The words you are searching are inside this book. To get more targeted content, please make full-text search by clicking here.
Discover the best professional documents and content resources in AnyFlip Document Base.
Search
Published by Huynh Pham, 2021-08-13 00:56:52

DanVaoThanHoc

DanVaoThanHoc

MỤC LỤC

DẪN NHẬP.................................................................................3
Chương 1: THẦN HỌC VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP THẦN HỌC .9
Chương 2: TRỞ VỀ NGUỒN: THÁNH KINH DO THÁI ...........31
Chương 3: DẪN VÀO TÌM HIỂU TÂN ƯỚC.............................63
Chương 4: GIÁO HỘI TRONG LỊCH SỬ..................................96
Chương 5: ĐỨC TIN KITÔ GIÁO: MỘT CÁI NHÌN HIỆN ĐẠI
...............................................................................................132
Chương 6: KHOA NHÂN CHỦNG THẦN HỌC ......................158
Chương 7: THẦN HỌC LUÂN LÝ: ĐỨC TIN VÀ LỐI SỐNG
KITÔ GIÁO............................................................................192
Chương 8: ĐỜI SỐNG KITÔ GIÁO: CÁC BÍ TÍCH VÀ PHỤNG
VỤ ..........................................................................................218
Chương 9: LINH ĐẠO KITÔ GIÁO ........................................251
Chương 10: CÁC VẤN ĐỀ TRONG GIÁO HỘI NGÀY NAY...274
Chương 11: THẦN HỌC VÀ CÁC TÔN GIÁO THẾ GIỚI.......296
Chương 12: BÀI CHÚ GIẢI TỪ VỰNG ...................................324

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 2

DẪN NHẬP

Từ khoảng cuối thế kỷ 12, khi các sinh viên và các
học giả bắt đầu tổ chức thành những tập thể hay các "đại
học" tại các thành phố như Bologna, Paris và Oxford, thì
thần học đã trở thành một môn học cơ hữu. Khi các đại học
này bắt đầu thay chỗ cho các học viện nhà tu hay học viện
nhà thờ chính tòa, chúng thường bao gồm một số khoa phân
biệt nhau, trong đó có khoa thần học. Khoảng năm 1250,
Đại Học Paris đã có các khoa văn, luật, y, thần học - và đó là
những khoa đã làm nên tên tuổi cho trường đại học này.

Khi Inhaxiô Lôyôla phác họa một nhãn quan giáo dục
cho các đại học của hội dòng mà ngài mới thành lập hồi thế
kỷ 16, ngài đặt nhãn quan đó trên nền tảng là những gì mà
chính ngài đã kinh nghiệm trong quá trình học vấn của ngài,
nhất là trong giai đoạn ngài học ở Paris. Cách riêng Inhaxiô
đề cao tầm quan trọng của thần học, ngài tuyên bố rằng
"trong các đại học của hội dòng, phải đặc biệt nhấn mạnh
thần học" (Hiến Pháp, 446). Đối với Inhaxiô, thần học phải
là một môn học chặt chẽ, điều mà Michael Buckley mô tả là
"một sự khôn ngoan có cấu trúc mạch lạc"0F1. Trong các học
viện của hội dòng, việc giảng dạy chính thức về thần học
(phân biệt với việc giảng dạy về tôn giáo) sẽ bắt đầu cho các
sinh viên ở độ tuổi 17. Đành rằng việc học thần học thường
chỉ dành cho những ai chuẩn bị lãnh chức linh mục, song
chỗ đứng quan trọng của môn học này trong chương trình
giảng dạy của Dòng Tên vẫn in một dấu ấn sâu xa nơi tất cả
những ai từng theo học tại các đại học của dòng này.

1 Xem Michael J. Buckley, "In Hunc Potissimum...: Nhận thức của Inhaxiô về
đại học Dòng Tên, " Reading in Ignatian Higher Education 1 (Spring 1989) 24.

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 3

Các đại học của dòng Tên đã thiết chế một trong

những hệ thống giáo dục đầu tiên trong lịch sử .2 Nhưng
1F

chúng vẫn đi theo một mô hình đại học thời Trung cổ với

một tí chút sửa đổi - mô hình này xét căn bản vẫn còn tồn tại

ở Âu Châu cho tới ngày hôm nay. Thần học có mặt trong

trường đại học với tư cách là một chuyên khoa; nó thường

không được hội nhập vào chương trình đại cương.

Ở Hoa Kỳ, tình hình hoàn toàn khác. Các đại học Mỹ được

chia thành cấp đại học và cấp trên đại học. Đa số các trường

đại học quốc lập không có phân khoa thần học (hay thường

được gọi là phân khoa nghiên cứu tôn giáo), song ngày nay

tình hình này đang bắt đầu thay đổi. Các đại học tư hay các

đại học liên kết với Giáo Hội thường cung cấp những khóa

học về tôn giáo hay thần học - đây có thể là những khóa tùy

chọn hay bắt buộc.

Trong những năm trước Công Đồng Vatican II, việc

học thần học Công Giáo ở Hoa Kỳ đã bắt đầu thay đổi một

cách ngoạn mục. Trước Công Đồng, việc giảng dạy thần học

chủ yếu diễn ra trong các chủng viện. Các sinh viên tại các

đại học Công Giáo nói chung được dạy về tôn giáo; họ

không học thần học: "Cho tới những năm 1950, phần đông

các đại học Công Giáo đã không cung cấp những khóa thần

học ngay cả xét như một môn thuần túy có tính học thuật.

Đó là những học viện văn khoa với chương trình rộng

thoáng, tập trung vào triết học chứ không phải thần học. Đa

số các đại học ấy có cung ứng những khóa nghiên cứu tôn

giáo, nhưng đây thường là những khóa thiên về minh giáo

và trong nhiều trường hợp các khóa này không đòi tín chỉ.

Rất thường, vị giảng viên phụ trách không thuộc hội đồng

khoa và không cần phải được nhà trường trao ủy nhiệm thư

2 Cf. George E. Ganss, The Constitution of the Society of Jesus (St. Louis:
Institute of Jesuit Sources, 1970) 174.

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 4

giảng dạy. Mục đích của các chương trình này là truyền đạt

một cách một chiều các yếu tố của đức tin Công Giáo"3.
F2

Mọi sự đã thay đổi sau Công Đồng Vatican II. Khi

ngày càng có nhiều nam nữ giáo dân bắt đầu đoạt những văn

bằng tốt nghiệp về thần học, Hội Thần Học Công Giáo Mỹ -

nguyên là một tổ chức của các giáo sư chủng viện - đã thay

đổi các điều lệ của mình vào năm 1964 để đón nhận các giáo

dân ấy vào làm thành viên. Các đại học Công Giáo bắt đầu

phát triển những phân khoa thần học có tính chuyên môn

cao. Thành viên của khoa bây giờ gồm cả nam nữ giáo dân

bên cạnh các linh mục và tu sĩ, ngày càng tích cực trong

công tác nghiên cứu và ngay cả tham gia vào các hội thần

học chuyên nghiệp. Với tình hình như vậy, địa điểm của

việc giảng dạy thần học cũng đã chuyển dời từ các chủng

viện đến các trường đại học và trên-đại-học.

Nhưng đà chuyên môn hóa ngày càng tăng ấy của các

đại học Công Giáo nói chung và của các phân khoa thần học

nói riêng đã được thấy là một điều vừa may vừa không may.

Rất thường, các học viện Công Giáo hoàn toàn bắt chước

các tiêu chuẩn và các giá trị học thuật của nền giáo dục đại

học thế tục của Mỹ. Nhiều học viện như thế đã phải cắt xén

các định hướng tôn giáo cố hữu của mình. Trong nỗ lực tập

trung vào tính mô tả hơn là tuyên tín, nhiều phân khoa thần

học đã tự biến mình thành những phân khoa nghiên cứu tôn

giáo. Các phân khoa này đã trở nên rất "đa nguyên" xét về

các phương pháp tiếp cận và xét về tính năng của chúng.

Tính đa nguyên ấy đặc biệt bộc lộ rõ trong các yêu

cầu đặt ra cho việc học thần học/ tôn giáo ở các đại học Hoa

3 Robert J. Wister, "The Teaching of Theology 1950-90: the American
Catholic Experience", America 162 ( February 3, 1990) 92; xin xem thêm
David J. OI Brien, "The Church and Catholic Higher Education", Horizons 17
(1990) 14.

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 5

Kỳ ngày nay. Mức yêu cầu trung bình hiện nay là hai khóa4 ,
F3

trong đó khóa nhập môn đôi khi là khóa bắt buộc. Nhưng

thường thì sinh viên có thể hoàn thành bất cứ hai khóa nào.

Với chỉ hai hay ba khóa, thường chẳng có liên quan gì mấy

với nhau, một sinh viên hoàn toàn có thể tốt nghiệp một đại

học Công Giáo mà không cần phải đọc một quyển Phúc Âm

nào, không cần phải tìm hiểu Kitô học hay Giáo Hội học,

cũng chẳng cần dự một khóa nào về đạo đức học Kitô giáo

hay về thần học luân lý. Vì không có mấy sự nhấn mạnh đến

lịch sử Giáo Hội, các sinh viên thường lạ lẫm với truyền

thống Kitô giáo; họ không đọc Augustinô, Tôma Aquinô,

Luther hay Newman. Họ ít biết về các truyền thống và các

tôn giáo khác ngoài tôn giáo của chính họ. Và vì không có

một hệ thống có tính liên thông, họ ít được dẫn nhập một

cách bài bản vào việc nghiên cứu thần học và ít có cơ hội để

nắm được một cái nhìn toàn diện về tất cả những gì bao hàm

trong thần học.

Vì vậy, quyển sách này - được biên soạn để sử dụng

như một giáo trình bổ sung - sẽ cố gắng giới thiệu việc

nghiên cứu thần học và các phương pháp khảo cứu đa dạng

của nó. Không giống như cách tiếp cận cố hữu của các giáo

trình cũ (de Deo Uno, de Deo Trino, vv...), cách tiếp cận ở

đây sẽ có tính phương pháp luận. Thần học ngày nay đã

ngày càng được "qui hoạch" thành các "khu vực" khác nhau,

bao gồm nhiều môn chuyên biệt khác nhau. Tuy nhiên, khi

giới thiệu những lãnh vực đa dạng của công cuộc nghiên cứu

thần học, chúng tôi sẽ đề cập đến nhiều chủ đề truyền thống

để làm những ví dụ.

4Chẳng hạn, trong số 28 đại học Dòng Tên ở Hoa Kỳ vào năm 1990, có 2 đại
học yêu cầu bốn khóa, 10 trường khác đòi ba khóa, 15 trường đòi hai khóa, và
1 trường yều cầu một khóa

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 6

Quyển sách này gồm ba phần. Phần I giới thiệu các
vấn đề nền tảng. Chương 1 khảo sát bản chất của thần học
vừa xét như một khoa học - với công việc phê bình của nó
và với những chuyên ngành của nó - vừa xét như một công
việc của Giáo Hội. Chương này cũng đề cập đến những căng
thẳng đôi khi bật lên giữa các nhà thần học và các giám mục
do bởi bản tính hai mặt này của thần học. Chương 2, Daniel
L. Smith-Christopher sẽ trình bày câu chuyện của Israel và
các Sách thuộc bộ Thánh Kinh Do Thái. Jeffrey Siker, ở
chương 3, sẽ phác họa quá trình phát triển của qui điển Tân
Ước, đồng thời sẽ đề cập đến những phương pháp phê bình
Thánh Kinh và những khía cạnh đặc biệt của các Sách Tân
Ước. Herbert J. Ryan, trong chương 4, sẽ đưa ra một cái
nhìn toàn cục về lịch sử Giáo Hội.

Phần II bao gồm một số vấn đề có tính hệ thống.
Chương 5, John R. Connolly sẽ khảo sát đức tin Kitô giáo,
sẽ đối chiếu giữa một mẫu thức đức tin có tính tri thức và
một cách tiếp cận có tính ngã vị; trong khi thảo luận về đức
tin vừa xét như hành động vừa xét như nội dung, tác giả sẽ
giới thiệu những chủ đề như: mạc khải, Kitô học , Giáo Hội,
và các biểu tượng của đức tin. Mary M. Garascia, trong
chương 6, sẽ khám phá một số vấn đề thuộc khoa nhân
chủng thần học, sẽ khám phá về nhân vị xét như là hình ảnh
của Thiên Chúa, xét như là tội nhân và được cứu, xét như là
một bản ngã trước mặt Thiên Chúa, và xét như là một hữu
thể có tính xã hội. Chương 7, John R. Popiden sẽ tìm hiểu
bản chất và các phương pháp của thần học luân lý. Chương
8, Michael Downey sẽ giới thiệu một nhãn quan có tính bí
tích nhấn mạnh đến ý nghĩa của các bí tích trong đời sống
Kitôhữu.

Phần III khảo sát một số vấn đề hiện nay trong đời
sống Giáo Hội. Mary Miligan, trong chương 9, sẽ giới thiệu
ý niệm về linh đạo, tìm hiểu nhiều linh đạo khác nhau và

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 7

những cá nhân điển hình của các linh đạo ấy. Chương 10,
Marie Anne Mayeski sẽ thảo luận về ảnh hưởng của Công
Đồng Vatican II đối với thần học Công Giáo Rôma và sẽ tập
chú đến hai vấn đề của thời hậu Công Đồng, đó là phong
trào đại kết và phong trào nữ quyền. Cuối cùng, trong
chương 11, xuất phát từ tiếng gọi của Vatican II gọi mời đối
thoại và hợp tác với các tín đồ thuộc các tôn giáo khác,
Christopher Chapple sẽ trình bày vắn tắt về các tôn giáo lớn
không thuộc Tây phương.

