Chương 9: LINH ĐẠO KITÔ GIÁO
Mary Milligan, R.S.H.M.
Thuật ngữ "linh đạo" không chấp nhận bất cứ sự định
nghĩa dễ dãi nào. Theo một nghĩa nào đó, xét như một sự cởi
mở cách triệt để đón nhận siêu việt, linh đạo là một chiều
kích nội tại của mọi con người. Theo một nghĩa chặt hơn,
linh đạo qui chiếu đến sự khôn ngoan về tinh thần được tích
lũy bởi loài người xuyên qua các thời đại trong nỗ lực tìm
kiếm sự hiệp nhất với siêu việt, thường được gọi là Thiên
Chúa. Hoặc linh đạo cũng có thể nói đến kinh nghiệm của
một người hay một nhóm người trong cuộc tìm kiếm thăng
tiến tâm linh.
Hai tiếng "linh đạo" được gán cho một môn học trong
lãnh vực thần học lại là một hiện tượng tương đối mới đây.
Trong tư cách là một "kẻ mới đến" trong lãnh vực học thuật,
linh đạo vẫn còn đang trong quá trình xác định các phạm trù,
các ý niệm và phương pháp luận của nó. Các lãnh giới của
linh đạo xét như một môn thần học chắc chắn rất rộng. Một
bộ sách nhiều tập mới xuất bản gần đây về Linh Đạo Thế
Giới đã bao gồm những tập về các linh đạo cổ sơ, linh đạo
Phi Châu, Nho giáo, Do Thái giáo, Hồi giáo, da đỏ Bắc Mỹ,
vân vân...! Chỉ ba trong số 25 tập của bộ sách được dành cho
linh đạo Kitô giáo. Mỗi trong số các linh đạo này qui chiếu
đến một thực tại siêu việt và diễn dịch kinh nghiệm con
người dựa trên thực tại ấy.
Trong lãnh vực thần học Kitô giáo, linh đạo qui chiếu
đến kinh nghiệm sống về một Thiên Chúa Ba Ngôi và suy tư
thần học về kinh nghiệm ấy. Nó "tập chú không phải trên
bản thân đức tin, nhưng trên thái độ mà đức tin ấy khơi lên
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 251
trong ý thức và thực hành Kitô giáo."43 Trong mô tả của
40F
ngài về sự sống trong Thánh Thần, Thánh Phaolô dường như
đã đụng đến cốt lõi của bất cứ định nghĩa nào về linh đạo
Kitô giáo: Một sự nhận hiểu về Thiên Chúa và về mối quan
hệ của mình với Thiên Chúa vốn ảnh hưởng đến cung cách
sống của mình. Thánh Phaolô viết trong thư Rôma 12,2:
"Anh em hãy biến đổi nhờ sự đổi mới tâm thần" (RSV);
"Hãy thay đổi cách sống của anh em, theo tâm thần đổi mới
của anh em" (JB).
Vậy thì cái gì làm nên "linh đạo Kitô giáo", tiêu điểm
tìm hiểu của chúng ta ở đây? Đối với bất cứ linh đạo Kitô
giáo nào, Đấng Siêu Việt, Đấng Khác, Đấng Tối Thượng, ...
là Thiên Chúa Ba Ngôi được mạc khải nơi Đức Giêsu
Nadarét. Kinh nghiệm tôn giáo của người Kitôhữu được cắm
rễ trong - và được diễn dịch theo - một sự nhận hiểu căn bản
về Thiên Chúa và về mối quan hệ giữa Thiên Chúa với con
người nơi Đức Giê-su Kitô. Đời sống của con người được
tác động bởi Thánh Thần của Đức Giêsu Phục Sinh là tiêu
điểm khảo cứu của linh đạo Kitô giáo.
Mối quan hệ của người Kitôhữu với Thiên Chúa
không được sống trong tình trạng cô lập. Ơn cứu độ của
người Kitôhữu không bao giờ chỉ là chuyện riêng giữa "tôi
và Thiên Chúa". Người Kitôhữu được định vị trong một
cộng đoàn đức tin nhận hiểu Thiên Chúa là Cha của mình,
và Đức Giêsu là trưởng tử cùng với nhiều anh chị em có liên
đới với đời sống mình, và tất cả được mời gọi phụng thờ
Thiên Chúa trong tư cách một gia đình của Ngài. Được soi
sáng bởi Thánh Kinh và truyền thống, cộng đoàn các tín hữu
nhận cả Thánh Kinh Do Thái lẫn Tân Ước như Lời mạc khải
của Thiên Chúa và, do đó, như là nền tảng của linh đạo Kitô
43 Bernard McGinn, "Introduction," Linh Đạo Kitô giáo: Các Nguồn Gốc Ở
Thế Kỷ 12 (NY: Crossroad, 1987) xvi.
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 252
giáo. Vì thế, chúng ta có thể nói rằng linh đạo Kitô giáo thiết
yếu có tính Ba Ngôi, có tính Kitôhọc, Giáo Hội học, có tính
phụng vụ và Thánh Kinh.
Nghiên cứu linh đạo Kitô giáo là nghiên cứu những
biểu hiện của kinh nghiệm vọt ra từ đức tin Kitô giáo. Đó là
nghiên cứu kinh nghiệm đã được sống cắm rễ trong một sự
nhận hiểu về Thiên Chúa, về chính bản thân mình, về người
khác và về thế giới.
Vì kinh nghiệm là nền tảng của linh đạo, nên nghiên
cứu linh đạo chủ yếu là nghiên cứu qua các biểu hiện của
kinh nghiệm. Những gì mà các cá nhân nói với chúng ta về
kinh nghiệm của họ sẽ luôn luôn là một nguồn chủ yếu để
nghiên cứu linh đạo. Mặc dù các Kitôhữu qua các thế kỷ đã
diễn tả kinh nghiệm tâm linh của họ nơi nghệ thuật tranh
tượng, nơi các điệu vũ, kiệu rước, họ cũng đã viết ra nhận
thức của họ về Thiên Chúa, về thế giới, và về chính họ.
Những văn liệu này là một nguồn chất liệu chủ yếu để
nghiên cứu linh đạo.
Trong số các văn liệu nói trên, phần cốt thiết nhất
thuộc về những tác phẩm của các nhà thần bí - là những
người đã cố gắng mô tả đời sống cầu nguyện của họ, ngay
cả khi các kinh nghiệm thần bí của họ không thể hiểu được
hoàn toàn đối với chính bản thân họ. Tất cả ngôn ngữ con
người đều bất cập trong việc chuyển tải kinh nghiệm tôn
giáo, và vì thế khi chuyển tải nhận thức hiện sinh của mình
về Thiên Chúa, các văn sĩ thần bí đã phải vận dụng rất nhiều
loại suy, biểu tượng và các hình ảnh của con người, Chẳng
hạn, Têrêsa Avila đã ví các chặng đường cầu nguyện với
những cách lấy nước từ giếng. Vị thánh nữ này mô tả các
chặng đường của đời sống tâm linh như một loạt những lâu
đài nội tâm giống hệt như những lâu đài vững vàng chắc
chắn mà chị rất quen thuộc tại vùng Avila của mình. Inhaxiô
Loyola, vốn là một hiệp sĩ xứ Basque, đã ví sự cam kết dấn
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 253
thân sâu xa của Kitô hữu vốn trở thành động lực cho toàn
thể đời sống người ta như sự nhiệt thành "hưởng ứng tiếng
gọi của một vị vua chúa trần gian".
Các nhà thần bí Kitô giáo mô tả kinh nghiệm nội tâm
của mình qua nhiều thể văn khác nhau. Họ viết những câu
chuyện ở ngôi thứ ba, những vần thơ, những bản văn có
ngôn ngữ khải huyền, hoặc bằng thứ ngôn ngữ có tính mô tả
chi tiết. Chẳng hạn, Julian Norwich đã viết một cách tự
nhiên và chân thành về những gì đã được "mở ra" cho chị
thấy trong vài tiếng đồng hồ vào một ngày tháng ba năm
1373. Chị mô tả các màu sắc của thân thể Đức Giêsu khi
Ngài chết: "Nó chuyển sang một màu xanh dương, rồi dần
dần đổi thành một màu xanh sậm..."; những giọt máu từ
vòng gai "giống như những giọt nước rớt xuống từ mái hiên
sau một cơn mưa lớn, rơi xuống liên hồi và dồn dập đến nỗi
không ai có thể đếm được; những giọt máu ấy lăn xuống
trán Người, tròn như [sic] những vảy cá trích."44 Những mô
4F1
tả sống động và rất phàm tục đó chính là cố gắng của Julian
muốn mô tả điều không thể mô tả được.
Cũng vậy, những công việc làm trong cuộc sống
người ta cũng biểu hiện động lực căn bản của họ, chủ hướng
hành động của họ, linh đạo của họ. Chẳng hạn, các cộng
đoàn được thành lập bởi Jean Vanier cho những người lớn bị
các chứng tâm thần (l'Arche) cho thấy nhận thức của ông về
sự hiện diện của Thiên Chúa nơi con người không kém chi
so với các sách vở của ông. Các cộng đoàn thợ thuyền Công
Giáo vốn vẫn tiếp tục đời sống và linh đạo của Dorothy Day
là những minh họa hùng hồn cho vô số các văn liệu mà
người phụ nữ này đã ghi chép. Và chúng ta vẫn thường
xuyên nhận thấy rằng đời sống của các cộng đoàn tu trì biểu
44 Julian of Norwich, Những Mạc Khải Của Tình Yêu Thiên Chúa (Great
Britain: Penguin, 1966) 72.
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 254
hiện nhãn giới đức tin căn bản và cảm hứng của vị sáng lập
ra các cộng đoàn ấy! Đời sống luôn luôn là chỗ biểu hiện
của linh đạo.
Người ta cũng có thể cảm nhận linh đạo của một
người, một nhóm hay một thời đại qua hội họa và âm nhạc
tôn giáo, qua các cử hành phụng vụ. Kiến trúc rô-man của
nhà thờ chính tòa Santiago ở Compostela là dấu chứng của
linh đạo hành hương vốn đã gợi hứng cho nó. Vô số những
cuộc rước kiệu và hành hương của dân chúng Mỹ Châu
Latinh ngày nay cũng phản ảnh một linh đạo hành hương
tương tự. Về một nhận thức mối quan hệ giữa Thiên Chúa
với con người, nhà thờ chính tòa Chartres nói với chúng ta
bằng ngôn ngữ của đá cũng không kém chi so với bộ Tổng
Luận Thần Học của Tôma Aquinô.
Như vậy, trong tư cách là một môn thần học, linh đạo
có lãnh giới rất rộng; nó chủ yếu có tính liên ngành. Nó vận
dụng triết học và xã hội học để phân tích các biểu hiện của
cá nhân và tập thể của kinh nghiệm tôn giáo; nó vận dụng sử
học để khảo sát những phát triển của các biểu hiện đó và để
khám phá những phát triển trong việc nhận thức một số các
thực tại tâm linh; nó dựa vào nghệ thuật để diễn tả tâm linh
con người trong các chiều sâu thẳm.
Căn cứ trên kinh nghiệm con người, cả cá nhân và tập
thể, linh đạo có tính toàn diện. Nó được sống và thể hiện
trong mọi chiều kích của đời sống con người - cá nhân và xã
hội, chính trị và tâm linh. Nó kính trọng sự hiệp nhất của
thân xác và linh hồn; nó phối kết nỗ lực không ngừng của
một con người để vươn tới sự lành mạnh trọn vẹn. Nó bao
gồm mối quan hệ giữa mình với người khác, với Thiên Chúa
và với thế giới, tìm cách thống nhất những mối quan hệ ấy
trong một đời sống được thúc đẩy bởi đức tin. Nó tìm cách
diễn dịch kinh nghiệm con người theo thực tại siêu việt ấy.
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 255
Chúng ta có thể nói rằng linh đạo là một cách sống
được tác động bởi đức tin của người ta. Nó là một cách nhận
hiểu mầu nhiệm Kitô giáo và là một cách phối kết các yếu tố
của mạc khải Kitô giáo trong một nhãn quan nào đó. Thánh
Thần trong mỗi người trao ban cho mỗi người một sự nhạy
cảm đặc biệt đối với một số khía cạnh của mầu nhiệm Kitô
giáo và sự nhạy cảm ấy ảnh hưởng đến các chọn lựa trong
đời sống của đương sự.
Thánh Phanxicô Atxidi, một trong các vị thánh danh
tiếng và được yêu mến nhất của Kitô giáo, có thể cung ứng
một minh họa cho sự phối kết này. Chúng ta biết hai biến cố
quan trọng trong đời ngài nói lên một kinh nghiệm tôn giáo
thâm sâu: một là, sự kiện ngài gặp gỡ những người phung
hủi - những người mà tự nhiên ngài tởm gớm, và hai là, sự
kiện ngài chiêm niệm trước tượng chịu nạn và nghe tượng
này nói với mình trong thánh đường San Damiano. Trong
ánh sáng của những kinh nghiệm này, về sau khi nghe tiếng
Tin Mừng thúc đẩy mình ra đi rao giảng, không mang theo
vàng bạc trong thắt lưng, không bao bị, không mặc hai áo,
không giày dép, không gậy..." (Mt10, 9-10), ngài hiểu mình
phải sống đời mình như thế nào. "Trong tình tiết căn bản nói
trên, chúng ta có thể nhận ra hai yếu tố căn bản trong toàn
bộ nhãn quan của Phan-xi-cô về cuộc đời Kitôhữu: triệt để
đi theo Tin Mừng và sống đời khó nghèo cách đặc biệt, đến
nỗi hoàn toàn tùy thuộc vào lòng quảng đại ngẫu nhiên của
người khác."45 Kinh nghiệm của Phan-xi-cô về Đức Kitô
42F
chịu nạn trong khó nghèo đã dẫn ngài tới sống một cuộc
sống khó nghèo vốn là đặc trưng cho tất cả các hành động
của ngài. Ngài xem mọi tạo vật là quà tặng của Thiên Chúa
và vì thế ngài cảm thấy hòa điệu với thiên nhiên, với các loài
45 Simon Tugwell, O.P., Ways of Imperfection: An Exploration of Christian
Spirituality (Springfield, IL: Templegate Publishers, 1985) 127.
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 256
vật, với mọi con người. Mặt trời và mặt trăng là anh và chị
của ngài; chính sự chết cũng được ngã vị hóa và được ngài
gọi là chị.
