The words you are searching are inside this book. To get more targeted content, please make full-text search by clicking here.
Discover the best professional documents and content resources in AnyFlip Document Base.
Search
Published by Huynh Pham, 2021-08-13 00:56:52

DanVaoThanHoc

DanVaoThanHoc

độ có một thân xác nhân loại hiện nay đã được tôn dương
nhờ cuộc Phục Sinh của Người, và đó là tình trạng của thân
xác mà các Kitôhữu ngưỡng vọng.

Marcion, con trai của một giám mục Kitô giáo, là một
nhà buôn giàu có chịu ảnh hưởng sâu đậm bởi ngộ đạo
thuyết. Ông tin rằng Thiên Chúa của Cựu Ước là vị thần dữ
đã tạo ra vật chất và rằng Thiên Chúa của Đức Giêsu là vị
thần ưu việt hơn, vị thần tâm linh của phái ngộ đạo. Marcion
dạy rằng Đức Giêsu là tinh thần thuần túy, một sự hiện hình
vốn đã không được sinh ra và đã không hề chết. Marcion
bác bỏ Bản Bảy Mươi, nghĩa là bác bỏ Cựu Ước, và chỉ
chấp nhận những bản văn được tuyển chọn từ Phaolô và
Luca để làm chuẩn mực cho niềm tin Kitô giáo. Giáo Hội tại
Rôma đã tuyệt thông Marcion vào năm 144. Giáo Hội trả lời
Marcion bằng cách xác định lại thẩm quyền của Bản Bảy
Mươi và tuyển lựa từ các văn liệu Kitô giáo trong truyền
thống Giáo Hội để có được một bộ sưu tập mà sau này sẽ trở
thành Tân Ước. Chống lại Marcion, Giáo Hội bắt đầu thiết
lập qui điển của Sách Thánh.

Năm 170, từ Phrygia ở Tiểu Á và dưới sự lãnh đạo
của Montanus, một phong trào khải huyền lan ra nhanh
chóng đến mọi giáo đoàn. Phong trào này cổ võ sự nhiệm
nhặt triệt để và công bố rằng thế giới sắp đến hồi tận thời
như được mạc khải bởi Chúa Thánh Thần. "Lời Sấm Mới"
này bị lên án bởi các giám mục, và để đối phó với phong
trào này, các giám mục bắt đầu có những cuộc họp theo
vùng hàng năm nhằm thiết lập đường hướng mục vụ cho các
Giáo Hội địa phương. Zephyrinus, giám mục Rôma, chính
thức lên án lạc thuyết Montanô vào cuối thế kỷ thứ 2.

Trong thế kỷ thứ 2, Giáo Hội trải qua nhiều sự thay
đổi ngoạn mục. Thánh Kinh của Giáo Hội bấy giờ đã bao
hàm cả Tân Ước và và những gì Thánh Kinh dạy được đúc
kết trong Kinh Tin Kính để giúp những người dự tòng hiểu

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 101

và nhớ trước khi được trao ban Phép Rửa. Các giám mục
của các giáo đoàn riêng biệt qui tụ với nhau thường kỳ tại
những Công Đồng và các quyết định của các ngài có tính
ràng buộc đối với tất cả các giáo đoàn. Giáo Hội khẳng định
rằng mình dạy những gì Thánh Kinh dạy về những vấn đề
chân lý tôn giáo, và rằng các giám mục qui tụ tại những
Công Đồng có thể công bố chân lý ấy một cách có thẩm
quyền. Nhưng các giám mục đã không phải tùy thuộc vào
duy chỉ sự nhận hiểu của mình đối với Thánh Kinh. Thế kỷ
thứ 2 chứng kiến sự trổi lên của thần học trong những tác
phẩm của Justin và Hippolytus ở Rôma, Irenaeus ở Lyons,
và Clement ở Alexandria.

Bị Bách Hại
Và Phát Triển

Thế kỷ 3 là giai đoạn khủng hoảng của Đế Quốc
Rôma. Đế Quốc bị chia năm xẻ bảy bởi các phong trào ly
khai và bởi các cuộc nội chiến, rồi còn bị tấn công dữ dội
bởi các bộ tộc Ba tư và Gôthíc. Các hoàng đế kế tiếp nhau
cố gắng củng cố mối thống nhất trong đế quốc nhằm vận
dụng hết sức mạnh để cố sao cho được tồn tại. Giáo Hội
sống trong lòng đế quốc nhưng đã tách biệt khỏi các vấn đề
trần thế ngót hai trăm năm rồi. Lúc bấy giờ Giáo Hội có mặt
ở mọi thành phố trên khắp đế quốc và đặc biệt nổi bật tại
Tiểu Á, Ai Cập, Ý và Pháp, đồng thời đang lan rộng nhanh
chóng ở Bắc Phi từ thủ phủ Carthage của mình (nay là
Tunis). Giáo Hội tỏ ra là một thực tại quá rõ ràng không thể
bị phớt lờ được, và các hoàng đế xem Giáo Hội như một
phong trào ly khai nào đó và đã trút hết cơn thịnh nộ của đế
quốc lên Giáo Hội. Septimius Severus bắt đầu những cuộc
bách hại vào đầu thế kỷ 3. Và Decius tiếp tục bách hại vào
năm 250; nhưng cuộc bách hại toàn diện và tàn khốc nhất

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 102

chính là cuộc bách hại của Diocletian vào tháng hai, năm
303. Bất chấp những cuộc hành quyết tập thể các Kitôhữu
diễn ra rất thường xuyên và khủng khiếp, Giáo Hội vẫn phát
triển con số các thành viên của mình lên gấp đôi và gấp ba
tại một số vùng. Thần học cũng phát triển với các tác phẩm
của Tertullian và Cyprian - là những nhà thần học đầu tiên
viết bằng tiếng La Tinh - và Origen, một trong những nhà
thần học tên tuổi nhất mà Giáo Hội đã từng có được.

Đứng trước sự bách hại rùng rợn như thế, nhiều
Kitôhữu nao núng, và họ chịu tuân theo những thực hành tôn
giáo mà các hoàng đế yêu cầu nhằm tạo lập mối thống nhất
trên toàn đế quốc. Với niềm thông cảm, các giám mục đã
phát triển một qui định sám hối cho những Kitôhữu sa ngã
này để họ có thể được giao hòa với Giáo Hội. Đây chính là
tiền thân của việc cử hành bí tích sám hối (hòa giải).

Từ Được Nhân Nhượng Nhìn Nhận
Đến Trở Thành Quốc Giáo

Với sự kiện Constantine lên nắm quyền lực đế quốc
vào năm 312, tình trạng bách hại Giáo Hội ngừng lại trong
Đế Quốc Rôma. Constantine tin rằng ông đã chiến thắng và
lên ngôi là nhờ ở ơn huệ nhận được từ Thiên Chúa của các
Kitôhữu. Mặc dù ông chỉ nhận Phép Rửa vào lúc sắp qua
đời, Constantine đã dành rất nhiều thiện cảm đối với Giáo
Hội. Ông trao cho Giáo Hội qui chế hợp pháp, chấp nhận sự
có mặt của Giáo Hội trong đế quốc, dành cho Giáo Hội
nhiều sự ưu đãi, hào phóng cung cấp tiền bạc, nhà cửa, đất
đai. Năm 380, Hoàng Đế Theodosius ra sắc lệnh rằng "tất cả
các dân tộc của Đế Quốc phải thực hành ... tôn giáo của giáo
hoàng Damasus ở Rôma và của Peter, giám mục
Alexandria." Kết quả là Kitô giáo trở thành tôn giáo chính
thức duy nhất của Đế Quốc Rôma. Tất cả các tôn giáo khác

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 103

đều bị cấm, kể cả những hình thức Kitô giáo sai lạc nào đó.
Với sắc lệnh của Theodosius, Giáo Hội đã trở thành quốc
giáo của đế quốc.

Với sự thay đổi triệt để này của tình trạng Giáo Hội,
đã có những hệ quả đột biến. Trong ba trăm năm đầu của
lịch sử mình, Giáo Hội vốn ở trong tình trạng tách biệt với
chính quyền, Giáo Hội vốn không nắm giữ quyền lực và
không có những mối ưu tiên thực tiễn đối với xã hội. Giáo
Hội vốn là một cộng đoàn tách biệt, hoàn toàn tự do để phê
phán nhà nước và bất cứ chính sách nào của nhà nước.
Nhưng trong thế kỷ 4, đế quốc liên kết với Giáo Hội. Và xã
hội trở thành cứng ngắt. Giáo Hội và đế quốc, mặc dù phân
biệt nhau, đã liên kết chặt chẽ với nhau. Giáo Hội đã phải
giúp thiết định những mối ưu tiên và chấp nhận những chính
sách để phục vụ cho lợi ích của xã hội. Hơn nữa, giáo thuyết
và kỷ luật của Giáo Hội đã đi vào trong luật của đế quốc và
đế quốc buộc những người liên hệ phải tôn trọng. Sắc thái
pháp quyền và giọng điệu giáo điều sẽ còn thể hiện trong
giáo huấn của Giáo Hội suốt 16 thế kỷ sau đó, cho tới Công
Đồng Vatican II (1962-1965) - và điều này phản ảnh tình
trạng Giáo Hội là cơ quan chính thức của đời sống tôn giáo
trong đế quốc. Chính trong bối cảnh thay đổi này mà Giáo
Hội sẽ trải qua những tranh cãi thần học của vài thế kỷ sau
đó.

Các Công Đồng Chung Đầu Tiên:
Những Tranh Cãi Về Kitô Học

Năm 318, Arius - một linh mục trí thức và có tài hùng
biện đang phục vụ tại một giáo đoàn giàu có và có trí thức
cao ở Alexandria - đã nêu ý kiến tại một hội nghị giáo sĩ của

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 104

thành phố này rằng trong Tân Ước, Chúa Con hay Ngôi Lời
của Thiên Chúa tỏ ra quá lệ thuộc vào Chúa Cha, vì vậy
chắc hẳn Chúa Con không phải là Thiên Chúa, mà chỉ là một
thụ tạo. Arius khẳng định rằng thần học gia tên tuổi Origen
cũng chủ trương như thế. Dù Arius bị phạt vạ bởi giám mục
của ông, ông vẫn tiếp tục truyền bá tư tưởng của mình. Dần
dần tư tưởng của Arius nhận được sự ủng hộ rộng rãi không
chỉ ở Ai Cập mà tại khắp cả các miền đất phía đông Địa
Trung Hải. Giáo Hội lâm vào cơn rối loạn. Sự xung khắc đã
trở thành nguy kịch đến nỗi Hoàng Đế Constantine triệu tập
tất cả các giám mục của Giáo Hội về họp Công Đồng ở
Nicêa vào tháng năm, 325. Các giám mục quyết nghị rằng
Chúa Con đồng bản thể với Chúa Cha là giáo huấn của Tân
Ước dù Tân Ước không sử dụng chính từ ngữ "đồng bản
thể" (nhiều giám mục chấp nhận từ ngữ này chỉ một cách
miễn cưỡng). Suốt thời gian Constantine còn trị vì, các giám
mục không công khai thách thức Công Đồng Nicêa, nhưng
khi vị hoàng đế này băng hà vào năm 337, cuộc tranh luận
lại tiếp tục trở nên sôi nổi.

Athanasiô trở thành giám mục Alexandria vào năm
328, và trong 35 năm ngài đã đấu tranh để bảo vệ quyết nghị
của Công Đồng Nicêa mà theo sự giải thích của ngài thì đó
là: Chúa Cha là gì thì Chúa Con là vậy, ngoại trừ rằng Chúa
Con là Chúa Con và Chúa Cha là Chúa Cha. Athnasiô nhận
được sự ủng hộ từ ba vị giám mục: Basil; Gregory Nyssa
(em của ngài); và Gregory Nazianzus. Cho tới ngày nay,
những nhân vật này vẫn được xem là các nhà thần học tên
tuổi nhất của Giáo Hội nói tiếng Hi Lạp. Trong các tác phẩm
của mình, các vị đã trình bày tỉ mỉ nền tảng Tân Ước của
niềm tin rằng Thiên Chúa gồm ba Ngôi Vị. Năm 381,
Theodosius triệu tập các giám mục phía đông của đế quốc
đến Constantinople để mở một Công Đồng, Công Đồng này
lên án việc Macedonius phủ nhận Thánh Thần là Thiên

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 105

Chúa. Cuộc tranh cãi với phái Arian được chấm dứt với việc

Công Đồng này tuyên bố tín điều về Chúa Ba Ngôi và ban

hành Kinh Tin Kính Nicêa-Constantinople, kinh này đã

được Giáo Hội sử dụng rộng rãi trong phụng vụ kể từ thời

Consantinople I tới nay.

Năm 428, Nestôriô, một tu sĩ ở Antiôkhia, trở thành

giám mục của Constantinople, thủ đô mới của đế quốc vốn

đã bắt đầu được xây dựng từ thời Constantine. Thủ đô này

nằm giữa một cuộc tranh luận tôn giáo mà vị giám mục mới

này được yêu cầu dàn xếp. Gọi Đức Trinh Nữ Maria là

theotokos, Mẹ Thiên Chúa, như vậy có đúng không?

Nestôriô nói rằng tước hiệu ấy không đúng đắn "bởi vì cái gì

được hình thành trong cung lòng người phụ nữ thì không

phải là ... Thiên Chúa."13 Khẳng định của Nestôriô đã gây
21F

bức xúc cho Cyril, giám mục Alexandria, và giáo hoàng

Celestine (lúc này giám mục Rôma đã được gọi là giáo

hoàng) đến nỗi các vị ấy đã thuyết phục Hoàng Đế

Valentinian II ở Tây phương và Theodosius II ở Đông

phương triệu tập một Công Đồng chung các giám mục trên

toàn đế quốc để giải quyết vấn đề này. Công Đồng đã được

triệu tập ở Êphêsô vào năm 431, và các giám mục quyết

nghị rằng việc gọi Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa là điều

đúng đắn vì Đức Maria là Mẹ của Chúa Con nhập thể.

Nestôriô bị cách chức và bị đi đày. Công Đồng Êphêsô cũng

lên án Pelagius là người bác bỏ giáo huấn của Giáo Hội về

tội nguyên tổ và về nhu cầu phải có ân sủng của Thiên Chúa

thì con người mới được cứu độ.

Công Đồng Êphêsô đã khẳng định rõ ràng sự nhập

thể của Chúa Con Đấng đồng bản thể với Chúa Cha. Đức

Giêsu là Con Thiên Chúa nhập thể. Nhưng một vấn nạn liên

13 Được trích dẫn bởi Richard A. Norris, dịch và hiệu đính trong “Bài
giảng đầu tiên của Nestorious chống lại tước vị Mẹ Thiên Chúa,” The
Christological Controversy (Philadelphia: Fortress Press, 1980) 130.

