The words you are searching are inside this book. To get more targeted content, please make full-text search by clicking here.
Discover the best professional documents and content resources in AnyFlip Document Base.
Search
Published by lanthicung, 2023-06-16 22:46:36

ThuyenAiDoiBenVanLau web

ThuyenAiDoiBenVanLau web

100 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng 3. CÁC LINH MỤC ĐÓNG VAI TRÒ QUAN TRỌNG TRONG VỤ THẢM SÁT 8-9-1885 a. Cha sở Dương Lộc, Linh Mục Inhaxiô Nguyễn Ngọc Tuyên: Sinh năm 1829 tại xã Phụ Việt, tỉnh Quảng Bình, con ông Nguyễn Ngọc Nhung (thầy thuốc Bắc). Linh Mục Nguyễn Ngọc Đằng là em ruột ông nội cha Tuyên. Vốn bản chất thông minh, thuở nhỏ ngài học tại Tiểu Chủng Viện Kẻ Sen (Bắc Quảng Bình), học trò của Cố Lý (Linh Mục Galy). Từ 15-3-1847 đến 14-8-1853, trong 6 năm ngài du học tại chủng viện Thánh Phanxicô Xavie ở Pénăng (Mã Lai). Từ tháng 4-1858, ngài đi theo Đức Cha Pellerin (Phan) trong ba năm, khi thì ở Singapor khi thì ở Hongkong để học Thần Học. Ngày 9-5-1862, Đức Cha Pellerin sai ngài về nước để tiếp tế, liên lạc với các cha và giáo dân đang trốn tránh. Ngài mang theo một số vàng khởi hành ngày 7-7-1862 về Sàigòn. Cùng đi theo ngài có ba Linh Mục ngoại quốc là Desvaux, Roy và Cros (Cố Lầu). Sau khi ký hòa ước với Pháp, vua Tự Đức bãi bỏ lệnh cấm đạo nên ngài trở về Huế và chịu chức năm ngày 19-12-1863, chức Sáu ngày 23- 1-1864 tại Kim Long. Tháng 3-1864, ngài tháp tùng Đức Cha Sohier (Bình) qua Vatican, yết kiến Đức Giáo Hoàng Pio IX và ở lại đó một tháng rồi qua Pháp. Thầy Nguyễn Hữu Thơ cũng có mặt trong chuyến đi này. Ngài học bổ túc tại Đại Chủng Viện Mans (Pháp), được Đức Cha Sohier phong chức Linh Mục ngày 17-12-1864. Ngài tiếp tục học tại Mans cho đến 1865 mới trở về Huế. Cha Tuyên là một nhà thông thái, biết nhiều thứ tiếng như Pháp, Anh, Trung Hoa, chữ Hán, Latinh lại có tài vẽ đẹp, đến đâu thấy phong cảnh lạ hoặc hình ảnh nào đáng ghi nhớ, ngài đều vẽ lại trong một tập Album de croquis (Album de dessins) những nét sống động dưới ngòi bút tài tình của ngài. Nhân dịp thọ phong Linh Mục của ngài, các bạn chủng sinh và ân nhân ở Pháp đã góp tiền mua tặng ngài một chén thánh quý giá. Chén thánh bằng vàng, pha bạc và đồng gồm có ba tầng, chạm trỗ rất công phu, kiểu thức nghệ thuật của tiền bán thế kỷ 19. Dưới chân chén thánh có khắc chữ: “IGNATIO MARIOE TUYÊN-UT IN DOMINO MEMOR SIT-MAJ-AT MIN-CENOMANENSIS”. Tháng 8-1865, cha Tuyên rời đất Pháp, sau mấy tháng lênh đênh trên mặt biển, ngài đã đến Huế vào tháng 2 năm sau


Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 101 (1866) cùng với Đức Cha Sohier (Bình). Sau đó ngài tháp tùng Đức Cha đi kinh lý các giáo xứ trong địa phận. Ngài được cử làm chánh xứ Thanh Hương, Châu Mới, Phủ Cam (kiêm Dòng Mến Thánh Giá). Ngài được vua Tự Đức mời dạy Pháp văn cho các hoàng tử và con các quan và dạy tại trường thông ngôn Thương Bạc, gần cửa Thượng Tứ, Huế và làm việc cho phái đoàn Việt Nam họp hòa hội với Pháp, rồi được vua Tự Đức cử làm quan Tham Biện ở Hải Phòng. Không màng danh lợi, năm 1880, ngài xin từ chức để trở về đời sống Linh Mục, phục vụ Giáo Hội. Từ 1880 đến 1885, Đức Cha Gaspar (Lộc) đã cử ngài lần lượt phụ trách các giáo xứ Thợ Đúc, An Truyền (Thừa Thiên) và Dương Lộc (Quảng Trị). b. Cha sở Đại Lộc, Linh Mục Inhaxiô Trần Ngọc Vịnh: Sinh năm 1838 tại làng Mậu Tài, huyện Phú Vang tỉnh Thừa Thiên, con quan Tham Tri Trần Ngọc Giao (một chức quan đứng hàng thứ nhì sau Thượng Thư), người ngoại giáo; mẹ là người Công Giáo, gốc Thanh Hương tức giáo xứ Nhứt Đông (huyện Hương Điền, Thừa Thiên). Người mẹ bỏ đạo, làm vợ bé của quan Tham Tri sinh ra cha Vịnh và bà Trần Thị Phước (Bà Madalêna Trần Thị Phước lấy chồng là Phaolô Nguyễn Văn Cẩn sinh được 4 trai: Linh Mục Nguyễn Văn Chính, Linh Mục Nguyễn Văn Chuyên, Linh Mục Nguyễn Văn Mầu và ông Nguyễn Văn Trí. Ông Trí là thân sinh của Linh Mục Nguyễn Văn Huệ). Lúc nhỏ cậu Vịnh theo cha ra miền Bắc vì quan Tham Tri làm việc ở ngoài đó. Khi quan Tham Tri mất, bà Tham đem con về Huế. Vì hoàn cảnh khó khăn nên vào ở tại chùa Báo Quốc. Đức Cha Sohier (Bình) biết bà là người Công Giáo nên nhờ người giúp đỡ và khuyên bà trở lại đạo. Bà đem các con về ở Gia Hội. Trong thời cấm đạo, Linh Mục Mactinô Nguyễn Văn Thanh (1820-1869) cải trang làm người gánh nước thuê ở phố Gia Hội, có quen biết gia đình bà Tham Giao. Ngài thường liên lạc hướng dẫn mẹ con bà về mặt đạo đức. Linh Mục Đặng Đức Tuấn trong thời gian ở Huế giúp vua Tự Đức cũng có ghé thăm bà.


102 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Vì là con quan nên cậu Vịnh được vào học trường Quốc Tử Giám, rất giỏi chữ Nho. Năm 18 tuổi cậu Vịnh được Linh Mục Nguyễn Văn Mỹ (1823-1858) lúc đó ở Dương Sơn dạy giáo lý và rửa tội. Sau một thời gian, quan Phủ Doãn (Tỉnh Trưởng) Thừa Thiên biết được liền ra lệnh tìm bắt cậu. Ngày 29-4-1859, lính vào nhà lục xét nhưng cậu Vịnh đã trốn đi xa, chúng bắt bà mẹ cậu, đánh đập dã man và giam giữ mấy tháng rồi tha về. Sau khi chịu phép rửa tội, cậu Vịnh xin đi tu và được Đức Cha Sohier (Bình) gởi qua học tại chủng viện Pénăng (Mã Lai) từ 24-04-1864 đến 17-3-1870. Tại đây, Thầy Vịnh vừa học vừa làm Giáo Sư dạy Hán Văn cho các Thầy khác. Sau đó trở về nước và chịu chức Cắt Tóc tại Ba Trục (1872), năm 1873 chịu chức Bốn tại Kim Long rồi chịu chức Năm, chức Sáu vào các năm 1873, 1874. Ngày 18-12-1875, Thầy Vịnh chịu chức Linh Mục tại Huế và được về làm cha xứ Ngọc Hồ (Hương Trà, Thừa Thiên). Chị của ngài lấy chồng người làng Ngọc Hồ nên mẹ của ngài cũng ở đây với gia đình chị. Sau khi mẹ qua đời, cha Vịnh được thuyên chuyển về làm cha xứ Dương Lộc (ông Dương Văn Doan là thân phụ của hai Linh Mục F.X Dương Văn Nguyên và Malachias Dương Văn Minh lúc đó ở giúp việc cho ngài). Trước 1885, cha Vịnh về Đại Lộc và cha Nguyễn Ngọc Tuyên ở Huế ra thay cha Vịnh ở Dương Lộc. Cũng như cha Tuyên, cha vịnh giỏi tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, tiếng Tàu, tiếng Nhật, chữ Nho, tiếng Latinh v.v... và cũng nổi danh là Linh Mục thông thái thời bấy giờ, rất được nhiều người kính nể. c. Cha sở Nhu Lý, Linh Mục Gioan Đoạn Trinh Khoan (họ Đoàn giọng địa phương đọc là Đoạn): Sinh năm 1829 tại Kim Long, nhưng cha mẹ ngài gốc Vân Dương, Thừa Thiên. Cụ thân sinh là Đoạn Trinh Cung bị chết trong nhà giam vì tội theo đạo, chú ruột là thánh tử đạo Linh Mục Gioan Đoạn Trinh Hoan. Ngài được chú cho đi tu, nhập chủng viện Pénăng ngày 18-6-1845, đến năm 1854, sau 9 năm mới về nước và chịu các chức nhỏ năm 1858. Ngày 3-1-1861 ngài đang ở với Linh Mục Hoan (Cha thánh tử đạo) tại nhà thờ Sáo Bùn (Quảng Bình) thì bị bắt, bị tra tấn đến thọ bệnh.


Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 103 Cha Gioan Đoạn Trinh Hoan (chú ruột) tử đạo ngày 26-5-1861. Sau khi vua Tự Đức ký hòa ước với Pháp (1862), bãi bỏ lệnh cấm đạo thì cha Khoan được chịu chức Năm 10-5-1863 và bốn ngày sau, 14-5-1863, chịu chức Sáu. Ngày 30-5-1863, ngài chịu chức Linh Mục tại Kim Long (Huế). Trong một tháng chịu luôn ba chức. Ngài lần lượt làm cha phó Bố Liêu (Quảng Trị), 1874, Cha Sở Trí Bưu (Cổ Vưu), Quảng Trị, 1880 cha sở Thanh Hương (Thừa Thiên) trước 1885, cha sở Nhu Lý (Quảng Trị) quê hương của Đức Giám Mục Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền (Giám Mục Sàigòn, Đà Lạt). Tháng 9-1885, Nhu Lý bị tấn công, Ngài cùng cha phó là J.B Lê Văn Huấn và 65 nữ tu Mến Thánh Giá cùng giáo dân chạy về Dương Lộc. d. Cha Phó Nhu Lý, Linh Mục Gioan Baotixita Lê Văn Huấn: Sinh 1840 tại làng An Vân, Hương Trà, Thừa Thiên. Thân sinh là cụ Lê Văn Khuê, Lý Trưởng, bị lưu đày ở Lạng Sơn và chết trong tù vì đạo (1861). Cha Huấn là học trò của cha Mactinô Nguyễn Văn Thanh (1820-1869), sáu năm du học tại chủng viện Pénăng (từ 24-4-1864 đến 17-3-1870). Về nước, năm 1873 chịu phép Cắt Tóc do Đức Cha Sohier (Bình), sau đó chịu các chức nhỏ. Ngày 8-3-1879 chịu chức Sáu do Đức Cha Pontiviane (Phong), chịu chức Linh Mục ngày 25-3-1882 tại nhà thờ Thợ Đúc Huế do Đức Cha Gaspar (Lộc). Ngài làm phó xứ Di Loan (Vĩnh Linh, Quảng Trị, quê hương Đức Cha Lê Hữu Từ) được một năm, 1883 về làm phó cha Đoạn Trinh Khoan ở Nhu Lý (Triệu Phong, Quảng Trị quê hương Đức Cha Simon Hoa Nguyễn Văn Hiền). Tháng 9, 1885 cùng cha Khoan đem các nữ tu Mến Thánh Giá và giáo dân Nhu Lý chạy về Dương Lộc. 4. CUỘC TÀN SÁT TẬP THỂ 2.500 GIÁO DÂN TẠI DƯƠNG LỘC NGÀY 8-9-1885 Như phần trên đã trình bày, vào thế kỷ 17, 18, 19, Dương Lộc là trung tâm của Công Giáo vùng Quảng Trị. Dương Lộc và các làng lân cận như Đại Lộc (quê mẹ của Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Như Thể, Huế), Nhu Lý (quê của Đức Giám Mục Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền), Dương Lệ, Động Giám,


104 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Bố Liêu, An Lộng v.v... đều là những làng toàn tòng (chỉ trừ Dương Lệ một nửa dân là ngoại giáo)... Dân chúng hiền hòa, chăm chỉ làm ăn, vui sống trong đức tin... Giữa thế kỷ 19, có những vụ xử tử Linh Mục Jaccard (cố Phan) và chủng sinh Tôma Trần Thiện ở bãi cát Nhan Biều, bờ Bắc sông Thạch Hãn đối diện với thành phố Quảng Trị, rồi đến vụ xử tử Cụ Simon Hòa (Y Sĩ, người làng Nhu Lý) và Phanxicô Trung (Sĩ Quan, người làng Phan Xá) là những đia phương quen thuộc với Dương Lộc. Trong thế lỷ 19, một vài người trong làng Dương Lộc cũng bị khắc hai chữ Tả Đạo vào má... đã làm xôn xao giáo dân vùng này nhưng đó chưa phải là biến cố lớn. Vua Tự Đức không có con nối dòng nên trước khi chết đã chọn ba người cháu là Ưng Chân (Dục Đức), Ưng Kỵ hay Ưng Đường (Chánh Mông) và Ưng Đăng (Dưỡng Thiện) làm con nuôi. Năm 1883, vua Tự Đức mất, Ưng Chân (Dục Đức) nối ngôi. Hai quan phụ chính là Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết âm mưu lật đổ vua mới. Chỉ có Đệ Nhất Phụ Chính là Trần Tiễn Thành và Ngự Sử Phan Đình Phùng phản đối. Trần Tiễn Thành bị mất quyền, Phan Đình Phùng bị đánh đòn, bị xóa tên trong bia Tiến Sĩ và bị đuổi về quê. Em vua Tự Đức là Hường Dật nối ngôi tức là vua Hiệp Hòa. Hiệp Hòa thấy hai ông Tường và Thuyết lộng quyền và sợ chiến tranh xảy ra nên muốn bắt tay với Pháp loại bỏ hai vị phụ chính để thi hành hòa ước... Việc bị bại lộ, vua bị bức tử, những người có dự mưu với vua đều bị giết, bị đày. Phụ Chính Trần Tiễn Thành đã xin về hưu cũng bị Tôn Thất Thuyết cho người đến nhà buộc phải chọn một trong ba hình thức gọi là tam ban triều điển (vuông lụa, thuốc độc và con dao) để tự xử. Con nuôi thứ ba của vua Tự Đức mới 16 tuổi được hai ông Tường và Thuyết đưa lên ngôi là Kiến Phước (Ưng Đăng). Ít lâu sau, vua Kiến Phước cũng bị chết (do Nguyễn Văn Tường âm mưu đầu độc). Ưng Lịch, em vua Kiến Phước mới 13 tuổi được hai ông Tường và Thuyết đưa lên ngôi để dễ bề thao túng. Thuyết và Tường chủ trương đánh Pháp, bí mật lập chiến khu Tân Sở (vùng núi Cùa, Quảng Trị) và tổ chức một đạo quân gọi là Đoạn Kiết (người đương thời gọi là đảng của Tôn Thất Thuyết) trong đó có những phần tử trộm cướp bị tù được


Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 105 tha ra cho đi đánh Pháp để lập công. Trước khi đánh Pháp, năm 1883 dưới thời vua Hiệp Hòa, Tôn Thất Thuyết đã cho lực lượng này đi đốt nhà thờ, giết hại Linh Mục và giáo dân ở trong tỉnh Thừa Thiên. Vua Hiệp Hòa đã chống lại việc đó. Chính Nguyễn Văn Tường thì nhận xét rằng Đảng của Tôn Thất Thuyết hành động quá vội vàng, càng gây thêm khó khăn trong khi tình thế chưa đủ chín muồi. Đêm 22 rạng ngày 23 tháng 5 Âm lịch năm Ất Dậu (đêm 4 rạng 5-7-1885) Tôn Thất Thuyết ra lệnh tấn công Pháp ở đồn Mang Cá và Tòa Khâm Sứ Huế thất bại, bèn đem vua Hàm Nghi chạy ra Quảng Trị, lên chiến khu tân Sở. Tại đây, Thuyết nhân danh vua ban hành hịch Cần Vương “Bình Tây, sát Tả” (đánh Pháp, giết người Công Giáo), thành phần Nho sĩ cũng như dân các làng không Công Giáo, với tinh thần yêu nước cực đoan, thiếu sáng suốt, nên đã xem đồng bào Công Giáo vô tội là kẻ thù... Vì thế họ đã thành lập những lực lượng võ trang trong đó không thiếu hạng người bất lương, bọn trộm cướp lợi dụng cơ hội đó nổi lên đi cướp phá, giết hại giáo dân vô tội cách dã man, tàn bạo. Các tỉnh miền Trung ở trong tình trạng rối loạn. Việc bình Tây thì chưa thu đạt được kết quả gì, mà việc sát Tả, tức là giết hại những người Công Giáo vô tội thì quá dã man, tàn ác. Nếu chúng ta đi vào những làng quê, nơi có người theo đạo sinh sống, chúng ta sẽ thấy họ chỉ là những nông dân, ngư dân nghèo khó sống ở những nơi xa xôi hẻo lánh, cả đời chưa hề thấy bọn giặc Pháp. Những làng có dân theo đạo đã có nếp sống luân lý đạo đức, con cái được giáo dục trong tinh thần mến Chúa yêu người, biết lễ phép, không trộm cắp, không ăn nói tục tĩu... Vấn đề cấm đạo đã có từ thời các chúa rồi đến các vua... nhưng dân chúng vẫn không bỏ đạo. Mạng sống là cao quý nhất thế mà họ không tiếc mạng sống, thà chết chứ không từ bỏ đức tin. Sự hy sinh mạng sống của họ chứng minh cho chân lý mà họ tin là đúng. Nếu điều đó xấu thì không cần phải cấm đoán họ vẫn tự động xa lánh, tự động từ bỏ. Đồng bào lương giáo xưa nay vẫn sống hòa thuận với nhau đời này qua đời khác. Chỉ vì vua quan xúi dục, khích động, vu vạ, cáo buộc cho người theo đạo mới sinh nên cái họa


106 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng lương giáo đi đến chỗ hiềm khích, hiểu lầm, giết hại lẫn nhau. Đó là điều nhục nhã nhất, bẩn thỉu nhất của lịch sử dân tộc. Khi ra đến Quảng Trị, Nguyễn Văn Tường thấy rõ nguy cơ bèn trở về Huế nhờ Đức Giám Mục Gaspar liên lạc với Pháp xin ra đầu thú. Pháp bắt các quan và hoàng gia họp lại để cử vua mới sau khi vua Hàm Nghi ra khỏi kinh thành. Con nuôi thứ hai của Tự Đức là Ưng Kỵ (còn gọi là Ưng Đường) anh vua Kiến Phúc và Hàm Nghi lên ngôi, tức là vua Đồng Khánh. Với sự Phụ Chính của Nguyễn Hữu Độ (thay Nguyễn Văn Tường bị lưu đày), vua ra lệnh tái lập trật tự nhưng phe đảng của Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết còn mạnh, vẫn tiếp tục gây rối loạn. Nguyễn Văn Tường, người làng An Cư (gần Cửa Việt, cách Dương Lộc mấy cây số) nên có ảnh hưởng đối với dân trong vùng này. Trước tình hình như vậy, Linh Mục Trần Ngọc Vịnh ở Đại Lộc muốn đem giáo dân vào Huế lánh nạn nhưng Linh Mục Nguyễn Ngọc Tuyên ở Dương Lộc thì cho rằng bọn người nhân danh Cần Vương (giúp vua) hay Văn Thân (thành phần Nho sĩ, trí thức yêu nước) kia đã không tôn trọng pháp luật, không nghe theo lệnh vua Đồng Khánh ở Huế và đã có những hành động cướp bóc, giết hại dân chúng... Vì thế, chúng ta phải tổ chức một lực lượng để bảo vệ sinh mạng và tài sản của giáo dân vùng này, chờ đợi quan quân của triều đình tái lập trật tự. Từ đây vào đến Huế cũng xa, phải đi mất hai ngày đường, khá nguy hiểm... thà ở lại đây còn hơn. Không ngờ vào ngày 6-9-1885, quan Tuần Vũ Quảng trị là Trương Quang Đản ra lệnh giới nghiêm trong toàn tỉnh, dân chúng ai ở đâu thì cứ ở đó, không được đi lại. Ngày 7-9- 1885, dân Công Giáo ở các nơi hẻo lánh bị khủng bố đã chạy về Dương Lộc làm cho dân số tăng lên trên 3.000 người, trong đó có 4 Linh Mục và 65 nữ tu Dòng Mến Thánh Giá Nhu Lý. Lúc đầu, quân Văn Thân không dám đến quấy phá Dương Lộc vì sơ uy danh hai cha Tuyên, cha Vịnh và vì biết ở đây giáo dân đông, có tổ chức tự vệ. Về sau, khi các làng Công Giáo ở xa đã bị tàn phá rồi thì quân Văn Thân mới kéo đến Dương Lộc. Dương Lộc vốn là nơi giàu có, nhà cửa khang trang, trâu, bò, gia súc, lúa gạo dồi dào càng kích thích lòng tham của chúng. Chiếm được Dương Lộc là một mối lợi lớn.


Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 107 Với danh nghĩa đánh Tây (Pháp), nhưng thực tế là đi giết hại người theo đạo... Giáo dân phòng thủ nghiêm mật, tất cả đàn bà, con nít đều ở trong khu vực nhà thờ. Thanh niên và đàn ông thì chiến đấu bên ngoài. Quân Văn Thân cho người đến cướp trâu bò, heo, gà, vịt, lúa, nồi niêu, đồ đạc, quần áo, nhà tranh thì chúng đốt, nhà ngói, nhà gỗ thì chúng tháo gở mang đi... Dân các làng bên lương vì tham của, bị chúng kích động nên kéo đến mỗi ngày một đông, quyết hạ cho được cứ địa của Công Giáo Dương Lộc. Vũ khí của giáo dân gồm có súng châm ngòi, đao, thương, kiếm, cung tên, sào tre vót nhọn v.v... để tự vệ. Trận chiến ác liệt bắt đầu từ 6-9-1885 đến 8-9-1885, trong ba ngày trời. Ngày thứ ba, quân giặc tập trung lực lượng dùng đuốc, lửa, rơm rạ, vải tẩm dầu v.v... ném vào đốt cháy nhà thờ. Bên trong rối loạn, chúng ùa vào tàn sát dân vô tội. Linh Mục Inhaxiô Nguyễn Ngọc Tuyên bị quân Văn Thân giết chết ngày 8-9-1885, tại Dương Lộc, mộ táng bên trái bàn thờ có bia đá chữ latinh và chữ Hán do ba Linh Mục học trò của ngài là Gioan Baotixita Ngô Văn Học, Batôlômêô Nguyễn Phùng Nhơn và Giuse Nguyễn Ngọc Quyền (cháu cha Nguyễn Ngọc Tuyên) lập ngày 6 tháng 8 năm Tân Sửu (1901). Chúng tôi đã phiên âm và dịch nghĩa văn bia này đăng trên báo Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp số 103, tháng 2, 1995. Linh Mục Inhaxiô Trần Ngọc Vịnh bị quân Văn Thân giết chết ngày 8-9-1885 tại Dương Lộc, chôn chung với giáo dân trong ngôi mộ tập thể, không có bia mộ riêng. Linh Mục Gioan Đoạn Trinh Khoan bị quân Văn Thân giết ngày 8-9-1885 tại Dương Lộc, chôn chung với giáo dân trong ngôi mộ tập thể, không có bia mộ riêng. Linh Mục Giuse Lê Văn Huấn bị quân Văn Thân giết chết bên ngoài nhà thờ Dương Lộc ngày 8-9-1885, mộ táng bên phải bàn thờ, có bia mộ bằng tiếng La tinh và tiếng Việt. Cuộc thiêu sát đã được những người sống sót kể lại là rất dã man, rùng rợn: Trong khu vườn nhà thờ và vùng chung quanh, các đường hẻm, các hào tre và toàn làng đều bị đốt cháy. Tất cả mọi người vào ẩn núp trong khu vực nhà thờ: người già, người trẻ, đàn bà, con nít v.v... đều bị chết cháy, bị


108 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng chém, bị đâm. Một số người từ nhà thờ chạy ra cũng bị giết ở bên ngoài. Có người bị thương, sau một hai ngày mới chết. Thịt, máu tanh, mùi thối tha lan tràn cả một vùng. Một số người sống sót, mình bị bỏng (phỏng lửa), lê lết qua các ngã đường, trốn vào bụi cây, ruộng lúa, có người mang thương tích đi ăn xin. - Ông Nguyễn Văn Hoan (qua đời ngày 19-11 Tân Sửu tức 29-12-1901) kể lại: Năm 1885, ông khoảng dưới 40 tuổi. Trong lúc quân giặc bao vây và dùng lửa ném vào đốt nhà thờ thì ông cùng anh em chiến đấu bên ngoài, nên không liên lạc được với vợ con lúc đó đang ở trong nhà thờ. Vợ con ông đều bị chết thiêu ở trong nhà thờ, lẫn lộn với hàng ngàn người nên không thể phân biệt được. Khi thất trận, ông chạy thoát được và trốn trong ruộng lúa, ngoài đồng vắng. Mấy ngày hôm sau ông tìm đến nhà ông Lê Tuần, một nhà Nho người ngoại giáo ở làng An Lợi (bên cạnh Dương Lộc) và được vị này che chở, cho ẩn núp trong nhà, ban ngày ở dưới hầm, ban đêm ra khỏi hầm để ăn uống và hít thở khí trời. Trên miệng hầm có một cái hòm bằng gỗ, có bốn bánh xe... để khỏi bị phát hiện. Khoảng 12-9-1885, có tàu thủy chạy qua Rào Cái (con sông lớn trước Ngôi mộ 2.500 vị tử đạo ngày 8-9-1885 tại Dương Lộc.


Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 109 mặt làng), có tiếng loa truyền gọi những người Công Giáo sống sót... ông bèn chạy ra bờ sông nhưng ông quá yếu, đi không nổi, tàu chạy đã xa, thấy có nón vẫy gọi bèn trở lại. Ông được đưa lên Quảng Trị rồi vào Huế (ông Nguyễn Văn Hoan là ông nội của Linh Mục Stanilas Nguyễn Văn Ngọc, nguyên Tổng Đại Diện Giáo Phận Huế, tác giả sách Linh Địa Lavang). - Ông Dương Văn Doan, qua đời ngày 26-12-1938 (cha của Linh Mục Dương Văn Nguyên và Malachias Dương Văn Minh Dòng Châu Sơn) lúc đó mới 18 tuổi, ở giúp cha Vịnh rồi đến cha Tuyên tại Dương Lộc. Khi thất trận, ông chạy qua cánh đồng phía sau làng, bị một tên giặc đánh cho trọng thương, nhưng thoát được. Quá đói, ông tìm vào nhà ông Nguyễn Hữu Nghiêm, người ngoại giáo ở làng Dương Lệ (thường gọi là ông Thất Nghiêm) để xin ăn. Lúc đó trong nhà đang nấu bắp trái ở giữa sân. Ông Thất Nghiêm đã săn sóc cho ông. Sau đó ông đến làng Trí Bưu (Quảng Trị) và vào Huế chữa thương. Ông có người chú bị quân giặc trấn nước chết, chôn bên cạnh Bàu Nước làng Dương Lệ. Năm 1994, con cháu tìm ngôi mộ đó, cải táng đem vào lăng tử đạo Dương Lộc, thấy rõ vị ấy chết tay bị trói, ngồi gục đầu xuống... Có thể sau khi trấn nước thì chúng đào lỗ cho ngồi xuống và dùng cuốc đánh chết rồi chôn luôn. Mẹ của ông Dương Văn Doan là Nguyễn Thị Gương cùng hai con của bà là Dương Văn Ưa và Dương Thị Ý đều chết tử đạo trong nhà thờ Dương Lộc. - Bà Dương Thị Hương (vợ ông Dương Văn Doan) qua đời ngày 7-9-1945 kể lại: lúc đó bà khoảng 15, 16 tuổi, cha mẹ, anh em đều chết tử đạo trong nhà thờ Dương Lộc. Bà trốn trong bụi cây, nằm lẫn lộn với người chết, lấy máu của họ bôi lên người, lên mặt mình. Khi quân giặc rút đi hết, bà mới chui ra khỏi đống xác chết... Bất ngờ có một tên giặc vác dáo đi qua, trông thấy... Bà sợ quá bèn nằm đưa cổ cho nó chém nhưng có lẽ thằng giặc đó bị xúc động và có vẻ sợ, nên chỉ chém một nhát trúng cằm bà bị thương nhẹ thôi, rồi bỏ chạy. Sau một đêm, không thấy động tĩnh gì, bà liền hái lá duối non (lá dưới) nhai cho nhuyễn rồi đắp vào vết thương. Những người khác đều làm như vậy và đều được khỏi. - Ông Nguyễn Văn Bính qua đời khoảng 1975, kể rằng, ông nội của ông ta lúc đó núp trên cái tran (để đựng lúa) trên


110 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng trần nhà, thấy một tên to lớn cầm đao vào nhà, tìm không thấy ai, nó đoán chừng có người ẩn núp ở trên đó, nên đã đâm vào chỗ đó. Đao xuyên qua ngực ông, máu từng giọt chảy xuống. Mấy chục năm sau kẻ sát nhân đến giờ hấp hối, nằm trên giường bệnh cứ nhìn thấy máu từ trên trần nhà nhỏ xuống từng giọt... Nó kêu la, sợ hãi, mắt trợn ngược, mồm há hốc ra rồi chết. Mấy năm sau, ông Dương Văn Doan đi mua nhà, tình cờ tìm thấy một cây đại đao cán dài trong nhà một người ngoại đạo ở làng bên cạnh, thứ đại đao mà tên sát nhân đã dùng để đâm xuyên qua mình của người họ Nguyễn năm 1885. Ông bèn đem đao ấy về trưng bày trong đền thờ các Thánh Tử Đạo Dương Lộc để cho con cháu sau này biết rõ sự tàn ác mà người ta đã đối xử với những người Công Giáo vô tội năm 1885 như thế nào. - Bà Hoàng thị Tiệm, vợ ông Nguyễn Văn Hoan. Bà qua đời ngày 6 tháng 10 năm Kỷ Tỵ (6-11-1929) kể lại: Cha mẹ bà là Hoàng Văn Cử và Trần Thị Khuyến, người làng Phúc Lộc (quê của các Linh Mục Trần Hữu Quý, Trần Hữu Tôn và Trần Hữu Thanh Dòng Chúa Cứu Thế), gần Dương Lộc. Cha mẹ buôn bán, giàu có... Năm 1885, lúc đó bà hơn 20 tuổi, quân Văn Thân đến bắt cha mẹ và anh bà là Hoàng Văn Kim, hai em trai là Hoàng Văn Tuyến, Hoàng Văn Dũ đem giết, tất cả tài sản đều bị cướp sạch, nhà bị đốt cháy. Bà và người chị là Hoàng Thị Tùng, người em là Hoàng Thị Thiu vì là con gái, thừa lúc không ai để ý nên thoát được. Mấy chị em phải trốn tránh nơi này, nơi khác, đến khi tình hình ổn định mới trở về. Nhờ có ruộng đất và được bà con giúp đỡ nên họ đã tạm sống được. Năm 1886, bà về làm vợ ông Nguyễn Văn Hoan người làng Dương Lộc vì vợ ông này là Dương Thị Trước đã chết tử đạo năm 1885. - Ông Lê Thiệu, sinh khoảng 1866 chết 1970, thọ 104 tuổi, người làng Đại Lộc kể lại. Trong tháng 8, tháng 9-1885, một số giáo dân làng Đại Lộc chạy trốn lên vùng rừng núi Lai Phước (giữa Quảng Trị và Đông Hà trên Quốc Lộ I), số còn lại chạy về Dương Lộc, số khác bị bắt dẫn đến nhà một người họ Trần người làng Dương Lệ (Cha của Trần Hữu Dực, sau 1945 là Chủ Tịch Trung Bộ, Phó Thủ Tướng rồi Viện Trưởng Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao của Cộng Sản), sau đó họ bị đem


Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 111 ra giết. Xác của những người đó, về sau được bà con đem về chôn tại làng Đại Lộc và lập bia kỷ niệm. Các làng Công Giáo trong vùng như Nhu Lý, Bố Liêu, An Lộng, Phúc Lộc, Đại Lộc, Trí Bưu v.v..., cả những nơi xa xuôi như Vạn Kim, Vạn Thiện (Bát Phường) thuộc miền núi, cũng có di tích tử đạo 1885. Tại Trí Bưu, một số giáo hữu trốn vào rùng rừng núi Lavang, số còn lại khoảng 500 người cùng với Linh Mục Giuse Bùi Thông Bửu bị bao vây trong nhà thờ và bị đốt cháy không một người nào sống sót. Tại Dương Lệ Văn, sau khi Dương Lộc bị tiêu diệt, một số sống sót, bị thương, đói khát... nghe có người đứng ra kêu gọi họ tập trung lại để được cho ăn uống, săn sóc thuốc men... Khoảng 250 người tụ tập trước sân nhà thờ, bất thình lình bị dân ngoại giáo kéo đến bao vây, giết chết và đốt cháy thiêu tại chỗ. Ngày nay ở chỗ đó có ngôi mộ tập thể của các nạn nhân. Những người ở Dương Lộc còn sống sót sau năm 1885: Họ Nguyễn có ông Nguyễn Văn Cửu, Nguyễn Văn Cầu, Nguyễn Văn Hoan, Nguyễn Văn Cừ và mấy người đàn bà như bà Cai, bà Nẫm, bà Phép cùng mấy đứa trẻ mồ côi cả cha lẫn mẹ như Nguyễn Văn Bịp (hay Bướm), Nguyễn Văn Võ, Nguyễn Văn Huệ, Nguyễn Văn Mới v.v... Họ Dương có ông Dương Văn Chỉ, Dương Văn Thông (trốn vào làng Sơn Quả, Thừa Thiên), Dương Văn Doan v.v..., đàn bà có bà Nghiệm, bà Dương Thị Hương... và con cháu ông Lãnh Binh Dương Văn Thành (ngoại đạo) lúc đó ở vùng Nghệ An, Hà Tĩnh nên không bị giết hại. Chính quyền ra lệnh cho các làng lân cận đi thu dọn xác chết và báo cáo những người còn sống, những ai đã chết và truy tố những kẻ đã gây ra cuộc tàn sát những người Công Giáo vô tội năm 1885. Những người sống sót đi thu lượm hài cốt các vị nạn nhân đem chôn ở Cồn Soi, trước mặt làng. Cảnh tượng làng Dương Lộc đầy vẻ điêu tàn, tang thương kéo dài suốt mười mấy năm trời. Cho đến năm 1901, nơi máu các vị tử đạo đã đổ ra để làm chứng đức tin năm 1885, mới mọc lên một nấm mồ tập thể, tất cả hài cốt các nạn nhân đều được gom lại một nơi. Năm 1918, dân làng xây một nhà thờ mới ở chỗ khác. Năm 1943, đời Linh Mục Huỳnh Văn Hóa làm


112 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng cha sở, dân làng khởi công xây thêm một nhà nguyện kính các vị tử đạo trên nền nhà thờ cũ năm 1885, trước mộ tập thể các vị tử đạo. Nhà nguyện này hoàn thành năm 1944. Hiện nay nhà thờ 1918 đã bị tàn phá trong trận chiến tranh 1972, chỉ còn nhà nguyện kính các vị tử đạo mới được trùng tu năm 1995. Sau năm 1885, Lăng Tử Đạo Dương Lộc đã trở thành một nơi linh thiêng, ơn Chúa đã đổ xuống cho những ai tin và kêu xin các Thánh Tử Đạo ở Dương Lộc cứu giúp. Không những người Công Giáo mà cả những người không Công Giáo quanh vùng khi có ai đau ốm, hoạn nạn đều đến đó cầu nguyện, họ hái bất cứ cây lá gì xung quanh mồ đem về nấu uống đều được lành bệnh. Con cháu trong làng Dương Lộc, xưa cũng như bây giờ vẫn có thói quen như thế. Mỗi tối thứ hai trong tuần, giáo dân đến đọc kinh ở đền thánh, có người vẫn đến hằng ngày. Mỗi năm đến ngày kỷ niệm, 8 tháng 9, toàn làng đứng ra tổ chức lễ và tiệc mừng. Làng đã trích ra một số ruộng công, cho thuê lấy tiền để tổ chức lễ mỗi năm. Lễ kỷ niệm 50 năm vào 8-9-1935, Dương Lộc tổ chức liên hoan ba ngày, có diễn tuồng tử đạo, có thánh lễ do Đức Giám Mục Huế chủ trì, giáo dân trong tỉnh Quảng Trị đến dự rất đông. Năm 1972, máy bay Mỹ trút bom đạn xuống làng Dương Lộc, nhà thờ sụp đổ nhưng di tích tử đạo vẫn còn, chỉ hư hại một phần. Năm 1990, Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Như Thể (Giáo Phận Huế), Linh Mục Nguyễn Văn Ngọc, Linh Mục Nguyễn Đức Phú, Linh Mục Hồ Văn Quý và Linh Mục Lê Văn Cao đã về đây dâng thánh lễ cầu nguyện cho tổ tiên. Năm 1995, Linh Mục Nguyễn Cao Lộc và Linh Mục Lê Văn Cao (cha sở vùng này, cháu cha Lê Văn Huấn tử đạo 1885) đã trùng tu lại di tích này với sự đóng góp tài chánh của con cháu các Thánh Tử Đạo Dương Lộc khắp nơi. Vì chính quyền không cho mở rộng hay xây lại nhà thờ mới nên chỉ tạm thời bảo vệ di tích cũ, mục đích có chỗ họp nhau đọc kinh cầu nguyện mà thôi. TÌM ĐƯỢC CHÉN THÁNH CỦA LINH MỤC NGUYỄN NGỌC TUYÊN Trong phần nói về Linh Mục Nguyễn Ngọc Tuyên, chúng tôi có nhắc đến chén thánh quý giá của ngài do bạn bè tại


Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 113 Đại Chủng Viện Mans tặng khi ngài chịu chức Linh Mục ở Pháp năm 1864 tại Pháp. Ngài cũng có để lại một tập vẽ Album de dessins tặng các bạn ở Mans. Trong biến cố 8-9-1885, ông Dương Văn Doan, người giúp việc cho ngài thấy một người chết ở dưới bờ ao tay ôm chén thánh đó. Ông biết lịch sử chén thánh này nên mang về và đã trao lại cho một Linh Mục người Pháp khi ngài cùng quân lính Pháp đến thăm vùng này. Từ đó đến nay không biết chén thánh đó lưu lạc ở đâu. Linh Mục Stanilas Nguyễn Văn Ngọc, cháu ngoại của ông Dương Văn Doan, đã từng nghe ông ngoại kể về chén thánh đó, nhân đọc tài liệu của Linh Mục Adolphe Delvaux, sử gia, ngài muốn tìm lại chén thánh mà không cách gì tìm ra manh mối. Ngày 26-4-1966, sau hơn 80 năm lưu lạc, chén thánh đó lại xuất hiện. Linh Mục Trần Bá Hạnh đã cho Linh Mục Nguyễn Văn Ngọc biết hiện ngài đang giữ chén thánh đó trong tay. Cha Phêrô Trần Bá Hạnh là cháu của cha Antôn Trần Bá Lữ (1845-1913). Cha Lữ nhận chén thánh đó từ tay một Linh Mục người Pháp trao lại. Cha Hạnh đã trao chén thánh cho cha Ngọc. Năm 1988, cha Ngọc trao cho con cháu ông Dương Văn Doan, hiện ở vùng Trị An (tỉnh Đồng Nai) giữ với lòng mong mỏi sau này trong con cháu có ai làm Linh Mục thì trao cho người đó để dâng lễ cầu nguyện cho ông bà, tổ tiên. Năm 1996, con cháu ông Dương Văn Doan đã gởi chén thánh này lại cho Tòa Tổng Giám Mục Huế vì tại Trị An không có điều kiện an ninh bảo đảm, sợ bị mất cắp. Garden Grove, CA, ngày 15 tháng 7 năm 1997 Nhớ về quê hương Đất thắm máu tổ tiên tử đạo. Nguyễn Lý Tưởng PHỤ LỤC: Bài văn bia mộ của Linh Mục Inhaxiô Nguyễn Ngọc Tuyên do ba người học trò của ngài là: Gioan Baotixita Ngô Văn Học, Batôlômêô Nguyễn Phùng Nhơn và Giuse Nguyễn Ngọc Quyền phụng lập năm 1901 Phiên âm Hán văn: “Giáng sinh nhất thiên cửu bách nhất linh. Cung Chí, Thánh


114 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Chén thánh của Linh Mục Inhaxiô Nguyễn Ngọc Tuyên tử đạo 8-9- 1885 tại Dương Lộc, chén thánh do bạn bè tặng năm 1864 khi Cha Tuyên chịu chức Linh Mục ở Mans (Pháp). Bia mộ của Linh Mục Inhaxiô Nguyễn Ngọc Tuyên.


Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 115 hiệu Inhatiô Linh Mục kiêm Tham Biện các, Quán Phụ Việt xã, ế tự ấu thời siêu hồ phàm thế, thác tục đồng thân, diệu kim trùy ngọc, trác chi nhã hóa, nõa thân tu viện học tiên sư Kinh Thánh chi cách ngôn. Ư Tự Đức niên gian, phụng tùy Giám quan chu ư Tây thổ, cai quốc âm tự, lão thông La tinh, thánh sử nhàn tập, hậu tùng Giám quan trực đáo La Mã thành điện, phục yết Giáo Hoàng diện kiến, nhiếp quy Ba Năng tỉnh thành. Giáng Sinh nhất thiên bát bách lục thập ngũ niên chức phong thánh tước, chính quyền. Cư tại Pháp quốc linh niên hồi bản quốc, chính ý tôn giảng Thánh giáo, tiếp Hoàng Đế chi chiếu khâm lãnh tham biện các thần, chính hành, quốc quân ái mộ. Sổ niên chi hậu, tấu thỉnh từ chức, cáo thối, nguyên thuật giảng lỵ giáo dân thích. Hàm Nghi nguyên niên, thất nguyệt, phỉ đồ phiến loạn, nhiễu hại giáo dân, ngộ phỉ trí mạng chí vu Dương Lộc giáo đường. Ô hô ! Tao bỉ vận truân, ta hồ cập hỉ, cẩn dĩ bi chí. Thành Thái thập tam niên, lục nguyệt, sơ bát nhật, tuế thứ Tân Sửu, tạo chi. Hữu Phụ Việt xã, Tham Biện các thần Nguyễn Linh Mục Gioan Baotixita Học Linh Mục Batôlômêô Nhơn Linh Mục Giuse Quyền đồng cẩn chí”. Dịch nghĩa: “Năm Thiên Chúa giáng sinh 1901, nay cung kính ghi chép vào bia như sau: Linh Mục Inhaxiô kiêm chức Tham Biện, quê quán ở xã Phụ Việt (hữu), tỉnh Quảng Bình, từ nhỏ đã là người siêu phàm, sớm bỏ đời đi tu, mài vàng dũa ngọc được nên tốt đẹp, uốn nắn thân mình ở chốn tu viện để học Kinh Thánh với các bậc tiên sư. Dưới thời Tự Đức, theo Giám Mục đi qua Tây, am hiểu quốc âm (Hán văn), thông thuộc La Tinh, thường lúc nhàn rỗi thì học Kinh Thánh. Ngài theo Giám Mục đến thành La Mã, yết kiến Đức Giáo Hoàng, sau đó trở về Penăng (Mã Lai). Năm 1865 (1) chính thức thọ phong Linh Mục, ở tại Pháp mấy năm rồi trở về nước lo giảng dạy đạo Thánh. Nhận được chiếu chỉ của Hoàng Đế lãnh chức Tham Biện, thi hành chính trị được vua ái mộ. Tháng 7 Hàm Nghi nguyên niên (1885) bọn giặc cướp nổi loạn, nhiễu hại giáo dân, ngài bị giặc giết chết tại nhà thờ Dương Lộc.


116 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Nguyên văn chữ Hán ghi trên bia mộ của Linh Mục Inhaxiô Nguyễn Ngọc Tuyên. Than ôi! Bởi gặp vận xấu nên phải gian truân! Vậy kính cẩn ghi chép lại sự tích. Năm Thành Thái thứ 13 tháng 6 ngày 8 tức năm Tân Sửu (1901) làm bia này. Các học trò của quan Tham Biện họ Nguyễn, người xã Phụ Việt Hữu là: Linh Mục Gioan Baotixita Học Linh Mục Batôlômêô Nhơn Linh Mục Giuse Quyền đồng lập bia này”. Nguyễn Lý Tưởng Chú thích: 1. Theo tài liệu chính thức của giáo phận Huế, Cha Tuyên thụ phong Linh Mục ngày 17-12-1864 tại Đại Chủng Viện Mans (Pháp), về Huế năm 1865. Văn bia ghi ngài thụ phong Linh Mục năm 1865 là không đúng.


Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 117 THẠCH LIÊM LÃO HÒA THƯỢNG VÀ CHÙA THIÊN MỤ Ở HUẾ Chùa Thiên Mụ ở Huế là biểu tượng cho văn hóa lịch sử của xứ Huế cũng như Chùa Một Cột ở Hà Nội là hình ảnh của văn hóa lịch sử miền Bắc Việt Nam. Đặc điểm của chùa này không những có một địa điểm sông núi hài hòa, phong cảnh hữu tình, nên thơ, mà còn là nơi tàng trữ cả một kho tàng văn hóa với những bản gỗ để in sách chữ Nho đời xưa, nơi có những kỷ vật của nhà sư Thạch Liêm, một trong những vị sư tổ từ Trung Hoa đến mở mang đạo Phật ở xứ Đàng Trong thời các chúa Nguyễn. Người dân Huế nhất là giới Phật tử hãnh diện về chùa Thiên Mụ, một trong những danh lam thắng cảnh của đất thần kinh thì các nhà sư ở Huế cũng hãnh diện về sư tổ Thạch Liêm lão hòa thượng. Có lẽ không có một nhà sư nào có một hành trạng đặc biệt như Thạch Liêm và cũng không có một nhà sư nào có nhiều tài ba và danh tiếng như Ngài. Nói đến chùa Thiên Mụ thì ai cũng biết, nhưng nói đến cuộc đời của nhà sư Thạch Liêm thì ít người biết, ngoại trừ những người nghiên cứu lịch sử Việt Nam và lịch sử Phật giáo. Chùa Thiên Mụ và Thạch Liêm lão hòa thượng có nhiều gắn bó với nhau, chùa sở dĩ được danh tiếng là vì có Thạch Liêm tu ở đó. Thạch Liêm sở dĩ được sử sách nhắc nhở đến là vì ngài có một người đệ tử danh tiếng, đó là Chúa Nguyễn Phúc Chu, một vị vương vừa giỏi về chính trị quân sự lại văn hay, chữ tốt, nổi tiếng là một nhà thơ vương giả và đạo hạnh. Ông đã quy y với nhà sư Thạch Liêm và đã có công xây dựng


118 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng chùa Thiên Mụ đẹp đẽ trong tinh thần nhớ ơn sư phụ... Chùa Thiên Mụ là nơi vua, chúa thường đặt chân đến, có ngự chế đề thơ, có đúc chuông, đúc tượng để lưu lại cho đời sau... Chùa Thiên Mụ được khởi công từ thời Chúa Nguyễn Hoàng (Chúa Tiên) vào năm 1601. Tương truyền Chúa Nguyễn đã từng đi quan sát vùng này, gặp một bà mặc áo đỏ, tay cầm bó nhang đang cháy. Bà này đã chỉ đường cho Chúa Nguyễn tìm đến một vùng đất tốt đẹp mà sau này là kinh đô Huế. Nguyễn Hoàng đặt tên là chùa Thiên Mụ (Bà từ trời xuống) và con sông Hương (Bà cầm bó nhang đang cháy tỏa hương thơm). Chùa được trùng tu nhiều lần qua nhiều đời Chúa. Chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725) đã mời nhà sư người Trung Quốc từ Quảng Tây đến để giảng giáo lý Phật. Chúa Nguyễn đã quy y với nhà sư này, nhà sư Thích Đại Sán còn gọi là Thạch Liêm lão hòa thượng. Chúa Nguyễn đã tặng cho sư phụ y bát và các đồ dùng quý giá. Chùa được xây trên một ngọn đồi phía tả ngạn sông Hương, phải leo lên nhiều bậc cấp mới đến được sân chùa. Chùa có tháp Phước Duyên bảy tầng, cao 21 mét, trên tháp có để các bảo vật. Ngày xưa phải có giấy phép của Bộ Công và Bộ Hình mới được lên tháp. Bộ Công giữ cái thang, Bộ Hình giữ chìa khóa lên tháp. Chùa có chuông cao 2,5 mét đường kính 1,4m nặng 2.052kg do vua, chúa tặng, trên đó có khắc những bài thơ của Chúa Nguyễn. Có bia đá do chúa Nguyễn Phúc Chu làm năm 1715 khắc sự tích chùa. Vua Thiệu Trị (1840-1847) rất yêu thích phong cảnh chùa này. Vua đã làm nhiều bài thơ cho khắc vào chuông để tại chùa. Như đã nói trên, biết đến chùa Thiên Mụ mà không biết đôi nét về nhà sư Thạch Liêm thì thật là một thiếu sót. Theo Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên, một bộ chính sử của nhà Nguyễn được hoàn thành vào năm 1852 dưới thời vua Tự Đức, ở quyển thứ sáu, trang 24a (bản Hán văn do Trần Vinh Anh, Lê Ngọc Bích, Nguyễn Đức Cung và Nguyễn Lý Tưởng phiên dịch và chú thích) có phần ghi chép về nhà sư Thạch Liêm như sau: “...Thạch Liêm hiệu là Đại Sán Hán Ông, người tỉnh Chiết Tây, nhà Thanh (Trung Quốc), là người bát nhã, khôi ngô, phàm các môn tinh tượng, luật dịch, diễn xạ, lý số, triện lệ (viết chữ), đan thanh (vẽ), môn nào cũng thông hiểu, lại giỏi làm thơ.


Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 119 Cuối đời nhà Minh, người Thanh vào làm chủ Trung Quốc, Liêm giữ tiết nghĩa, không chịu làm tôi, bèn từ giã mẹ già, cắt tóc đi tu chống gậy rong chơi mây gió (vân du), phàm những nơi danh lam thắng cảnh, dấu chân hầu đi khắp. ...Hoàng đế Anh Tông ra lệnh cho Tạ Nguyên Thiều qua Trung Quốc mời cao tăng... Hoàng đế Hiển Tông hay mời ông vào triều ra mắt, để cùng đàm luận về thiền giáo, chúa trọng kính sự học uyên bác của ông, rất mực yêu quý kính nể...” Qua một đoạn chính sử trên đây, ta thấy sử gia nhà Nguyễn ca tụng Thạch Liêm hết lời, nào là tài học uyên bác, nào là tài văn chương thi phú và đủ các môn nho, y, lý, số, lại thêm tài vẽ đẹp, chữ tốt nữa... Đúng là một con người tài hoa đương thời, vì thế chúa Nguyễn mới yêu quý, kính nể... Ở Việt Nam một thời gian, Thạch Liêm có viết một cuốn ký sự (hồi ký) ghi lại những điều mắt thấy tai nghe khi những cuộc đàm đạo với chúa Nguyễn Phúc Chu, lưu lại những bài thơ xướng họa với chúa... Từ nhân vật, cảnh vật, cây cỏ thuộc vùng Thuận Hóa (Huế) mà ông đã để tâm tìm hiểu, ông đều ghi chép lại rất cẩn thận. Cuốn hồi ký lấy tên là Hải Ngoại Ký Sự bị lưu lạc qua tới thư viện Đông Kinh (Nhật Bản), khoảng 1962 đến 1964, Ủy Ban phiên dịch sử liệu thuộc Đại Học Huế đã dịch lại toàn bộ tác phẩm này. Trong phần nghiên cứu lý lịch của Thích Đại Sán, Giáo Sư Trần Kính Hòa (người Trung Hoa) từ Hồng Kông đến giảng dạy tại Đại Học Sài Gòn và Huế đã trình bày như sau: “Xét chữ Thạch Liêm. Sách Hoa Di biến thái chép làm Thạch Liêm, ngoài biệt hiệu Đại Sán và Hán Ông, tục thường lại gọi: “Thạch đầu đà”. Còn thuộc về quê quán, bài tựa của Tăng Sán trong Ly Lục Đường Tập, tư tập của Đại Sán chép rằng: “Hòa Thượng người Cửu Giang, đồng làng với tôi”, cũng trong tập ấy, bài tựa của Đào Huyên chép rằng: “Tôi nghe nói Hòa Thượng nguyên quán ở Giang Hữu và đến Quảng Châu thuyết pháp v.v...”. Ngoài ra hoặc bảo ông người Lãnh Nam, hoặc bảo người Ngô, hoặc bảo Giang Nam, hoặc bảo Trì Châu, hoặc bảo Tô Châu, hoặc bảo Nam Kinh, các thuyết phân vân chưa biết thuyết nào đúng. Cứ theo thiển kiến của tôi (Trần Kính Hòa), trong các thuyết ấy nên lấy thuyết Chiết Tây có thể đúng hơn. Xét hai bài tựa của họ Tăng, họ Đào bảo Cửu Giang, bảo Giang Hữu thì cũng đều thuộc Giang Tây, hình như


120 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Chùa Thiên Mụ (Huế).


Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 121 đều là chữ “Chiết Tây” nói nhầm. Vả lại, Đại Sán năm về già bị bắt giải về nguyên quán, giữa đường mất tại Thường Sơn thuộc Tây Nam tỉnh Chiết Giang... Chiết Tây tức Chiết Tây lộ đời nhà Tống, lấy Hàng Huyện làm lỵ sở, tức một dải Hàng Gia-hổ ngày nay, nơi ấy cũng tiếp liền với Tô Châu (tức Ngô), có lẽ vì thế mà bảo lầm là Giang Nam” (tr.243). Qua đoạn văn trên đây, Giáo Sư Trần Kính Hòa cho biết quê hương của Thạch Liêm thuộc tỉnh Chiết Giang (Trung Quốc), ông đã từng bị hoạn nạn, tù tội và chết trên đường bị giải về quê. Thời nhà Thanh có những phong trào phục Minh, phản Thanh hoạt động... Thạch Liêm đã từng đi nhiều nơi, giao thiệp với nhiều người... nên bị vua quan nhà Thanh nghi ngờ và bị kết tội oan... Sử nhà Nguyễn (Liệt Truyện Tiền Biên) và Hải Ngoại ký sự của Thạch Liêm có kể lại một chuyện..., ở kinh thành Huế thời chúa Nguyễn Phúc Chu (thế kỷ 17, 18) hay bị hỏa hoạn về mùa hè, vì nhà cửa trong kinh thành phần nhiều lợp tranh... Mỗi lần có hỏa hoạn, chúa Nguyễn đích thân đem lính tráng đi chữa cháy. Thạch Liêm thấy như thế thì lo sợ cho chúa vì ở Trung Quốc, bậc vua chúa không bao giờ khinh suất như vậy, nếu có kẻ gian lợi dụng cơ hội ám hại chúa thì sao? Thạch Liêm đề nghị mỗi khi hữu sự, chúa nên ban cờ hiệu cho một vị tướng thay mặt chúa mang cờ hiệu đến. Thấy cờ cũng như chúa có mặt nơi đó. Ai bất tuân lệnh thì cứ chiếu theo luật mà nghiêm trị. Qua câu chuyện đó, chúng ta thấy người lãnh đạo đời xưa, tuy là thời phong kiến, nhưng tinh thần trách nhiệm của họ, lo cho dân cho nước, không kể nguy hiểm đến mạng sống của mình. Thật là những tấm gương sáng cho đời sau. Thạch Liêm đến đất Thuận Hóa, kinh đô của chúa Nguyễn, lúc đầu ở chùa Từ Hiếu, sau ra chùa Bảo Quốc và sau cùng ở chùa Thiên Mụ. Ngài đã tổ chức quy y, thọ tỳ kheo giới cho nhiều đệ tử. Chúa Nguyễn đã chính thức quy y tại chùa Bảo Quốc với Thạch Liêm. Ở Việt Nam một thời gian, nhà sư trở về Trung Quốc, có dịp vẫn viết thư thăm chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn cũng nhờ nhà sư vận động vua nhà Thanh thừa nhận Đàng Trong như một quốc gia độc lập và xin phong vương cho chúa Nguyễn như đã phong cho vua Lê ở Hà Nội nhưng việc đó bất thành.


122 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Để biết rõ tình cảm giữa nhà sư Thạch Liêm và chúa Nguyễn Phúc Chu, chúng tôi xin trích một đoạn thư gởi chúa Nguyễn và bài thơ tứ tuyệt dâng tặng nhà chúa của Thạch Liêm sau đây: “Một sông khói sóng, đường cách lớp mây, tám độ xuân về, mai tóc bạc trắng. Đời trải qua bao năm tháng, nhớ nhơn duyên ở ngoài trời. Xa biết phương trượng bồ đoàn, đã có tin mai báo cáo. Bèn khiến một bó lác mà qua sông, những mong rút ngắn đất lại. Trăng đêm dậy ngọn triều, tin xa đến chậm. Thơ mới tặng phương xa chỉ e lời quê vắn vỏi”. Thơ rằng: Đông phong tân lãng mãn giang tân, Tưởng kiến hồ sơn vũ lộ tân. Tự thị dương hòa qui thảo mộc, Thái bình nhân túy hải thiên nhiên. Tạm dịch: Gió đông sóng mạnh ngập đôi bờ, Nhuần đượm hồ sơn hạt móc mưa. Cây cỏ từ nay bừng sức sống, Thanh bình trời đất cũng say sưa. Trước 1975, mỗi năm ở Huế vẫn có giỗ sư tổ Thạch Liêm. cố Hòa Thượng Thích Thanh Long, chùa Giác Ngạn, quận Phú Nhuận, Sàigòn cho chúng tôi biết như vậy. Dưới triều vua Minh Mạng, Trương Hiếu Hợp có lần cầm đầu phái đoàn đi sứ Trung Quốc, có ghé thăm chùa cũ của Thạch Liêm, các vị trụ trì ở đó hãy còn nhắc những kỷ niệm của Thạch Liêm với chúa Nguyễn. Nguyễn Lý Tưởng


Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 123 SƯ TỔ TẠ NGUYÊN THIỀU Trong khi nghiên cứu các di tích lịch sử và được đọc các sử liệu Hán văn của triều Nguyễn để lại, chúng tôi được biết đôi điều về hành trạng của Hạnh Đoan Thiền Sư tức nhà sư Tạ Nguyên Thiều, một trong các nhà sư người Trung Hoa đến mở mang đạo Phật ở nước ta vào thời các chúa Nguyễn. Ông đến rất sớm, trước cả nhà sư Thích Đại Sán, tức Thạch Liêm Lão Hòa Thượng, người đã làm lễ quy y cho chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725). Trong tinh thần phát huy văn hóa dân tộc, chúng tôi xin ghi lại đôi nét về vị sư tổ này để cống hiến độc giả. Theo sách Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên (sử nhà Nguyễn được biên soạn dưới thời vua Thiệu Trị, bản Hán Văn do Trần Vinh Anh, Nguyễn Đức Cung, Lê Ngọc Bích và Nguyễn Lý Tưởng phiên dịch và chú thích, nhà xuất bản Khai Trí, Sàigòn 1975, trang 304, 305) thì Tạ Nguyên Thiều tự là Hoán Bích, người làng Trình Hương, phủ Triều Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc, là đệ tử của Hòa Thượng Khoáng Viên, năm 19 tuổi vào tu ở chùa Báo Tư. Năm thứ 17 đời chúa Nguyễn Phúc Tần tức Thái Tông Hiếu Triết Hoàng Đế (1648-1687), Ất Tỵ, ông đi theo thuyền buôn của người Hoa đến tại phủ Quy Ninh (tức Quy Nhơn bây giờ), đứng ra vận động xây chùa Thập Tháp Di Đà, truyền bá đạo Phật khắp nơi. Về sau ông bỏ Quy Nhơn ra Thuận Hóa (Thừa Thiên) vào núi Phú Xuân lập chùa Quốc Ân và xây tháp Phổ Đồng. Thời chúa Nguyễn Phúc Trăn, tức Anh Tông Hiếu Nghĩa Hoàng Đế (1687-1691), ông


124 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng được nhà chúa ủy thác qua Quảng Đông mời Thạch Liêm Hòa Thượng (Thích Đại Sán). Sau khi trở về, ông nhận được sắc chỉ của chúa Nguyễn cho đến trụ trì tại chùa Hà Trung. Lúc lâm bệnh, tăng chúng đến bên giường, ông làm bài kệ rằng: “Tịch tịch cảnh vô ảnh, Minh minh châu bất dung. Đường đường vật phi vật, Liêu liêu không vật không” Tạm dịch: “Lặng lặng gương không ảnh, Sáng thay ngọc tinh trong. Rõ vật chẳng là vật, Vắng không mà chẳng không” Đọc bài kệ xong, ông ngồi ngay thẳng mà tịch (chết), thọ được 81 tuổi. Tăng chúng xây tháp để giữ gìn xá lợi (xương cốt) và tâu xin chúa Nguyễn cho khắc bài minh nói về cuộc đời của ông. Đến thời chúa Nguyễn Phúc Chu, tức Hiển Tông Hiếu Minh Hoàng Đế (1691-1725) là người mộ đạo Phật đã từng quy y với Thạch Liêm Lão Hòa Thượng tại chùa Báo Quốc (chùa Hàm Long), vì mộ mến công đức của sư tổ Tạ Ngôi mộ của Tạ Nguyên Thiều.


Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 125 Nguyên Thiều nên ban cho ông thụy hiệu là Hạnh Đoan Thiền Sư, và làm một bài minh ghi chép công đức như sau: “Ưu ưu bát nhã, Đường đường phạn thất. Thủy nguyệt ưu du, Giới trì chiến lật Trạm tịch cô kiên, Trác lập khả tất. Thị nhân bổn không, Hoàng giáo lợi vật. Biến phú từ vân, Phổ chiếu tuệ nhật. Chiêm chi nghiêm chi, Thái Sơn ngật ngật” Tạm dịch: “Bát nhã tốt tươi, Đường đường nhà Phật. Trăng nước vui chơi, Giữ gìn tươm tất. Trĩu nặng một mình, Mới hòng đứng được. Thân ta vốn không, Mở mang đạo, vật, Rải áng mây lành, Hào quang của Phật. Ngưỡng trông oai thay, Thái Sơn cao ngất!” Từ Quy Nhơn đến Thừa Thiên, vết chân của ông đã đi khắp danh lam thắng cảnh, hiện nay vẫn còn di tích chùa của ông xây ngày xưa. Có thể nói ông là một trong những người đầu tiên đem đạo Phật vào xứ Đàng Trong thời các chúa Nguyễn, có công tạo nên quy củ, nề nếp cho người tu hành cũng như Phật tử. Ngày nay, rất ít người biết đến tên ông cũng như không ai nhắc đến công đức của ông. Nam Cali, 11-10-1998 Nguyễn Lý Tưởng


126 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng “Yêu em anh cũng muốn vô, Sợ truông nhà Hồ, ngại phá Tam Giang” Đó là câu ca dao quen thuộc đối với người dân ở hai bên bờ sông Linh Giang (tức sông Gianh) từ thời Nam Bắc phân tranh, thế kỷ 17 cho đến nay. Câu chuyện khởi đi từ cuộc tranh chấp giữa nhà Lê và nhà Mạc, rồi đến họ Trịnh với họ Nguyễn, Đàng Trong với Đàng Ngoài... Câu chuyện tình lãng mạn giữa một danh tướng nhà Mạc (Lập Bạo) với nàng Ngô Thị, hầu thiếp của Nguyễn Hoàng... Nàng đã chấp nhận bao gian nan nguy hiểm, quyết thực hiện mỹ nhân kế, đánh bại quân nhà Mạc để xây dựng sự nghiệp cho chúa Nguyễn Hoàng... Câu chuyện Ngô Thị và Lập Bạo được truyền tụng trong nhân gian, được thêu dệt thêm bớt để cho có đầu có đuôi với những tình tiết ly kỳ, hấp dẫn. Gần đây, khi đọc lại các tài liệu chính sử của triều đình nhà Nguyễn, chúng tôi phát hiện thêm được nhiều chi tiết liên quan đến lý lịch của Ngô Thị. Vậy xin nêu lên đây để góp phần vào kiến thức chung của mọi người. 1. BỐI CẢNH LỊCH SỬ Năm 1527, Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê, các trung thần nhà Lê bị hãm hại, Nguyễn Hoằng Dụ ở Thanh Hóa đem quân chống lại nhà Mạc. Sau khi Nguyễn Hoàng Dụ chết, con TRUÔNG NHÀ HỒ (Mối tình của Lập Bạo, tướng nhà Mạc và Ngô Thị, nàng hầu của chúa Nguyễn Hoàng qua hai nguồn tài liệu: 1. Lời truyền tụng trong nhân gian. 2. Đối chiếu với chính sử của Triều Đình nhà Nguyễn).


Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 127 là Nguyễn Kim tìm được người con của vua Lê mới tám tuổi, lập lên làm vua chống lại nhà Mạc. Từ Thanh Hóa trở vào thuộc nhà Lê, từ Nam Định trở ra thuộc nhà Mạc. Theo sách “Đại Nam Thực Lục Tiền Biên” Quyển I (bản dịch trang 28) thì Nguyễn Kim bị tướng nhà Mạc tên là Trung (nguyên là hoạn quan trá hàng) đánh thuốc độc chết vào tháng 5 năm Ất Tỵ (1545). Trong tình thế vô cùng khó khăn nên con rể là Trịnh Kiểm lên thay, nắm binh quyền để tiếp tục công cuộc khôi phục nhà Lê, không ngờ Trịnh Kiểm có lòng phản trắc, ghen ghét hai người con của Nguyễn Kim là Nguyễn Uông và Nguyễn Hoàng. Nguyễn Uông vì không đề phòng, nói năng sơ hở nên bị Trịnh Kiểm để ý mà tìm cách giết hại. Nguyễn Hoàng theo lời khuyên của cậu ruột là Nguyễn Ư Kỷ (có bản dịch phiên âm là Nguyễn Ư Tỵ), giả điên, giả khùng, tỏ ra là người tầm thường để cho Trịnh Kiểm không nghi ngờ, đồng thời nhờ chị là Ngọc Bảo, vợ Trịnh Kiểm, xin với chồng cho ông vào Thuận Hóa. Thuận Hóa lúc bấy giờ là nơi biên viễn, một mặt vẫn còn tướng nhà Mạc với lực lượng khá hùng hậu, một mặt vì người Chàm thường hay nổi loạn. Trịnh Kiểm đã tương kế tựu kế, xin vua Lê phong cho Nguyễn Hoàng chức Trấn Thủ Thuận Hóa để nếu Nguyễn Hoàng không chết về tay quân nhà Mạc thì cũng chết về tay người Chàm. Năm 1558, Nguyễn Hoàng đem vợ con, lính tráng và những người đồng hương ở huyện Tống Sơn, Phủ Hà Trung, Tỉnh Thanh Hóa vào Nam lập nghiệp. Lúc đầu ông đóng quân ở Ái Tử, thuộc huyện Đăng Xương, phủ Triệu Phong, Tỉnh Quảng Trị. Nguyễn Hoàng là người có chí lớn, lại được Nguyễn Ư Kỷ làm quân sư, Tống Phúc Trị và Mạc Cảnh Huống là những danh tướng đương thời hết lòng phò tá, nên chẳng bao lâu đã tạo được một giang sơn riêng cho mình. Theo sử sách thì Nguyễn Hoàng chỉ ở nhà tranh, không xa hoa, lại chăm lo việc chính trị, quân sự, mở mang kinh tế, khẩn hoang lập ấp, cho người ngoại quốc vào buôn bán làm cho đất Thuận Hóa trở nên giàu có, khắp nơi nghe tiếng đều theo về với ông. Năm 1569, Trấn Thủ Quảng Nam là Nguyễn Bá Quýnh, vì tuổi già nên xin về hưu để được gần vua. Nhân dịp đó, Ngọc Bảo lại xin Trịnh Kiểm tâu với vua Lê cho Nguyễn Hoàng làm


128 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Trấn Thủ Thuận Hóa kiêm luôn Quảng Nam. Nguyễn Hoàng một mặt ngoại giao tốt đẹp với họ Trịnh, luôn đóng thuế đúng kỳ hạn và thường gởi lễ vật ra biếu họ Trịnh. Một mặt lo vỗ về dân chúng, xây dựng quân đội, ăn ở được lòng quân và dân nên được mọi người hết lòng phò giúp. Năm 1570, Trịnh Kiểm chết, trao quyền cho con trưởng là Trịnh Cối. Trịnh Cối là người hay rượu chè, thưởng phạt không công minh. Trịnh Tùng là em nhưng lại có chí lớn, biết thu phục nhân tâm và tạo vây cánh để tranh quyền với anh. Sau khi Trịnh Kiểm chết rồi, Trịnh Tùng bắt vua đem vào Nghệ An và công khai chống lại Trịnh Cối. Quân Mạc nghe tin Trịnh Kiểm chết, anh em Trịnh Cối, Trịnh Tùng tranh nhau quyền lãnh đạo, nên một mặt cho quân vào đánh Thanh Hóa, một mặt cho quân đi đường biển vào đánh Thuận Hóa để chận đường tiếp viện của Nguyễn Hoàng. Trịnh Cối “lưỡng đầu thọ địch” nên đã đầu hàng nhà Mạc, còn Trịnh Tùng giữ được vua Lê trong tay nên nhân danh vua Lê, ra lệnh cho bá tánh phải theo mình. Ông vừa giữ được Nghệ An khỏi rơi vào tay danh tướng nhà Mạc là Mạc Kính Điển (chú của vua Mạc Mậu Hợp), vừa lấy lại được Thanh Hóa trong tay quân Mạc, nên uy tín của Trịnh Tùng lên cao. Trong khi đó, Nguyễn Hoàng cũng phải đương đầu với một đạo quân tinh nhuệ của nhà Mạc do đường thủy kéo đến. Đạo quân này do Lập Bạo, một người có sức mạnh phi thường, võ nghệ xuất chúng, có tài bơi lội và lặn sâu dưới nước hàng giờ đồng hồ, đã lập được nhiều chiến công, được quân Mạc tôn sùng như thần thánh. Nhà Mạc đã phong cho Lâp Bạo tước Quận Công. 2. NGUỒN TÀI LIỆU CỦA NHÂN GIAN Khi nghe tin Lập Bạo kéo một đoàn quân gồm 60 chiến thuyền vào đóng ở địa phận làng Hồ Xá và làng Lạng Uyển thuộc huyện Minh Linh (nay là Vĩnh Linh), Tỉnh Quảng Trị, chuẩn bị chiếm Thuận Hóa thì Nguyễn Hoàng hết sức lo sợ. Ban đêm, ông chèo thuyền ra giữa sông, một mình trù tính kế hoạch đối phó với địch. Sông Thạch Hãn từ ngã ba Rào Vịnh đến sông Hiếu Giang


Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 129 (Đông Hà ra Cửa Việt) có một chỗ sông rộng gọi là Ngã Ba Giã Độ. Nguyễn Hoàng chọn khúc sông đó để vạch kế hoạch tác chiến. Ông nằm suy nghĩ mãi vẫn không tìm được mưu kế gì... Tỉnh Quảng Trị vào mùa Hè thường có gió Tây Nam gọi là gió Lào, rất mạnh, vừa nóng, vừa khô. Một chiếc thuyền đậu trên sông ban đêm, trong cảnh sóng to gió lớn như thế, càng làm cho ông thêm bối rối, lo sợ. Ông liền khấn với Thủy Thần giúp ông tìm ra mưu kế phá giặc. Thế rồi, ông đã trằn trọc suốt đêm và ngủ thiếp đi lúc nào không biết. Trong giấc mơ, ông được Thủy Thần báo mộng phải dùng “mỹ kế”. Lúc đầu ông không hiểu “mỹ kế” là gì ? Mỹ kế nghĩa là kế đẹp, kế đẹp là kế gì? Suy nghĩ một hồi, ông mới hiểu ra: phải chăng Thủy Thần muốn ông dùng mỹ nhân kế ?- dùng người đẹp để phá giặc. Ông bèn đem chuyện đó ra bàn với các tướng. Mọi người đều đồng ý phải dùng mỹ nhân kế nhưng kế hoạch đó như thế nào ? Ai sẽ đứng ra nhận lãnh trách nhiệm nguy hiểm này? Lúc bấy giờ Nguyễn Hoàng đã ngoài 46 tuổi, các bà vợ đều đã già, chỉ có Ngô Thị còn trẻ, xinh đẹp, ông thường đem theo để hầu hạ bên mình. Nguyễn Hoàng không hề nghĩ đến chuyện phải hy sinh người đẹp của mình cho đại sự. Ông đang suy tính phải tìm một cô gái đẹp nào đó để gánh vác trọng trách, một công tác đặc biệt, một ”mission impossible” trong lúc này. Bỗng Ngô Thị xuất hiện, cô đã thấu hiểu nỗi khó khăn của ông. Cô cũng đã nghe được lời bàn bạc của ông với các tướng trong Bộ Tham Mưu và cô đã tình nguyện đóng vai trò đó để cứu ông trong cơn nguy biến. Thật bất ngờ và như một tiếng sét đánh ngang tai. Nguyễn Hoàng quá xúc động và do dự không quyết định được. Ngô Thị chỉ là một hầu thiếp, chưa có con, nàng thấy được nỗi khó khăn của chúa và tình nguyện hy sinh đời mình để củng cố sự nghiệp lâu dài cho chúa. Nếu nàng bị giặc giết chết thì xin chúa lập miếu thờ nàng và cho bà con họ hàng của nàng được hưởng ơn vua lộc nước. Phải hy sinh người yêu cho sự nghiệp chính trị, cho quyền lợi đất nước, quyền lợi của đồng bào, thật là một sự hy sinh vô


130 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng cùng to lớn đối với Nguyễn Hoàng nhưng nếu không có Ngô Thị tự nguyện hy sinh thì có lẽ kế hoạch đánh bại tướng Lập Bạo khó có thể thành công được. Thế rồi, một buổi sáng, trên bãi cát gần bờ sông, người ta thấy mọc lên một ngôi nhà tranh... và sau đó, xuất hiện một cô gái quê rất đẹp, ngày ngày gánh rượu đi qua chỗ đóng quân của tướng Mạc. Lính tráng thấy người đẹp thì buông lời chọc ghẹo nhưng cô gái vẫn tỏ ra nết na, khôn khéo, đối đáp nhẹ nhàng và không để cho bọn lính kia sàm sỡ với mình được. Tiếng đồn tới tai Lập Bạo, vì tò mò, ông cũng muốn ra xem cho biết mặt mũi cô gái kia thế nào ? Trước chỗ lính đóng quân, một cô gái quê, mặc áo quần đơn sơ mộc mạc, đang ngồi đong rượu ra chai để bán. Cô gái có một nhan sắc đặc biệt hấp dẫn đối với một vị danh tướng đang trên đường hành quân vào sinh ra tử, xa nhà đã lâu. Tướng quân cũng xúc động và ra lệnh cho lính tráng rút lui để ông được trực tiếp với cô gái. Ban đầu, tướng quân hỏi đến tuổi tác, quê quán, cha mẹ, nhà cửa ở đâu. Cô gái đối đáp một cách lễ phép, duyên dáng... Với vẻ dịu dàng, ngây thơ, lại là con nhà gia giáo, cô gái đã làm cho tướng quân không thể xem thường cô được. Từ ý định bông đùa, chọc ghẹo, tướng quân đã đổi ra thái độ cảm phục, kính trọng và say mê cô. Tướng quân ngỏ ý đem cô đi theo để hầu hạ mình nhưng cô gái không chịu. Cô trả lời: - Tướng quân là người có địa vị, cầm quyền sinh sát trong tay, đang chỉ huy muôn người, trên thì thờ vua, dưới thì giúp nước. Tất nhiên tướng quân cũng hiểu đạo lý làm người. Nếu tướng quân có lòng thương thì phải cho người mang sính lễ đến nhà để thưa chuyện với cha mẹ. Cha mẹ đồng ý nhận lễ vật cưới hỏi, có họ hàng chứng kiến, danh chính ngôn thuận thì em mới chịu. Tướng quân nghe lời nói hợp lý, hợp tình nên cũng bằng lòng và hẹn ngày mang sính lễ đến nhà cô gái. Nhà cô ở trong làng xa, gần bờ sông... Cô gái đã chỉ đường và hẹn tướng quân mang lễ vật đến đó. Bên nhà gái đã yêu cầu tướng quân đến như là người con rể trong gia đình. Nếu ông đến với quân đội một cách hùng hổ, ồn ào... thì họ hàng bà con sẽ lo sợ... Ông tướng cũng hứa


Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 131 sẽ tôn trọng ý kiến của gia đình cô. Đúng ngày hẹn, tướng quân cho người mang lễ vật và đích thân ông đến để ra mắt cha mẹ, họ hàng của cô gái. Khi tướng Lập Bạo bước vào nhà, thấy xung quanh vắng vẻ, lòng sinh nghi, ông liền rút dao ngắn kề cổ cô gái nhưng không kịp nữa rồi vì tứ phía đều có người mai phục. Võ sĩ của Nguyễn Hoàng đã đào hầm độn thổ chung quanh nhà, bỗng từ dưới đất chui lên, bao vây Lập Bạo. Trong giờ phút lâm nguy, Lập Bạo tiện tay đâm vào ngực Ngô Thị để kết liễu đời nàng, rồi phóng mình chạy thẳng ra bờ sông lặn mất. Trong lúc đó, hải quân của Nguyễn Hoàng tấn công quân đội của Lập Bạo, hai bên giao chiến ác liệt trên sông. Quân Mạc mất chủ tướng nên hoang mang, rời rạc, lâm vào thế bị phục kích, chẳng bao lâu cũng phải đầu hàng. Riêng Lập Bạo, có tài lặn sâu dưới nước nên khi vừa phóng xuống sông là lặn đi đâu mất. Thuyền của quân Nguyễn Hoàng rượt đuổi trên đoạn sông từ ngã ba Rào Vịnh đến ngã ba Giã Độ là khúc sông rộng nhất mà tìm không ra. Trong lúc đó có một đàn chim trời thường gọi là chim “trảu trảu” vì chúng thường bay từng bầy và kêu “trảu trảu, trảu trảu”, cứ bay theo dấu vết của Lập Bạo. Lập Quận Công lặn đến đâu thì đàn chim bay theo đến đó. Quân của Nguyễn Hoàng đã phát hiện được sự kiện này và cho thuyền đuổi theo cho đến khi Lập Bạo đuối sức phải trồi đầu lên. Các nhà nghiên cứu sử cũng như nhân dân địa phương thường tìm câu giải đáp: Tại sao Lập Bạo lặn đến đâu thì đàn chim bay theo đến đó? Sử gia nhà Nguyễn thì cho rằng Trời giúp Thái Tổ Gia Dũ Hoàng Đế Nguyễn Hoàng nên cho đàn chim dẫn đường đi bắt Lập Bạo. Những người khác thì cho rằng dưới sông có nhiều hàu hến, tôm tép là thức ăn của chim. Lập Bạo lặn dưới nước, làm động các lớp rong rêu và đất, cát, khiến cho các con ốc sò hàu hến mở miệng ra và có bọt sủi lên trên mặt nước nên chim tìm đến chỗ đó kiếm ăn. Quân Nguyễn Hoàng bắt được Lập Bạo, xiềng tay chân lại, bỏ vào trong cái cũi bằng đồng chở về. Khi thuyền đi ngang một chỗ sông sâu trên đường từ Đông Hà ra Cửa Việt thì Lập Bạo ở trong cũi tung mình đưa cả người và cũi bằng đồng rơi xuống vực sâu. Lập Bạo chết rồi, thường linh ứng,


