ta khi quét xong quân giặc, Trước nấm mồ em đốt bó nhang.
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 39 2. (Âm Hán): Trùng trùng yểm lệ kiến Trưng Vương, Đề huyết thư quyên chỉ tự thương. Bằng tạ Phật linh như tái thế, Nguyện thân thiên tý tý thiên sang. (Dịch ra Việt văn): Suối vàng gạt lệ gặp bà Trưng, Máu thắm hồn quyên khóc thảm thương. Lạy Phật thân này còn hóa kiếp, Tay xin nghìn cánh cánh nghìn thương. 3. (Âm Hán): Thê lương ngục thất mệnh chung thi, Hải khoát sa không khốc tự tri. Tử quốc đáo nùng thiên hữu phận, Thương tâm quan lũ kỳ nam nhi. (Dịch ra Việt văn): Lạnh lùng cảnh ngục lúc quyên sinh, Biển rộng đồng không mình biết mình. Chết với nước non em tốt số, Chạnh lòng tủi hổ lũ trâm anh. Theo lời cụ Võ Như Nguyện cho biết thì khoảng 1930, lúc đó cụ Phan Bội Châu còn bị an trí tại Bến Ngự Huế, cụ đã xây một bia kỷ niệm cô Lê Thị Đàn ngay trong vườn nhà cụ ở. Cụ thường gọi cô là “Bà Ấu Triệu” (bà Triệu nhỏ). Trước năm 1975, nhiều lần chúng tôi đến thăm anh Phan Thiệu Tường, cháu nội cụ Phan Bội Châu, tôi cũng có đọc được mấy câu đối cụ Phan làm bằng chữ Hán và chữ Việt, và bài văn khắc trên bia của cô Lê Thị Đàn như sau (trong sách TỰ PHÁN viết về cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, cụ Phan Bội Châu cũng có nói đến chuyện này): Chữ Nho: 1. Sinh nê bất nhiếm hoa quân tử, Bão phác vô ngôn thạch khả phân.
40 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng (Gần bùn không bẩn hoa quân tử, Ôm ngọc làm thinh đá hiền nhân) 2. Tâm khả huyền ư thiên nhật nguyệt, Thân tàng giá dữ Việt giang sơn. (Tấm thân trót gả giang sơn Việt, Tấc dạ soi chung nhật nguyệt trời) Chữ Nôm: 1. Tơ nhân sợi nghĩa dây lưng trắng, Dạ sắt lòng son nét màu hồng. 2. Câu đối mặt này còn thiếu chữ, Dám xin đồng chí góp vài lời. Văn bia: (Phiên âm Hán Việt) “Nữ liệt sĩ bi đình, Nữ đồng bào Ấu Triệu liệt nữ Lê Thị Đàn chi thần, Thừa Thiên phủ, Thế Lại Thượng xã. Duy Tân (Canh Tuất) dĩ quốc sự án hạ ngục, khảo tấn nghiêm cực, thống khổ vạn trạng, nhiên bất khuất. Thị niên tam nguyệt thập lục nhật tự tuẫn dĩ cố, chư đồng chí đa thoát võng giả. Ô hô! Liệt hỷ! Minh viết: Thân bất khả lục, chí bất khả nhục, đao nhân nhi tử, Trưng Triệu nhi tục, kỳ tần giả anh, kỳ mật giả danh, nữ kiệt, nữ kiệt, hà nhạc nhật tinh. Liệt nữ tuẫn nghĩa hận chí thập bát niên nguyệt nhật” (Quốc ngữ): “Bia cô Ấu Triệu liệt nữ Người xã Thế Lại Thượng, phủ Thừa Thiên. Năm Canh Tuất đời Duy Tân vì án quốc sự, bị khảo tấn hết sức khổ nhưng trước sau không khai một lời. Ngày 16 tháng 3 năm ấy tự tử ở trong ngục, các người đồng chí nhờ đó được vô sự. Than ôi! Nghĩa liệt! Lời minh rằng:
