300 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Kỹ Sư hầm mỏ, làm việc ở Lille, bị bệnh lao phổi, chết, thi hài được đưa về chôn ở Phước Môn, Quảng Trị. Cô Tú không có chồng. Còn lại cô Tài là em út, nữ tu Dòng Kín (carmélistes) ở Kim Long, Huế tức Mẹ Bề Trên Marie de Aimée. Mẹ Tài, sau năm 1975, vào ở tại Bình Triệu (huyện Thủ Đức) và qua đời tại đây. Khi còn sống ông có xin khai khẩn đất hoang để lập Cô Nhi Viện và xây nhà thờ kính các Thánh Tử Đạo Việt Nam tại Phước Môn, Hải Lăng, Quảng Trị, cách Vương Cung Thánh Đường La Vang chừng vài cây số. Sau khi về hưu, ông về sống ở đây với các em mồ côi và chết tại đây ngày ngày 28-7-1935, thọ 72 tuổi (tức 73 tuổi ta). Nhiều bậc lão thành, Nho học ở Huế cho biết ông Nguyễn Hữu Bài là người rất có lòng với quốc gia Việt Nam. Tuy làm quan nhưng ông đã tranh đấu không ngừng để buộc Pháp phải tôn trọng các quyền lợi của Việt Nam trong khuôn khổ các hòa ước đã ký với Pháp. Năm 1912, dưới thời vua Duy Tân, Khâm Sứ Pháp là Mahé muốn đào mả vua Tự Đức và những nơi bí mật trong hoàng thành để tìm vàng. Nguyễn Hữu Bài đã phản đối kịch liệt việc ấy và kiện ra tới Phủ Toàn Quyền Hà Nội. Các quan cũng hậu thuẫn cho ông nên Pháp phải ngưng chiến dịch tìm vàng. Năm 1915, Nguyễn Hữu Bài ủng hộ vua Duy Tân trong việc đòi Pháp thi hành hòa ước 1884, theo đó vua Việt Nam có quyền cai trị Trung và Bắc Kỳ, trọn quyền bổ nhiệm quan lại, có một ngân sách riêng, có quân đội riêng để bảo vệ trị an. Pháp không có quyền xen lấn vào nội bộ của triều đình... nhưng trên thực tế Pháp đã không tôn trọng hòa ước đó. Trước khi khởi nghĩa chống Pháp, vua Duy Tân đã dò ý ông Nguyễn Hữu Bài bằng cách ra câu đối: Ngồi trên nước khôn ngăn được nước, Trót buông câu đã lỡ phải lần. Ông Nguyễn Hữu Bài đáp lại: Ngẫm việc đời mà ngán cho đời, Liều nhắm mắt tới đâu hay đó. Ông đã khuyên vua phải chờ thời, đợi thế, chưa nên nóng vội vì chưa thể thành công lúc này được. Năm 1925, Nguyễn Ái Quốc (tức Hồ Chí Minh) âm mưu với thực dân gài bẫy bắt cụ Phan Bội Châu ở Thượng Hải, đem
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 301 về Hà Nội. Trước đó cụ Phan đã bị kết án tử hình vắng mặt lúc cụ trốn qua Tàu, qua Nhật hoạt động. Cụ Phan là người Tỉnh Nghệ An, thuộc Nam Triều nên Pháp có ý trao cho Nam Triều xét xử và sẽ đứng đàng sau giựt dây để phía Việt Nam xét xử theo ý của họ và họ khỏi mang tiếng. Ông Nguyễn Hữu Bài không dại gì nhận trách nhiệm xét xử một người yêu nước như cụ Phan Bội Châu, trái lại ông còn lên tiếng bênh vực cụ Phan nữa. Ông đã trả lời người Pháp như sau: “Phan Bội Châu hay Phan San là một cử nhân, một vị khoa bảng của Việt Nam. Những người ấy không làm hại gì cho Việt Nam. Nay theo hồ sơ, Phan Bội Châu bị bắt vì chống Chính Phủ Bảo Hộ chứ không chống lại Triều Đình Việt Nam thì xin để cho Chính Phủ Bảo Hộ xét xử...”. Trong một bài báo viết về “Phước Môn Nguyễn Hữu Bài”, ông Hương Giang Thái Văn Kiểm có cho biết: Thân phụ của ông đã có lần đến thăm ông Nguyễn Hữu Bài tại Phước Môn và hỏi ông về vụ án Phan Bội Châu năm xưa thì ông cho biết: “Luật Hồng Đức cũng như luật Gia Long không cho phép truy nã, lùng bắt và ám hại những ai đã quay lưng và tránh né nơi phương xa (trốn ra nước ngoài, và cái đức nhân và lòng kiêm ái phải điều hòa pháp luật). Thật là chí lý và chí tình và Tây Phương không làm sao hiểu thấu!” Chính ông Võ Như Nguyện (con cụ Cử Nhân Võ Bá Hạp) đã từng nghe các nhà cách mạng bạn của thân sinh ông, như cụ Huỳnh Thúc Kháng, cụ Phan Bội Châu và chính cụ Trần Văn Lý (nguyên Tham Tri Bộ Hình, cựu Thủ Hiến Trung Việt), kể lại như trên. Năm 1925, dưới thời vua Khải Định, Nguyễn Hữu Bài đã vận động với Tòa Thánh Vatican đặt Tòa Khâm Mạng (đại diện Tòa Thánh) tại Huế, nơi vua Việt Nam ở, thay vì tại Hà Nội là nơi đặt trụ sở của Toàn Quyền Pháp tại Đông Dương. Tòa Khâm Mạng tại Huế được khánh thành năm 1928. Thời gian vua Bảo Đại còn du học ở Pháp, Nguyễn Hữu Bài đã thay mặt vua, đấu tranh với Pháp nhiều vấn đề, từ thuế má, hành chính, chính trị v.v... để bảo vệ quyền lợi cho Việt Nam. Năm 1932, vua Bảo Đại về nước, chính thức nắm quyền lãnh đạo. Nguyễn Hữu Bài đã cùng Bảo Đại tranh đấu với Pháp đòi Pháp xét lại việc thi hành hòa ước 1884. Những cuộc thương
302 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng thảo giữa Việt và Pháp chỉ có ba người là Bảo Đại, Nguyễn Hữu Bài và Toàn Quyền Pháp (hoặc Khâm Sứ Trung Kỳ thay mặt Toàn Quyền). Những lần họp Nội Các, Nguyễn Hữu Bài là người thay mặt các quan Việt Nam để nói chuyện với Pháp vì ông là Thượng Thư Bộ Lại (đầu triều) và là người vừa thâm niên vừa giỏi tiếng Pháp. Các vị khác vì xuất thân Hán Học nên không giỏi tiếng Pháp bằng ông, không diễn tả được tư tưởng của mình một cách lưu loát. Chính vì chỗ đó mà Pháp rất ghét ông Nguyễn Hữu Bài. Người con trai duy nhất của Nguyễn Hữu Bài, du học ở Pháp, nổi tiếng thông minh, đã bị chết sớm. Người ta cho rằng Pháp đã giết chết ông ấy để cho dòng dõi Nguyễn Hữu Bài phải tuyệt tự. Lúc đầu, vua Bảo Đại đã cùng một lập trường với ông Nguyễn Hữu Bài trong việc tranh đấu với Pháp nhưng về sau vì nghe lời Phạm Quỳnh (Ngự Tiền Văn Phòng) và vì áp lực của Pháp nên Bảo Đại đã quyết định cải tổ Nội Các ngày 2-5- 1933 với danh nghĩa “trẻ trung hóa Nam Triều”. 7. CUỘC CẢI TỔ NỘI CÁC (2-5-1933): NĂM VỊ THƯỢNG THƯ MẤT CHỨC Năm vị Thượng Thư của Nam Triều lúc đó là: Nguyễn Hữu Bài (Thượng Thư Bộ Lại), Phạm Liệu (Thượng Thư Bộ Binh), Võ Liêm (Thượng Thư Bộ Lễ), Tôn Thất Đàn (Thượng Thư Bộ Hình), Vương Tứ Đại (Thượng Thư Bộ Công) và Thái Văn Toản (Thượng Thư Bộ Hộ) là những người điều khiển việc nước suốt thời gian vua Bảo Đại du học ở Pháp, sau khi vua Khải Định mất. Trong thời gian này vai trò của Nguyễn Hữu Bài là quan trọng nhất như chúng tôi đã trình bày ở mục số 6 phần trên. Tháng 6 năm 1932, vua Bảo Đại về nước, vẫn giữ nguyên Nội Các tiếp tục làm việc cho đến ngày có cuộc cải tổ (2-5- 1933). Nhận thấy Bảo Đại là một ông vua trẻ, đã từng du học lâu năm ở Pháp nên Nguyễn Hữu Bài hy vọng Bảo Đại sẽ là ông vua có nhiều tiến bộ trong chương trình cải cách, đổi mới. Chủ trương đòi Pháp thi hành hòa ước năm 1884 đã có từ thời vua Duy Tân, lúc bấy giờ Nguyễn Hữu Bài là một vị Thượng Thư thân cận với vua và thường trao đổi với vua nhiều vấn đề chính trị, ngoại giao. Thời gian Bảo Đại còn du học ở Pháp,
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 303 Nguyễn Hữu Bài vẫn nuôi cái mộng ước tranh đấu để cho Nam Triều có ngân sách riêng, có quân đội riêng v.v... Vì thế trong vòng một năm kể từ mùa hè năm 1932 cho đến 2-5-1933, Nguyễn Hữu Bài đã cùng vua Bảo Đại đặt vấn đề đòi hỏi Pháp thi hành hòa ước 1884 nhưng những cuộc tranh đấu này chỉ diễn ra một cách âm thầm, kín đáo giữa vua Bảo Đại - Nguyễn Hũu Bài (phía Nam Triều) và Toàn Quyền Pháp (hoặc Khâm Sứ Trung Kỳ đại diện)... Pháp rất ghét Nguyễn Hữu Bài, một người vừa giỏi luật lệ hành chánh, vừa giỏi tiếng Pháp và là người lý luận khôn ngoan. Pháp đã nhiều lần muốn qua mặt Nam Triều mà không được vì gặp sự cản trở của Nguyễn Hữu Bài, do đó Pháp đã dùng Phạm Quỳnh là một người thân Pháp làm tay sai cho Pháp, lúc đó đang giữ chức vụ Ngự Tiền Văn Phòng của vua Bảo Đại, thường ngày gần gũi nhà vua, để bàn bạc và hướng dẫn vua đi theo chủ trương của Pháp. Pháp đưa ra một chiêu bài để đánh lừa Bảo Đại là “trẻ trung hóa Nam Triều”, cho những vị Thượng Thư già về hưu, để đưa những người trẻ, tân học lên làm việc. Lý luận đó khiến cho Bảo Đại nghe xuôi tai. Bảo Đại tuy có học ở trường Kinh Tế, Chính Trị của Pháp nhưng là một người trẻ, mới 19, 20 tuổi và chưa có kính nghiệm lãnh đạo nên đã nghe theo. Âm mưu của Pháp là loại trừ Nguyễn Hữu Bài và một số Thượng Thư hậu thuẫn cho Nguyễn Hữu Bài. Ông Thái Văn Vượng, trưởng nam của ông Thái Văn Toản, trong hai bức thư đề ngày 15-6-1989 và 10-7-1999 gởi cho các em đã cho biết một số chi tiết như sau: “Ngày 2-5-1933, khi ông Nguyễn Hữu Bài ra họp Nội Các thì Khâm Sứ Pháp tại Trung Kỳ (Chủ Tọa Hội Đồng Nội Các) bất thình lình tuyên bố: Cho ông Nguyễn Hữu Bài, Thượng Thư Bộ Lại (Thủ Tướng) và bốn vị Thượng Thư già nua về hưu. Chỉ còn lại ông Thái Văn Toản, lúc đó mới 48, 49 tuổi, đang làm Thượng Thư Bộ Hộ ở lại Nội Các mới mà thôi. Đồng thời vua Bảo Đại cũng ban chiếu chỉ cải tổ Nội Các, không cần báo trước và cũng không cho các vị Thượng Thư làm đơn từ chức để bảo vệ danh dự. Các cụ đương nhiên bị mất chức, giống như một lệnh sa thải những người có lỗi”. Riêng ông Nguyễn Hữu Bài đã phục vụ triều đình từ vua Thành Thái đến vua Bảo Đại, gần 50 năm, nhất là trong lúc
304 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng vua Bảo Đại còn nhỏ tuổi, du học ở Pháp... Nay bị vua đối xử tệ bạc như thế, các cụ rất lấy làm bất mãn. Nội các mới gồm có: - Ông Ngô Đình Diệm (Thượng Thư Bộ Lại). - Ông Thái Văn Toản (Thượng Thư Bộ Công kiêm Bộ Mỹ Thuật). - Ông Bùi Bằng Đoàn (Thượng Thư Bộ Hình). - Ông Hồ Đắc Khải (Thượng Thư Bộ Hộ). - Ông Phạm Quỳnh (Thượng Thư Bộ Học). Câu chuyện này đã gây sôi nổi trong dư luận ở Huế và toàn quốc lúc đó. Ông Hoài Nam Nguyễn Trọng Cẩn, người Quảng Bình, dạy học và viết báo ở Huế có làm bài thơ Đường luật và ông Võ Khải có làm bài văn “Tế sống năm cụ”... nói lên cái dư luận về chuyện cải tổ Nội Các, sự nhục nhã của năm vị Thượng Thư khi bị “đuổi ra khỏi triều đình”: “Đầu tháng tư đổi tiết, Toàn quyền chính phủ đã qua; -Chiều mồng tám hội thương, hạ lệnh phong bì mới xổ. Giấy đã khui ra, Mắt đà thấy rõ. Từ dưới ông Công - Đến trên cụ Võ. Cả thảy năm ngài, - Được về một sổ ”. Đây là chủ trương của Pháp mượn bàn tay Bảo Đại để loại trừ những ông quan Việt Nam dám đòi hỏi, dám đấu tranh... Điều quan trọng là các vị đều đồng lòng với nhau hậu thuẫn cho Nguyễn Hữu Bài nên Pháp thấy “nguy đến nơi” và phải “dứt điểm” ngay! Năm vị Thượng Thư “bị đuổi” ra khỏi Nam Triều là: - Nguyễn Hữu Bài, Thượng Thư Bộ Lại (Nội Vụ) tước Phước Môn Quận Công. - Tôn Thất Đàn, Thượng Thư Bộ Hình (Tư Pháp). - Phạm Liệu, Thượng Thư Bộ Binh (Quốc Phòng). - Võ Liêm, Thương Thư Bộ Lễ (Ngoại Giao, Nghi Lễ, Văn Hóa Giáo Dục). - Vương Tứ Đại, Thượng Thư Bộ Công (Công Chánh, Xây Dựng). Chỉ còn lại một ông Thượng Thư Bộ Hộ (Tài Chánh, Kinh Tế) là Thái Văn Toản. Nhiều người lầm tưởng rằng vị Thượng Thư duy nhất còn lại không bị mất chức là ông Hồ Đắc Khải. Điều đó không
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 305 đúng vì ông Hồ Đắc Khải lúc đó chưa làm Thượng Thư và không có tên trong sáu vị Thượng Thư đồng thời với ông Nguyễn Hữu Bài. Ông Hồ Đắc Khải mới lên Thượng Thư trong dịp cải tổ nội các ngày 2-5-1933. Trong bài văn “Tế sống năm cụ” của ông Võ Khải có nói: “Tưởng đã đứng đầu năm trước, tha hồ đề bảng Phước Môn; Hay đâu đi rốc một chiều, hưu hĩ trừ quan Thượng Hộ”, theo đó thì người duy nhất ở lại trong Nội Các là Thượng Thư Bộ Hộ (Hưu hĩ trừ quan Thượng Hộ). Căn cứ vào tài liệu của Văn Khố Pháp ở Paris mà chúng tôi hiện có trong tay thì Thượng Thư Bộ Hộ lúc đó là ông Thái Văn Toản. Ngày 18-12-1929, ông Thái Văn Toản lúc đó đang giữ chức Tổng Đốc Thanh Hóa thì được triệu về Huế giữ chức Thượng Thư Bộ Hộ và sung Cơ Mật Viện. Trong cuộc cải tổ Nội Các ngày 2-5-1933, ông được mời giữ chức Thượng Thư Bộ Công kiêm Bộ Lễ và Bộ Mỹ Thuật, đó là chức vụ mới đặt ra dưới thời vua Bảo Đại. Chúng tôi xin trích nguyên văn tiếng Pháp tài liệu Văn Khố như sau: “Le 2 Mai 1933, il quitt a la direction du Ministère des Finances et fi t désigné comme Ministre des Travaux Publics, des Rites et des Beaux-Arts. Il n’y resta pas longtemps; le 22 Juillet, il fut appelé à diriger le ministère de l’Intérieur qu’il n’a pas quitt é depuis” (Ngày 2-5-1933, ông rời Bộ Hộ và được chỉ định làm Thượng Thư Bộ Công, Bộ Lễ và Bộ Mỹ Thuật. Ông ở Bộ này không lâu; ngày 22 tháng 7, ông được mời làm Thượng Thư Bộ Lại kể từ đó). Chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này trong phần nói về vai trò của Thượng Thư Thái Văn Toản. Trong cuốn hồi ký của vua Bảo Đại “Con rồng Việt Nam”, chính nhà vua đã xác nhận rằng ông Nguyễn Hữu Bài trước khi từ chức đã tiến cử ông Ngô Đình Diệm. Theo tôi, qua tình hình nội bộ triều đình Huế và hoàn cảnh cá nhân ông Nguyễn Hữu Bài như đã trình bày trên, việc vua Bảo Đại không cho các cụ làm đơn từ chức mà lại sa thải, cách chức các cụ như thế, dù là làm theo chỉ thị của Pháp đi nữa cũng không thể chấp nhận được. Nguyễn Hữu Bài là người biết trọng danh dự, trong thời gian làm việc với nhà nước Việt Nam cũng như Bảo Hộ (Pháp), ông luôn luôn thẳng thắn, luôn căn cứ trên luật lệ của Pháp để chống Pháp. Có lần ông đã gởi đơn lên Toàn Quyền kiện Khâm Sứ Trung Kỳ Mahé (vụ đào mả vua
