50 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Cụ Phan Chu Trinh.
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 51 Phó Bảng năm Ất Mùi (1895) làm Đốc Học Nghệ An, tham gia phong trào Duy Tân, có chủ trương ôn hòa, bị Pháp nghi ngờ nên thuyên chuyển vào Bình Thuận. Sau vụ kháng thuế 1908, bị trả về Nghệ An sau bị đày đi Côn Lôn đến năm 1921 mới được tha, qua đời năm 1923. - NGÔ ĐỨC KẾ hiệu Tập Xuyên, sinh năm 1878 tại làng Trảo Nha, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh, đậu Tiến Sĩ năm Tân Sửu (1901), không ra làm quan, mở trường dạy học, nhà sách, tham gia phong trào Duy Tân, bị bắt năm 1907. Năm 1908 sau vụ kháng thuế, bị đày đi Côn Lôn cùng một lượt với Huỳnh Thúc Kháng..., năm 1921 được tha về, qua đời năm 1929. (Trong phạm vi bài này, chúng tôi không đi sâu vào vụ kháng thuế và biến động tại miền Trung năm 1908. Chúng tôi chỉ giới thiệu một số nhân vật có liên hệ quen biết với cụ Võ Bá Hạp mà thôi. Quý độc giả muốn biết rõ ràng, chi tiết hơn, xin xem “Trung Kỳ Dân Biến” của GS Trần Gia Phụng, xuất bản năm 1996 tại Toronto, Canada). 6. CUỘC HỘI NGỘ TAY BA: PHAN BỘI CHÂU, HUỲNH THÚC KHÁNG VÀ VÕ BÁ HẠP TẠI HUẾ Sau khi bị bắt vào năm 1906, cụ Võ Bá Hạp bị giam tại Quảng Ngãi rồi Quảng Trị và Lao Bảo thuộc tỉnh Quảng Trị, gần biên giới Lào. Cuối năm Giáp Dần (1914), niên hiệu Duy Tân thứ 8, cụ được ra khỏi nhà tù, trở về nhà. Lúc bấy giờ cụ Vũ Văn Giáp đã về ở tại Bao Vinh (Huế) nên cụ Võ Bá Hạp cũng về ở đây, làm nghề Đông Y Sĩ, chữa bệnh cho dân chúng, ai có tiền thì trả, ai nghèo thì cụ chữa bệnh miễn phí nên tiếng lành đồn xa, đồng bào quanh vùng rất quý mến cụ. Năm Đinh Tỵ (1917), dưới thời vua Khải Định, triều đình khôi phục bằng Cử Nhân cho cụ và muốn bổ dụng cụ vào ngành giáo dục nhưng cụ từ chối. Ngoài việc chữa bệnh cho đồng bào ra, hằng ngày cụ Võ đọc sách, ngâm thơ, tiếp khách, đàm đạo thời sự với các thành phần thanh niên, trí thức trong vùng. Năm 1921, cụ Huỳnh Thúc Kháng mãn hạn tù Côn Lôn, trở về Quảng Nam, đến năm 1923, khâm sứ Pháp ở Huế là Pierre Pasquier (sau này là Toàn Quyền Đông Dương) mời
52 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Cụ Huỳnh Thúc Kháng.
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 53 cụ ra Huế làm việc cho Viện Bác Cổ Huế nhưng cụ từ chối. Năm 1926, cụ ứng cử vào Viện Dân Biểu Trung Kỳ (đại diện ba hạt Tam Kỳ, Thăng Bình và Tiên Phước tỉnh Quảng Nam) rồi được bầu làm Viện Trưởng Viện này, họp tại Huế. Cũng năm đó, cụ Phan Bội Châu bị bắt năm 1925 tại Thượng Hải (1-7-1925), bị đưa về giam tại Hỏa Lò (Hà Nội) và bị kết án khổ sai chung thân (13-11-1925). Nhờ sự tranh đấu của mọi giới đồng bào và dư luận quốc tế và nhờ sự can thiệp của Hội Nhân Quyền ở Pháp nên Toàn Quyền Alexandre Varenne đã ký quyết định ân xá và đưa cụ về an trí tại Huế (1926). Hai cụ vốn là bạn thân của cụ Võ Bá Hạp nên tình cờ mà gặp lại nhau trên đất thần kinh, thật là một cuộc hội ngộ lý thú và đầy ý nghĩa. Trong giai đoạn này các cụ chủ trương tiếp tục tranh đấu bằng phương pháp bất bạo động và dùng ngôn luận, báo chí, tư tưởng để hướng dẫn lớp thanh niên hậu sinh cũng như tranh đấu công khai, hợp pháp trước nghị trường. Báo TIẾNG DÂN do cụ Huỳnh Thúc Kháng chủ trương ra mắt số đầu tiên tại Huế ngày 10-8-1927, rất được mọi giới ủng hộ. Các cụ thường gặp gỡ nhau bàn luận thời cuộc, viết báo, hướng dẫn dư luận. Các nhân sĩ, trí thức, thanh niên thời đó thường liên lạc, tiếp xúc với các cụ như Bác Sĩ Trần Đình Nam, Giáo Sư Đoàn Nồng, Giáo Sư Tôn Quang Phiệt, học giả Đào Duy Anh, Bác Sĩ Thân Trọng Phước, Giáo Sư Thái Văn Phan, Giáo Sư Phan Kích Nam, Giáo Sư Lê Mậu Thành, Phán Sự Nguyễn Tấn Quê (tức Nguyễn Văn An), Phán Sự Nguyễn Bá Mưu, Tham Sự Nguyễn Đôn Duyến, Tham Sự Uông Hải Thọ, các ông Lê Võ, Nguyễn Châu Trinh v.v... Các cụ Ngô Đình Khôi, Ngô Đình Diệm (sau khi từ quan 1933) cũng thường liên lạc với các cụ Phan, Huỳnh và Võ... 7. ĐI TÌM NGÔI MỘ CỤ TĂNG BẠT HỔ Ở Bến Ngự, cụ Phan Bội Châu có sắm một chiếc thuyền nhỏ để nghỉ ngơi trên sông Hương. Cụ thường theo đường sông, từ Bến Ngự thẳng đến Bao Vinh và đậu lại bến phía trước nhà cụ Võ Bá Hạp rồi đi thẳng vào nhà. Khoảng năm 1936, vào một buổi sáng, cụ Phan đến thăm cụ Võ và có mang theo một bia mộ đúc bằng xi măng. Cụ Phan gọi hai người con trai cụ Võ là Võ Như Nguyện (năm đó hơn 20 tuổi) và Võ Như
54 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Vọng (16 tuổi), bảo xuống thuyền khiêng tấm mộ bia lên nhà. Cụ Phan nói với cụ Võ: “Phần mộ cụ Tăng xưa nay đắp bằng đất, chưa có mộ chí (bia mộ), lâu ngày có thể thất lạc, mất tích. Tôi làm tấm mộ bia này để ông đem dựng tại phần mộ cụ Tăng, và đồng thời đắp lại bằng xi măng cho đỡ hư hỏng”. Khi mang tấm bia vào nhà trong, hai anh em họ Võ tò mò mở tấm giấy phủ bên ngoài để xem thì thấy chỉ có 5 chữ: “LÊ THIỆU DẦN CHI MỘ” ( ). Hai anh em rất lấy làm ngạc nhiên. Nhân khi mang trà mời khách, bèn thưa: “Chúng cháu sợ khiêng nhầm bia mộ của người khác... vì khi lật tờ giấy dán trước lòng bia thì thấy đề tên LÊ... chi mộ”. Cụ Phan Bội Châu bèn giải thích: “Tên thật của cụ Tăng Một phần lăng mộ Cụ Tăng Bạt Hổ
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 55 là LÊ THIỆU HỔ, bọn Pháp cũng biết rõ tên đó, chúng cũng biết cả cái tên khác của cụ là ĐIỀN BÁT TỬ... Nếu để tên thật thì sẽ bị phiền phức sau này... nên chúng ta phải dùng chữ DẦN để thay chữ HỔ. Hổ và Dần đều có nghĩa là cọp. Chỉ có chúng ta biết với nhau thôi”. Nhân đó, cụ Võ Bá Hạp mới nói thêm cho hai người con biết về lý lịch của cụ Tăng Bạt Hổ... và những ngày cuối cùng của cụ Tăng mà cụ Võ là người đã săn sóc thuốc men và chôn cất cụ Tăng... Cụ Tăng Bạt Hổ, tên thật là LÊ THIỆU HỔ, người làng An Thường, xã An Thạnh, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định, là kiện tướng trong phong trào Cần Vương kháng Pháp năm 1885 (Ất Dậu) thời vua Hàm Nghi tại Bình Định, dưới quyền chỉ huy của Mai Xuân Thưởng. Trong khoảng 1885-1887, cụ Tăng giữ chức Tán Tương Quân Vụ, nhiều lần làm cho quân Pháp tổn thất nặng nề. Khoảng giữa năm 1887 (Đinh Hợi) quân Pháp và Việt do quan của triều đình chỉ huy đã bao vây, tấn công ráo riết, nên bộ đội của cụ Tăng phải rút lui. Cụ Tăng không đồng ý với kế hoạch rút quân của chủ tướng Mai Xuân Thưởng và đã tự ý rút quân theo kế hoạch riêng của mình, kết quả rất thành công. Mai Xuân Thưởng rất khen ngợi và tặng cho cụ danh hiệu “BẠT HỔ TƯỚNG QUÂN”. Chữ “Bạt Hổ” có hai cách viết và nghĩa khác nhau. Nếu viết chữ Bạt một bên bộ Thủ và một bên chữ Hữu đi với chữ Hổ (Cọp) thì có nghĩa là người có sức mạnh đánh cọp (Bạt sơn cử đỉnh). Còn chữ Bạt một bên bộ Túc (chân) và một bên chữ Hữu đi với chữ Hổ thì có nghĩa là ương ngạnh, ngang tàng. Bạt Hổ tướng quân là ông tướng ương ngạnh, không tuân thượng lệnh mà thành công. Tại sao có họ TĂNG? Có người giải thích rằng thời gian sau khi phong trào Cần Vương thất bại, khoảng 1887, cụ Tăng Bạt Hổ đã trốn tránh và bôn ba hải ngoại đã sang Trung Hoa, Nhật Bản ban đầu dùng đường Hòn Gay qua Trung Hoa. Tại vùng biên giới phía Bắc, trên đất Trung Hoa, có một làng dân theo đạo Thiên Chúa nên cụ phải cải trang làm Linh Mục để
56 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Kỳ ngoại Hầu Cường Để.
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 57 làm thân với họ và đưa thanh niên Việt Nam vào tạm trú tại đây trước khi sang Hồng Kông gặp Lý Tuệ để xuống tàu qua Nhật. Sau một thời gian bị lộ nên cụ phải tìm đường khác, qua Lào, qua Miên, qua Thái, qua Miến Điện để vào đất Trung Hoa. Cụ đã cải trang làm một nhà sư (Tăng), mặc áo cà sa, ôm bình bát đi khất thực để dẫn thanh niên vượt biên giới qua Trung Hoa... Vì những nước này đa số dân theo đạo Phật. Vì thế người ta mới gọi cụ là ông TĂNG để dấu tên thật. Cũng như cụ NGUYỄN HỮU TUỆ ngày trước đã từng làm Lý Trưởng nên người ta thường gọi là cụ LÝ TUỆ... (Cụ Nguyễn Hữu Tuệ sinh năm 1871, quê ở tỉnh Hòa Bình (Bắc Việt) làm đầu bếp trên tàu buôn ở Hải Phòng, đã giúp đưa các cụ Tăng Bạt Hổ, Phan Bội Châu, Cường Để v.v... và các thanh niên qua Trung Hoa, Nhật Bản; lại còn đi quyên góp tiền bạc giúp phong trào Đông Du... Về sau việc bị phát giác, cụ và người em bị tù chung thân. Năm 1931, cụ được tha về sống ở tỉnh lỵ Hòa Bình, sau đó có vào Huế thăm cụ Phan Bội Châu và ở lại nhà cụ Võ Bá Hạp mấy hôm. Trước khi trở về miền Bắc, cụ có để lại một tấm ảnh kỷ niệm, gia đình họ Võ còn giữ cho đến ngày nay. Cụ đã qua đời ngày 26-8-1938 tại Hải Phòng. Cụ Phan Bội Châu có viết mấy chữ Hán trên ảnh đó như sau: “NGUYỄN HỮU TUỆ quân chi chiếu tướng, xu nghĩa nhược khát, cấp nạn vong tử. Đầu thân quốc sự phàm thập niên. Phan Chu Trinh, Tăng Bạt Hổ, Phan Bội Châu, Cường Để, Nguyễn Thượng Hiền, dĩ cập Đông độ chư thiếu niên, giai quân mật tống. Sự tiết, bị tù, cơ tử nhưng bất biến”. Tạm dịch: “Ảnh chụp hình ông Nguyễn Hữu Tuệ, ông theo điều nghĩa như người khát nước, trong lúc nguy cấp quên chết. Mang thân lo việc nước cả chục năm. Phan Chu Trinh, Tăng Bạt Hổ, Phan Bội Châu, Cường Để, Nguyễn Thượng Hiền cũng như đám tuổi trẻ Đông Du, đều do ông bí mật đưa đi. Sự việc lộ ra, ông bị giam, chết đến nơi vẫn không thay lòng đổi dạ”. Phía sau tấm ảnh, có bài thơ của cụ Phan Bội Châu như sau:
58 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Cụ Nguyễn Thượng Hiền.