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 41 Sống vì nước chết vì nòi, Bà Trưng Bà Triệu xưa này mấy ai” Trong sách Tự Phán có ghi lại một bài thơ của cụ Phan Bội Châu “Đề bia Ấu Triệu” như sau: Lọ là các cậu, lọ là ông, Ai bảo rằng thư chẳng phải hùng. Miệng có chào lòng quên sấm sét, Gan đành bỏ mạng tiếc non sông. Dây lưng một giải bền hơn sắt, Nét máu ngàn thu đậm với hồng. Ai hỏi biết chăng thời chớ hỏi, Hỏi hòn đá nọ biết hay không? Hôm cô Lê Thị Đàn tự tử thì cụ Võ Bá Hạp và cụ Đỗ Đăng Tuyển, bạn đồng chí trong tổ chức Việt Nam Quang Phục Hội cũng đang bị giam giữ tại nhà lao Quảng Trị, nghe tin đó, các cụ rất xúc động và cảm thương cho người nữ đồng chí. Khoảng tháng 6 năm Ất Dậu (1945), Bảo Đại thứ 20, sau khi Nhật đảo chính Pháp tại Đông Dương, vua Bảo Đại tuyên bố độc lập, nội các Trần Trọng Kim ra đời, các ông Nguyễn Đôn Dư, Nguyễn Đôn Duyến cùng toàn thể thân hào nhân sĩ và dân chúng xã Thế Lại Thượng đã tổ chức lễ truy điệu và lập bài vị thờ cô Lê Thị Đàn tại đình làng. Cụ Võ Bá Hạp được mời “đề thần chủ” tức là lấy bút chấm một nét cuối cùng trên chữ thần chủ của linh vị người chết. Đó là một hình thức rất trang trọng và cũng rất danh dự cho người được mời đảm trách vai trò đó. Cô Lê Thị Đàn chết rồi nhưng vong hồn cô rất linh thiêng, thường theo dõi phò hộ cho anh em đồng chí cũng như con cháu các vị anh hùng cách mạng khi hữu sự. Cụ Võ Như Nguyện có kể lại, năm 1954-55, khi cụ đang giữ chức Tỉnh Trưởng Bình Định. Một hôm, anh em canh gác, phục vụ trong Tòa Hành Chánh và Tư Dinh Tỉnh Trưởng đang cầu cơ thì Cô Lê Thị Đàn nhập và xưng là Ấu Triệu. Mọi người không biết Ấu Triệu là ai, bèn mời cụ Tỉnh Trưởng đến xem. Cụ Võ Như Nguyện liền đến đó và khấn: “Thưa cô, cháu là Võ Như Nguyện, trưởng nam của cụ Võ Bá Hạp, xin chào cô. Nay cô đã về đây, có điều gì xin cứ dạy bảo”. Sau đó cô đã giáng cơ cho biết “có kẻ tiểu nhân đang âm
42 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng mưu hãm hại, phải rời bỏ nơi này ngay”. Nghe lời cô, cụ bèn làm đơn xin từ chức Tỉnh Trưởng Bình Định và trở về Huế ứng cử Dân Biểu Quốc Hội Lập Hiến 23-10-1955. Quả thật sau đó, cụ gặp rất nhiều âm mưu hãm hại cụ, nhưng cụ vẫn được bình yên, đã thoát nhiều hoạn nạn và sống bình yên cho đến bây giờ... Năm 1957, cụ Lê Ngọc Nghị (bạn đồng chí cùng thời với cụ Võ Bá Hạp), ông Lê Oanh (cháu cô Lê Thị Đàn), ông Nguyễn Văn Lành (cháu của ông Nguyễn Văn Nghĩa), cụ Võ Như Nguyện (con cụ Võ Bá Hạp) và một số thân nhân của các bậc tiền bối cách mạng, đã từ Huế ra Quảng Trị tìm mộ của cô Lê Thị Đàn và ông Nguyễn Văn Nghĩa nhưng đã gần nửa thế kỷ rồi (1910-1957), trải qua nhiều biến cố chiến tranh, mồ mả thất lạc nên không làm sao tìm được dấu vết. MỐI TÌNH TRI KỶ TRONG NHÀ TÙ GIỮA CỤ ĐỖ ĐĂNG TUYỂN VÀ CỤ VÕ BÁ HẠP Cụ Đỗ Đăng Tuyển biệt hiệu Hy