306 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Tự Đức tìm vàng) và ông đã thắng kiện... Một người tư cách như thế làm sao có thể “đi ngả sau” để tiến cử ông Ngô Đình Diệm với vua Bảo Đại ? Điều mà ai cũng biết (trong đó có thân phụ của tôi, người đã ở trong nhà ông Nguyễn Hữu Bài ba năm) là: sau khi bị bãi chức một cách nhục nhã, ông Nguyễn Hữu Bài đã bỏ Huế trở về Phước Môn, cạnh nhà thờ Đức Mẹ La Vang, thuộc Phủ Hải Lăng, Tỉnh Quảng Trị (ở đó có một trang trại do cụ lập ra, gần chân núi), suốt ngày đọc sách, đi nhà thờ, lo việc đạo đức và chăm sóc trẻ mồ côi. Hai năm sau ông qua đời, thọ 73 tuổi (1935) chôn tại Phước Môn. Năm ông về hưu đã ngoài 71 tuổi rồi. Ông Nguyễn Hữu Khai (sinh năm 1909), nguyên là Tham Phán Tòa Khâm Sứ Huế, Cựu Dân Biểu thời Tổng Thống Ngô Dình Diệm, hiện ở tại Santa Ana và ông Võ Như Nguyện (sinh năm 1915), cựu Giám Đốc Công An Trung Việt, cựu Tỉnh Trưởng Bình Định, Dân Biểu Thừa Thiên thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm, hiện ở Pháp và nhiều bậc lão thành khác đã có nhiều liên hệ với ông Ngô Đình Diệm từ 1936... cũng đồng quan điểm với tôi là ông Nguyễn Hữu Bài không thể đứng ra tiến cử ông Ngô Đình Diệm được. Nếu ông Nguyễn Hữu Bài có dịp nào đó đề cập đến ông Ngô Đình Diệm với vua Bảo Đại thì có lẽ trước ngày ông bị cho về hưu (2-5-1933). Cũng theo ông Thái Văn Vượng, trong thư gởi cho các em như đã nói trên, đã nhắc lại một số chi tiết như sau: “Khi Cụ Nguyễn Hữu Bài từ Nội Các trở về Bộ Lại thì công chức trong Bộ này đã biết được tin ông mất chức nên đã bỏ đi, tránh không tiếp đón Cụ. Dư luận lúc bấy giờ thấy tình hình giữa Pháp và Cụ Nguyễn Hữu Bài rất căng thẳng nên ai cũng sợ liên lụy. Tình đời là thế ! Chỉ có Thầy (tức Cụ Thái Văn Toản), một mình chạy đến nhà Cụ Nguyễn, an ủi giúp đỡ Cụ sửa soạn đồ đạc và đích thân lái xe chở Cụ Nguyễn ra Phước Môn, Quảng Trị...”. Theo một số vị khác, sở dĩ ông Ngô Đình Diệm được mời vì các lý do sau đây: - Ông Diệm là một người trẻ tuổi, nổi tiếng liêm chính và giỏi về hành chánh, quản trị. Ông cũng là người am hiểu cả Tây học lẫn Nho học, như thế là đã đáp ứng được chiêu bài “trẻ trung hóa Nam Triều” do Pháp đưa ra. Lý do thứ hai, Pháp
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 307 muốn phục chức cho gia đình họ Ngô sau khi đã cách chức ông Ngô Đình Khả nhân vụ truất phế và lưu đày vua Thành Thái năm 1907. Ông Ngô Đình Khả là người bênh vực vua, không chấp nhận “buộc tội một người điên”. Ông lý luận rằng vì vua điên không còn khả năng lãnh đạo nên phải truất phế, điều đó chấp nhận được nhưng đã là người điên thì có tội gì mà bắt vua phải bị lưu đày biệt xứ? Mặc dù ra lệnh cách chức ông Ngô Đình Khả nhưng người Pháp cũng rất kính trọng tư cách và đạo đức của ông. Họ cũng muốn tìm cơ hội khác để phục chức cho ông, nếu không thì trả lại danh dự cho gia đình ông bằng cách cho con của ông lên làm Thượng Thư. Lúc bấy giờ ông Ngô Đình Khôi, anh ruột ông Ngô Đình Diệm đã làm tới Tổng Đốc rồi. Một vị Tổng Thống về hưu thường gọi là “Cụ Thượng” vì được “hàm Thượng Thư” nghĩa là ngạch trật tương đượng với một vị Thượng Thư mới nhậm chức. Vì lý do đó mà ông Ngô Đình Diệm được chọn. Vậy việc chọn ông Diệm làm Thượng Thư Bộ Lại là do âm mưu của Pháp chứ không phải do cụ Nguyễn Hữu Bài tiến cử. 8. GIAI THOẠI VĂN CHƯƠNG LIÊN QUAN ĐẾN VỤ CẢI TỔ NỘI CÁC 2-5-1933. Người phát pháo đầu tiên là ông Nguyễn Trọng Cẩn (1900-1947), bút hiệu Hoài Nam, quê Quảng Bình, lúc đó đang làm Giáo Sư và viết báo ở Huế. Ông đã làm bài thơ sau đây: NĂM TRỤ NGÃ ÌNH Năm trụ khi không ngã cái ình ! Đất bằng một tiếng thảy đều kinh: BÀI không đeo nữa, đem dưng LẠI (1), ĐÀN nọ ai nghe, khéo dở HÌNH (2). LIỆU thế không xong, BINH chẳng được (3), LIÊM đành giữ tiếng, LỄ đừng rinh (4). CÔNG danh thôi thế là hưu hĩ...! ĐẠI sự xin nhường lũ hậu sinh. Chú thích: Năm trụ: Năm cột trụ của Triều Đình 1. Nguyễn Hữu Bài, Thượng Thư Bộ Lại.
308 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng 2. Tôn Thất Đàn, Thượng Thư Bộ Hình. 3. Phạm Liệu, Thượng Thư Bộ Binh. 4. Võ Liêm, Thượng Thư Bộ Lễ. 5. Vương Tứ Đại, Thượng Thư Bộ Công. Bài thơ trên đây trích trong”Giai thoại làng Nho” của Lãng Nhân. Theo cụ Hoàng Trọng thược trong “Hương Bình thi tập” thì bài thơ đó như sau: Năm cụ khi không ngã cái ình, Đất bằng sóng dậy đất thần kinh. Bài không đeo nữa xin dâng lại, Đàn nỏ ai nghe khéo dở hình. Liệu thế không xong binh chẳng được, Liêm đành giữ tiếng, lễ đừng rinh. Công danh thôi thế là hưu hĩ, Đại sự xin nhường lũ hậu sinh. Ông Võ Khải, nhân đọc bài thơ trên có làm một bài văn “Tế sống năm cụ” như sau: Than ôi ! Nắng héo cành hoa, sóng xiêu cột trụ. Thời văn minh nên giữ lẽ công, Tài lão luyện khá thương người cũ. Năm quý dậu, tiếng gà gáy giục, thôi tỉnh rồi một giấc hoàng lương; -Tiết Nam phong ngọn gió thổi dồn, bỗng trốc cả năm cây đại thụ. Nhớ các cụ xưa: Trí lự thông minh - Khôn ngoan tài ngỏ, Mình trải bốn triều; Quan trên sáu bộ. Chức bình chương đã xứng mặt đại thần; Tài kinh tế cũng nên tay thạc phụ. Vận hội gặp cơn mưa gió, lạnh răng nào dám hở môi; - Công hầu say miếng đỉnh chung, lấp miệng cũng vì cả vú. Sóng Hoàng hải chẳng yên cũng lặng, lo chi thế ấy, thế này; Nợ tang bồng chưa trả đã vay, khắp cả ngõ kia ngõ nọ. Trọng Xuân trước, áo xiêm ràng buộc, mới tế trời theo lễ Nam giao; - Tháng ba sau, xe ngựa dập dìu, lại hầu Ngự làm chay Thiên mụ. Kiệu Hoàng đế đã về trị nước, bảy tám năm mừng thấy mặt trời; - Số hưu quan chẳng động tới mình, hai ba tháng tưởng qua
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 309 luồng gió. Ai ngờ ! Giông tố bất kỳ; - Mây mưa đánh đổ. Đầu tháng tư đổi tiết, Toàn quyền Chính phủ đã qua; - Chiều mồng tám hội thương, hạ lệnh phong bì mới xổ. Giấy đã khui ra. - Mắt đà thấy rõ. Từ dưới ông Công - Đến trên cụ Võ (1) Cả thảy năm ngài, - Được về một sổ. Chữ Pháp tự trong tay đã hiểu, cười cũng lỡ cười; - Kiếng tinh quang trên mắt còn đeo, ngó rồi lại ngó. Tưởng đã đứng đầu năm trước, tha hồ đề bảng Phước Môn; - Hay đâu đi rốc một chiều, hưu hĩ trừ quan Thượng Hộ (2). Thảm thiết nhỉ ! Năm mây gần đó: ngẩn ngơ trông năm vẻ rồng cao, - Độc ác thay ! Một lưới quét xong, may sót lại một con cá nhỏ. Ừ có chữ “danh thành thân thoái”, kiếp thử sinh chi dám kêu nài, - Tủi vì câu”tống cựu nghinh tân”, chữ bản nhật sao mà khắc khổ. Ôi thôi thôi ! Sĩ chỉ theo thời, - Hành tàng có số (3). Máy tạo khôn lường; - Đạo Trời cũng ngộ. Vua đã tha mà Pháp không tha; - Ta chẳng phụ sao người nỡ phụ. Bước qua năm mới, lối dương cù nay khỏi gác xe, - Biết có ngày ni, cửa Thần vũ trước đà treo mũ (4). Y thường vui gặp hội, áo mũ xưa đà khác tích thì, - Lương đống thiếu chi tài, nhà cửa đó giao về tân chủ. Đất cũ đãi người mới, cuộc tang thương sao khéo đổi dời, - Ăn lâu thôi chán mùi, ơn sơn hải thẹn chưa báo bổ. Rủi mà cuộc sống lâu lên lão, miệng sau lưng nhiều tiếng khó nghe; - May cũng cho thác trẻ khỏe ma, khối trong bụng bao giờ cho đủ. Tuyết trắng đã thay mái tóc, bồng con thơ mà rỡn cho khuây; - Hoa tàn còn đượm mùi thơm, dạo vườn cũ thử chơi cũng thú. Nhớ ơn nước gặp khi việc lớn, năm vài lần quen miếng thịt xưa; - Tính bổng hưu xơi số bạc to, tháng trăm trự còn màu mỡ đó. Cụ thì đi chơi sơn thủy, cõi Bắc miền Nam; - Cụ thì trở lại quê hương, quê cha đất tổ (5). Cụ thì lo thực nghiệp mà tìm nơi canh khẩn, chơi cùng phường lão phố điền phu; - Cụ thì tiếc phồn hoa mà ẩn bóng kinh đô, chịu
310 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng làm kẻ kiều cư khách ngụ (6). Tranh tạo hóa hãy còn treo đó, vẻ phù vân đủ sắc trắng xanh; - Trường diễn ca đã hết lớp rồi, mặt ổi lỗi thay màu đen đỏ (7). May trước đã dắt dìu con rể, khiến đua bơi mà nối nghiệp nhà; - Mừng nay cho thong thả tháng ngày, nhờ ăn ngủ càng lên cõi thọ. Nay chép vài vần; - Xin mừng các cụ ! Chú thích: 1. Ông Công: Vương Tứ Đại, bộ Công. Cụ Võ: Nguyễn Hữu Bài, Võ Hiển Điện Đại Học Sĩ. 2. Phước Môn Quận Công: Nguyễn Hữu Bài. Quan Thượng Hộ: Thái Văn Toản, Thượng Thư Bộ Hộ. 3. Sĩ chỉ...-hành tàng...: ra làm quan và về hưu trí. 4. Dương cù: đường rộng trồng cây dương, các quan đi vào chầu. - Cửa Thần Vũ: Đào Cảnh nước Tề, thấy nước sắp mất, xin từ quan treo mũ ở cửa Thần Vũ, vào tu trong núi. 5. Vương Tứ Đại: quê ở Bắc. Võ Liêm: quê ở Thừa Thiên. 6. Nguyễn Hữu Bài có đồn điền ở Phước Môn, Phạm Liệu có nhà ở Huế. 7. Ối lỗi: người gỗ bù nhìn. Qua hai bài thơ trên thì chúng ta cũng đủ hiểu được dư luận ở Huế cũng như trên toàn quốc lúc đó xôn xao như thế nào. Bài thơ đã diễn tả đúng cái tâm trạng vô cùng chua cay, vô cùng nhục nhã của các cụ Thượng... Một biến cố đã đi vào văn học, người ta truyền miệng nhau, báo chí đăng tải, sách vở lưu truyền lại cho đời sau. Đọc kỹ hai bài trên đây, chúng ta mới hiểu được rằng ông Nguyễn Hữu Bài không còn mặt mũi nào để nhìn vua Bảo Đại, như thế làm sao ông có thể liên hệ với nhà vua để vận động cho ông Ngô Đình Diệm được. 9. ÔNG NGÔ ĐÌNH DIỆM CHƯA NGỒI YÊN GHẾ ĐÃ TỪ CHỨC: Từ 2 tháng 5 đến 22-7-1933 Ông Ngô Đình Diệm sinh ngày 3-1-1901 tại Phủ Cam, Huế. Bên nội theo Công Giáo từ đời ông Ngô Đình Khả, bên ngoại (bà Phạm Thị Thân) theo Công Giáo từ lâu đời. Ông Ngô Đình Khả theo đạo Công Giáo và được Linh Mục Nguyễn
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 311 Hữu Thơ, thời Tự Đức, đỡ đầu cho đi học nên đã trở nên một người giỏi tiếng Pháp lẫn Hán Văn. Gia đình cha mẹ, anh em ông Ngô Đình Diệm là những người có đức tin Công Giáo, sống đạo đức, nhiệt thành. Lúc nhỏ, ông học trường Dòng Thánh Jean Baptiste de La Salle (Pellerin) ở Huế, học chương trình Pháp nhưng vẫn theo đòi Nho học với thân phụ. Sau khi tốt nghiệp chương trình Trung Học vào năm 1918, ông thi vào trường Hậu Bổ, một trường đào tạo các viên chức hành chánh cho chế độ Nam Triều thời bấy giờ (giống như trường Quốc Gia Hành Chánh sau này). Sau ba năm học, ông tốt nghiệp và lần lượt nhận các chức vụ Tri Huyện Hương Thủy (1922), rồi Quảng Điền (1923 ) thuộc tỉnh Thừa Thiên. Năm 1925 thăng Tri Phủ Hải Lăng (Quảng Trị); 1927 Quản Đạo Ninh Thuận; 1930, Tuần Vũ Bình Thuận và 2-5-1933 được bổ nhiệm Thượng Thư Bộ Lại trong Nội Các cải tổ sau khi vua Bảo Đại về nước chấp chính. Lúc bấy giờ Pháp đưa ra chủ trương “trẻ trung hóa” Nam Triều để âm mưu đánh lừa Bảo Đại, loại bỏ Nguyễn Hữu Bài... chứ thực tâm người Pháp không muốn cải cách gì cả. Ông Ngô Đình Diệm đang tuổi trẻ, thành tâm, nhiệt tình... nên khi bước chân vào Nội Các đã đưa ra chủ trương cải cách lại hành chánh, đòi Pháp thi hành hòa ước 1884, trả lại quyền cai trị Trung và Bắc Kỳ cho vua Việt Nam, đòi cho vua Việt Nam có ngân sách riêng và có quân đội riêng để giữ gìn an ninh, trật tự trong lãnh thổ của mình. Đây không phải là điều mới lạ gì vì từ thời vua Duy Tân, 1915, Nguyễn Hữu Bài lúc đó là một Thượng Thư trong Nội Các, cũng đã đặt vấn đề này với Pháp. Và ngay khi Bảo Đại mới về nước, mùa hè 1932, Nguyễn Hữu Bài lúc đó với tư cách là Thượng Thư Bộ Lại đã cùng với Bảo Đại nhiều lần họp chung với Toàn Quyền hay Khâm Sứ Trung Kỳ (đại diện Toàn Quyền) để đòi hỏi Pháp thi hành hòa ước 1884 mà không có kết quả gì. Do đó, việc ông Ngô Dình Diệm đòi hỏi Pháp trao trả quyền hành cho Việt Nam theo các quy định trong hiệp ước 1884 cũng chỉ là tiếp nối con đường của các vị tiền nhiệm mà thôi. Ngồi ghế Thượng Thư được hơn hai tháng thì ông Ngô Đình Diệm từ chức (22-7-1933) và trở về làm một người dân, kết bạn với những người có tư tương cách mạng, đã từng
312 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng tham gia các cuộc tranh đấu chống Pháp, mong tìm ra một con đường cứu nước thích hợp với hoàn cảnh Việt Nam thời đó. Về chuyện ông Ngô Đình Diệm từ chức, cũng có người cho rằng ngoài lý do chống Pháp còn có nhiều lý do khác liên quan đến cá nhân vua Bảo Đại và ông Ngô Đình Diệm. Theo ông Thái Văn Vượng: “Ông Ngô Đình Diệm được hậu thuẫn của Thiên Chúa Giáo (Công Giáo) Pháp trong khi Phạm Quỳnh là đảng viên Đảng Thợ Nề Pháp (Franc- Maconnerie tức Hội Tam Điểm) là một đảng chống đối quyết liệt với Thiên Chúa Giáo. Đảng Thợ Nề bên Pháp thắng, nhà đương quyền Pháp ở Việt Nam thuộc đảng này nên mới tìm cách loại trừ ông Diệm. Do một nguồn tin từ Pháp báo cho ông Ngô Đình Huân (con ông Ngô Đình Khôi) lúc đó đang làm công chức (rédacteur) tại Phủ Toàn Quyền biết “trong vòng một tuần nữa, ông Ngô Đình Diệm sẽ mất chức”. Ông Ngô Đình Huân báo tin cho cha là ông Ngô Đình Khôi biết. Thấy tình hình giữa Pháp và ông Ngô Đình Diệm quá căng thẳng nên ông Ngô Đình Khôi bàn với ông Ngô Đình Diệm nên từ chức trước...” (Thư gởi các em...). Ông Thái Văn Vượng còn cho biết thêm: “Trên đường đưa cụ Nguyễn ra Phước Môn vào tháng 5/1933, cụ Thái đã được cụ Nguyễn dặn dò riêng: Hãy tìm cách giúp đỡ ông Ngô Đình Diệm vì ông Diệm là người mới từ địa phương (Tuần Vũ Bình Thuận) về giữ chức Thượng Thư tại Triều Đình, ‘sợ không ngồi được lâu!’”. Ông Thái Văn Toản đã kể lại với người con (Thái Văn Vượng) rằng: “Chính cụ Nguyễn cũng đã thấy trước điều này” nhưng căn cứ trên những điều đã được báo chí và sách vở đề cập đến, nhất là qua hồi ký của Bảo Đại “Le Dragon d’Annam” thì ông Diệm đã có chính nghĩa khi từ chức. Dù sao thì việc từ chức của ông Ngô Đình Diệm đã làm cho ông trở nên thần tượng và niềm hy vọng của nhiều người đương thời. Thế hệ lớn tuổi nghĩ rằng mình không làm được gì nữa nên hậu thuẫn cho ông Ngô Đình Diệm, hy vọng ông còn trẻ, còn có nhiều cơ hội thuận lợi trong tương lai. Thế hệ trẻ thì xem ông như là bậc thầy, người lãnh đạo có cả đạo đức lẫn khả năng để cho mình tin tưởng mà dấn thân vào con đường tranh đấu. Nhờ những ưu thế đó mà năm 1954, khi về nước chấp chính, ông đã được một hậu thuẫn rất lớn trong dân chúng.