Quyển sách này được viết từ nhãn quan Công Giáo
Rôma, song phương pháp tiếp cận của nó có tính đại kết -
điều này nằm trong chủ ý của các tác giả. Nó cũng phản ảnh
tính đa nguyên của thần học hiện đại qua những nhãn giới
khác nhau của các tác giả. Cần phải tôn trọng tính đa dạng
đó. Các tác giả cộng tác trong tập sách này đã cố gắng - dù
không phải luôn luôn thành công - để làm cho ngôn ngữ của
các văn liệu lịch sử có tính bao gồm hơn. Những điều chỉnh,
nếu có, sẽ được đặt trong dấu ngoặc. Các bản văn của Công
Đồng Vatican II sẽ được ghi xuất xứ bằng tiêu đề La ngữ
của các văn kiện; và độc giả sẽ tìm thấy ở cuối sách một
bảng liệt kê các chữ viết tắt.

Quyển sách này là công trình hợp tác của các thành
viên thuộc phân khoa thần học ở Đại Học Loyola
Marymount. Nó được sử dụng lần đầu tiên trong một lớp
học tại trường Đại Học này vào mùa xuân 1991. Tất cả
chúng tôi trong phân khoa - là những người thu nhận được
nhiều ích lợi từ công trình này - rất chân thành tri ân các
sinh viên đã tham dự lớp học nói trên và đã đóng góp nhiều
nhận định và đề nghị. Giới thiệu loạt bài này trong hình thức
một quyển sách, chúng tôi hy vọng nó sẽ hữu ích để giúp
cho độc giả làm quen với lãnh vực nghiên cứu thần học, một
lãnh vực rất phong phú nhưng cũng đầy phức tạp.

Thomas P. Rausch, S.J.

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 8

Chương 1: THẦN HỌC VÀ CÁC
PHƯƠNG PHÁP THẦN HỌC

Thomas P. Rausch, S.J.

Vào cuối sứ vụ của Người ở Galilê, Đức Giêsu đặt ra
cho các môn đệ một câu hỏi: "Người ta bảo Thầy là ai?" (Mc
8,27). Các môn đệ lúng túng. Các ông đã nghe những người
khác bàn tán. Các ông đã đích thân theo Người trong một
thời gian - có lẽ hơn một năm rồi. Các ông đã nghe Người
nói rằng Thiên Chúa và triều đại của Thiên Chúa đang đến
gần. Các ông đã nhìn thấy Người tiếp cận những người xa
lạ, an ủi những kẻ sầu khổ, thậm chí chữa lành nhiều kẻ ốm
đau. Các ông đã thấy Người thách đố thái độ tự phụ cho
mình là công chính và sự khắt khe của giới cầm quyền tôn
giáo. Chính các ông đã cảm nhận niềm hy vọng mới và cảm
nhận triều đại Thiên Chúa đang có mặt nơi chính sự hiện
diện của Đức Giêsu. Nhưng các ông không biết phải trả lời
sao đây trước câu hỏi của Người.

Cuối cùng, Phêrô lên tiếng: "Thầy là Đấng Mêsia".
Câu trả lời này sử dụng một hình ảnh thuộc truyền thống tôn
giáo của thời đó. Trong hình dung của Do Thái giáo, đặc
biệt dựa trên truyền thống tiên tri, Mêsia phải là Đấng được
xức dầu của Thiên Chúa, Đấng được kỳ vọng là hậu duệ của
Đavít, Đấng sẽ đem lại ơn cứu độ của Thiên Chúa, sẽ canh
tân đời sống tôn giáo của toàn dân, và sẽ thiết lập một trật tự
mới trong công lý, hòa bình và công chính. Qua câu trả lời
ấy, Phêrô diễn tả niềm tin cá nhân của mình vào Đức Giêsu.
Đồng thời, trong khi cố gắng dùng ngôn ngữ để diễn đạt đức
tin của mình vào Đức Giêsu, Phêrô cũng đang đưa ra một
tuyên bố thần học.

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 9

Thần học là gì? Rất tiếc, đối với nhiều người, thần
học là một cái gì bí ẩn, một môn học lạ lẫm tìm cách nói về
Thiên Chúa trong thứ ngôn ngữ quá xa lạ với kinh nghiệm
thông thường của con người. Thần học xem ra quá trừu
tượng. Nó chứa đầy những từ ngữ vừa tưởng chừng quen
thuộc song lại khó định nghĩa, những từ như: đức tin, công
chính hóa, cứu chuộc, ân sủng, ơn cứu độ, mạc khải, cánh
chung, thần khí, vv... Nhiều người khác nghĩ về thần học
như những hệ thống và những trường phái, Tin Lành hay
Công Giáo, Tômít hay Calvinít, trường phái Barth hay
trường phái Rahner, nào là thần học Rôma, thần học giải
phóng, hay thần học nữ quyền ... Thần học có vẻ phức tạp
bởi vì nó là âm vọng của quá nhiều tiếng nói và của quá
nhiều mối quan tâm.

Nhưng đằng sau tất cả những tiếng nói và những mối
quan tâm này, thần học gắn với kinh nghiệm của chúng ta về
Thiên Chúa, cách riêng kinh nghiệm của chúng ta trong tư
cách là một cộng đoàn đức tin. Thần học là cố gắng nhận
hiểu và diễn giải kinh nghiệm đức tin của một cộng đoàn,
đưa kinh nghiệm đó vào trong sự diễn đạt bằng ngôn ngữ và
biểu tượng. Hay nói như Thánh Anselmô (d.1109), thần học
là fides quaerens intellectum, đức tin tìm kiếm sự nhận hiểu.

Với sự nhấn mạnh đặt vào đức tin, thần học rất khác
với khoa nghiên cứu tôn giáo hay khoa lịch sử các tôn giáo,
những môn này nhằm nghiên cứu một truyền thống tôn giáo
hay một đức tin từ bên ngoài, trong tư cách là một người
quan sát đứng ngoài, khách quan. Trong khi đó, làm thần
học là cố gắng diễn tả đức tin của mình từ bên trong một
truyền thống tôn giáo cụ thể. Dĩ nhiên, người ta có thể "dạy"
thần học hoặc hiểu biết nhiều về một truyền thống thần học
nào đó. Nhưng để thực sự "làm" thần học thì cần phải có đức
tin đóng vai trò cầu nối với một ý thức về Thiên Chúa. Hay
như Đức Gioan Phaolô I phát biểu không lâu trước khi ngài

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 10

qua đời: "Các nhà thần học nói nhiều về Thiên Chúa. Tôi tự
hỏi các vị ấy có thường nói với Thiên Chúa không."

Như vậy, đức tin không bao giờ được phép vắng mặt
trong công việc của thần học. Karl Rahner, nhà thần học
Công Giáo kiệt xuất của thế kỷ 20, đã ghi nhận rằng thần
học là sự suy tư có tính khoa học và hệ thống của Giáo Hội
về đức tin của mình. Cách tiếp cận thần học của ngài thật
hữu ích bởi vì nó nhấn mạnh rằng trong khi thần học là một
khoa học, nó cũng đồng thời là một công việc của Giáo Hội
nữa.

Nhưng có một căng thẳng hàm ẩn ở đây, trong mối
liên hệ giữa thần học xét như một khoa học và thần học xét
như một công việc của Giáo Hội. Trong tư cách là một khoa
học, thần học đòi phải có một sự tự do nào đó để triển khai
những khảo cứu của mình và đi tới bất cứ nơi nào mà chứng
cứ dẫn mình tới. Còn trong tư cách là một công việc của
Giáo Hội, thần học tìm cách bảo vệ đức tin được ký thác cho
Giáo Hội và được công bố bởi các vị giảng dạy chính thức
của Giáo Hội, tức các giám mục. Chúng ta sẽ xem xét cả hai
khía cạnh này của thần học.

THẦN HỌC XÉT NHƯ MỘT KHOA HỌC

Đối với Rahner, thần học là "sự giải thích - có ý thức

và có phương pháp - mạc khải của Thiên Chúa vốn đã được

đón nhận và được nắm giữ trong đức tin."5. Như vậy, thần
4F

học có thể được gọi là "khoa học của đức tin". Bởi vì đối

tượng của thần học là mạc khải thần linh, nghĩa là việc

Thiên Chúa tự biểu lộ nơi Đức Giêsu là Đấng Kitô, nên thần

học không phải là một công cuộc có tính thuần túy chủ quan.

5 Karl Rahner, "Theology", Encyclopedia of Theology: The Concise
Sacramentum Mundi, ed. Karl Rahner (New York: Seabury Press, 1975) 1687.

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 11

Trước hết, trong khi kinh nghiệm đức tin cá nhân của
chúng ta có một yếu tố chủ quan, thì kinh nghiệm đức tin ấy
cũng luôn luôn được chia sẻ, bởi vì nó được đón nhận do
một cộng đoàn và được cộng đoàn ấy chuyển trao trong lịch
sử xuyên qua các Sách Thánh và qua truyền thống Kitô giáo.

Hơn nữa, xét như sự tự biểu lộ của Thiên Chúa nơi
Đức Giêsu Kitô, kinh nghiệm đức tin ấy có một yếu tố khả
niệm; nghĩa là nó có thể được diễn tả bằng ngôn ngữ và
bằng những lời tuyên bố hay những ý niệm. Công việc của
thần học là liên kết các yếu tố khả niệm hàm chứa trong đức
tin Kitô giáo, dù rằng bất cứ công thức ngôn ngữ nào cũng
vẫn còn hạn chế và vẫn còn có thể có những diễn đạt thích
đáng hơn. Thiên Chúa là ai? Làm thế nào chúng ta biết
Thiên Chúa? Chúng ta biết gì về Đức Giêsu và về giáo huấn
của Người? Để phối kết kinh nghiệm đức tin Kitô giáo trong
ngôn ngữ và trong các ý niệm, công việc của thần học được
triển khai một cách vừa có tính phương pháp luận vừa có

tính phê bình.

Các Chuyên Ngành
Và Các Phương Pháp

Trong tư cách là một khoa học, thần học xúc tiến các
công việc khảo cứu của mình theo một phương pháp luận.
Cũng như các khoa học tự nhiên hay xã hội có các chuyên
ngành hay các lãnh vực riêng và các phương pháp riêng của
chúng, thần học cũng có nhiều chuyên ngành khác nhau và
sử dụng nhiều phương pháp khác nhau trong công việc diễn
giải đức tin Kitô giáo. Một số chuyên ngành khảo cứu giáo
huấn Kitô giáo về Thánh Kinh, lịch sử, và giáo lý. Một số
chuyên ngành khác thì nhắm trình bày rõ nhận thức của Kitô
giáo về Thiên Chúa, về Đức Kitô, về Giáo Hội, về các bí
tích, vv... Cũng có những chuyên ngành về mục vụ, liên

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 12

quan đến đời sống, hành vi, việc cầu nguyện và việc phụng
tự Kitô giáo.

Việc phân chia các chuyên ngành khác nhau không
phải luôn luôn rành mạch. Chẳng hạn, thần học luân lý đòi
hỏi cần phải có cả sự quảng bác của nhà thần học hệ thống
lẫn tính bén nhạy của nhà thần học mục vụ. Trong khi nhìn
nhận rằng, một cách nào đó, những sự phân chia được sử
dụng ở đây chỉ có tính tương đối mà thôi, chúng ta sẽ lược
qua các chủ điểm và các phương pháp của thần học Thánh
Kinh, thần học lịch sử, thần học hệ thống, thần học luân lý,
cũng như một số môn khác có liên hệ.

Thần Học Thánh Kinh

Công việc của thần học Thánh Kinh là phục hồi lại ý

nghĩa lịch sử của các bản văn Thánh Kinh, đó là ý nghĩa

được nhắm đến bởi tác giả (đôi khi được hiểu như là ý nghĩa

nguyên thủy hay ý nghĩa lịch sử của bản văn). Trong khi

phái cơ yếu6 đồng hóa ý nghĩa của bản văn với nghĩa đen
F5

của các từ ngữ, thì nhà thần học Thánh Kinh hay nhà chú

giải tìm cách khám phá ý nghĩa được nhắm đến bởi tác giả.

Như vậy, trong khi những người thuộc phái cơ yếu coi câu

chuyện lụt hồng thủy trong Sáng Thế 6-8 như là bản trình

thuật về một biến cố có thực trong lịch sử, thì các nhà thần

học Thánh Kinh sẽ xem đó là một thần thoại hay một câu

chuyện để minh họa sức tàn phá của tội lỗi. Để khám phá ra

ý nghĩa lịch sử của bản văn, nhà thần học Thánh Kinh sử

dụng nhiều phương pháp khảo cứu văn chương và lịch sử.

6 Phái cơ yếu là những người theo chủ nghĩa cơ yếu Thánh Kinh (Biblical
fundamentalists). Có thể tìm đọc Biblical Fundamentalism của Ronald D.
Witherup, đã có bản dịch Việt ngữ. (c.t.c.n.d.)

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 13

Phương pháp phê bình lịch sử khảo cứu bối cảnh lịch
sử trong đó bản văn xuất hiện, khảo cứu cái Sitz im Leben
(bối cảnh sống thực) của nó. Các khoa học khác nhau liên
quan đến lịch sử như sử học, khảo cổ học, nhân chủng học,
khoa đối chiếu ngôn ngữ, vv... rất ích lợi cho nhà chú giải
trong phương diện này.

Phương pháp phê bình văn thể là một khoa học về
văn chương, tìm cách nhận ra những thể văn khác nhau
trong Thánh Kinh và truy tìm những thể văn nhất định nào
đó xuyên qua các truyền thống, để khám phá ra bối cảnh
sống thực của chúng. Một thể văn là một loại văn chương
chuyên biệt. Hai thể văn căn bản nhất là văn xuôi và thi ca.
Các thể thi ca của Cựu Ước bao gồm sử thi, thơ trữ tình, thơ
giáo huấn, tán tụng ca, ca vãn. Các thể văn xuôi bao gồm
các thể tường thuật như những thần thoại bình dân, những
truyền thuyết về các tổ phụ, những truyện anh hùng dân tộc
được lãng mạn hóa, những chuyện lịch sử các vương triều,
những bộ luật, những ngạn ngữ, những sấm ngôn, những
chuyện kể có tính tưởng tượng, những câu chuyện tình, và
những thị kiến khải huyền.

