250 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng công nghiên cứu, tìm tòi để góp ý với chúng tôi. Độc giả sẽ là người khách quan phê phán cũng như đánh giá công trình nghiên cứu của mỗi người. Cali 15 tháng 12 năm 1995 Nguyễn Lý Tưởng
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 251 BÚT TÍCH CUỐI CÙNG CỦA LINH MỤC BỬU ĐỒNG (ĐÃ BỊ VIỆT CỘNG CHÔN SỐNG TRONG TẾT MẬU THÂN 1968) Trong Tết Mậu Thân 1968, Việt Cộng đã tấn công nhiều thành phố, thị xã trên toàn lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa (Miền Nam Việt Nam) gây nên một cuộc thảm sát dã man, điển hình là những mồ chôn tập thể ở Huế và trong tỉnh Thừa Thiên. Trong dịp đó có hai Linh Mục ngoại quốc và ba Linh Mục Việt Nam cùng hai sư huynh Dòng La San, một số tu sĩ và giáo dân đã bị giết hại. Hai Linh Mục ngoại quốc thuộc Dòng Benedicto Thiên An là cha Urbain và cha Guy. Ba Linh Mục Việt Nam là Cha J.B. Bửu Đồng (Huế), Cha Micae Hoàng Ngọc Bang (Huế) và Cha Giuse Lê Văn Hộ (Quảng Trị). Các nạn nhân đã chết không để lại bút tích gì, riêng Linh Mục Bửu Đồng khi cải táng, người ta tìm được trong áo của ngài có giấu một bức thư ở trong bao kính đọc sách. Ngài biết trước thế nào cũng bị giết chết nên đã dọn mình và tìm cách để lại những lời cuối cùng gởi cho cha mẹ, anh chị em và con chiên của ngài. Nội dung những lời này đã nói lên tinh thần vâng phục thánh ý Chúa và sự hy sinh phục vụ anh em của thiên chức Linh Mục. Chúng tôi xin lần lượt giới thiệu các Linh Mục nạn nhân với độc giả để kỷ niệm năm thứ 30 biến cố Mậu Thân (1968- 1998).
252 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng 1. THÂN THẾ LINH MỤC J.B. BỬU ĐỒNG: Theo tài liệu của gia đình và của Tòa Tổng Giám Mục Huế, Linh Mục Gioan Baotixita Bửu Đồng sinh ngày 29-8-1912 tại giáo xứ Phủ Cam, Huế (làng Phước Quả, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên) trong một gia đình thế gia vọng tộc, lá ngọc cành vàng, dòng họ Nguyễn Phước, con cháu vua Gia Long. Cụ thân sinh của ngài là Phaolô Ưng Trạo (con của Cụ Hường Thuyền, cháu nội của vua Minh Mạng sinh bởi hoàng tử Miên Thanh, em vua Thiệu Trị). Cha mẹ và anh em cụ đã gặp Đức Giám Mục Caspar (Đức Cha Lộc) và trở lại đạo năm 1892. Cụ cố Hường Thuyền, thân sinh cụ Ưng Trạo là bọ đỡ đầu của Cố Tống Thống Ngô Đình Diệm. Cụ Ưng Trạo được Giám Mục Allys (Đức Cha Lý) giới thiệu vào tu tại Tiểu Chủng Viện An Ninh (Quảng Trị) rồi Đại Chủng Viện Phú Xuân (Huế) đã chịu phép cắt tóc, sau đó hồi tục và làm việc cho nhà nước dưới thời vua Khải Định-Bảo Đại, tước Quang Lộc Tự Khanh, hàng Tùng Tam Phẩm của triều đình Huế. Năm 27 tuổi, cụ Phaolô Ưng Trạo lập gia đình với bà Madalêna Hồ Thị Nguyệt là cháu ngoại của Thánh Tử Đạo Phaolô Tống Viết Bường. Hôn lễ được cử hành tại nhà thờ chính tòa Phú Cam Huế ngày 9-8-1911, năm sau sinh con trai đầu lòng là Linh Mục J.B Bửu Đồng. Thiếu thời, ngài theo học tại trường Pellerin do các SưHhuynh Dòng La San hướng dẫn. Ngài nhập Tiểu Chủng Viện An Ninh (Quảng Trị) ngày 1-9-1927, vào Đại Chủng Viện Phú Xuân Huế ngày 2-9-1935, lãnh phép Cắt Tóc ngày 4-6- 1937, bốn chức nhỏ 18-10-1938 và 16-3-1940, chức Năm ngày 5-6-1940, chức Sáu ngày 12-6-1940 và thụ phong Linh Mục ngày 7-6-1941 do Đức Cha Lemasle (Lễ) truyền chức. Cuộc đời Linh Mục: cha Phó tại giáo xứ Kim Long từ 26- 6-1941, chánh xứ Thần Phù (Thừa Thiên) từ 2-7-1943, Gia Hội (Huế) từ 18-2-1946, Giáo Sư Dòng Thánh Tâm (Huế) từ 17- 10-1947, sau đó đi làm chánh xứ Thủy Ba và Cổ Hiên (Quảng Bình). Sau 20-7-1954, di cư vào La Vang và lập ra giáo xứ La Vang Thượng (Quảng Trị) từ 1954-1958. Từ 1958-1963 giúp giáo xứ Phủ Cam (Huế). Từ 1963-1968 coi giáo xứ Sư Lỗ kiêm An Truyền (quận Phú Vang, Thừa Thiên) và bị Việt Cộng bắt đem đi trong tết Mậu Thân, tìm được xác ngày 8-11-1969 chôn
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 253 chung với Linh Mục Micae Hoàng Ngọc Bang tại vùng Phú Thứ (Thừa Thiên). Thọ 57 tuổi, 28 năm Linh Mục. Thánh lễ cầu nguyện cho Linh Mục JB Bửu Đồng, Linh Mục Micae Hoàng Ngọc Bang và hai sư huynh dòng La San do Đức Tổng Giám Mục Philippe Nguyễn Kim Điền và 12 Linh Mục trong giáo phận đồng tế tại nhà thờ chính tòa Phú Cam, nơi sinh quán của ngài vào ngày 12-11-1969, an táng ngày 13- 11-1969 cạnh mộ Đức Cha Allys (Lý). Năm 1985, chính quyền Cộng Sản ra lệnh dời nghĩa địa để lấy đất nên ngài được cải táng lần thứ hai và chôn tại núi Thiên Thai (Huế). 2. BÚT TÍCH: a. Thư gởi Thầy Mẹ: “Lạy Thầy Mẹ quý mến, Thầy Mẹ rất đau khổ khi mất đứa con trưởng nam không được phục vụ Thầy Mẹ trong tuổi già nhưng Thầy Mẹ sẽ được an ủi và vui mầng khi được tin con đã can đảm vì mến Chúa, yêu người trong chức vụ Linh Mục và nhiệm vụ Tông Đồ. Xin Thầy Mẹ tha mọi tội lỗi và những gì không làm vui lòng Thầy Mẹ trong 57 năm nay. Xin hẹn gặp nhau trên nước Chúa. Xin Thầy Mẹ ban phép lành cho con”. b. Thư gởi các em: “Chào các em thân mến, Em Claudia, Cha Em, An-Uyên, Thiều-Anh, Xuân, Raphael, Linh-Khuê, Như, Sao-Khôi, Chính-Duân, Nghi-Diện và các cháu cùng bà con xa gần Nội Ngoại. Đây là lần cuối cùng trước khi về cùng Chúa xin tha tội lỗi và cầu nguyện cho Anh đặng sống chết trong tay Chúa và Mẹ Maria. Xin thay Anh giúp đỡ Thầy Mẹ trong tuổi già. Xin chúc lành cho các em và bà con. Xin hẹn gặp nhau trên chốn Thiên đàng. Cầu cho anh khi sống và khi chết. Anh của các em”. (Ký tên) (Cha ủy cho thầy X.H xếp đặt với các em cho về tất cả đồ đoàn để phân chia tùy ý. Ba máy may đã định rồi). c. Thư gởi cho giáo hữu: “Các con cái yêu dấu: Đây là bút tích cuối cùng để nhắc cho các
254 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Di ảnh Linh Mục Bửu Đồng.
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 255 con ghi nhớ bài Phúc Âm Thánh Phêrô trên thuyền bão táp... (ba chữ đọc không ra) đức tin. Lời cầu chúc của Cha ngày đầu Xuân cho mọi công việc Tông Đồ của Cha giữa chúng con, nhớ ... (2 chữ đọc không ra) khi sự sống của Cha sắp kết liễu theo ý Chúa. Hãy mến Mẹ, sốt sắng lần hột, tha mọi lỗi lầm của Cha, xin Chúa tha tội cho Cha, xin cám ơn chúa với Cha, xin Chúa tha tội cho Cha và tận tình thương nhớ cầu nguyện cho Cha được sống trong tin tưởng, kiên nhẫn, trong khắc khổ để kiến tạo hòa bình của Chúa Kitô và phục vụ tinh thần Chúa và mọi người trong Mẹ Maria. Xin cầu nguyện cho Cha bình an sáng suốt và can đảm cùng mọi sự đau khổ tinh thần, thể xác và gởi mạng sống cho Chúa qua tay Đức Mẹ. Hẹn ngày tái ngộ trên nước Trời. Chúc lành cho chúng con”. (Ký tên) d. Những câu cuối cùng (nói với Chúa): * Xin cầu cho con được thực hiện một cách can đảm: SACERDOS et VICTIMA Ad JESUM per MARIAM * Ne rien demander. Ne rien desirer. Ne rien refuser. Je serai ta force. Ne crains rien. * In manus tuas sortes meae. Suscipe me Domine. Chú thích: Những câu trên đây Cha viết bằng tiếng Pháp và tiếng Latinh. e. Bài thuyết giảng nhân dịp Lễ Giáng Sinh 1967 (trước Tết Mậu Thân hơn một tháng)... “Vinh danh Thiên Chúa trên các tầng trời, và Bình an dưới thế cho người thiện tâm”. Kính thưa đồng bào thân mến và anh chị em giáo hữu, Thành thực mà nói, không ai trong chúng ta là không khao khát Hòa Bình. Đặc biệt trong dịp lễ Giáng Sinh này, niềm khao khát ấy càng trở nên mãnh liệt hơn nữa. Bởi vì, chính nhờ lễ Giáng Sinh mà chúng ta được nếm thử bầu không khí thanh bình, không bị xáo trộn bởi những tiếng nổ chát chúa, không bị nhiễm độc bởi những khói
256 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng thuốc súng. Nhưng mỗi người trong chúng ta tự hỏi: phải chăng Hòa Bình mà Đấng Cứu Thế đem xuống trần gian chỉ vỏn vẹn trong ngày Giáng Sinh thôi sao? Phải chăng dân tộc chúng ta chỉ mong mỏi được sống trong hòa bình trong một thời gian ngắn ngủi đó thôi sao? Để rồi sau đó, súng lại nổ, bom lại rơi, máu lại chảy... Không, ngàn lần không, chúng ta cầu mong hòa bình và muốn rằng hòa bình luôn tươi thắm mãi trên quê hương chúng ta. Vậy chúng ta phải làm gì để vãn hồi Hòa Bình? Chúng ta thường nghe nói: Phải chiến đấu. Đúng lắm, có thể nói được mọi cuộc chiến tranh đều phát xuất từ lòng người và nếu muốn hòa bình, chúng ta phải dập tắt ngọn lửa chiến tranh từ lòng mình. Thực vậy, cuộc chiến tranh này vô cùng quyết liệt và đòi hỏi chúng ta nhiều nỗ lực hơn bất cứ một cuộc chiến tranh nào khác. Bởi vì để tiêu diệt thù địch ấy, chúng ta không cần phải tìm kiếm đâu xa, cũng không cần phải dùng tới những thứ khí giới tối tân có tầm hoạt động rộng rãi. Chúng ta chỉ cần nhìn vào phần thâm sâu nhất của mỗi người chúng ta: đó là những đam mê bất chính, mê danh, mê tài, mê sắc, những hận thù chia rẽ, những tị hiềm tị khích, những tham vọng đen tối... Tiêu diệt những thứ ấy nơi bản thân của mỗi người chúng ta, tức là dập tắt được ngọn lửa chiến tranh. Chúng ta đừng tưởng cuộc chiến đấu ấy không cần phải nỗ lực bền bỉ. Không, kẻ thù mà chúng ta cần phải chiến đấu trên mặt trận này già dặn và lâu dài ngang với tuổi đời của mỗi người chúng ta. Chúng ta cần phải bền chí và dốc toàn lực chiến đấu trước hết và trên hết hơn bất cứ thù địch nào. Đàng khác, cuộc chiến đấu chống lại những đam mê dục vọng và hận thù ấy có tính cách toàn diện, nghĩa là nó không dành riêng cho một hạng người nào, một màu da nào, một tiếng nói nào... Tất cả mọi người, mọi dân tộc trên thế giới đều phải quyết tâm tiêu diệt chúng. Bao lâu còn dáng dấp của những đam mê bất chính trong lòng người, những hận thù chia rẽ giữa các dân tộc, những tham vọng bất chính nơi cá nhân hay đoàn thể, chúng ta vẫn còn thấy những chết chóc đốt phá của chiến tranh, vẫn còn nghe thấy những tiếng súng tiếng bom, những tiếng khóc lóc cầu cứu... và thời hòa bình, thời mà ở đó “những gươm giáo sẽ đúc lại thành lưỡi cày” như tiên tri Isaia nói, vẫn còn xa lạ với chúng ta. Lạy Mẹ Maria, Mẹ đã phán bảo: “Trái Tim Mẹ sẽ thắng”, nếu
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 257 chúng con chiến đấu để cải thiện đời sống trong Công Bình, Bác Ái. Xin Mẹ ban Hòa Bình cho chúng con. Trong đêm Giáng Sinh hồng phúc này, chúng con hãy thầm nhủ lời kinh sau đây: Lạy Chúa khoan nhân, xin dạy chúng con nhận biết yêu thương và phụng sự Chúa trong mọi người chẳng trừ ai. Lạy Chúa, xin dùng con làm khí cụ bình an của Chúa, để con: Đem yêu thương vào nơi oán thù Đem tha thứ vào nơi lăng nhục Đem an hòa vào nơi tranh chấp Đem chân lý vào chốn lỗi lầm Đem tin kính vào nơi nghi nan Đem cậy trong vào nơi thất vọng Đem ánh sáng vào chốn tối tăm Đem niềm vui vào nơi u sầu Lạy Chúa xin hãy dạy con: Tìm an ủi người hơn được người ủi an Tìm hiểu biết người hơn được người hiểu biết Tìm yêu mến người hơn được người mến yêu Vì chính khi hiến thân là khi được nhận lãnh chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân chính lúc thứ tha là lúc được tha thứ chính lúc chết đi là lúc sống lại bất diệt Hỡi Thần Linh Thánh Ái, hãy mở rộng cõi lòng chúng con và ban xuống trần gian bình an Chúa cho hết mọi người thiện chí”. KẾT LUẬN Qua những bút tích của Linh Mục J.B. Bửu Đồng để lại và qua cuộc sống của ngài, nhất là thời gian ngài phục vụ tại giáo xứ Sư Lỗ và An Truyền (quận Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên), trong vùng hoạt động của Việt Cộng, đã đủ nói lên gương hy sinh, can đảm vô bờ bến của một Linh Mục. Ngài đã từng chứng kiến cảnh con chiên bị chôn sống và những cộng tác viên của ngài bị giết hại. Ngài đã từng chạy xuôi chạy ngược để xin gạo, xin tiền, xin quần áo về giúp con chiên vì dân vùng này quá đói khổ. Chính Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Kim Điền ở Huế lúc đó cũng thấy tình hình căng thẳng và đề nghị cho ngài qua phục vụ ở vùng khác để tránh sự nguy hiểm nhưng ngài xin ở lại đây, tiếp tục phục vụ giáo dân và đồng
258 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng bào. Ngài đã nói với Đức Cha: “Nếu con ra đi thì cha khác sẽ về đây và tình thế vẫn không có gì sáng sủa hơn. Nếu không có ai đến đây thì con chiên bơ vơ, không người trông coi...”. Ngài là mục tử không bỏ đoàn chiên và ngài đã hy sinh vì đoàn chiên của mình. BÀI ĐIẾU VĂN CỦA ĐỨC TỔNG GIÁM MỤC PHILIPPE NGUYỄN KIM ĐIỀN TGM HUẾ trong lễ cầu nguyện nhân ngày cải táng hai Linh Mục Gioan Baotixita Bửu Đồng và Micae Hoàng Ngọc Bang và hai Thầy Dòng La San tại Huế 12-11-1969. “Kính thưa Quí Vị, Quí Giáo Sĩ, Tu Sĩ và Anh Chị Em thân mến, Lại một lần nữa, chúng ta dâng Thánh Lễ tại đây để cầu cho các nạn nhân biến cố Tết Mậu Thân mà thành phần hôm nay là Giáo Sĩ, Tu Sĩ. Từ gần hai năm qua, địa phương chúng ta mãi sống trong bầu không khí tang chế, hằng có sẵn từ trước mặt những hẫu quả thảm khốc của chiến tranh. Giờ đây tôi muốn nói với tất cả các tang gia bất hạnh (trong khắp giáo phận Huế) không phân biệt tôn giáo, nói lên niềm đau xót phân ưu của giáo sĩ, tu sĩ giáo dân có mặt tại đây và của riêng tôi. Đau đớn tất tưởi thương tâm làm sao cái chết thê thảm của các nạn nhân và cũng nói làm sao xiết cái cảnh thương tâm của người còn lại, nhất là các bà mẹ góa và đàn con côi! Đành rằng mang thân con người, nào ai tránh khỏi cái chết, nhưng chết lại có trăm ngàn cái chết và nào ai chấp nhận cái chết của các nạn nhân này. Đó là cái lý của thế thường. Nhưng thưa Anh Chị Em Công Giáo, Đức Tin cho chúng ta biết chết chưa phải là hết, chết chỉ là qua đời, là được an nghỉ và được tận hưởng ánh sáng ngàn thu là chính Thiên Chúa, nếu chúng ta được chết lành, vì tất cả cuộc sống đời đời mai sau là tùy thuộc cái giờ chết của mỗi người. Thế là tất cả cuộc sống hiện tại là phần chuẩn bị cho cái chết của mình. Mà trong chúng ta đây, thử hỏi ai biết được chừng nào mình chết và chết cách nào: lành hay dữ, sẵn hay không? Điều mà chưa chắc cho anh chị em chúng ta, thì đã hoàn tất tốt đẹp rồi cho hai Cha, hai Thầy nằm đây cũng như cho trăm anh chị em giáo dân của chính họ Phú Cam này và các người xa gần trong giáo phận là nạn nhân của biến cố Mậu Thân.