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 59 Ai ngờ đầu bếp được như ngươi, Giữa mắt trần gian khó thấy người. Nô lệ xác nhưng thần thánh óc, Hạ tầng đất vẫn thượng lưu trời. Liều cùng mưa nắng thi gan sắt, Thề với non sông giả nợ đời. Tức tối mình đây còn vậy vậy, Tượng đồng bia đá sẽ rồi ai? Câu đối cụ Phan khóc cụ Nguyễn Hữu Tuệ: “Sống với giang san, chết với giang san, trong đám than tro vàng mới quý, Buồn vì chủng tộc, vui vì chủng tộc, trước hồn thần thánh phách càng linh”. Có một giai thoại về cụ Tăng Bạt Hổ đã được nhiều người kể lại như sau: Nguyên sau khi phong trào Cần Vương thất bại, cụ Tăng trốn qua Tàu, qua Nhật và gia nhập vào quân đội của Nhật Hoàng được thăng sĩ quan và lập được nhiều công trạng trong trận Nga Nhật chiến tranh 1904-1905, được Nhật Hoàng gắn huy chương. Trong tiệc liên hoan mừng chiến thắng, Nhật Hoàng đã đích thân rót rượu mời cụ. Cụ cầm chén rượu òa khóc và nói đại ý: “Tôi không phải là người Nhật, tôi là người Việt Nam. Vì quốc gia chúng tôi bị người Pháp cai trị nên chúng tôi phải bỏ nước trốn qua Nhật làm lính đánh thuê cho Nhật Hoàng... Nay thấy người Nhật, cùng giống da vàng như chúng tôi mà chiến thắng được người Nga là giống da trắng thì chúng tôi rất hãnh diện nhưng nhìn lại, đất nước chúng tôi đang bị người Pháp, cũng là giống da trắng xâm lăng, nên chúng tôi rất tủi nhục. Xin Nhật Hoàng giúp chúng tôi để phục quốc...”. Nhật Hoàng đã ban lời an ủi và hứa giúp đỡ nhưng khuyên cụ nên đưa thanh niên Việt Nam qua Nhật du học và vận động đồng bào trong nước duy tân, mở mang dân trí, ý thức tự lập tự cường rồi mới có thể đánh đuổi thực dân giành độc lập được. Sau đó cụ mới về nước, đem các cụ Phan Bội Châu, Cường Để và thanh niên Việt Nam qua Nhật gọi là Phong Trào Đông Du...
60 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng GIÂY PHÚT CUỐI CÙNG CỦA CỤ TĂNG BẠT HỔ Năm Bính Ngọ (1906), trước ngày cụ Võ Bá Hạp bị bắt, cụ Tăng Bạt Hổ đã đến nhà cụ Võ tại làng An Hòa (hồi đó chưa dời về Bao Vinh), huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên họp bàn quốc sự cùng các đồng chí quan trọng. Hôm đó, vào mùa Đông, trời lạnh và mưa to gió lớn, nước lụt dâng lên ngập cả cánh đồng làng Thế Lại Thượng. Cụ Tăng bỗng bị cảm gió và lên cơn đau bụng địch tả mà không có thuốc thang gì cầm được nên cụ đã trút hơi thở cuối cùng trước sự hiện diện của chủ nhà là cụ Vũ Văn Giáp và các bạn đồng chí là Võ Bá Hạp, Châu Văn Hòe và Võ Đình Long. Cụ Tăng là một người hoạt động cách mạng chống Pháp đang bị tầm nã mà lại chết trong nhà cụ Võ Bá Hạp là một tai họa cho cụ: vừa bị kết tội chứa chấp chính trị phạm, vừa bị tội có án mạng xảy ra trong nhà mình... nên cụ Võ rất bối rối không biết tính sao. Cụ Võ Bá Hạp liền lội nước đích thân đến nhà một vị quan Lãnh Binh họ Nguyễn, Tùng Sự tại Phủ Doãn Thừa Thiên, cũng ở trong vùng gần nhà cụ để xin giúp đỡ. Nếu trót lọt thì tốt, nếu không thì đành phải cam chịu tội với chính quyền... Ông Lãnh Binh này là thân phụ ông Nguyễn Văn Lượng (sau cũng làm Lãnh Binh Thừa Phủ). Thấy trời đang bão lụt mà có người đến nhà, ông Lãnh Binh rất ngạc nhiên, khi nhận ra cụ cử Võ, ông liền hỏi: - Trời mưa bão thế này, quan cử đến thăm tôi có việc gì hệ trọng không? Cụ cử Võ liền bước vào nhà và ung dung đáp: - Tôi đến hầu thăm quan lớn lúc này là có ý đem điều may mắn, thăng quan tiến chức, bỗng lộc đến cho ngài đây. Trong khi quan Lãnh Binh họ Nguyễn chưa hiểu ra điều gì thì cụ Võ Bá Hạp đã bình tĩnh trình bày trường hợp cụ Tăng Bạt Hổ đến thăm và bị bệnh bất thình lình, rồi mất ở trong nhà vào một ngày bão lụt... Cụ cử nói: “Tôi khẩn khoản xin quan lớn: một là cho tôi mượn chiếc thuyền của ngài để đem người chết đi mai táng, hai là xin quan lớn báo cáo với cấp trên để lãnh thưởng...” nhưng ông lãnh binh họ Nguyễn chẳng những không bắt tội mà còn tích cực giúp đỡ... Ông nói: “Quan cứ yên tâm, tôi là kẻ tòng phạm trong vụ này”. Sau đó, thi hài cụ Tăng được chôn trên một gò đất cao
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 61 trên cánh đồng xã Thế Lại Thượng, gần nhà cụ Khóa Lê Minh Châu và cô Lê Thị Đàn. Ông Lê Nghiễm, người làng Dương Xuân, gần Thế Lại Thượng, xưng là cháu trong họ với cụ Tăng (họ Lê) thường năm vẫn đến thăm và săn sóc, tu bổ ngôi mộ của cụ. Năm Ất Dậu (1945), sau khi Nhật đảo chánh Pháp tại Đông Dương, chính phủ Trần Trọng Kim ra đời, các thân hào nhân sĩ và nhân dân xã Thế Lại Thượng đã làm lễ truy điệu cô Lê Thị Đàn và cụ Tăng Bạt Hổ ngay tại ngôi mộ của cụ, sau đó rước bài vị cô Lê Thị Đàn vào thờ trong đình làng Thế Lại Thượng. Hôm đó có sự hiện diện của cụ Võ Bá Hạp và cụ Lê Ngọc Nghị là hai bậc tiền bối cách mạng. Đến năm Bính Thân (1956), dưới thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm, các cụ Lê Ngọc Nghị cùng con cháu các bậc tiền bối cách mạng và nhân dân xã Thế Lại Thượng đã làm lễ truy điệu cụ Tăng Bạt Hổ và sau đó cải táng đưa cụ về chôn tại vườn nhà cụ Phan Bội Châu ở Bến Ngự Huế. Còn cái bia mộ cụ Tăng do cụ Phan làm năm 1936 thì dân làng lưu lại và đặt tại chỗ cũ để làm kỷ niệm. Theo yêu cầu của Giáo Sư Trần Gia Phụng hiện trú tại Canada, năm 1998, chúng tôi đã giới thiệu Giáo Sư với cụ Võ Như Nguyện ở Pháp. Cụ Võ Như Nguyện đã gởi các hình chụp ngôi mộ cụ Tăng Bạt Hổ và một số hình ảnh, bút tích của cụ Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng, Võ Bá Hạp cho Giáo Sư Trần Gia Phụng mượn làm tài liệu. Hiện Giáo Sư Trần Gia Phụng đang cất giữ. Các tác giả trước đây viết về cụ Tăng Bạt Hổ có mấy điểm nhầm lẫn sau đây: a. Cụ Tăng bị Pháp bắt giam và chết tại Huế (theo Nguyễn Huyền Anh và Trần Thị Thực Tế) điều này không đúng vì cụ Phan Bội Châu (trong sách Tự Phán) và cụ Huỳnh Thúc Kháng, Võ Bá Hạp cũng như nhiều nhà cách mạng tiền bối và cả sử sách đều xác nhận cụ Tăng chưa bao giờ bị Pháp bắt. b. Theo Nguyễn Quốc Thăng và Nguyễn Bá Thế tác giả “Tự Điển Nhân Vật Lịch Sử Việt Nam”, nhà xuất bản Văn Hóa Sài Gòn 1993 thì cụ Tăng chết năm 1908. Theo Nguyễn Huyền Anh (Tiểu Tự Điển Nhân Vật Lịch Sử Việt Nam, nhà xuất bản Anh Minh, 1972) và Hữu Thiện (Tạp chí Tiếng Sông Hương, 1990) thì cụ Tăng chết năm 1914... Điều này không đúng vì cụ
62 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Câu chữ Hán: “ĐIỀN BÁT TỬ TĂNG BẠT HỔ CHÍ SĨ CHI MỘ”. Sinh vu Quý Hợi niên (1863) Tốt vu Bính Ngọ niên (1906)
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 63 Tăng chết tại nhà cụ Võ Bá Hạp trước ngày cụ Võ bị Pháp bắt (1906). c. Theo Nguyễn Huyền Anh, cụ Tăng chết trong nhà lao. Điều này không đúng vì cụ Tăng chết tại nhà cụ Võ Bá Hạp. d. Cụ Tăng tên thật là LÊ THIỆU HỔ, điều này đã được cụ Phan Bội Châu xác nhận. Ngoài ra trong thời gian làm Tỉnh Trưởng Bình Định (1954-1955), cụ Võ Như Nguyện có nhờ ông Quách Tấn đi tìm tung tích cụ Tăng. Ông Quách đã đến nhiều nơi trong tỉnh có họ Tăng để tra cứu gia phả mà không có ai tên là Tăng Bạt Hổ. Tại làng An Thường, xã An Thạnh, huyện Hoài Nhơn, Bình Định là quê quán của cụ Tăng Bạt Hổ cũng không có ai họ Tăng, lý do vì cụ Tăng vốn là người họ Lê (LÊ THIỆU HỔ). Cụ Tăng Bạt Hổ là người ở ngoài vòng pháp luật, hoạt động bí mật, thay tên đổi họ, có khi phải cải trang để đi đây đi đó, biết nhiều thứ tiếng như Tàu, Nhật, Xiêm... Về lý lịch của cụ cũng ít người biết, ngoại trừ những người bạn thân của cụ như các cụ Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng, Võ Bá Hạp. Các tài liệu chúng tôi trình bày trên đây là do cụ Võ Như Nguyện cung cấp trong đó có tài liệu gia phả họ Võ ở Huế cũng như lời kể lại của các nhân chứng sống. Ước mong góp phần nhỏ vào việc nghiên cứu lịch sử nước nhà. Thơ văn của cụ để lại rất hiếm hoi, chúng tôi tìm được bài thơ sau đây: (Âm Hán Việt): Như Đông thời tác (1) Tứ phiên tầm chủ xuất dương quan, Can phế trương kỳ tại thử gian. Việt cảnh cáp đương xuân tiết hậu, Minh tiên dị quá Bắc tùng san. Thê hàng vạn lý do vi dị, Vân vũ trùng tiêu khởi thị nan. Thiên địa hữu tâm khai vận hội, Chinh xa tảo tảo phục nan hoàn. Tăng Bạt Hổ 1. Bài thơ sáng tác lúc qua phương Đông tức Nhật Bản. Vượt ải tìm vua đã bốn phen, Chốn này ước hẹn một bề gan.
