Văn Nhân Lục Page 249THU HIU HẮTU Minh buồn một chiều Thu phai nắngBước chân Em thoăn thoắt giữa đồng hoangAnh nghe như ai giẫm nát linh hồnEm run sợ bóng chiều buông hoang vắngNhanh lên Em, hoàng hôn đang tắt nắngRừng chuyển mình, gió lộng cảnh đìu hiuEm về mau kẻo lỡ chuyến đò chiềuAnh lo ngại đường xa đầy bất trắcNhìn theo Em…vòng kẽm gai, se thắtXót xa lòng nhớ mãi dáng Em thơEm trở về cô lạnh nét bơ phờAnh đứng lặng ...cõi lòng nghe tan nátTrăng Thu lạnh, nhạt nhòa đêm ngơ ngácMuôn hồn ma tức tưởi khóc âm thầmLá vàng rơi phủ kín kiếp tù nhânEm đã hiểu!Thu về sao HIU HẮT ( Rừng U Minh 1980 ) MẶC KHÁCH BLEAK AUTUMNThe sad autumn sun sets in U Minh,Your footsteps, rapid through the wildernessFeels like someone is trampling my soul,You tremble, fearing the afternoon light deserting youHurry up my love, daylight is disappearingThe forest transforms, the wind howls, a lonely sightFaster my dear, careful not to miss the afternoon boatI worry the long journey is filled with obstaclesWatching you leave…barbed wire, painMy love, I will remember you foreverYou return home, alone and disheveled,I stand still…my heart shattered.Cold autumn moon fades, pale in the bewildered nightMany ghosts sobbing silently in painFallen yellow leaves cover the prisoners,Now my love, you understand the Bleak Autumn(U Minh 1980 Forest) Translated by MẶC KHÁCH
Page 250 Vietnamese Authors and Literary CollectionĐÊM TRỪ TỊCHHồn lang thang chìm vào trong cõi mộngCười ngả nghiêng chế giễu cảnh tục trầnHồn tỉnh say có cần chi trau chuốtGiữa bao cảnh đời hư, thực khó phânNắng sắp tàn kéo lê trên cỏ úaTrời âm u chim lẻ bóng tìm vềVề nơi đâu? Này cánh chim bé nhỏGhé vào đây diễu cợt lời hẹn thề…Hay cùng ta vào sâu trong huyệt mộDựng hồn ma trêu ghẹo đợi Xuân sangTrong cơn mê chập chùng bao bóng dángGọi tên người trong nỗi nhớ miên man…Đêm Trừ Tịch mờ dần theo sương khóiPhảng phất oan hồn hờ hững Xuân sangKèn đưa ai nỉ non buồn ảo nãoTiếng kinh cầu xao xuyến mảnh khăn tang... MẶC KHÁCHEVE OF THE NEW YEARThe wandering soul sinks into the dream realm,Mocking laughter at the mundane life,This drunken spirit need not to elaborateIn this life, truth is hard to separate from lies.The fading sun dragged on the grassCloudy skies, a lonely bird seeks the nestHey little bird, where are you going to?Perch by here, let’s joke and play…Or join me deep inside these graves,Tease the ghosts and wait for Spring to come,In this dreamy state, filled of many silhouettesMissing you, I call out your name.Eve of the New Year fades into smokeUnrest souls flow by, indifferent of Spring’s arrivalTrumpets of death carry in heartache,Prayers sadden the mourning headbands.Translated by Mặc Khách
Văn Nhân Lục Page 251Minh Thuý Thành NộiVăn sĩ, thi sĩMinh Thúy Thành Nội tên thật là Nguyễn Minh Thuý• Sinh năm 1955 • Sinh ra lớn lên ở Huế - Là người của sông Hương, núi Ngự. • Làm thơ từ năm 2014• Hội viên chính thức Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại trực thuộcVùng Văn Bút Đông Bắc Hoa Kỳ.• Hội vi ên của các nhóm Thơ Đường Luật, Diễn Đàn Tình NghệSĩ, Diễn Đàn Tình Bằng Hữu, Văn Thơ Lạc Việt,Vườn Hoa Thơ Duyên,Việt Bút, Minh Châu Trời Đông và Cô Gái Việt.Tác phẩm đã phát hành:• “Nếu Đời Không Có Thơ”• Tuyển tập Tranh thơ “Nếu Đời Không Có Thơ -Tranh Thơ Hòa Điệu”(2018)• Tuyển Tập Thơ thứ 2: Bốn Mùa Thơ Gọi(2019)• Bốn Mùa Tranh Thơ• Suối Thơ (2019) • Tranh Thơ Hòa Điệu
Page 252 Vietnamese Authors and Literary CollectionCây Khế Quê Hương Công việc vùi đầu, bao nhiêu sinh hoạt xã hội cuốn hút...Từ lâu hình như tôi đã lãng quênnhững kỷ niệm về cây khế. Được người anh chụp tấm hình cây khế gởi qua, lòng tôi chùngxuống...cảm xúc dâng lên từ những ngày xa xưa...Nhà Mẹ tôi có cây đào, cây ổi, cây trứng gà, cây khế và vườn chuối cau, nhưng riêng vớicây khế là tôi có kỷ niệm nhiều nhất.Lúc học lớp đệ ngũ, đệ tứ và vì tôi ở gần trường Nữ Thành Nội, nên mỗi trưa các bạnmuốn đi sớm một tiếng đến nhà tôi tụ họp. Chúng tôi thường ra sau vườn ngồi dưới gốc cây, háikhế chấm muối ớt vừa ăn vừa tán gẫu. Đặc biệt cây khế nhà tôi rất ngon, không ngọt không chuađược gọi là khế nhành, ăn dòn mê. Có lần Diệu (trong nhóm bạn) vì Mẹ bán mắm ruốc, nên bạn bới một bọc ruốc bỏ trongcặp sách hí hửng nói “Khế mà chấm mắm ruốc là mê tơi...”, nói xong hớn hở mở cặp, bỗngnhiên Diệu giãy nảy la lên “chết cha, ruốc đổ ra ngoài rồi, làm răng, làm răng...”, bạn nhảy tưngtưng làm cả đám hốt hoảng lôi sách vở ra, lấy khăn ướt lau chùi nhiều lần, lúc đó anh Cả tôichứng kiến ôm bụng cười ngặt nghẽo “Hết nước nói, tụi bây đi học mà bỏ mắm ruốc trong cặp”Ngày tháng trôi qua, chúng tôi lên lớp dần, vẫn những buổi trưa êm đềm cùng bạn bè dưới gốccây khế, hồn nhiên nô đùa chờ đến giờ đi học ...Thỉnh thoảng chúng tôi đạp xe đèo nhau đi ănchè Cồn, quán chè trên đường Vỹ Dạ hướng về biển Thuận An, bàn ghế được đặt dưới nhữnggốc cây ngoài sân, chúng tôi luôn lựa chỗ ngồi dưới tàng cây khế, những nhành cây tỏa lá rậmrạp xanh um lẩn vào trái non trái già cùng màu, dưới bóng mát gọi ly chè đậu đỏ, đậu xanh vớiđá bào ăn mát cổ ngọt lịm.Trên đường về ghé nhà người bạn tên Nhã Phương cư ngụ khu chợ Cống gần Đập Đá,những ngôi nhà ở đó thật đẹp và thơ mộng...Vườn xum xuê cây trái, trước sân trồng đầy hoa, đặcbiệt là hoa Tường Vi nhiều bụi màu hồng nhạt mát mắt, sau vườn có lối dẫn ra bến sông… BíchĐào, trong một lần thích thú quá đã thốt lên: “Thế nào tao cũng tìm kiếm ông chồng ở khu vựcni” câu nói đã làm cả bọn cười òa vui nhộn. Còn nhớ một lần rạp Tân Tân chiếu phim La Valse Dans L’ombre (Vũ điệu trong bóngmờ) bây giờ được dịch ra tiếng Anh là “Waterloo Bridge”, với hai diễn viên chính Vivien Leighvà Robert Taylor đóng. Trong giờ học Pháp Văn của thầy Ứng, cuối giờ giải lao năm phút, bỗngthầy hỏi học trò:
Văn Nhân Lục Page 253 - Các em đã đi xem phim chưa? Đừng bỏ qua phim hay nhé, phim đen trắng sản xuất1940, thầy xem cách đây mấy chục năm nhưng giữ mãi ấn tượng anh chàng Roy đến đón cô nữvũ công Myrna dưới gốc cây với cơn mưa tầm tã, nàng đứng trong phòng ký túc xá nhìn xuốngmừng quá lấy tay xoa kiếng... Thầy nói say sưa làm chúng tôi càng nôn nóng, hai hôm sau nhân giáo sư khác bệnh nênchúng tôi được nghỉ học buổi chiều. Năm bạn hẹn đến nhà tôi, đứa đem theo sắn, đứa đem ổi, tôihái khế gọt viền ngoài rửa sạch bỏ bao ni lông bới theo vì phải đi sớm để chen mua vé cho được,nên chưa đứa nào ăn trưa. Phim tình cảm xem mê mẩn cảnh cặp này khiêu vũ với tiếng đàn du dương của bản“Auld Lang Syne” được dịch qua Anh ngữ là “Times Gone By” (Đã Qua Đi), họ dìu nhau dướiánh nến mờ ảo dần dần được thổi tắt từ từ… vô cùng lãng mạn, rồi chàng bị gọi ra chiến trường,kinh tế khó khăn giai đoạn đệ nhị thế chiến hoàn cảnh đưa nàng đến con đường buôn hương khibiết tin chàng chết. Nhưng chàng không chết và họ gặp lại nhau, cuối cùng nàng mặc cảm muốntrốn tránh nên tử tự trên đường rầy xe lửa. Ngày gặp cũng trên cầu Waterloo và ngày kết thúcđịnh mệnh cũng nơi cầu này...Chúng tôi im lặng, miệng khô, bụng đói, chuyền sắn và khế cũng chẳng ai ăn. Hết phimđèn bật sáng, năm O chẳng ai buồn nói với ai, bịch khế ướt nhẹp không đứa nào đoái hoài vìđang nghẹn ngào thẩn thờ theo câu chuyện thương tâm. Sau này được Nhã Phương kể lại, có lần để đuổi khéo khách của người chị kế, ngườikhách mà cả nhà không cảm tình, anh ta ngồi lì tới 11 giờ khuya, nên Nhã Phương ngồi phíatrong mở cả chục lần bản “Auld Lang Syne”, tiếng Việt các em nhỏ thường hát chế lời “Ò e conma đánh đu, tặc giăng nhảy dù, zo rô bắn súng...”, ông khách nghe một bản nhạc được bỏ đi bỏlại hoài có lẽ cũng hiểu nên đứng dậy kiếu về. Mấy lúc qua nhà bạn, chúng tôi cũng ra vườn khế, vì có nhiều cây khế ngọt rất ngon. Lúcnày hình như đã tới tuổi thiếu nữ nên tôi bắt đầu để ý đến hoa và không hiểu sao tôi rất thíchnhìn ngắm loài hoa khế… nhỏ thanh bên ngoài màu trắng, bên trong màu hồng pha tím nhạt,nhiều khi hoa rơi vướng trên tóc, nhìn xuống mặt đất…hoa rụng đầy ngập, mùi thơm nhè nhẹ…Ngắm những trái vàng chín mọng trĩu xuống chen xuyên cây lá xanh tươi…cảnh đẹp thiên nhiênlàm tôi ngây ngất cảm giác dễ chịu, có lẽ tôi đã đến tuổi mơ mộng… Một lần chúng tôi gặp người anh của Nhã Phương về phép, nghe nói anh là lính thuộcngành tâm lý chiến đi lưu diễn các tiền đồn xa…Anh em làm quen sau khi được bạn giới thiệu,rồi anh em kéo nhau ra bờ sông, đem bình trà, chén muối ớt xắn tươi, trải chiếu, hái khế ngọt mộtrổ, vừa ăn vừa trò chuyện…Nắng trải dài bên kia sông, mặt nước lấp lánh bàng bạc, thỉnh thoảngvài con đò trôi chậm kèm hình ảnh người thả tay chèo như buông xuôi theo bóng hoàng hôn thấpthoáng...Anh ôm đàn, mắt lạc thần xa xăm, anh hát bài Chiều Tà (Serenata của Enrico Toselli doPhạm Duy dịch)“Lắng trầm tiếng chiều ngânNhạc dặt dìu ái ânNgười ơi! nhớ mãi cung đànNăm tháng phai tànDuyên kiếp vẫn còn lỡ làngĐã quên hết sầu chưaLời này là tiếng xưaQuỳ dâng dưới nắng phai mờBên gối ơ thờÔi tiếng tơ tình mong chờ …”
Page 254 Vietnamese Authors and Literary CollectionVậy đó… một buổi chiều với bao hình ảnh nên thơ và lắng đọng… Thế rồi đời bể dâu…Sau 75 biết bao điều thay đổi, giai đoạn của sự bế tắc thê thảm. Thỉnh thoảng tôi vẫn đạp xe quathăm Nhã Phương. Anh của bạn đã đi tù mà VC gọi là “học tập cải tạo.” Lúc này cây khế thậtđáng quý, đến nhà ai, tôi cũng vô tình bắt gặp trong bữa ăn… vỏn vẹn một món canh khế nấu vớimuối và nồi cơm độn khoai sắn, nhà tôi cũng không ngoại lệ…Những hôm sau khi nhai chén Bo Bo với khế xào tỏi, tôi muốn trốn tránh thực tế đi tìmthế giới hoàng cung của nữ hoàng Ai Cập Cleopatra cùng tình yêu với vị tướng La Mã Antony,nên ôm tập truyện ra ngồi dưới gốc khế nghiền ngẫm, hay lôi tập vở đã ghi chép thơ của TếHanh “Những Ngày Nghỉ Học” ra đọc:Hoặc miên man thơ Đinh Hùng “Một Tiếng Em”Cứ vậy mà ru lòng, ru đời dưới gốc khế “may mà có thơ có nhạc quên được cảnh nghèođói, có thơ có nhạc đời còn dễ thương”, hồn sẽ ngây ngất để mặc hoa rơi trên tóc, hoa bay tronggió rồi thì thầm mấy câu thơ của Hoàng Cầm “Nếu Anh Còn Trẻ”Nhiều lần sớm mai thức giấc, bụng đói cồn cào chẳng có gì ăn, lần ra vườn hái khế lựatrái thật vàng, tuy lựa trái chín ngọt nhưng vẫn muốn kèm theo chén muối ớt ăn say sưa, mẹ tôibiết được la “coi chừng bị nạo ruột đau bao tử,” nhưng bao tử tôi đã được thỏa mãn cái đói, sauđó vẫn chẳng có gì xảy ra. Tôi bắc ghế nhỏ kê sát gốc khế sau khi đã được giải quyết bao tử, kèmtheo cuốn tiểu thuyết của Francoise Sagan “Bonjour Tristesse” (Buồn Ơi! Chào Mi), đang đọcnửa chừng, nghe tiếng nhạc nhà ai mở âm thanh không lớn (giai đoạn cấm nhạc vàng), giọng hátThái Thanh vọng sau vườn...Những ngày nghỉ học tôi hay tớiĐón chuyến tàu đi đến những gaTôi đứng bơ vơ xem tiễn biệtLòng buồn đau xót nỗi chia xaKỷ niệm thơm từ năm ngón tayTrăng lên từng nét gợn đôi màyBóng hoa huyền ảo nghiêng vầng tránChưa ngát hương tình hương đã bayTôi lánh trần ai đi rất xaBâng khuâng sao lạnh ánh trăng tàNgày mai hứa hẹn bừng hương cỏTôi sẽ say nằm ngủ dưới hoaNếu có ngày mai anh trở gótQuay về thăm lại bến thu xaThì đôi mái tóc không xanh nữaMây trắng đêm vàng sẽ thướt tha...Hồn cầm phong sương hình dáng xuân tànNgày dần buông trôi sầu vắng cung đànTừ người ra đi chờ vắng tin ngườiTừ người ra đi là hết mơ rồi...Cung thương là tiếng đànCung nam là tiếng ngườiAi oán khúc ca cầm châu rơiTình duyên lãng đãng, nhớ thương dần pha phôi...
Văn Nhân Lục Page 255Bản nhạc tôi vẫn thường hát của Văn Cao. Tôi buông quyển sách xuống, người run lêncảm giác xúc động, mạch máu như được thông chảy đã từ lâu bị tắc nghẽn. Hồn lắng đọng theodòng nhạc, mắt bâng quơ nhìn ánh nắng xuyên qua cành lá chiếu lên những chùm bông thêmtươi sắc tím hồng, những giọt nắng bâng khuâng theo tiếng đàn ngày nào, lấp lánh như ảo tưởngmơ hồ xa vắng, làn gió mát thổi chung quanh làm lá cây xôn xao rung rinh bay nhẹ nhàng hươngphấn hoa mộng... nhạc như hơi thở được chuyền sâu lắng mê man, quên tất cả thực tại ảm đạmtrước mắt trong khoảnh khắc...Tôi cũng không hiểu sao sân trước cây trứng gà rậm rạp, sau vườn còn có cây ổi, cây đào,nhưng nơi tôi chọn chỉ mình gốc khế, có lẽ vì bông hoa khế có sức thu hút tôi mãnh liệt... Làm sao tôi quên được người bạn tên Thanh Loan lấy chồng rồi lên kinh tế mới BìnhĐiền. Vợ chồng đốn củi, trồng sắn khoai sinh sống. Có hôm Loan về thành phố giải quyết vàicông chuyện, ghé vào thăm tôi cho bọc sắn khoai. Tôi quá cảm động tình bạn vì đứa nơi kinh tếmới lại tiếp tế kẻ ở thành phố, có được vài đồng bạc, tôi kéo bạn ra quán nước ngồi uống nóichuyện, xong đi lại lò mè xửng mua kẹo gương gởi con Loan, bạn ngại ngùng, dùng dằng qua lạimãi mới nhận, trở về nhà tôi hái một bọc khế gởi kèm, Loan mừng rỡ nói trên kinh tế mới chưacó khế, sẽ đem lên nấu canh.Hơn 40 năm trôi qua…, sống trên đất khách quê người, ký ức có lúc phai mờ, có lúc hiệnrõ như chuyện hôm qua. Tôi thấy thương cây khế quê hương… chắc hẳn giờ này cây khế vẫnluôn cung cấp cho mọi người những bữa ăn qua ngày. Mắt tôi thấy cay cay…Nắng nhạt nhòa, trước sân lá vàng ngập đầy, có những chiếc lá héo xác khô. Mùa Thu đã bỏ đi…Bất chợt tôi như nghe đâu đó tiếng đàn dạo trên bến sông năm nào âm điệu của một bài hát: Hồn lao đao theo cây khế sau vườn nhà tôi, nó đến thật gần theo những chiều êm dịu,ngồi đọc sách hay nhìn ngắm vạt nắng ấp ủ mấy chùm hoa khế, rồi nhặt vài cánh rơi rụng để vàolòng bàn tay như sợ điều tan vỡ… Nhớ Mẹ hiền đã khuất bóng, nhớ người thân, bè bạn, nhớnhững tô canh khế… Phải chăng \"Quê Hương là Chùm Khế ngọt”?Minh Thúy Thành Nội Hoài Hương Cảnh Huế luôn thầm dậy tiếng thơRời quê tưởng nhớ mãi hằng giờTình thu Bến Ngự trăng mờ ảoNắng hạ Hương Giang nước lặng lờPhượng đỏ Vân Lâu hoà lối mộngChiều vàng Vỹ Dạ dệt trời mơĐêm mưa rả rích chuông chùa vọngKỷ niệm khơi sầu mắt lạc ngơMinh Thuý Thành Nội Trong chiều dần im hơiNgười ngồi thương nhớ bao ngày vuiMột ngày xưa cũ, đời còn đường tơLà ngày hai đứa chúng ta còn thơ....