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 106

quan đã nhanh chóng làm dấy lên sự tranh luận khắp nơi

trong Giáo Hội. Chúa Con nhập thể có đồng bản thể với

chúng ta là những con người không? Đức Giêsu có đích thực

là một con người như chúng ta, mặc dù Người không bao

giờ phạm tội không (Dt 4,15)? Có phải một cách nào đó

nhân tính của Đức Giêsu bị thay thế hay bị thu hút lấy bởi

thần tính của Người? Eutyches, vị kỳ lão đứng đầu một tu

viện ở Constantinople và là bạn của Hoàng Đế Theodosius

II, đã dạy rằng Đức Kitô "có hai bản tính trước khi nhập thể,

nhưng sau khi nhập thể, Người chỉ có một bản tính mà

thôi."14 Flavian, giám mục Constantinople, đã cách chức
13F

Eutyches vì ông này giảng dạy rằng nhân tính của Đức

Giêsu bị thay thế hay bị thu hút lấy bởi thần tính của Người,

một quan điểm nhanh chóng được đặt cho cái tên là nhất

tính thuyết (monophysitism). Hoàng đế và cả giám mục

Dioscorus của Alexandria đã bênh vực Eutyches. Flavian

kháng cáo lên Giáo Hoàng Leo ở Rôma để xin giải quyết

cuộc tranh cãi này và giáo hoàng hoàn toàn ủng hộ quan

điểm của Flavian. Dioscorus đã thúc giục hoàng đế triệu tập

một Công Đồng ở Êphêsô năm 449, Công Đồng này lên án

Flavian và biện hộ cho Eutyches. Giáo Hoàng Leo bác bỏ

Công Đồng này và yêu cầu hoàng đế triệu tập một Công

Đồng khác. Theodosius II qua đời vào tháng bảy, năm 450,

và người kế vị là hoàng đế Pulcheria đã tán thành đề nghị

của Giáo Hoàng Leo và đã triệu tập một Công Đồng tất cả

các giám mục gặp nhau ở thành Chalcedon, ngay đối diện

với Constantinople, vào mùa thu năm 451. Công Đồng này

đã quyết nghị rằng Đức Giêsu là "Chúa Con duy nhất ... với

trọn vẹn thần tính và trọn vẹn ... nhân tính ... nhưng Người

hiện hữu trong hai bản tính, hai bản tính này, một đàng, vừa

không lẫn lộn vừa không bị thay thế (chống lại Eutyches) và

14 Edward Schwartz, ed., Acta Conciliorum Oecumenicorum 2, 1, 1 (Berlin
and Leipzig: De Gruyter, 1914) 114.

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 107

đàng khác, không bị phân chia và không thể tách rời (chống
lại Nestôriô)." Trong Đức Giêsu, Thiên Chúa ở "với chúng
ta" như một con người trọn vẹn và bình thường.

Đối với nhiều người trong Giáo Hội, giáo huấn của
Công Đồng Chalcedon thật khó hiểu. Các Kitôhữu ở Ba tư ,
sống bên ngoài đế quốc Rôma, tiếp tục giữ quan điểm của
Nestôriô và họ trở thành một Giáo Hội ly khai, truyền bá
cách nhận hiểu Tin Mừng của mình sang Ả rập, Ấn Độ, và
Turkestan. Các Kitôhữu ở Ai Cập và những vùng rộng lớn
của Trung Đông tỏ ra đồng cảm với Eutyches và Dioscorus.
Các hoàng đế ở Constantinople, do lo sợ bị vuột mất nhiều
vùng đất thuộc quyền của mình, đã cố gắng suốt hơn 200
năm xoa dịu họ bằng cách tác động để Giáo Hội không nhấn
mạnh nhiều đến quyết định của Công Đồng Chalcedon.

Vào năm 553, hoàng đế Justinian, trong một cố gắng
nhằm lôi kéo sự ủng hộ của những vùng đất theo quan điểm
nhất tính, đã tổ chức một Công Đồng ở Constantinople để
lên án một số tác phẩm của Theodore ở Mopsuestia, Ibas ở
Edessa, và Theodoret ở Cyrrhus, đó là những nhà thần học
mà Công Đồng Chalcedon đã từng đánh giá cao. Giáo
Hoàng Vigilius miễn cưỡng chấp nhận Công Đồng này,
nhưng những người theo quan điểm nhất tính tại các vùng
đất thuộc quyền của Justinian vẫn không thỏa mãn. Hoàng
đế Heraclius (610-641), được thúc bách bởi giám mục
Sergius của Constantinople, đã một lần nữa tìm cách thu
phục sự ủng hộ nơi những người theo quan điểm nhất tính.
Heraclius cho rằng nơi Đức Kitô có một hành động
(energeia), và hoàng đế đã thỉnh ý xem Giáo Hoàng
Honorius (625-638) nghĩ sao về vấn đề này. Giáo hoàng trả
lời rằng Chalcedon đã dạy rằng có hai "bản tính" nơi Đức
Kitô, thần tính và nhân tính, và do đó có hai hành động,
nhưng rồi trong một cách diễn đạt không thích hợp, giáo

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 108

hoàng đã viết rằng ngài có thể chấp nhận cách nói ám chỉ
rằng chỉ có một "ý chí" nơi Đức Kitô.

Trong một cố gắng vô vọng để chinh phục sự ủng hộ
của những người theo quan điểm nhất tính vốn đang biểu
hiện sự phản kháng rất qua loa đối với các binh đoàn Hồi
giáo đánh chiếm Damascus vào năm 635, rồi Antiôkhia và
Giê-ru-sa-lem vào năm 638, Heraclius đã ban hành Ekthesis
của mình với nội dung cấm tất cả các cuộc bàn luận về
energeiai (những hành động) nơi Đức Kitô. Điều đã xảy ra
sau đó là sự xáo trộn tôn giáo chứ không phải là sự êm thắm,
nhất là tình hình ở Ai Cập, rệu rã do những bất hòa về tôn
giáo, đã rơi vào tay những người Ả rập vào năm 641. Năm
680-681, hoàng đế Constantine IV, với sự chấp thuận của
Giáo Hoàng Agatho, đã triệu tập các giám mục tới
Constantine để họp một Công Đồng. Công Đồng
Constantinople III quyết nghị rằng Đức Kitô "có hai ý chí
theo bản tính ... không đối nghịch nhau ... nhưng ý chí nhân
loại của Người sẽ theo, không phải một cách miễn cưỡng,
nhưng là đương nhiên tùy thuộc vào ý chí toàn năng của
thần tính Người." Công Đồng này lên án cả Sergius lẫn Giáo
Hoàng Honorius. Với Công Đồng này, những cuộc tranh cãi
Kitô học đã đi đến chỗ kết thúc.

Công Đồng cuối cùng trong số các Công Đồng lớn
của Giáo Hội thuở ban đầu đã nhóm họp ở Nicaea vào năm
787. Nữ hoàng Irene với sự hậu thuẫn của Giáo Hoàng
Hadrian I đã kêu gọi tất cả các giám mục của đế quốc về
tham dự Công Đồng nhằm giải quyết vấn đề lạc giáo chủ
trương bài trừ ảnh thánh. Có phải là điều đúng đắn việc các
Kitôhữu làm ra những ảnh tượng Thiên Chúa, Chúa Giêsu,
và các thánh bằng năng khiếu nghệ thuật của mình để rồi
sùng kính những tác phẩm nghệ thuật này? Một số Kitôhữu
trong đế quốc nghĩ rằng việc đó là dị đoan hoặc thậm chí là
tôn thờ ngẫu tượng. Công Đồng Nicaea II quyết nghị rằng

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 109

việc tôn kính các ảnh tượng là đúng đắn và bác bỏ quan
điểm cho rằng các tượng thánh là ngẫu tượng hoặc cho rằng
các tín hữu tôn thờ các tác phẩm nghệ thuật này như tôn thờ
Thiên Chúa.

Bảy Công Đồng lớn của Giáo Hội thuở ban đầu được
gọi là các Công Đồng chung (ecumenical, đại kết). Từ
oikumene (người trong nhà), gốc của từ Anh ngữ
ecumenical, là từ vốn thường được các cư dân của đế quốc
Rôma sử dụng để qui chiếu đến xã hội và nền văn hóa của
họ. Giáo Hội là cơ quan chính thức của nhà nước lo việc
điều hành đời sống tôn giáo của đế quốc. Các Công Đồng
chung này thiết chế các luật tôn giáo của đế quốc và các sắc
lệnh của các Công Đồng được đưa vào bộ luật dân sự của đế
quốc Rôma. Nhưng đến cuối thế kỷ 8 thì đế quốc đã thay đổi
rất nhiều. Trung Đông và toàn bộ Bắc Phi đã thuộc về Hồi
giáo. Nam Tư, Ý, và toàn bộ Tây Âu không còn là oikumene
nữa. Mặc dù đế quốc không còn kiểm soát các vùng đất phía
tây, Giáo Hội vẫn phát triển ở đó và nuôi dưỡng một nền
văn hóa mới giữa các dân tộc mới đến chiếm cứ nơi mà đã
từng có thời là trái tim của Đế quốc Rôma.

Quá Trình Phát Triển
Của Chức Giáo Hoàng

Trong thế kỷ 4, khi Giáo Hội vật lộn với vấn đề lạc
thuyết Ariô, Giáo Hội tại Rôma và giám mục của mình có
nhiều thanh thế đến nỗi khi Theodosius I biến Giáo Hội
thành thẩm quyền tôn giáo chính thức trong đế quốc thì vị
hoàng đế này qui định rằng Giáo Hội khắp nơi phải nhìn
ngắm Giáo Hội tại Rôma và Alexandria như là chuẩn mực
chính thống cho đức tin và cho thực hành của mình.
Dioscorus, giám mục Alexandria, vào giữa thế kỷ 5 đã phá
hỏng uy tín ấy của Giáo Hội qua việc ủng hộ Eutyches. Lạc

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 110

thuyết nhất tính bị lên án tại Công Đồng Chalcedon vào năm
451, và chỉ đức tin của Giáo Hội tại Rôma mới được coi như
là tiêu chuẩn chính thống. Năm 519, Hoàng Đế Justin yêu
cầu tất cả các giám mục oikumene ký vào Định Thức Của
Giáo Hoàng Hormisdas, định thức này xem đức tin của Giáo
Hội ở Rôma và giám mục của Rôma như là chuẩn mực của
niềm tin chính thống, đây là một tài liệu mà Giáo Hội Công
Giáo Rôma sử dụng rất nhiều ở Công Đồng Vatican I

(1870).

Tuy nhiên, sự phát triển của chức giáo hoàng đã kéo
theo nhiều thứ nữa chứ không chỉ là sự nhìn nhận pháp lý về
tình trạng độc đáo của nó trong Giáo Hội oikumene. Cho tới
cuối thế kỷ 6, Giáo Hội ở Rôma đã độc lập đối với đế quốc,
và trong các thế kỷ tiếp theo sau Giáo Hội ở Rôma thường
đóng một vai trò cốt cán trong việc cải hóa các dân tộc
phương tây theo Kitô giáo chính thống, củng cố đời sống tôn
giáo của các dân tộc này và đồng thời giúp các dân tộc này
xây dựng một nền văn hóa mới, xây dựng văn minh của Tây

Âu.

Vào đầu thế kỷ 3, ngôn ngữ La Tinh đã dần dần thay
thế ngôn ngữ Hi Lạp tại các trung tâm đô thị của các vùng
đất phía tây đế quốc. Tertullian và Cyprian đã viết bằng
tiếng La Tinh, và thế kỷ 4 đã chứng kiến một cuộc nở rộ của
thần học được viết bằng tiếng La Tinh. Giêrôm (331-420) đã
dịch Thánh Kinh sang tiếng La Tinh, và bản Vulgata (bản
dịch của ngài) là quyển Thánh Kinh cho các vùng đất Tây
Âu cho đến cuộc Cải Cách vào thế kỷ 16. Ambrose (340-
397), giám mục Milan, đã viết rất hùng hồn về chỗ đứng của
Giáo Hội trong đế quốc, nhưng Augustinô, người được
Ambrose giúp hoán cải trở lại với Giáo Hội, đã vượt xa hẳn
thầy mình. Tập Tự Thú và Thành Đô Thiên Chúa của
Augustinô, các chú giải Thánh Kinh, các bài giảng, thư từ,
bài viết của ngài về Chúa Ba Ngôi, và những bài bút chiến

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 111

của ngài chống lại giáo huấn của Pelagius đã nêu ra những
vấn đề mà ngay cả ngày nay vẫn còn đặc trưng cho thần học
Tây phương. Giáo Hoàng Leo I (440-461), người có ảnh
hưởng rất lớn đến Công Đồng Chalcedon, đã theo thần học
của Augustinô. Giáo Hoàng Gregory I (590-604) cũng theo
thần học của Augustinô - đây là vị giáo hoàng đã nhận thức
rằng chức giáo hoàng nhằm để phục vụ cho Giáo Hội và xã
hội, nhận thức này đã định hình cho sự phát triển của chức
giáo hoàng đến tận ngày nay.

Những người Goths vốn đã quấy phá đế quốc vào thế
kỷ 3 đã trở thành đồng minh của đế quốc vào thế kỷ 4 và
dần dần bắt đầu đưa vùng phía nam sông Danube vào trong
số các vùng đất của họ. Những người Goths được cải hóa trở
lại Kitô giáo vào thế kỷ 4 bởi các môn đệ của Arius. Những
người Goths phái Arian và các bộ tộc Germanic ngoại đạo
đã tràn qua các biên giới bỏ ngỏ của khu vực phía tây đế
quốc vào các thế kỷ 5 và 6. Nhưng Giáo Hội phải gánh vác
thêm những công việc mà cho tới lúc bấy giờ vốn do đế
quốc đảm nhiệm, đó là lo liệu về trật tự và công bằng xã hội,
giáo dục thanh thiếu niên và đáp ứng các nhu cầu của người
nghèo. Giáo Hội ở phía tây đã nhận những công việc này
dựa vào giáo huấn và sự nêu gương của Giáo Hoàng

Gregory I.

Gregory, xuất thân từ một gia đình nghị viên giàu có,
sinh ở Rôma năm 540 và trở thành tổng trấn Rôma khi mới
ngoài ba mươi tuổi. Khoảng năm 573, ngài trở thành một tu
sĩ Bênêđictô, và đã sắp xếp để những thu nhập từ các đất đai
rộng lớn do ngài sở hữu được phân phối cho những người
nghèo và ngài đã chuyển dinh thự của gia đình ngài trên đồi
Caelian thành một tu viện. Đời sống đan tu vốn đã bắt đầu ở
Đông phương, nhưng qua sự phổ biến của tác phẩm Hạnh
Thánh Antôn của Anathasiô, đời sống này đã lan tràn sang
Tây phương vào nửa sau thế kỷ 4. Vào lúc Gregory trở

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 112

thành một tu sĩ thì các tu viện đã có mặt rất nhiều ở Tây
phương.