64 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Trời Xuân đất khách ra chân bước, Cõi Bắc rừng thông quất ngực lên. Muôn dặm xông pha đành chẳng khó, Tầng mây mưa gió quyết làm nên. Vận may trời đất dành cơ hội, Xe khách về Nam trở bánh liền. Lê Thước dịch (Trích trong Thơ Văn Yêu Nước Và Cách Mạng Đầu Thế Kỷ 20 (1900-1930) của Chương Thâu, Hà Nội, 1976). 8. NHỮNG NĂM CUỐI ĐỜI CỦA CỤ VÕ BÁ HẠP Trong thế chiến thứ II (1939-1945), cụ Võ Bá Hạp vào tuổi xấp xỉ bảy mươi, thấy tình hình thế giới và tình hình đất nước biến chuyển, giới thanh niên hăng hái tham gia phong trào này, đảng phái nọ. Trước khi quân Nhật vào Đông Dương, có tin Kỳ Ngoại Hầu Cường Để ở Nhật sẽ về nước làm vua, thành lập chế độ Quân Chủ Lập Hiến thân Nhật và ông Ngô Đình Diệm sẽ là Thủ Tướng. Những tin tức từ ngoại quốc đưa vào trong nước đã tạo nên một cuộc bàn tán sôi nổi. Những người muốn đứng về phe Nhật để lật đổ Pháp, cởi ách thống trị cho dân tộc thì hy vọng vào vai trò của Kỳ Ngoại Hầu Cường Để; những người đứng về phe Đồng Minh (Mỹ, Tưởng Giới Thạch) thì hy vọng vào các nhà cách mạng Việt Nam đang còn lưu vong ở Trung Hoa như các cụ Trương Bội Công, Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh v.v... Nhóm thanh niên chịu ảnh hưởng của Đảng Cộng Sản Đông Dương thì đặt tin tưởng vào sự lãnh đạo của Nguyễn Ái Quốc (tức Hồ Chí Minh sau này)... Trong tình hình đó, vào năm 1940, cụ Phan Bội Châu qua đời. Phong trào cách mạng Việt Nam mất đi một lãnh tụ có kinh nghiệm đấu tranh và cụ Võ Bá Hạp cũng mất đi một người bạn chí thiết. Bộ ba Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng, Võ Bá Hạp chỉ còn lại hai người là cụ Huỳnh và cụ Võ, đồng canh, đồng tuế. Mấy năm sau, khi Nhật vừa đảo chính Pháp, lá bài Cường Để cũng như lá bài Ngô Đình Diệm bị bỏ rơi thì ngai vàng của vua Bảo Đại được củng cố và ông Trần Trọng Kim được đưa lên làm Thủ Tướng của một nước Việt Nam độc lập trong khối Đại Đông Á thân Nhật (9-3-1945)... Hơn ba tháng sau đó,
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 65 vào ngày 29-6-1945 (20 tháng Năm Ất Dậu), bà cụ Nguyễn Thị Cân, hiền nội của cụ Võ Bá Hạp qua đời. Sau mười năm tù tội trở về, hai ông bà đã có với nhau ba người con trai và hai người con gái nhưng ba trong số đó chết sớm chỉ còn lại hai người con trai là Võ Như Nguyện và Võ Như Vọng. Từ ngày ra khỏi nhà tù (1914) đến nay, cụ Võ Bá Hạp đã chịu ba cái tang lớn: tang cha (cụ Vũ Văn Giáp mất ngày 11 tháng Tám Ất Hợi 1935), tang vợ và tang bạn (cụ Phan Bội Châu). Sau khi Nhật đầu hàng ngày 14-8-1945, Việt Minh cướp chính quyền ngày 19-8-1945, vua Bảo Đại thoái vị ngày 25-8- 1945, nước Việt Nam thay đổi chế độ, từ Quân Chủ sang Dân Chủ Cộng Hòa dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh. Lúc bấy giờ vai trò của Đảng Cộng Sản Đông Dương chưa lộ rõ hình tích, nhiều người còn lầm tưởng họ là những người yêu nước chân chính nhưng khi Việt Minh lên nắm chính quyền rồi thì việc xảy ra ngay trong gia đình cụ Võ Bá Hạp, đã làm cho cụ phải thận trọng khi nghĩ về chế độ mới: người con trưởng của cụ, ông Võ Như Nguyện bị Việt Minh bắt. Lý do bị bắt, theo chúng tôi nghĩ có lẽ vì ông Nguyện có liên lạc với cụ Ngô Đình Khôi (anh cụ Ngô Đình Diệm)... và có lẽ cũng vì nhiều lý do khác nữa... Khi Việt Minh cướp chính quyền tại Hà Nội (19-8-1945), ông Ngô Đình Khôi đã có nhận định họ là thành phần của đảng Cộng Sản và đã khuyên vua Bảo Đại không nên thoái vị, chính phủ Trần Trọng Kim nên duy trì an ninh trật tự, đừng trao chính quyền cho nhóm Cộng Sản. Chính cụ Ngô Đình Khôi đã nhắn cụ Võ Như Nguyện đến gặp cụ tại nhà và nhờ liên lạc với Bác Sĩ Trần Đình Nam (Tổng Trưởng Nội Vụ trong Chính Phủ Trần Trọng Kim) cố gắng ngăn cản đừng để cho vua Bảo Đại trao chính quyền cho Việt Minh. Trước ngày 2-9- 1945, Việt Minh đến nhà “mời” cụ Ngô Đình Khôi đi họp..., lúc đó cụ Võ Như Nguyện đang ngồi ăn cơm với cụ Ngô. Sau đó cụ Ngô Đình Khôi bị đem đi thủ tiêu cùng với người con trai là Ngô Đình Huân tại một địa điểm gần ga xe lửa Hiền Sĩ phía Bắc tỉnh Thừa Thiên. Ông Phạm Quỳnh, nhà văn, nhà báo và cựu Thượng Thư Bộ Lại cũng bị bắt và bị chôn sống cạnh cha con cụ Ngô Đình Khôi tại đây. Ngày hôm sau, cụ Võ Như Nguyện cũng bị Việt Minh bắt.
66 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Sau khi cụ Võ Như Nguyện bị Việt Minh bắt vào tháng 8-1945, nhà cửa của cụ Võ Bá Hạp bị niêm phong, cụ Võ phải xuống ở nhà dưới, làm bằng tre lợp tranh. Một hôm Nguyễn Tất Đạt (tức Nguyễn Sanh Khiêm thường được gọi là Cả Khơm hay Cả Khiêm) là anh ruột của Hồ Chí Minh, đến nhà cụ cử Võ thăm và hỏi: - Nguyện ở đâu ? Cụ Võ Bá Hạp đáp: - Nguyện đang bị giam tại trú sở Việt Minh tại huyện Hương Trà. Đạt (tức Cả Khiêm) liền đến đó và nói to lên rằng: Văn bia bà Ấu Triệu (Lê Thị Đàn) (mặt trước). Tơ nhân sợi nghĩa dây lưng trắng, Giạ sắt lòng son nét màu hồng.
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 67 - Hãy cho thằng Việt gian này đến thăm thằng Việt gian Võ Như Nguyện... Rồi Đạt chạy thẳng đến chỗ cụ Võ Như Nguyện đang bị giam và nói với mọi người: - Thằng này (chỉ Đạt) là Việt gian, thằng Nguyện là Việt gian, thì tất cả những người ái quốc đều là Việt gian. Các người không biết đến gia đình cụ Cử và con cụ Cử, dưới thời Pháp thuộc đã bị vào tù vì chống Pháp trước các người... Sau khi biết rõ tình trạng của cụ Võ Như Nguyện, Đạt đến gặp Chủ Tịch Trung Bộ là Trần Hữu Dực và Dực đã ra lệnh cho Tôn Quang Phiệt về Bao Vinh giải tỏa lệnh niêm phong nhà cụ Võ Bá Hạp và trả tự do cho cụ Võ Như Nguyện. Theo một vài tác giả trước đây thì khi cụ Võ Như Nguyện bị Việt Minh bắt, cụ Võ Bá Hạp đã kêu cứu với Cả Khiêm và cụ Huỳnh Thúc Kháng can thiệp cho con mình được tự do nhưng theo lời cụ Võ Như Nguyện thì cụ Võ Bá Hạp không hề nhờ cậy bất cứ người nào, dư luận trên hoàn toàn sai sự thật. Trước đó, vào đầu năm 1944, khi Nhật chưa đảo chính Pháp tại Đông Dương, cụ Võ Như Nguyện cũng đã bị Pháp bắt giam tại Trà Khê (Quảng Ngãi). Sogny, phụ trách ngành an ninh mật thám Pháp tại Trung Kỳ đã đến gặp cụ Huỳnh Thúc Kháng và gợi ý nhờ cụ Huỳnh nhắn với cụ Võ Bá Hạp nên làm đơn xin cho con là Võ Như Nguyện được tha về để nuôi dưỡng cha già vì là trụ cột của gia đình... nhưng cụ Võ Bá Hạp đã làm ngơ... Tại sao Nguyễn Tất Đạt (tức Nguyễn Sanh Khiêm) lại can thiệp vào vụ này? Theo lời cụ Võ Như Nguyện kể lại với chúng tôi, nguyên cụ Nguyễn Sanh Huy (còn có tên Nguyễn Sanh Sắc hay Nguyễn Tất Sắc) đỗ Phó Bảng khoa thi năm Tân Sửu (1901) tại Huế, cũng như cụ Phan Bội Châu và các nhà Nho khác ở Huế và miền Trung thời đó đều có quen biết với cụ Võ Bá Hạp. Ông Phó Bảng Huy làm Tri Huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định, bị mất chức vì can tội: “Say rượu đánh chết người”, việc xảy ra vào năm 1910. Bà vợ cũng đã qua đời, nên ông đem các con vào Huế ở, vừa đi dạy học vừa làm nghề thuốc Bắc nhưng đời sống cũng khó khăn nên ông tính vào Nam tìm cách mưu sinh. Ông đã gởi các con trong đó có Nguyễn Thị Thanh (tức
68 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Kim Liên), Nguyễn Sanh Khiêm và Nguyễn Sanh Côn mồ côi mẹ cho cụ Vũ Văn Giáp (thân sinh cụ Võ Bá Hạp) nhờ chăm nom giùm. Cụ Vũ Văn Giáp cho cô Thanh (Kim Liên) và cậu Khiêm tiếp tục học Đông Y, cụ Võ Bá Hạp cũng hướng dẫn thêm cho họ về thuốc Bắc và các kinh nghiệm trong khi chữa bệnh cho đồng bào. Nguyễn Sanh Côn (hay Cung, tức Nguyễn Tất Thành) lúc đó còn nhỏ nên được Hội Nghệ Tĩnh Tương Tế giúp đỡ cho vào học trường Quốc Học. Cụ Nguyễn Sanh Huy (tức Nguyễn Tất Sắc) về sau lập nghiệp tại Cao Lãnh (Nam Kỳ) và chết chôn tại đó. Trong một bài báo, cụ Lê Thanh Cảnh (nguyên là Ngự Tiền Văn Phòng của Vua Bảo Đại) có kể rằng khi còn học tại trường Quốc Học Huế, cụ có biết một người bạn cùng lớp Văn bia bà Ấu Triệu (Lê Thị Đàn) bằng tiếng Việt (mặt sau).
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 69 tên là Nguyễn Sanh Côn. Năm 1908, Côn tham gia biểu tình chống Pháp, sau đó vì sợ bị bắt nên bỏ trốn không đi học nữa. Nguyễn Sanh Côn hay bị bạn bè gọi đùa là “Du Côn” nên đổi tên là Nguyễn Sanh Cung (về sau còn đổi tên là Nguyễn Văn Ba, Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Ái Quốc, Lý Thụy và Hồ Chí Minh..., tùy theo hoàn cảnh và tùy giai đoạn). Hồ Chí Minh tức Nguyễn Sanh Cung là em ruột của Nguyễn Sanh Khiêm (tức Nguyễn Tất Đạt). Chính nhờ có chỗ ơn nghĩa với nhau như thế nên Nguyễn Sanh Khiêm mới tự nguyện can thiệp với Việt Minh trả tự do cho cụ Võ Như Nguyện, chứ thật ra cụ Võ Bá Hạp cũng không nhờ đến Cả Khiêm. Trước khi có chính phủ liên hiệp (2-3-1946), Việt Minh đã mời cụ Võ Như Nguyện hợp tác nhưng cụ từ chối. Sau đó cụ bị Việt Minh bắt giam mấy lần. Lúc này cụ Huỳnh Thúc Kháng đã nhận lời ra Hà Nội hợp tác với Hồ Chí Minh. Trước ngày toàn quốc kháng chiến 19-12-1946, cụ Võ Như Nguyện đã bị Việt Minh bắt đem lên giam tại Bồn Trì (một làng ở vùng cận sơn thuộc huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên) và bị tên Ngọc, Giám Đốc Công An Trung Bộ bắt buộc phải làm việc cho báo “Liên Hiệp Kháng Chiến” do Giáo Sư Trần Đình Giang làm Chủ Nhiệm, tòa soạn đặt tại nhà thờ họ Thân Trọng (vùng Phú Ốc, huyện Phong Điền). Lợi dụng hoàn cảnh được tự do tạm, cụ đã trốn thoát về thành phố Huế và ra hợp tác với cụ Trần Văn Lý, Ủy Ban Chấp Chánh Lâm Thời Trung Kỳ năm 1947. BÚT TÍCH CUỐI CÙNG CỦA CỤ HUỲNH THÚC KHÁNG GỞI CỤ VÕ BÁ HẠP Sau khi Nhật đầu hàng, Hồ Chí Minh đã nhanh tay cướp được chính quyền ngày 19-8-1945 và tuyên ngôn độc lập ngày 2-9-1945, thành lập chính phủ đa số là đảng viên Cộng Sản, mời cựu hoàng Bảo Đại và Giám Mục Lê Hữu Từ làm Cố Vấn cho chính phủ Việt Minh mục đích để lừa gạt dân chúng và dư luận quốc tế. Đầu năm 1946, Việt Minh tổ chức bầu cử Quốc Hội, gồm toàn người của họ nhưng sau đó, quân đội Tưởng Giới Thạch vào giải giới quân Nhật từ vĩ tuyến 16 trở ra Bắc và quân Anh từ vĩ tuyến 16 trở vô Nam.