Nơi Thánh Phan-xi-cô Atxidi, chúng ta nhận thấy các
yếu tố của đời sống Kitôhữu được nhận hiểu và được xếp
đặt bằng một cách đặc biệt. Mối tương quan của ngài với
người khác, nhận thức của ngài về chính bản thân mình, về
cộng đoàn, và về thế giới ... tất cả đều được nhìn xuyên qua
lăng kính của kinh nghiệm tôn giáo nền tảng của ngài là
đồng hóa với Đức Kitô khó nghèo. Vì thế, Phan-xi-cô giúp
chúng ta nhận hiểu thế nào là một "trường phái linh đạo".
Xuyên qua lịch sử, một số sự nhấn mạnh chung đã
được đặt nơi sứ điệp Tin Mừng. Nhãn quan nền tảng và lối
sống của một cá nhân tìm thấy một vang âm nơi những
người khác, hay một số người hiểu con đường linh đạo trong
cùng một cách thế và vì thế lập ra một lối sống phản ảnh và
thúc đẩy sự nhận hiểu ấy. Vào các thế kỷ 5 và 6, Benedict ở
Nursia đã viết Qui Luật cho các tu sĩ ở Monte Cassino, nước
Ý. Qui Luật này, cắm rễ trong giáo huấn Thánh Kinh, đã trở
thành nền móng và chỉ nam cho một lối sống trở thành phổ
biến ở khắp Tây Âu. Cho đến thế kỷ 10, nó đã trở thành
chuẩn mực cho đời sống đan tu Tây phương. Nó vẫn tiếp tục
đặc trưng cho linh đạo Benedictine. Nhận thức của Inhaxiô
rằng Thiên Chúa phải được gặp thấy "trong mọi sự" là trọng
tâm của linh đạo I-nhã. Nhận thức này của Inhaxiô phát xuất
từ kinh nghiệm thần bí sâu xa của ngài sau khi ngài hoán cải
trở về với Thiên Chúa. Mỗi trong những "trường phái linh
đạo" nói trên đều độc đáo theo nghĩa rằng "vị sáng lập" của
nó đã nhấn mạnh đến những chiều kích đặc biệt của mầu
nhiệm Kitô giáo và thể hiện sự nhấn mạnh ấy trong đời sống
hằng ngày. Các trường phái ấy giống nhau ở chỗ chúng chia
sẻ cái chung của mọi linh đạo Kitô giáo: khát vọng "được
chuyển hóa để nên giống Đức Giê-su Kitô ngày càng hơn".
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 257
Thật vậy, đời sống Đức Giêsu là gương mẫu của mọi
linh đạo Kitô giáo, và hành trình tâm linh của Kitôhữu luôn
luôn là chính hành trình mà Đức Giêsu đã bước đi. "Để biết
chính Đức Kitô, nhất là biết Người quyền năng thế nào nhờ
đã phục sinh, cùng được thông phần những đau khổ của
Người, nhờ nên đồng hình đồng dạng với Người trong cái
chết của Người" (Pl 3,10) - đó là mục tiêu của đời sống
Kitôhữu. Mối quan tâm noi gương sống của Đức Giêsu vốn
được ghi nhận rõ ràng trong các trang Tân Ước. Nhắc lại cái
chết của Têphanô, Kitôhữu tuẫn đạo tiên khởi, tác giả Sách
Công Vụ Tông Đồ đã hữu ý trình bày cái chết ấy giống cái
chết của Đức Giêsu (cf.Cv 6,8-7,60). Các kỳ lão, các kinh sư
và các thành viên của Công Nghị đã tố cáo Têphanô "sử
dụng ngôn ngữ phạm thượng chống lại Môsê và chống lại
Thiên Chúa" (6,11) - giống như trường hợp của Đức Giêsu.
Têphanô thấy trời mở ra và "Con Người ngự bên hữu Thiên
Chúa", như Đức Giêsu đã nói trước trong cuộc khổ nạn của
Người, theo Tin Mừng Luca (22,68). Cũng giống như Đức
Giêsu, Têphanô cầu xin ơn tha thứ cho những kẻ làm hại
mình (7,60) và phó thác linh hồn cho Đức Giêsu khi tắt thở
(7,59). Mối quan tâm của các văn sĩ Kitô giáo sơ khai là cho
thấy mối nối kết rõ ràng giữa cái chết của Têphanô và cái cết
của Đức Giêsu.
Trong 250 năm đầu tiên của Kitô giáo, việc nên giống
với Đức Giêsu trong cái chết của Người được xem như
chứng tá tuyệt đỉnh, như sự biểu hiện cao nhất của Thánh
Thần. Thánh Inhaxiô thành Antiôkhia, bị sát hại ở Rôma, đã
xem sự ngược đãi mà người ta dành cho ngài như một cơ hội
để "phát huy hơn nữa tinh thần môn đệ". Ngài yêu cầu các
Kitôhữu ở Rôma đừng xin phóng thích ngài, để ngài có thể
"đạt được ánh sáng, ánh sáng tinh tuyền sạch tinh; vì chỉ khi
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 258
tôi tiến về phía ánh sáng ấy tôi mới đích thực là con người.
Hãy để tôi bước vào cuộc khổ nạn của Chúa"46.
34F
« Linh đạo tuẫn đạo" này đã tái xuất hiện vào thời đại
chúng ta, nhất là ở Châu Mỹ La Tinh nơi mà các Kitôhữu -
các giáo dân nam cũng như nữ , các linh mục và tu sĩ - đã bị
hành hạ và giết hại bởi vì dấn thân phục vụ cho người
nghèo4F47. Đời sống dấn thân cho công bằng của các Kitôhữu
ấy rõ ràng phản ảnh đời sống của Đức Giêsu, Đấng đã đặc
biệt yêu thương những người bị áp bức và những kẻ bị gạt ra
ngoài lề, và đã gây rúng động cho các giới hữu trách chính
trị và tôn giáo. Sự diễn tả hiện đại này của một linh đạo tuẫn
đạo nêu bật tính bất biến trong linh đạo Kitô giáo trong khi
đồng thời mở ra cho thấy những đặc điểm riêng của thời đại
chúng ta: ý thức về các cơ cấu xã hội, chính trị và kinh tế có
tính áp bức và làm mất tình người; sự chọn lựa của Kitô hữu
đứng về phía người nghèo trong cuộc đấu tranh giải phóng
của họ.
Con đường của Đức Giêsu, vì thế, là thước đo của
mọi Kitôhữu, dù mỗi người bước đi trên con đường ấy theo
những cách rất riêng của mình. Chính nơi việc đi qua cái
chết để đến Phục Sinh mà sự chết bị chế ngự.
LỚN LÊN TRONG THÁNH THẦN
Tính nghịch lý dường như vẫn còn mãi trong kiểu
thức đời sống Kitô giáo. Đời sống trong Thánh Thần vừa là
một nỗ lực vừa là ân sủng, vừa do con người vừa do Thiên
46 Thư của Inhaxiô gửi các tín hữu Rôma, trong Early Christian Writings: The
Apostolic Fathers (Great Britain: Penguin Books, 1968) 105.
47 Jon Sobrino, Linh Đạo Giải Phóng (Maryknoll, NY: Orbis Books, 1988)
chương 5. Xin xem trọn cả quyển sách để thấy một cơ sở thần học về linh đạo
này.
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 259
Chúa. Đó là một hành trình cá nhân và tập thể được thực
hiện trong cõi sâu thẳm riêng tư trong khi cũng ở trong
"hàng ngũ đông đúc các chứng nhân" (Dt 12,1). Tính tác
động và tính nhận tác động đều đóng những vai trò thiết yếu.
Các lãnh vực của thần học tu đức và thần bí cổ điển đã cố
gắng nêu ra tiêu điểm hai mặt này của đời sống tâm linh.
Đã có vô số những cố gắng mô tả các chặng đường
lớn lên trong Thánh Thần. Từ thế kỷ 15 cho đến nửa đầu thế
kỷ 20, mô tả cổ điển của đời sống thiêng liêng dựa theo các
giai đoạn thanh tẩy, đức chiếu và hiệp nhất. Trong khi phần
đông các tác giả nhấn mạnh rằng ba giai đoạn này không
hoàn toàn tách biệt nhau, thì các tác giả cũng thường trình
bày chúng một cách nối tiếp nhau. Đôi khi chúng đi song
song với quá trình phát triển thể lý và tâm lý và vì thế giống
như giai đoạn ấu thời, thiếu niên và trưởng thành thiêng
liêng48, mỗi giai đoạn được đánh dấu bởi các đặc điểm
4F5
riêng. Một cuộc khủng hoảng hay hoán cải đánh dấu sự
chuyển tiếp từ một giai đoạn sang một giai đoạn khác. Đành
rằng những nét phân biệt ấy có thể rất hữu ích, chúng cũng
đồng thời dễ gây hiểu sai lạc. Sự phát triển thể lý và tâm lý
thường không tiến theo một tiến trình đều đặn được xác lập
trước; điều này cũng đúng đối với sự trưởng thành tâm linh.
Một số phương tiện luôn luôn có giá trị trong cuộc
hành trình thăng tiến tâm linh; một số phương tiện khác chỉ
hữu ích cách riêng trong một số nền văn hóa và trong những
thời đại lịch sử nhất định. Trong số những hình thức truyền
thống đáng kể nhất là cầu nguyện, khổ hạnh và việc linh
hướng.
Cầu Nguyện
48 Reginald Garrigou-Lagrange, Ba Con Đường Đời Sống Linh Đạo (Newman
Press, 1955).
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 260
Cầu nguyện là việc tất yếu (sine qua non) của sự
trưởng thành tâm linh. Tuy nhiên, các hình thức và các diễn
tả của nó thì vô cùng đa dạng. Trong tư cách là sự diễn tả
một mối quan hệ riêng tư , chúng ta có thể nói rằng có bao
nhiêu người thì có bấy nhiêu cách cầu nguyện. Một điều
chắc chắn, việc cầu nguyện theo Thánh Kinh luôn luôn
chiếm địa vị ưu tiên trong truyền thống Kitô giáo, dù đó là
lời cầu nguyện được trích từ các Thánh Vịnh, lectio divina,
suy niệm Thánh Kinh, chiêm ngắm các khung cảnh Tin
Mừng, hay lời cầu nguyện lớn tiếng được gợi hứng từ các
Sách Thánh. Truyền thống kataphatic - tức là cầu nguyện
dựa trên các hình ảnh của Thiên Chúa, dựa trên nhân tính
của Đức Giêsu, hay dựa trên đời sống của các thánh - đã
đóng góp rất nhiều cho sự trưởng thành tâm linh của bao thế
hệ thánh nhân.
Đàng khác, Kitô giáo vẫn luôn luôn trân trọng truyền
thống apophatic (vô ngôn vô tượng), nghĩa là cầu nguyện
"phi hình ảnh". Một mô tả cổ điển của truyền thống này chắc
hẳn là Đám Mây Vô Tri trong đó tác giả nói với độc giả của
mình:
Nếu bạn từng đến với đám mây này [đám mây vô tri
giữa bạn và Thiên Chúa], sống và làm việc trong đó, như tôi
đề nghị, thì cũng như đám mây vô tri này ở giữa bạn và
Thiên Chúa, bạn cũng phải đặt một đám mây quên lãng giữa
bạn và toàn thể tạo vật .49
F46
Việc "suy niệm qui thần" (centering prayer) đã trở
thành rất quen thuộc trong thời đại chúng ta vốn là một diễn
tả có tính nhất thời của truyền thống apophatic (vô ngôn vô
tượng).
49 Đám Mây Vô Tri, dịch giả của bản Anh ngữ: Clifton Wolters (Great Britain:
Penguin Books, 1967) 58.
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 261
Đức tin, đức cậy và đức mến của các Kitôhữu vẫn
được di dưỡng bởi cầu nguyện, dù là cầu nguyện bằng
những công thức lặp đi lặp lại hay bằng những đỉnh cao thần
hiệp khôn tả. Cách riêng, kinh nguyện phụng vụ là một nơi
ưu tiên ở đó cộng đoàn phụng tự hiện diện với Đấng-Thiên-
Chúa-siêu-việt-ở-cùng-chúng-ta.
Khổ Hạnh
Người ta có thể mô tả hành trình tâm linh như một
hành trình đi từ qui ngã đến hướng tha. Nỗ lực chuyển từ
bản thân mình đến Thiên Chúa và người khác là trọng tâm
của khổ hạnh Kitô giáo. Một lần nữa ở đây ta thấy tính
nghịch lý đánh dấu sự lớn lên trong Thánh Thần. Trong khi
một đàng, sự thánh thiện liên quan đến việc trở thành chính
con người đích thực của mình, thì theo một nghĩa khác, sự
thánh thiện đòi hỏi một "từ bỏ" triệt để bản ngã (cf. Lc 9,23).
Có thể nói rằng người ta không thể "bỏ mình" cho đến khi
người ta chiếm hữu được mình; chỉ sau khi gặp được cái lõi
đích thực của mình người ta mới có thể "ly tâm" - là một
phần của toàn bộ quá trình trưởng thành Kitô giáo.
Các hình thức khổ hạnh thay đổi từ thời này qua thời
khác, từ nền văn hóa này sang nền văn hóa khác, từ người
này sang người khác. Chẳng hạn trước đây người ta không
thể hình dung rằng "sự ô nhiễm tiếng ồn" có thể là một
nguồn để thực hành khổ hạnh. Thế nhưng thực tế là các
Kitôhữu tại các đô thị xô bồ ngày nay thường bị thách đố tạo
lập cho mình những khoảng không gian tĩnh lặng bên trong -
và bên ngoài - giữa những xe cộ phóng ào ào, những máy
móc gầm rú, và những tiếng máy bay đinh tai nhức óc. Ngay
cả Thomas Merton trong tu viện của mình cũng có thể phàn
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 262
nàn rằng "máy móc thật ồn ào, nó làm ta muốn điên lên, thật
là bực bội,"50 và ông nhìn nhận:
F74
Tôi rất vui lòng đón nhận thánh giá ấy - tức tiếng gầm
rú liên hồi đinh tai nhức óc tại nơi làm việc, vv... nhưng nói
cho cùng những tiếng ồn ấy dễ làm người ta hóa điên, ngay
cả khi người ta đã chấp nhận chúng51.
8F4
Và chắc chắn những chiếc áo nhặm sần sùi và những
dây xích sắt vốn rất có ý nghĩa khổ hạnh một thời trước đây
là điều mà ngày nay các Kitôhữu sẽ cho là kỳ cục, không thể
tưởng tượng nổi.
