The words you are searching are inside this book. To get more targeted content, please make full-text search by clicking here.
Discover the best professional documents and content resources in AnyFlip Document Base.
Search
Published by lanthicung, 2023-06-16 22:46:36

ThuyenAiDoiBenVanLau web

ThuyenAiDoiBenVanLau web

400 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ THỜI KHAI SINH CHO ĐẾN THẾ KỶ THỨ X * Bài thuyết trình tại Đại Học mùa hè Orsonens Thụy Sĩ từ 4 đến 11-8-96 I. PHẦN DẪN NHẬP Chúng ta thường nghe nói đến “bốn ngàn năm văn hiến”. Chúng ta hãnh diện vì dân tộc Việt Nam có bốn ngàn năm lịch sử. Có người nói hơn năm ngàn năm... Căn cứ vào đâu mà dám nói như vậy? Câu nói đó có ý nghĩa gì. Để trả lời, chúng ta có mấy vấn đề phải tìm hiểu: 1. Lịch sử là gì? - Lịch: trải qua thời gian, ngày này qua ngày khác. - Sử: một câu chuyện xảy ra. Lịch sử là việc xảy ra trong quá khứ. Đối tượng của lịch sử là con người, hoạt động của xã hội loài người, hay hoạt động của một quốc gia, một dân tộc, của những người lãnh đạo, những người có ảnh hưởng đối với cả dân tộc, những biến cố xảy ra có ảnh hưởng đến cả dân tộc. - Sử ký: (Ký là ghi chép), Sử ký là ghi chép lại những việc xảy ra trong quá khứ có liên quan đến con người, đến xã hội, đến cả một dân tộc v.v... - Sử học là sự nghiên cứu lịch sử theo một phương pháp khoa học, (phương pháp sử học). 2. Căn cứ vào đâu mà biết được những việc xảy ra trong quá


Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 401 khứ? Căn cứ vào sử liệu, vào các chứng nhân lịch sử (chứng nhân trực tiếp, chứng nhân gián tiếp). 3. Các nguồn sử liệu: Truyện cổ tích và sử liệu viết a. Truyền thuyết và chuyện cổ tích: Khi chưa có chữ viết, chưa có sách vở ghi chép (có thể đã có từ lâu đời, có thể mới xuất hiện nhằm phục vụ cho lập trường chính trị của chế độ). - Ca dao, tục ngữ, những bài hát của trẻ con (đồng dao). Ý nghĩa của những chuyện cổ tích phản ảnh tinh thần, tư tưởng, nếp sống của người Việt thời xa xưa, đó là một cách gián tiếp bằng truyền khẩu, để giúp cho con cháu nhớ, biết những việc xảy ra trong quá khứ của tổ tiên mình. b. Sử liệu viết: - Chính sử (do Quốc Sử Quán, do sử quan, do người của nhà nước, tài liệu của quốc gia...) - Dã sử (do các tư nhân viết để lại, gia phả của những dòng họ, thư từ, ký sự, văn bia, thi phú...) c. Di tích lịch sử, nhà cửa, thành trì, cung điện, đền, chùa, nhà thờ, nơi thờ tự, đồ dùng, vũ khí v.v... Khoa khảo cổ học, ngôn ngữ học, cổ tự học v.v... giúp cho việc nghiên cứu lịch sử được thêm chính xác hơn. 4. Sử liệu của người Việt Nam viết Người Việt Nam không có văn tự riêng để ghi chép, phải dùng chữ Hán là chữ của người Trung Hoa, chưa tìm được một tài liệu lịch sử nào chứng minh được người Việt Nam đã dùng chữ viết riêng của dân tộc mình để ghi chép. Sử gia đầu tiên là Lê Văn Hưu, thế kỷ thứ 13, đời nhà Trần với Đại Việt Sử Ký (1273). Sau Lê Văn Hưu có Phan Phu Tiên, cũng đời nhà Trần. Thế kỷ 15 có Ngô Sĩ Liên (đời Lê Thánh Tông) làm lại Đại Việt Sử Ký gọi là Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (1479), các sử thần đời nhà Lê tiếp tục trong đó có Phạm Công Trứ với Đại Việt Sử Ký Bản Kỷ Tục Biên (1665), Lê Hy và Nguyễn Quý Đức tiếp tục Đại Việt Sử Ký Bản Kỷ Tục Biên (1697), Lê Quý Đôn với Phủ Biên Tạp Lục (1776) v.v... Những tác phẩm không phải là chính sử như Việt sử tiêu án của Ngô Thời Sĩ (1726-1780), Hoàng Lê Nhất Thống Chí của Ngô Thời


402 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Chí v.v... thường gọi là Ngô Gia Văn Phái. Đời nhà Mạc có Dương Văn An với Ô Châu Cận Lục (1553)... Đời nhà Trần có Lê Tắc chạy theo quân Mông Cổ lưu vong qua Trung Hoa, ông nghiên cứu các tài liệu liên quan đến lịch sử nước ta hiện có ở Trung Hoa và đã viết một tác phẩm lấy tên “An Nam Chí Lược” (1333). Sau hết là Quốc Sử Quán nhà Nguyễn (quy mô nhất, tiến bộ nhất) với bộ “Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục (1844)” ghi chép toàn bộ lịch sử Việt Nam từ đầu cho đến đời nhà Lê. Hai bộ Thực Lục (1841) và Liệt Truyện (1852) viết về nhà Nguyễn (mỗi bộ gồm hai phần: Tiền Biên và Chính Biên). Ngoài ra còn có bộ Đại Nam Nhất Thống Chí (1882) viết về địa lý, lịch sử các địa phương và nhiều sách khác... Tài liệu hành chánh lưu trữ có “Châu Bản Triều Nguyễn” ghi chép nội dung các văn thư hành chánh, quyết định của vua và triều đình v.v... từ Gia Long về sau... 5. Sử liệu của người Trung Hoa Có trước sử liệu Việt Nam cả ngàn năm như Sử Ký của Tư Mã Thiên (thế kỷ thứ I trước Tây Lịch), Hán Thư gồm Tiền Hán Thư của Ban Cố và Hậu Hán Thư của Phạm Việp khai thác các tài liệu từ đời nhà Hán (Tiền Hán từ 202 trước Tây Lịch đến năm thứ 8 sau Tây Lịch và Hậu Hán từ năm 25 đến 220 sau Tây Lịch). Hán Thư được hoàn thành dưới thời nhà Đường (618- 917)... Những chi tiết về Triệu Đà, An Dương Vương Thục Phán, Mỵ Châu, Trọng Thủy, Hai Bà Trưng v.v... mà sử sách Việt Nam đã đề cập đến đều lấy từ các sách nói trên. Đời nhà Đường (618-917) có Tư Trị Thông Giám của Tư Mã Quang biên soạn trong đó có nói đến một số biến cố liên quan đến nước ta dưới thời Bắc thuộc, bị người Trung Hoa xâm chiếm. Tống sử, Nguyên sử, Thanh sử... là sử của Trung Hoa dưới thời nhà Tống, nhà Nguyên (Mông Cổ) và nhà Thanh của Trung Quốc (từ thế kỷ thứ 10 đến đầu thế kỷ 20). Những việc xảy ra giữa hai nước Việt Nam và Trung Hoa trong giai đoạn nói trên đều có ghi chép trong các bộ sử này. Toàn bộ các tài liệu lịch sử của Trung Hoa từ đời nhà Tần (thế kỷ thứ 3 trước Tây Lịch) đến cuối nhà Thanh (đầu thế kỷ 20) đều được Đài Loan cho in lại trong một bộ sử gọi là Nhị Thập Ngũ Sử (25 bộ sử). Các sách nói trên đều viết bằng chữ Hán (chữ của người


Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 403 Trung Hoa), chỉ có một số được dịch ra tiếng Việt, muốn nghiên cứu trực tiếp thì phải biết chữ Hán. Đó là điều trở ngại cho đa số các sử gia ngày nay. 6. Đánh giá sử liệu Sử liệu viết mới nói lên được biến cố xảy ra một cách đầy đủ như tên người, thời gian, nơi chốn, diễn tiến sự việc, nguyên nhân, hậu quả v.v... Đó là tài liệu giá trị nhất. Còn những đồ vật, di tích là những vật câm, không có tiếng nói, không có lời kể lại, thuật lại... nên mỗi người hiểu một cách, có những lời giải thích, lý luận khác nhau. Không có tài liệu viết thì không thể có lịch sử được. Sử liệu phải do các chứng nhân trực tiếp hoặc gián tiếp viết ra hay kể lại cho người khác ghi chép, ngay hoặc sau khi biến cố xảy ra, càng gần với biến cố, càng có giá trị. Sử liệu phải được liên tục, không bị gián đoạn, đời trước có nói, đời sau nhắc lại, đời trước chưa ai biết, đời sau lại bịa đặt ra là điều vô lý, không có giá trị. Do đó phải dùng phương pháp cẩn án, nghĩa là nghiên cứu, cân nhắc, so sánh, đánh giá tài liệu như việc nghiên cứu các bằng chứng của một vụ án để kết luận là bằng chứng đó có đầy đủ giá trị để buộc tội một bị can hay không. Nước Việt Nam chúng ta, từ thế kỷ thứ mười trở về trước chưa có sử sách hoặc tài liệu ghi chép, hay nếu có chăng nữa thì hiện nay chúng ta không còn lưu trữ, không còn bút tích. Những việc xảy ra hơn hai ngàn năm trước, hoặc từ ngày lập quốc cho đến thế kỷ thứ 10, các sử gia đều dựa trên sử sách của Trung Hoa. Những chuyện kể trong nhân gian, phần nhiều được thêu dệt, thần thánh hóa, thiếu tính cách khách quan, không xác định được rằng nó xuất hiện vào thời kỳ nào. Có khi chuyện kể về thời đại xa xưa nhưng nó lại xuất hiện không xa thời kỳ nước ta có sử sách ghi chép là bao nhiêu. Sử gia không thể căn cứ vào đó mà dựng lại lịch sử được. II. VIỆT NAM TỪ NGÀY LẬP QUỐC ĐẾN THẾ KỶ THỨ MƯỜI 1. Nguồn gốc dân tộc Việt Nam Không phải chỉ có tổ tiên chúng ta và chúng ta làm chủ


404 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng giang sơn Việt Nam này mà trước chúng ta đã có những giống người khác phong tục, khác tiếng nói, khác dòng máu và có một nền văn minh khác với chúng ta sinh sống trên mảnh đất này rồi. Khoa khảo cổ học và khoa nhân chủng học đã khám phá ra điều đó. Những mảnh xương sọ, những đồ đá, đồ đồng, theo thứ tự thời gian nằm ở dưới lòng đất. Trên 3.000 năm thì có giống người Mê-la-nê, từ 2.000, 2.500 năm thì có giống người In-đo-nê và sau cùng mới đến chúng ta. Người ta còn tìm được ở Bình Gia (tỉnh Lạng Sơn) dấu vết của người vượn (pithecantropus) tương đương với người vượn ở Chu Khẩu Điếm, một địa điểm gần Bắc Bình (Bắc Kinh, Trung Quốc) và cùng thời với người vượn ở Java (Indonesia) khoảng 300.000 năm. Vì thế Việt Nam nói rằng chúng ta cũng là một trong những cái “nôi” của nhân loại, nơi khai sinh của loài người. Giống người đó nói tiếng đa âm, tóc quăn, da đen, có chỉ số sọ và máu khác với chúng ta. Tỷ lệ máu của hai giống người đó trong người Việt chúng ta rất ít, đa số chúng ta có dòng máu và chỉ số sọ cùng nhóm với người phương Bắc như Trung Hoa, Mông Cổ, Triều Tiên v.v... gọi là giống Mông-gôn. Giống người này da vàng, tóc đen thẳng, nói tiếng đơn âm. Người miền núi ở Việt Nam thuộc giống In-đô-nê, có một nền văn minh khác với chúng ta và rất gần với giống người Nam Á như Mã Lai, Indonesia, Philippine (Phi Luật Tân)... Người ta cũng ngạc nhiên khi thấy người Phi Luật Tân đến Việt Nam hiểu được tiếng nói của người Thượng (thiểu số) ở tỉnh Lâm Đồng, hay người thiểu số ở Pleiku, Ban Mê Thuột hiểu được tiếng nói của những bộ lạc đang sống trong rừng Mã Lai. Trống đồng còn được sử dụng ở vùng cao nguyên miền Nam Việt Nam và tìm được ở vùng cận sơn Thanh Hóa, Hòa Bình và cả những nơi mà chưa đến một ngàn năm trước đây, không phải là đất nước của người Việt Nam như Thừa Thiên (Huế). Trong khi đó từ Việt Trì cho đến bờ biển Miền Bắc Việt Nam, vùng đồng bằng mà người Việt Nam cư ngụ đông nhất từ hàng ngàn năm nay, chưa hề xuất hiện trống đồng. Chúng ta cũng thừa biết rằng người Việt Nam chỉ dùng trống làm bằng gỗ, bịt da thú mà thôi. Những di tích đồ đá tìm được ở miền Bắc Việt Nam như Bắc Sơn, Hòa Bình là những nơi người thiểu số thuộc giống In-đô-nê ở và được định tuổi trên


Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 405 3.000 năm thì cũng tìm được ở những nơi mà cách đây 500, 600 năm không phải là lãnh thổ của nước Việt Nam, không phải là giang sơn của người Việt Nam như Long Khánh, Biên Hòa, Dầu Giây v.v... Điều đó nói lên rằng chúng ta không phải là chủ nhân của những đồ đồng, đồ đá đó. Đã có những giống người khác sinh sống trên đất nước Việt Nam trước chúng ta. Từ thế kỷ thứ 10 trở về trước, biên giới của nước Đại Việt (tức Việt Nam thời nhà Lý) mới chỉ đến Đèo Ngang thuộc ranh giới tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Bình. Từ Quảng Trị vào miền Nam là thuộc người Chàm, người Miên và vùng núi miền Nam thuộc người thiểu số giống In-đô-nê. Tỉnh Pleiku, Ban Mê Thuột cho đến đầu thế kỷ 20 mới thuộc về nước Việt Nam, trước đó còn thuộc nước Lào, người Pháp đã cắt đất Trấn Ninh ở miền Bắc Việt Nam cho nước Lào đổi lấy đất Pleiku, Ban Mê Thuột cho Việt Nam. Nói như thế để chúng ta hiểu rằng, những nền văn minh xưa cổ, có niên đại hàng ngàn năm mà chúng ta mới khám phá ra tại những nơi đó không phải là của tổ tiên chúng ta. Những nền văn minh đồ đá đó cũng giống đồ đá mà người ta tìm được trong các cuộc khai quật vào cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 ở vùng núi miền Bắc và Bắc Trung của Việt Nam, những sinh hoạt, phong tục ghi lại trên trống đồng, những vật biểu tượng của dân tộc đó rất khác với văn minh Việt Nam ở vùng châu thổ sông Hồng (vùng đồng bằng miền Bắc Việt Nam) nơi người Việt Nam đã sinh sống lâu đời. Vật biểu tượng của Việt Nam là rồng, chúng ta tự cho mình là con rồng, cháu tiên... Còn vật biểu tượng trên trống đồng là hình con chim. Hình nhà sàn, hình người nhảy múa v.v... không phải là hình ảnh quen thuộc của người Việt Nam ngày xưa cũng như ngày nay ở miền Bắc. Trong khi đó người thiểu số ở miền núi vẫn bảo vệ phong tục, sinh hoạt của họ rất gần với hình ảnh ghi lại trên mặt trống đồng. Sự liên hệ của những nền văn minh khai quật được từ dưới lòng đất với chúng ta, người Việt ở vùng đồng bằng hãy còn nhiều xa cách. Khi kết luận rằng những nền văn minh đó là của người Việt, thiết tưởng chúng ta cũng phải dè dặt. Người Việt Nam chúng ta đã làm một cuộc Nam tiến từ lâu đời. Chúng ta là những người di dân, thu thập được nhiều


