150 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng 3. Thiên Bộ Chiến - Phép thần cơ đắp lũy tạm. - Phép xe súng bắn liền. - Phép xe gươm phá giặc. - Phép ống tên giấu hình. - Phép nấu cơm đầu ngựa. - Phép thuốc tiên chịu đói (tương tự như thuốc tăng lực ngày nay). - Phép thang hai tầng. - Phép súng bắn đổ núi. 4. Thiên Giữ Trại - Phép nỏ thần giữ trại. - Phép dây tiên trói giặc. - Phép nỏ khỏe phòng giam. - Phép lưới trời yểm trại. - Phép giữ thủy trại. - Phép làm cờ xem hướng gió. Trong phạm vi bài này chúng tôi không có thì giờ đi vào chi tiết nhưng qua “Hổ Trướng Xu Cơ” chúng ta biết được nhiều điều mới lạ, nhiều tiến bộ trong sáng tạo về nghệ thuật quân sự của Đào Duy Từ mà ngày nay, sau gần 400 năm, kể từ khi Đào Duy Từ bỏ miền Bắc, ôm mộng kinh bang tế thế vào miền Nam theo chúa Nguyễn, chúng ta thấy rằng những điều ông đưa ra vẫn còn có giá trị. Ông tự ví mình với Gia Cát Lượng (Khổng Minh), muốn làm cho đất nước được thống nhất, thiên hạ được thái bình. Ông không ủng hộ vua Lê, chúa Trịnh mà hy vọng tìm được minh chúa, một nhà lãnh đạo khác sáng suốt hơn, vì thế ông mới vào miền Nam theo chúa Nguyễn. Ông đã giúp chúa Nguyễn tạo được thế thăng bằng, đối đầu với họ Trịnh, củng cố được sự nghiệp qua bảy tám đời chúa. Đến đời chúa Nguyễn Phúc Thuần, còn nhỏ tuổi, bị quyền thần Trương Phúc Loan lấn át, nạn tham nhũng, công thần bị hại, nhân tâm ly tán, Tây Sơn nổi lên chiếm Bình Định, Quy Nhơn, quân Trịnh vào chiếm Phú Xuân v.v... làm tan nát cả công trình mà Đào Duy Từ đã đem tâm huyết giúp chúa Nguyễn từ mấy trăm năm trước. Đào Duy Từ cũng là người đã dạy cho dân Bình Định nghệ thuật Hát Bộ và từ đó lan dần
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 151 đến triều đình các chúa Nguyễn, đời sau phường Hát Bộ cũng đã thờ ông như là một Nghệ Tổ của họ. Mùa Đông năm Giáp Tuất (1634) ông mất, thọ 63 tuổi. Ông cộng tác với chúa Nguyễn trong khoảng bảy năm trời, đã làm được bao nhiêu việc vĩ đại, để lại những công trình lớn cho đời sau, tên tuổi đi vào sử sách. Chúa Nguyễn rất thương tiếc ông, tặng cho ông là “Hiệp mưu đồng đức công thần, đặc tiến trụ quốc, kim tử, Vinh lộc đại phu, Thái thường tự khanh, Lộc Khê hầu, thụy Trung lương”. Mộ táng tại làng Tùng Châu và truyền lập đền thờ ông. Năm thứ tư đời Gia Long (1805), ông được thờ ở Thái Miếu, được cấp 15 mẫu tự điền để lo việc kỵ giỗ, cúng tế, cấp cho 6 người phu coi mộ. Cho con cháu được tập ấm, làm quan. Năm thứ chín được thờ ở miếu khai quốc công thần. Minh Mạng năm thứ 12, truy tặng khai quốc công thần Đặc Tiến Vinh Lộc Đại Phu, Đông Các Đại Học Sĩ, Thái Sư, phong Hoằng Quốc Công. Năm thứ 17 đời Minh Mạng, sai quan địa phương lo sửa sang lại mồ mả của ông. Về tuổi tác của ông, theo chính sử nhà Nguyễn thì ông mất năm 63 tuổi (Đại Nam Liệt Truyện Chính Biên quyển thứ ba, trang 15 viết: “Tốt niên lục thập hữu tam” nghĩa là chết vào tuổi 63). Có người cho rằng ông chết ngoài 40 tuổi và ông gặp chúa Nguyễn vào tuổi 34, 35 có lẽ không phù hợp với tài liệu chính sử. Nguyễn Lý Tưởng
152 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng VÂN DƯƠNG NI CÔ Nguyễn Phúc Ánh (tức vua Gia Long sau này), đã ra đi khỏi kinh đô Phú Xuân vào đêm cuối năm Giáp Ngọ (29 tháng Chạp) đầu năm 1775, khi quân Trịnh từ Bắc tiến vào Huế, lúc đó ông mới mười ba tuổi và 26 năm sau, ông trở lại quê hương, lúc đó ông đã gần bốn mươi tuổi rồi. Ngày trở lại vinh quang đó đã đưa ông lên ngôi vị hoàng đế, cai trị một đất nước thống nhất từ Nam chí Bắc, lấy tên là nước Việt Nam. Cuộc hành quân vào thành Phú Xuân Huế được bố trí như sau: Ngày 28-4-1801, quân của Nguyễn Phúc Ánh đến Đà Nẵng, ông ra lệnh cho Tống Viết Phước ở lại giữ Quảng Nam còn Nguyễn Văn Trương và Phạm Văn Nhân kéo quân ra Cửa Thuận An. Hoàng Văn Tú và Bạch Văn Đoài dẫn voi và bộ binh theo đường bộ ra Huế, đích thân Nguyễn Phúc Ánh chỉ huy đoàn thủy quân và tàu chiến vào cửa Tư Dung (nay là Tư Hiền), thuộc tỉnh Thừa Thiên. Vào lúc 8 giờ sáng 1-5-1801, quân của ông đến ngoài cửa Tư Dun, lúc bấy giờ quân Tây Sơn có 27 tàu chiến trấn giữ cửa Thuận An. Lúc 10 giờ sáng, đoàn tiên phong của quân Nguyễn Phúc Ánh giáp trận. Sau năm phút huyết chiến, quân của Nguyễn Phúc Ánh đã chiếm được tàu Tây Sơn và treo cờ vàng lên cột buồm. Toàn bộ quân Tây Sơn bỏ chạy, người chết, kẻ bị bắt. Lúc trưa, tiếng súng hoàn toàn im bặt và chiến thuyền của Nguyễn Phúc Ánh từ từ tiến lên dọc theo sông Hương. Hai bên đường, dân chúng chạy ra quỳ rạp xuống lạy để tiếp đón chủ cũ của họ đang trở về. Binh sĩ dàn ra khắp hai bên bờ đợi lệnh. Nguyễn Phúc Ánh truyền cho lính canh
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 153 phòng cẩn mật rồi ông neo thuyền đậu lại trên sông. Trong lúc đó, một chiếc thuyền nhỏ chở một ni cô xinh đẹp đang từ từ tiến đến thuyền ngự của vua. Vừa được tin báo có thuyền nhỏ đến, Nguyễn Phúc Ánh vội vã ra khỏi thuyền đứng đợi. Hai người gặp nhau, ôm nhau khóc. Ni Cô đó là ai? Bà đã đóng vai gì quan trọng trong cuộc chiến giữa Nguyễn Phúc Ánh và Tây Sơn? Theo sách “Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên” (chính sử của nhà Nguyễn) thì Ni Cô đó là công chúa Ngọc Tuyên, con của chúa Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát, em ruột hoàng tử Nguyễn Phúc Luân (tức Chương Võ, cha của Nguyễn Ánh). Hai cô cháu gặp nhau sau 26 năm dài chờ đợi ngày phục quốc. Mẹ công chúa là Tả Cung Tần họ Tống. Công chúa được gã cho Tiết Chế Chưởng Dinh Nguyễn Cửu Thống. Trong cuộc chính biến năm Giáp Ngọ (cuối 1774 đầu 1775), Nguyễn Cửu Thống mất, công chúa ở lại, không chạy theo chúa Nguyễn vào Gia Định, bèn cắt tóc đi tu tại chùa làng Vân Dương, thuộc huyện Hương Thủy. Người ta vẫn gọi là Vân Dương Ni Cô. Khi quân Tây Sơn xâm phạm lăng miếu của các chúa Nguyễn, công chúa bèn sai con rể là Nguyễn Đức Duệ cùng một vị lão ni thân tín đến vùng Đình Môn, Kim Ngọc, Cư Chánh, vận động nhân dân tùy phương thế mà bảo vệ lăng miếu, do đó người xã Cư Chánh là Nguyễn Ngọc Huyên lén mưu dời hài cốt của các chúa Nguyễn đến một nơi an toàn. Vào năm Tân Hợi (1791), công chúa sai người tín cẩn tên là Thiện bí mật đáp thuyền vào Gia Định để báo cáo tình hình của Tây Sơn cho chúa Nguyễn Phúc Ánh biết. Công chúa thường theo dõi, tiếp xúc với nhiều người bề tôi cũ của chúa Nguyễn cũng như những quan của Tây Sơn đã mất niềm tin vào triều đình của Nguyễn Quang Toản, để biết tình hình quân sự, chính trị và các kế hoạch của Tây Sơn rồi cho người vào Gia Định trình cho Nguyễn Phúc Ánh. Ngoài việc cung cấp tin tức, tình hình của bên địch, công chúa còn cho phổ biến một khúc hát của thi sĩ Hoàng Quang, người làng Thai Dương gần cửa Thuận An, gọi là “Hoài Nam khúc” nội dung bày tỏ lòng ngưỡng mộ với họ Nguyễn Phúc, thù ghét họ Trịnh và bọn tham quan ô lại từ ngày quân Bắc Hà chiếm Phú
154 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Xuân (1775). Tác phẩm đó cũng kể rõ cảnh tàn khốc của chiến tranh, nỗi cơ cực của dân chúng, ước mong họ Nguyễn từ Gia Định trở về. Tác phẩm có 670 vế, cộng thêm một bài văn tế, một bài vãn, một bài cáo và mười bài thơ Đường luật. Khúc hát đó được gởi vào Gia Định cho Nguyễn Phúc Ánh nghiên cứu và cho lính học thuộc lòng, làm như một chiến dịch tâm lý chiến, đi đâu cũng đọc cho dân chúng nghe. Ai cũng cảm xúc và mong cho chúa Nguyễn chóng trở về. Những người từ Gia Định ra Phú Xuân làm nhiệm vụ tình báo đều ở nhà công chúa. Vào thời buổi đó, một người đàn bà làm được những công việc như thế thật là phi thường, tưởng rằng trong nữ giới Việt Nam, nhất là trong giới quý tộc chưa có ai như thế. Công chúa còn dùng hết tiền nhà, ủy cho Nguyễn Đức Duệ là con rể của bà đi chiêu dụ người trung nghĩa kể cả người đã theo Tây Sơn, bảo họ về quy thuận chúa Nguyễn, rồi gởi họ vào Gia Định gia nhập quân đội của chúa Nguyễn. Nguyễn Phúc Ánh cho người mang ra cho công chúa giấy khống chỉ (có sẵn con dấu của vua) để công chúa tùy tình thế mà viết lệnh truyền hoặc phong chức tước cho những người theo chúa Nguyễn hoạt động ở Phú Xuân. Về sau việc bị bại lộ, Đô Đốc Tây Sơn là Dật đem binh vây nhà công chúa, may lúc đó người của chúa Nguyễn ở Gia Định đã kịp trốn đi nơi khác. Quân Tây Sơn chỉ thừa dịp vơ vét của cải trong nhà chứ không bắt được người nào cả. Năm Đinh Tỵ (1797), Binh Bộ của Tây Sơn là Nguyễn Đại Phác đi trấn thành Quy Nhơn. Con rể của công chúa là Nguyễn Đức Duệ biết Phác là người muốn quy thuận, vì là chỗ quen biết nên Duệ đem lời nhẹ nhàng trình bày tình hình nguy cấp của Tây Sơn cho Phác và khuyên Phác quy thuận theo chúa Nguyễn. Đến khi Phác lên đường, công chúa đến tiễn chân. Duệ nói với Phác: “Ôi! Thời cơ! Ôi thời cơ! Thời cơ không bao giờ trở lại!”. Phác cũng hiểu ý rồi chia tay lên đường. Đô Đốc của Tây Sơn là Lê Chất, vốn là bạn của Phác, nghe lời Phác nên Lê Chất giả chết rồi trốn vào núi Trà Đồng tại Quy Nhơn. Công chúa nghe biết tin ấy liền sai người thân tín là Hậu đi gặp Chất
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 155 và dụ Chất về hàng. Lê Chất về sau là Tổng Trấn Bắc Thành thay cho Nguyễn Văn Thành (đời Gia Long). Công chúa còn được tin quân Tây Sơn đều kéo vào giải vây Quy Nhơn (lúc đó Quy Nhơn bị Võ Tánh chiếm), thành Phú Xuân bỏ trống. Bà liền cho vẽ hình thế các đồn trại từ cửa Tư Hiền (Tư Dung) đến Thuận An và sai Phạm Hữu Tâm, Nguyễn Khả Bằng theo đường núi báo tin cho Nguyễn Phúc Ánh. Những công tác to lớn như vậy đều do một tay công chúa sắp xếp cả. Mùa Hạ năm Kỷ Mùi (1799), Nguyễn Đại Phác đang trấn giữ thành Quy Nhơn, tướng Nguyễn là Đoàn Văn Cát sai chị của Phác là Nguyễn Thị Huấn đem sắc chỉ của chúa Nguyễn Phúc Ánh vào thành dụ hàng. Phác tiếp được chỉ liền cùng Tổng Quản Tây Sơn là Lê Văn Thanh bàn bạc với nhau, sau đó cùng nhau ra hàng, đem thành Quy Nhơn dâng nạp cho chúa Nguyễn. Như trên đã nói, khi tiến ra Phú Xuân, người mà Nguyễn Phúc Ánh mong được gặp mặt trước hết chính là công chúa Ngọc Tuyên. Vua sai Tống Phúc Lương đi đón công chúa, dẫn đến thuyền Ngự đậu trên sông Hương để cô cháu gặp mặt. Hai cô cháu ôm nhau mà khóc. Sau đó, vua Gia Long đến thăm nhà công chúa, ban thưởng rất hậu. Sau khi thống nhất sơn hà, lên ngôi vua hiệu Gia Long, vua sai quan sở tại xây cất phủ đệ cho công chúa ở. Ngoài ra vua còn cấp tuế bổng hằng năm và cấp một đội lính để bảo vệ, vì nghe công chúa ở một mình. Năm thứ tám đời Gia Long, công chúa mất, thọ bảy mươi hai tuổi. Mộ táng ở ấp Dương Xuân. Người đi đưa đám rất đông. Vua cho xây lăng và cấp cho năm người mộ phu coi mộ. Về sau lấy nơi công chúa ở để làm đền thờ, thờ công chúa. Mỗi năm cấp riêng 30 quan tiền để tổ chức lễ giỗ. Năm Tự Đức thứ ba, 1850, vua cho người cháu của công chúa tên là Ân được tập ấm Bá Hộ, coi việc thờ cúng. Ngày nay, nơi công chúa đi tu đã trở nên ngôi chùa cổ kính gọi là chùa Sư Nữ tại làng Vân Dương (nay là xã Thủy Dương) huyện Hương Thủy, Tỉnh Thừa Thiên. Có văn bia khắc trên đá, kể lại sự tích. Nguyễn Lý Tưởng (Viết theo tài liệu của Nguyễn Phương: “Việt Nam thời bành
156 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng trướng: Tây Sơn” và “Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên”, bản chữ Hán của Quốc Sử Quán Triều Nguyễn do Trần Vinh Anh, Lê Ngọc Bích, Nguyễn Đức Cung và Nguyễn Lý Tưởng phiên dịch và chú thích, nhà xuất bản Khai Trí, 62 Đại lộ Lê Lợi Sàigòn, năm 1974).