70 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Các lực lượng võ trang Việt Cách (tức Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội) của cụ Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh từ Trung Hoa, theo quân Tưởng về Hà Nội cùng với sự hiện diện của Việt Nam Quốc Dân Đảng, Đại Việt Quốc Dân Đảng, các giáo phái như Cao Đài, Hòa Hảo và lực lượng Bình Xuyên ở trong Nam và Khu Tự Trị Bùi Chu Phát Diệm của Công Giáo ở ngoài Bắc v.v... tạo nên một áp lực của phía Quốc Gia đối lập với Việt Minh (do Hồ Chí Minh lãnh đạo). Tại Sài Gòn, quân Pháp vào thay quân Anh và tổ chức chính quyền do Pháp lãnh đạo như thời trước 1945... Trước tình thế đó, Hồ Chí Minh phải nhượng bộ, thành lập chính phủ liên hiệp ngày 2-3-1946, mời cụ Nguyễn Hải Thần làm Phó Chủ Tịch Nước, cụ Huỳnh Thúc Kháng (Bộ Nội Vụ), Nguyễn Tường Tam (Ngoại Giao), Chu Bá Phượng (Kinh Tế), Bồ Xuân Luật (Canh Nông), Vũ Hồng Khanh (Phó Chủ Tịch Ủy Ban Kháng Chiến) và nhường 72 ghế trong Quốc Hội cho phe Quốc Gia... Khoảng đầu tháng 3-1946, Hồ Chí Minh gởi về địa chỉ tòa soạn báo Tiếng Dân ở Huế một điện văn mời hai cụ Huỳnh Thúc Kháng và Võ Bá Hạp ra Hà Nội “giúp nước”... Với cụ Huỳnh thì đây là cơ hội đoàn kết quốc gia chống thực dân Pháp, giành độc lập nhưng cụ Võ Bá Hạp thì nghi ngờ, cho rằng đây là cạm bẫy của Hồ Chí Minh nên lấy lý do già yếu mà từ chối. Sau năm tháng ở Hà Nội, cụ Huỳnh đã viết cho cụ Võ Bá Hạp một bức thư với nhiều ngụ ý, nội dung như sau: “Hà Nội, ngày 10 tháng 8 năm 1946 Cụ cử Võ (Trúc Khê) Tôi ra Bắc một cách thình lình và vội vã, không kịp chuyện trò, đã 5 tháng nay, dầu bận rộn cũng nhớ bạn già, nhưng không có việc gì vui đáng kể. Vậy gởi lời thăm cụ cùng các cháu và nhờ Vọng nói với cậu Đệ cùng các cháu rằng tôi có lời thăm. Nghe giá gạo quá cao, nhưng đó là cái nạn chung, đường đời đương đi chưa đứng, gắng chịu đợi mùa, không cần nói nhiều. (Chữ ký của cụ Huỳnh Thúc Kháng) Chú thích: - Vọng (tức Võ Như Vọng, con thứ cụ Võ). - Đệ (tức Phan Nghi Đệ, con trai cụ Phan Bội Châu).
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 71 Qua bức thư trên, xin lưu ý mấy chi tiết sau: a. “Không có việc gì vui đáng kể” (tình hình đen tối, không có gì sáng sủa). b. Nghe giá gạo cao, nhưng đó là cái nạn chung... (giá gạo cao, ý nói cuộc thương lượng giữa Hồ Chí Minh và Pháp đang gặp khó khăn). c. Đường đời đi chưa đứng, gắng chịu đợi mùa (cuộc tranh đấu còn dài, chưa ngả ngũ..., phải cố chịu đựng, đợi thời cơ...). Trong thời gian này, ông Võ Như Nguyện nhận được thư của người bạn là Phan Kích Nam (Phan Xuân Thiện) từ Hà Nội gởi tay vào cho biết tình hình sôi động, quân Tưởng Giới Thạch sắp rút, cụ Nguyễn Hải Thần đã rời Hà Nội... Công điện ký tên Hồ Chí Minh và Nguyễn Hải Thần gởi vào mời các cụ chỉ để lừa dối mà thôi... Chính cụ Huỳnh Thúc Kháng cũng đã bị mắc lừa... Khi cụ Nguyễn Hải Thần bỏ đi khỏi Hà Nội rồi thì Hồ Chí Minh đưa cụ Huỳnh Thúc Kháng lên làm Phó Chủ Tịch và sau đó cử cụ Huỳnh làm quyền Chủ Tịch Nước (bù nhìn) trong thời gian Hồ Chí Minh qua Pháp thương lượng... Võ Nguyên Giáp bí mật phát động một chiến dịch trên toàn quốc bắt cóc, thủ tiêu, đàn áp người Quốc Gia. Máu những người yêu nước không Cộng Sản đã đổ và các nhà tù đầy ắp những thành phần trí thức và đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng, Đại Việt, Công Giáo, Cao Đài, Hòa Hảo... Cụ Huỳnh lại được tin ông Võ Như Nguyện, con trai cụ Võ Bá Hạp bị bắt, nhà cửa ở Huế bị niêm phong... nhưng cụ chẳng có biện pháp nào... Ngày 19-12-1946 kháng chiến bùng nổ, cụ Huỳnh Thúc Kháng được Việt Minh đưa vào vùng Liên Khu 5 (Quảng Ngãi) và đã qua đời tại đây ngày 21-7-1947. Ngày 4-1-1947, trước Tết Đinh Hợi, quân Pháp từ Đà Nẵng đổ bộ ra Huế theo đường biển đi vào phá Cầu Hai rồi tiến vào thành phố; hướng thứ hai, từ Lào qua Khe Sanh xuống Đông Hà, Quảng Trị, chiếm các thành phố và tỉnh lỵ. Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Huế, Đà Nẵng, Nha Trang đều bị quân Pháp chiếm đóng. Việt Minh ra lệnh tiêu thổ kháng chiến, phá đình, chùa, lâu đài, cung điện, bắt dân tản cư về miền quê hoặc đi lên núi, vùng chiến khu... Họ chỉ hô hào kháng chiến và những thanh niên yêu nước ngây thơ đã hy sinh trước họng
72 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Bút tích của Cụ Huỳnh Thúc Kháng. (Thơ gởi Cụ Võ Bá Hạp ngày 10-8-1946)
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 73 súng của Pháp, máu của người Việt Nam đã đổ... Riêng thành phần Cộng Sản thì cao chạy xa bay, trốn vào chiến khu để bảo toàn lực lượng, đợi thời cơ... và cướp công xương máu của những người yêu nước và đồng bào. Tại Huế, cụ Trần Văn Lý (nguyên Tổng Đốc Thanh Hóa, Tham Tri Bộ Hình thời vua Bảo Đại), một người thanh liêm, đạo đức được Pháp yêu cầu đứng ra lập Chính Phủ Lâm Thời tại miền Trung gọi là Hội Đồng Chấp Chính Lâm Thời... Ở Hà Nội và Sàigòn cũng có một Hội Đồng như vậy, đó là tiền thân của chính quyền Quốc Gia sau này. Lúc bấy giờ người Quốc Gia vừa bị Cộng Sản đàn áp dã man, bị bắt cóc, thủ tiêu, tù tội, đày đi ở những nơi rừng thiêng nước độc..., vừa bị Pháp tấn công. Nếu đi theo Việt Minh thì sau này sẽ bị nhuộm đỏ trong guồng máy lãnh đạo Cộng Sản, nếu theo Pháp thì mang tiếng phản quốc... nên phải tìm về thành phố, tạm chấp nhận giải pháp có một chính quyền để ổn định an ninh trật tự, tánh mạng được an toàn hầu tiếp tục tranh đấu đòi Pháp trao trả độc lập qua vai trò của Bảo Đại (lúc đó đang ở Côn Minh, Trung Quốc sau qua Hồng Kông)... Cụ Trần Văn Lý đã nhân danh Hội Đồng Chấp Chánh Lâm Thời mời cụ Võ Bá Hạp đứng ra làm Hội Trưởng Hội Đồng Tham Nghị Lâm Thời Trung Kỳ để cố vấn cho chính quyền. Lúc đó Cụ Võ đã ngoài 72 tuổi nhưng cũng hy vọng sẽ đóng góp được đôi chút ý kiến xây dựng cho quốc gia nên đã nhận lời. Về sau, thấy người Pháp không thật lòng, tình trạng chiến tranh càng ngày càng gây nên nhiều nỗi bất công, thối nát... nên cụ đã viện cớ tuổi già sức yếu, không làm được gì, đã xin rút lui. Cụ Trần Văn Lý cũng đã từ chức sau đó. Vào mùa Đông năm 1948, có cơn bão tại miền Trung, mưa to gió lớn, cây cỏ điêu tàn, xơ xác... Cụ Võ trở bệnh nặng và qua đời nhằm ngày 12 tháng 10 âm lịch Mậu Tý (12-11-1948), thọ 72 tuổi. Lời trối trăng cuối cùng của cụ để lại cho con cháu: “Ta suốt đời không có hành vi trái với lương tâm, vậy con cháu gắng gìn giữ ý chí ấy!” (Trích Gia Phả họ Võ). Vì tình hình an ninh ở Huế lúc bấy giờ không thể đưa cụ lên núi chôn cất tại khu nghĩa trang dành cho các vị liệt sĩ tiền bối cách mạng... nên gia đình đã an táng cụ trong vườn nhà cụ Phan Bội Châu tại Bến Ngự cạnh ngôi mộ cụ Phan Bội Châu
74 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng (1940) và cạnh ngôi mộ cụ Tăng Bạt Hổ (cải táng 1956)... Âu đó cũng là một sự an bài của Thượng Đế, của ông Trời, của Đấng Tạo Hóa... mà các cụ đã tin như trong sách Nho đã dạy. Khắp nơi trong nước, Hà Nội, Huế, Sàigòn đều có điếu văn và điện phân ưu đăng báo, gởi về Huế cho gia đình cũng như những bài viết về cuộc đời của cụ... Cụ là một nhà cách mạng tiền bối, tên tuổi, đấu tranh ôn hòa và trải qua các thời kỳ Pháp, Nhật, Việt Minh... Cụ không hề bị lợi dụng, vẫn luôn giữ vững lập trường Quốc Gia chân chính của mình. Sau khi bị tù dưới chế độ thực dân Pháp trở về, cụ rất gần gũi với giới thanh niên, trí thức ở Huế. Mọi người đều yêu mến cụ. Đám tang của cụ được tổ chức long trọng tại Huế ngày 18-11-1948, có chính quyền Pháp, Việt, các đoàn thể, nhân sĩ trí thức và rất đông dân chúng đến dự. Có tin đồn rằng Giáo Sư Lê Mậu Thành, người đại diện cho toàn thể đồng bào đọc điếu văn trước khi hạ huyệt, trên đường trở về đã bị Việt Minh bắn chết tại Đập Đá... (Sau khi bài này được đăng trên nhật báo Người Việt từ 8 tháng 5 đến 14-5-1999, một người trong thân nhân của Giáo Sư Lê Mậu Thành đã gọi điện thoại cho chúng tôi biết rằng theo sự tìm hiểu của gia đình thì Giáo Sư Lê Mậu Thành đã bị Việt Minh bắt đem lên chiến khu Dương Hòa (Thừa Thiên) và đã bị xử tử tại đó). Có rất nhiều câu đối, trướng liễn chữ Hán và tiếng Việt gởi đến phân ưu hay đăng báo, chúng tôi xin ghi lại câu đối vắn gọn và đầy ý nghĩa của Văn Phòng Phủ Tổng Trấn Trung Việt như sau: Sống không thiết vinh hoa phú quý, Chết còn thương nòi giống non sông. Thơ văn của cụ để lại rất nhiều, nhưng trải qua biến cố 30-4-1975, con cháu chạy loạn, tài sản, sách vở để ở nhà bị Việt Cộng tịch thu hết, mới sưu tầm lại được một số ít. THAY LỜI KẾT LUẬN Năm 1956, dưới thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm, khi cải táng ngôi mộ cụ Tăng Bạt Hổ ở cánh đồng xã Thế Lại Thượng, Hương Trà, Thừa Thiên đưa về chôn cạnh hai ngôi mộ của cụ Phan Bội Châu và Võ Bá Hạp tại vườn nhà cụ Phan, Bến Ngự Huế, cụ Võ Như Nguyện và con cháu các bậc tiền bối cách