406 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng nền văn hóa từ phương Bắc đến phương Nam, cộng với bản sắc độc lập, bất khuất, không chịu làm nô lệ của giống nòi Việt, đã tạo nên một quốc gia riêng biệt trong đó có sự góp công của những người phương Bắc di dân đến như các chứng cứ lịch sử đã để lại. Giọng nói của người Việt Nam cũng biến đổi theo từng miền: Bắc, Trung, Nam nhưng chúng ta vẫn có được một tiếng nói thống nhất, từ Bắc chí Nam, vẫn hiểu được nhau khác với người Trung Hoa mỗi tỉnh có một ngôn ngữ riêng. Mỗi miền, mỗi tỉnh, mỗi địa phương ở Việt Nam có một số từ ngữ riêng gọi là tiếng địa phương nhưng các nơi khác vẫn hiểu. Đó là sự phong phú của tiếng Việt. Trên thế giới có nhiều dân tộc cùng chung một quốc gia (như Trung Hoa), trái lại cũng có nhiều quốc gia cùng chung một dân tộc (như Anh Quốc, Hoa Kỳ, Úc, Tân Tây Lan đều có gốc là người Anh)... Những người da đen ở Mỹ nói tiếng Anh nhưng ai cũng biết họ là giống người từ Phi Châu tới. Người Mỹ không bao giờ cho rằng họ là chủ nhân của những nền văn minh đã có mặt hàng ngàn năm trên đất Hoa Kỳ, bởi lẽ người da trắng chỉ có mặt ở Mỹ Châu trong vòng mấy trăm năm nay mà thôi. Người di dân có công khai phá vùng đất mới và họ muốn làm chủ giang sơn mới của mình. Đó là trường hợp người da trắng từ Anh Quốc đến Mỹ Châu, đã chống lại vua nước Anh để đòi độc lập. Triệu Đà là quan của nhà Tần, đem dân đi lập nghiệp ở phương Nam cũng muốn có một quốc gia riêng, độc lập với Trung Quốc. Sau Triệu Đà, có Lý Cầm, Lý Tiến là người Trung Hoa di cư sang Giao Chỉ, đòi vua nhà Hán phải cho người Giao Chỉ làm quan cai trị người Giao Chỉ thay thế các quan được gởi từ Bắc Kinh đến. Lý Tiến, Lý Cầm gốc người Hán, đến ở đất Giao Chỉ (hoặc sinh ra ở đất Giao Chỉ), đã tự tách rời khỏi người Trung Hoa, không nhận mình là người Hán. Lý Bí tức Lý Bôn là người Trung Hoa (sử Việt Nam và sử Trung Hoa đều nói rõ như vậy) đã đứng lên lãnh đạo người Giao Chỉ chống lại vua Trung Hoa, tuyên bố độc lập và tự xưng làm vua. Họ Lý, họ Trần ở Việt Nam đều là gốc từ Trung Hoa. Sử Việt Nam nói rõ, Trần Lý, ông nội của Trần Hưng Đạo (Trần Quốc Tuấn) là người tỉnh Phước Kiến (Trung Hoa) đến lập nghiệp ở vùng biển Hải Dương (Việt Nam), làm nghề đánh cá và còn biết bao nhiêu người từ


Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 407 Trung Hoa đến Việt Nam như Phan Thanh Giản, Trần Tiễn Thành v.v... đều làm đến quan Thượng Thư trong triều đình Việt Nam. Không có người Việt Nam nào không thừa nhận vua nhà Trần là người Việt Nam, không thừa nhận anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo là người Việt Nam. Dù sử sách có ghi ông nội của họ là người Trung Hoa cũng chẳng lay chuyển được lòng người Việt Nam. Nói như thế để thấy rằng, một khi từ phương Bắc, tổ tiên chúng ta đi về phương Nam thì cái cõi phương Nam mới chính là giang sơn của mình, là tổ quốc của mình, mình phải bảo vệ tổ quốc đó. Ý thức độc lập đã khởi đi từ hàng ngàn năm. Nếu chúng ta nghiên cứu cho kỹ tài liệu lịch sử thì Ngô Quyền là người Trung Hoa, là quan của Trung Hoa. Chức Tiết Độ Sứ là chức quan dành cho người Trung Hoa đến cai trị đất An Nam thời nhà Đường. Ngô Quyền vốn là một trong những ông quan đó. Trong khi Triệu Đà đem dân đi về phương Nam tách rời khỏi Trung Ương nhà Tần thì Tần Thủy Hoàng lại thống nhất được lục quốc (sáu nước), đốt sử sách, hủy bỏ văn tự của các nước, bắt cả Trung Hoa phải học một thứ văn tự duy nhất là Hán văn. Lục quốc càng ngày càng thống nhất lại một, càng có những điểm tương đồng. Trong khi đó Triệu Đà và đám di dân càng ngày càng xa cách, càng tiếp thu thêm những cái mới của vùng đất mới nên càng ngày càng khác biệt. Hai ngàn năm sau thì sự khác biệt đó càng lớn và người ta cho rằng họ không còn cái gốc của hai ngàn năm trước nữa. Trong phạm vi bài này, chúng tôi không có tham vọng giải quyết vấn đề hiện đang được tranh luận trên khắp thế giới về nguồn gốc dân tộc Việt Nam. Chúng tôi cũng không chủ trương thừa nhận những nền văn minh đồ đá, đồ đồng được khám phá từ dưới lòng lòng đất Việt Nam là của người Việt Nam đa số hiện sống trên giang sơn Việt Nam ngày nay. Chúng tôi biết rằng nhiều người không muốn nêu lên nhận xét đó vì làm tổn thương đến tình cảm của người Việt Nam vốn rất hãnh diện về cái nền văn hóa lâu đời của mình và những truyền thống tốt đẹp từ ngàn xưa mà mọi người quyết tâm bảo vệ.


408 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng 2. Thời đại hoang đường Câu chuyện về họ Hồng Bàng và đời Hùng Vương không thấy ghi chép trong sử sách của Trung Hoa. Trước Ngô Sĩ Liên, Lê Văn Hưu cũng không đề cập đến. Trong Bình Ngô Đại Cáo, Nguyễn Trãi vào năm 1428 chỉ nói “Việt tự Triệu, Đinh, Lê, Lý, Trần dữ Hán, Đường, Tống nhất phương” (Nước Việt ta từ Triệu Đà, Đinh Bộ Lĩnh, Lý Thái Tổ, Trần Thái Tông... cùng sánh với nhà Hán, nhà Đường, nhà Tống... một phương)... Nguyễn Trãi không nói đến Hùng Vương. Chỉ có Ngô Sĩ Liên vào thời Lê Thánh Tông đã cổ võ thuyết Hùng Vương trong sử sách một cách mạnh mẽ. Đại Việt Sử Ký toàn thư (thế kỷ 15) đã chép thêm một phần gọi là Ngoại Kỷ nói về họ Hồng Bàng trong khi Lê Văn Hưu (thế kỷ 13) không nói đến. Sử gia nhà Nguyễn sau Ngô Sĩ Liên cũng cho đó là chuyện hoang đường không đáng tin. Như vậy chuyện Đế Minh, cháu ba đời của vua Thần Nông (Trung Hoa) đi về phương Nam gặp Vụ tiên nữ sinh ra Lộc Tục v.v... đã được Ngô Sĩ Liên đem vào chính sử. Đời Trần có Lý Tế Xuyên làm sách Việt Điện U Linh Tập (1329) và đầu thế kỷ thứ 15 có sách Lĩnh Nam Chích Quái của Trần Thế Pháp, hai sách này không phải là chính sử, đã viết những trang hoang đường quái dị: “Cháu ba đời Viêm đế họ Thần Nông tên là Đế Minh, sinh ra Đế Nghi, tuần du phương Nam đến Ngũ Lĩnh gặp Vụ tiên nữ sinh lòng yêu mến, cưới về làm vợ sinh ra Lộc Tục, dung mạo đoan chính và rất thông minh. Đế Minh lấy làm lạ và cho nối ngôi nhưng Lộc Tục nhường cho anh. Đế Minh lại lập Đế Nghi làm vua cai trị phương Bắc, cho Lộc Tục cai trị phương Nam lấy hiệu là Kinh Dương Vương, đặt tên nước là Xích Quỉ. Kinh Dương Vương xuống thủy phủ lấy con gái vua Động Đình là Long Nữ sinh ra Sùng Lãm, tức là Lạc Long Quân...”. Với giọng điệu như thế, sách Lĩnh Nam Chích Quái kể tiếp, Lạc Long Quân gặp Âu Cơ, vợ của Đế Lai, say mê nàng và quyến rũ nàng theo mình, sinh được 100 trứng, nở thành 100 con trai, 50 con theo mẹ lên núi, 50 con theo cha xuống biển... Những người con của Lạc Long Quân tôn người anh trưởng lên làm vua gọi là Hùng Vương... 3. Nước Lạc Việt Trong các sách cổ của Trung Hoa có nói đến một dân tộc


Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 409 gọi là Lạc Việt. Hậu Hán Thư quyển 54, phần nói về Mã Viện, danh tướng của nhà Hán, có chép rằng: “Viện hảo kỵ, thiện biệt danh Mã, chinh Giao Chỉ, đắc Lạc Việt đồng cổ, nãi chú vi mã thức” (Viện cưỡi ngựa giỏi, nên có biệt danh là Mã, khi sang đánh Giao Chỉ, ông đã lấy được trống đồng của người Lạc Việt, đem đúc thành con ngựa). Thế kỷ thứ 6, có một người tên Lệ Đào Nguyên, đã từng đến đất Lạc Việt xưa (vùng Mê Linh) và đã ghi lại những điều nghe thấy qua sách Thủy Kinh Chú như chuyện Trưng Trắc, Trưng Nhị v.v... Lệ Đào Nguyên cũng có nhắc đến một sách cổ tên là “Giao châu ngoại vực ký”. Sách này được sử gia Pháp là Aurousseau cho rằng có thể do Cố Vi vào đời nhà Tấn (205-420), trong đó có một đoạn nói đến đời sống của dân Lạc Việt như sau: “Giao Chỉ tích hữu quận, huyện chi thời, thổ địa hữu Lạc điền. Kỳ điền tòng thủy triều thượng hạ. Dân khẩn thực kỳ điền, nhân các vị Lạc dân. Thiết Lạc vương, Lạc hầu, chủ chư quận huyện. Đa vi Lạc tướng, đồng ấn thanh thụ” (Lệ Đào Nguyên, Thủy Kinh Chú, quyển 37, tờ 4b), dịch nghĩa: “Ngày xưa khi đất Giao Chỉ chưa trở thành quận, huyện của nhà Hán, ở đó có ruộng gọi là ruộng Lạc. Ruộng đó tùy theo nước thủy triều lên xuống (ruộng ngập nước), dân khai khẩn ruộng đó nên gọi là dân Lạc. Họ lập ra các chức Lạc Vương, Lạc Hầu để làm chủ các quận huyện. Có nhiều Lạc Tướng có ấn đồng lụa xanh”. Tư Mã Trinh khi chú giải Sử Ký của Tư Mã Thiên có nhắc đến một sách khác của họ Đào là “Quảng Châu Ký” trong đó có nói đến đời sống của dân Lạc. Lê Tắc, trong An Nam Chí Lược (1333) trang 24 cũng có nhắc đến đời sống của dân Lạc... Thế kỷ 15, Ngô Sĩ Liên, trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư cũng nhắc đến Lạc Vương, Lạc Hầu, Lạc Tướng... Thế kỷ 17, Cao Hùng Trưng, trong “An Nam Chí Nguyên” và Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục (thế kỷ) cũng nhắc lại chi tiết đó... Nhiều học giả cho rằng các sách này đều lấy lại tài liệu của “Giao Châu ngoại vực ký” nói trên vì tất cả các tác giả đều lặp lại những chi tiết mà sách Giao Châu Ngoại Vực Ký đã nói đến. Qua đoạn văn trên chúng ta biết được dân Lạc Việt đã có đời sống nông nghiệp, biết khai thác ruộng ngập nước (ruộng Lạc), họ có vua gọi là Lạc Vương và dưới vua có Lạc Hầu, Lạc Tướng... Vua cấp cho các tướng con dấu bằng đồng, lụa xanh v.v... hoặc là các tướng tự đúc ra con dấu bằng đồng, có giải


410 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng lụa xanh. Như vậy thời đó họ đã dệt được lụa hoặc mua lụa của người Trung Hoa (nhà Tần nổi tiếng về tơ lụa). Xã hội thời đó đã có tổ chức, kinh tế phát triển và họ cũng có luật pháp riêng. Theo Phạm Việp, tác giả Hậu Hán Thư, thì “Luật của người Lạc Việt và luật của nhà Hán khác nhau đến mười điều vì thế Mã Viện phải giải thích luật pháp cũ cho họ và bắt họ từ này về sau phải tuân giữ” (Hậu Hán Thư, quyển 54, trang 747, cột 2: “Điều tấu Việt luật dữ Hán luật bác giả thập dư sự. Dữ Việt nhân minh cựu chế dĩ ước thúc chi, tự hậu Lạc Việt cử hành Mã tướng quân cố sự”). Những chi tiết trên đây là hình ảnh của dân Lạc Việt trước khi bị người Trung Hoa xâm chiếm, thế kỷ thứ I trước Công nguyên. Sử liệu có sớm nhất cũng xuất hiện vào thế kỷ thứ IV, nghĩa là sau các biến cố nói trên mấy trăm năm và do người Trung Hoa ghi chép. Sử gia Việt Nam khi nói về thời kỳ này cũng dựa vào sử sách Trung Hoa là chính. Khi viết về người Lạc Việt, người Trung Hoa hoặc dùng Hán tự để phiên âm những tên người, tên đất hoặc để diễn tả ý nghĩa của sự việc. Do đó những từ như “Lạc vương”, “Lạc hầu”, “Lạc tướng” là ngôn ngữ của Trung Hoa chỉ các chức vụ của người Trung Hoa tương đương với chức vụ của người Lạc Việt. Nói tóm lại, người Lạc Việt đã có một xã hội, có tổ chức, có người lãnh đạo, có luật pháp, có văn hóa nghệ thuật, kinh tế phát triển so với các dân tộc khác cùng thời. 4. Hùng Vương xuất hiện vào thời nào? Như đã nói, sử gia Trung Hoa dùng Hán tự để phiên âm nên các sử sách của người Tàu đã dùng nhiều cách phiên âm khác nhau. Đã gọi là phiên âm thì không chú trọng đến nghĩa của chữ đó. Sử Ký viết chữ Lạc một bên là chữ mã , một bên là chữ các . Hậu Hán Thư, Quảng Châu Ký và Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục cũng viết như vậy. Sách Lĩnh Nam Chích Quái và Đại Việt Sử Ký Toàn Thư thì viết chữ Lạc một bên là chữ và một bên là chữ Các . Sách Quảng Châu Ký và An Nam Chí Lược thì viết một bên chữ Các và một bên bộ . Chữ Lạc trong sách Lĩnh


Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 411 Nam Chích Quái và An Nam Chí Lược, có người cho rằng có ý nghĩa là “nước”, chữ “nước” trong tiếng Việt cổ và trong tiếng Mường là “Nác” (nước uống) và chữ Lạc theo họ là Nác nghĩa là dân tộc làm ruộng nước, ruộng ngập nước. Đó cũng là một cách giải thích chữ Lạc vì không ai hiểu chữ Lạc nghĩa là gì? nhưng chữ Lạc trong Lĩnh Nam Chích Quái và Đại Việt Sử Ký Toàn Thư với bộ không phải là nước mà là con vật có 4 chân. Chữ Lạc trong Quảng Châu Ký và An Nam Chí Lược gần giống với chữ Hùng . Chữ Lạc Vương thì khó hiểu nhưng chữ Hùng Vương thì có ý nghĩa lớn, một vị vua anh hùng. Do đó, Thẩm Hoài Viễn trong Giao Châu Ngoại Vực Ký (thế kỷ thứ 5) thay vì nhắc đến Lạc Vương thì ông nói là Hùng Vương. Ông giải thích: “Đất Giao Chỉ rất màu mỡ, người ta di dân đến ở, chính họ là kẻ đầu tiên khai khẩn đất này. Đất đen và xổi, hơi xông lên mùi hùng. Vì vậy, người ta gọi ruộng đó là hùng điền, dân đó là hùng dân. Có quân tướng gọi là hùng vương; vương đó có kẻ giúp gọi là hùng hầu. Đất thì chia cho các hùng tướng” (Nguyễn Phương, Việt Nam thời khai sinh, tr.144). Nhưng chữ Lạc đã được nhắc đến từ lâu, từ thế kỷ thứ I trước công nguyên, sách Sử Ký của Tư Mã Thiên đã nói đến rồi. Trước Nam Việt Chí của Thẩm Hoài Viễn, nhiều sách như đã nói trên cũng đã nói đến Lạc Việt, Lạc Vương, Lạc Hầu, Lạc Tướng... Sử gia Việt Nam cũng nói đến Lạc Vương... nhưng bên cạnh hai chữ Lạc Việt, Lạc Vương thì lại xuất hiện thêm hai chữ Hùng Vương. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng chữ Hùng đó là do chữ Lạc mà ra vì chữ Lạc gần giống chữ Hùng nếu viết nhanh thì khó mà phân biệt được. Trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Ngô Sĩ Liên nêu ra đủ 18 tên của 18 đời Hùng Vương. Có tên tức là có người. Vậy Ngô Sĩ Liên tìm ở đâu ra 18 cái tên đó? Để trả lời cho vấn đề này, cố Giáo Sư Nguyễn Phương, Chủ Tịch Hội Sử Học Việt Nam đã trích dẫn một đoạn văn trong Sử Ký của Tư Mã Thiên (sinh năm 145 trước Tây Lịch) quyển 40 trang 141, cột 3 nói rằng đời Thành Vương nhà Chu (1115 đến 1079) trước Tây Lịch (cách nay khoảng 3.000 năm) có họ Hùng ở đất Sở được vua nhà Chu phong cho đứng đầu các giống man di ở đấy. Danh từ “tù trưởng” ở đây có nghĩa là vua một nước nhỏ đối với nhà Chu


412 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng là thiên tử của Trung Hoa, một nước lớn nhất vào thời đó. Họ Hùng truyền được 18 đời... “Hùng Dịch sinh Hùng Nghệ (1078-1053) Hùng Nghệ sinh Hùng Đán (1052-1002) Hùng Đán sinh Hùng Thăng (1001-947) Hùng Thăng truyền ngôi cho em là Hùng Dương (946-888) Hùng Dương sinh Hùng Cừ (887-878)...” Với cách ghi chép trên của Tư Mã Thiên, sử gia Trung Hoa thế kỷ thứ I trước Tây Lịch, chúng ta có được 18 đời Hùng Vương như sau: 01. Hùng Dịch 1122 02. Hùng Nghệ 1078 03. Hùng Đán 1052 04. Hùng Thăng 1001 05. Hùng Dương 946 06. Hùng Cừ 887 07. Hùng Mậu Khang 877 08. Hùng Chí 877 09. Hùng Diên 876 10. Hùng Dũng 847 11. Hùng Nghiêm 837 12. Hùng Sương 837 13. Hùng Tuần 821 14. Hùng Ngạc 799 15. Hùng Nghi 790 16. Hùng Khản 763 17. Hùng Tuận 757 18. Hùng Thông 740-690 Sử sách Trung Hoa thế kỷ thứ I trước công nguyên cách nay hơn hai ngàn năm đã ghi rõ ràng như thế rồi. Nước Sở này ở bên cạnh nước Việt của Câu Tiễn. Vậy nước Việt của Câu Tiễn có liên hệ gì với nước Việt của ta hay không? Trước hết, chữ Việt , nước của Câu Tiễn viết khác và Việt của ta viết khác. Việt của ta có bộ tẩu là đi, vượt qua. Ý nghĩa đó cũng phù hợp với dân tộc của ta là dân tộc đã từ phương Bắc xuống phương Nam (vượt Ngũ Lĩnh)... Từ nước Việt này đến nước Việt Nam chúng ta rất xa và phải


Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 413 đi qua nhiều nước khác, nhiều dân tộc khác, phải vượt qua nhiều núi cao, sông rộng, phải chiến đấu chống lại các dân tộc khác mới đến nước ta được. Nếu họ Hùng nước ta có quan hệ với họ Hùng nước Sở thì làm sao cả dân tộc này đi từ nước Sở đến nước Việt Nam ngày nay được. Hai nước ở gần nhau thì bên này tràn sang bên kia không khó nhưng hai nước ở xa nhau đến mấy ngàn cây số và phải qua nhiều nước khác, nhiều dân tộc khác, phải tiêu diệt họ để mở đường đi tới đất Việt Nam ngày nay là điều không thể thực hiện được. Do đó, Hùng Vương chỉ có thể là Lạc Vương mà thôi. Có Lạc Vương mà không có Hùng Vương. Lạc Vương và Hùng Vương là một. Ngô Sĩ Liên đã đem tên 18 đời vua Hùng nước Sở vào lịch sử nước ta. Sự lầm lạc được khởi đi từ đó. Không chỉ một mình Ngô Sĩ Liên mà hãy còn một số tác giả khác cũng nhầm từ Lạc Vương ra Hùng Vương. Sự lầm lẫn đó đã đi vào truyền thống của dân tộc rồi, không ai có thể đính chính lại được nữa. Câu chuyện Hùng Vương được kể lại qua truyền thuyết là người có họ hàng với vua Thần Nông (tổ tiên của người Trung Hoa), từ Bắc đi về phương Nam. Điều đó xác định rằng dân tộc chúng ta là một dân tộc từ phương Bắc đến và kết hợp với các dân bản xứ ở phương Nam để lập nên một dân tộc mới. Câu chuyện “cháu ba đời của Viêm đế họ Thần Nông... đi về phương Nam gặp con gái của Vụ Tiên Nữ...” chính là để giải thích sự kiện trên. Có những chuyện cổ tích, những thần thoại về thời Hùng Vương đã phản ảnh sinh hoạt của người Việt thời cổ đại, chẳng hạn chuyện Thủy Tinh tạo nên mưa bão, làm cho nước dâng cao thì Sơn Tinh cũng làm cho núi cao thêm lên để khỏi ngập nước. Vùng đồng bằng sông Hồng, lòng sông bị bồi lấp được nâng lên cao làm cho nước dâng lên thì nhân dân lại đắp đê cao hơn để chống lũ lụt. Do đó mà đê càng ngày càng cao lên mãi, nhà cửa hai bên bờ sông càng ngày càng thụt sâu xuống dưới mực nước của sông. 5. An Dương Vương Thục Phán Sách “Giao Châu Ngoại Vực Ký” và “Quảng Châu Ký” có nhắc đến An Dương Vương tức Thục Phán, người đem quân chiếm đất của các Lạc Hầu để lập ra một nước mới lấy tên là nước Âu Lạc (258-207 trước Công Nguyên). Ngô Sĩ Liên đã


414 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng đưa An Dương Vương Thục Phán vào Đại Việt Sử Ký, xem như là một triều đại chính thống của nước ta. Nhóm sử gia Hà Nội sau 1975 chủ trương rằng có hai bộ tộc Âu Việt và Lạc Việt đã kết hợp lại dưới sự lãnh đạo của Thục Phán (An Dương Vương) để chống lại sự xâm lăng của Triệu Đà, quan của nhà Tần. Một số tác giả đã thêu dệt thêm nhiều chuyện hoang đường chung quanh nhân vật Thục Phán, nào là được Thần Kim Quy giúp cho xây Loa thành, nào là có nỏ thần, rồi đến chuyện mất nước vì con gái là Mỵ Châu tiết lộ bí mật cho Trọng Thủy, con trai của Triệu Đà nên Triệu Đà mới đánh bại được Thục Phán... Gạt ra ngoài những chi tiết hoang đường đó, chúng ta cũng có thể tin được rằng có một nhân vật là Thục Phán, lãnh tụ của dân Âu Lạc (trong đó có Lạc Việt) để chống lại sự xâm lăng của quân nhà Tần do Triệu Đà chỉ huy. Triệu Đà đã phải tạm hòa với An Dương Vương bằng cách kết thân, cho con trai của mình là Trọng Thủy cưới con gái của Thục Phán, là Mỵ Châu, rồi từ đó tìm cách xâm nhập, nghiên cứu tình hình bên địch và làm nội ứng cho quân của Triệu Đà đánh bại Thục Phán. Sử gia nhà Nguyễn là Nguyễn Siêu (Phương Đình) cũng đã tỏ ra nghi ngờ về nhân vật Thục Phán khi ông nói rằng Phong Khê là tên đất do nhà Hán đặt ra dưới thời Bắc thuộc mà các sử gia nói rằng An Dương Vương đóng đô ở Phong Khê là vô lý vì thời đó chưa có tên Phong Khê. Nguyễn Phương cho rằng sử gia về sau cũng có thể dùng địa danh đó để giải thích cho mọi người hiểu chuyện xảy ra thời trước chẳng hạn nói rằng dân Lạc Việt là giống dân sinh sống ở đồng bằng Bắc Việt ngày xưa..., tên Bắc Việt là tên mới có sau này, không phải là tên thời đó. 6. Chính sách thực dân của nhà Tần: Triệu Đà và nước Nam Việt (Danh từ “thực dân” được hiểu là đem dân từ nơi này đến lập nghiệp nơi khác và không cho họ trở về quê cũ nữa. Thực ở đây theo Hán tự có nghĩa là trồng như trồng cây). Sau khi Lữ Chính diệt được sáu nước nhỏ, thống nhất thành một nước lớn và lên ngôi tức Tần Thủy Hoàng (221- 206 trước Công Nguyên). Nhà Tần có một chính sách thực


Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 415 dân rất quy mô. Sử gia Tư Mã Thiên (thế kỷ thứ I trước Công Nguyên) đã cho chúng ta biết một số chi tiết về chính sách đó như sau: “Năm thứ 33 đời Tần Thủy Hoàng (tức năm 214 trước Công nguyên), vua bắt tất cả những kẻ lang thang vô thừa nhận, bọn ăn dưng ở nể và bọn con buôn đi chiếm đất Lục Lương. Ông lập ra các quận Quế Lâm, Nam Hải và Tượng Quận và đày những người có tội đến ở để giữ” (Sử Ký, Quyển 6, tr 25, cột 2). Đạo quân thực dân thời Triệu Đà từ phương Bắc đến trong đó có cả lính tráng và dân thường lên đến nửa triệu người. Để thực hiện chính sách đó, nhà Tần cho đào sông, bắc cầu, xẻ núi, mở đường, sai Sử Lộc chế ra lâu thuyền để vận tải hàng hóa, binh khí... Bọn người này vượt Ngũ Lĩnh đi về phương Nam, chiếm đất mới và lập nghiệp ở đó không trở về. Khi chiếm được đất rồi, họ cho những người này đến ở lẫn lộn với người Lạc Việt. Sử Ký, quyển 113, trang 25 viết: “Khi Tần Thủy Hoàng thôn tính xong thiên hạ và dẹp yên được Dương Việt, lập ra các quận Quế Lâm, Nam Hải và Tượng Quận. Trong 13 năm, bắt bọn côn đồ, tù tội đến ở lẫn lộn với người Lạc Việt”. Sử Ký đã dùng chữ “tạp xử” (ở lẫn lộn) cho thấy chính sách đồng hóa thâm độc của nhà Tần nhưng người Lạc Việt chống lại chính sách đó bằng cách trốn vào rừng, bất hợp tác. Trong sách “Nhân Gian Huân”, quyển 18, tờ 18, Lưu Ẩn cho biết thêm một chi tiết sau đây: “Tất cả người Lạc Việt rút vào rừng rậm, sống chung với cầm thú chứ không chịu làm tôi nhà Tần” (Việt nhân nhập tùng bạc trung dữ cầm thú xử, mạc khẳng vi Tần lỗ). Sử ký của Tư Mã Thiên, quyển 118 trang 260 còn ghi lại một chi tiết như sau: “Triệu Đà đã sai sứ mang thư về cho vua Tần xin gởi đến cho ông ba vạn đàn bà góa chồng hoặc con gái ế chồng để cho lính của ông cưới làm vợ” (Sử nhân thượng thư cầu nữ vô giá giả tam vạn nhân dĩ vi sĩ tốt y bố). Điều đó chứng minh rằng không những người Lạc Việt tìm cách xa lánh người Tàu, mà chính người Tàu cũng không muốn làm bà con với người Lạc Việt. Cũng có thể vì trình độ văn hóa, văn minh của hai giống người đó quá chênh lệnh, khó hòa đồng được. Sự hiện diện của ba vạn đàn bà, con gái góa, hoặc ế chồng vào thời đó đã thành lập được ba vạn gia đình và họ sinh con đẻ cháu từ thế hệ này qua thế hệ khác đã tạo nên con số đông đảo người