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 157 LINH ĐỊA LAVANG 1. NGUỒN GỐC LA VANG La Vang, nơi tương truyền Đức Mẹ Maria đã hiện ra vào năm 1798, dưới thời Nguyễn Quang Toản (tức vua Cảnh Thịnh) nhà Tây Sơn, để an ủi con cái trong cơn bách hại đạo Công Giáo vào thời đó, ngày nay thuộc xã Hải Phú, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. La Vang cũng là một giáo xứ thuộc hạt Dinh Cát, Tổng Giáo Phận Huế, cách thành phố Huế chừng 60 cây số về phía Bắc và cách thị xã Quảng Trị cũ chừng 6 cây số về phía Nam. Trước 1963, La Vang thuộc xã Hải Phú, quận Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Từ 1964 thuộc xã Hải Phú, quận Mai Lĩnh, tỉnh Quảng Trị. Theo sách Đại Nam Nhất Thống Chí (do Quốc Sử Quán nhà Nguyễn biên soạn vào thế kỷ thứ 19, phần nói về tỉnh Quảng Trị) thì La Vang thuộc Phủ Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Đi ngược dòng lịch sử, vào thời nhà Lý, năm 1069, Lý Thường Kiệt đánh Chiêm Thành, lấy sông Thạch Hãn chảy ra cửa Việt Yên (thường gọi là Cửa Việt) làm ranh giới: Phía Bắc cửa Việt trở ra thuộc nước Đại Việt, phía Nam cửa Việt trở vào thuộc Chiêm Thành. La Vang thuộc phía Nam con sông Thạch Hãn, nên thời đó còn thuộc lãnh thổ của nước Chiêm Thành. Vùng đất hai bên cửa Việt là vùng tranh chấp giữa người Chiêm và người Việt. Năm 1306, vua Chiêm là Chế Mân dâng đất châu Ô, châu Lý (hay Rí) (tức vùng đất từ phía Nam cửa Việt cho đến Quảng Nam) cho vua nhà Trần (Đại Việt) để xin cưới công chúa Huyền Trân, từ đó La Vang thuộc lãnh thổ nước Đại
158 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Đền thờ ngói cổ Đức Mẹ La Vang 1901-1923 (hình này do cụ Nguyễn Khắc Nhân, thân sinh của nữ họa sĩ Maria Mộng Hoa) vẽ. Dưới hình đề chữ Đức Chúa Bà La Vang.
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 159 Việt và người Việt ở các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình đã vào lập nghiệp ở vùng này. Năm 1558, khi Nguyễn Hoàng được vua Lê, chúa Trịnh cho vào làm trấn thủ đất Thuận Hóa thì người Chàm ở vùng này vẫn còn nổi loạn chống lại người Việt. Theo sách Ô Châu Cận Lục của Tiến Sĩ Dương Văn An (viết vào năm 1553, thời Mạc Mậu Hợp) thì lãnh thổ của phủ Triệu Phong trải dài từ huyện Lệ Thủy (Quảng Bình bây giờ) cho đến chân đèo Hải Vân (Thừa Thiên). Phía Nam đèo Hải Vân thuộc phủ Thăng Bình (tức tỉnh Quảng Nam ngày nay). La Vang hồi đó thuộc huyện Kim Lăng (sau đổi là Hải Lăng), phủ Triệu Phong. Vùng này về sau thường được gọi là đất Thuận Hóa, tức Thuận Châu và Hóa Châu. Thuận Châu là phần đất thuộc tỉnh Quảng Trị bây giờ, hiện còn một di tích gọi là Chợ Thuận (nơi đó ngày xưa là Thuận Thành) và một di tích gọi là Hóa Thành (trên sông Bồ) nay thuộc tỉnh Thừa Thiên. Chữ Hóa trong Hán Văn được chuyển qua âm tiếng Việt là Huế. Trung tâm của Thuận Hóa là thành phố Huế bây giờ. Nguyễn Hoàng đã đóng quân trên một bãi cát thuộc làng Ái Tử, huyện Đăng Xương, phủ Triệu Phong. Nơi đó thường gọi là Cát Dinh (hay Dinh Cát) nghĩa là dinh cơ của chúa Nguyễn ở trên bãi cát. Các trại gia binh ngày xưa nay là các làng Tiền Kiên, Hậu Kiên, Tả Kiên, Hữu Kiên và Trung Kiên. Sau khi Nguyễn Hoàng chết rồi (1613), vợ của ông là bà Minh Đức Vương Thái Phi đã theo đạo và được Cha Da Pina rửa tội (trước năm cha Pina qua đời, 1624). Bà lấy tên thánh là Maria. Theo sách Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên (Sử Nhà Nguyễn) thì tổ tiên bà họ Nguyễn. Con của bà là Nguyễn Phúc Nguyên, thường gọi là chúa Sãi, lên nối nghiệp chúa Nguyễn Hoàng (tức chúa Tiên). Một người con khác là hoàng tử Nguyễn Phúc Khê, trấn thủ Quảng Nam và làm nhiếp chính sau khi chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên qua đời. Các nhà truyền giáo thời đó thường nhắc đến tên bà và hoàng tử Nguyễn Phúc Khê là hai người có công với Giáo Hội Việt Nam (xứ Đàng Trong) vào thời sơ khai. Bà Minh Đức đã dâng cúng ngôi nhà mình ở để làm nơi sinh hoạt cho anh em tín hữu, các giáo sĩ dòng Tên cũng thường đến đây dâng thánh lễ. Danh từ giáo hạt Dinh Cát để chỉ phần đất thuộc Giáo Hội Công Giáo tỉnh Quảng
160 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Đền thờ Đức Mẹ La Vang 1924-1928. Khởi sự 1924, hoàn thành năm 1928, bị phá hủy năm 1972.
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 161 Trị, vốn đã có từ xưa trong sử sách và còn tồn tại cho đến bây giờ. Một giáo sĩ danh tiếng và là một nhà thông thái thời đó là Alexandre de Rhodes (thường gọi là giáo sĩ Đắc Lộ) đã từng hoạt động truyền giáo ở vùng này và thường trú lại nhà bà Minh Đức. Bà Minh Đức qua đời tại Kim Long, Huế vào khoảng 1647 (cuối đời chúa Nguyễn Phúc Lan hoặc đầu đời chúa Nguyễn Phúc Tần). Sau khi bà qua đời, chúa Nguyễn Phúc Tần đã bắt đạo và một vị quan tên là Phêrô Văn Nết, đã từng làm quản gia cho bà, tiếp tục dùng ngôi nhà của bà làm nơi sinh hoạt cho các tín hữu và các Linh Mục nên đã bị nhà chúa bắt tội, buộc phải bỏ đạo. Phêrô Văn Nết đã chết tử đạo thời đó. Vào cuối thế kỷ thứ 17, tỉnh Quảng Trị đã có nhiều người theo đạo Công Giáo, có nhiều làng Công Giáo toàn tòng. Năm 1690, có bốn Linh Mục từ chủng viện Thái Lan về Huế vào trình diện chúa Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần, trong đó có cha Lorensô Lâu là người thông thái nhất. Ngài giỏi chữ Nho, biết chữ quốc ngữ (chữ do các giáo sĩ đặt ra), giỏi La tinh, tiếng Anh, tiếng Pháp, Thái Lan, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, tiếng Nhật, tiếng Tàu v.v..., ngoài ra ngài cũng giỏi toán và thiên văn. Cha Lâu được cha Bề Trên Labbé trao cho trách nhiệm coi sóc giáo dân tỉnh Quảng Trị vì lý do vùng này có nhiều trí thức. Cha Lôrensô Lâu đã về ở tại làng Dương Lệ Văn, thuộc Triệu Phong, Quảng Trị và đã xây một nhà thờ lớn ở đây. Các làng quanh đó đều theo đạo. Ảnh hưởng của ngài rất lớn. Các nhà Nho trong vùng nghe tiếng ngài, đã đến chất vấn để xem kiến thức của ngài ra sao và họ đã tỏ ra rất khâm phục ngài. Trong mười ba năm, từ 1712 đến 1725, chúa Nguyễn đã mời ngài vào Huế để làm nhiệm vụ thông dịch các thư từ thương mại giữa chúa Nguyễn với người Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha v.v..., sau đó ngài xin từ chức để trở về nhiệm vụ Linh Mục. Ngài qua đời năm 1733, chôn tại nhà thờ giáo xứ Bố Liêu, Triệu Phong, Quảng Trị. Mộ của ngài vẫn còn trong lòng nhà thờ cho đến bây giờ. Qua dẫn chứng trên, chúng ta biết được rằng, từ hơn bốn trăm năm trước, vùng đất Quảng trị, nơi có linh địa La Vang, đã có nhiều người theo đạo Công Giáo và cũng đã có nhiều
162 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng La Vang năm 1961.