Đào, bí danh Sơn Tẩu người làng Ô Gia, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam nên cũng gọi là cụ Ô Gia. Năm 1882 (Nhâm Ngọ), làm Quản Hiệu Sơn Phòng tỉnh Quảng Nam. Năm 1885 (Ất Dậu), sau vụ kinh đô Huế thất thủ (thời Hàm Nghi), cụ là một người có mưu lược và rất tích cực trong các phong trào Văn Thân và Cần Vương (1885, 1886) tại Quảng Nam. Phong trào thất bại, cụ ẩn lánh nơi này nơi khác. Vào giữa năm 1898 (Mậu Tuất), Thành Thái Thứ 10, cụ đã bí mật liên lạc với cụ Võ Bá Hạp để phối hợp hoạt động cho phong trào cách mạng chống Pháp. Năm 1905 (Ất Tỵ), Thành Thái thứ 17, cụ đã tham gia Phong Trào Đông Du và Duy Tân tại miền Trung. Năm 1906 (Bính Ngọ), cụ Võ Bá Hạp bị Pháp bắt thì cụ Đỗ Đăng Tuyển vẫn còn tiếp tục hoạt động bí mật, ngoài vòng pháp luật. Bốn năm sau, vào năm 1910 (Canh Tuất), Duy Tân thứ tư, cụ Đỗ cũng bị bắt tại Quảng Nam và bị dẫn đi các tỉnh miền Trung để đối chất tại dinh Án Sát tỉnh với những người khác. Tại lao xá Quảng Trị, hai cụ Võ và Đỗ cùng bị biệt giam mỗi người một nơi. Cả hai đều bị tra khảo cực hình, nhưng có
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 43 điều lạ là lời khai không mâu thuẫn nhau và cũng không liên lụy gì đến người khác. Cả hai cụ đều trả lời: “Không hề quen biết gì với nhau” nên thực dân Pháp không tìm ra được manh mối nào. Dù vậy, cụ Đỗ Đăng Tuyển cũng bị án 12 năm tù về tội: “Thông giao với ngoại quốc để chống chính phủ bảo hộ”. Cụ Đỗ Đăng Tuyển bị đưa đến nhà tù Lao Bảo, giáp giới Quảng Trị và Lào, là nơi giam giữ những người trọng án từ 10 năm trở lên. Mùa Hè rất nóng, mùa Đông rất lạnh, khí hậu khắc nghiệt lại thêm bọn cai tù hành hạ, đối xử quá dã man, nên nhiều người không chịu nỗi đã bỏ xác tại đây. Lúc khởi hành từ Quảng Trị đi Lao Bảo, cụ Võ Bá Hạp có làm bài thơ tống biệt trong đó có hai câu: Văn chi Lao Bảo ly mị hương, Ngã vi Lao Bảo du hào tẩu. (Người ta cho rằng chốn Lao Bảo là nơi ma thiêng nước độc, Tôi cho rằng đó là nơi anh hùng hào kiệt đến vui chơi) và: Đãn khuynh Hãn thủy tác biệt tửu, Cộng tả bình sinh khối lỗi chi hung hoài. (Tôi xin nghiêng dòng sông Thạch Hãn, lấy nước đó làm rượu tiễn biệt, Và đồng thời bày tỏ nỗi lòng trong sáng, cũng như mối u hoài chất chứa suốt đời tôi). (Cụ Võ Như Nguyện, người viết gia phả họ Võ cho biết toàn văn bài này bị thất lạc, chỉ còn nhớ được mấy câu mà thôi). Đến Lao Bảo được ít lâu, cụ Đỗ Đăng Tuyển đã tuyệt thực và từ trần ngày 4-4-1911 (tức mồng 7 tháng 3 năm Tân Hợi), niên hiệu Duy Tân thứ 5. Trong sách “Tự Phán”, cụ Phan Bội Châu có bài thơ thương tiếc cụ Đỗ như sau: Khóc Ô Gia Đỗ Tuyển Đau đời nên phải nhớ tiên sinh, Ưu quốc xưa nay bậc lão huynh. Tay trắng đỡ liều vai gánh nặng, Lòng son đưa trước bọn đầu xanh.