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 75 mạng và nhân sĩ Huế đã tích cực cổ động quyên góp tiền bạc và xin phép chính quyền xây cất “TỪ ĐƯỜNG PHAN BỘI CHÂU và LIỆT SĨ CÁCH MẠNG”. Sau Tết Mậu Thân, 1968, từ đường này bị hư hại nặng, người viết bài này lúc đó là Dân Biểu tỉnh Thừa Thiên, đã nhờ nhật báo SỐNG của Chu Tử tại Sàigòn lên tiếng kêu gọi đồng bào ủng hộ để trùng tu... Số tiền quyên góp được là 70.000 đồng (tương đương 7 lạng vàng) đã được trao tận tay con dâu của cụ Phan Bội Châu (mẹ của hai anh Phan Thiệu Tường và Phan Thiệu Cát) đồng thời chúng tôi cũng có văn thư xin Tỉnh Trưởng Thừa Thiên cung cấp vật liệu cần thiết như xi măng, sắt để trùng tu Từ Đường cụ Phan và các liệt sĩ tiền bối cách mạng... Năm 1956, cụ Võ Như Nguyện lúc đó đang làm Dân Biểu Quốc Hội đã vào gặp Tỉnh Trưởng Quảng Ngãi là ông Mai Ngọc Dược để vận động xây mộ, dựng bia cho cụ Huỳnh Thúc Kháng. Công tác này đã được các nhân sĩ trí thức địa phương, nhất là thành phần Nho học ủng hộ. Sau 30-4-1975, Việt Cộng đòi dời mộ cụ Võ Bá Hạp (chôn cạnh mộ cụ Phan Bội Châu) tại Bến Ngự Huế đi nơi khác... (vì cụ và con cháu không ủng hộ Cộng Sản từ 1945...) nhưng đã bị dân chúng đến ngăn cản, không cho họ xúc phạm đến phần mộ của cụ Võ. Tại Quảng Ngãi, chúng cũng đã hai lần phá mộ bia của cụ Huỳnh Thúc Kháng để làm lại bia mới với nội dung mới theo quan điểm, lập trường “xuyên tạc lịch sử” của chúng. Hiện nay Giáo Sư Trần Gia Phụng còn giữ một số hình do Cụ Võ Như Nguyện cung cấp về mộ của cụ Huỳnh: - Hình phái đoàn đến thăm mộ cụ Huỳnh bằng đất khi chưa xây cất. - Hình khánh thành ngôi mộ sau khi xây xong và cụ Võ Như Nguyện đang đứng trước mộ nói chuyện với đồng bào. - Hình mộ và bia do Việt Cộng xây cất lần thứ I. - Hình mộ và bia do Việt Cộng xây cất lần thứ II. Chúng tôi xin kính cẩn nghiêng mình trước vong linh các vị tiền bối cách mạng, những người đã được nêu tên trong sử sách cũng như những người vô danh đã hy sinh cho tự do, độc lập của dân tộc. Tất cả tài liệu trình bày trên đây một phần dựa vào gia phả họ Võ ở Huế và những nhân chứng sống, con cháu của các bậc tiền bối cách mạng. Đặc biệt, chúng tôi xin
76 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng cám ơn cụ Võ Như Nguyện đã cung cấp cho chúng tôi hình ảnh, bút tích và lời xác nhận các sự kiện mà chúng tôi trình bày trên đây. Chúng tôi cũng ước mong và rất biết ơn quý vị thức giả, những ai là nhân chứng còn sống sót hay con cháu của các bậc tiền bối cách mạng, thấy có điều gì sai, xin bổ túc cho để có tài liệu giá trị cho các sử gia sau này hoàn thành lịch sử Việt Nam. Nam California, ngày 12-12-1998 Nguyễn Lý Tưởng (Bài này đã được cụ Võ Như Nguyện đọc lại trước khi gởi đăng báo). Tài liệu tham khảo: - Tự phán (hồi ký của cụ Phan Bội Châu). - Việt Nam Pháp thuộc sử (Phan Khoang). - Việt Pháp bang giao sử lược (Phan Khoang). - Việt Sử tân biên (Phạm Văn Sơn). - Việt Nam sử lược (Trần Trọng Kim). - Đông Kinh Nghĩa Thục (Nguyễn Hiến Lê). - Ngũ Hành Sơn Chí Sĩ (Ngô Thành Nhân). - Thi Tù Tùng Thoại (Huỳnh Thúc Kháng). - Đại Nam Nhất Thống Chí (Cao Xuân Dục, Quốc Sử Quán). - Châu Bản Triều Nguyễn (tài liệu Hán Văn, bản dịch của Đại Học Huế). - Bang Giao Việt Pháp từ 1858-1945 (Nguyễn Thế Anh). - Trung Kỳ Dân Biến Thỉ mạt ký (bản Hán Văn của Phan Chu Trinh-Lê Ấm dịch). - Phong trào kháng thuế Miền Trung năm 1908... (Nguyễn Thế Anh). - Trung Kỳ bân biến 1908 (Trần Gia Phụng). - Phong trào Duy Tân (Nguyễn Văn Xuân). - Việt Nam vong quốc sử (Phan Bội Châu). - Gia phả họ Võ (Võ Như Nguyện). - Báo Tiếng Sông Hương (do Nguyễn Cúc ở Dallas chủ trương). - Tuyển tập Nhớ Huế (do BS Võ Văn Tùng ở Nam Cali chủ trương).
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 77 CHUÔNG CỔ VÀ HÒM ĐỰNG HÀI CỐT BỐN VỊ THÁNH TỬ ĐẠO TẠI NHÀ THỜ AN VÂN (HUẾ) An Vân là một làng nhỏ nằm ở vùng cận sơn thuộc huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên, dân số vào khoảng ba trăm người, sống bằng nghề chăn nuôi, trồng trọt, một số khác đi lập nghiệp ở các tỉnh hoặc ở ngoại quốc sau 30-4-1975. Từ Huế đi An Vân phải qua Chùa Thiên Mụ, làng Long Hồ, theo hướng núi sẽ đến An Vân. Tuy là một làng nhỏ nhưng về di tích lịch sử và truyền thống văn hóa, đạo đức của họ đã làm cho nhiều người phải chú ý đến. Trong phạm vi bài này, chúng tôi xin giới thiệu với quý vị độc giả về “CÁI CHUÔNG CỔ TẠI NHÀ THỜ AN VÂN”. Sở dĩ chúng tôi chú ý đến chuông này vì nó không giống các kiểu chuông thông thường ở các nhà thờ Công Giáo tại Việt Nam cũng như trên thế giới. Nó là một cái chuông theo kiểu Việt Nam, kiểu chuông cổ thường thấy ở các đền, chùa. Bên cạnh chuông cổ đó còn có một hòm đựng xương của các vị tử đạo Việt Nam đã được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô Đệ II tôn vinh lên hàng Hiển Thánh vào ngày 19-6-1988 tại Roma. Thông thường chỉ có những tu viện, các nhà thờ lớn danh tiếng lâu đời v.v... mới có hòm đựng xương các vị Thánh nhưng tại sao An Vân, một làng nhỏ, hẻo lánh, dân chúng nghèo nàn... lại có cái diễm phúc đó?
78 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng 1. NGUỒN GỐC GIÁO XỨ AN VÂN An Vân là một làng mới xuất hiện vào thế kỷ thứ 18, trước đó, thời nhà Lê và thời các chúa Nguyễn không thấy tên làng này trong địa bộ. Sách Ô Châu Cận Lục của Tiến Sĩ Dương Văn An (1553) có nhắc đến các làng lân cận với An Vân như Long Hồ, La Chữ, An Hòa v.v... thuộc huyện Hương Trà nhưng không nói đến An Vân. Trong danh sách các giáo xứ thuộc tỉnh Thừa Thiên do các nhà truyền giáo (Dòng Tên) gởi về Roma năm 1747 có nhắc đến các giáo xứ Đốc Sơ, La Khê, Tân Thuận, Phường Cam, Dương Sơn, Sơn Công, Bến Củi v.v... thuộc vùng Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên mà không hề nhắc đến An Vân. Do đó, chúng ta có thể nói được rằng An Vân là một làng mới xuất hiện vào cuối thế kỷ 18, vào thời Tây Sơn hoặc sớm hơn thì cũng phải sau năm 1747. Tại sao làng này lại xuất hiện muộn màng như thế? Theo các vị cao niên trong làng cho biết thì tổ tiên của họ từ Quảng Trị đã vào đây trong thời bị bắt đạo khoảng cuối thế kỷ 18 thời Tây Sơn, cùng thời kỳ Đức Mẹ hiện ra tại La Vang (Quảng Trị) cách nay 200 năm (1798). Tổ tiên họ nói giọng Quảng Trị chứ không nói giọng Huế (Thừa Thiên) như con cháu bây giờ. Năm 1857, dưới thời vua Tự Đức, có sáu người theo đạo Công Giáo ở làng An Vân bị bắt, trong đó có ba người già cả trên 70 tuổi đã được khoan hồng cho quản thúc tại gia, khỏi bị giam giữ trong nhà tù, đó là: bà Lê Thị Vệ, 80 tuổi, ông Lê Văn Trung 70 tuổi và ông Đặng Văn Ngôn 70 tuổi. Những người này khai rằng cha mẹ họ có đạo nên họ cũng có đạo từ khi mới sinh (đạo dòng). Dựa trên tuổi tác mà tính thì bà Vệ sinh 1777, ông Trung sinh 1787, ông Ngôn sinh 1787..., như vậy phải chăng trước năm đó cha mẹ của họ đã đến lập nghiệp tại An Vân? Trong thời gian từ 1775-1786, quân Trịnh chiếm Phú Xuân (kinh đô chúa Nguyễn) và từ 1786-1801, nhà Tây Sơn (Quang Trung và Cảnh Thịnh) cai trị vùng này. Có thể những người đầu tiên đến khai phá vùng núi An Vân trong khoảng từ sau 1747 đến 1775... trước khi bà Vệ sinh ra (cũng có thể bà Vệ, ông Trung, ông Ngôn sinh ra ở Quảng Trị và theo cha mẹ chạy vào An Vân thời vua Cảnh Thịnh bắt đạo). Mới đây những người đi tìm trầm từ Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An... theo đường
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 79 núi đã vào đến An Vân (Thừa Thiên). Do đó, từ cuối thế kỷ 18, khi những người Công Giáo ở Quảng Trị bị áp bức phải trốn tránh, có lẽ họ cũng đã theo con đường này vào đây. Sau khi Gia Long thống nhất sơn hà, 1802, đã ra lệnh cho toàn quốc làm lại địa bộ, kiểm tra dân số, từ đó An Vân đã chính thức là một làng thuộc huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên. 2. AN VÂN: NƠI ẨN NÚP CỦA GIÁM MỤC PELLERIN (PHAN) THỜI TỰ ĐỨC Như đã nói trên, vì tổ tiên của làng An Vân là những người Công Giáo từ Quảng Trị vào, nên tuy là một nơi hẻo lánh, An Vân vẫn thường có nhiều liên hệ với các nhà truyền giáo. Trong thời kỳ bị bắt đạo, đây là nơi an toàn nhất cho các vị Giám Mục, Linh Mục ẩn núp. Từ khi Gia Long lên ngôi, 1802 cho đến 1833 dưới thời Minh Mạng, trong thời gian hơn 30 năm đó, giáo dân được yên ổn vì vua chưa ban hành sắc lệnh cấm đạo. Trong thời gian này, một Linh Mục ngoại quốc là Jaccard (Phan) ở Dương Sơn thường đến An Vân để dâng thánh lễ và dạy giáo lý cho giáo dân ở đây nhưng sau đó vua Minh mạng lấy cớ cần người phiên dịch thư từ bằng tiếng ngoại quốc ra tiếng Việt nên nhà truyền giáo này được đưa về Huế và bị giam lõng tại Dinh Cung Quán gần Mang Cá để hạn chế các hoạt động truyền giáo của ông. Do đó cha Anrê Nguyễn Hòa An, một Linh Mục Việt Nam được Giám Mục cử ra để phụ trách vùng này đã về ở tại An Vân để tránh con mắt dòm ngó của vua quan. Ngài đã chọn một cậu thanh niên gốc An Vân là Philippe Nguyễn Văn Thanh để gởi qua đào tạo tại Chủng Viện Pénăng (Mã lai). Năm 1843, Thầy Thanh đã trở về nước và chịu chức Linh Mục năm 1848. Đây là vị Linh Mục đầu tiên quê ở An Vân. Ngày 6-1-1833, vua Minh Mạng đã ban bố một sắc lệnh cấm đạo. Nhà thờ An Vân cũng như tất cả các nhà thờ khác trên toàn quốc đều bị triệt hạ. Các Linh Mục phải trốn tránh, một số đã bị bắt, bị lưu đày, bị xử tử, nhục hình. Vua bắt mỗi làng phải dựng lên một ngôi đình và tập trung người Công Giáo đến đó để học tập 10 điều giáo huấn của vua, vì thế làng An Vân cũng phải làm một cái đình theo lệnh vua. Năm 1841, vua Minh Mạng bị ngã ngựa rồi chết, con là