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 163 Linh Mục danh tiếng, thông thái được đào tạo ở nước ngoài rồi. Với một truyền thống đạo đức lâu đời như thế nên chúng ta cũng không lạ gì đất Quảng Trị đã sản sinh nhiều vị lãnh đạo trong Giáo Hội Công Giáo Việt Nam như các Đức Giám Mục Hồ Ngọc Cẩn, Lê Hữu Từ, Nguyễn Văn Hiền, Nguyễn Như Thể... và ngay cả Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận, như lời ngài nói thì tổ tiên của ngài trước thời Tự Đức, cách nay 150 năm cũng thuộc giáo xứ Trí Bưu, Quảng Trị, đã bị lưu đày vào Huế trong thời kỳ bắt đạo (lệnh Phân Tháp)... và một số các bậc tên tuổi như Đức Ông Philippe Trần Văn Hoài (ở Roma), Linh Mục Simon Nguyễn Văn Lập nguyên Viện Trưởng Đại Học Đà Lạt, một số Đan Viện Trưởng, Bề Trên các nhà Dòng Nam, Nữ v.v... Đức Cha Hồ Ngọc Cẩn, lớn lên ở Huế, nhưng nguồn gốc bên nội của ngài ở làng Cổ Thành, Triệu Phong, Quảng Trị. La Vang tuy là một phường nhỏ bé ở tận chân núi, thuộc địa bộ làng Thạch Hãn, Quảng Trị nhưng từ ngày có cuộc bắt đạo xảy ra dưới thời Tây Sơn, dân Công Giáo thuộc các làng Trí Bưu, Thạch Hãn, Hạnh Hoa đã chạy vào đây ẩn núp và họ đã khai phá ra xóm đạo La Vang. Vào cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19, vùng này chỉ có một Linh Mục ở nhà thờ Trí Bưu trông coi. La Vang thuộc giáo xứ Trí Bưu (còn gọi là Cổ Vưu). Trong thế kỷ 17, tên La Vang chưa được sử sách nói đến nhưng vào cuối thế kỷ 18 và nhất là đầu thế kỷ 19 cho đến bây giờ, không những người dân Quảng Trị, Huế hay Việt Nam mà cả thế giới ngày nay cũng đã biết đến La Vang. CÁI TÊN LA VANG DO ĐÂU MÀ CÓ? “LA VĂNG” HAY “LA VANG”? Người Quảng Trị thường nói “LA VĂNG” (chữ Ă) chứ không phải “LA VANG” (chữ A). Có người căn cứ vào lối phát âm địa phương đó mà giải thích rằng tên “LA VANG” là do hai chữ “LÁ VẰNG” mà ra. Cây “Lá Vằng” là một thứ dây leo, có vị đắng và thơm như thuốc Bắc, ở Quảng Trị có rất nhiều, người ta dùng để chữa bệnh khi đau bụng, đau lưng. Khi sinh đẻ, người đàn bà thường lấy lá này đem nấu nước mà uống thay vì dùng thuốc Bắc hay thuốc Tây. Có người nói rằng LA VANG là tiếng la “vang dội” của
164 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Nơi ngày xưa có đặt tượng Đức Mẹ, bây giờ là ba cây đa bằng bê-tông. người đi rừng khi gặp thú dữ... Có lẽ cách phiên âm của các giáo sĩ xưa không có dấu nên chữ “LÁ VẰNG” thành chữ “LA VANG” chăng? Đức Giám Mục Hồ Ngọc Cẩn, một nhà thông thái thời đó cũng nói rằng: Đây là tiếng “LA” vang dội của người giáo dân kêu cứu với Chúa, với Mẹ khi bị áp bức, bị giết hại vì Đạo. Sau năm 1802, vua Gia Long thống nhất sơn hà, ra lệnh làm lại sổ đất lại dân số và đất đai trong cả nước, gọi là “GIA LONG TOẢN TU ĐỊA BỘ”, thì địa bộ làng Trí Bưu có thêm một vùng đất gọi là “PHƯỜNG LÁ VẰNG”. Theo Linh Mục Stanilas Nguyễn Văn Ngọc, tác giả sách “Linh Địa La Vang” (1969) và theo ý kiến chúng tôi thì tên LA VANG mà người Quảng Trị thường nói là LA VĂNG là do chữ LÁ VẰNG mà ra. Dù cắt nghĩa thế nào thì ngày nay, tất cả mọi người, kể cả sử sách đều gọi nơi này là LA VANG. Đó là nơi linh địa, nơi Đức Mẹ Maria đã hiện ra, với tước hiệu “Đức Bà phù hộ các giáo hữu”.
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 165 2. XÁC ĐỊNH THỜI ĐIỂM ĐỨC MẸ HIỆN RA? Sau cuộc tàn sát tập thể hàng chục ngàn người Công Giáo xảy ra vào thời vua Hàm Nghi do chủ trương của hai quan phụ chính Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết, nhất là sau ngày kinh thành Huế thất thủ đêm 22 rạng ngày 23 tháng 5 năm Ất Dậu (tức đêm 4 rạng ngày 5-7-1885), ông Tôn Thất Thuyết đã nhân danh vua ra hịch Cần Vương và lệnh “Bình Tây sát Tả” (nghĩa là đánh đuổi quân Pháp xâm lăng và giết hết người theo đạo Công Giáo), do đó các nho sĩ địa phương đã hợp lực với quan quân tổ chức lực lượng võ trang kéo đến bao vây các làng theo đạo Công Giáo, đốt hết nhà cửa và giết tất cả mọi người, không phân biệt già trẻ, trai gái... Khi tình hình ổn định, anh vua Hàm Nghi là vua Đồng Khánh lên ngôi, chủ trương tìm kiếm hòa bình..., từ đó trở đi người Công Giáo mới được yên ổn giữ đạo... Chính trong thời kỳ này, giáo dân vùng Quảng Trị và toàn giáo phận Huế đã nêu cao tinh thần tôn sùng Đức Mẹ La Vang, nhiều người nhắc đến sự tích Đức Mẹ hiện ra tại La Vang. Ngay sau khi vua Đồng Khánh lên ngôi, Đức Giám Mục Gaspar (Đức Cha Lộc) đã quyết định xây một nhà thờ tại La Vang để tạ ơn Đức Mẹ. Thời điểm này rất quan trọng để chúng ta hiểu rằng trước 1886, năm Đức Giám Mục ở Huế quyết định xây đền thờ kính Đức Mẹ La Vang, thì cái tên LA VANG, sự tích Đức Mẹ hiện ra tại La Vang đã được giáo dân nhắc nhở đến, đã được các vị lãnh đạo Giáo Hội tại giáo phận Huế chú ý đến. Cũng trong thời điểm này, cha xứ Trí Bưu (Cổ Vưu) đã hỏi những giáo hữu lớn tuổi trong giáo xứ khi đến giờ lâm chung, chịu phép giải tội và xức dầu thánh, rằng: “Con phải thề nói sự thật, con có nghe cha mẹ, ông bà trước kia nói gì về sự tích Đức Mẹ hiện ra tại La Vang không?”. Tất cả những người đó đều trả lời: “Có” và “chuyện xảy ra đã gần 100 năm rồi”. Nhiều người cứ lầm tưởng rằng Đức Mẹ hiện ra vào thời Văn Thân bắt đạo, nghĩa là vào thời điểm từ 1883 đến 1885, sau khi vua Tự Đức qua đời và trước khi vua Đồng Khánh lên ngôi nhưng sự thật không phải như vậy, mà Đức Mẹ đã hiện ra trước đó khoảng 100 năm, nghĩa là vào thời Tây Sơn. Bằng chứng là năm 1886, Đức Cha Gaspar (Lộc) ở Huế đã quyết định xây đền thờ kính Đức Mẹ La Vang và giáo hữu ở giáo xứ
166 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Đền thờ Đức Mẹ Lavang đổ nát sau mùa Hè 1972.
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 167 Trí Bưu vào cuối thế kỷ 19 nói rằng việc Đức Mẹ hiện ra, theo cha mẹ, ông bà kể lại, cách nay cả trăm năm, tức là vào cuối thế kỷ 18, thời Tây Sơn. VẬY ĐỨC MẸ ĐÃ HIỆN RA VÀO THỜI ĐIỂM NÀO? Theo lời các giáo hữu đã được chứng kiến Đức Mẹ hiện ra tại La Vang kể lại cho con cháu của họ và con cháu của họ đã thề nói sự thật trước khi chịu phép giải tội và xức dầu thánh lần sau hết và cha xứ Trí Bưu đã ghi lại vào thời điểm cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 thì cách đó vào khoảng 100 năm, nghĩa là Đức Mẹ hiện ra vào cuối thế kỷ 18. Muốn hiểu rõ vào thời điểm nào cuối thế kỷ 18 có cuộc bắt đạo rất nghiêm ngặt mà giáo dân đã chạy trốn vào La Vang và Đức Mẹ đã hiện ra an ủi họ, trước hết chúng ta phải nhìn lại bối cảnh lịch sử cuối thế kỷ 18, thời Tây Sơn. Từ 1765 đến 1802, trong vòng chưa đầy 40 năm đó, đất nước Việt Nam đã trải qua nhiều biến cố mà nhân dân phải chịu khốn cực trăm bề. Thời điểm 1765 dưới thời chúa Nguyễn Phúc Khoát, Trương Phúc Loan chuyên quyền. Sau khi nhà chúa qua đời, một cuộc tranh chấp, thanh trừng đẫm máu tại Phú Xuân (Huế) và đưa đến hậu quả là ông giáo Hiến, bạn thân của Trương Văn Hạnh và Lê Cao Kỷ là hai trong bốn vị quan lớn của triều đình bị Trương Phúc Loan giết, đã chạy vào đất Tây Sơn. Anh em Tây Sơn là học trò của giáo Hiến và giáo Hiến đã khuyến khích anh em Tây Sơn khởi nghĩa chống Trương Phúc Loan. Lợi dụng tình trạng đó, quân Trịnh ở Bắc kéo vào chiếm Phú Xuân. Chúa Nguyễn là Nguyễn Phúc Thuần đem cả gia đình chạy vào Gia Định và mấy năm sau đó bị Tây Sơn giết chỉ còn sót lại một người cháu là Nguyễn Phúc Ánh, lo mưu đồ phục quốc. Tây Sơn chiếm được Phú Xuân rồi thẳng ra Thăng Long, diệt được vua Lê, chúa Trịnh nhưng sau đó Tây Sơn đã bị Nguyễn Phúc Ánh đánh bại. Năm 1802, Nguyễn Phúc Ánh thống nhất đất nước, lên ngôi hoàng đế lấy hiệu là Gia Long. Về phần dân chúng, nhất là tín hữu Công Giáo, trong giai đoạn này họ đã trải qua muôn vàn khốn khó. Qua sử sách và qua các thư từ, bút ký của các nhà truyền giáo để lại, chúng ta biết được rằng:
168 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng - Vào những năm trước khi Tây Sơn khởi nghĩa, từ 1765 đến 1775, nạn đói lớn xảy ra khắp các tỉnh miền Trung, đến nỗi người ta phải ăn cả thịt người, gần một nửa dân trong vùng chết đói. - Năm 1778, tướng của họ Trịnh là Phạm Ngô Cầu đóng ở Phú Xuân ra lệnh triệt hạ tất cả thánh đường trong vùng, bắt các giáo sĩ và giáo dân. Quan quân bắt được ai thì cứ giết rồi trình với ông ta sau nhưng lệnh đó bị một số các quan phản đối nên không thi hành. Các quan ở Bắc vào tha hồ vơ vét của dân và đi bắt người có đạo để đòi chuộc tiền. Khi quân Tây Sơn chiếm Phú Xuân, quân Trịnh chạy ra Bắc bị dân chúng bắt nộp cho Tây Sơn. Những người nói giọng miền Bắc đều bị bắt. - Quân Tây Sơn chiếm Phú Xuân, ra lệnh bắt dân từ 16 đến 60 tuổi phải vào lính để đi đánh họ Trịnh ở miền Bắc. Các nhà thờ Công Giáo và chùa Phật Giáo nơi nào còn tốt đều bị trưng dụng làm chỗ đóng quân. Các Linh Mục phải trốn tránh. - Trải qua hơn mười năm mất mùa, ruộng đồng bỏ hoang rất nhiều, dân chúng quá thiếu thốn mà còn phải đem lúa gạo để nuôi quân, phải đi làm cầu, làm đường để cho quân lính, voi ngựa đi... Con gái chưa chồng phải trốn tránh vì sợ bị lính bắt... Mỗi người dân đi lại phải có thẻ thông hành, ai không có thì bị bắt. Trong vùng Quảng Trị có 40 nhà thờ Công Giáo bị trưng dụng để làm trại lính, chén thánh bị đem ra làm chén uống rượu cho lính, áo lễ bị tịch thu đem làm áo mặc v.v... nhưng điều quan trọng hơn là từ ngày Đức Giám Mục Bá Đa Lộc (Pigneau de Behaine) giúp Nguyễn Phúc Ánh ở miền Nam thì vua Quang Trung ra lệnh theo dõi các Linh Mục nên các Linh Mục, trong đó có Đức Cha Jean De Labartett e phải bỏ Huế trốn đi xa. Năm 1791, vua Quang Trung bắt người theo đạo Công Giáo từ đèo Hải Vân tới sông Gianh phải nộp 10.000 cân đồng để chuộc tội... Sau khi vua Quang Trung chết (tháng 9-1792), anh vợ vua là Thái Sư Bùi Đắc Tuyên nắm hết quyền hành, rất ghét người theo đạo Công Giáo nhưng ông này bị phe đối lập trong triều vua Nguyễn Quang Toản (Cảnh Thịnh) lật đổ. Năm 1797, dưới triều vua Cảnh Thịnh (Nguyễn Quang Toản), nhân khi thủy quân của Nguyễn Phúc Ánh tiến ra tận
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 169 cửa bể Tư Dung (tức cửa Tư Hiền) thuộc tỉnh Thừa Thiên, thì Lê Văn Lợi, một vị quan của Tây Sơn đã đề nghị vua ra lệnh bắt hết người Công Giáo và các Linh Mục, lấy lý do dân theo đạo ủng hộ Nguyễn Phúc Ánh nhưng lúc đó trong triều đình Tây Sơn có một vị Thượng Thư là Hồ Công Diệu lên tiếng can ngăn và nói rằng: “Thần nghe nói đạo Thiên Chúa truyền dạy vâng theo phép nước, thảo kính cha mẹ, sao lại có thể xúi dân làm loạn được”. Theo tài liệu của các giáo sĩ để lại thì vị Thượng Thư này là người có đạo nhưng giữ kín không cho ai biết. Vua Cảnh Thịnh im lặng không trả lời nhưng sau đó vua đã ra mật lệnh cho các địa phương hẹn đến tháng 5-1798 sẽ bắt và giết tất cả giáo dân cũng như Linh Mục, không để sót người nào. Quan Thượng Thư Hồ Công Diệu đã báo tin đó cho Đức Giám Mục Jean De Labartett e lúc đó đang trốn tránh ở làng Di Luân (Loan) là quê của Đức Giám Mục Lê Hữu Từ sau này, một làng ở cách xa Huế chừng 90 cây số, gần cửa biển Tùng Luật (tức cửa Tùng) phía Bắc con sông Bến Hải. Tin đó được loan truyền ra trong giới Công Giáo và dân theo đạo ở các làng Trí Bưu, Thạch Hãn, Hạnh Hoa... gần thị xã Quảng Trị bèn chạy vào miền núi vùng La Vang để ẩn núp và chính trong thời gian đó, Đức Mẹ đã hiện ra với họ. Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận, trong bài thuyết giảng tại Anaheim Convention Center (Orange County, California, Hoa Kỳ) hôm 22-2-1998 có nói rằng: mỗi lần Đức Mẹ hiện ra nơi nào là để báo trước một biến cố sắp sửa xảy đến cho nhân loại, ngài đến để củng cố đức tin cho con cái và để an ủi họ. Sự kiện Đức Mẹ hiện ra tại La Vang vào năm 1798 dưới thời Tây Sơn là để an ủi con cái trong cơn bách hại và cũng để củng cố Đức Tin cho họ, nhờ đó mà sau này, trải qua thời kỳ bắt đạo trong thế kỷ 19 dưới thời Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức hay thời Văn Thân 1885, người Công Giáo Việt Nam đã chấp nhận hy sinh tính mạng, cam chịu khổ hình, cam chịu mọi nỗi khốn khó mà không bỏ đạo. Cái tin Đức Mẹ hiện ra đã được loan truyền cho con cháu, được loan truyền cho tất cả mọi người từ đời này qua đời khác và những ơn lạ Đức Mẹ ban cho tất cả mọi người, không phân biệt lương giáo đã làm cho người Công Giáo thêm lòng tin tưởng, thêm lòng
170 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Cây đa nơi Mẹ hiện ra năm 1798 tại La Vang. Công trình của Kiến Trúc Sư Ngô Viết Thụ tượng trưng ba miền Trung-Nam-Bắc. Hình chụp năm 1961.