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 313 10. VAI TRÒ CỦA ÔNG THÁI VĂN TOẢN SAU KHI ÔNG NGÔ ĐÌNH DIỆM TỪ CHỨC Nhiều người đã viết báo, viết sách khẳng định rằng sau khi ông Ngô Đình Diệm từ chức Thượng Thư Bộ Lại (1933) thì ông Phạm Quỳnh được mời thay thế ông Diệm trong chức vụ đó. Đây là một sự lầm lẫn lớn vì sau khi ông Ngô Đình Diệm từ chức thì người kế vị ông Diệm không phải là Phạm Quỳnh mà là ông Thái Văn Toản. Mười năm sau, đến năm 1943, khi ông Thái Văn Toản xin về hưu thì mới đến lượt Phạm Quỳnh giữ chức Thượng Thư Bộ Lại và hai năm sau, 1945, Nhật đảo chính Pháp thì Phạm Quỳnh không còn là Thượng Thư Bộ Lại nữa và chính phủ Trần Trọng Kim ra đời. Sau khi Hồ Chí Minh lên nắm chính quyền thì Phạm Quỳnh đã bị Cộng Sản giết. Nhân dịp kỷ niệm 100 năm trường Quốc Học Huế (1896- 1996) tôi có viết một bài nhan đề: “Nhân kỷ niệm 100 năm trường Quốc Học Huế, nhớ đến công lao của cụ Thái Văn Toản” đăng trên báo Thời Luận vào mùa hè 1996. Trong bài báo đó, tôi có đề cập đến cuộc cải tổ nội các ngày 2-5-1933 thời vua Bảo Đại và có nêu lên một số chi tiết về lý lịch của ông Thái Văn Toản. Nhân đó, có người nêu thắc mắc rằng khi thành lập trường Quốc Học, 1896, thì ông Thái Văn Toản mới 11 tuổi, làm được gì mà có công lao ? Nói như vậy thì tại sao hồi vua Khải Định chưa lên ngôi, đã có trường Quốc Học rồi, mà về sau trường này lại đổi tên là trường Khải Định, bên cạnh trường Đồng Khánh (cha của Khải Định)? Để trả lời những thắc mắc nói trên, tôi xin phép được nhắc lại đôi nét về ông Thái Văn Toản căn cứ trên các tài liệu còn lưu trữ ở văn khố Paris: Ông Thái Văn Toản sinh ngày 27-12-1885 (Âm lịch là ngày 22 tháng 11 Ất Dậu), quê quán làng Quy Thiện, Phủ Hải Lăng, Tỉnh Quảng Trị. Thân phụ là Thái Văn Bút, thời gian làm Tri huyện ở Hải Hậu đã cưới bà Công Nữ Nhi Ty (con gái thứ 9 của Tùng Thiện Vương) sinh ra Thái Văn Toản. Ông ngoại của ông là Tùng Thiện Vương, con thứ 10 của vua Minh Mạng. Vương là một thi bá đã từng được vua Tự Đức khen: “Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán, Thi đáo Tùng, Tuy thất thịnh Đường”
314 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng (Văn như Nguyễn Siêu và Cao Bá Quát hơn cả đời tiền Hán; Thơ thì Tùng Thiện Vương và Tuy Lý Vương đã lấn át cả đời thịnh Đường. Theo cụ Phan Văn Dật, giáo sư ở Huế, thì câu này của sứ Trung Hoa chứ không phải của vua Tự Đức). Làng Quy Thiện trước có tên là Trí Lễ (bên cạnh làng Trí Bưu), nhưng vì dưới thời các vua nhà Nguyễn trước 1885, trong làng có xảy ra việc người bên lương giết hại người Công giáo, nên sau khi tình hình ổn định, làng được đổi tên là Quy Thiện, nghĩa là trở về với điều thiện. Vốn sinh trưởng trong một gia đình danh gia vọng tộc như thế nên ông Thái Văn Toản là người có thế lực đương thời. Ông tốt nghiệp thủ khoa trường Thông Ngôn Đông Dương (Hà Nội) ngày 20-6-1902, vợ là Công Nữ Lương Cầm, dòng dõi Tuy Hòa Quận Vương. Bước đầu, ông làm việc tại văn phòng Thống Sứ Bắc Kỳ, đến 10-12-1903 làm việc tại văn phòng Toàn Quyền Đông Dương. Đậu thủ khoa ngạch Tham Tá Bảo Hộ (Commis indigène du Protectorat de l’Annam) rồi thăng ngạch Tham Tá hạng ba từ 1-1-1918. Từ 21-6-1918, vua Khải Định xin cho ông cải ngạch qua Nam Triều làm Ngự Tiền Văn Phòng cho vua tước Hồng Lô Tự Khanh. Trường Quốc Học khai giảng ngày 26-12-1896, dưới thời vua Thành Thái, do cụ Ngô Đình Khả làm Hiệu Trưởng tiên khởi, lúc đó mới có một lớp Tiểu Học và trường còn làm bằng tre, lợp tranh. Vua Khải Định đã mở mang trường Quốc Học, xây gạch, lợp ngói như bây giờ, trải qua 20 năm mới kiến thiết xong. Cho đến 40 năm sau (1936) trường mới có đến bậc Trung Học (lớp 9). Từ 1937 trở về sau mới có lớp 10, 11 và đến năm 1940 mới có thi Tú Tài. Vua Khải Định lên ngôi năm 1916, hai năm sau thì đưa ông Thái văn Toản về làm Ngự Tiền Văn Phòng. Chính trong thời gian này trường Quốc Học mới được mở mang và được đặt tên là trường Khải Định. Ông Thái Văn Toản được nhà vua trao cho vẽ các đồ án xây dựng trường này. Vì thế chúng tôi mới dám nói rằng: “Cụ Thái Văn Toản là người có công với trường Quốc Học”. Ông lần lượt được thăng Quang Lộc Tự Khanh (2-1919) rồi Thái Thường Tự Khanh (7-1920). Ngày 28-2-1922, ông được nhà vua trao cho công tác đặc biệt tại Bộ Công (do
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 315 Thượng Thư Đoàn Đình Duyệt), lo kiểm tra việc xây dựng... Tháng 4,1923 được thăng Tham Tri (Thứ Trưởng, hàng Nhị Phẩm). Ngày 23-4-1922, ông đi theo vua Khải Định qua Pháp với tư cách là Ngự Tiền Văn Phòng kiêm Thông Ngôn. Ngày 5-3- 1923 ông giữ chức Tuần Vũ kiêm Bố Chính Quảng Nam; tháng 1-1924 về Phủ Doãn Thừa Thiên (Tỉnh Trưởng); ngày 1-12-1924 thăng Tổng Đốc Thanh Hóa; ngày 18-12-1929 thăng Thượng Thư Bộ Hộ sung Cơ Mật Viện; ngày 28-2-1931 thăng Hiệp Tá Đại Học Sĩ; ngày 27-14-1932 qua Pháp đón vua Bảo Đại về nước; ngày 15 và 16-5-1932 bị tai nạn trên tàu Georges Philippar, được tàu chở dầu của Liên Xô là Kaianeff cứu và đưa vào cảng Djibuti. Các báo Pháp và Việt thời đó đã tường thuật chuyện này. Ngày 2-5-1933, vua Bảo Đại cải tổ Nội Các, ông được chuyển từ Bộ Hộ qua Bộ Công kiêm Bộ Lễ và Bộ Mỹ Thuật. Trong phần trích dẫn tài liệu của văn khố Pháp tại Paris ở trên, chúng tôi đã nói rõ ông Thái Văn Toản là người duy nhất còn lại trong số sáu vị Thượng Thư và ông đã tham gia Nội Các mới đứng đầu là ông Ngô Đình Diệm (Thượng Thư Bộ Lại). Sau khi ông Ngô Đình Diệm từ chức, ngày 22-7-1933, ông Thái Văn Toản thay thế ông Ngô Đình Diệm làm Thượng Thư Bộ Lại. Tài liệu của Pháp viết: “Le 22 Juillet, 1933, il fut appelé à diriger le ministère de l’Intérieur qu’il n’a pas quitt é depuis” (ngày 22-7-1933, ông được mời giữ chức Thượng Thư Bộ Lại...). Trong hình chụp dưới đây trích từ báo Pháp :Năm vị Thượng Thư của Nội Các 2-5- 1933: Ông Thái Văn Toản (đứng ở giữa) bên tay mặt ông Thái Văn Toản là ông Phạm Quỳnh, cạnh Phạm Quỳnh là ông Hồ Đắc Khải, bên trái ông Thái Văn Toản là ông Ngô Đình Diệm và ông Bùi Bằng Đoàn. Trong Nội các này ông Phạm Quỳnh là Thượng Thư Bộ Học (Giáo Dục). Như trên đã nói, ông Thái Văn Toản làm Thượng Thư Bộ Lại từ 22-7-1933 cho đến cuối 1942 thì xin về hưu mặc dù vua Bảo Đại còn muốn giữ ông lại nhưng ông từ chối và ông Phạm Quỳnh thay thế. Từ 1943 trở đi, ông trở về vui sống cảnh Phật, lui tới chùa Quy Thiện sau núi Ngự Bình. Đó là ngôi chùa đã được khởi công xây dựng từ khi Tùng Thiện Vương còn sống, về sau ông hoàn tất và phát triển thêm.
316 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Ông Thái Văn Toản đã xin cho cụ Phan Bội Châu được ở Huế. Theo lời thuật lại của ông Thái Văn Vượng: Thời gian ông Thái Văn Toản làm Phủ Doãn Thừa Thiên, cụ Phan Bội Châu bị Pháp bắt tại Thượng Hải (Trung Quốc) và bị lên án tử hình, sau cải án cho an trí tại quê nhà là Nghệ An. Trước khi được cải ngạch qua Nam Triều, ông Thái Văn Toản đã từng làm việc cho Varenne (lúc đó đang là Khâm Sứ Bắc Kỳ), về sau Varenne lên làm Toàn Quyền Pháp tại Đông Dương. Lợi dụng sự quen biết đó, ông Thái Văn Toản đã tâu lên vua Khải Định và đã được vua đồng ý để cho ông âm thầm Nội các ngày 2-5-1933. Từ trái sang phải: Hồ Đắc Khải, Phạm Quỳnh, Thái Văn Toản, Ngô Đình Diệm, Bùi Bằng Đoàn.