132 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng thuyền bè đi qua chỗ đó hay gặp sóng to gió lớn nên nhân dân lập miếu thờ. Ngày nay vẫn còn di tích gọi là miếu Lập Bạo ở bên bờ sông Hiếu Giang. Dân chúng kể rằng từ ngày lập miếu thờ Lập Bạo đến nay, chỗ đó không còn sóng to gió lớn như trước nữa và thuyền bè đi lại được bình an. 3. ĐỐI CHIẾU VỚI CHÍNH SỬ CỦA TRIỀU ĐÌNH NHÀ NGUYỄN a. Sách “Đại Nam Nhất Thống Chí” Năm 1841 dưới đời vua Thiệu Trị khởi biên bộ sách địa lý nước ta lấy tên là “Đại Nam Thống Chí”. Vua Tự Đức ra lệnh biên soạn lại bộ sách này lấy tên là “Đại Nam Nhất Thống Chí” ghi chép cho đến năm 1881. Trong biến cố 1885, kinh thành Huế thất thủ dưới thời vua Hàm Nghi, bộ sách này bị thất lạc thiếu mất một phần nên dưới đời vua Duy Tân (1909) Quốc Sử Quán căn cứ vào hai bộ sách nói trên và soạn lại bộ “Đại Nam Nhất Thống Chí” mới là bộ sách đầy đủ nhất mà chúng ta hiện có ngày hôm nay. Theo bản dịch từ Hán văn ra Việt văn của Phạm Trọng Điềm (Đào Duy Anh hiệu đính), nhà xuất bản Thuận Hóa dưới sự bảo trợ của Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam (Viện Sử Học Hà Nội) bản in năm 1996 viết về chuyện Ngô Thị và Lập Bạo (tướng nhà Mạc) như sau: “Ở xã Ái Tử, huyện Đăng Xương, thờ thần Trảu Trảu linh thu phổ trạch tướng hựu phu nhân. Hồi xưa Thái Tổ ta trấn thủ Thuận Hóa, tướng Mạc là Lập Bạo đem quân vào lấn, chúa thượng thân đi đánh, đóng quân ở bến sông Ái Tử, nghe có tiếng “trảu trảu”, chúa thượng lấy làm lạ, đứng dậy nhìn, thì chỉ thấy làn sóng ào ào mà thôi, nhân lẩm nhẩm khấn rằng: “Thần sông có thiêng, nên giúp ta đánh tan quân giặc”. Đêm hôm ấy, mộng thấy một người đàn bà đến trước mặt, xin dùng “mỹ kế”, phải chăng là kế mỹ nhân? Bèn sai nàng hầu là Ngô Thị đi dụ Lập Bạo, giả vờ mời Lập Bạo đến hội thề để giảng hòa. Lập Bạo mê nhan sắc Ngô Thị, liền đi. Chúa thượng nhân đặt phục binh bắt giết Lập Bạo. Sau khi xong việc, bèn lập đền thờ thần ở đấy. Năm Thiệu Trị thứ 2, khi đi Bắc tuần, nhà vua có làm thơ ghi lại sự tích” (trang 197). (Lời chú thích của Nguyễn Lý Tưởng: Bản chữ Hán viết hai chữ “Trảu Trảu” nhưng người dịch là Phạm Trọng Điềm đọc nhầm ra là “Oa Oa” vì chữ “Qua”, “Oa” viết gần giống


Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 133 chữ “Trảo” (là móng, vuốt). Người địa phương gọi nơi đó là “Bến Trảu Trảu” nhưng vì dịch giả không biết rõ sự tích này nên đã phiên âm sai là “Oa Oa”). b. Sách “Đại Nam Thực Lục Tiền Biên” Đại Nam Thực Lục Tiền Biên do Quốc Sử Quán triều Nguyễn biên soạn (Trương Đăng Quế làm Tổng Tài), Viện Sử Học Hà Nội phiên dịch và xuất bản lần đầu năm 1962, quyển thứ I về Thái Tổ Gia Dũ Hoàng Đế (Nguyễn Hoàng) trang 35 như sau: “Năm Nhâm Thân, năm thứ 15 (1572) (Lê Hồng Phúc năm thứ 1, nhà Minh hiệu Long Khánh năm thứ 6) mùa Xuân, tháng Giêng, vua Lê đổi niên hiệu là Hồng Phúc. Mùa Thu, tháng 7, tướng Mạc là Lập Bạo (không rõ họ, tự xưng quận công) lấy người ở châu Bắc Bố Chính (nay là huyện Bình Chính) dẫn đường đem 60 binh thuyền vượt biển vào đánh cướp, đóng trại từ con đường xã Hồ Xá đến đền Thanh Tương xã Lãng Uyển. Thế giặc đương mạnh. Chúa đem quân chống giữ, đóng ở sông Ái Tử, đêm nghe từ ở lòng sông có tiếng kêu “trảo trảo”, lấy làm lạ. Khấn rằng: “Thần sông có thiêng thì giúp ta đánh giặc”. Đêm ấy, chúa ngủ mộng thấy một người đàn bà mặc áo xanh, tay cầm quạt the, đến trước trình rằng: “Minh công muốn trừ giặc thì nên dùng mỹ kế dụ đến bãi cát, thiếp xin giúp sức!” Tỉnh dậy, chúa ngẫm nghĩ rằng: “Người đàn bà trong mộng báo ta nên dùng “mỹ kế”, phải chăng là dùng kế mỹ nhân?”. Trong đám thị nữ có Ngô Thị (tên gọi Ngọc Lâm, người làng Thế Lại, có tên nữa là Thị Trà) có sắc đẹp, và mưu cơ biện bác. Chúa sai nàng đem vàng lụa đi dụ Lập Bạo tới chỗ sông có tiếng kêu “trảo trảo” để giết. Ngô Thị đến trại Lập Bạo nói rằng: “Chúa công thiếp nghe tin tướng quân ở xa đến, cho thiếp mang quà mọn đến để cùng giảng hòa, đừng đánh nhau nữa”. Lập Bạo thích sắc đẹp của Ngô Thị, giả cách giận nói rằng: “Người lại đây làm mồi nhử ta phải chăng?”. Ngô Thị uyển chuyển thưa gửi, Lập Bạo liền tin và giữ lại trong trướng. Ngô Thị nhân đấy mời Lập Bạo đến bờ sông để cùng chúa họp thề. Lập Bạo nghe lời, Ngô Thị đem việc ấy mật báo trước. Chúa lập tức dựng một ngôi đền tranh ở bên sông, chỗ có tiếng kêu “trảo trảo” để làm nơi họp thề và đào hầm đặt phục binh. Đến hẹn, Lập Bạo cùng Ngô Thị ngồi thuyền nhỏ, chỉ vài chục người theo hầu. Khi đến bến, thấy dưới cờ chúa cũng chỉ có vài chục người thôi,


134 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Lập Bạo thản nhiên không ngờ, bèn lên bờ thong thả bước đến cửa đền. Thình lình phục binh nổi dậy. Lập Bạo sợ chạy xuống thuyền, thuyền đã xa bãi rồi. Lập Bạo nhảy theo, rơi xuống nước, quân ta bắn chết ngay, rồi thừa thắng tiến đến trại Thanh Tương. Gió to nổi lên, thuyền giặc đắm hết. Quân giặc đem nhau đầu hàng, chúa cho ở đất Cồn Tiên (tức tổng Bái Ân bây giờ) đặt làm 36 phường. Chúa đem quân về, thưởng công cho Ngô Thị, gọi phó đoàn sự vệ Thiên Võ là Vũ Doãn Trung gả cho. Lại phong thần sông là “Trảo Trảo linh thu phổ trạch tướng hựu phu nhân” và lập đền thờ”. Xưa nay các nhà nghiên cứu cũng như dân địa phương thường căn cứ vào lời truyền tụng trong nhân gian và sách “Đại Nam Nhất Thống Chí” bộ mới, xuất bản dưới triều Duy Tân - Khải Định mà ít ai trích dẫn sách “Đại Nam Thực Lục”. Hai bộ sử quan trọng của nhà Nguyễn là Thực Lục và Liệt Truyện. Mỗi bộ gồm có hai phần: Tiền Biên và Chính Biên. “Đại Nam Thực Lục Tiền Biên” ghi chép công việc của các chúa Nguyễn và “Đại Nam Thực Lục Chính Biên” về các vua Nguyễn. “Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên” ghi chép sự tích các hậu phi, hoàng tử, công chúa, công thần, nghịch thần và danh nhân trong nước (dưới thời các chúa Nguyễn) và “Đại Nam Liệt Truyện Chính Biên” (dưới thời các vua Nguyễn). Qua “Đại Nam Thực Lục Tiền Biên” quyển I về chúa Nguyễn Hoàng, chúng ta được biết rõ lý lịch của người đàn bà họ Ngô, tên là Ngô Thị Ngọc Lâm hay Thị Trà, người làng Thế Lại..., điều mà từ trước ít người biết rõ. Về sau Ngô Thị được chúa Nguyễn Hoàng gã cho Vũ Doãn Trung... Nàng không bị Lập Bạo, tướng nhà Mạc giết như truyền thuyết... Quân lính của Lập Bạo ước vào khoảng 5.000 người đã đầu hàng. Nguyễn Hoàng cho họ đến lập nghiệp ở vùng đất mới gọi là Bát Phường nay là các làng Nam Đông, Vạn Kim, Vạn Thiện v.v... thuộc huyện Gio Linh, Tỉnh Quảng Trị, trên một giải đất đỏ từ Khe Sanh đến Bến Hải. Quân lính của Lập Bạo rất giỏi, đa số là người có học, biết tổ chức. Họ đã để lại những công trình thủy lợi rất lớn ở vùng này. Họ đã làm được những “mương” bằng đá để dẫn nước từ trong núi ra đồng bằng cho dân chúng dùng. Họ khai khẩn đất hoang, mở mang đường sá, tổ chức học hành. Tuy đây là vùng xa xôi hẻo lánh, cách thị trấn Quảng Trị chừng 50 cây số về hướng Tây Bắc


Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 135 (vùng núi) nhưng vẫn có nhiều người đỗ đạt, giàu có, danh tiếng. Một số lính của nhà Mạc không chịu đầu hàng, đã trốn tránh và vào ẩn núp trong vùng cận sơn Hồ Xá (thường gọi là Truông Nhà Hồ) làm nghề thảo khấu, đón khách qua lại trên đường thiên lý Bắc Nam để cướp bóc. “Truông” là vùng đất hoang vu, có những bụi cây lúp xúp giống như một cánh rừng hoang, không có cây lớn rậm rạp như rừng già. Dưới thời các chúa Nguyễn, dân chúng rất khổ sở vì bọn này. Mãi về sau nhờ quan Nội Tán Nguyễn Khoa Đăng lập mưu vào tận sào huyệt bắt hết bọn chúng, từ đó vùng này mới được yên. Có câu ca dao: “Yêu em, anh cũng muốn vô, Sợ Truông Nhà Hồ, ngại Phá Tam Giang”. Đó là lời chàng trai ở Đàng Ngoài (Bắc sông Gianh) là đất của chúa Trịnh, nói với cô gái Đàng Trong (Nam sông Gianh) đất của chúa Nguyễn. Và cô gái ở Đàng Trong đáp lại rằng: “Phá Tam Giang ngày rày đã cạn, Truông Nhà Hồ Nội Tán dẹp yên”. Nội Tán là ông Nguyễn Khoa Đăng (1691-1725), giữ chức Nội Tán thời các chúa Nguyễn. Phá Tam Giang thuộc huyện Hương Điền, Tỉnh Thừa Thiên (1). Vua Thiệu Trị (1848-1854) có cho dựng bia đá, ghi lại sự tích và công nghiệp của Ngô Thị tại bến Trảu Trảu, nơi thủy thần ứng mộng gọi là “Đền Trảu Trảu phu nhân...” Vai trò của Ngô Thị trong lịch sử thời Nguyễn Hoàng là một sự kiện lớn trong sử sách, còn ly kỳ hơn cả trường hợp Điêu Thuyền với Đổng Trác thời Tam Quốc bên Tàu nhưng vì ít người chịu nghiên cứu sử Việt Nam và cũng vì sử sách xưa để lại (đa số bằng Hán Văn) nên ít người đọc được. Do đó mà ít người biết đến câu chuyện Ngô Thị với Lập Bạo. Nguyễn Lý Tưởng Chú Thích: 1. Chú thích về dòng họ Nguyễn Khoa: - Sách Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên (chính sử của triều đình nhà Nguyễn, ghi chép về các công thần dưới thời các chúa


136 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Nguyễn từ Nguyễn Hoàng đến chúa Nguyễn Phúc Ánh, được biên soạn từ năm 1841, Thiệu Trị thứ nhất) chỉ nhắc đến tên của bốn nhân vật: Nguyễn Khoa Chiêm, Nguyễn Khoa Đăng, Nguyễn Khoa Toàn, Nguyễn Khoa Kiên. Những người khác thuộc dòng họ Nguyễn Khoa cộng tác với vua nhà Nguyễn được tên ghi vào sách “Đại Nam Liệt Truyện Chính Biên”. - Nhưng theo sách “Nguyễn Khoa Nam” (Thiếu Tướng Việt Nam Cộng Hòa tuẫn tiết trong biến cố 30-4-1975) do Hội Phát Huy Văn Hóa Việt Nam xuất bản năm 2001 (tr.8) thì dòng họ Nguyễn Khoa chánh gốc làng Trạm Bạc, huyện Kim Môn, tỉnh Hải Dương, Bắc Việt. Đời thứ nhất là ông Nguyễn Đình Thân (1553-1633), theo thân phụ là một sĩ quan trong quân đội của chúa chúa Nguyễn vào Ái Tử (Quảng Trị) năm 1558. Lúc đó ông Thân mới 5 tuổi. Năm 20 tuổi, ông đã làm đến chức Lãnh Binh tỉnh Quảng Trị, về sau được phong tước Đô Thắng Hầu. Đời thứ hai là ông Nguyễn Đình Khôi (1594-1678) tước Thuần Mỹ Nam, Cựu Dinh Tướng Thần. Đời thứ ba là Nguyễn Khoa Danh (1633-1697) tước Cảnh Lộc Bá, Chánh Dinh Cầu Kê, được chúa Nguyễn cho đổi ra họ Nguyễn Khoa (có nghĩa là khoa bảng, đỗ đạt)... nhưng đến đời thứ tư là Nguyễn Khoa Chiêm (1659-1736) thì tên tuổi mới được ghi vào sử sách. Năm thứ 10 đời vua Minh Mạng (1829), ông Nguyễn Khoa Minh (1778-1837), Vệ Úy Lễ Bộ, đã làm đơn xin nhập vào sổ dân đinh làng An Cựu, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên (làng An Cựu nay thuộc huyện Hương Thủy). Ngày nay phủ thờ dòng họ Nguyễn Khoa ở thôn Gia Lạc, xã Dương Nỗ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên. Nội Tán Diên Tường Hầu Nguyễn Khoa Đăng (1691- 1725) là con của ông Nguyễn Khoa Chiêm.


Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 137 MINH ĐỨC VƯƠNG THÁI PHI Trong các tài liệu của các nhà truyền giáo thế kỷ 17 để lại, có nhắc đến tên bà Maria Minh Đức như là một trong những người theo đạo Công Giáo đầu tiên dưới thời các chúa Nguyễn và đã có công giúp đỡ các nhà truyền giáo và anh em tín hữu trong bước đầu mở mang đạo Chúa tại Đàng Trong (Miền Nam). Vào khoảng 1642 đến 1648 dưới thời chúa Nguyễn Phúc Lan, các giáo sĩ như Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ), Pedro Marquez và Phanxicô Rivas... thường nhắc nhở đến tên bà. Theo tài liệu của các giáo sĩ để lại thì bà là mẹ của hoàng tử Nguyễn Phúc Khê, cũng là một người theo đạo Công Giáo. Bà đã dâng cúng ngôi nhà của mình để làm nhà nguyện và giúp đỡ các giáo sĩ, tín hữu thời đó rất nhiều. Nhờ ảnh hưởng của bà mà các giáo sĩ đã đặt được những cơ sở đầu tiên tại vùng Quảng Trị, Thừa Thiên v.v.... Hiện nay còn một địa danh gọi là Dinh Cát (ở vùng Ái Tử, Quảng Trị) là nơi đặt Bộ Chỉ Huy của chúa Nguyễn Hoàng khi mới vào Miền Nam, 1558. Dinh Cát là tiếng Việt, còn trong sách sử thì gọi là Cát Dinh. Bên đạo Công Giáo cũng có tên “Hạt Dinh Cát” thuộc giáo phận Huế bao gồm các giáo xứ từ Nam sông Gianh thuộc Quảng Bình cho đến Quảng Trị. Dinh Cát là nơi có nhà nguyện đầu tiên của bà Minh Đức trong phạm vi dinh trấn của chúa Nguyễn Hoàng. Dinh Cát được nhắc đến rất nhiều trong sử sách của nhà Nguyễn, nơi đó hiện nay vẫn còn những dấu vết như mô đất để đặt súng đại bác (gọi là mô súng), dấu chân thành còn gạch và đất, chỗ đúc


138 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng súng đạn hiện còn những viên chì nhỏ bên bờ sông, có Miếu Bông là ngôi chùa nhỏ đã có từ thời Vĩnh Tộ nhà Lê (1620- 1628)... Sau 1965, Mỹ đã xây dựng một căn cứ quân sự lớn và một phi trường gọi là phi trường Ái Tử. Do công tác đó mà những mồ mả của các họ tộc lớn ở đây bị dời đổi, cảnh quang của vùng này cũng khác xưa. Từ 1962 đến nay, chúng tôi chưa có dịp trở lại khảo sát vùng này nên không biết có còn di tích cũ nữa hay không nhưng trước chúng tôi, Linh Mục Léopold Cadière, một sử gia đã để ra 40 năm sống và nghiên cứu lịch sử Việt Nam, ngài đã viết tập tài liệu nhỏ, nhưng rất đầy đủ là “Les royaumes des Nguyễn avant Gia Long” (Triều Nguyễn trước Gia Long). Trong đó, ngài đã ghi lại đầy đủ các di tích của vùng Ái Tử (tức Dinh Cát), dựa vào đó, ngày nay chúng ta cũng có thể tìm hiểu được phần nào nơi bà Minh Đức đã ở và đã dùng nơi đó làm nhà nguyện. Nhiều sử gia cho rằng nhà nguyện do bà Minh Đức dâng cúng ở tại Kim Long (Huế), vì từ sau Nguyễn Phúc Nguyên (chúa Sãi), các chúa Nguyễn đã dời về Kim Long. Điều đó có lẽ không đúng vì trước khi kinh đô của chúa Nguyễn dời về Kim Long thì đã lần lượt dời về Trà Bát (Quảng Trị) 1570, Bác Vọng (Quảng Điền, Thừa Thiên) 1626 và sau đó mới dời về Kim Long 1636. Năm Đinh Mão 1687, chúa Nguyễn Phúc Trăn dời về làng Phú Xuân tức Huế bây giờ. Chúa Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765), bắt đầu xây kinh đô nguy nga tráng lệ, sau đó Gia Long (1802-1820) đã mở rộng và xây dựng một hoàng thành lớn nhất Việt Nam từ trước tới nay. Bà Minh Đức, theo các tác giả Phan Phát Huồn, Phạm Đình Khiêm, Lê Ngọc Bích v.v... thì có lẽ mất vào khoảng 1648-1649 tức dưới thời chúa Nguyễn Phúc Lan (1635-1648) hoặc đầu đời Nguyễn Phúc Tần (1649). Có lẽ các sử gia này đã dựa vào các tài liệu ghi chép về bà Minh Đức của các nhà truyền giáo. Sau khi chúa Nguyễn Hoàng, chồng của bà chết vào năm 1613, thì bà vẫn còn sống được qua đời con là Nguyễn Phúc Nguyên, cháu là Nguyễn Phúc Lan và chắt là Nguyễn Phúc Tần (lên ngôi năm 1649) nhưng theo chúng tôi thì bà đã theo đạo từ thời Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635), con của Bà. Như vậy khi bà theo đạo và dâng cúng tư dinh của mình


Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 139 làm nhà nguyện cho các giáo sĩ thì lúc đó bà còn ở Dinh Cát (Quảng Trị) chứ chưa vào Huế và danh từ Hạt Dinh Cát để chỉ lãnh thổ của các giáo xứ thuộc Quảng Trị, Quảng Bình chính là xuất phát từ Dinh Cát, nơi ở của bà Minh Đức. Theo giáo sĩ Đắc Lộ thì bà được cha Pina rửa tội trước năm 1623 là năm mà cha Đắc Lộ gặp cha Pina tại cửa Hàn, Quảng Nam. Người Nhật được các chúa Nguyễn cho lập phố xá để buôn bán ở Hội An nên vào khoảng 1640, giáo sĩ Đắc Lộ nương tựa trong khu nhà của người Nhật vì có những tu sĩ người Nhật trong tu hội Dòng Tên ở đó. Từ Hội An, ngài đã ra Huế, dâng lễ vật xin triều yết chúa Nguyễn Phúc Lan và dịp đó, ngài đã liên lạc được với bà. Bấy giờ bà đã về ở Kim Long. Bà đã dùng ông Phêrô Văn Nết (sinh năm 1606 tại Trà Bát, Quảng Trị) làm quản lý. Văn Nết về sau đã chịu tử vì đạo vào khoảng 1656 thời Nguyễn Phúc Tần tức Hiền Vương. Các sử gia ước đoán bà Minh Đức qua đời năm 1648 hay 1649. Vì sau khi bà mất, các tín hữu không nơi nương tựa nên bị bà Tống Thị, vợ chúa Hiền Vương, là người ghét Đạo, đã xúi giục chúa và các quan giết hại người Công Giáo. Cha Đắc Lộ đã làm lễ tại nhà bà Minh Đức năm 1640, nơi đó là Kim Long thay vì Dinh Cát. Tháng 6, 1640 ngài đi Macao. Sau khi bà Minh Đức chết rồi thì ông Phêrô Văn Nết dùng ngôi nhà riêng của mình làm nhà nguyện cho các giáo sĩ và tín hữu lui tới dâng thánh lễ và kinh nguyện chung. Năm 1643, giáo sĩ Inhaxio đã dâng thánh lễ mừng Giáng Sinh (Noel) tại nhà ông Nguyễn Phúc Khê, con của bà Minh Đức. Các sử gia Công Giáo thường nói đến bà Minh Đức, mẹ ông Nguyễn Phúc Khê mà không ai đề cập đến bà Minh Đức là mẹ của chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên. Trước khi trưng dẫn sử liệu về bà Minh Đức mẹ của chúa Sãi, chúng tôi xin giới thiệu về ông Nguyễn Phúc Khê dựa trên tài liệu chính sử của nhà Nguyễn. Theo sách Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên (bản Hán Văn), quyển thứ 2, trang 7 thì hoàng tử Nguyễn Phúc Khê là con thứ mười của Thái Tổ Gia Dũ hoàng đế (tức chúa Nguyễn Hoàng), mẹ là bà Minh Đức Vương Thái Phi. Ông được phong chức Tổng Trấn Tường Quận Công vào năm Bính Dần 1626 tức năm thứ 13 đời chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên (Hy Tông Hoàng Đế) nhằm vào năm thứ 8 niên hiệu Vĩnh Tộ nhà Lê.


140 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Hình bìa sách Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên.


Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 141 Ông được quyền quyết định mọi việc chính trị, chỉ có trọng án như tử hình mới phải tâu lại mà thôi, như vậy đủ biết chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên tin cậy ông như thế nào. Khi sắp mất, chúa Nguyễn Phúc Nguyên đã trối con trai là Nguyễn Phúc Lan lại cho ông. Nguyễn Phúc Lan tức chúa Thượng, nối ngôi chúa Sãi vào năm 1635, mất năm 1647, miếu hiệu Thần Tông Hiếu Chiêu Hoàng Đế. Nguyễn Phúc Khê mất vào mùa thu năm Bính Tuất (1646), thọ 58 tuổi. Chúa Nguyễn Phúc Lan ban cho ông chức Thượng Trụ Quốc, Bình Chương Quân Quốc Đại Sự, Tổng Trấn Quận Công, lập đền thờ ở làng Nam Phổ, thuộc huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên. Gia Long năm thứ tư (1806), cho ông là hàng công thần đầu tiên của nước, thờ ở Thái Miếu, cấp 15 mẫu tự điền, 4 người mộ phu để trông coi mồ mả. Minh Mạng thứ 12 (1831) tôn ông lên làm Khai Quốc Tôn Thần, Tôn Nhơn Phủ, Tôn Nhơn Lệnh, Nghĩa Hưng Quận Vương. Về bà Minh Đức, chưa có sử gia Công Giáo nào nêu rõ lý lịch của bà: họ gì? tên gì? con ai? quê quán ở đâu? sinh và mất năm nào? chôn ở đâu? Có lẽ các vị đó đã bỏ qua không chú ý đến phần tài liệu Hán Văn trong sử sách của nhà Nguyễn? Quốc Sử Quán nhà Nguyễn đã biên soạn và xuất bản nhiều sử sách quan trọng dưới thời Thiệu Trị và Tự Đức, trong đó có hai bộ lớn là Thực Lục và Liệt Truyện. Mỗi bộ chia làm hai phần là Tiền Biên và Chính Biên. Sách Thực Lục ghi chép công việc của vua chúa. Thực Lục Tiền Biên chép về các chúa Nguyễn từ Nguyễn Hoàng đến Nguyễn Phúc Ánh (Nguyễn Vương) đó là thời gian chưa chính vương vị (chưa lên ngôi hoàng đế). Thực Lục Chính Biên chép về các vua nhà Nguyễn từ Gia Long về sau, nghĩa là từ khi Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi hoàng đế, thống nhất đất nước (chính vương vị). Liệt Truyện là sách nói về các hậu, phi, hoàng tử, công chúa, các công thần (quan văn, quan võ), nghịch thần, danh nhân trong nước v.v... Liệt Truyện Tiền Biên là truyện của các vị ấy dưới thời các chúa Nguyễn, còn Liệt Truyện Chính Biên là truyện các vị ấy dưới thời các vua nhà Nguyễn. Sách Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên, bản Hán Văn, quyển thứ nhất, trang thứ ba, viết về bà Minh Đức như sau: “Thái Tổ Gia Dũ Hoàng Hậu Nguyễn thị, dị tộc, sự tích thất tường, đản


142 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng tử nhất, thị vi Hy Tông Hoàng Đế. Hạ, ngũ nguyệt, niên khuyết, băng. Táng Vĩnh Cơ lăng, thuộc Hải Cát sơn phận. Gia Long thất niên thủy, truy thưởng lăng danh, hậu phỏng thử...” (Xin tạm dịch là: Hoàng Hậu của Thái Tổ Gia Dũ, người họ Nguyễn (khác họ Nguyễn của vua), sự tích đã mất, nay không rõ. Bà sinh được một người con trai là Hy Tông Hoàng Đế (Nguyễn Phúc Nguyên). Bà mất vào tháng 5, mùa Hạ (không biết năm nào), chôn ở Vĩnh Cơ lăng (thuộc miền núi Hải Cát). Năm Gia Long thứ bảy (1808) bắt đầu truy tên lăng, sau đều bắt chước theo đó”. Tiếp theo: (Dịch) “Thế Tông Hoàng Đế (Nguyễn Phúc Khoát) năm thứ sáu (1744) Bính Dần, truy tên Thụy gọi là Từ Lương Quang Thục Ý Phi. Sau thêm hai chữ Minh Đức. Gia Long năm thứ năm, tức Bính Dần (1806) lại truy tôn gọi là Từ Lương Quang Thục Minh Đức Ý Cung Gia Dũ Hoàng Hậu”. Sử nhà Nguyễn ca tụng bà như sau: “Sách Văn Lược viết rằng: Búa Việt cờ Mao định nước là do công vua thánh; tay ngọc lo yên ổn việc nhà là nhờ đức của hậu. Kính nghĩ: Từ Lương Quang Thục Minh Đức Nguyễn Ý Phi điện hạ, lấy thánh mà sánh đôi với Một trang trong sách Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên nói về Minh Đức Vương Thái Phi.


Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 143 thánh, giúp việc xây dựng nhà cửa nơi tân ấp, gắng sức cần lao nơi quân ngũ, kính lễ chốn phòng the trong gia đình, nết tốt trải khắp nước nhà, phúc dài đến cả con cháu, những người nối dõi ngày nay thảy đều nhờ vào phúc thừa để lại mà việc tốt càng thêm rạng rỡ”. Những câu xưng tụng ấy dành cho bậc đế vương thật là tôn quý, cao sang. Sử gia nhà Nguyễn đã xem bà là người cộng tác với chúa Nguyễn Hoàng (Thái Tổ Gia Dũ Hoàng Đế) làm nên sự nghiệp thủa ban đầu, lại còn sinh được con trai nối ngôi cha tức chúa Nguyễn Phúc Nguyên... Từ đó, con cháu đời đời nối nghiệp. Đó là công lao to lớn. Các sử gia cũng nêu lên những đức tính cao quý của bà và đề nghị tặng bà danh hiệu cao nhất: “Từ Lương Quang Thục Minh Đức Ý Cung Gia Dũ Hoàng Hậu”, thờ chung vào nơi Thái Miếu (tức miếu thờ Nguyễn Hoàng). Trong tài liệu trên nói rõ chúa Sãi Nguyên Phúc Nguyên tức Hy Tông Hoàng Đế là con của bà và phần nói về Nguyễn Phúc Khê, sử cũng ghi rõ mẹ của ông là Minh Đức Hoàng Hậu. Như vậy Nguyễn Phúc Khê và chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên là anh em cùng cha (Nguyễn Hoàng) và cùng mẹ (bà Minh Đức). Trước khi mất, chúa Sãi gọi ông Nguyễn Phúc Khê vào, đem con trai còn nhỏ là Nguyễn Phúc Lan gởi gắm cho ông, cử ông làm Phụ Chính cho chúa Nguyễn Phúc Lan. Sãi Vương nói với ông rằng: “Ta nối nghiệp tổ tiên, có chí trên lo phò vương thất, dưới cứu giúp trăm họ. Nay thế tử chưa đủ lịch duyệt, cho nên phàm mọi điều quân quốc đại sự đều tin tưởng giao cho hiền đệ xét xử và quyết định”. Ông rập đầu khóc mà tâu: “Tôi xin đem hết sức hèn này mà báo đền ơn chúa” (Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên, bản dịch của Trần Vinh Anh, Lê Ngọc Bích, Nguyễn Đức Cung, Nguyễn Lý Tưởng, tr.62) Qua các công trình nghiên cứu về bà Minh Đức, một trong những tín hữu đầu tiên thời mở mang đạo Chúa tại Việt Nam (thế kỷ 17), chúng tôi không thấy các sử gia chú ý đến các tài liệu của Quốc Sử Quán triều Nguyễn và chúng tôi cũng không thấy sử gia triều Nguyễn nói đến việc bà theo đạo Công Giáo, có lẽ vì họ không biết và cũng có thể vì chủ trương của các vua triều Nguyễn như Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức cấm Đạo... nên họ không thể nhắc đến việc tổ tiên họ đã theo đạo Công Giáo, một tôn giáo mà họ cho là tà đạo.