Phương pháp phê bình nguồn văn cố gắng tìm cách
nhận ra những tư liệu mà một tác giả có thể đã rút ra. Chẳng
hạn, Phúc Âm Máccô là nguồn cho phần lớn của Phúc Âm

Matthêu và Luca.

Phương pháp phê bình biên soạn (tầm nguyên ý nghĩa
văn bản) là một khoa học về văn chương nhằm tìm cách
khám phá thần học đặc thù và quan điểm của một tác giả
bằng cách phân tích cách mà tác giả ấy đóng góp vào một
truyền thống có sẵn, kết cấu một tác phẩm, hay nhấn mạnh
những chủ điểm nào đó. Chẳng hạn, Máccô và Luca nhấn
mạnh đến việc Đức Giêsu rao giảng "Vương Quốc" hay
"triều đại Thiên Chúa", Matthêu thường sử dụng thuật ngữ

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 14

"Nước Trời", trong khi Gioan khắc họa một Đức Giêsu nói
nhiều hơn về "sự sống vĩnh cửu".

Phương pháp phê bình văn tự tìm cách thiết lập bản
văn nguyên thủy của một tác phẩm văn chương. Bản văn đó
nguyên thủy được viết bằng tiếng Do Thái hay Hi Lạp? Ban
đầu, quyển Sách Phúc Âm này chấm dứt ở chỗ nào? Chẳng
hạn, các Phúc Âm Máccô và Gioan đều có những phần phụ
thêm, được bổ sung vào về sau này.

Thần Học Lịch Sử

Thần học lịch sử nghiên cứu sự phát triển đức tin của
Giáo Hội và truyền thống thần học trong những giai đoạn
khác nhau của lịch sử. Trong số các chuyên ngành khác
nhau của thần học lịch sử, người ta thấy có: Giáo Phụ học
(nghiên cứu thần học của các giáo phụ trong 5 hay 6 thế kỷ
đầu), thần học Trung cổ, thần học Cải Cách, thần học thế kỷ
19, vv... Làm tốt công việc của mình, thần học lịch sử có thể
chỉ ra sự khác biệt giữa một bên là sự phát triển đích thực
của truyền thống Giáo Hội và bên kia là những diễn đạt đặc
thù, có tính bị hạn định trong lịch sử về một giáo thuyết, một
bí tích hay một tác vụ vốn có thể cần được suy xét lại.

Thường thì sử gia, khi giới thiệu những thực hành của
Giáo Hội trong các thời xa xưa trước đây, sẽ cung ứng cho
Giáo Hội trong hiện tại một nhãn quan mới - và thường đó là
một nhãn quan có tính giải phóng. Bí Tích Thánh Thể đã
được hiểu như thế nào bởi Giáo Hội vào thời các giáo phụ,
vào thời Trung cổ, vào thời Cải Cách? Những yếu tố lịch sử
nào có đóng vai trò trong sự phát triển của một giáo thuyết
nào đó? Chẳng hạn, tín điều về tính bất khả ngộ của giáo
hoàng đã phát triển như thế nào? Bản thân từ ngữ "bất khả
ngộ" chỉ mới xuất hiện vào thế kỷ 13, còn sự bất khả ngộ

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 15

của giáo hoàng thì chỉ mới được xác định tại Công Đồng
Vatican I vào năm 1870.

Thần Học Hệ Thống

Thần học hệ thống tìm cách nhận hiểu những giáo lý
căn bản của đức tin và cho thấy những giáo lý ấy liên hệ với
nhau như thế nào. Trong quyển Method in Theology
(Phương Pháp trong Thần Học) của mình, Bernard Lonergan
phân biệt những công việc khác nhau của thần học tín lý và
thần học hệ thống. Các giáo thuyết thì liên quan tới những
khẳng định rõ ràng về các thực tại tôn giáo. Thần học hệ
thống sẽ tìm cách nhận hiểu những thực tại tôn giáo được
khẳng định bởi các giáo thuyết ấy. Trong số các chuyên
ngành khác nhau của thần học hệ thống, có thể ghi nhận các
môn như : thần học về Thiên Chúa (Thượng Đế học), Kitô
học, Giáo Hội học (hay thần học về Giáo Hội), thần học bí
tích, nhân chủng thần học, vv...

Thần học hệ thống có vai trò ở chỗ nó cố gắng diễn
đạt lại đức tin và giáo lý của Giáo Hội trong một thứ ngôn
ngữ và kiểu nói hiện đại. Khi làm thế, nó thường khảo sát
một vấn đề nào đó về mặt nền tảng Thánh Kinh, về tiến trình
lịch sử, về nhãn quan của huấn quyền, và đối chiếu với các
quan điểm của các nhà thần học hiện đại. Khi làm công việc
này, thần học hệ thống vận dụng rất nhiều phương pháp và
nhiều chuyên ngành của các thần học khác.

Chẳng hạn, để phát triển một thần học hiện đại về
Giáo Hội, người ta phải nghiên cứu sự phát triển của Giáo
Hội kể từ những cộng đoàn của Tân Ước. Các cộng đoàn
Kitôhữu đầu tiên đã được hình thành và tổ chức như thế
nào? Sứ vụ của các cộng đoàn ấy đã phát triển như thế nào?
Đó là một Giáo Hội duy nhất hay là nhiều giáo hội khác
nhau? Thần học lịch sử sẽ được sử dụng để minh họa tiến

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 16

trình trong đó Giáo Hội tự nhận hiểu về mình và những thay
đổi của Giáo Hội qua các thế kỷ, tác động của cuộc Cải
Cách, và những thần học khác nhau của Giáo Hội đã được
phối kết trong các thời kỳ gần đây, nhất là tại Công Đồng
Vatican I vào năm 1870 và sau đó trong các văn kiện của
Công Đồng Vatican II (1962-1965). Cuối cùng, các nhãn
giới khác nhau hiện nay cũng phải được xét đến. Giáo Hội
được nhận hiểu như thế nào từ nhãn giới của thần học bí
tích, thần học nữ quyền, hay thần học giải phóng? Cái nhìn
về Giáo Hội theo nhãn quan Vatican II, Công Đồng chung
gần đây nhất, đã tìm được sự diễn tả thế nào trong đời sống
của Giáo Hội hiện tại? Mỗi nhãn giới sẽ bổ sung một điều gì
đó cho một nền thần học toàn diện về Giáo Hội.

Thần Học Luân Lý

Thần học luân lý liên quan tới việc xác định những
giá trị đặc trưng cho đời sống Kitô giáo và việc nhận ra loại
hành vi nào không tương hợp với đời sống này. Như vậy
thần học luân lý là một loại đạo đức học thần học, vừa có
tính cá nhân vừa có tính xã hội. Nó đặt ra những câu hỏi
như: Các quyết định luân lý được đưa ra như thế nào? Từ
Thánh Kinh và từ truyền thống Giáo Hội, người ta nhận
được loại hướng dẫn nào?

Đạo đức học xã hội tìm cách áp dụng Phúc Âm và
giáo huấn xã hội của Giáo Hội vào các lãnh vực như công
bằng xã hội, nhân quyền, quan hệ quốc tế. Giáo huấn xã hội
của Công Giáo, như được trình bày trong các thông điệp xã
hội của các giáo hoàng gần đây - bắt đầu từ Rerum Novarum
(1891) của Đức Lêô XIII - nhấn mạnh chiều kích cộng đồng
hơn là tính cá nhân. Nó nêu bật phẩm giá của mỗi nhân vị
xét như được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa, nhấn
mạnh rằng các hệ thống kinh tế phải phục vụ cho thiện ích

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 17

chung, nhấn mạnh nguyên tắc bổ trợ, tính ưu tiên của lao
động trên tư bản, quyền của mọi người được chia sẻ của cải
của xã hội, tính giới hạn của quyền tư hữu, và gần đây hơn:
sự ưu tiên lựa chọn người nghèo.

Thần Học Mục Vụ
Và Những Môn Có Liên Quan

Như Rahner nói, trong khi mọi thần học đều cuối
cùng qui về mục vụ, thì thần học mục vụ (hay thực hành)
liên quan tới việc phục vụ và xây dựng cộng đoàn Kitôhữu
xuyên qua việc giảng dạy, phụng tự, tư vấn, giáo dục tôn
giáo, và các việc săn sóc khác. Cùng với nhiều môn học có
liên hệ mật thiết với nó, thần học mục vụ qui hướng trực tiếp
hơn tới đời sống và thực hành Kitô giáo.

Linh đạo là một thuật ngữ được dùng để mô tả một
nhãn quan đặc thù nào đó về đời sống Kitô giáo và cung
cách sống đời sống ấy. Một linh đạo là một qui phạm của
tinh thần môn đệ. Đã có nhiều linh đạo khác nhau trong
truyền thống của Giáo Hội: linh đạo đan tu, linh đạo
Phanxicô, linh đạo I nhã, linh đạo công bằng xã hội, linh đạo
nữ quyền, vv...

Thần học phụng vụ liên quan tới việc phụng tự chính
thức của Giáo Hội. Nó tìm cách giúp cho việc cử hành bí
tích của Giáo Hội có thể diễn tả hữu hiệu hơn ý nghĩa của
đời sống Kitô giáo trong Đức Kitô xét như là một cộng đoàn
trong Thánh Thần, xuyên qua việc nghiên cứu lịch sử, cơ
cấu và các nghi thức của phụng vụ.

Giáo luật là môn nghiên cứu về Bộ Luật của Giáo
Hội, Bộ Luật này được chính thức biên soạn lần đầu tiên vào
năm 1918 và được hiệu chỉnh vào năm 1983.

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 18

Thần Học Xét Như
Một Môn Có Tính Phê Bình

Như các khoa học khác, thần học là một môn có tính
phê bình. Vì thế, nó bao hàm nhiều công việc. Một trong các
công việc ấy là phân biệt giữa một bên là những diễn đạt
chính thức đức tin của Giáo Hội, tức các giáo thuyết của
Giáo Hội, với bên kia là những gì vẫn còn là niềm tin phổ
thông hay chỉ là quan điểm thần học. Các niềm tin là những
diễn tả thần học của đức tin Kitô giáo vốn có thể là hoặc
không là giáo huấn chính thức của Giáo Hội. Còn các giáo
thuyết là những niềm tin đã trở thành những giáo huấn chính
thức của Giáo Hội, thường bởi sự kiện rằng chúng được
giảng dạy với thẩm quyền giáo huấn của Giáo Hội, hoặc tại
một Công Đồng hoặc qua quyền giáo huấn của giáo hoàng
hay giám mục.

Nhiều người thường lẫn lộn các niềm tin phổ thông
với các giáo thuyết của Giáo Hội. Chẳng hạn, nhiều người
Công Giáo tiếp tục tin vào lâm bô như một nơi cho các trẻ
em chết mà chưa được rửa tội, dù sự tồn tại của lâm bô
không phải là một giáo huấn chính thức hay giáo thuyết của
Giáo Hội gì cả! Niềm tin ấy đã đi vào trong lịch sử Giáo Hội
như một quan điểm thần học, một khả năng chọn lựa được
phát triển bởi các nhà thần học vào thời Trung cổ để chống
lại quan điểm khắc nghiệt của Augustinô cho rằng trẻ em
chưa được rửa tội phải lãnh án phạt đời đời.

Một công việc phê bình khác của thần học là giải
thích lại ngôn ngữ của Giáo Hội sao cho nó có thể phản ảnh
cách thích đáng hơn đức tin mà nó muốn diễn tả. Mọi "sự
diễn đạt mạc khải" đều bị qui định bởi điều kiện lịch sử và
do đó bị hạn chế, như Thánh Bộ Giáo lý Đức tin của Vatican
đã ghi nhận trong Huấn Thị Mysterium Ecclesiae (24 tháng

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 19

6, 1973)7. Thuật ngữ "sự diễn đạt mạc khải" muốn nói đến
F6

các Sách Thánh, các Kinh Tin Kính, các tín điều, các giáo

thuyết, và các giáo huấn của huấn quyền Giáo Hội. Huấn

Thị nói trên nêu ra 4 cách trong đó những diễn đạt mạc khải

có thể bị hạn chế:

1. Hạn chế bởi khả năng diễn đạt của ngôn ngữ qua

các thời đại: Nghĩa là ngôn ngữ truyền đạt thành công trong

một thời kỳ có thể sẽ không thành công trong một thời kỳ

khác. Chẳng hạn, những thuật ngữ như Vương Quốc Thiên

Chúa, ân sủng, công chính ... có thể phải được dịch lại cho

các thời đại và các nền văn hóa khác.

2. Hạn chế do bởi sự hiểu biết hạn chế của các thời

đại: Một sự diễn tả đức tin có thể đúng nhưng không trọn

vẹn, cần phải được giải thích thêm. Định nghĩa của Vatican I

về tính bất khả ngộ của giáo hoàng là đúng, nhưng cần phải

được bổ sung bởi sự nhấn mạnh của Vatican II về sự tham

dự của các giám mục trong việc hành sử quyền giáo huấn

bất khả ngộ của Giáo Hội.

3. Hạn chế bởi những mối quan tâm chuyên biệt làm

động lực đàng sau những định nghĩa hay tuyên bố: Để hiểu

một tuyên bố đặc thù nào đó, nhất thiết phải hiểu bối cảnh

lịch sử mà tuyên bố ấy được thiết chế nên. Sự nhấn mạnh

của Vatican I về địa vị đứng đầu và về quyền bất khả ngộ

của giáo hoàng là một sự ứng phó tốt đối với sự nhấn mạnh

quá đáng của người Pháp (gọi là Gallicanism, chủ nghĩa

Pháp giáo) cho rằng giáo phẩm nước Pháp có quyền phê

chuẩn những giáo huấn của giáo hoàng, và đối với tình trạng

quyền giáo hoàng bị khống chế bởi những luật địa phương.