44 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Cụ Ô Gia Đỗ Đăng Tuyển.
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 45 Bội Châu không bác e vô sự, Lao Bảo nhờ anh mới có danh. Tiếc bác lấy gì an ủi bác, Vài chung rượu lạt máu thần minh. NHỮNG KẺ CHẠNH LÒNG ĐỐI VỚI NGƯỜI TÙ YÊU NƯỚC Khi lính dẫn cụ Võ Bá Hạp ra tới Đồng Hới (Quảng Bình), trình diện tại dinh Án Sát để đối chất, cung khai thì cụ đã kiệt sức vì đi đường xa nhọc mệt và bị hành hạ, đánh đập quá sức chịu đựng. Có một vị quan tòng sự tại dinh Án Sát tên là Thể Ngô, hiệu Tiểu Mai, đậu Cử Nhân (bố vợ của ông Nguyễn Đôn Duyến, Đại Biểu Chính Phủ tại miền Trung thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm) là người thanh liêm, chính trực, thấy vậy liền chạy đến đỡ cụ dậy và ôn tồn nói: “Quan huynh có nhớ tôi không? Tôi nhận thấy quan huynh tiều tụy lắm rồi nên đã trình với quan Án Sát cho phép tôi nhận lãnh về nhà để quan huynh tĩnh dưỡng điều trị, đến khi khỏe mạnh hẳn sẽ lấy cung khai sau. Vậy quan huynh chớ câu nệ, xin vui lòng cho vợ chồng tôi có dịp phục vụ quan huynh...”. Cụ Võ Bá Hạp sợ liên lụy cho người tốt bụng đó nên đáp lại: “Xin cảm tạ, tôi không hề quen biết ông, xin ông chớ nhọc lòng... Xin cứ lấy khẩu cung, tôi chẳng việc gì đâu...”. Ông Thể Ngô vẫn năm lần bảy lượt khẩn khoản mà cụ Võ Bá Hạp vẫn cương quyết chối từ. Ông Án Sát thấy vậy, liền đến an ủi cụ: “Sức khỏe của ông suy nhược lắm, tinh thần ông không được tỉnh táo, chưa có thể hỏi cung được. Vậy ông nên nghe lời ông hậu bổ Thể Ngô đi; lúc nào sức khỏe phục hồi, tinh thần minh mẫn sẽ hay...”. Cuối cùng, cụ Võ Bá Hạp cũng đã nhận lời. Khi về đến nhà, thấy cảnh mái tranh vách đất, đời sống đạm bạc của ông hậu bổ Thể Ngô, cụ rất cảm động. Chủ nhà lại nhường chỗ tốt nhất cho cụ nằm. Sẵn có túi tiền do thân nhân và đồng bào ủng hộ trên đường hoạn nạn, cụ trao hết cho bà chủ nhà và nói: “Số tiền do thân nhân, bạn bè giúp, tôi chẳng tiêu xài chi cả, xin bà lấy đó mà lo cơm cháo cho chúng tôi”. Hơn một tháng tại nhà ông hậu bổ, sức khỏe đã phục hồi, cụ Võ Bá Hạp phải ra trình diện trước dinh Án Sát để cung khai. Sau đó thì được giải giao cho tỉnh Quảng Ngãi. Ông bà Thể Ngô ra tiễn cụ Võ lên
46 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng đường và cũng trao lại cho cụ y nguyên túi tiền kia. Cụ lấy ra một số để trả các phí tổn và đền đáp công ơn nhưng vợ chồng ông hậu bổ không chịu nhận... Các chính trị phạm tại lao xá Quảng Ngãi gồm những thành phần trí thức: Tiến Sĩ, Cử Nhân, Tú Tài v.v... đều phải đi đắp đường, đập đá, lao động khổ sai... Đồng bào có lòng thương hay đem nước uống, thức ăn để bên vệ đường cho tù dùng. Một hôm, tên Huynh, đội khố xanh coi nhà lao, thấy vậy bèn lấy gậy đập bể các vò nước và đổ các thức ăn đi. Vợ Huynh thấy chồng có thái độ bất nhân như thế, không nhịn được bèn chạy đến xé áo chồng, giật cái phù hiệu “đội khố xanh” vứt xuống đất và mắng: “Quý cụ đây đáng là bậc cha chú, sao mày dám phạm thượng như vậy? Mầy không đáng làm người nữa, mày không xứng đáng là chồng tao...”