Khi một người thực hiện một hành động của đức tin,
người ấy không nói: "Tôi chọn trở thành một người Công
Giáo tạm thời vào lúc này, cho đến khi tình hình sáng sủa
hơn." Nếu đây đúng là tình trạng tâm lý của đương sự, thì
đương sự đã không thực sự cam kết gì cả, mà thực ra đương
sự vẫn còn đang tìm kiếm sự ràng buộc đúng đắn cho mình.
Về mặt tâm lý, một người không thể cùng một trật là một
người Công Giáo, một người Tin Lành, Anh giáo, Phật giáo,
Ấn giáo, Hồi giáo, hay một người tôn thờ chủ nghĩa nhân
bản thế tục được. Đàng khác, trung thành không có nghĩa là
bất bao dung. Một người có thể là Công Giáo và đồng thời
tôn trọng các quan điểm của các tôn giáo khác hay các quan
điểm triết học khác - và sẵn sàng cởi mở đón nhận sự thật
được tìm thấy nơi các quan điểm ấy.
Hơn nữa, sự trung thành không phải là một chướng
ngại cho sự tự do của con người. Eugene Kennedy cho thấy
rằng ngày nay nhiều người, nam cũng như nữ, chất vấn sự
trung thành suốt đời như thể đó là giấc mơ vu vơ của một kẻ
điên rồ nào đó hoàn toàn không nắm hiểu bản tính con
người. Người ta nói rằng sự trung thành bóp nghẹt tính cách
của chúng ta, tước mất sự tự do của chúng ta. Nếu tình hình
không trôi chảy, chúng ta muốn một ngõ thoát dễ dãi. Chúng
ta không nhận ra ý nghĩa gì nơi việc tiếp tục duy trì mối
tương quan hay tiếp tục kiên vững với những niềm tin xem
chừng như không còn đem lại sự thuận tiện cho mình.
Kennedy không xem sự trung thành như một chướng
ngại đối với sự tự do của con người. Trái lại, Kennedy nghĩ
rằng sự trung thành thực ra giúp phát triển tự do ấy. Chúng
ta thực thi sự tự do của chúng ta bằng cách ràng buộc mình
với những người hay những chính nghĩa nào đó và bằng
cách sẵn lòng nhận trách nhiệm về những sự chọn lựa của
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 151
mình20. Quả thật, chính những người sợ không dám cam kết
18F
lâu dài mới là những người không thực sự tự do.
Cuối cùng, trung thành không phải là một sự nhượng
bộ mù quáng, hoàn toàn loại bỏ mọi sự cởi mở đón nhận
thay đổi. Sự dấn thân của hành động đức tin không phải là
một cái gì được làm một lần cho tất cả, nhưng nó phải không
ngừng được canh tân. Vì thế, hành động của đức tin phải sẵn
sàng cởi mở để đón nhận những thay đổi xảy ra nơi bản thân
chúng ta, nơi người khác, nơi Giáo Hội và nơi thế giới. Tuy
nhiên, điều này chỉ có thể đạt được với sự nhạy cảm, sự trao
đổi thông tin, và sự sẵn sàng hy sinh. Nhờ kinh nghiệm nhạy
cảm thay đổi này, sự trung thành được giữ mới mẻ luôn và
hành động của đức tin được không ngừng canh tân.
Sự Chuyển Hóa Đầy Sáng Tạo
Như chúng ta thấy trong phần thảo luận trên đây về
sự trung thành, hành động của đức tin đặt người ta trong một
tiến trình thay đổi. Sự đáp trả của hành động đức tin có một
hiệu quả biến đổi trên đương sự; nó canh tân và tái tạo nhân
cách của chúng ta. Vì thế, hành động của đức tin đầy sức
sáng tạo. Khía cạnh sáng tạo của hành động đức tin bắt
nguồn một cách lôgic từ sự nhìn nhận rằng đức tin là một
hành động "trục" (hành động của toàn thể ngã vị con người).
Trong tư cách là một hành động của toàn thể ngã vị con
người, xuất phát từ trọng tâm của bản ngã, đức tin không chỉ
đem lại cho người tin thêm sự hiểu biết mà thôi. Nó thấm
đẫm vào toàn bộ hữu thể của người tin xét như một nhân vị
và ảnh hưởng đến cách mà người ấy sống và hành động.
20 Eugene C. Kennedy, Believing: The Nature of Belief and Its Role in Our
Lives (Garden City, NY: Doubleday & Co., 1977) 87-91
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 152
Hành động của đức tin đầy sức sáng tạo như có thể thấy
trong một số khía cạnh:
Trước hết, nó chuyển hóa chính cá nhân người tin.
Chấp nhận sự tự biểu lộ tình yêu của Thiên Chúa nơi Đức
Giê-su Kitô, điều này sẽ đem lại một cuộc chuyển hóa nơi
chính bản ngã của người tin. Xuyên qua hành động của đức
tin, người tín hữu tiến tới một nhận thức mới về chính mình
và về mối tương quan của mình với Thiên Chúa, với tha
nhân và với thế giới. Thứ hai, đức tin chuyển hóa mối tương
quan giữa người tín hữu với những người khác. Trong tư
cách là môn đệ của Đức Giê-su Kitô, người tín hữu trở thành
giống như Đức Giêsu, nghĩa là trở thành một người quan
tâm tới người khác. Đời sống của đương sự trở thành một
đời sống yêu thương và phục vụ người khác, trao hiến chính
mình cho người khác, như Đức Giêsu, quan tâm tới những
người nghèo và những kẻ bị gạt ra ngoài lề xã hội.
Thứ ba, đức tin có khả năng chuyển hóa chính thế
giới qua việc chuyển hóa các cơ cấu của xã hội. Như thần
học giải phóng đã cho thấy, Giáo Hội và các Kitôhữu phải
nỗ lực để vượt qua những hình thức áp bức và bất công
trong chính trị, xã hội và kinh tế vốn đang tồn tại trong thế
giới hôm nay. Điều này có nghĩa rằng phải phấn đấu để thay
đổi các cơ cấu xã hội vốn gây ra sự kỳ thị chủng tộc, kỳ thị
phái tính, apácthai, độc tài, quân phiệt, và các hình thức tệ
nạn xã hội khác.
Đức Tin Và Sự Nghi Ngờ
Ở gốc rễ của cuộc thảo luận về mối tương quan của
đức tin và sự nghi ngờ là câu hỏi về vai trò của lý luận con
người trong hành động đức tin. Một đàng, hành động của
đức tin đem lại cho người tin một sự chắc chắn vượt quá sự
chất vấn và nghi nan. Đức tin là sự chấp nhận hoàn toàn và
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 153
dấn thân trọn vẹn cho sự tự biểu lộ tình yêu của Thiên Chúa
nơi Đức Giê-su Kitô. Ở một bình diện, đức tin liên quan đến
một sự dấn thân không thể bị chất vấn bởi lý trí con người.
Đàng khác, do bản chất của các thực tại được mạc
khải trong đức tin, có những yếu tố bất quyết và mù mờ liên
quan đến hành động của đức tin. Như Thư Do Thái ghi
nhận: "Đức tin là bảo đảm cho những điều ta hy vọng, là
bằng chứng cho những điều ta không thấy..." (11,1). Sự tự
biểu lộ của Thiên Chúa mạc khải các mầu nhiệm mà người
ta không thể nhận hiểu hoàn toàn bằng khả năng suy lý của
con người. Người ta luôn luôn cứ còn muốn hiểu nhiều hơn,
muốn thấy rõ hơn. Vì thế, sẽ là điều hoàn toàn tự nhiên và
bình thường việc người tín hữu có những vấn nạn về đức tin
và muốn tìm kiếm những nhận hiểu sâu xa và đầy đủ hơn về
các thực tại được chấp nhận trong đức tin.
Một trí óc biết tìm kiếm và phê bình là một yếu tố
thiết yếu trong hành động của đức tin. Vào thế kỷ 13 Tôma
Aquinô đã định nghĩa hành động của đức tin là "suy nghĩ với
sự chấp nhận". Đối với Aquinô, điều này có nghĩa rằng
không chỉ việc suy nghĩ và chất vấn tương hợp với sự chấp
nhận của đức tin, mà đó còn là những yếu tố thiết cốt trong
hành động của đức tin. Ngày nay, các nhà thần học như Paul
Tillich, Eugene Kennedy, Avery Dulles, và Gregory Baum
mô tả vai trò phê bình mà lý trí đảm nhận trong hành động
của đức tin bằng cách khẳng định tính tương hợp giữa đức
tin và sự nghi ngờ. Rất tiếc, không có sự nhất trí giữa những
nhà thần học này về ý nghĩa của hạn từ "nghi ngờ". Tuy
nhiên, tất cả các vị đều nhận thấy một số hình thức của sự
chất vấn là tương hợp với hành động của đức tin.