4. Hạn chế do bởi tư duy (hay các phạm trù tư tưởng)

biến đổi qua thời gian: Chẳng hạn, cách nói về việc "chuyển

7 Cf. "Tuyên Ngôn Về Việc Bảo Vệ Giáo Thuyết Của Công Giáo Về Giáo
Hội, Chống Lại Một Số Sai Lầm Của Ngày Nay," Origins 3 (1973) 97-100.

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 20

bản thể" vào thế kỷ 13 đã giúp để diễn tả một chân lý quan
trọng liên quan đến đức tin của Giáo Hội về Bí Tích Thánh
Thể; nhưng cũng chính chân lý ấy có thể được diễn tả bằng
một ngôn ngữ khác trong một nền văn hóa không còn suy
nghĩ theo những phạm trù triết học về bản thể và tùy thể;
cũng vậy, ý niệm có tính quân chủ về Giáo Hội trong thế kỷ
19 thì không phù hợp để hiểu Giáo Hội sau Công Đồng

Vatican II.

THẦN HỌC XÉT NHƯ MỘT CÔNG VIỆC CỦA GIÁO
HỘI

Thần học luôn luôn phục vụ cho đức tin của Giáo
Hội. Trong tư cách là một cố gắng trình bày đức tin, thần
học luôn luôn là một công việc của cộng đoàn những người
tin, tức Giáo Hội. Cả những nhà thần học chuyên nghiệp lẫn
các giám mục đều tham dự vào công cuộc thần học này,
nhưng hai bên làm theo những cách khác nhau.

Các Giám Mục
Và Các Nhà Thần Học

Vào thế kỷ 13 Tôma Aquinô đã đề cập đến các
doctores hay những nhà thần học thực thi một quyền giáo
huấn thuộc chức vụ giảng dạy (magisterium cathedrae
magistralis), bên cạnh quyền giáo huấn thuộc chức vụ mục
vụ của các giám mục (magisterium cathedrae pastoralis).
Trong các thế kỷ 13 và 14, các sắc lệnh của một số Công
Đồng chung đã được giao cho các nhà thần học ở đại học
trước khi chúng được phê chuẩn.

Mãi đến thời Đức Gregory XVI, khoảng năm 1830,
thuật ngữ quyền giáo huấn mới mang ý nghĩa hiện nay của
nó, nhằm chỉ chức năng giảng dạy của giáo hoàng và các

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 21

giám mục. Các giám mục có trách nhiệm giám sát việc rao
giảng và bảo quản "kho tàng đức tin" của Giáo Hội. Khi các
giám mục qui tụ với nhau trong Công Đồng, các ngài thực
thi chức năng giảng dạy hay "huấn quyền" của Giáo Hội và
trong một số trường hợp, các ngài tham dự vào quyền bất
khả ngộ trong hiệp nhất với giáo hoàng là thủ lĩnh của giám
mục đoàn. Do chức vụ của mình, các giám mục có thẩm
quyền phát biểu cho (= nhân danh) Giáo Hội.

Các nhà thần học thì phát biểu từ Giáo Hội, chứ
không cho Giáo Hội. Các vị cũng có một thẩm quyền đặt cơ
sở trên sự hiểu biết uyên bác của các vị. Công việc mà các vị
đảm nhận không dừng lại chỉ ở chỗ giúp chuyển trao đức tin
của Giáo Hội. Các vị phải bảo đảm sao cho ngôn ngữ và
việc rao giảng của Giáo Hội được cập nhật. Các vị phải
thường xuyên khảo sát lại truyền thống của Giáo Hội để
truyền thống ấy có thể soi sáng cho những vấn đề mới. Các
vị cần có sự tự do để chất vấn những cách diễn tả đức tin
Kitô giáo thuộc truyền thống - ngay cả những phát biểu của
quyền giáo huấn - nhằm giúp giải phóng chúng khỏi những
sự hạn chế do lịch sử và làm cho chúng có thể được nhận
thức trong các bối cảnh lịch sử mới.

Đã có những thời các vai trò phân biệt của các giám
mục và của các nhà thần học bị nhập nhằng lẫn lộn. Các nhà
thần học đôi khi không tôn trọng thẩm quyền mục vụ của
các giám mục, tự trao cho mình một quyền nào đó vượt quá
thẩm quyền đặt trên cơ sở kiến thức uyên bác của mình. Đôi
khi các vị không kịp thời phê phán các đồng nghiệp của
mình khi các đồng nghiệp ấy rõ ràng phản bác giáo huấn
Công Giáo, đùn đẩy trách nhiệm ấy cho các giám mục.

Mặt khác, những vị phát biểu nhân danh huấn quyền
Giáo Hội (tức các giám mục) đôi khi cũng không tôn trọng
khả năng chuyên môn riêng của các nhà thần học. Trước
Công Đồng Vatican II, nhiều nhà thần học nổi tiếng, trong

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 22

đó có tu sĩ Dòng Tên người Mỹ John Courtney Murray, bị

thẩm quyền Giáo Hội cấm không cho ấn hành sách vở về

một số đề tài nào đó - để rồi về sau này Công Đồng thanh

minh rằng công trình của các vị ấy là đúng đắn. Gần đây

hơn, một số nhà thần học Công Giáo hiện đại đã bị kỷ luật

hay bị bịt miệng bởi Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin. Năm 1979,

Hans Kung bị rút lại ủy nhiệm thư giảng dạy trong tư cách là

một nhà thần học Công Giáo. Edward Schillebeeckx và

Leonardo Boff bị triệu tập về Rôma để giải thích các quan

điểm của mình; Boff được lệnh không xuất bản ấn phẩm của

mình trong một năm. Năm 1986, Curran, một giáo sư thần

học luân lý, bị ép rời khỏi chức vụ của mình tại phân khoa

thần học thuộc Đại Học Công Giáo Mỹ, do bởi những quan

điểm của ông trong lãnh vực luân lý tính dục.

Giáo hoàng Piô XII, trong một số tài liệu của ngài, có

khuynh hướng giảm trừ chức năng của nhà thần học đến chỉ

còn là ủng hộ các giáo huấn của huấn quyền. Trong Thông

Điệp Humani Generis của ngài (1950), ngài đã viết rằng

công việc của các nhà thần học là "chỉ ra cho thấy các lý do

để khẳng quyết rằng những điều được dạy bởi huấn quyền

sống động đều được tìm thấy trong Thánh Kinh và trong

"truyền thống thánh", dù một cách minh nhiên hay mặc

nhiên." (DS3886)8. Bốn năm sau, ngài lập luận rằng các nhà
7F

thần học giảng dạy "không phải nhân danh chính mình, cũng

không phải căn cứ vào kiến thức thần học uyên bác của

mình, nhưng là do bởi sứ mạng mà các vị nhận được từ huấn

quyền hợp pháp."9
8F

8 Yves Congar, "Tóm Tắt Lịch Sử Của Huấn Quyền Và Các Liên Hệ Giữa
Huấn Quyền Và Các Học Giả", Readings in Moral Theology, The
Magisterium and Morality, ed. Charles E. Curran và Richard A. McCormick,

vol. 3 (New York/Ramsey: Paulist Press, 1982) 325.
9 Piô XII, « Si diligis, » Acta Apostolicae Sedis 46 (1954) 314

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 23

Nhãn quan đậm màu pháp lý ấy lại xuất hiện trong

Bộ Giáo Luật 1983 khi Bộ Giáo Luật này nói rằng các nhà

thần học Công Giáo giảng dạy trong các đại học Công Giáo

nên nhận một "ủy nhiệm thư" từ cấp thẩm quyền hợp pháp

của Giáo Hội; và vào năm 1990, Huấn Thị Về Ơn Gọi Của

Nhà Thần Học Trong Giáo Hội, do Thánh Bộ Giáo Lý Đức

Tin công bố, cũng lặp lại quan điểm tương tự .10 Nhưng một
F9

khi cho rằng các nhà thần học - ngay cả những vị có ủy

nhiệm thư theo luật - phát biểu nhân danh Giáo Hội, thì đấy

là đã lẫn lộn vai trò của họ với vai trò của các giám mục. Cả

hai đều đảm nhận những vai trò quan trọng, nhưng mỗi bên

có công việc riêng của mình, và không nên nhập nhằng.

Các Tiêu Chuẩn Cho
Những Tuyên Bố Thần Học

Bằng cách nào người ta đánh giá tính thích đáng của
một tuyên bố thần học nào đó? Các nhà thần học Công Giáo
tuân theo một số tiêu chuẩn phản ảnh bản chất của thần học
trong tư cách vừa là một khoa học vừa là một công việc của
Giáo Hội. Sau đây là những tiêu chuẩn quan trọng nhất:

1. Tuyên bố ấy có nhất quán với truyền thống Thánh
Kinh hay không? Thánh Kinh, trong tư cách là diễn tả thành
văn kinh nghiệm đức tin của It-ra-en và của cộng đoàn
Kitôhữu sơ khai, vẫn là sự diễn tả chuẩn mực của truyền
thống Kitô giáo. Bất cứ diễn tả thần học nào về đức tin Kitô
giáo đều phải nhất quán với chứng cứ của truyền thống
Thánh Kinh. Tuy nhiên, tiêu chuẩn nhất quán này cũng nhìn
nhận rằng có một số vấn đề hiện đại không được Thánh
Kinh đề cập đến và có một số vấn đề phức tạp khác không

10 Origins 20 (1990) 117-26.

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 24

thể được giải đáp duy chỉ bằng cách nại vào một bản văn
nào đó - chẳng hạn, lập luận dựa trên Ga 14,6 rằng chỉ các
Kitôhữu mới có thể được cứu độ.

2. Tuyên bố ấy có được hậu thuẫn bởi truyền thống
chính thức của Giáo Hội hay không? Đức tin của Giáo Hội
được diễn tả chính thức trong các Kinh Tin Kính của Giáo
Hội, trong phụng vụ các bí tích chính thức của Giáo Hội, và
trong các giáo huấn của huấn quyền Giáo Hội. Nếu một diễn
tả thần học về niềm tin lại mâu thuẫn với giáo huấn chính
thức của Giáo Hội, thì diễn tả ấy ít nhất là cần phải được đặt
vấn đề, nếu như không rõ ràng chống nghịch lại truyền
thống và do đó bất tương hợp. Đức tin của Giáo Hội cũng
được diễn tả chính thức trong phụng vụ. Chẳng hạn, hàm ẩn
trong Bí Tích Phép Rửa và Bí Tích Thánh Thể là cả một kho
tàng thần học Kitô giáo.

3. Tuyên bố ấy có nhất quán với đức tin của dân
Kitôhữu không? Đức tin của Giáo Hội cũng được diễn tả
trong sensus fidelium, hay cảm thức của người tín hữu.
Sensus fidelium qui chiếu đến những gì mà người Kitôhữu
tin. Nhưng đây không chỉ là vấn đề quan điểm của đa số,
không phải là một cái gì đó có thể được xác định duy chỉ
bằng việc mở một cuộc điều tra dư luận. Tiêu chuẩn này làm
việc không một cách độc lập đối với quyền giáo huấn của
các giám mục, nhưng đúng hơn ở trong mối liên hệ biện
chứng với quyền giáo huấn ấy. Sensus fidelium là kết quả do
tác động của Chúa Thánh Thần trong toàn thể Giáo Hội.
Công Đồng Vatican II nói:

Các tín hữu, xét như một toàn thể, được Chúa Thánh
Thần xức dầu (x. 1Ga 2,20.27), không thể sai lầm trong đức
tin. Họ biểu lộ đặc tính ấy nhờ cảm thức siêu nhiên về đức
tin của toàn thể dân Chúa, khi "từ các giám mục cho đến
người giáo dân rốt hết" đều đồng ý về những điều liên quan
đến đức tin và phong hóa (LG 12).

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 25

4. Tuyên bố ấy có nhất quán với tri thức khoa học hay
không? Một tuyên bố thần học không thể được "chứng
minh" theo những phương pháp của các khoa học tự nhiên
hay xã hội. Nhưng một thần học đúng đắn cần phải ít nhất
am hợp với những gì được nhận biết từ các nguồn tri thức
khác. Chẳng hạn, không thể có sự xung khắc giữa lý thuyết
tiến hóa, được hiểu như là một giả thuyết được xây dựng
vững vàng, với giáo huấn Thánh Kinh về công cuộc sáng
tạo. Thánh Kinh tập chú vào niềm tin rằng Thiên Chúa là tác
giả tối thượng của công trình sáng tạo. Còn lý thuyết tiến
hóa thì quan tâm tới vấn nạn khoa học về cách thế mà công
cuộc sáng tạo ấy đã xảy ra.

Một số hiện tượng, chẳng hạn các phép lạ, không thể
được giải thích theo khoa học. Nhưng thay vì xem chúng
như những điều mâu thuẫn với "các qui luật" của tự nhiên,
sẽ có ý nghĩa nhiều hơn nếu nhìn nhận rằng trong một số
trường hợp, các nguyên nhân khác (mà chúng ta không biết)
vẫn có mặt và có thể tác động trong cảnh vực thế giới chúng
ta. Cuộc Phục Sinh của Đức Giêsu là một trường hợp đặc
biệt bởi vì nó là một biến cố cánh chung hơn là một biến cố
có thể được thẩm tra trong lịch sử.

5. Tuyên bố ấy có khả năng liên hệ tới các mối quan
tâm của con người hiện đại hay không? Tiêu chuẩn này liên
quan nhiều đến tính hiệu dụng của một tuyên bố thần học
hơn là liên quan đến chân lý của tuyên bố ấy. Nhưng đây
cũng là một tiêu chuẩn rất quan trọng. Nếu một tuyên bố
thần học không liên quan gì đến đời sống của dân Kitôhữu,
ngay cả dù đó là một tuyên bố đúng, thì sẽ không phải là
một diễn tả hữu hiệu đức tin của cộng đoàn này.

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 26

Thần Học Và Giáo Thuyết

Trong Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội, Công Đồng
Vatican II dạy rằng các giám mục trong mối hiệp nhất với
giáo hoàng, trong một số trường hợp nào đó, có thể giảng
dạy một cách không thể sai lầm. Nhưng các Nghị Phụ của
Công Đồng cũng cẩn thận phân biệt giữa việc thực thi quyền
giáo huấn bất khả ngộ và điều vốn thường được nói đến như
là quyền giáo huấn thông thường (hay "không bất khả ngộ").
Người tín hữu được mời gọi chấp nhận cả hai loại giáo huấn,
nhưng đây là hai loại chấp nhận khác nhau.