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 171 trông cậy và hằng sốt sắng chạy đến cùng Mẹ. TẠI SAO GIÁO HỮU VÙNG TRÍ BƯU LẠI CHẠY VÀO LA VANG? Trước hết vì dân làng Trí Bưu rất quen thuộc đường đi nước bước của vùng này. Trong tác phẩm “LINH ĐỊA LA VANG”, Linh Mục Stanilas Nguyễn Văn Ngọc đã trích dẫn một đoạn trong bức thư của Linh Mục Lôrensô Lâu, ở vùng Dinh Cát (Quảng Trị) đề ngày 17-2-1691 gởi về Roma có một chi tiết nói rõ dân làng Trí Bưu chuyên nghề làm củi, làm rừng... Đoạn văn đó như sau: “...Ngày 08-1-1691, trong cuộc viếng thăm các họ đạo vùng Dinh Cát, tôi đã tới thăm họ Cổ Vưu. Số giáo dân ở đây gồm có 120 người. Phần đông làm nghề đốn củi ở trong rừng, không có mấy người ở nhà...”. Từ Trí Bưu (Cổ Vưu) vào La Vang chừng 7 cây số. Trong khi đi làm củi, họ đã canh tác thêm một khoảnh đất để trồng khoai, trồng sắn và có thể cấy lúa. Khi đã có hoa màu thì họ làm trại để giữ hoa màu khỏi bị thú rừng phá họai, do đó khi nghe tin có quan quân đi bắt giết tất cả người theo đạo thì họ kéo nhau chạy vào vùng này để ẩn nấp. Và đó là nơi an toàn cho họ nhất. Chính trong hoàn cảnh đó, Đức Mẹ đã hiện ra với họ. 3. DI TÍCH CÂY ĐA, NƠI ĐỨC MẸ HIỆN RA VÀ NHÀ THỜ DÂNG KÍNH ĐỨC MẸ TẠI LA VANG Như đã trình bày trên, sau khi Đức Mẹ hiện ra tại La Vang năm 1798, giáo dân đã dựng lên ở đó một ngôi nhà thờ bằng tranh để lui tới đọc kinh cầu nguyện. Trải qua thời kỳ bắt đạo, nhà thờ bị đốt cháy, giáo hữu bị giết hại... Mãi đến năm 1886, sau khi tình hình ổn định rồi, Đức Giám Mục Caspar (Lộc) ở Huế mới quyết định xây nhà thờ bằng gạch. Nhà thờ này phải mất 15 năm từ 1886 đến 1901 mới hoàn thành và Đại Hội Đức Mẹ La Vang lần thứ I vào các ngày 6, 7 và 8-8-1901, với số giáo dân tham dự là 12.000 người. Thời đó, chưa có xe tàu, đa số đi bộ mà con số người đến La Vang đông như thế, đủ biết tấm lòng con cái kính mến Đức Mẹ như thế nào! Cũng trong dịp đó, Đức Giám Mục Caspar (Lộc) đã làm phép tượng Đức Mẹ, tượng này đến năm 1972 đã bị hư nát do
172 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Lavang năm 1998.
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 173 bom đạn. Dấu tích cây đa không còn và về sau cha xứ cho xây một cái đền nhỏ để cho mọi người đến đó cầu nguyện. Năm 1961, Đức Tổng Giám Mục Phêrô Ngô Đình Thục đã cho xây ba cây đa bằng bê tông cốt sắt, do kiến trúc sư Ngô Viết Thụ vẽ kiểu. Hiện nay di tích này vẫn còn. Con cái đến với Mẹ mỗi ngày một đông, nhà thờ cũ không đủ chỗ chứa. Trải qua năm tháng, nhà thờ này cũng bị hư hỏng nhiều năm từ 1924 đến 1928, giáo phận Huế đã quyết định cho xây nhà thờ mới. Nhà thờ này đã bị đổ nát vào mùa Hè 1972 do bom đạn chiến tranh. Hiện nay chỉ còn một phần ngọn tháp cổ và chưa đồ án xây dựng nhà thờ mới chưa được nhà nước Cộng Sản Việt Nam chấp thuận. 4. KỶ NIỆM 200 NĂM (1798-1998) Mặc dù chính quyền Cộng Sản Việt Nam ra sức ngăn cản bằng những chỉ thị trên giấy tờ, không cho tổ chức Đại Hội kỷ niệm 200 năm Đức Mẹ hiện ra tại La Vang trên phạm vi toàn quốc mà chỉ được phép tổ chức hạn chế trong phạm vi của giáo phận Huế (Quảng Trị, Thừa Thiên). Chính quyền đã viện dẫn nhiều lý do rất vô lý như: vì thời tiết hạn hạn lâu ngày khắp miền Trung nên không đủ nước để cung cấp cho đồng bào; vì tình hình lương thực khó khăn nên không đủ thực phẩm để cung cấp cho dân chúng địa phương và khách hành hương; vì các phương tiện giao thông xe tàu không đủ phục vụ cho đồng bào... để không cho tổ chức Đại Hội, không bán vé máy bay cho Việt kiều về thăm Đà Nẵng, Huế, không cho thành lập các phái đoàn hành hương từ các tỉnh trong nước và nhất là không cấp chiếu khán cho các phái đoàn nước ngoài đến La Vang, đến nỗi một Đặc Sứ của Tòa Thánh Vatican cũng không được phép đến Việt Nam trong thời điểm này. Việt kiều về thăm muốn đi Huế và Đà Nẵng thì chỉ được đi và về trong vòng 3 ngày, ban đêm bị Công An thu giấy thông hành, sáng mới trả lại..., cho Công An cầm roi điện đứng hai bên đường để thị uy..., đưa cả Sư Đoàn bộ đội vào tăng cường ở chung quanh La Vang để đàn áp biểu tình... nhưng đồng bào vẫn cơm đùm, gạo bới, bằng đủ mọi phương tiện: đi bộ, đi thuyền, đi xe đạp, xe gắn máy, xe lửa, xe đò, thuê xe hơi cho
174 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Đại Hội La Vang tại Việt Nam tháng 8-1998. Các giáo dân khắp nơi nô nức về Lavang tham dự Đại Hội 1998.
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 175 cả gia đình, cho từng toán 5, 7 người hay vài chục người từ miền Bắc, miền Nam, từ Cao Nguyên, từ các tỉnh miền Trung đổ về, không quản nắng nôi, vất vả, chấp nhận cảnh màn trời, chiếu đất... để đến linh địa La Vang cho bằng được vào những các ngày 13, 14, 15-8-1998, ngày Đại Hội kỷ niệm 200 năm Đức Mẹ hiện ra tại La Vang. NGÀY THỨ NHẤT ĐẠI HỘI (13-8-1998) Lúc 3 giờ chiều, có khoảng 100.000 người tham dự, đón Đức Cha Nguyễn Như Thể, Tổng Giám Mục Huế và 7 vị Giám Mục khác làm lễ khai mạc Đại Hội. Có 25 lá cờ ngũ hành hình vuông lớn (cờ đại) tượng trưng cho 25 Giáo Phận, mỗi lá cờ có vẽ hình nhà thờ chính tòa và tên của Giáo Phận, mặt sau có hàng chữ “200 năm Đức Mẹ La Vang”. Trước mặt nhà thờ cũ hiện nay chỉ còn một phần tháp là bức ảnh Đức Mẹ dài 6 mét. Lễ đài ở giữa theo hình Đàn Nam Giao (của vua tế Trời ngày xưa) gồm có 2 tầng, nền hình vuông mỗi bề 25 mét, cao 1,6 mét; giữa là hình tròn đường kính 15 mét, cao 0,8 mét có thể chưa 500 chỗ ngồi. Ở trên có 5 cái lọng xanh, đường kính mỗi cái 7,5 mét tượng trưng cho trời và 4 cái lọng vàng tượng trưng cho đất. Có khoảng 350 Linh Mục đến dự. Thánh lễ đồng tế vào lúc 5 giờ chiều do Đức Cha Nguyễn Văn Hòa, Giám Mục Nha Trang, Phó Chủ Tịch Hội Đồng Giám Mục VN chủ lễ. Đức Cha Nguyễn Văn Nhơn, Giám Mục Đà Lạt thuyết giảng. Buổi rước kiệu Mình Thánh Chúa do Đức Cha Huỳnh Văn Nghi, Giám Mục Phan Thiết quỳ trên xe hoa hai tầng, cầm Mình Thánh Chúa. Có 48 em múa Hoa Đăng trước Mình Thánh Chúa, theo điệu múa cung đình xưa. Số nến không đủ cung cấp, cả một công trường sáng rực ánh đèn. Máy điện riêng của Trung Tâm Thánh Mẫu La Vang 100 ampères chạy suốt ngày đêm đủ cung cấp ánh sáng cho khu vực Vương Cung Thánh Đường. NGÀY THỨ HAI ĐẠI HỘI (14-8-1998) Từ 6 giờ sáng đã có thánh lễ do Đức Cha Phạm Minh Mẫn, Tổng Giám Mục Sàigòn chủ lễ có trên 10 Giám Mục đồng tế. Lúc 8 giờ 30, sám hối cộng đồng dành cho giới trẻ. Lúc 4 giờ
176 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Linh Mục Stanilas Nguyễn Văn Ngọc, tác giả sách Linh Địa La Vang (1970).