. Kể từ đó, tên Huynh tỏ ra hối hận, không còn hống hách nữa... Cụ Dương Đình Hòe, nhân viên tại Tòa Công Sứ Quảng Ngãi, có ý muốn giúp cụ Võ Bá Hạp được bớt phần nhọc nhằn, bèn đề nghị với tên Công Sứ người Pháp là Nordemand mời cụ dạy chữ Hán cho y nhưng cụ từ chối và nói rằng: “Tôi là tù chính trị, tôi không phải là thầy giáo”. Viên công sứ lại nói: “Vậy ông có cần tôi giúp gì không?”. Cụ đáp: “Tôi chẳng cần ông giúp gì nhưng ông là quan cai trị, chắc ông thừa hiểu chế độ tù chính trị là thế nào rồi”. Từ ngày ấy, các cụ được đối xử tử tế hơn, ban đêm không bị cùm chân... CỤ TRẦN TRINH LINH (NGŨ LANG) VÀ CỤ VÕ BÁ HẠP KẾT THÔNG GIA Ở TRONG TÙ Cụ Trần Trinh Linh (trong sách Tự Phán của cụ Phan Bội Châu viết là cụ Ngũ Lang), biệt tự Phi Hùng, hiệu Long Nguyên, con thứ năm của Lễ Bộ Thượng Thư Trần Chỉ Tín (tự Như Phu, hiệu Mộng Sơn), người làng Minh Hương, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên (gần Bao Vinh, Huế). Học lực xuất chúng nhưng bỏ cử nghiệp đi theo con đường cách mạng, bị bắt năm 1906 cùng một lượt với cụ Võ Bá Hạp và bị giam tại lao xá Quảng Ngãi. Nhờ gia đình có thế lực tại triều đình Huế lúc bấy giờ vận động nên được ân giảm và được về trước cụ Võ Bá Hạp 2 năm. Lúc bấy giờ cả hai cụ đều đã có vợ mà chưa có con nên có hứa với nhau rằng, nếu sau này về được
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 47 mà có con trai, con gái thì sẽ kết tình thông gia với nhau. Cụ Trần Trinh Linh qua đời năm 1913, trước khi người con gái là Trần Thị Mai Khôi sinh ra (16-2-1914). Năm đó, cụ Võ Bá Hạp còn ở trong tù. Bà này là vợ của cụ Võ Như Nguyện, trưởng nam của cụ Võ Bá Hạp. 5. CÁC BIẾN ĐỘNG Ở MIỀN TRUNG SAU KHI CỤ VÕ BÁ HẠP BỊ BẮT: VỤ KHÁNG THUẾ HAY CÒN GỌI LÀ TRUNG KỲ DÂN BIẾN (1908) Trong khi cụ Võ Bá Hạp và các đồng chí ở Huế bị bắt thì những người còn lại ở các tỉnh miền Trung vẫn tiếp tục hoạt động. Do ảnh hưởng của phong trào Duy Tân và Việt Nam Quang Phục Hội chủ trương duy tân, cải cách, đổi mới, chống cường quyền, chống sưu cao thuế nặng..., chỉ trong vòng hai năm sau, 1908 đã xảy ra một cuộc tranh đấu lớn tại các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi và Thừa Thiên v.v... Hàng ngàn người kéo nhau đi biểu tình, khởi đầu từ huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam với nhóm chủ xướng là Trương Hoành, Hứa Tạo, Lương