144 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Các sử gia Công Giáo như Linh Mục Phan Phát Huồn, Linh Mục Nguyễn Văn Ngọc, ông Phạm Đình Khiêm, Ôông Lê Ngọc Bích v.v... khi giới thiệu bà Minh Đức đều nói rằng bà là “vợ bé” của chúa Nguyễn Hoàng. Các sử gia nói trên chỉ biết bà là mẹ của hoàng tử Nguyễn Phúc Khê mà không ai nhắc đến chi tiết quan trọng: bà là mẹ của chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên, người kế vị chúa Nguyễn Hoàng. Sử nhà Nguyễn nói rõ bà là Hoàng Hậu của Thái Tổ Gia Dũ Hoàng Đế (Nguyễn Hoàng), con bà là Hy Tông Hoàng Đế (Nguyễn Phúc Nguyên), bà được truy tặng “Từ Lương Quang Thục Minh Đức Ý Cung Gia Dũ Hoàng Hậu”, được thờ nơi Thái Miếu là miếu thờ chúa Nguyễn Hoàng. Ngoài bà ra, không có một người nào khác được tôn làm hoàng hậu của chúa Nguyễn Hoàng và cũng không có một người nào khác được gọi là Minh Đức Vương Thái Phi. Trong sử nhà Nguyễn chỉ có một người đàn bà duy nhất có tên là Minh Đức mà thôi. Khi các nhà truyền giáo gặp bà thì lúc đó chồng bà là chúa Nguyễn Hoàng đã chết từ mười năm trước (1613) và khi cha Đắc Lộ đến làm lễ tại nhà bà 1640 thì con của bà là chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên cũng đã qua đời 1635, chỉ còn lại ông hoàng Nguyễn Phúc Khê, quyền Nhiếp Chính dưới thời chúa Nguyễn Phúc Lan (1635-1648). Lúc đó bà đã già và sống ẩn dật nên người ta không biết đến địa vị cao sang của bà là hoàng hậu, là mẹ của vua (chúa). Người ta chỉ nhắc đến ông hoàng Nguyễn Phúc Khê là con của bà mà không nhắc đến chúa Nguyễn Hoàng chồng của bà và chúa Sãi là con của bà đã chết. Ngày hôm nay, khi bổ túc một vài sử liệu về bà Minh Đức, một lần nữa chúng ta nhắc đến công đức của bà, không những đối với con cháu nhà Nguyễn mà đối với Giáo Hội Công Giáo Việt nam, bà là một trong những người đầu tiên góp công mở mang đạo Chúa vào thời phôi thai, thế kỷ thứ 17 tại Việt Nam. Nguyễn Lý Tưởng


Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 145 ĐÀO DUY TỪ Sách “Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên”, một bộ sử của nhà Nguyễn viết về các công thần từ thời chúa Nguyễn Hoàng cho đến Nguyễn Vương (Nguyễn Phúc Ánh), quyển thứ ba, trang 15, đã giới thiệu về Đào Duy Từ như sau: “Đào Duy Từ, người làng Ngọc Sơn (nay là làng Hoa Trai, Phủ Tỉnh Gia) Thanh Hóa, con của người làm nghề ca xướng là Đào Tá Hán. Ông sinh ra vốn sẵn đĩnh ngộ lạ thường, bác thông kinh sử, giỏi văn chương, lại rành môn tử vi, thuật số...”. Mới vào đầu với lời giới thiệu như thế cũng đủ thấy rõ các sử gia nhà Nguyễn đã đánh giá Đào Duy Từ rất cao. Ở Đàng Ngoài, ông không được trọng dụng vì là con nhà hát xướng, nên ông đã bỏ Miền Bắc vào Nam tìm minh chúa. Đi đến Vũ Xương (sau là huyện Đăng Xương, Phủ Triệu Phong, Tỉnh Quảng Trị), ông nằm lại ở đó hơn một tháng để nghe ngóng tình hình mà người của chúa Nguyễn cũng không hay biết. Ông nghe tin quan Khám Lý Quy Nhơn là Trần Đức Hòa là người được chúa Nguyễn yêu quý, tin dùng nên ông tìm vào Bình Định đến xin làm người giữ trâu cho một nhà giàu ở làng Tùng Châu (thuộc phủ Hoài Nhơn, Bình Định) để đợi cơ hội ra mắt họ Trần. Sử không nói rõ ông vào làng này năm nào, lúc đó ông bao nhiêu tuổi và ông phải chờ đợi bao lâu mới gặp được Trần Đức Hòa nhưng một người tài hoa như ông mà bước đầu phải cam chịu khuất thân, ẩn dật, chưa được nhân sĩ Đàng Trong để mắt đến, quả thật là thiên hạ có mắt mà không tròng. Một hôm chủ nhà thết tiệc rượu mời danh sĩ trong vùng đến đàm đạo, ngâm vịnh mua vui, trong số khách được mời


146 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng có Trần Đức Hòa. Chiều đến, Đào Duy Từ dẫn trâu về, thấy có cuộc đàm đạo, biết là thời cơ đã đến rồi nên ông bèn trổ tài, ngang nhiên cầm roi đứng trước cửa đàm luận cổ kim với mọi người, không điều gì mà ông không thông suốt. Tất cả cử tọa đều hết sức ngạc nhiên, riêng chủ nhà thì lấy làm sợ... bèn đem chuyện Đào Duy Từ đến nhà mình xin trú ngụ mà thưa với Trần Đức Hòa. Trần Đức Hòa đàm đạo với Đào Duy Từ, thấy ông là người bác thiệp đa văn nên đem lòng yêu mến, sau đó mời ông về nhà và trọng đãi ông như là một nhân sĩ, lại còn gả con gái cho nữa. Đào Duy Từ thường ngâm bài “Ngọa Long Cương” (con rồng nằm trong núi) để tự ví mình với Gia Cát Lượng. Trần Đức Hòa biết Đào Duy Từ là người có chí lớn và nghĩ bụng “phải chăng Đào Duy Từ cũng là một con ngọa long đời nay?”. Từ đó, Trần Đức Hòa tìm dịp để tiến cử Đào Duy Từ với chúa Nguyễn. Năm Đinh Mão (1627), quân Nguyễn đánh bại quân Trịnh ở Nhật Lệ (Quảng Bình). Nghe tin báo tiệp (thắng trận), Trần Đức Hòa vội vào chầu chúa Nguyễn và không quên mang theo bài “Ngọa Long Cương” của Đào Duy Từ sáng tác để dâng lên chúa, nhân thể giới thiệu tài năng, chí khí của họ Đào với chúa. Chúa xem thơ, biết là người có tài bèn truyền cho Đào Duy Từ vào yết kiến. Chúa mặc áo trắng, đi giày lục ra đứng đợi ở Dịch Môn. Đàng xa, Đào Duy Từ trông thấy như vậy thì dừng lại, không tiến lên nữa. Ông cho rằng cách ăn vận và phong thái của chúa như vậy không phải là lễ của bậc vua chúa cầu hiền tài ra giúp nước. Chúa hiểu ý bèn vào nhà thay áo mũ rồi trở ra gọi ông vào. Đào Duy Từ dập đầu xuống đất mà bái... Chúa đem chuyện quốc gia đại sự ra hỏi ông, ông đối đáp rành mạch. Chúa hết sức mừng rỡ... Chúa bảo với ông: “Sao khanh đến muộn thế?”, rồi liền đặt ông làm Nha Úy, tước Lộc Khê Hầu, cai quản quân cơ nội ngoại và được sung vào tham mưu, dự bàn việc nước. Chúa thường gọi ông vào nội điện đàm luận. Từ đó Đào Duy Từ đã trở nên một mưu sĩ lớn của Đàng Trong, sử sách thường so sánh ông với Khổng Minh Gia Cát Lượng thời Tam Quốc bên Tàu. Sử sách đã ghi lại không biết bao nhiêu công lao của ông đóng góp cho chúa Nguyễn không


Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 147 những về mặt quân sự, chính trị, kinh tế mà cả về mặt văn hóa, giáo dục nữa. Mùa Đông năm Kỷ Tỵ (1629), Trịnh Tráng bàn định với các tướng muốn đem quân chiếm miền Nam và theo kế hoạch dự trù thì trước tiên là cho Nguyễn Khắc Minh mang sắc dụ của vua Lê vào phong cho chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên chức Thái Phó Quốc Công và đòi chúa Nguyễn ra Bắc chầu vua Lê. Chúa Nguyễn họp các tướng bàn mưu đối phó, Đào Duy Từ bàn rằng: Nếu nhận sắc mà không ra thì vua Lê, chúa Trịnh sẽ bắt tội. Nếu không nhận sắc thì quân Trịnh sẽ vào đánh. Chiến tranh xảy ra thì khổ cho dân. Hiện tại chúa Nguyễn chưa có thành lũy vững chắc, quân sĩ chưa luyện tập kỹ càng..., do đó cứ nhận sắc để cho chúa Trịnh khỏi nghi ngờ, về sau sẽ lập mưu trả lại sắc cho vua Lê, chúa Trịnh. Chúa Nguyễn nghe lời Đào Duy Từ, tiếp đãi sứ giả rất hậu rồi cho về. Trong khi đó, Đào Duy Từ dâng kế xây lũy Trường Dục ở huyện Phong Lộc, tỉnh Quảng Bình để phòng thủ. Chúa Nguyễn nghe theo và trao cho ông thực hiện. Mùa Xuân năm Canh Ngọ (1630), chỉ trong một tháng làm xong lũy. Đào Duy Từ lại xin làm một cái mâm đồng có hai đáy, giấu cái sắc của vua Lê ở trong rồi sai Lại Văn Khuông làm sứ giả ra Bắc tạ ơn vua Lê. Đào Duy Từ cũng chuẩn bị sẵn cho Khuông mười câu vấn đáp phòng trước. Nguyễn Văn Khuông đến Đông Đô (Hà Nội), Trịnh Tráng hỏi điều gì, Khuông đều trả lời lưu loát khiến cho chúa Trịnh phải kinh ngạc. Sau khi dâng lễ vật xong, Khuông lui về dịch quán nghỉ ngơi, lợi dụng lúc mọi người không để ý, ông trốn về Thuận Hóa. Trịnh Tráng thấy cái mâm có hai đáy liền sinh nghi, cho người tháo đáy ra xem thì thấy một tờ sắc và bốn câu thơ: “Mâu nhi vô Dịch, Mịch phi Kiến tích, Ái lạc tâm trường, Lực lai tương dịch” Mọi người không ai hiểu ý nghĩa là gì, chỉ có ông Phùng Khắc Khoan (1), Trạng Nguyên của nhà Lê giải thích: “Chữ Mâu mà không có nét phẩy một bên là chữ Dư, Chữ Mịch mà không có chữ Kiến là chữ bất, Chữ Ái mà không có chữ Tâm là chữ Thụ,


148 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Chữ Lực hợp với chữ Lai là chữ Sắc” “Dư Bất Thụ Sắc” nghĩa là “Ta không nhận sắc”. Trịnh Tráng tức giận, muốn khởi binh đánh họ Nguyễn nhưng bấy giờ ở Cao Bằng, Hải Dương đang có loạn nên thôi. Nguyễn Văn Khuông trở về, Chúa Nguyễn mừng rỡ nói: “Đào Duy Từ là Tử Phòng (Trương Lương), Khổng Minh (Gia Cát Lượng) vậy”. Tử Phòng, Khổng Minh là hai vị quân sư tài giỏi trong lịch sử Trung Hoa. Mùa Đông năm đó, Đào Duy Từ khuyên chúa Nguyễn đem quân chiếm Nam Bố Chính để củng cố miền Nam, lấy sông Gianh làm giới hạn, tổ chức 24 đội thuyền, bắt dân đi lính để chống họ Trịnh. Mùa Thu năm Tân Mùi (1631), Đào Duy Từ lại khuyên chúa Nguyễn xây lũy “Định Bắc Trường Thành”, dùng hàng rào sắt chắn ngang cửa biển Nhật Lệ để phòng thủ. Nhân dân gọi lũy đó là Lũy Thầy, nghĩa là lũy do Thầy Đào Duy Từ làm ra. Chúa Nguyễn thường gọi ông là “Thầy”. Đào Duy Từ là người biết trọng tư cách, không xu nịnh, không hại người dưới, không ganh tỵ với người có tài (ông đã giới thiệu Nguyễn Hữu Tiến với chúa Nguyễn), không phản bội người trên đã trọng đãi mình, đúng là người có tác phong của kẻ sĩ, người trí thức. Trong những di sản Đào Duy Từ để lại cho đời sau có bộ binh thư rất quý giá gọi là “Hổ Trướng Xu Cơ” tức là những vấn đề then chốt trong công việc làm tướng (Đỗ Mộng Khương dịch, Đào Duy Anh hiệu đính, nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội ấn hành năm 1970). Đây là công trình trước thuật về quân sự duy nhất của Việt Nam còn nguyên vẹn, bộ binh thư yếu lược của Trần Hưng Đạo (Trần Quốc Tuấn) thì đã bị thêm bớt, sửa đổi nhiều nên không còn được nguyên vẹn. Để biên soạn bộ binh thư nói trên, ngoài sự tinh thông cả thao lược lẫn kinh sử, thuật số, Đào Duy Từ đã tham khảo nhiều sách binh pháp của Trung Hoa cũng như Việt Nam trước ông, chọn lựa những điều thích hợp với dân tộc ta, rút tỉa được những kinh nghiệm giữ nước của các nhà quân sự đại tài như Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh, Lê Đại Hành, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo v.v... Theo ông thì người làm tướng phải thông hiểu cả thiên văn, địa lý, dám chịu trách nhiệm trước khó khăn, biết làm gương


Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 149 cho sĩ tốt về mọi mặt, thưởng phạt công minh, kỷ cương nghiêm khắc, thắng không kiêu, bại không nản, không tham lợi, “tướng như thuyền, quân như đắm thuyền”, do vậy tướng phải biết khoan hòa, độ lượng, thương yêu sĩ tốt. Đào Duy Từ cho rằng quân đội cốt tinh không cần nhiều; gây dựng sự nghiệp thì thiên thời không bằng địa lợi, địa lợi không bằng nhân hòa. Đó cũng là quan niệm đã có từ xưa nhưng rất phù hợp với hoàn cảnh nhà Nguyễn lúc bấy giờ. Hổ Trướng Xu Cơ đề cập đến bốn phương pháp chiến đấu: - Phép dùng hỏa công (dùng lửa, chất cháy), gọi là Thiên Hỏa Công. - Phép thủy chiến (cách đánh dưới nước), gọi là Thiên Thủy Chiến. - Phép bộ chiến (cách đánh trên bộ), gọi là Thiên Bộ Chiến. - Phép giữ trại (cách phòng thủ), gọi là Thiên Giữ Trại. Xin tóm lược nội dung gồm các phần sau đây: 1. Thiên Hỏa Công - Phép làm diều lửa đốt giặc. - Phép làm hỏa cầu (trái phá). - Phép chế quả mù (để ngụy trang và nghi binh). - Phép chế hỏa công (đạn lửa bằng đồng). - Phép chế hỏa tiễn (tên lửa). - Phép chôn hỏa thương dưới đất. - Phép hỏa tiễn chứa thuốc dộc. - Phép làm súng gỗ. - Phép đốt thuốc trước gió. 2. Thiên Thủy Chiến - Phép lấy nước ngọt trong bể. - Phép phá xích sắt. - Phép đặt tên ngầm dưới nước. - Phép đóng cọc lòng sông. - Phép làm chum tre cho quân vượt sông (phao bơi). - Phép lấy nước trên núi. - Phép làm cầu phao. - Phép dùng vôi sống làm thủy lôi. - Phép đạt thủy lôi dưới nước.


Click to View FlipBook Version