416 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng phương Bắc tại vùng đất của người Lạc Việt. Trong số những tướng của nhà Tần sai đi thực hiện cuộc Nam tiến có quan Đồ Thư, Nhâm Ngao và Triệu Đà... là những người được sử sách nhắc đến nhiều nhất. Đồ Thư đem quân đến đánh nước Âu Lạc, buộc Thục Phán phải khuất phục nhà Tần nhưng sau đó nhà Tần suy yếu, dân Âu Lạc nổi dậy giết Đồ Thư, giành lại độc lập. Quan nhà Tần ở quận Nam Hải là Nhâm Ngao muốn đem quân lấy lại đất Âu Lạc nhưng việc chưa thành thì bị bệnh mất. Trước khi chết, ông trao binh quyền lại cho Triệu Đà. Lúc bấy giờ Triệu Đà đang trấn giữ đất Long Xuyên được kiêm chức Lệnh Úy Nam Hải. Năm 208 trước công nguyên, Triệu Đà đem quân đánh nước Âu Lạc của An Dương Vương (Thục Phán) lập ra nước Nam Việt. Sử Ký của Tư Mã Thiên có một chương nói về Triệu Đà với những chi tiết rất lý thú. Sau khi Tần Thủy Hoàng mất, nhà Tần suy yếu, xã hội loạn lạc... Lưu Bang diệt được nhà Tần, thắng được Hạng Vũ thống nhất thiên hạ, lập ra nhà Hán, xưng là Hán Cao Tổ. Trong thời gian đó, Triệu Đà lấy được nước Âu Lạc của Thục Phán, hợp nhất Âu Lạc và Nam Hải thành một nước độc lập gọi là nước Nam Việt, tự xưng làm vua, lập ra nhà Triệu, tức là Triệu Vũ Vương (207-137 trước Công Nguyên), đóng đô ở Phiên Ngung (nay thuộc Quảng Châu bên Trung Quốc). Năm 196 trước Công Nguyên, Hán Cao Tổ sai sứ là Lục Giả sang Nam Việt kêu gọi Triệu Đà về thần phục nhà Hán. Lúc bấy giờ Triệu Đà làm vua Nam Việt đã được 12 năm rồi và Lưu Bang mới lên ngôi được 11 năm. Triệu Đà tự xem mình là anh hùng trong thiên hạ, sánh ngang với Hán Cao Tổ Lưu Bang, nên khi tiếp sứ nhà Hán ông đã có thái độ ngang nhiên tự đắc nhưng Lục Giả cũng đã thuyết phục được Triệu Đà về thần phục nhà Hán vì Triệu Đà vốn là người Tàu, quan của nhà Tần. Về sau, nhân khi Hán Cao Tổ mất, Lữ Hậu chuyên quyền, có sự xích mích biên giới với Triệu Đà nên Triệu Đà tự lập làm Hoàng Đế và đem quân đánh chiếm đất của nhà Hán. Từ đó thanh thế Triệu Đà lừng lẫy và ông đã dùng mọi nghi vệ như vua nhà Hán. Sau khi Lữ Hậu qua đời, Hán Văn Đế lên nối ngôi, lại viết thư qua kêu gọi Triệu Đà thần phục nhà Hán, từ đó Triệu Đà mới chịu từ


Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 417 bỏ đế hiệu. Triệu Đà làm vua nước Nam Việt được 70 năm, thọ 121 tuổi, truyền ngôi cho cháu nội (con của Trọng Thủy) tên là Triệu Hồ, tức Triệu Văn Vương. Văn Vương là người tầm thường, không nối được chí của ông nội là Triệu Đà nên bị nhà Hán chèn ép. Văn Vương làm vua được 12 năm thì mất (137-125 trước Công Nguyên). Con là Anh Tề nối ngôi được 12 năm (125-113 trước Công Nguyên), lấy vợ người Hán là Cù Thị, lập làm Hoàng Hậu. Minh Vương chết, con là Hưng nối ngôi tức Triệu Ai Vương (113) được một năm thì mất nước. Mẹ là Cù Thị lấy sứ nhà Hán là An Quốc Thiếu Quí và đem nước Nam Việt của Triệu Đà dâng cho nhà Hán. Lữ Gia là tướng của nhà Triệu (Nam Việt) giết Cù Thị, Thiếu Quý và Ai Vương, lập Thái Tử Kiến Đức con của Minh Vương, mẹ là người Nam Việt lên làm vua tức Triệu Dương Vương. Được một năm thì vua Hán sai tướng Lộ Bác Đức đem quân đánh lấy Nam Việt, vua và quan của Nam Việt bị giết. Năm 111 trước Công Nguyên, nước Nam Việt bị đổi tên là Giao Chỉ bộ, chia làm 9 quận do các quan của nhà Hán cai trị. Từ 111 trước Tây Lịch cho đến năm 931, Ngô Quyền giành lại độc lập, sử gọi là thời kỳ Bắc thuộc lần thứ nhất. 7. Anh hùng Lạc Việt: Cuộc khởi nghĩa của Trưng Trắc, Trưng Nhị năm 40 Nước Nam Việt của Triệu Đà bao gồm lãnh thổ của Triệu Đà và lãnh thổ của An Dương Vương Thục Phán trong đó có hai bộ tộc Âu Việt và Lạc Việt gọi chung là người Việt như đã nói ở phần trên. Sau khi nhà Triệu mất ngôi, nước Nam Việt được đổi thành Giao Chỉ bộ và được chia thành quận huyện đặt dưới quyền cai trị của quan lại nhà Hán. Người Lạc Việt phải chịu nhiều sự áp bức, bất công, nhất là dưới thời Thái Thú nhà Hán là Tô Định. Do đó, hai vị nữ anh hùng của Lạc Việt là Trưng Trắc và em là Trưng Nhị đã nổi lên chống lại nhà Hán, diệt Tô Định, đánh đuổi quân xâm lăng ra khỏi đất nước, giành lại độc lập cho dân tộc. Khi đề cập đến biến cố này, sử gia Trung Quốc không xem thường những anh hùng của Lạc Việt.


418 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng a. Lý lịch Trưng Trắc Phạm Việp, tác giả Hậu Hán Thư (Sử nhà Hán) đã viết về Trưng Trắc, Trưng Nhị với lời lẽ rất cảm phục: “Hựu Giao Chỉ nữ tử Trưng Trắc, cập nữ muội Trưng Nhị phản công đầu kỳ quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố, man di giai ứng chi, khấu lược Lĩnh Ngoại lục thập dư thành. Trắc tự lập vi vương” (Hậu Hán Thư, quyển 54, trang 747 trong Nhị Thập Ngũ Sử). Dịch: “Ở quận Giao Chỉ, có người đàn bà tên Trưng Trắc và em gái là Trưng Nhị nổi lên làm loạn, đánh phá trong quận. Dân man di ở các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều hưởng ứng, cướp phá hơn 60 thành ở vùng Lĩnh Ngoại. Trắc tự xưng làm vua”. Theo đoạn văn trên đây, Hai Bà Trưng nổi lên ở quận Giao Chỉ, phong trào lan rộng ra các nơi và dân man di (chỉ dân Lạc Việt lúc đó) hưởng ứng và cùng nổi lên đánh phá quân Tàu (Hán), chiếm được 60 thành. Không một lãnh tụ nào của các nhóm mà sử Tàu gọi là man di dám xưng vương, ngoại trừ Trưng Trắc, như vậy Trưng Trắc là người kiệt hiệt nhất trong số đó. Con số hơn 60 thành trì nói đây so với hoàn cảnh lúc đó, chúng ta có thể hiểu rằng đây không phải là thành trì to lớn như ở Việt Nam hay ở Trung Hoa mà chúng ta thấy trước đây. Có thể đây chỉ là những công sự chiến đấu do người phương Bắc (Hán) xây dựng lên để tự vệ trước sức tấn công của người bản xứ (Lạc Việt). Số người Hán này đã di dân đến đất Lạc Việt thời Triệu Đà, theo chính sách thực dân của nhà Tần. Cho đến thời nhà Hán, số người đó càng gia tăng và họ lập được hơn 60 căn cứ gọi là “thành”. b. Chồng Trưng Trắc là Thi hay Thi Sách? Theo sách Thủy Kinh Chú của Lệ Đào Nguyên, khoảng thế kỷ thứ 6, tác giả đã từng đến vùng Mê Linh, đã ghi lại được những điều nghe thấy như sau: “Châu Diên Lạc tướng tử, danh Thi, sách Mê Linh Lạc tướng nữ, danh Trưng Trắc, vi thê. Trắc vi nhân hữu đảm dũng, tương Thi khởi tặc. Mã Viện tương binh thảo. Trắc, Thi tẩu nhập Cấm Khê”. (Quyển 37, tờ 6 a). Chúng ta để ý trong Hán văn xưa, không có chấm, phẩy... Tùy theo mạch văn mà ngừng lại cho trọn nghĩa của câu. Trong đoạn văn trên, nếu ngừng ở chữ Sách thì câu văn sẽ như sau: “Châu Diên


Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 419 Lạc tướng tử, danh Thi Sách”, nghĩa là: “Con trai Lạc tướng huyện Châu Diên tên là Thi Sách” và câu sau: “Mê Linh Lạc tướng nữ danh Trưng Trắc vi thê”, nghĩa là: “con gái Lạc tướng huyện Mê Linh tên là Trưng Trắc là vợ” nhưng Thái Tử Hiền, con vua Cao Tông nhà Đường, khi bị bà Võ Tắc Thiên đày ra vùng quan ngoại, vào thế kỷ thứ 8, ông đã ngồi đọc lại sách sử và chú thích như sau: “Cứu Triệu Nhất Thanh viết Sách thê do ngôn thú thê” (tra cứu theo Triệu Nhất Thanh thì chữ Sách Thê là cưới vợ), do đó câu văn trên phải ngừng ở chữ Thi: “Châu Diên Lạc Tướng tử danh Thi” (con trai Lạc Tướng huyện Châu Diên tên là Thi) và: “Sách Mê Linh Lạc tướng nữ danh Trưng Trắc vi thê” (đi hỏi con gái Lạc Tướng huyện Mê Linh tên là Trưng Trắc làm vợ). Đọc tiếp đoạn Hán văn trên, chúng ta thấy: “Trắc vi nhân hữu đảm dũng, tương Thi khởi tặc. Mã Viện tương binh thảo. Trắc, Thi tẩu nhập Cấm Khê” (Trắc là người có can đảm và dũng lược, cùng với Thi nổi lên làm giặc. Mã Viện đem quân đánh đuổi. Trắc, Thi chạy vào Cấm Khê). Do chỗ sai lầm đó mà về sau các sách sử viết tên chồng Trưng Trắc là THI SÁCH. Sự lầm lẫn này khởi đi từ sử gia Trung Quốc là Phạm Việp, trong sách Hậu Hán Thư, quyển 54 trang 747, cột 3, ông viết: “Trưng Trắc giả, Mê Linh huyện Lạc tướng chi nữ dã, giá vi Châu Diên nhân Thi Sách thê, thậm hùng dũng” (Trưng Trắc là con gái Lạc Tướng huyện Mê Linh được gả làm vợ cho một người huyện Châu Diên là Thi Sách, bà rất hùng dũng). Dựa vào đó, các sử gia Việt Nam như Ngô Sĩ Liên trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư hoặc Lý Tế Xuyên trong Việt Điện U Linh Tập (một chuyện hoang đường) cũng gọi chồng bà Trưng Trắc là Thi Sách, họ đều trích dẫn từ sách Hậu Hán Thư của Phạm Việp nhưng họ không để ý đến phần chú thích của Thái Tử Hiền ở phần cuối sách. Từ đó mới xuất hiện tên Thi Sách trong lịch sử. Cho đến nay không ai có thể đính chính được ngoại trừ nhà nước ra lệnh sửa lại điều sai lầm đó trong sách vở. c. Nguyên nhân cuộc khởi nghĩa: Vì thù chồng hay vì lý do chính trị? Theo sử Việt Nam mà chúng ta học từ nhỏ thì Trưng Trắc nổi lên đánh đuổi quân Tàu vì chồng bà là Thi Sách bị thái thú nhà Hán là Tô Định giết. Điều đó có đúng hay không? Lý do


420 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng


Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 421 đó có thể vận động dân chúng căm hờn cùng đứng lên đánh đuổi xâm lăng được hay không? Vào thế kỷ thứ 8, khi chú thích Hậu Hán Thư của Phạm Việp, Thái Tử Hiền có nói đến một chi tiết khác, chúng tôi cho đó là một yếu tố rất quan trọng, là nguyên nhân đưa đến cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng. Ông viết: “Giao Chỉ thái thú Tô Định, dĩ pháp thằng chi, Trắc oán nộ, cố phản”. (Thái thú Giao Chỉ là Tô Định lấy luật pháp mà ràng buộc nên Trắc tức giận, chống lại). Qua chi tiết trên đây, chúng ta thấy rằng Trưng Trắc là người Lạc Việt, một giống người bản xứ, có phong tục tập quán riêng của họ. Khi Tô Định đến cai trị dân này, ông đã đem luật pháp của người Hán (Tàu) bắt dân Lạc Việt phải thi hành. Việc đó có thể đụng chạm đến cả tín ngưỡng của họ nữa. Đó là điều rất dễ gây căm phẫn trong nhân dân. Đó là chưa kể chính sách bóc lột về mặt kinh tế đối với họ. Cả Hậu Hán Thư và Thủy Kinh Chú đều nói rằng: Trắc cùng với Thi nổi lên làm giặc và khi bị Mã Viện đánh đuổi thì cả hai người chạy vào Cấm Khê. Vậy khi Trưng Trắc khởi nghĩa thì chồng bà là Thi vẫn còn sống và chiến đấu bên cạnh bà. Lý do khởi nghĩa là vì dân tộc và được cả dân tộc làm hậu thuẫn chứ không phải vì báo thù chồng. Có thể về sau người chồng bị chết dưới tay quân thù nhưng giai đoạn đầu chồng vẫn còn sống. Lý do vì chống lại chế độ, chống lại luật pháp hà khắc nên Trưng Trắc khởi nghĩa đã được chứng minh bằng sự thay đổi chính sách cai trị của nhà Hán sau khi Mã Viện thắng được Trưng Trắc. Việc cử Mã Viện là một tướng già, bách chiến bách thắng và được gọi là “phục ba tướng quân” (vị tướng dẹp yên được sóng gió) qua đánh Trưng Trắc chứng tỏ tầm mức quan trọng của cuộc chiến. Mã Viện không những là một tướng tài về quân sự mà còn là một tướng có tài về chính trị. Ông cùng Phó Tướng là Lưu Long, Lâu Thuyền Tướng Quân Đoàn Chí với một lực lượng hai vạn quân. Đến Hợp Phố, Đoàn Chí bị bệnh chết nên ông phải gánh vác trách nhiệm nặng nề hơn. Ngoài ra, ông còn tuyển thêm 12.000 quân tại Giao Chỉ nữa và phải mở đường, xẻ núi, phá rừng mà đi. Lúc bấy giờ, phong trào chống đối người Tàu lan rộng rất nhanh. Chỉ trong một thời gian ngắn mà cả một vùng rộng lớn