Người tín hữu cần phải có một thái độ "tùng phục đức
tin" đối với những giáo huấn được công bố một cách bất khả
ngộ (các tín điều), trong khi những giáo huấn có thẩm quyền
nhưng không bất khả ngộ (các giáo thuyết) thì cần được
chấp nhận với một sự "kính cẩn tuân phục" (obsequium
religiosum) của ý chí và lý trí (LG 25). Sự phân biệt ở đây
rất quan trọng; nó liên quan đến sự khác biệt giữa tín điều và
giáo thuyết.

Những giáo huấn hay giáo thuyết được xem là do
Thiên Chúa mạc khải và được dạy với thẩm quyền cao nhất
của Giáo Hội được gọi là các tín điều. Các tín điều bao gồm
các điều trong Kinh Tin Kính, các giáo huấn long trọng của
các Công Đồng chung, và những giáo huấn ex cathedra (bất
khả ngộ) của huấn quyền ngoại thường của giáo hoàng.
Quyền bất khả ngộ của giáo hoàng chỉ mới được nại đến hai
lần, trong tín điều Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội được
công bố bởi Giáo Hoàng Piô IX năm 1854, và tín điều Đức
Maria Hồn Xác Lên Trời được công bố bởi Giáo Hoàng Piô
XII năm 1950.

Sự chấp nhận được yêu cầu bởi các tín điều là một sự
tùng phục của đức tin, có nghĩa rằng khi bác bỏ một tín điều
thì người ta tự đặt mình ra ngoài mối hiệp thông với cộng

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 27

đoàn những người tin. Như vậy, các tín điều kiến tạo nên
một "qui luật của đức tin". Các tín điều được coi là "không
thể cải cách được" (irreformable - một thuật ngữ có nghĩa
rằng chiều hướng của các phán quyết được đưa ra không thể
bị thay đổi, mặc dù cũng như bất cứ tuyên bố nào bị hạn chế
bởi điều kiện lịch sử, chúng vẫn cần được diễn dịch lại.

Các giáo thuyết bao gồm tất cả những giáo huấn của
Giáo Hội dù đó là của Thánh Kinh, các Công Đồng hay của
quyền giáo huấn thông thường của giáo hoàng. Không phải
mọi giáo thuyết đều được công bố với thẩm quyền như
nhau; những "chú giải thần học" cho thấy các giáo thuyết có
nhiều mức độ khác nhau: từ "cái nhiên" và "an toàn" tới de
fide divina, hay được chứa đựng trong mạc khải thần linh.
Vatican II dạy rằng có một "phẩm trật" các chân lý nơi các
giáo thuyết khác nhau.

Khác với sự chấp nhận đối với các tín điều, sự chấp
nhận mà các giáo thuyết yêu cầu được diễn tả bởi từ ngữ La
Tinh obsequium religiosum, nghĩa là sự tôn trọng, tuân
phục, hay vâng lời với những mức độ đa dạng. Bởi vì
obsequium religiosum diễn tả thái độ ái mộ của người tín
hữu, một thái độ yêu mến đối với Giáo Hội, nên sự thừa
nhận này nhằm để ủng hộ chân lý của giáo huấn. Nhưng,
như nhiều nhà thần học đã chỉ ra, bởi vì những giáo huấn
này không được công bố một cách bất khả ngộ, nên vẫn còn
có khả năng sai lầm. Vì thế, những giáo huấn này không chỉ
ở trong tình trạng cần diễn dịch lại, mà chúng còn có thể
được cải cách hoặc thay đổi. Ở đây thần học đảm nhận một
vai trò quan trọng trong việc khảo sát truyền thống và tìm
kiếm cách diễn tả đức tin của Giáo Hội một cách thích hợp
hơn.

Trong lịch sử Giáo Hội gần đây, có nhiều ví dụ cho
thấy một số giáo huấn thuộc quyền giáo huấn thông thường
của giáo hoàng đã được hiệu chỉnh nhờ ở sự kiện rằng Giáo

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 28

Hội, cách riêng các học giả, đã "đón nhận" các giáo huấn ấy

một cách có phê bình. Trong một nghiên cứu quan trọng, J.

R. Dionne cho thấy rằng rõ ràng Giáo Hoàng Piô IX thiếu

khả năng nhìn nhận bất cứ sự thật hay điều tốt nào nơi các

tôn giáo ngoài Kitô giáo, ông viện dẫn sự kiện vị giáo hoàng

này lên án sự yêu cầu rằng cần phân biệt rành mạch giữa

Giáo Hội và quốc gia, rồi vị giáo hoàng này còn phủ nhận

quyền tự do tôn giáo xét như một quyền khách quan, ông

cũng viện dẫn việc Giáo Hoàng Piô XII chỉ xem một mình

Giáo Hội Công Giáo Rôma là Nhiệm Thể Chúa Kitô11. Tất
1F0

cả những giáo huấn giáo hoàng như thế đã được sửa đổi bởi

Công Đồng Vatican II. Chúng ta thấy thần học đã đóng một

vai trò rất quan trọng trong việc phát triển giáo thuyết.

KẾT LUẬN

Đức tin Kitô giáo được diễn tả bằng nhiều cách, bằng
đời sống yêu thương và phục vụ người khác, bằng cầu
nguyện và phụng tự, bằng âm nhạc, kiến trúc, hội họa, bằng
các Sách Thánh và bằng truyền thống Kitô giáo sống động.
Thần học là nỗ lực diễn tả đức tin Kitô giáo bằng ngôn ngữ.

Thần học vừa là một môn học có tính phê bình (tức
một khoa học), vừa là một công việc của Giáo Hội. Thần
học phải bảo vệ món quà vô giá là sự kiện Thiên Chúa tự
mạc khải nơi Đức Giêsu và đồng thời phải bảo đảm rằng
ngôn ngữ mà Giáo Hội dùng để công bố món quà ấy phải có
thể được nhận hiểu trong những nền văn hóa khác nhau và
trong những bối cảnh lịch sử mới.

11 Xem J. Robert Dionne, The Papacy and the Church: A Study of Praxis and
Reception in Ecumenical Perspective (New York: Philosophical Library,
1987).

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 29

Bất chấp sự căng thẳng đôi khi bộc phát lên giữa các
nhà thần học và huấn quyền, mối liên hệ giữa các nhà thần
học và các giám mục thường được ghi nhận là một mối liên
hệ đầy hoa trái. Các nhà thần học tự nhận hiểu rằng họ là
những con người của Giáo Hội và họ tìm cách sử dụng kiến
thức uyên bác của mình để giúp cho Giáo Hội và công cuộc
rao giảng của Giáo Hội có thể phản ảnh Phúc Âm một cách
sâu sát hơn. Các giám mục trân trọng công việc của các nhà
thần học và xem các nhà thần học là điểm tựa cho các ngài
trong sứ vụ giảng dạy chính thức. Cả hai đều đảm nhận
những vai trò thiết yếu trong công cuộc xây dựng cộng đoàn
Kitô giáo.

CÂU HỎI GIÚP TÌM HIỂU

1. Đâu là sự khác biệt giữa thần học và khoa nghiên
cứu tôn giáo?

2. Tại sao nói rằng một tuyên bố thần học bị hạn định
bởi điều kiện lịch sử?

3. Hãy cho biết các tiêu chuẩn khác nhau để đánh giá
tính thích đáng của một tuyên bố thần học.

4. Hãy thảo luận những đóng góp của các nhà thần
học và của các giám mục cho công tác thần học của Giáo
Hội.

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 30

Chương 2: TRỞ VỀ NGUỒN:
THÁNH KINH DO THÁI

Daniel L. Smith-Christopher

Bằng cách nào chúng ta có thể mô tả tính thống nhất
được ghi nhận giữa 39 quyển sách khác nhau được viết qua
một giai đoạn xấp xỉ 850 năm? Có lẽ câu trả lời nằm trong
sự kiện rằng bộ sách này mô tả một mối quan hệ kéo dài
trong thời gian. Thật vậy, có thể nói rằng Thánh Kinh Do
Thái mô tả một chuyện tình đầy sóng gió giữa những người
bạn tình "lì lợm".

Mặc dù việc ví von với một chuyện tình xem ra có vẻ
lạ lùng, song đây quả thật là một chuyện tình. Ngôn sứ Hôsê
vào thế kỷ 8 trước công nguyên đã sử dụng ẩn dụ này một
cách tuyệt vời, đặt tương phản giữa một bên là tình yêu đích
thực của Giavê đối với dân Do Thái và bên kia là "sự thèm
khát rẻ tiền" của chính đám dân ấy khi họ thờ phượng những
vị thần nông nghiệp của địa phương - bởi họ tin rằng những
vị thần ấy có thể bảo đảm cho họ được mùa màng phong

phú. (Hs 2).

Mô tả về mối quan hệ giữa It-ra-en và Thiên Chúa, đó
là một chủ đề lớn nối kết những quyển sách có nhiều nét
khác nhau thành một tổng thể mạch lạc chặt chẽ. Tất cả các
chủ đề thần học quan trọng xuyên suốt Thánh Kinh Do Thái
như "lịch sử cứu độ", "giao ước", "Vương Quốc của Thiên
Chúa"... đều có thể coi như là thứ yếu so với chủ đề số một
là mối quan hệ căn bản giữa Thiên Chúa và dân của Ngài.

Mối quan hệ này được mô tả bởi các văn sĩ Do Thái
khác nhau bằng chính những kiểu nói của con người (thường
được ví vớimối quan hệ giữa hai người yêu nhau, song cũng
có khi được ví với cha và con - x. Hs 11), qua đó họ cố gắng
diễn tả cảm nhận của họ về Thiên Chúa, Đức "Giavê".

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 31

Giống như mọi mối quan hệ khác, mối quan hệ này giữa
Thiên Chúa và con người được mô tả trong Thánh Kinh Do
Thái cũng có những tình tiết kịch tính như giận, ghen, thất
vọng... nhưng có lẽ ấn tượng nhất trong đức tin của người
Do Thái vẫn là một tình yêu, một lòng trắc ẩn và sự tha thứ
đầy cảm kích. Sức thu hút của Thánh Kinh Do Thái đối với
những ai tìm hiểu bộ sách này vì thế có thể sánh với sự
quyến luyến đối với một người yêu - những nét kỳ diệu mới
mẻ nơi người ta yêu sẽ đem lại cho ta những ngạc nhiên
thích thú, những thất vọng, và xuyên qua tất cả là niềm vui
chất ngất. Vì thế, không lạ gì khi việc tìm hiểu Thánh Kinh
có thể được so sánh với tình yêu sự Khôn Ngoan (Cn 3,13-
18). Để phục vụ cho công cuộc nghiên cứu thần học hiện
đại, và để phục vụ cho mối quan hệ của chính chúng ta hôm
nay với Thiên Chúa, việc chúng ta đọc lại những ngôn từ
xưa cũng cần thiết không kém chi việc cố gắng tìm ra những
ngôn từ mới để lên lời và những kỹ năng mới để lắng nghe
Thiên Chúa nói hôm nay. Nói tóm, rất cần thiết phải trở về
nguồn.

NGUỒN DO THÁI

Đầu tiên, chúng ta cần ghi nhận rằng, ở đây, nói
"Thánh Kinh Do Thái" thì đúng hơn là nói "Cựu Ước".
"Thánh Kinh Do Thái" nhắc cho chúng ta về ngôn ngữ và
văn hóa gốc của nó (ngôn ngữ sêmít, văn hóa cận đông thời
xưa) và nhắc ta nhớ rằng những bản văn này là "thánh" đối
với cả các tín đồ Do Thái giáo lẫn Kitô giáo - một điều mà
chúng ta không nên coi thường. Tiếng Do Thái là một ngôn
ngữ sêmít, có quan hệ với những ngôn ngữ sêmít cổ cũng
như hiện đại khác, chẳng hạn tiếng Ả rập.

Thánh Kinh Do Thái là một bộ sách được viết qua
gần một ngàn năm, xấp xỉ giữa năm 1000 và năm 150 trước

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 32

công nguyên. Các sách Samuen, Các Vua và Sử Biên Niên
được tính là hai quyển cho mỗi tiêu đề, thì tổng cộng có 39
quyển - được viết chủ yếu bằng tiếng Do Thái. Tuy nhiên,
Giáo Hội Kitô giáo sơ khai không đồng ý với Do Thái giáo
thời sơ khai trong việc ấn định qui điển (tức bộ sách có thẩm
quyền làm nên Thánh Kinh của chúng ta), và đã quyết định
bao gồm cả một số sách phần lớn được viết vào thời sau này
(sau năm 250 trước công nguyên) và bằng tiếng Hi Lạp. Bộ
tuyển này được gọi là "Apocrypha" (ngụy thư, tên gọi được
sử dụng bởi những người Tin Lành - là những người không
nhìn nhận chúng như thành phần của qui điển Thánh Kinh),
hay được gọi là "Qui Điển đệ nhị" (tên gọi được sử dụng bởi
Công Giáo Rôma - là những người chấp nhận chúng). Thêm
vào đó, có nhiều sách đã sống còn được tới ngày nay, phần
lớn từ thời Văn Hóa Hi Lạp (từ năm 330 trước công nguyên
cho đến khoảng năm 250 sau công nguyên), gọi là
"Pseudepigrapha" (mạo thư). Những sách này có tính lịch
sử, văn chương và tôn giáo giúp cho việc nghiên cứu về dân
Do Thái, nhưng chúng không trực tiếp giúp cho việc nghiên
cứu lịch sử Do Thái trước thời hoàng kim của văn hóa Hi
Lạp.

Theo truyền thống, các sách của qui điển Do Thái
được phân làm 3 phần phân biệt nhau: các sách Torah ("Lề
Luật" hay "Chỉ Dẫn"), các sách Tiên Tri và Các Sách Khác:

Torah: Sáng Thế, Xuất Hành, Lêvi, Dân Số, Đệ Nhị
Luật.