Tuy nhiên, không phải mọi hình thức nghi ngờ đều
tương hợp với hành động của đức tin. Khi sự nghi ngờ liên
can tới một sự tẩy chay đức tin, nó sẽ hủy diệt đức tin và do
đó không còn tương hợp với đức tin nữa. Người ta không thể
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 154
vừa là Kitôhữu vừa nghi ngờ sự hiện hữu của Thiên Chúa.
Người ta không thể vừa là người Công Giáo vừa nghi ngờ
rằng có thể Giáo Hội Công Giáo không có vai trò nào trong
tiến trình mạc khải. Thế nhưng, như các nhà thần học này
chỉ ra, có nhiều trường hợp trong đó sự nghi ngờ tương hợp
với đức tin. Chẳng hạn, khi một số biểu tượng của đức tin
không còn giải thích được kinh nghiệm đức tin một cách
thỏa đáng, người ta không thể không chất vấn chúng. Những
sự chất vấn như thế trở thành một phần rất thiết yếu trong
tiến trình tìm kiếm của người tín hữu hầu có được một sự
nhận hiểu thích đáng hơn về các mầu nhiệm của đức tin,
cũng như về chính mình và về ý nghĩa của cuộc sống mình.
Loại nghi ngờ như vậy không những không phải là một
chuớng ngại đối với hành động của đức tin, mà nó thực sự
còn là điều thiết yếu giúp cho sự nhất quán lành mạnh và sự
phát triển tâm lý của người ta.
Các Chặng Đường Của Đức Tin
Các nghiên cứu hiện đại đã cho thấy rằng sự đáp trả
của đức tin nơi một người không hoàn toàn giống nhau ở các
chặng đường phát triển khác nhau của người đó. Trong tư
cách là những con người tiến tới trưởng thành, chúng ta đi
qua các chặng đường khác nhau của tiến trình phát triển -
thuở sơ sinh, tuổi thiếu thời, thanh niên, người lớn. Điều mà
các nhà tâm lý ngày nay đã khám phá ra đó là bản chất của
sự đáp trả của đức tin sẽ thay đổi tùy thuộc vào giai đoạn
phát triển của người ta. James Fowler đã phác họa các chặng
đường khác nhau của đức tin tương ứng với các giai đoạn
phát triển của con người. Ý nghĩa của công trình nghiên cứu
của các học giả như Fowler không chủ yếu nằm ở chỗ định
vị và dán nhãn chính xác cho các giai đoạn. Công việc này
có thể được thực hiện theo những kiểu mẫu và khuôn khổ
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 155
khác nhau. Điều quan trọng ở đây là việc nhìn nhận rằng
người ta trải qua những chặng đường khác nhau trong quá
trình phát triển đức tin. Nghĩa là chúng ta phải chấm dứt
việc trao cho đứa bé một sự nhận hiểu đức tin của người lớn
và tránh kỳ vọng người lớn sống loại đức tin của lũ con nít.
KẾT LUẬN
Mẫu thức ngã vị đưa ra một định nghĩa về đức tin
trong đó quan tâm tới việc trung thành bảo quản yếu tính của
mạc khải Kitô giáo và đồng thời cũng quan tâm tới việc
chuyển trao mạc khải này bằng một cách thế sao cho đáp
ứng được kinh nghiệm của những con người nam nữ thời
đại. Một đàng, đức tin Kitô giáo nhìn về quá khứ. Định
nghĩa của mẫu thức ngã vị cắm rễ kinh nghiệm đức tin nơi
truyền thống Công Giáo. Theo mẫu thức ngã vị, đức tin
không duy chỉ được nhìn như một kinh nghiệm chủ quan do
người tín hữu tạo ra. Mẫu thức này nhấn mạnh rằng đức tin
đặt nền trên sự tự mạc khải của Thiên Chúa, nơi thực tại
Đức Giêsu, nơi kinh nghiệm của các tông đồ, nơi truyền
thống Giáo Hội, và nơi các biểu tượng của đức tin. Mẫu thức
này khẳng định tầm quan trọng của thẩm quyền giáo hoàng
và các giám mục cũng như nhu cầu cần phải có một hình
thức Giáo Hội cơ chế nào đó. Nó chấp nhận tính bất khả ngộ
của Giáo Hội và chấp nhận rằng cần phải có những giáo
thuyết và những tín điều.
Đàng khác, các thực tại của đức tin Kitô giáo phải
được diễn tả bằng một cách sao cho chúng đụng đến các nhu
cầu của hiện tại và tương lai. Định nghĩa theo mẫu thức ngã
vị làm điều này bằng cách chấp nhận sự thách đố của
Vatican II để đối diện với "những dấu chỉ của thời đại". Một
trong những quan tâm chính yếu nhất của mẫu thức ngã vị là
trình bày các thực tại của đức tin bằng một cách thế sao cho
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 156
chúng đáp ứng được kinh nghiệm của con người ngày nay.
Định nghĩa theo mẫu thức ngã vị cũng chỉ ra rằng Giáo Hội
và các Kitôhữu có trách nhiệm trong việc chỉ cho người ta
thấy rằng Tin Mừng đang trả lời cho những vấn đề và những
khó khăn của thời hiện đại như : tình trạng nghèo đói, nạn
phân biệt chủng tộc, phân biệt giới tính, sự đàn áp chính trị,
chiến tranh và hòa bình, việc ngăn chặn vũ khí hạt nhân, các
nền kinh tế, phá thai, mối liên hệ giữa Kitô giáo và các tôn
giáo khác, môi trường sinh thái, vv... Định nghĩa này nhấn
mạnh rằng mối tương quan giữa các biểu tượng đức tin theo
truyền thống và kinh nghiệm của con người phải là một tiến
rình không ngừng đi tới. Chỉ bằng cách này đức tin Kitô
giáo mới có thể tiếp tục là một thực tại sống động, chứ
không phải là một tàn tích của quá khứ.
Cuối cùng, mẫu thức ngã vị cho thấy rằng một đức tin
Kitô giáo đích thực sẽ đóng một vai trò tích cực trong tiến
trình phát triển và thăng tiến nhân vị. Một số tên tuổi vô thần
như Feuerbach, Nietzsche, Marx, Freud, Sartre, và các nhà
theo chủ nghĩa nhân bản thế tục đã tẩy chay đức tin Kitô
giáo bởi vì , một cách nào đó, họ nhìn đức tin ấy như một
vật cản không cho họ phát triển bản ngã của họ. Định nghĩa
của mẫu thức ngã vị về đức tin đã cho thấy bằng cách nào
ngã vị người ta được chuyển hóa, canh tân, và tái tạo xuyên
qua hành động của đức tin. Trên bình diện nhân loại, một
nhân vị triển nở nhờ kinh nghiệm yêu thương và tương giao
với người khác trong tình yêu. Thế mà, như mẫu thức ngã vị
cho thấy, bản chất của mạc khải nằm ở chỗ Thiên Chúa biểu
hiện tình yêu vô điều kiện của Ngài, một tình yêu thách đố
người tín hữu yêu thương tha nhân bằng cùng một thể cách
tương tự. Nếu tình yêu nhân loại có thể giúp cho nhân vị
triển nở, thì kinh nghiệm về tình yêu tuyệt đối và vô điều
kiện sẽ càng giúp nhân vị triển nở nhiều hơn biết bao.
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 157
CÂU HỎI GIÚP TÌM HIỂU
1. Nội dung của đức tin là gì? Mẫu thức ngã vị hiểu
như thế nào về nội dung đức tin?
2. Hành động của đức tin là gì? Mẫu thức ngã vị hiểu
như thế nào về hành động của đức tin?
3. Sự trung thành nghĩa là gì? Làm sao sự trung thành
có thể hòa hợp với sự tự do của con người, sự cởi mở sẵn
sàng thay đổi, và sự bao dung đối với các tôn giáo khác?
4. Sự nghi ngờ nên đóng vai trò nào trong đức tin?
Đức tin và sự nghi ngờ có thể tương hợp với nhau không,
hay sự nghi ngờ luôn luôn hủy diệt đức tin?
===
Chương 6: KHOA NHÂN CHỦNG
THẦN HỌC
Mary M. Garascia, C.PP.S.