422 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng gồm các quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều nổi dậy. Không cần tổ chức lãnh đạo, dân các nơi đều hưởng ứng, chứng tỏ cuộc khởi nghĩa hợp lòng dân. Hậu Hán Thư quyển 54 trang 747 (Nhị Thập Ngũ Sử) chép: “Thập bát niên, xuân, quân chí Lãng Bạc, dữ tặc chiến, phá chi, trảm thủ sổ thiên cập hàng giả vạn dư nhân. Viện truy Trưng Trắc đẳng, chí Cấm Khê, sổ bại chi, tặc toại tán tẩu” (Năm thứ 18—hiệu Kiến Vũ Nhà Hán—tức năm 42, mùa xuân, quân đi đến vùng Lãng Bạc, cùng giặc đánh nhau, phá được chúng, chém đầu cả ngàn tên, bọn ra hàng có đến cả vạn. Viện đuổi theo bọn Trưng Trắc đến Cấm Khê, giặc bị thua liền mấy trận, bỏ chạy tán loạn). Mã Viện còn đuổi theo dư đảng của Trưng Trắc đến tận Cửu Chân, giết được hơn năm nghìn người nữa. Vừa đánh, vừa củng cố, đến huyện nào Viện cũng xây thành đắp lũy, tổ chức lại đơn vị hành chánh, dạy cho dân biết canh tác làm ăn. Sau đó mới giải thích cho dân hiểu luật pháp, dân dần dần nghe lời ông. Những quan của nhà Hán cử sang cai trị dân Lạc Việt sau vụ Trưng Trắc đều ra sức giáo hóa dân, dạy cho dân biết cày cấy, biết lễ nghĩa. Trước thời Tô Định cũng đã có hai quan thái thú có tiếng tốt đối với dân, đó là Tích Quang ở quận Giao Chỉ và Nhâm Diên ở quận Cửu Chân. Phần nói về chuyện Nhâm Diên trong sách Hậu Hán Thư cho biết dân Giao Chỉ thích săn bắn chứ không biết dùng bò để cày. Dân Cửu Chân thì đốt cỏ rồi gieo giống làm ruộng. Nhâm Diên truyền đúc các thứ điền khí (lưỡi cày, lưỡi cuốc v.v..) dạy cho dân cày bừa, khẩn ruộng để trồng trọt. Dân Lạc Việt thời đó không biết cưới hỏi như người Hán. Họ không quen sống chung với nhau, nên không biết đạo cha con, đạo vợ chồng. Nhâm Diên phải gởi thư đi các huyện thuộc quyền ông truyền cho đàn ông từ 20 đến 50 tuổi, đàn bà từ 15 đến 40 tuổi phải tùy tuổi tác mà cưới hỏi nhau..., cùng một lúc có đến hai ngàn người tổ chức cưới hỏi... Năm đó trời cho mưa thuận gió hòa, lúa má được mùa, dân đẻ con ra biết họ biết dòng..., có người lấy tên Nhâm đặt cho con để tỏ lòng biết ơn... Những việc này xảy ra vào năm 29 đời Kiến Vũ nhà Hán, trước khi Tô Định đến cai trị Giao Chỉ. Vì Tô Định không chịu cai trị dân theo chính sách của các vị tiền nhiệm mà lại quá hà khắc nên dân nổi loạn. Sử Tàu


Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 423 nói rõ lý do cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng là vì chế độ hà khắc nhưng sử gia Việt Nam lại gom cả hai làm một: vừa thù chồng, vừa chống chính sách. Đọc đoạn văn sau đây của Ngô Sĩ Liên, chúng ta thấy rõ điều đó: “Canh Tý nguyên niên, Hán Kiến Vũ thập lục niên, xuân, nhị nguyệt, vương khổ thái thú Tô Định thằng dĩ chính, cập thù Định sát kỳ phu, nãi dữ kỳ muội Nhị, cử binh công hãm châu trị” (Năm Canh Tý (40) năm đầu, năm thứ 16 hiệu Kiến Vũ nhà Hán, mùa xuân, tháng hai. Vương đau lòng vì Tô Định lấy chính pháp ràng buộc, lại căm thù vì Định đã giết mất chồng, bèn cùng em gái là Nhị cử binh đánh phá châu trị). Theo ý của câu trên thì chồng phải bị giết trước khi khởi nghĩa, vừa thù chồng, vừa nợ nước! Trong phần nói về Mã Viện (Mã Viện liệt truyện), sử gia Tàu đã nói đến Trưng Trắc vì có liên quan đến công trạng của Mã Viện. Nhờ chỗ có liên quan đó mà đời sau mới biết đến Trưng Trắc. Nếu sử Tàu không nói đến thì sử gia Việt Nam như Ngô Sĩ Liên khó mà có tài liệu để viết lại thời quá khứ. Sử Tàu nói rõ Trưng Trắc cùng chồng nổi lên đánh đuổi Tô Định. Vậy không phải vì thù chồng mà Trưng Trắc nổi dậy. Đưa yếu tố thù chồng vào sử sách đã làm lu mờ chính nghĩa vì dân tộc của cuộc khởi nghĩa của Trưng Trắc đi. d. Cái chết của Trưng Trắc Sử Việt mà chúng ta học từ bậc Tiểu Học nói rằng Trưng Trắc, Trưng Nhị nhảy xuống sông Hát tự tử và chúng ta có bài “dòng sông Hát...” ca tụng cái chết bất khuất của hai bà nhưng Hậu Hán Thư lại nói một câu rất vắn gọn: “Minh niên, chính nguyệt, trảm Trưng Trắc, Trưng Nhị, truyền thủ Lạc Dương” (Năm sau (42) tháng Giêng, chém Trưng Trắc, Trưng Nhị, gửi đầu về Lạc Dương). Lạc Dương là kinh đô nhà Hán lúc đó. Tuy vắn gọn nhưng gồm đủ mấy chi tiết ngày, tháng, lý do chết và gởi đầu về để làm chứng cho vua Hán biết. Về chi tiết này, ông Ngô Thời Sĩ trong sách Việt Sử Tiêu Án tr. 40 viết rằng: “Trong đền thờ Hai Bà Trưng, những đồ thờ tự, tất cả đều sơn đen, tuyệt không có sơn đỏ, dân địa phương không dám mặc áo đỏ, những khi đến yết cáo, ai có mặc áo đỏ đều cỡi bỏ đi, không ai dám xúc phạm đến cấm lệ. Tục truyền rằng Trưng Vương chết vì việc binh đao, nên kiêng sắc đỏ vì giống như máu”. Điều đó phù


424 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng hợp với lời thuật của Hậu Hán Thư. Trong hai sử liệu thì Hậu Hán Thư có trước Đại Việt Sử Ký Toàn Thư cả ngàn năm. Chắc chắn Toàn Thư đã lấy từ Hậu Hán Thư các dữ kiện này. Có sách nói rằng người nhảy xuống sông tự tử là bà Mang Thiện, mẹ của Trưng Trắc. Sau khi Trần Hưng Đạo thắng quân Mông Cổ ở trận Bạch Đằng, Lê Tắc chạy theo giặc lưu vong qua Trung Hoa. Thời gian sống ở đây, ông có nghiên cứu nhiều sách vở và có viết một cuốn sách nhan đề “An Nam chí lược”. Ông là người Việt Nam đồng ý rằng Trưng Trắc bị Mã Viện chém đầu. Sách “Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục” do Quốc Sử Quán triều Nguyễn cũng nói: “Trưng Vương và em gái chống với quân Hán bị binh lính bỏ trốn, lại thế cô, cả hai thất trận chết”. Chết trận, có nghĩa là bị chém, không phải tự tử. e. Trống đồng Lạc Việt Trong phần trên chúng tôi có nhắc đến trống đồng của người Lạc Việt. Bốn chữ “Lạc Việt đồng cổ” đã được nhắc đến trong Hậu Hán Thư (Mã Viện liệt truyện) xác nhận rằng người Lạc Việt có tục dùng trống đúc bằng đồng, Mã Viện đã lấy đồng đó đúc thành một con ngựa dâng cho vua Hán để đánh dấu sự thắng trận của ông. Tục dùng trống đồng đã có trong dân Lạc Việt nhưng từ đời Lý Trần đến nay không thấy có chỗ nào trong sách vở nói đến tục dùng trống đồng trong nghi lễ của người Việt. Mỗi năm bờ biển Miền Bắc Việt Nam được bồi thêm ra chừng 100 mét. Từ Việt Trì cho đến biển (Hải Phòng) khoảng hai trăm cây số. Tính ra cũng mất 2000 năm, nước Việt Nam mới có được vùng châu thổ sông Hồng như ngày hôm nay. Đây là nơi người Việt lập cư lâu đời và có một dân cư đông đúc. Các nhà khảo cổ không tìm thấy trống đồng ở trong vùng này. Trong các nghi lễ của người Việt, người ta chỉ dùng trống gỗ bịt da. Nhưng trống đồng được tìm thấy ở những nơi khác, gần chỗ của người thiểu số hơn. Năm 1889 có một tù trưởng người Mường gặp được một trống đồng ở vùng sông Đáy, ông đem dâng cho phó sứ Pháp là Moulié, về sau trống này được trưng bày ở hội chợ Paris. Hiện nay trống đó đã bị mất, người ta chỉ


Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 425 biết đến nó qua hình ảnh và lời thuật lại mà thôi. Năm 1903, chùa Ngọc Lũ ở Hà Nam có đem đến cho Trường Viễn Đông Bác Cổ Hà Nội một trống đồng, thường gọi là trống đồng Ngọc Lũ. Năm 1924, trong cuộc khai quật ở làng Đông Sơn, cách Thanh Hóa 4km ở dưới chân đồi gần sông Mã, người ta tìm thấy một trống đồng gọi là trống Đông Sơn. Năm 1935, Trường Viễn Đông Bác Cổ cử một phái đoàn do Olov Jansé và Nguyễn Văn Đồng đến vùng Đông Sơn, họ tìm được trống đồng và nhiều khí cụ bằng đồng trong những hầm mộ bằng đất. Những mộ này khác với mộ xây bằng đá hay bằng gạch của người Trung Hoa hay người Việt Nam. Bên cạnh trống đồng, người ta tìm được lưỡi kiếm bằng đồng kiểu cổ của Trung Hoa đời nhà Hán, những đồng tiền thời Vương Mãng nhà Hán (thế kỷ thứ I), một tấm gương bằng đồng đời Hán v.v... Từ đó, người ta suy đoán rằng trống đồng này xuất hiện từ thế kỷ thứ I cùng thời với Hai Bà Trưng. Bộ xương người chết có thể là chủ nhân của trống đồng và các vật bằng đồng được chôn trong hầm mộ đó. Khu vực phát hiện có trống đồng ở vùng cận sơn Thanh Hóa, Hà Nam qua tới Lào v.v... là khu vực chiến trường ngày xưa thời Hai Bà Trưng tức là vùng Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố như cổ sử đã đề cập đến. Nếu cho rằng người chết trong mộ là chủ nhân của trống đồng thì đó là một người thuộc giống In-do-nê, tức là giống người thiểu số ở miền núi Việt Nam và Đông Dương hiện nay và nếu trống đồng này và trống đồng mà Mã Viện đã lấy được của người Lạc Việt thời Hai Bà Trưng có cùng một nguồn gốc, cùng một loại thì người Lạc Việt và người thiểu số ở vùng núi Việt Nam ngày nay có liên hệ với nhau và Hai Bà Trưng cũng rất gần với họ. Trong ngôn ngữ của người Mường cũng có một số giống như tiếng Việt cổ ở vùng từ Thanh Hóa, Nghệ An cho đến Quảng Trị, Thừa Thiên. Con trai của lãnh tụ người Mường gọi là Lang, con gái gọi là Nàng (Nường) giống như người Lạc Việt. Trống đồng cũng được tìm thấy trong vùng người Mường sinh sống. Từ đó chúng ta có thể nghĩ rằng người Lạc Việt và người Mường hiện nay có cùng nguồn gốc. Những khai quật mới đây tại miền Nam Việt Nam như Dầu Giây, Long Khánh, Biên Hòa... nơi mà cách nay ba, bốn


426 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Mặt trống đồng Ngọc Lũ. Hình thuyền trên tang trống đồng Ngọc Lũ.


Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 427 trăm năm, người Việt Nam chúng ta chưa từng là chủ nhân của miền đất đó, đã cho chúng ta những kết quả giống như những khai quật ở Bắc Sơn, Hòa Bình (miền Bắc Việt Nam). Điều đó chứng minh rằng chủ nhân của nền văn hóa Bắc Sơn, Hòa Bình, Đông Sơn cũng đã có liên hệ tộc thuộc với chủ nhân của các nền văn hóa Dầu Giây, Long Khánh, Biên Hòa cách nay mấy ngàn năm. Những hình ảnh được vẽ dưới dạng hoa văn trên trống đồng rất gần với những gì sách sử cổ nói về đời sống của người Lạc Việt. Những hình ảnh đó cũng rất xa lạ đối với người Việt Nam ở vùng đồng bằng là giống người đa số hiện đang sống ở Việt Nam. Điều đó cho chúng ta biết được rằng trên dãi đất chúng ta đang ở, từ xưa đã có nhiều giống người làm chủ mà giống người Việt (đa số) lại là giống người xuất hiện sau cùng. Người Việt Nam đã xem Hai Bà Trưng thực sự là anh hùng của dân tộc mình. Từ Lý, Trần trở về sau, sử sách đã hết lời ca tụng hai bà. Hình ảnh hai bà đã đi vào lòng người Việt Nam như là những thần thánh, khắp nơi nhân dân lập đền thờ hai bà. 8. Ý thức độc lập của người Việt dưới thời Bắc thuộc Sau Hai Bà Trưng, chúng ta không còn nghe nói đến các cuộc tranh đấu dành độc lập của người Lạc Việt nữa. Một phần vì người di cư từ phương Bắc đến càng ngày càng nhiều và họ đã lập thành làng mạc, sống có tổ chức và đã chiếm cứ vùng đồng bằng, nơi gần cửa sông, cửa biển. Một phần vì người Lạc Việt đã sống xa cách với người phương Bắc, rút vào rừng để sống cuộc đời tự do phóng khoáng hợp với tính tình và phong tục tập quán của họ. Dần dần họ đã trở thành thiểu số như ngày nay. Tuy sử sách không còn nói đến người Lạc Việt nhưng rải rác trong các tài liệu cổ lại có nói đến một giống dân khác gọi là người Liêu. Bùi Ân trong Quảng Châu Ký đã ghi lại một vài nét về người Liêu như sau: đúc trống đồng để thờ, thích đeo hoa tai và và vàng bạc, kim khí ở cổ... Lê Tắc trong An Nam Chí Lược ngoài những chi tiết đã nói trong Quảng Châu Ký, ông còn thêm một số chi tiết khác như: ở trong hang đá, ở hầm đất, hay uống rượu cần, thích đánh giặc, biết dùng cung nỏ v.v... Những phong tục đó rất gần với