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 259 Cái ơn đặc biệt của các ngài là được chuẩn bị để chết và cho các ngài biết kết hợp cái chết của mình vào cái chết của Chúa Cứu Chuộc, để biến thành nguồn sống cho chính các ngài và còn sẽ cứu sống bao nhiêu đồng bào, đồng loại khác nữa. Đó là mầu nhiệm của ơn cứu chuộc, mầu nhiệm của lễ vượt qua, mầu nhiệm cái chết của người Kitô hữu nào biết ý thức và biết tự do đón nhận điều ấy, các Cha, các Thầy, của anh chị em Công Giáo nạn nhân chắc hằng tâm niệm trí lòng, đành khi Cha Bửu Đồng diễn tả nó rất rõ rệt qua các dòng bút tích gặp được nơi thi hài của ngài. Phải chăng đây là niềm an ủi lớn lao cho các thân nhân, cho bạn hữu của các ngài và cho chúng ta những người có đức tin, những người con cái Chúa và các ngài đã về nhà Cha, đã được an nghỉ và đang chờ đón. Phải, các ngài đang chờ đón chúng ta! Đang khi chờ ngày vui mừng hội ngộ ấy, các ngài hết phải long đong với cuộc sống trần gian, khỏi phải phập phồng lo sợ cho số phận của đời mình, thì chắc chắn các ngài thương hại cho chúng ta và cầu bầu cho chúng ta rất đắc lực trước tòa Chúa, đang khi chúng ta dâng việc lành phúc đức, dâng thánh lễ đền tạ giúp các ngài trong những gì còn phải giữ. Và hằng giây phút, chúng ta có thể được gặp gỡ nhau, thông cảm với nhau trong tình yêu của Chúa, bằng sức mạnh đức tin của ta. Mãnh lực thay, huyền diệu thay Đức Tin Công Giáo. Nhờ Đức Tin mà nhìn vào cái chết, ta thấy nguồn sống, nhờ Đức Tin mà nhìn qua chữ thù hận, ta đọc được tiếng tha thứ. Nhờ Đức Tin mà nhìn qua chữ tử tội trên Thánh Giá, ta nhận ra Đấng Cứu Chuộc là Thiên Chúa Hằng Sống. Chính Ngài quả quyết Ta là sự sống lại và là sự sống, ai tin Ta thì dù có chết cũng sẽ sống và hễ ai sống mà tin Ta thì không phải chết đời đời. Con có tin không? (G.2-25). Thánh Phaolô cũng khuyên dạy ta trong bài thánh thư lễ: “Chớ có buồn phiền như những người không tin tưởng, song thực ra, nếu chúng ta tin Chúa Giêsu đã chết và đã sống lại, thì cũng vậy, những kẻ đã chết, Thiên Chúa sẽ cho họ về kết hợp với Người” (Ithese 4/13). Với niềm tin trọn vẹn ấy, giờ đây trong thánh lễ này cùng với Mình Thánh, Máu Thánh Đức Kitô, chúng ta hãy dâng lên Chúa: của lễ mạng sống của hai Cha, hai Thầy đây cùng với mọi đau khổ hy sinh, cũng như lời vui mừng và lời cầu nguyện của tất cả mọi người chúng ta, để cho trước là vì danh Thiên Chúa, sau là xin Chúa ban mọi phần phúc thiên đàng cho các nạn nhân ban lại nguồn an
260 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng ủi và mọi phúc lành cho tang gia của các ngài, ban lại hòa bình và đoàn kết cho đất nước Việt Nam, ban ơn phần rỗi cho các linh hồn và ban thêm Đức Tin dũng cảm cho các anh chị em chúng ta đang cùng dâng Thánh lễ hôm nay, để biết sẵn sàng hy sinh mạng sống của mình vì Chúa, vì đạo, vì anh chị em đồng bào đồng loại của mình như Chúa muốn và theo gương của Ngài”. Philipphe Nguyễn Kim Điền Tổng Giám Mục Tổng Giáo Phận Huế Nguyễn Lý Tưởng
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 261 TẾT MẬU THÂN: TÔI GẶP LM GIUSE LÊ VĂN HỘ LẦN CUỐI CÙNG TRƯỚC KHI NGÀI BỊ VIỆT CỘNG CHÔN SỐNG... 1. TIỆC TẤT NIÊN Chiều ngày 29-1-1968 tức 30 tháng Chạp Đinh Mùi, ngày cuối cùng của năm cũ bước sang năm mới Mậu Thân (1968), tôi vừa từ Huế về quê thăm mẹ tôi tại làng Dương Lộc, quận Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị thì anh Dương Minh Hoàng, một người bà con bên ngoại của tôi đến gặp tôi và mời tôi đi ăn tất niên. Anh nói: - Nhân ngày cuối năm, ba mươi Tết, tôi có mời Cha Chánh Xứ và bà con họ hàng đến nhà tôi ăn Tết trước, vì sợ ba ngày Tết ai cũng bận rộn khó mà gặp nhau đông đủ được. Lâu quá chú mới về thăm, nhân tiện mời chú đến chơi, gặp Cha và anh em thanh niên cho vui. Tôi chưa biết tính sao vì lâu ngày mới về thăm mẹ mà đã bỏ nhà đi chơi với bạn bè nên tôi cũng ngại nhưng mẹ tôi vội lên tiếng: - Cha Hộ mới đổi về làm chánh xứ làng mình, con nên đến chào ngài. - Để sáng mai đi lễ minh niên, con vào mừng tuổi Cha và chúc Tết bà con tại nhà thờ cho tiện. Con chạy xe hai bánh từ Huế về nhà mệt quá, cần nghỉ ngơi cho tỉnh táo đã. - Bây giờ mới hai, ba giờ chiều... Năm sáu giờ chúng tôi mới bắt đầu tiệc, chú cố gắng đến cho vui.
262 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Anh Hoàng nói mấy lời rồi chào chúng tôi và cỡi xe gắn máy ra đi. Chiều cuối năm trời lạnh và có vẻ âm u nhưng không mưa. Mẹ tôi liền đi nấu một nồi nước nóng cho tôi tắm và bảo tôi thay áo quần để mẹ giặt cho. Tắm xong nên nghỉ ngơi một lát cho tỉnh táo rồi đi dự tiệc tất niên với anh em. Trong lúc chờ đợi, mẹ tôi cho biết: Linh Mục Giuse Lê Văn Hộ, người làng Trí Bưu (tức Cổ Vưu) Quảng Trị, làm cha xứ Vạn Thiện, quận Do Linh phía Nam Bến Hải (vĩ tuyến 17) mới đổi về giáo xứ Dương Lộc cách nay mấy tháng. Từ 1950 đến 1962, Linh Mục Lê Hữu Luyến (anh ruột Đức Cha Lê Hữu Từ) làm cha xứ ở quê tôi, sau đó ngài bị đau đi chữa bệnh thì em ruột ngài là Linh Mục Lê Hữu Huệ chánh xứ Đại Lộc kiêm Dương Lộc 1962-1964 rồi đến Linh Mục Nguyễn Thanh Hòa 1964-1967, Linh Mục Nguyễn Văn Triêm đến thay Cha Hòa được mấy tháng (1967) thì Linh Mục Giuse Lê Văn Hộ đến thay Cha Triêm (từ 1967 đến Tết Mậu Thân, 1968). Tôi gặp Cha Hộ lần đầu tiên tại nhà thờ Trí Bưu năm 1949, lúc đó ngài mới ngoài 42 tuổi, rất đẹp trai và có biệt tài về âm nhạc, có tiếng về đàn harmonium. Tôi vẫn còn nhớ mãi hình ảnh của ngài trong một dịp lễ trọng tại nhà thờ Trí Bưu năm đó nhưng trải qua gần 20 năm, tôi chưa bao giờ được tiếp xúc, trò chuyện với ngài. Qua tài liệu của Tòa Tổng Giám Mục Huế, tôi được biết: Linh Mục Giuse Lê Văn Hộ sinh ngày 9-4-1907 tại làng Trí Bưu, Phủ Hải Lăng, Tỉnh Quảng Trị (thường gọi là giáo xứ Cổ Vưu), cha là Anrê Lê Văn Kinh, mẹ là Maria Trần Thị Linh. Ngài được Linh Mục Lê Thiện Bá, anh của ngài giới thiệu vào tu tại Tiểu Chủng Viện An Ninh (Cửa Tùng, Quảng Trị) tháng 9-1919 rồi vào Đại Chủng Viện Phú Xuân (Kim Long, Huế) ngày 31-8-1929, lãnh phép Cắt Tóc 30-5-1931, chịu bốn chức nhỏ 10-6-1933, chức Năm 26-5-1934, chức Sáu 15-6-1935 và thọ phong Linh Mục ngày 6-6-1936 do Đức Giám Mục Tardieu (Phú). Cuộc đời Linh Mục, từ 1936-1939, ngài lần lượt làm cha phó Tam Tòa (Quảng Bình), cha sở Vĩnh Trị rồi Trung Quán, quê của Thánh Tử Đạo Tôma Thiện (Quảng Bình). Từ 19-7- 1940 làm Giáo Sư kiêm quản lý Tiểu Chủng Viện An Ninh.