Việc giữ chay đã là một hình thức khổ hạnh lâu đời.
thực hành này rất phổ biến trong Do Thái giáo như một dấu
hiệu sám hối, và nó thường được kèm theo việc cầu nguyện
của dân chúng. Chẳng hạn, vua Đavít diễn tả lời cầu nguyện
xin Thiên Chúa cứu con mình khỏi chết bằng cách giữ chay
(cf. Sm 12,12tt). Trong cộng đoàn Kitô giáo, chay tịnh được
trao cho một ý nghĩa mới. Các môn đệ Đức Giêsu bị dòm
ngó vì không giữ chay như các môn đệ của Gioan. Đức
Giêsu dạy các môn đệ giữ chay một cách kín đáo (cf. Mt
6,16-18). Trong Giáo Hội sơ khai, việc chay tịnh đi kèm
theo việc cầu nguyện của cộng đoàn trước khi họ chọn lựa
nhân sự cho những sứ vụ nào đó (Cv 13,2-3; 14,23) cũng
như khi gặp khủng hoảng (cf. Cv 27).
Trong giòng lịch sử Kitô giáo, chay tịnh đã đạt được
một chiều kích khổ hạnh rõ nét xét như một cách biểu lộ
"trong xác thịt" quyết tâm "từ bỏ chính mình". Trong một
thế giới mất quân bình về việc phân phối thực phẩm, chay
50 Thư gửi Dom Gregorio Lemercier, O.S.B., trong The School of Charity:
The Letters of Thomas Merton on Religious Renewal and Spiritual Direction
(NY: Farrar, Strauss and Giroux, 1990) 69.
51 Thư gửi Dom Gabriel Sortais trong The School of Charity: The Letters of
Thomas Merton on Religious Renewal and Spiritual Direction (NY: Farrar,
Strauss and Giroux, 1990) 63.
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 263
tịnh cũng trở thành một cách cho những người không thiếu
lương thực diễn tả mối liên đới với những người nghèo đói
trên thế giới. Việc chay tịnh công khai và kéo dài (tuyệt
thực) đã được sử dụng như một khí cụ để phản kháng một số
bất công nào đó. Sâu xa hơn cả, chay tịnh cho phép người ta
kinh nghiệm và diễn tả trong xác thịt khát vọng thâm sâu
của con người đối với Thiên Chúa: "Như nai rừng khát
nguồn nước trong, linh hồn con cũng khát mong Ngài, Lạy
Chúa" (Tv 42,1).
Các khả năng của những hình thức khổ hạnh phù hợp
với thế giới ngày nay thì vô số kể. Trung thành và bền vững
trong các mối quan hệ; sống một cuộc sống lành mạnh và kỷ
luật; chọn lựa một cách đầy ý thức trong các vấn đề liên
quan với lãnh vực truyền thông; kiên tâm hoạt động cho
công bình xã hội; sử dụng các phương tiện một cách có ý
thức đến những vấn đề toàn cầu - những chọn lựa này và
nhiều chọn lựa khác có thể là một nguồn thực hành khổ hạnh
cho con người hiện đại.
Linh Hướng
Từ buổi ban đầu Kitô giáo, nguồn hướng dẫn chính
yếu của các linh hồn rõ ràng là Thánh Thần của Đức Kitô
được trao ban cho toàn thể cộng đoàn Giáo Hội. Việc linh
hướng riêng tư dường như không đảm nhận vai trò trong
Kitô giáo (những vai trò đôi khi được ghi nhận trong các
truyền thống tôn giáo khác). Chính trong truyền thống đan tu
mà vai trò của vị linh hướng đã trở thành cốt yếu. Thật vậy,
vị tu viện trưởng (nam hay nữ) rất thường được xem như là
"cha hay mẹ thiêng liêng, đưa ra sự hướng dẫn bằng lời nói
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 264
và bằng gương sáng sống một đời sống nhất quán và hoàn
toàn cởi mở đón nhận Thiên Chúa."52
49F
Trong thời đại chúng ta, các Kitôhữu tiếp tục tìm
kiếm sự linh hướng để làm sáng tỏ hơn ơn gọi của họ trong
cuộc đời và cách thế sống ơn gọi đó; để tìm kiếm sự hiểu
biết nhiều hơn; để đạt được mối quan hệ đích thực với Thiên
Chúa trong cầu nguyện. Chia sẻ với một người khác, với
một "người bạn thiêng liêng" khôn ngoan trong các đường
lối của Chúa, đó là một phương thế rất hiệu lực để đạt được
những mục đích này. Bên cạnh đó còn có những phương
tiện linh hướng khác nữa trong thời đại chúng ta như đọc
sách, thảo luận, nhóm hồi tâm chia sẻ, vv...
MỘT SỐ VẤN ĐỀ HIỆN NAY TRONG KHOA LINH
ĐẠO
Người sinh viên học khoa linh đạo ngày nay, cũng
như bất cứ người Kitôhữu nghiêm túc nào, đều phải đối diện
với một số vấn đề được đặt ra một cách mới mẻ trong thời
đại chúng ta. Đáng kể nhất là bốn vấn đề sau đây: linh đạo
giáo dân, công bằng và ưu tiên chọn lựa người nghèo; nữ
quyền; mối quan hệ giữa văn hóa và linh đạo. Trong khi
không thể khảo sát những vấn đề này một cách toàn triệt
trong giới hạn của tập sách này, chúng ta vẫn có thể đưa ra
một số điểm ghi nhận để khuyến khích sự nghiên cứu thêm.
Linh Đạo Giáo Dân
52 Gabriel O'Donnell, O.P., "Monastic Life and the Search for God" trong
Robin Maas và Gabriel O'Donnell, O.P., Spiritual Traditions for the
Contemporary Church (Nashville: Abingdon Press, 1990) 58.
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 265
Trong khi Kitô giáo Tin Lành vẫn luôn luôn tập chú
vào sự thánh thiện và vai trò của những người giáo dân, thì
mãi cho đến Công Đồng Vatican II mẫu thức và phương tiện
trưởng thành thiêng liêng trong Công Giáo Rôma đã được
chủ yếu rút ra từ lối sống tu trì và đời sống của các giáo sĩ.
Thật vậy, Giáo Hội được hiểu như được hình thành bởi hai
nhóm: nhóm được cai quản và nhóm cai quản, tức là nhóm
giáo sĩ và nhóm phi giáo sĩ. Các Kitôhữu giáo dân là những
người được cai quản, những người được dạy bảo, những
người "cần được thánh hóa".
Việc thoát khỏi đời, gắn liền với cuộc sống độc thân,
được xem là lý tưởng của đời sống tâm linh, vì thế tính
thánh thiện của đời sống hằng ngày và cách riêng của hôn
nhân bị coi nhẹ. Mặc dù các mẫu gương thánh thiện của
người giáo dân không hề vắng mặt trong lịch sử Kitô giáo,
nhưng con số ấy thật ít ỏi và không phản ảnh tương xứng
con số đông đảo những con người nam nữ đã nên thánh
trong cuộc sống giáo dân qua các thế kỷ.
Ngay từ thế kỷ 16, Thánh Phan-xi-cô Salê đã xây
dựng nền tảng cho linh đạo giáo dân trong quyển Dẫn Vào
Đời Đạo Hạnh của ngài, một quyển sách được viết cách
riêng cho những người giáo dân. Nhưng các căn bản giáo
thuyết cho sự phát triển đầy đủ của linh đạo giáo dân chỉ
được đặt ra vào năm 1964 với sự ban hành Hiến Chế Lumen
Gentium của Công Đồng Vatican II. Công Đồng cảm thấy
cần lặp lại lời mời gọi nên thánh đối với toàn thể Giáo Hội:
"... tất cả các tín hữu Kitô thuộc bất cứ bậc sống nào đều
được mời gọi tiến tới sự sung mãn của đời sống Kitôhữu và
tiến tới đức ái trọn hảo" (LG 40).
Hai mươi lăm năm trôi qua kể từ Công Đồng, ngày
càng có sự phát triển hơn trong nhận thức rằng người giáo
dân, "dù trong hoàn cảnh sống nào, trong nhiệm vụ nào,
cũng phải lớn lên trong sự thánh thiện hằng ngày xuyên qua
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 266
chính các hoàn cảnh của mình" (LG 41). Và mới đây,
Thượng Hội Đồng Giám Mục về Giáo Dân, được tổ chức tại
Rôma năm 1987, những người giáo dân hiện diện đã có thể
một lần nữa nói lên nhu cầu phải có một linh đạo được xác
định rõ ràng trong đó có nhận ra tầm quan trọng của đời
sống gia đình , xã hội, chính trị và kinh tế, ... vốn đặc trưng
của người giáo dân.
Công Bằng Xã Hội Và Sự Ưu Tiên
Chọn Lựa Người Nghèo
« Người nghèo luôn có mặt với anh em" (Mt 26,11;
Mc 14,7; Ga 12,8). Dù người nghèo vẫn có mặt nơi mỗi thế
hệ và nơi mọi xã hội, vẫn có những đặc trưng trong thời đại
chúng ta dẫn chúng ta tới chỗ nhận ra "khoảng cách ngày
càng tăng giữa người giàu và người nghèo như một xì căng
đan và một nghịch chướng đối với sự hiện hữu của Kitô
giáo."53. Không chỉ nhìn thấy tình cảnh của người nghèo
5F0
xuất hiện trên màn ảnh truyền hình của thế giới, mà các
Kitôhữu ngày nay cũng khám phá rằng các tình hình và các
cơ cấu kinh tế, xã hội, và chính trị đóng một vai trò trong
việc tạo ra sự nghèo khổ dai dẳng này.
Bối cảnh trong đó người Kitôhữu nhìn thấy chính
mình hôm nay là một bối cảnh phải bao gồm thực tại nghèo
và người nghèo. Kitô giáo vẫn luôn luôn là một thách đố
người ta trong việc sử dụng các phương tiện vật chất và
trong bổn phận chia sẻ với những anh chị em thiếu thốn (cf.
Mt 19,21; Cv 5,1-11). Ngày nay nhiều Kitôhữu tiếp tục chia
53 "Loan Báo Tin Mừng tại Châu Mỹ La Tinh Hôm Nay và Tuơng Lai: Tài
Liệu Đúc Kết của Hội Nghị Lần Thứ 3 Các Giám Mục Châu Mỹ La Tinh".
(Puebla de Los Angeles, Mexico, 27 tháng 1 - 13 tháng 2, 1979). John
Eagleson and Philip Scharper, ed., Puebla and Beyond, (Maryknoll, NY: Orbis
Books, 1979) 128.
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 267
sẻ tiền bạc, của cải, thời giờ của họ với những người cần
đến. Nhiều người khác cống hiến năng lực và cuộc đời mình
để thay đổi những cơ cấu gây ra sự nghèo khổ. Nhiều người
khác nữa vẫn đảm nhận lối sống khổ chế và đưa những
người nghèo trên thế giới vào trong lời cầu nguyện của
mình.
Năm 1980 đã chứng kiến cái chết của Dorothy Day,
một phụ nữ Mỹ nghèo đã cống hiến cả đời mình cho người
nghèo. Khi chị suy niệm về cuộc đời Chúa Giêsu, cái nghèo
của Chúa Giêsu và tấm lòng trắc ẩn của Người đã khiến chị
cảm kích và đã trở thành mẫu gương cho cuộc sống của chị.
Chị viết:
Chúng tôi cảm thấy một niềm kính trọng đối với
những người nghèo và những người túng thiếu, vì họ là
những người gần gũi nhất với Thiên Chúa, những người
được Chúa Kitô ưu ái đặc biệt... Chúa Kitô đã nêu gương
cho chúng tôi, và chúng tôi ước ao đi đến với những người
nghèo túng, bần cùng. Người nghèo túng là những người
sống cuộc sống vất vả, thiếu thốn nhiều thứ; người bần cùng
là những người không có một thứ gì cả, cần chúng tôi cho
cơm ăn áo mặc. Tội lỗi, bệnh tật, chết chóc là phần lớn nỗi
thống khổ của con người. Nhưng ngoài ra, chúng tôi cũng
cảm thấy rằng Đức Kitô muốn chúng tôi lên tiếng nói trước
những bất công...54
5F1
Cùng với Peter Maurin, Dorothy Day đã sáng lập tờ
báo The Catholic Worker (Lao Động Công Giáo), trong đó
chị phụ trách một chuyên mục hằng tuần. Chị cũng mở
những mái ấm cho người nghèo và những người vô gia cư.
Qua những công việc này, Dorothy Day đã sống một linh
đạo tập trung vào sự khó nghèo của Chúa Giêsu, một linh
54 The Long Loneliness: The Autobiography of Dorothy Day (San Francisco:
Harper & Row, 1981) 204-05
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 268
đạo tự diễn tả chính nó nơi những công việc phục vụ người
nghèo.
Nữ Quyền
Trong tư cách là những hình ảnh của Thiên Chúa,
người nam và người nữ bình đẳng với nhau - nhận thức ấy
ngày nay, cùng với ý thức rằng người phụ nữ và ký ức của
họ đã bị gạt ra rìa lịch sử, đã dẫn tới rất nhiều biểu hiện khác
nhau của một "linh đạo nữ quyền" hay "linh đạo phụ nữ".
Linh đạo đặt nền trên kinh nghiệm, và nhiều người ngày nay
nhận ra rằng kinh nghiệm của phụ nữ đã bị coi thường trong
quá khứ và thường vần tiếp tục bị coi thường trong hiện tại.
Người ta khám phá ra điều này ngay cả nơi một nhà thần bí
như Têrêsa Avila, người đôi khi đã cho rằng mình gặp khó
khăn trong việc diễn tả chính mình chỉ vì sự kiện rằng mình
là một phụ nữ.
Trong khi có nhiều khía cạnh trong linh đạo phụ nữ -
từ "việc tái thiết thần học về các nguồn gốc Kitô giáo" cho
đến việc phê bình các mẫu thức của khoa tâm lý hiện nay về
phát triển - vấn đề về các hình ảnh của Thiên Chúa vẫn còn
là vấn đề cốt lõi. Ngôn ngữ không chỉ có sức diễn tả tư
tưởng mà còn có sức hình thành tư tưởng nữa. Việc sử dụng
các đại danh từ và các hình ảnh giống đực cách độc chiếm
về Thiên Chúa đã dẫn các Giáo Hội Kitô tới chỗ đánh mất
dấu vết của truyền thống phong phú về các hình ảnh giống
cái về Thiên Chúa. Truyền thống này đang dần dần được
khám phá lại trong thời đại chúng ta hôm nay.