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 317 ra Hà Nội diện kiến Toàn Quyền Varenne, nhân danh vua xin ân xá cho cụ Phan. Pháp đồng ý và buộc cụ Phan phải về sống ở quê nhà là huyện Nam đàn, tỉnh Nghệ An nhưng ông Thái Văn Toản đã làm giấy bảo lãnh cho cụ Phan về ở Huế, nếu sau này có chuyện gì xảy ra thì ông sẵn sàng chịu trách nhiệm trước Toàn Quyền Pháp. Điều này chỉ có cụ Phan và các nhà cách mạng Việt Nam biết. Thời gian làm việc ở Huế, ông Thái Văn Toản thường sai con trai là Thái Văn Vượng đi xe kéo đến gặp cụ Phan tại Bến Ngự và trao tận tay cụ một số tiền (mỗi lần khoảng 10 đồng) rồi ra về ngay... Tiền cơm tháng lúc đó chỉ từ một đồng đến một đồng rưỡi, sáng ăn cháo nếp đậu xanh lót lòng, trưa và tối ăn cơm có cá, canh rau, có khi có thịt phay (thịt heo luộc)... cho nên với số tiền đó, cụ Phan cũng đủ sống... (Thái Văn Vương: Thư gởi các em...). Từ 1943 đến 1945, bao nhiêu biến cố xảy đến cho đất nước Việt Nam: Nhật đảo chính Pháp ngày 9-3-1945, Chính Phủ Trần Trọng Kim ra đời (từ 17-4-1945 đến 19-8-1945), Việt Minh lên cướp chính quyền tại Hà Nội... Nội Các Trần Trọng Kim từ chức, vua Bảo Đại thoái vị ngày 22-8,1945... Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập ngày 2-9-1945 tại Hà Nội... Tất cả những biến cố đó đã diễn ra quá nhanh như một cuốn phim đang chiếu trên màn ảnh, ông Thái Văn Toản như đứng ngoài các biến cố đó. Việt Minh cũng không đụng chạm gì đến ông. Khi quân Pháp trở lại Đông Dương, kháng chiến bùng nổ, gia đình ông bị bắt buộc theo mọi người tản cư ra vùng Thanh Hóa. Cuộc sống ở đây rất túng thiếu, vợ ông phải tần tảo nuôi chồng, nuôi con. Năm 1969, trong một dịp được nói chuyện với ông Nguyễn Duy Quang, Đại Sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Mã Lai Á, ông đã nhắc lại những ngày ở Thanh Hóa với ông Thái Văn Toản thời kháng chiến. Ông tỏ vẻ khâm phục thái độ của ông Thái Văn Toản trong thời loạn ly. Ông Thái là người bản tâm rất tốt, hòa nhã, khoan dung với mọi người, chuyên cần làm việc và không để lại tiếng xấu trong nhân dân. Khi Việt Minh lên, thấy dư luận trong nước không ai thắc mắc gì đối với ông nên chúng cũng để cho ông được yên thân lo tu hành. Ông Thái Văn Toản cũng có làm thơ nhưng không phổ
318 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng biến và hiện nay đều bị thất lạc, chỉ còn lại một số hình ảnh kỷ niệm, tranh vẽ v.v... của ông để lại trước 1945 tại chùa Quy Thiện (sau núi Ngự Bình, Huế). Sau năm 1975, các Thầy sợ Cộng Sản xét hỏi lôi thôi nên đã đem giấu cất đi, hiện nay đa số bị thất lạc. Thật là điều đáng tiếc ! Ông qua đời ngày 24-2-1951 (19 tháng Giêng năm Tân Mão), an táng tại làng Bạch Ngọc, tỉnh Nghệ An, thọ 66 tuổi (67 tuổi ta). Xin cám ơn con cháu của cụ Thái Văn Toản đã cung cấp cho chúng tôi tài liệu và hình ảnh để viết bài này. (Khởi viết cuối năm 1996, bổ túc cuối năm 2000) Nguyễn Lý Tưởng
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 319 35 NĂM SAU CÁI CHẾT CỦA TỔNG THỐNG NGÔ ĐÌNH DIỆM: NHÌN LẠI LỊCH SỬ * Nhân ngày 1-11-1998, 35 năm sau biến cố 1-11-1963 (Phát biểu của Giáo Sư Nguyễn Lý-Tưởng tại San José ngày 1-11-1998) Ngày 7-7-1954, khi ông Ngô Đình Diệm về chấp chánh, tôi chỉ là một học sinh bậc Trung Học và ngày 1-11-1963 khi ông Ngô Đình Diệm bị phe quân nhân lật đổ trong một cuộc đảo chánh thì tôi mới là sinh viên năm thứ hai trường Đại Học Sư Phạm Huế. Tôi là con trai duy nhất còn lại trong gia đình. Cha và anh đã bị Cộng Sản sát hại trước 1949. Mẹ tôi sống ở làng quê, chăn nuôi, trồng trọt, lo việc nội trợ. Họ hàng nội ngoại cũng thuộc thành phần nông dân, có người tu hành, có người phục vụ trong ngành y tế hay giáo dục ở địa phương và không có người nào là sĩ quan hay giữ chức vụ hành chánh từ Thôn Trưởng, Xã Trưởng trở lên trong chế độ của Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Về quan điểm chính trị, sau năm 1963, nhiều người cho rằng tôi là người ở trong tổ chức chính trị đối lập với Tổng Thống Ngô Đình Diệm vì tôi đã tham gia một chính đảng đối lập. Sự thực, sau năm 1963, khi tôi tham gia hoạt động cách mạng, hoạt động chính trị thì lúc đó Tổng Thống Ngô Đình
320 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Diệm và chế độ của ông cũng đã không còn nữa do đó tôi chưa bao giờ là người đối lập chính trị với chế độ đó. Sở dĩ có lời trình bày dài dòng trên đây về trường hợp cá nhân tôi là để xác định lại một lần nữa, tôi hoàn toàn không mang ơn, mang nghĩa gì của chế độ Tổng Thống Ngô Đình Diệm và những lời phát biểu của tôi sau đây hoàn toàn trên quan điểm của một người nghiên cứu lịch sử, không đứng về phe ủng hộ hay phe chống đối chế độ đó. Một sử gia Pháp, ông Gustave de Coulanges có nói: “Je n’impose rien, je ne propose rien, j’expoe” (tạm dịch: Tôi không áp đặt, tôi không chủ trương, tôi chỉ trình bày sự việc). Tôi xin làm việc với tinh thần đó. Tôi chỉ trình bày những gì tôi nghe thấy hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp qua nghiên cứu tài liệu hay qua lời thuật lại của các nhân chứng. Khi một vị Thẩm Phán nghiên cứu một hồ sơ pháp lý, vị đó phải cân nhắc, so sánh, đối chiếu để tìm ra sự thật. Người ta gọi đó là phương pháp “cẩn án”. Người nghiên cứu lịch sử cũng vậy, phải luôn luôn dùng phương pháp “cẩn án” để tìm cho ra sự thật, hoàn toàn không đứng trên quan điểm của phe này hay phe khác. Đối với các nhà lãnh đạo khác ở Việt Nam, trước hoặc sau Tổng Thống Ngô Đình Diệm, chưa có người nào được sử sách đề cập đến nhiều như ông. Quốc Trưởng Bảo Đại, Quốc Trưởng Dương Văn Minh, Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu... hay các vua nhà Nguyễn trước đó, cũng chưa có nhân vật nào trở thành một đề tài phong phú cho các nhà Sử học hay các nhà báo, nhà văn khai thác cho bằng Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Người ủng hộ thì đã có lập trường ủng hộ, người chống đối thì đã có lập trường chống đối, dù không phải là điều tai nghe mắt thấy, họ vẫn tin như đinh đóng cột. Ngay cả những vị tu hành, được tiếng là đi vào con đường đạo đức, vẫn có thể tin rằng: Tháng 5-1963, xe tăng đã cán chết Phật tử tại Đài Phát Thanh Huế; Công An, Cảnh Sát, Mật Vụ của ông Ngô Đình Diệm đã bắt Phật tử bỏ vào bao bố thả xuống biển; dưới mỗi gốc cây ở trong vườn nhà ông Ngô Đình Cẩn hay ở Chín Hầm (Huế) đều có chôn xác một Phật tử v.v... Và đã có nhiều người tin! Trái lại cũng có người tin rằng trong chế độ của Tổng
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 321 Thống Ngô Đình Diệm, không có ai gian dối, tham nhũng hối lộ hay là gây nên những bất công cho kẻ khác. Cụ Ngô Đình Diệm là bậc thần thánh, không có điều sai lầm... Ngày hôm nay, 35 năm sau biến cố 1-11-1963, quý vị sẽ được nghe ý kiến của chúng tôi và tất nhiên chúng tôi cũng chưa phải là người cuối cùng nghiên cứu hay phát biểu về Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Trước chúng tôi đã có bao nhiêu nhà nghiên cứu, học vấn uyên bác, bằng cấp chuyên môn, đủ tư cách và thẩm quyền đã nói về Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Tôi chỉ là một người chưa có danh phận gì trên phương diện nghiên cứu, sở học còn non kém, cũng chưa có bằng cấp chuyên môn cao như các vị khác, do đó ngày hôm nay, đứng trước mặt quý vị đây, chẳng khác nào “đứng trước Thái Sơn mà không biết” nên tôi thật vô cùng bối rối. Nếu có điều gì không vừa lòng, kính mong quý vị miễn chấp cho. 1. ÔNG NGÔ ĐÌNH DIỆM, NGƯỜI THỪA HƯỞNG TIẾNG TĂM CỦA GIA ĐÌNH Tôi chưa có dịp tiếp xúc với những người trong dòng họ Ngô Đình ở làng Đại Phong, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, để biết về dòng họ của ông Ngô Đình Diệm với đầy đủ chi tiết về gia phả cũng như những huyền thoại về địa lý phong thổ v.v... nhưng qua một người cậu ruột làm Linh Mục coi sóc các xứ đạo An Lạc, Mỹ Hương, Xuân Bồ v.v... thuộc huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình là những làng lân cận với Đại Phong, nơi lập nghiệp của dòng họ Ngô Đình, nơi sinh trưởng của ông Ngô Đình Khả, thân phụ của ông Ngô Đình Diệm thì được biết một vài chi tiết sau đây: Nguyên họ Ngô Đình, trước ông Ngô Đình Khả, chưa có ai theo đạo Công Giáo, hầu hết là theo truyền thống thờ cúng ông bà, giữ đạo hiếu với tổ tiên theo tinh thần Nho học. Trước ông Ngô Đình Khả, có lẽ dòng họ này cũng chưa có người nào danh tiếng và giữ chức vụ quan trọng trong triều đình cho bằng ông. Gần làng Đại Phong, có một vị Linh Mục thông thái, danh tiếng thời vua Tự Đức, đó là Linh Mục Nguyễn Hữu Thơ, người làng Mỹ Hương và là chú ruột của ông Nguyễn Hữu Bài, Thượng Thư dưới các triều vua Thành Thái, Duy
322 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Chân dung Tổng Thống Ngô Đình Diệm
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 323 Tân, Khải Định, Bảo Đại. Qua Linh Mục Nguyễn Hữu Thơ, ông Ngô Đình Khả đã theo đạo Công Giáo và được hướng dẫn học hành rồi giới thiệu cho vào chủng viện và được đưa qua học ở trường đào tạo Linh Mục vùng Đông Nam Á ở Penang (Mã Lai). Không được chọn làm Linh Mục, ông Ngô Đình Khả hoàn tục và trở về quê rồi thi vào trường thông ngôn Đông Dương, sau cải ngạch qua Nam triều và lên dần tới Thượng Thư. Ở đây chúng tôi xin được mở một dấu ngoặc để nói vài lời về người thầy của ông Ngô Đình Khả: Linh Mục Nguyễn Hữu Thơ, sinh năm 1835 tại làng Mỹ Hương, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, sau theo cha mẹ vào ở làng Cao Xá, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị. Từ 1842 đến 1845, ông học chữ Nho tại Quảng Trị, sau đó theo người cậu là Linh Mục Phan Văn Thận vào Quảng Nam để học tiếng Latinh chuẩn bị đi tu, rồi vào Gò Thị (Quy Nhơn) ở với Giám Mục Cuénot (tên Việt là Đức Cha Thể). Các vị lãnh đạo Công Giáo thời đó thấy ông quá thông minh nên gởi ông qua học tại chủng viện Penang (Mã lai). Ông học ở đây 6 năm từ 13-5- 1847 đến 14-8-1853, sau đó ông về Huế tiếp tục học Thần Học với Giám Mục Pellerin (Đức Cha Phan). Tháng 5-1864, ông theo Đức Giám Mục Sohier (Đức Cha Bình) sang Pháp học tại Đại Chủng Viện Mans và chịu chức Linh Mục ngày 15-4-1865. Từ 1867 đến 1873 ông trở về Huế làm quản lý cho giáo phận và làm Thư Ký cho Giám Mục Sohier, sau đó làm cha xứ Kim Long Huế. Do hòa ước ký kết giữa Việt Nam và Pháp năm 1862, vua Tự Đức bãi bỏ lệnh cấm đạo và năm 1873, ông được vua Tự Đức mời ra làm quan giúp việc cho triều đình. Với tư cách là một người công dân nước Việt Nam, bên cạnh vua Tự Đức, ông đã tích cực giúp nhà vua trong công tác phiên dịch các thư từ liên lạc giữa triều đình và người ngoại quốc và đã đóng góp nhiều ý kiến khôn ngoan giúp vua giải quyết nhiều khó khăn đương thời. Ông cũng như các Linh Mục khác được mời cộng tác với triều đình như Linh Mục Nguyễn Ngọc Tuyên (người làng Phụ Việt, tỉnh Quảng Bình), Linh Mục Nguyễn Hoằng (người Vinh), Linh Mục Đặng Đức Tuấn (người Bình Định) v.v... đã cố
324 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng gắng làm cho vua hiểu về đạo Công Giáo và cùng với Nguyễn Trường Tộ và nhiều người Công Giáo chân chính khác, đã đề nghị với vua nhiều chương trình cải cách để có thể giúp Việt Nam giữ được độc lập nhưng các quan trong triều đình, nhất là hai ông Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết vì quá tôn trọng Nho học một cách mù quáng, hẹp hòi nên rất ghét những người Tây học như Linh Mục Nguyễn Hữu Thơ. Đúng hơn là họ ghen tỵ với những người này vì đó là những người có kiến thức uyên bác, cả Nho học lẫn Tây học. Tháng 7-1873, Linh Mục Thơ được cử vào Sàigòn với chức vụ Thông Ngôn kiêm Thư Ký trong phái đoàn đi thương thuyết với Pháp gọi là quan Tùy Biện. Sau đó ông được vua cử đi làm Tham Biện Thương Chánh ở Hải Phòng và Hải Dương. Ông đã tỏ ra là người thanh liêm, cần mẫn. Quan lại bấy giờ ra làm quan quen thói hống hách tham nhũng nên rất ghét ông. Họ tìm cách xúi dân kêu ca chuyện này chuyện nọ đến nỗi ông phải xin từ chức trở về Huế để lo việc Đạo, vì việc chính trị không phải là việc chính của ông. Từ đó ông xin thôi hẳn không cộng tác với triều đình Huế nữa. Thời gian ở Huế, ông thường tiếp xúc với Hoàng Tử Ưng Chân (tức vua Dục Đức sau này) tại nhà riêng và dạy cho Hoàng Tử học tiếng Pháp để tìm hiểu văn minh, văn hóa Tây Phương. Sau khi Tự Đức mất, Dục Đức chọn ông làm thư ký riêng, xem như một thứ cố vấn thân cận. Trong lời buộc tội để truất phế vua Dục Đức, hai ông Nguyễn Văn Tường có nêu ra trường hợp này và xem như việc vua Dục Đức mời Linh Mục Nguyễn Hữu Thơ vào làm thư ký riêng là một “trọng tội”. Sau khi Dục Đức bị truất phế và bị bỏ đói chết ở trong ngục, Linh Mục Nguyễn Hữu Thơ tiếp tục làm cha xứ Kim Long và quản lý cho Giám Mục ở Huế. Tháng 11-1887, ông bỏ Huế vào Đà Nẵng, mở trường dạy học và qua đời tại đây ngày 17-11-1890, thọ 55 tuổi. Có người nói rằng, ông Ngô Đình Khả đã được một Linh Mục người Pháp coi một xứ đạo gần quê ông nhận làm đệ tử và cho vào tu học tại chủng viện. Chúng tôi đã tìm hiểu qua gia đình ông Nguyễn Hữu Bài, xác nhận sự liên hệ giữa ông Ngô Đình Khả và Linh Mục Nguyễn Hữu Thơ là đúng và sự thân tình giữa hai gia đình Ngô Đình Khả và Nguyễn Hữu Bài
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 325 khởi đi từ Linh Mục Nguyễn Hữu Thơ. Nếu có sự giúp đỡ của Linh Mục người Pháp thì cũng hợp lý và có thể qua sự giới thiệu của Linh Mục Nguyễn Hữu Thơ. Trong thời gian làm việc với triều đình vua Thành Thái, ông Ngô Đình Khả đã để lại nhiều danh tiếng tốt mà người đời sau thường nhắc nhở. Ông là người rất được vua trọng nể vì đã từng là thầy dạy tiếng Pháp cho vua. Ông cũng là người đã đưa ra chương trình xây dựng trường Quốc Học ở Huế vào năm 1896 mà ông là Hiệu Trưởng đầu tiên, lúc đó trường còn làm bằng gỗ lợp tranh và chỉ mới có lớp đầu tiên của bậc Tiểu Học, vừa dạy tiếng Pháp, chữ quốc ngữ và chữ Hán. Nhưng việc làm của ông Ngô Đình Khả đã được dân chúng nhắc nhở nhiều hơn hết và đã đi vào huyền thoại, vào sử sách không phải là việc xây trường Quốc Học năm 1896 mà là việc không chịu ký tên vào biên bản đày vua Thành Thái vào năm 1907. Người ta nói rằng vua Thành Thái có tư tưởng chống Pháp một phần chịu ảnh hưởng của ông Ngô Đình Khả vì ông là thầy dạy và là Thượng Thư, rất gần với vua. Khi vua biết được người Pháp đang tìm cách lật đổ mình thì vua giả điên, giả khùng. Khâm Sứ Pháp tại Trung Kỳ đã triệu tập Hội Đồng Nội Các gồm 6 vị Thượng Thư và đưa ra quyết định: Truất phế vua Thành Thái vì lý do vua bị bệnh điên không còn khả năng làm việc được nữa và sau đó quyết định đày vua ra ngoại quốc. Tất cả các quan trong triều đình, trong đó có người là bà con ruột của vua đều ngoan ngoãn đặt bút ký, ngoại trừ ông Ngô Đình Khả, vị Thượng Thư duy nhất và là người Công Giáo duy nhất trong Nội Các đã không chịu ký tên đồng ý đày vua. Ông nói, đại ý: một người điên thì không thể làm vua, điều đó hợp lý nhưng người điên thì có tội gì mà phải bị lưu đày? và ông đã không chịu ký tên vào biên bản. Sau đó ông đã bị cách hết chức tước, chỉ còn là dân thường. Hành động này đã nói lên tư cách của một nhà Nho, một kẻ sĩ và sau hết là một Kitô hữu, không thể đi ngược lại với lương tâm của mình. Trong một thời đại mà kẻ sĩ cam chịu khuất thân trước cường quyền, bạo lực, trước mãnh lực của đồng tiền thì một lương tâm như Ngô Đình Khả quả thật hiếm hoi. Câu: “Đày vua không Khả, Đào mã không Bài” đã được truyền tụng cho