DẪN NHẬP
Trong gia đình tôi, mỗi giờ cơm tối thường cũng là
một buổi tranh luận. Được phát động bởi các phương pháp
sản ý của cha tôi, chúng tôi nêu ra các lập trường của mình
và bảo vệ chúng - về đủ mọi lãnh vực: khoa học, triết học,
văn chương, chính trị, tôn giáo, vv... Rồi những năm sau
này, tôi nhận thấy những nét sửng sốt nơi các anh chị sắp
làm rể hay làm dâu trong nhà mình (đôi khi thậm chí tôi phải
giúp đỡ họ khi họ lâm vào thế bí) khi họ cố gắng nắm hiểu
các cuộc tranh luận đang diễn ra và cố gắng xác định xem ai
là đồng minh và ai là đối thủ.
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 158
Khoa nhân chủng thần học có thể được mô tả như
một cuộc đàm thoại đã bắt đầu trước khi chúng ta bước vào
phòng. Cuộc đàm thoại này nói về chủ đề con người;
"anthropology" có gốc ở từ Hi Lạp "anthropos", nghĩa là con
người. Khoa nhân học hiện đại nghiên cứu nguồn gốc của
đời sống con người và sự phát triển của văn hóa nhân lọai.
Nhưng rất lâu trước khi khoa nhân học bắt đầu thì đã không
ngừng có sự bàn cãi, thường rất ồn ào, về con người trong
thần học Kitô giáo. Thật vậy, chính văn hóa nhân loại mà
khoa nhân học nghiên cứu khi tìm hiểu nền văn minh Tây
phương đã nhận ảnh hưởng rất lớn bởi cách mà truyền thống
Kitô giáo đã hỏi và trả lời về con người.
Giống như những anh chị làm dâu/rể nói trên trong
gia đình tôi, chúng ta có thành công hay không khi đi vào
cuộc đàm thoại ấy còn tùy thuộc ở chỗ chúng ta có nhận
hiểu những câu hỏi hàm ẩn đằng sau cuộc chuyện. Chắc
chắn cuộc chuyện có ẩn chứa nhiều câu hỏi như thế. Khi các
giai đoạn lịch sử khác nhau được vén mở ra, các câu hỏi mới
được thêm vào, rồi các câu hỏi và các câu trả lời trước đó sẽ
được nhận định, được hiệu chỉnh, và được trả lời lại. Tuy
nhiên, cũng như đối với bất cứ cuộc đàm thoại có trọng tâm
nào, luôn luôn có những chủ điểm qui chiếu cố định và
những chủ điểm này phục vụ như những tiêu điểm mà cuộc
thảo luận phải thường xuyên qui hướng về.
Những Câu Hỏi Mà Khoa Nhân Chủng Thần Học Đặt Ra
Những câu hỏi về Con Người và Vũ Trụ: Đâu là mối
tương quan giữa chúng ta với vũ trụ vật chất? Phải chăng vũ
trụ vật chất được tạo ra để nâng đỡ đời sống chúng ta và để
thỏa mãn các nhu cầu của chúng ta? Phải chăng con người là
chóp đỉnh của tạo vật và do đó đóng vai trò người chăm sóc
tất cả các tạo vật khác trên thế giới? Hay con người thực sự
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 159
không tách biệt khỏi tạo vật mà đúng hơn nó chịu lụy thuộc
vào thế giới và các qui luật của thế giới? Đâu là sự khác biệt
giữa con người và động vật, nhất là những động vật cấp cao?
Phải chăng chỉ con người mới có tính "tâm linh" và chỉ con
người mới được Thiên Chúa nhắm đến?
Những câu hỏi về Sự Hình Thành Con Người: Các
thành tố của con người (các cảm nghĩ, đam mê, nghị lực; các
khát vọng; lý trí và khả năng phán đoán; thân thể; tính dục;
ký ức; ý chí) gắn khớp với nhau như thế nào? Phải chăng có
một thứ tự ưu tiên giữa các thành tố này? Phải chăng phần
này thánh thiện hơn phần kia, là hình ảnh của Thiên Chúa
nhiều hơn phần kia? Phải chăng con người chính là những
hành động của con người? Có một con người chuẩn mực
hay không? Phải chăng có một yếu tính thần thiêng khôn tả
đặt nền cho tất cả các thành tố của con người?
Những câu hỏi về Các Động Lực Của Con Người:
Phải chăng con người rốt cục bị lôi kéo bởi những ích lợi
của riêng mình? bởi những đam mê và khát vọng? Phải
chăng xét thực chất, con người bị thúc đẩy hay lôi kéo bởi
các lực ngoại tại? Khi chúng ta hành động với ác ý, thì tại
sao chúng ta làm thế? Phải chăng không thể tránh được cách
ứng xử như vậy? Chúng ta trách nhiệm đến mức nào?
Những câu hỏi về Bổn Phận của Con Người: Đâu là
bổn phận của con người - để tìm kiếm khoái lạc? để trao
hiến tình yêu? để biến đổi thế giới? để tìm kiếm thiên đàng?
để tranh thủ hạnh phúc? Đời sống con người có một mục
đích nào không, hay nói chung nó chẳng có mục đích nào
cả, ngoại trừ là để sinh tồn? Những xung đột giữa các mục
đích khác nhau nằm ở đâu?
Những câu hỏi về Họat Động của Con Người: Hành
vi của con người là gì, xét như là đối lập với một chức năng
có tính sinh vật học? Các hoạt động như sáng kiến, làm việc,
cử hành lễ nghi, kể chuyện, định đoạt, tưởng tượng, nuôi
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 160
dưỡng, dựng vợ gả chồng,... có cho chúng ta biết gì về bản
tính của con người hay không?
Những câu hỏi về Thời Gian và Lịch Sử: Phải chăng
thời gian kết thúc đối với chúng ta khi chúng ta chết và do
đó đời sống này "chỉ có vậy thôi"? Đời sống và hành động
của mỗi con người rốt cục có giá trị gì đáng kể không? Hay
phải chăng chúng ta chỉ có ý nghĩa đối với một ít người biết
chúng ta và thậm chí chỉ đối với số ít hơn nữa những người
yêu thương chúng ta? Lịch sử loài người có tiến bộ gì không
- nghĩa là loài người có đang trở nên tốt hơn không? Hay
lịch sử chỉ là một cái gì lặp đi lặp lại vô nghĩa?
Những câu hỏi về Thiên Chúa được đặt ra từ những
câu hỏi về Con Người: Thiên Chúa có phải là một ngã vị?
Chúng ta có thể phát biểu về Thiên Chúa dựa trên những gì
chúng ta nói về thế giới không? Con người có thể biết Thiên
Chúa không? Bằng cách nào? Chúng ta có thể hành động
theo những gì chúng ta biết không? Thiên Chúa có một
chương trình cho từng người chúng ta không? Sự hiện hữu
của Đức Giêsu Nadarét có chi phối gì đến các câu hỏi trên
đây không?
Garascia, 1991
Chương này sẽ xem xét đến bốn trong số các tiêu
điểm trên đây, bốn chủ đề về con người có ý nghĩa quan
trọng đến nỗi người ta không thể tưởng tượng được rằng
thần học Kitô giáo mà không có chúng. Những chủ đề đó là:
con người là hình ảnh của Thiên Chúa, con người phạm tội
và được cứu, con người là một ngã vị trước mặt Thiên Chúa,
và con người có tính xã hội.
HÌNH ẢNH CỦA THIÊN CHÚA
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 161
Thiên Chúa phán: "Chúng ta hãy làm ra con người
theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta, để con người
làm bá chủ cá biển, chim trời, gia súc, dã thú, tất cả mặt đất
và mọi giống vật bò dưới đất" (St 1,26-27)
Khi xuất hiện những tôn giáo mới, thì các tôn giáo
mới này thực sự không sáng chế ra những thuật ngữ hay
những ý niệm hoàn toàn mới mẻ. Đúng hơn, các tôn giáo
mới này vay mượn từ các tôn giáo cũ và từ nền văn hóa
xung quanh mình, rồi hiệu chỉnh, bổ sung, tổng hợp các ý
niệm, điều hợp ngôn ngữ cho tới khi những tri thức mới mẻ
và đầy tính sáng tạo hiện lộ một cách rõ ràng.
Các nhà rao giảng và các tư tưởng gia của Kitô giáo
sơ khai đã vay mượn cụm từ "hình ảnh của Thiên Chúa"
trong Thánh Kinh Do Thái giáo khi họ bắt đầu nói về con
người. Về sau, họ tạo sắc thái cho ý niệm này với những ý
tưởng vay mượn từ triết học Hi Lạp. Có lẽ họ tâm đắc nhiều
với cụm từ đầy sức diễn tả ấy bởi vì họ, cũng giống như
người Do Thái, đang phải đương đầu với những nền văn hóa
có quan niệm về con người vốn mâu thuẫn với đức tin của
họ. Đôi khi việc nhận hiểu một thuật ngữ thần học sẽ được
đào sâu hơn một khi người ta nắm biết thuật ngữ ấy đối
nghịch lại cái gì và khẳng định cái gì. Thần học thường có
tính đối kháng văn hóa. Ý niệm "hình ảnh của Thiên Chúa"
là một ví dụ minh họa rất rõ điều này.
