The words you are searching are inside this book. To get more targeted content, please make full-text search by clicking here.
Discover the best professional documents and content resources in AnyFlip Document Base.
Search
Published by lanthicung, 2023-06-16 22:46:36

ThuyenAiDoiBenVanLau web

ThuyenAiDoiBenVanLau web

200 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng - Dục Đức đã dùng Linh Mục Nguyễn Hữu Thơ làm thư ký riêng và đưa ông này vào nội cung làm việc với vua. - Trong lúc quan tài của Tiên Đế còn quàng tại cung mà Dục Đức không tỏ ra cung kính, đau buồn lại thờ ơ với tang lễ, bằng chứng là ông đã cho đem vào nội cung một chiếc áo xanh. - Ông đã thông gian với các phi tần của tiên đế. Bản án được tuyên bố: vua phải bị truất phế và bị tội tử hình nhưng được hưởng đặc ân là cầm cố tại nhà riêng, không được ra khỏi nhà. Bản án đó cũng được trình cho bà Từ Dũ mẹ vua Tự Đức để xin ý kiến. Bà Từ Dũ lúc đó gần 80 tuổi rồi, hai ông Tường và Thuyết bảo sao làm vậy, không thể chống lại được, ngay chính bản thân nhà vua cũng không làm gì được cho nên dù có chống cũng vô ích. Nhưng không phải là không có người chống: trước hết là Trần Tiễn Thành, với trách nhiệm của một vị đại thần cao niên và là một bậc trung thần trải qua nhiều năm được tin cậy từ thời Minh Mạng đến Tự Đức và được tiên đế trao trách nhiệm Đệ Nhất Phụ Chính Đại Thần. Ông thấy lương tâm mình không thể chấp nhận bản án vô lý đó được. Những tội được kể ra ở đây để quy kết vào tội bất hiếu và đề nghị bản án tử thì thật quá vô lý. Những điều nêu ra rất mơ hồ: việc đem vào cung một chiếc áo màu xanh trong những ngày tang lễ. Bất cứ ai cũng có thể mang vào một cái áo như vậy rồi đổ tội cho vua mà dù trong cung có chiếc áo xanh thật đi nữa thì việc đó cũng không có gì quan trọng để truất phế vua và giết vua. Chuyện thứ hai là thông dâm với các cung nữ tiên triều, đó cũng là chuyện nói mà không có bằng chứng, tưởng nên che giấu đi thì hơn. Chuyện đó cũng chưa chắc đã có thật. Điều thứ ba là chuyện cắt bỏ một đoạn trong di chiếu, việc đó như trình bày ở trên, không hẳn là cắt bỏ mà chỉ là đọc nhỏ lại, vừa đủ cho vua nghe mà thôi. Chính vua cũng có bàn trước với hai ông và được hai ông đồng ý trước khi tổ chức lễ tấn phong. Điều quan trọng trong lời buộc tội nói lên thâm ý của hai ông Tường và Thuyết về chủ trương kỳ thị Tôn Giáo, chống đổi mới của hai ông, đó là việc dùng Linh Mục Nguyễn Hữu Thơ trong chức vụ thư ký riêng của vua Dục Đức.


Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 201 Thiết tưởng cũng cần biết qua về vai trò của một số Linh Mục Việt Nam cộng tác với triều đình dưới thời vua Tự Đức: vua đã mời một số Linh Mục cộng tác trong các chức vụ dịch thuật, thông ngôn cho phái đoàn Việt Nam hội đàm với Pháp, Tây Ban Nha hoặc coi việc buôn bán thuế má tại các thành phố Hải Phòng, Hải Dương, Thanh Hóa với người ngoại quốc, trong đó có Linh Mục Nguyễn Hoằng (ở Vinh, phía Bắc sông Gianh), Linh Mục Đặng Đức Tuấn (Quy Nhơn), Linh Mục Nguyễn Ngọc Tuyên (Quảng Bình, Nam sông Gianh thuộc Giáo Phận Huế) và Linh Mục Nguyễn Hữu Thơ (Mỹ Hương, Quảng Bình, thuộc giáo phận Huế). Linh Mục Tuấn ở Quy Nhơn bị phát hiện là đạo trưởng nên bị bắt, ông đã viết một điều trần dâng lên vua Tự Đức, nội dung trình bày về đạo Công Giáo không phải là đạo không thờ vua giúp nước và bất hiếu với cha mẹ ông bà tổ tiên..., sau đó trình bày những điều hiểu biết của mình về tình hình đất nước và đề nghị một chương trình cải cách để cứu nước. Nhờ bản điều trần viết bằng chữ Hán của Linh Mục Tuấn nên vua hiểu ông là người có tài, có học, từ đó vua dùng ông trong công tác thông dịch, thông ngôn cho triều đình. Linh Mục Hoằng ở Vinh là người thông thái đã từng làm cuốn lịch đối chiếu 2.000 năm dương lịch - âm lịch, được vua Tự Đức biết tiếng, mời vào cộng tác với triều đình. Hai Linh Mục Tuấn và Hoằng đều có dịp du học tại Đại Chủng Viện Pénang (Mã Lai), nơi đào tạo các Linh Mục toàn vùng Đông Nam Á và cả cho người Trung Hoa, Nhật Bản vào cuối thế kỷ 19. Các ông được học về Triết Học, Thần Học, luật Công Giáo, Quản Trị và Sinh Ngữ, Cổ Ngữ. Các ông biết nhiều thứ tiếng như La-tinh, Pháp, Anh, Tây Ban Nha, Trung Hoa và chữ Nho. Ông Trương Vĩnh Ký, một nhà thông thái của Việt Nam thế kỷ thứ 19 cũng xuất thân từ trường này. Linh Mục Nguyễn Hữu Thơ, người được đề cập đến trong bản án Dục Đức, sinh năm 1835 tại làng Mỹ Hương, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, sau vào ở làng Cao Xá, huyện Gio Linh, Quảng Trị cùng với gia đình. Ông được Giám Mục Cuénot (Đức Cha Thể) ở Quy Nhơn cho đi du học ở Chủng Viện Pénang (Mã Lai), sau đó theo Đức Cha Sohier (Đức Cha Bình) sang Pháp học và chịu chức Linh Mục 15-4-


202 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Điện Thái Hòa, Thành Nội, Huế. Cửu Đỉnh.


Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 203 1865 tại Đại Chủng Viện Mans. Từ 1867-1873 ông trở về Huế làm cha xứ Kim Long và cộng tác với Giám Mục Sohier. Từ 1862, do hòa ước ký kết giữa Việt Nam và Pháp, vua Tự Đức bãi bỏ lệnh cấm đạo, triều đình cần người biết tiếng Pháp để làm thông dịch trong các cuộc thương thuyết giữa Việt Nam với Pháp nên một số Linh Mục được mời ra làm việc cho triều đình trong đó có Linh Mục Nguyễn Hữu Thơ (1873). Ông đã từng giữ chức Tùy Biện (Thư Ký trong phái đoàn Việt Nam đi vô Sàigòn), Tham Biện Thương Chánh ở Hải Phòng và Hải Dương. Lợi dụng cơ hội đó, ông cũng như các Linh Mục khác đã cố gắng làm cho vua hiểu về đạo Công Giáo. Cùng với Nguyễn Trường Tộ và nhiều người Công Giáo chân chính khác, ông đã đề nghị với vua nhiều chương trình cải cách để có thể giúp Việt Nam giữ vững độc lập nhưng tâm lý các quan lúc bấy giờ vì quá tôn trọng Nho Học một cách hẹp hòi, mù quáng nên rất ghét những người Tây Học, vì thế ông đã phải xin từ chức trở về Huế để lo việc Đạo. Từ đó ông không cộng tác với triều đình Huế nữa. Hoàng tử Ưng Chân (tức Dục Đức sau này) thường đến nhà ông nhờ chỉ bảo thêm tiếng Pháp để tìm hiểu văn minh, văn hóa Tây Phương. Sau khi Tự Đức mất, Dục Đức chọn ông làm thư ký riêng, xem như một thứ cố vấn thân cận. Dục Đức vốn biết tiếng Linh Mục Thơ là người thông thái đương thời lại đã từng đi đây đi đó, từ ngoài Bắc cho tới trong Nam, am hiểu cả Hán Học, Tây Học. Linh Mục Thơ cũng đã từng đi ngoại quốc nên hiểu rõ kẻ thù... Một người như thế rất cần cho ông vua trẻ, có tinh thần tiến bộ. Dục Đức mới lên, chưa làm được việc gì đã bị lật đổ. Thật đáng tiếc cho Việt Nam. Nếu sau này người ta ca tụng Thành Thái, Duy Tân là người yêu nước chống Pháp... Tại sao chúng ta không thử đặt vấn đề Dục Đức cũng là người như thế? Dục Đức là cha của Thành Thái và ông nội của Duy Tân. Dục Đức rất thích nghiên cứu các vấn đề khoa học cũng như Thành Thái thích chế súng, chế đạn, Duy Tân thích máy móc. Dục Đức thích tiếp xúc rộng rãi với mọi người để tìm hiểu dân tình, để nghe những tiếng nói, tư tưởng tiến bộ. Thành Thái cũng vậy, hay đi ra ngoài tiếp xúc với dân chúng. Tất nhiên, những điều ấy dưới mắt các nhà Nho thủ cựu như hai ông Nguyễn Văn Tường, Tôn


204 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Thất Thuyết là có tội. Cũng vì sợ vua lớn tuổi, khó sai bảo, về sau sẽ mất quyền nên hai ông tìm cách truất phế vua. Đó là âm mưu đã có từ trước. Vốn đã bị bệnh dị ứng, nên gặp hoàn cảnh là có phản ứng ngay. Đó là căn bệnh gốc của hai ông Tường, Thuyết. Dòng họ Nguyễn vốn đã có kinh nghiệm về việc quyền thần lấn át vua, làm cho hoàng tộc điêu đứng. Dưới thời Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát, sau khi Chúa mất, Trương Phúc Loan đổi di chiếu, truất phế Chương Võ Nguyễn Phúc Luân là cha của Gia Long, cầm tù và ám hại ông này, rồi lập em út của ông là Nguyễn Phúc Thuần, 16 tuổi lên ngôi, các vị đại thần bất đồng ý kiến với Trương Phúc Loan như Trương Văn Hạnh, Lê Cao Kỷ đều bị giết, một số hoàng thân như Tôn Thất Cúc, Tôn Thất Dục bị hại. Chính vì kinh nghiệm đó mà Gia Long không truyền ngôi cho cháu nội là con của Hoàng Tử Cảnh theo chính thống (Hoàng Tử Đảm lúc đó đã ngoài 30 tuổi), để tránh sự lộng hành của các công thần. Tự Đức khi chọn Ưng Chân nối ngôi cũng đã nghĩ đến khía cạnh đó, vì Dục Đức đã trên 30 tuổi rồi. Trong di chiếu, có đoạn Tự Đức công nhận Dục Đức là người học rộng... Thế tất Dục Đức hẳn có đủ điều kiện làm vua, chẳng thua kém gì ai. Tự Đức đã chê Chánh Mông (tức vua Đồng Khánh sau này) là con nuôi thứ hai nhiều điều... và cũng không để cho Dưỡng Thiện nối ngôi vì quá nhỏ tuổi, học hành chưa tới đâu. Ngoài Trần Tiễn Thành lên tiếng chống đối vụ truất phế Dục Đức, vẫn còn có một lương tri thứ hai lên tiếng, đó là Tiến Sĩ Phan Đình Phùng, Ngự Sử dưới triều Tự Đức. Phan Đình Phùng tuyên bố Dục Đức mới lên, chưa có tội gì, không thể truất phế được. Nói như thế tức là ông đã mặc nhiên phủ nhận những lời buộc tội trên là vô giá trị. Phan Đình Phùng bị đánh đòn, bị cách chức, bị xóa tên trong danh sách những người đậu Tiến Sĩ, bị giam mười hai ngày trong ngục, sau đó bị đuổi về quê. Sau này, Phan Đình Phùng đã trở nên một nhà ái quốc, một người lãnh đạo phong trào kháng Pháp năm 1885. Vận động được đa số các quan ký tên vào kiến nghị truất phế vua rồi Tường và Thuyết bèn giam vua vào Dục Đức Đường chờ đợi xây xong nhà ngục kiên cố sẽ đưa vua đến


Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 205 giam ở đó. Trong ngục thất, Thuyết ra lệnh không cho vua ăn uống, bắt nhịn đói, nhịn khát để cho chết nhưng sau bảy ngày, thấy vua còn sống, Thuyết bèn sai một người thân tín mang thuốc độc đến nói với vua rằng: Vua uống đi sẽ khỏe ngay nhưng vua không chịu uống vì biết đó là thuốc độc. Viên quan hầu không nỡ cạn tình nên đã đem thuốc trở về và bị Thuyết mắng chưởi thậm tệ, bắt mang thuốc trở lại ép vua phải uống. Khi đến nơi thì vua đã chết rồi. Có người cho rằng vua chết đói chứ vua chưa uống thuốc độc! Ban đêm, lính gác đến báo cho Tôn Thất Thuyết hay tin vua đã chết ở trong ngục. Thuyết liền ra lệnh cho hai tên lính lấy chiếu bó xác vua lại, bí mật mang đi chôn lúc nửa đêm. Khi chúng đến một vùng đất hoang gần chân núi Ngự Bình, thuộc làng An Cựu Tứ Tây, chúng thấy một cái huyệt ai đã đào sẵn, bèn ném xác vua xuống đó, lấp đất sơ sài rồi bỏ chạy. Hôm đó, trong làng có người ăn mày chết, người ta đem chôn ban đêm, không ngờ người ăn mày lại chôn chung một chỗ với vua. Hôm đó là ngày 6-10-1883. Lúc đó, vợ con vua cũng bị giam trong ngục nên không hay biết gì về tin vua đã chết. Chuyện đó được giữ bí mật cho đến khi Tôn Thất Thuyết thất bại, bỏ chạy vào sáng 5-7-1885 (23 tháng 5 Ất Dậu), thì mọi người mới biết. Khi vua Thành Thái lên ngôi, cho tìm tông tích để xây lăng cho vua cha, nơi đó gọi là An Lăng. Người ta không phân biệt được đâu là hài cốt của vua nên tên ăn mày tốt phước được nằm chung với vua trong lăng đó. Không có một lương tâm nào chấp nhận được cách đối xử giữa người với người một cách dã man như thế, huống chi đây lại là bậc vua chúa. Không ai có thể viện dẫn lý do này hay lý do khác, kể cả lý do chống xâm lăng, chống thực dân để bênh vực cho hai ông Tường và Thuyết được. (Về ngày chết của vua Dục Đức, chúng tôi dựa vào sách “Quelques Précisions sur une période troublée de l’ Empire d’Annam” của A.Delveaux và Việt Sử Tân Biên của Phạm Văn Sơn cũng đã trích dẫn nhiều tài liệu của Pháp thì cho rằng Dục Đức chết ngày 6-10-1883 nhằm vào ngày 6 tháng 9 âm lịch Quý Mùi. Theo Bảo Thái (Một thời Hoàng Tộc, 1999) và Trần Gia Phụng (Các cuộc đảo chánh Cung Đình, 1998) dựa theo tài liệu của Nguyễn Phước Tộc, thì ngày chết của Dục Đức là


206 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Vua Thành Thái (lúc đăng quang).


Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 207 6 tháng 9 âm lịch nhưng không phải là năm Quý Mùi (1883) mà là năm Giáp Thân (1884). Nếu là năm Quý Mùi thì ngày 6 tháng 9 âm lịch đúng vào 6-10-1883; nếu là năm Giáp Thân thì ngày 6 tháng 9 âm lịch nhằm vào ngày 24-10-1884. Theo các lời thuật lại trong các sách báo và trong dân gian thời đó đã được truyền lại mà nhiều người ở Huế còn nhớ thì sau khi vua Tự Đức băng hà vào ngày 16 tháng 6 âm lịch năm Quý Mùi (19-7-1883) vua Dục Đức kế vị được 3 ngày thì bị truất phế và bị bắt giam, trong vòng 3 tháng sau thì vua chết trong ngục. Nếu thuyết đó là đúng thì từ ngày vua Tự Đức qua đời cho đến ngày Dục Đức chết 6 tháng 9 Quý Mùi (6-10-1883) chưa đầy 3 tháng. Nếu vua Dục Đức chết vào năm Giáp Thân (24- 10-1884) thì từ ngày vua bị truất phế và bị bắt giam cho đến chết phải một năm ba tháng (hơn 15 tháng). Chúng tôi xin đưa ra nghi vấn này để cho các nhà nghiên cứu hoặc quý vị trong hoàng tộc có thể xem xét lại...). b. Vua Hiệp Hòa Sau khi truất phế vua Dục Đức rồi, hai ông Tường và Thuyết nhân danh bà Từ Dũ, mẹ vua Tự Đức, buộc ông Hồng Dật, con thứ 29 của vua Thiệu Trị, em út Tự Đức, 36 tuổi lên nối ngôi. Lãng Quốc Công Hồng Dật bấy giờ đang ở nhà riêng tại làng Kim Long, ngay bên cạnh con đường từ Huế đến chùa Thiên Mụ, bên bờ sông Hương. Nhà đó sau này bán cho Giáo Hội Công Giáo để lập nhà tu kín Carmel và cô nhi viện Dục Anh, Kim Long. Khi thấy xa giá, lính tráng và đích thân Tôn Thất Thuyết mang chiếu chỉ của bà Từ Dũ đến mời vào cung thì Hồng Dật rất lo sợ, ông nhất định từ chối không chịu đi. Ông nghĩ đến chuyện Dục Đức mới bị truất phế và bị giam cầm cực hình nên cảm thấy thân phận mình rồi cũng sẽ như vậy. Tôn Thất Thuyết thấy nói mãi cũng không xong, vốn nóng tính, ông đứng dậy nói thẳng vào mặt Hồng Dật: “Ông không chịu lên xe vào cung thì chúng tôi sẽ có cách buộc ông phải đi”. Nói xong ông ra lệnh cho lính thị vệ áp bức Hồng Dật lên xe. Vua ngồi trên xe khóc tức tưởi. Lễ phong vương được tổ chức đúng vào hôm 27 tháng 6 Quý Mùi tức 30-7-1883, tuy vào tiết mùa Hè nóng bức nhưng


208 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng bầu trời xứ Huế bỗng u ám nhiều ngày. Nhà vua vốn mê tín, thấy trời đất tối tăm thì lo sợ và đem chuyện đó ra bàn với các Thân Vương, Đại Thần, muốn đổi lại một ngày khác sáng sủa hơn nhưng không ai dám thay đổi quyết định của hai quan phụ chính. Có người đem sách thiên văn đến cho vua. Vua mở ra xem thấy nói màu sắc u ám báo hiệu triều đại của vua không được lâu bền. Cái chết luôn luôn ám ảnh vua. Hôm lễ đăng quang, trong khi đọc chiếu chỉ, có một con quạ đen bỗng từ đâu bay đến đậu ngay giữa sân điện Thái Hòa, mọi người đều thấy quái lạ, lính cầm dáo ra đuổi nó cũng không chịu bay, cứ nhảy chỗ này qua chỗ khác. Vua cho đó là điềm gỡ, suốt ngày hôm đó vua rất buồn. Mọi người thân đến chúc tụng, vua cũng không tỏ ra niềm nỡ. Vua vào cung rồi vẫn chưa chịu đưa gia đình vào, vẫn duy trì phủ đệ ở Kim Long. Vua biết số phận mình thế nào cũng bị nguy hại, nên ra lệnh xuất vàng bạc trong kho báu để sắm sửa cho vợ con một số nữ trang phòng sau này có biến, mọi người có của riêng mà nuôi thân. Hiệp Hòa thấy Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết quá chuyên quyền nên tìm cách chia bớt quyền hành của hai ông. Mặc dù Trần Tiễn Thành bị buộc vào tội cấu kết với Dục Đức sửa đổi di chiếu nhưng chỉ bị phạt giáng hai cấp và vua vẫn cho lưu lại chức Thượng Thư. Vua mời chú ruột là Tuy Lý Vương Miên Trinh và các Hoàng Thân Hồng Hưu, Hồng Phi, Hồng Sâm vào làm việc bên cạnh vua. Các Đại Thần lớn tuổi như Nguyễn Trọng Hợp, Trần Văn Chuẩn cũng được cân nhắc, nhóm này cố vấn cho vua tìm cách lấy lại quyền hành trong tay Tường và Thuyết. Ý của vua là muốn thi hành các hòa ước ký kết với Pháp để tình hình bớt căng thẳng. Nhưng trong lúc đó, hai quan phụ chính Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết lại chủ trương xem hòa ước chỉ là giai đoạn tạm thời, không muốn thi hành và chuẩn bị đánh nhau với Pháp. Khi được tin quân Pháp đi thám sát các cửa biển gần Huế, vua ra lệnh không được gây hiềm khích với Pháp. Pháp đòi thi hành hòa ước và gây áp lực quân sự, đánh chiếm Thuận An. Vua phải cử phái đoàn đến Thuận An thương thuyết với Pháp. Vua bắt các Bộ có việc gì cứ trình thẳng cho vua không qua hai quan phụ chính. Nguyễn Trọng


Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 209 Hợp, Thượng Thư Bộ Lại được phái đi thương thuyết và ký hòa ước 23 tháng 7 Quý Mùi (25-8-1883), chấp nhận sự đô hộ của Pháp tại Bắc Kỳ, ra lệnh cho các lực lượng quân sự của Việt Nam không được hoạt động chống Pháp, để duy trì hòa bình. Vua cho Nguyễn Trọng Hợp làm Khâm Sai Đại Thần, Trần Văn Chuẩn (Thượng Thư Bộ Công) và Hồng Phi (Tham Tri Bộ Lại) làm phó cùng Harmand ra Bắc hiểu dụ dân chúng và quân đội các nơi để thực hiện hòa bình. Trong khi đó, Tôn Thất Thuyết ra lệnh cho Hoàng Kế Viêm tấn công quân Pháp vào ngày 11-9-1883. Tình hình ngoài Bắc càng ngày càng rối. Tại Huế, Tôn Thất Thuyết cho người đi tổ chức một lực lượng bí mật lấy tên là Đội Quân Đoạn Kiết, người ta thường gọi đó là Đảng của Tôn Thất Thuyết... Vua nghe việc đó thì hoảng sợ và hội ý với một số Thân Vương tìm cách loại ông Thuyết. Vì nếu cứ để cho ông Thuyết tùy ý hành động thì hậu quả sẽ vô cùng tai hại, không lường trước được. Từ đó, vua tính kế loại bỏ hai ông Tường và Thuyết. Trước hết vua cho Nguyễn Văn Tường qua làm Thượng Thư Bộ Binh và đưa Tôn Thất Thuyết về thế chỗ ông Tường tại Bộ Lại, mục đích tước bớt binh quyền của Tôn Thất Thuyết. Sau đó, vua nhờ Tuy Lý Vương Miên Trinh là chú ruột của vua liên lạc với Khâm Sứ Pháp tại Trung Kỳ là De Champeaux, mời ông này vào hội kiến với vua tại điện Văn Minh ngày 29-10-1883 mà không cho triều đình biết. Mục đích cuộc hội kiến cũng là để tỏ tình thân thiện, hứa hẹn sẽ thi hành hiệp ước ký kết với Pháp mà thôi. Giữa vua và viên Khâm Sứ Pháp cũng chưa tỏ bày điều gì ngoài thủ tục, nghi lễ ngoại giao. Vua cũng chưa dám nói ra ý định mượn tay người Pháp để loại trừ hai ông Tường và Thuyết. Trong khi đó, vua được tin Tôn Thất Thuyết mở cửa nhà tù, cho những người trọng tội được ra và gia nhập vào đội quân Đoạn Kiết để đi đánh Tây. Tin tức đó làm cho vua lo sợ..., vua bèn bàn kế với những người thân tín trong Hoàng Tộc. Sau đó, vua viết một bức thư, trao cho Hồng Sâm là em con chú của vua mang qua cho Khâm Sứ Pháp ở Huế. Thư để trong cái hộp sơn mài, có đóng dấu của vua. Trước đó, Tuy Lý Vương và Hồng Sâm, Hồng Phi đã dâng mật sớ xin vua loại bỏ hai ông Tường và Thuyết. Một người nội giám trong cung


210 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng tên là Dật đã mách với Nguyễn Văn Tường chuyện đó. Sáng hôm đó, trên đường đi vào cung thì Tường thấy có một chiếc xe từ trong cung đi ra. Tường chặn lại hỏi xe đi đâu có việc gì? Sau đó Tường ra lệnh cho lính lục xét và bắt được thư vua gởi cho Khâm Sứ De Champeaux. Trưa hôm 29-11-1883, Tường và Thuyết ra lệnh đóng hết các cửa thành lại, nội bất xuất, ngoại bất nhập, sau đó mời triều đình họp, buộc tội Hiệp Hòa như sau: - Tham lam công quỹ. - Không chịu nghe lời khuyến cáo của các quan Phụ Chính. - Tư thông với đại diện của Pháp. Vua Hiệp Hòa bị bắt buộc phải viết tờ chiếu thoái vị và nhường ngôi cho con nuôi thứ ba của Tự Đức là Ưng Đăng tức Dưỡng Thiện lên kế vị lấy niên hiệu là Kiến Phước. Vua Hiệp Hòa trở về cung thì triều đình quyết định bản án: vua phải bị tử hình. Hiệp Hòa cứ nghĩ rằng thoái vị là xong và chuẩn bị trở về nhà riêng nhưng sau đó chừng một giờ, tức vào khoảng 3 hay 4 giờ chiều thì Tôn Thất Thuyết sai Ông Ích Khiêm dẫn quân lính vào cửa Hiển Nhơn bắt vua. Quân lính vào tới nhà thấy vua trùm chăn kín, nhắm mắt lại không nói gì. Ai gọi vua cũng không trả lời. Ông Ích Khiêm đưa ra một thanh gươm, một giải lụa và một chén thuốc độc gọi là “tam ban triều điển” yêu cầu vua chọn một trong ba thứ đó. Vua không chịu chọn thứ nào cả. Tôn Thất Thuyết cũng có mặt ở đó để đốc thúc thi hành án lệnh cho mau chóng. Thấy vua không chịu nhận án tử, Thuyết đưa mắt ra hiệu cho lính hành động. Quân lính ùa vào túm lấy tay chân của vua, đè vua xuống, cạy miệng ra, đổ thuốc độc vào. Vua vùng vẫy cự tuyệt nhưng không được. Bọn lính đổ thuốc độc vào miệng, vào tai, vào mũi của vua. Một lúc sau, vua dần dần mê man, bất tỉnh. Quân lính khiêng vua về nhà cũ ở Kim Long, gần bờ sông Hương. Tất cả vợ con vua có mặt ở đó. Khoảng chạng vạng tối thì vua tắt thở. Hôm đó là ngày 30 tháng 10 Quý Mùi (29-11-1883). Tôn Thất Thuyết cấm không cho vợ con vua khóc, bắt phải giữ im lặng. Việc chôn cất vua được diễn ra trong âm thầm lặng lẽ, mục đích cho xong chuyện, không muốn cho


Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 211 dân chúng biết. Vợ con Hiệp Hòa sau đó phải bán nhà cửa, đất đai, dọn đi nơi khác. Số phận của Hồng Sâm Hồng Sâm là người đã viết mật sớ dâng vua xin loại trừ hai ông Tường và Thuyết và là người nhận lãnh sứ mạng đưa thư của vua cho De Champeaux, Khâm Sứ Pháp ở Huế..., đã bị kết tội đồng lõa với vua để bán nước. Hồng Sâm bị bắt ngay khi đang mang thư đi và bị xử chém vào sáng 30-11-1883, sau khi vua Hiệp Hòa bị truất phế và bị uống thuốc độc chết. Tuy Lý Vương Miên Trinh là chú ruột của vua, khi nghe có biến, ông đã cùng vợ con chạy ra Thuận An nhờ người Pháp che chở cho mình nhưng ông và gia đình đã bị bắt trước khi gặp được tàu thủy của Pháp. Tường và Thuyết ra lệnh đày ông và gia đình vào một tỉnh phía Nam Trung Kỳ. Cái chết của Trần Tiễn Thành Sau vụ án Dục Đức, Trần Tiễn Thành vì không chịu ký vào kiến nghị truất phế vua nên bị tội, không còn làm Phụ Chính nữa nhưng vì ông đã ngoài 70 tuổi, là người cao niên nhất trong triều, lại có uy tín nên được vua Hiệp Hòa cho tiếp tục giữ chức Thượng Thư. Được ít lâu, ông cảm thấy vô quyền, chẳng làm được gì, chỉ là hư vị mà thôi nên xin từ chức, lấy lý do tuổi già, đau yếu. Dù ông đã về hưu, Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết vẫn cho người mang kiến nghị truất phế Hiệp Hòa lại cho ông ký vừa để hỏi ý kiến ông. Ông từ chối không ký vào kiến nghị đó (theo Đại Nam Chính Biên Liệt Truyện, quyển 32). Ông có nhà riêng ở khu phố Gia Hội, nay là đường Chi Lăng Huế. Trong nhà luôn có hai kiếm khách để bảo vệ. Bà vợ nhỏ của ông là người Tàu lai, giỏi võ nghệ. Nhà nằm trên bờ sông Hương, nhánh sông chảy ra cửa Thuận An. Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết đã muốn giết ông từ lâu nhưng không có bằng cớ gì để buộc tội. Nhân chuyện ông không ký tên vào kiến nghị truất phế Hiệp Hòa, Thuyết quyết tâm hạ sát ông. Do đó, ban đêm Thuyết cho lính đến nhà gõ cửa. Trong nhà không mở và chuẩn bị chiến đấu để tự vệ. Các kiếm khách và bà vợ nhỏ của Trần Tiễn Thành nhất định không chịu


212 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng đưa tay chịu trói nhưng khi nghe lính của Thuyết nói rằng có chiếu chỉ của Bà Từ Dũ mời vào cung có việc khẩn cấp, trong nhà không biết tính sao. Nếu có chiếu chỉ thật mà không mở cửa thì mang tội, nếu mở cửa vào lúc đêm hôm khuya khoắt như thế này thì rất nguy hiểm đến tính mạng. Suy đi tính lại, Trần Tiễn Thành đành ra lệnh cho người nhà mở cửa. Bọn lính của Tôn Thất Thuyết tràn vào nhà như một lũ cướp, chúng không cần nói năng chi, chỉ trao cho Trần Tiễn Thành một cái khay đựng đủ ba món: dao, lụa và thuốc độc. Trần Tiễn Thành bèn chọn thuốc độc tự tử. Có người nói rằng khi mở cửa, bọn lính của Tôn Thất Thuyết dùng dao đâm quan Thượng Thư họ Trần chết ngay tại chỗ nhưng dù chết cách nào đi nữa thì cũng là một cái chết ám muội, một sự bức tử không có bản án, không có luật pháp nào chấp nhận được. Sau khi Trần Tiễn Thành chết, con cháu phải đổi tên, đổi họ, lưu tán đi khắp nơi, kẻ Bắc, người Nam để tránh bị tiêu diệt bởi tay Tường và Thuyết cho đến khi vua Thành Thái lên ngôi, con cháu họ Trần vẫn còn sống trong cảnh nghèo khó, mất cả tài sản, ruộng vườn. Hai người con của Trần Tiễn Thành là Trần Tiễn Huấn làm Tri Huyện ở Hậu Lộc và Trần Tiễn Hối đậu Giải Nguyên, làm Án Sát tỉnh Bình Định. Con cháu về sau dần dần trở về Huế nhưng một số vẫn còn lưu lạc tha phương, lập nghiệp ở xứ người. Thời Tự Đức, Trần Tiễn Thành có xin vua cấp cho người Hoa kiều một chỗ đất ở Bao Vinh để lập xóm Minh Hương, nơi đó ngày nay có đình làng và mỗi năm vào ngày Tết, người Minh Hương ở Huế (người gốc Hoa) đều đến đó để họp mặt. Trong đình có thờ tổ là Trần Tiễn Thành. Việc truất phế Hiệp Hòa xảy ra trong lúc De Champeaux có mặt ở Thuận An để tiếp xúc với quân Pháp nên Tòa Khâm sứ không hề hay biết gì về cuộc khủng hoảng chính trị mới xảy ra trong triều đình Huế. Không khí khủng bố do Tôn Thất Thuyết chủ trương bao trùm khắp cả kinh thành, từ các vị hoàng thân cho đến các quan, không ai biết được số phận mình sẽ ra sao trong một sớm, một chiều. c. Vua Kiến Phước Sau khi phế Hiệp Hòa xong, hai ông Tường và Thuyết


Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 213 vào tâu Bà Từ Dũ xin lập ông Dưỡng Thiện tức Mệ Mến, húy là Ưng Đăng, con nuôi thứ ba của vua Tự Đức, mẹ nuôi là bà Học Phi, lên nối ngôi. Đúng ra hai ông phải xin chọn Ưng Đường (Ưng Kỵ) tức Chánh Mông, con nuôi thứ hai của Tự Đức kế vị nhưng ông này đã lớn tuổi nên hai ông không thích, sợ khó sai bảo, nên chọn Ưng Đăng mới 15 tuổi để dễ điều khiến. Thực tế Bà Từ Dũ chẳng có quyền gì, vả lại tuổi cũng đã già, 80 rồi, nên hai ông Tường, Thuyết chỉ lợi dụng danh nghĩa của bà mà thôi. Ngày 1 tháng 11 Quý Mùi (30-11-1883) Hoàng Tử Ưng Đăng, thường gọi là Dưỡng Thiện lên ngôi lấy niên hiệu là Kiến Phước. Mọi việc trong triều đều do hai ông Tường và Thuyết quyết định cả. Lễ đăng quang Hoàng đế Kiến Phước được tổ chức lúc 5 giờ sáng, rất vội vàng, lại đúng lúc De Champeaux không có mặt ở Huế và cũng đề phòng Pháp can thiệp. Thuyết còn cho lính đến bao vây và cô lập khu nhà của Giám Mục Caspar mục đích không cho Giám Mục liên lạc với Tòa Khâm Sứ Pháp để tin tức khỏi bị tiết lộ ra ngoài. Mấy giờ đồng hồ sau, Khâm Sứ Pháp mới được tin, rất tức giận vì không được mời tham dự lễ đăng quang vua mới. Việc lật đổ Hiệp Hòa cũng được xem như một hình thức xóa bỏ hiệp ước mà Hiệp Hòa đã ký với Pháp. Hai ông Tường và Thuyết lý luận rằng: vua mới không cần phải tôn trọng những lời cam kết trước đây của Hiệp Hòa với Pháp. Trong vòng bốn tháng mà có đến ba ông vua: Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phước nên sử sách thường gọi là vụ Tứ Nguyệt Tam Vương. Thấy tình hình quá căng thẳng sau khi vua Hiệp Hòa bị truất phế, dân chúng ở kinh đô bàn tán xôn xao, nhiều người ấm ức trong lòng nhưng không ai dám lên tiếng. Một buổi sáng nọ người ta thấy xuất hiện hai câu đối trước cửa Hiển Nhơn: NHẤT GIANG LƯỠNG QUỐC, NAN PHÂN THUYẾT, TỨ NGUYỆT TAM VƯƠNG, TRIỆU BẤT TƯỜNG. Nghĩa là: - Một con sông mà có đến hai quốc gia khó mà giải thích nổi (Bắc sông Hương là triều đình Việt Nam, Nam sông Hương là Tòa Khâm Sứ Pháp). - Bốn tháng có đến ba ông vua, đó là điềm chẳng lành.


214 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Nhà thủy tạ lăng Vua Tự Đức. Lăng Minh Mạng - Huế.


Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 215 Cái tài của người làm ra câu đối là lấy tên Tường và Thuyết đặt vào cuối câu trên và dưới. Hai ông biết có kẻ đả kích mình nhưng không tìm ra được tác giả là ai? Sau khi Kiến Phước lên ngôi rồi, khoảng 30-11-1883, Tôn Thất Thuyết phát cho mỗi tên trong đội quân Đoạn Kiết một vũ khí và 6 quan tiền, hẹn hôm sau vào 5 giờ sáng, nghe tiếng đại bác ở kinh thành phát pháo lệnh thì bắt đầu đi khủng bố các làng Công Giáo và các Linh Mục. Tường còn dè dặt và đã can Thuyết chưa nên hành động vì chưa chuẩn bị đủ lực lượng đối phó với Pháp, phải chờ đợi ít lâu để tổ chức cho xong chiến khu đã... nhưng Thuyết đã lỡ ra mật lệnh cho bọn quân Đoạn Kiết là Đảng của ông rồi. Bọn người đó, vốn đa số là dân bất hảo, chuyên đi khủng bố, trộm cướp... nên kết quả đã có một số làng theo đạo Công Giáo ở Nam Thừa Thiên và Thanh Hóa bị thảm sát tập thể. Đó là các làng Truồi, Cầu Hai, Châu Mới, Nước Ngọt, Buồng Tằm. Tổng số người bị giết là 354 người và một Linh Mục (cha Vinh ở nhà thờ Nước Ngọt). Tại Thanh Hóa và vùng Cận Sơn, giáp Lào, chỉ trong vòng hai tuần lễ, có 7 giáo sĩ người ngoại quốc, 63 thầy giảng và khoảng 200 giáo dân bị giết, nhà thờ, tu viện đều bị đốt cháy. Giám Mục Caspar ở Huế đã đến gặp De Champeaux, Khâm Sứ Pháp nhờ can thiệp. Pháp lên tiếng phản đối... Nguyễn Văn Tường nói thác rằng đó là một số lính khố đỏ của Pháp ở Sàigòn đào ngũ về, xúi giục dân chúng làm loạn... Sứ quán Pháp phải xin quân từ Thuận An đến để bảo vệ. Đây không phải là vụ khủng bố tín đồ đạo Công Giáo đầu tiên, trước đó đã có nhiều vụ khủng bố như vậy xảy ra rồi và đến đây cũng chưa phải là chấm dứt. Thấy máu của dân Việt Nam vô tội đã đổ ra quá nhiều nhưng hai ông Tường và Thuyết không một chút ân hận. Họ chủ trương đánh Tây nhưng thực tế là nhắm vào đồng bào của mình, những người theo đạo. Sau vụ thành Sơn Tây bị quân Pháp chiếm ngày 17-12-1883 và Hoàng Kế Viêm bại trận ở Bắc, Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết mới chịu hòa dịu bằng cách lập tòa án xử vụ Hầu Chuyên (Ưng Chuyên), người cầm đầu quân Đoạn Kiết đi khủng bố, bị án tử hình nhưng triều đình không chịu bồi thường cho những tín đồ Công Giáo bị sát hại... Việc làm của hai ông Tường, Thuyết vô


216 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng tình gây chia rẽ trầm trọng giữa đồng bào lương, giáo, giữa các quan, các Nho sĩ, đẩy người Công Giáo vào thế đối lập với triều đình. Mạng sống là cao quý nhất của con người, một khi mạng sống bị đe dọa, con người không có quyền sống và mất luôn quyền tự do tín ngưỡng thì họ có quyền tự vệ và không ai bắt buộc họ phải ủng hộ một chế độ chủ trương giết hại họ, cấm đoán họ theo đạo. Tôn giáo là phần cao nhất trong sinh hoạt tinh thần của con người, bắt buộc mọi người phải bảo vệ đức tin. Các vua nhà Nguyễn đã ra lệnh cấm đạo liên tục, gắt gao nhưng dân vẫn theo đạo thà chết chứ không bỏ đạo. Điều đó đủ nói lên chủ trương giết hại người có đạo là hoàn toàn sai lầm. Chống xâm lăng mà không đoàn kết được toàn dân thì chắc chắn sẽ thất bại. Cái chết của vua Kiến Phước Kiến Phước ở trong cung, hoàn toàn không biết gì mọi việc bên ngoài.Vua còn nhỏ tuổi, việc nước đều do hai quan Phụ Chính, thế nhưng họ cũng không để cho vua được yên. Nguyên mẹ nuôi của vua là bà Học Phi, một người trẻ đẹp. Tự Đức đã gặp bà khi ông ngoài 50 tuổi. Mối tình lãng mạn giữa một ông vua già và cô gái quê mới 15, 16 tuổi. Theo Tôn Thất Hứa (trong tuyển tập Nhớ Huế 1994) nàng có tên là Yến, người họ Nguyễn ở làng Vân Trình, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên. Có một lần vua đi thuyền trên sông, thoáng thấy nàng đang đứng núp mưa dưới lùm tre. Vua đã ra lệnh đưa nàng về cung và từ đó nàng đã trở thành Đệ Tam Giai Phi, được vua sủng ái. Theo Trần Gia Phụng (Những cuộc đảo chánh Cung Đình, trang 316), bà Học Phi tên là Nguyễn Thị Hương, người tỉnh Vĩnh Long, Nam Kỳ. Một người con gái trẻ, không có con, lại ở vào địa vị là Đệ Tam Phi của Tự Đức, mẹ nuôi của Kiến Phước nên bà chỉ mong được làm Mẫu Nghi Thiên Hạ, mong cho con mình lên nối ngôi, đó là đỉnh danh vọng mà bà phải đạt tới. Do đó bà đã cấu kết với Nguyễn Văn Tường để thêm thế lực và để củng cố địa vị cho con của bà. Tường là người có thế lực và được xem là con tim, là trí óc của Thuyết. Thuyết hành động theo kế hoạch của Tường,


Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 217 Thuyết thì nông nổi mà Tường lại sâu sắc. Tường ủng hộ Kiến Phước lên ngôi thì có lợi cho bà. Trái lại, Tường cũng là người am hiểu tâm lý, biết rõ hoàn cảnh của bà, sau khi vua chết, phải cảnh cô độc, lạnh lùng ở trong cung... Do đó, Tường không những kết thân với bà để tạo thêm thế lực chính trị cho mình mà còn lợi dụng trong lúc bà đang thiếu thốn tình cảm để tìm một chút hương nồng của tình yêu vương giả. Thế là tối nào quan Phụ Chính cũng vào chầu Hoàng Đế, nhất là trong lúc vua đang đau nặng, sốt mê man vì chứng đậu mùa. Những dịp đó, Tường có dịp gần gũi với bà Học Phi. Theo tài liệu của A. Delvaux trong “Quelques precisions sur une période troublée de l’ Empire d’ Annam” (Những sự thật về một giai đoạn khủng hoảng của triều đình Huế) thì Tường đã vấn một điếu thuốc lá trao cho bà Học Phi, vừa lúc vua tỉnh cơn sốt mê man, mở mắt ra và chứng kiến cảnh đó. Vua đã giận dữ nói rằng: “Tao lành rồi, tao sẽ chặt đầu ba họ nhà mi”. Các tác giả khác thì giải thích rằng: vua biết Tường có ý gian nên giả vờ mê man bất tỉnh để nghe câu chuyện trao đổi giữa hai người... Dù giải thích cách nào đi nữa thì việc trao đổi giữa hai bên nam và nữ theo luân lý cổ truyền là có tội: “nam nữ thụ thụ bất thân” nghĩa là con trai, con gái trao đổi với nhau, tặng quà cho nhau là điều không đúng đắn; huống chi đây là bề tôi (thần) mà dám trao đổi với bậc vua chúa (quân) thì tội lại càng lớn hơn nữa. Chỉ có trường hợp đại loạn, luân lý suy đồi, xã hội đảo điên mới có chuyện tiếp xúc dễ dãi như vậy. Thông thường, các quan không được vào khu vực nội cấm, lính thị vệ cũng phải ở ngoài, chỉ có thái giám mới được vào đó mà thôi. Nếu có lệnh triệu hồi, cũng phải giữ đúng lễ, hai bên phải đứng cách xa nhau, các quan không được nhìn mặt vua, hoàng hậu... Vua và hoàng hậu ngồi trên ngai, các quan phải đứng dưới ba cấp và cách xa một khoảng theo luật định vì lý do an ninh của bậc Đế Vương. Bị vua bắt được quả tang phạm pháp, Tường tức giận bỏ đi và sau đó xuống Thái Y Viện lấy thuốc đã pha chế sẵn, gia giảm chút ít rồi đưa cho bà Học Phi để chính tay bà trao cho vua uống. Kiến Phước được bà Học Phi nuôi khi còn nhỏ, thương yêu như con ruột. Vua cũng thương bà như mẹ đẻ vì bà vừa trẻ đẹp, vừa khôn khéo... rất được lòng vua. Chính tay


218 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng mẹ trao thuốc cho con uống thì còn nghi ngờ gì nữa. Sáng hôm sau, có tin vua đã chết rồi. Theo Trần Trọng Kim thì vua chết ngày 6 tháng 4 Giáp Thân (30-4-1884), nhưng theo Phan Khoang và các tác giả khác thì vua chết hôm 31-7- 1884 tức 10 tháng 6 Giáp Thân (Hoàng tộc chọn ngày giỗ của Kiến Phước là 10 tháng 6 âm lịch). Nguyễn Văn Tường tuyên bố vua băng hà vì bệnh đột ngột và lo tìm người khác lên nối ngôi. 5. VUA HÀM NGHI VÀ CHIẾN KHU TÂN SỞ Sau khi đầu độc Kiến Phước rồi, đáng lẽ phải đưa Hoàng Tử Ưng Đường (Ưng Kỵ), thường gọi là Chánh Mông, con nuôi thứ hai của Tự Đức lên ngôi nhưng đã hai lần, Chánh Mông đều không được chọn, lần này là lần thứ ba kể từ Dục Đức. Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết lại nhân danh bà Từ Dũ mang chiếu chỉ đến nhà Kiên Thái Vương, em vua Tự Đức. Người được chọn là Ưng Lịch, em Kiến Phước, lên ngôi lấy niên hiệu là Hàm Nghi. Lúc bấy giờ mẹ của ông đang đau khổ vì một người cháu, một người em chồng và một đứa con (Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phước) mới bị hại... Khi thấy xa giá đến nhà, lại thêm tai họa sắp đến..., bà bỗng khóc rống lên cách thảm thiết. Bà lạy van Tôn Thất Thuyết đừng bắt con bà vào cung vì đứa con đó mới 12 tuổi, chưa biết gì. Ưng Lịch đang chạy chơi giữa sân, thấy quân lính rầm rộ kéo đến và thấy mẹ mình khóc lóc, cự tuyệt thì run bắn người lên, vừa khóc, vừa chạy đến núp dưới áo mẹ nhưng Tôn Thất Thuyết không thèm trả lời, ông ra lệnh cho bọn lính bồng xốc Ưng Lịch lên, ném vào xe, tức tốc chạy vào cung. Việc phong vương xảy ra ngay sau đó, hôm 2-8-1884, rất vội vàng và bí mật, không cho người Pháp biết. Khâm Sứ Pháp phản đối và bắt hai ông Tường và Thuyết qua họp tại Tòa Khâm Sứ để trả lời về việc đó nhưng Thuyết không chịu đi, lấy cớ bị bệnh. Pháp cho một Đại Úy Bác Sĩ đến nhà, Thuyết từ chối, cho lính ra nói: “Quan tôi chỉ dùng thuốc Nam, không quen dùng thuốc Tây”. Một mình Tường phải qua lại Tòa Khâm Sứ để đối đáp với Pháp. Chiếu điều 11 của hòa ước Quý Mùi, 1883 thì Pháp không được can thiệp vào việc nội bộ của triều đình Huế, vì vậy Nguyễn Văn Tường


Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 219 cương quyết bênh vực lập trường của mình, cho rằng không cần phải xin phép khi lập vua mới nhưng trước áp lực của người Pháp, cuối cùng ông cũng phải làm đơn, xin hợp thức hóa việc phong vương Hàm Nghi. Tường bày trò chơi xỏ lá, viết thư bằng chữ Nôm gởi cho Pháp. Chữ Nôm vốn không phải là văn tự chính thức của Việt Nam. Xưa nay học hành thi cử, văn tự luật pháp, sách vở đều phải viết bằng chữ Hán. Chữ Nôm bị xem là: “Nôm na là thằng cha mách qué”. Người Pháp cũng biết rõ điều đó nên buộc Tường phải viết đơn bằng chữ Hán. Tường có giải thích rằng trước đây Việt Nam lệ thuộc Trung Hoa nên dùng chữ Hán, nay không lệ thuộc nữa nên dùng chữ Nôm là thứ chữ riêng của người Việt Nam nhưng Pháp cũng không chịu. Cuối cùng Tường đành phải đặt bút viết đơn bằng chữ Hán. Khi thảo luận về nghi lễ, Pháp đòi cho cả phái đoàn cùng đi vào cửa chính Ngọ Môn là cửa dành cho vua đi. Phía Việt Nam không chịu và chỉ đồng ý cho một mình vị đại diện nước Pháp đi mà thôi vì trước đây có lần sứ Tàu đến phong vương cũng đã được đi cửa đó nhưng Pháp cũng không chịu và còn đòi cho các phu nhân của các sĩ quan đi theo vào đại nội để xem lễ phong vương, họ muốn biết mặt vua Việt Nam, biết cung điện cổ kính, nơi vua đang ở. Phía Việt Nam rất bất mãn vì điều đó xúc phạm đến luật pháp và phong tục của Việt Nam: cấm đàn bà không được tham dự triều nghi, không được vào chốn tôn nghiêm. Bát nước đang đầy, chỉ thêm một giọt nước nữa là tràn ra ngoài ngay và giọt nước đó đã đến: Bà Từ Dũ được tin Tướng De Courcy đến Huế bèn gởi quà tặng để chào mừng theo nghi lễ ngoại giao nhưng De Courcy từ chối không chịu nhận. Bà Từ Dũ là người tôn quý nhất trong triều đình, là mẹ vua Tự Đức và là bà nội của Hàm Nghi... Việt Nam xem thái độ của Pháp là xúc phạm đến danh dự và quốc thể của mình. Tất cả những chuyện đó thúc giục hai ông Tường và Thuyết quyết một trận sống chết với Pháp. Chiến khu Tân Sở Từ 1883, dưới thời vua Hiệp Hòa, Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết đã chuẩn bị chiến khu kháng Pháp nhưng


220 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Chân dung Vua Hàm Nghi.


Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 221 giữ kín không cho vua biết. Khi truất phế vua Hiệp Hòa rồi, trong triều không còn ai là đối thủ của hai ông nữa nên công việc tổ chức lại càng cấp bách hơn. Từ 1884 đến 1885, các ông đã tăng cường lực lượng cho đồn sơn phòng Tân Sở, thuộc huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị trên đường từ sông Thạch Hãn về phía Tây (Lào). Thời Tự Đức có một đơn vị quân đội trú đóng ở đây. Theo sự nghiên cứu của Adolphe Delvaux, đích thân tác giả đã đến Tân Sở vẽ lại sơ đồ và ghi chú như sau: “Tân Sở nằm cách huyện lỵ Cam Lộ khoảng 10 cây số, trên đường đi Lao Bảo-Mai Lĩnh, trong một vùng đất đỏ gọi là Cùa, Ba Lòng, dọc theo con sông Thạch Hãn từ Quảng Trị đi về phía Tây. Chung quanh có ba lớp thành đất, trồng tre dày thành lũy kiên cố, có những khoảng trống làm cửa ra vào gọi là cửa tiền, cửa hậu, cửa tả, cửa hữu và cửa Ngọ Môn. Diện tích khoảng ba mẫu Tây, bề dài 548 mét, bề ngang 418 mét. Bên trong có kho chứa lương thực và trại lính. Thành nội dài 165 mét, rộng 100 mét, có những ngôi nhà làm bằng vật liệu nhẹ như tranh tre, nứa... để làm chỗ tạm trú cho vua. Trại lính, tàu tượng, kho lúa, kho súng đạn, súng đại bác, kho đựng tiền bạc... đều ở trong thành”. Đây là một vùng địa thế núi non hiểm trở, có đường thông ra Cam Lộ, có đường ra các tỉnh ngoài Bắc. Có nhiều con đường khác nhau để đến Tân Sở nhưng chỉ có một con đường bí mật, kín đáo đi thẳng vào chiến khu, còn những con đường khác sẽ dẫn người lạ đi lạc lối, không biết đâu mà ra. Trên đường ra Bắc có những kho lúa bí mật, có người tin cậy canh giữ chắc chắn để khi quân đội đi qua đó thì có mà dùng. Mùa xuân năm 1885, trước khi kinh thành Huế thất thủ, Nguyễn Văn Tường đã cho di chuyển một phần kho tàng từ kinh đô ra Tân Sở, qua đường Cửa Việt đi lên dọc theo sông Thạch Hãn ở Quảng Trị. Theo A. Delvaux và theo người làng An Cư kể lại thì ông Tường có hai người con trai là Nguyễn Văn Đạo và Nguyễn Văn Đạt, được trao nhiệm vụ vận chuyển kho tàng từ Huế ra chiến khu. Khi ngang qua làng An Cư, họ đã chuyển một số lớn vào nhà riêng của họ, nhiều đến nỗi làm cho các tấm ván của cái lẫm bị oằn xuống. Một trong hai người con của ông Tường có vợ là công chúa. Một hôm công chúa này cùng với người hầu gái đi từ làng Nhu Lý về An Cư, khi đi ngang qua cánh đồng thì bị một tên cướp đón đường trấn


222 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng lột vì chúng nghe đồn trong nhà bà có nhiều vàng bạc. Công chúa bình tĩnh trao hết nữ trang cho tên cướp và bất thình lình cắn vào tay hắn đến chảy máu rồi bỏ chạy. Về đến nhà, công chúa viết thư cho Tri Phủ Triệu Phong ra lệnh truy nã tên trộm bị thương ở nơi tay. Chỉ trong vòng một hôm là tên trộm bị bắt và bị xử tử. Việc tổ chức đội quân Đoạn Kiết đã có từ thời vua Hiệp Hòa nhưng khi vua nghe tin có một đội quân riêng của Tôn Thất Thuyết thì vua lo sợ vì Thuyết đã sử dụng những tên tù trọng án cho vào đảng của mình và ra lệnh cho chúng đi khủng bố người theo đạo Công Giáo, do đó vua Hiệp Hòa tỏ ý ngăn ngừa, sợ rối loạn trong dân. Có lần vì vấn đề đó mà vua đã khiển trách các quan. Nguyễn Văn Tường đã có thái độ bất kính, cãi lại vua, đứng trước vua mà không quỳ... Sau đó thì vua bị hại. Dưới thời Kiến Phước và Hàm Nghi, vua còn nhỏ tuổi, hai ông muốn làm gì thì làm. Việc tổ chức quân đội riêng và xây dựng chiến khu càng phải gấp rút, nhất là ba tháng trước khi xảy ra biến cố đêm 22 rạng ngày 23 tháng 5 âm lịch năm Ất Dậu (4 và 5-7-1885). 6. KINH THÀNH HUẾ THẤT THỦ Tướng Pháp De Courcy, Tổng Chỉ Huy quân đội Pháp ở Việt Nam và Trung Hoa đến Huế với một lực lượng hùng hậu được tăng cường để uy hiếp triều đình Huế. Ông tin tưởng rằng phía Việt Nam không bao giờ có ý nghĩ chống lại người Pháp bằng quân sự lúc này. Trước đó, đã có tin từ Quảng Trị cho biết phía Việt Nam có chuẩn bị và vận chuyển lương thực, khí giới bằng đường sông ban đêm. Lemaire, Tổng Trú Sứ của Pháp có hỏi Nguyễn Văn Tường nhưng Tường phủ nhận và cam kết không bao giờ có chuyện đó. Ông Tôn Thất Thuyết cũng tránh không gặp mặt người Pháp vì ông bận đi thanh sát chiến khu cách bí mật. Ông Thuyết có một biệt thự ở thôn Vạn Xuân (Kim Long) bên cạnh con suối đằng sau đền thờ Đức Quốc Công Phạm Đăng Hưng, nơi đó thường ngày tấp nập người ra kẻ vào hội họp, bàn bạc. Ông cũng điều động một số lớn quân đội về Huế và sắp đặt súng lớn trên thành hướng về Tòa Khâm Sứ và đồn lính ở Mang Cá... Pháp thấy có vẻ khiêu khích nên phản


Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 223 đối phía Việt Nam phải quay mũi súng về hướng khác nhưng chính sự bất đồng về nghi lễ trong việc tấn phong vua Hàm Nghi mới là giọt nước làm cho cái chén đã đầy phải tràn ra ngoài, hai ông Tường và Thuyết bắt buộc phải hành động, mà hành động lúc này quả thật là liều lĩnh. Người ta đồn rằng ông Thuyết đã tập trung được một lực lượng khoảng 60.000 lính trong tay nhưng theo tài liệu của Pháp thì có khoảng 12.000 lính Việt Nam tại Huế lúc đó. Lực lượng của Pháp có khoảng 1.500 người gồm cả sĩ quan lẫn binh sĩ và tất nhiên họ có súng ống tối tân hơn Việt Nam, hỏa lực mạnh hơn Việt Nam gấp mười lần. Theo kế hoạch của Tôn Thất Thuyết thì quân ta sẽ tấn công hai mục tiêu chính là Tòa Khâm Sứ và Đồn Mang Cá. Một số đại bác đã bố trí sẵn ở chân cầu Thanh Long (Gia Hội), đội quân Pháp từ Mang Cá kéo ra, đi qua con đường này để qua tòa Khâm Sứ dự tiệc nhưng khi quân Pháp đã qua cầu rồi mà quân ta chưa tấn công được vì trăng chưa lên, không thấy rõ mục tiêu, sợ bắn không chính xác. Đến lúc quân Pháp ăn tiệc xong, đang kéo về, cũng qua cầu đó để vào đồn Mang Cá mà quân ta vẫn không tấn công, vì trời còn tối quá, vì thế đã để lỡ mất cơ hội, không thi hành kế hoạch đã định trước được. Trong lúc quân Pháp đang ăn tiệc tại Tòa Khâm Sứ ở phía Nam sông Hương, có một sĩ quan Pháp là Trung Úy Bouché phát hiện có nhiều ghe thuyền qua lại trên sông. Ông đã vào báo cáo cho Tướng De Courcy nhưng De Courcy đang ngon miệng nên không quan tâm đến chuyện đó và còn quở trách vị Trung Úy, ông tuyên bố: “Không bao giờ có chuyện tấn công quân Pháp vào lúc này”. Lời tuyên bố đó rất hợp lý vì lúc này lực lượng Pháp ở Huế rất hùng hậu. Khoảng nửa đêm, sau khi tiệc tan, lính Pháp say sưa ra về bình yên vô sự... nhưng khoảng quá nửa đêm, sau khi trăng mọc thì nghe một tiếng súng lệnh phát đi từ cột cờ trong thành nội và tiếp theo là tiếng la hò tấn công của quân ta. Ở Mang Cá và Tòa Khâm Sứ đều có lửa cháy. Lính Pháp đang ngon giấc thì bỗng nghe tiếng súng nổ, lửa cháy, nên hoảng hốt rối loạn. Quân cảm tử của ta đã phóng hỏa đốt nhà và phá cổng tiến vào đồn. Đại Úy Pháp là Bruneau bị trúng đạn chết liền còn Đại Úy Brouin thì bị thương nặng... Chẳng bao lâu, quân Pháp


224 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Bài vị thờ Vua Minh Mạng.


Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 225 dần dần ổn định, lấy các thùng gỗ chất lên làm công sự chiến đấu, một số bắn trả lại quân ta, một số đi dập tắt các đám cháy... Đồn Mang Cá không bị quân ta tràn ngập... Tàu Pháp ở Thuận An chạy lên sông Bao Vinh, nhắm đại bác vào chỗ đang cháy bắn yểm trợ cho đồng bọn, quân ta không làm gì được. Tôn Thất Liệt chỉ huy quân ta tấn công Tòa Khâm Sứ, dùng lửa đốt được mấy dãy nhà chung quanh sứ quán. Súng trong thành Huế bắn qua, gây thêm nhiều đám cháy nữa..., nhiều chỗ trúng đạn bị sụp đổ. Lính Pháp trần truồng chạy ra ngoài loạn xạ nhưng chỉ vài phút sau, một số lính Pháp đã bắn trả quân ta. Nhờ các đám cháy, làm cho lính Pháp thấy rõ quân ta và họ đã chỉa súng vào đó rất chính xác. Hỏa lực của ta yếu hơn hỏa lực của Pháp, súng đại bác lâu ngày không sử dụng nên thiếu chính xác. Quân ta chỉ lợi dụng yếu tố bất ngờ lúc đầu nhưng khi quân Pháp đã ổn định rồi thì không hy vọng gì thắng được chúng. Súng trên thành dần dần hết đạn, càng lúc càng thưa. Gần sáng, quân Pháp phản công và mở cuộc hành quân tiến vào thành Huế. Từ Mang Cá, quân Pháp đánh qua thành nội, chúng di chuyển rất chậm, gặp bất cứ ai chúng cũng giết, bất kể già trẻ, trai, gái; hãm hiếp đàn bà con gái, cướp của nhà quan, nhà dân, đốt phá các cơ quan nhà nước, các Bộ, Viện... Nửa đêm, vua Hàm Nghi đang ngủ, nghe tiếng súng và thấy lửa cháy thì hoảng sợ, khóc rống lên. Tôn Thất Thuyết và Đề Đốc Trần Xuân Soạn đích thân chỉ huy đánh đồn Mang Cá thất bại, liền trở vào cung báo tin quân Pháp tấn công hoàng thành và giấu chuyện quân ta đã tấn công quân Pháp trước. Thuyết thúc giục vua và Hoàng Gia thu xếp nhanh để chạy trốn vì quân Pháp sắp tới nơi rồi. Thấy vua khóc, Thuyết bảo vua im đi, không thì Tây vô bắt bây giờ. Vua và Hoàng Gia đều riu ríu vâng lời. Quân Pháp chưa kịp vào tới hoàng thành thì xa giá của vua đã ra khỏi cung rồi. Đô Thống Hồ Văn Hiển chỉ huy, Trần Xuân Soạn đi tiên phong, khoảng một trăm lính có súng đi hộ tống. Đoàn người gồm có vua Hàm Nghi, Thái Hoàng Thái Hậu Từ Dũ, Hoàng Thái Hậu Thuận Hiếu (tức bà Trang Ý, Chánh Phi của Tự Đức, mẹ nuôi Dục Đức), bà Học Phi (mẹ nuôi Kiến Phước) cùng các hoàng tử, công chúa, các quan


226 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Đại Thần trong đó có Nguyễn Văn Tường, tất cả khoảng một ngàn người. Họ định lên lăng vua Tự Đức tạm trú ít hôm, đợi tình hình lắng dịu sẽ trở về. Trong lúc đi đường, Nguyễn Văn Tường bàn với bà Từ Dũ trở về đầu thú Pháp để bảo vệ lăng miếu, cung điện khỏi bị Pháp đốt phá. Bà Từ Dũ đồng ý và ủy thác cho Nguyễn Văn Tường đi lo việc đó. Lợi dụng lúc tình thế lộn xộn, không ai để ý, Tường chạy đến nhà thờ Kim Long, xin gặp Giám Mục Caspar, nhờ ông này làm trung gian cho Tường ra đầu thú với Pháp. Riêng Tôn Thất Thuyết sau khi sắp đặt xong công việc gia đình bèn đuổi theo và bắt kịp vua Hàm Nghi. Thuyết ra lệnh đưa xa giá vòng qua chùa Thiên Mụ ra phía làng La Chữ, dừng lại nghỉ một lúc rồi thẳng đường ra Quảng Trị. Một số các quan chạy theo vua như Phạm Thận Duật, Trương Quang Để, Tôn Thất Liệt..., những người khác ở lại hoặc bỏ trốn. Tối hôm đó, xa giá nghỉ lại ở làng Văn Xá, sáng hôm sau lên đường ra Quảng Trị. Nghe tin quân Pháp chiếm kinh thành và vua đã xuất cung, toàn thể mọi người đều hoảng hốt, từ quan cho đến dân bồng bế nhau chạy, lính rút gươm chém giết dân để mở đường thoát thân. Ở các cửa thành, các cống thoát nước, người chết chồng lên nhau ngổn ngang. Có những đứa trẻ lạc cha mẹ, đứng khóc bên đường... Hôm đó là ngày 23 tháng 5 năm lịch năm Ất Dậu tức 5-7-1885, ngày tang tóc cho toàn kinh đô Huế. Mãi về sau dân Huế vẫn lấy ngày đó làm ngày cúng cô hồn để nhớ những người vô tội đã chết nhân ngày thất thủ kinh đô. Thử hỏi ai là người gây ra cảnh tang tóc này? Quân xâm lược Pháp hay nhóm chủ chiến do hai ông Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết cầm đầu? Vua xuất cung rồi thì kinh thành kể như bỏ trống, từ quan cho đến lính, mạnh ai nấy chạy. Quân Pháp đợi trời sáng rõ, kiểm điểm tình hình xong mới hành quân vào thành Huế. Các cửa thành đều đóng nhưng không có ai kháng cự. Quân Pháp tự động mở cửa vào. Trước hết, chúng ra lệnh đốt cháy Bộ Binh và Bộ Lại là nơi hai ông Tường và Thuyết ở, sau đó đến các doanh trại của quân đội, niêm phong kho tàng và kiểm kê báu vật trong cung, chia nhau canh giữ các cửa thành và các cơ quan trọng yếu, bắt dân đi thu nhặt tử thi đem chôn và dần


Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 227 dần sửa sang lại các nhà cửa hư hại. Kết quả trận đánh, bên ta có khoảng 1.200 lính tử trận, Pháp có 23 người chết trong đó gồm cả sĩ quan và binh sĩ, 64 người bị thương trong đó có 14 người bị thương nặng. Pháp thu được 812 khẩu đại bác và hàng ngàn súng cá nhân, đạn dược, gươm giáo.... Theo báo Le Tonkin năm 1886, phóng viên Havas cho biết rằng: ”...Trong 5 ngày, có 50 người chuyên lo việc sắp xếp các thoi vàng, bạc để gởi về Pháp. Còn kho tàng bảo vật cũng sẽ gởi về Pháp. Giá trị của nó không thể nào ước tính nổi...”. Một phần các bảo vật này được người Pháp tặng lại cho vua Bảo Đại vào năm 1950 sau khi Pháp ký hiệp ước trả độc lập cho Việt Nam (1949) và đưa Bảo Đại từ Hồng Kông trở về thành lập chính quyền Quốc Gia (tức Việt Nam Cộng Hòa sau này). Theo lời Nguyễn Văn Tường khai với De Champeaux thì số bạc và vàng do Tôn Thất Thuyết chuyển ra Tân Sở trị giá hơn 300.000 lượng, số còn lại trong kho ở Huế khoảng 700.000 lượng chưa kịp chuyển đi. Tất cả kho tàng đưa ra Tân Sở, sau khi Tôn Thất Thuyết và vua Hàm Nghi lưu vong, đã lọt vào tay ai? 7. VUA HÀM NGHI LƯU VONG Ra khỏi kinh thành Huế sáng 23 tháng 5 Âm Lịch năm Ất Dậu (5-7-1885), hôm sau vua đến Quảng Trị sau một đêm dừng lại giữa đường. Tuần Phủ Quảng Trị là Trương Quang Đản rước vua vào tạm trú trong thành, các quan lục tục kéo đến. Bà Từ Dũ đến Quảng Trị, thấy tình thế bất lợi nên đòi trở về Huế, nhất định không chịu lên chiến khu với vua. Tôn Thất Thuyết được tin Nguyễn Văn Tường ra đầu hàng Pháp liền sai một tên lính về Huế đốt nhà Tường. Tường cam kết với Pháp nội trong hai tháng sẽ đưa vua Hàm Nghi trở về và trước hết, ông sai Phạm Hữu Dụng ra Quảng Trị liên lạc với vua nhưng Dụng không gặp được vua. Ở Quảng Trị được ba ngày thì Thuyết đưa vua lên Tân Sở. Tam cung là các bà Từ Dũ, Trang Ý và Học Phi trở về Huế theo kế hoạch của Nguyễn Văn Tường... Tại Huế Pháp đưa Thọ Xuân Vương (con trai thứ ba của vua Minh Mạng, em vua Thiệu Trị), một vị cao niên trong Hoàng Tộc đứng ra tạm thời trông coi việc nước.


228 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Tôn Thất Thuyết đến Tân Sở, thấy tình hình không thuận lợi, nhìn trước sau đều có núi non bao bọc, cảnh vật u tịch càng thêm buồn. Quân lính lên đây đông nhưng không có việc gì làm, chẳng khác nào cảnh đi đày. Vua Hàm Nghi bấy giờ khoảng 14, 15 tuổi nhưng tính tình bổng thay đổi, không nói năng gì với ai, mọi việc đều theo sự sắp dặt, tính toán của ông Tôn Thất Thuyết. Tại Quảng Trị, Tôn Thất Thuyết nhân danh vua truyền hịch Cần Vương, kêu gọi mọi người gia nhập quân đội, tuyển mộ lính, thành lập lực lượng chiến đấu, góp công, góp của... để giúp vua đánh Pháp. Thuyết cho vua ở một nơi cách Tân Sở chừng hai cây số, được hai mươi ngày thì thấy bị bao vây, mất hậu thuẫn, liên lạc khó khăn... nên định đưa vua ra Quảng Bình, từ đó sẽ tìm đường ra Bắc. Tôn Thất Thuyết định dựa vào lực lượng của Nguyễn Thiện Thuật là bố vợ của mình, trước đây đã ly khai chống Pháp, thanh thế lẫy lừng ở Miền Bắc. Lực lượng đi theo Tôn Thất Thuyết có chừng sáu, bảy trăm người vừa lên đường đến Cam Lộ thì nghe tin quân Pháp đã chiếm thành Đồng Hới và cửa biển Nhật Lệ... Một số các quan lại muốn đưa vua về Huế cho yên việc cho rồi... Lính tráng thì bỏ trốn, các quan cũng bỏ trốn... Trương Quang Để đã trở về tỉnh lỵ Quảng Trị cùng với Trương Quang Đản, anh ruột của Để còn Phạm Thận Duật thì trốn về Huế trình diện với Nguyễn Văn Tường... Tôn Thất Thuyết lúng túng không biết giải quyết làm sao bèn đưa vua lên Khe Sanh (thuộc huyện Hướng Hóa) và vượt sông Tchépône qua Lào để đi đường núi ra Bắc. Tới bờ sông, nước sâu quá, voi không qua được, không có thuyền bè đủ cho tất cả mọi người qua. Thuyết lại nghe tin quân Pháp sắp đuổi tới nơi nên chỉ đưa vua và một số người quan trọng qua sông, còn quân lính thì ở lại. Vua trao cho người chèo đò mấy đồng tiền bằng vàng và một cây kiếm ngắn, hẹn sau này thành công sẽ trở lại đền ơn. Năm 1962, chúng tôi đến thăm cụ Trần Vinh Khâm, thân phụ của Giáo Sư Trấn Vinh Anh, nguyên Hiệu Trưởng trường Phan Chu Trinh, Đà Nẵng. Chúng tôi có đến Bản Phường, bên bờ sông Tchépône, được nghe nhiều chi tiết về chuyện vượt biên của vua Hàm Nghi. Con cháu của người chèo đò còn giữ những kỷ vật của tổ tiên, nhiều người hỏi mua mà họ không bán.


Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 229 Vua Hàm Nghi có một con voi, voi không qua sông được nên người ta thả cho voi tự do đi vào rừng. Cho đến 1945, tức 60 năm sau, người ta vẫn nhắc đến chuyện con voi của vua Hàm Nghi. Người đi săn thú ở vùng này thường gặp nhưng không ai sát hại nó. Vua Bảo Đại cũng từng gặp nó và được nó cứu thoát khi bị voi rừng đuổi. Về phần những người lính đi theo vua không qua sông được, trở về thì sợ bị tù tội nên họ ở lại vùng này, lấy vợ người thiểu số và trở thành tổ tiên của dân vùng này. Chúng tôi thấy nhiều người ở đây rất giống người Việt, họ cũng cho biết rằng tổ tiên của họ là người Việt (Kinh). Số vàng bạc do Tôn Thất Thuyết gởi ra Quảng Bình trước gồm 140 thùng, một phần đến tay Võ Trọng Bình ở Đồng Hới, một phần bị toán quân ở Quảng Trị do triều đình Huế và Nguyễn Văn Tường phái đi bắt vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết lấy. Võ Trọng Bình đã đem nộp số vàng đó cho Pháp. Thuyết đưa vua ra Hà Tĩnh, sau đó đưa vua trở lại vùng núi Tuyên Hóa giáp ranh Hà Tĩnh, Quảng Bình, để vua ở đó với Tôn Thất Thiệp và Tôn Thất Đạm. Còn Thuyết thì ra Bắc tìm Nguyễn Thiện Thuật và cùng Nguyễn đi qua Trung Hoa cầu viện nhà Thanh. Ông sống bên Tàu cho đến già, được nhà Thanh trợ cấp cho một số tiền để chi tiêu cần thiết, không làm được gì hơn là đem vua bỏ vào rừng cho cọp. 8. MỘT NHÀ SINH ĐƯỢC BA VUA Sau khi Tôn Thất Thuyết đưa vua Hàm Nghi ra khỏi kinh thành thì Pháp đưa Nguyễn Hữu Độ, Khâm Sai Kinh Lược Bắc Kỳ về làm Phụ Chính và Thọ Xuân Vương Miên Định (con vua Minh Mạng) người đứng đầu Hoàng Tộc lên làm Nhiếp Chính. Pháp bắt Nguyễn Văn Tường ra lệnh cho quan quân các nơi lùng tìm vua Hàm Nghi nhưng không có kết quả. Sau hai tháng, Nguyễn Hữu Độ bèn vận động với Pháp lập Kiên Giang quận công Ưng Đường (Ưng Kỵ) tức Hoàng Tử Chánh Mông con nuôi thứ hai của vua Tự Đức lên nối ngôi, lấy niên hiệu là Đồng Khánh. Đáng lẽ sau khi Dục Đức bị truất phế, Đồng Khánh được nối ngôi nhưng Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết lại lập Hiệp Hòa rồi Kiến Phước, Hàm Nghi. Dư luận cho rằng Đồng Khánh lên ngôi được là nhờ Nguyễn Hữu Độ vì Độ là bố vợ của vua. Ba vua: Đồng Khánh, Kiến Phước


230 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng và Hàm Nghi đều là con của Kiên Thái Vương Hồng Cai (em vua Tự Đức) nên thời bấy giờ có câu hát: Một nhà sinh được ba vua, Vua còn, vua mất, vua thua chạy dài (đi đày). Vua Đồng Khánh được rước vào cung ngày 6-8-1885 và chính thức lên ngôi ngày 9-9-1885, hai tháng rưỡi sau khi Kinh Đô thất thủ, vua là người ôn hòa, chấp nhận sự cai trị của Pháp và thi hành các hòa ước đã ký với Pháp. 9. VUA HÀM NGHI BỊ BẮT, BỊ ĐÀY Từ 1885 đến 1888, quân Pháp lùng tìm mãi mà không biết vua Hàm Nghi ở đâu, người ta cứ nghĩ rằng Thuyết ở đâu thì vua ở đó nhưng Tôn Thất Thuyết đã qua Trung Hoa một mình, được vua nhà Thanh cấp cho mỗi tháng 100 lạng bạc. Mười năm sau 1895 ông gởi thơ cho vua nhà Thanh lần nữa để xin tăng thêm trợ cấp và được 60 lạng bạc mỗi tháng, không lo đói, lo rét, không bị ai áp bức... Ông sống cho đến tuổi già và chết năm 1911, chôn tại Long Châu, Trung Quốc, còn vua Hàm Nghi thì sống cảnh đói rét nơi rừng thiêng nước độc. Nhờ móc nối được với một số người Mường ra đầu thú, Pháp mới biết vua Hàm Nghi còn lẫn trốn trong rừng, cạnh vua có Trương Quang Ngọc và Nguyễn Đình Tình, là những người có thế lực trong người Mường. Có một lần hành quân vào vùng núi Tuyên Hóa, bọn Pháp tìm được một cái hộp đựng thuốc phiện tại chỗ Trương Quang Ngọc ở. Từ đó chúng tìm cách gởi thuốc phiện cho Ngọc và đặt kế hoạch đem vua Hàm Nghi trở về, Pháp hứa sẽ trọng thưởng cho Ngọc và đối xử tử tế với vua. Nhân dịp Nguyễn Đình Tình ra đầu thú, Pháp dùng Tình liên lạc với Ngọc. Ngày 2-11-1888 (26-9 Mậu Tý), lợi dụng trong lúc Tôn Thất Đạm đi vắng, chỉ có một mình Tôn Thất Thiệp ở cạnh vua, Nguyễn Đình Tình và Trương Quang Ngọc đến bao vây Tà Bao là chỗ vua ở. Ban đêm chúng vào đâm chết Tôn Thất Thiệp tại chỗ. Một đứa nhảy vào ôm chặt lấy vua, một đứa quỳ xuống đọc cho vua nghe lá thư của Pháp mời vua trở về. Sáng hôm sau chúng dẫn vua đi nộp cho Pháp. Người Pháp cũng đã đợi sẵn để đón vua. Vua im lặng không nói


Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 231 một lời cho đến khi về tới Huế. Đồng Khánh được tin liền ra lệnh chuẩn bị chỗ cho Hàm Nghi ở và chờ đợi giây phút anh em gặp lại nhau nhưng Pháp đã âm mưu đưa vua Hàm Nghi đi đày nên chúng không cho vua Hàm Nghi trở về Huế. Vua Đồng Khánh cũng sai một phái đoàn các quan đại thần gồm có Đoàn Văn Bình, Lê Trinh, Phạm Bính đến Thuận An để thăm Hàm Nghi, lúc đó Pháp cũng không biết có đúng là Hàm Nghi thật hay không nhưng khi vua từ tàu Pháp lên bờ thì có một người đến quỳ xuống lạy vua và vua cũng chắp tay lạy người đó. Nước mắt của vua bỗng tuôn trào vì đó là thầy dạy học của vua khi còn nhỏ. Nhờ vậy Pháp mới biết chắc đã bắt được Hàm Nghi rồi. Sau 3 năm lưu vong đói rét trong rừng, vua Hàm Nghi đã khôn lớn, trông bề ngoài không ai biết đó là một ông vua vì vua đã dày dạn gió sương lao khổ. Vua bị đưa xuống tàu Pháp ngày 13-1-1889 để vào Sàigòn rồi bị đày qua Algerie (Bắc Phi Châu); mỗi năm triều đình Huế cấp cho vua 20.000 Francs Pháp và cấp cho người hầu của vua 1.200 Fr. Vua đã lấy vợ người ngoại quốc và sống ở đó cho đến hết đời thọ 72 tuổi. (Theo Bảo Thái trong “Một thời Hoàng Tộc” xuất bản năm 1999 trang 229: Vua Hàm Nghi sinh ngày 3-8-1871 tức 17 tháng 6 âm lịch năm Tân Mùi; mất ngày 4-1-1943 tức 28 tháng 11 âm lịch năm Nhâm Ngọ). Sau khi vua Hàm Nghi bị bắt, Tôn Thất Đạm đã viết hai bức thư, một gởi cho Pháp và một dâng lên vua, lời lẽ rất cảm động xin vua tha thứ cho ông vì đã không cứu được vua. Trong thư gởi cho Pháp ông nói: “Nếu người Pháp muốn biết ta ở đâu thì vào rừng mà tìm, mộ ta ở đó”. Ông ra lệnh cho tướng sĩ ra đầu hàng rồi rút gươm đâm cổ tự tử. Hai ngày sau các thuộc hạ của ông lần lượt ra hàng, xin trở về quê, không nhận chức tước gì của Pháp. 10. DÂN LÀNH VÔ TỘI CHẾT OAN Đưa vua ra đến Quảng Trị, Tôn Thất Thuyết nhân danh vua truyền hịch Cần Vương, bình Tây, sát Tả... nhưng việc bình Tây thì chưa đạt được kết quả gì mà việc sát Tả, tức là giết hại những đồng bào theo đạo Công Giáo vô tội thì thật là quá dã man, tàn ác. Đội quân Đoạn Kiết do ông Tôn Thất