Khi Gregory trở thành giáo hoàng năm 590, ngài gửi
các tu sĩ bạn hữu của mình đi làm thừa sai để loan báo Tin
Mừng nơi các cư dân ở phía Tây và ngài kêu gọi tất cả các
tu sĩ dấn thân giáo dục giới trẻ. Các Giáo Hội mới được
thành lập (bởi các tu sĩ, nơi những cư dân mới của phía Tây)
rất ngưỡng mộ giáo hoàng, những người nghèo được ngài
giúp đỡ cũng rất kính mến ngài. Những vị kế nhiệm liền sau
Giáo Hoàng Gregory đã theo đường lối của ngài và uy tín
của chức giáo hoàng được tăng lên. Giáo Hội ở Tây Âu ngày
càng mô phỏng theo Giáo Hội ở Rôma. Giáo Hội sử dụng
phụng vụ Rôma bằng ngôn ngữ La Tinh, thiết chế kỷ luật
của mình theo mẫu thức Rôma, ngay cả các thánh đường của
Giáo Hội cũng bắt đầu trông giống các thánh đường ở

Rôma.

Vào khoảng giữa thế kỷ 8, các dân tộc Germanic vốn
đã tràn ngập phía tây đế quốc đã thành công trong việc cản
bước tiến của Hồi giáo tại dãy Pyrenees và đã tự tổ chức
thành những vương quốc mới. Nước Ý bị thống trị bởi
những người Lombards là những người đã chiếm vùng đất
gắn liền với chức vụ giáo hoàng. Giáo Hoàng Stephen (752-
757), sau khi đi Pháp để phong cho Pepin làm vua của
những người Franks, đã yêu cầu Pepin giành lại cho mình
phần đất đã bị những người Lombards chiếm cứ. Năm 755
Pepin thuyết phục được những người Lombards trao trả
phần đất ấy lại cho giáo hoàng - và từ đó cho đến năm 1870
giáo hoàng là nhà cầm quyền thế tục của lãnh thổ giáo
hoàng (Papal States), một khu vực rộng lớn ở giữa nước Ý.
Những người Franks trở thành đồng minh gần gũi của giáo
triều, và khi vương quốc Frankish bành trướng và trở thành
Đế Quốc Carolingian, địa vị và quyền lực của giáo hoàng đã
lên cao rất nhanh.

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 113

Đến cuối thế kỷ 9, Tây Âu trải qua dồn dập các cuộc
chiếm đóng từ phía biển. Những người Viking cướp phá Bắc
Âu, và các vùng duyên hải Nam Tư, Ý, và Pháp bị tàn phá
bởi các tàu chiến của những người Hồi giáo vốn đã kiểm
soát vùng Địa Trung Hải. Đế Quốc Carolingian đã bị phân
chia thành các vương quốc nhỏ được cai trị bởi những người
kế tục Charlemagne, và các vương quốc này không có khả
năng bảo vệ Châu Âu. Giáo Hoàng Gioan VIII vô vọng cầu
cứu các đồng minh của mình là những người Franks, và khi
vị giáo hoàng này qua đời vào năm 882, những người kế vị
của ngài đã hành sử giống như những nhà cai trị của một
lãnh địa nhỏ của nước Ý hơn là như các vị lãnh đạo của
Giáo Hội. Ảnh hưởng của chức giáo hoàng suy thoái đến
mức thấp nhất trong lịch sử. Tuy nhiên, Giáo Hội vẫn sống
còn qua sự bảo trợ của các nhà cầm quyền địa phương - để
đòi giá phải trả cho sự giúp đỡ của mình đối với Giáo Hội,
các nhà cầm quyền này yêu cầu Giáo Hội phải dành cho
mình toàn quyền kiểm soát đời sống của Giáo Hội.

Chỉ trong thế kỷ 12 Giáo Hội mới lấy lại được sự độc
lập của mình khỏi các nhà cầm quyền thế tục. Điều này xảy
ra do bởi hai phong trào tách biệt nhau. Triều đại Saxon của
các vua German, nhất là Otto I (936-973), đã đảm bảo rằng
chỉ những người có năng lực mới trở thành giáo hoàng. Các
nhà cầm quyền Burgundy đã thiết lập tu viện Clunny vào
năm 910 và đặt cộng đoàn Bênêđictine mới này trực tiếp
dưới quyền kiểm soát của giáo hoàng. Các tu sĩ của Clunny
đã thành lập hàng trăm tu viện trên khắp Châu Âu và những
tu viện này đã không ngừng tranh thủ sự độc lập cho Giáo
Hội, tách Giáo Hội khỏi sự kiểm soát thế tục và cố gắng
khôi phục lại chức giáo hoàng, một phong trào được gọi là
Cuộc Cải Cách Gregorian. Trong khi giành lại được sự độc
lập đối với các nhà cầm quyền thế tục, chức giáo hoàng ở
Tây phương không thể hiểu được vị trí của Giáo Hội tại

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 114

những nơi vẫn còn là oikumene cũ, tức Đế Quốc Byzantine
tập trung ở Constantinople. Đàng khác, Giáo Hội nói tiếng
Hi Lạp cho rằng thần học, phụng vụ, và kỷ luật của Giáo
Hội ở Tây phương là những sự đổi mới không thích đáng.
Năm 1054 Rôma và Constantinople cắt đứt mọi liên lạc với
nhau giữa Giáo Hội nói tiếng La Tinh ở Tây phương và Giáo
Hội nói tiếng Hi Lạp ở của oikumene, một sự rạn nứt vẫn
tiếp tục cho đến tận ngày nay.

GIÁO HỘI TÂY PHƯƠNG THỜI TRUNG CỔ

Từ năm 1100 tới năm 1350, các vùng đất phía tây của
Đế Quốc Rôma trước kia đã trải qua một giai đoạn phồn
vinh và đầy sáng tạo xã hội đến nỗi các nhà sử học thường
gọi thời này là thời Trung cổ (Middle Ages) với nền văn
minh Tây Âu đầy sáng tạo. Giáo Hội Trung cổ của Tây
phương La Tinh đứng ở vị thế trung tâm của nền văn hóa
Trung cổ. Giáo Hội thúc đẩy một cảm thức hiệp nhất và
đồng nhất giữa các dân tộc Tây Âu bằng cách tập trung các
năng lực của các dân tộc này vào việc xây dựng Kitô giáo.
Lý tưởng tôn giáo này đã thúc đẩy các hoạt động truyền giáo
để cải hóa những người Phổ và Scandinavians trở về với
Kitô giáo, đã thúc đẩy những cuộc thánh chiến để giành lại
Thánh Địa từ tay những người Hồi giáo, và thúc đẩy sự
thành lập các dòng tu mới như dòng Đa Minh và Phanxicô
để bảo vệ sự hiệp nhất của đức tin Kitô giáo. Trong các hoạt
động này giáo hoàng đều đóng một vai trò rất quan trọng
đến nỗi ngài là vị lãnh đạo đương nhiên của cộng đồng Kitô
giáo.

Việc cải tiến các kỹ thuật trong nông nghiệp đã đem
lại những vụ mùa dồi dào và sinh hoạt thương mại dần dần
phát triển mà kết quả là các thị trấn được thành lập như
những trung tâm buôn bán và công nghiệp nhỏ để đáp ứng

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 115

các nhu cầu của các phú nông. Mỗi thị trấn xây dựng một
nhà thờ, nhưng với kiểu dáng mới mà về sau này sẽ được gọi
là kiểu gôthic. Một số các thị trấn đã phát triển thành các
thành phố và trở thành các trung tâm của các giáo phận mới
và cả giáo phận sẽ giúp xây dựng tại thành phố một thánh
đường có kiến trúc công phu tỉ mỉ gọi là nhà thờ chính tòa.
Mỗi nhà thờ chính tòa có một trường học nơi mà giới trẻ của
thị trấn được học tiếng La Tinh, âm nhạc, và các khoa học
xã hội nhân văn. Các nghệ nhân trong thị trấn hợp lại thành
những phường nghề và thiết định các tiêu chuẩn cho các tay
nghề cũng như điều hành các hoạt động kinh doanh.

Các Đại Học Và
Học Phái Kinh Viện

Theo cách tổ chức của các nghệ nhân, các vị thầy dạy
lưu động như Abelard (1079-1142), đã thu thập được kinh
nghiệm giảng dạy tại các trường của nhà thờ chính tòa, cũng
hình thành những phường nghề. Các universitas magistorum
(phường các thầy dạy) đã phát triển thành một đại học, đây
là một trong những đóng góp của thời Trung cổ cho nền văn
minh Tây Âu vẫn còn bền vững tới ngày nay. Các đại học
Paris và Oxford đã trở thành những trung tâm nghiên cứu
thần học nổi tiếng, Đại học Bologna nổi tiếng về giáo luật và
dân luật, đại học Salerno và Montpellier nổi tiếng về y khoa.

Các đại học đã phát triển một phương pháp mới để
nghiên cứu thần học, gọi là phương pháp kinh viện, được
gọi tên như thế do bởi nguồn gốc và việc sử dụng phương
pháp này tại các đại học. Phương pháp kinh viện tìm cách
đạt được sự sáng tỏ của suy tư thần học bằng cách đặt ra
những câu hỏi chuẩn xác về truyền thống Kitô giáo với
những từ ngữ được định nghĩa rõ ràng và tìm kiếm những
câu trả lời với tính luận lý chặt chẽ. Các câu trả lời được nối

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 116

kết lại với nhau bằng lôgic mạch lạc để trở thành một bộ
khung khái niệm. Tôma Aquinô (1224-1274), một tu sĩ dòng
Đa Minh và là tác giả của Summa Theologiae, đã khảo sát
tất cả các chủ đề thần học để tạo được sự tương thích với
những đòi hỏi của luận lý Aristote. Bonaventura (1217-
1274), một tu sĩ dòng Phan-xi-cô, đã đi theo tư tưởng của
Augustinô với tính luận lý triệt để trong tác phẩm Nhận
Định về Các Luận Đề của mình. John Duns Scotus (1265?-
1308), cũng là một tu sĩ Phan-xi-cô, đã giảng dạy cả ở
Oxford lẫn Paris, và mặc dù ông không để lại một tác phẩm
nào trình bày "hệ thống thần học" của mình, những phê bình
của ông đối với cả Tôma lẫn Bônaventura đã trở thành
những kiểu mẫu của phương pháp kinh viện đến nỗi ông
cũng được xếp cùng với Tôma và Bônaventura là ba nhà
thần học kinh viện vĩ đại. Phương pháp kinh viện cố gắng
diễn tả một cách hợp lý tính thống nhất của tất cả thực tại
được nắm bắt bởi trí năng con người. Có thể cho rằng sự thể
hiện hay nhất của nhãn quan kinh viện lại không phải là tác
phẩm của một giáo sư thần học mà là của một nhà thơ, đó là
Dante (1265-1321), tác phẩm Divine Comedy của nhà thơ
này là một trong những kiệt tác của văn chương thế giới.

GIAI ĐOẠN SUY VONG CỦA THỜI TRUNG CỔ

Từ năm 1350 đến 1517, có năm yếu tố đồng thời chi
phối mạnh mẽ đến kinh nghiệm của Giáo Hội. Một loại thần
học mới đã thay thế phương pháp kinh viện. Nạn Dịch Hạch
càn quét Châu Âu bằng những trào sóng đầy sức hủy diệt.
Giáo triều di chuyển từ Rôma đến Avignon, nhưng chẳng
bao lâu sau khi trở về Rôma thì nạn ly giáo đã phân hóa
Giáo Hội Tây phương. Chủ nghĩa dân tộc lấn lướt lý tưởng
Kitô giáo. Cuộc Phục Hưng, quay trở về với Đế quốc Rôma
ngoại giáo, đã quảng bá niềm tin rằng nghệ thuật và văn hóa

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 117

của giai đoạn trước khi Giáo Hội xuất hiện mới là tiêu chuẩn
thượng hạng để đánh giá mọi sự.

Thần Học Mới

Scotus vốn đã lập luận rằng siêu hình học có thể
chứng minh sự hiện hữu chỉ của một hữu thể vô hạn, không
phải của Thiên Chúa của Kitô giáo là Đấng toàn năng, công
minh, và từ bi. Scotus nhấn mạnh rằng Thiên Chúa có một
potentia absoluta (quyền lực tuyệt đối) có một không hai. Ý
chí của Ngài là tối thượng: Thiên Chúa có thể làm bất cứ
điều gì. Scotus khẳng định rằng ý chí của Thiên Chúa vượt
trên trí năng của Ngài. Ngay cả nơi loài người ý chí cũng
cao quí hơn trí năng - bởi vì tình yêu cư trú nơi ý chí và tình
yêu của Thiên Chúa thì lớn hơn tri thức của Ngài. Scotus
khẳng định rằng ơn cứu độ chỉ tùy thuộc vào sự chấp nhận
(acceptatio) tự do của Thiên Chúa đối với con người và đối
với những công việc đáng khen của con người, chứ không
thuộc về bất cứ phẩm chất nào của linh hồn con người, ngay
cả một phẩm chất được Thiên Chúa tạo ra, chẳng hạn ơn
thánh hóa. Về tất cả những điều này, chủ trương của Scotus
khác hẳn với Tôma Aquinô.

Các môn đệ của Scotus, William ở Ockham (1285?-
1349?) và Gabriel Biel (1420?-1495) đã quá nhấn mạnh đến
quyền năng tuyệt đối của Thiên Chúa đến nỗi cho rằng
Thiên Chúa rất có thể đã đặt ơn cứu độ phụ thuộc vào lòng
thù ghét hơn là vào tình yêu. Cả Ockham và Biel đều dạy
rằng bằng các năng lực tự nhiên của mình, một cá nhân có
thể thể hiện một hành vi tốt về mặt luân lý để Thiên Chúa
"chấp nhận" hành vi ấy và ban ơn cho đương sự. Nhưng với
mỗi hành vi tốt cụ thể, người ta không thể quyết chắc sự
"chấp nhận" ấy của Thiên Chúa.

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 118

Thần học mới này khiến các Kitôhữu lo sợ về ơn cứu
độ của mình vào đúng thời gian mà Nạn Dịch Hạch bắt đầu
giết chết nhiều người ở Tây Âu. Việc săn sóc những người
bị nhiễm chứng bệnh có tính lây lan cao như thế đã cướp đi
chính sinh mạng của rất nhiều linh mục và nam nữ tu sĩ.
Giáo Hội thiếu những nhân sự được đào tạo để đảm nhận
thậm chí những sứ vụ căn bản nhất của mình tại các giáo xứ.
Trong tình hình thiếu thốn trầm trọng các cơ hội để lãnh
nhận các bí tích, các Kitôhữu âu lo đã tìm thấy sự an ủi nơi
những việc mộ đạo có tính cá nhân và nơi những lẽ khôn
ngoan của các tác giả thần bí Kitô giáo như Eckhart (1260?-
1328?), Tauler (1300?-1361?), và Suso (1295?-1360).