Khi người Do Thái định cư ở Palestine, họ gặp gỡ với
nhiều câu chuyện khác nhau của người Canaan và người
Mêsôpôtamia nói về sự sáng tạo vũ trụ và con người. Thế là
những người kể chuyện của Do Thái, cùng với các ký lục và
các nhà biên tập đã thay đổi các câu chuyện kia để điều
chỉnh những quan niệm về con người chất chứa trong đó,
cuối cùng kết quả gặt hái được là quyển Sách Sáng Thế như
chúng ta biết hôm nay. Các câu chuyện sáng tạo của Do
Thái dạy rằng Thiên Chúa Duy Nhất, Đấng là nguyên ủy của
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 162
mọi tạo vật, đã hữu ý tạo ra con người để con người trở nên
một thành phần trong vũ trụ muôn màu muôn vẻ này, một vũ
trụ được tạo dựng rất hài hòa do ý muốn của Thiên Chúa và
do sự cai quản của Ngài. Một chủ đề quan trọng khác trong
thần thọai sáng tạo của người Do Thái, đó là: mọi tạo vật
đều tốt đẹp, nhất là thân thể của người phụ nữ - vốn được
tạo dựng trong cùng bản tính với người nam và được gọi là
bạn đồng hành của người nam.
Muốn đánh giá được sự khác biệt giữa khoa nhân học
này của Thánh Kinh so với khoa nhân học được tìm thấy nơi
các thần thoại Mêsôpôtamia, ta phải có sự hiểu biết chi tiết
về cả hai truyền thống. Nhưng một cách đặc trưng, việc sáng
tạo thế giới và con người đã được khắc họa trong các thần
thoại ngoại giáo này như một hành động kỳ bí là kết quả của
sự xung đột giữa các vị thần khác nhau. Vì thế, cái trật tự
của thế giới này tự nó đã có tính chênh vênh và hỗn độn, do
bởi mối tương tác không ngừng giữa các thần lành và các
thần dữ. Các hy lễ của các dân tộc cổ xưa là những cố gắng
nhắm làm hòa điệu cuộc hiện sinh trong lịch sử với bi kịch
vũ trụ vốn không ngừng tiếp diễn kia.
Khi Sách Sáng Thế nói về con người như là kẻ "cai
quản" các tạo vật khác, nó đang thiết lập một mối tương
quan giữa một bên là Thiên Chúa, Đấng cai quản vũ trụ, và
bên kia là con người. Phẩm giá của con người được khẳng
định bởi hàm ý rằng con người thực thi một vai trò giống
như Thiên Chúa chứ không phải giống với vai trò của các
tạo vật khác. Vai trò này, được Thiên Chúa trao ban cho con
người, là một hình thức chủ quyền được tạo ra mà Thiên
Chúa vốn rất ưng ý. Tác giả Thánh Vịnh đã thốt lên:
Ngắm tầng trời tay Chúa sáng tạo,
muôn trăng sao Chúa đã an bài,
thì con người là chi mà Chúa cần nhớ đến, ...
Chúa cho con người chẳng thua kém thần linh là mấy,
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 163
ban vinh quang danh dự làm mũ triều thiên. (Tv 8, 4-6)
Xét một số phương diện, chính các ý tưởng mà các
thần thoại sáng tạo của Do Thái phi bác đã vẫn còn sống
mạnh mẽ ở Trung Đông trong các thế kỷ 1 và 2 sau công
nguyên. Tại đây, Kitô giáo, một tôn giáo mới, được thiết lập
sau khi tách ra khỏi Do Thái giáo. Trong môi trường này,
các hình thức khác nhau của đa thần giáo, của thuyết định
mệnh và thuyết nhị nguyên góp phần làm nên nền văn hóa
tôn giáo phổ thông. Do không có một nhãn quan tôn giáo
mạch lạc chặt chẽ, người ta đã dễ dàng thay đổi từ quan
niệm này sang quan niệm khác, đôi khi pha trộn các yếu tố
của các hệ thống khác nhau thành một hỗn hợp (thuyết hổ
lốn).
Các tư tưởng gia của Kitô giáo sơ khai như Justin,
Theophilus, Clement, ... đã dùng khoa nhân học Do Thái về
hình ảnh của Thiên Chúa để chống lại những quan niệm phổ
biến vốn đe dọa đức tin Kitô giáo. Vào giữa thế kỷ 2, Irênê,
Tertullian, Hippolytus và các giáo phụ khác của Giáo Hội đã
chỉ ra cách riêng rằng ngộ đạo thuyết (21) là một lạc giáo
nguy hiểm, và các vị này đã kịch liệt chống lại ngộ đạo
thuyết bằng các văn liệu của mình. Cuộc đấu tranh chống
ngộ đạo thuyết và các lạc thuyết khác của ba thế kỷ đầu tiên
đã mở rộng nhận thức của Kitô giáo về con người là một
hình ảnh của Thiên Chúa. Ở đây chúng ta không thể thuật lại
toàn bộ câu chuyện về những cuộc tranh cãi này, vì thế
chúng ta sẽ xem xét qua phần kết thúc của câu chuyện được
tiêu biểu bởi Cyril ở Alexandria.
Dựa vào những giáo huấn của các giáo phụ đi trước,
Cyril (380-444) dạy rằng có nhiều cách trong đó con người
có thể được nhận ra là hình ảnh của Thiên Chúa. Một trong
những cách ấy liên quan đến việc con người sở hữu những
phẩm tính mà Thiên Chúa sở hữu một cách tối ưu.
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 164
Con người được tạo nên theo hình ảnh của Thiên
Chúa... (có nghĩa rằng) chỉ con người - trên hết mọi sinh vật
khác trên trái đất, được ban cho lý trí - mới có thể khoan
dung và mới có khả năng đạt được các nhân đức. Con người
cũng nắm giữ quyền lực trên mọi tạo vật khác trên trái đất
bởi vì con người đã được tạo nên theo hình ảnh của Thiên
Chúa.22
19F
Trong bản văn ngắn này, Cyril nêu bật lý trí như khả
năng đặc biệt của con người, cái làm cho con người có thể
giống với Thiên Chúa là Đấng tốt lành và nhân hậu. Sự nhấn
mạnh đặt vào lý trí đã phát triển trong suốt những cuộc tranh
luận về Đức Kitô. Các tư tưởng gia Kitô giáo ở Alexandria
đã sử dụng các ý niệm thuộc tân thuyết Platon của Hi Lạp để
chi tiết hóa hành động sáng tạo. Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa
của hệ thống này rốt cục đã trở thành Chúa Cha trong Thiên
Chúa Ba Ngôi của Kitô giáo. Công cuộc sáng tạo, theo tư
tưởng Hi Lạp, không chỉ liên can đến việc làm ra mọi sự
nhưng còn liên can đến việc đặt định trật tự hay hình thái
cho chúng bằng cách trao cho chúng kế hoạch mà Thiên
Chúa, Đấng là nghệ nhân hay kiến trúc sư, đã hình dung
trước. Kế hoạch này hay logos này, tức nguyên tắc chỉ dẫn
trong ý muốn sáng tạo của Thiên Chúa, được đồng hóa với
Ngôi Lời vốn đã trở thành nhục thể. Như vậy, Đức Kitô bình
đẳng với Chúa Cha bởi vì cả hai đều hằng cửu và cùng tác
động trong công cuộc sáng tạo nên mọi sự. Khi khoa kitô
học này xuất hiện, con người được mô tả như những hình
ảnh của hình ảnh trọn hảo của Thiên Chúa là Đức Kitô. Con
người là những hình ảnh thụ tạo tham dự vào hoạt động
quản trị thế giới của Đức Kitô.
Khi Cyril nói rằng con người "có khả năng đạt được
các nhân đức", ngài đang bác bỏ các hình thức khác nhau
22 Peter C. Phan (tức Linh mục Phêrô Phan Đình Cho), Grace and the Human
Condition (Wilmington: Michael Glazier, Inc., 1988) 141.