80 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Thiệu Trị lên ngôi. Tuy vua mới không ra lệnh thu hồi lệnh bắt đạo nhưng cũng không tỏ ra tích cực thi hành chính sách tiêu diệt Công Giáo của tiên đế. Nhờ một số các quan nương tay nên giáo dân cũng được tạm yên nhưng không nơi nào dám tổ chức các nghi lễ long trọng. Lần đầu tiên vào năm 1823, Giám Mục Jean de la Bartett e (An) đến thăm An Vân. 25 năm sau, 1848, mới có một Giám Mục thứ hai là Pellerin (Phan) đến thăm An Vân. Lúc bấy giờ Đức Cha Pellerin ở Quy Nhơn, nghe tin vua Thiệu Trị qua đời, triều đình đang bận lo đám tang cho vua nên ngài đi đường biển từ Quy Nhơn ra Đà Nẵng, từ đó đi ghe ra cửa Tư Hiền để vào đất Huế. Tại đây có ông Hồ Đình Hy là quan Thái Bộc của triều đình, một người Công Giáo (sau này bị chết vì đạo và được phong Thánh Tử Đạo ngày 19-6-1988), đã giúp Đức Giám Mục và hướng dẫn ngài đi thăm các giáo xứ lân cận kinh đô Huế. Từ tháng 3 đến tháng 8-1848, ngài phải về vùng Dương Sơn ẩn lánh. Kể từ tháng 8-1848 trở đi, trong vòng 15 năm, vua Tự Đức ban hành tất cả 14 sắc lệnh cấm đạo và cho thi hành những biện pháp kiểm soát người Công Giáo rất gắt gao, áp dụng những hình phạt rất dã man như “dụ phân sáp”. Người Công Giáo bị phân tán đi khắp nơi, bắt ở chung với người bên lương, nhà cửa, ruộng vườn bị tịch thu, vợ xa chồng, con xa cha, người lớn thì bị khắc hai chữ “Tả Đạo” vào má v.v... Thời gian đó, Giám Mục Pellerin phải bỏ làng Dương Sơn để trốn về An Vân, là nơi hẻo lánh, xa xôi, ít người lui tới. Ngài ở đây từ tháng 8-1848 đến tháng 3-1849. Ngài đã dùng nơi này để tập trung các Thầy đã học xong chương trình đào tạo Linh Mục ở Pénăng (Mã Lai) và chuẩn bị truyền chức Linh Mục cho họ. Nhờ tinh thần đoàn kết của giáo dân An Vân nên mọi hoạt động của vị Giám Mục không bị phát hiện nhưng vào tháng 3-1849, tình cờ có mấy tên lính ở kinh đô Huế đến đây đã phát hiện sự có mặt của một người ngoại quốc... Thay vì bắt ngài dẫn đi để lãnh thưởng thì chúng lại trở về Huế báo cáo cho triều đình. Biết rằng mình đã bị lộ tông tích nên vị Giám Mục liền trốn ra làng Di Loan (Cửa Tùng, Quảng Trị) ở chung với Giám Mục Sohier. Bốn năm sau, vào tháng 12-1853, từ Di Loan, Giám Mục
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 81 Sohier (Bình) vào thăm An Vân, sau đó Giám Mục Pellerin (Phan) cũng đến Huế và cũng đã đến thăm An Vân. Cuối năm 1856, quan Thái Bộc Tự Khanh là Micae Hồ Đình Hy (quê ở làng Nhu Lâm, Hương Trà, Thừa Thiên) lúc đó đang ở tại Cầu Kho (Thành Nội, Huế) bị tố giác, bị bắt và bị tra tấn dã man. Qua cuộc điều tra, triều đình biết được ông Hồ Đình Hy có liên hệ với giáo dân làng An Vân, vì thế quan quân đã kéo tới vây làng An Vân để bắt một Linh Mục Việt Nam (Cha Ninh) đang ẩn trốn tại đây nhưng cha Ninh không có ở đây, quân lính bèn bắt 6 người là: bà góa Lê Thị Vệ (vợ ông Sâm) 80 tuổi, ông Lê Văn Trung 70 tuổi, ông Đặng Văn Ngôn 70 tuổi, ông Cư (Lý Trưởng), ông Lê Văn Khuê, ông Đặng Văn Lưu... Sau đó, ba người trên 70 tuổi được cho về quản thúc tại gia, còn những người khác bị đày ra Lạng Sơn và đã chết tại đó. Năm 1858, nhân tàu chiến của Pháp và Tây Ban Nha đến đánh phá Đà Nẵng, vua Tự Đức ra lệnh bắt giam tất cả giáo dân trừ những người già và trẻ con trong đó có giáo dân An Vân. Năm 1860, vua ban hành “Dụ phân sáp”, người Công Giáo trên toàn quốc đều bị ảnh hưởng như đã nói trên. Riêng giáo dân An Vân thì bị giam tại trại giam “Bồn Phổ”, một trong bốn trại giam thuộc vùng Huế (trại giam tại làng Lương Văn, trại giam Cồn Hến, trại giam Phu Văn Lâu bên bờ sông Hương và trại Bồn Phổ). Ngày 5-6-1862, triều đình Huế ký kết hòa ước với Pháp, công nhận việc tự do truyền đạo và giữ đạo. Ngày 13-7-1862, giáo dân được ra khỏi nhà giam, trở về làng, tuy nhiên tình hình vẫn còn căng thẳng, giáo dân vẫn còn sống trong nơm nớp lo sợ cho đến tháng 3-1863, Giám Mục Sohier (Bình) đang ẩn lánh tại Quảng Bình mới dám trở về Huế và đặt trụ sở tại Kim Long. Ngài đã tổ chức lễ tạ ơn tại đây, có đông đủ giáo dân tham dự, đồng bào không Công Giáo cũng đến xem rất đông. Năm 1864, các xứ đạo bắt đầu tái thiết lại nhà thờ và các cơ sở của Giáo Hội. Tất cả những nhà thờ được xây dựng trước 1862 đều bị phá hủy, do đó những kiến trúc cổ nhất của Công Giáo còn lại cho đến bây giờ đều bắt đầu từ 1864 trở đi. Trong hai năm từ 1864-1866, giáo dân An Vân đã làm lại
82 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng nhà thờ và nhà xứ. 3. CHUÔNG CỔ TẠI NHÀ THỜ AN VÂN Hòa Ước 1862 đã được ký kết nhưng giáo dân ở những nơi xa xôi vẫn còn bị áp bức. Ngày 15-3-1874, một hòa ước mới được ký kết giữa Pháp và triều đình Huế xác nhận lại một lần nữa quyền tự do hành đạo, tháng 10-1875 vua Tự Đức mới tuyên bố vĩnh viễn bãi bỏ lệnh cấm đạo. Sắc dụ đó được đọc trong các nhà thờ cho giáo dân biết. Để ghi nhớ đặc ân đó của vua, ngày 20 tháng 3 Âm lịch năm Bính Tý, Tự Đức thứ 29 tức 14-4-1876, giáo dân An Vân đã đúc một cái chuông (xem hình): - Đường kính đáy chuông 50 cm, cao từ đáy đến đỉnh 50cm (trừ quai chuông), thân chuông có đường kính 40 cm. - Mặt chuông có hoa văn, chia làm bốn mặt gọi là A,B,C,D. - Mặt A có khắc chữ Nôm: “Chúng tôi xin dâng cái chuông này cho Đức Mẹ”. - Mặt C (đối xứng mặt A) có khắc chữ Nôm: “Khi hoàng đế có dụ tha đạo được sáu tháng thì chúng tôi đã lo đúc cái chuông mà dâng cho Đức Chúa Bà Văn Côi là bổn mạng nhà thờ An Vân mà tỏ lòng mừng cùng cảm đội ơn Đức Chúa Trời và Đức Mẹ đã đoái thương. Giáng sinh 1876, tứ nguyệt, thập tứ nhật, tạo. Trọng 66 cân, 12 lạng. Tự Đức nhị thập cửu niên, tam nguyệt, nhị thập nhật tạo” (nghĩa hai câu chữ Nho: “Đúc vào năm Chúa giáng sinh 1876, tháng 4, ngày 14 năm Tự Đức thứ 29, tháng ba (âm lịch) ngày 20 làm chuông này, chuông nặng 66 cân 12 lạng (cân ta)”). Chuông treo trên giá gỗ, đánh bằng vồ như kiểu chuông chùa (xem hình). Đặc điểm của chuông này là kiểu chuông cổ Việt Nam, không phải kiểu chuông Tây như các nhà thờ khác. Giáo dân An Vân đúc chuông này để tạ ơn. Nhà thờ An Vân chọn tước hiệu Đức Bà Văn Côi (Rosary Church). 4. HÒM ĐỰNG XƯƠNG THÁNH TỬ ĐẠO Như đã trình bày trên, An Vân tuy là một giáo xứ nghèo, xa xôi, hẻo lánh, dân không đông... nhưng là nơi có một nếp sống đạo đức và đã chứng tỏ lòng trung thành với đức tin của mình trải qua những cơn thử thách dưới thời bắt đạo. Nơi đây cũng là chốn dung thân cho các vị Giám Mục, Linh Mục ở Huế
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 83 trong những lúc nguy cấp, trốn tránh. An Vân cũng là nơi có nhiều người bị tù, bị chết vì đạo..., ngoài ra An Vân cũng là nơi cung cấp cho Giáo Hội nhiều Linh Mục, tu sĩ nam, nữ để phục vụ Giáo Hội... Trong các bút tích của các nhà truyền giáo cuối thế kỷ 18 và thế kỷ 19 , tên An Vân đã được nhắc đến rất nhiều. Chính vì lý do đó mà các Giám Mục ở Huế đã đặc cách cho An Vân được giữ một phần hài cốt của các vị tử đạo (trong đó có vị đã từng có nhiều liên hệ với An Vân) để cho giáo hữu tôn kính. Hòm đựng xương thánh của bốn vị tử đạo đã được tôn phong lên bậc Hiển Thánh trong số 117 vị tại Việt Nam vào ngày 19-6-1988 tại Vatican là: - Thánh Micae Hồ Đình Hy. - Thánh Gioan Đoạn Trinh Hoan. - Thánh Matt êô Nguyễn Văn Phượng. - Thánh Phanxicô Trần Văn Trung. Một cái khám thờ làm bằng gỗ quý, sơn son thếp vàng do ông Phanxicô Xavie Lê Văn Minh dâng cúng vào năm 1887 để đặt hòm xương Thánh vào trong đó. Chân bệ cao 10 cm, vuông 50 cm, phần trên cao 90 cm, mặt trước có hàng chữ vàng trên nền đỏ (Hán văn): “Giáng sinh thất thiên bát bách bát thập thất tải, Đinh Hợi thu, tạo. Mộc ân Phanxicô Xavie đàn tử Lê Vân Minh phụng sự” (nghĩa là: năm Thiên Chúa giáng sinh 1887, tức mùa Thu năm Đinh Hợi, làm nên. Ông Phanxicô Xavie Lê Vân Minh dâng cúng hòm thờ này). Có hai câu đối: “Từ hàng tối hiển vi phất phất quần sinh siêu nhược hải. Kim điện cực cao đại kỳ kỳ chúng tử lạc thiên cung” Giáo Sư Tiến Sĩ Hán Chương Vũ Đình Trác dịch: Bể Từ rất nhỏ nhen, thấp thoáng chúng sinh thoát bến Nhược, Đền vàng cao sang, thường kỳ chúng tử vui cảnh Thiên Đường(1). Mặt sau có hàng chữ vàng trên nền đỏ (chữ Nôm): “A Thánh Nữ Đồng Trinh Maria là Mẹ rất nhân từ, xin hãy
84 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Chuông cổ (đúc theo kiểu chuông chùa).
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 85
86 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Mặt trước hòm đựng xương thánh.
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 87 Mặt sau hòm đựng xương Thánh Tử Đạo (bản chữ Nôm Kinh Lạy Thánh Nữ Đồng Trinh...).
88 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng nhớ lại xưa nay chưa từng nghe người nào chạy đến cùng Đức Mẹ xin bàu chữa cứu giúp mà Đức Mẹ từ bỏ chẳng nhậm lời, nhân vì sự ấy tôi lấy lòng trông cậy mà chạy đến sấp mình xuống dưới bàn chân Đức Mẹ, xin Đức mẹ đoái đến tôi là kẻ tội lỗi. Lạy Mẹ là Mẹ Chúa Cứu Thế, xin chớ bỏ lời tôi kêu xin, một lấy lòng nhân từ mà đoái thương đến cùng nhậm lời tôi cầu nguyện. Amen”. Hàng chữ Nho: “Đồng Khánh, Mậu Tý, trọng Xuân hoàn tạo” (Làm xong năm Mậu Tý 1888, trọng Xuân tức tháng Hai Âm Lịch dưới triều vua Đồng Khánh). 5. THÁNH ĐƯỜNG GIÁO XỨ AN VÂN Trước 1907, nhà thờ An Vân lợp bằng tranh, bên trong cột kèo bằng gỗ nhưng trong thời kỳ bắt đạo, nhà thờ đó bị triệt hạ nhiều lần. Năm 1907 Đức Giám Mục Gaspar (Lộc) mua được một xác nhà, nguyên là một cái điện ở trong thành Huế Thánh đường giáo xứ An Vân.