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 263 Cha sở các xứ Diêm Tụ (1950), Cầu Hai (1953), Nước Ngọt (1955), Phường Tây (1959) thuộc tỉnh Thừa Thiên. Năm 1963 làm cha sở Hội Yên rồi Vạn Thiện (Quảng Trị), mùa Đông năm 1967, ngài đến thay Cha Nguyễn Văn Triêm tại Dương Lộc (Triệu Phong, Quảng Trị). Tổ tiên tôi đã theo đạo từ giữa thế kỷ 17, năm 1690 một Linh Mục Việt Nam rất danh tiếng là Lorensô Lâu đã đến quê tôi, xây nhà thờ, lập giáo xứ. Ngài được chúa Nguyễn mời vào Huế giúp triều đình trên mười năm vì ngài tu học tại Thái Lan, biết nhiều thứ tiếng như Latinh, Pháp, Bồ Đào Nha, Anh, Nhật, Trung Hoa, Thái Lan v.v... Sau đó ngài xin từ chức và trở về nhiệm vụ Linh Mục. Ngài chết tại Bố Liêu gần Dương Lộc, mộ táng bên trong nhà thờ. Thời Văn Thân, 1885, Dương Lộc có 2.500 giáo dân, 4 Linh Mục và 65 nữ tu bị giết tập thể ngày 8-9-1885. Từ 1945, Dương Lộc và những làng Công Giáo trong vùng này đã tổ chức tự vệ như Bùi Chu, Phát Diệm ở ngoài Bắc. Sau 1954, chính quyền quốc gia thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm ra lệnh giải tán tổ chức tự vệ này nhưng từ 1960 trở đi các xã ấp đã tổ chức lực lượng võ trang gọi là nghĩa quân để bảo vệ an ninh tại nông thôn... Vùng này được xem như an toàn nhất từ 1945 đến ngày Cha Hộ về đây. Việt Cộng đã thảm bại nhiều lần khi tấn công lực lượng tự vệ Công Giáo Dương Lộc. Khoảng 5 giờ chiều ba mươi Tết, anh Hoàng đến đón tôi đi dự tất niên. Tôi đến nơi thì mọi người đã có mặt đông đủ, có cả Cha Hộ ở đấy. Tôi đến chào cha, lần đầu tiên sau gần hai mươi năm gặp lại ngài, thấy ngài vẫn còn rất trẻ và vẫn khôi ngô như xưa. Năm đó ngài đã ngoài 61 tuổi rồi, còn tôi, mới 28 tuổi. Trưa hôm nay tôi có gặp ông Hoàng Xuân Tửu, cựu Tỉnh Trưởng Quảng Trị, hiện là Đệ Nhất Phó Chủ Tịch Thượng Nghị Viện tại Sàigòn và Đại Tá Nguyễn Ấm, đương kim Tỉnh Trưởng Quảng Trị tại tư dinh Tỉnh Trưởng; dịp đó ông Hoàng Xuân Tửu có cho biết một số tin tức về hoạt động của Việt Cộng trong tỉnh mà ông mới nhận được. Chúng tôi nghĩ rằng Việt Cộng có thể tấn công vào thị xã Quảng Trị vào dịp Tết Mậu Thân và đã đề nghị với ông Tỉnh Trưởng nên có kế hoạch đề phòng. Tôi cũng đem chuyện đó nói lại với anh em có mặt trong bữa tiệc chiều nay. Tối ba mươi, trong giáo
264 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng xứ có tổ chức phát thanh, ca hát, chúc Tết trước giờ giao thừa. Cha cũng gởi lời chúc Tết đến bà con trong giáo xứ. Mấy hôm trước tôi có đến Đài Phát Thanh Huế thu âm lời chúc Tết gởi đồng bào nên tôi cùng mấy người bạn trở về nhà theo dõi các chương trình phát thanh Huế và Sàigòn. Giờ giao thừa tại Sàigòn sớm hơn Hà Nội một giờ, sau khi nghe đài Huế xong, tôi nghe đài Hà Nội. Hồ Chí Minh đọc một bài thơ như sau: Xuân nay khác hẳn mấy Xuân qua, Chiến thắng tin vui khắp nước nhà. Cương quyết đánh tan xâm lược Mỹ, Tiến lên, toàn thắng ắt về ta. Hai chữ “Tiến Lên” được Hồ Chí Minh hét thật to... Sau này tôi mới biết đó là lệnh tấn công của Hà Nội. Mặc dù lệnh hưu chiến đã được ban bố giữa hai bên lâm chiến nhưng lực lượng an ninh trong làng tôi và các làng chung quanh vẫn cảnh giác đề phòng. Anh em nghĩa quân thôn Dương Lộc và số thanh niên, học sinh, công chức, quân nhân về phép đều có vũ khí nhẹ hoặc lựu đạn mang theo bên mình. Chúng tôi chia nhau canh gác ban đêm, anh em nghĩa quân đi tuần phòng quanh làng, nếu có động tĩnh gì thì thông báo cho nhau biết. Khoảng 2-3 giờ sáng thì nghe tiếng súng nổ hướng thị xã Quảng Trị. Sáng hôm sau, qua máy truyền tin, chúng tôi được biết Việt Cộng đã tấn công vào thị xã Quảng Trị sau giờ giao thừa và đã bị thất bại nặng nề vì chính quyền tỉnh có đề phòng trước. Quân ta đã đánh bật chúng ra khỏi thành phố ngay... Sáng mồng một Tết Mậu Thân (30-01-1968), tất cả mọi người đến nhà thờ dâng lễ tạ ơn đầu năm. Trong lúc Cha Hộ cử hành thánh lễ thì anh em nghĩa quân của thôn canh gác bên ngoài rất cẩn thận. Lễ xong, mọi người tập họp ở trước sân nhà thờ để mừng năm mới. Vị đại diện Hội Đồng Giáo Xứ thay mặt mọi người nói vài lời chúc Tết Cha, tiếp theo đó, tôi cũng chúc Tết Cha và đồng bào. Sau lời đáp từ của Cha Chánh Xứ, chúng tôi đốt một tràng pháo mừng Xuân. Pháo này tôi mang từ Sàigòn ra vì ở quê tôi không có ai bán pháo. Chúng tôi mời Cha và anh em thanh niên chụp chung một tấm hình kỷ niệm. Đây là hình ảnh cuối cùng của ngài còn lưu lại cho bà con. Tôi trở về nhà để tiếp khách đến thăm Tết, ai ai cũng bàn
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 265 tán về tình hình an ninh trong ba ngày Tết. Chúng tôi chưa có chi tiết gì về trận đánh hôm qua tại thị xã Quảng Trị. Trong phạm vi quận Triệu Phong và các xã chưa có cuộc đụng độ nào xảy ra. Có tin cuộc hành quân truy kích địch đang tiếp tục chung quanh tỉnh lỵ Quảng Trị. Đến chiều, tôi đi thăm mấy nhà bà con họ hàng ở trong làng, tôi chưa dám đi ra khỏi làng và phải chờ xem tin tức tình hình an ninh ra sao đã. Trong làng tôi, từ 1945 đến nay chưa có người nào đi theo Cộng Sản, dân trong làng một lòng một dạ với nhau nên tôi rất yên tâm. 2. VIỆT CỘNG XÂM NHẬP THĂM DÒ TÌNH HÌNH Tối mồng một Tết Mậu Thân, tôi và Trung Úy Dương Dân Sĩ (1), thuộc Văn Phòng Tư Lệnh Quân Đoàn I ở Đà Nẵng về phép và mấy người bà con đến tại nhà tôi. Chúng tôi có mấy cây súng và lựu đạn để tự vệ. Chúng tôi thức khuya, chơi cờ Domino và thay nhau canh gác bên ngoài. Quá nửa đêm, chúng tôi nghe một loạt súng AK nổ rất gần, mấy phút sau có một phát súng Colt 45... Chúng tôi vội tắt đèn và ai nấy cầm súng, lựu đạn bố trí chung quanh nhà. Chừng một hai giờ đồng hồ sau thì anh em nghĩa quân trong làng liên lạc đến hỏi xem có gì xảy ra không và cho biết anh em đang hoạt động bên ngoài khu vực tôi ở, mọi người đều bình yên. Chúng tôi vẫn thức canh phòng đợi trời sáng. Đêm mồng một Tết Mậu Thân (30-01-1968) một toán đặc công Việt Cộng đã đột nhập vào làng nhưng không có một cuộc đụng độ nào vì anh em nghĩa quân di động, không có vị trí cố định nên chúng tìm không ra. Chúng đã vào nhà anh Dương Văn Đoàn, Phụ Tá An Ninh ấp, bắn một loạt AK nhưng không trúng ai. Anh Đoàn liền tắt đèn và bò ra khỏi nhà, bắn trả một phát súng Colt 45 về hướng phát ra tiếng súng. Sau đó thấy im lặng không có động tĩnh gì. Sáng mồng hai Tết, mọi người trong làng bàn tán xôn xao. Bà con ở tỉnh về thăm cho biết chiều 30 Tết, có lệnh cấm trại, quân đội và cảnh sát sẵn sàng chiến đấu, cấm không được đốt pháo... Sau giờ giao thừa, Việt Cộng đột nhập thành phố và bắt đầu tấn công. Chúng bị bắn trả ngay tức khắc, trên khắp các cao ốc ở ngã tư đường đều có người ném lựu đạn và bắn xuống, xe thiết giáp
266 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Linh Mục Lê Văn Hộ (hàng đầu, trái) chụp chung với Dân Biểu Nguyễn Lý Tưởng và các bạn sáng mồng một Tết Mậu Thân 30-1-1968. từ trong thành chạy ra đuổi Việt Cộng trên đường phố. Xác chết đầy đường, đến sáng thì Việt Cộng rút lui và quân đội ta tiếp tục truy kích chúng cho đến chiều hôm sau, tức là chiều mồng một Tết, các nhà mới đốt pháo ăn mừng. Sáng mồng hai Tết, anh em đi tìm dấu vết, phát hiện có vết máu trên bờ cỏ cạnh lũy tre. Từ đó tìm dần ra ruộng và gặp một nấm đất mới. Đào lên thì thấy có một xác Việt Cộng bị trúng đạn ngay tim. Người chết chỉ mặc một quần đùi, cổ còn buộc một sợi dây, mình bọc trong một cái ponchot của lính Mỹ (loại bằng sợi nylon do Mỹ sản xuất thường thấy bán ở các chợ trời Sàigòn). Bọn chúng phá một cái lỗ xuyên qua bờ tre để chui vào và tránh các lối đi chính vì sợ gặp nghĩa quân của ta. Trước tình hình sôi động như thế, chúng tôi hô hào anh em trong làng chặt tre, rào làng để phòng thủ theo kiểu “ấp chiến lược”. Sau đó tôi cùng một số anh em lên tỉnh để xin tăng cường hỏa lực. Đại Tá Nguyễn Ấm, Tỉnh Trưởng Quảng
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 267 Trị đã ra lệnh cho Tiểu Khu cấp cho anh em nhiều đạn được, lựu đạn, súng phóng lựu, hỏa tiễn chống Tank M.72, súng trung liên v.v... Tôi được Đại Tá Tỉnh Trưởng cho biết có công điện của Quốc Hội yêu cầu Quân Đoàn I và các tỉnh liên lạc với các Dân Biểu địa phương mời về Sàigòn họp khẩn cấp. Anh em mang vũ khí, đạn dược trở về làng ngay cho kịp trước khi trời tối. Còn tôi đi theo các Dân Biểu Nguyễn Văn Triển, Trương Đình Tư và Nghị Sĩ Hoàng Xuân Tửu ra phi trường Ái Tử lên máy bay vào Đà Nẵng gặp Trung Tướng Hoàng Xuân Lãm và sau đó vào Sàigòn. 3. TIỂU ĐOÀN K.8 CỦA VIỆT CỘNG TẤN CÔNG DƯƠNG LỘC HÔM 9-2-1968 (11 THÁNG GIÊNG MẬU THÂN) Sau khi Việt Cộng tấn công vào thị xã Quảng Trị sau giờ giao thừa Tết Mậu Thân bị thất bại và bị quân đội Việt Nam Cộng Hòa truy kích, chúng kéo về vùng quê và gia tăng áp lực, uy hiếp các xã ấp của ta. Qua đài Giải Phóng, chúng loan tin đã chiếm trọn thành phố Huế, thiết lập chính quyền Cộng Sản và cho ra đời Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình do Lê Văn Hảo làm Chủ Tịch, Thượng Tọa Thích Đôn Hậu và bà Nguyễn Đình Chi làm Phó Chủ Tịch. Tin tức đó được các đài BBC và VOA xác nhận làm cho tinh thần anh em nghĩa quân cũng như cán bộ và đồng bào trong vùng quê tôi rất căng thẳng. Cách làng tôi một cánh đồng, anh em nghĩa quân làng Phú Tài bị áp lực của địch rất mạnh nên rút về tạm trú tại làng tôi. Anh em đã chọn ngôi nhà của tôi, một ngôi nhà xây bằng gạch kiên cố trên một địa thế đất cao, chung quanh có lũy tre bao bọc để làm vị trí cố thủ. Tất cả mười hai cây súng, họ đã đào hố cá nhân chung quanh vườn và sẵn sàng chiến đấu khi có địch đến. Kể từ hôm mồng hai Tết, anh em nghĩa quân và thanh niên trong làng tôi đã chặt tre, rào làng, tăng cường kẽm gai làm chướng ngại vật, đào hố cá nhân và lập lại các đường liên lạc bí mật từ vườn nhà này qua vườn nhà khác, chỉ định những nơi cất giấu đạn dược và lựu đạn, gài mìn claymore tự động do anh em tự nghĩ ra cách dùng pin có nối dây điện ở xa, khi địch chạm vào dây thì mìn phát nổ v.v... Những mật khẩu,
268 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng mật hiệu đã được ban ra cho mọi người thi hành vào ban đêm khi hữu sự. Lực lượng nghĩa quân và thanh niên trong làng có khoảng chừng một Trung Đội với hỏa lực đặc biệt mạnh nhờ tiểu khu Quảng Trị tăng cường hôm mồng hai Tết vừa rồi cộng thêm Tiểu Đội nghĩa quân làng Phú Tài đến tăng cường. Anh em ở trong tư thế sẵn sàng chiến đấu. Cách đó chừng một cây số có đồn nghĩa quân xã Triệu Thuận với một Trung Đội trang bị khá chính quy và nghĩa quân các làng lân cận như Dương Lệ Văn, Dương Lệ Đông, Đại Lộc là những làng nổi tiếng chống Cộng từ 1945 đến nay. Khi hữu sự thì tiếp viện cho nhau. Làng Dương Lộc ở trên một địa thế phòng thủ khá thuận lợi, trước mặt làng là một hồ rau muống có nước ăn thông với một nhánh của sông Thạch Hãn, hai đầu làng có hồ nước, phía sau làng có hào sâu bề ngang 5 mét, nước ăn thông với sông, mùa Tết luôn có nước bao bọc chung quanh làng. Trong làng có hai nhà thờ, một để kính các vị tử đạo năm 1885 thời Văn Thân, hiện còn di tích mồ chôn tập thể 2500 nạn nhân, hai là nơi sinh hoạt hằng ngày của con chiên, Linh Mục Lê Văn Hộ ở nơi đó. Thánh đường này được xây cất vào năm 1918 nằm chính giữa làng. Anh em nghĩa quân thường tập họp trước sân nhà thờ rồi mới phân tán đi các nơi trong làng. Địch muốn tiến vào làng, trước tiên phải vượt qua hồ nước rồi đến lũy tre làng. Cổng vào làng và các đường cấm, ban đêm cũng có gài mìn và lựu đạn, có cửa khóa lại chắc chắn... Tiểu đoàn K.8 của Việt Cộng đã chia làm ba cánh quân tiến vào làng. Chúng không vào bằng đường cái trước mặt mà đánh vào phía sau và hai bên hông. Cánh quân phía Đông tấn công vào vườn nhà tôi ở. Chúng dùng dao, rựa chặt tre, mở đường. Anh em nghĩa quân Phú Tài đóng chốt ở đó đã chiến đấu rất hăng say. Việt Cộng đã dùng B.40, B.41 có sức công phá rất mạnh, bắn vào nhà dưới làm sụp đổ một bức tường. Nghĩa quân có người bị thương nên rút lui. Nhà của bác tôi bên cạnh, cũng xây gạch trong khu vườn cao có lũy tre bao bọc, nơi đây có một toán nghĩa quân do ông Dương Văn Liêm chỉ huy. Khi thấy Việt Cộng áp sát vào vườn nhà tôi, ông Liêm liền bắn một trái đạn M.72, loại hỏa tiễn chống xe tăng của Mỹ. Tiếng nổ lớn và cột khói bốc lên ngút trời ngay góc vườn
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 269 nhà tôi khiến cho họng súng của Việt Cộng bên ngoài câm ngay. Chúng biết bên trong có hỏa lực mạnh và có lẽ chúng đã bị tổn thất nặng nên chúng phải rút lui, tìm đường xâm nhập khác. Cạnh làng tôi về hướng Đông là làng Dương Lệ Văn có nghĩa quân hoạt động hai bên yểm trợ cho nhau nên Việt Cộng không thể xâm nhập qua hướng đó được. Chúng phải từ cánh đồng sau lưng làng tôi vào và đánh ngay vào nhà tôi cũng ở hướng Đông. Hướng Bắc từ cánh đồng phía sau làng, Việt Cộng đã xâm nhập vào xóm giữa làng và chúng cũng đã gặp ngay ổ trung liên của anh Hoàng và nhóm nghĩa quân phòng thủ ở đấy. Chúng phải chuyển hướng qua vườn khác nhưng đến đâu đều bị lựu đạn ném ra hoặc những loạt đạn từ gốc tre, bụi cây bắn ra. Anh em nghĩa quân di chuyển từ vườn này qua vườn khác theo các đường liên lạc bí mật khi hữu sự. Họ ẩn núp dưới hào tre trong vườn, đã gây thiệt hại cho Việt Cộng rất nhiều. Sáng hôm sau, Việt Cộng đã vào nhà ông Dương Văn Hóa, con trai của ông là Dương Văn Cung mới 17 tuổi, xách súng chạy trốn ngoài vườn, chúng không thấy. Trong khi đó, chú của Cung là Dương Văn Hiên không biết Việt Cộng đã vào nhà mình nên từ ngoài vườn, ông đã xách súng chạy dọc theo bờ ao và đã bị địch hạ sát. Cung chạy qua một bức vườn khác và phát hiện Việt Cộng đang tụ tập đồng bào tại nhà thầy giáo Nguyễn Văn Huỳnh để tuyên truyền. Cung ôm lựu đạn bò theo hồ cá trong vườn để tấn công chúng. Anh bị hai tên V.C núp ở bên ngoài phát hiện. Ngay khi anh vừa tung lựu đạn ra thì một loạt AK đã bắn xối xả vào người anh. Anh ngã gục trên bờ hồ và quả lựu đạn rơi xuống nước. Từ hướng Tây giáp ranh làng An Lợi, lực lượng phòng thủ của ta hơi yếu nên Việt Cộng đã vào làng một cách dễ dàng. Chúng đột nhập vào nhà ông Nguyễn Cao Ơn, em Vọng, 17 tuổi, học sinh, con ông Ơn đang nằm trên trần nhà, nơi kho lúa hai tay cầm hai quả lựu đạn... nếu bị phát hiện thì anh sẽ tung lựu đạn. Mấy tên Việt Cộng vào nhà kêu gọi nhưng không có ai trả lời. Một “chiến sĩ gái” mang AK chạy xuống bếp lục lạo. Hắn mở chạn đựng thức ăn, tìm được nồi thịt kho, bánh tét v.v... Hắn đưa tay bốc ăn lia lịa. Ăn xong hắn đi ra cổng. Vọng thấy chúng đi rồi liền từ trần nhà trụt xuống, chạy
270 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng ra đến giữa sân thì gặp một toán Việt Cộng đi ngang qua, chúng hô: “Đứng Lại! Đưa tay lên!” nhưng Vọng đã vội giấu hai quả lựu đạn sau lưng và lùi dần vào sau đống rơm. Bọn Việt Cộng không ngần ngại, chạy thẳng vào cổng. Từ sau đống rơm, Vọng tung một lượt cả hai quả lựu đạn đã mở chốt. Hai tiếng nổ cách nhau chỉ một vài giây, tất cả bọn Việt Cộng đó đều ngã gục tại chỗ. Vọng bèn chạy vào nhà, mở cửa sau chui qua vườn nhà bác Cửu Đông trốn mất. Phong con bác Nguyễn Đường, một nghĩa quân rất trẻ và rất can đảm. Anh đã gài sẵn mìn claymore bên bờ ao. Khi thấy một toán Việt Cộng đang di chuyển vào đường hẽm, anh tìm cục pin để châm ngòi nhưng pin không có trong túi. Anh bèn theo đường liên lạc chạy vào nhà cố Đoàn hỏi mượn cục pin. Sau đó anh chạy ngược trở lại vừa lúc bọn Việt Cộng đang đi tới, theo hàng một. Phong nối dây vào cục pin và cho mìn nổ. Toán Việt Cộng nằm lăn lóc trên đường hẽm cạnh vườn nhà ông Dương Văn Hoành, Dương Văn Đại, chết không sót một tên. Người nhà ông Hoành, ông đại kể lại rằng về sau mỗi đêm ma quỷ thường xuất hiện ở ngoài bờ ao kêu rên thảm thiết. Việt Cộng vào nhà bác Nguyễn Cao Định. Hai em Đạt và Anh mới 13, 14 tuổi, dáng người nhỏ bé, lợi dụng lúc Việt Cộng không để ý, Anh ném lựu đạn, Đạt cũng ném theo một quả nữa rồi cả hai bỏ chạy. Mấy tên Việt Cộng chết ngay giữa sân. Khi Việt Cộng tiến vào làng, anh em nghĩa quân và thanh niên rút ra ngoài làng, chiếm lấy khu nghĩa địa để chiến đấu. Nghĩa quân xã Triệu Thuận do xã trưởng là Đoàn Quang Sum từ hướng làng Dương Lệ Đông kéo đến tiếp viện, họ đã dùng máy truyền tin liên lạc với nghĩa quân Dương Lộc ở khu nghĩa địa. Trong lúc đó, Đại Úy Lê Đình Chiếm (2) về nghỉ phép tại làng Đại Lộc cùng anh em nghĩa quân hai làng Đại Lộc và Dương Lệ Đông (xóm đạo) kéo đến tăng cường cho anh em tại khu nghĩa địa đang lập một phòng tuyến trước mặt làng Dương Lộc. Một số anh em còn kẹt lại trong làng chạy ra trước mặt làng, lội qua hồ rau muống để qua khu nghĩa địa. Anh em phía trước bắn yểm trợ để cho anh em trong làng chạy ra. Tất cả nghĩa quân và thanh niên đã ra khỏi làng hợp
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 271 với nghĩa quân xã và các làng lân cận lên đến cả trăm người, hai bên đánh nhau giữa ban ngày. Việt Cộng không dám tấn công, chỉ dùng súng cối bắn vào khu vực của ta mà thôi. Từ xa chúng phát hiện cần anten nơi máy truyền tin của anh Lê Đình Chiếm và đã bắn súng cối vào đó. Phe ta liền hạ cần anten xuống và di chuyển qua nơi khác. 4. LINH MỤC LÊ VĂN HỘ BỊ BẮT, BỊ CHÔN SỐNG Lúc bấy giờ Việt Cộng đã chiếm được toàn làng, chúng vào từng nhà kiểm soát giấy tờ, đồ đạc, gom dân lại một nơi. Khi chúng vào nhà thờ, không thấy anh em nghĩa quân đâu vì họ đã kéo nhau đi hết rồi. Chúng gặp Linh Mục Lê Văn Hộ và hỏi: - Anh làm gì ở đây? - Tôi là Linh Mục ở nhà thờ này. - Bọn Ngụy trốn ở đâu hết? - Đây là nhà thờ Công Giáo, không phải đồn lính. Họ không ở đây. - Chúng tôi mới thấy bọn chúng chạy vào đây! - Xin các ông cứ đi lục soát. - Anh che chở cho bọn chúng phải không? - Bổn phận của tôi là lo việc đạo, tôi không biết công việc của họ. - Anh ngoan cố, anh đi theo chúng tôi. Chúng bắt Cha cởi bỏ áo nhà tu và chỉ còn bộ đồ bà ba ở bên trong. Chúng dẫn người đi và sau đó chúng đưa người đến sân nhà tôi. Trong khi hai bên đánh nhau, mẹ tôi và chị em, con cháu trong nhà chạy ra núp ở dưới ao tre. Trời mùa Đông, ao ngập nước, mẹ tôi bị ướt lạnh chịu không nổi. Vừa dứt tiếng súng, mọi người liền mò vào nhà. Cháu Nguyễn Văn Tiếp, mới 13 tuổi, học sinh ở làng, thường ngày đến nhà thờ giúp lễ cho cha. Chúng hỏi em: - Bọn Ngụy trốn ở đâu? - Tôi không biết. Thoáng thấy có vật gì trong tay em Tiếp, chúng bảo: - Đưa tay ra coi. Tiếp mở tay ra, một vỏ đạn các-bin rơi xuống.