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 177 chiều chính thức đón Đức Hồng Y và 15 vị Giám Mục khác vào lễ đài. Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Như Thể (Huế) đọc lời chào mừng và Đức Hồng Y Phạm Đình Tụng ban huấn từ. Đoàn rước đã đến trước 3 cây đa, nơi tương truyền Đức Mẹ hiện ra tại đây vào năm 1798, để dâng hương lên Đức Mẹ. Trong dịp này, Đức Tổng Giám Mục Huế cũng đã giới thiệu pho tượng Đức Mẹ theo mẫu Việt Nam cao 2 mét đã được Hội Đồng Giám Mục Việt Nam chính thức chấp nhận để thay thế cho tượng cũ và một chén thánh đặc biệt do Đức Thánh Cha từ Roma gởi tặng La Vang để dâng Thánh lễ kỷ niệm 200 năm. Lúc 6 giờ chiều, Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Như Thể đã dâng Thánh lễ và Đức Hồng Y Phạm Đình Tụng đại diện Đức Thánh Cha trao dây Palium Tổng Giám Mục cho Đức Tổng Giám Mục Huế. Đêm 14-8-1998, đêm canh thức và diễn lại sự tích Đức Mẹ hiện ra tại La Vang. Đoàn múa hàng trăm người thật vĩ đại để dâng hoa lên Đúc Mẹ... NGÀY THỨ BA ĐẠI HỘI (15-8-1998) Từ 5 giờ sáng, đoàn rước kiệu bắt đầu với 10.000 người đại diện cho 25 Giáo Phận mang bảng đề tên mỗi Giáo Phận có phái đoàn tham dự và khoảng 300.000 người tham dự. Đức Hồng Y và 14 vị Giám Mục đã đi theo bàn kiệu Đức Mẹ sơn son thếp vàng, chạm trổ công phu do giáo dân Phát Diệm (miền Bắc) dâng cúng gồm có bệ cao 3 tấc để đặt tượng Đức Mẹ lên trên. Đoàn vũ phụng vụ vĩ đại quy tụ hàng trăm người. Lúc 9 giờ, thánh lễ bế mạc TAM NHẬT ĐẠI HỘI LA VANG. Ngoài các vị Giám Mục đến với Đại Hội còn có một Viện Phụ và một vị Giám Quản Giáo Phận. Mọi nghi lễ đã chấm dứt vào hồi 11 giờ sáng ngày 15-8- 1998, mọi người ra về trong hân hoan. Đại Hội đã diễn ra trong vòng an ninh, trật tự, không có một biến cố bất thường nào xảy ra. Tất cả mọi kế hoạch đều đã được thực hiện một cách sít sao. Đồng bào đến tham dự Đại Hội đã mang theo nước, thức ăn dự trù trong 3 ngày. Họ cũng mang theo lều trại để che nắng mưa. Ban ngày họ núp dưới bóng cây để cho có bóng mát, chiều tối bớt nắng họ mới ra ngoài. Các bể nước luôn có người mang bình đến xin nước để uống và đem về dùng vì họ tin rằng nước ở linh địa này có sức
178 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng chữa bệnh tật. Người ta cũng mang từng bó lá cây đến bán. Các lá này đã được đồng bào mang đến để dưới chân đài Đức Mẹ để xin ơn và đã được các Linh Mục ban phép lành để cho đồng bào mang về nhà. Các trạm y tế do các sơ Dòng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm (Phú Xuân) phụ trách để chữa bệnh và giúp đồng bào khi gặp trường hợp cấp cứu... Trong những ngày nắng hạn, bỗng nhiên trời chuyển cơn mưa lớn đem nước đến cho vùng này. Báo chí và các hãng thông tấn ngoại quốc cũng đã đưa tin và hình ảnh Đại Hội. Báo chí của nhà nước Cộng Sản Việt Nam cũng loan tin và đăng hình ở trang nhất... Trước niềm tin của con người, không có một sức mạnh nào có thể ngăn cản được, dù là án tử hình đi nữa. Theo truyền thống đã có từ hàng trăm năm, những người đi hành hương La Vang, không phân biệt tôn giáo, khi có dịp Đại Hội, họ vẫn đến đây kính viếng Đức Mẹ và xin ơn cần thiết; trong đời sống hằng ngày, khi có chuyện khó khăn, đồng bào lương giáo đều chạy đến La Vang, cầu xin với Đức Mẹ. Bên cạnh đó, cũng có những hành động quấy rối của bọn người vô thần như cắt dây điện, gỡ bóng đèn, phá vòi nước, gây trở ngại cho đồng bào rất nhiều. Bọn cán bộ Cộng Sản hoặc người của chúng đã đến dựng quán bán thức ăn, thức uống, mở nhạc thật lớn, cho loa phóng thanh hướng về phía lễ đài để phá những giờ đọc kinh cầu nguyện hay thánh lễ... Chúng mang nước uống lấy từ sông Thạch Hãn đến bán với giá cắt cổ và độc quyền thu tiền ở các bãi đậu xe... Phần tin tức Đại Hội nhận được từ Cali tối 15-8-1998 (Việt Nam là 16-8-1998), qua thông tín viên của báo Hiệp Nhất từ La Vang chuyển về. Nguyễn Lý Tưởng đã viết thành bài và chuyển đến các cơ quan truyền thông, báo chí ngay sau đó. Nguyễn Lý Tưởng
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 179 CHÙA SẮC TỨ Chùa Sắc Tứ là tên quen gọi của chùa Tịnh Quang tại làng Ái Tử, xã Triệu Ái, Phủ Triệu Phong (nay là huyện Triệu Hải), tỉnh Quảng Trị, cạnh Quốc Lộ số I từ Quảng Trị ra Đông Hà, phía Bắc của con sông Thạch Hãn. Sắc là sắc lệnh vua hay chúa ban, Tứ nghĩa là cho (ân tứ). Người địa phương thường gọi là Chùa Sắc Tứ, nhà Phật quen gọi là Tổ Đình Sắc Tứ Tịnh Quang vì trong chùa có bức hoành phi khắc mấy chữ “SẮC TỨ TỊNH QUANG TỰ” nghĩa là nhà chúa ban cho danh hiệu “chùa Tịnh Quang”. Năm chữ này là bút tự của chúa Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765), vào năm Vĩnh Hựu thứ 15 nhà Lê (1739) nhân dịp nhà chúa đến thăm chùa này. Chùa được thiết lập từ năm nào, ngày nay không ai biết đích xác, chỉ biết rằng chùa đã có từ lâu đời, cùng thời với các chùa danh tiếng ở Huế. Theo bài ký của ông Hoàng Hữu Bính (người làng Bích Khê, Triệu Phong, Quảng Trị, đậu hoàng giáp Tiến Sĩ năm Kỷ Sửu 1889), khắc vào bia đá ngày 20-5- 1895 ghi lại sự tích chùa thì, vị sư tổ tên là Chí Khả, từ Trung Quốc sang Việt Nam. Năm 13 tuổi, ông đã xuất gia theo Phật, phái Thiền Tông, Tiểu Thừa. Lúc đầu mới đến Việt Nam, ông lập một cái am ở phường Phú Xuân (nay thuộc xã Hải Xuân, Hải Lăng, Quảng Trị) sau mới dời về xứ Bàu Voi, làng Ái Tử, làm một gian nhà tranh để ở. Ông viên tịch năm 24 tuổi, lúc đó đã có một số người theo ông đến tu ở đây. Ngày xưa xứ Bàu Voi là một vùng hoang vu, cây cối rậm rạp, không có người ở. Nơi đây có một cái hồ nước lớn nên voi thường đến đây uống nước vì thế mới có tên Bàu Voi. Các thú dữ như cọp beo thường tụ tập về đây tranh nhau với đàn voi nên dân lành không dám bén mãng đến. Nhà sư Chí Khả
180 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Chùa Sắc Tứ. Hình chùa Sắc Tứ có bảng đề năm chữ SẮC TỨ TỊNH QUANG TỰ.
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 181 đã dùng pháp thuật chinh phục và thuần hóa được các thú dữ nên vùng này trở thành một nơi danh lam thắng cảnh, dân chúng mới có cơ hội lui tới được. Danh tiếng của nhà sư và chùa này đã đến tai chúa Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765) và nhà chúa đã đích thân đến thăm và đặt bút viết tặng mấy chữ “SẮC TỨ TỊNH QUANG TỰ” như đã nói trên. Nhà sư qua đời vào ngày 18 tháng Hai Âm lịch, không rõ năm. Hằng năm đến ngày này, các tăng ni Phật tử khắp nơi đã đến đây để cử hành lễ, tụng niệm. Trong số 12 đệ tử của ngài có hai vị Hòa Thượng Tuyết Phong (quê ở làng Thành Lê) và Bửu Ngạn (quê ở làng Đạo Đầu) đã kế vị sư tổ làm trụ trì tại chùa này. Từ một ngôi chùa làm bằng tranh, về sau được xây dựng bằng gạch ngói đồ sộ nhờ sự đóng góp của Phật tử và khách thập phương. Người ta phỏng đoán thời gian lập chùa vào khoảng 1735-1738 thời chúa Nguyễn Phúc Trú (1725-1738) trước thời chúa Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765). Từ ngày thành lập đến nay, chùa đã được trùng tu tất cả chín lần. Trong thập niên 1960-1970, chùa đang xây cất thì bị chiến tranh phải tạm ngưng, một phần bị hư hại nặng vào mùa Hè 1972. Sau 1975, Giáo Hội Phật Giáo Quảng Trị hô hào đồng bào và Phật tử đóng góp để trùng tu chùa này. Cuộc vận động kéo dài cả chục năm cho đến ngày 5-4-1996 mới làm lễ đặt viên đá đầu tiên (theo tài liệu của Đặc San Quảng Trị vùng Hoa Thịnh Đốn (Hoa Kỳ) Xuân Mậu Dần 1998). Trong sách Việt Nam Danh Lam Cổ Tự xuất bản tại Hà Nội 1993 bằng ba thứ tiếng: Việt, Pháp, Hoa có hình chùa Sắc Tứ (Quảng Trị) mới được trùng tu. Năm 1983, chúng tôi có gặp một thanh niên gốc Quảng Trị, anh ta cho biết chùa Sắc Tứ và chùa Tỉnh Hội (Chùa Phật Học) đã được sửa chữa lại và có làm lễ lớn, Phật tử và đồng bào đến dự rất đông. Tính đến nay, đã hơn 360 năm, chùa Sắc Tứ là một nơi danh tiếng của tỉnh Quảng Trị, cũng như đền thờ Đức Mẹ La Vang là di tích đã 200 năm và đã được chọn làm Trung Tâm Thánh Mẫu toàn quốc, được Giáo Hội Công Giáo ở Trung Ương (Vatican) chính thức công nhận. Cali 28 tháng 11 năm 1998 Nguyễn Lý Tưởng
182 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng TỪ NGÔI MỘ LƯỠNG HỔ CHẦU ĐẾN CHIẾN KHU TÂN SỞ 1. NGÔI MỘ LƯỠNG HỔ CHẦU Vào một buổi chiều cuối năm Giáp Ngọ (1834) trên con đường thủy từ Đông Hà ra cửa Việt Yên thuộc Phủ Triệu Phong tỉnh Quảng Trị, có một chiếc tàu buôn của người khách trú (người Tàu) bỗng dừng lại trên bờ sông ngang bến đò làng An Cư. Lúc đó trời chạng vạng tối, buổi chiều cuối năm thật ảm đạm... Người trên tàu khiêng một bệnh nhân đang quằn quại, ném lên bờ, để nằm ở đó, không người chăm sóc. Rồi chiếc tàu khách tiếp tục ra cửa biển. Người bệnh nằm lăn lóc trên bờ sông, rên rỉ, kêu la, nhìn chung quanh không một bóng người quen biết. Người họ Nguyễn làng An Cư, vốn làm nghề đưa đò ngang, cũng lúc đó đang ngồi trên thuyền đợi khách, bỗng nghe tiếng kêu la, rên rỉ của một người nào đó, gần đâu đây. Ông chạnh lòng trắc ẩn, biết rằng có người nào đang lâm hoạn nạn vào giờ phút này, cái giờ phút mà mọi người đang chuẩn bị ngày cuối năm, dọn dẹp nhà cửa, lau chùi bàn thờ, sắm sửa của lễ để đón Ông Bà Tổ Tiên về ăn Tết với con cháu. Ông rảo bước đi dọc theo bờ sông để tìm... Trời mỗi lúc một tối nhanh, chiều 30 Tết cùng với cơn gió lạnh từ cánh đồng trống trải thổi vào, xa xa là sóng biển rì rầm chuyển giọng buồn đến bên tai. Trong bóng tối, ông bỗng vấp vào một người đang nằm chết ngất trên bãi cát. Ông vội vàng nâng người đó dậy, dìu vào nhà, đốt lửa sưởi ấm và chạy tìm thuốc men cứu chữa. Nhà họ Nguyễn ở làng An Cư vốn nghèo và đông con,