326 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng đến bây giờ. Ông Ngô Đình Diệm đã thừa hưởng nền giáo dục của gia đình dựa trên tinh thần Nho học và Kitô giáo và cũng thừa hưởng được tiếng thơm của thân phụ để lại. 2. ÔNG NGÔ ĐÌNH DIỆM: NGƯỜI TRẺ DẤN THÂN Ông Ngô Đình Diệm sinh ngày 3-1-1901 tại Phủ Cam, Huế, nơi đó là quê của bà Phạm Thị Thân, thân mẫu của ông. Bên nội, dòng họ Ngô Đình theo đạo Công Giáo kể từ đời ông Ngô Đình Khả nhưng bên ngoại họ Phạm thì đã theo đạo từ lâu đời. Nhà của ông ở trước mặt nhà thờ nên không khí đạo hạnh từ trong gia đình đến ngoài thôn xóm đã ảnh hưởng đến ông từ khi còn nhỏ. Ông học chương trình Pháp tại trường Pellerin Huế và học chữ Nho ở nhà với thân phụ. Theo lời kể lại của các Sư Huynh trường Pellerin cũng như các bạn học cùng lớp với ông Ngô Đình Diệm thì ông Diệm là người thích đọc sách, ít chơi thể thao, ngoài giờ học, ông thường đi dạo một mình và hay có dáng suy tư, nghĩ ngợi. Tính ông rất nghiêm trang, lễ độ và ít nói. Hết bậc Trung Học vào năm 1918, ông thi vào trường Hành Chánh Hậu Bổ của Nam triều. Sau ba năm học, ông tốt nghiệp và lần lượt giữ các chức vụ Tri Huyện Hương Thủy, rồi Quảng Điền thuộc tỉnh Thừa Thiên, Tri Phủ Hải Lăng (tỉnh Quảng Trị), Quản Đạo Ninh Thuận rồi đến Tuần Vũ Bình Thuận. Tuần Vũ chỉ là một Tỉnh Trưởng ở tỉnh nhỏ. Theo luật Nam triều thì phải lên đến chức Tổng Đốc ở tỉnh lớn hoặc về làm Phủ Doãn Thừa Thiên (tức Tỉnh Trưởng ở kinh đô) mới có hy vọng vào được Nội Các, lãnh chức Thượng Thư nhưng ngày 2-5-1933, lúc đó ông mới 32 tuổi, đang làm Tuần Vũ Bình Thuận thì được vua Bảo Đại mời về giữ chức Thượng Thư Bộ Lại, đứng đầu Nội Các. Có người đặt vấn đề: vua Bảo Đại đã căn cứ vào đâu để mời một vị Tuần Vũ mới 32 tuổi, chưa từng giữ bất cứ một chức vụ gì ở Trung Ương về làm Thượng Thư Bộ Lại (tương đương với Thủ Tướng) trong Nội Các cải tổ? Dư luận ở Huế thời đó có nêu ra mấy lý do sau đây để giải thích biến cố này: - Trước khi về hưu, ông Nguyễn Hữu Bài đã giới thiệu
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 327 ông Ngô Đình Diệm với vua Bảo Đại. - Pháp muốn loại Nguyễn Hữu Bài vì ông này đã đứng đầu triều đình đòi hỏi Pháp thi hành hòa ước 1884, trả lại quyền cai trị trực tiếp miền Trung và miền Bắc cho triều đình Huế, quyền về hành chánh, tài chánh và quyền tổ chức lực lượng tự vệ. Năm 1912, ông Nguyễn Hữu Bài cũng đã phản đối Khâm Sứ Pháp là Mahé về vụ đào mả vua Tự Đức lấy vàng do đó Pháp đã dựa vào chủ trương trẻ trung hóa Nam Triều của Bảo Đại để xúi vua cải tổ Nội Các vào ngày 2-5-1933, cho các vị Thượng Thư già về hưu mà không báo trước và cũng không để cho họ làm đơn xin từ chức để bảo toàn danh dự. Ông Ngô Đình Diệm là một người trẻ, có khả năng, có tiếng thanh liêm nên được mời làm Thượng Thư Bộ Lại. - Pháp muốn trả ghế Thượng Thư lại cho gia đình họ Ngô nên đưa ông Ngô Đình Diệm vào Nội Các. Trong hồi ký của vua Bảo Đại có xác nhận rằng chính ông Nguyễn Hữu Bài đã giới thiệu ông Ngô Đình Diệm với nhà vua nhưng theo những nhân chứng từ trong gia đình của ông Nguyễn Hữu Bài và bạn bè cũng như dư luận ở Huế thời đó thì việc cải tổ Nội Các ngày 2-5-1933 thời vua Bảo Đại đã gây bất mãn trong các vị Thượng Thư già. Các cụ đã không được báo trước và sau khi quyết định đã ban bố, các cụ kéo nhau lên lăng Khải Định để báo cáo sự việc lên tiên đế. Cũng ngay sau đó, ông Nguyễn Hữu Bài rời Huế để trở về Phước Môn, cạnh đền thờ Đức Mẹ La Vang, thuộc phủ Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, suốt ngày đọc sách, đi nhà thờ, lo việc đạo đức và chăm sóc trẻ mồ côi. Hai năm sau cụ qua đời, thọ 73 tuổi (1935). Diễn tiến sự việc này, qua bài thơ Đường Luật của ông Hoài Nam Nguyễn Trọng Cẩn và nhất là bài “Tế sống Năm Cụ” của ông Võ Khải đã nói rõ: “Đầu tháng Tư đổi tiết, Toàn quyền chính phủ đã qua, Chiều mồng tám hội thương, hạ lệnh phong bì mới xổ. Giấy đã khui ra, Mắt đà thấy rõ. Từ dưới ông Công, Đến trên Cụ Võ. Cả thảy năm ngài, Được về một sổ” Người ta đã cho rằng, các cụ ấy “bị đuổi về một cách nhục nhã” chỉ trừ ông Thái Văn Toản, Thượng Thư Bộ Hộ được giữ lại và được chuyển qua làm Thượng Thư Bộ Công kiêm Bộ Lễ
328 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng và Bộ Mỹ Thuật. Với một con người có tư cách như Nguyễn Hữu Bài, không thể còn trở lại gặp vua Bảo Đại để vận động chức Thượng Thư cho ông Ngô Đình Diệm được. Ngoài những lý do đã nêu trên, trong Hồi Ký của vua Bảo Đại có nói: “Diệm năm ấy 31 tuổi, nổi tiếng là thông minh, liêm khiết” (1). Như vậy, dưới con mắt của một vị vua trẻ, hai đức tính THÔNG MINH và LIÊM KHIẾT là điều kiện để trở thành một vị Thượng Thư đứng đầu Nội Các. Ông Ngô Đình Diệm là người đã trải qua ba năm học ở trường Hành Chánh và kinh nghiệm mười năm làm việc cùng những kiến thức mà ông thu thập được qua sách vở, qua thân phụ, qua cụ Nguyễn Hữu Bài và qua những bậc đàn anh, những bậc thầy khác của ông. Vua Bảo Đại cũng có nhắc đến cụ Nguyễn Hữu Bài trong việc giới thiệu ông Ngô Đình Diệm. Theo chúng tôi, có lẽ cụ Nguyễn Hữu Bài đã từng đề cập đến khả năng và tư cách của ông Ngô Đình Diệm với vua Bảo Đại từ trước chứ không phải sau khi đã mất chức Thượng Thư Bộ Lại mới giới thiệu một người đàn em hay một người cháu vào thay thế chức vụ của mình. Lúc bấy giờ Pháp đưa ra chủ trương “trẻ trung hóa” Nam Triều để âm mưu đánh lừa Bảo Đại, loại bỏ Nguyễn Hữu Bài... chứ thực tâm người Pháp không muốn cải cách gì cả nhưng ông Ngô Đình Diệm đang tuổi trẻ, với tinh thần dấn thân, đầy thành tâm và nhiệt tình... nên khi bước chân vào Nội Các đã đưa ra chủ trương cải cách lại hành chánh, đòi Pháp thi hành hòa ước 1884, trả lại quyền cai trị Trung và Bắc Kỳ cho vua Việt Nam, đòi cho vua Việt Nam có ngân sách riêng và có quân đội riêng để giữ gìn an ninh, trật tự trong lãnh thổ của mình. Thực ra, đây cũng không phải là điều mới lạ gì vì từ thời vua Duy Tân, năm 1915, ông Nguyễn Hữu Bài lúc đó là Thượng Thư trong Nội Các cũng đã đặt vấn đề này với Pháp và ngay khi vua Bảo Đại mới về nước, mùa Hè năm 1932, Nguyễn Hữu Bài lúc đó với tư cách là Thượng Thư Bộ Lại đã cùng với Bảo Đại nhiều lần họp chung với Toàn Quyền hay Khâm Sứ Trung Kỳ (Đại Diện Toàn Quyền) để đòi hỏi Pháp thi hành hòa ước 1884 mà không có kết quả gì do đó việc ông
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 329 Ngô Đình Diệm đòi hỏi Pháp trao trả quyền hành cho Việt Nam theo các quy định trong hiệp ước 1884 cũng chỉ là tiếp nối con đường của các vị tiền nhiệm mà thôi. Ngồi ghế Thượng Thư Bộ Lại chưa được hai tháng thì ông Ngô Đình Diệm từ chức và trở về làm một người dân, kết bạn với những người có tư tưởng cách mạng, đã từng tham gia các cuộc tranh đấu chống Pháp (2), mong tìm ra một con đường cứu nước thích hợp với hoàn cảnh Việt Nam thời đó và con người trẻ Ngô Đình Diệm, tuổi 32, đã dấn thân vào con đường tranh đấu, ôm một hoài bão lớn, lập chí, lập ngôn, đưa ra một chương trình xây dựng đất nước và mong có ngày thực hiện được lý tưởng của mình. Đó là con đường cách mạng mà những người yêu nước đã đi qua và cũng từ đó người ta gọi chàng thành niên 32 tuổi đó là MỘT NHÀ CÁCH MẠNG. 3. ÔNG NGÔ ĐÌNH DIỆM ĐÃ TẠO ĐƯỢC NIỀM TIN, NIỀM HY VỌNG TRONG DÂN CHÚNG TRƯỚC KHI LÊN NẮM CHÍNH QUYỀN Về chuyện ông Ngô Đình Diệm từ chức cũng có người cho rằng ngoài lý do chống Pháp còn có nhiều lý do khác liên quan đến cá nhân giữa vua Bảo Đại và ông Ngô Đình Diệm nhưng căn cứ trên những điều đã được báo chí và sách vở đề cập đến, nhất là qua Hồi Ký của vua Bảo Đại: “Le dragon d’ Annam” (Con rồng Việt Nam) thì ông Ngô Đình Diệm đã có chính nghĩa khi từ chức. Dù sao thì việc từ chức của ông cũng đã làm cho ông trở nên thần tượng và là niềm hy vọng của những người đương thời. Thế hệ lớn tuổi thì nghĩ rằng mình không làm được gì nữa nên có người đã hậu thuẫn cho ông, hy vọng ông còn trẻ, còn có nhiều cơ hội thận lợi trong tương lai. Thế hệ trẻ thì xem ông như là bậc thầy, người lãnh đạo có cả đạo đức lẫn khả năng để cho mình tin tưởng và dấn thân vào con đường tranh đấu. Nhờ những ưu thế đó mà năm 1954, khi về nước chấp chính, ông đã được một hậu thuẫn rất lớn trong dân chúng. Theo lời thuật lại của các con trai Kỳ Ngoại Hầu Cường Để (một nhà cách mạng Việt Nam lưu vong ở Nhật từ đầu thế kỷ 19, cùng thời với cụ Phan Bội Châu) thì ông Ngô Đình Diệm đã liên lạc với ông Cường Để nhiều năm trước khi Nhật
330 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng đảo chính Pháp ở Đông Dương vào ngày 9-3-1945. Ông Ngô Đình Diệm sẽ là Thủ Tướng trong trường hợp Kỳ Ngoại Hầu Cường Để được người Nhật đưa về nước thay thế vua Bảo Đại. Người Nhật đã bí mật tiếp xúc với ông Ngô Đình Diệm tại Trụ Sở Hội Bắc Việt Tương Tế (sau này là trường Trung Học Tư Thục Mê Linh) đường Phan Đình Phùng, cạnh Nhà Máy Thủy Điện Huế và cầu Kho Rèn. Ông Tráng Liệt, con trai trưởng của Kỳ Ngoại Hầu Cường Để đã làm thông ngôn trong cuộc tiếp xúc đó. Câu chuyện này tôi đã nghe nhiều người ở Huế kể lại và chính ông Tráng Cử, con trai của Kỳ Ngoại Hầu Cường Để cũng đã xác nhận với tôi như vậy. Năm 1968, khi qua Nhật, tôi có hỏi nhiều người quen biết với Kỳ Ngoại Hầu Cường Để về chuyện đó, họ cho biết, năm 1945, Nhật đã chuẩn bị cho Cường Để về nước, đã đúc ấn tín và kiếm lệnh cho ông nhưng sau đó Nhật thay đổi kế hoạch và đã tiếp tục ủng hộ vua Bảo Đại và đưa ông Trần Trọng Kim lên làm Thủ Tướng. Trước đó, vua Bảo Đại cũng đã nhờ người Nhật chuyển đến ông Ngô Đình Diệm một điện văn mời ông về Huế để tham khảo ý kiến lập Nội Các nhưng điện văn đó đã không tới tay ông Ngô Đình Diệm mà đã tới tay ông Trần Trọng Kim. Chuyện này đã được vua Bảo Đại kể lại trong hồi ký của ông. Theo lời của ông Võ Như Nguyện (con trai của nhà cách mạng Võ Bá Hạp, bạn của các cụ Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng) thì vua Bảo Đại có mời ông Ngô Đình Diệm nhưng ông từ chối. Trước khi Nhật đảo chánh Pháp tại Đông Dương ngày 9-3-1945, ông Ngô Đình Diệm đã bị Pháp vây bắt tại nhà nhưng nhờ một người công chức tại Tòa Khâm Sứ Huế có lòng giúp đỡ, báo cho ông biết trước tin đó và người Nhật đã cho ông vào tỵ nạn trong Tòa Đại Sứ Nhật tại Huế. Sau đó ông vào Sàigòn để tránh sự lùng bắt của bọn mật thám Pháp ở Huế do đó mà vua Bảo Đại phải nhờ người Nhật chuyển điện văn mời ông về Huế để tham khảo ý kiến về việc lập Nội Các. Điện văn này đã không đến tay ông Ngô Đình Diệm và sau đó Nhật đã đưa ông Trần Trọng Kim từ Singapor về Huế gặp vua Bảo Đại và nhà vua đã mời ông Trần Trọng Kim tạm thời
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 331 nhận lãnh trách nhiệm lập Nội Các trong lúc chờ đợi ông Ngô Đình Diệm trở về. Theo cụ Võ Như Nguyện (sinh 1915 tại Huế) là người có liên lạc với ông Ngô Đình Khôi, anh ruột ông Ngô Đình Diệm vào thời đó, thì ông Ngô Đình Diệm đã thấy rõ âm mưu của Nhật và giải pháp đưa Kỳ Ngoại Hầu Cường Để về nước thay thế vua Bảo Đại bất thành nên ông từ chối đứng ra lập Nội Các (hoặc tránh mặt)... Ngày Việt Minh cướp chính quyền tại Hà Nội, 19-8-1945, ông Ngô Đình Diệm có mặt tại Sàigòn và ông đã tìm đường trở về Huế. Ra tới Phan Thiết thì ông đã bị Việt Minh bắt. Ông Ngô Đình Diệm đã từng làm Tuần Vũ Bình Thuận (Phan Thiết) trước khi về làm Thượng Thư Bộ Lại (1933) và được tiếng là liêm khiết, từ chức Thượng Thư để hoạt động cách mạng chống Pháp... nên ở Phan Thiết không ai là không biết ông. Nhận thấy dư luận bất lợi nên Việt Minh đã trả tự do cho ông sau mấy ngày bị tạm giam. Ông lại tiếp tục lên đường ra Huế và đã bị bắt ở Tuy Hòa rồi giải giam tại Quảng Ngãi. Bên Công Giáo được tin ông bị bắt đã cho người liên lạc ra Phát Diệm nhờ Giám Mục Lê Hữu Từ (lúc đó đã được Hồ Chí Minh mời làm Cố Vấn và đã được Quốc Hội chấp thuận) can thiệp cho ông được tự do. Từ Quảng Ngãi, Việt Minh đã đem ông Ngô Đình Diệm ra giam ở Lạng Sơn, sau đó cho về ở bệnh viện Hà Nội và trả tự do cho ông. Linh Mục Maria Malachias Dương Văn Minh, thuộc Tu Viện Châu Sơn (Phủ Nho Quan, Ninh Bình, nơi Đức Giám Mục Lê Hữu Từ làm Bề Trên trước khi về thay thế Giám Mục Phan Đình Phùng ở Phát Diệm qua đời) cho biết, chính ngài đã săn sóc cho ông Ngô Đình Diệm một thời gian lúc còn ở tại nhà in Roma (Hà Nội) trước khi lo giấy tờ cho ông đi hành hương Năm Thánh tại Roma năm 1950 và sau đó ông đã gặp Hồng Y Spellman và đã theo Hồng Y qua Mỹ. Cha Minh cho tôi biết chính ngài đã nhờ ông Trần Văn Đôn lúc đó là Trung Úy, sĩ quan tùy viên của Thủ Tướng Trần Văn Hữu, xin với Thủ Tướng ký giấy thông hành cho ông Ngô Đình Diệm đi Roma năm 1950. Cha Minh đã qua đời ngày 30-3-1993 tại tu viện Châu Thủy, Hàm Tân (tỉnh Bình Tuy). Từ 1950 trở đi, ông Ngô Đình Diệm sống ở Mỹ, đọc sách,
332 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng chuyên nghiên cứu các lý thuyết chính trị và cũng thường liên lạc với cha Minh qua thư từ, trao đổi với nhau nhiều kiến thức sách vở... Trong âm thầm, ông Ngô Đình Diệm đã làm công tác vận động ngoại giao, vận động chính trị tại Hoa Kỳ cho đến ngày ông trở về nước chấp chính (ngày song thất 7-7- 1954). Con đường mà các nhà hoạt động cách mạng, các nhà hoạt động chính trị phải đi, trước hết là xây dựng tư tưởng chính trị của mình cho hợp lý và bố trí lại cho có hệ thống; sau đó mới viết ra thành lý thuyết, thành chủ nghĩa hay chủ trương chính trị và cuối cùng phải có người thực hiện đường lối đó, nghĩa là phải có tổ chức, có đảng viên, có cán bộ, có người am hiểu chủ trương, đường lối đó và vận động quần chúng ủng hộ. Ngày xưa, các bậc tiền bối của chúng ta thường gọi ba giai đoạn đó là: LẬP CHÍ, LẬP NGÔN, LẬP ĐẢNG. Chắc chắn trước khi lên nắm chính quyền, ông Ngô Đình Diệm đã có tư tưởng chính trị, có kinh nghiệm về tổ chức hành chánh, am hiểu nhiều vấn đề cần thiết cho người lãnh đạo quốc gia. Đó là các chủ trương chính trị, lịch sử tranh đấu của dân tộc Việt Nam cũng như các quốc gia khác trên thế giới. Những gì cần phải nghiên cứu, cần phải học hỏi để có khả năng đóng trọn vai trò của mình, chắc chắn ông Ngô Đình Diệm phải quan tâm. Rất khác với một người mà trong tuổi trẻ, họ không hề mơ ước trở thành một người lãnh đạo, không bao giờ nghĩ rằng sau này mình sẽ đóng một vai trò quan trọng trong quốc gia, xã hội. Họ chỉ biết đi học, kiếm năm ba chữ để xin đi làm một chân thư ký, một công chức hay trở thành một quân nhân, một sĩ quan... và trong số đó không ai có một tham vọng chính trị nào to lớn khi còn trẻ tuổi. Nhưng với ông Ngô Đình Diệm, quả thật ông đã có một tham vọng chính trị, muốn trở thành một người lãnh đạo. Ông cũng có một số bạn bè, tuy chưa có thể nói được rằng đó là một tổ chức, một chính đảng nhưng cũng có thể gọi họ là những đồng chí của ông. Vì thế trước năm 1954, người ta vẫn quan niệm ông Ngô Đình Diệm là người không đảng phái và hy vọng ông có thể đóng vai trò kết hợp được các người yêu nước, các khuynh hướng chính trị, các lực lượng tín đồ các tôn giáo để tranh đấu giành độc lập và xây dựng một nước Việt
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 333 Nam tự do, dân chủ, giàu mạnh hầu có thể đương đầu với nạn Cộng Sản đang bành trướng khắp nơi trên thế giới nhất là tại Việt Nam sau 1945. Vua Bảo Đại đã được tín nhiệm để đóng vai trò này sau 1945 nhưng đã làm cho mọi người thất vọng vì ông đã bỏ qua nhiều cơ may và đã để cho những người thân Pháp thao túng chính quyền. Niềm tin của dân chúng đối với người lãnh đạo rất quan trọng. Không có niềm tin đó thì sẽ không có sức mạnh để tranh đấu thành công được. Đức Khổng Tử sống vào thời Xuân Thu, Chiến Quốc, khoảng 550 năm trước Chúa Giêsu, xã hội loạn lạc. Ông đã chứng kiến tận mắt những cảnh tôi giết vua, con giết cha, vợ giết chồng, anh em xâu xé lẫn nhau... Một xã hội không còn nhân tính, luân lý đạo đức suy đồi... Từ tuổi trẻ ông đã ôm hoài bão lớn giúp nước, giúp dân. Ông đã đến với các vua chư hầu, trình bày chủ trương chính trị của mình, nhưng chẳng mấy ai quan tâm thực hiện. Các vua chư hầu đều muốn thi hành chính sách bá đạo, dùng sức mạnh để bắt mọi người phải vào nề nếp. Họ muốn rằng chỉ trong một thời gian ngắn sẽ ổn định được tình hình do đó Khổng Tử chu du khắp thiên hạ mười lăm năm mà không thành được cái chí của mình, ông bèn trở về quê, mở trường dạy học, sáng tác sách vở, tìm người nối chí, để lại tư tưởng, đường lối cho đời sau. Khổng Tử chủ trương muốn ổn định xã hội thì phải có Tam Cương, Ngũ Thường. Tam Cương là Quân Thần, Phụ Tử, Phu Phụ; ba mối dây ràng buộc mọi người trong xã hội lại với nhau. Mỗi người có một bổn phận, giữ trọn bổn phận đó thì xã hội được ổn định. Quốc gia, xã hội và gia đình là ba mối dây (cương) có liên hệ mật thiết với nhau. Giữa con người với con người trong xã hội có năm đức tính để ăn ở với nhau gọi là Ngũ Thường; dùng năm đức tính đó để xây dựng xã hội và con người. - Trong một xã hội quá dã man, tàn bạo, con người không biết đến điều thiện thì phải đề cao chữ NHÂN. Nhân là lòng thương người. - Trong một xã hội đầy dẫy bất công thì phải củng cố điều NGHĨA. Nghĩa là sự công bằng, là bổn phận phải tuân giữ để khỏi thiệt hại đến người khác. Mọi người tôn trọng điều nghĩa thì không xâm phạm đến quyền lợi của kẻ khác.