272 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng - Đạn này của ai? - Tôi lượm giữa sân. - Bọn Ngụy trốn ở đâu? Hãy khai ra mau! - Họ chạy qua đây lâu rồi. - Mi giấu súng đạn ở đâu? - Tôi không biết. - Bắt nó đi. Chị tôi chạy ra nắm lấy tay cháu Tiếp: - Cháu còn nhỏ dại, không biết gì. Cháu thấy vỏ đạn thì lượm chơi đó thôi. Xin các ông tha cho cháu. - Không được. Tên Việt Cộng gạt tay chị tôi ra và kéo cháu Tiếp đi theo chúng. Những người già cả, bọn đàn bà con nít còn lại giữa sân đứng ngơ ngác nhìn theo Cha Hộ và cháu Tiếp bị chúng dẫn đi. Chị tôi ngã lăn ra sân kêu gào thảm thiết: - Con ơi! Con ơi! Cha của Tiếp đã bị Cộng Sản giết khi cháu mới chưa đầy một năm, bây giờ đến lượt cháu bị chúng bắt đi! Khi Việt Cộng vào lục soát trong nhà tôi, chúng mở tủ, xáo tung giấy tờ sách vở, ảnh kỷ niệm của gia đình. Một “chiến sĩ gái” của “quân giải phóng” đã chạy vào buồng của chị tôi rất lâu... Khi chúng đi rồi, chị tôi mới phát hiện ra một cái quần cũ có vá mấy miếng của ai để lại và cái quần lãnh mới của chị tôi đã bay đâu mất rồi. “Chiến sĩ gái giải phóng” đó đã mặc quần lãnh mới của chị tôi đi ra mà không ai để ý. Tối hôm đó anh em nghĩa quân và thanh niên không dám về làng, họ trốn qua làng khác, trong một đêm mà phải thay đổi chỗ ngủ mấy lần, khi ở nhà này, khi nhà khác. Cuối cùng mọi người chạy lên tỉnh. Tổng kết trận đánh trong làng có 4 người chết, hai người bị bắt đi trong đó có Cha Hộ. Bọn Việt Cộng đã mang xác đồng bọn đi hết, về sau có một tên cán binh Việt Cộng bị bắt và xin được hưởng chính sách chiêu hồi, cho biết: Tiểu Đoàn K.8 của Việt Cộng đánh vào Dương Lộc hôm 9-2-1968 (11 tháng Giêng Mậu Thân) đã tổn thất 104 tên. Anh ta nói rằng: Việt Cộng sợ nhất là đụng độ với lính của Tiểu Đoàn 1 thuộc Trung Đoàn 1, Sư Đoàn 1. Ngoài ra, chúng rất ngán nghĩa quân làng Dương Lộc. Chúng vào làng này như
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 273 vào trong một trận đồ bát quái, trẻ già, trai gái đều là thành phần chiến đấu giỏi, nhà nào cũng có súng, có lựu đạn, vườn nào, ngõ ngách nào cũng có người núp trong đó để bắn lén. Từ mùa Xuân đến Hè năm 1968, quân đội Việt Nam Cộng Hòa lên tiếp mở các cuộc hành quân bình định, làng Dương Lộc đã xin Tiểu Khu Quảng Trị tăng cường quân số và hỏa lực để đóng đồn kiên cố. Tình hình an ninh được vãn hồi nhanh chóng cho đến mùa Hè 1972, khi tỉnh Quảng Trị bị quân Cộng Sản Bắc Việt chiếm đóng thì dân làng này đã bỏ hết nhà cửa, ruộng vườn, mồ mả tổ tiên chạy vào miền Nam và không bao giờ trở lại quê hương nữa. Ngày 31-5-1969, nhờ đồng bào địa phương mách bảo, bà con đã tìm được xác của Linh Mục GIUSE LÊ VĂN HỘ tại vùng biển Chợ Cạn, thuộc quận Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, vùng Việt Cộng chiếm đóng trong Tết Mậu Thân. Con cháu đã đem người về chôn tại quê nhà, làng Trí Bưu, xã Hải Trí, quận Mai Lĩnh (xưa là Hải Lăng), tỉnh Quảng Trị. KẾT LUẬN Sáng mồng một Tết Mậu Thân, chúng tôi có chụp chung với Cha Hộ một bức hình kỷ niệm, trải qua hai biến cố 1972 (mất tỉnh Quảng Trị) và 1975 (mất miền Nam), các hình ảnh tài liệu chúng tôi cất giữ bị thất lạc rất nhiều. Năm 1994, trước khi rời Việt Nam ra đi, tôi đi thăm từ giã một số anh em bà con. Tình cờ có một người trao cho tôi bức hình năm xưa anh em chúng tôi chụp chung với Cha. Người giữ bức hình đó, hiện còn ở Việt Nam đã nói với tôi rằng: - Tôi giữ hình này vì có Cha Hộ là người tôi rất thương mến nhưng trong hình này có một người mà tôi rất ngại vì Việt Cộng có thể gây khó khăn cho tôi vì tôi có liên hệ với người đó. Nhờ Cha Hộ che chở nên tấm hình này trải qua bao nhiêu năm vẫn còn. Hôm nay người đó sắp được thoát khỏi chế độ Cộng Sản rồi nên tôi hơi vững dạ một chút mà trao lại cho anh bức hình này. Anh nên mang qua Mỹ để sau này có lúc cần đến nó. Tôi hiểu ý anh ta muốn ám chỉ tôi. Ngày hôm nay, khi viết về Cha Hộ, tôi đã liên lạc với con cháu của người đang sống
274 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng rải rác khắp nơi trên đất Mỹ nhưng không một ai còn giữ được hình ảnh của người. Đây là hình ảnh duy nhất về Linh Mục Lê Văn Hộ mà tôi còn giữ được. Tôi tin rằng đây cũng là một sự an bài của Thượng Đế, của Thiên Chúa và chắc chắn có sự trợ giúp của Cha Hộ. Nam Cali ngày 8 tháng 1 năm 1998 Nguyễn Lý Tưởng
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 275 CHIẾN THẮNG ĐỐNG ĐA * Hình ảnh của vị anh hùng áo vải đất Tây Sơn đã đi vào sử sách như là một thiên tài quân sự. Cứ mỗi lần Tết đến, chúng ta lại có dịp nhắc đến chiến công oai hùng của vua Quang Trung qua trận chiến thắng Đống Đa ngày mồng 5 Tết Kỷ Dậu (30-1-1789). Hôm nay, chào đón Xuân về, chúng tôi xin cống hiến quý vị bài nghiên cứu sau đây. Những điều trình bày sau đây, dưới nhãn quan của một người nghiên cứu Sử học, căn cứ vào những sử liệu hiện có, với tinh thần khoa học, gạt ra ngoài những yếu tố tình cảm hay định kiến. 1. Hoàn cảnh lịch sử Do hoàn cảnh lịch sử Việt Nam sau khi nhà Mạc chiếm ngôi nhà Lê vào năm 1527, tiếp đến là sự phục hưng nhà Lê với Nguyễn Kim và Trịnh Kiểm vào giữa thế kỷ thứ 16 và việc tranh quyền giữa Trịnh và Nguyễn từ đầu thế kỷ 17 dẫn đến việc Nam Bắc phân tranh: vua Lê chúa Trịnh ở Đàng Ngoài và chúa Nguyễn ở Đàng Trong, nước Việt Nam bị chia cắt gần 200 năm cho đến năm 1802 mới thống nhất từ Lạng Sơn cho đến Cà Mâu (dưới thời vua Gia Long). Trong thời gian đó cuộc nội chiến kéo dài, người trong một nước giết hại lẫn nhau vì mưu đồ sự nghiệp cho dòng họ này hay dòng họ khác. Chỉ có cuộc chiến đấu chống quân Thanh xâm lược của vua Quang Trung là có chính nghĩa và được sử sách ca tụng, nhân dân thành tâm nhắc nhở, biết ơn. Tại Đàng Trong, sau khi chúa Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát chết (1765), Trương Phúc Loan thay đổi di chiếu, loại trừ Hoàng Tử Nguyễn Phúc Luân (cha của Nguyễn Phúc Ánh) để chọn Hoàng Tử Nguyễn Phúc Thuần mới 12 tuổi lên
276 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng kế vị. Tiếp theo đó là một loạt thanh trừng nội bộ trong triều đình chúa Nguyễn, một số các vị đại thần như Trương Văn Hạnh, Lê Cao Kỷ và các vị hoàng thân như Tôn Thất Cúc, Tôn Thất Dục bị hại. Lãnh đạo chia rẽ, nhân dân đói khổ vì mất mùa, vì nạn quan trên bóc lột, tham nhũng... Sách Đại Nam Thực Lục Tiền Biên (quyển 11, tờ 22) cho biết “người chết đói nằm dọc đường, trong nhà, người ta giết lẫn nhau mà ăn”... Lúc bấy giờ có Giáo Hiến (sử không nói ông họ gì), bạn thân của quan đại thần Trương Văn Hạnh. Sau khi Trương Văn Hạnh bị Trương Phúc Loan hãm hại, Giáo Hiến trốn vào đất Tây Sơn mở trường dạy học. Ông dạy cả văn lẫn võ. Trong số học trò có ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ nguyên là người họ Hồ, gốc Nghệ An vào lập nghiệp ở Tây Sơn đã bốn đời, đến đời Hồ Phi Phúc lấy bà Nguyễn Thị Đồng, người làng Kiên Thành, sinh ra anh em Nhạc, Lữ và Huệ thì đổi qua họ mẹ là họ Nguyễn. Giáo Hiến thường đem chuyện thời sự, chính trị trong nước nói với anh em Tây Sơn và khuyến khích họ khởi nghĩa. Họ cũng tin vào lời sấm: “Tây khởi nghĩa, Bắc thu công” mà Giáo Hiến truyền cho họ và tin tưởng sẽ thành công trong tương lai. 2. Tây Sơn khởi nghĩa Năm Tân Mão (1771), Nguyễn Nhạc khởi nghĩa ở Tây Sơn, huyện Phù Ly, tỉnh Bình Định, dùng chiêu bài diệt quyền thần Trương Phúc Loan, ủng hộ người cháu nội của Võ Vương là hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương, con Thái Tử Hiệu (đã chết) lên ngôi, lấy của nhà giàu phân phát cho nhà nghèo v.v... nên được dân chúng hưởng ứng. Nhờ vậy mà phong trào Tây Sơn phát triển rất nhanh, trong vòng hai năm, họ đã chiếm được các huyện Phù Ly, Bồng Sơn và tỉnh lỵ Quy Nhơn, từ đó lan dần đến các tỉnh Quảng Ngãi, Quảng Nam... Nguyễn Nhạc bắt được Nguyễn Phúc Dương ở Đà Nẵng bèn gả con gái là Thọ Hương cho ông và giam lỏng ông ở đó để lợi dụng danh nghĩa “phò hoàng tôn chống Trương Phúc Loan” nhưng ông đã trốn được vào Gia Định theo chúa Nguyễn. 3. Tây Sơn hòa với Trịnh để rảnh tay tiêu diệt chúa Nguyễn Đầu năm 1775, quân Trịnh vào đánh Phú Xuân, đêm 30
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 277 Tết, chúa Nguyễn Phúc Thuần chạy vào Gia Định. Tây Sơn phải lưỡng đầu thọ địch: quân Trịnh ở Phú Xuân đánh vào và quân Nguyễn ở Gia Định đánh ra vì thế Nguyễn Nhạc đã đầu hàng họ Trịnh. Trịnh phong cho Nguyễn Nhạc chức Tây Sơn Hiệu Trưởng Tiền Phong Tướng Quân và Nguyễn Huệ chức Tây Sơn Tráng Tiết Tướng Quân. Rảnh mặt Bắc, Tây Sơn dồn nỗ lực đánh chúa Nguyễn ở phương Nam. Tháng 10 năm Bính Thân (1777), quân Tây Sơn vào đánh Gia Định, giết được chúa Nguyễn Phúc Thuần và hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương, Nguyễn Phúc Ánh (cháu nội chúa Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát, con của Hoàng Tử Nguyễn Phúc Luân) chạy thoát được. Năm Mậu Tuất (1778) ông được các lực lượng ủng hộ chúa Nguyễn đưa lên làm Nhiếp Chính chống lại Tây Sơn. Nguyễn Phúc Ánh cầu viện quân Xiêm nhưng quân Xiêm cũng bị đánh bại (1785). Trên đường lưu vong, ông đã gặp Giám Mục Bá Đa Lộc và gởi Nguyễn Phúc Cảnh con của ông theo Bá Đa Lộc qua Pháp cầu viện, còn ông qua Xiêm tỵ nạn. Sau khi giết được chúa Nguyễn ở Gia Định (1777), Nguyễn Nhạc tự xưng làm vua lấy hiệu là Thái Đức, đóng đô ở Quy Nhơn, phong cho em là Nguyễn Lữ làm Đông Định Vương đóng ở Gia Định và Nguyễn Huệ làm Bắc Bình Vương. 4. Tây Sơn lấy Phú Xuân và tiến ra Thăng Long Ở Đàng Ngoài, sau khi Trịnh Sâm chết, nội bộ chia rẽ, lính Tam Phủ ủng hộ Trịnh Tông lên kế vị, giết Hoàng Đình Bảo, phe ủng hộ Trịnh Cán con Đặng Thị Huệ. Nguyễn Hữu Chỉnh trước đây đã từng mang ấn kiếm của chúa Trịnh vào Quy Nhơn phong cho Nguyễn Nhạc nên có quen biết anh em Tây Sơn. Lần này ông tìm vào Quy Nhơn, muốn mượn bàn tay anh em Tây Sơn trả thù cho chủ là Hoàng Đình Bảo. Nguyễn Hữu Chỉnh đã khuyên Tây Sơn nhân cơ hội này đem quân chiếm Phú Xuân. Năm 1786, sau khi chiếm được Phú Xuân rồi, Nguyễn Huệ nghe lời Nguyễn Hữu Chỉnh đem quân tiến thẳng ra Bắc với danh nghĩa “phò Lê diệt Trịnh”. Quân Tây Sơn vào Thăng Long, Chúa Trịnh Tông trên đường chạy trốn, bị bắt, dùng dao đâm cổ tự tử. Nguyễn Huệ chiếm lấy kho tàng của chúa