Thần học Kitô giáo vẫn luôn luôn chủ trương rằng tất
cả những gì có thể được nói về Thiên Chúa đều được nói
qua loại suy. Các hình ảnh nói với chúng ta điều gì đó về
Thiên Chúa, song không có hình ảnh nào tương ứng hay trọn
vẹn. "Chúa là Đá Tảng của con" - câu nói ấy có thể nói lên
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 269
một điều gì đó về lòng trung thành và tính chất đáng tin cậy
trước sau như một của Thiên Chúa, nhưng chắc chắn Thiên
Chúa không thể bị cào bằng với một tảng đá! Cả Thánh
Kinh của Do Thái lẫn của Kitô giáo đều chứa đầy những
hình ảnh về Thiên Chúa: một chiến binh, một nhà lãnh đạo
dân, một vị vua, một người mẹ, một cánh chim phượng
hoàng, một sư tử, một phụ nữ đang sinh con. Không có hình
ảnh nào tương thích hơn hình ảnh nào.
Vào thế kỷ 14, Julian Norwich đã không ngần ngại sử
dụng các hình ảnh giống cái. Bà nói đến tình mẫu tử của
Thiên Chúa được thể hiện nơi Đức Giêsu. Thiên Chúa, Đấng
Tạo Hóa, là "Mẹ chúng ta trong tự nhiên và trong ân sủng",
mọi công việc Ngài làm đều "phản ảnh lòng từ mẫu... Sự
sống của chúng ta đặt điểm tựa nơi Đức Giêsu, Người Mẹ
đích thực của chúng ta..." Đối với Julian, "tình mẫu tử có
nghĩa là tình yêu thương và nhân hậu, khôn ngoan, hiểu biết,
tốt lành."55
52F
Linh đạo ngày nay bị thách đố tháp nhập kinh nghiệm
của phụ nữ về Thiên Chúa, về chính họ và về thế giới. Việc
sử dụng những hình ảnh giống cái về Thiên Chúa - vốn chưa
chiếm chỗ trọng yếu trong truyền thống Kitô giáo - là một
bước tiến tới mục tiêu này.
Văn Hóa
Một trong những câu hỏi mà các sinh viên khoa linh
đạo phải nêu ra trong tương lai là mối quan hệ giữa linh đạo
và văn hóa. "Văn hóa" ở đây qui chiếu đến di sản của mỗi
cộng đồng con người được hình thành bởi các tập tục, các
55 Norwich, Revelation, 170.
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 270
mô hình tổ chức của mình và các hoàn cảnh sống của mình.
Hiến Chế Giáo Hội Trong Thế Giới Ngày Nay (Gaudium et
spes) của Công Đồng Vatican II đặt sự phát triển văn hóa
trong số những vấn đề đặc biệt khẩn cấp mà Giáo Hội đang
đối diện.
Văn kiện nói trên của Công Đồng đã mô tả như một
nét văn hóa sự kiện rằng "qua giòng thời gian, nhân loại diễn
tả, thông truyền và bảo tồn trong các công trình của mình
những kinh nghiệm tinh thần và hoài bão lớn lao của các
thời đại, để giúp cho nhiều người và toàn thể nhân lọai tiến
bộ hơn" (GS 53). Tuy nhiên, có một mối quan hệ hỗ tương
giữa linh đạo và văn hóa. Không chỉ kinh nghiệm tâm linh
được diễn tả và được bảo tồn mà kinh nghiệm ấy còn nhận
ảnh hưởng sâu sắc từ một nền văn hóa riêng. Các hình ảnh
về Thiên Chúa của các nhà thần bí vĩ đại thế kỷ 16 đã được
định hình trong một thế giới của các vua chúa Công Giáo,
của sự chính phạt thế giới, của sự xuất hiện của đạo Tin
Lành. Thế giới tâm linh của các Kitôhữu Phi Châu ngày nay
có tồn tại "vô số chứng nhân", các bậc tổ tiên đã chết và tiếp
tục hiện diện một cách thực sự và sống động. Và chắc chắn
thế giới quan của các Kitôhữu thổ dân Mỹ là một thế giới
quan trong đó các chân trời của nó rộng mênh mông như
chính vũ trụ.
Biến cố Xuất Hành trong Thánh Kinh có một chỗ
đứng trọng yếu trong rất nhiều thần học giải phóng ngày nay
và là yếu tố nổi bật trong việc hình thành cái có thể gọi là
"các linh đạo giải phóng". Nơi những Kitôhữu người Mỹ
gốc Phi Châu ở Hoa Kỳ, và gần đây hơn, tại Giáo Hội Mỹ
La Tinh, cuộc giải phóng dân Chúa khỏi Ai Cập đã trở thành
một chìa khóa cho việc diễn dịch cái kinh nghiệm về tình
trạng bị áp bức dai dẳng. Các hình ảnh Thánh Kinh đã cung
cấp một phương tiện để diễn tả và để hy vọng; hoàn cảnh
lịch sử của những dân tộc này đã đem lại cho họ một sự
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 271
nhạy cảm đặc biệt đối với các bản văn Thánh Kinh ấy và
qua đó đã hình thành nơi họ những hình ảnh sâu sắc nhất
thuộc tâm linh.
Ở Mỹ, chúng ta có thể tự hỏi sự kiện rất nhiều những
nền văn hóa khác nhau qui tụ nơi chúng ta ảnh hưởng đến
thế giới quan của chúng ta như thế nào, ảnh hưởng đến hình
ảnh của chúng ta về Thiên Chúa và về chính mình như thế
nào? Và những hình ảnh ấy biểu hiện trong cuộc sống cụ thể
của chúng ta như thế nào?
KẾT LUẬN
Trong tư cách là một môn học đang phát triển, linh
đạo Kitô giáo đang thu hút mối quan tâm chủ yếu của công
cuộc thần học. Dựa vào các môn học khác nhau, nó tìm cách
trình bày kinh nghiệm đức tin của các môn đệ Đức Giêsu và
diễn tả kinh nghiệm ấy trong đời sống.
Đời sống và sự thánh thiện Kitô giáo luôn luôn tựa
vào khuôn mẫu là Đức Giêsu. Xuyên qua lịch sử hai ngàn
năm nay, cuộc đời và giáo huấn của Đức Giêsu đã được
nhận hiểu và sống bằng nhiều cách thế khác nhau. Con số
đông đảo các thánh, các nhà thần bí, và các "tín hữu thường
dân" cung cấp một bức tranh phong phú cho thế hệ chúng ta
chiêm ngưỡng và khám phá. Sự chiêm ngưỡng và khám phá
này là một công tác của việc nghiên cứu linh đạo ngày nay.
Đối với các sinh viên học khoa linh đạo ở Mỹ vào
thời điểm sắp bước vào thiên niên kỷ thứ ba, có những công
việc đặc thù có thể được đúc kết qua hình thức những câu
hỏi sau đây: "Linh đạo" có nghĩa gì cho tôi, cho chúng ta?
Nền văn hóa Mỹ của chúng ta cung cấp những tia sáng hay
điểm mạnh đặc thù nào cho chúng ta trong công cuộc tìm
kiếm và thể hiện tinh thần môn đệ cách trung thành? Đâu là
những thách đố cho nền văn hóa và cho thế giới quan của
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 272
chúng ta? Thế hệ của những người chứng kiến những cuộc
giết người hàng loạt và sống dưới sự đe dọa hủy diệt của vũ
khí hạt nhân sẽ cầu nguyện như thế nào với Thiên Chúa,
Đấng đã hứa sẽ luôn luôn hiện diện? Sự nhận hiểu của
chúng ta về Thiên Chúa được thách đố và được làm phong
phú như thế nào bởi các tia sáng của phong trào nữ quyền và
bởi các truyền thống văn hóa khác nhau? Có chăng một
"linh đạo Mỹ"? Truyền thống linh đạo phong phú của Kitô
giáo có thể được nhận hiểu như thế nào để cho quá khứ có
thể thật sự trở thành một nguồn năng lực sáng tạo cho đời
sống linh đạo của các Kitôhữu hôm nay? Và vô số câu hỏi
khác nữa - mỗi câu hỏi đề là một âm vọng lại câu hỏi của
Đức Giêsu đặt ra cho các môn đệ: "Người ta bảo Thầy là
ai?... Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?" (Mc 8,27.29)
CÂU HỎI GIÚP TÌM HIỂU
1. Các kinh nghiệm và các động lực sống của một
người liên hệ thế nào với linh đạo của đương sự?
2. Đâu là một số phương tiện giúp cho sự trưởng
thành thiêng liêng của một người?
3. Trong xã hội và thời đại chúng ta, chay tịnh có thể
được hiểu theo những ý nghĩa nào?
4. "Ý thức nữ quyền" hiện đại tác động đến linh đạo
ngày nay theo những chiều hướng nào? Việc "ưu tiên chọn
lựa người nghèo" ảnh hưởng thế nào đến linh đạo của người
ta?
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 273
Chương 10: CÁC VẤN ĐỀ TRONG
GIÁO HỘI NGÀY NAY
Marie Anne Mayeski
Khi Đức Gioan XXIII công bố vào ngày 25 tháng 1,
1959 ý định của ngài muốn triệu tập một Công Đồng chung,
phản ứng của người ta vừa tức thì vừa đa dạng. Các thành
viên của giáo triều Rôma, tức bộ máy quan liêu của Giáo
Hội, bày tỏ nỗi hoang mang lo lắng. Sau đó, vị giáo hoàng
này mô tả cho thế giới về chuyện các quan chức của giáo
triều - mà ngài gọi là "các tiên tri của tai ương" - đã cố gắng
can ngăn ý định của ngài như thế nào. Các quan chức ấy
cũng cố ý phớt lơ lời tuyên bố trên kia của giáo hoàng, hy
vọng rằng dưới áp lực của các công việc đầy ứ hằng ngày,
giáo hoàng sẽ quên mất cái ý tưởng về một Công Đồng ấy.
Nhưng giáo hoàng đã không hề quên. Tiến trình chuẩn bị
cho Công Đồng đã diễn tiến một cách bất khả kháng, và dần
dần các nhà thần học Công Giáo bên ngoài Rôma đã bắt đầu
nhận ra nhiệt tâm của giáo hoàng. Cuối cùng, cả các nhà
thần học Tin Lành cũng vượt qua những nghi nan ban đầu
và bày tỏ niềm lạc quan đối với các khả năng mà một Công
Đồng như thế có thể mở ra. Tuy nhiên, không ai có thể nhìn
thấy trước các kết quả sâu rộng mà Công Đồng sẽ đạt được,
cả cho Giáo Hội Công Giáo lẫn cho thế giới Kitô giáo nói
chung.
Nhiều ủy ban soạn thảo được thiết lập vào tháng 6,
1960 và Công Đồng họp kỳ đầu tiên tại Đền Thờ Thánh
Phêrô vào ngày 11 tháng 10, 1962. Đức giáo hoàng khai
mạc kỳ họp đầu tiên với một tuyên bố rõ ràng về các ý định
của ngài: Công Đồng sẽ thiết yếu có tính mục vụ và nhắm
đến mục tiêu cao nhất là thăng tiến mối hiệp nhất của toàn
thể nhân lọai. Nhưng để đạt được hoài bão này, mọi Kitôhữu
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 274
trước hết phải bắt đầu với việc dàn xếp lại "chuyện trong
nhà" mình. Vì thế Công Đồng phải quan tâm đến việc canh
tân nội bộ Giáo Hội Công Giáo và thúc đẩy Giáo Hội dấn
thân tìm kiếm sự hiệp nhất các Kitôhữu. Rõ ràng, mặc dù
Giáo Hoàng Gioan XXIII lên chương trình nghị sự và phác
họa các chân trời cho Công Đồng, thì chính Công Đồng, với
những chủ đề và phương pháp nó vận dụng, đã khai mào cho
những phát triển thần học tiếp theo sau.
GIA SẢN CỦA CÔNG ĐỒNG:
CÁC NGUYÊN TẮC THẦN HỌC
Công việc của Công Đồng thật phức tạp và đa dạng.
Dù vậy, có thể tổng hợp một số nguyên tắc thần học nằm
đằng sau tất cả các thành tựu của Công Đồng. Không có
tham vọng khảo sát toàn triệt vấn đề, ở đây chỉ xin nêu ra 3
trong số các nguyên tắc vốn đã trở thành có tầm quan trọng
nổi bật nhất trong thần học Công Giáo hậu Công Đồng.
Thánh Kinh Là Nền Tảng Của Mọi Thần Học
Tính cốt lõi của Thánh Kinh, được diễn dịch trong
khung cảnh Giáo Hội, là nền tảng cho mọi bản văn được đưa
ra bởi Công Đồng. Nhưng các thành viên của Công Đồng
cũng đưa ra sự chỉ dẫn rõ ràng cho sự nhận hiểu của Giáo
Hội về mạc khải Thánh Kinh trong Hiến Chế Tín Lý về Mạc
Khải (Dei Verbum), được công bố ngày 18 tháng 11, năm
1965. Trong văn kiện này, các nghị phụ Công Đồng chấp
nhận một cách nhận hiểu mạc khải như sự tự thông truyền
của mầu nhiệm Thiên Chúa trong lịch sử. Các ngài nhìn
nhận đặc tính chuẩn mực của Thánh Kinh đối với cả đời
sống lẫn thần học của Giáo Hội và nhận thức vai trò của các
tín hữu trong việc giải thích và áp dụng Lời Chúa vào cuộc
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 275
sống của cộng đoàn đức tin. Văn kiện này nhìn nhận tầm
quan trọng của việc sử dụng các phương pháp phê bình hiện
đại của khoa chú giải trong việc giải thích các bản văn.
Qua việc nhấn mạnh đến bản chất và tầm quan trọng
của mạc khải Thánh Kinh, các nghị phụ Công Đồng nhắc
cho Giáo Hội rằng chính mầu nhiệm Thiên Chúa, một mầu
nhiệm có tính liên ngã vị và cộng thông, là trọng tâm của
thần học. Nói về mầu nhiệm này là nói thứ ngôn ngữ của
biểu tượng và kinh nghiệm. Chúng ta nhận ra nhận thức này
trong Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội (Lumen Gentium). Hai
chương đầu của văn kiện, mang tựa đề "Mầu Nhiệm Giáo
Hội" và "Dân Thiên Chúa" thoát ra khỏi những bàn luận
pháp lý (vốn là đặc nét của khoa Giáo Hội học trước đây) và
chứa đầy những hình ảnh Thánh Kinh cũng như những ngôn
ngữ nói về mối tương quan ngã vị. Việc Công Đồng bám
chặt vào trọng tâm Thánh Kinh có nghĩa rằng tất cả các mối
quan tâm thần học hiện đại phải bắt đầu với việc nghiên cứu
các bản văn Thánh Kinh. Công việc nghiên cứu này là trách
nhiệm và là quyền lợi của toàn Giáo Hội.