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 183 nghe nói có đến 12 người con cùng sống với cha mẹ trong một mái nhà tranh. Trong nhà đó còn có bà nội già hơn 80 tuổi, đang nằm trên giường bệnh. Người nhà họ Nguyễn vốn sống ở miền quê, chỉ chữa bệnh bằng phương pháp ngoại khoa, cầu may trời ban phước cho thì được lành bệnh, chứ không một ai có nghiên cứu, có hiểu biết về y học. Người bị nạn là một người Hoa, thường gọi là người khách trú hay người Tàu, vì họ đến Việt Nam trên những chiếc tàu buôn. Chủ tàu lo sợ người khách đó chết trên tàu của mình thì khi ra cửa biển sẽ bị hải quan Việt Nam kiểm soát ở cửa làm khó dễ, có khi tàu bị neo lại, bị lập biên bản, bị làm án làm tội, phải bỏ tiền ra hối lộ hết cả gia tài mà chưa chắc mạng sống hãy còn. Chính vì lý do đó mà chủ tàu không nghĩ tới tình đồng hương nơi đất khách quê người, đành phải quyết định ném người bệnh lên bờ rồi bỏ đi. Thật là quá ư vô nhân đạo! Nhưng mỗi người có một lý do để tự vệ, mà họ cũng đành hy sinh một người để cứu muôn người khỏi sự rắc rối. Người khách trú nhờ phúc đức Ông Bà mà nhà họ Nguyễn cũng nhờ phước chủ may thầy cho nên không hiểu người họ Nguyễn làng An Cư đã cho ông khách trú kia uống lá thuốc gì mà sau đó bệnh tình của anh ta dần dần bình phục. Vào những ngày đầu năm Ất Mùi (1835), gia đình họ Nguyễn được đón tiếp một người khách lạ, họ rất vui mừng vì đã làm được một việc thiện, cứu người lúc hoạn nạn. Họ cũng tin rằng việc làm đó là để phước lại cho con cháu. Về phần người khách trú, ông ta rất cảm động và luôn nghĩ đến cách báo đáp. Gia đình họ Nguyễn làm nghề đưa khách sang sông bằng một chiếc thuyền nhỏ, họ sống xa xóm làng, trong cảnh lẻ loi ở trên cánh đồng hoang vắng. Ngày Tết đối với họ không có gì đặc biệt như những nhà giàu có trong làng nhưng thỉnh thoảng cũng có người bà con quen biết tìm đến thăm họ và thế là câu chuyện ông khách trú được loan truyền khắp trong làng An Cư và khắp trong vùng Cửa Việt. Sau khi bình phục và hưởng cảnh đoàn tụ cùng với gia đình họ Nguyễn trong những ngày Tết ấm cúng, dưới mái tranh nghèo, ông khách cũng còn ít tiền đường nên muốn giúp cho gia đình họ Nguyễn có tiền đi chợ Tết nhưng người họ Nguyễn vốn giản dị, đạm bạc đã quen nên họ từ chối không
184 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng nhận tiền đền ơn của khách. Ông khách phải năn nỉ mãi và ở lại cho đến khi nhà họ Nguyễn phải vui lòng nhận chút ít gọi là lòng thành của mình, lúc đó ông khách mới chịu tìm đường về nước. Trong những ngày lưu lại nhà họ Nguyễn, ông khách để ý đến một người con trai trong nhà lúc đó khoảng 12, 13 tuổi. Đó là bé Tường tuổi Giáp Thân. Ông người Tàu có lẽ cũng có am hiểu về Tử Vi, địa lý... Ông đi quanh vùng quan sát địa thế, rồi trở về nhà mời vợ chồng chủ nhà gặp riêng để trình bày một câu chuyện. Ông khách muốn đền ơn cứu tử của nhà họ Nguyễn nên ông có nghiên cứu lá số Tử Vi của cậu con trai tên là Tường tuổi Giáp Thân. Ông cho biết tương lai cậu này sẽ làm nên sự nghiệp lớn. Tuổi của cậu hợp với với Bà Nội đang tuổi thượng thọ. Ông khách bèn chỉ cho gia đình một chỗ đất để chôn cất Bà Nội sau này và ông cũng ước tính Bà Nội sẽ mất vào năm Ất Hợi, khoảng cuối mùa thu. Ông khách nói rằng sau khi Bà Nội mất thì táng vào một nơi có địa thế là “Lưỡng hổ chầu, quần dương quá giang”. Nơi đó đứng từ xa trông lại thì có hai bụi cây, hình giống như hai con cọp nằm chầu và trên mặt nước có những cây mọc dài dài như đàn dê đang lội qua sông. Riêng về cháu Tường thì ông khuyên gia đình nên dồn hết khả năng cho cháu học chữ vì trong tất cả anh em chỉ có cậu này là hợp tuổi Bà Nội và chỉ có cậu này được hưởng sự kết phát của ngôi mộ đó mà thôi. Số Tử Vi của cậu này sẽ lên tột đỉnh danh vọng nhưng là số thăng trầm. Mệnh: Tử, Phủ, Vũ, Tướng và Thân: Sát, Phá, Tham là phi thường cách... nhưng cậu này tính tình ngỗ nghịch, thủ đoạn..., nếu không củng cố đạo đức thì sau này hoạn nạn không biết đâu mà lường được. Tháng 10 năm đó, Bà Nội qua đời, gia đình họ Nguyễn âm thầm đem táng vào nơi ông khách đã chỉ trước, đúng vào giờ ngày như lời dặn bảo của Thầy Địa Lý Tàu... Anh em đều đi làm nghề đánh cá, nước lên thì xuống đầm, xuống phá gỡ lưới đem cá về, nước xuống thì nghỉ ngơi. Người chèo đò dựng túp lều tranh để ở mà thôi. Làng An Cư vốn là một là một làng nhỏ đất ruộng không bao nhiêu, dân cũng không đông, không giàu... Trong làng không có
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 185 giếng xây, chỉ có giếng đất, đào một cái hố rộng tự nhiên có nước uống, cũng chẳng sạch sẽ gì nhưng có điều lạ là đất ở đó có năm màu, từng lớp chồng lên nhau gọi là đất ngũ sắc. Thuở nhỏ chúng tôi cũng có dịp đi qua hai làng An Cư, Xuân Thành là nơi có nhiều người đỗ đạt, làm quan, vẫn thường nghe các bô lão, nhân sĩ trong làng hoặc con cháu họ Nguyễn của quan Thượng Thư Quận Công Nguyễn Văn Tường kể lại về quá khứ của ông và ngôi mộ kết phát thường gọi là ngôi mộ “Lưỡng hổ chầu”... Nguyễn Văn Tường có tính ngỗ ngịch và hay trả thù, thuở nhỏ đi học gặp buổi trưa trời nắng, cơn gió Tây Nam khô khan, bốc cháy làm cho con người rã rượi, buồn ngủ, ông bèn vào tạm nghỉ trưa trong một ngôi chùa. Đang cơn buồn ngủ, Nguyễn Văn Tường chẳng nể nang gì, bèn dẹp ngay bàn thờ Phật rồi leo lên đó đánh một giấc no say. Người trong làng đi ngang qua thấy anh học trò học chữ thánh hiền mà không biết lễ nghĩa, không tôn trọng nơi thờ tự của dân làng bèn đi trình với Lý Trưởng. Tường bị phạt đánh đòn và cha mẹ bị phạt tiền theo phong tục làng xã ngày xưa. Bị đánh đòn đau và bị cha mẹ la rầy, Tường uất ức lắm... Ông nói với người trong nhà: sau này thi đỗ làm quan thì sẽ ra lệnh dời chùa đi chỗ khác. Thời kỳ Nho học cực thịnh, vua thay mặt Trời để cai trị muôn dân. Vua là Thiên Tử, con Trời, Thần Thánh... đều dưới quyền của vua. Vua phong cho thần này, thần nọ, vua xóa tên thần kia..., thế là thần cũng phải ôm áo mà chạy. Sách Đại Việt Sử Ký có kể chuyện: Lý Công Uẩn khi còn thiếu thời, ăn chuối cúng của thổ thần. Ban đêm thổ thần ứng mộng nói với nhà sư trụ trì là không ai cho ăn nên đói quá. Sư cho điều tra, mới biết con nuôi của Sư là Lý Công Uẩn đã làm chuyện trái đó, Sư bèn phạt Lý. Lý nổi giận, viết vào lưng thổ thần: Phạt tam bách trượng, lưu tam thiên lý... (đánh đòn ba trăm roi, đày xa ba ngàn dặm). Hôm sau nhà sư nằm mộng thấy thổ thần máu me đầy người vào khóc lóc để chia tay đi xa. Sư thức dậy ra xem thì thấy có hàng chữ ai đã viết vào lưng thổ thần. Sư lấy nước rửa mà không sạch chữ được. Sư hiểu ý bèn vào gọi Lý Công Uẩn, bắt Lý phải chùi cho sạch. Quả nhiên Lý đưa tay chùi thì hàng chữ không còn. Câu chuyện nói lên vua nhà Lý, Lý Công Uẩn chính là chân mạng đế vương.
186 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Chân dung Nguyễn Văn Tường
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 187 Sau khi thi đỗ, ra làm quan, Nguyễn Văn Tường vẫn không quên thuở xưa và đã ra lệnh dời chùa đi nơi khác, dân trong làng không ai dám trái lệnh quan. 2. MỘNG VƯƠNG HẦU, NGUYỄN VĂN ĐỔI RA NGUYỄN PHƯỚC... Trong bài: “Vài dữ kiện về Nguyễn Văn Tường” đăng trong tuyển tập Nhớ Huế số 6, ông Tôn Thất Hứa có nói rằng: Theo Tiến Sĩ Thái Văn Kiểm, tương truyền Tường là con riêng của Tường Khánh Công, về sau lên ngôi là vua Thiệu Trị. Nguyên Tường Khánh Công theo vua cha (Minh Mạng) tuần du tỉnh Quảng Trị, tình cờ gặp cô gái xinh đẹp, bèn dan díu với cô mà sinh ra một con trai, mẹ đặt tên là Tường để lưu niệm tên của cha, có lẽ vì lẽ đó mà ông Tường đã mang tên là Nguyễn Phước Tường. Đối với Cụ Thái Văn Kiểm, một người khoa bảng, một người trí thức mà chúng tôi kính trọng, chúng tôi thật chưa xứng là học trò của cụ nhưng đối với giả thuyết này chúng tôi thấy có chỗ không ổn. Như đã trình bày trên, Nguyễn Văn Tường vốn xuất thân từ một gia đình nghèo, cha mẹ làm nghề chèo đò, anh em đông mà ông là con thứ, trước ông có các anh, các chị. Không lẽ một vị đông cung thái tử, sắp lên nối ngôi mà lại tìm về một miền quê xa xôi hẻo lánh để lấy vợ của anh chèo đò đã có mấy mặt con. Dù mẹ của Nguyễn Văn Tường có nhan sắc thế nào đi nữa thì đông cung thái tử cũng phải dè dặt vì làm như thế thì còn gì là tên tuổi của người nữa. Nếu bà ấy quả thật sắc nước hương trời thì thiếu gì người mà lại đi lấy một anh chàng chèo đò ở làng An Cư? Câu chuyện tuy mang màu sắc lãng mạn thật đấy nhưng khó mà thành sự thực được! Nhưng câu chuyện Nguyễn Văn Tường lấy họ vua (Nguyễn Phước) để đi thi và bị tội, bị đày làm lính cắt cỏ nuôi ngựa ở bưu trạm Mỹ Chánh là điều có thực, việc này trong Quốc Triều Chính Biên Toát Yếu (của Cao Xuân Dục, Quốc Sử Quán Triều Nguyễn) có nói đến. Trong khi ngồi ở bưu trạm Mỹ Chánh, cách Huế 30 cây số, Tường cũng thường gặp những anh hùng trong thiên hạ trên đường xuôi ngược Bắc Nam, nào là các quan về triều báo cáo công việc, nào là sĩ tử đi thi. Tường thường lân la làm
188 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng quen với họ để giải bày tâm sự... Trong số người mà Tường quen biết có: - PHẠM CHI HƯƠNG. Người huyện Đường An, tỉnh Hải Dương. Cha là Hương Cống Phạm Chi Nguyên đời nhà Lê. Năm Minh Mạng thứ 10 (1830), Phạm Chi Hương thi đậu Giải Nguyên, được bổ làm quan ở Quảng Ngãi rồi lên tới chủ sự Bộ Hộ, Lang Trung Bộ Lại. Đầu năm Thiệu Trị, ông được bổ làm quan ở Quốc Sử Quán rồi đi phó sứ trong phái đoàn qua Trung Hoa. Khi về được cử qua làm quan ở Bộ Hình. Sau khi Thiệu Trị mất, Tự Đức lên ngôi, Phạm Chi Hương được làm Án Sát Sơn Tây. Cũng năm đó vua mở ân khoa và Nguyễn Văn Tường thi đỗ Cử Nhân, Canh Tuất, 1850. Phạm Chi Hương là người có tài thao lược, sau hai lần đi sứ về, được Tự Đức cử ra Bắc dẹp loạn ở các tỉnh Bắc Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, thắng được bọn thổ phỉ Ngô Côn, Ngô Dị từ Trung Hoa tràn qua. Phạm Chi Hương thấy Nguyễn Văn Tường là người có tài, nên đã xin vua Tự Đức cho Tường ra Bắc lập công. - TRẦN TIỄN THÀNH. Người thứ hai có thế lực hơn Phạm Chi Hương, đó là Trần Tiễn Thành, người đã tiến cử Nguyễn Văn Tường và sau này bị chính tay Nguyễn Văn Tường mưu hại. Thành người gốc Minh Hương, tổ tiên từ tỉnh Phước Kiến di cư sang Việt Nam, cư ngụ ở huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên. Cha là Trần Bá Lượng, năm 1820, đầu đời Minh Mạng nhờ thi đậu, được làm quan Tri Phủ Tân Bình (Gia Định), sau nhờ con được quý hiển nên được tặng Lễ Bộ Thượng Thư. Thành lúc nhỏ tên là Dưỡng Độn, tự là Thời Mẫn, hiệu là Tồn Trai, sau vì tránh tên húy của vua nên được Tự Đức cho đổi tên là Trần Tiễn Thành. Thành lúc nhỏ rất kháu khỉnh, có hiếu với cha. Năm 13 tuổi cha chết, để tang, giữ lễ như người lớn. Năm Minh Mạng thứ 19, 1838, Thành thi đỗ Tiến Sĩ, được vào làm Hành Tẩu Cơ Mật Viện, từ đó lên dần tới Án Sát tỉnh Thanh Hóa (thời Thiệu Trị). Tự Đức mới lên ngôi, nghe tiếng Thành là người hiền tài, có hiếu nên đem về làm ở Bộ Lại rồi Bộ Hộ, qua năm sau cử đi phó sứ trong phái đoàn đi Trung Hoa nhưng sau lại đình việc đó mà chuyển qua Biện Lý Bộ Lại kiêm Quản Ấn Triện Đại Lý Tự. Chẳng bao lâu, được bổ đi làm Bố Chính tỉnh Gia Định, sau đó lại triệu về kinh giữ chức