278 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Trịnh và tuyên bố trả quyền cai trị lại cho vua Lê Hiển Tông. Để trả ơn, vua Lê gả công chúa Ngọc Hân cho Nguyễn Huệ. Lê Hiển Tông chết, cháu nội là Lê Duy Kỳ nối ngôi tức vua Lê Chiêu Thống. Nguyễn Nhạc nghe tin Nguyễn Huệ đã ra Bắc nên vội vàng đuổi theo. Nghe tin vua Tây Sơn đến Thăng Long, vua Lê Chiêu Thống ra đón tiếp và cắt đất từ Nghệ An trở vào dâng cho Tây Sơn nhưng Nguyễn Nhạc tuyên bố: “Nếu là đất của họ Trịnh thì một tấc cũng không chừa nhưng đất của nhà Lê thì một tấc cũng không dám nhận”. Nguyễn Nhạc ở lại Thăng Long mấy hôm rồi cùng Nguyễn Huệ bí mật rút quân về không cho Nguyễn Hữu Chỉnh biết. Nguyễn Hữu Chỉnh lo sợ, bỏ Thăng Long chạy vào giữ Nghệ An. Tây Sơn đi rồi, con cháu họ Trịnh trở lại Thăng Long, một số các tướng cũ theo họ Trịnh, áp bức vua. Trịnh Bồng, Trịnh Lệ chống nhau. Lê Chiêu Thống gọi Nguyễn Hữu Chỉnh ở Nghệ An đem quân ra giúp. 5. Anh em Tây Sơn bất hòa: Nguyễn Huệ đem quân vào Quy Nhơn đánh Nguyễn Nhạc Nguyễn Huệ trở về Phú Xuân và làm chủ hơn 60 thuyền của cải thu được từ Thăng Long, chỉ chia cho Nguyễn Nhạc một phần mà thôi. Vì tranh chấp quyền lợi, anh em Tây Sơn bất hòa. Nguyễn Nhạc giữ vợ con Nguyễn Huệ ở Quy Nhơn không cho về Phú Xuân. Nguyễn Huệ đòi Nguyễn Nhạc phải trao thêm đất Quảng Nam và trả lại vợ con cho ông. Nguyễn Nhạc không chịu, do đó Nguyễn Huệ đem quân đánh Quy Nhơn. Ông cho đắp thành bằng đất bên ngoài cao ngang với thành Quy Nhơn và đặt súng đại bác bắn vào thành, sập cả tôn miếu. Nguyễn Nhạc phải ôm Nguyễn Quang Toản, con Nguyễn Huệ vào lòng, đứng trên thành nói: “Nồi da xáo thịt. Sao em nỡ làm như vậy” rồi trả lại vợ con cho Nguyễn Huệ đem về Phú Xuân. Nguyễn Nhạc tuy đã xưng là Thái Đức hoàng đế nhưng chẳng có uy quyền gì đối với một vị tướng và cũng là em ruột của ông: đó là Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ. 6. Nguyễn Hữu Chỉnh giúp vua Lê, diệt Trịnh Trong khi Nguyễn Huệ và Nguyễn Nhạc đánh nhau thì
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 279 Nguyễn Hữu Chỉnh ở Nghệ An đem quân ra Thăng Long phò Lê, diệt Trịnh. Phe ủng hộ chúa Trịnh bị Nguyễn Hữu Chỉnh đánh bại. Chúa Trịnh bỏ chạy. Vua Lê Chiêu Thống bèn cho người đốt phủ chúa. Nguyễn Hữu Chỉnh đương nhiên thay thế vai trò của chúa Trịnh ngày trước ở Bắc Hà. Được tin Nguyễn Hữu Chỉnh đi khỏi Nghệ An rồi thì Nguyễn Huệ sai Võ Văn Nhậm từ Hà Tĩnh đem quân ra chiếm Nghệ An và cho người theo dõi tình hình vua Lê ở Thăng Long. Từ tháng 11 năm 1786 đến tháng 5 năm 1787, Nguyễn Hữu Chỉnh nắm hết mọi quyền hành, không coi vua Lê ra gì. Ông còn cho người mang thư vào Phú Xuân đòi Nguyễn Huệ trả lại đất Nghệ An cho vua Lê. 7. Nguyễn Hữu Chỉnh bị Tây Sơn giết, Lê Chiêu Thống cầu viện nhà Thanh Nguyễn Huệ được tin đó bèn sai Võ Văn Nhậm (con rể Nguyễn Nhạc) và hai tướng Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân đem quân từ Nghệ An ra Bắc diệt Nguyễn Hữu Chỉnh. Ngày 1 tháng 11 Đinh Mùi (9-12-1787), quân của Nhậm vào Thăng Long, Nguyễn Hữu Chỉnh bị phanh thây còn vua Lê Chiêu Thống thì lẩn trốn trong dân chúng và lên tiếng kêu gọi cần vương, chống lại quân Tây Sơn. Một phái đoàn do Lê Quýnh cùng Thái Hậu qua Trung Hoa cầu viện nhà Thanh. Trong khi Nguyễn Huệ bận đối phó với Nguyễn Nhạc ở Quy Nhơn và Nguyễn Hữu Chỉnh ở Bắc Hà thì Nguyễn Phúc Ánh từ Xiêm trở về Long Xuyên. Nhờ Nguyễn Văn Trương giúp, xây dựng được một lực lượng mới và được Bá Đa Lộc cùng một số người Pháp có tàu chiến giúp, đã chiếm lại toàn bộ đất Gia Định. Ngày 8 tháng 8 âm lịch năm Mậu Thân (tức 7-9-1788), ông đã kéo quân vào Sàigòn. Nguyễn Lữ chạy về Quy Nhơn và chết sau đó. 8. Nguyễn Huệ giết Võ Văn Nhậm Võ Văn Nhậm thay Nguyễn Hữu Chỉnh cai trị đất Bắc Hà, ông cho lính đi lục xét từng nhà dân chúng để tìm lại các báu vật trong cung vua bị mất trong thời gian loạn lạc. Quân Tây Sơn tuy chiếm được Thăng Long nhưng lực lượng của vua Lê, chúa Trịnh vẫn còn ở các tỉnh. Đinh Tích Nhưỡng, Hoàng
280 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Viết Tuyển vẫn còn đóng quân ở vùng Hải Dương và Kinh Bắc (Bắc Ninh), vì thế ông phải huy động dân chúng ngày đêm xây thành, đắp lũy để phòng bị. Võ Văn Nhậm cũng tỏ ra hống hách khiến cho những người ra cộng tác thì mất tin tưởng, những người chưa cộng tác thì lẩn tránh, ẩn thân nơi quê nhà. Võ Văn Nhậm là con rể của Nguyễn Nhạc mà giữa Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ đã có mối hiềm khích từ khi ra Bắc trở về năm 1786, do đó mặc dù cho Võ Văn Nhậm làm trấn thủ Bắc Hà nhưng Nguyễn Huệ vẫn dặn Ngô Văn Sở theo dõi hành vi của Nhậm để mật báo cho ông biết. Theo Hoàng Lê Nhất Thống Chí (trang 173) và Đại Nam Liệt Truyện Chính Biên (quyển 30 trang 28, 30) thì Ngô Văn Sở khuyên Võ Văn Nhậm nên đặt quan cai trị đất Bắc, đừng đặt Lê Duy Cẩn làm Giám Quốc sau khi Lê Chiêu Thống bỏ trốn và đừng đóng quân ở trong thành nhưng Võ Văn Nhậm không chịu, ông muốn đặt Lê Duy Cẩn để ông đứng đằng sau điều khiển việc nước như Nguyễn Hữu Chỉnh trước đây (Lê Duy Cẩn là con của Lê Hiển Tông, anh của Ngọc Hân, người mà trước đây công chúa đã muốn đưa lên làm vua sau khi Lê Hiển Tông chết... nhưng hoàng gia lại muốn chọn cháu đích tôn của vua Lê là Lê Duy Kỳ tức Lê Chiêu Thống, theo di chiếu). Võ Văn Nhậm ngồi một chỗ ở Thăng Long và sai các tướng đi đánh dẹp các nơi. Thấy rõ tham vọng của Võ Văn Nhậm nên Ngô Văn Sở đã viết tờ trình bắt Phan Văn Lân cùng ký vào để gởi cho Nguyễn Huệ. Nhận được thư của Ngô Văn Sở, Nguyễn Huệ đã tức tốc ra Bắc. Ông đến Thăng Long vào ban đêm, không cho Võ Văn Nhậm biết, chỉ có Ngô Văn Sở ra đón. Nguyễn Huệ đến ngay dinh của Võ Văn Nhậm, cho đọc bản án tuyên bố tội trạng và sai một võ sĩ tên là Hoàng Văn Lợi thi hành bản án, chém đầu Võ Văn Nhậm ngay trước mặt ông rồi đặt Ngô Văn Sở lên thay. Nguyễn Huệ cũng thành lập ngay một Bộ Tham Mưu để giúp Ngô Văn Sở đối phó với tình hình. Bộ Tham Mưu gồm có các tướng của Tây Sơn như Phan Văn Lân, Nguyễn Văn Dũng, Nguyễn Văn Tuyết (cháu của Nguyễn Huệ)... và những người của vua Lê, chúa Trịnh theo Tây Sơn như Phan Huy Ích, Ngô Thời Nhiệm, Ninh Tốn, Nguyễn Bá Lân... Những vị khoa bảng nhà Lê không theo Tây Sơn như Bùi Huy Bích
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 281 (giữ chức Tham Tụng, tương đương Thủ Tướng), Phạm Quý Thích, Nguyễn Huy Trạc, Nguyễn Văn Hợp v.v... đã bỏ về quê hoặc lánh mặt. Nguyễn Huệ cho phép Ngô Văn Sở được quyền giải quyết mọi công việc không cần phải hỏi ý kiến của ông nhưng phải họp bộ tham mưu bàn bạc, tính toán cho thật chu đáo. Ông khuyên mọi người không được phân biệt cũ, mới, không được hiềm khích, chia rẽ. Phải bắt cho được Lê Chiêu Thống mới ổn định được tình hình ở Bắc Hà, vì thế khi nghe tin vua Lê Chiêu Thống đang lẩn tránh tại làng Chí Linh tỉnh Hải Dương trong vùng Đinh Tích Nhưỡng kiểm soát, Ngô Văn Sở liền cho một toán quân nhỏ đi bắt vua nhưng toán quân này đã bị lực lượng của Trần Quang Chiêu ở địa phương giết sạch. Sở liền cho đại binh đến nhưng vua đã trốn qua trấn Sơn Nam, ở trong nhà Trương Đăng Quỹ và nhờ lực lượng của Hoàng Viết Tuyển bảo vệ. Ngô Văn Sở bắt cha mẹ, vợ con Hoàng Viết Tuyển viết thư khuyên Tuyển ra hàng nhưng Tuyển từ chối. Sở bèn cho cha mẹ, vợ con của Tuyển ngồi thuyền đi trên sông bắc loa kêu gọi... Tuyển thấy vậy bèn rút quân nhưng bất ngờ bị bao vây, quân Tuyển tan rã, Tuyển bỏ trốn. Vua được tin đó cũng trốn vào vùng núi Thanh Hóa, Sở không tìm được. 9. Quân Thanh xâm lăng Đoàn tùy tùng do Thái Hậu, mẹ vua Lê Chiêu Thống gồm 64 người qua Trung Hoa cầu viện nhà Thanh. Tổng Đốc Lưỡng Quảng là Tôn Sĩ Nghị lợi dụng cơ hội đó đã tâu xin vua Càn Long (tức vua Cao Tông nhà Thanh) mượn danh nghĩa phò Lê để đem quân chiếm nước ta. Sách “Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục”, một bộ sử lớn nhất nước ta do Quốc Sử Quán nhà Nguyễn biên soạn trong thế kỷ 19, quyển 47 trang 32-33 trích lại một đoạn trong tờ trình của Tôn Sĩ Nghị cho biết âm mưu thâm độc của nhà Thanh như sau: “Kẻ kế vị nhà Lê phải lưu lạc, nghĩa nên cứu giúp, vả lại An Nam là đất cũ của Trung Quốc, nên sau khi khôi phục nhà Lê, hãy dùng binh mà chiếm lấy, làm như thế vừa bảo tồn được nhà Lê, vừa lấy được An Nam, một công hai việc”. Tháng 10 năm Mậu Thân (tức tháng 11 năm 1788) quân
282 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Thanh tuyển từ 4 trấn Quảng Đông, Quảng Tây, Quý Châu và Vân Nam chia làm hai đường tiến xuống nước ta: - Tôn Sĩ Nghị, Tổng Đốc Lưỡng Quảng làm Tiết Chế và Đề Đốc Hứa Thế Hanh làm Phó từ Quảng Tây đi vào Ải Nam Quan (Lạng Sơn). - Ô Đại Kinh chỉ huy đạo quân từ Vân Nam xuống vào Đào Giang tiến đến Tuyên Quang. - Sầm Nghi Đống, Tri Phủ Điền Châu chỉ huy đạo quân từ Điền Châu. - Thượng Duy Thanh, Tổng Binh Quảng Tây và Phó Tướng Khánh Thành chỉ huy quân Quảng Tây. - Trương Triều Long, Tổng Binh Quảng Đông và Phó Tướng Lý Hóa Long chỉ huy quân Quảng Đông. Theo “Đại Thanh Thông Sử” (sử của nhà Thanh) trang 137 thì quân Thanh tất cả khoảng hai vạn: Tôn Sĩ Nghị và Hứa Thế Hanh có một vạn, để lại ở Vân Nam hai ngàn còn đem vào nước ta tám ngàn. Quân của Ô Đại Kinh gồm tám ngàn, ngoài ra số người Hoa buôn bán ở nước ta cũng tập hợp được một vạn người theo quân Thanh. Các sử gia căn cứ trên các tài liệu về quân lương (lương thực tiếp tế cho lính khi hành quân) thì quân chính quy của nhà Thanh khoảng hai vạn cộng với quân mới tuyển chừng một vạn. Quân nhà Lê ở các tỉnh khoảng mười vạn người. Tính chung tất cả quân Thanh và quân của nhà Lê là mười ba vạn. Theo sử của ta thì quân Thanh có hai mươi vạn. Sử nhà Thanh cũng nói rõ, khi Tôn Sĩ Nghị vào nước ta đã ra một thông báo nói là quân Thanh có năm mươi vạn, mục đích hư trương thanh thế, làm cho đối phương mất tinh thần chiến đấu. Tôn Sĩ Nghị đã ban hành tám điều luật căn bản cho lính như sau: 1. Phải nghiêm chỉnh không được cướp bóc. 2. Phải cẩn thận kẻo bị mai phục. 3. Chỗ đóng quân phải vững chắc và phải đề phòng. 4. Phải có biện pháp hữu hiệu đánh với voi. 5. Dùng lá chắn bằng da trâu sống để chống hỏa hổ. 6. Phải làm cầu phao để qua sông, khi lội qua sông cạn phải giữ thuốc súng để khỏi bị ướt. 7. Củi, than, rau phải mua, không được cướp; nếu đi hái
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 283 phải đề phòng; nước uống phải tránh nước độc. 8. Các quan phải coi xét việc hưu tuất (trợ cấp cho lính), phu và lính phải tử tế với nhau. Căn cứ vào các sử liệu của nhà Thanh, chúng ta thấy Tôn Sĩ Nghị là người cẩn thận, không xem thường quân Tây Sơn. Trấn Thủ Thăng Long là Ngô Văn Sở được tin, bèn họp các quan cũ nhà Lê bắt làm thư mang lên Ải Nam Quan cho Tôn Sĩ Nghị nói rằng trong lúc vua Lê Chiêu Thống mất tích tìm chưa ra, hào kiệt trong nước đã cử Lê Duy Cẩn (chú ruột của vua) lên làm Giám Quốc, xin hứa sẽ triều cống Trung Hoa và sẽ rước Thái Hậu trở về..., mục đích để tìm kế hoãn binh nhưng Ngô Thời Nhiệm lại đề nghị rút quân cả thủy lẫn bộ về núi Tam Điệp và Biện Sơn để bảo toàn lực lượng, tránh đụng độ lúc ban đầu, đợi Nguyễn Huệ đem quân ra tăng cường, vừa để chờ xem thái độ quân Thanh và phản ứng của dân chúng như thế nào. Kế hoạch này về phương diện tâm lý chính trị đã làm cho địch trở nên kiêu căng, khinh thường không đề phòng. Dân chúng cũng cần có thời gian để hiểu rõ bộ mặt thật giả nhân, giả nghĩa của quân Thanh và vai trò bù nhìn của vua Lê, từ đó mới ủng hộ cuộc chiến đấu chống xâm lăng của Tây Sơn. Như chúng ta đã thấy, kế hoạch này về sau quả thật linh nghiệm và Sở đã nghe theo lời của Ngô Thời Nhiệm. Phái bộ Nguyễn Quý Nho được phái mang thư đến Nam Quan cho Tôn Sĩ Nghị đã không liên lạc được với quân Thanh vì cửa biên giới bị đóng và quân Thanh đã vào Đại Việt rồi nên phải quay trở về Thăng Long. Riêng Phan Văn Lân không chịu thi hành lệnh rút quân, ông đã đem quân đến sông Thọ Xương và đụng độ với đoàn quân Quảng Tây của Thượng Duy Thanh rồi đoàn quân Quảng Đông của Trương Triều Long. Quân ta phải rút lui. Phan Văn Lân ra lệnh phá cầu phao. Địch kết bè qua sông. Từ ngày 13 tháng 11 Mậu Thân (1788) bắt đầu đụng độ với quân Thanh cho đến ngày 17, quân ta phải rút lui nhiều đợt. Đêm 19, quân ta lại phản công. Hứa Thế Hanh đích thân chỉ huy, cướp được một số thuyền nhỏ khoảng ba mươi chiếc và chở được hai ngàn lính qua sông. Quân Thanh xông vào đốt trại Tây Sơn, quân ta bỏ chạy tán loạn. Có người chạy vào