Cuộc Đại Ly Khai
Ở Tây phương

Từ cuối thế kỷ 13, một cảm thức mới về căn tính bắt
đầu phổ biến nơi các dân tộc Tây Âu. Họ ngày càng tự xem
mình như thần dân của các nhà cầm quyền của mình và là
thành viên của các dân tộc phân biệt nhau. Philip IV (1285-
1314), vua của nước Pháp, đã khai thác cảm thức chủ nghĩa
dân tộc đang lên cao nơi các thần dân của ông thật tài tình.
Khi một người Pháp, Clement V (1305-1314), trở thành giáo
hoàng, vị giáo hoàng này đã không chỉ tạo mối liên minh
giữa giáo triều với nước Pháp mà còn chuyển giáo triều từ
Rôma về Avignon vào năm 1309. Các giáo hoàng cư trú ở
đó cho đến năm 1377. Các Kitôhữu Tây phương nghĩ rằng
giáo triều đã thật sự bị khống chế bởi nước Pháp, và các
quốc gia khác cảm thấy như vậy là mình bị xem thường. Các
quốc gia khác phản đối việc giáo triều dời sang Avignon
quyết liệt đến nỗi nhà thơ người Ý Petrarch (1304-1374) đã
mệnh danh việc giáo triều tạm thời rời bỏ Rôma trong gần

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 119

70 năm ấy như là "tình trạng bị giam cầm ở Babylon", làm
cho các quốc gia khác ở Châu Âu phải ngậm cười cay đắng.

Do sự thuyết phục của Thánh nữ Catarina Siêna
(1347-1380) và Thánh Bridget của Thụy Điển (1300?-1378),
Giáo Hoàng Gregory IX (XI?) (1370-1378) đã chuyển giáo
triều trở về Rôma vào năm 1377. Khi vị giáo hoàng này qua
đời vào năm 1378, đứng trước sự khăng khăng cố nài của
công chúng Rôma, các hồng y đã chọn một người Ý,
Bartôlômêô Prignanô, tổng giám mục của Bari, làm giáo
hoàng. Giáo Hoàng Urban VI (1378-1389) đã gây ra nhiều
sự chống đối nơi các hồng y đến nỗi 12 trong 16 vị hồng y
đã họp tại Anagni, tuyên bố sự chọn lựa trước đây của họ là
vô hiệu lực, và đã chọn hồng y Robert ở Geneva làm Giáo
Hoàng Clement VII (1378-1394). Clement và các hồng y
của ngài đã đi Avignon. Cuộc "Đại Ly Khai" của Tây
phương đã bắt đầu. Và cuộc ly khai này đã kéo dài khoảng
40 năm. Các quốc gia Âu Châu bị chia rẽ tùy theo họ ủng hộ
vị này hay vị kia trong các vị giáo hoàng. Tình trạng này
càng trở nên tệ hại hơn khi Công Đồng Pisa năm 1409 còn
dựng ra một 'dòng' giáo hoàng thứ ba nữa. Chức giáo hoàng
rơi vào chỗ mạt hạng nhất của nó và lý tưởng của thế giới
Kitô giáo suy vi tận cùng.

Dietrich ở Niem (1340?-1418), một nhà thần học và
là một nhà giáo luật, đã thuyết phục Sigismund, vị Hoàng
Đế La Mã Thánh Thiện - như lúc bấy giờ người ta vẫn gọi vị
hoàng đế người German này như thế - rằng nếu hoàng đế
triệu tập một Công Đồng với sự nhất trí của ít nhất một
trong số các giáo hoàng, thì Giáo Hội sẽ chấp nhận quyết
định của Công Đồng ấy về giải pháp để chấm dứt tình trạng
ly khai. Vị hoàng đế này và vị giáo hoàng của Pisa đã tổ
chức một Công Đồng nhóm họp ở Constance vào ngày 1
tháng 11, năm 1414. Công Đồng này, được biểu quyết bởi
các quốc gia, đã quyết giữ thẩm quyền tối cao của mình đối

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 120

với Giáo Hội, đòi hỏi các giáo hoàng của Pisa và của Rôma
phải rút lui, và đã truất phế vị giáo hoàng ở Avignon. Tháng
11 năm 1417, các hồng y - nhóm họp cùng với sáu đại diện
của mỗi quốc gia - đã bầu một hồng y Rôma, Oddo Colonna,
làm Giáo Hoàng Martin V (1417-1431). Cuộc ly khai chấm
dứt nhưng chức giáo hoàng bị suy yếu nghiêm trọng vì
nhiều Kitôhữu tán thành công đồng thuyết, nghĩa là tin rằng
một Công Đồng, chứ không phải vị giáo hoàng, là thẩm
quyền quyết định cao nhất trong Giáo Hội.

Cuộc Phục Hưng

Cuộc Phục Hưng là một phong trào phức tạp đã làm
thay đổi cảm thụ văn chương, nghệ thuật và triết học của
giới thức giả vị vọng ở Tây Âu. Phong trào này bắt đầu ở
các đô thị giàu có miền Bắc nước Ý vào cuối thế kỷ 14 và
đặc biệt nở rộ ở Florence với sự hậu thuẫn của gia đình
Merici và ở Rôma nơi mà các giáo hoàng đỡ đầu cho phong
trào này. Phong trào Phục Hưng dần dần lan ra khắp lục địa.
Nó lan đến nước Anh vào những thập niên cuối cùng của thế
kỷ 16 và sau đó lan tới những miền đất Scandinavian. Phong
trào Phục Hưng đề cao nền văn hóa Hy La cổ và triết học
của Platon. Tác giả Kitô giáo được phong trào này ưa thích
là Augustine. Những người Phục Hưng chấp nhận các tác
phẩm của các giáo phụ Giáo Hội nhưng xem thần học kinh
viện là khô khan về tư tưởng và man rợ về phong cách văn
chương. Tại các vùng đất Germanic, những người như
Nicholas ở Cusa (1401-1464), Rudolf Agricola (1444-1485),
Conrad Celtis (1459-1508), Reuchlin (1455-1522), và
Erasmus (1466?-1536) đã kết hợp tri thức cổ điển của phong
trào Phục Hưng với lòng sùng ngưỡng Thánh Kinh thành
một chủ nghĩa nhân bản Kitô giáo rõ rệt, làm cho các tác giả
Phục Hưng thuở ban đầu như Petrarch, Ficino (1433-1499)

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 121

và Pico della Mirandola (1463-1494) dường như nghiêng về
tính thế tục.

CUỘC CẢI CÁCH VÀ CÔNG ĐỒNG TRENTÔ

Cuộc Cải Cách là một phong trào tôn giáo trong nội
bộ Giáo Hội vào thế kỷ 16. Xuyên qua việc rao giảng Tin
Mừng, phong trào này tìm cách làm linh hoạt đức tin Kitô
giáo, hồi sinh sự sống Kitô giáo và đơn giản hóa việc thực
hành tôn giáo. Nhận ảnh hưởng của chủ nghĩa nhân bản Kitô
giáo, phong trào này đặc biệt đề cao Thánh Kinh và ái mộ tư
tưởng của Augustinô, do đó phong trào này thiên về quan
điểm Công Đồng thuyết trong nhận thức về Giáo Hội và phê
phán các giáo hoàng của phong trào Phục Hưng. Phong trào
Cải Cách chủ trương rằng việc Giáo Hội dung dưỡng thần
học của Biel và Ockham có nghĩa rằng Giáo Hội mặc nhiên
chấp nhận giáo huấn của Pelagius mà Công Đồng Ephêsô đã
lên án vào năm 431. Phong trào này xuất phát từ việc rao
giảng và viết lách của Martin Luther (1483-1546), mặc dù
nhà tổ chức chính của nó và nhân vật tiêu biểu nhất của nó
chính là John Calvin (1509-1564).

Để giảm trừ nỗi lo sợ và hoang mang về phần rỗi đời
đời mà thần học của Biel và Ockham đã truyền bá, Luther
dựa vào các bản văn Tân Ước để giảng về sự chắc chắn của
việc Thiên Chúa Cha chấp nhận Đức Giêsu là nền tảng ơn
cứu độ của chúng ta. Chúng ta được cứu không phải do các
việc lành mình làm, nhưng chỉ do đức tin vào Chúa Giêsu
Đấng là quà tặng mà Thiên Chúa trao ban cho chúng ta. Các
bí tích không đem lại ân sủng. Đó chỉ là dịp để Thiên Chúa
ban ơn cho chúng ta. Calvin tỏ ra khác với Luther trong cố
gắng làm vơi bớt nỗi lo sợ của các Kitôhữu về phần rỗi đời
đời. Calvin dạy rằng Chúa Thánh Thần tạo ra lòng thống hối
và đức tin nơi những tín hữu. Đức tin đã thiết lập một mối

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 122

kết hợp sống động giữa người tín hữu và Đức Kitô, tạo ra
một sự sống mới trong Đức Kitô mà Calvin gọi là "ơn công
chính hóa". Sự kiện người tín hữu thực hành những điều làm
vui lòng Thiên Chúa là bằng chứng rằng họ đã đi vào trong
mối kết hiệp sống động với Đức Kitô.

Năm 1517, Luther là giáo sư Thánh Kinh tại Đại Học
Wittenberg, một học viện tích cực hậu thuẫn cho chương
trình truyền bá chủ nghĩa nhân bản Kitô giáo. Đại học này
đã loại bỏ phương pháp kinh viện và dạy thần học bằng cách
nghiên cứu Thánh Kinh và các Giáo phụ của Giáo Hội.
Ngày 31 tháng 10, năm 1517, Luther xuất bản bằng tiếng La
Tinh một danh mục gồm 95 luận điểm trong đó ông tấn công
giáo huấn của Giáo Hội về các ân xá. Những luận điểm này
được dịch sang tiếng Đức và được truyền bá rộng rãi. Nội
trong ít tuần lễ, tất cả các vùng nói tiếng Đức đều xôn xao.
Bị lên án bởi thẩm quyền Giáo Hội, Luther trở thành một
người hùng của đại chúng và từ Wittenberg, vào tháng 11
năm 1518, ông đã yêu cầu rằng các quan điểm của ông phải
được phán quyết dứt khoát bởi một Công Đồng tương lai.
Vào năm 1519 Luther dạy rằng uy quyền tối cao của Giáo
Hội Rôma không được hậu thuẫn cả bởi Thánh Kinh lẫn bởi
lịch sử, và trong một cuộc tranh luận ồn ào với Eck, nhà
thần học của giáo hoàng, Luther đã phủ nhận tính bất khả
ngộ của các Công Đồng chung.

Giáo Hoàng Leo X (1515-1521) lên án giáo huấn của
Luther vào năm 1520. Nhưng Luther đã đáp lại sự lên án ấy
bằng ba quyển sách: Lời Ngỏ với Các Kitôhữu Quí Tộc của
Nước Đức, Cuộc Lưu Đày Babilon của Giáo Hội, và Tự Do
của Kitôhữu. Giáo hoàng đã trả lời bằng việc tuyệt thông
Luther và yêu cầu Hoàng đế Charles V (1500-1558) của Đức
thi hành án tuyệt thông này. Tháng tư, 1521, Luther xuất
hiện trước nghị viện và hoàng đế và từ chối rút lại những
sách vở của ông. Hoàng đế lên án Luther, nhưng Luther

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 123

được Frederick ở Saxony (1486-1525) bảo vệ. Các quan
điểm của Luther được đón nhận rộng rãi ở Bắc Âu.

Hoàng đế yêu cầu Giáo Hoàng Clement VII (1523-
1534) triệu tập một Công Đồng chung, nhưng giáo hoàng
nhất quyết từ chối. Tất cả các vùng của nước Đức đã thay
thế các nghi thức phụng tự truyền thống của Giáo Hội và bắt
đầu theo Sách Nghi Thức của Luther - quyển này đã được
xuất bản vào năm 1526. Tháng 2 năm 1529, nghị viện yêu
cầu rằng các vùng đất đã thay đổi phụng vụ của Giáo Hội
cần phải thừa nhận phụng vụ ấy và các vùng này phải hoàn
trả tất cả các tài sản của Giáo Hội mà mình đã chiếm giữ.
Các vùng theo Luther được đại diện trong nghị viện đã khởi
xướng một cuộc phản kháng chính thức, gọi là Protestatio,
chống lại yêu cầu trên kia của nghị viện. Từ đó, những
người cải cách được gọi là Thệ Phản (Protestants). Các vùng
Thệ Phản đã hình thành một liên minh quân sự và hoàng đế
không thể bắt họ thần phục, nhưng hoàng đế đã thành công
trong việc thuyết phục họ đến tham dự một Công Đồng
chung nếu Công Đồng ấy được triệu tập. Cuối cùng, Giáo
Hoàng Phaolô III (1534-1549) đã đồng ý triệu tập một Công
Đồng mà ngài yêu cầu nhóm họp tại Mantua, nước Ý, vào
tháng 5 năm 1537. Song Công Đồng này đã không nhóm
họp được. Pháp và Đức đã tuyên chiến với nhau và những
người Thệ Phản từ chối tham dự một Công Đồng được tổ
chức ở Ý. Trong khi đó, phong trào Thệ Phản đã lan tràn
sang Thụy Sĩ và Pháp.

John Calvin bắt đầu đọc các tác phẩm của Luther khi
còn là sinh viên tại College de France vào năm 1531. Tới
năm 1534, Calvin đã trải qua một cuộc cải hóa tôn giáo thâm
sâu. Khi Francis I (1515-1547) tố cáo các thần dân Pháp
theo Thệ Phản của ông rằng họ ủng hộ tình trạng vô chính
phủ, thì Calvin - bấy giờ đã trốn khỏi nước Pháp và đang ở
Thụy Sĩ - đã trả lời cho những tố cáo ấy của nhà vua vào

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 124

năm 1536 với tác phẩm nổi tiếng của ông là Các Thể Chế
của Kitô giáo. Tác phẩm của Calvin là sự trình bày có tính
hệ thống và mạch lạc nhất về tín lý và đời sống Kitô giáo mà
phong trào Cải Cách đã cung cấp. Nó đã mở rộng phong trào
Thệ Phản xuống các nước phía dưới và các đảo Anh quốc.

Năm 1542, được sự yêu cầu của hoàng đế, giáo
hoàng đã triệu tập một Công Đồng nhóm họp ở Trent vào
năm 1542. Chiến tranh đã gây ra sự trì hoãn, nhưng rồi Công
Đồng cũng đã bắt đầu vào năm 1545. Với nhiều ngắt quãng
trong quá trình, Công Đồng này đã tiếp tục cho tới năm
1563. Mặc dù có sự xuất hiện của các nhà thần học Thệ
Phản trước Công Đồng vào năm 1552, Công Đồng đã dứt
khoát lên án chủ trương của Thệ Phản và bác bỏ lý lẽ của cả
Luther lẫn Calvin. Charles V vốn hy vọng rằng Công Đồng
sẽ tiến tới một sự ổn thỏa với Thệ Phản, nhưng niềm hy
vọng ấy đã không thành, dù sao Công Đồng Trentô cũng đã
đề ra một chương trình canh tân Giáo Hội và chương trình
này đã tỏ ra có nhiều hiệu quả đáng kể.