Tiên Tri: Giosuê, Thẩm Phán, 1&2 Samuen, 1&2 các

Vua, Isaia, Giêrêmia, Êdêkien, Nakhum, Habacuc, Amos,

Hôsê, Giôen, Mika, Malaki, Khácgai, Dacaria, Sôphônia,

Ovadia, và Giôna.

Các Sách Khác: Thánh Vịnh, Châm Ngôn, Diễm Ca,
Ai Ca, Gióp, Ette, Giảng Viên, Etra, Nơkhêmia, Sử Biên
Niên, Rút, và Đanien.

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 33

Các sách "Deutero-Canonical" (Qui điển đệ nhị):
Huấn Ca, Khôn Ngoan, Tôbia, Giuđitha, 1&2 Macabê, và
Barúc.

Để hiểu những quyển sách này, rất cần phải nắm
vững một số kiến thức căn bản về lịch sử Do Thái cổ thời,
như chúng ta sẽ phác họa sau đây, trước khi có một tìm hiểu
ngắn về các văn liệu, và cuối cùng sẽ có một giới thiệu về
các phương pháp phân tích Thánh Kinh.

LỊCH SỬ DO THÁI CỔ THỜI

Mười hai niên biểu sau đây đánh dấu những cột mốc
quan trọng trong lịch sử dân Do Thái và cung cấp một định
hướng căn bản cho phép chúng ta liên hệ mỗi cuốn sách với
những biến cố chuyên biệt và với các thời kỳ nhất định. Nên
nhớ rằng những niên biểu này thường chỉ có tính ước lượng,
nhất là đối với các niên biểu xa xưa.

1280 trước CN: Cuộc Xuất Hành của đám người Do
Thái nô lệ ra khỏi Ai Cập dưới sự lãnh đạo của Môsê.

1020 trước CN: Bắt đầu thời quân chủ sau giai đoạn
các thẩm phán: Saolê, Đavít và Salômôn.

922 trước CN: Salômôn qua đời và đất nước bị chia
đôi: Giuđa miền nam và It-ra-en miền bắc.

722 trước CN: Sự sụp đổ của vương quốc phía bắc do
sự chiếm đóng của người Assiri đến từ Mêsôpôtamia phía
tây bắc.

640 trước CN: Vua Giôsia. "Những Cải cách Đệ Nhị
Luật" và các văn phẩm lịch sử, từ Giôsuê đến 2 Các Vua.

587 trước CN: Giuđa hoàn toàn bị đánh bại bởi dân
Babylon và nhiều người Giuđa bị trục xuất. Đền thờ Giê-ru-
sa-lem bị tàn phá.

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 34

539 trước CN: Cyprô của Batư đánh bại Babylon và
cho phép những người lưu đày trở về quê hương.

520 trước CN: Có lẽ là thời điểm tái thiết Đền Thờ bị
tàn phá ở Giê-ru-sa-lem.

450 trước CN: Sứ mạng của Nơkhamia và Etra
333 trước CN: Alexandre Đại Đế thôn tính Palestine
và Cận Đông; bắt đầu ảnh hưởng của văn hóa Hi Lạp.
167 trước CN: Antiôkhô IV cố gắng thống nhất lãnh
thổ của mình bằng cách áp đặt văn hóa Hi Lạp.
Đàn áp Do Thái. Macabê bắt đầu kháng chiến.
64 trước CN: Palestine bị Rôma kiểm soát.
*** (Đức Giêsu sinh ra) ***
70 sau CN: Người Rôma tàn phá ngôi Đền Thờ thứ

hai.

Thật không khôn ngoan nếu tách biệt Thánh Kinh Do
Thái khỏi dân tộc đã sản xuất ra nó và mảnh đất mà dân tộc
này đã sống. Giới nghiên cứu gần đây đã bắt đầu nhấn mạnh
đến tầm quan trọng của bối cảnh chính trị, kinh tế và xã hội
của sự xuất hiện liên bang It-ra-en vào các thế kỷ 13 và 12
trước công nguyên. Đất Canaan vào lúc đó vốn đã là một
vùng đất tranh chấp lâu dài, đóng vai trò như một cầu nối
giữa người Ai Cập ở phía nam, người Hít-ti chủ yếu tập
trung ở Tiểu Á, và các cường quốc đang nổi lên ở
Mêsôpôtamia phía đông (x. bản đồ số 1 ở cuối sách). Như
vậy, lịch sử Thánh Kinh diễn ra trong một "Khu Vực Trung
Tâm" của cổ thời.

Các tư liệu của người Ai Cập cho biết rằng dường
như đất Canaan được cư trú bởi "những người dân của một
lãnh địa độc lập", được điều khiển bởi một bậc vị vọng địa
phương; họ sống nhờ vào lương thực được cung cấp bởi các
nông dân trồng ngũ cốc trên miền bình nguyên và canh tác
những vườn cây trái trên các đồi dốc (ôliu, vả và nho). Ý
thức hệ nâng đỡ hệ thống này là một tôn giáo đặt nền trên sự

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 35

bảo đảm mùa màng phong phú và con người sinh sôi nảy nở,
đồng thời tôn trọng trật tự hay quyền bính đã được thiết lập
dựa trên sự cúng tế hy lễ cho chư thần. Các vị thần chính
yếu là: thần giông tố Baal, nữ thần Asherah, và thần El. Tôn
giáo Canaan được hậu thuẫn bởi một giới tư tế phụ trách các
đền thờ và các trung tâm thờ cúng khác nhau. Đây chính là
tình hình ở Canaan khi đám dân Do Thái nô lệ từ Ai Cập
kéo đến.

Căn cứ vào các truyền thống Thánh Kinh thì thật khó
xác định những dữ kiện chính xác của cuộc "Xuất Hành".
Chẳng hạn, Xh 10,28-29 kết thúc truyền thống cho đó là một
"cuộc trốn thoát" khỏi Ai Cập, trong khi Xh 11-12 thì trình
bày biến cố đó như "một sự trục xuất" người Do Thái sau
nạn dịch thứ 10, và cũng là cuối cùng, giết chết tất cả con
đầu lòng của người Ai Cập. Sách Xuất Hành pha trộn hai
truyền thống này bằng cách nêu sự kiện Pharaô đổi ý và
đuổi theo người Do Thái, tạo ra những truyền thống về sự
giải thoát dân Do Thái tại Biển Đỏ. Nhưng, một lần nữa, ở
đây lại có hai truyền thống, một truyền thống mô tả người
Do Thái trốn thoát ngang qua những vùng trũng hơi lầy lội
(làm cho xa mã của người Ai Cập trở thành vô dụng), còn
truyền thống kia, muộn hơn, chuyển tình tiết ấy thành hiện
tượng nước biển rẽ ra một cách kỳ diệu, rõ ràng nhằm nêu
bật tầm quan trọng thần học của việc Thiên Chúa cứu giúp
dân Do Thái trong những khi họ lâm vào cảnh khốân cùng.

Dù trường hợp nào, thì chúng ta cũng ghi nhận một
nhóm người vốn là nô lệ ở Ai Cập đã đến Canaan vào
khoảng năm 1250 trước công nguyên, với một tôn giáo
hướng về một Thiên Chúa đã giải thoát họ khỏi ách nô lệ Ai
Cập. Tôn giáo này, trong hình thức sơ khai của nó, gắn bó
chặt chẽ với Môsê. Đức tin thuở phôi thai của It-ra-en được
đặt nền trên những kỳ vọng luân lý căn bản ("Lề Luật"), trên
việc thực hành phụng tự trong một cái miếu thờ hay chiếc

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 36

lều di động, và trên việc tôn thờ một Thiên Chúa được gọi là
"Giavê". Tuy nhiên, yếu tố chính của tôn giáo này, dưới cái
nhìn của giới nông dân Canaan đương thời, là sự kiện rằng
vị Thiên Chúa Giavê này là một vị thần giải phóng những
người nô lệ, và do đó Ngài là một vị thần có liên can tới
hoàn cảnh sống của họ. Tôn giáo này, khi đến Canaan, đã
gây một ảnh hưởng "bùng nổ", và đại đa số những người
làm nên "mười hai chi tộc It-ra-en" chính là những người
Canaan đã cải giáo để theo tôn giáo mới này.

Nhưng việc cải giáo để theo tôn giáo của Giavê này
không trơn tru, và đã không ngừng xảy ra tình trạng các ý
niệm của tôn giáo Canaan và tôn giáo Giavê pha trộn lẫn
nhau tạo thành một vấn đề kéo dài suốt thời đại các Vua của
It-ra-en và Giuđa, từ khoảng năm 1000 trước công nguyên
cho đến thời của Những Cuộc Cải Cách Đệ Nhị Luật khoảng
năm 640-609 trước công nguyên. Đã có nhiều khám phá mới
đây của khoa khảo cổ cho thấy mức độ của tình trạng hổ lốn
này (nghĩa là, sự pha trộn của hai hay nhiều truyền thống tôn
giáo). Chẳng hạn, các kinh nguyện được ghi trên những
miếng đất sét được tìm thấy trong một điện thờ nhỏ gần sa
mạc Sinai có nói đến "Giavê" và "vợ là Asherah". Một kinh
nguyện như thế là chứng cứ cho thấy rằng người ta đã pha
trộn các yếu tố của tôn giáo It-ra-en và tôn giáo Canaan. Lời
tố cáo của Thánh Kinh dành cho nhiều vị vua của It-ra-en và
Giuđa bỏ việc phụng thờ chân chính đối với Giavê cho thấy
rằng các vua ấy thường nghiêng chiều về tính thủ cựu của
tôn giáo Canaan hơn là tính cách tân của lòng nhiệt thành
phụng thờ Giavê. Các vị vua ấy bị phê phán kịch liệt bởi
những người triệt để ủng hộ sự phụng thờ Giavê - tức là các
ngôn sứ.

Như vậy, dường như sự phụng thờ Giavê đã bắt đầu
trong tư cách là một tôn giáo của "thiểu số" nơi những người
trước kia là nô lệ ở Ai Cập và những người Canaan cải giáo,

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 37

và rồi về sau có được uy thế lớn hơn trong thời quân chủ
(nhất là dưới triều vua Giôsia). Tuy nhiên, lúc bấy giờ, số
phận của các quốc gia It-ra-en độc lập bị định đoạt bởi sự
nổi lên của các đế quốc ở Mêsôpôtamia, và việc phụng thờ
Giavê sẽ dần phát triển thành Do Thái giáo nơi một dân tộc
lụy thuộc các đế quốc ấy về chính trị và kinh tế. Nói cách
khác, căn tính "con cái It-ra-en" đang nổi lên đã đi vào một
bước quặt quan trọng, rứt ra khỏi một căn tính chính trị khi
những đế quốc to lớn này (đầu tiên là Assiri, rồi đến
Babylon, sau đó là Ba tư) bắt đầu bành trướng ảnh hưởng về
phía tây, tiến vào vùng duyên hải Palestine.

Thời đại quân chủ It-ra-en bắt đầu khoảng năm 1000
trước công nguyên. Đavít là vị lãnh đạo nổi bật nhất; ông đã
thành công trong việc thống nhất các dân Do Thái và
Canaan thành một mối để chống lại sự đe dọa đang ập đến
từ những kẻ xâm lăng ở vùng duyên hải gọi là Philitinh.
Đavít cũng thiết lập một thủ đô là Giê-ru-sa-lem, và mở rộng
ảnh hưởng chính trị của It-ra-en qua bên kia sông Giođan, đi
vào các vùng đất Ammon, Moab, Êđom và tràn lên Syria
phía bắc (x. bản đồ số 2 ở cuối sách).

Con trai của Đavít là Salômôn nối nghiệp cha, tiến
hành thêm những hoạt động củng cố mối thống nhất, bao
gồm việc xây dựng một Đền Thờ cho cả quốc gia, thiết kế
theo mẫu đền thờ của người Canaan. Nhưng dù Salômôn rất
nổi tiếng về hoạt động ngoại giao và sự "khôn ngoan",
những công việc xây dựng của ông - huy động nhiều sức
người sức của - đã bị xem là bóc lột, nhất là tại vùng lãnh
thổ phía bắc (1V 9,22, nhưng nên xem thêm 1V 5,27; 11,28

và 1V 12).

Palestine/Canaan vốn không phải là một môi trường
thuần nhất, và những sắc thái nông nghiệp khác nhau dẫn
đến những sắc thái xã hội khác nhau, tình hình càng phức
tạp hơn nữa do bởi các đòi hỏi đóng góp vào công cuộc xây

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 38

dựng của Salômôn bằng lao động và thuế má. Khi Salômôn
qua đời, các dân phía bắc (gồm 10 trong 12 chi tộc) ly khai
ra khỏi triều đình Giê-ru-sa-lem, và thiết lập một nước It-ra-
en mới vào năm 922 trước công nguyên. Vì thế, Thánh Kinh
Do Thái gọi quốc gia phía bắc là "It-ra-en", và quốc gia phía
nam là "Giuđa". Nước Giuđa duy trì triều đại của dòng tộc
Đavít, trong khi It-ra-en được cai trị bởi một loạt nối tiếp các
vua, không vị nào trong đó rốt cục có thể thiết lập một
vương triều khả dĩ vững chãi. Vì thế quốc gia phía bắc xem
ra bất ổn hơn. Ở phía bắc, các ngôn sứ thỉnh thoảng dấy lên
những cuộc cách mạng bằng cách công bố rằng Thiên Chúa
đã chọn một vị vua mới trong khi ông vua tại vị vẫn còn
đang ngồi trên ngai!