Page 256 Vietnamese Authors and Literary CollectionNăng KhiếuVăn sĩ*Văn sĩ Năng Khiếu tên thật là Trần Năng Khiếu sinh tại miền Bắc Việt Nam. Năm 1954 theo cha mẹ di cư vào miền Nam, lúc còn nhỏ.Tiểu học tại trường “Quân Đội Lam Sơn Ban-Mê-Thuột”. Trung học tại trường “Trung Học Công Lập Pleiku”.*Vào Saigon năm 1968, làm Thư Ký tại Ty Kiến Thiết Gia Định, được cử đi học khóa Tu Nghiệp Công Chức, tại trường Quốc Gia Hành Chánh Saigon. Mãn khóa đậu Thủ Khoa.Năm 1970 trúng tuyển vào làm Thư Ký Tại Bộ Ngoại Giao Việt Nam Cộng Hòa, cho đến năm 1975.*Ngày 27 tháng 6 năm 1994 cùng gia đình định cư tại Nam California Hoa Kỳ, diện HO.Sinh hoạt tại Hoa Kỳ: Trong Ban Biên Tập của Đặc San Hậu Nghĩa, tham gia sinh hoạt văn học và viết truyện ngắn, từ năm 1999 cho Đặc San Hậu Nghĩa.*Tham dự chương trình giải thưởng Việt Báo “Viết Về Nước Mỹ” từ tháng 8 năm 2015. Đã lần lượt nhận được các giải thưởng: - Giải Đặc Biệt “Viết Về Nước Mỹ” năm 2016 - Giải Danh Dự “Viết Về Nước Mỹ” năm 2017 - Giải Vinh Danh Tác Phẩm “Viết Về Nước Mỹ” năm 2018 (Còn gọi là giải Á Hậu)*Hội viên Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại (VBVNHN) Niên khóa 2019- 2020 cho tới nay.Tác phẩm đã phát hành: - Chuyến Thăm Nuôi Cuối Cùng năm 2014 - Vui Buồn Trên Quê Hương Mới năm 2019
Văn Nhân Lục Page 257BÀ NGOẠI TÔINhững chuyện buồn của người lớn tuổi tại Mỹ, bị con cháu bỏ quên, cô đơn, phiền muộn, đã được nói đến nhiều. Nhưng cũng có những người đang sống chung với con cháu, được kính trọng thương yêu, như một thành viên quan trọng trong gia đình. Tôi viết bài này mong đem lại chút hy vọng và tin vui cho qúy vị đang trở thành lão niên tại Hoa Kỳ. Mọi người sum họp quanh bà ngoạiBà ngoại tôi sanh vào khoảng đầu thế kỷ hai mươi, tại làng Quân Triêm Phát Diệm, miền Bắc Việt Nam. Má tôi là con cả của ngoại, má thường nói: “Bà ngoại ngoài chín mươi, mà yếu như người trăm tuổi”. Tại vì hồi trẻ ngoại vất vả quá, gần một thế kỷ qua bà ngoại lưu lạc từ Bắc vào Nam, từ Việt Nam sang đến Hoa Kỳ. Lúc nào lòng ngoại cũng nhớ về quê hương bên kia biển Thái Bình. Chuyện bây giờ thì nói trước quên sau, nhưng chuyện xảy ra từ một nghìn chín trăm ngày xưa thì bà ngoại kể vanh vách. Sau Hiệp Định Genève năm 1954, bà ngoại tôi cùng với hàng triệu người miền Bắc di cư vào Nam, đã mang theo trong “tay nải” nỗi đau trốn chạy, đã liều bước dắt díu con cháu thoát cơn bão Cộng Sản. Đầu năm 1975, cơn bão ấy đã thành cơn lốc xoáy vào tới miền Nam Việt nam để “giải phóng” phần đất còn lại, thì đời sống dân chúng xuống dốc nhanh như xe không phanh.“Nguỵquân, ngụy quyền” bị hốt đã đành. Sau ba lần đổi tiền bọn “nguỵ dân” kinh tế cũ chới với, phải đi “kinh tế mới”, không thì đi thẳng ra biển mà tìm đường sống. Như một phong trào, bà ngoại tôi cũng lo cho ba cậu đi vượt biển trước. Đó là lý do bà ngoại tôi có mặt tại nước Mỹ, để bây giờ chúng tôi có ngoại bên cạnh.Thế rồi người đi trước rước người đi sau, nào diện thuyền nhân, tỵ nạn HO, diện ODP….Đến đầu xuân 2014, nguời con thứ chín của ngoại là người cuối cùng, vĩnh biệt Việt
Page 258 Vietnamese Authors and Literary CollectionNam ra đi, mang theo bình tro cốt của ông ngoại, hạ cánh an toàn xuống phi trường LAX. Đểsum họp với bà ngoại tôi tại Hợp Chủng Quốc này. Ông ngoại tôi cũng được định cư dưới chân Chúa Chiên Lành (Good Shepherd Cemetery) Huntington Beach vĩnh viễn, không còn cảnh phải hốt cốt từ nghĩa trang này đến nghĩa địa kia, theo lệnh giải tỏa của chính quyền địa phương nữa. Con cháu thăm tro cốt của ông ngoại dưới chân Chúa Chiên Lành Ông ngoại tôi mất sớm, một mình bà ngoại nuôi đàn con mười đứa, ba trai, bảy gái. Bây giờ thêm ra bốn mươi đứa cháu, mười sáu chắt, ba chút, chưa có chít.*Cách đây gần ba mươi năm, thuở bà ngoại tôi mới đến Mỹ, các cậu đón ngoại về nhà cậu Tư ở thành phố Garden Grove, nhà cao cửa rộng, sân trước vườn sau. Vậy mà cũng như các vịcao niên khác ngoại không dễ dàng hội nhập vào xã hội mới, năm đầu ngoại bị shock nên đòi vềViệt Nam miết. Năm sau gia đình tôi đến Mỹ theo diện HO kịp giữ bà ngoại ở lại luôn. Ngày ấy chúng tôi còn nhỏ đã được ngoại nuôi nấng, dậy dỗ, để ba má tôi yên tâm đi làm, và dành dụm mới tạo dựng được cơ ngơi rộng rãi như bây giờ, để ngoại an dưỡng tuổi già. Khi ngoại bước qua tuổi chín mươi, thì ba má tôi cũng đến tuổi về hưu, nên ở nhà chăm sóc ngoại luôn. Các anh chị lớn đều đã có gia đình và ở riêng, còn một anh và tôi là Út, cháu gái được bà ngoại cưng nhất nhà, chỉ tội “ống chề” nên ở chung phòng với ngoại, canh chừng ngoại ban đêm cho má. Quan sát tuổi già của ngoại, tôi nghiệm ra một điều, ngoài số mệnh Trời định, con người sống thọ còn tùy thuộc vào hoàn cảnh và môi trường sống. Được con cháu thương yêu săn sóc, mới hưởng được phúc lộc mà Trời ban thêm cho mình. Đời người hiếm ai vượt qua tuổi “bách niên”. Cơ thể của ngoại tôi như chiếc xe cũ rệu rạo, như cỗ máy lâu ngày đã mòn, lúc ngừng lúc chạy.Vài năm lại phải vào nhà thương làm máy lại một lần. Bệnh tật ngoài ba cao một thấp (cao máu, cao mỡ, cao đường, và thấp khớp). Ngoại còn mắc bệnh suyễn, phải thở bằng máy (nebulizer) ngày bốn lần. Phổi yếu, Bác sĩ nói: “đặt ống nghe sau lưng chỉ thấy ro ro như gió rì rào”, mười năm nay, ban đêm ngoại phải thở oxy, quàng sợi dây dưỡng khí vào mũi (connector
Văn Nhân Lục Page 259tubes) với oxygen tank kê cạnh giường. Bao tử của ngoại đình công không chịu làm việc. Hàm răng giả ngoại tôi mang hai mươi năm, trắng mà đều như hạt bầu, làm tăng vẻ đẹp mỗi khi ngoại cười, đến năm bước vào tuổi “Cửu Thập”, lợi của ngoại teo lại không còn nướu mà dán keo “lợi thì có lợi mà răng chẳng còn”. Vì thế sáng nào má tôi cũng dậy sớm nấu cháo cho ngoại, má tôi nói: “Nấu cháo cho ngoại phải có bài có bản, ngoại mới ăn được”, thỉnh thoảng má tôi đi đâu vắng nhờ ai nấu má dặn dò kỹ lắm, tôi nghe đến thuộc lòng. Này nhé khoảng hai cup gạo nâu, bỏ chung với rau hoặc quả (thay đổi mỗi ngày một thứ như: bầu, bí, khổ qua, xu hào, bắp thảo, cải làn,v.v…) Khi cháo sôi thì cho vào một miếng nạc heo hoặc ức gà nhỏ, bằm nhuyễn ướp chút nước mắm, hànhhương. Hớt bọt liên tục, để riu riu lửa, thỉnh thoảng quậy lên cho đều. Hấp một miếng cá Hồng hoặc sea Bass fillet, trong nồi khác, khi nào cá chín thì giằm ra ướp với nước mắm. Đợi cháo gần được, bỏ cá vào quậy đều, để cháo sôi vài sấp cho đặc quẹo, đậy vung lại một lúc rồi tắt bếp. Ngày hai bữa má tôi phải canh, khi nào ngoại sửa soạn ngồi vào bàn ăn, má tôi hâm nóng, múc cháo vào ly lớn, xay trong chiếc máy hiệu NUTRI NINJA 1000W loại thật mạnh, để cháo nát nhưng vẫn đặc, và dẻo (tôi nếm thử ngon tuyệt) cháo cá phải nóng hôi hổi, vừa thổi vừa ăn. Giờxế chiều ăn trái cây, lê và bơ má tôi cũng xay nhuyễn vậy. Mỗi ngày ngoại đỡ phải uống hai viên thuốc bao tử, nhìn bà ngoại ăn ngon lành, má tôi mừng lắm, quên cả mệt nhọc “Của một đồng công một nén”. Đầy đủ bổ dưỡng da dẻ ngoại lúc nào cũng hồng hào. Bà ngoại tôi khó ăn nhưng dễ ngủ, ngồi đâu ngủ đó. Tối, nằm xuống là ngáy khò khò. Nếu ngoại mà “Ăn được ngủ được là tiên” như câu vè trong dân gian, thì đỡ cho má tôi quá. Nhưng ngoại tôi chỉ như chiếc lá, mỗi khi đổi mùa “Thu đi cho lá vàng bay, lá rơi cho đông lại về”. Nửa đêm thức giấc, nghe ngoại rên hừ hừ, vì đau nhức mình mẩy, chân tay.Có câu “Bà lão là đứa bé sống lâu”, nhưng cái non nớt của một đứa bé đang dần dần phát triển, như một cây non tươi tốt. Ngược lại cái yếu đuối của người già thì từ từ đi xuống cho đến khi sức lực yếu dần rồi cạn kiệt, nên chăm sóc mẹ già thường đem lại xót xa tiếc nuối. Anh Hai tôi có tánh khôi hài, hay ôm vai ngoại rồi so sánh: “Ngoại ơi! Thằng cu Don nhà con năm trước nó cười không có răng, và mặc tã như ngoại, nhưng năm nay răng nó gần đầy hàm, và bỏ tã rồi, còn ngoại thì vẫn ‘hăng rết’ mà tã thì tăng lên”. Nghe vậy ngoại cười móm mém thật dễ thương. Nhưng tóc ngoại tôi còn dầy lắm, chưa bạc hết chỉ muối nhiều hơn tiêu, má tôi cắt tóc ngắn kiểu demi-garçon gọn ghẽ, trông rất ư là đẹp lão, mà mỗi lần tắm gội lại dễ, má tôi kỳ cọ từ đầu đến chân, xong xuôi mặc tã và quần áo cho ngoại như một em bé “Một già một trẻ bằng nhau”. Các cậu thương má tôi, cứ nói: “Cám ơn chịđã vất vả gánh tuổi già của mẹ cho chúng em”. Vì kinh Thánh đã ca tụng “Tuổi già là hồng ân của Thiên Chúa”.
Page 260 Vietnamese Authors and Literary Collection Dù hàng tháng bác sĩ đến khám bệnh cho ngoại tôi tại nhà, thuốc men đầy đủ, chích ngừa đủ các kháng thể. Nhưng ba năm nay ngoại phải cấm cung trong nhà, vì bước chân ra ngoài hiên, là bị vi trùng cảm cúm, dị ứng, rình rập tấn công. Sáng Chúa Nhật ngoại xem lễ trên T.V. Chiều có các vị Thừa Tác Viên trong xứ đạo đưa mình Thánh Chúa đến nhà cho ngoại rước lễ. Nhưng dù sao gia đình tôi cũng hạnh phúc và may mắn, vì ngoại tôi còn đi lại chầm chậm trong nhà được, má tôi lúc nào cũng phải để mắt dòm chừng, sợ ngoại té nằm liệt một chỗ, còn khổhơn. Mỗi lần ngoại ốm nặng cứ nằm nhắm mắt, không muốn ăn uống. Má tôi vừa thí thỏn, vừa đút cho ngoại từng thìa cháo lót lòng, để còn uống thuốc mới khỏi bệnh được, má tôi mải lo cho ngoại quên là mình cũng gần “thất thập”, khi bà ngoại bình phục thì má tôi gục xuống. Ba tôi và các anh chị, chỉ sợ má bị stress mang họa vào thân, rồi chết trước bà, nên mọi người xúm nhau vào chăm sóc bà phụ cho má. Viết tới đây tôi lại nhớ hồi còn nhỏ ở Việt Nam, tôi thấy bà nội tôi là con dâu, mà chăm sóc mẹ chồng, là bà nội của ba tôi, đến 105 tuổi bà cố mới quá vãng. Còn bà nội tôi lại ra đi năm 74 tuổi. Tay chân ngoại tôi run rẩy, bước đi loạng quạng, tai thì nghễng ngãng, mắt mơ huyền, nhưng tiếng nói còn sang sảng, gặp ai mà chịu ngồi nghe, thì ngoại kể liên tu bất tận chuyện nọxọ chuyện kia. Nói nhiều là niềm vui của ngoại. Ba má tôi muốn đi đâu phải thay phiên nhau mà đi, vì ngoại thấy vắng ai thì lo sợ và hỏi miết: “Ba nó đi đâu? Má nó đi đâu rồi?” Nên thỉnh thoảng má tôi đi họp mặt bạn học, hay hội các Bà Mẹ Công Giáo trong giáo xứ cũng mau chóng mà về, có ai giữ lại, thì má tôi nói đùa: “Em xin phép về trước vì mắc con thơ chờ ở nhà” mới nghe ai cũng ngớ ra, nhưng khi hiểu truyện mẹ già đang trông, thì mọi người đều thông cảm. Hàng năm vào ngày Mothers’ Day, phiên họp trong tháng, hội các Bà Mẹ Công Giáo cũng dành ra nửa tiếng, để mọi người chia sẻ về mẹ của mình. Có nguời mẹ đã mất, có người mẹcòn ở Việt Nam, ai cũng có những kỷ niệm vui buồn về mẹ. Nhưng rất ít người còn có mẹ bên cạnh nơi quê hương thứ hai này, nên mọi người ngưỡng mộ và chúc mừng má tôi. Vào những dịp lễ lớn trong năm, hoặc Tết nhất, má tôi và các dì tha hồ trổ tài nấu nướng. Con cháu xum họp quanh ngoại cả bốn năm chục người. Ngoại nhớ tên từng đứa, mỗi năm lại thêm cháu, chắt mới ngoại cũng nhớ hết. Lúc trẻ bà ngoại tôi tánh tình hiền hậu, vị tha, nên giận ai chỉ được một lúc là quên, có lẽ vì vậy mà ngoại sống thọ. Những người bà con của tôi đều thương yêu, quý mến bà, thường đến thăm nom vào cuối tuần. Còn những dịp lễ nghỉ, ở lại vui chơi ăn uống, hát karaoke xong, quay ra lập sòng bầu cua cá cọp hoặc lô tô, cười nói, vui chơi tới khuya mới về. Những lúc đó ngoại nhìn đàn con cháu, với vẻ tràn trề hạnh phúc, sung sướng. Tôi thầm nghĩ, nếu người ta gọi “tuổi trẻ là tuổi ngọc” thì ngoại tôi đang hưởng tuổi “kim cương, hột xoàn”. Mặc dù sau buổi tiệc, chúng tôi vất vả thu dọn, cất xếp bàn ghế mệt nghỉ, nhưng thấy ngoại vui, gia đình tôi cũng vui lây.Cách đây ba năm, đại gia đình tổ chức mừng lễ thượng thọ cho ngoại. Con cháu lớn bé đang quây quần chúc ngoại sống lâu trăm tuổi. Bỗng một bà dì em họ của má tôi, là khách mời từ bên Texas qua, giơ tay phát biểu: “Cháu cũng xin chúc mừng bác ‘Bách niên giai lão’” rồi bà vô duyên quay qua mọi người nói tiếp. “Ở Việt Nam tôi thấy mấy người được con cháu mừng