Công Đồng Trentô đã làm sáng tỏ giáo huấn của Giáo
Hội về cách mà những người đã lãnh nhận Phép Rửa đón
nhận được ơn sự sống đời đời do Chúa Cha trao ban cho
mình trong Đức Giêsu và qua Thánh Thần. Công Đồng
Trentô cũng giải thích cách mà các bí tích của Giáo Hội
mang lại sự chuyển hóa của các Kitôhữu nên giống Đức
Kitô, và vai trò của các bí tích trong kế hoạch cứu độ của
Thiên Chúa đối với toàn thể loài người. Công Đồng Trentô
đã canh tân đời sống bí tích và phụng vụ của Giáo Hội đến
nỗi nhiều dòng tu mới – như Dòng Tên, do Inhaxiô Loyola
(1491-1556) thành lập – và các dòng cựu trào hơn – như
dòng Carmel, đã cải cách nhờ những cố gắng của Têrêsa
Avila (1515-1582) và Gioan Thánh Giá (1542-1591) – đã cổ
vũ mạnh mẽ đời sống linh đạo và đã khởi xướng phong trào
gửi các thừa sai đến những vùng đất mới mà Bồ Đào Nha,

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 125

Tây Ban Nha và Pháp đã bắt đầu phát triển. Trong vòng một
thế kỷ, Giáo Hội đã đưa Tin Mừng tới Bắc và Nam Mỹ, các
vùng duyên hải Phi Châu, Ấn Độ, Philippines, Nhật Bản, và
Trung Hoa, trong phong trào truyền giáo lớn nhất của lịch sử
Giáo Hội.

CÁC CÔNG ĐỒNG VATICAN I VÀ II

Công Đồng Trentô đã để lại hai vấn đề chưa giải
quyết. Nếu những người Thệ Phản – theo lương tâm mình –
không thể chấp nhận giáo huấn của Giáo Hội, thì thẩm
quyền dân sự sẽ xử lý thế nào với họ? Đâu là mối liên hệ
giữa các giám mục – nhất là các giám mục của một quốc gia
– với vị giám mục của Rôma? Công Đồng giả định rằng các
nhà cầm quyền trung thành với Giáo Hội sẽ tích cực ủng hộ
các quyết nghị của Công Đồng Trentô. Công Đồng đã thảo
luận câu hỏi thứ hai nhưng các giám mục Pháp mạnh mẽ
phản kháng bất cứ cố gắng nào nhằm loại bỏ sự tự quản của
mình đến nỗi Công Đồng đã phải ngừng lại thay vì tiếp tục
bàn luận để phải đối mặt với nguy cơ của một cuộc ly khai.

Trong hơn một thế kỷ sau Công Đồng Trentô, Bắc
Âu đã trải qua nỗi kinh hoàng của chiến tranh tôn giáo.
Giống như các hoàng đế ngày xưa của oikumene, các nhà
cầm quyền ở Âu Châu đã yêu cầu rằng các thần dân phải
theo tôn giáo của nhà cầm quyền. Việc các quốc gia chấp
nhận đa nguyên tôn giáo xảy ra dần dần và một cách miễn
cưỡng khi lần lượt các nhà cầm quyền nhận ra rằng sự đồng
nhất tôn giáo là điều không thể đạt được bằng vũ lực. Để có
được tự do tôn giáo nhiều người Âu Châu đã xuất cảnh sang
Mỹ nơi mà cả Giáo Hội Công Giáo lẫn những người Tin
Lành thuộc nhiều phái khác nhau đã cắm rễ và phát triển.

Tuy nhiên, ở Âu Châu, mối quan tâm về tôn giáo bắt
đầu suy tàn. Cuộc cách mạng công nghiệp đã bắt đầu, và của

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 126

cải được tạo ra bởi sản xuất công nghiệp đã giúp cho các
quốc gia Âu Châu vừa giàu có vừa tiến bộ kỹ thuật xây dựng
những đế quốc thuộc địa rộng mênh mông, chiếm lĩnh khắp
cả địa cầu. Mối quan tâm trí thức đã chuyển từ thần học sang
khoa học, sang các công trình của Galileo (1564-1642),
Newton (1642-1727), triết học của Descartes (1596-1650)
và Locke (1632-1704). Nền văn hóa Âu Châu đang trở nên
có tính thế tục và người Châu Âu tự coi mình như những
công dân của những quốc gia biệt lập đấu tranh để giành ưu
thế và quyền lực. Cùng đứng trong hàng ngũ con dân của
một quốc gia, điều đó đã trở thành quan trọng hơn so với
việc cùng tuyên xưng và thực hành một truyền thống tôn
giáo. Tuy nhiên, Louis XIV của nước Pháp (1643-1715) đã
triển khai một đường lối chuyên chế hoàng gia hoàn toàn đối
nghịch với xu thế nói trên.

Chủ Nghĩa Pháp Giáo (Gallicanism)

Năm 1685, Louis XIV đuổi những người Pháp theo
Thệ Phản ra khỏi vương quốc của mình. 300 ngàn người
Huguenots (tên gọi được gán cho những người Pháp theo
Calvin) đã đi đày ở Anh, Hà Lan, Phổ và Mỹ. Đối với Giáo
Hội Công Giáo, nhà vua cũng chuyên chế không kém. Năm
1682, nhà vua yêu cầu giáo sĩ Pháp đưa ra một bản tuyên bố
về các đặc quyền của Giáo Hội Gallican (Pháp) trong đó có
khẳng định rằng các Công Đồng chung có thẩm quyền cao
hơn giáo hoàng, rằng giáo hoàng không được xen vào các
tập tục của Giáo Hội Gallican, và rằng giáo hoàng không
phải không thể sai lầm khi giảng dạy chân lý đức tin của
Giáo Hội. Chính sách này của nhà vua về tôn giáo không
được phổ biến lắm, nhưng những người kế vị Louis đã tiếp
tục đẩy mạnh chính sách này. Các tác giả, như Voltaire
(1694-1778), và các trí thức tên tuổi khác vào thời đại Ánh

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 127

Sáng đã phê bình gắt gao chính sách này và Giáo Hội. Với
biến cố Cách Mạng Pháp (1789) mà thời đại Ánh Sáng đã
tác động, Giáo Hội chịu đựng sự bách hại nghiêm trọng và
nhà nước đã tạm thời thiết lập một Giáo Hội của nhà nước.

Vatican I

Cuộc Cách Mạng Pháp mở đường cho thời đại của
Napoleon, người đã mở những cuộc chiến tranh nhằm đặt
toàn thể Châu Âu dưới sự thống trị của nước Pháp. Sự sụp
đổ của Napoleon vào năm 1815 đã tạo điều kiện cho một
cuộc hồi sinh các giá trị của thời Trung cổ. Cuộc hồi sinh
này đã giúp Giáo Hội trong việc đào sâu lòng mộ đạo và
nhen nhóm lại lòng trung thành đối với giáo hoàng. Năm
1870, Giáo Hoàng Piô IX (1846-1878) đã cảm thấy đủ chắc
chắn về lòng trung thành ấy và đã triệu tập một Công Đồng
để giải quyết vấn đề mà Công Đồng Trentô bị buộc phải bỏ
dở do chủ nghĩa Pháp giáo mới nổi lên của các giám mục
Pháp. Hữu ý chống lại bản tuyên bố về các đặc quyền của
Giáo Hội Gallican hồi năm 1682, Công Đồng Vatican I xác
nhận vị thế đặc biệt của Giáo Hội tại Rôma giữa các Giáo
Hội khác và vị thế đặc biệt của giám mục Rôma, tức giáo
hoàng, giữa các giám mục khác. Công Đồng này đã tuyên bố
rằng Giáo Hội không thể sai lầm và rằng giáo hoàng thực thi
quyền không thể sai lầm ấy khi ngài chính thức dạy chân lý
đức tin.

Công Đồng này đã giải tán sớm do sự bùng nổ cuộc
chiến tranh giữa Pháp và Đức. Nước Pháp bị buộc phải rút
quân đội của mình ở Rôma về – quân đội này vốn làm
nhiệm vụ bảo vệ Rôma và vùng phụ cận do áp lực của
Victor Emmanuel II (1849-1878), người đã sáp nhập phần
lớn các lãnh địa giáo hoàng vào năm 1861 nhằm mục đích
hình thành một nước Ý thống nhất. Ngày 20 tháng 9 năm

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 128

1870, quân đội Ý chiếm Rôma và trong một cuộc trưng cầu
dân ý, dân chúng ở đây đã tán thành việc sáp nhập với nước
Ý. Quyền lực trần thế của giáo hoàng, vốn bắt đầu từ thời
Pepin mười một thế kỷ trước đó, đi tới chỗ chấm dứt. Mặc
dù bị tước mất quyền lực trần thế, uy tín của giáo hoàng
trong Giáo Hội đã tăng cao rất nhiều. Giáo hoàng là giềng
mối của Giáo Hội và cai quản Giáo Hội từ Rôma. Khi vào
đầu năm 1959 Giáo Hoàng Gioan XXIII (1958-1963) loan
báo rằng ngài sẽ triệu tập Công Đồng Vatican II (1962-
1965), nhiều người suy đoán rằng mục đích của Công Đồng
này sẽ là đẩy mạnh tiến trình tập quyền.

Thế Kỷ 20

Trong hơn 90 năm kể từ Công Đồng trước, Châu Âu
đã trải qua những thay đổi sâu sắc. Hai cuộc chiến tranh thế
giới đã làm cho chủ nghĩa dân tộc bị nghi ngờ, và các quốc
gia Châu Âu đã đánh mất các đế quốc thuộc địa của mình.
Cuộc Cách Mạng Nga năm 1917 đã bị làm lệch hướng và
trở thành một chế độ cộng sản mà kết quả là chủ nghĩa Mác
xít được truyền bá ở khắp Đông Âu và Á Châu. Các chế độ
cộng sản bách hại Giáo Hội một cách dã man và thù nghịch
với mọi tôn giáo. Nhưng những thay đổi trong Giáo Hội còn
lớn lao hơn nhiều so với những thay đổi mà Châu Âu đã trải
qua.

Năm 1959, số tín hữu ở Âu Châu chiếm không tới
20% con số tín hữu của toàn Giáo Hội. Giáo Hội đã phát
triển mạnh mẽ ở Bắc và Nam Mỹ, Úc Châu và Á Châu. Ở
Phi Châu và Ấn Độ, Giáo Hội đang lan rộng rất nhanh. Hơn
một nửa con số thành viên của Giáo Hội sống ở “Thế giới
Thứ Ba”- và đối với đại đa số trong Giáo Hội, văn hóa Châu
Âu là một cái gì xa lạ, thậm chí kỳ quặc khó hiểu. Đa số các

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 129

thành viên của Giáo Hội sống ở những nước có tính đa
nguyên về tôn giáo.

Vatican II

Giáo Hoàng Gioan XXIII nhận ra rằng Giáo Hội cần
một cuộc aggiornamento (cập nhật). Công Đồng Vatican II
là phương tiện mà vị giáo hoàng này dùng để làm cho Giáo
Hội đối diện với các thực tại của chính mình và của thế giới
hiện đại. Gioan XXIII qua đời trong khi Công Đồng còn
nhóm họp, nhưng người kế vị của ngài, Phaolô VI (1963-
1978), đã đưa Công Đồng đi đến kết thúc một cách thành
công.

Không giống như truyền thống, Vatican II đã không
tự diễn tả mình bằng thứ ngôn ngữ có tính pháp lý và rối
rắm khó hiểu, thứ ngôn ngữ mà các Công Đồng oikumene
đã dùng trước hết. Các văn kiện của Công Đồng này là
những bản văn được viết bằng thứ ngôn ngữ thẳng thắn, bám
chặt vào Thánh Kinh. Các văn kiện ấy nhắm đến bất cứ ai có
thể đọc, chứ không chỉ dành cho các thành viên của Giáo
Hội. Muời bảy bản văn hùng hồn và sắc sảo này nhằm giải
thích Giáo Hội là gì và Giáo Hội đang cố gắng làm gì trong
bối cảnh vô cùng phức tạp của thế giới hiện đại. Công Đồng
đã khích lệ Giáo Hội đi vào trong đối thoại với các Giáo Hội
đã ly khai khỏi Rôma trong suốt giòng lịch sử, Công Đồng
ủng hộ nguyên tắc tự do tôn giáo, nhìn Do Thái giáo và các
tôn giáo ngoài Kitô giáo khác với cái nhìn đồng cảm, và
nhận định sự phấn đấu của gia đình nhân lọai trong việc
tranh thủ phẩm giá và công bằng trên khắp thế giới này.

Có 3 văn kiện của Công Đồng này có tầm quan trọng
đặc biệt. “Hiến Chế Phụng vụ Thánh” (Sacrosanctum
Concilium) đã làm sống hoạt các nghi thức của Thánh Lễ và
thúc đẩy việc thực hành phụng tự trong những hình thức có

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 130

ý nghĩa đối với nền văn hóa đặc thù của địa phương. “Hiến

Chế Tín Lý về Mạc Khải Thánh” (Dei Verbum) đã giải thích

vai trò quan trọng mà kinh nghiệm tôn giáo của con người

nắm giữ trong việc Thiên Chúa tự biểu lộ chính Ngài, biểu

lộ ý muốn của Ngài và các kế hoạch của Ngài. Thánh Kinh

chứa đựng mạc khải và phải được nghiên cứu bởi các

phương pháp chú giải hiện đại. Thánh Kinh đích thực là Lời

của Thiên Chúa nhưng theo nghĩa rằng con người diễn tả sứ

điệp của Thiên Chúa trong ngôn ngữ của loài người. “Hiến

Chế Tín Lý về Giáo Hội” (Lumen Gentium) hoàn thành bức

tranh về Giáo Hội mà Vatican I đã phác thảo chỉ mới một

phần. Giáo Hội được mô tả trong Thánh Kinh và trong lịch

sử. Tất cả các giám mục cùng với giáo hoàng tạo thành một

“tập đoàn” các giám mục chịu trách nhiệm dẫn dắt Giáo

Hội, đoàn dân lữ hành của Thiên Chúa, trong việc phụng sự

Thiên Chúa và gia đình nhân loại.

Giáo Hội sẽ thực thi Công Đồng Vatican II như thế

nào, Giáo Hội sẽ đổi mới và trở nên sống động như thế nào

để thi hành sứ mạng của mình là làm chứng cho Đức Kitô

Phục Sinh, đó sẽ là câu hỏi mà các sử gia tương lai sẽ đặt ra

cho Giáo Hội hôm nay.15
41F

CÂU HỎI GIÚP TÌM HIỂU

1. Lịch sử Giáo Hội nghiên cứu về vấn đề gì? Tại sao
việc nghiên cứu vấn đề này quan trọng đối với chúng ta hôm

nay?