428 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng người Mường, người thiểu số ở miền Núi, họ cũng thích uống rượu cần, thích nhảy múa, thờ vật tổ (totem), xem trống đồng là vật thờ rất cao quý v.v... Những đặc điểm nói trên cũng là những đặc điểm của người Lạc Việt. Sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất lục quốc, dùng chữ Hán làm văn tự chính thức, đốt sách vở, cấm các dân tộc không được dùng chữ riêng của mình và tiếp đến, nhà Hán cũng thống nhất văn tự trên toàn lãnh thổ Trung Hoa thì những người đi theo Triệu Đà vượt Ngũ Lĩnh về phương Nam vẫn duy trì tiếng nói và phong tục riêng của mình, càng ngày càng xa dần với Trung Ương và cảm thấy gần gũi với người địa phương hơn. Họ không còn nhớ đến mẫu quốc Trung Hoa nữa. Những người sinh ra và lớn lên ở phương Nam của Ngũ Lĩnh, họ xem vùng đất mới này là tổ quốc, là quê hương của họ. Họ có công khai phá, mở mang, xây dựng giang sơn mới này thì họ cũng đòi hỏi quyền làm chủ giang sơn đó. Họ không muốn lệ thuộc bởi chính sách cai trị của mẫu quốc, không muốn đóng thuế cho vua Hán, không chấp nhận quan, quân của vua Hán gởi đến cai trị họ. Ý thức độc lập đó đã khởi đi từ vị lãnh tụ của họ là Triệu Đà, trải qua mấy trăm năm, càng lớn mạnh thêm lên trong tập thể người di dân trên vùng đất Giao Chỉ. Khởi đầu là vụ Lý Tiến, Lý Cầm đòi vua Hán cho người Giao Chỉ được làm quan cai trị người Giao Chỉ. Hai người này không phải là người Lạc Việt, họ là người Tàu nhưng sử sách gọi họ là người Giao Chỉ vì họ sinh ra ở đất Giao Chỉ. Họ là người có học nhưng không được trọng dụng như người sinh trưởng ở Trung Quốc. Đời Linh Đế nhà Hán (168-189), Lý Tiến đã tranh đấu và được vua Hán cho làm Thứ Sử ở Giao Chỉ. Lý Cầm làm lính hầu vua, là người có học, nhân ngày Tết, cùng một số người từ Giao Chỉ đến trước sân rồng kêu khóc, phản đối chính sách kỳ thị người Giao Chỉ, đòi cho người Giao Chỉ được làm quan như người Hán. Về sau Lý Cầm làm đến chức Tư Lệ Hiệu Úy. Sĩ Nhiếp là người Tàu, tổ tiên đã di cư qua vùng Thương Ngô đã sáu đời, ông qua du học tại kinh đô nhà Hán, sau được làm Thái Thú quận Giao Chỉ. Trên đây chỉ là những cuộc tranh đấu có tính cách ôn hòa. Sau đó là những cuộc tranh đấu bạo động chống lại nhà Hán


Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 429 bằng quân sự: Sau khi Sĩ Nhiếp chết, (226) con là Sĩ Huy tự xưng là Thái Thú, đem quân đội chống lại Tôn Quyền (vua Đông Ngô thời Tam Quốc). Tôn Quyền sai Lữ Đại và Đái Lương đem quân qua đánh, Sĩ Huy thua bị bắt đem về Tàu. Năm 248, Triệu Thị Trinh (thường gọi là Bà Triệu), người huyện Nông Cống (nay là Thanh Hóa) tự mình chiêu mộ được cả ngàn tráng sĩ nổi lên đánh quân Tàu, bị Thứ Sử Giao Châu là Lục Dận đánh bại. Bà chết khi mới 23 tuổi. Họ Triệu của bà chắc chắn không phải là người Lạc Việt mà đó cũng là thành phần di cư từ phương Bắc đến đã lâu đời. Lý Bôn (544-548), gốc là người Tàu, di cư đến Giao Châu. Ngô Sĩ Liên trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư nói rõ: “Đế, Bắc nhân dã” (Vua là người phương Bắc tức người Tàu)... Năm 541, tự mình đứng ra chiêu tập quân đội đánh đuổi quan Tàu là Tiêu Tư về nước. Ba năm chiến đấu, năm 544 lên làm vua xưng là Nam Việt đế, đổi tên nước là Vạn Xuân... Ông vừa đánh quân Lâm Ấp ở phương Nam và chống quân Tàu ở phương Bắc. Vua nhà Lương sai các tướng Dương Phiêu và Trần Bá Lương đem quân qua đánh, Lý Bôn thua chạy vào núi, trao quyền lại cho Triệu Quang Phục. Năm 548, Lý Bôn bị bệnh mất. Triệu Quang Phục (549-571) cũng là thành phần di dân từ phương Bắc đến, tiếp tục chiến đấu chống quân Tàu bằng lối du kích, ban ngày ẩn núp trong rừng, đêm đem quân ra đánh phá các nơi. Năm 571, ông bị Lý Phật Tử vì tranh chấp ảnh hưởng, đem quân đánh, ông thua trận nhảy xuống sông tự tử. Lý Phật Tử (571-602) thắng được Triệu Quang Phục, lấy được thành Long Biên, tự xưng làm vua, đóng đô ở Phong Châu (tỉnh Vĩnh Yên ngày nay). Trong khi Lý Phật Tử làm vua ở Nam Việt thì bên Tàu, nhà Tùy ổn định được tình hình, Tùy Văn đế lên ngôi, sai tướng Lưu Phương đem quân qua đánh. Lý Phật Tử đầu hàng. Lưu Phương đã đem quân tới biên giới nước Lâm Ấp (Chiêm Thành) và trong dịp này, ông đã cho định cư một số di dân từ Tàu qua trong đó có gia đình binh sĩ đi theo ông và những thành phần khác. Sự có mặt của người phương Bắc càng ngày càng đông và họ xem vùng đất mới này là quê hương muôn đời của họ. Sau khi dẹp tan các cuộc nổi dậy đòi dộc lập của người


430 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Giao Chỉ, nhà Tùy rồi đến nhà Đường từ 603 đến 939 là năm Ngô Quyền dành được độc lập. Trong khoảng 335 năm đó, người Tàu đã áp dụng một chính sách cai trị tàn bạo, bóc lột nhân dân đến tận xương tủy. Nhà Đường chia nước ta làm 12 châu, mỗi châu chia thành nhiều huyện và đặt quan cai trị, bắt dân đóng thuế. Trong thời gian đó, sử chỉ ghi nhận có hai cuộc nổi dậy: Mai Thúc Loan (722), người Hoan Châu (nay là huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh) tổ chức được một lực lượng nổi lên chiếm được một vùng (nay thuộc huyện Nam Đường tỉnh Nghệ An), xây đắp thành lũy và xưng là Hoàng Đế, thường gọi là Mai Hắc Đế (ông vua có bộ mặt đen sì). Có nhà nghiên cứu cho rằng Mai Thúc Loan là người Mường. Ông liên kết với nước Lâm Ấp và Chân Lạp... Chỉ trong vòng một năm thì bị quân Tàu đánh bại, ông trốn vào núi và chết trong đó. Phùng Hưng (791), người Đường Lâm (nay thuộc huyện Phúc Thọ tỉnh Sơn Tây) đem quân đánh quân Tàu ở Phủ Đô Hộ, chiếm được phủ thành, được cảm tình của dân chúng nhưng chỉ mấy tháng sau thì bị bệnh mất, dân lập đền thờ gọi ông là Bố Cái Đại Vương. Con là Phùng An tiếp tục chống quân Tàu, bị tướng nhà Đường là Triệu Xương đánh bại. Đầu thế kỷ thứ 10, nhà Đường suy yếu. Trong khoảng từ 907-959, nước Tàu bị phân hóa trầm trọng, mỗi người chiếm một vùng: - Năm 907, Chu Toàn Trung giết vua Chiêu Tông nhà Đường, lên ngôi, đóng đô ở Khai Phong, lập ra nhà Lương. - Lý Khắc Dụng ở Sơn Tây, không thần phục nhà Lương, tự xưng làm vua, lập ra nhà Tấn. - Lý Hành Mật ở Dương Châu cũng tự xưng làm vua, lập ra nhà Ngô. - Lý Mậu Trinh ở Thiểm Tây lập ra nước Tần. - Tiền Liêu ở Triết Giang lập ra nước Ngô Việt. - Vương Thẩm Tri ở Phúc Kiến lập ra nước Mân. - Vương Kiến ở đất Thục lập ra nước Thục... Trong số đó có năm người là con cháu các dòng họ lớn đã từng làm vua nước Tàu nên gọi là thời Ngũ Quý hay Ngũ Đại. Khúc Thừa Dụ (906-907) ở đất Giao Châu, nhân cơ hội bên Tàu có loạn, không liên lạc được với Trung Ương nên


Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 431 được mọi người tôn lên làm Tiết Độ Sứ, độc lập một phương. Lúc bấy giờ nhà Đường suy yếu nên cũng phải chấp nhận tình trạng đó. Được một năm thì Khúc Thừa Dụ mất, trao lại cho con là Khúc Hạo làm Tiết Độ Sứ (907- 917). Lúc bấy giờ Chu Toàn Trung giết vua Chiêu Tông nhà Đường, lên ngôi Thiên Tử lập ra nhà Lương và phong cho Lưu Ẩn làm Tiết Độ Sứ Thanh Hải kiêm Tĩnh Hải. Lưu Ẩn chết, nhà Lương lấy đất Tĩnh Hải trao cho con của Khúc Thừa Dụ là Khúc Hạo. Nhân việc đó, con của Lưu Ẩn là Lưu Yểm chống lại nhà Lương, tự xưng làm vua, quốc hiệu Đại Việt, sau đổi là Nam Hán. Khúc Hạo mất, con là Khúc Thừa Mỹ (917-923) nhận chức Tiết Độ Sứ của nhà Lương, không thần phục nhà Nam Hán. Lý Khắc Dụng ở Sơn Tây (nhà Tấn) lật đổ được nhà Lương, lập ra nhà Đường (Hậu Đường). Trước tình thế đó, Khúc Thừa Mỹ không theo nhà Hậu Đường cũng không theo Nam Hán. Năm 930, vua Nam Hán là Lưu Yểm sai Lương Khắc Trinh và Lý Thu Dung đem quân qua đánh, Khúc Thừa Mỹ xin đầu hàng và bị bắt đem về. Lý Tiến được đưa sang làm Tiết Độ Sứ Giao Châu. Năm 931, tướng của họ Khúc là Dương Đình Nghệ ở Ái Châu đem quân đánh Lý Tiến, lên làm Tiết Độ Sứ. Lý Tiến chạy về Tàu bị vua Nam Hán xử tử. Quân Tàu do Trình Bán kéo qua trả thù bị Dương Đình Nghệ đánh bại. Năm 937, Kiều Công Tiễn giết Dương Đình Nghệ rồi lên làm Tiết Độ Sứ. Năm 938, con rể của Dương Đình Nghệ là Ngô Quyền ở Ái Châu đem quân ra đánh Kiều Công Tiễn. Công Tiễn gởi thư cầu cứu vua Nam Hán là Lưu Yểm. Vua Nam Hán phong cho con thứ chín là Hoằng Tháo làm Vạn Thắng Vương, kéo quân qua đánh Ngô Quyền. 9. Ngô Quyền và trận Bạch Đằng Ngô Quyền cũng như Lý Bôn (Lý Bí), Khúc Thừa Mỹ, Dương Đình Nghệ v.v... đều là con cháu của những người từ phương Bắc di cư đến nước Nam và được làm Tiết Độ Sứ là một chức quan dành riêng cho người Tàu để cai trị dân. Năm 938, ông đem quân từ Ái Châu ra đánh Kiều Công Tiễn để trả thù cho cha vợ là Dương Đình Nghệ. Đã từ lâu, vua Nam


432 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Hán vốn căm thù Dương Đình Nghệ không chịu phục tùng mình nên nhân cơ hội Kiều Công Tiễn gởi thư kêu cứu, liền cử đại binh qua đánh nước ta. Vua Hán phong cho Thái Tử thứ chín là Hoằng Tháo làm Vạn Thắng Vương kéo quân đi đường thủy và đích thân vua thì dẫn một đạo quân đến đóng ở Hải Môn để tiếp viện. Thanh thế quân Tàu rất hùng dũng. Phần Ngô Quyền, ông đã chuẩn bị sẵn kế hoạch đối phó và đã chọn sông Bạch Đằng để đánh trận quyết định. Sử gia Tư Mã Quang, tác giả Tư Trị Thông Giám (sử nhà Đường) tường thuật trận đánh như sau: “Bấy giờ, nhà vua ra lệnh cho Hoằng Tháo chỉ huy chiến thuyền ngược sông Bạch Đằng vào thẳng Giao Châu. Phần Ngô Quyền, ông giết được Công Tiễn rồi đem quân nghinh chiến. Trước đó, ông đã cho đóng ở cửa sông những cây gỗ lớn trên đầu đẽo nhọn để làm chông. Thừa lúc nước lên, ông cho những chiếc thuyền nhẹ tiến ra đánh rồi giả vờ trốn chạy. Một lúc sau, thủy triều xuống, chiến thuyền Nam Hán bị chông gỗ ngăn trở không sao rút được. Binh sĩ thua to, thuyền úp chết đuối quá nửa. Hoằng Tháo tử trận. Vua Nam Hán được tin, khóc lóc thảm thiết, thu lượm lực lượng sống sót dẫn về”. Như chúng ta đã biết, tình hình Nam Hán lúc bấy giờ còn phải đối phó với Lý Khắc Dụng (Hậu Đường) vừa lên ngôi Thiên Tử Trung Hoa thay cho nhà Lương, vừa phải đem quân đánh Ngô Quyền ở nước Nam nên không đủ sức, vừa phải giữ nước, vừa đem quân đi xâm lăng nước khác. Ngô Quyền đã lợi dụng tình thế đó để hùng cứ một phương. Về chính trị, ngoại giao thì Ngô Quyền với tư cách là người trung thành với Trung Ương để chống lại vua Nam Hán là tên phản tặc chống lại Thiên Tử (nhà Đường). Về quân sự, ông đã chọn Bạch Đằng là nơi thuận lợi, xung quanh là một vùng đá vôi có nhiều hang động dễ giấu quân, nước thủy triều lên xuống ở đây cũng có điểm đặc biệt khác với các con sông khác khiến cho địch không ngờ trước. Ba thế kỷ sau, Trần Hưng Đạo cũng áp dụng chiến thuật này và đã thắng quân Mông Cổ một cách oanh liệt. Năm 939, thắng được quân Nam Hán rồi, Ngô Quyền xưng vương, đóng đô ở Cổ Loa (huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên ngày nay) mà không đặt quốc hiệu. Đối với Trung Hoa, ông chỉ là một chức quan Tiết Độ Sứ, chưa từng được phong


Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 433 vương chẳng khác nào địa vị của Khúc Thừa Mỹ hay Dương Đình Nghệ trước đây mà thôi. Hơn nữa, tình hình lúc đó không thể cho sứ qua tận kinh đô của Thiên Tử nhà Đường được vì nước Tàu đang bị chia cắt thành nhiều nước nhỏ mà nước gần nhất là Nam Hán. Ông cứ để mặc cho người ta hiểu rằng ông cũng như Khúc Thừa Mỹ, Dương Đình Nghệ là những người chống lại Nam Hán vì trung thành với Thiên Tử. Từ đây trở đi, chấm dứt thời kỳ Bắc thuộc trước sau hơn một ngàn năm. 10. Mười hai Sứ Quân Năm 944 Ngô Quyền mất, con là Ngô Xương Ngập kế vị nhưng không đủ tài đức bằng cha để lãnh đạo đất nước, vì thế bị cậu ruột là Dương Tam Kha cướp ngôi vào năm 945. Ngô Xương Ngập chạy trốn qua vùng Nam Sách (nay thuộc Hải Dương), nương náu nhà Phạm Lịnh Công. Dương Tam Kha đem quân đuổi bắt, ông bèn trốn vào trong núi. Tam Kha chỉ bắt được em của ông là Ngô Xương Văn đem về làm con nuôi. Năm 950, Tam Kha sai Ngô Xương Văn đem quân đi dẹp loạn. Văn liền mưu với Đỗ Cảnh Thạc và Dương Cát Lợi đem quân trở về bắt được Dương Tam Kha. Ngô Xương Văn xưng là Nam Tấn Vương (950-956), sai người đi rước anh về cùng lo việc nước. Ngô Xương Ngập xưng là Thiên Sách Vương. Năm 954, Thiên Sách Vương chết, Nam Tấn Vương phải đi đánh dẹp các nơi, bị bắn chết vào năm 965. Từ đó anh hùng trong nước mỗi người nổi lên chiếm một vùng gọi là mười hai sứ quân: 01. Ngô Xương Xí giữ Bình Kiều (nay thuộc Khoái Châu, Hưng Yên). 02. Đỗ Cảnh Thạc giữ Đỗ Động Giang (nay thuộc Thanh Oai, Sơn Tây). 03. Trần Lãm tức Trần Minh Công ở Trường Châu tức vùng Bố Hải Khẩu (Thái Bình). 04. Kiều Công Hãn tức Kiều Tam Chế ở Phong Châu (huyện Bạch Hạc). 05. Nguyễn Khoan tức Nguyễn Thái Bình ở Tam Đái (Vĩnh Tường). 06. Ngô Nhật Khánh tức Ngô Lãm Công ở Đường Lâm