Văn Nhân Lục Page 261thượng thọ xong, vài tháng sau là chết” làm cả nhà chưng hửng. Nhưng từ đó ngoại tôi bị ám ảnh, ngoại cứ hỏi: “Từ hôm mừng thượng thọ cho bà đến nay được mấy tháng rồi vậy con?”Thế rồi Noel năm đó, vì là lễ trọng nên ngoại muốn đi dự, sau khi lễ về ngoại ốm nặng, ba ngày không ăn uống chi, không ngồi lên nổi, không thở ra hơi. Báo cho bác sĩ gia đình, thì ông nói ba tôi chở ngoại vào nhà thương gấp, nhưng ngoại không chịu đi, má tôi phải kêu cậu Tư qua khuyên ngoại. Thấy ngoại mệt cậu tôi kêu 911, khi hai nhân viên cấp cứu đặt ngoại trên chiếc giường có bánh xe, đẩy ngoại ra tới cửa, ngoại còn cố ngóc đầu lên nói: “Để mẹ chết ở nhà, mẹ không đi nhà thương đâu!” vì ngoại tôi ghét đi nhà thương lắm.Con cái thay phiên nhau vào nhà thương nuôi ngoại, thấy mặt má tôi đưa cháo vào và nhận ca trực, là ngoại trách: “Sao con đưa mẹ vào đây, ngày nào họ cũng lấy máu ba bốn lần, đau lắm con ạ! Cho mẹ về nhà đi” má tôi nghe mà muốn đứt ruột. Nhưng ngoại tôi bị viêm phổicấp tính, phải có mặt nạ chụp vào mũi để thở oxy, không về được. Ngoại nằm được mười ngày, thì ông bác sĩ gia đình, đã chữa trị cho ngoại tôi hơn mười năm nay vào thăm, ông nói với các cậu rằng: “Phải đưa cụ vào trung tâm phục hồi, hoặc nursing home mới sống được, trong đó có đủ máy móc, có bác sĩ, y tá túc trực 24/24. Vì tim, phổi, và bao tử của cụ bây giờ yếu lắm không hoạt động, khi cụ ngủ là cơ thể ngủ luôn không dậy nữa”. Nghe vậy ai cũng lo sợ.Ba má tôi và các cậu các dì bàn nhau, thôi cứ đưa mẹ về nhà tới đâu thì tới, chứ tình trạng này mà đưa mẹ vào nursing home chắc mẹ vừa giận vừa buồn còn chết sớm hơn. Lần đó về tới nhà má tôi đổi bác sĩ gia đình cho ngoại, ông này còn rất trẻ, vừa mát tay vừa tận tâm. Ông kê toa thuốc mới cho ngoại, và xin được phép, để nhóm y tá HOME CARE đến nhà theo dõi và chữa trị khoảng bốn tuần, thì ngoại bình phục. Xin cám ơn các bác sĩ, y tá và các nhân viên trong bệnh viện đã tận tình cứu chữa. Cám ơn nước Mỹ, nhờ ngành khoa học và y học tân tiến. Đểchúng tôi vẫn còn ngoại trong một mái nhà ba thế hệ. Từ đó má tôi bắt chước trong nhà thương nấu cháo xay đặc như tôi kể ở trên. Nên đến nay đã ba năm rồi, mà ngoại tôi vẫn sống vui, sống tỉnh bơ, tuy không khỏe lắm.Tôi thường xoa bóp cho ngoại trước khi ngủ, để nghe kể chuyện ngày xưa, có nhiều chuyện ngoại kể đi kể lại, đến nỗi vừa mở đề là tôi đã biết đoạn kết, nhưng tôi vẫn im lặng nghe cho ngoại vui. Ngoại kể rằng má tôi là đứa con ngoan ngoãn, hiền lành, từ thuở bé đã chịu thương chịu khó làm lụng, nhưng học hành không thông minh và lanh lợi bằng các dì, nên lúc ông ngoại còn sống thường gọi má tôi là “Cả Đẫn” còn cậu tôi là “Tư Đần” vì cậu hay trốn học. Nên má và cậu tôi thường bị ông ngoại giáo huấn bằng cách “thương cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi”. Nhờ vậy mà lớn lên má và cậu tôi bước chân vào đời, luôn chịu đựng được gian nan, vượt qua những khó khăn và thành công về mọi lãnh vực. Lúc cuối đời, ông ngoại đã nhìn ra má tôi là người con có thể giúp mẹ lo cho đàn em, nên đã trối trăn cho má tôi nhiều điều. Khi ông ngoại tôi mất, má trên hai mươi, còn em út mới hai tuổi, má tôi là cánh tay phải của bà ngoại, luôn bên cạnh nâng đỡ và an ủi để ngoại vượt qua những lo toan giữa bầy con nhỏ dại. Má tôi thương ngoại lắm, tính không lập gia đình, để ở bên
Page 262 Vietnamese Authors and Literary Collectionngoại suốt đời. Nhưng vừa mãn tang ông ngoại, bà ngoại đã “chấm” ba tôi rồi, và một lần nữa má tôi lại vâng lời ngoại, nên ba tôi nhớ ơn ngoại tới bây giờ. Ba tôi thương bà ngoại và các em của má tôi như ruột thịt, ngoại cứ bảo: “Thằng Hai là con trai của tôi, nó tốt và tử tế với tôi lắm”.Thật ra đại gia đình của bà ngoại sum họp, đầy đủ quanh bà như ngày nay, tuy bà và các cậu bảo lãnh. Nhưng cũng một phần nhờ ba má tôi lo giấy tờ, rồi đón rước và giúp đỡ các dì dượng vào những ngày đầu còn bỡ ngỡ nơi vùng đất xa lạ này. Người nào mới qua cũng ở nhà tôi từ vài tuần đến vài tháng. Quen đường, quen lối rồi thuê nhà ra riêng, nhưng ngoại tôi lẩm cẩm cứ muốn cho các dì ở với ngoại cho vui, nên trách má tôi: “Sao con để cho các em đi đâu vậy, không ở đây với mẹ?”(Má tui rầu thúi ruột, mà không dám nói, sợ ngoại buồn). Người đời có câu: “Một mẹ nuôi mười con, mười con không nuôi được một mẹ”. Nhưng trường hợp ngoại và má tôi thì phải nói: “Con bảy mươi nuôi mẹ chín mươi” bi ai lắm, vì má tôi ngồi xuống đứng lên, cũng hai tay chống đầu gối.Thấy má tôi tủi thân khóc thầm, không cho ngoại biết mà thương má vô cùng.Sau trận ốm nặng, chết đi sống lại, bà ngoại tôi thay đổi hoàn toàn. Tôi nghiệm được rằng, con người khi về già tánh tình thay đổi từ dễ qua khó, hoặc ngược lại. Như bà ngoại tôi, đang vui quay qua giận. Con xa thì thương, con gần thì thường. Má tôi hầu hạ lỡ sai sót, hay điều gì ngoại không vừa ý, đợi các dì tôi đến méc lại, cho có chuyện mà than vãn với con, để được một chút thương hại thân già! Có dì nói cho má tôi biết để má sửa đổi, có dì lại lấy câu chuyện làm quà, đổ dầu vào lửa. Bởi tính ích kỷ, dì cũng muốn mình là con cưng trong lòng ngoại. Nhưng rồi hôm sau ngoại không kiểm soát được lời mình nói, ai nói sao ngoại vô tình đọc y chang cho má nghe, làm má tôi đau lòng “Đi hỏi già về nhà hỏi trẻ”. Khi mẹ già cần chăm sóc, nhiệm vụ khó khăn, thiên chức nhọc nhằn, má tôi phải sớm viếng khuya hầu, đã không thương chị, còn điều ra tiếng vào. Đúng là “Thức lâu mới biết đêm dài, sống lâu mới biết lòng người có nhân”.Suy cho cùng “Anh em kiến giả nhất phận”. Chị em một mẹ sinh ra, khúc ruột trên khúc ruột dưới, đến khi lớn khôn mỗi người một tính một nết “Cha mẹ sinh người trời sinh tính” là vậy.Tội nghiệp bà ngoại tôi, ở tuổi cuối đời, chị em thì chết hết, bạn bè cùng lứa không còn tâm sự được. Từ ngày định cư ở Mỹ, lạ người, lạ tiếng, ít tiếp xúc với xã hội mới để thấy cảnh đau khổ, hay đang buồn bã của những người già trong viện dưỡng lão. Bà ngoại tôi sinh ra vào thời đại của thế kỷ trước, nên nhân sinh quan của ngoại khác nhiều với thời đại ngày nay. Thời xưa các bậc cha mẹ nhìn con cái cho dù lớn đến đâu, cũng luôn còn nhỏ bé dưới mắt mình, cần phải chỉ bảo và dạy dỗ, nên dễ bực bội với bất cứ việc gì làm trái ý mình. Luôn chứng tỏ uy quyền làm cha mẹ, sẵn sàng trách mắng, không cần biết nó buồn hay vui. Đã làm tổn thương con cái. Và cứ nghĩ phụng dưỡng mình là bổn phận tất nhiên, nên không quý cái lòng hiếu thảo của những đứa con tử tế đối với mình.
Văn Nhân Lục Page 263Má tôi nói: “Làm con phải báo đáp ơn sinh thành dưỡng dục, mới trọn đạo hiếu với cha mẹ. Cuộc đời là tạm bợ, hạnh phúc thì mong manh. Mai sau này đứng trước cảnh sinh ly tử biệt, lòng không hối tiếc. Cũng nhờ chăm sóc bà ngoại mà má rút kinh nghiệm và suy nghĩ về tuổi già của mình, để mai sau mà đối xử với các con”. Tôi ôm má nói nhỏ: “và con cũng biết, khổ cực thểxác, không bằng nỗi đau trong tâm hồn”. Bất chợt mắt tôi cay cay.Má tôi cười buồn, nhắc lại những kỷ niệm ngày mới qua Mỹ. Ngày ấy nghe tin má tôi đậu phỏng vấn, ngoại mừng lắm, mong từng giờ từng phút. Ngoại bảo nếu không có má chắc ngoại về Việt Nam mất tiêu rồi. Lúc bấy giờ chỉ có mình má tôi là con gái, được ngoại cưng hết cỡ. Rồi ngoại dắt má đi chợ Lucky gần nhà, chỉ cách bấm đèn để đi bộ qua đường. Dẫn má tôi đi lễ ở nhà thờ Westminster, khi tan lễ, hai mẹ con đi bách bộ quanh công viên cuối nhà thờ, vào những buổi hoàng hôn nắng vàng úa và ngày sắp tàn. Gặp người quen ngoại giới thiệu với niềm vui lẫn chút tự hào: “Con gái tôi mới qua”. Vậy mà đã mấy chục năm. Dòng đời nhanh chóng trôi qua, như một giấc mơ ngắn ngủi. Bây giờ hai mái đầu cùng bạc như nhau. Nhớ bài ca dao má thường ru tôi ngủ:“Bồng bồng cá bống chặt đuôiCon tôm bóc nõn mà nuôi mẹ giàMẹ già như chuối chín câyNhư quả thìu lựu như cây táo tàuMẹ già khó nết em ơiKhoan ăn bớt ngủ nhịn lời mẹ chaNhịn cho yên cửa yên nhàYên kèo yên cột yên xà đường tay”. Năng Khiếu
Page 264 Vietnamese Authors and Literary CollectionNgô Thy VânThi sĩTiểu sử:Tên thật Ngô Thy VânSinh quán: HuếĐịnh cư: Hoa KỳCựu nhân viên: Highmark BlueCross BlueShieldHội viên Văn Bút Hải Ngoại thuộc vùng Tây Nam Hoa KỳSáng tác và phát hànhThi phẩm đầu tay: Tình Nàng Ngư NữCD và tuyển tập thơ nhạc: Như Giấc Mộng SayCD thơ diễn ngâm: Thương Nhớ Một MìnhGóp mặt trong các thi phẩm và Đặc San sau: Mùa Tình Yêu. Cỏ Thơm phát hànhThơ Việt Hải Ngoại:Thi Đàn Lạc Việt phát hànhGiao Mùa: Giao Mùa phát hànhHoa Vàng: Cùng 50 tác giả. Ngọc An phát hànhThơ chuyển ngữ VIỆT PEN. VBVNHN phát hànhĐặc san Văn Học Miền Đông. VBMĐHK phát hành*Góp mặt trong Đại Hội Văn Chương Phụ Nữ do nhà thơ Quốc Nam tổ chức.
Văn Nhân Lục Page 265 THAO THỨC Đêm nay gió lành lạnhXào xạc lá me xanhTrở mình em thức giấcEm thầm gọi tên anhGiờ anh yên giấc mộngMơ người đẹp trong tranhNào hay người em gáiThao thức mãi vì anhGió trăng nào đưa lốiKhiến em thầm yêu anhCho tim em tan nátTương tư mộng không thành Lệ nhoà hoen gối chiếc Trăng thanh xuyên qua mànhNhư trêu người con gáiĐang yêu đang si tình. Ngô Thy Vân
Page 266 Vietnamese Authors and Literary Collection NHƯ GIẤC MỘNG SAY Người yêu ơi! sao mộng vẫn sayTình yêu mật ngọt sao đắng cayTình yêu nồng cháy sao vội tắtĐể tim em lạnh giá tháng ngàyEm mong đợi một tình yêu tớiĐể sưởi ấm hồn em đêm nayHỡi người tình! người em yêu dấuCó hay chăng tình em đắm sayCó hay chăng tình em nhung nhớNhớ thương người, nhắn gió cùng mâyRằng em đã yêu, yêu say đắmYêu người rồi, người nào có hayNay gặp nhau tình như xa vắngNhư cợt đùa trái tim cuồng siTrong cơn đau em buồn muốn khócCố quên người nhắp chén men cayTrong cơn say hồn em buốt giáGió thu về chiếc lá vàng bayTheo gió heo mây buồn hiu hắtCuộc tình nầy như giấc mộng say.Ngô Thy Vân
Văn Nhân Lục Page 267
Page 268 Vietnamese Authors and Literary Collection
Văn Nhân Lục Page 269
Page 270 Vietnamese Authors and Literary Collection
Văn Nhân Lục Page 271Ngọc CườngVăn sĩNhà văn Ngọc Cường: Tên thật là Nguyễn Tường Cườngsinh năm 1947 tại Hà-Nội. Bốn năm sau theo gia đình vào Nam sinh sống. Lớn lên và đi học ởSài-Gòn. Tình nguyện nhập ngũ khóa 8/68 Võ Bị Thủ Đức. Từng phục vụ các đơn vị: Tiểu Đoàn 20 Chiến Tranh Chính Trị (Quân Đoàn II), Nha Báo Chí Phủ Phó Tổng Thống, và Cục Tâm Lý Chiến QLVNCH. Sau năm 1975, bị giam ở các Trại Tù: Trảng Lớn, Long Khánh, Long Giao, Yên Bái, Phong Quang và Vĩnh Quang.Vượt biên và định cư ở Ohio từ năm 1981. Đã về hưu sau 25 năm làm công chức địa phương.Lập gia đình năm 1974 và có năm con. Mất một người con năm 1979 khi đang bị giam giữ ởTrại tù Vĩnh Quang (để tưởng nhớ đứa con xấu số, đã ghép tên con là Bích-Ngọc và tên mình thành bút hiệu Ngọc-Cường)Từ năm 2011, đã có bài được chọn đăng trên trang Quán Văn báo Người Việt và Nguyệt San Phụ Nữ Gia Đình ở Nam Cali. Hội viên chính thức của Hội Văn Bút Việt-Nam Hải Ngoại Vùng Đông Bắc Hoa-KỳThành viên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật, Nam CaliĐã xuất bản: - Bèo Giạt (Nhà xuất bản báo Người Việt, 2014) - Hệ Lụy (Nhà xuất bản báo Người Việt, 2016) - Bâng Khuâng (Nhà xuất bản báo Người Việt, 2018) - Ba Chị Em (Nhà Xuất Bản báo Người Việt, 2020)
Page 272 Vietnamese Authors and Literary CollectionĐôi dòng về nghệ thuậtPhiếm: Phê Bình Nghệ Thuật Và Nghệ Thuật Phê Bình Ngọc-CườngLTG: Trong sinh hoạt bình thường, hai chữ phê bình được hiểu giản dị là khen hay chê, thếnhưng trong nghệ thuật, có môn phê bình, chuyên nghiên cứu về các lý thuyết phê bình, rất là phức tạp khó hiểu,nó đòi hỏi hiểu biết về ngữ học, suy luận, và cả sáng tạo. Nếu trong chúng ta, ai ai cũng đều có tiềm tàng khả năng để sáng tác, giống như một em bé 3 tuổi vẫn có thể vẽ được một bức tranh đẹp, nhưng, để trở thành một nhà phê bình không phải là dễ, đòi hỏi nhiều thời gian học tập và nghiên cứu. Hiện nay, trên văn đàn hải ngoại, chỉ có lác đác như đếm trên đầu ngón tay vài nhà nghiên cứu như vậy. Tác giả bài viết này không có trình độ như một học giả, chỉ cố gắng mò mẫm, qua mẩu chuyện phiếm dưới đây, viết lên những suy nghĩ thô thiển, hạn hẹp, như người mù sờ voi, mong mua vui quý độc giả … Có lẽ quý vị, cũng như chúng tôi, trong một lúc trà dư tửu hậu, ngồi tán dóc cùng bạn bè … rồi câu chuyện đưa đẩy đến đề tài dòng nhạc phản chiến … có kẻ khen, người chê, và đang tranh cãi sôi nổi đến hồi kịch liệt, đến nỗi bầu không khí trở nên căng thẳng…và trong thân hữu, có người cắt ngang câu chuyện văn nghệ, như có ý muốn tránh va chạm, rồi lên tiếng:“Xin lỗi … vì tôi không hiểu gì về nhạc, nên mạo muội hỏi quý vị: trong hằng hà sa số các văn nhân thi sĩ… anh, chị ưa thích ai nhất?” Câu hỏi có vẻ giản dị, không biết quý vị nghĩ sao, nhưng chúng tôi …ngơ ngẩn trong giây lát…và như bị ai bắt bí, không biết trả lời sao! Câu hỏi này, chẳng khác nào hỏi về các món ăn. Nhưng ẩm thực, cũng như văn thơ, đều tương tự nhau, vì cả hai đều mang tính chủ quan, và mỗi người có một sở thích riêng. Hơn nữa trong cả ngàn các món ngon của lạ, rất khó chọn ra được một thứ ngon nhất, nói chi phạm vi của nghệ thuật mênh mông, bao la… Nhưng, nếu câu hỏi được đặt ra khác đi:“Giả dụ, bị trôi giạt, sinh sống đơn độc trên một hoang đảo … và nếu được chọn sách của một tác giả, quý vị sẽ chọn ai?” Và, nếu như được hỏi như thế, chúng tôi không ngần ngại trả lời: phải là cụ Nguyễn Du của chúng ta, với tuyệt tác phẩm Truyện Kiều và thêm bài Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh, là hai kho tàng văn chương, có đọc đi đọc lại vẫn không nhàm chán, như những kỷ niệm về mối tình đầu… Thế rồi, tàn cuộc tranh cãi… về đến nhà, nằm suy nghĩ lại…nhận thấy rằng thơ của cụ Tố Như chứa đựng nhiều điển tích cổ của Trung Hoa, và, với chữ nghĩa nông cạn, hiểu biết sơ sài… chúng tôi…ắt không thấu hiểu nổi tâm sự thầm kín của tác giả, và sẽ mù mờ như kẻ đi lạc đường, và ở trên hoang đảo, biết hỏi ai đây?