334 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng - Muốn trật tự xã hội được củng cố thì phải có LỄ. Lễ là những quy định của xã hội đã thành truyền thống, thành phong tục, thành luật lệ. Nếu mọi người ăn ở theo đúng Lễ thì xã hội được ổn định. - Trong một xã hội loạn lạc, anh hùng nổi lên khắp nơi kêu gọi mọi người ủng hộ mình. Người trí thức, tức là kẻ sĩ thì phải sáng suốt, biết nhận định để không chọn lầm người, chọn lầm chế độ. Sự sáng suốt đó gọi là TRÍ. - Sau cùng, nếu đã có được bốn đức tính nói trên rồi, nếu đã giữ đúng được bốn điều đó rồi mà thiếu chữ TÍN thì cũng sẽ hỏng hết bởi vì không có chữ TÍN, tức là lòng tin cậy lẫn nhau, thì không thể cộng tác với nhau được. Lúc đó mọi người sẽ nghi kỵ lẫn nhau, lừa dối nhau, phản bội nhau. Xã hội loạn lạc, mọi sự bất thành cũng vì đã mất đi chữ Tín. Sở dĩ chúng tôi dài dòng về tư tưởng Khổng Tử và nhấn mạnh đến sự quan trọng của chữ TÍN là vì ông Ngô Đình Diệm, ngoài nền tảng của Đức Tin Công Giáo, ngoài hai chữ Công Bằng, Bác Ái ra, ông còn chịu ảnh hưởng của Nho học với căn bản của Tam Cương, Ngũ Thường, Chính Danh, Quân Tử bắt nguồn từ truyền thống gia đình họ Ngô của ông Ngô Đình Khả. Trước khi trở thành Thủ Tướng (7-7-1954) rồi Quốc Trưởng và Tổng Thống 26-10-1955, ông Ngô Đình Diệm quả thật đã tạo được niềm tin ở trong dân chúng. Lúc bấy giờ, tôi còn là học sinh, mới 14, 15 tuổi cũng đã từng nghe những người xung quanh nói về ông Ngô Đình Diệm và đặt hy vọng vào ông rất nhiều. 4. CUỘC CHIẾN GIỮA PHE QUỐC GIA VÀ PHE CỘNG SẢN TỪ 1945-1954: HIỆP ĐỊNH GENÈVE 20-7-1954 Để hiểu rõ tấm lòng của nhân dân Việt Nam đối với ông Ngô Đình Diệm trước khi ông trở về nước lãnh đạo chính quyền, chúng tôi xin phép được nhìn lại tình hình Việt Nam từ 1945, Việt Minh cướp chính quyền cho đến ngày Hiệp Định Đình Chiến Genève 20-7-1954 ra đời, thường gọi là Hiệp Định Genève. Sau khi vua Bảo Đại thoái vị ngày 25-8-1945, Hồ Chí Minh phong cho cựu hoàng chức cố vấn và đưa ông ra giam
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 335 lỏng ở Hà Nội. Có chính quyền trong tay, Đảng Cộng Sản bành trướng nhanh và tổ chức cơ sở từ Trung Ương đến địa phương, dùng những người vô học, chủ trương bài xích tôn giáo và giai cấp đấu tranh, tiêu diệt địa chủ, phú nông, tư sản v.v... Khi Việt Minh kêu gọi toàn dân đứng lên cướp chính quyền trong tay Nhật, lúc đó mọi người vì khao khát độc lập nên không chú trọng đến vấn đề Cộng Sản hay Quốc Gia nhưng sau đó, khi quân đội Tưởng Giới Thạch do hai tướng Lư Hán và Tiêu Văn vào Việt Nam để giải giới quân đội Nhật thì các lãnh tụ Cách Mạng Việt Nam lưu vong ở Trung Quốc (Phe Quốc Gia) cùng với lực lượng võ trang của họ cũng trở về nước và bắt đầu có cuộc tranh chấp Quốc-Cộng xảy ra. Từ khi quân Nhật vào Đông Dương thì các đảng phái Quốc Gia đã hoạt động mạnh trở lại nhưng vì lãnh tụ còn ở ngoại quốc nên không dám quyết định cướp chính quyền do đó mà chính quyền rơi vào tay Việt Minh (Cộng Sản). Giờ đây, dựa thế quân đội Tưởng Giới Thạch, họ công khai chỉ trích phe Cộng Sản và đòi thực thi các quyền tự do, dân chủ. Hồ Chí Minh một mặt dùng vàng bạc để mua chuộc cảm tình của các tướng Tàu, mặt khác đưa ra chiêu bài Chính Phủ Liên Hiệp, kêu gọi đoàn kết chống Pháp để cầm chân các lãnh tụ của phe Quốc Gia tại Hà Nội. Hồ Chí Minh còn qua Pháp ký một hiệp ước thuận cho quân Pháp có mặt ở Sàigòn, Vũng Tàu, Cam Ranh, Đà Nẵng, Hải Phòng, Hà Nội. Chính vì thế Pháp mới thương lượng với Tưởng Giới Thạch cho quân Tàu rút lui để Pháp thay thế. Nội bộ phe Quốc Gia chia rẽ, một nhóm tham gia Chính Phủ Liên Hiệp của Hồ Chí Minh, một số chủ trương phải lật đổ chính quyền Việt Minh và bất hợp tác với phe Cộng Sản. Nhân danh kháng chiến, nhân danh yêu nước, Việt Minh đã bắt cóc, thủ tiêu hàng triệu người từ Nam chí Bắc, nhất là ở vùng quê. Dân tộc Việt Nam khi hiểu được Việt Minh là gì, Cộng Sản là gì thì đã quá muộn, chân đã vào tròng làm sao rút ra được nữa. Do lời kêu gọi kháng chiến của Hồ Chí Minh, các giáo phái và đảng phái Quốc Gia đã tự võ trang kháng Pháp. Ở Miền Bắc, đồng bào theo đạo Công Giáo vùng Bùi Chu, Phát Diệm đã đứng ra tự thành lập lực lượng võ trang tự vệ. Ở
336 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng trong Nam, các giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo cũng tự võ trang để kháng chiến. Việt Nam Quốc Dân Đảng và Đại Việt Quốc Dân Đảng thống nhất thành một mặt trận và cũng lập chiến khu khắp nơi. Một số người trong đó có Trương Tử Anh (Đại Việt) chủ trương giải pháp Bảo Đại và tìm cách vận động cho cựu hoàng thoát khỏi kiềm chế của Việt Minh. Một phái đoàn Việt Minh do Hoàng Minh Giám cầm đầu trong đó có Bảo Đại, qua Côn Minh (tỉnh Vân Nam, Trung Quốc) thương lượng với Tưởng Giới Thạch. Lợi dụng cơ hội đó, Bảo Đại ở lại Côn Minh và sau đó đến Hồng Kông vận động Pháp trao trả độc lập cho Việt Nam. Sau khi Việt Minh cướp chính quyền ở Hà Nội (19-8-1945) thì 21 ngày sau, quân Pháp đã vào Sàigòn thay thế quân Anh. Cuộc kháng chiến ở Miền Nam đã xảy ra trước và sau ngày toàn quốc kháng chiến bùng nổ (19-12-1946) nhưng thanh niên yêu nước, trong đó có các đảng viên của Việt Quốc và Đại Việt đã hy sinh trong đợt tấn công vào quân Pháp đầu tiên. Trong khi đó, Võ Nguyên Giáp chủ trương rút vào chiến khu để bảo toàn lực lượng. Máu của những người yêu nước đã đổ ra nhưng mọi người cứ hiểu rằng đó là máu của người Cộng Sản hy sinh cho tổ quốc trong Mặt Trận Việt Minh. Phe Quốc Gia đã chiến đấu kháng Pháp ở các chiến khu dọc theo biên giới Việt-Trung Hoa cho đến khi giải pháp Bảo Đại thành hình, Pháp trả độc lập cho chính quyền Quốc Gia mà họ vẫn chiến đấu vì mất liên lạc, không biết rõ tình hình. Giai đoạn đầu, tháng Giêng năm 1947, quân Pháp chiếm các thành phố từ Nam ra Bắc và thiết lập một chính quyền lâm thời để duy trì an ninh trật tự, ngăn chận sự tàn sát dã man của Cộng Sản đối với những người Quốc Gia, đồng thời Bolaert, thay mặt chính phủ Pháp kêu gọi những phần tử kháng chiến không Cộng Sản trở về hợp tác. Một phái đoàn đại diện tôn giáo, đảng phái qua Hồng Kông gặp Bảo Đại để thảo luận đồng thời hậu thuẫn cho ông trong cuộc tranh đấu đòi Pháp trao trả độc lập cho Việt Nam. Từ 1947 đến 1949, chính quyền ở trong tay người Pháp nhưng từ khi ký hiệp ước tại vịnh Hạ Long 1949, vua Bảo Đại trở thành Quốc Trưởng, có chính phủ, có quân đội và ngoại giao riêng thì Việt Nam là một nước độc lập và được quốc tế thừa nhận. Sự hiện diện của quân đội
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 337 Pháp tại Việt Nam lúc đó là để bảo vệ cho chính quyền Việt Nam đang còn mới mẻ, đợi khi nào Việt Nam tổ chức được một quân đội mạnh mẽ thì người Pháp sẽ rút lui hoàn toàn. Chính vì lý do đó mà Hoa Kỳ đã viện trợ cho Việt Nam súng đạn, tiền bạc để chống lại Cộng Sản, bảo vệ tự do. Cuộc chiến đấu không còn mang tính cách chống xâm lăng dành độc lập mà là cuộc chiến tranh ý thức hệ: một bên là những người theo chủ nghĩa Cộng Sản với lý tưởng để xây dựng một xã hội Cộng Sản trên đất nước Việt Nam. Khẩu hiệu của họ là “Vì Đảng, Vì Chủ Nghĩa Cộng Sản”, vai trò tổ quốc là thứ yếu hay chỉ để lừa dối những người yêu nước chân chính mà thôi. Một bên là những người không chấp nhận chủ nghĩa Cộng Sản, họ chiến đấu để bảo vệ nền văn hóa dân tộc, bảo vệ tự do tín ngưỡng, tự do tư tưởng và các quyền tự do khác của con người trong chế độ dân chủ. Lực lượng Việt Minh đã bị đánh đuổi vào tận rừng sâu hay vùng biên giới Việt-Trung Quốc. Sau năm 1949, Mao Trạch Đông (Cộng Sản) thắng Tưởng Giới Thạch (Quốc Gia), thực hiện chủ nghĩa Cộng Sản ở Trung Quốc thì Cộng Sản Việt Nam được sự giúp đỡ từ Liên Xô và Trung Cộng qua biên giới Việt-Trung, đã mở các mặt trận phản công quân Pháp-Việt ở Miền bắc như Bắc Sơn, Hòa Bình, Lạng Sơn và cuối cùng là trận Điện Biên Phủ. Trong trận này, Pháp muốn dùng căn cứ Điện Biên Phủ như là một miếng mồi để nhử Việt Minh đến và sẽ dùng máy bay ném bom tiêu diệt chúng. Pháp đã thương lượng với Mỹ và Mỹ hứa sẽ yểm trợ máy bay oanh tạc nhưng khi mặt trận đến hồi gay cấn thì Mỹ từ chối không thực hiện lời hứa, vì thế Pháp đã thua Việt Minh. Trận Điện Biên Phủ bắt đầu từ ngày 13-3-1954 đến ngày 7-5-1954, quân Pháp đầu hàng Việt Minh. Lực lượng Pháp khoảng 20.000 lính cố thủ trong căn cứ và Việt Minh có trên 60.000 lính bao vây bên ngoài. Vũ khí và các phương tiện vận tải đều do Trung Cộng tiếp tế từ biên giới qua. Trong thế chiến thứ hai (1939-1945), chủ trương của Mỹ là trao trả độc lập cho các nước thuộc địa, xóa bỏ chế độ đế quốc thực dân vì thế khi Nhật đảo chính Pháp tại Đông Dương ngày 9-3-1945, Pháp kêu gọi không lực Mỹ đóng ở Côn Minh (Trung Quốc) giúp nhưng Mỹ từ chối không yểm trợ các đơn