Châu... Về sau lan dần đến nhiều phủ, huyện, tỉnh miền Trung như Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Thừa Thiên, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa v.v... Dân chúng kéo đến bao vây các cơ quan chính quyền huyện, phủ, tỉnh và Tòa Công Sứ Pháp, yêu cầu trừng trị những quan chức hà hiếp, bóc lột dân, yêu cầu giảm thuế v.v... Đàn ông cắt tóc ngắn, mặc áo ngắn (áo cộc), đội nón lá, mang theo gạo, thức ăn và nồi niêu để nấu ăn tại chỗ. Gặp ai đi đường mặc áo dài, để tóc dài thì họ xúm nhau lại cắt áo, cắt tóc cho ngắn... Cuộc tranh đấu kéo dài nhiều ngày, người Pháp đã gặp rất nhiều khó khăn. Họ vừa hứa hẹn vừa dùng mưu kế lừa gạt để cô lập những người cầm đầu phong trào, sau đó phải dùng đến quân đội đàn áp mới giải tán được đám dân biểu tình. Những người cầm đầu phong trào hay các nhà trí thức, khoa bảng Nho học tham gia phong trào đều bị tù đày, bị xử tử. Giáo Sư Trần Gia Phụng, tác giả “Trung Kỳ Dân Biến” đã tổng kết vụ này có tất cả 14 người bị án tử hình: - Trần Thuyết bị xử tử ngày 18-4-1908 tại Tam Kỳ, Quảng Nam. - Phan Long Bằng, Nguyễn Khiêm, Phan Vinh bị xử tử
48 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng vào tháng 4-1908 tại Bình Định. - Ông Ích Đường bị xử tử ngày 11-5-1908 tại Hòa Vang, Quảng Nam. - Nguyễn Cương, Nguyễn Dực, Phan Tham, Trần Phước bị xử tử tháng 5-1908 tại Duy Xuyên, Quảng Nam. - Lê Khiết, Nguyễn Bá Loan bị xử tử tháng 6-1908 tại Quảng Ngãi. - Trần Quý Cáp bị xử tử ngày 15-6-1908 tại Diên Khánh, Khánh Hòa. - Nguyễn Hàng Chi, Nguyễn Khắc Lập bị xử tử tháng 6-1908 tại Hà Tĩnh. (Xem “Trung Kỳ Dân Biến” của Trần Gia Phụng, trang 168). Cũng theo Giáo Sư Trần Gia Phụng thì ba nhân vật được nhiều tác giả cho là chủ chốt trong vụ này là: Phan Chu Trinh, Trần Quý Cáp và Huỳnh Thúc Kháng, khi xảy ra vụ này đang ở xa, không hề hay biết. Ông viết: “Thông thường, những nhà viết sử Việt Nam cũng như Pháp đều cho rằng Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp là những lãnh tụ chính của Trung Kỳ dân biến 1908. “Đành rằng biến cố này là kết quả tất yếu của phong trào Duy Tân vì hoạt động của phong trào đã nâng cao dân trí, mở mang hiểu biết của dân chúng nhờ đó người dân tự thấy quyền lợi cũng như trách nhiệm của mình rồi nổi lên đòi quyền sống. Thật sự khi xảy ra dân biến, Phan Chu Trinh đang ở Hà Nội, Trần Quý Cáp ở Khánh Hòa, Huỳnh Thúc Kháng đang lo lập thương hội ở Hội An. Cả ba người đều hoàn toàn không hay biết cuộc dân biến đã đột khởi. Họ không phải là những kẻ thực sự đạo diễn cuộc dân biến để hướng nó theo mục đích đã định vì thời gian còn quá sớm so với chương trình dài hạn của ba người” (Trần Gia Phụng, “Trung Kỳ Dân Biến” trang 