Văn Nhân Lục Page 273 Ước gì, có mấy nhà văn đàn anh, đàn chị như : Phạm Quốc Bảo và Bùi Bích Hà, cùng có mặt trên đảo, để giúp giải nghĩa và bình thơ Kiều, chúng tôi sẽ không ngần ngại chọn Nguyễn Du là tác giả độc nhất vô nhị … cho nên, tôi đành đổi ý, và chọn một tác giả khác, và vị này có lời văn dễ hiểu, trong sáng nhưng sâu sắc, và được công nhận là “nhà văn viết truyện ngắn hay nhất thếgiới”…đó là William Somerset Maugham, một văn sĩ người Anh, ( 1874 -1965), tác giả cuốn Kiếp Người ( Of Human Bondage ), với hơn cả trăm truyện ngắn hấp dẫn . Viết rất hăng say và có công trình đồ sộ, ông là một nhà văn sung mãn và được hâm mộ nhất thế giới… Chúng tôi mê văn Maugham từ khi còn nhỏ, khi được đọc qua cuốn Kiếp Người do Nguyễn Hiến Lê dịch nên dễ dàng trả lời câu hỏi nêu trên. Đây là cuốn tự truyện về mối tình ngang trái, khó hiểu của một sinh viên y-khoa với một cô gái vừa xấu xí vừa thô lỗ, thuộc giai cấp nghèo hèn trong xã hội. Có thể quý độc giả cho chúng tôi là lẩm cẩm khi đặt ra câu chuyện vớ vẩn như trên. Sở dĩ câu hỏi được đặt ra với mục đích giới thiệu vấn đề chính của bài viết này: đó là lý do nào, khiến người ta ưa chuộng một sáng tác? Trong cả ngàn văn nhân, thi sĩ, biết chọn ai đây, đứng trước một vườn hoa, biết hái bông nào? Do đó, vấn đề dựa vào tiêu chuẩn khách quan nào để có thểđánh giá (phê bình) một tác phẩm? Trong cuốn Viết Và Đọc Tiểu Thuyết, Nhất-Linh đề nghị ra hai tiêu chuẩn: Theo ông, một áng văn hay là qua được sự thử thách của không gian và thời gian. Nếu bất cứ ai, dù ở đâu và lúc nào đọc cũng thấy hay, tất là có gía trị lâu dài. Sáng tác của Maugham rõ ràng đã qua 2 thử thách trên, bởi vậy, dù là người Việt, nhưng chúng tôi đã không ngần ngại chọn nhà văn người Anh này, sau khi đọc một cách thích thú một số lớn tác phẩm của ông. Văn của Maugham vừa mang tính lãng mạn và nhân hậu, vừa lôi cuốn người đọc, đưa độc giả về miền quá khứ xa xôi, và tạo cơ hội cho chúng ta lọt vào các nơi chốn xa lạ, từ Âu sang Á, y như đang sống thật trong câu chuyện của tác giả. Ông diễn tả sâu sắc tâm lý nhân vật, như hiểu thâm sâu con người, câu chuyện sát với sự thật, như đưa người đọc đi lạc vào mê hồn trận của cuộc đời! Sống đến 91 tuổi, cuộc đời của tác giả cũng lâm ly và bi đát không kém…hơn nữa, ông có cả trăm tác phẩm xuất bản, sẽ giúp chúng tôi tiêu pha thời gian sống trên hoang đảo cô đơn! Tuy nhiên, chúng tôi ngạc nhiên là ông không đoạt được giải Nobel về văn chương dù là một tác giả ăn khách nhất của thế kỷ XX? Có thể, giải thưởng đó không tương xứng với ông, và nếu được chọn, ông cũng sẽ khước từ, vì coi mọi giải thưởng là có ràng buộc, như J.P. Sartre đã làm năm 1964? Về lý do từ chối giải thưởng, Sartre nói “một nhà văn không nên trở thành một định chế”. Tuy nhiên, có lời đồn đãi là: sau đó, Sartre muốn lãnh số tiền thưởng và bị Hội Đồng giải Nobel khước từ? Triết gia và nhà văn người Tây này có thể cao siêu về triết lý, nhưng lại ngây thơ về chính trị, đã tin tưởng vào sự tốt đẹp của chủ nghĩa cộng sản. Điển hình thuộc loại chính trị gia salon, Sartre thường la cà ở các quán cà-phê khu Montmartre (với bà Simone de Beauvoir, một đồng chí, và có khi là tình nhân), ngồi tán dóc chuyện triết lý, khạc ra những lời
Page 274 Vietnamese Authors and Literary Collectionca tụng chủ nghĩa duy vật, trong khi (ngu si hay hèn nhát ) không lên tiếng bênh vực cho cả trăm ngàn tù nhân vô tội đang đói khổ trong các trại tù cộng sản! Theo Maugham, một nhà văn cần vượt lên trên dư luận và viết đúng sự cảm nhận của mình (độc lập và không chịu ảnh hưởng của bất cứ ai)? Không phải là một người đọc nhiều, và hiểu rộng, nhưng chúng tôi cũng xin mạo muội có nhận xét: ảnh hưởng của Maugham vượt ra ngoài nước Anh, lan tràn khắp thế giới, như văn chương là ngôn ngữ chung của loài người. Chính cả các nhà văn trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn của chúng ta cũng đã chịu ảnh hưởng của Maugham (và thêm Guy de Maupassant, một tác giả người Pháp 1850-1893). Chẳng thế, có sự tương đồng rất đậm nét giữa cuốn Đời Mưa Gió của Nhất-Linh viết chung với Khái-Hưng và Of Human Bondage của Maugham… và trong nhiều tác phẩm khác, chúng tôi nhận thấy phảng phất tính lãng mạn, tình tiết éo le bất ngờ trong văn của cả ba người. Riêng Nhất Linh, trong cuốn Giòng Sông Thanh Thủy, có đoạn đã nêu đích danh Maugham trong một cảnh miêu tả một đêm trăng. Trong một bài tiểu luận về sáng tác (A Traveller In Romance, Uncollected Writings, 1901-1964, tr 93) Maugham có một lời khuyên đến những kẻ tập tành viết văn (xin lược dịch) như sau: “…Bạn nên viết về những điều mình biết…bởi vì , nếu viết về những thứ quý vị không biết, sẽđưa đến lỗi lầm khôi hài…”, rồi căn dặn thêm: “ Nhà văn nên viết lên sự thật như họ đã nhìn thấy, về những điều họ biết…dù cho đó là đề tài cũ…nhưng nếu người viết có cá tính, nhìn nó với một nhận thức riêng, vẫn gây cho độc giả sự chú ý…một tác giả có thể luôn luôn muốn ở vịtrí khách quan, nhưng tâm tính, thái độ riêng của họ với đời sống, vẫn là cá biệt, và sẽ tô đẹp quan điểm của mình.” Một khi đã yêu mến ai, sẽ dễ chịu ảnh hưởng và muốn noi gương người đó, như một người con ngoan đối với ông cha. Có lẽ chúng tôi, cũng vì lý do hâm mộ, và thầm phục nên tôn Maugham như một vị thầy. Thế nhưng, hôm nay, chúng tôi là đứa học trò hư đã không nghe theo lời khuyên của thầy, dám cả gan viết về một đề tài mà mình không thông suốt, hiểu biết tường tận! Xin quý độc giả, và sư phụ (ở dưới chín suối), nghe lời biện bạch của đệ tử: Mặc dầu không hiểu biết tường tận, để có thể viết lên một bài tham luận đăng trong sách Giáo Khoa, nhưng những lời phiếm luận viết ra đây là trong vòng của sự hiểu biết giới hạn của mình, và quan trọng là viết đúng với sự việc tác giả nhìn thấy, và theo nhận thức của riêng cá nhân, hy vọng cũng có chút giá trị về giải trí, không phải là học hỏi như một bài giảng của vị giáo sư. Có lẽ điều quan trọng không phải là biết nhiều, mà là biết rõ cái mình không biết và có tính mơ mộng, sáng tạo của nghệ sĩ, như Einstein đã nói “sức tưởng tượng đáng kể hơn sự hiểu biết”. Nghệ thuật xuất hiện từ khi có loài người, từ bốn chục ngàn năm trước (qua những điêu khắc bằng ngà hay các hình vẽ trong hang đá) , và từ đó, luôn có mặt bên cạnh con người, tự nhiên như bầu không khí, và ngày nay được thể hiện qua mọi vật dụng hằng ngày. Tuy vậy, từ các nhà
Văn Nhân Lục Page 275hiền triết Hy Lạp của nền văn minh Tây Phương, và Trung Hoa cổ xưa, cho đến gần đây hơn, nhiều nhà văn, triết gia đã cố gắng, như Leon Tolstoy, mổ xẻ,suy luận về một định nghĩa cho nghệ thuật, nhưng cũng không sao hoàn chỉnh được. Các triết gia đương đại đưa đến một kết luận, cho rằng, về căn bản, nguồn gốc của nghệ thuật là một vấn đề triết học, nên không thể nào định nghĩa rành mạch! Để dễ cho việc nghiên cứu và bàn luận, nghệ thuật được phân chia ra theo 7 loại hình (Kiến trúc, điêu khắc, hội họa, âm nhạc, văn học, kịch nghệ và điện ảnh), nhưng hiện nay, khi nói đến nghệ thuật (art) người ta thường hàm nghĩa là nghệ thuật thị giác (hội họa, kiến trúc và điêu khắc, visual art), còn văn học là nghệthuật về ngôn từ , văn bản (văn chương, literature )… Một bài viết phê bình về nghệ thuật (thị giác) như hội họa chẳng hạn, có đối tượng là một bức tranh, nhưng không thể là hội họa (bài văn không thay thế tấm tranh được), và luôn luôn phụthuộc vào bức họa, thế nhưng, một bài phê bình văn học trở thành một tác phẩm riêng rẽ , độc lập, như một đứa con. Do một sáng tác độc đáo, lạ đời về một tấm ảnh chụp cái bồn đi tiểu, của Marcel Duchamptriển lãm năm 1917, đã bị phản đối cho là quá tục tĩu và không thể nào là một công trình nghệthuật. Sau đó đưa đến nhiều tranh cãi, bàn thảo…nhưng cuối cùng, mọi người cũng phải công nhận bức ảnh chụp đó là một tác phẩm nghệ thuật. Kết quả tranh luận đưa đến một định nghĩa được nhiều người công nhận là hoàn chỉnh nhất (đại ý):“Nghệ thuật là công trình do con người cấu tạo từ cảm xúc, tư duy (không phải có sẵn trong thiên nhiên như khúc gỗ hay hòn đá có hình thù đặc sắc…), và đã được tác giả cho nó danh hiệu là nghệ thuật (art)…” Định nghĩa mới mẻ này rất rộng rãi, nhấn mạnh đến một điểm mấu chốt: đó là nếu ai có sáng tác và coi nó là nghệ thuật, vậy nó là nghệ thuật! (Thí dụ: nếu tôi vẽ một vòng tròn hơi méo, và đặt tên là Méo Mó, bức tranh đó là một công trình nghệ thuật) Không như toán học, dựa vào lý luận và chứng minh, văn chương được xem như một lời tâm sự, viết ra từ cảm xúc để mua vui (Nguyễn Du ), giải trí là mục đích chính, tất nhiên còn nhiều chủ đích khác của tác giả (như giáo dục, tuyên truyền.v.v… ). Sau lời rào trước đón sau, chúng tôi xin trở lại với đầu đề của bài tiểu luận này (Phê Bình NghệThuật Và Nghệ Thuật Phê Bình) và xác định mấy chữ Phê Bình Nghệ Thuật đứng trước để chỉmột ngành nghiên cứu về phê bình, còn Nghệ Thuật Phê Bình, trong đó hai từ nghệ thuật được sử dụng như một động từ, có nghĩa rộng, nói chung, ví dụ như nghệ thuật chơi cờ, nghệ thuật nấu cơm.v.v… Theo Wikipedia Tiếng Việt, phê bình văn học (nghệ thuật về ngôn từ) được định nghĩa như sau:
Page 276 Vietnamese Authors and Literary Collection“Phê bình văn học là sự phán đoán, bình phẩm, đánh giá và giải thích tác phẩm văn học, đồng thời kèm theo việc phán đoán, bình luận, giải thích, đánh giá những hiện tượng đời sống mà tác phẩm nói tới.” Ngành phê bình văn học bắt đầu phát triển khi sách vở được phổ biến rộng rãi trong quần chúng. Lúc tiên khởi, một số nhà văn nhà thơ đứng ở vai trò phê bình và trở thành một thứ siêu độc giả, tự coi như họ hiểu rõ tác giả và tác phẩm để thẩm định, giản dị là khen hoặc chê một sáng tác. Có lẽ từ đó, mới có sự phân chia ra các trường phái văn học, đưa đến bút chiến, tranh cãi trên diễn đàn… Đối tượng của phê bình là tác phẩm, và là đứa em song sinh của nghệ thuật, đi đôi với nhau như hình với bóng. Nhưng, phải chăng nhà văn vẫn có thể diễn tả một cái bóng mà không cần đảđộng đến cái hình. Thường, lời phê bình đầu tiên cho một tác phẩm được ghi trong tựa đề, hoặc lời mở đầu của cuốn sách, có thể do chính tác giả hoặc người khác viết ra, mục đích giới thiệu, thường là có ý khen, cho in trước phần nội dung của văn bản và cũng có khi đặt sau văn bản, trường hợp này được gọi là lời bạt (khác với nhan đề hay đầu đề là tên đặt cho tác phẩm). Tất nhiên: khen hay chê đều mang tính chủ quan, nên dễ sai lạc, do đó, vấn đề được đặt ra là cần có một tiêu chuẩn khách quan, như thước đo, để thẩm giá, định lượng chính trực một tác phẩm văn chương. Theo Nhất-Linh, hai tiêu chuẩn quan trọng nhất là sự thử thách của không gian và thời gian: nếu độc giả ở bất cứ nơi đâu và ở vào thời đại nào đọc vẫn thấy hay, tác phẩm đó sẽ có giá trị trường cửu, thí dụ như hai cuốn Chiến Tranh Và Hoa Bình của Tolstoy, và Đỉnh Gió Hú của Emily Bronte. Trái lại, theo quan điểm thi dĩ ngôn chí, văn dĩ tải đạo của Trung Hoa, văn học có mục đích di dưỡng tinh thần cho người viết và truyền bá tư tưởng đến người đọc, tương tự như quan điểm Duy Vật Mác-Xít, cả hai đều xem nghệ thuật có một giá trị rõ ràng, và mục đích phục vụ (cho giai cấp vô sản), từ đó văn học trở thành một công cụ tuyên truyền! Muốn vượt thời gian và không gian, văn chương cần đứng ngoài đạo đức và tư tưởng và là món giải trí, mua vui thiên hạnhư cụ Nguyễn Du chủ trương! Có tác giả đi xa hơn cho văn học là môn chơi, và ở đời, chỉ có chơi là chính! Maugham đã viết (đại ý): “…Một khi tác giả muốn đóng vai trò nhà truyền giáo hay tuyên truyền, họ không còn là một nghệ sĩ nữa…” Từ đó, nhà nghiên cứu văn học phân ra hai quan điểm: Nghệ thuật vị nghệ thuật và nghệ thuật vị nhân sinh! Thực tế không thể có ranh giới giữ hai quan điểm trên, và cả hai đều là hai thái cực không có mặt trong văn học. Chúng tôi suy đoán một cách thiển cận (vì không chứng minh nổi): văn chương cần mang tính nhân bản và hướng thượng, vì con người chỉ thỏa mãn hoàn toàn khi có hành động tốt lành, hay vươn lên một lý tưởng cao đẹp (nhân chi sơ tính bản thiện, Khổng Tử)? Như vậy, cuối cùng phê bình lại quay về tiêu chuẩn cái đẹp như mấy triết gia Hy Lạp chủ trương từ ngàn xưa? Ấy, ấy… như vậy, chúng ta lại trở lại cái vòng luẩn quẩn vì cái đẹp là một quan niệm chủ quan tùy theo phong hóa và thời gian!
Văn Nhân Lục Page 277(Các nhà phê bình văn học có đưa ra nhiều lý thuyết, lý giải sâu sắc chi ly về tiêu chuẩn phê bình, khó hiểu vượt qua trình độ của chúng tôi, và tiếc là ra ngoài phạm vi của bài viết này!) Trong khi đó, nhà văn Tolstoy lại phủ nhận toàn bộ giá trị của phê bình nghệ thuật. Ông viết:“Phê bình nghệ thuật là điều phi lý và không cần thiết, vì lẽ bất cứ tác phẩm nghệ thuật đích thực nào cũng có khả năng tự biểu hiện tư duy và cảm xúc mà mọi người đều cảm nhận được… mọi sự lý giải các tư duy và cảm xúc đều là thừa, vì nghệ thuật truyền cảm xúc và trải nghiệm theo một cách mà lời nói không thể nào diễn tả lại được… giảng dạy nghệ thuật đồng nghĩa với tiêu diệt nghệ thuật, tiêu diệt cá tính của nghệ sĩ. ” Đi ngược với quan điểm cực đoan của Tolstoy, Oscar Wilde (1854-1900) viết “Bản thân phê bình nghệ thuật cũng là một nghệ thuật, phê bình là một sự sáng tạo theo nghĩa cao cả nhất của từ đó. Phê bình thực chất vừa có tính sáng tạo lại vừa độc lập….Đối với nhà phê bình, tác phẩm nghệ thuật đơn giản chỉ là một sự gợi ý cho một tác phẩm mới của chính nhà phê bình. Tác phẩm mới này không nhất thiết phải giống với cái mà anh ta phê bình” Chẳng khác gì, dù cho là con, nhưng khi trưởng thành, trở nên độc lập với cha mẹ và có cuộc sống và cá tính riêng, như người ta thường nói: cha mẹ sinh con, Trời sinh tính? Như vậy, phê bình văn học và phê bình nghệ thuật vừa cần có sáng tạo, vừa đòi hỏi suy luận, và trở thành một bộ môn riêng của nghệ thuật. Sau đây là một thí dụ về tính sáng tạo của phê bình nghệ thuật: Vào cuối Thế Kỷ thứ XIX, một số họa sĩ Âu Châu tập trung ở Paris quyết định từ bỏ quan điểm hiện thực cố hữu (vẽ đúng như cảnh thật, sát với thiên nhiên) thay vào đó, chủ trương diễn tả theo nhận thức, cảm giác (vẽ như họa sĩ cảm nhận thiên nhiên), và cho ra mắt nhiều bức họa sử dụng màu sắc sặc sỡ, ấn tượng. Nhà báo Louis Leroy của tờ Charivari, sau khi đến xem triển lãm của những họa sĩ trong một môn phái mới này vào tháng 4 năm 1874, có viết một bài phê bình về bức \"Ấn tượng, mặt trời mọc\" của Claude Monet (Impression, Soleil Levant), in lại dưới đây, và đã chê bức tranh đó chỉđáng là một bản phác họa, vẽ nháp, (sketch), nhưng đã tình cờ cho khai sinh từ \"trường phái ấntượng\".
Page 278 Vietnamese Authors and Literary Collection Nhờ có lời mỉa mai về “bọn ấn tượng” (với ý chê bai) khi phê bình bức họa của Monet mà Leroy đã vô tình đặt tên cho một môn phái hội họa quan trọng và lừng danh! Trong trường hợp này, đôi khi chê vẫn có giá trị hơn lời khen tặng? Trong thí dụ dưới đây, là trường hợp nhận xét của người viết và phản ứng của người đọc lại khác hẳn nhau: Đó là nhà văn Nhất-Linh đã tự phê bình, và khác với quan điểm chung, không coi trọng mấy cuốn tiểu thuyết đã tạo nên danh cho mình, như Đoạn Tuyệt, Lạnh Lùng và Hai Vẻ Đẹp. Ông tự đánh giá như sau: Sự hoan nghênh những truyện đó, nhất là Đoạn Tuyệt, những lời khen ngợi của các nhà phê bình, sau này đã làm cho tôi khó chịu một cách thành thật (trích trong cuốn Viết Và Đọc Tiểu Thuyết của Nhất-Linh). Còn nhiều nhà văn mới viết, và thường khi ra mắt tác phẩm lần đầu, trong bài mở đầu, hay có ý khiêm nhường, không dám tự nhận là một nhà văn, và chỉ coi mình là một người kể chuyện. Tương tự cũng có nhà phê bình văn học có ý khen một tác giả, và có lời lẽ như: “Tuy nhiên chưa là nhà văn, nhưng tác giả là một người kể chuyện tài tình!” Xin có hai nhận xét: Thứ nhất: Theo đúng định nghĩa (được công nhận rộng rãi: Một người viết trở thành một nhà văn khi có tác phẩm được xuất bản và phổ biến), như vậy, tác giả, dù là của một tác phẩm đầu tay, tất nhiên là một nhà văn chính cống, không thể chối cãi được! Thứ hai: Không nên phân biệt vai trò của nhà văn với người kể chuyện. Theo thiển ý, mọi tác phẩm văn, thơ, đều là kể về một câu chuyện (dùng ngôn ngữ, văn bản viết ra, để diễn tả, thay vì lời nói)… từ truyện thơ Kiều cho đến cuốn tiểu thuyết Chiến Tranh và Hòa Bình, và như tất cảmọi tác phẩm văn chương khác, đều là về một câu chuyện…và cụ Nguyễn Du lẫn Leon Tolstoy đều dùng văn, thơ để kể một câu chuyện, họ cũng chỉ là những người dùng ngôn ngữ kể câu chuyện, trong khi đó, người kể chuyện, tất nhiên dùng lời nói để diễn tả .Có thể nhiều người coi nội dung của văn chương phải khác hơn là một câu chuyện, như cần chứa đựng triết lý cao siêu, khó hiểu ? Câu chuyện nào cũng chứa đựng triết lý, hay bao hàm ngụ ý, đó là tùy theo nhận thức của người đọc, và độc giả có toàn quyền suy diễn. Hai nhận xét trên cho thấy phê bình không phải là dễ, và tuy có thể dễ hơn sáng tạo, nhưng đòi hỏi sự hiểu biết chuyên môn và suy luận… Đến đây, lời khuyên của Maugham lại văng vẳng bên tai chúng tôi, và trở thành lời khuyên chí lý: “nên viết về điều gì bạn biết”. Đứng trên phương diện kinh tế, mọi vật dụng trên thị trường đều có giá, bao gồm cả sách văn chương được bầy bán ở hiệu sách. Đánh giá tác phẩm, phê bình văn học trở thành một nghành phục vụ, thay mặt độc giả lựa chọn sản phẩm…còn nếu cố ý khen để được trả công, nhà phê bìnhtrở thành người viết mướn hay nhà quảng cáo!