Trong nửa sau thế kỷ 8 trước công nguyên, quốc gia
phía bắc tham gia vào một khối liên minh các quốc gia nhằm
cố gắng chống lại áp lực ngày càng tăng của đế quốc Assiri.
Khi vị vua của quốc gia phía nam, vua Ahaz, từ chối tham
gia vào liên minh này, các thành viên của liên minh quyết
định gây áp lực đối với Ahaz, và phát động một cuộc chiếân
tranh. Để ứng phó, vua Ahaz kêu gọi sự hỗ trợ của người
Assiri - thế là người Assiri bắt đầu xâm lăng về phía tây.
Năm 722 trước công nguyên, liên minh nói trên bị tiêu diệt
bởi những người Assiri xâm lăng, trong đó có cả quốc gia It-
ra-en phía bắc.

Đế quốc Assiri sử dụng một đường lối quân sự, nhằm
bảo đảm sao cho các vùng bị chinh phục không thể có khả
năng tập hợp sức đề kháng. Điều này liên quan đến việc trục
xuất những bộ phận lớn dân chúng tại các vùng mới chinh
phục, và thay vào đó bằng một nhóm người được đưa đến từ
một vùng khác của đế quốc. Nhưng đế quốc Assiri cuối
cùng bị lật đổ bởi một thế lực hùng mạnh mới nổi lên của
người Mêsôpôtamia ở phía nam vùng lòng chảo hai con
sông Tigre và Euphrate - đó là những người Babylon.

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 39

Giữa những năm 640 và 609, nghĩa là, giữa cuộc suy
tàn của đế quốc Assiri và sự bành trướng thanh thế của
người Babylon, vua Giôsia cai trị ở Giê-ru-sa-lem. Vua
Giôsia được nhìn nhận là có công phát động một cuộc cải
cách quan trọng, tập trung mọi việc phụng tự về Giê-ru-sa-
lem (nghĩa là chấm dứt việc phụng tự trong các đền thờ địa
phương, tránh hiện tượng pha tạp với các thực hành tôn giáo
của người Canaan), đồng thời phục hồi một hình thức phụng
tự Giavê cách tinh ròng hơn, có lẽ để hưởng ứng lời kêu gọi
của một số ngôn sứ. Công cuộc của vua Giôsia đặt cơ sở
trên Lề Luật được chứa đựng trong Sách Đệ Nhị Luật, và vì
thế được gọi là "Cuộc Cải Cách Đệ Nhị Luật". Phong trào
này cũng gợi cảm hứng thêm cho việc trước tác văn chương.
Sau cái chết bi thảm của Giôsia trong một chiến dịch chốâng
lại người Ai Cập (609 trước công nguyên), "Lịch Sử Đệ Nhị
Luật" được biên soạn, bắt đầu với Giôsuê và tiếp tục tới
cuộc xâm chiếm của người Babylon như được mô tả ở cuối

sách 2 Các Vua.

Người Babylon, cuối cùng, đã có thể đánh bại các
đạo binh Assiri vào năm 609 trước công nguyên. Sau khi lên
ngôi, vua Nabucôđônôso đã đưa người Babylon đi xa hơn về
phía nam trên vùng duyên hải Canaan, củng cố quyền kiểm
soát của mình đối với khu vực như một trái độn với người
Ai Cập. Năm 597, vua trẻ Jehoiachin thần phục
Nabucôdônôso, và Nabucôdônôso nhận Giuđa làm một nước
chư hầu, đặt một nhà cai trị do chính ông chọn để làm một
"tay sai" ở Giê-ru-sa-lem. Nabucôdônôso đặt tên cho vị vua
mới này là "Zedekiah" (sự thay đổi tên thường tượng trưng
cho quyền kiểm soát chính trị), đặt vua ấy lên ngai, rồi trở
về Babylon với một nhóm người đi đày - trong đó có cả vị
vua trẻ Jehoiachin. Đây là khởi đầu của cuộc Lưu Đày, và rõ
ràng chỉ liên quan đến giới "thượng lưu của xã hội Giuđa"

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 40

tức những kẻ có thể trực tiếp đe dọa đến sự cai trị của

Babylon.

Zedekiah làm vua chư hầu trong 10 năm, nhưng suốt
trong thời gian này ông đã nuôi tham vọng cai trị Giuđa như
một quốc gia độc lập. Có lẽ hành động mạo hiểm ấy của ông
đã được khích lệ do bởi những hứa hẹn giúp đỡ từ phía
người Ai Cập, (như chúng ta có thể ghi nhận các ngôn sứ
như Giêrêmia đã gay gắt tố cáo ý tưởng cho rằng Ai Cập sẽ
cung cấp sự trợ giúp đáng tin cậy để vãn hồi nền độc lập).
Khi Zedekiah ngừng triều cống người Babyon, thì hành
động này của ông có ý nghĩa như một tuyên bố độc lập, và
rồi chẳng bao lâu sau đó Nabucôdônôso một lần nữa kéo
binh mã làm cuộc tây tiến để lập lại quyền kiểm soát. Giê-
ru-sa-lem bị tàn phá vào năm 587-576, sau một cuộc vây
hãm kéo dài, và các con của Zedekiah bị hạ sát. Chính
Zedekiah cũng bị tra tấn và bị đưa đi Babylon. Đền thờ bị
tàn phá, các đồ đạc trong Đền Thờ bị "tịch thu và đem đi"
cùng với phần lớn dân chúng. Cuộc lưu đày này có tầm vóc
lớn hơn nhiều so với mười năm trước đó, và liên quan tới
một con số rất đông đảo dân chúng. Con số người bị đi đày
được ước lượng từ 20 ngàn tới 70 ngàn - rõ ràng đây là một
tỉ lệ rất cao.

Cuộc "Lưu Đày Babylon" này là một trong những
biến cố rất hệ trọng trong vận mệnh của dân Do Thái; nhưng
nhóm người lưu đày đã sống còn và đã tái lập đức tin của
họ. Khi rốt cục người Ba tư đánh bại Babylon vào năm 539,
hoàng đế Kyrô đã cho phép người Do Thái trở về Palestine.
Dù một nhóm khá đông những người Do Thái vẫn còn ở lại
Babylon, song "những cuộc hồi hương" khác nhau của
người Do Thái (như được mô tả trong Et-ra) đã cho phép tái
lập lại đức tin, cộng đoàn, và ngay cả việc phụng tự Đền
Thờ.

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 41

Chúng ta không biết nhiều về xã hội Giuđa thời hậu
lưu đày. Chỉ có một vài cuốn sách được gán cho thời này,
chẳng hạn sách Hacgai, Dacaria, Malaki, và Etra-Nêhêmia.
Tình trạng thiếu thông tin này tiếp tục cho tới giai đoạn Hi
Lạp (sau năm 333 trước công nguyên) là giai đoạn mà chúng
ta lại bắt đầu có những nguồn văn chương/lịch sử như các
sách ngụy thư (Apocryphal) và nhiều tác phẩm mạo thư
(Pseudepigraphic) khác nhau. Điều mà chúng ta có thể giả
đoán, đó là cộng đoàn Do Thái đã hình thành một căn tính
và đức tin cộng đoàn mạnh mẽ duới sự lãnh đạo của các tư
tế, là những người xuất hiện như những vị lãnh đạo chủ yếu
thay cho vương triều Đavít. Niềm hy vọng về việc khôi phục
một quân vương thuộc dòng tộc Đavít đã trở thành căn bản
cho một thời đại trong tương lai; niềm hy vọng này đôi khi
dấy lên những hoạt động có tính dân tộc chủ nghĩa nơi
những người Do Thái ở Palestine. Nhưng vào thời này,
nhiều người Do Thái vẫn đang sống trong một "Diaspora"
(nghĩa là, tại những nơi không phải là Palestine/It-ra-en) trải
rộng từ Ai Cập tới xa bên phía đông qua khỏi lãnh thổ
Babylon và Ba tư . Đối với họ, đức tin không còn có nghĩa
là sự tồn vong của đất nước, nhưng là căn tính thuộc chiều
kích tinh thần cũng như sự đề kháng lại tình trạng đồng hóa
về mặt văn hóa. Từ những cộng đoàn này chúng ta có những
câu chuyện về những người Do Thái trung kiên sống ở nước
ngoài, chẳng hạn Đanien và Esther.

Từ thời lưu đày cho đến thế kỷ 20, với chỉ một thời
gian tương đối ngắn trước cuộc chiếm đóng của người Rôma
vào năm 64 trước công nguyên, dân Do Thái vẫn phải lụy
thuộc về chính trị và kinh tế vào những người không phải là
Do Thái. Vì thế, Do Thái giáo và Kitô giáo là những tôn
giáo có gốc rễ được tìm thấy nơi những con người "bị xâm
lăng" về chính trị. Đức Giavê, một vị Thiên Chúa của những
người nô lệ được giải phóng, vì thế trở thành vị Thiên Chúa

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 42

của những người bất lực và là vị Thiên Chúa của sự phán xử
đối với những kẻ áp bức, những người giàu có và những
người nắm quyền lực.

Nếu chúng ta không quên rằng hầu như tất cả Thánh
Kinh Do Thái đều được biên tập và sắp xếp (nếu như không
phải được viết trọn vẹn) bởi một dân tộc bất lực về chính trị,
thì các bài thánh ca của Thánh Kinh nói với một "Thiên
Chúa của chinh chiến" sẽ - một cách nào đó - mang những
âm hưởng khác. Những ý niệm như thế sẽ có một ý nghĩa
hoàn toàn khác (và không có tính Thánh Kinh) khi được
những người nắm quyền lực trích dẫn nhằm phục vụ cho ích
lợi của họ, hay khi được sử dụng để trang trí cho các đại
sảnh của Ngũ Giác Đài - biểu tượng của quyền lực thế giới
hiện đại. Còn ở đây, tất cả những nhận thức ấy lại đến với
chúng ta từ các loại văn khác nhau trong Thánh Kinh Do
Thái, mỗi loại đóng góp những nhãn giới riêng. Chúng ta
hãy tìm hiểu vắn tắt một số trong các loại ấy và đồng thời
tìm hiểu một số vấn đề bật lên từ việc nghiên cứu những
cuốn sách này ngày nay.

CÁC SÁCH CỦA THÁNH KINH DO THÁI

Ngũ Thư Và Lịch Sử Đệ Nhị Luật:
Lịch Sử Và Luật

Lịch sử It-ra-en được tiêu biểu bởi nền luân lý rõ ràng
của nó. Nếu quả thật rằng việc viết sử không bao giờ chỉ có
nghĩa là mô tả các biến cố, thì thuật chép sử của Do Thái
đúng là một minh họa tuyệt vời cho thấy lịch sử được viết ra
với một động cơ và mục tiêu được xác định rõ ràng trong
tâm trí.

Công việc chính của các nhà viết sử của It-ra-en cổ
thời là minh họa sự nhận hiểu của họ về Thiên Chúa, và

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 43

cách thế mà Thiên Chúa dính líu vào đời sống của họ. Nói
tóm, nó là văn chương có tính tôn giáo chứ không phải là
văn thư lưu trữ của triều đình hay những tập ghi chép biên
niên về lịch sử. Nắm vững nhãn quan này, chúng ta sẽ tránh
được rất nhiều những hiểu lầm không cần thiết. Chẳng hạn,
việc nghiên cứu lịch sử ban sơ trong Sách Sáng Thế (chương
1-11) sẽ rất bổ ích nếu các sinh viên nhận ra rằng những câu
chuyện này phải được đọc chủ yếu như là sự chỉ dẫn căn bản
về triết học và tôn giáo, chứ không phải như là những chỉ
nam "khoa học" về nguồn gốc của các loài. Như vậy, xem ra
thái độ đúng đắn đối với các trình thuật về sáng tạo hay lụt
hồng thủy trong Sách Sáng Thế phải là một sự trân trọng các
bài học tôn giáo về trách nhiệm luân lý, về việc Thiên Chúa
bênh vực người chính trực, về việc Thiên Chúa can dự vào
và quan tâm đối với con người, và về sự cố chấp chống
cưỡng của con người. Tham gia một đoàn thám hiểm để tìm
kiếm "các mảnh còn lại của con tàu Nôe" trên ngọn núi
Ararat ở Thổ Nhĩ Kỳ, đó không phải là thái độ thích đáng
nhất để hưởng ứng các bản văn Thánh Kinh, bởi vì làm như
vậy là chúng ta bỏ qua sứ điệp cốt lõi của các bản văn ấy và
làm cho chúng trở thành một cái gì đó không còn là chúng
nữa. Các sinh viên hiện đại cần phải biết cách để đọc, để
hiểu và để trân trọng Thánh Kinh Do Thái. Lịch sử thuở ban
sơ cho chúng ta biết nhận thức của người Do Thái cổ thời về
bản tính ngông cuồng của con người, về tình yêu và sự quan
tâm bền bỉ của Thiên Chúa.

Lịch sử thuở ban sơ được nối tiếp bởi các câu chuyện
về "các Tổ Phụ"của It-ra-en cổ: Abraham và Sara, Isaac và
Rêbecca, Giacóp và các con trai, Giuse bên Ai Cập. Mới
cách đây khoảng 30 - 50 năm, các học giả đã bắt đầu tin
tưởng hơn vào sử tính của các câu chuyện các tổ phụ, nhưng
những công trình gần đây trong lãnh vực khảo cổ và phân
tích nguyên bản đã khơi lên mối băn khoăn rằng phải chăng

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 44

bất cứ tư liệu nào trong Sách Sáng Thế cũng có thể được
dùng để tái lập lại lịch sử cổ thời một cách khả dĩ có ý nghĩa.
Dường như tốt nhất là nên coi Sách Sáng Thế như một câu
chuyện với động cơ tôn giáo kể về nguồn gốc của dân Do
Thái và về việc dân này phân bổ thành thành các "chi tộc"
được đặt tên theo những nhân vật được nhắc đến trong các
câu chuyện của Sách Sáng Thế (ví dụ, "mười hai chi tộc"
ứng với mười hai người con trai của Giacóp). Sự việc này đã
cung ứng một lịch sử thống nhất cho các dân tộc của Canaan
trong khoảng thế kỷ 12 đến thế kỷ 10 trước công nguyên -
đây là những người đã cải giáo để phụng thờ Giavê. Các câu
chuyện tổ phụ cũng nói lên mối quan tâm trung thành của
Thiên Chúa, bất chấp những gãy đổ thường xuyên của con
người như được ghi nhận trong các câu chuyện này.