52, tác giả tự xuất bản Toronto, Canada, 1996). Một vài vị có tên tuổi trong phong trào Duy Tân, bạn của cụ Võ Bá Hạp, đã bị bắt sau vụ kháng thuế 1908 như: - NGUYỄN THÀNH (tức Nguyễn Hàm) tự Triết Phu, hiệu Tiểu La, sinh năm 1863 tại làng Thạnh Mỹ, phủ Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam, từng làm Tán Tương Quân Vụ trong đội quân Cần Vương (1885) của Nguyễn Duy Hiệu. Năm 1904, cùng Đỗ Đăng Tuyển, Phan Bội Châu lập Duy Tân Hội... Năm
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 49 1908, sau vụ “Trung Kỳ Dân Biến”, ông bị Pháp bắt đày đi Côn Lôn và từ trần tại đây năm 1910. - TRẦN QUÝ CÁP tên thật là Trần Nghị, tự Dã Hàng và Thích Phu, hiệu Thai Xuyên, sinh năm Canh Ngọ (1870) tại thôn Thai La, làng Bất Nhị, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, đỗ Tiến Sĩ năm Giáp Thìn (1904), cùng Phan Chu Trinh và Huỳnh Thúc Kháng hoạt động cho phong trào Duy Tân và Việt Nam Quang Phục Hội. Năm 1906, làm Giáo Thụ phủ Thăng Bình, Quảng Nam, sau đổi vào huyện Tân Định, tỉnh Khánh Hòa, bị kết tội có liên can trong vụ chống thuế 1908 và bị xử tử tại đây vào 15 tháng 6-1908. - HUỲNH THÚC KHÁNG tên thật là Huỳnh Hanh, tự Giới Sanh, hiệu Mính Viên, sinh năm Bính Tý (1876) tại làng Thạnh Bình, phủ Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam, đỗ Cử Nhân năm Canh Tý (1900), đỗ Tiến Sĩ năm Giáp Thìn (1904), không ra làm quan và hoạt động cho phong trào Duy Tân. Nhân vụ kháng thuế 1908, bị bắt và bị đày đi Côn Lôn cho đến năm 1921 mới được tự do. Năm 1926 được bầu làm Viện Trưởng Viện Trung Kỳ Dân Biểu đến 1928 thì từ chức. Năm 1927 xuất bản báo Tiếng Dân tại Huế cho đến 1943 bị đình bản. Năm 1946, cụ được Hồ Chí Minh mời làm Bộ Trưởng Nội Vụ tại Hà Nội và mất ngày 21-7-1947 tại Quảng Ngãi. - PHAN CHU TRINH tự là Tử Can, hiệu Tây Hồ, biệt hiệu Hy Mã, sinh năm Nhâm Thân (1872) tại làng Tây Lộc, huyện Tiên Phước, phủ Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam, đỗ Cử Nhân năm Canh Tý (1900) mới 18 tuổi, đỗ Phó Bảng năm Tân Sửu (1901), mới 19 tuổi. Năm 1903 được bổ nhiệm Thừa Biện bộ Lễ tại Huế, sau đó từ chức đi làm cách mạng. Ông đọc nhiều sách của các nhà cách mạng Trung Hoa là Khương Hữu Vi và Lương Khải Siêu, đọc các sách dịch từ tiếng Pháp của Montesquieu, Votaire, Diderot... Ông cổ võ cho các tư tưởng dân chủ, dân quyền rất sớm ở Việt Nam. Nhân vụ kháng thuế 1908, ông bị bắt và Pháp định lên án xử tử ông nhưng nhờ Hội Nhân Quyền ở Pháp can thiệp nên ông bị đày đi Côn Lôn, đến năm 1911, được sang Pháp. Năm 1925 ông về nước và qua đời năm 1926 tại Sài Gòn. - ĐẶNG NGUYÊN CẨN hiệu Thai Sơn, sinh năm 1867 tại làng Lương Điền, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, đậu