338 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng vị của Pháp còn chống Nhật trên đường từ Bắc Việt rút lui sang Trung Quốc. Mỹ muốn dùng bàn tay Nhật loại Pháp ra khỏi Đông Dương, sau đó Mỹ sẽ đánh thắng Nhật và cho Việt Nam độc lập trong quan hệ kinh tế với Mỹ nhưng Mỹ chưa kịp trở tay thì Việt Minh đã cướp chính quyền rồi nên Mỹ đã để lỡ mất một cơ hội. Trong Hội Nghị Genève năm 1954, Mỹ và Việt Nam (phe Quốc Gia) chống giải pháp chia cắt lãnh thổ nhưng Pháp muốn rút lui nên đã thuận chia đôi Việt Nam: Miền Bắc trao cho Hồ Chí Minh, Miền Nam trao cho Ngô Đình Diệm. Năm 1953, giới chính trị tại Sàigòn, Hà Nội cũng như tại ngoại quốc đều biết rằng cuộc chiến sẽ đi đến chỗ kết thúc bằng một cuộc thương lượng. Về phía Việt Minh thì họ cho rằng họ mới là người đại diện chân chính của dân tộc Việt Nam. Họ có chính quyền, có Quốc Hội do dân bầu, họ có Hiến Pháp do Quốc Hội soạn thảo ra v.v... Trong khi đó, phe Quốc Gia với Quốc Trưởng Bảo Đại chưa có bầu cử, ứng cử, chưa có Quốc Hội, chưa có Hiến Pháp, chưa có sinh hoạt dân chủ. Ngoài ra, với sự hiện diện của quân đội Pháp trên chiến trường Việt Nam đã tạo lợi thế cho phe Việt Minh Cộng Sản tuyên truyền lôi kéo dân theo họ để chống thực dân giành độc lập. Vì thế, để hậu thuẫn cho Quốc Trưởng Bảo Đại và phái đoàn của Ngoại Trưởng Nguyễn Quốc Định tại Hội Nghị, ngày 6-9- 1953 đại diện các tôn giáo, đảng phái và nhân sĩ trong nước đã thành lập Phong Trào Đại Đoàn Kết và Hòa Bình. Phong trào đã họp đại hội ngày 6-1-1954 tại Sàigòn với 65 đại biểu trong đó có các ông Nguyễn Xuân Chữ, Nguyễn Tôn Hoàn, Nguyễn Thành Phương, Trần Văn Ân, Phạm Xuân Thái, Lâm Thành Nguyên, Nguyễn Giác Ngộ, Ngô Đình Nhu, Trần Văn Lý, Hà Thúc Ký, Bùi Kiện Tín, Trần Chánh Thành, Nguyễn Phan Châu (tức Tạ Chí Diệp), Huỳnh Hòa, Phan Khoang, Bùi Xuân Bào, Đoàn Văn Thái, Nguyễn Cao Thăng, Đỗ La Lam, Phan Văn Phúc, Lê Toàn, Lê Quang Luật, Trần Trung Dung, Nguyễn Đình Luyện, Nông Quốc Văn, Vũ Hồng Khanh, Trần Văn Tuyên, Lê Phùng Thời v.v... (3). Sau ba ngày họp, Đại Hội đã bầu ra một Ban Đại Diện như sau: - Chủ Tịch: Bác Sĩ Nguyễn Tôn Hoàn (Đại Việt). - Tổng Thư Ký: Ông Lê Phùng Thời. - Đại diện miền Bắc: Bác Sĩ Nguyễn Xuân Chữ, Bác Sĩ Lê
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 339 Toàn, Luật Sư Lê Quang Luật. - Đại diện miền Nam: Bác Sĩ Nguyễn Tôn Hoàn, ông Nguyễn Thành Phương (Cao Đài), ông Nguyễn Giác Ngộ (Hòa Hảo), ông Trần Văn Ân (Bình Xuyên). - Đại diện miền Trung: Ông Trần Văn Lý, ông Ngô Đình Nhu, ông Hà Thúc Ký (Đại Việt). Phong Trào chủ trương cai trị bằng Hiến Pháp, bầu cử Quốc Hội Lập Hiến, chống chia cắt lãnh thổ, lập một chính phủ đoàn kết quốc gia v.v... Cương lĩnh của Phong Trào đã được Quốc Trưởng Bảo Đại chấp nhận. Ông Ngô Đình Nhu đã vận động Phong Trào ủng hộ cho ông Ngô Đình Diệm là nhân vật không đảng phái đứng ra lập Nội Các đoàn kết Quốc Gia để đối phó với tình hình. Ngày 7-7-1954, sau khi căn cứ Điện Biên Phủ của Pháp bị Việt Minh chiếm và trước tình hình nguy ngập, Quốc Trưởng Bảo Đại đã cử ông Ngô Đình Diệm làm Thủ Tướng toàn quyền. 5. CUỘC DI CƯ VĨ ĐẠI CỦA MỘT TRIỆU NGƯỜI TỪ BẮC VÀO NAM Hiệp định đình chiến tại Đông Dương được ký kết tại Genève, thủ đô nước Thụy Sĩ vào ngày 20-7-1954 giữa Pháp và Việt Minh (Hồ Chí Minh). Các cường quốc ký tên bảo đảm việc thi hành hiệp định là Anh, Liên Xô (Nga), Trung Cộng. Chính phủ Bảo Đại (phe Quốc Gia) và Hoa Kỳ phản đối không ký tên vào hiệp định đó. Ba nước được mời tham gia vào Ủy Ban Kiểm Soát Đình Chiến là Ấn Độ, Ba Lan và Canada. Theo hiệp định này thì từ vĩ tuyến 17 trở ra Bắc thuộc Việt Minh do Hồ Chí Minh lãnh đạo và từ vĩ tuyến 17 trở vô Nam thuộc Quốc Gia do Bảo Đại lãnh đạo (Ngô Đình Diệm là Thủ Tướng được Quốc Trưởng Bảo Đại trao cho toàn quyền quyết định). Sông Bến Hải tức sông Hiền Lương thuộc huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị là ranh giới giữa hai miền. Trong vòng 300 ngày, quân đội bên nào phải rút về bên nấy. Dân chúng được tự do lựa chọn nơi cư trú hoặc Miền Bắc hoặc Miền Nam. Sau hai năm thì sẽ có cuộc tổng tuyển cử tự do để cho nhân dân được quyền lựa chọn chế độ cho Việt Nam. Không được quyền trả thù đối với những người trước đây đã phục vụ bên phe Quốc Gia hay Việt Minh (Cộng Sản) hiện đang cư trú tại
340 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Miền Bắc hoặc Miền Nam. Hơn một triệu người đã bỏ nhà cửa, ruộng vườn, tài sản, mồ mả tổ tiên để ra đi, không chấp nhận sống dưới chế độ độc tài, áp bức, bóc lột và chủ trương vô thần, tiêu diệt tôn giáo. Họ đã bị Cộng Sản tuyên truyền ngăn chận không cho vào Nam nhất là những vùng xa xôi hẻo lánh. Những người may mắn lắm mới được vào Nam. Những người còn lại ở Miền Bắc đã phải sống vất vả, nghèo khổ, đói rách, làm bao nhiêu cũng không đủ đóng thuế cho nhà nước. Họ lại còn bị kiểm soát đủ mọi mặt nhất là mặt tư tưởng và tôn giáo. Việt Cộng còn chủ trương phân chia giai cấp, phát động những đợt đấu tố địa chủ, giết hại dân vô tội rất dã man gây nên chia rẽ trầm trọng trong dân chúng vốn từ đời này qua đời khác vẫn có nếp sống hiền hòa, thương yêu đùm bọc lẫn nhau. 6. MIỀN NAM DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA TỔNG THỐNG NGÔ ĐÌNH DIỆM (TỪ SAU HIỆP ĐỊNH GENÈVE 20-7- 1954 ĐẾN 1-11-1963) (Nước ta thời vua Gia Long gọi là Việt Nam, vua Minh Mạng đổi tên là Đại Nam, thời Pháp gọi là An Nam, thời Việt Minh (1945) gọi là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Quốc Trưởng Bảo Đại (từ 1949) gọi là Quốc Gia Việt Nam, thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm đổi lại là Cộng Hòa Việt Nam rồi Việt Nam Cộng Hòa và sau ngày 1-11-1963, chế độ quân nhân tại Miền Nam lấy tên nước là Việt Nam Cộng Hòa, sau 30-4-1975, Cộng Sản đặt tên nước là Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Người Việt Nam tỵ nạn tại hải ngoại cho đến bây giờ vẫn gọi tên nước cũ là Việt Nam Cộng Hòa). Ngày 7-7-1954, ông Ngô Đình Diệm về nước thành lập chính phủ, hơn nửa tháng sau thì Hiệp Định Genève được ký kết, đất nước bị chia đôi. Một triệu người di cư từ Bắc vào Nam là một gánh nặng vô cùng to lớn đối với chính quyền đương thời. Thủ Tướng Ngô Đình Diệm phải kêu gọi toàn thể thế giới tự do viện trợ nhân đạo cho những người di cư tỵ nạn Cộng Sản. Chương trình định cư được thiết lập để giúp những người từ Miền Bắc bỏ hết nhà cửa, tài sản vào Nam đi tìm tự do. Khó khăn thứ hai là toàn bộ quân Pháp từ Miền Bắc đã rút vào Nam, tạo nên một áp lực chính trị đối với Thủ
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 341 Tướng Ngô Đình Diệm trong thời gian mới chấp chánh. Khó khăn thứ ba là sự bất đồng giữa các lực lượng võ trang của Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên cũng như các khuynh hướng chính trị Quốc Gia khác đối với Thủ Tướng Ngô Đình Diệm, đã tạo nên tranh chấp chia rẽ khiến cho chính phủ phải dùng đến biện pháp quân sự để giải quyết. Ảnh hưởng của những tranh chấp này còn âm ỉ mãi cho đến ngày bùng nổ lớn vào năm 1963 và kết thúc bằng cuộc đảo chánh lật đổ chế độ vào ngày 1-11-1963 sau này. Ngày 23-10-1955, Thủ Tướng Ngô Đình Diệm tổ chức trưng cầu dân ý, truất phế Quốc Trưởng Bảo Đại, tuyên bố thành lập chế độ Cộng Hòa, bầu cử Quốc Hội Lập Hiến. Ngày 26-10-1956, Tân Hiến Pháp ra đời, ông Ngô Đình Diệm được Quốc Hội suy cử lên làm Tổng Thống đầu tiên của Miền Nam lúc đó được gọi tên là Cộng Hòa Việt Nam sau đổi là Việt Nam Cộng Hòa. Ông Ngô Đình Diệm đã đạt được những thành quả to lớn: - Tranh đấu buộc quân đội Pháp phải rút toàn bộ về nước sau 1954, trao trả quyền chỉ huy quân sự lại cho Việt Nam; - Xây dựng được một quân đội mạnh, có khả năng chiến đấu để bảo vệ quốc gia, chống lại sự xâm nhập của Cộng Sản từ Miền Bắc vào; - Tổ chức chính quyền vững mạnh từ Trung Ương đến địa phương, loại trừ Cộng Sản nằm vùng qua chiến dịch tố Cộng, đem lại an ninh cho đồng bào, kinh tế phát triển, bảo đảm được giá trị đồng bạc, tạo cho người dân một cuộc sống thanh bình ấm no; - Được các nước tự do trên thế giới ủng hộ, có đại diện ngoại giao, tham gia các tổ chức quốc tế, là thành viên của Liên Minh các Quốc Hội trên thế giới (tức tổ chức Liên Hiệp Nghị Sĩ Quốc Tế và Liên Hiệp Nghị Sĩ Á Châu) v.v... Nhưng Cộng Sản Miền Bắc, với chủ trương gây bất ổn hầu phá hoại công cuộc xây dựng và phát triển tại Miền Nam nên đã ra sức xâm nhập, tuyên truyền, gây chiến tranh, tạo xáo trộn. Chúng xâm nhập người, vũ khí, đạn dược vào Miền Nam để thực hiện mộng bành trướng chủ nghĩa Cộng Sản. Từ 1960 trở đi, chúng mở các cuộc tấn công phá hoại quy mô và
342 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng thành lập cái gọi là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, một tổ chức tay sai của Cộng Sản Hà Nội, vi phạm Hiệp Định Genève 20-7-1954, tuyên truyền lôi kéo những phần tử trí thức bất mãn hoặc những người nhẹ dạ đi theo chúng. Ở những nơi xa xôi hẻo lánh, chúng bắt dân phải đóng thuế nuôi quân, bắt phải gia nhập lực lượng du kích kháng chiến, phá hoại đường sá, cầu cống, nhà cửa, cơ quan, giật mìn xe đò, bắt cóc, ám sát, khủng bố... Không một trò dã man nào mà chúng không làm. Nhân dân bỏ ruộng vườn, nhà cửa... chạy về thành phố. Người đông, thực phẩm đắt đỏ, đời sống khó khăn... Cộng Sản tuyên truyền đổ lỗi cho chính quyền Quốc Gia đã tạo nên tình trạng đó. Cộng Sản đã thành công trong vấn đề đã tạo nên xáo trộn chia rẽ trong nội bộ những người Quốc Gia, chia rẽ đảng phái, chia rẽ tôn giáo, chia rẽ địa phương. Chiến tranh càng ngày càng lan tràn, tình trạng bất công tham nhũng càng phát sinh. Cuộc tranh đấu của Phật Giáo ở Huế chống lại Tổng Thống Ngô Đình Diệm vào tháng 5-1963 tạo cơ hội cho Mỹ can thiệp mạnh vào Việt Nam, gây áp lực đòi Tổng Thống Ngô Đình Diệm phải thay đổi chính sách, mở rộng các quyền tự do dân chủ cho dân và phải công nhận đối lập (không Cộng Sản). Sự cứng rắn trong đường lối lãnh đạo của Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã tạo nên sự căng thẳng giữa Mỹ và Miền Nam Việt Nam. Để giải quyết tình trạng đó, Mỹ đã lợi dụng một số tướng lãnh bất mãn để tổ chức lật đổ chế độ. Tổng Thống Ngô Đình Diệm và bào đệ là ông Ngô Đình Nhu đã bị giết trong cuộc đảo chính ngày 1-11-1963 một cách dã man mà không được xét xử trước pháp luật. Một vị Tổng Thống mà không được Hiến Pháp và Luật Pháp bảo vệ thì thân phận của một người dân sống trong chế độ đó sẽ như thế nào? Ai có sức mạnh thì người đó thắng. Kẻ có chính quyền trong tay muốn làm gì thì làm. Vì thế mà người dân không còn tin tưởng vào chế độ. Dưới chế độ của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, luật pháp quốc gia được tôn trọng, quân đội và chính quyền đã có công bảo vệ an ninh cho đồng bào, nhiều cuộc hành quân lớn đã tiêu diệt được những đơn vị thiện chiến của Cộng Sản được trang bị vũ khí tối tân từ Miền Bắc xâm nhập vào.