284 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng các làng lân cận nhưng sáng hôm sau đều bị dân chúng bắt nộp cho quân Thanh. Riêng Phan Văn Lân thì phi ngựa chạy về Thăng Long rồi theo Ngô Văn Sở rút về Tam Điệp. Việc thất trận của Lân, Ngô Văn Sở giấu không cho mọi người biết. Ngày 20 tháng 11 Âm Lịch (Mậu Tuất), quân Thanh vượt qua sông Hồng Hà. Lúc đó quân Tây Sơn đã rút đi xa và ngày 21 đã tới Tam Điệp an toàn. Quân Thanh vào Thăng Long như chỗ không người. Vì chiến thắng quá dễ dàng nên họ đã trở nên kiêu căng và không còn nhớ đến tám điều quân lệnh của Tôn Sĩ Nghị nữa. 10. Dân chúng bất mãn về Lê Chiêu Thống và quân Thanh Nghe tin quân Thanh vào nước ta, Lê Chiêu Thống thì cho Lê Duy Đản mang thư lên tận biên giới chào mừng và xin lỗi vì bị bệnh không đến được. Khi được tin quân Tây Sơn đã rút khỏi Thăng Long, vua cho các tướng đem nghĩa quân đi đóng giữ các nơi và chỉ giữ lại một ngàn quân để làm cận vệ. Khi quân Thanh vào Thăng Long thì vua từ Kinh Bắc cũng trở về theo sau quân Thanh. Vua cho người mang trâu, rượu đến dâng cho quân Thanh để khao quân. Ngày 20 tháng 11 Mậu Thân (1788), quân Thanh vào Thăng Long, các cựu thần và hoàng tộc nhà Lê ra đứng hai bên đường cùng dân chúng lạy tạ. Ngày 22 tháng 11 âm lịch, Tôn Sĩ Nghị đọc tuyên chiếu của vua nhà Thanh phong cho Lê Chiêu Thống làm An Nam quốc vương. Vua quỳ giữa sân điện Kính Thiên để nhận sắc phong. Vua thảo tờ biểu tạ ơn dâng lên vua Thanh, hứa sẽ đích thân sang chúc thọ bát tuần của Càn Long (1790, Canh Tuất)... Mỗi ngày vua phải thân hành đến dinh của Tôn Sĩ Nghị đợi lệnh. Cựu thần nhà Lê lục tục kéo về, họp nhau lên án những người theo Tây Sơn hoặc không hết lòng với vua khi vua lâm hoạn nạn. Họ cho như thế là đã yên thân rồi và không ai nghĩ đến chuyện đánh Tây Sơn. Vua quan nhà Lê cũng như quân Thanh tha hồ yến tiệc liên hoan. Bọn người Hoa sinh sống buôn bán ở nước ta tập hợp nhau thành một đạo quân, chúng dẫn đường cho quân Thanh đi cướp bóc, hãm hiếp dân lành. Hoàng Lê Nhất Thống Chí (ký sự lịch sử của Ngô Gia Văn Phái) viết rằng: “Giữa đồng, giữa chợ, họ (quân Thanh) cũng cướp giật tiền bạc, hãm hiếp đàn bà con gái không kiêng sợ gì”. Vua Lê
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 285 cũng biết những chuyện đó nhưng không dám kêu trách! Dân chúng và trí thức Bắc Hà chán nản, thất vọng, lòng người ly tán... Trong tình thế đó, quân Tây Sơn trở lại, đánh đuổi quân Thanh, chắc chắn sẽ được dân chúng ủng hộ. Theo chỉ thị của Càn Long gởi cho Tôn Sĩ Nghị thì quân Thanh chỉ đóng quân không đuổi theo Tây Sơn, chờ Tây Sơn đánh nhau với quân nhà Lê. Nếu Nguyễn Huệ thua thì đặt nhà Lê lên, nếu Nguyễn Huệ thắng thì sẽ đánh Huệ, sau đó, chia nước làm hai. Từ Nghệ An trở ra trao cho vua Lê, từ Nghệ An trở vào trao cho Nguyễn Huệ... Quân Thanh chia ra đóng ở các đồn Hạ Hồi, Ngọc Hồi, Vân Điển và Khương Thượng, quân nhà Lê đóng ở Giản Thủy. Theo kế hoạch thì quân Thanh nghỉ ngơi, ăn Tết xong mới nói đến chuyện hành quân đi đánh Tây Sơn. 11. Nguyễn Huệ đối phó với quân Thanh Ngô Văn Sở cho Nguyễn Văn Tuyết (tức Đô Đốc Tuyết, cháu của Nguyễn Huệ) vào Phú Xuân báo cáo tình hình Bắc Hà cho Nguyễn Huệ. Được tin quân Thanh đã vào nước ta, Nguyễn Huệ thét lên: “Đồ chó má ấy, sang đây để mà chết” (theo Vãn Lê di sử tr. 66). Để cho danh chính ngôn thuận, Nguyễn Huệ đã quyết định lên ngôi hoàng đế, ông đã đổi tên là Nguyễn Quang Bình và lấy niên hiệu là Quang Trung. Việc đó có hai ý nghĩa: - Thứ nhất từ đây ông không còn là Nguyễn Huệ, em của Nguyễn Nhạc. - Thứ hai ông cũng không còn là Bắc Bình Vương, tướng của vua Thái Đức. Không còn liên hệ gì với Nguyễn Nhạc, có nghĩa là không còn phải tuân lệnh của Nguyễn Nhạc, không còn chịu trách nhiệm về những việc làm sai trái, mất chính nghĩa của Nguyễn Nhạc. Bây giờ, ông là một nhân vật mới của giai đoạn lịch sử mới. Ông là Hoàng Đế của một giang sơn mới, có dân, có lãnh thổ, có triều đình và quân đội riêng để có thể nhân danh đất nước của mình, nhân danh dân tộc của mình mà hành động hợp với chính nghĩa bảo vệ tổ quốc, chống xâm lăng. Sử sách xưa như Hoàng Lê Nhất Thống Chí hay là sử nhà Nguyễn thường gọi Nguyễn Huệ là “Bình” khởi đi từ đó. Bình đây
286 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng không phải là Bắc Bình Vương mà là Nguyễn Quang Bình. Các con của ông cũng lấy tên Nguyễn Quang như Nguyễn Quang Toản, Nguyễn Quang Thùy v.v... Ông cho lập đàn, tế cáo trời đất và lên ngôi Hoàng Đế. Ngày 25 tháng 11 âm lịch năm Mậu Thân (22-12-1788) một cuộc diễn binh được tổ chức dưới chân núi Ba Vành (phía Nam Ngự Bình). Ông đọc tuyên cáo kêu gọi binh sĩ chiến đấu chống xâm lăng: ”...Quân Thanh sang xâm lấn nước ta hiện ở Thăng Long, các ngươi đã biết chưa? Trong khoảng vũ trụ, trời nào sao ấy, đều đã phân biệt rõ ràng. Phương Nam, Phương Bắc chia nhau mà cai trị... Từ đời Hán đến nay, chúng đã mấy phen cướp bóc nước ta, giết hại nhân dân, vơ vét của cải, người mình không thể chịu nổi, ai cũng muốn đuổi chúng đi. Đời Hán có Trưng Nữ Vương, đời Tống có Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, đời Nguyên có Trần Hưng Đạo, đời Minh có Lê Thái Tổ, các ngài không nỡ ngồi nhìn chúng làm điều tàn bạo, nên đã thuận lòng người dấy nghĩa binh, đều chỉ đánh một trận là thắng và đuổi chúng về phương Bắc. Ở các thời kỳ ấy, Bắc Nam riêng phận, bờ cõi lặng yên, các vua truyền ngôi lâu dài. ...Nay người Thanh lại sang, mưu đồ lấy nước Nam ta đặt làm quận huyện, không biết trông gương mấy đời Tống, Nguyên, Minh ngày xưa. Vì vậy, ta phải kéo quân ra đánh đuổi chúng về” (Hoàng Lê Nhất Thống Chí). Ngày 29 tháng 11 Mậu Thân (1788), Vua Quang Trung chỉ huy đạo quân Thuận Quảng lên đường từ Huế ra Nghệ An. Đây là đạo quân tinh nhuệ đã giúp vua bách chiến bách thắng trong các trận đánh bại quân Xiêm, quân Trịnh và mới đây đánh Nguyễn Nhạc ở Quy Nhơn. Trong đạo quân này có voi, ngựa, thuyền lớn v.v... Tới Nghệ An, ở lại đó 10 ngày để tuyển thêm quân, cứ ba người dân thì chọn một người khỏe mạnh cho làm lính. Đất Nghệ Tĩnh vốn là đất anh hùng, không thiếu gì hạng trai tráng khỏe mạnh, biết võ nghệ, biết chiến đấu. Còn những người dân ở hai bên bờ sông Gianh cũng đã từng quen chinh chiến hàng trăm năm rồi. Quang Trung chỉ cần huấn luyện cấp tốc những điều căn bản là họ có thể chiến đấu. Tại đây ông cũng đã tiếp xúc với La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp, một danh sĩ đương thời, ẩn dật không hợp tác với họ Trịnh. Nguyễn Thiếp đã hiến kế và cho rằng kế hoạch
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 287 của Ngô Thời Nhiệm đưa ra là hợp lý. Vua Quang Trung có trong tay khoảng mười vạn quân và trên dưới hai trăm con voi (có tài liệu nói hơn 100 voi). Lính Thuận Quảng làm tiền quân và lính Nghệ An làm Trung Quân. Thời xưa chỉ có vua và tướng mới đi ngựa hay voi. Lính phải đi bộ. Vua ra lệnh cứ ba người lính thì dùng một cái cáng, hai người gánh, một người nghỉ, thay nhau đi suốt ngày đêm cho mau. Từ Huế ra đến Tam Điệp khoảng 500 cây số chỉ đi trong mười hôm (nghỉ ở Nghệ An 10 hôm để tuyển thêm quân). Hơn 20 ngày sau, tức 20 tháng chạp, quân đến Tam Điệp. Vua gặp Ngô Văn Sở và Ngô Thời Nhiệm khen kế hoạch Ngô Thời Nhiệm đưa ra. Vua cũng không trách phạt Phan Văn Lân thua trận. Sau khi bố trí kế hoạch hành quân, ngày 30 tháng Chạp trong khi cho lính ăn Tết trước, vua Quang Trung tuyên bố: “Nay hãy làm lễ ăn Tết Nguyên Đán trước, đợi đến sang Xuân, ngày mồng 7 vào thành Thăng Long sẽ mở tiệc lớn. Các ngươi hãy ghi nhớ lấy lời ta xem có đúng không?”. Lời tuyên bố đầy tin tưởng đầy quyết thắng ấy làm nức lòng binh sĩ, làm cho họ hăng say chiến đấu và đã đem lại thắng lợi. Vua Quang Trung cũng gởi cho Tôn Sĩ Nghị một bức thư chê Nghị là quan văn mà dám đem quân sang Đại Việt... Theo kế hoạch thì: - Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân chỉ huy Tiền Quân đi tiên phong. - Hô Hổ Hầu lãnh Hậu Quân tiếp ứng cho Tiền Quân. - Đại Đô Đốc Lộc và Đô Đốc Tuyết chỉ huy Hữu Quân cùng Thủy Quân đi đường biển vào sông Lục Đầu. Đô Đốc Tuyết sẽ kiểm soát vùng Hải Dương, Đô Đốc Lộc kiểm soát vùng Lạng Giang, Phượng Nhãn, Yên Thế chặn đường quân Thanh chạy về. - Đô Đốc Bảo và Đô Đốc Mưu chỉ huy Tả Quân và Tượng Quân đi đường núi xuống mặt phía Tây, vào Chương Đức, làng Nhân Mục, huyện Thanh Trì đánh đạo quân Điền Châu. Đô Đốc Bảo chỉ huy đoàn voi theo đường huyện Sơn Lãng ra Đại Áng tiếp ứng cho mặt tả. - Vua Quang Trung chỉ huy Trung Quân, vượt Sơn Nam, tấn công vào Bộ Chỉ Huy của Tôn Sĩ Nghị. Quân ta lên đường vào 30 Tết, trong lúc quân Thanh còn
288 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng đang vui chơi ăn Tết không hay biết và cũng không đề phòng. Đến đồn Giản Thủy, Tướng nhà Lê là Lê Phùng Nghĩa, trấn thủ Sơn Nam đóng ở đó, không đánh mà đã bỏ chạy. Đêm 3 Tết, quân ta đến vây đồn Hà Hồi, tiền đồn của Ngọc Hồi (huyện Thường Tín, Hà Đông), nửa đêm dùng loa hô một tiếng, quân sĩ dạ vang. Địch sợ cuống quít xin hàng, ta tịch thu nhiều quân trang, khí giới. Trận này quân ta chiến thắng quá dễ dàng. Tại đồn Ngọc Hồi, quân Thanh bố trí phòng thủ kiên cố, có thành lũy chắc chắn, trên thành có đặt đại bác, bên ngoài vòng rào có địa lôi. Vua Quang Trung ra lệnh kết ba tấm ván thành một bức, bện rơm ướt cho mười người khiêng đi trước, mang theo đoản đao. Có 20 người theo sau với đầy đủ khí giới. Voi tiên phong mở đường tiến vào. Gần sáng mồng 5, quân ta đánh đồn Ngọc Hồi. Trong đồn không liên lạc được với Hà Hồi nên không biết Hà Hồi đã bị quân ta chiếm. Đạn trong đồn Ngọc Hồi bắn ra như mưa. Voi của ta xông vào phá lũy, lính theo sau, gần giáp địch thì bỏ ván, nhảy ra đánh cận chiến, dùng đoản đao rất lợi hại. Toán sau với đầy đủ khí giới cũng xông vào. Quân Thanh bị chết rất nhiều, trốn ra ngoài đạp trúng địa lôi của ta mai phục và bị voi của ta chà đạp... Ngọc Hồi cách Thăng Long khoảng 14 cây số là một căn cứ chiến lược quan trọng, do Hứa Thế Hanh là Phó Tướng của Tôn Sĩ Nghị chỉ huy. Các đồn Vân Điển, Yên Quyết gần đó cũng bị quân ta chiếm. Các Tướng Hứa Thế Hanh, Trương Triều Long, Thượng Duy Thanh của nhà Thanh đều tử trận. Tôn Sĩ Nghị ở Thăng Long được tin báo liền cho Dương Hồng Nghiệp cùng 20 kỵ sĩ, có hai người Việt Nam là Phạm Khải Đức và Lê Quang Châu theo để thăm dò tình hình nhưng không kịp nữa rồi vì quân Tây Sơn đã đến Thăng Long với cờ dong, trống mở, đại bác nổ rền trời. Tôn Sĩ Nghị không kịp mang áo giáp, thắng yên cương, lên ngựa chạy về hướng Bắc, bỏ lại cả ấn tín và giấy tờ quan trọng. Tại Yên Phụ, thấy lính của mình chạy qua cầu quá đông nên Tôn Sĩ Nghị ra lệnh cắt đứt cầu để chạy cho nhanh và tránh quân Tây Sơn đuổi theo. Lính Thanh rơi xuống sông, chết rét, chết đuối rất nhiều. Chạy đến Phượng Nhãn (Bắc Ninh) bị Đô Đốc Lộc đuổi, phải chạy tiếp không nghỉ chân được. Thuật lại lời của một vị Tướng