Tuy nhiên, nét nổi bật của năm quyển đầu tiên trong
bộ Thánh Kinh không phải ở chỗ đó là những bản văn viết
sử mà là những bản văn ghi luật. Hầu như tất cả các luật tôn
giáo, luật dân sự, và các nguyên tắc luân lý của It-ra-en cổ
thời đều được hệ thống hóa nơi ba bộ sưu tập chứa đựng
trong năm quyển sách đầu tiên. Bộ sưu tập xa xưa nhất được
gọi là "Bộ Luật Giao Ước", được tìm thấy trong Sách Xuât
Hành (x. chương 19-24). Bộ sưu tập này được bổ sung ít
nhất hai lần, bởi một bộ sưu tập chính thức về luật từ cuối
thế kỷ 7 trong Sách Đệ Nhị Luật (Deuteronomy - tên gọi này
vốn có nghĩa là "bộ luật thứ hai") và có tên là "Bộ Luật Đệ
Nhị Luật". Bộ sưu tập cuối cùng về luật bao gồm chủ yếu là
các luật tư tế hay tôn giáo (mặc dù không phải là không pha
phôi các luật khác). Bộ sưu tập này được thêm vào bởi các
tư tế trong thời hậu lưu đày. Những luật này có thể được tìm
thấy trong Xuất Hành 25-31, nhưng cũng xuất hiện suốt
trong Sách Lêvi nữa. Lớp cổ nhất của luật tư tế có lẽ là Lêvi
17-26 (được gọi là "Luật Thánh", do bởi câu nói lặp đi lặp
lại: "các ngươi hãy nên thánh..."), nhưng được chen vào bởi

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 45

những luật có tính chú giải và bổ sung sau này trong sách
Lêvi và Dân Số.

Sự nhắc lại thường xuyên các luật và các chủ đề về
luật (ví dụ, sự kiện "Thập Giới" được gặp thấy hai lần) được
giải thích bởi việc bổ sung sau này, trong đó các tư liệu luật
của các giai đoạn khác nhau được thêm vào cho các bộ luật.
Thật thú vị, việc bổ sung các bản văn như vậy cho phép các
sinh viên hiện đại làm công việc đối chiếu, chẳng hạn như
đối chiếu về tình trạng của phụ nữ và nô lệ trong luật của It-
ra-en qua các thời khác nhau. Từ lâu, khi đối chiếu giữa Bộ
Luật Giao Ước (Xh 21) với Bộ Luật Đệ Nhị Luật (Đnl
15,12-18), các học giả đã ghi nhận "tính nhân đạo" ngày
càng tăng đối với tình trạng của các nô lệ. Chẳng hạn, bộ
luật sau qui định rõ những thứ phải cung ứng khi phóng
thích nô lệ, và hơn nữa cấm việc giao trả các nô lệ đã trốn
thoát về cho chủ (Đnl 23,16), vv... Có lẽ ấn tượng nhất là
mối kỳ vọng có vẻ không tưởng về công bằng xã hội được
đưa ra bởi các tư tế trong Lêvi 25, qui định rằng "Năm Toàn
Xá" phải được cử hành để hoàn trả tất cả những thửa đất đã
mua về cho các chủ nhân ban đầu, như vậy có thể phòng
tránh sự gia tăng khoảng cách giữa người giàu và người
nghèo bằng cách phân phối lại đất đai sau mỗi 50 năm! Ở It-
ra-en cổ, rõ ràng luật vừa có tính chuẩn mực vừa có tính ứng
dụng.

Các Ngôn Sứ

Thật rất tiếc rằng khi nói đến các ngôn sứ, người ta
thường có khuynh hướng tập chú vào ý niệm rằng đó là
những người "nói trước về tương lai". Quả thật, hoạt động
chính yếu của các ngôn sứ là (1) làm một sứ giả của Thiên
Chúa, trao sứ điệp của Thiên Chúa cho người ta - giống như
công việc của một sứ giả triều đình hay một giao liên, và (2)

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 46

làm một "công tố viên" của Thiên Chúa, nhân danh Thiên
Chúa và nhân danh luật của Ngài để đưa ra những phán xử
về các hành vi tội lỗi, và (3) làm cho người ta biết ý của
Thiên Chúa, hoặc khi được thăm hỏi ý kiến về một điều gì
đó cụ thể, hoặc khi tự ý phát biểu tại những diễn đàn công
khai, chẳng hạn tại các cổng thành. Bất cứ ý tưởng nào về
các biến cố tương lai cũng luôn luôn nằm trong bối cảnh ưu
tiên là các hoạt động chính yếu kể trên. Lời của các ngôn sứ
được nhắm đến cho chính thời của các ngài, và cho thấy
rằng Thiên Chúa không ngừng can dự vào lịch sử. Nếu cho
rằng các lời của các ngôn sứ nhắm đến một tương lai xa xăm
nào đó, thì đó là chúng ta không chỉ tách các ngôn sứ ra khỏi
lịch sử (qua đó ta đánh mất điểm chính yếu là Thiên Chúa
can dự vào lịch sử của dân Ngài), mà còn tự đặt mình trước
cái bẫy cố gắng "giải thích" lời ngôn sứ "cho thời hiện đại"
như thể đó là các lời tiên tri bí ẩn. Thật vậy, nói theo ngôn
ngữ của Mark Twain, người ta sợ lời của các ngôn sứ không
phải vì chúng là những thông điệp bí ẩn khó hiểu về tương
lai, nhưng bởi vì chúng được hiểu quá rõ và chúng nói về
những biến cố thực tế trong đời sống của các vua chúa và
dân chúng là những thính giả trực tiếp nghe các lời ấy.

Các ngôn sứ của It-ra-en cổ thời là những con người
kỳ lạ và đầy lôi cuốn; người ta vừa sợ vừa kính nể các ngài.
Rải rác trong 1 & 2 Samuen, dường như lời ngôn sứ có các
nguồn gốc của chúng nơi những nhóm đặc sủng đi đây đi
đó, phát biểu trong một tình trạng ám thị, giống như xuất
thần (1Sm 10,9tt). Song, dần dần các ngôn sứ lớn đã được
ghi nhận một cách cá nhân, các vị này sẽ tập hợp các truyền
thống và những truyền thuyết - cũng như những nhóm môn
đệ - xung quanh mình. Tiêu biểu nhất của sự phát triển này
là các câu chuyện về Eâlia và Eâlisha trong Lịch Sử Đệ Nhị
Luật (1V 17-21; 2V 2-13), và cả các Sách Isaia và Giêrêmia
nữa.

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 47

Mỗi trong các vị ngôn sứ kể trên đều là một khuôn
mặt độc đáo với một sự khác biệt thú vị trong nhãn quan,
mặc dù đối với một số sách quá ngắn người ta không dễ xác
định một nhãn quan dựa trên tư liệu quá ít ỏi (sách Obadiah
chỉ dài có 21 câu; sách Nahum và Malaki chỉ có 3 chương).
Có lẽ chúng ta có được các bản văn ngôn sứ là nhờ ở các
môn đệ (hay trong trường hợp của sách Giêrêmia thì đó là
nhờ một bạn đồng hành làm công việc của một ký lục) - các
môn đệ này lặp đi lặp lại, tìm hiểu và chú giải các truyền
thống của thầy mình.

Vị ngôn sứ đầu tiên mà chúng ta có các bản văn là
Amốt. Ông là một con người có vẻ kỳ lạ; các lời tiên tri của
ông chứa đựng phán quyết hết sức gay gắt nhắm đến nhiều
quốc gia, chứ không chỉ nhắm đến It-ra-en và Giuđa mà
thôi. Một số học giả tin rằng dăm câu cuối cùng - nêu lên
một niềm hy vọng nào đó - chắc hẳn không phải là của
Amốt!

Ngược lại với Amốt, Hôsê sử dụng những hình ảnh
thân mật và lãng mạn để nói về Thiên Chúa như người tình
hay người cha của dân It-ra-en, qua đó diễn tả nỗi buồn của
ông trước sự cứng đầu của It-ra-en (mà ông so sánh với hành
vi ngoại tình hay hành vi hất hủi cha mẹ). Hôsê thậm chí đẩy
sứ điệp của mình tới chỗ đặt cho các con của ông những cái
tên có tính biểu tượng cho cơn giận của Thiên Chúa đối với
dân Ngài (ví dụ, Lo-Ammi có nghĩa rằng "ngươi không phải
là dân của Ta").

Không lâu sau khi Hôsê và Amốt hoạt động ở phía
bắc, các truyền thống vây quanh ngôn sứ Isaia đã xuất hiện
ở phía nam. Sách Isaia là một điển hình về truyền thống có
thể được khai mở bởi các ngôn sứ lớn và sau đó được tiếp
tục. Vị ngôn sứ này hoạt động từ khoảng năm 740 trước
công nguyên, và các lời của ông chủ yếu được ghi lại trong
các chương 1-39 của Sách Isaia hiện nay. Trong khi đó, các

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 48

chương 40-55 đến từ một vị ngôn sứ khuyết danh hoạt động
vào khoảng cuối thời lưu đày ở Babylon (ước đoán như vậy
bởi vì có những qui chiếu đến vua Kyrô của Ba tư , x. Is
45,1). Những nét tương đồng với các chương Isaia 1-39 đã
làm cho các học giả nghĩ đến sự tồn tại của một "truyền
thống" Isaia trong đó có vị ngôn sứ khuyết danh này.

Yếu tố thú vị nhất của vị ngôn sứ này - mà các học
giả gọi là "Isaia Đệ Nhị" - là việc sử dụng hình ảnh "người
tôi tớ đau khổ". Hình ảnh này hầu chắc là một qui chiếu tập
thể đến đám dân It-ra-en lưu đày, nhưng có ảnh hưởng sâu
sắc đến các Kitôhữu đầu tiên khi họ cố gắng tìm cách giải
thích các biến cố và ý nghĩa của cuộc sống, cái chết và sự
phục sinh của Đức Giêsu (x. Is 42,1-4; 49,1-6; 50,4-9 và
52,13-53,12). Như vậy, hình ảnh đau khổ vì sự công chính
và về ân phúc nhận được do sự đau khổ ấy là một ý niệm
tiên tri của Do Thái giáo chứ không chỉ là của Kitô giáo.
Những chương cuối cùng, chương 56-66, thường được gọi là
"Isaia Đệ Tam", là những sưu tập các lời nói có lẽ bởi các
môn đệ của Ngôn sứ Isaia Đệ Nhị. Đồng thời, dường như
những niềm hy vọng hòa bình của sưu tập thứ ba này đã ảnh
hưởng đến việc biên tập các bản văn của phần thứ nhất, như
có thể nhận thấy ở các chương Isaia 2,4,9,11 và có lẽ ảnh
hưởng đến nhãn quan hòa bình ấn tượng nhất trong toàn bộ
Thánh Kinh: phần sau của Isaia 19.

Giêrêmia có liên quan trực tiếp đến bầu khí chính trị
xung quanh cuộc cải cách Đệ Nhị Luật và cuộc sụp đổ của
quốc gia phía nam rơi vào tay người Babylon. Ông có lẽ
được biết đến nhiều nhất ở sự kiện ông xác tín cách lạ lùng
rằng cuộc chinh phục của người Babylon là do ý Thiên Chúa
muốn, và rằng vì thế dân Giuđa phải "gập cổ" vác lấy cái
ách Babylon trong một thời gian. Rõ ràng Giêrêmia chia sẻ
nhãn quan chung của trường phái Đệ Nhị Luật rằng các biến
cố lưu đày là hình phạt do giai đoạn khước từ lề luật của

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 49

Thiên Chúa trước đó. Sách Giêrêmia được biên soạn thành
hai phần chính, phần những lời nói theo thể thi ca của chính
Giêrêmia và những đoạn văn xuôi kể lại cuộc đời và thân thế
của ông. Cả hai phần đều được thực hiện do Barúc, là ký lục
và bạn đồng hành của Giêrêmia.

Êdêkien, đàng khác, hoạt động giữa đám dân lưu đày
tại Babylon. Ông thường có những màn diễn đôi khi rất kỳ
lạ trước công chúng để minh họa các sứ điệp tiên tri của
ông. Mối quan tâm chính yếu của ông là sự lành mạnh tâm
linh của những người dân lưu đày, nhưng ông cũng quan
tâm đến việc duy trì mối quan hệ của họ với đời sống tôn
giáo mà họ đã bỏ lại sau lưng ở Palestine khi đi lưu đày.

Các sách ngôn sứ còn tiếâp tục được viết ra trong
cộng đoàn sau thời lưu đày. Chẳng hạn, Hácgai chủ yếu
quan tâm đến việc phục hồi đời sống tôn giáo trong cộng
đoàn hậu lưu đày, nhất là nhấn mạnh đến việc xây dựng lại
Đền Thờ. Cũng vậy, Dacaria tập chú đến các vấn đề đức tin
và thực hành trong cộng đoàn sau thời lưu đày.

Như vậy, các Sách ngôn sứ là một nhân tố quan trọng
giúp chúng ta hiểu biết tôn giáo Do Thái cổ thời, nhưng
chúng ta không nên quên rằng các ngôn sứ cũng là những kẻ
gây chống đối và bị loại bỏ. Các ngôn sứ, vì thế, được trân
trọng bởi các thế hệ sau này nhiều hơn là bởi chính những
người đương thời của các vị. Các ngôn sứ trở thành yếu tố
quan trọng để nhận thức đức tin Do Thái, và đó là lý do vì
sao người ta gìn giữ và tiếp tục tìm hiểu các sứ điệp của các
ngôn sứ.

Văn Chương Khải Huyền
Và Mối Quan Hệ Của Nó Với Các Lời Ngôn Sứ

Một vấn đề lôi cuốn sự chú ý cả của các sinh viên lẫn
học giả, đó là cuối cùng hoạt động ngôn sứ đi về đâu. Phải

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 50


Click to View FlipBook Version