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 343 KẾT LUẬN Người làm cách mạng, làm chính trị đã ôm một hoài bão, đã vạch ra một chủ trương, chính sách, một chương trình xây dựng đất nước theo quan điểm của mình. Họ luôn luôn cho rằng con đường của mình là đúng. Họ tranh đấu để tiến tới chính quyền hầu có điều kiện thực hiện chủ trương của mình. Những người đối lập, chưa có cơ hội lên nắm chính quyền, chưa có cơ hội thực hiện chương trình của mình, nên họ luôn luôn cho rằng: người đang ở trên ghế chính quyền đang vi phạm những lỗi lầm rất lớn và họ thường tìm cách phê bình, chỉ trích. Họ nhìn thấy những khuyết điểm mà cố tình không chịu thừa nhận những ưu điểm của chính quyền. Chúng tôi cho rằng, người nghĩ ra hay viết ra được một kế hoạch, một chủ trương chính sách không khó nhưng làm sao thực hiện được cái chí của mình, thực hiện được tư tưởng của mình mới là điều đáng nói. Người chưa có cơ hội thực hiện được cái chí của mình thì luôn luôn tiếc nuối, luôn ấm ức và không chịu từ bỏ cái chí đó, vẫn tiếp tục tranh đấu suốt đời, dù có chết đi cũng muốn để lại cho người sau tiếp nối con đường của mình. Khi một người nắm vận mệnh quốc gia, họ sẽ hành động theo chủ trương chính sách của họ. Có thể chủ trương đó xuất phát từ lương tâm chân thành, từ lòng yêu nước chân chính nhưng trong quốc gia vẫn có những người suy nghĩ khác với họ, cũng có thể những suy nghĩ đó xuất phát từ lương tâm chân thành, từ lòng yêu nước chân chính. Ai cũng muốn thực hiện chủ trương chính sách của mình, vì thế mới có phe đối lập. Ông Ngô Đình Diệm, ông Ngô Đình Nhu cũng đã nhân danh lòng yêu nước để hành động, đã nhân danh quyền lợi quốc gia dân tộc để bỏ tù những người đối lập vì họ đã chống đối chế độ bằng hành động bạo động? Nhưng tại sao từ chỗ hợp tác, họ lại trở thành đối lập? Tại sao từ chỗ bạn, họ lại trở thành thù? Điều đáng tiếc trong chế độ của Tổng Thống Ngô Đình Diệm là để cho những người bạn đã từng ủng hộ ông, những người đã từng hy sinh xương máu và là nạn nhân của Cộng Sản, những người đã từng phục vụ quốc gia chống lại Cộng Sản, những người đã đứng trong Phong Trào Đại Đoàn Kết và Hòa Bình bên cạnh ông Ngô Đình Nhu năm 1953 (như đã nói
344 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng ở mục số 4)... phải vào nhà tù hoặc phải sống lưu vong như các ông Trần Văn Lý, Vũ Hồng Khanh, Hà Thúc Ký, Đoàn Văn Thái, Nguyễn Văn Mân, Trần Văn Ân, Nguyễn Phan Châu (tức Tạ Chí Diệp), Nguyễn Tôn Hoàn, Lê Phùng Thời, giáo chủ Phạm Công Tắc v.v.... Người ta đổ lỗi cho ông Ngô Đình Cẩn, cho bà Ngô Đình Nhu, cho những người thừa hành, cho các ông Tỉnh Trưởng, Quận Trưởng, công an, mật vụ và cả bộ máy tuyên truyền của chế độ đã xem những người đảng viên Quốc Dân Đảng, Đại Việt hay các tổ chức chính trị khác ngoài đảng Cần Lao Nhân Vị là bọn Cộng Sản... Điều đó đúng hay sai? Khi ông Ngô Đình Diệm về nước chấp chánh, nhiều người đã thành tâm ủng hộ và cộng tác với ông để chống Cộng Sản và xây dựng miền Nam nhưng trong số đó cũng không tránh khỏi những phần tử lợi dụng, nịnh bợ, hẹp hòi, trình độ thấp kém, thiếu ý thức về tinh thần dân chủ, thích quyền hành, chèn ép kẻ khác, tạo mâu thuẫn, nghi ngờ giữa những người quốc gia với nhau. Cán bộ cấp dưới, trình độ còn non kém, sớm có chính quyền trong tay nên có hành động thao túng ở địa phương kiểu cường hào ác bá như các ông Chánh Tổng, Lý Trưởng thời xưa mà quên đi rằng mình phải có nhiệm vụ thực thi dân chủ để xây dựng chế độ. Tổng Thống ở trên làm sao nhìn thấy hết tình trạng cán bộ cấp dưới nên đã có những tai tiếng không tốt đối với người này người nọ ở địa phương. Chuyện đó không phải là không có. Khi biết được, cũng có người bị trừng trị, bị mất chức, bị thuyên chuyển hay tù tội nhưng cũng có người được che chở bởi thế lực này hay thế lực khác. Cá nhân tôi cũng đã biết rõ một vài trường hợp rất rõ ràng, chính xác. Có người cho rằng sự ra đời của Đảng Cần Lao sau khi ông Ngô Đình Diệm lên nắm chính quyền với cương vị Thủ Tướng toàn quyền là một điều bất lợi, vì đảng viên chưa trải qua thử thách, chưa có quá trình tranh đấu mà lại được tin dùng. Vào đảng là thấy được cả một tương lai cho đời mình rồi, không cần phải tranh đấu gian nguy gì cả, không ai dám đụng đến mình, không ai làm gì mình được. Sự có mặt của Đảng Cần Lao trong quân đội, trong chính quyền, trong guồng máy hành chánh làm cho nhiều người không tham gia, không ở trong đảng có mặc cảm rằng mình bị thua thiệt, công
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 345 lao cũng như khả năng của mình sẽ không bằng người khác ở trong đảng và từ đó họ không nhiệt tình cộng tác, rồi sinh ra bất mãn trong hàng ngũ sĩ quan, công chức, cán bộ. Người tự trọng, người có tư cách có khi cũng nghĩ rằng vào đảng sẽ bị mang tiếng nịnh bợ, cầu danh, cầu lợi.. nên họ tỏ ra dè dặt. Khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm chết, chế độ tan rã, mặc dù con số đảng viên Cần Lao lúc đó rất lớn tại miền Nam Việt Nam. Lãnh tụ chết, đảng không còn sức mạnh và trong đảng tự chia rẽ, tự phân hóa ngay. Những người mới hôm qua lên án chế độ Tổng Thống Ngô Đình Diệm kỳ thị tôn giáo thì hôm nay lại chủ trương kỳ thị tôn giáo hơn ai hết. Ngay trong thành phần Đảng Cần Lao mà người theo đạo Công Giáo thì bị mất chức, bị thuyên chuyển, bị xét xử, còn người đảng viên thuộc thành phần các tôn giáo khác thì không việc gì hay chỉ bị nhẹ thôi. Ông Ngô Đình Diệm, ông Ngô Đình Nhu, ông Ngô Đình Cẩn không còn nữa thì đảng cũng không còn ai để tiếp tục lãnh đạo và đảng cũng không có hành động gì để trả thù cho lãnh tụ của mình. Gần như mọi người đều bằng lòng với số phận và đều chịu thua sức mạnh đô la của Mỹ. Năm 1971, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cũng đã trở lại vết xe cũ và cũng không tránh khỏi tình trạng của thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm khi cho ra đời Đảng Dân Chủ. Trong khi đó, Việt Nam Quốc Dân Đảng hay đảng Đại Việt... lãnh tụ bị bắt, bị xử tử, hay mất tích..., các đảng đó bị đàn áp liên tục dưới thời Thực dân hay Cộng Sản và ngay cả dưới chế độ của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, họ vẫn còn hoạt động và bây gờ, dưới chế độ Cộng Sản Việt Nam dù yếu kém, họ cũng vẫn còn hoạt động... Lý do tại sao? Chắc chắn mọi người đã hiểu, vì trước khi vào đảng, họ đã chấp nhận gian nguy, thử thách... Một số sách báo và dư luận thường lên án Tổng Thống Ngô Đình Diệm kỳ thị tôn giáo nhưng nhìn lại, những người cộng tác với ông Ngô Đình Diệm, giữ những chức vụ quan trọng trong chính quyền, trong Đảng Cần Lao, thiếu gì người không Công Giáo. Những ông tướng không Công Giáo giữ vai trò quan trọng như Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn, Trần Thiện Khiêm, Nguyễn Khánh, Tôn Thất Đính, Nguyễn Ngọc Lễ, Đỗ Cao Trí, Nguyễn Chánh Thi, Đỗ Mậu v.v... và nhờ nắm giữ vai trò quan trọng trong quân đội, trong chính quyền họ
346 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng mới lật đổ được Tổng Thống Ngô Đình Diệm một cách dễ dàng. Đối với những nhân vật đóng vai trò quan trọng trong các biến cố lịch sử hay giữ vai trò lãnh đạo trong quốc gia, việc làm của họ thành công hay thất bại, có tiếng tốt, tiếng xấu, có sự phê bình khen chê của sử sách, đó là lẽ thường tình. Chúng ta nhìn họ là “người của quốc gia” (homme d’état), là người của quần chúng, là nhân vật lịch sử. Việc làm của họ có ảnh hưởng đến quốc gia, dân tộc, đến mọi người trong xã hội... Khi đề cập đến họ, nhà nghiên cứu lịch sử không hề nghĩ đến con cháu, dòng họ của người đó. Những điều khen chê không nhắm vào gia đình, quê hương hay họ tộc, mà chỉ đề cập đến một giai đoạn lịch sử, một câu chuyện xảy ra trong quá khứ với những con người đã đóng vai trò quan trọng trong các biến cố lịch sử đó. Khi nghiên cứu về Gia Long hay Tây Sơn, chúng tôi không cho những chuyện Gia Long trả thù Tây Sơn hay Tây Sơn đối xử với dòng họ Gia Long là quan trọng. Chúng tôi chỉ biết, đối với dân tộc, với quốc gia, với nhân dân trong nước, chế độ đó đã đem lại những lợi ích gì cho dân cho nước vào thời đó. Chúng tôi cố gắng tìm cho được cảm tưởng của người dân đối với chế độ đó như thế nào. Khi chúng tôi nghiên cứu về chế độ của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, chúng tôi cũng không đặt mình vào hoàn cảnh của dòng họ, quê quán, tôn giáo hay tổ chức chính trị nào mà phải cố làm sao giữ cho được sự khách quan khi phân tích sự việc. Chúng tôi cố gắng đi vào dư luận quần chúng để xem người dân nghĩ gì về ông Ngô Đình Diệm và chế độ của ông. Tôi nhận thấy đa số đều nuối tiếc, ngay cả những người đối lập cũng có người cho rằng mình sai lầm nhưng họ cũng không hoàn toàn cho rằng ông Ngô Đình Diệm không có sai lầm. Tất nhiên là có. Cả những người thân thuộc, họ hàng, những người yêu quý ông Ngô Đình Diệm như ông Võ Như Nguyện, ông Trần Trung Dung v.v... cũng đã nói với chúng tôi nhiều điều “rất thật” về chế độ đó. Nhân tiện đây, tôi xin kể lại vài mẫu chuyện nhỏ để nói lên người dân nghĩ gì về ông Ngô Đình Diệm: - Năm 1968, tôi thuê nhà của nữ ca sĩ Phương Dung, 26 Thái Lập Thành, Gia Định. Có một lần bà mẹ và bà chị của
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 347 Phương Dung (cô Kim Chi) nói với tôi: “Khi nghe tin ông Ngô Đình Diệm bị giết, cả nhà ngồi khóc”. Gia đình đó không có ai giữ một chức vụ gì trong chế độ và họ là người sinh quán tại miền Nam, không liên hệ gì đến dòng họ, quê quán của ông Ngô Đình Diệm và họ cũng không phải là người theo đạo Công Giáo. - Một người bạn của tôi, sinh viên Y Khoa Huế, là người Bắc di cư, không Công Giáo, năm 1963 khi nghe tin ông Ngô Đình Diệm bị giết chết cách dã man, đã khóc và nói: “Mình thua Cộng Sản mất rồi! Chúng tôi đã di cư một lần rồi, chắc còn phải di cư lần thứ hai. Chạy đi đâu bây giờ?” - Mới đây, có một người vượt biên từ Việt Nam qua Mỹ, họ mang theo một ảnh của Tổng Thống Ngô Đình Diệm mà họ đã treo trong nhà từ thời xưa, trước 1963. Sau 30-4-1975, họ giấu cất và mang theo khi vượt biên. Họ đã cho tôi chụp lại ảnh đó và hôm nay tôi xin đưa ra cho quý vị xem. Người đó không có địa vị gì trong xã hội tại miền Nam trước 1975, họ chỉ là người làm nghề tự do, lao động tay chân để sống mà thôi. * * * Nếu có những tranh luận để làm sáng tỏ vấn đề, có những dữ kiện mới mới được nêu lên để bổ túc cho các sử liệu trước. Đó là điều đáng mừng cho người muốn học hỏi. Chúng tôi sẵn sàng đón nhận mọi ý kiến của quý vị. Nguyễn Lý Tưởng Chú thích: 1. Ông Ngô Đình Diệm sinh năm 1901, năm 1933 là 32 tuổi. 2. Cụ Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng, Võ Bá Hạp ở Huế. 3. Xin xem bài của Bác Sĩ Hồ Văn Châm (Tổng Trưởng Chiêu Hồi) đăng trên báo Cách Mạng số 10 và các báo về vấn đề này. Những điều chúng tôi ghi lại trong bài này là do sự tìm hiểu của cá nhân chúng tôi qua các cuộc tiếp xúc với các vị đã từng hoạt động cho Phong Trào Đại Đoàn Kết và Hòa Bình,
348 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng nhất là thời gian ở trong trại tù cải tạo của Việt Cộng sau ngày 30-4-1975. Để rộng đường dư luận, chúng tôi xin trích một đoạn trong thư đề ngày 24-5-1999 của ông Đoàn Văn Thái, với tư cách nhân chứng trả lời cho chúng tôi về Phong Trào Đại Đoàn Kết và Hòa Bình: “Lúc ấy, tôi được anh em phái vào Sàigòn trao một bản văn do anh Hà Thúc Ký cùng các nhân vật có tên tuổi ở Huế như Huỳnh Hòa, Phan Khoang, Nguyễn Trân v.v... cho Đại Hội họp ngày 6 tháng 9 năm 1953 tại bản doanh của Tướng Lê Văn Viễn (Bình Xuyên) ở bên kia Cầu Chữ Y. Đó là Kiến Nghị ủng hộ và tham gia vào Phong Trào. Tôi đến phi trường Tân Sơn Nhứt vào khoảng quá trưa ngày 6 tháng 9 năm 1953, vội vã đến bản doanh Bình Xuyên, thông báo xin trao kiến nghị của Miền Trung cho anh Nguyễn Tôn Hoàn. Tôi không vào dự hội vì không phải là thành viên. Trao kiến nghị cho anh Hoàn xong, tôi lại được nói chuyện với anh Trần Văn Tuyên... Anh cho biết có hai khuynh hướng đối nghịch nhau và sự tranh cãi không bên nào chịu nhường bên nào: 1. Ủng hộ Quốc Trưởng Bảo Đại vô điều kiện và toàn quyền trong việc thương thảo với Pháp. 2. Ủng hộ với điều kiện phải kiện toàn định chế quốc gia, có Quốc Hội, có Hiến Pháp để quần chúng hậu thuẫn hữu hiệu việc đòi hỏi phục hồi quyền tự chủ, dựa trên thế mạnh ý kiến của quốc dân. Ngày hôm sau, tôi được biết hai xu hướng nói trên đối nghịch nhau không thể dung hòa được nên Phong Trào sẽ bị chia làm hai, ngay ngày đầu mới thành lập: - Phía ủng hộ VÔ ĐIỀU KIỆN có Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc (Cao Đài), Tướng Bảy Viễn (Bình Xuyên), ông Trịnh Khánh Vàng (tức Trình Quốc Khánh: Hòa Hảo), ông Trần Văn Ân (phe Bình Xuyên), ông Trần Văn Tuyên (Việt Nam Quốc Dân Đảng) v.v... (Các vị khác tôi không nhớ tên). - Phía ủng hộ CÓ ĐIỀU KIỆN gồm có các ông Nguyễn Tôn Hoàn (Đại Việt), ông Lê Ngọc Chấn (Việt Nam Quốc Dân Đảng), Tướng Lâm Thành Nguyên (Hòa Hảo), Tướng Nguyễn Thành Phương (Cao Đài), ông Lê Quang Luật (Duy Dân), ông Phạm Xuân Thái (Cao Đài), ông Lê Phùng Thời (Cựu Kháng Chiến), Ông Dương Quang Đặng (Đại Tá Cao Đài), ông Ngô Đình Nhu (Công Giáo) v.v... (tôi không nhớ hết)... Đại khái có Đại Việt Quốc
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 349 Dân Đảng, Đại Việt Duy Dân, Việt Nam Quố Dân Đảng, Dân Xã Đảng (Hòa Hảo), Việt Nam Phục Quốc Hội (Cao Đài), Nhân Sĩ Cựu Kháng Chiến (ông Lê Phùng Thời). Nhóm thứ hai này tiếp tục hoạt động với danh xưng: Phong Trào Đại Đoàn Kết và Hòa Bình, tổ chức cuộc họp tại trụ sở Việt Nam Quang Phục Hội ở đường Eglise (Chợ Quán). Ban lãnh đạo gồm có: - Các cụ Nguyễn Xuân Chữ, Lê Toàn, Nguyễn Đình Luyện (phụ trách Miền Bắc). - Ông Ngô Đình Nhu (phụ trách Miền Trung). - Ông Nguyễn Tôn Hoàn (phụ trách Miền Nam). Tổng Thư Ký: Lê Phùng Thời. Mỗi lần ra Huế, ông Ngô Đình Nhu đều có mời các ông Hà Thúc Ký, Huỳnh Hòa, Phan Khoang, Bùi Xuân Bào, Nguyễn Văn Đông v.v... đến gặp mặt bàn luận với nhau tại nhà hàng Kim Kê (Cop d’Or) của ông Nguyễn Trân ở đường Lý Thường Kiệt. Tôi (Đoàn Văn Thái) được chỉ định làm Ủy Viên Liên Lạc giữa Trung Ương (Sàigòn) và Miền Trung. Mỗi lần vào Sàigòn tôi đều đến hội kiến và nhận chỉ thị qua ông Ngô Đình Nhu ở tại số 8 đường Ypres (Tòa soạn Báo Xã Hội), đó là một căn nhà ở trong khuôn viên Dưỡng Đường St. Pierre, tôi thường gặp các ông Bùi Kiện Tín, Nguyễn Phan Châu (tức Tạ Chí Diệp), Trần Chánh Thành, Trương Tử An, Đỗ La Lam v.v... Mỗi lần ông Ngô Đình Nhu về Huế, nếu không có tổ chức hội họp thì nhắn tôi đến nhà tại Phủ Cam (từ đường họ Ngô) để nhận các chỉ thị của Trung Ương. Đầu năm 1954, tháng 1 (tôi không nhớ ngày), Phong Trào họp đại hội tại 113 đường Champagne (tức đường Yên Đỗ) Sàigòn, chỗ đó là văn phòng và tư thất của Tướng Nguyễn Thành Phương, để chung quyết nội quy. Dịp này chúng tôi có mời được Cụ Phan Văn Phúc, Phó Hội Trưởng Hội Phật Học Trung Phần tham gia phái đoàn Miền Trung, đi dự đại hội. Trước đại hội mấy ngày, ông Ngô Đình Nhu có mời quý vị đại biểu Miền Trung (gồm cả các vị cư ngụ tại Sàigòn) họp tiền đại hội hai đêm liền tại 8 Ypres để thống nhất ý kiến về việc đề cử thành viên vào Hội Đồng Nghị Quyết từng Miền và Nội Quy của Phong Trào. Ngày Đại Hội có khoảng 150 vị đại diện các tổ chức, các Miền... Tôi thấy có thêm các ông Trần Trung Dung, Nông Quốc Long (Lãnh tụ Phục Quốc Quân) và nhóm chiến hữu của Trần Trung Lập (Phục