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 289 dưới quyền của Tôn Sĩ Nghị, sách “An Nam Quân Doanh Kỷ Yếu” của Trần Nguyên Nhiếp viết rằng: “Tôi với Chế Hiếu (Tôn Sĩ Nghị) đói cơm, khát nước, không kiếm đâu ra được ăn uống, cứ phải đi suốt bảy ngày, bảy đêm mới đến Trấn Nam Quan”. Đạo quân Vân Nam và Quý Châu đóng ở vùng Phú Thọ, Vĩnh Yên nghe tin Tôn Sĩ Nghị đã bỏ chạy cũng rút quân chạy về. Vua Quang Trung ra lệnh cho quân ta đuổi theo cho đến tận biên giới. Người Hoa ở gần Lạng Sơn thấy quân Thanh rút chạy vội vàng như thế cũng bỏ nhà cửa kéo nhau chạy theo, từ cửa ải về phía Bắc mấy trăm dặm không có một bóng người. Sầm Nghi Đống ở gò Đống Đa (gần Thái Hà Ấp, bên ngoài thành Thăng Long) vì không biết tình hình nên chống cự lại quân ta. Hai bên đánh nhau từ sáng đến chiều, quân Thanh không có viện binh, Sầm Nghi Đống lên đồi thắt cổ tự tử. Chỗ đó gọi là Loa Sơn. Quân Tàu chết hàng ngàn, chôn chung một ngôi mộ tại Gò Đống Đa. Lê Chiêu Thống cũng theo đám dân chạy loạn ra khỏi thành trốn qua Trung Hoa cùng đám cận thần nhà Lê và một số gia đình họ. Trưa mồng 6, vua Lê đến Kinh Bắc và sau đó gặp Tôn Sĩ Nghị tại Ải Nam Quan. Tôn Sĩ Nghị ra lệnh thiêu hủy tất cả đạn dược dự trữ tại biên giới rồi về triều chịu tội với nhà Thanh. Vua Quang Trung vào thành Thăng Long hôm 5 Tết, sớm hơn dự tính hai hôm, chiến bào nhuộm đầy khói thuốc súng. Dân chúng kéo nhau ra đường chào mừng đoàn quân chiến thắng. Viết nhân kỷ niệm chiến thắng Đống Đa (mồng 5 Tết Đinh Sửu 1997) Nguyễn Lý Tưởng
290 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng CẢI TỔ NỘI CÁC NGÀY 2-5-1933 DƯỚI THỜI VUA BẢO ĐẠI Trong năm 1996, nhân dịp kỷ niệm 100 năm trường Quốc Học và dịp kỷ niệm ngày 1-11-1963, báo chí đã đề cập đến một số sự kiện liên quan đến lịch sử cận đại và hiện đại trong đó có nhiều chi tiết liên quan đến cuộc “cải tổ nội các” ngày 2-5-1933 dưới thời vua Bảo Đại. Nhận thấy có một vài điều cần phải bổ túc thêm cho được đầy đủ hơn, nên hôm nay chúng tôi xin phép được trở lại vấn đề này với mục đích làm sáng tỏ một vài bí ẩn bên trong các biến cố lịch sử mà xưa nay vốn là đề tài tranh luận giữa các phe nhóm. Thật ra, vấn đề này cũng chưa phải là xa xôi chi cho lắm, vì những chứng nhân của giai đoạn lịch sử đó hoặc con cháu của họ hiện đang còn sống ở Việt Nam cũng như ở Hải Ngoại, nhất là trên lãnh thổ Hoa Kỳ này nhưng nếu mọi người im lặng hoặc bỏ qua không chịu bổ túc cho những thiếu sót thì các thế hệ sau sẽ lặp lại những điều đã đăng tải trên báo chí, có khi rất sai lạc và cho đó là chính xác. 1. TỪ KHẢI ĐỊNH ĐẾN BẢO ĐẠI. TẠI SAO KHẢI ĐỊNH KHÔNG ĐƯỢC NỐI NGÔI ĐỒNG KHÁNH NĂM 1888 ? Sau khi Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết âm mưu lật đổ Pháp thất bại vào đêm 4 rạng ngày 5-7-1885 (23 tháng 5 Ất Dậu), vua Hàm Nghi lưu vong và bị bắt. Anh vua Hàm Nghi là hoàng tử Ưng Kỵ (hay Ưng Đường) con Kiên Thái Vương và là con nuôi thứ hai của vua Tự Đức được nối ngôi tức là vua Đồng Khánh. Bà Chánh Phi của vua Đồng Khánh
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 291 (Đức Thánh Cung, là con gái của quan Phụ Chính Đại Thần Nguyễn Hữu Độ, người đã vận động cho Đồng Khánh lên ngôi năm 1885), không có con. Hoàng tử Bửu Đảo, con bà thứ phi (Đức Tiên Cung) không được nối ngôi sau khi vua Đồng Khánh mất, 1888. Ngai vàng về tay hoàng tử Bửu Lân (Thành Thái), con vua Dục Đức. Vua Thành Thái chống Pháp, bị truất phế và bị giam lỏng ở Vũng Tàu năm 1907. Con của Thành Thái là hoàng tử Vĩnh San nối ngôi tức vua Duy Tân. Năm 1916, vua Duy Tân cùng các nhà cách mạng Thái Phiên, Trần Cao Vân âm mưu đảo chánh Pháp thất bại. Nhà vua bị bắt, bị lưu đày cùng một lần với vua cha, từ đó ngai vàng mới về tay hoàng tử Bửu Đảo (Khải Định), con vua Đồng Khánh. 2. VUA KHẢI ĐỊNH ĐÃ GẶP BÀ HOÀNG THỊ CÚC TRONG TRƯỜNG HỢP NÀO ? Từ 1888 đến 1916, trong khoảng 28 năm trời, hoàng tử Bửu Đảo như người ngoài cuộc, sống lang thang nhà nọ đến nhà kia, vui chơi, bài bạc... Ông không bao giờ tưởng tượng được rằng có một ngày nào đó ngai vàng sẽ về tay ông. Trong thời gian còn là hoàng tử, ở tại Phủ Phụng Hóa (sau này là An Định Cung), hoàng tử Bửu Đảo đã cưới con gái quan Thượng Thư Trương Như Cương làm vợ. Bà này không có con và về sau đã bỏ đi tu, lấy pháp hiệu là Đạm Thanh, biệt hiệu là Tuyết Nhan. Người ta nói rằng Phụng Hóa Công (Bửu Đảo) bất lực, không thể có con được, nên đã tìm vào cuộc đỏ đen, bài bạc cho quên đi nỗi thất vọng và có lúc ông lâm vào cảnh nợ nần khiến cho gia đình bên vợ cũng phải đoạn tình với ông. Sau khi lên ngôi, vua Khải Định đã mời bà họ Trương trở lại với địa vị Đệ Nhất Giai Phi (hoàng hậu) nhưng bà này từ chối. Vì thế quan Thượng Thư Hồ Đắc Trung (người làng An Truyền, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên) đã tiến cử con gái là Hồ thị Chỉ vào cung và được gọi là Ân Phi, đứng vào hàng thứ hai sau bà họ Trương nhưng bà họ Hồ cũng không có con. Trước khi là vợ của vua Khải Định, bà đã từng được cụ Hồ Đắc Trung tiến cử vào làm giai phi cho vua Duy Tân nhưng vua Duy Tân đã yêu cô Mai Thị Vàng, con gái quan Phụ Đạo Mai Khắc Đôn (Thầy dạy học của vua) và quyết tâm cưới bà
292 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng này làm chánh phi (hoàng hậu). Không được nên duyên với vua Duy Tân, bà Hồ Thị Chỉ lại được tiến cử cho vua Khải Định. Hoàng Tử Vĩnh Thụy (Bảo Đại) ra đời trong một trường hợp ngoại lệ. Nguyên mẹ của vua là bà Hoàng Thị Cúc (tức Huệ Phi) thường gọi là bà Từ Cung (khi lên ngôi, vua Bảo Đại đã phong cho mẹ làm Đoan Huy Hoàng Thái Hậu), nguyên không phải là cung phi hay cung tần mà chỉ là một gái hầu của Ngọc Lâm Công Chúa (con vua Đồng Khánh), xuất thân từ gia đình bình dân. Một hôm ở trong cung khám phá ra bà có thai.... Bà bị dẫn đến trước mặt Đức Thánh Cung (chánh phi của vua Đồng Khánh) để tra hỏi. Theo lời của bà Nguyễn Thị Vy, cháu nội của ông Nguyễn Hữu Độ (Phụ Chính Đại Thần thời vua Đồng Khánh) được Đức Thánh Cung nuôi, kể lại: khi bị tra hỏi, bà Hoàng Thị Cúc chỉ im lặng không trả lời. Do đó Đức Thánh Cung mới ra lệnh cho đào một cái hố sâu, bắt bà đứng dưới đó để cho lính đánh trên vai, mục đích không hại đến thai nhi trong bụng mẹ nhưng dù bị cực hình, bà vẫn không chịu cho biết ai là tác giả bào thai đó. Không đành lòng, hoàng tử Bửu Đảo (Khải Định) bèn đến gặp Thái Hậu (Đức Thánh Cung) và nói với bà ấy rằng: “Thưa Ả , thai nhi trong bụng của Hoàng Thị Cúc chính là con của hài nhi. Vì dòng dõi của mình (vua Đồng Khánh) hiếm muộn, nên xin Ả tha cho Hoàng Thị Cúc và cho phép hài nhi được cưới nàng làm thiếp”. Thái Hậu nghe nói như vậy bèn ra lệnh ngưng tra khảo và cho Hoàng Thị Cúc trở về quê ở làng Mỹ Lợi, huyện Phú Lộc (sau này là Vinh Lộc), tỉnh Thừa Thiên và bố trí cho bà làm con một vị Tri Huyện hồi hưu (vợ ông này là dì ruột của bà Hoàng Thị Cúc). Hoàng tử Bửu Đảo (Khải Định) đã cưới bà làm thiếp. Sau khi Khải Định lên ngôi, bà đã đem hai người anh em ruột là ông Tứ Huề (hàng Tứ Phẩm) và ông Hường Khanh (Hường Lô) vào làm việc trong cung. Mới đây, qua điện đàm với ông Bửu Uyển (Phó Tỉnh Trưởng Quảng Trị trước 1975), tôi được biết thêm: Trước năm 1975, lúc đó bà Từ Cung đã ngoài 80 tuổi, có lần bà vui vẻ kể lại chuyện xưa cho con cháu nghe, trong số những người có mặt hôm đó có ông Bửu Uyển. Bà cho biết thời gian bà làm gái hầu trong cung cho Ngọc Lâm Công Chúa, con vua Đồng
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 293 Khánh, bà thường được công chúa sai đưa thư qua cho Hoàng Tử Bửu Đảo (vua Khải Định sau này). Hoàng Tử Bửu Đảo và Ngọc Lâm Công Chúa thường hay làm thơ xướng họa trao đổi với nhau. Mặc dù đã có vợ nhưng vẫn chưa có con nên Hoàng Tử Bửu Đảo đã theo lời đề nghị của những người thân cận tổ chức tuần chay để cầu tự. Một hôm, Hoàng Tử vừa xong tuần chay thì gặp lúc bà đưa thư đến và Hoàng Tử đã ăn nằm với bà. Sau đó, bà đã có thai và sinh ra một con trai duy nhất là ông Vĩnh Thụy (vua Bảo Đại sau này). Bà cho đó là một đặc ân của Thượng Đế và tổ tiên. Qua câu chuyện trên đây, ông Bửu Uyển cũng như nhiều người trong hoàng tộc đều có nhận xét rằng, Hoàng Tử Bửu Đảo (vua Khải Định) đã ăn ở với nhiều bà mà vẫn không có con. Trường hợp bà Hoàng Thị Cúc (Từ Cung) là một trường hợp rất đặc biệt. Như đã nói trên, bà Hoàng Thị Cúc vốn là một gái hầu của Công Chúa Ngọc Lâm, chưa có địa vị như cung phi hay cung tần thì có đâu dám mơ ước đến hàng tam cung (Hoàng Hậu)! Nhiều tác giả, trong đó có ông Phạm Khắc Hòe đã nói rằng, các bà phi của vua Khải Định khi về già đã cho biết họ vẫn còn trinh! Câu chuyện do chính bà Từ Cung (Hoàng Thị Cúc) kể lại cũng không ngoài mục đích tìm cách giải thích trường hợp bà đã thụ thai với vua Khải Định và xác nhận vua Bảo Đại là con vua Khải Định thật. Nội dung câu chuyện bà Nguyễn Thị Vy, cháu của ông Nguyễn Hữu Độ kể lại với tác giả (Nguyễn Lý Tưởng) cũng không khác lời giải thích của chính người trong cuộc là Hoàng Thị Cúc bao nhiêu. Cốt lõi của vấn đề vẫn là Hoàng Tử Bửu Đảo (vua Khải Định) đã gặp bà Hoàng Thị Cúc trong một trường hợp ngoại lệ và việc bà thụ thai và sinh ra ông Vĩnh Thụy (Bảo Đại) cũng là một trường hợp “thế gian hy hữu”. Vua Khải Định là con bà thứ phi của vua Đồng Khánh (Đức Tiên Cung). Theo luật xưa thì bà Chánh Phi (Đức Thánh Cung) nhận Bửu Đảo làm con, dù không phải là mẹ đẻ, vẫn là quyền hoàng hậu (chánh phi) và hoàng tử Bửu Đảo phải kính trọng bà như mẹ ruột. Hoàng tử gọi bà bằng “Ả” tức là mẹ ruột. Vì thế ông phải đến trình bày với bà và xin bà chấp nhận cho trường hợp đó. Huống chi vua Đồng Khánh, cha của Bửu Đảo, đã nhờ hậu thuẫn của Nguyễn Hữu Độ (cha của Đức
294 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng Vua Khải Định qua Pháp năm 1922, sau lưng vua là hoàng tử Vĩnh Thụy 9 tuổi, bên trái là cụ Thái Văn Toản, bên phải là cụ Nguyễn Hữu Bài. Thánh Cung) mới được làm vua... Do đó dòng họ ông mang ơn bà và thế lực của bà vẫn còn ở trong hoàng tộc. Hoàng tử Bửu Đảo đã gặp Hoàng Thị Cúc trong trường hợp nào ? Đó là chuyện thâm cung bí sử của nhà Nguyễn. Tuy đã được nhiều người đề cập đến nhưng hồi đó vua Bảo Đại còn tại vị nên người ta cũng tế nhị, chưa dám đưa lên sách báo. Nguyên trong cung, ngoài nhà vua, hoàng hậu, hoàng tử, công chúa và những người có địa vị ra, mọi người khi đau ốm phải đưa ra khỏi cung vì sợ chết trong cung sẽ gây nên ô uế. Trường hợp phụ nữ đến kỳ kinh nguyệt cũng phải ra khỏi cung và đến ở một nơi ngoài hoàng thành cho đến khi trong người sạch sẽ rồi mới được trở vào cung. Cô Hoàng Thị Cúc, một gái hầu ở trong cung, mỗi tháng đến kỳ đã về trú ngụ tại Phủ Phụng Hóa (tức An Định Cung) gần An Cựu Huế. Người ta kể lại hoàng tử Bửu Đảo đã gặp bà sau một canh bạc kém may mắn, gọi là để “xả xui”. Một vị hoàng thân, bạn cờ bạc với Bửu Đảo cũng đã gặp bà này trong trường hợp tương tự... Do đó nếu thai nhi kia không phải là con của Bửu Đảo (vua