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 89 đem về làm nhà thờ An Vân. Những người có công xây dựng nhà thờ là ông Anrê Lê Văn Võ, ông Lý Minh, ông Tuyển, ông Tuân, ông Lãnh... Tiền đường nhà thờ theo kiểu Việt Nam, có nhiều câu chữ Nho (gắn bằng mẻ sành, chai), bên trong trước bàn thờ được trang trí khung chạm theo kiểu nhà cổ Việt Nam. Từ 1944-1946 có sửa chữa, nới rộng ra, hiện nay Linh Mục Phêrô Phan Xuân Thanh, chánh xứ An Vân đã trùng tu lại toàn bộ nhưng vẫn bảo vệ nét kiến trúc cổ Việt Nam, hoàn tất vào năm 1995. KẾT LUẬN Nhật báo Người Việt số 4249 ra ngày 26-7-1997 trang B2 có đăng tin: “5 nhà hoạt động nhân quyền Việt Nam được giải thưởng “Tự do phát biểu” 1997”, chúng tôi đọc thấy tên một người gốc An Vân đó là Giáo Sư Tiến Sĩ Nguyễn Ngọc Lan. Hai ông Nguyễn Ngọc Lan và Chân Tín đã nổi danh từ hơn ba mươi năm nay, không những ở Việt Nam mà còn cả trên thế giới. Những nhân vật nổi danh gốc An Vân có lẽ cũng còn nhiều người nữa mà nếu chúng tôi nhắc tên, chắc có nhiều người biết như: Linh Mục Lê Văn Đẩu, Giám Đốc Đại Chủng Viện Huế, Tổng Đại Diện Giáo Phận Huế (đã qua đời); Linh Mục Lê Văn Huấn (1840-1885) tử đạo ngày 8-9-1885 tại Dương Lộc (Quảng Trị); Đại Tá Lê Quang Tung, Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Biệt thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm v.v... Linh Mục Stanilas Nguyễn Văn Ngọc, sử gia, tác giả sách “Linh Địa La Vang” 1971, nguyên Tổng Đại Diện Giáo Phận Huế (đã qua đời), khi nghiên cứu về giáo xứ An Vân đã có nhận xét rằng: “Ngày nay An Vân có phần thua kém An Vân ngày xưa, vì rất nhiều con cháu đi lập nghiệp ở xa quê, bắt chước kiểu sống của thiên hạ mà quên đi cái truyền thống đạo đức của ông cha. Thật đáng tiếc!”. Không biết điều đó có đúng hay không? Linh Mục Nguyễn Văn Ngọc cũng như chúng tôi, không phải là người An Vân nhưng khi đọc các sử liệu liên quan đến An Vân, chúng tôi rất khâm phục tinh thần đoàn kết, truyền thống đạo đức của một giáo xứ nhỏ bé, nghèo nàn, ở nơi xa xôi hẻo lánh... nhưng lại là nơi địa linh sinh nhân kiệt. An Vân ngày xưa với những sử liệu và di tích đã hấp dẫn chúng tôi. Chính vì thế mới có bài nghiên cứu này cống hiến quí vị độc giả.
90 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Chúng tôi cũng xin cám hơn Linh Mục Stanilas Nguyễn Văn Ngọc (đã qua đời) và Linh Mục Phêrô Phan Xuân Thanh, chánh xứ An Vân đã giúp chúng tôi những hình ảnh và sử liệu liên quan đến An Vân để hình thành bài biên khảo này. Orange County ngày 28-7-1997 Nguyễn Lý Tưởng Linh Mục Phan Xuân Thanh, chánh xứ An Vân.
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 91 Chú thích: 1. Hai câu đối này rất cao siêu và khó hiểu, phần Hán Văn do Linh Mục Giáo Sư Vũ Đình Trác (Hán Chương) chú thích. Ngài đã từng du học ở Đài Loan và Nhật Bản, Tiến Sĩ, thông hiểu Hán Học, ngài đã giải thích như sau: - Từ hàng: danh từ nhà Phật có nghĩa thuyền từ bi, như trong câu: Bè từ bến mộ xa xăm, Cho con thoát khỏi bể trầm đa đoan. - Phất phất: có nghĩa như thấp thoáng hay phảng phất. - Nhược hải: chốn biển khơi nơi nước Nhược. Như trong chữ Nước Nhược non Bồng, chỉ cảnh đẹp nơi hạ giới cũng có thể hiểu như tiên giới “bồng lai tiên cảnh”. Chữ Nhược có tự điển viết là ??, có bộ nữ chỉ nơi tiên nữ ở. - Kim điện: nghĩa là nhà vàng, chỉ nơi cao sang. - Kỳ kỳ: đối với Phất Phất rất đẹp, có nghĩa là kỳ hẹn hay lần lần hoặc thường kỳ, trường kỳ, đối với hai chữ phất phất nghĩa là thấp thoáng, hay phảng phất. - Chúng tử: chỉ đoàn các Thánh Tử Đạo, Con Chúa được hưởng phúc thiên đàng.
92 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng CUỘC THẢM SÁT TẠI DƯƠNG LỘC NGÀY 8-9-1885 1. ĐÔI DÒNG LỊCH SỬ: DƯƠNG LỘC, MỘT XỨ ĐẠO LÂU ĐỜI TỪ TIỀN BÁN THẾ KỶ 17 Dương Lộc, nơi xảy ra cuộc thảm sát ngày 8-9-1885 (cách nay 114 năm), nguyên vào thời nhà Lý (thế kỷ thứ 11) là lãnh thổ của người Chàm, năm 1069 trong cuộc Nam Tiến, Lý Thường Kiệt đã đánh chiếm đất của nước Chiêm Thành lấy cửa Việt Yên (tức cửa Việt do sông Thạch Hãn chảy ra biển) làm ranh giới: từ cửa Việt trở ra Bắc thuộc Đại Việt, từ cửa Việt trở vào Nam thuộc Chiêm Thành. Năm 1306, vua Chiêm là Chế Mân dâng đất châu Ô Châu Lý (Rí) làm sính lễ cưới Huyền Trân công chúa nhà Trần, người Việt từ vùng Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình đã di cư vào Quảng Trị. Làng Dương Lộc thuộc Phủ Triệu Phong cũng đã xuất hiện vào thời nhà Trần hoặc muộn nhất thì cũng vào thời Lê, Mạc (thế kỷ 15). Dương Lộc nằm bên bờ sông Thạch Hãn, trước mặt làng có một cồn cát rất lớn chia con sông làm hai nhánh, một nhánh lớn gọi là Rào Cái (sông Cái) chảy qua làng Đại Lộc, Đại Áng gặp sông Miêu Giang (Đông Hà), ngã ba Giã Độ và một nhánh nhỏ chảy qua trước mặt làng Dương Lộc, An Lợi, Động Giám gặp ngã ba Giã Độ rồi ra cửa Việt. Trước mặt làng là một cái hồ lớn ăn thông với con sông nhánh, nước bao bọc chung quanh làng, xa xa là cánh đồng và những làng mạc chạy dài đến Trường Sơn. Một con đường từ giữa làng ra tới bờ sông có cống thông nước chia hai mặt hồ. Những buổi bình minh,
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 93 hoàng hôn, hoặc những đêm trăng, thủy triều lênh láng ngập bờ, dân trong làng kéo nhau ra đầy đường để thưởng thức thiên nhiên thơ mộng... Dương Lộc từ lâu đời vẫn nổi tiếng trai thanh, gái lịch. Giữa thế kỷ 16, người Chàm vẫn còn nổi dậy chống lại người Việt ở vùng Thuận Hóa, Quảng Nam. Theo Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên (phần nói về Nguyễn Ư Kỷ) thì Trịnh Kiểm đồng ý xin cho Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa là muốn mượn bàn tay người Chàm loại trừ ông. Cạnh làng Dương Lộc còn có một di tích của người Chàm gọi là miếu Bà Giàng thuộc Dương Lệ, sách Ô Châu Cận Lục (1553) và các sử sách của ta gọi là Tháp Dương Lệ. Giàng là thần của người Chàm, các dân tộc thiểu số có tục thờ cúng thần Giàng. Người địa phương thường gọi chỗ đó là “lòi Giàng” nghĩa là khi cày cuốc nương rẫy, có tượng thần Giàng từ dưới đất trồi lên (lòi ra). Ở Huế cũng có địa danh “thần lồi” ở vùng Nguyệt Biều, Thợ Đúc (Dòng Thánh Tâm)... cũng có ý nghĩa như trên. Một số di tích thời chúa Nguyễn thuộc vùng này như Ái Tử (tức Dinh Cát, nơi đóng quân của Nguyễn Hoàng năm 1558), bến Trảu Trảu (có miếu thờ Ngô Thị Lan, vợ bé của Nguyễn Hoàng đã hy sinh làm mỹ nhân kế trong trận đánh nhau với tướng nhà Mạc là Lập Bạo), miếu Lập Bạo (nơi tướng nhà Mạc bị thua trận bị bắt và tự tử), miếu Bông (ngôi chùa cổ thời Vĩnh Tộ nhà Lê (1620-1628), mô súng (nơi đặt súng lớn để kiểm soát tàu bè ra vào cửa sông), lò đúc đạn, dấu chân thành cũ thời Nguyễn Hoàng v.v... Vào giữa thế kỷ 17, toàn dân làng Dương Lộc đều theo đạo Công Giáo, khoảng 1625, có 16 người chịu phép rửa tội có tên trong danh sách gởi về Roma (Vatican), những người này theo đạo cùng thời với bà Minh Đức Vương Thái Phi, Hoàng Hậu của chúa Nguyễn Hoàng, mẹ của chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên và ông hoàng Nguyễn Phúc Khê (nhiếp chính sau khi chúa Sãi qua đời). Theo tài liệu của giáo sĩ Đắc Lộ (Alexandre De Rhodes) thì bà Minh Đức do cha De Pina rửa tội. Cha Pina chết năm 1624 tại cửa Hàn (Hội An), có nghĩa là bà Minh Đức theo đạo trước năm đó. Bà đã dâng cúng ngôi nhà của bà ở trong dinh chúa Nguyễn để làm nhà nguyện. Về sau vùng Quảng Trị được gọi là hạt Dinh Cát thuộc giáo phận Huế, có
94 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng lẽ bắt nguồn từ tên Dinh Cát của Nguyễn Hoàng (nơi bà Minh Đức ở). Bà Minh Đức qua đời tại Kim Long (Huế), cuối đời chúa Nguyễn Phúc Lan, cháu nội của bà (1647), hoặc đầu đời Nguyễn Phúc Tần con của Nguyễn Phúc Lan (1648). Làng Dương Lộc do những người họ Nguyễn và họ Dương xây dựng nên. Theo địa bộ của làng thời Gia Long thì Lý Trưởng là Nguyễn Văn Hòa, Phó Lý là Dương Văn Thể. Những họ khác là những người mới đến cư ngụ sau 1885 và đều mang họ Nguyễn như trường hợp bà Dương Thị Xa, người làng Dương Lộc, theo đạo Công Giáo lấy một người ngoại giáo họ Lê, làm nghề thuốc Bắc ở làng Cổ Thành, có hai người con trai là Lê Văn Nậy và Lê Văn Kinh. Sau 1885, để được giữ đạo, bà đem hai con về Dương Lộc. Con bà là ông Lê Văn Kinh lấy người họ Nguyễn trong làng là bà Nguyễn Thị Vị nên con cháu của họ về sau lấy họ Nguyễn Văn (Nguyễn Văn Quang con ông Nguyễn Duy Vi; Nguyễn Duy Vi là con ông Lê Văn Kinh và bà Nguyễn Thị Vị). Khoảng 1920, con cháu họ này có người thi đỗ vào trường Cao Đẳng Canh Nông Hà Nội nên đổi ra họ Nguyễn Cao (Nguyễn Cao Ban) để phân biệt với họ Nguyễn Văn. Sách “Tiểu sử các Linh Mục Giáo Phận Huế” Quyển 1 trang 172 thì Linh Mục Lê Văn Hiển con ông Lê Văn Nậy... Cha Hiển là chú ruột Linh Mục Nguyễn Cao Lộc (em ruột của ông Nguyễn Cao Ban), trang 240, Linh Mục Nguyễn Cao Đẳng con ông Nguyễn Cao Kinh (tức Lê Văn Kinh em ruột ông Lê Văn Nậy)... Một lý do khác bắt buộc họ Lê phải đổi ra họ Nguyễn là vì ông Dương Văn Cẩn (con quan lãnh binh Dương Văn Thành) từ Nghệ An trở về làng sau 1885, đòi trục xuất con cháu họ Lê ra khỏi làng vì họ không phải là người gốc Dương Lộc, vì thế họ Lê phải đổi ra họ Nguyễn và nhận mình là con cháu họ Nguyễn trong làng để được che chở. Những gia đình mới đến ngụ cư ở Xóm Soi và Xóm Hố sau 1885 cũng lấy họ Nguyễn. Họ không phải là họ Nguyễn gốc Dương Lộc. Người họ Nguyễn đứng tên Lý Trưởng trong địa bộ và người cư ngụ đều lấy họ Nguyễn chứng minh vai trò quan trọng của người sáng lập làng và con cháu của họ theo tổ chức làng xã Việt Nam ngày xưa. Theo sách Ô Châu Cận Lục của Tiến Sĩ Dương Văn An