Văn Nhân Lục Page 279 Tất nhiên, có sự phân biệt giữa hai giá trị của một tác phẩm văn chương: giá trị về nghệ thuật và kinh tế. Cả hai đều quan trọng, và thường đi đôi với nhau; truyện có hay, sách mới bán được. Như vậy, gián tiếp, quảng cáo cần thiết cho sự phổ biến tác phẩm và nếu thành công, sẽ là một khích lệ cho tác giả. Thế nhưng, còn nhiều nghệ sĩ (Việt-Nam) rất e ngại quảng cáo cho tác phẩm của mình, đôi khi còn ngại cả danh hiệu nhà văn, như ta thường nghe nhiều vị than thở, thanh minh:“Tôi không dám tự nhận là một nhà văn…tôi chỉ viết để viết…viết chỉ là nghiệp dĩ…và tôi chỉlà người kể chuyện!” Nghệ sĩ không nên có mặc cảm như vậy, nhất là vào thời điểm và hoàn cảnh của xã hội tư bản, nền kinh tế thị trường, khi tiền bạc có ảnh hưởng đến nhiều lãnh vực, nhất là chính trị. Liên quan đến việc xuất bản, xin kể quý độc giả một câu chuyện: Cách đây đã lâu, tình cờ, chúng tôi được một người bạn tặng cho một tập thơ, do một nhà thơ nổi danh từ lâu đời (thời thập niên 50 cho đến gần đây) sáng tác. Cụ là một thiên tài xuất khẩu thành thơ, còn được mệnh danh là vị chưởng môn của thi văn đàn hải ngoại. Chúng tôi có nghe tiếng cụ từ lâu, khi còn đi lính phục vụ tại Cục Tâm Lý Chiến của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa ở đường Hồng Thập Tự (cũ), ngay sát bên cạnh nơi cụ làm việc một thời gian dài. Trao tập thơ xong, anh bạn còn tiết lộ đặc biệt về tác giả: mặc dù làm thơ rất sớm, sáng tác sung mãn, nhưng cho đến khi có tuổi, cụ vẫn chưa có một tác phẩm xuất bản. Vào cuối đời, sau khi được đàn em, thân hữu, và gia đình đề nghị và khuyến khích, cuối cùng cụ đồng ý cho in một tập thơ để đời, lưu lại cho hậu thế. Thế nhưng, vị chưởng môn trong văn đàn của chúng ta đưa ra một điều kiện: không được cho mang đi xuất bản, vì theo ý cụ: “thơ không phải để bán!” cho nên khi in xong, chỉ gửi tặng thân hữu. (Trên trang bìa sau, có in đậm hai chữ: Không Bán!) Cầm tập thơ trên tay, lòng tôi bỗng ngẩn ngơ, rồi cảm thấy bâng khuâng giây lát, bởi vì: tâm tính của tác giả phảng phất như của một kẻ sĩ thời xa xăm nào đó; rồi hình ảnh ông đồ già trở lại trong trí nhớ của tôi: Những người muôn năm cũ, hồn ở đâu bây giờ? (Vũ Đình Liên,1936) Trái ngược với chưởng môn, tôi chỉ là một kẻ tập tành viết lách, nên sau mỗi lần cho ra mắt một tác phẩm, thường hao hức muốn có độc giả chiếu cố, và mong cho bán được dăm ba cuốn, như thế là cảm thấy vui rồi. Câu chuyện đến đó, tưởng thế là chấm dứt…chợt gần đây, tình cờ tiếp xúc với một thứ nam của cụ, và có dịp nhắc đến tập thơ, chúng tôi tỏ ý tiếc tác phẩm không được cho in và phổ biến, nên, mạo muội đề nghị (biết cụ đã qui tiên) là đem xuất bản để quần chúng có cơ hội mua thưởng thức, và anh đã trả lời (đại ý) : “Vì chỉ là một đứa con trong đại gia đình còn nhiều anh, chị em…
Page 280 Vietnamese Authors and Literary Collectioncó lẽ một ý kiến sẽ không đáng kể và khó được chấp nhận…”. (Trao đổi với anh Phạm Hoài Bắc, cựu phóng viên Quân Đội VNCH) Quyết định của vị chưởng môn khiến chúng tôi nghĩ đến trong văn học sử thế giới, có nhiều trường hợp tương tự, như nhiều văn nhân, thi sĩ, họa sĩ, đã có ý tiêu hủy sáng tác của mình, xin đưa ra hai thí dụ: Nhà văn Franz Kafka (1883-1924): Vào cuối đời, đã để lại bản thảo (chưa xuất bản) cho hai người bạn với lời dặn dò là đốt hết sau khi ông qua đời. Nhưng một trong hai người là Max Brod, đã không theo lời dặn và đem xuất bản như thường.Và, ngày nay, những cuốn sách đó được coi như là các tuyệt tác của Kafka. Còn họa sĩ Claude Monet (1840-1926), ở thủa hàn vi, phải chịu cảnh khó khăn, nghèo khổ, và vì không muốn tác phẩm lọt vào tay các chủ nợ nên ông tự phá hủy tranh của mình. Tất nhiên, nên tôn trọng ý nguyện của người sáng tác, và chúng tôi có quan điểm khác với vịchưởng môn, và tự hỏi: Một khi đã viết, là để cho có người đọc, vậy, tại sao lại giới hạn độc giả? Giữa thân hữu và quần chúng, có khác gì nhau? Hơn nữa, phải chăng, sáng tác là nhằm mục đích chia xẻ và phục vụ? Nghệ sĩ, cũng như tất cả mọi người, rồi cũng phải ra đi, còn lại chăng là những sáng tác của họ, vậy sao chưởng môn không để lại cho hậu thế chút quà vui? Bài viết này (dưới dạng một phiếm luận), dường như đã đưa tới thắc mắc, và tạo ra nhiều câu hỏi hơn là giải đáp về đề tài (đơn giản) là khen hay chê, và cuối bài lại đưa đến chỗ mơ hồ. Tất nhiên do lỗi tác giả không am tường về phê bình văn học và đã viết lung tung, chẳng ra đâu, vào đâu? Nếu phê bình nghệ thuật là một bộ môn của nghệ thuật, phần lớn dựa vào suy luận và nghiên cứu, và muốn trở thành một nhà phê bình, rất khó khăn. Thế nhưng, ai ai cũng có thể bàn về vấn đề nghệ thuật của phê bình, như tác giả bài phiếm này. Có lẽ tựu chung Nghệ thuật là giải trí, và không để giải quyết vấn đề nào cả, nên không có gì là cao siêu và khó hiểu ./.Ngọc-Cường(Nguyễn Tường Cường)
Văn Nhân Lục Page 281 Nguyễn DươngNhà văn* Tiểu sử nhà văn Nguyễn DươngSinh quán: Hà Nội. Năm 1943Tiểu học/ Trung học: Lycée Rollandes, Chasseloup Laubat, Jean Jacques Rousseau 1962Tốt nghiệp Y Khoa Bác sĩ Đại học Saigon: 1969Y sĩ Đại uý Quân Lực VNCHSang Hoa Kỳ: 1975Gia nhập Quân Lực Hoa Kỳ: 1979Y sĩ Trưởng Sư Đoàn Một Thiết Giáp Hoa Kỳ. Tham gia Chiến tranh Vùng Vịnh (Saudi Arabia, Iraq và Kuwait)1991Y sĩ Đại tá Lục Quân Hoa Kỳ 1992Về hưu hè năm 1999.* Tác phẩm đã phát hành:1. Hà Nội Tới Hoa Thịnh Đốn2. Việt Nam: The Other Side (Challenging All Odds)3. Vòng Quanh Thế Giới Trong 19 Ngày (Và Du Lịch Những Nơi Khác)
Page 282 Vietnamese Authors and Literary CollectionMÉMOIRES DE MA JEUNESSENote de l’auteur: Le ‘moi’ est haïssable, mais pour écrire une autobiographie on doit utiliser ‘je’. Pure et simple.Désolé.Dương NguyễnMÉMOIRES DE HANOIJe suis né à Hanoi, Nord Vietnam.Mon père venait d’une famille de 4 frères et 2 sœurs qui vivait à Hà Nam, au sud de Hanoi. C’était un petit village endormi à côté d’une rivière ondulante parmi des collines calcaires. Il était le premier des habitants du village qui avait réussi l’examen pour être secrétaire auprès du Consulat de France à Hanoi. Sa famille à Hà Nam avait des moyens financiers modestes. En travaillant au Consulat, il a gagné la main de ma mère qui était une de quatre filles de Mr. Đỗ Thận et de Mme Hoàng Thị Phú. Mon grand-père maternel était un éducateur bien connu à l’époque à Hanoi. Il avait publié beaucoup de livres pédagogiques pour les écoliers vietnamiens (les premiers livres de cette catégorie). Il était nommé Officier Mandarin (Quan BốChánh) de la Cour Impériale à Huế au centre du Vietnam. II était aussi membre de la société Tự Lực Văn Đoàn (similaire à l’Académie des Lettres). Parmi ses collaborateurs étaient Mr. Hoàng Cao Khải (Vice-roi du Tonkin) et Mr. Trần Trọng Kim (Premier Ministre de l’Empire du Vietnam, Chevalier de la Légion d’Honneur). Sa femme venait d’une famille riche de commerçants.Leur maison était située dans une des fameuses 36 rues de Hanoi (vieux quartiers de Hanoi). C’était une maison à deux étages et une longueur d’approximativement 400 mètres, possédant 2 étables. Mon père, enthousiaste de chevaux pur-sang, en possédait trois nommés Attila, Passe-partout et Diamant.... Il aimait la chasse aussi: je me souviens d'une photo de lui avec un fusil de chasse, à côté d’une voiture avec un chevreuil attaché à l’avant. Notre maison avait un arbre de pamplemousse dans la première cour. Dans la seconde cour, il y avait un réservoir pour accueillir l’eau de pluie qui était plus délicieuse à boire que l’eau courant potable. Une plante de bétel grimpait au mur près du réservoir. Il y avait également un arbre qui donnait des fruits pomme-crème. La dernière cour au bout de la maison avait un mûrier planté dans un coin clôturé où on élevait des poules pour avoir des œufs frais. Il y avait aussi, dans la dernière cour, un abri anti-aérien qui servait de protection contre les bombes (on l’appelait la ‘tranchée’).Étant secrétaire du Consulat, mon père parlait le français, il aidait donc son frère, mon oncle, pour procurer de la dynamite pour miner des collines calcaires à Hà Nam et exploiter le calcium pour le commerce. On peut dire que grâce à mon père, mon oncle avait acquis une fortune et ainsi améliorait les conditions financières du côté paternel de notre famille.
Văn Nhân Lục Page 283Ma famille vivait confortablement chez nos grands-parents qui étaient aisés. Mon grand-père possédait en plus un ranch au village Bưởi (près du sud de Hanoi). Il y avait creusé 2 emplacements pour les tombes destinées pour lui-même et sa femme, ma grand-mère. Il y avait aussi un cercueil en bois de teck, renommé par sa longue durée de décomposition; mon grand-père l”avait mis en pleine vue dans le salon de la maison.Mon père, avec sa connaissance du français, naturellement, élevait ses enfants (moi-même, mes frères et sœurs) en français et les envoyait aux lycées français (Petit Lycée Rollandes et Le Lycée Albert Sarraut à Hanoi) au lieu des écoles vietnamiennes. Comme mes camarades de classe, je n’étais pas confortable, ou plutôt je ne savais pas pourquoi nous devions réciter par cœur “Nos Ancêtres Sont des Gaulois” selon les rigueurs du curriculum colonial français.J’allais à l’école à pied (c’était une courte distance) avec mon petit frère Q. passant le long du Lac Hoàn Kiếm. Quelquefois, en retournant à la maison, nous attrapions des têtards et puis les relâchaient après. Pendant la saison des ‘sấu’ (un fruit de la taille d’une bille de 2 cm de diamètre qui sont acides quand ils sont verts mais délicieusement sucrés quand ils sont mûres), nous essayions de les cueillir utilisant une longue branche. Nous jouions à ‘cache- cache’ avec les enfants de notre âge (10 ans) sur les trottoirs près de chez nous. Avec l’argent de poche que ma mère me donnait, j’achetais une glace – une Eskimo – c’était délicieux. Des autres fois, j’avais osé d’acheter un bol de ‘phở’ chez un marchand ambulant et je l’avais mangé tout seul, j’avais très peur car, à l’époque, j’étais un gosse qui avait à peine 10 ans. Mon père m’avait acheté une petite bicyclette avec 2 petites roues de support, une à chaque côté, pour qu’elle ne puisse pas tomber et il m’avait conduit dans les rues autour de la maison.Note: En ce moment où j’écris ces lignes (dernière semaine du mois de Mai 2021), il y a une invasion des cigales (type Brood X) qui sort du sol chaque 17 années à Washington, D.C. et en Virginie. Ceci me rappelle mon temps à Hanoi où je me forçais à me réveiller à l’aube pour aller ‘récolter’ les cigales en train d’émerger de leurs chrysalids qui grimpaient sur les troncs d’arbres près de l’hôpital Phủ Doãn (le plus grand hôpital de Hanoi à l’époque), à côté de chez nous. Nous emportions les cigales et les mettions dans nos moustiquaires pour observer leur développement et le durcissement de leurs ailes.En 1954, en été, nous avions passé une semaine de vacances à la plage de ĐồSơn, une ville près de Haiphong, à une ou deux heures de voyage à l’est de Hanoi. Nous y avions dévoré des crevettes frites enrobées de pâte, grâce à une cousine qui avait un restaurant à la plage. Les crevettes étaient très savoureuses, surtout car nous avions faim après avoir joué dans les vagues. A l’époque, je trouvais que la vie passait d’une façon assez monotone. Un jour, j’avais vu dans un journal une photo des parachutistes qui sautaient à Điện Biên Phủ, je ne connaissais rien de la guerre des Français et des nationalistes vietnamiens contre les communistes Việt Minh. Mon père me l’avait raconté plus tard. Après la défaite des Japonais qui avaient occupé le Vietnam à la fin de la deuxième guerre mondiale, l’empereur du Vietnam, Bảo Đại, avait nommé Mr. Trần Trọng Kim son Premier Ministre.
Page 284 Vietnamese Authors and Literary CollectionLes vietnamiens nationalistes assemblaient spontanément à l’Hôtel de Ville de Hanoi pour fêter l’indépendance quand, soudainement, un petit groupe des communistes déployait un drapeau communiste au balcon de l’édifice.Un gars de ce groupe brandissait un revolver et tirait ... Il haranguait la foule comme si c’était une révolution des communistes pour assumer le gouvernement de Mr. Kim. Naturellement, les français revenaient pour réclamer sa colonie etla guerre du Vietnam commençait entre les communistes qui usurpaient le gouvernement contre les nationalistes qui combattaient avec les français.Je me rappelais très bien cet après-midi-là à Hanoi en plein canicule, l’asphalte des rues commençait à fondre, des camions à citerne d’eau arrosaient les rues poursuivies par des enfants qui s’amusaient dans l’eau froide et calmante. J’étais en train de jouer aux billes avec mes camarades sur le trottoir devant ma maison. Mon père m’appelait pour rentrer tout-de-suite. Je ne comprenais pas pourquoi. Mon père m’avait dit que je devais rentrer pour préparer à partir le lendemain pour Saigon au sud Vietnam. C’était un jour avant la signature de la Conférence de Genève (20 Juillet 1954) pour la partition du Vietnam en deux pays différents, le Nord sous les communistes et le Sud sous nationalistes, séparés par le fleuve Bến Hải au 17ème parallèle au nord de Huế.Mon père avait entendu des rumeurs et décidait de partir bien avant l’assaut des féroces communistes qui tuaient tous les gens qui avaient travaillé avec les coloniaux français. Un cousin du côté de ma mère était noyé par son fils adoptif sous l’ordre de Hồ Chí Minh parce qu’il avait pardonné un membre du parti nationaliste Quốc Dân Đảng (Koomintang Vietnamien).Il était le Chef de Police du Tonkin (Nord Vietnam) pour HCM! On parlait des executions commises par les communistes punissant ceux qui avaient des liaisons avec des autorités coloniaux français. On entendait également des anecdotes concernant le “Đấu tố” (la dénonciation des riches propriétaires capitalistes), ces tribunaux primitifs des partisans communistes condamnaient à mort sur place tous les capitalistes pour avoir profité de la sueur du prolétariat. Mes grands frères et grandes sœurs étaient déjà partis à Saigon avec leurs époux. Je ne sais pas pourquoi mon père m’avait choisi pour aller seul avec lui à Saigon. Il avait laissé sa femme, ma mère, pour conclure des affaires financières de la famille, avec mes petits frères et sœurs. Je savais plus tard que, grâce à ses connections, il serait le Chef du Budget pour leMinistre des Affaires Sociales du nouveau gouvernement du Premier Ministre Ngô Đình Diệm.Ce voyage était la première fois que je voyageais dans un avion. C’était un DC-3 de la compagnie Cosara; une hôtesse blonde m’avait donné du chewing gum à mâcher.Jusqu’alors, je n’avais jamais vu ni connu ce bonbon. Mon père m’expliquait que c’était pour atténuer la douleur des oreilles quand il y avait une chute de pression dans la cabine dû à l’altitude.Nguyễn DươngJuillet 2021 (révisé par Valérie Perales)
Văn Nhân Lục Page 285 Mes grandparents maternels
Page 286 Vietnamese Authors and Literary CollectionTình bạn bốn mươi năm sau“Bức tranh vân cẩu vẽ người tang thương” (Cung oán ngâm khúc) Trước hết định nghĩa chữ bạn rất rộng, bạn một đằng có thể là một người rất thân thiết, có liên hệ hai chiều cùng một sở thích thân mật như bạn đời, bạn cố tri, bạn tri kỷ. Ngược lại hay đằng khác bạn là một người bằng hữu như bạn trong sởlàm, bạn học, bạn đồng hành, bạn đồng đội, bạn văn nghệ v.v… Có một loại bạn khác tuy gọi là bạn nhưng là bạn giai đoạn, bạn chính trị, chiến thuật, chiến lược, bềngoài thì cười đùa rất thân thiện nhưng trong bụng thì dấu gươm dao gầm ghì nhau có thể thanh toán lẫn nhau khi không còn lợi lộc, hay hẹp hơn là bạn cờ bạc cùng trong một sòng bài như xì phé sát phạt lẫn nhau. Còn một loại bạn khác là khi giàu sang có chức tước thì có thiếu gì kẻ tự nhận là bạn hay ngược lại khi khốn khổ thì bạn bè trốn mất như trong câu latin: “Donec eris felix, multos numerabis amicos” Nhớ thuở nào khi mới mất nước, người Việt ta khi gặp nhau trên đất Mỹ xa lạnày thì rất lấy làm vui mừng. Tuy chỉ là bạn cùng học chung một trường biết nhau sơ qua gặp lại được là rất sung sướng, tíu tít gợi chuyện ngày xưa hay chuyện trốn thoát khỏi Việt nam mà hàn huyên. Còn thân biết hơn một tí là mời tới nhà, vồn vã mời ăn uống lẫn mời ngủ lại. Nhà xập xệ không sao, thiếu chỗ ngủ không thành vấn đề, bao bố ngủ giải quyết dễ dàng, ăn uống vài con tôm, bát phở hay vài ngọn rau chia nhau bát cơm ăn rất là đầm ấm thắm thiết, dùng đĩa bát ly bằng plastic cũng xuề xòa vui vẻ.Nhiều khi lái xe tới một tỉnh hay tiểu bang khác, ghé lại không biết đường lối thì mở quyển điện thoại kiếm các tên có họ Nguyễn, Lê, Trần, Phạm v.v… là thường được chỉ tới chỗ nào có bán phở, cơm Việt nam hay chợ Á đông, người Việt lúc đó rất dễ dàng thật tình chỉ bảo lẫn nhau.Hơn bốn mươi năm sau, vạn vật thay đổi thì tình bạn cũng thay đổi. Lái xe tới một tỉnh là trước hết là bạn quen phần đông giấu số điện thoại, còn người lạ thì rất dè dặt không muốn chỉ điểm lại hỏi tại sao gọi họ. Nếu còn liên lạc được bạn hơi thân ngày trước thì khác với lúc trước rất vồn vã mời gặp nhau, nay thì trở mặt khi gọi qua điện thoại thì có vẻ lơ là tuy rằng trong thâm tâm người bạn ghé thăm là quý bạn bè nên mới hỏi han thăm viếng chứ cũng chả cần như muốn xin ăn hay xin ở. Đó là chưa kểbây giờ với cell phone (điện thoại di động, không còn kiosk điện thoại với quyển điện thoại dày cộm) lại càng khó khăn hơn vì thiếu gì cách không muốn gặp mặt như không trả lời điện thoại vì cho là số điện thoai lạ hay là không đem theo điện thoại hay điện thoại hết pin hay điện thoại hư hay không có WiFi v. v. v. Cũng có thể lúc người bạn viếng thăm đó cũng không đủ thời giờ tới viếng thăm bạn vì họ còn phải đi xem thắng cảnh hay gặp gỡ gia đình. Có ông bạn kể lại là cùng bạn thân ngày xưa mà khi gọi điện thoại báo tin là sẽ tới thăm thì ông ta bèn giới thiệu khách sạn gần nhà ông ta. Có thể là ông ta rất bận, không thể tiếp đón cả ngày được hay cũng có thể ông ta cho là nhà ông ta không xứng (hay quá xứng) mà tiếp đón bạn cũ. Hay biết đâu trong gia đình người bạn đó có lủng củng trong nhà? Ngược lại ông bạn viếng thăm cũng có thể ngại ở nhà bạn vì sợ làm xáo động đời sống hằng ngày của ông bạn, thành ra khi tới thăm mà ngại muốn nối tiếp lại tình bạn cũ, bị đặt vào một trường hợp khó xử, không gọi điện thoại báo thăm thì bị trách móc, còn gọi lại bảo thì e ngại bị phiền nhiễu.