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 189 Thị Lang Bộ Công. Năm Tự Đức thứ 8, 1855, nhờ có công dẹp giặc Man ở Quảng Ngãi nên được cất lên Tham Tri Bộ Binh, năm thứ 14, 1861, được lên Thượng Thư Bộ Công kiêm Đốc Phòng cửa biển Thuận An, sau đó qua làm Thượng Thư Bộ Hộ kiêm Khâm Thiên Giám và sung vào Cơ Mật Viện rồi qua làm Thượng Thư Bộ Binh kiêm Quản Viện Tập Hiền. Trần Tiễn Thành rất được vua Tự Đức yêu quý và tin cậy, việc gì quan trọng vua cũng hỏi ý kiến của ông. Công việc vua trao, ông giải quyết cách linh động, khiến cho dân được nhờ như việc cứu đói tại tỉnh Hải Dương, việc đào sông ở Thanh Hóa, Nghệ An... Sử gia nhà Nguyễn ca tụng ông là người học rộng, có tài cai trị, trung với vua, hiếu với cha mẹ, mọi việc chính trị đều hợp ý vua. Ông còn là người nhân ái, giúp người thì nhiều mà chưa làm điều gì hại cho kẻ khác, chưa xét xử oan ức cho ai bao giờ. Năm 1870, vua Tự Đức thưởng cho ông một chiếc nhẫn đeo tay bằng vàng có gắn kim cương và một chiếc kim khánh hạng lớn có khắc chữ “Liêm Bình Cần Cán”. Năm 1872, nhân có tang mẹ, ông xin nghỉ để lo việc hiếu. Vua bèn cấp cho 500 quan tiền và cho nghỉ ba tháng để lo việc ma chay. Vua cũng thường ban cho ông các Thi Văn Ngự Chế để khen tặng. Năm thứ 31 đời Tự Đức, 1877, nhân lễ ngũ tuần của vua, vua xuống dụ nói rằng: “Trần Tiễn Thành một lòng trung ái, càng già càng chăm lo việc chính trị, thực có độ lượng, kiến thức, quyết đoán được việc lớn, chuẩn thụ cho điện hàm thân rót chén rượu ban cho, đó là đặc cách” (Đại Nam Liệt Truyện Chính Biên, q.32). Mùa Đông năm 1881, năm thứ 35 đời Tự Đức vua lại cho ông chiếc áo cừu mà vua vẫn mặc và còn tặng cho ông một bài thơ... Vua còn gởi mừng thọ ông các tặng phẩm như sau: áo triều bào chánh phẩm một cặp, gậy linh thọ một chiếc, chén ngọc một đôi, bình hoa một đôi, vàng, bạc, tiền, gấm, vóc... mỗi thứ một và sai em con chú của vua là Hồng Sâm mang các tặng vật tới nhà của Trần Tiễn Thành ban cho. Sử gia nhà Nguyễn khen Trần Tiễn Thành là người trung thực, làm quan thanh cần. Chỉ chừng đó lời cũng đủ nói lên ông là người có uy tín đến mức độ nào đối với triều đình. Các bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ cũng nhờ tay ông chuyển cho vua Tự Đức.
190 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Trần Tiễn Thành đã nhận xét về Nguyễn Văn Tường là người có tài và có mưu lược. Chính ông đã tiến cử Tường với vua Tự Đức. Người tiến cử mình rất quan trọng, biết bao người có tài mà không được ai tiến cử nên cuộc đời rồi cũng mai một. Trường hợp Nguyễn Văn Tường được hai người có uy tín, có công lao với triều đình tiến cử, thật là điều may mắn. 3. BƯỚC ĐƯỜNG CÔNG DANH. TỪ TRI HUYỆN CAM LỘ ĐẾN THƯỢNG THƯ PHỤ CHÍNH ĐẠI THẦN: TỘT ĐỈNH DANH VỌNG! Bước ra đời, có biết bao trở ngại tranh chấp trên bước đường công danh, do đó được người trên tiến cử, được vua biết mặt, chúa biết tên là điều rất quan trọng. Sau khi đậu Cử Nhân năm Canh Tuất 1850, Nguyễn Văn Tường được bổ nhiệm chức Tri Huyện Cam Lộ, thuộc tỉnh Quảng Trị. Đó là một huyện miền núi, đất rộng, người thưa, nguồn rừng là chính, đa số là dân thiểu số, sống rải rác từ biên giới Lào cho đến vùng núi Quảng Trị. Đất vùng này là một giãi đất đỏ rất tốt. Từ chỗ am hiểu địa thế vùng này mà về sau ông đã nghĩ đến lập chiến khu Tân Sở (vùng Cùa, Ba Lòng thuộc Quảng Trị) để chống Pháp. Từ Cam Lộ (xưa gọi là Thành Hóa, sau tách ra thành hai huyện Hướng Hóa và Cam Lộ), ông được trở về Huế giữ một chức vụ nhỏ tại Bộ Hình. Tại đây, ông được Trần Tiễn Thành đề bạt với vua Tự Đức nên chỉ hơn một năm sau ông được đi làm Án Sát tỉnh Quảng Nam rồi về lại Thừa Thiên giữ chức Phủ Doãn, kiêm khuyến nông hai tỉnh Thừa Thiên Quảng Trị. Thời nhà Nguyễn, làm quan ở xa mà được về tỉnh Thừa Thiên là chuẩn bị vào triều đình..., con đường công danh thật tươi sáng nhưng rủi ro cho ông là trong lúc ngồi ghế Phủ Doãn Thừa Thiên thì xảy ra vụ Hồng Bảo, anh vua Tự Đức âm mưu với Đoàn Hữu Trưng, Đoàn Tư Trực, người làng An Truyền, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên, cấu kết với những người phu thợ xây Khiêm Lăng để làm cuộc đảo chính lật đổ vua. Cuộc đảo chính vào giờ chót bất thành, điều mà không ai ngờ được, vì quân của Hồng Bảo đã đột nhập vào tận cung điện nhà vua rồi. Vụ án Hồng Bảo liên quan đến nhiều người... Trước hết là cả nhà Hồng Bảo bị bắt, bị tù, sau đến anh em họ
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 191 Đoàn bị xử tử, người họ Đoàn phải trốn tránh lên tận vùng núi phía Bắc, sống nương nhờ người họ Đèo (Thái). Việc xảy ra trong phạm vi tỉnh Thừa Thiên là nơi Nguyễn Văn Tường đang lãnh trách nhiệm, do đó ông bị mất chức Phủ Doãn và trở về làm Tri Huyện Cam Lộ. Thời gian này ngoài Bắc có loạn, thổ phỉ nổi lên khắp nơi. Năm thứ 20 (đời Tự Đức, 1867), Trần Tiễn Thành dâng sớ xin vua Tự Đức cho đặt Nha Kinh Lược tại Hà Nội và Bình Định, cử các quan vào đó để lo việc ổn định tình hình. Các ông Phan Khắc Thận, Thân Văn Nhiếp, Đào Trí, Phạm Chi Hương được cử vào Nha đó. Vua chấp thuận. Lúc bấy giờ Trần Tiễn Thành đang làm Thượng Thư Bộ Binh, thấy Nguyễn Văn Tường có cơ mưu nên đề nghị cho ông ra Bắc làm Tán Lý Quân Vụ để lo dẹp loạn. Ở trong Nam thì quân Pháp đánh chiếm và cai trị toàn cõi Nam Kỳ. Triều đình bận đối phó với tình hình loạn lạc ngoài Bắc, lại bận đối phó với quân Pháp từ trong Nam kéo ra Bắc, mưu chiếm Bắc Kỳ, sau khi họ ổn định được Nam Kỳ. Năm 1873, thương nhân Pháp là Jean Dupuis lộng hành ở Bắc Kỳ, gây ra cuộc đụng độ với lực lượng Việt Nam tại địa phương... Việc rắc rối khiến vua Tự Đức phải cử phái đoàn vào Sàigòn dàn xếp với Pháp, vì thế Nguyễn Văn Tường được gọi về Huế để cùng Lê Tuấn đi Sàigòn thương thảo với Pháp. Chủ tâm của Pháp lúc này là tìm cách gây sự để có thể dùng quân đội đánh chiếm thành Hà Nội. Công việc ngoại giao rất là rắc rối. Nguyễn Văn Tường là người lý luận giỏi, có tài xoay xở trong tình thế khó khăn. Nhờ có công giải quyết những vụ rắc rối tại Miền Bắc, nhất là khi ông cùng Philastre từ Sài Gòn ra Bắc sau khi thành Hà Nội thất thủ, quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc phục kích giết Francis Garnier, Đại Úy Pháp tại Cầu Giấy. Philastre tức giận đòi bỏ về Sàigòn xin lệnh Chính Phủ Pháp chứ không chịu thương thuyết. Nguyễn Văn Tường đã thuyết phục được Philastre tiếp tục đến Hà Nội, thuận trả thành trì cho Việt Nam, để bàn việc ký kết hòa ước. Hai ngày 7-1-1874 và 6-2-1974, Pháp chịu rút quân. Hòa ước Giáp Tuất, 1874, ký kết giữa Nguyễn Văn Tường và Philastre đã đưa Tường lên chức Thượng Thư Bộ Hình, kiêm Thương Bạc và được sung vào Cơ Mật Viện. Vua Tự Đức thực sự đã chú ý đến tài ba của ông trong các công tác
192 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Cổng vào Cơ Mật Viện. Nội Thất Điện Thái Hòa.
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 193 ngoại giao với Pháp. Chính vì sự tín nhiệm của vua mà trong một thời gian ngắn, Nguyễn Văn Tường đã tiến lên địa vị tột đỉnh danh vọng, giữ chức Thượng Thư và sung vào Cơ Mật Viện, đó là cơ quan tối cao bên cạnh nhà vua để quyết định mọi việc hệ trọng đến vận mệnh quốc gia. Cũng chính trong chức vụ này mà Nguyễn Văn Tường đã bị dư luận thời bấy giờ cho rằng có âm mưu cướp ngôi vua. Câu chuyện Nguyễn Văn Tường là con rơi của vua Thiệu Trị có lẽ đã được sáng tác vào thời kỳ này và biết đâu lại nằm trong âm mưu của Nguyễn Văn Tường. 4. VỤ TỨ NGUYỆT TAM VƯƠNG Ngày 16 tháng 6 năm Quý Mùi (tức 19-7-1883), vua Tự Đức băng hà, thọ được 54 tuổi, ở ngôi được 36 năm. Vua Tự Đức không có con để nối dòng, đó là một trong những đề tài mà phe đối lập với vua, ủng hộ Hồng Bảo, anh vua, thường khai thác để chống lại vua. Họ lên án vua không phải là con vua Thiệu Trị. Họ cho rằng dòng dõi nhà Nguyễn vốn đông con, không lẽ vua Tự Đức đã có hàng trăm bà vợ mà vẫn không có con được? Họ cho rằng việc chọn vua Tự Đức kế vị vua Thiệu Trị là do âm mưu của Trương Đăng Quế, Phụ Chính Đại Thần, Cố Mạng Lương Thần dưới triều vua Tự Đức. Vợ Trương Đăng Quế là chị em ruột với bà Từ Dũ (Phạm Thị Hằng), mẹ vua Tự Đức, dòng họ Phạm Đăng ở Gò Công. Bà Từ Dũ (Phạm Thị Hằng) là con gái của ông Phạm Đăng Hưng, một trong những Khai Quốc Công Thần thời Gia Long. Nhờ thế lực của bên ngoại mà Hồng Nhậm (Tự Đức) được chọn kế vị vua Thiệu Trị thay vì người được chọn là Hồng Bảo, con trưởng của Thiệu Trị. Đó là một điều bí mật, thâm cung bí sử của nhà Nguyễn mà cho đến nay chưa ai có thể chứng minh được sự thật. Họ cho rằng sở dĩ vua Tự Đức không có con là vì vua không bởi dòng máu của họ Nguyễn mà ra. Tất nhiên những dư luận đó đã đến tai vua. Tình hình đất nước dưới triều vua Tự Đức cũng làm cho nhà vua hết sức đau xót, lương tâm luôn luôn bị cắn rứt bởi những thiên tai, những vụ nổi loạn, những cảnh nồi da xáo thịt. Vua đã từng bị Cao Bá Quát, Nguyễn Hàm Ninh làm
194 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Ảnh vẽ Dực Tông Anh Hoàng Đế (tức vua Tự Đức).