Lịch Sử Xét Như Một Phạm Trù Thần Học
Mạc khải là một biến cố có tính ngã vị, được tường
thuật trong các bản văn phản ảnh một lịch sử và một nền văn
hóa đặc thù - sự nhìn nhận ấy của Công Đồng đã hậu thuẫn
cho tầm quan trọng ngày càng tăng của lịch sử xét như điều
kiện của mọi nhận hiểu thần học. Một đàng, điều này có
nghĩa rằng mọi khía cạnh của đức tin Kitô giáo (các bản văn,
nhất là các định thức tín lý, vv...) chỉ có thể được hiểu đúng
đắn trong bối cảnh lịch sử trong đó chúng được hình thành.
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 276
Đàng khác, nó cũng có nghĩa rằng các biến cố của lịch sử tự
trong bản chất của chúng có ý nghĩa thần học, có khả năng
mạc khải Thiên Chúa là Đấng không ngừng hành động trong
lịch sử và trong cộng đồng nhân loại luôn luôn đối thoại với
Ngài. Mặc dù không có bản văn nào của Công Đồng nói về
tầm quan trọng của lịch sử, việc suy tư về lịch sử được gặp
thấy nơi mọi bản văn. Văn kiện về mạc khải thần linh khẳng
quyết rằng việc Thiên Chúa tự biểu lộ cho dân Ngài diễn ra
trong thời gian và trong những điều kiện nhất định của lịch
sử. Hiến Chế về Giáo Hội mô tả Dân Thiên Chúa như là một
"dân hành hương" nhận hiểu - một cách từ từ và chỉ trong
những mức không hoàn hảo - về Đấng Tạo Hóa và Đấng
Cứu Độ của mình.
Không một khoảnh khắc thời gian nào, không một cơ
cấu đặc thù nào, thậm chí không một tuyên bố tín lý nào
nắm bắt được hoàn toàn mầu nhiệm Thiên Chúa. Thánh
Thần của Thiên Chúa không bao giờ ngừng tác động nơi tất
cả mọi khuôn khổ và mọi cơ chế của con người. sự nhìn
nhận này đã đem lại một thái độ khiêm tốn lành mạnh cho
tất cả các hoạt động thần học tiếp theo sau Công Đồng và đã
tạo ra được sự cởi mở chưa từng có đối với sự thật và ân
sủng được bảo tồn trong các truyền thống Kitô giáo khác.
Nó đòi hỏi các nhà thần học không chỉ suy tư về các bản văn
Thánh Kinh (vốn là điều có tính nền tảng) nhưng còn phải
xem xét các biến cố lịch sử soi chiếu cho Giáo Hội trong cố
gắng thiết chế một cách nhận hiểu đúng đắn hơn đối với
mầu nhiệm ấy.
Cởi Mở Với Tri Thức Và Văn Hóa
Của Thế Giới
Ngay từ đầu, Đức Gioan XXIII đã mong muốn rằng
Công Đồng phải nhằm phục vụ cho thế giới. Trong bài diễn
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 277
văn khai mạc, giáo hoàng đã công bố rằng "trong trật tự hiện
tại của mọi sự, sự quan phòng của Thiên Chúa đang đưa dẫn
chúng ta đến với một trật tự mới của các mối quan hệ con
người - trật tự này, nhờ chính những nỗ lực của con người
và thậm chí vượt quá những kỳ vọng của họ, được định
hướng tiến tới sự hoàn thành các kế hoạch tối thượng và
khôn dò của Thiên Chúa." Nếu mầu nhiệm của Thiên Chúa
là cốt lõi của thần học, thì toàn thể cộng đồng con người sẽ
là chân trời tựa vào đó công cuộc thần học phải được thực
hiện. Trong tiến trình này, các nghị phụ Công Đồng lần đầu
tiên đã nhận thấy rõ rằng Giáo Hội không chỉ có cái gì đó để
trao ban cho thế giới mà còn có nhiều thứ phải học hỏi nơi
thế giới nữa.
Nhận thức nói trên được diễn tả tốt nhất trong hai văn
kiện được ban hành vào thời điểm kết thúc Công Đồng,
ngày 7 tháng 12, 1965; đó là Hiến Chế Mục Vụ về Giáo Hội
Trong Thế Giới Ngày Nay (Gaudium et spes) và Sắc Lệnh
về Tự Do Tôn Giáo (Dignitatis Humanae). Trong Gaudium
et spes, nguyên cả một chương đã được dành để nói về việc
nhận hiểu đúng đắn văn hóa nhân lọai. Các nghị phụ Công
Đồng đã không ngần ngại nói rằng các căng thẳng không
tránh được giữa văn hóa và đức tin tôn giáo có thể "thúc đẩy
tâm trí người ta đạt tới một sự nắm hiểu chính xác và sâu sắc
hơn về đức tin." (GS 62). Sự trân trọng này đối với giá trị và
những thách đố của văn hóa con người có lẽ đã - hơn bất cứ
gì khác - giúp khơi lên những vấn nạn mới về thần học và và
giúp điều hợp lại những vấn nạn cũ. Người Công Giáo đã
kinh nghiệm điều này một cách thực tiễn trong các thánh
đường của mình, nơi mà phụng vụ được cử hành bằng tiếng
địa phương với sự tháp nhập âm nhạc, vũ điệu và các biểu
tượng dân tộc vào trong phụng tự.
Các nhà thần học cũng bị thách đố. Công Đồng quyết
định rằng một phần thiết yếu của sứ mạng Kitô giáo là thăng
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 278
tiến công bằng trên thế giới. Những câu đầu tiên của Hiến
Chế về Giáo Hội Trong Thế Giới Hôm Nay rõ ràng là một
bài sai thúc đẩy mọi Kitôhữu, cách riêng các nhà thần học,
quan tâm đến mọi nhu cầu và mọi ơn lộc của con người:
"Vui mừng và hy vọng, ưu phiền và lo lắng của con người
ngày nay, nhất là của những người nghèo và đau khổ, cũng
là vui mừng và hy vọng, ưu phiền và lo lắng của các môn đệ
Chúa Kitô, và không có gì thực sự là của con người mà lại
không gieo âm hưởng trong lòng họ." Chung qui điều đó có
nghĩa là thần học phải được canh tân và được đo lường bởi
sự dấn thân cho công bằng xã hội. Công Đồng xác định rằng
mọi ngành tri thức của con người phải được trân trọng và
được khám phá lại về khả năng của chúng trong việc soi
chiếu chân lý thần linh. Ở đây bật lên những câu hỏi quan
trọng về phương pháp luận: Nhận thức thần học của chúng
ta về mầu nhiệm được mạc khải nhận được ích lợi như thế
nào từ kho tri thức sâu rộng của cộng đồng nhân lọai? Cách
hiểu biết của chúng ta về chân lý tôn giáo giống hay khác
như thế nào so với các tri thức nhân loại khác?
Tự bản thân Công Đồng Vatican II vốn có tính đa
dạng về văn hóa hơn bất cứ cuộc qui tụ nào trước đây của
các giám mục. Các giám mục và các hồng y từ mọi lục địa
và mọi chủng tộc qui tụ lại với nhau để cùng tìm kiếm sự đổi
mới nơi bản thân Giáo Hội, sự hiệp nhất Kitô giáo, và sự
phục vụ cho thế giới. Sự hiện diện của các ngài và những
niềm xác tín của các ngài đã tạo ra một dự án mới cho thần
học, một dự án chỉ mới manh nha tìm thấy sự diễn tả nơi các
vấn nạn mới và các khó khăn mới.
Dù các kết quả của Công Đồng Vatican II chưa thể
được đánh giá toàn triệt, chúng ta vẫn không thể hiểu bất cứ
vấn đề thần học Công Giáo hiện đại nào nếu không qui
chiếu tới các nguyên tắc thần học mà Công Đồng đã cung
ứng. Vai trò cốt lõi và đặc tính liên ngã vị của mạc khải
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 279
Thánh Kinh, tầm quan trọng tuyệt đối của lịch sử xét như
một phạm trù thần học, và nhận thức về văn hóa con người
xét như cấu tố của nhân vị trong tương quan với Thiên Chúa
- đó là những xác tín định hình thần học Công Giáo ngày
nay và đó là những vấn đề thường xuyên được xem xét đến.
Đã có nhiều vấn nạn mới về việc thực thi thẩm quyền
trong Giáo Hội trong bối cảnh của một nhận thức mới có
tính tập đoàn của chức vụ giám mục. Có một sự trân trọng
mới mẻ đối với việc tham dự hoàn toàn của người giáo dân
trong sứ mạng và sứ vụ của Giáo Hội và, do đó, có những
vấn nạn về các cơ cấu của sứ vụ và vai trò của người giáo
dân. Những vấn nạn đạo đức học đang tiếp tục được khơi
lên bởi các kỹ thuật y khoa mới, và một sự đánh giá hoàn
toàn về phương thức đưa ra quyết định luân lý đang tiếp tục
được khảo sát. Chúng ta không thể bàn đến tất cả những vấn
đề này ở đây. Nhưng chúng ta có thể xem xét thử ba nguyên
tắc đề cập ở trên đây đã khơi lên sự tranh luận thần học như
thế nào liên quan đến hai lãnh vực quan trọng: (1) phong
trào đại kết, và (2) thách đố của phụ nữ trong Giáo Hội.
PHONG TRÀO ĐẠI KẾT
Khi Công Đồng khai mạc vào năm 1962, các đại biểu
từ 17 Giáo Hội ngoài Công Giáo Rôma đã có mặt trong tư
cách danh dự và khách mời. Các vị ấy được bố trí chỗ ngồi
trang trọng nhất tại buổi lễ khai mạc hôm 11 tháng 10, được
cung cấp sự phiên dịch tức thì, được trao cho những bản sao
của tất cả các văn kiện mà các giám mục sẽ thảo luận (chứ
không phải chỉ các giám mục mới giữ các văn kiện ấy), và
được mời tham dự tất cả các kỳ họp chung của Công Đồng
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 280
cũng như có thể tham dự bao nhiêu cuộc họp của các ủy ban
tùy ý. Các vị khách mời này là những người được ưu tiên
trực tiếp chứng kiến các biến cố mà nhiều người Công Giáo
- linh mục và giáo dân - chỉ có thể nghe kể lại mà thôi.
Ngày 15 tháng 10, Hồng Y Bea, vị đứng đầu văn
phòng về hiệp nhất các Kitôhữu, một cơ quan mới được thiết
lập, đã gặp gỡ các quan sát viên tại một cuộc tiếp tân và đã
nói những lời cho thấy sự thay đổi không thể đảo ngược
trong thái độ của Rôma đối với các Kitôhữu ngoài Giáo Hội
Công Giáo. "Anh em thân mến trong Đức Kitô," ngài chào
như thế, và tiếp tục ghi nhận rằng lời chào ấy nhắc cho tất cả
về "ân sủng tuyệt hảo của Phép Rửa, ân sủng đã tạo nên
những mối dây ràng buộc không thể phá hủy được, những
mối dây ràng buộc mạnh hơn những sự chia rẽ giữa chúng
ta." Đã hết rồi cái thời mà sự hiệp nhất các Kitôhữu được
hiểu là người Công Giáo mong những người Tin Lành "trở
về", như những đứa con hoang đàng trở về mái nhà của
người cha hoàn toàn không có tội. Một năm sau, trong bài
diễn văn khai mạc kỳ họp thứ hai của Công Đồng, vị tân
giáo hoàng, Đức Phaolô VI, đã công khai xin lỗi về tất cả
những gì người Công Giáo đã làm góp phần gây ra những sự
chia rẽ trong lịch sử Kitô giáo.
Với đường hướng lãnh đạo như thế của hai vị giáo
hoàng nối tiếp nhau, các nghị phụ Công Đồng không thể
không xác định lại mục tiêu của việc hiệp nhất các Kitôhữu
theo hướng nhìn nhận rằng đức tin đích thực đã được gìn giữ
và được củng cố trong các Giáo Hội ngoài Công Giáo bấy
lâu nay. Vì thế, Sắc Lệnh về đại kết (Unitatis Redintegratio)
- được công bố ngày 21 tháng 11, 1964 - đã tạo ra một bầu
khí mới trong đó sự đối thoại giữa các Giáo Hội có thể được
xúc tiến, với niềm hy vọng mới mẻ rằng cuối cùng có thể đi
đến sự hiệp nhất đích thực. Sắc Lệnh này đã không còn thứ
ngôn ngữ về giáo phái và đã gọi các cộng đoàn Kitôhữu
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 281
khác là "các Giáo Hội và các cộng đoàn Giáo Hội", chấp
nhận (như Hồng Y Bea đã làm) tất cả những gì vẫn còn
được cùng nhau trân trọng. Trong khi văn kiện này của
Công Đồng khẳng định rằng "Giáo Hội Công Giáo đã được
ban cho tất cả các chân lý mạc khải thần linh và mọi phương
tiện của ân sủng" (UR 4), nó cũng nhìn nhận rằng trong các
Giáo Hội và các cộng đoàn khác, các Kitôhữu cũng đích
thực sống "một đời sống ân sủng" và cũng có "con đường
bước vào cộng đoàn của ơn cứu độ" (UR 3). Văn kiện mô tả
sự hiệp nhất các Kitôhữu không phải như một thực tại của
quá khứ mà những người đang bất đồng nhau phải quay về,
nhưng đó là một triển vọng tương lai phải được thực hiện
xuyên qua ân sủng của Đức Kitô. Điều này có nghĩa rằng
cuộc đối thoại đại kết phải được thực hiện một cách đầy
lòng trân trọng giữa các bên, và việc cầu nguyện chung với
nhau trở thành điều kiện cho sự lớn lên trong ân sủng. Sắc
Lệnh về đại kết thiết yếu là một tiếng gọi mời hành động, đề
ra những nguyên tắc cho cuộc gặp gỡ đại kết.
Cuộc tiếp xúc đại kết giữa Giáo Hội Công Giáo và
các cộng đoàn Kitôhữu khác đã bắt đầu ở cấp cao nhất và
hầu như trước khi các văn kiện của Công Đồng kịp ráo mực.