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 165
của thuyết tất định, chẳng hạn thuyết tất định của phái ngộ
đạo. Những người thuộc phái ngộ đạo tin rằng con người
được tạo thành để trở nên tốt hay xấu tùy theo ngẫu hứng
của tạo hóa, một vị thần xoàng xoàng hay một lực sáng tạo
nào đó. Đối với những người theo thuyết tất định thuộc phái
ngộ đạo, thật chẳng có ý nghĩa gì việc Thiên Chúa tưởng
thưởng cho những hành vi tốt lành hay trừng phạt các hành
vi xấu. Nhưng đối với các Kitôhữu, tự do là một tiên đề thiết
yếu trong đạo đức trách nhiệm cá nhân. Vì thế, Cyril nhận
định:
Từ ban đầu, con người được dựng nên với một trí
khôn cao vượt trên tội lỗi và các đam mê. Tuy nhiên, con
người không phải là không có khả năng nghiêng chiều theo
bất cứ hướng nào mình thích; bởi vì Đấng Tạo Hóa tuyệt vời
của vũ trụ nghĩ rằng thật là phải lẽ việc gắn cho con người
những quyền kiểm soát trên ý chí mình, và để cho ý chí con
người tự vận động để tranh thủ bất cứ gì mình muốn. Lý trí
là cái liên quan đến sự chủ ý chọn lựa, chứ không phải là kết
quả của cuỡng bách, cũng không bị thiết định cứng ngắt bởi
các qui luật tự nhiên đến nỗi con người không thể vấp ngã;
vì đây là đặc điểm riêng của yếu tính tối t hượ ng.23
F20
Chủ quyền của con người phản ảnh chủ quyền của
Thiên Chúa, và trí khôn của con người phản ảnh logos của
Thiên Chúa, cũng vậy, Cyril rút ra loại suy giữa sự tự do của
con người và sự tự do của Thiên Chúa. Thiên Chúa tự do ở
chỗ Ngài hiện hữu độc lập đối với bất cứ gì khác (tự hữu
tính) và Ngài không cần được tạo ra. Cyril nói rằng Thiên
Chúa tự do chọn lựa sáng tạo, cũng vậy, con người "tự cai
quản mình theo sự quyết định chọn lựa của mình."24
12F
23 Walter J. Burghardt, “The Image of God in Man,” Studies in Christian
Antiquity 14 (Woodstock, MẶC DÙ: Woostock College Press, 1957) 46.
24 Ibid., 48.
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 166
Tuy nhiên, đối với Cyril hay đối với Augustinô,
người đương thời của Cyril, không phải sự hoàn toàn tự do
chọn lựa là cái phản ảnh Thiên Chúa. Đúng hơn, chỉ sự chọn
lựa điều tốt mới phản ảnh Thiên Chúa. Khi áp dụng tư tưởng
Hi Lạp, các tư tưởng gia Kitô giáo nói rằng tạo vật là một
diễn tả sự tốt lành mà Thiên Chúa tự thông truyền, một sự
tham dự vào chính bản tính chỉ thuộc riêng của Thiên Chúa.
Vì thế, sự tự do đích thực - tức sự tự do có năng lực phản
ảnh Thiên Chúa - không phải là sự chọn lựa giữa tốt và xấu
nhưng là sự chọn lựa điều tốt lành, đức hạnh. Để cho con
người có thể chọn lựa điều tốt, Cyril nói thêm:
Bản tính của con người đã thấm nhuần nỗi khát vọng
mọi điều tốt lành, và thấm nhuần ý muốn nuôi dưỡng sự
thiện và công lý. Bởi đó chúng ta nói rằng đây là cách mà
con người được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa và
giống như Ngài, trong mức độ mà con người vốn có bản tính
tốt lành và ngay thẳ ng. 25
F2
Cho tới đây chúng ta đã thấy rằng theo Kitô giáo, con
người là "hình ảnh của Thiên Chúa" có nghĩa rằng con
người được tạo nên là những hữu thể tốt lành, có lý trí và tự
do bởi một vị Thiên Chúa vốn là tất cả những điều tất yếu
này. Tính chất cuối cùng của Đấng Tạo Hóa được trao ban
cho các tạo vật trong tư cách là hình ảnh của Thiên Chúa có
liên quan tới sự chết.
Mọi Sự Đều Rời Rã (Things Fall Apart)26 là tựa đề
23F
của một quyển tiểu thuyết hiện đại mà những người thuộc
tân phái Platon ắt hẳn rất thích! Trong khi họ bác bỏ các
quan niệm nhị nguyên vốn xem vật chất là điều xấu xa, thì
các giáo phụ lại thích thú với giáo huấn của Hi Lạp về linh
hồn như một chiều kích của hữu thể con người sẽ còn tiếp
tục tồn tại sau khi thân thể vật chất đã mục rữa. Đối với tân
25 Ibid.
26 Chinua Achebe, Things Fall Apart (London: Heineman, 1958, 1982)
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 167
thuyết Platon, sự mục rữa hay hủy hoại không phải là một
tiến trình tự nhiên giống như trong khoa học hiện đại. Nó
được hiểu như sự bất toàn. Theo tư tưởng Hi Lạp, một vật
càng hoàn hảo thì càng ổn định và bất biến. Con người có
một địa vị hay phẩm giá cao hơn so với các loại tạo vật
khác, một phần vì con người có một linh hồn vốn dù là thụ
tạo song giống với Thiên Chúa ở chỗ bất khả hủy hoại.
Tuy nhiên duy chỉ việc khẳng định sự bất tử của linh
hồn cũng chưa đủ cho một tôn giáo mà Đấng sáng lập của
nó được tin tưởng là đã sống lại từ cõi chết. Điều bật ra ở
đây là một thần học nói rằng Ngôi Lời, qua cuộc nhập thể,
đã liên kết thân xác khả diệt của con người với bản tính của
Người để chuyển hóa nó trở thành một thân xác mà - sau khi
mọi kẻ chết được sống lại - sẽ trở thành bất khả hủy diệt.
Chính với giáo thuết này về sự phục sinh của thân xác mà
cuối cùng Kitô giáo đã đánh bại cả những mẫu thức tư tưởng
cổ xưa lẫn hiện đại vốn xem thường, chà đạp hay giảm giá
thân xác.
Những ý tưởng này của thần học Kitô giáo sơ khai có
mối liên hệ gì với thế giới ngày nay? Các nhà xã hội học về
tôn giáo thường chỉ ra cách thức mà tôn giáo định hình thế
giới quan và đặc nét riêng trong đó người ta sống và qua đó
khuôn đúc ý thức về nhân vị. Chắc chắn những ý niệm về
nhân vị được trình bày ở đây đã đi vào trong triết học và luật
pháp Tây phương và trong nhận thức của người Tây phương
về chính mình. Có thể kể ra các ví dụ như: giả định về phẩm
giá và giá trị tuyệt đối của sự sống và của thân thể con
người, tầm quan trọng của sự tự do khỏi áp lực, sự tôn trọng
lý trí xét như nền tảng của trật tự tự nhiên và xã hội, và mối
ưu tiên ủng hộ những ý tưởng đứng vững vàng qua thời
gian.
Rất tiếc, những lý tưởng cổ điển này thường chỉ được
ủng hộ một cách "lý thuyết suông" trong xã hội. Đôi khi
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 168
chúng được hà hơi sống bởi chính những Giáo Hội Kitô giáo
đã xây dựng và chuyển trao truyền thống imago Dei (hình
ảnh của Thiên Chúa). Người ta không khó khăn lắm để tìm
thấy những ví dụ; chẳng hạn khuynh hướng của các văn sĩ
Kitô giáo nam giới xem phụ nữ như những hình ảnh kém
hoàn hảo hơn của Thiên Chúa chắc chắn có thể được nêu
như một ví dụ. Một ví dụ khác là khuynh hướng diễn dịch
mệnh lệnh cai quản trái đất như là sự cho phép khai thác nó
cách triệt để xuyên qua việc công nghiệp hóa vô giới hạn.
Bằng cách này, truyền thống tôn giáo Kitô giáo đã góp phần
tạo ra cuộc khủng hoảng môi trường sinh thái hiện nay.
Như đã nói ở trên, nhân vị xét như hình ảnh của
Thiên Chúa vẫn là một nguồn mà từ đó Kitô giáo rút ra để
khẳng định phẩm giá nội tại của mọi dân tộc. Vì thế hình
ảnh của Thiên Chúa là một ý niệm nền tảng của thần học
luân lý Công Giáo và của các thông điệp xã hội của các giáo
hoàng qua nhiều thế kỷ. Ngày nay, đó là một nguồn thần học
trong thế giới thứ ba nơi mà phẩm giá của người nghèo và
những người bị áp bức bị chà đạp bởi các chế độ chuyên chế
toàn trị và bởi những người nắm giữ quyền lực kinh tế.
Nhưng ngay cả tại một nước như Hoa Kỳ, nơi mà các cuộc
thăm dò của viện Gallup cho thấy lòng tự trọng thấp một
cách đáng ngạc nhiên và nơi mà nhiều người vẫn cảm
thấybất lực khi đối diện với những áp lực xã hội và kinh tế
có tính phi ngã vị, một ý niệm về imago Dei (hình ảnh của
Thiên Chúa) có thể là một động lực cho sự chuyển hóa và sự
quyết tâm bên trong.