Văn Nhân Lục Page 287Dần dần loại bạn đó xa dần dần và phai nhạt. “Loin des yeux, loin du coeur” (Xa Mặt Cách Lòng) Thời gian cũng làm thay đổi tình bạn như lúc trẻ có cùng sở thích với nhau lúc đi học, lúc đi chơi, đi ăn nhậu, đi đá banh, đi tán gái v.v… Nghĩ tới đây không hiểu các cụ đọc bài này có để ý là thời ở Việt nam khi tới thăm bạn bè nhất là khi đi “cua” bạn gái nhiều lúc càng ngồi lâu càng lấy làm sung sướng, nhiều khi ngồi hơn cả buổi mà chả có anh nào dám xin vào trong nhà bạn gái để đi tiểu chẳng hạn. Có thể lúc đó rất sợ hay rất e ngại viếng thăm nhà cầu cô bạn gái hay là lúc đó hạch prostate vẫn còn tốt chưa bị bệnh són đái phải đi giải quyết ngay! Ngược lại ở xứ Âu Mỹ này nhà nào nhà nấy đều có “toilet” gần ngay phòng khách nên vụ xin đi “tè” không lấy gì mà phải e ngại sợ khám phá ra mất “bí mật quốc gia.” Sau khi lập gia đình thì lại có sự thay đổi khác: Có khi tình bạn sẽ lạnh nhạt dần dần như trường hợp một bà bạn rất thân cùng trong một nhóm học xưa kia với một bà bạn khác. Nhưng khi hai bên lập gia đình thì dần dần xa nhau (không được phép phối ngẫu nhất là với khác phái?). Tuy vậy cũng có trường hợp khi có gia đình lại vẫn mời nhau cùng chia sẻ chuyện vui buồn gia đình con cái với nhau.Nhưng khi con cái thành thân có cháu chắt lại khác. Lúc đó như có một bà bạn kể là ngày thường đi làm, đến cuối tuần là lái xe hai ba tiếng tới tiểu bang khác đến đón cháu về nhà ở chơi qua cuối tuần nên bạn bè đều bị dẹp bỏ. Họ quan niệm lúc đó là không biết ngày nào họ sẽ “rụng” nên còn được sống nhiều lúc nào với cháu, chắt thì càng tốt: niềm vui hạnh phúc là được vui với con với cháu, còn bạn văn nghệ, xã giao đều cho vào hạng thứ không cần thiết phải gặp nhau. Ngay trong trường đời cũng không cũng không tránh khỏi sự thay đổi như có câu ca dao: “Giàu đổi bạn, sang đổi vợ.” Có vài bạn sang Âu Mỹ không được thành công cho lắm, hoặc thi không đậu không trở lại được nghề cũ, hoặc làm ăn không khá thì có mặc cảm, xa lánh bạn bè mặc dù người bạn cũ vẫn muốn giữ tình bạn xưa. Còn người làm ăn rất khá rất giàu có thì lại không muốn cho bạn bè tới thăm nhà lấy cớ là rất bận, ở xa v.v…, tới tỉnh thăm điện thoại là lơ là, nếu thân hơn lắm là cho hẹn ở một quán ăn trên đường đi làm vềkhông như hồi hai mươi năm trước thì đi lại rất thường mời ăn mời uống mời đi mời lại rất thân. Lại có trường hợp là ở xa có bạn tới thăm thì phải tiếp đón, nhưng sau đó có rất nhiều người bạn hỏi thăm quá thành ra thông thường nên cảm thấy bị tình trạng “fatigue” mệt mỏi không muốn tiếp đón nữa vì thấy là sau khi thăm hỏi xã giao vài câu là không có chuyện gì muốn nói nữa. Cũng vì có nhiều anh chị bạn nói là đi dựhội bạn họp mặt lần đầu tiên thì rất sốt sắng vì muốn gặp lại bạn bè lâu năm xa cách nay đã gặp mấy lần rồi thành nhàm không còn hứng thú nữa. Nhất là họ lại nói là họp bạn là một chuyện nhưng đi lại thăm một chỗ mà họ đã tới du lịch rồi nay lại tới lại tốn tiền tốn thì giờ họ không còn hăng hái nữa.Bạn bè (bạn phải có “bè”), chữ ghép đôi này rất có lý nhất là khi tiêu cực hơn hết (tri kỷ) hiểu nhau như Bá Nha Tử kỳ nhưng ngược lại cũng có loại “schadenfreude” (tiếng Đức) là khi thấy một bạn gặp một chuyện khó khăn đau đớn thì bạn lại thấy một cách thích thú sung sướng ngấm ngầm. “Thất thập cổ lai hy”
Page 288 Vietnamese Authors and Literary Collection Hiện tại thời Cô Vít 19 này, tình bạn lại gặp một chông gai lớn là không dễdàng gặp mặt bạn để đấu láo hay ăn nhậu nữa: đâu còn ra quán cà phê (như ở Cali quán Cà Phê Factory ở Quận Cam, một loại như Café Catinat thời Sài gòn xa xưa). Đã thế lại phải đeo mặt nạ, tiếng nói nghe khó khăn lại các cụ bị điếc tai ít hay nhiều vì tuổi già mới đau chứ! (hay thấy buồn cười vì trông thấy nhau bịt mặt mũi như thuở chơi bắn súng bịt mặt cao bồi Zorro)! Mà gặp nhau qua Zoom hay Facebook hay Skype cũng không còn hấp dẫn nữa! Đó là chưa kể vụ thích hay chống Trump cũng thành một vấn đề ngấm ngầm hay bộc lộ bút chiến chửi nhau trên diễn đàn hay qua điện thoại làm chia rẽ tình bạn trầm trọng. Ngay cả trong gia đình cũng bị xào xáo vì vụ “pro hay con Trump” này.Thế mới đau là khi nghĩ là những ngày sắp tới sẽ dần dần ít đi khi so với nhữngngày đã qua mà các bạn già cũng không tránh khỏi các lục đục đó. Bốn mươi năm sau hay bốn mươi lăm năm sau, nhiều biến đổi, tóc đen thành muối tiêu, dần dần muối nhiều hơn tiêu trở thành bạc trắng. Đó là có phúc sống tới lão chứ không như vài bạn bè bị đau nặng, bệnh hiểm nghèo, ung thư chẳng hạn thì dần dần tự ý xa lánh bạn bè và rụng mất quy tiên mặc dù bạn bè vẫn hỏi han thăm hỏi chia sẻ. Chung qui là thời gian làm vạn vật biến đổi không chừng. Mọi sự đều như là bức tranh vân cẩu biến hóa vô chừng. Cây cối mỗi năm thay đổi lá cành, năm nay khác năm ngoái, cây già rồi sụp đổ nên sự tình bạn cũng không thể tránh khỏi, chỉ mong rằng đừng biến thành như: “Trải qua một cuộc bể dâu, những điều trông thấy mà đau đớn lòng” (Nguyễn Du)Nguyễn Dương (2020)
Văn Nhân Lục Page 289THE PENTAGON ATTACK: 11 SEPTEMBER 2001Around 9:00 AM, I was simultaneously coordinating the care for my wife who just fractured her ankle while working up a female patient with abdominal pain and a female patient with knee pain. While ferrying my wife on wheelchair to the patient waiting area I caught a glimpse on TV showing a burning World Trade Center (North) and an incoming big jet hitting the second tower. My first reaction was horrible, how the terrorists can do that, they could not do it alone, the jumbo jet cannot be handle by a lonely suicide bomber like kamikaze. My second reaction was at least there is some luck because they only hit the upper third of the Towers not realizing that the whole building will collapse due to the shear intense burning jet fuel which melted down the supporting frame.Then the clinic loud speaker announced a code yellow is in effect meaning that there is an upcoming mass casualty. The Commander of our clinic asked all personnel to evacuate the clinic. At the time we did not know why we had to leave the clinic. Someone later told us that an explosion occurred at the Pentagon and they need medical support. A couple of doctors at the clinic and I rushed thru Henderson Hall (a close by Marines barrack) to the Pentagon. Along the way, debris of an air plane wing was seen on the grass. Passing an ambulance, a person gave me a yellow jacket which I saw a word physician sewn on. Thinking that everybody on the scene are required to wear a jacket for identification, I readily put it on. I did not read fully the whole sentence because I cannot read upside down. Later I saw the large characters of SENIOR PHYSICIAN on the reflecting jacket.We stopped to examine briefly a couple of patients who were not seriously injured, only puncture/abrasions of the hands and arms. Being almost the first medical personnel on the scene and not knowing that continuing danger is a possibility, we were able to come close by the helicopter air control tower, passing that portion of the Pentagon which was burning (not collapsed yet). We stopped by and examined one black female patient in emotional distress with rapid breathing. I listened to her lungs and heart sounds which seem alright. Reassured, we moved forward; thensomeone called that they need docs at the staging area. We rushed in the direction of the yellow tarmac near a bridge overpass. We treated a couple of more injured patients. Then someone yelled for everybody to move under the bridge because an unaccounted – for hijacked plane was reported on our way. We helped carry the above patient on a stretcher to the underpass. As we were setting supplies under the bridge, orders were given for us to move out, and volunteers were helping carry medical supply boxes, the yellow nylon tarmac and the yellow flag. We tried again to spread the tarmac then someone said we have to move it back under the bridge because of another plane is coming. A Navy doctor was examining the head of a black female on a stretcher, I look at her legs and saw second degree burn on her thigh. Someone brought an oxygen canister and I hooked the cannula to her nose. I went to another patient with head injury which I found to be benign.At that time, another Navy doctor, Dr. F., a Colonel, was with me, I bonded with him and suggested that together we checked what medical supplies we have to be familiar with our capabilities.A Chaplain came. We discussed and located an EXPECTANT an area for cadavers/human debris.
Page 290 Vietnamese Authors and Literary CollectionA very energetic and effective Air Forces officer, MAJ (Major) M. (I learned later he was designated as the Triage Scene Commander) was giving orders to medics, he asked me and Dr. F. who is in charge here, Dr. F. look at my yellow jacket with the well read SENIOR PHYSICIAN and pointed to me.So here I am, defacto leader of the Yellow staging area team, called first as an overflow triage team. I designated COL B. as my chief nurse and Dr. F. as my deputy and a Navy LT nurse P. as the core team. Yellow ribbons were tied to the arms as a way of identification. I asked an Army Major Q., a medical service officer to collect the name of our team and keep a ledger. I tasked a non-medical volunteer to attach disaster tag to all incoming patients. Other medical personnel started to trickle in and Col B. was charged to form smaller teams with one doc and a couple of nurses and physician assistants in each team. While forming our team we also treated trickling patients as soon as they arrived.During the meantime FBI evidence collection teams arrived with their black bags and began to sweep the area for plane debris. Reinforcements arrived: Doctors, physician assistants and nurses from Walter Reed Army Hospital and nearby civilian hospital. Also an Army Major nurse from a burn unit showed but was soon taken away to the RED area. Our area seems as the first assembly point for medical personnel, non medical volunteers and medical supplies to be cannibalized later for the ‘FRONT’. We kept re-inventorying our medical supplies and re-forming our small teams. A civilian physician from OPCON (Operation Control) arrived. After a quick briefing by MAJ M. he realized that we were much organized and well sheltered against the scorching sun so he expressed his idea of moving the out “Front” team to merge with us. We also discussed procuring electricity for the expecting long night coverage. Around 17:30 I started to think about my wife with the fracture ankle (I did call earlier asking the clinic personnel to relay the message to her that I am doing OK). I talked to Dr. F., COL B., COL U. and MAJ M. about I leaving for a couple of hours to check on the status of my wife who is from my understanding till at the clinic from the early morning COL U. said there is no need for me to come back, they have plenty of physicians. While debating myself how to get back to the clinic (about a mile as the crow flies) not only because I did not know how to get back on foot but also how to get thru all these gates in between the Pentagon, Henderson Hall and Ft Myer. I flagged a passing unmarked minibus with a FBI agent on and asked for transportation back to my office. With again my easily recognized yellow jacket SENIOR PHYSICAN on, he readily agreed to transport me: barriers on the road were no obstacle for him, he just crossed over and dropped me at the front gate of Ft. Myer. Although the gate was closed and heavily guarded with guns and machine guns, the soldiers recognized me and opened the gate for me to enter.Tired, I decided to go home and plan to grasp a quick bite and a short shower before rejoining my yellow team.Close to home a half-staff American flag is flying…Duong Nguyen, MD, Colonel (Ret.), US Army, CPT, ARVN
Văn Nhân Lục Page 291Nguyễn Hoàng LinhNguyễn Hoàng Linh tên thật và bút hiệuNguyên quán: Hà Nội Bắc phầnSinh quán: Phong Dinh Nam phần. Cầm tinh con khỉ Bính ThânTrú quán: Tiểu bang miệt vườn Garden State New Jersey Hoa KỳLúc còn ở quê nhà: Đi học, đi tù và sau đó vượt biển tìm tự doTới xứ tự do: Đi làm vườn thuê cho nông trại, đi học lại rồi cắpô đi cày cho hai tiểu bang Pennsylvania và New Jersey từ năm 1993 cho tới naySở thích:• Đọc sách (tiếng Ta, tiếng Tây và tiếng Ăng Lê). • Xướng Họa Đường Thi và • Chăm sóc cây kiểngVì có gốc gác là dân quê mùa vùng sông nước Cửu Long nên rất thíchđược bằng hữu gọi bằng cái nick dân dã Hai Lúa