Tháng 12 năm 1965, Giáo Hoàng Phaolô VI và Thượng Phụ
Athenagoras gặp nhau ở Giê-ru-sa-lem và đưa ra một tuyên
bố chung nói lên "khát vọng chân thành hướng đến hòa giải
với nhau". Ngày 22 tháng 3 năm 1966, Giáo Hoàng Phaolô
VI và Michael Ramsey, Tổng Giám Mục Canterbury, đã
công bố một "Tuyên Ngôn Về Hợp Tác" trong đó nhìn nhận
kho tàng phụng vụ và linh đạo được hai Giáo Hội chia sẻ
cũng như niềm hy vọng mà cả hai vị lãnh đạo cùng nhau ôm
ấp về mối hiệp thông hoàn toàn trong đức tin và trong đời
sống bí tích. Các ủy ban thần học đã được thành lập ở cấp
quốc tế giữa Anh giáo và Công Giáo Rôma (ARCIC), giữa
Giáo Hội Luther và Công Giáo Rôma, cũng như giữa Công
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 282
Giáo Rôma và Hội Đồng Mêthôdit Thế Giới. Đồng thời, một
mối quan hệ hợp tác mới đã bắt đầu phát triển giữa Công
Giáo Rôma và Hội Đồng Các Giáo Hội Thế Giới.
Cách riêng người Công Giáo Mỹ đã được cổ võ mạnh
mẽ bởi các hoạt động đại kết của Vatican II. Lịch sử đặc thù
của những người Công Giáo tại Mỹ, những khó khăn của họ
trong tư cách là dân mới nhập cư vào một xứ sở của người
Tin Lành (bối cảnh thế kỷ 19), và sự tăng triển sau đó của họ
nhờ nền tảng tự do tôn giáo được thiết định bởi hiến pháp
Mỹ - tất cả đã góp phần làm cho họ nhiệt tâm khám phá các
khả năng mới của hòa giải và hiệp nhất. Hội Đồng Giám
Mục Công Giáo Toàn Quốc đã thành lập Ủy Ban Giám Mục
Đặc Trách Các Vấn đề Đại Kết Và Liên Tôn (BCEIA), ủy
ban này lo về các cuộc đối thoại chính thức với các Giáo
Hội giám chế, Luther, Báptit Mỹ, Mêthôdit, Trưởng Lão/Cải
Cách. Ủy ban toàn quốc này đã khích lệ nhiều hoạt động ở
cấp địa phương; trong hơn hai mươi năm kể từ khi Sắc Lệnh
về đại kết được công bố, các thành viên của các giáo xứ địa
phương đã tham gia với các Kitôhữu thuộc các cộng đoàn
khác trong những buổi cầu nguyện và phụng tự chung cũng
như trong các hoạt động liên kết nhằm phục vụ cho thiện ích
chung và cho sự thăng tiến phẩm giá con người và công
bằng xã hội.
Những tiến bộ thần học đích thực đã được thực hiện
trong cuộc đối thoại đại kết. Các Giáo Hội chia rẽ trong
nhiều thế kỷ đã đi vào cuộc đối thoại đầy kính trọng và chân
thành trong hơn hai mươi năm nay. Các Giáo Hội đã nhận ra
sự sống động trong đức tin của nhau và đã đánh giá cao các
nhận thức thần học đã phát triển trong các truyền thống Giáo
Hội khác nhau. Các Giáo Hội đối thoại với nhau nhưng
không lẩn tránh các vấn đề thần học gai góc. Những người
Luther, Công Giáo Rôma, Anh giáo - chẳng hạn - đã cùng
nhau thảo luận về vấn đề gay go là vai trò của giáo hoàng.
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 283
ARCIC, Ủy Ban Quốc Tế của Công Giáo Rôma và Anh
giáo, đã nhận ra khả năng rằng chức vụ của Giám mục
Rôma có thể trở thành - trong bất cứ sự hiệp nhất nào của
tương lai - một sứ vụ hiệp nhất cho toàn thể Giáo Hội. Cũng
vậy, cuộc đối thoại giữa Công Giáo Rôma và Tin Lành
Luther ở Hoa Kỳ đã đem lại những hy vọng rằng những
người Tin Lành Luther có thể chấp nhận một sứ vụ giáo
hoàng nếu sứ vụ đó được thực thi phù hợp với Tin Mừng và
với một sự tôn trọng thích đáng đối với sự tự do của các
Kitôhữu.
Năm 1982, Hội Đồng Các Giáo Hội Thế Giới
(WCC), một tổ chức đại kết của các Giáo Hội với đông đảo
thành viên, đã xuất bản một văn liệu mang tựa đề Phép Rửa,
Phép Thánh Thể và Tác Vụ. Bản văn này được sửa soạn bởi
một ủy ban của WCC, bao gồm các nhà thần học của Tin
Lành, Chính Thống và Công Giáo Rôma. Các nhà thần học
từ các Giáo Hội khác nhau như thế đã có thể đạt đến sự nhất
trí về những vấn đề có tầm quan trọng vốn bất đồng tự lâu
đời - sự kiện đó là một dấu hiệu đầy triển vọng. Bản văn ấy
thách đố tất cả các truyền thống, nhưng nó cũng có thể phục
vụ như một cơ sở để đi đến sự nhất trí về ba bí tích ấy nếu
các Giáo Hội sẵn sàng tiếp tục các công cuộc đổi mới bên
trong chính mình. Nhưng cũng cần phải khuyến khích toàn
thể các thành viên của các Giáo Hội đã đạt được những sự
đồng ý sơ bộ này đón nhận các sự đồng ý ấy. "Đón nhận" là
một thuật ngữ thần học có "liên quan đến cách thế mà các
quyết định có thẩm quyền trở thành có hiệu lực trong đời
sống Giáo Hội" .56 Nếu công việc của các nhà thần học và
F35
các ủy ban chính thức của Giáo Hội không được đón nhận
và thực thi bởi các cộng đoàn địa phương, thì công việc ấy
56 Thomas P. Rausch, Authority and Leadership in the Church (Wilmington:
Michael Glazier, Inc., 1990) 103.
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 284
không thể giúp diễn tả đức tin và kinh nghiệm của dân Thiên
Chúa. Nền thần học đại kết vững vàng phải được cắm rễ
trong đời sống đức tin và trong các hoạt động của các Giáo
Hội địa phương.
Thần học đại kết và những thực hành đại kết cho tới
nay đã đào sâu ý nghĩa của sự hiệp nhất giữa các Kitôhữu và
đã đóng góp rất nhiều vào sự hiểu biết lẫn nhau hơn; đồng
thời đã diễn tả được sự xót xa đối với những chia rẽ còn tiếp
tục tồn tại. Ở đâu các Kitôhữu địa phương tích cực hoạt
động cho đại kết, thì ở đó thường có một sự tha thiết hòa
giải các bất đồng về thần học, tha thiết băng bó những vết
thương lịch sử và tái lập mối hiệp thông Thánh Thể. Tất cả
các diễn biến ấy đã nêu bật vai trò mà kinh nghiệm của các
Kitôhữu về Giáo Hội đảm nhận trong công cuộc thần học.
Kinh nghiệm, đến lượt nó, đã giúp củng cố tầm quan trọng
cốt yếu của gia sản chung là Thánh Kinh, Phép Rửa, và các
tín điều cổ xưa.
Trong khi đối thoại với nhau và cùng tham gia vào
những dự án chung nhằm phục vụ cho thiện ích chung, các
cộng đoàn Kitôhữu sẽ trở nên trân trọng hơn đối với phẩm
trật các chân lý đức tin (cf. UR 11). Điều này có nghĩa rằng
họ nhận ra một cách thực tiễn tầm quan trọng của đức tin mà
họ cùng chia sẻ vào Thiên Chúa Ba Ngôi, vào sự quan
phòng đầy sáng tạo của Chúa Cha, vào thần tính và vai trò
chủ tể của Chúa Kitô, và vào hoạt động thánh hóa không
ngừng của Chúa Thánh Thần. Mặc dù tiếp tục trung thành
bám chặt vào những nhận thức thần học đặc thù của truyền
thống riêng mình, các Kitôhữu dấn thân vào hoạt động đại
kết cũng trở nên khiêm tốn hơn về chỗ đứng của những diễn
tả đức tin đa dạng này và sẵn sàng hơn để đặt mình ở vị trí
phụ thuộc vào những khẳng định có tính cốt lõi truyền thống
được chấp nhận bởi toàn Giáo Hội. Như vậy, phong trào đại
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 285
kết đã vừa thách đố thần học hiện đại vừa làm giúp làm
phong phú nó.
PHỤ NỮ TRONG GIÁO HỘI
Vấn đề phụ nữ trong Giáo Hội vừa khơi lên những
hưởng ứng mạnh mẽ vừa tạo ra các tranh cãi kịch liệt. Đây
là một ví dụ hùng hồn cho thấy cách thế trong đó các vấn đề
thần học bật lên hiện nay và cho thấy phương pháp thần học
qua đó các vấn đề ấy được đặt ra. Đây cũng là vấn đề thần
học nhận ảnh hưởng sâu sắc bởi các biến chuyển lớn lao về
văn hóa diễn ra trong lịch sử hiện đại.
Điều không ai có thể chối cãi, đó là kinh nghiệm về
phụ nữ trên thế giới đã thay đổi một cách sâu sắc trong vài
thập niên trở lại đây, và sự thay đổi ấy trong kinh nghiệm đã
đem lại một biến chuyển sâu xa trong cách mà phụ nữ ý thức
về chính mình. Phụ nữ đã vừa khám phá vừa sáng tạo ra
những cơ hội mới cho chính họ trong lãnh vực tự phát triển.
Đông đảo phụ nữ đã được chấp nhận vào các cơ chế giáo
dục cao cấp và theo đuổi những sự đào tạo chuyên môn và
qua đó họ đã đảm nhận những vị thế đầy ảnh hưởng. Phụ nữ
cũng đã bắt đầu ghi dấu ấn của họ trong trường chính trị,
nhiều trường hợp họ đã vươn lên những địa vị nổi bật ở tầm
mức quốc tế. Khi Golda Meir trở thành thủ tướng của quốc
gia non trẻ Israel, bà cho cả thế giới thấy khả năng một phụ
nữ có thể lèo lái con thuyền một quốc gia qua những sóng
gió của buổi ban đầu lập quốc. Indira Gandhi của Ấn Độ và
Magaret Thatcher của Anh là những bằng chứng hùng hồn
cho thấy phụ nữ hoàn toàn có năng lực lãnh đạo quốc gia tại
cả những nước đã phát triển ở phương tây lẫn những nước
thuộc Châu Á. Ngày càng có nhiều khuôn mặt phụ nữ tại các
ủy ban nghiên cứu và các nghị trường của Liên Hiệp Quốc.
Sự hiện diện ngày càng tăng của phụ nữ như thế trong các
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 286
vai trò lãnh đạo dần dần khơi lên ý thức về phụ nữ trên khắp
thế giới.
Sự thay đổi này trong kinh nghiệm của phụ nữ tất yếu
tạo ra một ý thức mới về địa vị của họ trong xã hội và một
sự phản tỉnh mới nơi chính bản thân các phụ nữ. Khi các vấn
đề mới mẻ về kinh tế và xã hội hiện lộ rõ ràng, tổ chức Liên
Hiệp Quốc đã nhìn nhận tầm quan trọng của những vấn đề
này bằng cách tuyên bố thập niên từ 1975 đến 1985 là Thập
Niên Của Phụ Nữ Thế Giới. Duới sự bảo trợ của Liên Hiệp
Quốc, các hội nghị quốc tế về phụ nữ đã nhóm họp ở
Mêhicô vào năm 1975, ở Copenhagen 1980, và ở Nairobi
1985. Những hội nghị này đã tích cực đem lại cho phụ nữ
một sự phản tỉnh mang tầm quốc tế, một ý thức ngày càng
tăng về kinh nghiệm chung của họ trước những thiệt thòi,
nhất là trong một nền kinh tế ngày càng có tính hỗ tương
phụ thuộc hơn, và một ý thức sâu sắc về sự hợp tác để đổi
thay xã hội. Tất cả những hoạt động này đem lại một nhận
thức rất rõ về các dữ kiện kinh tế và xã hội của người phụ nữ
xét như một tầng lớp phụ thuộc và bị đàn áp. Chẳng hạn,
bản Phúc Trình của Liên Hiệp Quốc năm 1980 đã nêu rõ
những dữ liệu thực tế như sau: "Phụ nữ chiếm một nửa dân
số thế giới, đảm nhận gần hai phần ba số giờ làm việc của
thế giới, lãnh được một phần mười tiền lương của thế giới,
và sở hữu chưa tới một phần trăm tài sản của thế giới."
Trong bối cảnh của một ý thức ngày càng hơn về kinh tế và
xã hội, các vấn nạn thần học về bản tính của phụ nữ và vai
trò của phụ nữ trong Giáo Hội trở nên càng khẩn cấp.
Các vấn nạn thần học về phụ nữ và về vai trò của phụ
nữ trong Giáo Hội nói chung thường xoay quanh hai dấu hỏi
có liên hệ với nhau: Có nền tảng thần học nào cho chế độ
phụ quyền và cho sự phụ thuộc của phụ nữ không? Và vai
trò phụ thuộc của phụ nữ trong Giáo Hội có thể được lý giải
thỏa đáng về mặt thần học hay không? Có một sự nhìn nhận
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 287
rộng rãi rằng các cơ cấu xã hội đẩy phụ nữ xuống một vị trí
thấp kém, phụ thuộc đã được hậu thuẫn - ít nhất - bởi một
truyền thống thần học về bản tính thấp kém (của phụ nữ). Vì
thế, "thần học nữ quyền", một ngành thần học mới, đã bắt
đầu điều tra lại truyền thống nói trên. Cách thế mà qua đó
thần học nữ quyền đã phát triển cho thấy rõ những động lực
bên trong của thần học hiện đại nói chung. Thật quan trọng
cần phải ghi nhận rằng thần học nữ quyền đã được đánh dấu
bởi những phát triển quan trọng trong lãnh vực nghiên cứu
lịch sử và phê bình Thánh Kinh, và bởi việc thiết định lại
những vấn đề có tính hệ thống. Sau đây là một số ví dụ.
Các Nghiên Cứu Lịch Sử
Các nghiên cứu lịch sử đã là yếu tố then chốt trong sự
phát triển của thần học nữ quyền. Những nghiên cứu này đã
có hai mục tiêu chính: phục hồi lại lịch sử đã "bị đánh mất"
của phụ nữ và phân tích các điều kiện lịch sử theo đó các lý
thuyết thần học phụ quyền đã phát triển. Các chuyên viên sử
học đã săn tìm những bản văn bị lãng quên của các tác giả
nữ. Họ đã nghiên cứu các hoạt động và các hoàn cảnh của
phụ nữ trong các công trình, các hồ sơ lưu trữ, các sử liệu
địa phương, các giấy tờ hôn thú và các hợp đồng kinh tế,
vv... Những tài liệu này thường vẫn bị 'bỏ xó' trong các văn
liệu lịch sử chỉ nhấn mạnh đến phía mạnh về chính trị (tức
nam giới).