15 Nguồn quan trọng nhất được sử dụng để biên soạn bài “Giáo Hội Trong Lịch
Sử” này là A History of the Christian Church của Williston Walker và nhiều
tác giả khác (New York: Charles Scribner’s Sons, 1985). Đây là tác phẩm hay
nhất về chủ đề này, có chứa 20 trang phụ trương về các họa đồ Thánh Kinh
được sắp xếp mạch lạc để giúp cho việc đọc hiểu các khía cạnh riêng của lịch
sử Giáo Hội.

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 131

2. Hãy kể ra những hệ quả của việc Theodosius biến
Kitô giáo thành tôn giáo chính thức duy nhất của đế quốc

Rôma?

3. Điều gì đã gây ra sự rạn nứt trong Giáo Hội giữa
Rôma và Constantinople vào năm 1504?

4. Phong trào Cải Cách là gì và đâu là hệ quả của
phong trào này trên Giáo Hội Kitô giáo và trên nền văn hóa
Âu Châu?

5. Công Đồng Vatican I (1870) và Công Đồng
Vatican II (1962-1965) đã giúp như thế nào để các Kitôhữu
đào sâu nhận thức của mình về vấn đề mà lịch sử Giáo Hội
tập chú vào?

===

Chương 5: ĐỨC TIN KITÔ GIÁO:
MỘT CÁI NHÌN HIỆN ĐẠI

John R. Connolly

Bất cứ cố gắng nào nhằm định nghĩa đức tin Kitô
giáo trong bối cảnh Công Giáo hôm nay đều không thể bỏ
qua sự kiện rằng có hai cách thông thường để định nghĩa
thực tại đức tin Kitô giáo trong truyền thống Công Giáo.
Một là mẫu thức có tính trí năng, theo đó đức tin được định
nghĩa như một sự chấp nhận của trí năng đối với các chân lý
mạc khải thần linh được chứa đựng trong giáo huấn của
Giáo Hội Công Giáo. Mẫu thức thứ hai có tính ngã vị, theo
đó đức tin được mô tả là một sự dấn thân của toàn thể con
người cho tình yêu của Thiên Chúa được mạc khải nơi Đức
Giê-su Kitô. Dù người ta nhìn đức tin từ quan điểm trí năng
hay ngã vị, thực tại đức tin cũng luôn luôn được định nghĩa
theo hai yếu tố chính của nó, đó là nội dung (hay đối tượng)
của đức tin và hành động của đức tin.

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 132

Điều phân biệt giữa mẫu thức trí năng và ngã vị chính
là cách mà qua đó mỗi mẫu thức mô tả cả nội dung lẫn hành
động của đức tin. Theo mẫu thức trí năng, nội dung của đức
tin được mô tả như là sự biểu hiện của các chân lý mạc khải
thần linh, và hành động của đức tin được mô tả là sự chấp
nhận của trí năng đối với các chân lý ấy. Theo cách tiếp cận
này thì mục đích của đức tin là đón nhận một dạng tri thức
mới và cao hơn, một sự tham dự vào sự hiểu biết của Thiên
Chúa. Đàng khác, mẫu thức ngã vị mô tả nội dung của đức
tin là sự biểu lộ cách biệt vị của tình yêu Thiên Chúa nơi
Đức Giê-su Kitô, và hành động của đức tin là một sự chấp
nhận hoàn toàn riêng tư đối với tình yêu được Thiên Chúa
ban tặng. Theo cách tiếp cận này, mục đích của đức tin là
dẫn dắt người tín hữu tới chỗ kinh nghiệm về tình yêu vô
điều kiện của Thiên Chúa, một kinh nghiệm có sức làm biến
đổi bản thân mình.

Cả hai mẫu thức này đều có dự phần trong truyền
thống sống động của Giáo Hội Công Giáo ngày nay. Tuy
nhiên, trong thần học Công Giáo đã có một chuyển biến về
sự nhấn mạnh giữa Công Đồng Vatican I (1870) và Công
Đồng Vatican II (1962-1965). Vatican I đã định nghĩa đức
tin theo mẫu thức trí năng, trong khi Vatican II chấp nhận
một cách nhận hiểu về đức tin có tính ngã vị hơn. Thần học
Công Giáo ngày nay đã nhận lấy sự thách đố của Vatican II
và đã tạo được những bước tiến bộ đáng kể hướng về việc
xác định sự nhận hiểu của Công Giáo đối với đức tin theo
mẫu thức ngã vị. Để đáp lại sự thách đố của Vatican II và
của thần học Công Giáo hiện đại, định nghĩa sau đây về đức
tin Công Giáo sẽ được giới thiệu để bàn thảo trong chương

này:

Đức tin Công Giáo là sự chấp nhận và dấn thân của
toàn thể bản ngã con người - trong Giáo Hội xét như một
cộng đoàn đức tin - đối với việc Thiên Chúa đích thân biểu

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 133

hiện tình yêu như được mạc khải nơi con người Đức Giê-su
Kitô.

Việc quảng diễn những yếu tố của định nghĩa nêu
trên sẽ bắt đầu với một phân tích nội dung của đức tin và các
thành tố chính của nó. Tiếp theo sau sẽ là một khảo sát về
những yếu tố chính liên quan đến hành động của đức tin. Và
ở cuối chương chúng ta sẽ có một kết luận vắn tắt. Chương
này sẽ được triển khai theo bố cục sau đây.

Chúng ta sẽ bắt đầu với việc khảo sát nội dung của
đức tin và các thành tố của nó; đặc biệt là về mạc khải, về
Đức Giê-su Kitô, về Giáo Hội và về các biểu tượng của đức
tin. Rồi chúng ta sẽ xem xét các yếu tố chính liên quan đến
hành động của đức tin - có nghĩa là chúng ta sẽ xem xét về
sự đáp trả của toàn thể bản ngã con người, về một sự đáp trả
tự do xuyên qua ân sủng, về lòng trung thành, về sự biến đổi
đầy sức sáng tạo, về đức tin và sự nghi ngờ, và về các chặng
đường của đức tin.

Định nghĩa đức tin được giới thiệu ở đây trong nhãn
quan Công Giáo là một dạng của đức tin Kitô giáo. Dĩ
nhiên, đức tin Kitô giáo thì rộng lớn hơn nhiều bởi vì Kitô
giáo bao gồm nhiều loại Kitôhữu khác nhau: bên cạnh các
tín hữu Công Giáo còn có các tín hữu Báp tít, Giáo Hội của
Đức Kitô, Tin Lành Luther, Methôdít, Trưởng lão, Anh
giáo, vv... Tuy nhiên, có một số yếu tố của đức tin Kitô giáo
mà mọi Kitôhữu, kể cả Công Giáo, đều cùng chia sẻ, và do
đó khi nói về đức tin Công Giáo thì ta không nên quên sự
kiện này.

NỘI DUNG CỦA ĐỨC TIN

Nói đến nội dung của đức tin có nghĩa là chúng ta
đang nói về điều được tin trong hành động đức tin. Nó chỉ rõ
thực tại đức tin xảy đến với con người từ bên ngoài và gợi ra

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 134

thái độ đáp trả của đức tin. Phân tích của chúng ta về nội
dung của đức tin theo mẫu thức ngã vị sẽ khảo sát bốn thành
tố sau đây: mạc khải, Đức Giê-su Kitô, Giáo Hội, và các
biểu tượng của đức tin.

Mạc Khải

Tiên vàn, đức tin là một sự đáp trả đối với mạc khải
của Thiên Chúa. Đức tin không đến như là kết quả của sự
can thiệp của con người và chắc chắn nó không phải là một
kết luận luận lý của một tam đoạn luận. Sự đáp trả của đức
tin không duy chỉ là công việc của con người, nhưng đó là
kết quả của một cuộc gặp gỡ với hành động tự biểu lộ của
Thiên Chúa. Như vậy, có một mối kết hợp nền tảng giữa
mạc khải và đức tin. Quả vậy, bên này không thể thực sự tồn
tại nếu không có bên kia. Không thể có mạc khải nếu không
có sự đáp trả của đức tin là cái đón nhận mạc khải, và không
thể có đức tin nếu không có ơn mạc khải của Thiên Chúa gợi
lên sự đáp trả của đức tin nơi bản ngã con người. Như vậy,
người ta không thể hiểu thực tại đức tin nếu trước hết không
hiểu một cái gì đó về bản chất của mạc khải.

Theo sự hướng dẫn của Công Đồng Vatican II và của
thần học hiện đại, định nghĩa của đức tin Công Giáo được
giới thiệu trong chương này sẽ nhìn hành động mạc khải cốt
yếu là hành động tự biểu lộ của Thiên Chúa. Như vậy, mạc
khải không phải chủ yếu là một sự biểu lộ của các chân lý
thần linh, nhưng đúng hơn đó là việc Thiên Chúa tự vén mở
chính tình yêu thần linh và sự săn sóc của Ngài đối với con
người và thế giới. Mạc khải là sự biểu lộ của một tình yêu
tuyệt đối và siêu việt, một tình yêu có tính phổ quát trong
hướng ngắm của nó theo nghĩa rằng tình yêu ấy được trao
ban cho mọi con người thuộc mọi thời đại, bất kể giới tính,
chủng tộc, hay niềm xác tín tôn giáo. Hơn nữa, tình yêu của

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 135

Thiên Chúa là một tình yêu hoàn toàn nhưng không, Thiên
Chúa không mắc nợ ai tình yêu ấy, không ai tranh thủ được
hay xứng đáng với tình yêu ấy, nhưng đó là tình yêu tràn
chảy tự do từ Thiên Chúa và bao trùm hết mọi người và thế
giới.

Đối với người tín hữu, như nhà thần học Tin Lành
Paul Tillich nhận định, kinh nghiệm về mạc khải của Thiên
Chúa là kinh nghiệm về sự chấp nhận điều không thể chấp
nhận được. Sự biểu lộ tình yêu của Thiên Chúa cũng hoàn
toàn vô điều kiện trong đó việc Thiên Chúa trao ban tình yêu
không tùy thuộc vào sự chấp nhận của con người. Thiên
Chúa vẫn không ngừng trao ban tình yêu và Ngài không bao
giờ rút lại. Để kinh nghiệm tính nhưng không và tính vô
điều kiện của tình yêu Thiên Chúa, chúng ta chỉ cần đọc
Sách Ngôn Sứ Hôsê trong Cựu Ước Kinh (Hs 1-14) hay dụ
ngôn Người Con Hoang Đàng trong Tân Ước (Lc 15,11-32).

Vận dụng mẫu thức ngã vị trên đây, Công Đồng
Vatican II trong Hiến Chế Tín Lý về Mạc khải Thánh (Dei
Verbum) mô tả mạc khải là việc Thiên Chúa tự thông truyền
cho con người. Có bốn chiều hướng chính liên quan đến
định nghĩa của Dei Verbum về mạc khải. Mạc khải có tính
Ba Ngôi, có tính ngã vị, có tính lịch sử và có tính qui Kitô.
Xét theo tính Ba Ngôi, mạc khải chủ yếu là sự biểu lộ của
mầu nhiệm Thiên Chúa Đấng vừa là một vừa là ba. Đích
ngắm cuối cùng của mạc khải không phải là gì khác hơn là
sự sống năng động và thâm sâu của tình yêu vốn tồn tại giữa
Chúa Cha, Chúa con và Chúa Thánh Thần. Ngay câu đầu
tiên của Dei Verbum tuyên bố rằng "Thiên Chúa nhân lành
và khôn ngoan đã muốn mạc khải chính mình ... nhờ Chúa
Kitô, Ngôi Lời Nhập Thể và trong Thánh Thần, mọi người
có thể đến cùng Chúa Cha và được thông phần bản tính của

Thiên Chúa" (DV 2).

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 136

Công Đồng muốn nói rằng chính Thiên Chúa và chỉ
một mình Thiên Chúa là đối tượng tối hậu của đức tin. Đối
tượng chính của đức tin không phải là Giáo Hội, Thánh
Kinh, các bí tích, phụng vụ, cũng không phải là các giáo
thuyết hay các tín điều. Dù những điều vừa kể trên có tầm
quan trọng đối với kinh nghiệm đức tin đến mấy đi nữa, đối
tượng cuối cùng của mạc khải vẫn là Thiên Chúa và chỉ là
Thiên Chúa thôi. Đặc tính ngã vị của mạc khải được nhấn
mạnh thêm nữa qua mô tả của Dei Verbum về tiến trình mạc
khải:

"Trong việc mạc khải này, với tình thương chan chứa
của Ngài, Thiên Chúa vô hình ngỏ lời với loài người như với
bạn hữu và đối thoại với họ để mời gọi và đón nhận họ hiệp
nhất với Ngài" (DV 2).

Thiên Chúa khởi xướng tiến trình mạc khải với mục
đích biểu hiện tình yêu và sự quan tâm của Ngài, không phải
để biểu hiện một mớ chân lý. Mục đích chủ yếu của việc
Thiên Chúa tự biểu hiện không phải là để bắt trí năng người
ta phải chấp nhận hay phải tuân phục, nhưng là để làm cho
con người có thể đi vào trong một mối tương quan liên vị
với Thiên Chúa.

Theo Dei Verbum, mạc khải cũng có tính lịch sử.
Thiên Chúa mạc khải không chỉ bằng lời nói nhưng còn
bằng "...những công việc được Thiên Chúa thực hiện trong
lịch sử cứu độ..." (DV 1). Tiến trình tự biểu hiện của Thiên
Chúa trong lịch sử bắt đầu với công cuộc sáng tạo, tiếp tục
xuyên qua những mạc khải được thực hiện cho Abraham,
Môsê và các ngôn sứ, và đạt đến sự hoàn thành đầy đủ với
sự mạc khải nơi và qua Đức Giê-su Kitô. Đức Giêsu được
mô tả là "sự hoàn thành của toàn bộ mạc khải" (DV 2). Nơi
Đức Giêsu, Thiên Chúa "đưa mạc khải đến hoàn thành bằng
cách làm đầy đủ nó" (DV 4). Với những câu tuyên bố như
thế, rõ ràng đối với Dei Verbum, mạc khải cũng có tính qui

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 137

Kitô, nghĩa là mạc khải được tập trung về con người Đức
Giê-su Kitô.

Đức Giê-su Kitô

Theo nhận thức của Công Giáo về đức tin, việc Thiên
Chúa tự biểu lộ tình yêu của Ngài tìm thấy sự diễn tả trọn
vẹn nhất và dứt khoát nhất (dù không phải là độc nhất) trong
sự mạc khải của Thiên Chúa nơi và qua con người Đức Giê-
su Kitô. Do đó, để hiểu đức tin theo nhãn quan Công Giáo,
cần phải hiểu một cái gì đó về Đức Giê-su Kitô và vai trò
trung tâm của Người trong đức tin. Ngành thần học đặt ra và
trả lời câu hỏi "Đức Giêsu là ai?" được gọi là Kitô học. Mặc
dù phạm vi của chương này không cho phép có một phân
tích đầy đủ về Kitô học, song một mô tả ngắn gọn về một số
nét chủ yếu của Kitô học hiện đại sẽ giúp chúng ta có thể
vạch ra một số các nét đặc trưng cho thấy Đức Giê-su Kitô
là đối tượng trọng tâm của đức tin.