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 95 (1553) thời Mạc Mậu Hợp thì Dương Lộc có tên là Dương Chiếu (nghĩa là mặt trời chiếu sáng) bên cạnh các làng Dương Lệ, An Toàn (An Lợi), Đại Bị (Đại Lộc) v.v... Năm 1558, Nguyễn Hoàng được vua Lê và chúa Trịnh Kiểm cho vào trấn thủ Thuận Hóa (Thuận Châu và Hóa Châu tức Quảng Trị và Thừa Thiên, Huế ngày nay) đã cho kiểm tra lại dân số, ruộng đất, lập lại địa bộ, một số làng được đổi tên như Dương Chiếu thành Dương Lộc, Đại Bị thành Đại Lộc, An Toàn thành An Lợi v.v..., tên làng Dương Lộc được nhắc đến nhiều qua các tờ trình cũng như thư từ liên lạc, hồi ký của các nhà truyền giáo trong tiền bán thế kỷ 17 (xem Les documents historiques de La Cochinchine religieuse của A.Launay). Theo hồi ký của giáo sĩ Alexandre De Rhode “Les Voyages et Missions” (Những cuộc hành trình và truyền giáo), tháng 3 năm 1645, ngài đi thuyền từ Huế ra thăm Quảng Trị đến ngã ba Đò Điếu thì bị lính canh ở đồn Cửa Việt gần đó chận lại. Giáo dân các làng Dương Lộc, Dương Lệ, Động Giám... ở gần đó đi bộ đến thăm ngài..., các nơi ở xa như Vĩnh Linh và Quảng Bình thì đi đò đến thăm... Năm 1690, có bốn Linh Mục từ chủng viện Thái Lan về Huế và vào trình diện chúa Hiền Vương (Nguyễn Phúc Tần) trong đó có cha Lorensô Lâu là người thông thái nhất, ngài giỏi chữ Nho, biết chữ quốc ngữ, Latinh, tiếng Anh, Pháp, Bồ Đào Nha, Thái Lan v.v..., ngoài ra ngài cũng giỏi Toán và Thiên Văn. Cha Lâu được cha Bề Trên Labbé trao cho trách nhiệm coi sóc giáo dân tỉnh Quảng Trị vì lý do tỉnh này đông giáo dân và ngoài xã hội lại có nhiều trí thức. Cha Lorensô Lâu đặt trụ sở tại làng Dương Lệ Văn, bên cạnh làng Dương Lộc và xây một nhà thờ lớn ở đó. Khi ngài đến Quảng Trị, các nhà Nho nghe tiếng đã kéo đến chất vấn để xem kiến thức của ngài ra sao và họ đã tỏ ra khâm phục vì mọi vấn đề ngài đều hiểu biết tường tận. Từ 1712-1725, chúa Nguyễn mời ngài vào Huế thông dịch tiếng Anh, tiếng Pháp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha v.v... cho triều đình. Ngài ở lại trong kinh đô chúa Nguyễn 13 năm, sau đó ngài xin trở về Quảng Trị và qua đời tại họ Bố Liêu năm 1733, mộ chôn trong lòng nhà thờ, trên bia mộ có đề chữ: “Cha Lorensô Lâu truyền giáo vào thế kỷ 17”. Năm 1858, nhóm giáo sĩ Dòng Tên cho xuất bản ở Pháp
96 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng sách “Mission de la Cochinchine et du Tonkin” (Công cuộc truyền giáo tại Đàng Trong và Đàng Ngoài) có nhắc đến tên hai Linh Mục Da Costa (ở Trà Bát, Triệu Phong, Quảng Trị) và Lopez ở Động Giám (gần Dương Lộc), riêng cha Lopez ở đấy từ 1721- 1741, trong hai chục năm. Trước 1747, hai vị trở về Áo Môn nhưng vẫn gởi thư, quà cho giáo hữu ở đó. Qua những tài liệu trên, chúng ta biết được rằng từ thế kỷ 17, 18 vùng này đã là nơi có những làng Công Giáo toàn tòng và đức tin của người Công Giáo ở đây rất cao. Cách nay hơn ba trăm năm, những xứ đạo như Dương Lộc, Dương Lệ, Đại Lộc, Động Giám, Bố Liêu, An Lộng, Nhu Lý v.v... thuộc Triệu Phong, Quảng Trị đã được nhắc đến như là những nơi có đông người Công Giáo, có nhà thờ, có Linh Mục, có sinh hoạt tôn giáo nề nếp. Theo sách Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn (Tiến Sĩ triều Lê, hậu bán thế kỷ 18) có ghi tên một số làng thuộc đất cũ của chúa Nguyễn, thì Dương Lộc thuộc huyện Đăng Xương, phủ Triệu Phong (Lê Quý Đôn đã theo tướng Trịnh là Hoàng Ngũ Phúc vào chiếm Thuận Hóa (Huế) từ 1775-1786, trong 10 Đền thờ các vị tử đạo ngày 8-9-1885 tại Dương Lộc bị chiến tranh 1972 tàn phá...
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 97 năm, sau khi trở về Bắc đã viết Phủ Biên Tạp Lục, cuối thế kỷ 18). Ngày xưa, trụ sở huyện Đăng Xương đặt bên cạnh chợ Thuận (tức Thuận châu cũ), đầu thế kỷ 20 thì dời về chợ Sãi tức Phủ Triệu Phong, nơi được mang tên chúa Sãi (Nguyễn Phúc Nguyên, con của Nguyễn Hoàng), hiện còn dấu vết chân thành cổ và tên làng Cổ Thành. Danh từ Thuận Hóa nguyên là Thuận Châu (Quảng Trị) và Hóa Châu (Huế) ghép lại. Trước 1558 có Hóa Thành trên sông Bồ (Thừa Thiên) và Thuận Thành (chợ Thuận, Quảng Trị). Trải qua mấy chục năm dưới thời Tây Sơn, đến khi Gia Long thống nhất sơn hà (1802) ra lệnh làm lại địa bộ và kê khai dân số, địa bộ này đã bị thiêu hủy trong biến cố ngày 8-9-1885 thời Văn Thân. Dưới thời vua Thành Thái (1889-1907), ông Nguyễn Văn Hoan là một người có học, lớn tuổi trong làng đã vào Huế lo lót tiền bạc cho quan trên để xin cho làng một bản sao lục địa bộ. Bản địa bộ chữ Hán này đã bị mất vào ngày 14-6-1949. Trước 1945, Linh Mục Stanilas Nguyễn Văn Ngọc (nguyên Tổng Đại Diện Giáo Phận Huế, tác giả sách Linh Địa La Vang 1971) đã nhờ thân phụ ngài là cụ Nguyễn Văn Quê dịch ra chữ quốc ngữ, hiện chúng tôi còn giữ bản dịch này. Trong địa bộ đó có ghi diện tích, ranh giới, tên chủ đất, chủ vườn trong làng. Chúng tôi đọc được những tên sau đây (thời Gia Long): * Họ Nguyễn: Nguyễn Văn Trạch, Nguyễn Văn Mục, Nguyễn Văn Dược, Nguyễn Văn Khoa, Nguyễn Văn Bột, Nguyễn Văn Thích, Nguyễn Văn Phụ, Nguyễn Văn Nẫm, Nguyễn Văn Quý, Nguyễn Văn Hòa (Lý Trưởng), Nguyễn Văn Pháp, Nguyễn Văn Thường, Nguyễn Văn Sang, Nguyễn Văn Ngạn, Nguyễn Văn Di, Nguyễn Văn Mỹ, Nguyễn Văn Quận, Nguyễn Văn Phường, Nguyễn Văn Thụ, Nguyễn Văn Võ, Nguyễn Văn Luận, Nguyễn Văn Ân, Nguyễn Văn Thạnh, Nguyễn Văn Suất, Nguyễn Văn Khoan, Nguyễn Văn Tự, Nguyễn Văn Xá, Nguyễn Văn Hiệp, Nguyễn Văn Duẩn... * Họ Dương: Dương Văn Thể (Phó Lý), Dương Văn Hà, Dương Văn Cử, Dương Văn Vẽ, Dương Văn Dĩ, Dương Văn Cận, Dương Văn Lễ, Dương Văn Chức, Dương Văn Vảy, Dương Văn Sứ, Dương Văn Kiên, Dương Văn Khán, Dương Văn Chu, Dương Văn Bí, Dương Văn Bảo, Dương Văn Linh...
98 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Theo địa bộ này, người họ Nguyễn có nhà cửa, vườn tược ở làng Dương Lộc nhiều hơn người họ Dương. Hiện nay tại làng Dương Lộc, mồ mả của người họ Nguyễn cũng rất nhiều nhưng sau biến cố 8-9-1885, người họ Nguyễn chết gần hết, do đó về sau con cháu họ Dương đông hơn họ Nguyễn. Theo sách Đại Nam Nhất Thống Chí (Quốc Sử Quán triều Nguyễn biên soạn) thì huyện Đăng Xương về sau được đổi tên là Vũ Xương vì sợ phạm tên húy của vua Kiến Phước là Nguyễn Phước Ưng Đăng (1884-1885). 2. DƯƠNG LỘC LÀ TRUNG TÂM CÔNG GIÁO TRONG VÙNG VÀO HẬU BÁN THẾ KỶ 19 Trong thế kỷ thứ 17, số người theo đạo tại làng Dương Lệ Văn rất đông do ảnh hưởng của một vị quan lớn trong làng theo đạo nhưng dưới thời nhà Nguyễn, thế kỷ 19, các vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức cương quyết tiêu diệt đạo Công Giáo, đa số dân đã bỏ đạo nên làng này chỉ còn lại một xóm đạo chung quanh nhà thờ mà thôi. Trong khi đó tất cả dân hai làng Dương Lộc và Đại Lộc đều theo đạo, chỉ Đền thờ các vị tử đạo tại Dương Lộc (nhìn từ trước mặt) ngày 8-9-1885...
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 99 có gia đình họ Dương, con cháu làm quan xa nên đã bỏ đạo. Thời đó, người theo đạo không được đi thi, không được làm quan nên dân theo đạo chỉ biết chăn nuôi, trồng trọt, chăm lo ruộng vườn hoặc buôn bán làm ăn, sống lương thiện, lo giữ đạo Chúa. Một số ít người học chữ Nho để đọc giấy tờ, sổ sách hoặc nghiên cứu Đông Y mà thôi. Sau khi triều đình Huế ký hòa ước 1862 với Pháp, lệnh cấm đạo được bãi bỏ, vua Tự Đức bèn cho mời một số Linh Mục thông thái, biết tiếng Pháp và tiếng Tây Ban Nha giúp việc cho triều đình. Những Linh Mục có tên tuổi đã cộng tác với triều đình vào thời đó đã được sử sách nhắc đến là Trần Lục (giáo phận Phát Diệm), Nguyễn Hoằng (giáo phận Vinh), Nguyễn Hữu Thơ (giáo phận Huế), Nguyễn Ngọc Tuyên (giáo phận Huế), Đặng Đức Tuấn (giáo phận Quy Nhơn)... Người xưa thường nói: “Sơn bất tại cao, hữu tiên tắc danh; thủy bất tại thâm, hữu long tắc linh” (Không phải do núi cao mà chính nhờ có tiên thì nơi đó mới nổi danh; không phải vì nước sâu mà chính nhờ có rồng thì nơi đó mới linh). Hai Linh Mục danh tiếng thời đó là Nguyễn Ngọc Tuyên và Trần Ngọc Vịnh đã lần lượt làm cha xứ Dương Lộc nên ảnh hưởng của đạo Công Giáo càng lớn và phe ghét đạo càng chú ý đến nhiều. Hai làng Dương Lộc và Đại Lộc ở cạnh nhau, cha Trần Ngọc Vịnh làm cha xứ Dương Lộc, sau đựơc thuyên chuyển về Đại Lộc và cha Nguyễn Ngọc Tuyên từ họ An Truyền (Thừa Thiên) về làm cha xứ Dương Lộc. Nhờ ảnh hưởng của hai ngài nên dân Công Giáo ở Dương Lộc có tổ chức, có tinh thần đoàn kết cao, có nếp sống văn minh, văn hóa hơn dân các làng lân cận. Dân chúng đã tìm được niềm vui ở quê hương nên không muốn đi đâu xa. Các biến cố chính trị, quân sự xảy ra ở trong nước không ảnh hưởng gì tới họ. Vào hậu bán thế kỷ 19, Dương Lộc là Trung Tâm Công Giáo của tỉnh Quảng Trị dưới sự lãnh đạo của hai Linh Mục Nguyễn Ngọc Tuyên và Trần Ngọc Vịnh là những nhà trí thức, vừa thông Nho học, vừa giỏi Tây học đã từng du học ở Pénăng (Mã Lai), Pháp, Roma, từng làm quan của triều đình..., nhờ vậy mà con chiên của các ngài cũng được mở rộng thêm kiến thức...