Page 292 Vietnamese Authors and Literary CollectionCON THUYỀN KHÔNG ĐẾNHai Lúa Hoang Linh New Jersey(Để tưởng nhớ đến vong linh song thân. Với lòng tri ân các Ngài đã không bỏ rơi con cái trong chốn lao tù cộng sản khốn khổ.)Trả tiền cho anh tài xế Honda ôm xong, Thắng đã vội vã bước vào nhà chú Sáu. Thím Sáu đã hoảng hốt nhìn anh, vì mỗi lần anh xuất hiện bất ngờ như thế này thường là có chuyện quan trọng. Nếu không phải là đang bị săn bắt, thì cũng là để báo cho chú Sáu của anh khẩn cấp chuẩn bị “ra khơi”.Thắng chậm rãi nói với chú Sáu của anh, “Ngày mai cháu ‘đánh’ chuyến nữa. Nếu chú thím đồng ý thì chú để thím và hai em ở lại, và sáng mai lên đường sớm với cháu!”. Thím Sáu rươm rướm nước mắt, “Chín năm trời lặn lội thân cò nuôi chú trong chốn lao tù, không lẽ giờ này thím để chú lao vào cõi chết một mình hay sao?”Chú Sáu ngước mắt nhìn Thắng chờ đợi câu trả lời. Thắng nói vắn tắt, “Thôi thì phó mặc cho sốmệnh. Mình sẽ lên đường sáng mai”.Đúng 4 giờ sáng hôm sau, Thắng đáp chuyến xe sớm về Sóc Trăng và hẹn gặp lại chú thím Sáu tại nhà một người bạn. Đến Sóc Trăng, anh dẫn chú thím Sáu đi gặp ông già Tám, người tổ chức chuyến đi để điều đình. Ông Tám phân công, “Đúng ra Thắng phải lên ‘cá lớn’ trước với bác Trí tài công để phụvới bác ấy một tay. Nay có thêm thím Sáu và hai đứa nhỏ, thôi thì Thắng sẽ xuống taxi tại ngã bảy với gia đình chú Sáu và sau đó sẽ lên ghe lớn tại vàm Đại Ngải đêm nay vậy”.Khoảng giữa trưa cùng ngày, đúng vào giờ tan chợ sáng tại chợ nổi trên sông của thị trấn Phụng Hiệp. Thắng ăn mặc lôi thôi y hệt như một anh nông dân hai lúa chính hiệu. Tại bến đò chính của thị trấn, Thắng đã hướng dẫn gia đình chú Sáu “đổ quân” xuống taxi. Thắng đã từng dạy học như một giáo sư tư nhân dạy giờ tại trường Trung học Thị trấn tại địa phương này. Mặc dầu đã hóa trang giống như một ông già, nhưng để tránh gặp mặt người quen, Thắng đã lủi thật nhanh xuống ghe nhỏ.Taxi của Thắng đến vàm Đại Ngải khi mặt trời chưa tắt nắng. Thắng cho ghe nhỏ neo lại để chờđợi “cá lớn” xuất hiện. Nghĩ đến chiếc ghe neo lại tại chỗ rất dễ bị ghe địa phương nghi ngờ, nên anh nói với chú tài xế taxi, “Anh nằm ngủ một tí đi, để tôi nhảy xuống tắm một chút”. Thắng lặn hụp thỏa thích gần một tiếng đồng hồ, mà vẫn chưa thấy tăm hơi của mấy chiếc taxi khác đâu cả. Thỉnh thoảng, mấy ghe câu tôm địa phương lại gần hỏi thăm dò, “Chuyện gì mà mò lặn hoài dzậy cha nội?”. Thắng đã lên tiếng chửi thề cho hợp với dân đia phương, “Bà mẹ nó! Có cái neo con vợ tui vo gạo nấu cơm làm rớt cha nó xuống sông rồi. Mò hoài cũng không thấy đâu!”. Cũng may, hai đứa bé con chú Sáu sau khi uống thuốc ngủ, vẫn còn ngủ rất say. Và rồi mấy chiếc ghe câu tôm cũng đã lặng lẽ bỏ đi ngay sau đó.Đến lúc mặt trời đã lặn hẳn, tất cả các ghe taxi khác cũng đã tập trung đầy đủ tại điểm hẹn. Sau khi đã kiểm tra đúng “mật hiệu” bằng những ánh đèn pin được dặn trước, ông Tám cho tất cả taxi đổ quân lên ghe lớn. Đúng nửa đêm, “cá lớn” đã nhổ neo hướng về biển Đông. Nhờ cửa sông Cửu Long rộng mênh mông và bóng đêm che phủ bao la, nên đến hừng sáng thì “cá lớn” đã hùng dũng rẽ sóng trên biển Thái Bình Dương. Đây là lần thứ ba Thắng đã cùng ghe lớn đi lọt ra tới đại dương. Anh vội vã đưa tay lên làm dấu thánh giá.Khi mặt trời lên đã khá cao, ghe của Thắng cũng đã chạy ra khỏi sông Cửu Long khá xa và đang trên đường di chuyển ngang phía Nam của Côn Đảo. Đây là vùng biển cực kỳ nguy hiểm vì có rất nhiều đoàn ghe quốc doanh với các bảng hiệu “Hậu Giang”, “Côn Đảo”, “Chiến Thắng” thường đánh bắt hải sản ở đây. Bất thình lình, Thắng nhìn thấy qua ống nhòm, một chấm đen từ xa đang di chuyển ngày càng gần đến con tàu nhỏ bé của anh. Sau khi bàn bạc với bác Trí, bác đã quyết định cho nổ thêm máy phụ và cố gắng chạy hết tốc lực về hướng hải phận quốc tế. Sau hơn nửa tiếng đồng hồ rượt đuổi, chiếc ghe quốc doanh đánh cá với lá cờ máu bay phất phới trên mui, đã tới sát ghe của Thắng. Ghe quốc doanh đã không cặp vào ghe của Thắng ngay mà đã khai hỏa vài tràng súng AK nổ chát chúa để thị uy. Có thể họ e ngại ghe của anh có trang bị lựu đạn hoặc súng ống gì chăng. Thêm nửa tiếng đồng nữa với chuỗi đối thoại chỉnghe được loáng thoáng để “thương lượng”. Bên phía ghe quốc doanh kèm với vài phát súng thị uy là những câu chửi thề rặc accent của dân Bắc Kỳ đồng chí, “Địt mẹ, lũ chúng mày là lũ vượt biên phản quốc đáng tội chết”. Ghe quốc doanh ở trên đầu gió, còn ghe của Thắng neo ở cuối hướng gió. Cho nên khi
Văn Nhân Lục Page 293mấy anh Bắc “đồng chí” chửi tục thì Thắng, dân Bắc “há mồm” (Dân di cư vào Nam bằng tàu há mồm) nghe rất rõ ràng. Tuy nhiên đến khi Bắc “há mồm” mở miệng thương lượng, thì Bắc “đồng chí” không nghe được vì ngược hướng gió thổi. Cuối cùng mấy anh Bắc “đồng chí” có thể vì do tức giận, đã nổ máy húc mạnh mũi ghe vào đít ghe của Thắng làm “giàn xề” bị nứt, và nước bắt đầu rỉ vào ghe.Sau khi đã húc chiếc ghe vượt biên nhỏ bé một phát cho bõ ghét, đoàn quân “chiến thắng” trên chiếc tàu đánh cá quốc doanh to lớn dài trên 20 mét đã nhảy lên chiếc ghe vượt biên. Vài tên tay cầm súng AK lâu lâu lại nổ súng bắn “lấy le” một phát để uy hiếp tinh thần “lũ phản động” đang run rẩy như cầy sấy. Những tên còn lại hai tay cầm hai cái giỏ đệm to tướng để “vội vã vơ vẩn vào vơ vét về” từ vàng vòng, hột xoàn, nữ trang, quần áo, thậm chí cho đến mấy đồng bạc lẻ của bà bán xôi thối lại cho thím Sáu, cũng được các đồng chí vơ vét sạch sẽ. Một cô học trò cũ của Thắng, lúc tên Bắc “đồng chí” quát tháo cô chưa kịp trả lời, đã bị hắn tát cho một bạt tai hộc máu mồm, văng ra một cục nylon bên trong có mấy tờ giấy bạc 100 dollars Mỹ. Tên thủy thủ khoái chí cười nhe hàm răng… mã tấu ra vì đã “trúng mánh” lớn. Thắng cũng bị lột chiếc quần jean cũ mèm đang mặc trên người. Anh ứa nước mắt thầm nghĩ, “Đám hải tặc có ‘giấy phép’ này nếu mà tụi nó dám hãm hiếp đồng bào của mình thì có khác chi hải tặc Thái Lan?”.Sau khi đã “thu hoạch” hết tất cả “chiến lợi phẩm” trên chiếc ghe nhỏ bé của “lũ phản động”, đoàn quân “chiến thắng” đã nhanh chóng rút lui. Một tên trong bọn đã nhe hàm răng vẩu mã tấu ra huênh hoang, “Chúng mày đã chơi đẹp với chúng ông, nên thôi thì chúng ông để cho chúng mày được tiếp tục ra khơi”. Thắng đưa mắt ngước nhìn sang phía chiếc tàu quốc doanh đánh cá để ghi nhớ trong đầu số tàu. Tuy nhiên lũ ăn cướp “cháu ngoan Bác Hồ” này chắc đã từng ăn hàng chuyên nghiệp rất nhiều lần, nên đã ranh ma dùng mấy chiếc bao bố tời để che đi mất bảng số tàu của bọn chúng.Thắng đau đớn nhớ lại câu ca dao truyền khẩu: “Con ơi nhớ lấy câu này Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan”.Câu ca dao trên muôn đời sẽ là một chân lý, nhất là trong thời đại HCM của nước CHXHCH Việt Nam . Sau khi đám “hải tặc có giấy phép” rút lui, Bác Trí và Thắng đã đi coi kỹ lại tình trạng hư hại của ghe lớn. Đít ghe bị nứt khá lớn. Thắng đã kêu gọi mấy anh thanh niên thay nhau dùng thùng và thau, chuyền tay tát nước ra cho ghe khỏi chìm. Bánh lái tàu đã bị tàu quốc doanh húc cho rớt ra và đã bị sóng đánh trôi giạt đi mất. Bác Trí đã lấy hai cái đòn dài, dùng để bước lên xuống, đóng lại thành bánh lái tạm thời. Có một vài bác lớn tuổi đã từng ở tù CS như Thắng, đã nêu ý kiến rằng tại sao không tiếp tục chạy ra hải phận quốc tế mà lại quay trở về đất liền. Thắng rớt nước mắt phân trần, “Tàu chúng ta sẽ bị chìm trong vòng vài ba tiếng đồng hồ nữa nếu như không gặp được tàu quốc tế cứu vớt. Trở lại đất liền chắc chắn sẽ ngồi tù, nhưng vẫn còn sống sót để tiếp tục ra khơi nếu ta còn có cơ hội”.Nhờ xuôi gió và thuận sóng, “con thuyền không đến” đã trở lại được đất liền trước khi trời sụp tối. Lúc đó nước triều đang lên, nên sóng đã xô một phát thật mạnh đẩy con cá lớn lên phía trước nằm luôn trên bãi cát ven biển của huyện Vĩnh Châu. Mấy người dân địa phương sống tại ven biển đang đi nhặt củi tại mé rừng gần đó, đã chạy ùa đến để “chia vui” với “con thuyền không đến”. Họ nhấn mạnh, “Các anh vô cùng may mắn. Nếu sóng không xô tàu các anh vướng lên bãi cát mà lại xô tàu ngược ra khơi, thì chỉ vài ngọn sóng nữa là tàu các anh đã bị lật úp, và các anh đã chết đuối hết cả rồi”.Họ chỉ cho Thắng thấy hàng chai lọ được cắm ngược đầu dọc theo bãi cát trên mé rừng và giải thích đó chính là bia mộ của các thuyền nhân trên các “con thuyền không đến”, đã không may mắn được sóng xô hẳn tàu lên bãi như tàu của Thắng. Những người nông dân nói thêm là trong mùa sóng to gió lớn này, họ hay kéo nhau ra bờ biển để lượm xác những thuyền nhân vắn số được sóng xô giạt trôi vào bờ. Họđã giúp chôn cất những thuyền nhân này và thu lượm những gì còn sót lại trên người của những người đã chết, từ tư trang cho đến giấy tờ tùy thân đã được bọc nhựa. Trong những chai lọ được cắm ngược xuống cát, chính là chứng minh nhân dân hoặc giấy căn cước VNCH, căn cước quân nhân của những người đang vùi thây dưới bãi cát vàng ven biển. Một người hỏi thăm Thắng quê quán ở đâu. Khi Thắng nói anh dân Cần Thơ thì Bác ấy đã nói, “Mấy năm trước, Bác có giúp chôn cất một xác chết. Khi móc trong quần áo ra có tờ căn cước quân nhân ghi tên thiếu tá Bác sĩ Quân Y Đoàn Trọng T. Nơi tùng sự của ông là Trung Tâm Chỉnh Hình Cần Thơ”. Thắng đã ứa nước mắt vì Bác sĩ Đoàn là bạn chú Tư của anh. Chú Tư là y sĩ của trại giam tù phiến Cộng vùng 4 chiến thuật. Trại giam này nằm gần bên Trung Tâm Chỉnh Hình. Tội
Page 294 Vietnamese Authors and Literary Collectionnghiệp vợ con bác sĩ Đoàn cả mấy năm trời cứ tưởng ông đã tới nơi an toàn nhưng không chịu liên lạc với gia đình. Có ai ngờ đâu ông lại nằm ở đây!Sau khi đã leo hết ra khỏi tàu, 47 người trên “con thuyền không đến” túa ra chạy trốn vào bìa rừng dưới sự hướng dẫn của những người nông dân địa phương. Thắng đã trở lại tàu lấy thêm nước dự trữvà vài bọc “xôi vị” mà anh đã bỏ sót lại trên tàu trước khi trở vào rừng. Ngoài sữa cho hai đứa nhỏ mới 6 và 18 tháng tuổi, anh còn khệ nệ gùi trên lưng một can nước. Toán thuyền nhân chạy trốn từ nhóm ghe nhỏ của Thắng tổng cộng 13 người, con số không may mắn, được một nông dân giấu gần một gò đất cho gần đường đi ra chợ. Anh nông dân giải thích rằng du kích chỉ lo đi ruồng bố sâu trong rừng già nên sẽkhông ngờ có người trốn gần ngay sát bến đò này. Suốt gần hai ngày đêm, Thắng vẫn còn nghe văng vẳng tiếng chó sủa và tiếng súng M16 nổ đì đùng. Đến ngày thứ ba thì thằng cu Tí, con chú Sáu mới có 6 tháng tuổi, do đã hết thuốc ngủ và bị tiêu chảy vì phải uống sữa pha bằng nước trong rừng, bắt đầu ré lên cất tiếng khóc. Thắng nhớ lại cô Hồng dược sĩ gần nhà anh, trong một lần vượt biên bất thành trở về nhà, đã lặng lẽ chôn xác đứa con trai 9 tháng tuổi ngay dưới gốc ổi sau nhà. Thằng bé chết ngạt vì bị bịt miệng quá lâu cho khỏi phát ra tiếng khóc trong lúc trốn trong rừng. Thắng lên tiếng van xin mọi người, “Cứ đểcho cu Tí khóc. Trước sau gì cũng bị bắt thôi. Đừng bịt mồm nó, kẻo thằng nhỏ sẽ bị chết ngạt”. Đến xếtrưa thì Thắng nghe văng vẳng tiếng hát cà rởn của một ông già nông dân: “Ai đã từng đi qua sông Cửu Long Giang. Thoát ra khơi, quay về đi trốn”.Sau đó ông dừng lại cười khà, và cố ý nói thật lớn tiếng cho đám thuyền nhân đang trốn trong gò đất nghe, “Bây ra đầu thú sớm đi để cứu sống đứa con nhỏ. Đừng để nó chết oan tội nghiệp lắm bây ui!”. Nghe xong Thắng cảm thấy chới với đầu óc. Anh vội sờ nắn lại gấu quần tà lỏn. Trong đó vẫn còn nằm im cái khâu vàng hai chỉ Mẹ anh đã may giấu trong đó phòng khi hữu sự sẽ dùng đến. Anh quay qua nói nhỏ với chú Sáu, “Cháu phải dzọt lẹ thôi vì cháu không muốn ở tù cộng sản thêm một lần nữa. Vì tù can tội vượt biên thật kinh hoàng lắm!”Thím Sáu khóc lóc, “Anh đưa tụi tôi vượt biên rồi bây giờ bỏ tụi tôi bơ vơ giữa rừng như vậy hay sao?” Thắng đành cắn răng chuẩn bị chấp nhận ngồi tù thêm một lần nữa. Tới xế chiều ngày thứ ba thì một thì một anh nông dân người địa phương tay cầm rựa lơn tơn tiến vào gò đất. Thấy bộ điệu sẵn sàng “xuất chiêu” của Thắng, chú Sáu đã hoảng hốt kéo Thắng lùi lại vì chú biết rất rõ tánh tình liều mạng của Thắng. Anh nông dân cũng vội vã lùi lại và phân bua, “Tui đi kiếm cái cây để làm cái ách bò chứ không làm hại gì cô bác đâu, đừng sợ”. Tuy nhiên nhìn cái nón “tai bèo” trên đầu anh ta, Thắng ngầm hiểu giây phút “tái khám” của anh đang sắp đến. Sau khi anh nông dân rút lui, Thắng đã nhón giò định bỏ chạy ra khỏi gò đất. Chú Sáu thấy thế đã lên tiếng ngăn cản, “Anh du kích này đã đếm số người ở đây là 13 người rồi. Nếu cháu bỏ trốn lỡ bị bắt lại sau sẽ bị kết tội tổ chức chuyến đi, lúc ấy sẽbị công an đánh cho mềm xương”. Và cả thím Sáu cũng tiếp tục thuyết phục anh đừng chạy trốn một mình. Thắng lại phải nhẫn nhục ngồi chờ đợi tai họa sắp xảy ra. Chưa đến 15 phút trôi qua thì Thắng đã nghe được vài phát súng M16 bắn chỉ thiên rất gần. Một toán du kích tay lăm lăm cây súng trường Huê Kỳ, mặt đằng đằng sát khí hung hăng tiến vào lùm cây hốt trọn ổ 13 tên “phản động” lớn có, bé có, không sót một tên nào…Đoàn quân “thất trận” đánh trên biển, ngoại trừ thím Sáu và hai đứa con của thím, tất cả đều bịtrói thúc ké để điệu về đồn công an xã. Dọc đường, du kích đã dẫn đoàn người vào nhà một nông dân, nhà cửa có vẻ khang trang, để xin nước uống. Bà chủ nhà đã xin phép mấy anh du kích để được “cứu đói” cho đoàn quân “thất trận” bằng một nồi cơm trắng ăn với canh khoai ngọt, nấu với tôm tươi mới vớt từ dưới hàng đáy dưới sông lên. Thắng sẽ ghi nhớ tới chết tấm lòng vàng của gia đình nông dân này. Vì anh đã được tạm thời cởi trói ra trong vài phút, và được ăn no, sau 3 ngày đói khát trong rừng. Lúc đang ăn cơm, một anh công an đã phán một câu nghe lãng nhách, “Đ.M, tao cho tụi bay ăn để tối nay tao ‘oánh’ cho tụi bay lòi cơm ra luôn!”. Chú thím Sáu đang ăn vội vã bỏ chén cơm xuống, ngao ngán nhìn hai đứa con thơ. Thắng nói nhỏ chỉ vừa đủ cho chú thím nghe, “Chó sủa thường là chó… không cắn đâu!” Thím Sáu vội liếc anh và nói nhỏ, “Ở đây tai vách mạch rừng. Cẩn thận!”. Đêm đó đàn bà con gái bị trói bằng dây thừng. Mấy người đàn ông bị còng hai chân bằng còng số 8 của Cảnh sát Quốc Gia VNCH. Lúc anh công an người Khmer còn rất trẻ, siết còng lại, Thắng đã làm bộ nhăn nhó làm ra vẻrất đau đớn. Lúc đó nước da Thắng đen sẫm như da anh công an Khmer. Có thể anh công an này tưởng Thắng là đồng bào của anh, nên đã nới cặp còng lỏng ra hơn một chút. Vì đã từng ra tù, vào khám nhiều