Một trong những nét độc đáo của Kitô học hiện đại
đó là nó luôn luôn thảo luận câu hỏi Kitô học, "Đức Giêsu là
ai?", trong liên quan với câu hỏi "Tại sao Đức Giêsu đã
đến?" - tức câu hỏi về sự cứu độ, hay có tính cứu độ luận.
Đức Giêsu không quan trọng duy chỉ vì Người nói cho
chúng ta một điều gì đó về Thiên Chúa, về con người, và về
thế giới, nhưng vì Người thật sự giúp giao hòa giữa Thiên
Chúa và nhân loại. Nơi Đức Giê-su Kitô con người cảm
nghiệm được Thiên Chúa và gặp được phương thế để trở
thành một con người nhất quán và lành mạnh. Do đó, Kitô
học hiện đại quan tâm tới việc giới thiệu Đức Giêsu cho thế
giới hiện đại bằng một cách thế sao cho ơn cứu độ đến nơi
Đức Giêsu có thể được nhận biết và cảm nghiệm một cách
ngã vị và đầy bổ ích.

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 138

Để giới thiệu Đức Giêsu cho thế giới hiện đại một
cách thích đáng và hữu hiệu, Kitô học phải được cắm rễ
trong truyền thống Kitô giáo. Ở đây chúng ta ghi nhận một
đặc nét thứ hai của Kitô học hiện đại, đó là tính lịch sử. Kitô
học hiện đại phải xuất phát từ những lời nói và việc làm của
Đức Giêsu lịch sử, được tiếp cận xuyên qua việc nghiên cứu
phê bình lịch sử các bản văn.

Tác phẩm của Dermot Lane, Thực Tại Đức Giêsu, là
một điển hình về sự phân tích hiện đại của Công Giáo về
Kitô học theo phương pháp lịch sử. Lane bắt đầu bằng cách
nhấn mạnh rằng đối tượng của đức tin không chỉ là Đức
Giêsu trong tư cách một nhân vật phi lịch sử, nhưng còn là
Đức Giêsu trong toàn bộ cuộc sống, cái chết và sự Phục
Sinh của Người diễn ra trong lịch sử . Đối với Lane, chính
biến cố Đức Kitô, tức cuộc sống, cái chết và sự Phục Sinh
của Đức Giêsu, là đối tượng cốt yếu của đức tin và do đó
chính biến cố ấy có tầm quan trọng về mặt thần học. Vì thế,
Lane bắt đầu nghiên cứu Kitô học với một phân tích về Đức
Giêsu lịch sử và ý nghĩa của việc rao giảng Đức Giêsu lịch
sử ấy đối với ơn cứu độ. Sau đó Lane thảo luận đến các
tuyên bố về đức tin của Kitô học thuở ban đầu - những tuyên
bố mà sau này được diễn tả trên giấy mực trong những tác
phẩm khác nhau của Tân Ước. Từ "hạ" Kitô học thuở sơ
khai đến "thượng" Kitô học của thời gian sau đó, Lane thảo
luận về những tước hiệu khác nhau mà Tân Ước sử dụng để
diễn tả đức tin vào Đức Giêsu và ý nghĩa của Người đối với
ơn cứu độ. Đức Giêsu là Đấng Mêsia, là Chúa, là Người Tôi
Tớ chịu đau khổ, là Con Người, là Ngôn Sứ, là Thượng Tế,
là Con Thiên Chúa, là Lời tiền hữu của Thiên Chúa.

Cuối cùng, Lane thảo luận về khoa Kitô học có tính
triết học, vốn khơi lên câu hỏi Đức Giêsu là ai theo những
phạm trù triết học về yếu tính và bản tính trong cố gắng diễn
tả Kitô học của Tân Ước bằng một ngôn ngữ mới cho những

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 139

con người sống trong hoàn cảnh mới của lịch sử. Hai tiêu

điểm của khoa Kitô học có tính triết học là các Công Đồng

Nicaea (325) và Chalcedon (451). Để đáp lại sự tranh cãi

của phái Ariô, Công Đồng Nicaea khẳng định thiên tính của

Đức Giêsu. Công Đồng Chalcedon, nhằm trả lời cho một số

lập luận nổi lên sau Công Đồng Nicaea, đã khẳng định hai

bản tính của Đức Giêsu, đó là, Đức Giêsu là Thiên Chúa thật

và là con người thật - hai bản tính (thiên tính và nhân tính)

hợp nhất nơi một ngôi vị .17
F51

Các tuyên bố của Công Đồng Nicaea và Chalcedon

đã trở thành những diễn tả cổ điển của Kitô học về đức tin

vào Đức Giêsu. Tuy nhiên, các tuyên bố ấy đã không chấm

dứt những bàn tán về Kitô học. Tiến trình lịch sử của Kitô

học tiếp tục cho tới thời đại chúng ta. Bởi vì ngay cả dù tất

cả các tuyên bố của Kitô học tương lai đều dựa trên Nicaea

và Chalcedon, thì các nhà thần học ngày nay vẫn không chỉ

cố bám vào việc lặp lại các tuyên bố của hai Công Đồng ấy

(thực tế là không cố bám vào các tuyên bố ấy nhiều hơn so

với các tuyên bố Kitô học của Tân Ước). Thật vậy, để cho

đức tin có thể sống động, biến cố Đức Kitô phải được tiếp

tục suy tư và diễn tả bằng những cách sao cho con người

ngày nay có thể hiểu và cảm nghiệm được việc Thiên Chúa

tự biểu lộ tình yêu của Ngài trong và qua biến cố ấy.

Thực tại nền tảng của biến cố Đức Kitô vẫn trường

tồn và vẫn còn nguyên ý nghĩa của nó qua mọi thời đại,

nhưng các tuyên bố cụ thể diễn tả đức tin vào Đức Giê-su

Kitô có thể và thực sự thay đổi khi Tin Mừng được rao

giảng cho các thế hệ tiếp theo sau. Theo một nghĩa nào đó,

Đức Giê-su Kitô vẫn là một hôm qua, hôm nay và ngày mai,

nhưng sự nhận hiểu của chúng ta về Đức Giêsu là ai và về ý

17 Dermot A. Lane, Thực Tại Đức Giêsu (New York: Paulist Press, 1975) các
chương 1-7.

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 140

nghĩa của Người đối với ơn cứu độ thì thay đổi từ thế hệ này
sang thế hệ khác và đôi khi - thật đúng đắn - thay đổi từ nền
văn hóa này sang nền văn hóa khác.

Đặc nét cuối cùng của Kitô học hiện đại chính là
khuynh hướng nhấn mạnh đến nhân tính của Đức Giêsu.
Dermot Lane nhấn mạnh rằng chính nhân tính được Phục
Sinh của Đức Giêsu là nguồn của ơn cứu độ. Để cảm
nghiệm việc Thiên Chúa tự biểu lộ tình yêu của Ngài, người
tín hữu phải gặp gỡ nhân tính Phục Sinh của Đức Giêsu.
Một số nhà thần học hiện nay, chẳng hạn các nhà thần học
giải phóng, đặc biệt nhấn mạnh đến con người Đức Giêsu và
cuộc sống tại thế của Người. Các nhà thần học này nhìn Đức
Giêsu lịch sử như một con người quan tâm đến người khác,
một con người dành cả cuộc sống mình để bày tỏ sự quan
tâm và tình yêu thương đối với những người nghèo và
những kẻ bị lọai trừ trong xã hội của Người. Vì vậy, các
Kitôhữu ngày nay phải trở thành, như Đức Giêsu, những con
người biết quan tâm tới người khác, không chỉ là quan tâm
đến ích lợi thiêng liêng của người ta mà còn là quan tâm đến
những thiện ích thuộc lãnh vực trần thế nữa. Như thần học
giải phóng chỉ rõ, ơn cứu độ đến từ Đức Giêsu có tính "toàn
diện" - nghĩa là, ơn cứu độ ấy liên quan tới sự biến đổi toàn
bộ con người, cả tâm linh lẫn thể lý.

Ở đây có lẽ cần lưu ý một điều. Kitô học hiện đại -
trong tiềm năng cao nhất của nó với sự nhấn mạnh đến nhân
tính của Đức Giêsu - không hề nhằm để phủ nhận thiên tính
của Người. Đối với các Kitôhữu, nhân tính của Đức Giêsu
và đức tin vào thiên tính của Người luôn luôn tồn tại trong
trạng thái căng thẳng với nhau. Mục tiêu gay go của chúng
ta là giữ được thế quân bình giữa hai đàng.
Giáo Hội

Chính trong và xuyên qua Giáo Hội mà người ta tiến
tới hiểu biết Đức Giê-su Kitô. Người Công Giáo tin rằng khả

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 141

năng lớn nhất để hạnh ngộ với sự tự biểu lộ của Thiên Chúa
nơi Đức Giê-su Kitô được tìm thấy bên trong các truyền
thống của Giáo Hội Công Giáo xét như một cộng đoàn đức
tin. Đức tin Công Giáo không phải là cuộc gặp gỡ giữa chỉ
hai bên - Đức Giêsu và cá nhân người tín hữu; nhưng đó là
cuộc gặp gỡ Đức Kitô Phục Sinh trong và xuyên qua cộng
đoàn các tín hữu. Giáo Hội tìm thấy nguồn gốc của mình nơi
các "buổi nhóm họp" hay các "cuộc qui tụ" thời sơ khai của
những người đã lãnh Phép Rửa nhân danh Đức Giêsu, họ qui
tụ với nhau để cử hành việc bẻ bánh. Từ ngữ "Giáo Hội" có
gốc ở từ Hi Lạp "ekklesia" (ex [đi ra] và kaleo [gọi]), do đó
có nghĩa mặt chữ là "những người đã được gọi ra", nhằm chỉ
một cuộc tụ họp hay đại hội.

Theo tinh thần Vatican II, thần học hiện đại Công
Giáo định nghĩa Giáo Hội chủ yếu bằng những cách diễn tả
có tính ngã vị. Giáo Hội được mô tả là "Thân Mình Chúa
Kitô" và là "Dân Thiên Chúa", nhấn mạnh rằng Giáo Hội
trước hết và trên hết là một cộng đoàn những người tin được
hiệp nhất với nhau trong đức tin vào Đức Giê-su Kitô (LG
1-2). Vatican II tái khẳng định rằng giáo hoàng và các giám
mục có thẩm quyền đặc biệt trong Giáo Hội. Tuy nhiên,
không giống Vatican I, Vatican II nói đến các yếu tố cơ chế
và quyền bính của Giáo Hội trong liên hệ với vai trò mà các
yếu tố ấy đảm nhiệm để hoàn thành sứ mạng thiêng liêng
của Giáo Hội. Một sự phát triển đáng lưu ý trong nhận thức
về cơ cấu có tính cơ chế của Giáo Hội đã được thực hiện với
việc đề ra nguyên tắc tập đoàn tính, nguyên tắc này khẳng
định rằng chính giáo hoàng và các giám mục cùng nhau cai
quản Giáo Hội hoàn vũ, chứ không phải một mình giáo
hoàng (LG 22). Chương IV của Lumen Gentium nhấn mạnh
vai trò năng động của người giáo dân trong Giáo Hội (LG

IV).

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 142

Mặc dù Giáo Hội có một vai trò tất yếu trong kinh
nghiệm đức tin, chúng ta cũng không được phép quên rằng
vai trò của Giáo Hội là một vai trò trung gian. Giáo Hội -
cùng với các bí tích, các tác vụ và các giáo huấn của Giáo
Hội - là một phương tiện chuyển thông ơn cứu độ. Giáo Hội
giúp cho các tín hữu có thể gặp gỡ Đức Giê-su Kitô và
Thiên Chúa là Đấng được mạc khải nơi Đức Giê-su Kitô.
Người Công Giáo không tin vào Giáo Hội hay vào giáo
hoàng cũng một thể cách như họ tin vào Thiên Chúa hay vào
Đức Giê-su Kitô. Niềm tin vào Giáo Hội không thể hoàn
toàn đồng hóa với niềm tin vào Thiên Chúa, Đấng được mạc
khải nơi Đức Giê-su Kitô. Vì thế, câu nói "người Công Giáo
tin vào Giáo Hội" là một phát biểu không hoàn toàn chuẩn
xác và cần phải được hạn định cho rõ. Để chính xác hơn,
nên nói rằng người Công Giáo tin rằng Đức Giê-su Kitô hiện
diện trong Giáo Hội, nghĩa là, tin rằng Giáo Hội đang làm
cho Đức Giê-su Kitô hiện diện với mọi con người đang sống
trong thế giới ngày nay nhờ đó họ có thể cảm nghiệm được
tình yêu của Thiên Chúa như được mạc khải nơi Đức Giê-su
Kitô.

Các Biểu Tượng
Của Đức Tin

Chính ở bình diện các biểu tượng của đức tin mà nội
dung của đức tin mặc lấy một hình thức cụ thể hơn. Mặc dù
nội dung chính yếu của đức tin là Thiên Chúa và mạc khải
tình yêu của Thiên Chúa trong và qua Đức Giê-su Kitô, đối
với người Công Giáo, việc Thiên Chúa tự biểu lộ tình yêu
của Ngài được gặp gỡ và cảm nghiệm xuyên qua các biểu
tượng (tức những diễn tả cụ thể) của truyền thống Công
Giáo. Nói "các biểu tượng của đức tin", chúng ta nhằm nói
đến tất cả những diễn tả cụ thể của nội dung đức tin làm nên

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 143

truyền thống Công Giáo từ thuở ban đầu của Kitô giáo cho

đến hiện nay. Một số trong những biểu tượng này, chẳng hạn

Thánh Kinh, có tính rất nền tảng; chúng mang tính chuẩn

mực một cách đặc biệt bởi vì chúng chứa đựng kinh nghiệm

của các Tông đồ về mạc khải của Thiên Chúa nơi Đức Giê-

su Kitô. Các biểu tượng khác, chẳng hạn các giáo thuyết của

Giáo Hội, là những biểu tượng có tính dẫn xuất, theo nghĩa

rằng chúng là những sự diễn tả về sau này nhằm chuyển đạt

kinh nghiệm mạc khải của các tông đồ cho những người

sống trong các bối cảnh văn hóa và lịch sử mới mẻ. Từ "biểu

tượng" được dùng ở đây theo nghĩa rộng nhất của nó, bao

hàm tất cả những thể cách đa dạng mà qua đó Giáo Hội làm

cho sự mạc khải của Thiên Chúa nơi Đức Giê-su Kitô được

hiện diện cụ thể - những thể cách đó là: Thánh Kinh, các bí

tích, phụng vụ, các giáo thuyết và các tín điều, các giáo huấn

đạo đức và luân lý, việc cầu nguyện, chứng tá của các thánh

và đời sống của các Kitôhữu tín trung, vv...