Cũng vậy, các nhà sử học về nữ quyền đã tìm kiếm sử
liệu về phụ nữ bằng cách sử dụng những phương pháp mới
trong việc đọc các chứng cứ thời trước. Vận dụng một "khoa
chú giải cổ bản có tính hồ nghi", các học giả về nữ quyền đã
đọc lại các bản văn cổ điển , kể cả Thánh Kinh, với giả định
rằng những bản văn ấy phục vụ cho các chức năng có tính
phụ quyền và cố tình lập lờ hay bóp méo các vai trò hay các
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 288
thành tựu của phụ nữ. Tất cả những chiến lược này đã đem
lại một nhận thức mới về tầm quan trọng và về sức mạnh
của phụ nữ trong lịch sử của Giáo Hội và của sự phát triển
thần học Kitô giáo.
Các Nghiên Cứu Thánh Kinh
Việc nghiên cứu lịch sử đã có liên quan với công việc
nghiên cứu Thánh Kinh được thực hiện bởi các nhà thần học
nữ quyền. Ở đây một mục đích là xác định phải chăng việc
hiểu phụ nữ như cấp thấp hơn trong bản tính và phụ thuộc
trong đẳng cấp xã hội là một nhận hiểu hoàn toàn nằm trong
mạc khải Thánh Kinh. Nói nôm na hơn, phải chăng Thiên
Chúa đã mạc khải thánh ý Ngài nơi các bản văn yêu cầu phụ
nữ phải biết thinh lặng và chấp nhận tính phụ thuộc (ví dụ
1Tm 2, 11-15; 1Cr 11,2-12)? Hay những bản văn ấy chỉ là
kết quả của những sự diễn dịch thánh ý Thiên Chúa một
cách xuyên tạc theo não trạng phụ quyền và bị điều kiện hóa
bởi lịch sử? Các bản văn Thánh Kinh có thể là những bản
văn của ơn cứu độ cho phụ nữ hay không? Hay phụ nữ phải
phi bác Thánh Kinh để có thể đạt được sự phát triển trọn vẹn
cho mình, cả trong tư cách là những nhân vị lẫn trong mối
tương quan với Thiên Chúa? Quả thật vấn nạn này đang là
thời sự phong trào nữ quyền ngày nay.
Vào thế kỷ 19, đã có những phụ nữ dấn thân vào
phong trào hủy bỏ - đó là những người bắt đầu xem các hàm
ý của bản văn Thánh Kinh như vừa nô dịch hóa vừa giải
phóng phụ nữ. Vì thế một vài phụ nữ, chẳng hạn Elizabeth
Cady Staton, đã nhận thấy bản văn Thánh Kinh quá có tính
đàn áp và đã xuất bản Thánh Kinh của Phụ Nữ, một đòn tấn
công vào giáo huấn và thẩm quyền truyền thống của Giáo
Hội. Những phụ nữ khác, như Sarah Grimke, đã tin rằng các
khó khăn mà phụ nữ kinh nghiệm khi tìm kiếm sự tự do
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 289
chính đáng trong Giáo Hội chính là hệ lụy của một sự diễn
dịch chứ không phải là chính mạc khải. Grimke tin chắc
rằng khi phụ nữ được đào tạo về các ngôn ngữ và các
phương pháp Thánh Kinh, họ sẽ có thể đưa ra những diễn
dịch trung thành hơn với bản văn và có sức giải phóng phụ
nữ hơn so với những diễn dịch xưa nay. Cuộc tranh luận vẫn
còn tiếp tục trong thời đại chúng ta, nhưng các nhà thần học
nữ quyền cố gắng phục hồi lại các bản văn Thánh Kinh cho
phụ nữ đã phát triển một phương pháp luận nữ quyền có tính
phê bình (critical feminist methodology), không tách rời
khỏi khoa phê bình lịch sử xuất hiện trước đó, nhưng có
tham chiếu đến "khoa chú giải cổ bản có tính hồ nghi"
(hermeneutics of suspicion) theo đó họ đặt bản văn Thánh
Kinh trong tình trạng phải được diễn dịch lại một cách cẩn
thận.
Về nhiều phương diện, phong trào phụ nữ trong Giáo
Hội có liên hệ sâu sắc với thần học giải phóng. Các học giả
Thánh Kinh trong khuynh hướng nữ quyền đã vận dụng
phương pháp đọc Thánh Kinh được phát triển tại các cộng
đoàn Kitôhữu cơ bản ở Châu Mỹ Latinh. Phương pháp này
yêu cầu Thánh Kinh phải được đọc trong bối cảnh của đời
sống cụ thể hằng ngày của những người đọc nó. Để đọc
Thánh Kinh cho đúng đắn, cần phải đồng hóa với những
người nghèo và những người bị áp bức vốn được gặp thấy
rất nhiều trong các câu chuyện Phúc Âm, và phải lưu ý tìm
kiếm lời giải phóng được nói lên trong đó. Sử dụng một
khoa chú giải cổ bản có tính hồ nghi, nhà thần học nữ quyền
sẽ đọc bản văn một cách thận trọng và đầy tính phê bình, tìm
kiếm chứng cứ về sự áp chế. Nhưng nhà thần học này cũng
đọc bản văn một cách tích cực và đầy sự hình dung, với điều
mà một học giả gọi là "khoa chú giải cổ bản có tính hiện
thực hóa đầy sáng tạo". Điều này "cho phép phụ nữ đi vào
câu chuyện Thánh Kinh với sự giúp đỡ của khả năng hình
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 290
dung lịch sử, của sự phục chế khéo léo, và của sự nghi thức
hóa có tính phụng vụ. Một sự chú giải Thánh Kinh theo
hướng nữ quyền, vì thế, phải không chỉ có tính phê bình mà
còn phải có tính xây dựng, không chỉ hướng về quá khứ mà
còn phải hướng tới tương lai..."4F557 Việc đọc Thánh Kinh một
cách hai mặt như vậy - đọc về quá khứ một cách hồ nghi và
phê bình, và đọc một cách hình dung sống động bản văn
trong hiện tại - đã đem lại cho thần học nữ quyền một cơ sở
Thánh Kinh đầy triển vọng phục vụ cho sự phát triển thần
học.
Những Phát Triển Có Tính Hệ Thống
Việc suy tư thần học về vấn đề phụ nữ trong Giáo
Hội, dựa trên các nghiên cứu Thánh Kinh và lịch sử, đã làm
thay đổi các vấn nạn cốt lõi của thần học. Điều này cho thấy
một nhận thức mới về "sự phong phú của ân sủng Thiên
Chúa trao ban cách dồi dào và nhưng không cho chúng ta",
kế hoạch kỳ diệu mà Thiên Chúa "thực hiện khi đến thời đến
buổi: đó là toàn thể vũ trụ, mọi sự trên trời dưới đất, được
thâu họp về một mối trong Đức Kitô" (Ep 1,8-10). Ở đây
chúng ta chỉ có thể nêu ra một số vấn đề chủ chốt có tính hệ
thống đã được soi sáng cách mới mẻ bởi thần học nữ quyền.
Vấn đề ngôn ngữ bao hàm (inclusive language) là
một vấn đề thu hút nhiều sự quan tâm, cả nơi đại chúng lẫn
nơi giới học giả. Một số người gạt bỏ vấn đề này, viện cớ
rằng nó "chỉ" là một vấn đề ngôn ngữ. Nhưng sự suy tư thấu
đáo sẽ cho thấy tầm mức rộng lớn trong đó ngôn ngữ chúng
ta sử dụng có sức hình thành cảm thức của chúng ta về chính
mình, cả trong tư cách cá nhân lẫn cộng đồng. Vì thế nhiều
57 Elisabeth Schussler Fiorenza, Bánh Chứ Không Phải Đá (Boston: Beacon
Press, 1984) 20-21
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 291
tiếng nói trong Giáo Hội đã đề nghị việc hiệu chỉnh lại các
bản văn Thánh Kinh và phụng vụ sao cho thể hiện một nhãn
quan có tính bao hàm, loại bỏ việc sử dụng một ngôn ngữ có
tính độc chiếm vốn vẫn thường sử dụng các từ ngữ giống
đực để qui chiếu đến con người nói chung.
Đồng thời, những vấn nạn về ngôn ngữ bao hàm cũng
đã lại làm bật lên vấn đề ngôn ngữ thần học nói chung. Các
nhà thần học nữ quyền nhắc chúng ta rằng mọi ngôn ngữ về
Thiên Chúa đều có tính ẩn dụ và có tính loại suy. Trong ẩn
dụ, chúng ta cố gắng nói một điều gì đó về Thiên Chúa siêu
việt bằng cách gợi lên những thực tại nhân loại có một mức
độ phản ảnh nào đó kinh nghiệm của chúng ta về Thiên
Chúa. Những ẩn dụ của cá nhân, vô cùng quan trọng cho
việc nói lên sự nhận hiểu tương đối về Thiên Chúa, lại là
những con dao hai luỡi: chúng đẩy chúng ta vào những giới
hạn của giống (gender) ngay cả trong khi chúng có đầy năng
lực kích cảm. Những suy tư của khuynh hướng nữ quyền
đang cố vượt qua khỏi những giới hạn của giống trong ngôn
ngữ ẩn dụ nhắc cho chúng ta về tính bất tương ứng của tất cả
ngôn ngữ con người về Thiên Chúa. Những suy tư ấy nhắc
cho chúng ta ý nghĩa sâu xa của mầu nhiệm mà ngôn ngữ
thần học phải cố khơi ra, và nhắc cho chúng ta biết phải hết
sức khiêm tốn ngay cả khi chúng ta sử dụng những thứ ngôn
ngữ có cân nhắc nhất.
Cũng vậy, sự thảo luận về khoa nhân chủng thần học
của các nhà thần học nữ quyền đã làm bật ra những câu hỏi
quan trọng về bản tính con người. Khoa nhân chủng học nữ
quyền bắt đầu với những câu hỏi về địa vị thấp kém được
giả định cho phụ nữ, nó chất vấn về gốc tích xuất phát một
lý thuyết sai lầm như thế và tại sao lý thuyết ấy đã sống
được dai dẳng. Nhưng nó cũng bắt chúng ta phải suy nghĩ lại
về các vấn nạn nhân chủng học có tính truyền thống: chúng
ta hiểu về nào về mối quan hệ giữa hồn và xác, giữa lý trí và
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 292
dục vọng, giữa sự tưởng tượng và sự hiểu biết? Nó khảo sát
cách thế mà những lưỡng phân truyền thống này đã gây ra
sự tàn phá về tâm lý và văn hóa ở Tây phương và nó tìm
kiếm những phương pháp mới mẻ để hiểu tính thống nhất
của ngã vị và sự hòa hợp của các đối cực của con người.
Khoa nhân chủng học nữ quyền cũng muốn mở ra
việc thảo luận về bản tính con người chiếu theo phạm trù
lịch sử, cố gắng nhận hiểu cách thế mà văn hóa và lịch sử đã
qui định sự nhận hiểu của chúng ta về bản tính con người.
Nó tìm kiếm những mẫu thức chuyển hóa (transformative)
vốn vừa mô tả ngã vị con người vừa mở ra những khả năng
chuyển biến, để cho cộng đồng nhân loại có thể vượt qua
những thế lưỡng phân cố hữu giữa cuộc sống riêng tư và
cuộc sống với người khác, giữa cá nhân và xã hội, giữa thân
xác và linh hồn, giữa tự nhiên và ân sủng. Trong nỗ lực thần
học này, địa hạt của tư duy thần học là con người cụ thể
trong lịch sử, là con người đứng trước những vấn đề tự do,
sống còn, cứu độ - không phải một cách riêng rẽ nhưng như
một thực tại, thực tại trọn vẹn của đời sống con người chúng
ta. Đó là lý do tại sao phần lớn thần học nữ quyền bắt đầu
với những mô tả có tính trần thuật cá nhân về kinh nghiệm.
Tạo ra một cuộc đối thoại giữa ngôn ngữ cá nhân này và
những thảo luận trừu tượng của phần lớn truyền thống đi
trước, đó là một trong những thách đố lớn lao của phong
trào phụ nữ.
Vấn đề truyền chức cho phụ nữ là vấn đề thường
được liên tưởng đến nhất khi người ta đặt ra vấn đề phụ nữ
trong Giáo Hội. Rõ ràng đối với nhiều người nó đã trở thành
một biểu tượng nói lên mức độ mà phụ nữ được hay không
được chấp nhận như những thành phần bình đẳng trong Giáo
Hội và trong đại cuộc cứu độ. Nhưng chúng ta không thể
hiểu việc truyền chức cho phụ nữ như một vấn đề độc lập.
Suy tư thần học về việc truyền chức cho phụ nữ, chẳng hạn,
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 293
đòi hỏi rằng chúng ta phải khảo sát những vấn nạn then chốt
của Kitô học. Một sự nhấn mạnh gần đây bởi Giáo Hội
Công Giáo về nam tính - xét như thiết yếu để biểu tượng cho
người thay mặt Đức Kitô tại bàn thờ - đã tập chú trên sự
diễn dịch có tính truyền thống về mầu nhiệm Nhập Thể. Từ
những thời ban sơ nhất, giáo thuyết này đã được hiểu là
Ngôi Lời trở thành xác thịt (i.e., thành phàm nhân), và qua
đó tác động đến ơn cứu độ của tất cả những ai là phàm nhân.
Các nhà nữ quyền tự hỏi phải chăng sự nhấn mạnh mới mẻ
về nam tính của Đức Giêsu có thể bỏ qua tình trạng của phụ
nữ trong tư cách là những con người được cứu chuộc.
Cũng vậy, vấn đề truyền chức phụ nữ nhắc tất cả
chúng ta nhớ đến những mẫu thức khác nhau theo đó Giáo
Hội được hiểu, và một lần nữa đặt ra câu hỏi phải chăng
Giáo Hội có thể là một dấu chỉ hay bí tích của sự cứu chuộc
cho mọi con người nếu như mọi con người không được đón
nhận cách bình đẳng trong sứ vụ của Giáo Hội. Nó khơi lên
câu hỏi về vai trò của sứ vụ có chức thánh trong Giáo Hội,
về vai trò trung tâm của Bí Tích Thánh Thể trong đời sống
và sứ mạng của Giáo Hội, và về cách thức mà quyền bính
phải được hành sử trong Giáo Hội. Như vậy, vấn đề truyền
chức không chỉ liên quan tới biểu tượng; nó là vấn đề có tính
lịch sử và có tính thực hành, cho thấy rõ ràng nhất những
vấn nạn thần học mà Giáo Hội ngày nay phải trả lời nếu
không muốn quay lưng lại với Tin Mừng.