232 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Thuyết lập ra, quy tụ những thành phần bất hảo trong xã hội, bọn trộm cướp giết người bị tù trọng án được tha ra để đới tội lập công, đã tích cực trong việc giết hại người Công Giáo. Chúng tôi nghĩ rằng những nhà Nho yêu nước chắc chắn phải còn chút lương tâm khi chủ trương chống Pháp mà đi giết hại những đồng bào vô tội chỉ vì lý do họ theo đạo Công Giáo. Nếu chúng ta đi vào những làng quê, nơi có người theo đạo sinh sống, chúng ta sẽ thấy họ chỉ là những nông dân, ngư dân nghèo khó sống ở những nơi xa xôi hẻo lánh, cả đời chưa hề thấy bọn giặc Pháp. Những làng có dân theo đạo đã có nếp sống luân lý đạo đức, con cái được giáo dục trong tinh thần mến Chúa, yêu người. Vấn đề cấm đạo đã có từ thời các Chúa Trịnh, Chúa Nguyễn, từ thế kỷ thứ 17 và đỉnh cao là dưới thời Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức thế kỷ thứ 19, nhưng dân chúng vẫn không bỏ đạo, họ đã chấp nhận cái chết để làm chứng là đạo của mình là đúng, là tốt, đức tin của mình là tuyệt đối. Họ đã đổ máu, chịu chết để khẳng định cho chân lý đó. Không lẽ những nhà lãnh đạo từ vua đến các quan, cho đến các Nho sĩ trong nước không có người nào nhận thấy được điều đó hay sao? Ngay khi vua Hiệp Hòa còn tại vị, vua cũng đã khiển trách các quan về việc ngược đãi người theo đạo và Nguyễn Văn Tường đã công khai chống lại vua. Hai quan phụ chính đã đồng lòng với nhau về chủ trương giết hại người Công Giáo. Trong biến cố thất thủ kinh đô năm 1885, trên toàn quốc có hàng trăm ngàn người theo đạo bị giết hại. Riêng tại tỉnh Quảng Trị, sau khi Tôn Thất Thuyết đưa vua Hàm Nghi đi qua đó, thì vào những ngày đầu tháng 9-1885, các quan trong tỉnh ra lệnh giới nghiêm, ai đâu ở đó. Tiếp theo là những toán người có võ trang kéo đi khủng bố các làng theo đạo Công Giáo. Các nơi hẻo lánh bị khủng bố nên họ chạy tránh về làng Dương Lộc, thuộc phủ Triệu Phong, nơi có Linh Mục Nguyễn Ngọc Tuyên, là người đã từng được vua Tự Đức mời ra làm quan ở Thương Bạc và Tham biện ở Hải Phòng. Ngày 6-9-1885, quân lính và đủ mọi thành phần ô hợp có võ trang kéo đến bao vây làng này. Trong làng lúc đó có 2.500 tín đồ Công Giáo, 65 nữ tu và 4 Linh Mục là: Nguyễn Ngọc Tuyên, chánh xứ Dương Lộc, Trần Ngọc Vịnh, chánh


Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 233 xứ Đại Lộc; Đoạn Trinh Khoan, chánh xứ Nhu Lý và Lê Văn Huấn, phó xứ Nhu Lý. Trong ba ngày 6,7 và 8-9-1885, những người nhân danh là Cần Vương, Văn Thân, Ái Quốc, chống Pháp... đã cướp của giết người bất kể già trẻ trai gái, nhà tranh thì họ đốt cháy hết, nhà ngói còn tốt thì họ tháo gỡ mang đi. Dân Công Giáo tập trung vào nhà thờ và bị thiêu sát tập thể. Những người còn sống sót thì cũng thương tích, cháy bỏng, xác chết chồng chất lên nhau, mùi hôi thối tràn ngập cả một vùng. Mãi đến 15 năm sau làng này cũng chưa phục hồi được. Một số người còn sống sót đã thu lượm hài cốt của thân nhân đem chôn chung trong một nấm mồ, nơi đó xưa là thánh đường nay là mồ chôn dân lành vô tội chết chung trong một ngày. Ngày nay di tích đó vẫn còn, có bia đá ghi lại sự tích. Đây không phải là nơi duy nhất xảy ra cuộc tàn sát đẫm máu người dân Công Giáo vô tội mà khắp trong tỉnh Quảng Trị và các tỉnh khác, đồng bào theo đạo cũng bị bạc đãi như thế. Ai là người chịu trách nhiệm về cuộc tàn sát đó? Tất nhiên chúng ta đã có câu trả lời rồi. Tình trạng đó còn tái diễn dưới chế độ Cộng Sản sau 1945 tại Miền Nam cũng như Miền Bắc. 11. NGÀY TÀN CỦA NGUYỄN VĂN TƯỜNG TRÊN ĐẢO TAHITI Nguyễn Văn Tường đã được đưa xuống tàu Pháp vào Sàigòn để qua đảo Tahiti. Cùng đi với ông có Phạm Thận Duật và Tôn Thất Đình (cha của Tôn Thất Thuyết). Tàu đến đảo vào tháng 2 năm 1886, ông được chính phủ Pháp cấp cho mỗi năm là 30.000 quan Pháp để sinh sống. Ở đấy được sáu tháng, ông bị bệnh ung thư cổ họng, không ăn uống gì được, khi chết, lưỡi thè ra như người bị thắt cổ. Ông chết vào ngày thứ sáu, 30-7-1886 lúc 4 giờ rưỡi sáng, thọ 65 tuổi. Thi hài của ông được đặt vào một quan tài bằng sắt và được hàn lại kín đáo trước khi bỏ vào một quan tài bằng gỗ chắc chắn. Theo ông Tôn Thất Hứa, người cùng họ với ông Tôn Thất Thuyết thì chính ông Tôn Thất Đính là cha của Tôn Thất Thuyết đã dứng ra xin với Pháp cho đưa quan tài của Nguyễn Văn Tường về quê. Bộ Thuộc Địa Pháp đã cấp giấy phép ngày 20-10-1886 cho phép chuyển thi hài về Việt Nam. Khi quan tài về tới của Thuận An, vua Đồng Khánh cử


234 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng một viên quan Bộ Hình ra tận nơi để thi hành án, phạt tượng trưng bằng cách quất lên quan tài mấy chục trượng, sau đó mới được đưa về làng An Cư mai táng. Hiện nay ngôi mộ ông Nguyễn Văn Tường vẫn còn tại làng An Cư, phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Dân trong làng nghi ngờ không biết trong quan tài có đúng là thi hài của quan Quận Công An Cư hay không vì không ai mở nắp quan tài khi đón quan tài về quê. Trên đường đi đày, Phạm Thận Duật bị bệnh mất trên tàu, phải ném xác xuống biển, Tôn Thất Đình bị an trí ở Tahiti được hơn một năm thì được cho về quê vì già yếu. Theo ông Tôn Thất Hứa thì con cháu ông Nguyễn Văn Tường đã vào Huế xin bịt khăn tang cho ông Đình khi ông chết vì nhờ ông đứng ra xin với người Pháp cho đưa thi hài của ông Nguyễn Văn Tường về Việt Nam. Con cháu họ Nguyễn ở làng An Cư hiện nay rất đông đúc, nhiều người đỗ đạt, Hán học có, Tây học có, đa số ở nước ngoài, chỉ có một số người cùng họ hiện ở Việt Nam mà thôi. Con cháu cũng có người theo đạo Công Giáo, Phật Giáo hoặc Ngọ Môn


Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 235 thờ cúng ông bà tổ tiên. Việc quá khứ của ông Nguyễn Văn Tường, có điều hay, có điều dở, có chuyện đúng, có chuyện sai, tất cả đã đi vào lịch sử rồi. Ai làm thì người đó chịu, sử sách có quyền phê phán, khen chê. Dù là cùng chung dòng máu với ông nhưng chính con cháu sau này khi nhắc đến ông, họ vẫn có thái độ vô tư, nhận rõ những sai lầm của ông, chứ không ai bênh vực. Những tài liệu chúng tôi góp nhặt được để trình bày trong bài này, một phần cũng nhờ người đồng hương và con cháu của ông cung cấp. Ai cũng nói rằng: ngôi mộ “Lưỡng hổ chầu” vẫn còn phát đến đời con, đời cháu, còn nhiều đời về sau nữa. Nguyễn Lý Tưởng Tài liệu nghiên cứu: - Đại Nam Liệt Truyện Chính Biên (bản Hán văn, quyển 32). - Đại Nam Nhất Thống Chí (tỉnh Quảng Trị). - Quốc Triều Chính Biên Toát Yếu (Cao Xuân Dục). - Quốc triều Đăng Khoa Lục (Cao Xuân Dục). - Châu bản Triều Nguyễn (Bản Hán văn, Ủy ban phiên dịch sử liệu, Đại Học Huế). - Việt Nam Sử Lược (Trần Trọng Kim). - Việt Nam Pháp Thuộc Sử (Phan Khoang). - Việt Sử Tân Biên (Phạm Văn Sơn). - Việt Nam Giáo Sử (Phan Phát Huồn). - Kể chuyện vua quan nhà Nguyễn (Phạm Khắc Hòe). - Quelques précisions sur une période troublée de l’ Empire d’ Annam (A.Delvaux)...


236 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng MỘT VÀI GÓP Ý VỚI TRIỆU VÂN NHÂN ĐỌC BÀI “BỔ TÚC VÀ ĐÍNH CHÍNH SỬ LIỆU VỀ ÔNG NGUYỄN VĂN TƯỜNG” Kính gởi: Ông Chủ Nhiệm và Ban Biên Tập Nhật Báo Người Việt... Trên báo Người Việt xuất bản ngày 8-12-1995 và các ngày kế tiếp có đăng tải bài của Triệu Vân nhan đề “Bổ túc và đính chính sử liệu về ông Nguyễn Văn Tường” trong đó tác giả trực tiếp đề cập đến hai bài nghiên cứu do tôi viết: - Từ ngôi mộ Lưỡng Hổ Chầu đến chiến khu Tân Sở đời vua Hàm Nghi. - Vai trò của Linh Mục Nguyễn Hữu Thơ dưới triều đình vua Tự Đức. Ông Triệu Vân không chỉ thuần túy về nghiên cứu sử học mà phần lớn nhằm đả kích cá nhân tôi với những lời lẽ không đẹp. Nhận thấy nhật báo Người Việt là một tờ báo có ảnh hưởng trong cộng đồng Việt Nam ở hải ngoại, một tờ báo quy tụ những bộ mặt trí thức, tên tuổi mà tôi có rất nhiều cảm tình. Vì kính trọng độc giả của Người Việt nên tôi xin gởi đến quý báo vài góp ý của tôi về vấn đề Triệu Vân đã nêu lên. Tôi nghĩ rằng độc giả chỉ được nghe ý kiến của Triệu Vân mà đa số chưa đọc bài của tôi, nên tôi cũng xin quý báo đăng lại bài “Từ ngôi mộ lưỡng hổ chầu đến chiến khu Tân Sở thời vua Hàm Nghi” để mọi người được nghe ý kiến của cả hai bên, từ đó sự phê phán mới được khách quan hơn. Xin thành thật cảm ơn. Nguyễn Lý Tưởng


Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 237 1. VỀ NGÔI MỘ “LƯỠNG HỔ CHẦU” VÀ NGUỒN GỐC CỦA ÔNG NGUYỄN VĂN TƯỜNG Cách nay khoảng nửa năm, tôi có nhận được hai bì thư, không đề địa chỉ người gởi, trong đó có hai bài báo: một của An Chính Nhân và một của Nguyễn An Cư đề cập đến vấn đề này... Nhận thấy bài báo chứa đựng những lời lẽ, ngôn từ không phải với mục đích là tranh luận với tôi về Sử học mà đúng hơn là người viết đang ở trong một trạng thái quá xúc động về mặt tình cảm. Ngoài ra tác giả không cho biết địa chỉ và tên thật nên tôi không trả lời. Về phần tôi, tất cả những bài tôi viết, tôi ký tên thật và chịu trách nhiệm về bài viết đó, chấp nhận có sự đối thoại với người đọc hay các học giả, các nhà nghiên cứu khác. Nếu tôi có điều gì sai lầm, thiếu sót, tôi xin sửa sai. Chúng tôi nghĩ rằng, khi đề cập đến giai đoạn lịch sử 1885, cách nay hơn 110 năm, chúng tôi hoàn toàn đứng trên quan điểm của một người nghiên cứu Sử học, bị hấp dẫn bởi những sử liệu và những câu chuyện kể về giai đoạn lịch sử vô cùng phức tạp, giai đoạn mà sử sách thường gọi là “Tứ nguyệt tam vương” (bốn tháng có đến ba ông vua được lập). Trước chúng tôi, đã có nhiều người nghiên cứu, viết thành sách vở hay có bài đăng trên báo. Có không ít người trình bày thiếu mạch lạc, không rõ ràng. Do đó, trong thời gian cộng tác với Giáo Sư Nguyễn Phương, Hội Trưởng Hội Sử Học Việt Nam và là Trưởng Ban Sử của Đại Học Văn Khoa Huế, chúng tôi đã hình thành bài biên khảo này. Vì tính cách của một bài báo, có sự hạn chế phần nào, nên chúng tôi không thể trích dẫn hết các sử liệu mà chỉ trình bày tổng quát vấn đề mà thôi. Đối với những nhân vật đóng vai trò quan trọng trong các biến cố lịch sử hay giữ vai trò lãnh đạo trong quốc gia, việc làm của họ thành công hay thất bại, có tiếng tốt, tiếng xấu, có sự phê bình khen chê của sử sách, đó là lẽ thường tình. Chúng ta nhìn họ là “người của quốc gia” (homme d’état), là người của quần chúng, là nhân vật lịch sử. Việc làm của họ ảnh hưởng đến quốc gia, dân tộc, đến mọi người trong xã hội... Khi đề cập đến họ, nhà nghiên cứu lịch sử không hề nghĩ đến con cháu, dòng họ của người đó. Những điều khen chê không nhắm vào gia đình, quê hương hay họ tộc mà chỉ đề cập đến


238 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng một giai đoạn lịch sử, một câu chuyện xảy ra trong quá khứ với những con người đã đóng vai trò quan trọng trong các biến cố lịch sử đó. Về phần con cháu của họ cũng không nên có những cái nhìn chủ quan về con người lịch sử đó, mà phải đặt mình ra ngoài những liên hệ tình cảm họ hàng. Chẳng hạn khi sử sách đề cập đến vua Gia Long, điều đó không có nghĩa là nhà nghiên cứu muốn đặt vấn đề với con cháu của ông. Trái lại, con cháu của ông cũng chẳng có trách nhiệm gì về việc làm của ông: ai làm nấy chịu! Con cháu của ông khi nghe nói về ông cũng nên có thái độ vô tư như tất cả mọi người, kể cả người ngoại quốc, khi đọc lịch sử Việt Nam. Tính cách khách quan khi nhìn về những nhân vật lịch sử hay những biến cố lịch sử sẽ giúp chúng ta cảm thấy dễ chịu hơn, vô tư hơn là tự đặt mình vào thành phần con cháu, thân thuộc của người đó. Cá nhân tôi cũng có quen biết một số người trong dòng họ của ông Nguyễn Văn Tường, đã từng học cùng một lớp, ở chung một nhà hay nằm chung một nhà tù với nhau... Những câu chuyện chúng tôi trao đổi với nhau về các biến cố lịch sử có liên quan đến ông Nguyễn Văn Tường rất khách quan, người góp chuyện không hề cảm thấy cá nhân mình bị xúc phạm... Trong bài, Triệu Vân có thắc mắc về những câu chuyện tôi kể lại, liên quan đến xuất thân của ông Nguyễn Văn Tường, đến ngôi mộ “Lưỡng Hổ Chầu”... Triệu Vân hỏi tôi lấy đâu ra những dữ kiện đó? Thông thường khi nghiên cứu về sử học, sử gia phải căn cứ vào các nguồn sử liệu: sử liệu viết và sử liệu được thuật lại do các nhân chứng trực tiếp hay gián tiếp. Sử liệu viết dựa vào chính sử của triều đình, các văn thư, tài liệu viết để lại, sách vở của người trước để lại, những hồi ký, ký sự, thư từ, văn bia, thi phú... cũng có khi nghiên cứu cả ngoại sử là những điều được ghi chép từ dân gian, từ các tác giả ngoài chính quyền (ngoài triều đình). Sử liệu được thuật lại là những câu chuyện do sưu tầm, phỏng vấn từ những nhân chứng trực tiếp hay gián tiếp qua những người liên hệ, hoặc từ miệng dân gian mà ra v.v... Tất nhiên, người nghiên cứu phải dùng phương pháp “cẩn án” để cân nhắc, đánh giá các tài liệu đó giống như một vị


Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 239 thẩm phán cân nhắc, so sánh các dữ kiện để quyết định vụ án. Về ngôi mộ “lưỡng hổ chầu” tôi thu thập được từ các nguồn tài liệu sau đây: - Từ Cụ Ngự Sử Phan Triệu Khanh, người làng Giáo Liêm, làm quan dưới thời vua Khải Định, từ chức, về làng dạy học trò... Cụ vừa là người địa phương, có liên hệ họ hàng, vừa là sử gia của triều đình... Cha tôi và cụ Hoàng Trọng Thuần là đôi bạn thân từ nhỏ, sau này là bạn đồng chí khi dấn thân hoạt động cách mạng, cả hai người đều là học trò của cụ Phan Triệu Khanh, thường nghe cụ kể về ông Nguyễn Văn Tường. Làng Giáo Liêm (quê của cụ Phan Triệu Khanh) và làng An Cư (quê của ông Nguyễn Văn Tường) ở gần nhau. Năm 1947, cụ Phan Triệu Khanh và gia đình bị kẹt lại trong vùng Việt Minh kiểm soát. Cụ đã cho người liên lạc với một người trong gia đình tôi và mẹ tôi đã nhờ người vận động với hương vệ các làng Dương Lộc, Dương Lệ, Đại Lộc phối hợp hành quân giải vây cho cụ và đưa cụ về tại nhà tôi mấy hôm. Sau đó cụ đến ở nhà bà dì họ tôi là bà Đoàn Đức Linh (Dương Thị Tùng) đến mấy tháng, rồi mới đến thị trấn Đông Hà (Quảng Trị)... Chính tai tôi cũng được nghe cụ kể những chuyện liên quan đến ông Nguyễn Văn Tường. - Từ cụ Phó Bảng Lê Nguyên Lượng, người làng Xuân Thành. Cụ Phó Bảng cũng có bà con với cụ Nguyễn Văn Tương (Tri Huyện, Tri Phủ trước 1945) là cháu nội của ông Nguyễn Văn Tường. Cụ Lê Nguyên Lượng là bạn đồng chí với cha tôi và cụ Hoàng Trọng Thuần. Trong thời gian bị Cộng Sản giam giữ tại Quảng Trị và tại Ba Tơ (Quảng Ngãi), cụ có dịp kể cho cha tôi, cụ Hoàng Trọng Thuần và cụ Nguyễn Văn Mân nghe những chuyện cố sự, trong đó có kể về mồ mả và nguồn gốc của ông Nguyễn Văn Tường. Cụ Phó Bảng và cha tôi chết trong nhà giam của Cộng Sản nhưng cụ Hoàng Trọng Thuần còn sống sót và trở về quê nhà sau 1954. Những lần đến thăm và ở lại nhà cụ, tôi được nghe những chuyện có liên quan đến ông Nguyễn Văn Tường. - Cha tôi, vì một lý do riêng, đã nhờ cụ Nguyễn Hữu Bài che chở và ở trong nhà cụ ba năm. Cụ Bài là Thượng Thư, Phụ Chính Đại Thần, tước Quận Công, đã làm quan trải qua mấy đời vua từ Thành Thái, Duy Tân, Khải Định đến Bảo Đại...


240 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Những việc xảy ra từ 1885 đến 1933 cụ đều biết rõ... Cha tôi đã nhận được những thông tin đó từ trong nhà cụ Bài và truyền qua gia đình tôi. Nên nhớ vua Thành Thái là con và vua Duy Tân là cháu của vua Dục Đức, người đã bị hai ông Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết giết hại, nên những người cộng tác với hai vua đó, chắc chắn phải biết nhiều về hai nhân vật Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết. - Tôi có người bà con là ông Nguyễn Văn Huyên, năm 1955 làm Xã Trưởng vùng An Cư, Xuân Thành là quê hương của ông Nguyễn Văn Tường. Ông đã từng dẫn tôi đi chơi và tiếp xúc với các nhà Nho trong vùng và chính tôi đã từng nghe họ kể về ông Nguyễn Văn Tường. - Năm 1975, tôi bị giam chung một buồng với ông Nguyễn Văn Diếp tại trại Long Thành (tỉnh Đồng Nai). Ông Diếp là Phó Tỉnh Trưởng Quảng Trị và là cháu nội của ông Nguyễn Văn Tường. Chính ông đã kể cho tôi nghe về ngôi mộ “Lưỡng Hổ Chầu”... Đó là ngôi mộ bà nội của ông Nguyễn Văn Tường chứ không phải là ngôi mộ bà ngoại. Khi nói rằng đó là ngôi mộ bà nội, tất nhiên ông Nguyễn Văn Diếp đã khẳng định với chúng tôi rằng, ông Nguyễn Văn Tường có cha là người ở địa phương chứ không phải là Tường Khánh Công tức là vua Thiệu Trị sau này. Tôi không bao giờ nói đến ngôi mộ bà ngoại của ông Nguyễn Văn Tường như Triệu Vân đã nói. Ông Nguyễn Văn Diếp cho chúng tôi biết ông Nguyễn Văn Tường có đông anh em, trai có, gái có và ông là con thứ, trước ông đã có anh, có chị... Chuyện đó đúng hay sai thì người trong dòng họ Nguyễn và dân làng An Cư chắc chắn phải biết... Chúng tôi là người ngoài làm sao biết được những chuyện đó nếu không căn cứ vào sách vở hoặc lời thuật lại, nhất là lời thuật của người trong dòng họ. Tôi nghĩ rằng, người nào dám xưng là con cháu họ Nguyễn làng An Cư mà không biết những chuyện đó, một là họ ít liên hệ với quê hương dòng họ, hai là họ không phải là hàng con cháu quan trọng. Trong phần dẫn nhập vào giai đoạn lịch sử của biến cố “Tứ Nguyệt Tam Vương” và “chiến khu Tân Sở 1885” tôi có kể câu chuyện về ngôi mộ bà nội ông Nguyễn Văn Tường cũng như xuất thân của ông. Khi đọc đoạn văn đó, chắc người đọc cũng hiểu được rằng đây là một câu chuyện được kể lại,


Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 241 nó không phải là một văn bản hay một sử liệu được viết ra từ xưa nhưng qua câu chuyện đó, người đọc cũng hiểu được rằng khó mà bịa đặt được một câu chuyện như thế, tất nhiên phải có người kể lại. Câu chuyện có những tình tiết, có cả một câu chữ Nho nói về địa lý mồ mả... Sự bịa đặt về phía tôi mà có được câu chuyện đó, đâu có dễ dàng như vậy được? Chúng tôi cũng không bắt buộc người đọc phải tin rằng đó là chuyện thật nhưng mọi người có quyền đi tìm cho ra sự thật nếu có khả năng làm được chuyện đó. Nguyễn An Cư, trong bài “Những cảm nghĩ của người dân Quảng Trị...” đăng trên báo Diễn Đàn San Jose, đã trích lại một đoạn tiếng Pháp của Capitain J. Masson trong: “Souvenirs de l’Annam et du Tokin” trang 119 như sau: “Il était fi ls d’un forgeron de Quang Tri” (ông Nguyễn Văn Tường là con một người thợ rèn ở Quảng Trị)... và ông cũng nói rằng theo Thái Văn Kiểm và một số sách tại Việt Nam thì Nguyễn Văn Tường là con của vua Thiệu Trị (ở đây cũng xin nói rõ là sách Việt Nam là sách ra đời sau 30-4-1975 dưới chính thể Cộng Sản hiện tại). Chi tiết đó cho chúng ta biết rằng, ngay từ thời xa xưa đó, đã có nhiều người nói rằng ông Nguyễn Văn Tường xuất thân từ một gia đình nghèo. Câu chuyện mà tôi kể lại dựa theo những lời thuật của nhiều nhân sĩ, trí thức trong vùng và dựa vào lời của ông Nguyễn Văn Diếp, Phó Tỉnh Trưởng Quảng Trị, cháu nội của ông Nguyễn Văn Tường. Theo đó, ông Nguyễn Văn Tường xuất thân từ một gia đình nghèo, không có địa vị gì trong xã hội. Một người xuất thân từ gia đình nghèo, từ trong giới bình dân mà học hành đỗ đạt, giữ chức vụ lớn trong xã hội là một người có tài, có chí, đáng phục chứ sao con cháu lại sợ tổ tiên xuất thân từ nhà nghèo, từ giới bình dân? Xã hội Việt Nam ngày xưa, biết bao nhà Nho nghèo, phải vất vả học hành, đã đỗ đạt và được trong dụng, mới hôm trước họ còn là một người dân thường mà hôm sau đã trở nên quan cử, quan nghè... Đó là điều đáng hãnh diện chứ sao lại có mặc cảm mình xuất thân từ giới bình dân? Chuyện ông Nguyễn Văn Tường là con vua Thiệu Trị (theo ông Thái Văn Kiểm) đối với chúng tôi quả là một điều mới lạ! Sự khám phá này chắc chắn đã làm ngạc nhiên nhiều nhà nghiên cứu lịch sử. Triệu Vân đã trích lại một đoạn nói là


242 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng của ông Vũ Ngọc Khánh, căn cứ trên tài liệu của Đại Nội và tài liệu trên bia ở lăng vua Tự Đức... “Một năm kia, tại trường thi Hương Thừa Thiên, một nho sĩ đã trúng cử với điểm số cao. Các quan giám khảo dù rất yêu tài nhưng không dám cho đỗ, chỉ vì tên của thí sinh ấy là Nguyễn Phước Tường. Theo lệ của triều đình nhà Nguyễn chúng tôi, họ Nguyễn Phước là họ nhà vua, dân chúng không được phép dùng chữ lót như thế, nếu dùng thì phải trị tội. Một người đã lều chiếu đi thi xuất thân là kẻ quê mùa dân giả, sao dám dùng đến Quốc tính? Giám khảo cho gọi anh ta lên nhà thập đạo trách cứ và dọa bỏ tù. Điều làm cho ai nấy ngạc nhiên là thí sinh thản nhiên đáp lại: - Tôi lấy tên là Nguyễn Phước Tường vì tôi là con vua Thiệu Trị. Các quan từ Chủ Khảo đến ông Sơ Khảo, ông Phúc Khảo đều ngạc nhiên trợn mắt: - Anh này táo gan quá! Sao dám nói bậy! - Không, tôi không dám nói bậy. Tôi là con vua Thiệu Trị thực mà. Mọi người đòi anh phải nói rõ ngọn ngành. Tường kể: “Khi vua Minh Mạng đi tuần du ở ngoài Quảng Trị có đem theo cả Hoàng Tử là Tường Khánh đi theo, thời gian ở đây Hoàng Tử đã gặp một người con gái đẹp và gọi vào hầu hạ nhưng lúc trở lại Huế, người không đưa cô gái ấy về. Cho đến lúc Tường Khánh Công lên ngôi trở thành vua Thiệu Trị, thì nhà vua đã quên hẳn mối tình giữa đường ấy. Vua không biết rằng người con gái ấy đã có thai và đành chịu nuôi con một mình. Người con gái ấy là mẹ tôi. Mẹ tôi đã kể cho tôi rõ, lấy họ nhà vua đặt tên cho tôi để chứng tỏ sự trung thành của mình”. Trước hết đây là một đoạn văn theo kiểu trong “Ai lên phố Cát”..., nó không phải là một sử liệu... Điều đó chắc độc giả cũng đã hiểu rồi. Triệu Vân nói rằng ông Vũ Ngọc Khanh căn cứ trên tài liệu của Đại Nội và tài liệu trên văn bia của vua Tự Đức... Tôi có đọc bản Hán Văn và bản dịch bài văn bia của vua Tự Đức đăng trên báo Văn Hóa của Phủ Quốc Vụ Khanh đặc trách Văn Hóa xuất bản... Tôi không tìm được chi tiết nào trong văn bia chứng minh ông Nguyễn Văn Tường là con vua Thiệu Trị. Còn tài liệu của Đại Nội đó là tài liệu gì? Tôi cũng chưa


Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 243 đọc được và cả sư phụ tôi là Giáo Sư Nguyễn Phương, Chủ Tịch Hội Sử Học Việt Nam chắc cũng chưa tìm ra. Các vị khoa bảng Nho học đã dạy cho tôi biết một ít chữ Hán, đã cộng tác với Ủy Ban Nghiên Cứu Phiên Dịch Sử Liệu Đại Học Huế (một bộ phận của Viện Khảo Cổ Sàigòn), cho đến năm 1975, chưa có vị nào biết rõ vụ này. Tài liệu của Quốc Sử Quán nằm trong tay các vị ấy mà họ còn mù mờ, không biết gì về chuyện đó. Nay có người dám nói rằng họ có tài liệu thì thật đáng ngạc nhiên. Vua đi đâu thì có người theo hầu, đó là những mỹ nữ... Thế tử chắc cũng được cái quyền đó. Thế tử là người sắp nối ngôi vua, sự giao du, ăn ở với nữ giới không phải là chuyện bình thường, bởi vì nếu có con thì đó là con vua, là người của hoàng tộc. Người nào ăn ở với vua hoặc với người sau này sẽ nối ngôi vua, mà có thai thì đó là đại phước vì sẽ được nhiều quyền lợi. Trái lại, những người được tuyển vào cung mà không có con thì suốt đời sống lạnh lùng trong thâm cung cho đến già chẳng khác nào một người tù. Vua và Thế Tử không phải là hạng người thường, nhất là đối với nhà Nguyễn, kể từ vua Minh Mạng trở đi, nhà vua đã đặt ra đế hệ, có tôn nhơn phủ để lo việc cho hoàng gia, hoàng tộc. Trường hợp mẹ của ông Nguyễn Văn Tường là một trường hợp rất đáng ngạc nhiên, chỉ có thể xảy ra trong thời loạn, vua mất ngôi, không còn lính tráng hầu cận, đói rách, ẩn náu ở chốn dân giã... Vua Minh Mạng đi tuần du trong thời bình, tiền hô hậu ủng, không lẽ không có ai theo hầu thế tử để đến nỗi phải đi tìm người chăn gối cho thế tử một cách bất thường như thế? Nếu lỡ người đó có thai, không lẽ thế tử (vua tương lai) phải để cho dòng máu của mình sống chết ở đâu không ai biết? Theo ông Nguyễn Văn Diếp thì ông Nguyễn Văn Tường là con thứ, không lẽ người ta đi tìm cho thế tử một người đàn bà đã có chồng, đã có con để chung chăn khối với thế tử sao? Đọc Quốc Triều chánh biên toát yếu của Cao Xuân Dục tôi thấy có nói đến chuyện ông Nguyễn Văn Tường bị phạt phải làm phu trạm ở Mỹ Chánh vì lý do lấy họ vua đi thi. Cho đến khi vua Tự Đức lên ngôi, ban lệnh ân xá, ông mới được thi lại và đã đậu Cử Nhân. Như vậy, sự việc đã xảy ra dưới triều vua Thiệu Trị. Tại sao ông Nguyễn Văn Tường đã chứng minh được ông là con vua Thiệu Trị mà vẫn bị tội? Tại sao vua