Việc sử dụng thành ngữ "các biểu tượng của đức tin"

xem ra có thể gây bối rối cho một số bạn đọc. Nhiều người

có thể tự hỏi tại sao không gọi đó là các giáo thuyết của đức

tin. Nhưng làm thế có nghĩa là trở lại với mẫu thức trí năng

vốn xem nội dung của đức tin chủ yếu là sự biểu hiện các

chân lý. Nếu đức tin chuyển đạt tình yêu của chính Thiên

Chúa - là điều mà mẫu thức ngã vị mô tả là nội dung chính

của đức tin - thì ngôn ngữ biểu tượng sẽ là cách hữu hiệu

hơn để mô tả những cách diễn đạt cụ thể của đức tin. Các

giáo thuyết chủ yếu nại đến trí năng. Còn các biểu tượng nại

đến toàn thể con người, gồm cả trí năng trong đó.

Ngày nay nhiều nhà thần học và nhiều triết gia hiện

đại mô tả ngôn ngữ của đức tin là ngôn ngữ biểu tượng.

Trong quyển Các Mẫu Thức Mạc Khải của mình18, Avery
61F

18 Avery Dulles, Models of Relevation (Garden City, NY: Doubleday & Co.,
1983). Đã có bản dịch Việt ngữ của cùng người dịch.

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 144

Dulles cho thấy rằng ý niệm về mạc khải như sự vén mở có

tính biểu tượng đã trở thành rất phổ biến trong thế kỷ 20.

Theo quan điểm này, việc Thiên Chúa tự biểu lộ nơi Đức

Giê-su Kitô luôn luôn được trung chuyển trong và qua các

biểu tượng. Dulles định nghĩa một biểu tượng là "...một dấu

hiệu được cảm nhận bên ngoài tác động một cách mầu

nhiệm trên ý thức người ta để nói lên nhiều hơn những gì mà

dấu hiệu ấy có thể mô tả hay xác định cách rõ ràng."19
7F1

Ngôn ngữ của đức tin là ngôn ngữ của biểu tượng -

nói thế không hề có nghĩa rằng các diễn tả của đức tin không

có cơ sở nơi thực tại. Các biểu tượng của đức tin tham dự

vào các thực tại mà chúng mạc khải. Đồng thời các biểu

tượng của đức tin không thể bị đồng hóa với những thực tại

kia bởi vì bản thân chúng được lấy từ ngôn ngữ của con

người là cái có tính hữu hạn, bị điều kiện, và thuộc về lịch

sử - trong khi đó thực tại của việc Thiên Chúa tự biểu hiện

thì vô hạn, không điều kiện và tuyệt đỉnh. Vì thế, các biểu

tượng của đức tin không thể diễn tả cách đầy đủ và trọn vẹn

những thực tại của đức tin, những thực tại mà - nói cho cùng

- là những mầu nhiệm. Theo bản chất thì các biểu tượng của

đức tin là những sự diễn tả đúng thực, nhưng giới hạn, về sự

tự biểu hiện của Thiên Chúa. Như vậy, các biểu tượng

không phải là những cách nhận hiểu có tính chủ quan, lỏng

lẻo, mập mờ về các thực tại của đức tin. Trái lại, chúng là

những cách rất có năng lực và hữu hiệu bởi vì chúng đặt

người tin tiếp xúc với các thực tại khách quan của việc

Thiên Chúa tự biểu hiện và làm cho người tin có thể cảm

nghiệm được những thực tại này một cách riêng tư.

19 Ibid., tr. 131 trong nguyên bản tiếng Anh.

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 145

Một hệ quả của việc nhìn ngôn ngữ của đức tin như
có tính biểu tượng, đó là thần học có thể nói về nhiều biểu
tượng khác nhau. Bởi vì không một biểu tượng đơn độc nào
có thể diễn tả rốt ráo một mầu nhiệm đức tin, nên các biểu
tượng khác cũng có thể được phát triển để diễn tả cùng một
mầu nhiệm đó. Chúng ta đã nhận ra cách thức mà Tân Ước
sử dụng nhiều tước hiệu khác nhau để diễn tả thực tại Đức
Giêsu và cách mà các biểu tượng Kitô học đã phát triển sau
giai đoạn Tân Ước và tiếp tục phát triển ngay cả đến thời đại
của chúng ta.

Ngày nay một số nhà thần học chỉ ra rằng có một thứ
bậc các biểu tượng đức tin, nghĩa là một số biểu tượng thì có
tính thiết yếu đối với đức tin hơn những biểu tượng khác.
Đối với người Công Giáo, các biểu tượng về Chúa Ba Ngôi,
về mầu nhiệm Nhập Thể, và về Giáo Hội xét như là Dân
Thiên Chúa thì quan trọng hơn rất nhiều so với các giáo
thuyết khác ở cấp thấp hơn trong thứ bậc, chẳng hạn về
quyền bất khả ngộ của giáo hoàng, về luyện ngục, về Đức
Mẹ Vô Nhiễm Trinh Thai. Điều này không có nghĩa rằng
người Công Giáo nên được cho phép chỉ chọn lọc lấy những
gì mình muốn để tin. Nhưng cũng không nên kỳ vọng họ
chấp nhận tất cả các biểu tượng của Giáo Hội Công Giáo
cùng một cách hoàn toàn như nhau.

HÀNH ĐỘNG CỦA ĐỨC TIN

Hành động của đức tin qui chiếu đến bản chất của sự
đáp trả, trạng thái tâm lý của con người đang chấp nhận việc
Thiên Chúa tự biểu hiện tình yêu thương của Ngài nơi Đức
Giê-su Kitô. Việc thảo luận về hành động của đức tin sẽ liên
quan đến một phân tích về những yếu tố tâm lý thiết định sự
đáp trả của chủ thể (tức đương sự) là người liên can đến kinh
nghiệm đức tin. Trong phần này, chúng ta sẽ khảo sát sáu

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 146

yếu tố của hành động đức tin: sự đáp trả của toàn bộ con
người, sự đáp trả tự do xuyên qua ân sủng, sự trung thành,
sự chuyển hóa đầy sáng tạo, đức tin và sự nghi ngờ, và các
chặng đường của đức tin.

Sự Đáp Trả
Của Toàn Bộ Con Người

Nhìn từ nhãn quan của mẫu thức ngã vị, hành động
của đức tin trước hết là một sự đáp trả của ngã vị con người.
Đức tin không phải là một sự đáp trả của chỉ một phương
diện nào đó của nhân cách chúng ta, nhưng là sự đáp trả của
toàn bộ con người chúng ta. Nó là sự chu toàn điều răn đã
được nêu ra trong Sách Đệ Nhị Luật: "Hãy yêu mến Đức
Chúa, Thiên Chúa của anh em hết lòng hết dạ, hết sức anh
em." (6,5).

Hành động của đức tin đòi hỏi sự qui phục hoàn toàn
và dấn thân trọn vẹn. Về phương diện này, hành động của
đức tin rất giống với sự đáp trả của tình yêu, một sự đáp trả
đòi hỏi trao đi tất cả bản ngã. Thật vậy, một đức tin sống
động phải luôn luôn bao hàm tình yêu. Sự đáp trả của đức
tin, xét như sự hiến trao trọn vẹn bản ngã, luôn luôn liên
quan đến mọi yếu tố tâm thần của con người, cả ý thức lẫn
vô thức - nghĩa là phải bao gồm những yếu tố như: tín
nhiệm, vâng phục, yêu thương, thông cảm, chấp nhận, ràng
buộc, cảm xúc, đam mê. Đức tin không phải chỉ là một sự
đáp trả của trí năng hay ý chí hay tình cảm, nhưng là của cả
ba yếu tố ấy cùng hòa quyện với nhau trong một hành động
"trục" của nhân vị. Nhìn từ quan điểm này, ta thấy hành
động của đức tin bao gồm sự chấp nhận của trí năng đối với
các giáo thuyết hay tín điều, cũng như bao gồm tình yêu của
Thiên Chúa và tha nhân, một hình thức vâng phục nào đó
đối với Giáo Hội của mình, cũng như bao gồm các cảm nghĩ

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 147

và cảm xúc được khơi lên do kinh nghiệm về tình yêu vô
điều kiện của Thiên Chúa.

Đối với các nhà thần học như Paul Tillich, cách hiểu
về hành động của đức tin như một hành động "trục" sẽ giúp
chống lại một số cách hiểu méo mó nào đó về hành động của
đức tin. Theo Tillich, nếu sự đáp trả của đức tin được đồng
hóa với một trong những yếu tố làm nên con người - và loại
trừ các yếu tố khác - thì ý nghĩa của sự đáp trả ấy đã bị méo
mó. Nếu hành động của đức tin được hiểu chỉ như một sự
đáp trả của trí năng, thì đức tin trở thành chỉ là sự chấp nhận
của trí năng đối với một mớ chân lý nào đó. Nếu đức tin
được xem là hành động của chỉ ý chí, thì nó sẽ trở thành
không gì hơn ngoài một hành động mù quáng của ý chí, một
quyết định độc đoán của ý chí chấp nhận những điều mà
người ta không thể nhận hiểu bằng lý trí được. Nhìn đức tin
chỉ như một sự đáp trả thuộc cảm tính thì có nghĩa là giảm
trừ đức tin đến chỉ còn là một cảm xúc chủ quan, vô hại,
không liên quan gì đến lý trí và ý chí, và không thể khẳng
định bất cứ một chân lý nào cả. Để tránh những lệch lạc như
vậy, luôn cần phải nhìn hành động của đức tin như một sự
đáp trả của trọn vẹn bản ngã con người.

Sự Đáp Trả Tự Do
Xuyên Qua Ân Sủng

Trong tư cách là một hành động "trục" của nhân vị,
đức tin là một sự đáp trả hoàn toàn tự do. Hành động của
đức tin là một hành động tự do theo nghĩa rằng người tín
hữu tự mình quyết định chấp nhận sự tự biểu lộ tình yêu của
Thiên Chúa như được mạc khải nơi Đức Giê-su Kitô. Không
thể có chuyện ép buộc một người thực hiện hành động của
đức tin - và tất cả những cố gắng của quá khứ, hiện tại và
tương lai nhằm ép buộc đức tin cần phải bị lên án triệt để.

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 148

Tuy nhiên, đồng thời với việc không ngừng khẳng
định yếu tố tự do của hành động đức tin, Kitô giáo vẫn luôn
chủ trương rằng hành động của đức tin chỉ có thể được thực
hiện trong sự cộng tác với ân sủng của Thiên Chúa. Một số
bản văn quan trọng của Thánh Kinh hậu thuẫn cho điều này:
"Chẳng ai đến với tôi được, nếu Chúa Cha không lôi kéo
người ấy" (Ga 6,44); "Chúng ta hãy yêu thương, vì Thiên
Chúa đã yêu thương chúng ta trước" (1Ga 4,19); "Quả vậy,
chính do ân sủng và nhờ lòng tin mà anh em được cứu độ:
đây không phải bởi sức anh em, mà là một ân huệ của Thiên
Chúa" (Ep 2,8). Thánh Augustinô nói về "sự soi sáng của
Thiên Chúa". Thánh Tôma Aquinô nói về một "bản năng
bên trong" thúc đẩy người ta tin. Các nhà thần học ngày nay
nói về một "khát vọng tự nhiên đối với Thiên Chúa" (Henri
de Lubac), về "hiện sinh thể thiêng liêng" (Karl Rahner), và
về "khát vọng bất khả kháng" muốn hiểu biết và yêu mến
Thiên Chúa (Bernard Lonergan). Ngay từ buổi đầu của Kitô
giáo, các nhà thần học đã tranh luận về cách nhận hiểu mối
tương quan giữa tự do và ân sủng trong hành động của đức
tin, khi thì nhấn mạnh đến tự do, khi thì nhấn mạnh đến ân
sủng, nhưng họ đã không thành công, và có lẽ sẽ không bao
giờ thành công trong việc giải quyết mối căng thẳng vẫn tồn
tại giữa hai bên. Trong hành động của đức tin, ân sủng và tự
do là hai đối cực luôn luôn tồn tại trong tình trạng căng
thẳng với nhau.

Tuy nhiên, khía cạnh ân huệ của đức tin sẽ trở thành
bớt khó hiểu hơn nếu ân sủng được hiểu theo mẫu thức ngã
vị. Theo cách tiếp cận này, ân sủng không phải là một cái gì
đó mà Thiên Chúa chỉ tặng cho một số người này chứ không
phải cho những người khác. Đúng hơn, chính bản thân Thiên
Chúa tình yêu - là Cha, Con và Thánh Thần - tự do trao ban
tình yêu vô điều kiện cho tất cả mọi con người. Đức tin là
một ân huệ của Thiên Chúa, nói vậy có nghĩa rằng Thiên

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 149

Chúa đi bước trước trong việc trao ban tình yêu và Ngài tác
động đến sự chấp nhận của người tín hữu đối với tình yêu
này. Vì thế, nói rằng đức tin là một ân huệ có nghĩa rằng con
người không thể tạo ra, khởi xướng hay hoàn toàn kiểm soát
được việc trao ban tình yêu một cách vô điều kiện của Thiên
Chúa, con người cũng không thể hoàn toàn kiểm soát được
hiệu quả của tình yêu này nơi mình. Đức tin vẫn tự do,
nhưng không theo nghĩa rằng hành động của đức tin có thể
được thực hiện xuyên qua chỉ nỗ lực của con người mà thôi.
Người ta có thể chấp nhận hay khước từ sự tự biểu lộ tình
yêu của Thiên Chúa, nhưng người ta không thể xóa bỏ sự
hiện hữu của nó hay hoàn toàn nắm quyền kiểm soát ảnh
hưởng của nó.

Sự Trung Thành

Có lẽ yếu tố ấn tượng nhất nhưng cũng rất thường
gây tranh cãi nhất của hành động đức tin là phẩm tính trung
thành. Nhìn sự đáp trả theo nhãn giới tâm lý, thì trung thành
có nghĩa rằng hành động của đức tin là hành động có tính
thường xuyên. Sự ràng buộc của hành động đức tin phải bền
bỉ, kéo dài, kiên định. Khi một người thực hiện hành động
của đức tin, thì trong sự dấn thân ấy có bao hàm thái độ tiếp
tục trung thành với sự dấn thân của mình. Không có một
điều kiện nào về thời gian, sức khỏe, tuổi tác được đặt ra cho
niềm tin ấy, và đồng thời đương sự loại bỏ những niềm tin
có tính trái ngược lại hay không nhất quán với niềm tin này.
Vì thế, xét về mặt tâm lý, khi một người thực hiện một hành
động đức tin chấp nhận sự tự biểu hiện tình yêu của Thiên
Chúa nơi Đức Giê-su Kitô, người ấy làm thế với ý thức rằng
mình đang cam kết lâu dài, một sự cam kết mà mình sẽ cố
gắng trung thành suốt đời mình.

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 150


Click to View FlipBook Version