434 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng (Phú Thọ, Sơn Tây). 07. Lý Khuê tức Lý Lãng Công ở Siêu Loại (Thuận Thành). 08. Nguyễn Thủ Tiệp tức Nguyễn Lịnh Công ở Tiên Du (Bắc Ninh). 09. Lữ Đường tức Lữ Tá Công ở Thế Giang (Văn Giang, Bắc Ninh). 10. Nguyễn Siêu tức Nguyễn Hữu Công ở Tây Phù Liệt (Thanh Trì, Hà Đông). 11. Kiều Thuận tức Kiều Lịnh Công ở Hồi Hồ (Cẩm Khê, Sơn Tây). 12. Phạm Bạch Hổ tức Phạm Phòng Át ở Đằng Châu (Hưng Yên). Các sứ quân đem quân đánh lẫn nhau để chiếm dân, chiếm đất khiến cho dân chúng phải cảnh chiến tranh loạn lạc hơn hai chục năm, rất khổ cực. 11. Đinh Bộ Lĩnh thống nhất đất nước, mở đầu kỷ nguyên mới Lần đầu tiên nước ta được Trung Quốc thừa nhận độc lập. Đinh Tiên Hoàng (968-979) tên thật là Đinh Bộ Lĩnh, con của Thứ Sử Hoan Châu Đinh Công Trứ dưới thời Dương Đình Nghệ và Ngô Quyền. Từ nhỏ ông đã nổi tiếng thông minh, có tài tổ chức chỉ huy và được nhiều ngươi khâm phục. Sau khi cha mất, ông ở với Trần Minh Công. Trần Minh Công mất, binh quyền về tay Đinh Bộ Lĩnh. Ông chiếm cứ vùng Hoa Lư (Hà Nam, Ninh Bình), chiêu mộ được nhiều người hào kiệt, được mọi người ủng hộ, thế lực càng ngày càng lớn. Năm 951, anh em Ngô Xương Ngập, Ngô Xương Văn đem quân đến đánh nhưng thất bại. Ông cùng với con là Đinh Liễn đem quân từ Nam tiến ra Bắc, từ Ái Châu đến Giao Châu, thắng Phạm Phòng Át, Đỗ Cảnh Thạc, sau đó các nơi đều thần phục. Dân chúng tôn xưng ông là Vạn Thắng Vương và yêu cầu ông lên làm vua lãnh đạo đất nước. Năm 968, ông lên ngôi, tức là Đinh Tiên Hoàng, đặt tên nước là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư, phong cho con là Đinh Liễn làm Tiết Độ Sứ, tức Nam Việt Vương. Ông tổ chức triều đình, xây cung điện, đứng đầu quan văn là Nguyễn Bặc, quan võ là Lê Hoàn. Năm 970, ông đặt năm bà Hoàng Hậu (là Đan Gia, Trinh Minh, Kiểu Quốc, Cồ


Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 435 Quốc và Ca Ông) và lấy niên hiệu là Thái Bình nguyên niên. Nền độc lập của nước ta đã có từ Ngô Quyền sau khi thắng trận Bạch Đằng, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi nhờ có công thống nhất đất nước, ổn định tình hình. Trong lúc đó, Triệu Khuông Dẫn lên ngôi Hoàng Đế ở Trung Hoa, lập ra nhà Tống và cho quân đánh lấy Nam Hán, một nước ở cạnh nước ta. Thời Ngô Quyền, Trung Quốc loạn lạc, chia năm xẻ bảy nhưng thời Đinh Bộ Lĩnh thì Trung Quốc đang thống nhất dần dần và chắc chắn rồi đây quân Tàu cũng sẽ kéo đến nước ta tái lập nền đô hộ đã có từ đời Hán, đời Đường. Năm 970, quân nhà Tống tiến vào Nam Hán và năm sau đó, chiếm thành Quảng Châu, thủ phủ của Nam Hán. May cho nước ta là quân Tống đã dừng lại đó vì thời tiết trở ngại, một trận bão lớn và lụt ngập khắp nơi. Thời gian Trung Quốc bị phân hóa thì nước ta vẫn lấy danh nghĩa trung thành với Trung Ương để chống lại phe phản nghịch với Thiên Tử. Nay với danh nghĩa đó, Đinh Bộ Lĩnh cho sứ qua dâng lễ vật lên nhà Tống để tỏ lòng trung thành và xin phong vương. Trung Quốc là một nước lớn, vua Trung Quốc tự xưng là Thiên Tử, thay trời để cai trị muôn dân. Trong thiên hạ chỉ có một Thiên Tử mà thôi. Thiên Tử phong vương cho các nước chư hầu. Kẻ nào chống lại Thiên Tử là chống lại Trời và bất cứ ai cũng có quyền trừng trị. Trái lại, một vua chư hầu được Thiên Tử thừa nhận, được phong vương thì bất cứ ai chống lại người đó là chống lại Thiên Tử. Nước nhỏ, nước chư hầu, muốn được yên ổn, được hợp pháp thì phải triều cống, phải xin Thiên Tử công nhận tính cách hợp pháp của mình. Đây cũng là một thứ công pháp quốc tế thời phong kiến. Các vua ở Âu Châu cũng xin Đức Giáo Hoàng ở Roma phong vương để được thừa nhận là hợp pháp đối với các nước khác và cả với nhân dân trong nước của mình. Giáo Sư Nguyễn Phương trong một bài nghiên cứu nhan đề “Đại Cồ Việt” đăng trên báo đã cho biết một số chi tiết về sứ bộ của Đinh Liễn như sau: “Ngày 19 tháng 6 năm 973, phái bộ của nước Đại Cồ Việt do Đinh Liễn cầm đầu đã đến kinh đô nhà Tống và đã được đón tiếp rất tử tế. Lúc đó nhà Tống mới thắng được Nam Hán nên đường đi từ nước ta đến kinh đô Trung Quốc mới được khai thông nhưng


436 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Hình bìa sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, bản in niên hiệu Chính Hòa thứ 18 đời nhà Lê (1697).


Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 437 các nơi khác trong nước Tàu vẫn chưa hoàn toàn ổn định. Cùng đến kinh đô nhà Tống ngoài phái đoàn của Đinh Liễn còn có phái đoàn của vua Ngô Việt cử đến nữa. Họ mang lễ vật đến nhà Tể Tướng Triệu Phổ trước để nhờ vị này vận động với vua Tống vì biết Tể Tướng họ Triệu là người rất thân với vua. Nhưng không may cho họ, ngay lúc đó Tống Thái Tổ cũng có mặt tại nhà Tể Tướng. Việc bị phát giác, Tể Tướng bị mất chức, nước Ngô Việt sau đó cũng bị xóa trên bản đồ. Ngày 3 tháng 7 năm 975 tức là ngày Giáp Ngọ, tháng Năm, năm Ất Hợi, Đinh Liễn được vào dâng cống vật....” Theo lệ cũ, vua Tàu chỉ phong cho Ngô Quyền chức Tiết Độ Sứ là một chức quan của Tàu cai trị nước ta mà thôi nhưng lần này Tống Thái Tổ đã phong cho Đinh Bộ Lĩnh chức Giao Chỉ Quận Vương, một danh dự mà cả ngàn năm trước chưa ai có được. Đây là lần đầu tiên nước Tàu công nhận nước ta là một nước độc lập, giữ tình hòa hiếu với nhau, trong tình trạng hai bên không có chiến tranh. Đó là một trường hợp quá đặc biệt xác nhận thắng lợi ngoại giao to lớn nhất từ trước đến nay do Đinh Bộ Lĩnh thực hiện. Vì giận nước Ngô Việt đã trọng Tể Tướng hơn vua nên Tống Thái Tổ đã ban cho Đinh Bộ Lĩnh phần thưởng xứng đáng của bề tôi trung thành với Thiên Tử. Sách An Nam Chí Lược của Lê Tắc có ghi lại một đoạn trong bài chế của vua Tống về việc phong cho Đinh Bộ Lĩnh làm Giao Chỉ Quận Vương như sau: “Bộ Lĩnh sinh tại đất Diên Chi, giữ tiết làm tôi, hướng theo phương Bắc, thuộc dòng dõi cao quý, giữ gìn một cõi phương xa, biết hâm mộ phong hóa Trung Quốc, thường nghĩ đến việc nội phụ. Nay Cửu Chân cũng thống nhất, Ngũ Lĩnh cũng thanh bình, bèn trèo non vượt sối sang cống hiến lễ vật. Nay có lời khen ngợi vì đã có ý sai con sang xin làm phiên thuộc, nên phong cho cha làm Quận Vương, cấp tước lộc để biểu dương lòng nhân đức khác thường. Phải ghi sâu đặc ân của ta và chúc cho trường thọ”. Sử nhà Tống cũng có ghi lại một bản văn, nội dung như sau: “Ngươi, Bộ Lĩnh, là con nhà cao quý, gìn giữ phương xa, mà có lòng hâm mộ phong hóa Trung Quốc, cùng không quên việc nội phụ. Nay chín châu loạn lạc đã yên và miền Ngũ Lĩnh cũng thanh bình, nên không nề trèo non vượt biển, vui vẻ đến dâng đồ cống quý


438 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng cùng cho con đến xưng làm phiên thuộc của ta. Vậy ta cho tuôn đổ ơn riêng và lấy nghĩa họ hàng mà dạy vẽ, ngươi nên mãi mãi ghi nhớ trong lòng ơn riêng đó và hãy nhận lấy quyền khai phủ nghị đồng tam ty, kiểm hiệu thái sư và phong cho chức Giao Chỉ Quận Vương”. Các đoạn trích dẫn trên đây từ bài “Đại Cồ Việt” của Giáo Sư Nguyễn Phương, Chủ Tịch Hội Sử Học Việt Nam Cộng Hòa trước 1975 đăng trên báo Đại Việt số 8 (1994) từ trang 43 đến 48. Nhưng theo sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, bản kỷ, Kỷ nhà Đinh, bản Hán văn (quyển I tờ 4ab) (bản khắc năm Chính Hòa thứ 18 (1697)), bản dịch ra Việt văn của Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam (Hà Nội) 1998, trang 212 và 213 có vài chi tiết khác với các đoạn trích dẫn trên: “Quý Dậu, (Thái Bình) năm thứ 4 (973) (Tống Khai Bảo năm thứ 6). Nam Việt Vương Liễn đi sứ về. Nhà Tống sai sứ sang phong cho vua làm Giao Chỉ Quận Vương, Liễn làm Kiểm Hiệu Thái Sư Tĩnh Hải Quân Tiết Độ Sứ An Nam đô hộ (Lời chế đại lược nói: “(Họ Đinh) đời đời làm vọng tộc, gìn giữ được phương xa, chí hâm mộ phong hóa Trung Hoa, thường nghĩ đến việc nội phụ. Nay chín châu hợp một, miền Ngũ Lĩnh sạch quang, bèn trèo non vượt biển đến dâng đồ cống. Khen người làm con biết giữ lễ phiên thần, vậy ban cho cha ngươi theo lối cắt đất phong tước, xếp phẩm trật cho vào hạng được cầm quân, được hưởng mức tỉnh phú. Như thế là để khen thưởng đức tốt của người già, há chỉ hạn chế trong điển chương thường lệ đâu?” (trang 212). “Ất Hợi, (Thái Bình) năm thứ 6 (975) (Tống Khai Bảo năm thứ 8)... Mùa Thu, nhà Tống sai Hồng Lô tự khanh Cao Bảo Tự dẫn đầu bọn Vương Ngạn Phù đem chế sách sang phong cho Nam Việt Vương Liễn làm Khai Phủ Nghi Đồng Tam Ty, Kiểm Hiệu Thái Sư, Giao Chỉ Quận Vương. Từ đó về sau, sai sứ sang nhà Tống đều lấy Liễn làm chủ” (tr 213). Như vậy cái chức “Khai Phủ Nghi Đồng Tam Ty, Kiểm Hiệu Thái Sư, Giao Chỉ Quận Vương” là chức mà nhà Tống phong cho Đinh Liễn và thừa nhận Đinh Liễn là người sẽ kế vị Đinh Bộ Lĩnh. Còn cái chức nhà Tống phong cho Đinh Bộ Lĩnh là “Giao Chỉ Quận Vương” và được “cầm quân, được hưởng mức tỉnh phú”... Tỉnh phú có nghĩa là được thu 1/5 thuế hoa


Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 439 màu trên đất ruộng của dân trong nước, tức chế độ tỉnh điền ngày xưa. Nói rõ hơn là được có quân đội riêng, được quyền thu thuế để chi tiêu trong nước, tức là được quyền tự trị, quyền của một quốc gia độc lập đối với Trung Quốc thời đó... Về sau Đinh Bộ Lĩnh lập con thứ là Hạng Lang làm Hoàng Thái Tử (mùa Xuân năm Mậu Dần 978) và không muốn truyền ngôi cho Đinh Liễn vì thế Đinh Liễn đã giết Hạng Lang. Đinh Liễn là người có công giúp cha là Đinh Bộ Lĩnh thống nhất được đất nước và có công đi sứ Trung Quốc, đem tài ngoại giao thuyết phục được vua nhà Tống phong cho Đinh Bộ Lĩnh được làm Giao Chỉ Quận Vương nên không thể nào chấp nhận được việc cha của mình có hành động bất công bỏ con trưởng lập con thứ được. Nước ta từ ngày lập quốc cho đến đời nhà Nguyễn cũng chỉ được vua Tàu phong cho chức Vương mà thôi. Chức đó khởi đi từ Đinh Bộ Lĩnh, người được sử sách gọi là Tiên Hoàng, vua chính thống của nước ta. Từ một dân tộc bị nô lệ với sự góp sức xây dựng mở mang của người bản xứ cũng như di dân, trải qua hơn một ngàn năm, đã lớn mạnh và tự cường bên cạnh một nước lớn mà không bị tiêu diệt. Thế kỷ thứ mười với Đinh Bộ Lĩnh đã đánh dấu bước tiến của cả một dân tộc. Từ nay, dân tộc Việt càng ngày càng mở rộng thêm về lãnh thổ và phát triển một nền văn hóa độc lập. Biên giới nước ta thời đó từ Bắc cho đến đèo Ngang, giữa Hà Tĩnh và Quảng Bình. Năm 979, Vua và Đinh Liễn bị người hầu là Đỗ Thích giết chết. Sử chép rằng Đỗ Thích nằm mơ thấy sao rơi vào miệng, cho đó là điềm được làm vua... Một hôm thấy vua nằm ngủ say liền lẻn vào cung giết vua, sau đó giết luôn cả Đinh Liễn. Thích bị bắt và bị xử tử. Đinh Toàn mới 6 tuổi lên nối ngôi, tất cả quyền hành đều ở trong tay Thái Hậu họ Dương, mẹ Đinh Toàn và Thập Đạo Tướng Quân Lê Hoàn. Thái Hậu cùng Lê Hoàn tư thông, các quan đại thần là Đinh Điền, Nguyễn Bặc đem quân chống Lê Hoàn đều bị giết. Đinh Toàn làm vua được 8 tháng thì bị truất phế, giáng phong là Vệ Vương, Lê Hoàn làm Phó Vương và sai người đưa thư sang nhà Tống lấy danh nghĩa Đinh Toàn để cầu phong. Trên thực tế nhà Đinh bắt đầu năm 968 và chấm dứt năm 980, được 13 năm. Vệ