SA NGÃ VÀ ĐƯỢC CỨU ĐỘ
Truyền thuyết kể rằng Đức Phật, khi vẫn còn là một
thái tử trẻ chứ chưa giác ngộ, ngày kia rời khỏi cung điện để
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 169
làm một chuyến mạo hiểm. Trên đường, ngài gặp một ông
lão, một người bệnh, một xác chết và một người ăn xin.
Những hình ảnh này thôi thúc ngài khám phá nguồn căn của
đau khổ và dẫn ngài tới sự khai trí nền tảng của đạo Phật:
đau khổ là do cố bám, do muốn chiếm hữu một cái gì đó -
của cải, sức khỏe, sự sống, hay chính cái ngã. Tất cả những
cái đó thực sự là không. Việc có hay không có những cái đó
không thể gây ra đau khổ cho một người giác ngộ, tức người
hoàn toàn siêu thoát khỏi chúng.
Tôn giáo nào cũng đương đầu với vấn đề đau khổ.
Mặc dù có những sự tương đồng giữa những câu trả lời của
Phật giáo và Kitô giáo đối với vấn đề tại sao chúng ta đau
khổ, nhưng các Kitôhữu sẽ nói với những bạn hữu Phật giáo
của mình: « Vấn đề không đơn giản như thế đâu! » Phân tích
của Kitô giáo về hiện tượng sự dữ và đau khổ thì khác biệt
một cách sâu xa so với phân tích của Phật giáo ở hai điểm
then chốt.
Thứ nhất, đối với các Kitôhữu, sự dữ là một thực tại
lịch sử đặt ra cho mỗi cá nhân và gây ra đau khổ bất chấp xu
hướng bên trong của cá nhân ấy như thế nào. Thứ hai, suy tư
của Kitô giáo về nỗ lực thanh luyện bản ngã khỏi những dục
vọng phóng túng và khỏi sự a dua theo sự dữ đi tới kết luận
này: sức thúc ép làm điều xấu chỉ có thể được vượt qua bởi
sức mạnh cứu độ của Thiên Chúa chứ không thể bởi sự hiểu
biết hay bởi công phu khổ luyện.
Giữa tất cả các tôn giáo của thế giới, chỉ một mình
Kitô giáo có vị sáng lập của mình là một nạn nhân của cái
chết tuẫn đạo. Phaolô tuyên bố vào khoảng năm 60 sau công
nguyên rằng thập giá là một xì căng đan và là cớ vấp phạm
(1Cr 1,23). Suy tư về sự tàn bạo của tấn bi kịch khổ nạn, đó
là chiều hướng của việc biên soạn Sách Tin Mừng thứ nhất.
Thập giá cho thấy bản tính khả diệt và cuối cùng là cái chết
của cuộc hiện sinh trong lịch sử.
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 170
Ý nghĩa ấy được cảm nhận bởi các môn đệ của Đức
Giêsu là những người sống ở cuối giai đoạn đặc biệt sóng
gió này của lịch sử Do Thái. Sống dưới sự cai trị của ngoại
bang, vào giai đoạn của chiến tranh và của những mối đe
dọa chiến tranh, dưới nguy cơ xói mòn văn hóa do thế giới
Hi Lạp « hiện đại », Palestine của thế kỷ thứ nhất mang
trong mình nó rất nhiều niềm hy vọng về một tương lai mới.
Đức Giêsu được kỳ vọng đem lại niềm hy vọng về một triều
đại mới của Thiên Chúa, và niềm hy vọng này đã tắt ngúm
khi Người chịu đóng đinh. Cuộc khổ nạn của Người xem ra
chỉ xác nhận rằng số phận của con người là trở thành nạn
nhân. Nhưng rồi, đã xảy ra cuộc Phục Sinh.
Dù cuộc Phục Sinh đã diễn ra như thế nào đi nữa về
phương diện thể lý, ngay từ đầu, các Kitôhữu đã hiểu sự
Phục Sinh như là một sự lật ngược của cặp bài trùng sự dữ là
đau khổ và sự chết. Một minh họa nổi tiếng từ Thánh Kinh
đó là bài thánh ca Philíp 2,6. Một ví dụ khác về sự nối kết
giữa đau khổ và Phục Sinh là trình thuật của Luca về sự kiện
Chúa Phục Sinh hiện ra trên đường Emmau. Thật sự không
có truyền thống về một Đấng Mêsia chịu đau khổ trong
truyền thống Do Thái giáo, nhưng Luca dám tạo ra một
truyền thống như thế! Ông ghi lại Lời Chúa Phục Sinh:
Nào Đấng Kitô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế,
rồi mới vào trong vinh quang của Người sao? Rồi bắt đầu từ
Môsê và tất cả các ngôn sứ, Người giải thích cho hai ông
những gì liên quan đến Người trong tất cả Sách Thánh. (Lc
24,26-27)
Thần học Kitô giáo về sự đau khổ (thần lý học) hiểu
sự đau khổ và sự chết như những thực tại ngoại thuộc. Hơn
nữa, nó tin rằng những sự dữ ngoại tại này và tình trạng tội
lỗi bên trong con người có sự nối kết với nhau. Ý niệm về sự
nối kết giữa chúng vốn có nguồn gốc Do Thái.
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 171
Trong tư tưởng của tôn giáo Do Thái, tình trạng tội
lỗi của dân tộc này, nhất là tội thờ ngẫu tượng, được hiểu
như nguyên nhân gây ra một án phạt nặng nề của Giavê.
Cũng vậy, tình trạng mất nước, mất ngai vàng, mất ơn phúc
cũng có thể là những hậu quả do tội lỗi cá nhân của những
người lãnh đạo như Đavít, Giêrôboam hay Ahaziah. Những
hành vi tội lỗi như thế còn có những hậu quả xa hơn nữa -
như có thể thấy qua giả định của những người hỏi Đức
Giêsu về trường hợp của người mù từ lúc mới sinh: « Thưa
Thầy, ai đã phạm tội, anh ta hay cha mẹ anh ta? » (Ga 9,1).
Tuy nhiên, Thánh Kinh Do Thái không cung cấp một
ý niệm rõ ràng về tội nguyên tổ cũng không đưa ra một thần
học chặt chẽ về tội cá nhân. Chính trong Kitô giáo, nhất là
Kitô giáo Tây phương, mà những ý niệm về tội được trình
bày tỉ mỉ thành một nhận thức có hệ thống về thân phận con
người, một nhận thức trong đó tội cá nhân và tình trạng của
thế giới được nối kết với nhau một cách chặt chẽ.
Việc suy tư về tội đã cần đến vài thế kỷ để trở nên
chín muồi trong Kitô giáo sơ khai. Chính Đức Giêsu, mặc
dù thường nói về tội, vẫn thường làm thế trong bối cảnh của
việc ban ơn tha thứ cho tội nhân. Giáo Hội của các Tông Đồ
dường như đã có một cái nhìn khá lạc quan về khả năng của
người ta có thể sống một đời sống tự do đối với tội lỗi, một
khi họ đã hoán cải trở về với Chúa. Sách Công Vụ Tông Đồ
mô tả một lối sống trong đó việc san sẻ tất cả được thực
hành trong thực tế, bất chấp tính đố kỵ và tính thích thu vén
của con người. Việc sửa sai huynh đệ là phương tiện duy
nhất để người ta kiểm soát cách ứng xử của mình. Cho tới
thế kỷ 3, ngoài Phép Rửa, không có nghi thức đặc biệt nào
để tuyên bố sự tha thứ, mặc dù việc thực hành xưng thú tội
lỗi giữa cộng đoàn dường như đã phổ biến từ trước (Didache
4,14).