244 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Thiệu Trị không chịu nhận Nguyễn Văn Tường là con? 2. SỰ XÁC NHẬN CỦA ÔNG THÁI VĂN KIỂM CÓ PHẢI LÀ SỰ XÁC NHẬN CỦA HOÀNG GIA HAY KHÔNG? Triệu Vân viết rằng: “Ông Thái Văn Kiểm, ngoài vị trí Tiến Sĩ văn chương lại còn là chánh văn phòng cho vua Bảo Đại, nghĩa là sự xác nhận của Tiến Sĩ Thái Văn Kiểm bao hàm sự xác nhận của hoàng gia!” Theo chúng tôi nghĩ, ông Thái Văn Kiểm nghiên cứu lịch sử hay nghiên cứu các giai thoại lịch sử là với tư cách cá nhân, có thể có những sai lầm, sơ suất..., làm sao gọi đó là “sự xác nhận của hoàng gia” được dù trước đây ông là chánh văn phòng của vua Bảo Đại. Ông Phạm Khắc Hòe trước năm 1945 là Ngự Tiền Văn Phòng của vua Bảo Đại, sau 1945 đi theo Hồ Chí Minh. Ông Phan Ngô cũng đã từng là Ngự Tiền Văn Phòng của vua Bảo Đại trước ông Phạm Khắc Hòe. Nếu hai ông đó nghiên cứu lịch sử, viết các giai thoại lịch sử thì cũng đều là sự xác nhận của hoàng gia cả hay sao? Sau 1975, ông Phạm Khắc Hòe có viết một vài cuốn sách: “Từ triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc” và “Kể chuyện vua quan nhà Nguyễn”... trong đó ghi lại những điều ông đã đọc qua sách sử, hoặc nghe kể lại, hay chính ông ta là chứng nhân trong giai đoạn lịch sử đó. Ông cũng cho biết nhiều chi tiết về ông Nguyễn Văn Tường nhưng không thấy nói đến chuyện ông Tường là con vua Thiệu Trị... Vợ ông Phạm Khắc Hòe là chị ông Ưng Trí, người hoàng tộc, chắc ông Hòe cũng biết nhiều chuyện hơn kẻ khác chứ? Chúng tôi tin rằng ở Việt Nam cũng như ở hải ngoại, sau năm 1975, có nhiều người đọc sách của ông Phạm Khắc Hòe nhưng không ai nghĩ rằng đó là sự xác nhận của hoàng gia cả. Các công trình nghiên cứu đó chỉ là của một cá nhân. 3. VẤN ĐỀ CHỐNG PHÁP HAY THÂN PHÁP Triệu Vân viết: “Ông Nguyễn Lý Tưởng bị một ấn tượng rằng ông Tường chống Pháp, loại trừ những người thân Pháp nên ông cố gắng bóp méo lịch sử, nói ông Tường là con người chèo đò rồi vịn vào lý đó, ông luận rằng không lẽ ông Tường lại là con vua Thiệu


Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 245 Trị, rồi ông kết luận rằng câu chuyện ông Tường con vua Thiệu Trị có lẽ được ông Tường sáng tác vào lúc ông giữ chức Thượng Thư sung vào Cơ Mật Viện với mục đích cướp ngôi vua”. Trước hết vì câu văn quá dài, tối nghĩa, chúng tôi không hiểu được ý chính của Triệu Vân muốn nói gì? - Vì ông Tường chống Pháp nên tôi cho rằng ông Tường là con của người chèo đò? - Vậy tất cả những người khác cũng chống Pháp như vua Thành Thái, Duy Tân, cụ Phan Đình Phùng v.v... tôi đều nói họ là con người chèo đò cả hay sao? 4. HAI ÔNG NGUYỄN VĂN ĐẠO VÀ NGUYỄN VĂN ĐẠT LÀ CON HAY LÀ CHÁU ÔNG TƯỜNG? Triệu Vân nói rằng hai ông Nguyễn Văn Đạo và Nguyễn Văn Đạt không phải là con của ông Nguyễn Văn Tường mà là cháu nội. Năm 1885 hai ông mới lên ba tuổi. Như vậy chính tôi đã sai lầm khi nói ông Nguyễn Văn Đạo và Nguyễn Văn Đạt là con của ông Nguyễn Văn Tường. - Trước hết tôi xin khẳng định rằng đây là điều mà sách vở đã nói đến chứ không phải là do tôi tưởng tượng ra. Nếu không do sách vở thì làm sao tôi đặt ra được hai cái tên của hai người trong dòng họ ông Nguyễn Văn Tường mà hai cái tên đó có thật. Chi tiết này tôi đọc được trong cuốn sách nhan đề: “Quelques précisions sur une période troublée de l’Empire d’Annam” (Những sự thật về một giai đoạn xáo trộn của triều đình Huế) của Adolphe Delvaux. Trước khi in thành sách, tác giả đã cho đăng lên báo Bulletin des Amis du vieux Hué, một tờ báo do Léopold Cadière làm chủ bút. Những ai đã từng nghiên cứu về văn hóa, lịch sử Việt Nam đều biết đến hai sử gia này. Đó là những nhà nghiên cứu am hiểu tiếng Việt, chữ Nôm, chữ Hán và đã từng ở Việt Nam hàng nửa thế kỷ. Cả hai đều là thành viên của trường Viễn Đông Bác Cổ Hà Nội trước 1945. Adolphe Delvaux đến Việt Nam ngày 19-11-1902, nghĩa là không cách xa với biến cố 1885 là bao nhiêu. Nhiều người đã tham dự vào biến cố đó hãy còn sống, và ông có thể làm một cuộc điều tra để kiểm chứng lại các sự kiện. Ông đã ở tại Việt Nam gần 58 năm cho đến khi qua đời tại Huế ngày 3-4-1960.


246 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Những chi tiết về ông Nguyễn Văn Tường cũng được ông Phạm Khắc Hòe nhắc lại trong “Kể chuyện vua quan nhà Nguyễn” in tại Hà Nội sau 1975 và Bùi Tuân trong bài “Tứ Nguyệt Tam Vương” đăng trên báo “Vì Chúa” (xuất bản tại Huế từ năm 1936-1945). Ông Bửu Kế cũng có trở lại vấn đề này trên báo Đại Học Huế khoảng 1962. Ngoài ra, các sử gia Trần Trọng Kim, Phan Khoang, Phạm Văn Sơn v.v... cũng có nhắc đến. Từ đó đến nay, chưa có ai lên tiếng đính chính hai ông Nguyễn Văn Đạo và Nguyễn Văn Đạt không phải là con ông Nguyễn Văn Tường. Mới đây, trên báo Người Việt (ra ngày 8-12-1995) tôi mới thấy Triệu Vân phát hiện ra hai ông Nguyễn Văn Đạo và Nguyễn Văn Đạt không phải là con ông Nguyễn Văn Tường. Tôi tuy không đọc được gia phả họ Nguyễn ở làng An Cư, nhưng những điều tôi biết về họ Nguyễn đó, xin tạm trình bày ra đây và xin Triệu Vân giải thích giúp: - Năm 1952, tôi cùng với người bạn học, mẹ anh ấy là cháu nội của ông Nguyễn Văn Tường, đến ở lại nhà ông Nguyễn Văn Phùng, trong thành nội Huế một đêm, đợi sáng mai lên tàu về quê. Ông Nguyễn Văn Phùng (làm quan Tri Huyện hay Tri Phủ trước 1945) là cháu nội ông Nguyễn Văn Tường, cùng hàng với ông Nguyễn Văn Tương (Tri Huyện), Nguyễn Văn Triển (Dân Biểu), Nguyễn Văn Đãi (Phụ Tá Đại Biểu Chính Phủ), Nguyễn Văn Diếp (Phó Tỉnh Trưởng) v.v... Không lẽ những người này cùng hàng với hai ông Nguyễn Văn Đạo và Nguyễn Văn Đạt? Xin xác nhận họ là con hay cháu hai ông đó. - Những người vào hàng chắt của ông Nguyễn Văn Tường mà chúng tôi biết là Nguyễn Quốc Di (Đại Tá Việt Nam Cộng Hòa), Nguyễn Văn Chữ (Đại Việt, chết tại Ba Lòng 1955), những người này gọi ông Nguyễn Văn Tường bằng ông cố vậy họ phải gọi hai ông Nguyễn Văn Đạo và Nguyễn Văn Đạt bằng gì? Không lẽ hai ông đó lại là hàng chú bác của Đại Tá Nguyễn Quốc Di hay ông Nguyễn Văn Chữ... 5. DI CHUYỂN KHO TÀNG Ở HUẾ RA TÂN SỞ BẰNG ĐƯỜNG THỦY HAY ĐƯỜNG BỘ? Theo lời thuật của các Nho sĩ địa phương và Adolphe Delvaux trong cuốn “Quelques précisions sur une période troublée


Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 247 de l’ Empire d’ Annam” thì kho tàng được di chuyển bằng đường thủy nhưng Triệu Vân cho đó là điều vô lý. Khi đề cập đến chi tiết này, chúng tôi đã căn cứ vào hai nguồn tài liệu nói trên chứ không tưởng tượng ra như Triệu Vân nói. 6. TÍNH CÁCH KHÁCH QUAN CỦA CÁC NGUỒN TÀI LIỆU Triệu Vân cho rằng ông Phạm Khắc Hòe vì theo Việt Minh nên viết sách nói xấu chế độ quan liêu, phong kiến. Thế thì Nguyễn Đắc Xuân và những người nghiên cứu sử ở Việt Nam sau 1975, là những người đi theo Cộng Sản, những bài họ viết có khách quan hay không? Khi trích dẫn những tài liệu của họ, Triệu Vân có cần phải dè dặt không? Có quá nhiều chi tiết mà Triệu Vân nêu lên, chúng tôi nghĩ rằng quý vị độc giả nên đọc bài tôi viết, mới thấy được sự hiểu sai lạc câu văn của tôi. Chẳng hạn Triệu Vân viết: “Ông Nguyễn Lý Tưởng cho rằng ông Tường chơi xỏ lá viết thư bằng chữ Nôm gửi cho Pháp... và ông cho là “Nôm na là cha mách qué”. Ông Nguyễn Lý Tưởng nói như vậy chứ chữ Nôm thể hiện tinh thần Việt Nam, chống lại sự đồng hóa của Tàu...” Trước hết, tôi xin nói rõ không phải tôi cho rằng... mà là người Pháp cho rằng... việc ông Tường viết thư bằng chữ Nôm là... (theo Adolphe Delvaux). Tôi có trình bày rõ ràng rằng chữ Nho là văn tự chính thức trong chương trình học, thi cử, luật pháp, ghi chép sử sách từ thời Lý Trần đến nhà Nguyễn. Gửi thư cho vua Tàu, vua Pháp, vua Xiêm v.v... đều viết bằng chữ Nho. Các quan báo cáo công việc lên vua cũng viết bằng chữ Nho v.v... Từ thế kỷ thứ 10, Việt Nam độc lập cho đến thời ông Nguyễn Văn Tường đều dùng chữ Nho. Tại sao không dùng chữ Nôm? Chính vì thế mà người Pháp không chịu nhận một văn bản chữ Nôm vì cho đó không phải là văn tự chính thức. Tôi chỉ trình bày những sự kiện, dựa theo tài liệu và sử sách. Triệu Vân có trách thì trách tổ tiên ta từ ngày độc lập cho đến khi người Pháp bắt chúng ta phải học chữ quốc ngữ, tại sao không dùng chữ Nôm làm văn tự chính thức? Triệu Vân viết: “Về việc vua Tự Đức không có con nối dõi, ông Nguyễn Lý Tưởng lý luận: không lẽ vua Tự Đức đã có hàng trăm bà vợ mà vẫn không có con được”. Đây cũng là một chi tiết


248 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng mà Triệu Vân không chịu đọc hết cả đoạn văn của tôi viết về vấn đề này. Theo ông Bửu Kế và theo nhiều tài liệu khác thì phe đối lập với Tự Đức, ủng hộ anh vua Tự Đức là Hồng Bảo đã nêu ra chi tiết này để nói rằng Tự Đức không phải là con vua Thiệu Trị, không phải là dòng họ Nguyễn Phước. Vì các vua nhà Nguyễn trước Tự Đức đều đông con. Vua Thiệu Trị có hàng trăm con (cả trai lẫn gái). Phe đối lập muốn ám chỉ rằng Tự Đức là con Trương Đăng Quế, Phụ Chánh Đại Thần, Cố Mạng Lương Thần thời vua Thiệu Trị. Vợ Trương Đăng Quế là chị em ruột với bà Từ Dũ, mẹ vua Tự Đức. Bà Từ Dũ chỉ có một con trai, đã chết khi mới sinh nên đem con của Trương Đăng Quế thay thế vào, đó là vua Tự Đức. Khi kể lại chuyện này, ông Bửu Kế nói rằng, đó chỉ là ác ý của phe đối lập vì luật lệ trong cung rất nghiêm nên khó thực hiện được. - Ông Triệu Vân đã trích dẫn một đoạn văn của Nguyễn Đắc Xuân mà ông gọi là “sử liệu” như sau: “Khi được Linh Mục Gaspar cho biết rằng Tường chính là con vua Thiệu Trị và em vua Tự Đức, Pháp đã gạ Tường: ông là người có dòng máu nhà vua, lại có tài vậy ông có muốn làm vua không?” Đây là một phát giác quá mới mẻ, chúng tôi không biết Nguyễn Đắc Xuân lấy tài liệu ở đâu? Nên nhớ Adolphe Delvaux và Léopold Cadière là những người quen thân của Giám Mục Gaspar... mà họ cũng chưa hề được Giám Mục Caspar tiết lộ điều này. Nếu Giám Mục Caspar là chứng nhân trong vụ đó, thì với thói quen của người Âu Châu, họ hay viết nhật ký trước khi chết, hoặc viết ra trên sách vở. Ngay cả biên bản về cái chết của ông Nguyễn Văn Tường ở đảo Tahiti mà Delvaux và Cadière cũng có được, huống chi sự việc gần bên cạnh họ thì làm sao mà họ không biết? 6. NHÂN DANH LÒNG YÊU NƯỚC Những người cầm bút, những nhà nghiên cứu dưới chế độ Cộng Sản, nhất là tại Việt Nam từ khi Đảng Cộng Sản Việt Nam lên nắm chính quyền (8-1945) và nhất là từ 30-4-1975 đến nay, đã cho xuất bản nhiều sách sử, công bố nhiều tài liệu với quan điểm của họ, mục đích đề cao cuộc kháng chiến đó, họ đã nhân danh lòng yêu nước để thiết lập một chế độ độc tài, độc quyền yêu nước, loại trừ những người quốc gia, giết hại


Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 249 những người vô tội. Trước khi có chế độ Cộng Sản cũng đã có những người nhân danh lòng yêu nước để giết hại những người vô tội rất dã man, trong đó vụ “Tứ Nguyệt Tam Vương”, vụ tàn sát những người theo đạo Công Giáo, có nơi trong một ngày, có hàng ngàn người bị giết tập thể, những di tích đó ngày nay vẫn còn. Đó là sự thực. Chúng tôi lên án sự dã man tàn bạo đó. Chúng tôi không bao giờ gọi những người kháng chiến chống Pháp như cụ Phan Đình Phùng... là bọn trộm cướp, xin hãy đọc kỹ những điều chúng tôi viết. Cụ Phan Đình Phùng là người chống lại việc giết vua Dục Đức. Vua Dục Đức đã phạm tội gì mà bị đối xử dã man như thế? Cái chết của vua Dục Đức ở trong ngục tối và việc chôn cất vua cũng đã diễn ra một cách mờ ám, chuyện đó người dân xứ Huế đều biết. Chúng ta không thể quên được người con của Dục Đức là vua Thành Thái và cháu nội của Dục Đức là vua Duy Tân là những người yêu nước, chống Pháp. Hai ông này là người ham học hỏi và có nhiều tư tưởng rất tiến bộ. Muốn hiểu được Dục Đức nên tìm hiểu con cháu của ông. Chúng tôi cho rằng ông chưa làm được điều gì đã bị chết oan. Khi một người nắm vận mệnh quốc gia, họ sẽ hành động theo chủ trương, chính sách của họ. Có thể chủ trương đó xuất phát từ lương tâm chân thành, từ lòng yêu nước chân chính nhưng trong quốc gia vẫn có những người suy nghĩ khác với họ, cũng có thể những suy nghĩ đó xuất phát từ lương tâm chân thành, từ lòng yêu nước chân chính. Ai cũng muốn thực hiện chủ trương chính sách của mình, vì thế mới có phe đối lập. Kết quả của việc thi hành chính sách sẽ chứng minh được chủ trương nào đúng, chủ trương nào sai. Người nghiên cứu lịch sử, ở vào một thời điểm cách xa các biến cố lịch sử hàng trăm năm, cố làm sao giữ cho được tính cách khách quan khi phân tích sự việc. Có những tranh luận để làm sáng tỏ vấn đề, có những dữ kiện mới mẻ được nêu lên để bổ túc các sử liệu trước. Đó là điều đáng mừng cho những người muốn học hỏi. Chúng tôi biết rằng bể học mênh mông nên rất biết ơn những người đã đóng góp kiến thức của mình vào kiến thức chung của nhân loại. Chúng tôi cũng rất mừng khi những ý kiến của chúng tôi nêu lên đã được nhiều người chú ý và bỏ


Click to View FlipBook Version