440 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Vương Đinh Toàn tuy còn sống đến năm 991 (18 tuổi) nhưng quyền hành đều ở trong tay Lê Hoàn. Nhà Tống biết được tình hình nước ta lộn xộn nên đem quân qua đánh và cho sứ là Trương Tông Quyền trả lời cho Lê Hoàn về thư cầu phong của Đinh Toàn như sau: “Họ Đinh truyền nối ba đời, trẫm muốn cho Toàn làm Thống Soái, khanh làm phó. Nếu Toàn tướng tài chẳng có, vẫn còn trẻ con thì nên bảo cả mẹ con cùng thân thuộc sang quy phụ. Đợi khi bọn họ vào chầu ắt sẽ có điển lễ ưu đãi và sẽ trao cờ tiết cho khanh. Nay có hai đường, khanh nên chọn một”. Hai điều kiện của nhà Tống đưa ra: một là Đinh Toàn và mẹ là Dương Vân Nga phải qua yết kiến vua nhà Tống; hai là Lê Hoàn chỉ được làm Phó Vương còn mọi quyền hành phải thuộc về Đinh Toàn. Một đằng mất người yêu, một đằng mất quyền lãnh đạo đất nước, Lê Hoàn không chấp nhận được điều nào hết và ông cương quyết đối phó với nhà Tống. Bọn Phạm Cự Lượng bèn họp quân sĩ tôn Lê Hoàn làm Thập Đạo Tướng Quân chống xâm lăng và Thái Hậu Dương Vân Nga đem áo bào của vua mặc cho ông. Đinh Bộ Lĩnh là một ông vua có tài quân sự, chính trị, ngoại giao. Ông đã dẹp yên được loạn mười hai sứ quân, thống nhất đất nước, tổ chức quân đội, hành chánh, đặt ra luật pháp và đã vận động được Trung Hoa thừa nhận nền độc lập của nước ta. Hình ảnh của Đinh Bộ Lĩnh đã đi vào dân gian bằng những huyền thoại về cuộc đời tranh đấu hào hùng của ông. Tiếc thay cái chết của ông đã làm cho nhà Đinh sụp đổ quá mau chóng. Sứ Tàu đời nhà Tống qua thăm nước ta có để lại một vài nét về Đinh Bộ Lĩnh như sau: Người nhanh nhẹn, áo quần giản dị, chân không mang giày, ngựa không có yên da, mang đao lớn trên lưng... Giữa vua và các quan không có gì cách biệt cho lắm. 12. Lê Hoàn lên ngôi: Kết thúc lịch sử Việt Nam thế kỷ thứ X Thế kỷ thứ mười được kết thúc với việc lên ngôi của Lê Hoàn tức Lê Đại Hành vào năm 980. Ông người làng Bảo Thái, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam bây giờ, theo Đinh Bộ Lĩnh, có công đánh giặc, lên đến chức Thập Đạo Tướng Quân, đứng


Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 441 đầu các quan võ trong triều đình. Do hoàn cảnh đất nước, sau khi Đinh Tiên Hoàng bị mưu sát, Đinh Toàn nối ngôi quá nhỏ tuổi, quân nhà Tống sang xâm lăng... nên quân sĩ đã tôn ông lên làm vua lãnh đạo toàn dân chống xâm lăng. Ông đã đặt mẹ của Đinh Toàn là Thái Hậu Dương Vân Nga, vợ của Đinh Bộ Lĩnh, làm Hoàng Hậu. Lê Đại Hành có công phá giặc Tống xâm lăng ở phương Bắc, bình định Chiêm Thành ở phương Nam. Năm 981, phá được bộ quân của Hầu Nhân Bảo và Tôn Toàn Trưng ở Lạng Sơn, bắt được nhiều hàng binh, ngăn chận được thủy quân của Lưu Trừng ở cửa sông Bạch Đằng khiến cho quân Tàu phải tan vỡ nhưng vua vẫn cho sứ bộ qua nhà Tống xin triều cống và cầu phong. Bấy giờ nước Tàu đang bị quân Hung Nô ở phía Bắc quấy phá nên cũng thuận cho hòa và phong cho Lê Đại Hành làm Tiết Độ Sứ, về sau lại nâng lên chức Giao Chỉ Quận Vương (993), đến năm 997 gia phong là Nam Bình Vương. Yên được mặt Bắc rồi, Lê Đại Hành cho quân sang hỏi tội Chiêm Thành vì trước đây họ bắt sứ nước ta không cho về. Quân ta đã vào đến kinh đô nước Chiêm, vua Chiêm xin triều cống. Việc chính trị trong nước thời bấy giờ có những người giỏi như Phạm Cự Lượng, Ngô Tử An, Từ Mục đặt luật lệ, luyện tập quân sĩ, tổ chức hành chánh, đặt quan cai trị. Người Mường và dân thiểu số vùng núi Thanh Hóa hay nổi loạn, vua phải thân chinh đánh đẹp, bình định được các nơi. Có thể nói Lê Đại Hành cũng là một vua anh hùng của nước ta. Đại Hành mất năm 1005, thọ 65 tuổi, làm vua được 24 năm. Kết luận về thế kỷ thứ mười Thế kỷ thứ mười khởi đầu một thời đại tự chủ, tự cường của dân tộc Việt. Ý thức độc lập đã có từ lâu đời với dân Lạc Việt thời Hai Bà Trưng cũng như với những người di dân từ phương Bắc tới, tranh đấu để tự mình làm chủ giang sơn của mình. Từ Lý Cầm, Lý Tiến đến Triệu Thị Trinh, Lý Bí, Mai Thúc Loan, Phùng Hưng cho đến Khúc Thừa Mỹ, Dương Đình Nghệ, Ngô Quyền... đã đựng cờ độc lập, đánh đuổi xâm lăng. Tiếp đến là thắng lợi ngoại giao của Đinh Bộ Lĩnh: nhà Tống phải thừa nhận nước ta là một nước độc lập, hợp pháp, một nước hùng cường bên cạnh Trung Hoa. Cuộc thử thách


442 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng giữa quân đội của Lê Hoàn với quân nhà Tống vào cuối thế kỷ thứ mười đã chứng minh được khả năng bảo vệ tổ quốc của nhân dân ta. Chấm dứt thế kỷ thứ mười để bước sang một kỷ nguyên mới với cuộc Nam tiến dưới thời nhà Lý. Nguyễn Lý Tưởng Sách tham khảo: 1. Việt Nam Sử Lược, Trần Trọng Kim 1925. 2. An Nam Chí Lược, Lê Tắc (bản dịch của Ủy Ban Phiên Dịch Đại Học Huế, 1964). 3. Việt Sử Tiêu Án, Ngô Thời Sĩ (bản dịch của Ngô Tất Tố). 4. Việt Nam thời khai sinh, Nguyễn Phương 1965. 5. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, bản Hán Văn, Chính Hòa 1697. 6. Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, Hán Văn, Quốc Sử Quán Triều Nguyễn thêá kỷ 19. 7. Hậu Hán Thư, Sử Ký (trong Nhị Thập Ngũ Sử, Hán Văn, Đài Loan 1964).


Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 443 MỤC LỤC Đôi lời tâm sự ..............................................................................3 Thuyền ai đợi Bến Văn Lâu .......................................................5 Phong trào yêu nước chống Pháp cuối thế kỷ 19 .................22 Chuông cổ và hòm đựng hài cốt bốn vị thánh tử đạo .........77 Cuộc thảm sát tại Dương Lộc ngày 8-9-1885 ........................92 Thạch Liêm Lão Hòa Thượng và Chùa Thiên Mụ ở Huế .......................................................117 Sư Tổ Tạ Nguyên Thiều..........................................................123 Truông Nhà Hồ ......................................................................126 Minh Đức Vương Thái Phi ....................................................137 Đào Duy Từ..............................................................................145 Vân Dương Ni Cô ...................................................................152 Linh Địa Lavang ......................................................................157 Chùa Sắc Tứ .............................................................................179 Từ ngôi mộ Lưỡng Hổ Chầu đến Chiến Khu Tân Sở ........182 Một vài góp ý với Triệu Vân .................................................236 Bút tích cuối cùng của Linh Mục Bửu Đồng .......................251 Tết Mậu Thân: Tôi gặp LM Giuse Lê Văn Hộ lần cuối cùng .......................................................................261 Chiến Thắng Đống Đa ............................................................275 Cải tổ nội các ngày 2-5-1933 dưới thời vua Bảo Đại ..........290 35 năm sau cái chết của TT Ngô Đình Diệm: nhìn lại lịch sử ....................................................................319 Vài cảm nghĩ nhân cái tang của Bảo Đại .............................351 Nam Phương Hoàng Hậu ......................................................364 Ngày quốc hận 30 tháng 4 năm 1975 ...................................373 Lịch sử Việt Nam từ thời khai sinh cho đến thế kỷ thứ 10 ........................................................400


444 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Nguyễn Lý-Tưởng (ngoài 60 tuổi) TIỂU SỬ • Sinh quán Triệu Phong, Dương Lộc, Quảng Trị, Việt Nam.. • Tuổi Kỷ Mão (1939). • Cựu học sinh trường Pellerin và Providence (Thiên Hựu), Huế. • Cựu sinh viện Hán Học, Đại Học Văn Khoa và Đại Học Sư Phạm Huế. • Tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm. • Giáo Sư trường Duy Tân Phan Rang, biệt phái về Văn Phòng Công Cán Ủy Viên đặc trách Thanh Niên Bộ Giáo Dục VNCH. • Dân Biểu Hạ Nghị Viện Việt Nam Cộng Hòa nhiệm kỳ I (1967-1971). • Tổng Ủy Viên Thông Tin Báo Chí Ban Chấp Hành Trung Ương Đại Việt Cách Mạng Đảng (1970-1975).


Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 445 • Viết văn, viết báo từ 1957. Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút Nhật Báo Da Vàng tại Saigon 1970. • Cộng tác với báo Mầm Sống ở Huế (1957) và các nhật báo tại Saigon từ 1963 như Tự Do, Xây Dựng, Sống Mới, Sống, Độc Lập, Lẽ Sống, Thời Thế và các Tuần Báo tại Saigon trước 1975. Thường phát biểu trên các đài Phat Thanh, Truyền Hình Huế, Saigon trước 1975. • Xuất ngoại nghiên cứu về kinh tế, canh nông, vận động ngoại giao tại các nước Hoa Kỳ, Pháp, Anh, Hòa Lan, Đài Loan, Nhật Bản, Đại Hàn (Nam Hàn), Thái Lan, Singapor, Mã Lai. Tham gia Hội Nghị Liên Hiệp Nghị Sĩ Quốc Tế kỳ 58 tại Hòa Lan (10/1970). • Sau 30/4/1975 bị tù dưới chế độ CSVN hai lần tổng cộng 14 năm (1975 - 1988 và từ 1992 - 1993), đã trải qua các nhà tù: Long Thành, Thủ Đức, Hà Tây, Nam Hà... Ba lần bị cùm một chân trong nhà kỷ luật, 20 tháng biệt giam tại các nhà giam từ Nam ra Bắc: Hỏa Lò, Chí Hòa, 4 Phan Đăng Lưu (Gia Định) trước mặt chợ Bà Chiểu, 3-C Bến Bạch Đằng (Tôn Đức Thắng) Saigon, Khu Kiên Giam lao xá Chí Hòa... Năm 1992 bị buộc tội hoạt động lật đổ chính quyền nhân dân (CSVN). • Định cư tại Hoa Kỳ tháng 7/1994, tiếp tục viết văn, viết báo, tranh đấu cho tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền cho VN. • Tổng Thư Ký Nguyệt San Hiệp Nhất tại Trung Tâm Công Giáo VN (Giáo Phận Orange). • Tổng Thư Ký báo Chính Việt (Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị). • Chủ trương báo Xuân Đại Việt từ 2013 đến nay. • Hội luận và trả lời phỏng vấn trên các đài Phát Thanh và Truyền Hình tại Hoa Kỳ... • Chủ Tịch BCH Trung Ương Đại Việt Cách Mạng 2 nhiệm kỳ (2012-2016 và 2016-2020). • Được phỏng vấn trên Paris by Night 91 về Tết Mậu Thân 1968 tại Huế. • Được mời phát biểu về Tết Mậu Thân 1968 tại Huế với tư cách nhân chứng do Trung Tâm Lưu Trữ Tài Liệu Chiến Tranh Việt Nam Đại Học Lubbock, tiểu bang Texas vào năm


446 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng 2008 (nhân dịp kỷ niệm 40 năm biến cố Mậu Thân) trước các quan khách và báo chí Mỹ và Việt Nam trong đó có một số nghiên cứu sinh bậc Tiến Sĩ từ Việt Nam đang du học Mỹ và các cựu chiến binh Hoa Kỳ đã từng tham chiến tại Miền Nam Việt Nam trước 1975, các Nghị Sĩ và Dân Biểu, Giáo Sư Đại Học... của Hoa Kỳ.


Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 447 CÁC TÁC PHẨM ĐÃ XUẤT BẢN a. Truyện ngắn: - Đàn Bướm Lạ Trong Vườn. - Thu Còn Vương Nắng. - Ngày Trở Về. - Hai Thế Hệ (in chung với Trần Quán Niệm và Phan Vỹ). - Thác Lũ Mưa Nguồn Q. I (2016) và Quyển II (2021) (hồi ký). b. Thơ: - Theo Dấu Chân Chim. - Tình Khúc Mùa Xuân. - Vùng Hoang Tưởng. - Thương Về Quảng Trị (thơ, toàn tập). c. Nghiên cứu lịch sử: - Thuyền Ai Đợi Bến Văn Lâu. - Đưa Em Tới Chốn Nhà Hồ (I). - Đưa Em Tới Chốn Nhà Hồ (II). - Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên (Quốc Sử Quán nhà Nguyễn biên soạn bằng Hán Văn, do các Giáo Sư Trần Vinh Anh, Lê Ngọc Bích, Nguyễn Đức Cung và Nguyễn Lý Tưởng dịch ra tiếng Việt). - Thảm Sát Mậu Thân 1968 tại Huế (tuyển tập tài liệu gồm nhiều tác giả). - Lịch sử Việt Nam qua 12 con giáp. d. Sẽ xuất bản: - Má Lúm Đồng Tiền (tuyển tập truyện ngắn).


Click to View FlipBook Version