KẾT LUẬN
Các vấn đề thần học mà Giáo Hội phải đối diện ngày
nay là những vấn đề được đặt ra bởi các nhu cầu cấp thiết
của lịch sử và xuất phát từ sứ mạng được trao cho Giáo Hội
bởi Đức Kitô là Chủ Tể - đó là sứ mạng trở thành ánh sáng
cho các dân tộc. Thần học ngày nay phải sẵn sàng đón nhận
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 294
những nhận thức và những kinh nghiệm, không chỉ của tất
cả các truyền thống Kitô giáo khác nhau, mà còn của mọi
con người nam nữ thiện chí làm thành cái toàn thể phong
phú là "các dân tộc" trong thế giới chúng ta.
Mạc khải Thánh Kinh, như được hiểu bởi khoa
nghiên cứu hiện đại nhất, và lịch sử của truyền thống Giáo
Hội, được diễn dịch vừa một cách phê bình vừa một cách
thấu cảm, là hai nền tảng sẽ làm điểm tựa vững chắc cho
thần học hiện đại. Phong trào đại kết và phong trào phụ nữ
cho thấy rằng mặc dù khởi điểm của hoạt động thần học có
thể là kinh nghiệm và các vấn nạn của một nhóm, một tầng
lớp, một nền văn hóa đặc thù, thì các nội dung của công
cuộc này vẫn có tính phổ cập và có thể có tiềm năng thay
đổi chính truyền thống Kitô giáo. Làm thần học không phải
là chỉ "quẩn quanh" với một chủ đề riêng rẽ nào đó. Đức tin
Kitô giáo không phải là một danh mục các món rời rã,
nhưng là một cố gắng có tính liên hội để nhận hiểu sự sung
mãn của mầu nhiệm Thiên Chúa như được mạc khải nơi
Đức Kitô, vì ơn cứu độ cho mọi con người.
Phong trào đại kết và phong trào phụ nữ cũng cho
thấy rằng thần học trỗi lên từ đức tin sống động của người
ta. Các vấn nạn sâu xa nhất hiện nay về Thiên Chúa và về ơn
cứu độ của con người là những vấn nạn xuất phát từ một
cộng đoàn những người tin, hiệp nhất trong cầu nguyện và
trong hành động, quan tâm tới nhau và cố gắng trung thành
với Tin Mừng. Thần học hiện đại không thể là một công
cuộc được làm tốt nhất trong tháp ngà nhưng là trong các
cộng đoàn lao động và phụng tự, ở đó mối quan tâm đến
công bằng đưa dẫn người ta tới những suy tư thần học - và
đến lượt nó những suy tư này được diễn tả trong thái độ dấn
thân mới cho hòa bình và công lý. Nhận thức này về thần
học được gặp thấy trong nhiều văn kiện của Công Đồng
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 295
Vatican II và là nhận thức mà các nhà thần học vận dụng khi
họ cố gắng trình bày đức tin bằng những cách thức mới.
CÂU HỎI GIÚP TÌM HIỂU
1. Những phát triển trong phong trào đại kết và trong
thần học nữ quyền phản ảnh thế nào về bổn phận của thần
học là suy tư về kinh nghiệm của Kitôhữu?
2. Trong những phương diện nào thần học nữ quyền
phản ảnh công việc phê bình của thần học?
3. Thần học đại kết vận dụng thế nào công việc của
thần học Thánh Kinh, thần học lịch sử và thần học hệ thống?
4. Những phát triển trong thần học đại kết và thần học
nữ quyền gợi ra những vấn nạn nào nữa cho bạn?
Chương 11: THẦN HỌC VÀ CÁC
TÔN GIÁO THẾ GIỚI
Christopher Key Chapple
Thế giới là một nơi chốn vừa cũ xưa vừa ngày càng
thu hẹp lại. Vào những thời ban sơ, các nền văn minh xuất
hiện một cách tương đối tách biệt nhau. Dù đã từng có một
số khuôn mặt nổi tiếng - như Huyền Trang, nhà sư Trung
Hoa đi từ Trung Hoa đến Ấn Độ hồi thế kỷ 7, và Marco
Polo, một người Âu Châu đã lặn lội đến Trung Hoa hồi thế
kỷ 13 - đã nối những nhịp cầu giữa các nền văn hóa, song
phần lớn các dân tộc trên trái đất trước thời hiện đại đều đã
phát triển và bảo tồn các thế giới quan tách biệt lẫn nhau.
Mỗi nhóm người đương đầu với những vấn đề căn bản có
tính sống còn theo cách riêng của mình. Tất cả các cộng
đồng trong nhân loại đều đã vật lộn với những vấn đề chung
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 296
như tổ chức gia đình, xung đột giữa các nhóm, sự chết. Từ
những mối quan tâm này đã xuất hiện những nền văn minh
vừa có qui mô lớn vừa thường có tính đế quốc như có thể
được ghi nhận ở Cận Đông, Âu Châu, Ấn Độ, và Trung
Hoa, cũng như những hệ thống ít có tính hướng tâm hơn
được gặp thấy nơi các bộ tộc ở Bắc, Trung, Nam Mỹ, ở
Châu Phi và Châu Đại Dương.
Xét về mặt nhân chủng học và sinh vật học, thân
phận của bất cứ con người nào cũng bao gồm những điểm
chung: sinh ra, trưởng thành, dựng vợ gả chồng, sinh đẻ con
cái, lo các vấn đề sức khỏe và kinh tế, già đi, rồi chết. Đứng
trước những thực tại căn bản ấy, các câu hỏi bật ra liên quan
đến nguồn gốc và mục đích của lòai người. Theo truyền
thống, nền minh triết tập thể của một dân tộc luôn có chứa
đựng một câu chuyện sáng tạo để giải thích câu hỏi nền tảng
về nguồn gốc của thế giới và của loài người. Trong lịch sử,
các hệ thống và các cơ chế tôn giáo đã hậu thuẫn cho các
hoạt động căn bản của loài người như sinh đẻ và đặt tên,
chuẩn nhận đến tuổi trưởng thành, kết hôn, làm việc, và
chết. Các áp lực văn hóa, ngôn ngữ, địa lý và khí tượng đã
tạo ra những khác biệt giữa các nền văn hóa, và cho đến thời
hậu hiện đại của chúng ta, chẳng có mấy áp lực bắt người ta
phải học hỏi những cách thức của người khác, do bởi những
khó khăn về thông tin và đi lại.
Trong giai đoạn kỹ thuật hiện đại của lịch sử nhân
loại, in đậm dấu vết của chủ nghĩa bành trướng của Âu
Châu, bởi việc mậu dịch dễ dàng hơn, và bởi sự phổ biến
của nền kinh tế tiền tệ (đôi khi được gọi là sự phát triển kinh
tế), người ta giả định rằng các vấn đề chính yếu của con
người có thể được giải quyết với các chân lý của sự khôn
ngoan Âu Châu. Luật tự nhiên được nghĩ là phổ quát, không
bị ràng buộc do văn hóa, và nhiều người cho rằng các khoa
học tự nhiên và xã hội mới phát triển sẽ đủ để đưa ra những
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 297
giải đáp về nguồn gốc của con người và về lý do tại sao mọi
người đều đau khổ. Tuy nhiên, trong các thập niên gần đây,
sự vứt bỏ các hệ thống giá trị truyền thống đã xảy ra do
người ta xét lại triệt để, cả nơi các nền văn hóa Tây phương
lẫn nơi thế giới ngoài Kitô giáo. Hơn nữa, đồng thời với giai
đoạn thống trị của người Âu Châu có tính thực dân và khai
hóa, các đường lối truyền thống vẫn tỏ ra kiên thủ: thế giới
Tây phương đã không hoàn toàn ném mình vào thế tục hóa;
Ấn Độ, Trung Hoa và Cận Đông vẫn giữ gìn các gia sản của
mình; và ở qui mô nhỏ hơn, các nền văn hóa bộ tộc trong
một số trường hợp vẫn giữ thế giới quan của mình.
Về mặt thần học, các thách đố của ba thế kỷ vừa qua
thật to lớn. Khi Giáo Hội đi vào với những vùng đất mới và
gặp gỡ các dân tộc có truyền thống cổ xưa, Giáo Hội đã đối
diện với những lọai giả định văn hóa rất khác nhau. Kể từ
thuở ban sơ của Giáo Hội xét như một chồi vọt ra từ Do
Thái giáo với những gặp gỡ tiếp sau đó với tư tưởng Hi Lạp,
trước hết qua hoạt động của Justin và các giáo phụ khác của
thuở ban đầu, rồi sau đó được hấp thụ từ nền văn minh Hồi
giáo tân tiến hơn, chưa bao giờ cơ hội giao lưu văn hóa lại
phong phú đến như thế. Các thừa sai đầu tiên của Dòng Tên
đến Bắc và Nam Mỹ Châu đã viết về nhiều phẩm chất cao
quí được gặp thấy nơi những con người được gọi là man di
của những vùng đất này. Một tu sĩ Dòng Tên khác, Mateo
Ricci, đã ngạc nhiên và học hỏi trình độ cao của tinh túy văn
hóa và tri thức mà ông gặp thấy ở Trung Hoa.
Những ghi nhận ban đầu này về sau đã đóng góp vào
một quan điểm trong Giáo Hội Công Giáo Rôma - đó là
quan điểm kính trọng truyền thống tôn giáo trên khắp thế
giới. Điều này được thấy rõ ràng trong một văn kiện của
Công Đồng Vatican II, Tuyên Ngôn về mối quan hệ giữa
Giáo Hội với các tôn giáo ngoài Kitô giáo (Nostra Aetate):
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 298
Trong thời đại chúng ta, nhân loại ngày càng liên kết
chặt chẽ nhau hơn, các mối liên lạc giữa các dân tộc cũng
gia tăng, nên Giáo Hội đặc biệt chú tâm đến việc liên lạc với
các tôn giáo ngoài Kitô giáo. Trong nhiệm vụ cổ võ sự hiệp
nhất và yêu thương giữa con người và nhất là giữa các dân
tộc, trước tiên ở đây Giáo Hội đề cập đến những điểm chung
cho hết mọi người, và những gì dẫn đến cuộc sống cộng
đoàn. Thật vậy, mọi dân tộc đều thuộc về một cộng đoàn
cùng chung một nguồn gốc... Con người mong đợi các tôn
giáo giải đáp về những điều bí nhiệm tiềm ẩn trong thân
phận con người, những bí nhiệm xưa nay vẫn làm tâm hồn
họ phải xao xuyến sâu xa (NA 1) ...
Từ xưa đến nay, người ta nhận thấy nơi nhiều dân tộc
khác nhau một cảm thức về quyền lực tàng ẩn trong vòng
chuyển biến của sự vật và trong những biến cố của đời
người (NA 2).
Bản Tuyên Ngôn đề cập đến những khía cạnh chuyên
biệt của các truyền thống tôn giáo thế giới, ghi nhận rằng Ấn
giáo chứa đựng một "tinh túy của các thần thoại" và một
"cuộc truy vấn triết lý thâm sâu". Bản Tuyên Ngôn tuyên bố
rằng "Phật giáo trong các hình thức đa dạng của nó ý thức
được tính bất túc tận căn của thế giới không ngừng biến dịch
này", mở ra một con đường giác ngộ xuyên qua nỗ lực của
bản thân hay bằng "sự trợ lực của ơn trên" (NA 2).
Nói về các truyền thống đa dạng, Nostra Aetate tuyên
bố rằng các tôn giáo khác trên hoàn cầu đều cố công làm cho
tâm hồn con người thoát khỏi những băn khoăn bằng nhiều
phương thế khác nhau, bằng cách vạch đường chỉ lối, tức đề
xướng những giáo thuyết và luật sống cũng như những lễ
nghi phụng tự.
Giáo Hội Công Giáo không hề phủ nhận những gì là
chân thật và thánh thiện nơi các tôn giáo đó. Với lòng kính
trọng chân thành, Giáo Hội xét thấy những phương thức
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 299
hành động và lối sống, những huấn giới và giáo thuyết kia,
tuy rằng có nhiều điểm khác với chủ trương mà Giáo Hội
duy trình cũng thường đem lại ánh sáng của Chân Lý, Chân
Lý chiếu soi cho hết mọi người (NA 2).
Với thái độ cởi mở đối với chân lý nơi các truyền
thống khác, Giáo Hội Công Giáo Rôma tha thiết kêu gọi nỗ
lực "đối thoại và cộng tác với các tín đồ thuộc các tôn giáo
khác" (NA 2), và "tẩy chay mọi hình thức kỳ thị hay sách
nhiễu vì lý do chủng tộc, màu da, điều kiện sống, tôn giáo"
(NA 5). Văn kiện này cũng khẳng định sự kính trọng của
Giáo Hội đối với đức tin của những người Hồi giáo và dành
một phần đáng kể để đề cập đến mối quan hệ đặc biệt giữa
Kitô giáo và Do Thái giáo; như vậy văn kiện rõ ràng cho
thấy các tín đồ thuộc các niềm tin khác không còn bị khinh
thị là "bọn ngoại đạo" nữa, nhưng trái lại, niềm tin của họ
phải được nhận hiểu, kính trọng và ủng hộ - trong một tầm
mức nào đó - bởi các Kitôhữu.
Vì thế dự phóng thần học của Công Giáo Rôma kể từ
năm 1965 có bao gồm việc đối thoại với các niềm tin khác.
Điều này đòi hỏi một tiến trình rắc rối và phức tạp, trong đó
cần phải nghiên cứu ngoại ngữ, cần có sự nhạy cảm văn hóa
và cần biết phân tích xã hội học. Trong các trang tiếp sau
đây, chúng ta sẽ tổng hợp những chủ đề then chốt từ bốn
lãnh vực nghiên cứu: các truyền thống bộ tộc; ba truyền
thống xuất phát từ Ấn Độ (Ấn giáo, đạo Jaina, và Phật giáo);
hai truyền thống bắt nguồn từ Trung Hoa (Khổng giáo và
Lão giáo); và chúng ta sẽ thảo luận về cách mà các truyền
thống đa dạng ấy có thể được nhìn trong một cái nhìn vừa có
tính thần học vừa không có tính chỉ trích.
CÁC TRUYỀN THỐNG BỘ TỘC
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 300