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 195 thơ mỉa mai chuyện vua bỏ tù anh ruột là Hồng Bảo... (Bài thơ Vịnh cái lưỡi của Nguyễn Hàm Ninh). Đang khi xây dựng Khiêm Lăng thì có giặc Chày Vôi do Đoàn Hữu Trưng, Đoàn Tư Trực cấu kết với đám phu thợ xây lăng vua nổi loạn, ủng hộ Hồng Bảo làm cuộc đảo chính tại kinh thành. Mặc dù có sự đe dọa từ bên trong và bên ngoài nhưng vua vẫn cho tiếp tục xây lăng. Khi còn sống, vua thường đến Khiêm Lăng để nghỉ ngơi, ngâm thơ, uống rượu, cùng các quan đàm đạo việc nước. Vua xem lăng như nhà ở của mình khi còn sống và khi đã qua đời. Vua mang mặc cảm là người vô tự, không có con nối dòng, đó là một trong ba điều bất hiếu theo quan niệm của Nho giáo. Vô tự lại là điều bất hiếu lớn nhất. Vua đã biên soạn bài văn để khắc vào bia đá và qua đó gởi gắm tâm sự của mình, giải bày với tổ tiên, với hậu thế. Vì không có con nên khi còn sống vua đã chọn ba người cháu làm con nuôi. Người thứ nhất là Ưng Chân, con Thoại Thái Vương (tên thật là Hồng Y hay Hường Y, con thứ tư của vua Thiệu Trị, em ruột vua Tự Đức). Ưng Chân được bà Trang Ý (tên thật là Vũ Thị Duyên, con của Thượng Thư Vũ Xuân Cẩn), Chánh Phi của vua Tự Đức nuôi và cho học tại nhà học được đặt tên là Dục Đức. Do đó, người ta thường gọi là Hoàng Trưởng Tử Dục Đức. Khi lớn lên, Ưng Chân được phong tước Thoại Quốc Công. Người thứ hai là Ưng Kỵ hay Ưng Đường, con của Kiên Thái Vương (tên thật là Hồng Cai hay Hường Cai, con thứ 26 của vua Thiệu Trị, em ruột Tự Đức), do bà Bằng Phi (tên thật là Nguyễn Thị Cẩm, con của Tổng Đốc Nguyễn Đình Tân) nuôi và cho học ở nhà học lấy tên là Chánh Mông. Ông được phong là Kiên Giang Quận Công. Người thứ ba là Ưng Đăng, con của Kiên Thái Vương, được bà Học Phi (tên thật là Nguyễn Thị Hương), vợ thứ ba của Tự Đức nuôi và được học ở nhà học có tên là Dưỡng Thiện. Bà Học Phi thường được gọi là Đệ Tam Giai Phi, còn trẻ, đẹp nên rất đựợc vua Tự Đức quý mến. Nhờ vậy mà Ưng Đăng cũng được vua Tự Đức thương yêu hơn cả. Ưng Đăng và Ưng Kỵ là anh em ruột, đều là con của Kiên Thái Vương.
196 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng a. Vua Dục Đức - Bà Học Phi có thế lực bên cạnh vua Tự Đức, muốn đưa Dưỡng Thiện lên ngôi nhưng khi Tự Đức lâm bệnh nặng, gần chết thì Dưỡng Thiện (Ưng Đăng) còn nhỏ, mới 14 tuổi. Hơn nữa việc bỏ con trưởng lập con thứ ở trong triều Nguyễn đã gây nên nhiều cuộc tranh chấp, chính vua Tự Đức cũng ở trong trường hợp đó vì thế vua đã để di chiếu lại cho hoàng trưởng tử Ưng Chân tức Dục Đức nối ngôi. Tự Đức cũng biết Dục Đức là người có tư tưởng phóng khoáng, cởi mở nên không được lòng các quan, nhất là phe bảo thủ nhưng chọn Dưỡng Thiện (Ưng Đăng) thì e ngại vì hãy còn nhỏ tuổi. Cuối cùng vua đành viết vào di chiếu mấy câu có ý ngăn ngừa tính phóng túng của Dục Đức, không ngờ chính những lời răn bảo đó lại là cái cớ để cho hai quan phụ chính là Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết lật đổ vua sau này. Đoạn văn đó gồm có 41 chữ như sau: “ĐẢN VI HỮU MỤC TẬT, BÍ NHI BẤT TUYỆT, CỮU KHỦNG BẤT MINH, TÍNH PHẢ HIẾU DÂM, DIỆC ĐẠI BẤT THIỆN, VỊ TẤT NĂNG ĐƯƠNG ĐẠI SỰ. QUỐC HỮU TRƯỞNG QUÂN, XÃ TẮC CHI PHÚC, XẢ THỬ, TƯƠNG HÀ DĨ TAI!” (Dịch nghĩa: Vả lại có bệnh đau mắt, tuy kín đáo mà không lành dứt được, sợ lâu ngày sẽ không trông rõ. Tính tình lại hiếu dâm, đó là điều đại bất thiện, chưa chắc đã gánh vác nổi việc lớn nhưng nước có vua lớn tuổi là phước cho xã tắc, nếu bỏ người ấy đi thì lấy ai mà thay thế...). Khi Tự Đức mất thì Ưng Chân đã 31 tuổi rồi nhưng Tự Đức vẫn chọn 3 vị phụ chính để giúp vua mới, đó là: - Trần Tiễn Thành, Đệ Nhất Phụ Chính Đại Thần, ngoài 70 tuổi. - Nguyễn Văn Tường, Đệ Nhị Phụ Chính Đại Thần, ngoài 60 tuổi. - Tôn Thất Thuyết, Đệ Tam Phụ Chính Đại Thần, ngoài 50 tuổi. Những điều nhận xét về Dục Đức trong bản di chiếu theo chúng tôi là hơi quá đáng. Điểm thứ nhất là “HỮU MỤC TẬT” có bệnh đau mắt..., thật ra đó là bệnh cận thị của Dục Đức. Con cháu của ông sau này là Thành Thái, Duy Tân đều mang kính cận thị nhưng có
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 197 ai phê bình hai ông vua đó về chuyện mắt kém hay không? Trên thế giới này có biết bao nhà trí thức, bác học, các nhà lãnh đạo cũng bị mắt cận thị. Lý do đó chưa phải là lý do chính đáng. Mắt cận thị vẫn làm việc lớn được. Điều thứ hai là tính hiếu dâm. Thử hỏi các bậc vua chúa có ông nào là không có hàng chục hàng trăm bà vợ, biết bao cung tần mỹ nữ... nhất là các vua nhà Nguyễn như Minh Mạng, Thiệu Trị có hàng trăm người con. Đối với vua chúa đó là chuyện bình thường. Trong xã hội phong kiến, chế độ quân chủ, không ai thắc mắc chuyện phòng the của vua. Làm vua thì đương nhiên có các quyền đó. Chính vua Tự Đức cũng có hàng trăm bà vợ, ngoài 50 tuổi rồi còn tuyển thêm người đẹp vào cung. Bà Học Phi là một trong những người vợ trẻ đẹp khi vua đã già. Vậy mà có ai chê trách chuyện đó đâu. Vậy điều vua Tự Đức không ưa nơi người con của mình là gì? Đó chính là vì tính phóng khoáng, cởi mở, không chịu gò bó trong bốn bức tường luân lý của Nho học và muốn tìm hiểu thêm về người Pháp cũng như văn minh văn hóa Tây Phương nên Dục Đức đã từng giao du với những người Tân học như một số các Linh Mục thời đó và với cụ Thân Trọng Huề, Đào Nguyên Phổ, Nguyễn Trường Tộ... Đó là điều mà đa số các quan trong triều lấy làm chướng tai gai mắt. Tất nhiên đó cũng là điều mà hai quan phụ chính Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết không ưa. Họ có quyền nghĩ rằng vua mới sẽ không hoàn toàn thuộc về họ, không hoàn toàn vâng theo ý họ. Vua mới sẽ có những đổi mới, biết đâu sẽ làm cho địa vị của họ trong triều đình sẽ lu mờ dần. Phe Tân Học sẽ dần dần thắng thế. Chính những người bảo thủ, với tinh thần Nho Học cực đoan này đã bàn ra nói vào khiến vua Tự Đức không chịu mạnh dạn thi hành những điều trần của Nguyễn Trường Tộ và của Linh Mục Đặng Đức Tuấn ở Quy Nhơn. Vua Tự Đức vốn đã sùng thượng Nho Học lại nghe các quan bàn bạc như thế thì làm sao mà dám đổi mới được. Cái nguyên do lật đổ Dục Đức theo chúng tôi nghĩ là vì lý do đó, trong lời buộc tội để truất phế Dục Đức, hai ông Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết cũng đã nói ra ý đó.
198 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Chân dung Tôn Thất Thuyết.
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 199 Cũng vì 41 chữ nói về tật xấu của Dục Đức được ghi trong di chiếu mà hôm trước lễ tấn tôn, Dục Đức đã mời cả ba ông quan phụ chính vào cung để bàn bạc. Vua cũng có yêu cầu ba ông đừng đọc đoạn văn đó hoặc chỉ đọc nhỏ để đủ cho một mình vua nghe mà thôi và cả ba ông đều đồng ý. Tôn Thất Thuyết bấy giờ là Thượng Thư Bộ Binh, nắm lực lượng quân sự trong tay. Nguyễn Văn Tường là Thượng Thư Bộ Hộ, nắm kho tàng, tiền bạc của nhà nước. Trần Tiễn Thành là Thượng Thư Bộ Lại, nắm bộ máy hành chánh bổ nhiệm các quan. Một khi hai ông Tường và Thuyết cấu kết với nhau để âm mưu lật đổ vua mới thì họ chiếm đa số trong cơ mật viện là cơ quan tối cao quyết định mọi việc hệ trọng của quốc gia. Hôm lễ tấn phong, Nguyễn Văn Tường giả đau không đến dự nhưng sau đó đến chậm và đứng lẫn vào trong các quan, không ai để ý. Trần Tiễn Thành là người đọc di chiếu, đến đoạn có 41 chữ như nói trên thì hạ thấp giọng xuống cố ý để cho vua nghe mà thôi. Bỗng nghe tiếng ông Nguyễn Văn Tường từ phía các quan vọng lên, yêu cầu ngưng đọc và bắt bẻ tại sao phụ chính Trần Tiễn Thành lại không đọc đoạn văn đó. Trần Tiễn Thành trả lời vì tuổi già, cổ thường hay bị đờm nên đọc hơi nhỏ tiếng. Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết đòi cử người khác đọc lại di chiếu cho rõ ràng. Người được chọn đọc thay cho Trần Tiễn Thành là Nguyễn Trọng Hợp, một trong những vị Thượng Thư lớn tuổi lúc bấy giờ, nhưng không có trong Cơ Mật Viện và không phải là Phụ Chính. Vốn có chủ mưu phá cuộc lễ tấn phong vua Dục Đức nên hai ông Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết tuyên bố hủy bỏ việc tấn phong và mời các quan (thuộc phe hai ông) về nhà riêng họp bàn nên lập Dục Đức hay nên phế, nghĩa là phải xét lại di chiếu. Một số các quan vì sợ nên theo phe hai ông, một số khác là người của hai ông từ trước nên công khai ủng hộ hai ông. Ba hôm sau lễ tấn phong bất thành, hai ông Tường, Thuyết mời các quan họp đại triều. Nguyễn Văn Tường đưa ra một kiến nghị đòi truất phế Dục Đức với những lời buộc tội như sau: - Dục Đức đã tự ý cắt bỏ một đoạn gồm 41 chữ trong di chiếu có nội dung bất lợi cho ông.