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 172
Một nghi thức tha tội đã phát triển trong thời kỳ bị
bách hại, nhất là cuộc bách hại rộng khắp của Decius (249-
250). Sau khi cuộc bách hại này qua đi, Giáo Hội nhận thấy
nhiều thành viên của mình đã chối bỏ đức tin thay vì chịu
mất mạng sống, và vấn đề mục vụ đặt ra là có nên hay
không và bằng cách nào nhận họ trở lại trong mối hiệp thông
Thánh Thể. Việc thực hành sám hối đã phát triển như một
cách để bảo đảm rằng các hối nhân thật sự hối tiếc về tội lỗi
của mình và đền bù tương đáng, sao cho không lãng phí ơn
tha thứ của Thiên Chúa. Tuy nhiên, như Joseph Martos cho
biết, đã có thời các vị hữu trách Giáo Hội bắt đầu hành xử
như những vị pháp quan đưa ra phán quyết về các loại tội và
các mức độ sám hối, đã có một khuynh hướng nhìn tội bằng
cái nhìn pháp chế, coi tội của một người như là sự phá vỡ
luật của Thiên Chúa và Giáo Hội hơn là như sự cắt đứt mối
quan hệ yêu thương giữa đương sự với Thiên Chúa và với
cộng đoàn.27
42F
Việc phát triển một phương thức hữu hiệu để giải
quyết vấn đề hành vi tội lỗi đã không giải thích chính xung
năng của tội lỗi hay tình trạng phổ biến và các hậu quả của
tội lỗi. Suy tư của một số giáo phụ về những vấn đề này tỏ ra
hiện đại một cách đáng ngạc nhiên. Irênê ở Lyon, vào
khoảng năm 190, đã viết để lập luận rằng việc được tạo
dựng theo hình ảnh Thiên Chúa có nghĩa là được tạo dựng
một cách chưa chín muồi. Ngài có ý nói rằng con người phải
có khả năng phát triển đến thành toàn, vì chỉ Thiên Chúa
Đấng tự hữu mới hoàn hảo một cách bất biến. Vì thế, Irênê
tuyên bố rằng một số trường hợp sự sa ngã vào con đường
bất tuân phục phải đáng được kỳ vọng và thậm chí có thể có
tác dụng giáo dục.
27 Joseph Martos, Những Cánh Cửa vào Thánh Thiêng (NY: Doubleday & Co.,
1982) 321.
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 173
Tuy nhiên, khoa nhân học rất tiến bộ ấy của Irênê
không phải là một khoa chiếm ưu thế trong thần học Kitô
giáo. Cuối cùng nó bị vượt qua bởi khoa nhân học của
Augustinô. Augustinô đã trả lời một cách khác với Irênê
trước những câu hỏi về lý do tại sao chúng ta có xung năng
tội lỗi, tại sao mọi người đều phạm tội, và các hậu quả của
tội lỗi là gì.
Phần đông các học giả nghĩ rằng các kinh nghiệm
sống của Augustinô có liên quan rất nhiều với thần học mà
ngài đề ra. Trong quyển Tự Thú của ngài, Augustinô kể cho
chúng ta câu chuyện khi còn là một thiếu niên, ngài đã dính
líu đến một vụ quậy phá cùng với một nhóm bạn bè.
Augustinô kể rằng trò nghịch ấy - hái trộm trái cây trong
vườn của một bác nông dân - được thực hiện hoàn toàn vì
cái thú của việc làm một điều gì đó bị cấm đoán. Nhưng
chính sự đấu tranh của ngài với tình dục mới là kinh nghiệm
thật sự xác nhận phán đoán của Augustinô rằng trong chúng
ta có tồn tại một tinh thần chống luật. Mặc dù ngài chấp
nhận các quan niệm thông thường của Kitô giáo về sự kiềm
chế tình dục và các mối quan hệ nhất phu nhất phụ, song
ngài đã không sống theo được các quan niệm ấy. Con trai
của Augustinô, Adeodatus, là kết quả của mối quan hệ bất
chính kéo dài 12 năm của ngài với một tình nhân, và quyển
Tự Thú kể lại nhiều tình tiết khác liên quan đến khía cạnh
tình dục. Nói tắt, kinh nghiệm của Augustinô cho thấy rõ
rằng mặc dù ngài nhận thức rõ mình nên làm gì - như Thánh
Phaolô (Rm 7,15-25) - ngài vẫn nhận thấy ý chí của ngài quá
yếu ớt không thể hành động được như thế. Tại sao một
Thiên Chúa tốt lành lại tạo dựng nên con người không thể
chọn lựa điều tốt lành?
Trong quá trình tìm kiếm các câu trả lời, Augustinô
gia nhập vào một giáo phái gọi là Manichaeans. Những
người Manichaeans, với giới chức trách thực thi đời sống
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 174
độc thân, dường như có một lý giải về sự dữ. Họ gán sự dữ
cho các lực ác gây xung đột trong vũ trụ và trong con người
là một tiểu vũ trụ. Những người Manichaeans cũng tin rằng
lực thiện bị gài bẫy bởi những thứ vật chất, bởi thân xác và
nhục dục.
Cuối cùng, Augustinô vượt qua các câu trả lời của
phái Manichaean, và nhờ Thánh Ambrôsiô, ngài được giới
thiệu với triết học tân thuyết Platon. Chính đây là lúc ngài
hoán cải trở về với Kitô giáo. Cả pho chú giải đã được bổ
sung vào bản văn của chính Augustinô, nhưng nói gì thì nói,
cuộc hoán cải của Augustinô vẫn là một kinh nghiệm về ân
sủng. Ở tận cùng khả năng của ngài trong việc kiếm tìm và
sống chân lý, và vào lúc mà những giòng nước mắt tuôn tràn
vì thất vọng và ghê tởm chính mình, ngài bất chợt nhận ra sự
hiện diện của Thiên Chúa như một lực tác động bên trong
chính mình và làm cho mình có thể vượt qua những xung
lực giằng co mãnh liệt bên trong con người mình.
Kinh nghiệm hoán cải ấy đã cho phép Augustinô thiết
lập một câu trả lời khác hẳn cho những vấn nạn về tội lỗi.
Ngược lại với phái Manichaean, ngài khẳng định rằng sự dữ
không phải là một lực đồng đẳng với sự thiện nhưng đó là
tình trạng vắng mặt của sự thiện. Sự vắng mặt này không thể
do Thiên Chúa gây ra, vì Thiên Chúa là Đấng chỉ làm ra
những điều thiện hảo. Vì thế, sự dữ là do con người gây ra,
nhất là do bởi sự tự do của con người vận hành một cách
lệch lạc qua việc chọn lựa sự dữ thay vì sự thiện. Sự tự do
của con người đi trật đường như thế bởi vì trí khôn phạm sai
lầm trong việc phân biệt giữa tốt và xấu hay giữa điều tốt
nhiều hơn và điều tốt ít hơn. Sự tự do của con người cũng bị
cản trở khi trí khôn thật sự phân định đúng điều tốt nhưng
các dục vọng lại chặn đứng không cho ý chí chọn lựa điều
tốt ấy. Tình trạng không hòa điệu bên trong này làm cho lý
trí, ý chí và dục vọng xung đột nhau mà kết quả là người ta
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 175
không chọn lựa điều tốt - đó chắc chắn không phải là tình
trạng mà Thiên Chúa muốn. Augustinôđã đi đến kết luận
thần học của ngài: Một tai họa thiêng liêng đã xảy ra và phá
hỏng cái imago Dei (hình ảnh của Thiên Chúa) tận gốc rễ.
Augustinô gọi tai họa ấy là « tội nguyên tổ », tội của Ađam.
Một bản tính hư hỏng của con người - được truyền lại cho
tất cả các con cháu của Ađam - đã giải thích tại sao mọi
người đều phạm tội, tại sao lý trí trở nên mờ tối và ý chí trở
nên yếu nhược, tại sao các dục vọng lung lạc cả lý trí lẫn ý
chí, và tại sao thế giới này ở trong một tình trạng thảm
thương như vậy.
Trong bối cảnh ấy, Đức Kitô đến để chữa trị bản tính
bị thương tích của con người. Đối với Augustinô, hình ảnh
chủ yếu của Đức Kitô là hình ảnh của một thầy thuốc. Ân
sủng là phương thuốc mà Đức Kitô dùng để chữa trị linh
hồn người ta. Chính « sức mạnh khác » này là chiến thắng
của Thiên Chúa trên sự dữ. Không phải hình ảnh Đức Kitô
chịu đóng đinh hay giáo huấn của Đức Kitô trong các dụ
ngôn và những phép lạ là tác nhân cứu độ người ta. Chính
ân sủng đầy năng lực của Đức Kitô là tác nhân làm đảo
ngược sự tàn phá của tội nguyên tổ. Augustinô khẳng định
rằng sức mạnh của ân sủng Thiên Chúa là thứ thuốc giải độc
chữa trị bản tính yếu đuối của con người - điều này chống lại
Pelagius, một đối thủ của ngài, một cách mạnh mẽ đến nỗi
Pelagius và các đồ đệ của ông đã bị Công Đồng Carthage
lên án là lạc giáo vào năm 418 và sau đó lại bị lên án một
lần nữa bởi Công Đồng Êphêsô vào năm 431.