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 295 Khải Định) thì cũng là con của ông hoàng kia, đều là dòng máu của nhà Nguyễn cả. Theo luật của hoàng gia, mỗi lần vua đến với bà nào thì phải có ngự sử ghi chép ngày giờ để xác định tính cách hợp pháp của vị hoàng tử hay công chúa trong tương lai. Vì có chuyện nghi ngờ... nên trong hoàng tộc nhiều người phản đối việc hoàng tử Vĩnh Thụy nối ngôi vua Khải Định. Khải Định cũng đã ăn ở với nhiều cung phi, cung tần mà không ai có con nên vua cũng tự biết mình bất lực. Nếu vua không chấp nhận Hoàng Tử Vĩnh Thụy là con của mình thì sẽ có hai điều bất lợi: thứ nhất là không có người nối dõi tông đường, cúng giỗ cho mình sau khi chết. Theo Nho giáo, không có con là điều bất hiếu trọng nhất (1). Chọn một người cháu nối ngôi sao bằng chọn con? Thứ hai, nếu không thừa nhận Hoàng Tử Vĩnh Thụy thì đương nhiên nhà vua đã tự xác nhận mình bất lực và tạo ra cái cớ cho thiên hạ đàm tiếu. Vì vậy mà vua Khải Định đã cương quyết truyền ngôi lại cho Hoàng Tử Vĩnh Thụy. Vua đã phong cho Vĩnh Thụy làm Đông Cung và gởi Thế Tử đi du học ở Pháp rất sớm. 3. BÀ HOÀNG THỊ CÚC ĐÃ VẬN ĐỘNG CHO CHỒNG LÀM VUA ? Người ta cũng nói rằng, số của Hoàng Tử Bửu Đảo đáng lý ra không được làm vua, vì khi vua Đồng Khánh chết, ông đã bị loại ra ngoài không cho nối ngôi. Hội Đồng Hoàng Tộc xét thấy ông không hội đủ một số điều kiện cần thiết, trong đó vấn đề không có con nối dòng cũng đã được đề cập đến nhưng từ khi ông nhận bà Hoàng Thị Cúc làm vợ và nhận con của bà làm con của mình thì cái số của ông đã thay đổi vì bà Hoàng Thị Cúc có số làm vợ vua và làm Hoàng Thái Hậu. Con của bà, ông Vĩnh Thụy, cũng có số làm vua. Nhờ vào số của hai người đó mà Hoàng Tử Bửu Đảo được lên ngôi: vua Khải Định. Bà Hoàng Thị Cúc, tuy xuất thân từ giới bình dân nhưng là một người thông minh và khôn ngoan, khi được làm vợ của Hoàng Tử Bửu Đảo, bà được hoàng gia cho học hành. Bà viết chữ Nho rất đẹp, đọc nhiều sách vở, kiến thức rộng, nhất là về lịch sử nhà Nguyễn. Bà rất khôn ngoan, khéo léo
296 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng trong việc tiếp xúc với mọi người, nhất là những người có thế lực. Năm 1916, lúc đó Hoàng Tử Vĩnh Thụy mới lên 3 tuổi, một biến cố lớn đã xảy ra đối với lịch sử Việt Nam và lịch sử Triều Nguyễn: Vua Duy Tân khởi nghĩa thất bại và bị bắt, bị đi đày. Tuy mới 16 tuổi nhưng vua đã có tinh thần ái quốc rất cao, đã cùng hai nhà cách mạng Thái Phiên và Trần Cao Vân âm mưu đảo chính lật đổ đế quốc Pháp, giành độc lập. Sự việc bất thành, vua bị tù, các chí sĩ cách mạng bị xử tử. Vai trò của Bửu Đảo vốn đã lu mờ từ lâu, có thể ngai vàng sẽ về tay người khác do Hội Đồng Hoàng Tộc lựa chọn. Theo sự tiết lộ của con cháu Kỳ Ngoại Hầu Cường Để thì người Pháp đã tính chuyện đưa Cường Để lên ngôi ngay từ khi vua Thành Thái bị truất phế. Họ muốn trao ngai vàng cho dòng trưởng của Gia Long là Hoàng Tử Cảnh nhưng vì Cường Để cũng nuôi chí làm cách mạng nên ông đã từ chối. Do đó vua Duy Tân mới được nối ngôi cha là Thành Thái. Đến khi Duy Tân bị bắt, bị đày, người ta vẫn chưa nghĩ đến Hoàng Tử Bửu Đảo, con vua Đồng Khánh, vì ông này cũng tầm thường và không có thế lực gì nhưng chính bà Hoàng Thị Cúc, vốn là một người thông minh và đầy tham vọng, đã thấy được cơ hội đến và đã tìm cách vận động thẳng với Khâm Sứ Trung Kỳ và Toàn Quyền Đông Dương, qua nhiều trung gian có liên hệ với Pháp tại Huế lúc bấy giờ, để cho chồng của bà là Hoàng Tử Bửu Đảo được làm vua kế vị Duy Tân. Những ông vua nhà Nguyễn bất khuất như Thành Thái, Duy Tân đã làm cho Pháp phải đối phó vất vả, do đó những con người tầm thường, cầu an như Khải Định, xuất thân từ dòng máu cầu an, thụ động của Đồng Khánh, là con bài mà Pháp cần đến trong giai đoạn đó. Vì thế, Pháp đã ủng hộ Khải Định lên ngôi. 4. GIỮA KHẢI ĐỊNH VÀ BẢO ĐẠI KHÔNG CÓ TÌNH CHA CON Tuy thừa nhận Vĩnh Thụy là con của mình nhưng vua Khải Định không có chút tình cảm nào với Thế Tử. Những người sống trong cung cho biết, vua Khải Định rất thương thằng Ruộng, con của một người hầu cận chuyên về ngự thiện (lo cơm nước cho vua). Hắn đòi chi vua cũng cho. Mỗi lần vào
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 297 xin tiền, hắn đòi cho được các loại tiền lẻ, vua phải mượn tiền của các cô trong cung để cho hắn. Lúc vua tánh (nằm ngủ), các cô đứng hầu quạt, Ruộng gắp than hồng bỏ dưới gót chân các cô. Nóng quá, các cô la lên làm cho vua giật mình. Thế là các cô bị quở phạt. Vua luôn bênh vực thằng Ruộng, đến nỗi cha của hắn cũng không dám đụng tới hắn, sợ hắn vào mách với vua. Bảo Đại rất ghét thằng Ruộng... Sau khi Khải Định chết rồi, Bảo Đại đuổi hắn ra khỏi cung và cho đi giữ ngựa...Bảo Đại rất thương mẹ và ít khi nhắc đến vua cha. 5. BẢO ĐẠI: MỘT VỊ VUA TÂN HỌC Hoàng Tử Vĩnh Thụy, sinh năm 1913 (Quý Sửu) là một người thông minh, học giỏi, tính tình hào phóng, rộng lượng, ít khi la rầy ai. Ngay khi còn tại vị, vua Khải Định đã phong cho ông làm Đông Cung và nhờ vợ chồng một người Pháp có thế lực đỡ đầu cho ông qua Pháp du học, lúc đó ông còn rất nhỏ tuổi. Năm 1925, Vĩnh Thụy mới 12 tuổi, đang ở Pháp, được tin vua Khải Định mất, ông bèn trở về nước và lên ngôi năm 1926, lấy niên hiệu Bảo Đại. Sau đó, ông trở qua Pháp tiếp tục học và để cho các vị Phụ Chính điều khiển việc nước, đứng đầu là ông Nguyễn Hữu Bài, Thượng Thư Bộ Lại (tương đương Thủ Tướng). Ngày 27-4-1932, Thượng Thư Bộ Hộ là ông Thái Văn Toản, thay mặt triều đình qua Pháp đón vua Bảo Đại về nước. Bảo Đại chính thức lãnh đạo chính quyền vào tuổi 19, 20. Ngoài tiếng Pháp, ông còn thông thạo Hán Văn, Việt Văn. Cụ Lê Nhữ Lâm, Cử Nhân Hán Học, người làng Vân Trình, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên, được cử qua Pháp để dạy Hán Văn và Việt Văn cho vua. Dư luận cho rằng vua Bảo Đại chỉ biết tiếng Tây mà không biết tiếng Việt là một điều sai lầm. Luận điệu tuyên truyền đó đã xuất phát từ thời Việt Minh (1945) và đã được những người không ưa Bảo Đại nhắc lại sau này. Ông Nguyễn Duy Quang đã cộng tác với vua Bảo Đại suốt 15 năm ở Huế, sau này là Đại Sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Nhật Bản, Mã Lai và Pháp... đã xác nhận vua Bảo Đại là người thông minh, có học, am hiểu cả hai nền văn hóa Đông, Tây... nhưng về tính tình, Bảo Đại là một
298 - Thuyền ai đợi bến Văn Lâu - Nguyễn Lý Tưởng người mềm yếu, không quyết đoán. Ông Bùi Diễm, Cựu Đại Sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Hoa Kỳ, trong hồi ký “In the jaw of history” (Trong gọng kềm lịch sử), 1987, tr. 68, có nhắc lại lời của Thủ Tướng Trần Trọng Kim, sử gia, nhận xét về Bảo Đại như sau: “All his life, he’s been raised so that he’ll behave in a very passive way. That’s his life-passivety...” (Cả cuộc đời (của vua Bảo Đại) được dưỡng dục để cư xử một cách rất thụ động. Đó là cuộc đời của ngài-thụ động tánh...) 6. VAI TRÒ CỦA NGUYỄN HỮU BÀI TỪ TRIỀU DUY TÂN, KHẢI ĐỊNH ĐẾN BẢO ĐẠI Nguyễn Hữu Bài, sinh ngày 28-9-1863 (15 tháng 8 Quý Hợi) tại làng Cao Xá, Tổng Xuân Hòa, Phủ Vĩnh Linh, Tỉnh Quảng Trị, trong một gia đình Công Giáo. Ông là cháu của Linh Mục Nguyễn Hữu Thơ (1835-1890), một trong những nhà thông thái, du học ở Đại Chủng Viện Penăng (Mã Lai), biết nhiều thứ tiếng, đã từng được vua Tự Đức mời làm thôn ngôn và giữ chức Tùy Biện (Thư Ký) trong phái đoàn của triều đình Huế vào Sài Gòn thương lượng với Pháp năm 1874 (hiệp ước Dupré), sau được vua Tự Đức cử làm Tham Biện Hải Phòng (1875). Linh Mục Nguyễn Hữu Thơ cũng được vua Dục Đức (cha của vua Thành Thái) mời làm thư ký riêng và dạy tiếng Pháp cho vua. Một trong những lý do mà hai ông Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết nêu ra để truất phế và bức tử vua là có nhiều liên hệ với Linh Mục Thơ. Theo sự nghiên cứu của ông Hương Giang Thái Văn Kiểm (hiện ở Paris, Pháp) thì tổ tiên của Nguyễn Hữu Bài là Nguyễn Trãi (1380-1442), khai quốc công thần thời Lê. Sau vụ Nguyễn Trãi bị hại dưới thời Lê Thái Tông (1434-1442), con cháu ông từ miền Bắc chạy vào miền Trung, trong đó có các danh tướng Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Hữu Cảnh dưới thời các chúa Nguyễn. Ông nội của Nguyễn Hữu Bài từ làng Mỹ Hương, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình dời vào làng Cao Xá thuộc phủ Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị. Nguyễn Hữu Bài sinh ra tại đây. Lúc nhỏ, Nguyễn Hữu Bài học chữ Nho, tiếng Pháp và chữ quốc ngữ với Linh Mục Nguyễn Hữu Thơ. Năm 10 tuổi
Thuyền ai đợi bến Văn Lâu- Nguyễn Lý Tưởng - 299 ông được giới thiệu vào tu học tại Tiểu Chủng Viện An Ninh (Cửa Tùng, bên bờ Bắc vĩ tuyến 17, Quảng Trị). Ông học rất giỏi và được gởi qua tại Đại Chủng Viện Penăng (Mã Lai) là trường đào tạo Linh Mục cho toàn vùng Đông Nam Á từ thế kỷ 17,18,19 của Giáo Hội Công Giáo Roma. Ngoài 20 tuổi, ông xin hoàn tục và trở về nước, thi vào trường thông ngôn Đông Dương, sau cải ngạch qua Nam Triều. Bước đầu hoạn lộ, ông làm Thừa Phái ở Nha Thương Bạc (Maison des porparlers) tức là trường Hậu Bổ ngày xưa. Dưới thời vua Thành Thái, ông giữ chức Ký Lục kiêm Thông Sự, Hàn Lâm Viện Thị Độc (1892); Thị Lang Bộ Lại kiêm Tham Tá Cơ Mật Viện (1899), đưa về Huế làm Thượng Thư dưới triều vua Duy Tân, Khải Định. Sau khi vua Khải; Tham Tri Bộ Hình kiêm Tổng Lý Cơ Mật Viện (1901); Hàm Thượng Thư (1904); Thượng Thư Bộ Công (1906). Dưới thời vua Duy Tân, ông giữ chức Cơ Mật Viện Đại Thần kiêm Thượng Thư Bộ Hình (1907); Hiệp Tá Đại Học Sĩ (1909). Dưới thời vua Khải Định, ông được thăng Thái Tử Thiếu Bảo (1917); Lại Bộ Thượng Thư, Thái Phó, Võ Hiển Điện Đại Học Sĩ và Cơ Mật Viện Viện Trưởng Đại Thần (1923). Sau khi vua Khải Định mất (1925), vua Bảo Đại còn du học tại Pháp, ông kiêm luôn chức Phụ Chính Đại Thần (như Thủ Tướng) cho đến ngày 2-5-1933 thì được cho về hưu. Vua Thành Thái đã ban thưởng cho ông: Kim Khánh Đệ Tam Đẳng (1895). Vua Duy Tân đã ban thưởng cho ông: tước Phước Môn Tử (1909). Vua Khải Định đã ban cho ông: tước Phước Môn Bá (1916) và vua Bảo Đại đã ban cho ông tước: Phước Môn Quận Công (1932) trước khi về hưu (1933). Ông có sáu người con: - Cậu Nguyễn Hữu Khóa. - Cậu Nguyễn Hữu Vĩnh. - Cô Nguyễn Thị Giang. - Cô Nguyễn Thị Tú. - Cậu Nguyễn Hữu Tý. - Cô Nguyễn Thị Tài. Hai cậu Kháo và Vĩnh bị bệnh đậu mùa (variole) chết sớm. Cô Giang lấy ông Ngô Đình Khôi, Tổng Đốc Quảng Nam là anh ruột ông Ngô Đình Diệm. Cậu Tý, du học Pháp, đậu bằng