Văn Nhân Lục Page 295lần nên đêm đó, Thắng đã biết cách xoay sở để rút đôi chân ra khỏi còng, và sau đó đưa vào còng trở lại thật dễ dàng. Anh đưa mắt liếc nhìn mấy chiếc xe đạp dựng trước cửa đồn công an để ước tính xem, sẽphải tốn bao nhiêu thời gian để đạp từ đây ra tới thị xã Bạc Liêu.Nhìn vẻ mặt láo liên của Thắng, chú Sáu đã biết ngay ý định trốn trại của anh. Chú Sáu vội bấm anh nói nhỏ, “Tụi nó gác vòng trong, vòng ngoài. Anh trốn không thoát đâu. Lạng quạng tụi nó bắn cho anh tan xác đó. Đừng dại dột!”Tới sáng hôm sau, mấy chiếc xe của công an huyện đã tới chở hết toán tù nhân can tội vượt biên về giam tại trại tù của huyện. Số đàn ông bị nghi ngờ là người tổ chức chuyến đi, trong đó có Thắng, đã bịđám ôn binh công an huyện “tẩm quất” cho mấy trận nên thân. Sau đó, Thắng và hơn 10 người nữa đã “được” ưu ái cho đeo “đồng hồ” Longines Việt Nam, là một sáng chế đặc biệt dã man của nước CHXHCHVN. “Đồng hồ” Longines VN được chế tạo từ sắt móng ngựa 16 ly. Anh em tù nhân gọi đùa là “còng lụi”. Phát minh này được dùng để đáp ứng cho nhu cầu tù nhân ngày càng gia tăng theo cấp sốnhân với công bội rất lớn của nước CHXHCNVN. Còng số 8 của “Đế quốc” Mỹ để lại không đủ cho “cách mạng” xài. Vì số tù nhân của VNCH so với tù nhân của “cách mạng” thật quá ít ỏi. Trước 30 tháng 4 năm 75, mỗi tỉnh của miền Nam chỉ có một trung tâm cải huấn. Sau ngày “giải phóng”, xã nào cũng có một nhà giam nằm kế bên đồn công an xã. Còng số 8 rất bất tiện cho “cách mạng”, vì chỉ còng được một người. “Còng lụi” có thể “lụi” một lúc được cả chục người. Lâu lâu công an đi tuần tra buổi tối, sau khi đã uống rượu xỉn, buồn buồn lấy cục đá gõ một phát lên cây sắt chính của chuỗi “còng lụi” làm cả đám tù nhân đau thấu xương.Đêm đêm trong trại giam mấy “anh đội” vừa đi tuần, vừa lẩm nhẩm ôn bài cho mùa thi tốt nghiệp “bổ túc văn hóa tại chức” sắp tới. Vào một buổi tối mùa Đông, một anh đội vừa đi quanh phòng giam, vừa lẩm bẩm đọc bài thơ “Hang Pắc Bó” của “Boác”:“Sáng ra bờ suối, tối về hangCháo bẹ, rau măng đã sẵn sàng.Bàn đá chông chênh, dịch sử Đảng.Cuộc đời cách mạng thật là sang!”Thắng cười ruồi, “Đúng là thơ…con cóc, của một lũ dốt chuyên tu, ngu tại chức.” Đợi cho anh công an đi khuất, Thắng đã ghé tai bác Trí, cựu Trung Tá Biệt Hải – Cựu học sinh Chu Văn An-Hà nội, đọc nho nhỏ cho bác nghe bài họa chớp nhoáng của Thắng:“Sáng nghe gà gáy, tối nằm hangMuối trắng, khoai khô đã sẵn sàng.Cùm trói, im nghe lời của Đảng.Ở tù cách mạng “cực kỳ” sang!”Bác Trí và chú Sáu nằm hai bên Thắng, đã vội bịt mồm anh lại, kèm theo lời răn đe, “Đợi sang tới Mỹ hãy đọc bài thơ này lần thứ hai, kẻo tụi “Vẹm” nó xử trảm anh ngay bây giờ.”Sau bốn tháng bị đeo “đồng hồ” Longines nằm trong xà lim biệt giam, từ sáng sớm, Thắng và “đồng bọn” đã tiếp tục được đeo “đồng hồ” về khám lớn ở Cần Thơ. Toán tù nhân “được” rước xuống chiếc ghe taxi nhỏ, một chiến lợi phẩm của công an lấy được từ dân vượt biên, để điệu toán tù về Cần Thơ. Thắng cùng các chiến hữu tạm thời được tháo “đồng hồ” để bước xuống ghe cho dễ dàng, và ngay sau đó, đã được đeo “đồng hồ” trở lại ngay. Đặt lưng xuống lòng chiếc ghe còn sặc mùi cá mắm của trại giam, Thắng mơ màng nhớ lại hai câu đối bất hủ của Cao Bá Quát:“Một chiếc cùm lim chân có ĐếBa vòng xích sắt bước thì Vương”.Anh đã ngầm so sánh bọn vua chúa phong kiến “Đế Vương”, và bọn lãnh chúa gian ác cộng sản, thì nhận thấy cả hai bọn này gian ác đâu có thua gì nhau! Cùm lim hay “đồng hồ” Longines cũng đều được dùng để đàn áp con người cả. Chiếc ghe giải giao tù nhân vượt biên đã di chuyển về hướng sông Cửu Long, và sau đó, chạy ngược dòng về hướng Cần Thơ. Khi vừa đến sông Cửu Long, các bạn tù muốn cùng nhau nhích lên một chút sát mạn sườn cùa ghe để hưởng chút gió mát trên mặt sông Cửu Long. Thắng vội la lớn lên, “Chớ có dại dột mấy cha nội. Lỡ sóng đánh rớt hết cả tám người xuống sông, mà hai chân đã bị cùm, là sẽ chết chìm hết cả đám”. Thắng vừa la làng xong, thì bất chợt một chiếc tàu buôn thật
Page 296 Vietnamese Authors and Literary Collectionlớn chạy qua làm gợn lên một cơn sóng mạnh đập vào thành chiếc ghe giải giao tù, làm cả nhóm tám người té lăn lóc trên sàn ghe.Chiếc ghe nhỏ chở tù tiếp tục lặng lẽ theo đuôi chiếc ghe có gắn máy của công an chạy đằng trước. Trên đó, sáu anh công an mặt mày lầm lì, tay lăm lăm khẩu súng đã lên đạn sẵn. Chân Thắng bịcùm, nhưng miệng Thắng chưa bị khóa. Cái đầu vẫn còn suy nghĩ rất sáng suốt. Mấy “anh Đội” ngồi ởphía trên chỉ có thể nhìn thấy để trông chừng tù, nhưng không nghe được tù nói chuyện vì gió sông Cửu Long thổi lồng lộng. Suốt mấy tiếng đồng hồ nằm trong lòng ghe hôi thối trong cảnh bị cùm trói, không những không được thoải mái mà cứ lâu lâu lại có vài anh nhăn nhó, hết mắc tiểu, rồi đến đau bụng mắc đi cầu. “Tè” thì dễ rồi, cứ việc vạch “Bác” ra để giải quyết nhu cầu… sinh lý tại chỗ là xong ngay! Mắc “đại tiện” mới thật là đại…bất tiện!!! Rất may trong số tám người tù có Thắng là người có số tuổi nhỏ nhất, nhưng thâm niên tù tội không nhỏ nên đã giải quyết được sự bất tiện này. Mỗi lần gia đình vào thăm nuôi, Thắng đều để dành lại mấy bọc nylon sau khi đã sơi hết đồ ăn bên trong. Mỗi khi có anh em nào nhăn nhó, mắc “đại tiện”, là Thắng thò tay vào giỏ đệm móc ra vài bọc nylon cho người bạn tù dùng để giải quyết “sự cố”. Thắng không quên dặn họ xài từng bọc một thôi, và để dành cho lần sau. Sau khi anh bạn tù đã “giải quyết nhu cầu sinh lý” vào cái bọc nylon xong, cứ việc thò tay quẳng cái bọc xuống sông Cửu Long cho cá chốt trên sông “giải quyết”… phần còn lại! Thế là khỏe re! Mấy ông già hỏi Thắng ở đâu có sẵn nhiều bọc như vậy, thì Thắng cười hề hề giải thích, “Gia đình gởi đồ ăn đựng trong bọc để “ăn vào”, thì mình phải để dành bọc lại phòng lúc hữu sự cho việc “thải ra” chứ!”.Mấy anh bạn tù đã từng nghe Bắc Kỳ Thắng ca vọng cổ bằng tiếng Bắc, và nay muốn nghe Thắng hát nhạc vàng trên sông Cửu Long. Thắng khoái chí trả lời, “Để moa hát cho mấy toa nghe bản nhạc tuy ‘đỏ’ nhưng mà nghĩa là ‘vàng’!”. Rồi Thắng bắt đầu cất cao giọng hát nhái theo bài “Tình đất đỏmiền Đông”:“Cha xúi con, tìm đường sang đất MẽoNgang Côn đảo, tàu bị cướp quay về.Về tới Vĩnh Châu bị công an bắt nhốtNhốt rồi đưa về khám lớnnn…Cần Thơ!”Các anh em tù đồng loạt vỗ tay vang vọng hòa với sóng nước trên sông MeKong . Thắng lại tiếp tục hát:“Lên tới đây thì đừng mong chối cãiKhai cho rõ, thì nhà nước khoan hồngVàng tốn bao nhiêu ai chủ mưu, ai móc nối!Khai thật đi rồi, thì nhà nước, trả tự doooo…!!!”Thắng đã ngưng lại một chút để rít một hơi thuốc lá làm anh em tù nhao nhao hỏi, “Vậy thì khai làm sao, khai làm sao?” Thắng hát tiếp phần còn lại:“Nhà nước ơi! Ngu dại gì mà khai báoooo (Thắng gân cổ ngân nga)Người ta rủ tui đi,Đi sang Mỹ làm giàu.Người ta rủ tui đi, tui đi tìm tự do!”Mấy anh em tù cùng cười sảng khoái trong cảnh đau khổ cùng bị cùm trói. Sau khúc hát cuối cùng, Thắng đã nhấn mạnh, “Tôi đã từng ở tù nhà giam cấp Tỉnh. Tụi công an chấp pháp Tỉnh dã man tàn bạo hơn công an Huyện rất nhiều. Các anh em tuyệt đối tuân theo phép “đồng nhất không” của Karl Marx: Không nói-Không nghe-Không biết. Đừng thèm nghe những lời công an hù dọa. Nó có hỏi lắt léo, thì phải cố im lặng không nói. Nói nhiều sẽ bị hố. Và nếu như nó có hỏi ai tổ chức chuyến đi, thì trước sau cứ trả lời không biết.” Thắng nhấn mạnh thêm, “Khi công an đánh đập hỏi cung chán chê, mà không moi được tin tức gì thêm, thì chúng sẽ ngưng không hỏi tiếp. Nhưng nếu càng khai nhiều, càng rắc rối lôi thôi. Cha nội nào khai lạng quạng, làm anh em bị vạ lây. Mai mốt được thả ra, nếu tổ chức đi tiếp tục, tôi sẽ bảo ông Tám bỏ cha nội đó lại ở Việt Nam luôn đấy!”Tới bến tàu của ty công an Hậu Giang, thì mặt trời đã tắt hẳn. Vì vậy đám công an cả đêm đã ghìm tay súng vững chắc canh gác cho đám tù nhân vượt biên được hưởng thêm một đêm ngủ yên với chiếc “đồng hồ” Longines dưới chân kế bên bờ sông Hậu lộng gió.Sát bên chiếc ghe nhỏ giải giao tù, là một chiếc du thuyền sang trọng, lộng lẫy thật lớn. Phất phới trên nóc du thuyền, là lá quốc kỳ của Hòa Lan. Trên thuyền vẫn còn mở đèn và nhạc om sòm. Vài bà đầm mũi lõ,
Văn Nhân Lục Page 297vẫn nhởn nhơ đi lại trên boong và mở to cặp mắt tò mò nhìn xuống đám thuyền nhân tay không đeo “đồng hồ” Longines made in Swiss như mấy bà, nhưng chân lại được đeo “đồng hồ” Longines made in VietNam!Có anh công an huyện hơi “nhiều chuyện”, lúc đem nước cho tù nhân uống đã “bật mí” cho Thắng nghe qua loa về chiếc tàu lạ này. Hắn nói đây là chiếc tàu tình báo của “điệp viên” phương Tây vào thăm dò bờ biển Việt Nam. Chiếc tàu này đã bị du kích “cơm” của huyện Long Phú “bắt sống” tạichỗ chỉ sau vài phát súng chỉ thiên từ súng M16 tịch thu được của “Đế quốc” Mỹ. Hắn cũng khoe thêm rằng, anh du kích “cơm” đã có công bắt sống được chiếc tàu tình báo này, và được Phạm Văn Đồng khen thưởng bằng một tấm bằng khen “Vì an ninh Tổ quốc”. Nghe xong câu chuyện này, Thắng đã cười thầm trong bụng. Lúc chưa bắt đầu chuyến vượt biên này, đêm đêm nằm nghe đài BBC và đài VOA, anh đã có nghe hai đài nhắc đến chiếc du thuyền đó. Đây là chiếc du thuyền của bọn nhà giầu rững mỡ bên Bắc Âu. Lúc tàu đi ngang qua hải phận Việt Nam, bị sóng gió đánh bạt vào bờ biển Việt Nam, chớ nào phải tàu tình báo cóc khô gì đâu! Các nước Tây phương thăm dò kẻ thù bằng máy bay vô tuyến thám không U2, giống như thời Tổng Thống Kennedy thăm dò đầu đạn nguyên tử của Nga tại Cuba. Tên Thủ tướng Phạm Văn Đồng chắc tưởng dân miền Nam ai cũng ngu dốt như hắn ta, nên đã ngang nhiên tuyên truyền kiểu ngông cuồng như vậy. Sau một đêm trằn trọc mất ngủ bởi tiếng nhạc ồn ào từ chiếc du thuyền neo kế bên, Thắng và đồng bọn đã được giải giao vào “đại khách sạn” Long Tuyền. “Đại khách sạn Long Tuyền”, một tên gọi mỉa mai do tù nhân đã đặt cho khu biệt giam của ty công an Hậu Giang quả là danh bất hư truyền! Trước đây nơi này là nghĩa địa hoang. Do số tù nhân gia tăng quá nhanh, và khám lớn trong thành phố không đủchỗ chứa, vì vậy nhà nước đã cho giải tỏa nghĩa địa, đồng thời xây nên trại tù này. Nhà giam có một khu xà lim đặc biệt mang tên A4 cho giống A30, A20, là những nhà tù khét tiếng gian ác ở miền Trung. Thắng được tống vào giam tại phòng 12, ngay góc trong của “đại khách sạn”. Những anh em tù nhân lâu năm ở đây đã giải thích, vì phòng này nằm ngay trong góc, nên ánh nắng chiếu ngay trước mặt vào buổi sáng, và chiếu bên hông vào buổi chiều. Cho nên đây là phòng nóng nhất của trại giam. Cộng thêm cái lò gạch phun khói 24/24, nên không khí trong phòng rất ngột ngạt, khó thở. Phòng có diện tích 9 mét vuông. Cầu tiêu chiếm 2 mét vuông. Diện tích còn lại khoảng 7 mét vuông, nhưng thường xuyên giam giữ từ 12 đến 15 người tù nhân. Trong phòng, chỉ có một lỗ thông hơi bằng hai bàn tay. Cho nên thỉnh thoảng, lại có tù nhân chết vì thiếu dưỡng khí. Lúc mới bị tống vào phòng biệt giam này, Thắng đã thật sự ngỡ ngàng vì không biết mấy anh công an huyện “lập sổ bìa đen” như thế nào vào hồ sơ tù của anh, mà anh lại bịtống vào cái địa ngục trần gian này. Hơn mười nhân mạng cứ thay nhau đổi ca ra vào phòng biệt giam. Hễ cứ có người bị giải giao về những trại giam lớn ở miền Trung, sau khi đã bị kết án chung thân, thì lại có người khác vào trám chỗngay. Thắng có nghe kể chuyện, có nhiều tù nhân vì quá tuyệt vọng, đã thắt cổ hoặc dùng lưỡi lam cắt gân máu để tự sát. Sau vài tuần lễ làm quen với không khí kinh hoàng của trại biệt giam, Thắng đã bắt đầu hội nhập dần với những con người khốn khổ nhất dưới sự thống trị của chính quyền cộng sản Việt Nam .Đêm đêm Thắng thò mỏ qua lỗ thông hơi bé tí để hát những bài nhạc “vàng” có, “đỏ” có, cho các xà lim khác nghe giải sầu trong những lúc gặp được mấy anh đội coi tù nhân đạo, dễ thương. Trong những ngày tháng nóng nực, hơn 10 con người trần truồng như Adam, đã phải lấy nước đổ ra khăn rồi ngồi chồm hổm lên đấy, hoặc nằm nghiêng cho đỡ nóng. Trong cảnh cùng khổ đó, Thắng vẫn vui vẻ kểđủ các chuyện tiếu lâm, từ tục đến thanh, để giúp anh em tù nhân giải sầu. Trong ba tháng đầu tiên, hầu như mỗi ngày hai lần thường là buổi chiều hoặc ban đêm, Thắng bị điệu lên phòng điều tra để hỏi cung. Con mẹ Thượng úy công an mắt lé, mấy ngày đầu đã dí khẩu súng K54 vào đầu Thắng sau khi đã nắm tóc, đập đầu anh vào tường mấy phát. Cái trò này quá nhàm đối với Thắng, vì đây đâu phải là lần đầu tiên anh bị ở tù đâu. Từ tháng thứ tư cho tới ngày anh được tạm tha vào tháng thứ 14, để chờ ngày ra tòa (do gia đình anh có “chạy thuốc” đút lót). Số lần hỏi cung đã thưa thớt hơn. Thỉnh thoảng con mẹ Thượng úy mắt lé, vẫn kêu anh lên “đột xuất” để hỏi cung vào ban đêm, nhưng Thắng đã cương quyết không khai. Đến lễ Quốc khánh cộng sản Việt Nam 2 tháng 9, thì Thắng được tạm tha, nhưng anh vẫn phải về trình diện cho công an địa phương quản chế. Ngày được phóng thích, có một kỷ niệm mà gần 30 năm trôi qua Thắng vẫn còn nhớ mãi. Một anh chàng phóng viên đài truyền hình Cần Thơ vào nhà giam để thực hiện
Page 298 Vietnamese Authors and Literary Collectionđoạn phim đại xá tù nhân, đã chọn ngay một bà mẹ quê chuyên môn đưa người đi vượt biên, cũng được thả cùng ngày với Thắng, để phỏng vấn. Có thể do nhìn tướng mạo nông dân thật thà chất phác của bà, mà anh ta đã chọn bà. Anh phóng viên đã bấm máy liên tục để thâu âm và hình lúc bà cụ nói lời “tri ân” với nhà nước đã khoan hồng tạm tha cho bà về đoàn tụ cùng gia đình. Tuy nhiên, đến lúc anh chàng phóng viên hỏi bà cụ cho biết cảm tưởng về những ngày tháng trong trại giam, thì bà cụ đã bật khóc. Kếđó bất thình lình, bà cụ quay mặt về hướng dãy nhà đã giam cầm bà. Sau đó, bà quỳ mọp xuống đất vái lia lịa khu nhà giam kinh khủng mà bà đã sống ở đó hơn một năm trời. Anh chàng phóng viên bị teo hồn, lạc phách, với tay tắt máy cái rụp, chấm dứt đoạn phim phỏng vấn trước thời hạn. Đã hơn một phần tư thế kỷ lặng lẽ trôi qua, kể từ ngày “con thuyền không đến” của Thắng phải quay trở về đất liền Việt Nam sau khi bị “hải tặc có giấy phép” cướp bóc và phá hư tàu. Rất nhiều người cùng đi chung chuyến tàu đó với Thắng đã tiếp tục “chịu chơi” ra khơi. Thắng cũng gặp lại được rất nhiều người trong số này tại trại tị nạn. Anh cũng từng dạy Pháp văn cho những người được định cư ở Canada, cũng như dạy Anh văn cho những người được định cư ở Úc, vì họ không có diện đi Hoa Kỳ. Dĩ nhiên, vài người vẫn nhớ ơn thầy Thắng, vì thỉnh thoảng họ vẫn viết thơ thăm hỏi anh kèm theo vài tấm hình “áo gấm về làng”, du lịch Việt Nam. Tuy nhiên, có một điều chua chát cay đắng là hầu như chẳng một ai còn muốn nhắc đến chuyện trở về đất liền kinh hoàng của “con thuyền không đến” năm xưa. Mọi người hầu như im lặng coi như đó là chuyện “xưa rồi Diễm ơi!” Một buổi chiều mùa Hè đi làm về muộn, bên ngoài đang nóng 102 độ F, Thắng không thể đưa hai cô công chúa ra công viên chơi được. Anh đã mở internet ra để giải khuây, và tình cờ, đọc được mấy câu ca dao lịch sử khá hay:“Ngày đi Đảng gọi Việt gianTrở về, Đảng lại chuyển sang Việt kiều!Khi đi phản động trăm chiềuLúc về thành khúc ruột yêu ngàn trùng.Trốn đi Đảng dí đến cùng,Quay về Đảng đón, Đảng lùng dollars.Công ơn Đảng, thật bao la.Là Cụ thằng đểu, là Cha thằng lừa!”Đọc xong, anh thanh niên cường tráng tóc xanh “mướt rượt’ Nguyễn Ngọc Thắng năm xưa, nay đã trở thành một hội viên, “Hội người Việt cao niên” của tiểu bang, đã ngồi im lặng thở dài. “Ông già” Thắng vừa bước vào đúng cái tuổi già, vừa xoa mái đầu lốm đốm bạc, vừa lẩm bẩm nhái theo giọng “Bắc Kỳ hai nút”: “Hình như tám câu Thơ Thần này…đách có sai tí nào cả!”Bà vợ già của Thắng ngồi kế bên, đã nhéo ông già đầu bạc một phát, càm ràm, “Con cháu dân ‘Hà nội cũ’ mà sao lại ăn nói giống người ‘Hà Nội mới’ vậy?”. Thắng cười khà khà. Anh quay đầu nhìn về hướng hai cô công chúa, thế hệ của mai sau, đang ngồi bên nhau trong phòng khách. Thắng nghĩ, “Nhất định con, cháu anh phải luôn ghi nhớ và tìm về với cội nguồn của chúng. Cho dù chúng có sanh ra và trưởng thành nơi đất khách, quê người, anh vẫn sẽ cố gắng đưa chúng quay về lịch sử Việt Nam. Trong đó, không thể thiếu được giai đoạn cha ông chúng đã sống gian khổ ra sao dưới ách thống trị của chế độcộng sản Việt Nam.”Hai Lúa New JerseyPeter HL (New Jersey State Social Worker)