Thần học của Augustinô về tội nguyên tổ có nhiều
điểm mạnh. Trước hết, khi cho thấy bằng cách nào một đế
quốc được tạo ra bởi con người tội lỗi sẽ phản chiếu tình
trạng tội lỗi ấy trong các cơ cấu và chính sách của nó, thần
học này đưa ra một sự giải thích cho khủng hoảng của thời
đại Augustinô, đó là sự sụp đổ của đế quốc Rôma. Thứ hai,
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 176
giáo thuyết về tội nguyên tổ đã giúp biện minh cho việc rửa
tội các em bé - là một thực hành tương đối mới của Giáo
Hội. Cuối cùng, không giống như nhiều giáo thuyết khác,
giáo thuyết này có khả năng tự chứng thực. Giải thích của
Augustinô về một bản ngã bị phân hóa, một lý trí thoái hóa
và một ý chí yếu nhược - xét như là di lụy của sự sa ngã của
Ađam - đã giúp nhiều người khác nhận hiểu cuộc đấu tranh
của chính họ để sống một đời sống phù hợp với Tin Mừng.
Tội nguyên tổ trở thành một giáo thuyết nền tảng của Kitô
giáo. Trong cuộc Cải Cách Tin lành, Luther - và nhất là
Calvin - đã không chỉ tái khẳng định giáo thuyết này, mà
còn có một cái nhìn bi quan hơn người Công Giáo về sự tàn
phá của tội lỗi đối với imago Dei. Trong lịch sử gần đây
hơn, vào giai đoạn lạc quan của những năm 1960, một số
người cho rằng tội nguyên tổ nên được bỏ đi để xây dựng
một khoa nhân học ít bi quan hơn. Ngày nay, đứng trước sự
suy thoái luân lý và tình trạng bạo lực của cuối thế kỷ 20,
một lần nữa tội nguyên tổ dường như là một mô tả rất thực
tiễn về con người.
Dĩ nhiên rất cần phải rà soát lại những giáo thuyết
quan trọng để tinh lọc ý niệm về tội nguyên tổ cho khỏi tính
thần thọai tiền khoa học của nó, cho khỏi sự hạ giá thân xác
của nó, và cho khỏi nền tảng Thánh Kinh chênh vênh của
nó. Một khi công việc rà soát đó đã được thực hiện, tội
nguyên tổ sẽ giúp người ta nhận thức rằng bối cảnh lịch sử
mà trong đó mọi con người được sinh ra vốn đã bị tàn phá
do tội lỗi. Tội nguyên tổ nói lên rằng thế giới mà chúng ta đi
vào lúc chào đời thiếu vẻ đẹp và sự hòa điệu mà Thiên Chúa
nhắm đến khi Ngài sáng tạo. Nó cho thấy chúng ta cần
Thiên Chúa không chỉ như một Đấng Tạo Hóa nâng đỡ
chúng ta nhưng còn như một vị cứu tinh cứu chúng ta khỏi
bị hủy diệt bởi sự dữ ở bên ngoài chúng ta và cả bên trong
chính chúng ta nữa.
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 177
BẢN NGÃ TRƯỚC MẶT THIÊN CHÚA
Vở kịch A Man for All Seasons của Robert Bolt nói
về Thánh Thomas More, người bị Vua Henry VIII chém đầu
vào năm 1535 vì phản đối vụ li dị của nhà vua. Rõ ràng lập
trường can đảm của More đã làm cho ngài trở thành một anh
hùng của mọi thời đại, nhưng dường như rất có thể ngài đã
không nói những lời mà Bolt đã gán cho môi miệng ngài.
Chân thành với chính mình, có được một bản ngã thâm sâu
với ý nghĩa cao nhất, đó là những ý tưởng đã không thực sự
hiện lộ cách mạnh mẽ cho đến khoảng giữa thế kỷ 19. Trong
triết học Hy La, cái toàn thể quan trọng hơn các thành phần,
xã hội quan trọng hơn các cá nhân, và các nhu cầu của xã
hội về một lọai công dân nào đó đã quyết định các đặc điểm
được kỳ vọng nơi con người. Ngay cả trong thời của More,
sự phục dịch trung thành của một tôi tớ đối với chủ quyền
thống trị mình là cung cách được tưởng thưởng. Có lẽ More
đã xác định lập trường của ông bởi vì ông nhận ra rằng giáo
hoàng, chứ không phải nhà vua, là chủ quyền cao hơn mà
ông phải thần phục, chứ không chủ yếu vì ông quan tâm đến
tính nhất quán của con người ông.
Khi chúng ta nói về bản ngã, chúng ta đang đi vào
một cuộc chuyện rất phức tạp về ba hạn từ có liên hệ chặt
chẽ với nhau và thường được sử dụng thay thế lẫn cho nhau,
đó là: nhân vị, cá nhân và bản ngã. Ở đây chúng ta không
thể rà soát toàn bộ lịch sử của những từ này, nhưng thiết
tưởng cần có vài ý niệm để hiểu câu chuyện ở đây.
Hai tiếng « nhân vị », như xưa nay được sử dụng
trong thần học và triết học, qui chiếu đến những phẩm tính
chung mà mỗi cá nhân đều có do bởi sự kiện là một thành
viên của loài người. Chẳng hạn, vào thời Trung cổ, Boethius
và các môn đệ sau này của Aquinô đã nói về con người xét
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 178
như là những bản thể cá vị có lý trí. Lý tính phổ quát vận
hành xuyên qua các ý niệm vĩnh cửu bằng cùng một cách thế
nơi mọi người, bất chấp những khác biệt giữa các cá nhân.
Qua hai tiếng « nhân vị », người ta cũng nhấn mạnh đến linh
hồn vĩnh cửu nữa. Nhân vị là linh hồn con người được thể
hiện ra. Linh hồn được xem như nguyên lý cá vị hóa của
thân xác, nhưng thân xác sẽ chết còn linh hồn thì vĩnh tồn.
Vì thế, tư tưởng Trung cổ tập chú đến linh hồn vĩnh cửu này
và mối hiệp nhất của nó với Thiên Chúa và với các linh hồn
khác. Tư tưởng Trung cổ nói về hiện thân của cá thể trong
lịch sử như sự chuẩn bị cho đời sống vĩnh cửu hơn là một
cái gì đó tự nó vốn có tầm quan trọng.
« Bản ngã », một thuật ngữ hiện đại hơn, mô tả cá
nhân người ta với những phẩm tính và những đặc điểm phân
biệt nó với các thành viên khác của loài người. Bản ngã
cũng bao hàm sự phản tỉnh vốn phát triển khi bản ngã suy tư
về chính nó và nhớ lại những suy tư của nó, một ý niệm bắt
nguồn từ Augustinô. Bản ngã là cái tôi hay cá tính đã đạt
được qua quá trình chúng ta hành động, suy tư, hồi tưởng,
và khi chúng ta hội nhập các kinh nghiệm của mình thành
những mô hình ứng xử và hình thành cá tính của chúng ta.
Linh đạo Công Giáo ngày nay đôi khi nói về bản ngã dưới
dạng câu chuyện đặc thù mà bản ngã xây dựng nên từ các
kinh nghiệm của nó.
Các triết gia hiểu bản ngã như chủ thể của hành động,
một nhãn quan chịu ảnh hưởng rất nhiều từ Tôma Aquinô.
So với Augustinô, Tôma có một cái nhìn ít phân cực hơn về
sự vận hành của lý trí và ý chí nơi con người. Trong quan
điểm của Aquinô, lý trí có thể được so sánh với ánh đèn pha
của chiếc xe hơi soi tìm đúng lối đi cho ý chí, cho năng lực
chọn lựa, để lái xe đi.28 Mặc dù Tôma tin vào linh hồn và
F52
28 Summa Theologiae Ia Iiae, Q.10, bản Anh ngữ của Paul J. Glenn, A Tour of
the Summa (Tan Books, 1978) 109.
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 179
vào bản tính chung của con người, ngài cũng dạy rằng cách
riêng một nhân vị là con người khi đương sự hành động một
cách ý thức, với sự chọn lựa hẳn hoi theo ánh sáng của lý trí.
Đối với Aquinô, làm người nghĩa là hành động theo cách
của con người. Bởi vì mỗi cá vị là một thực thể có trách
nhiệm với một lương tâm bất khả xâm phạm, nên Aquinô
khẳng quyết rằng các cá nhân phải hành động theo các phán
đoán đầy trách nhiệm của mình ngay cả trong những trường
hợp mà các phán đoán ấy đặt cơ sở trên các dữ kiện hay lý
luận sai lầm.
Thần học Công Giáo sau Aquinô đã tiếp tục chuyển
biến từ triết lý Platon (vốn nhấn mạnh đến những tính phổ
quát) sang triết học Aristote để bắt đầu quan tâm đến những
tính đặc thù. Sự chuyển biến này diễn ra song hành với
những phong trào tương tự trong tư tưởng thế tục. Suy tư về
nhân vị đang thay đổi từ mối quan tâm đến yếu tính hay bản
tính con người phổ quát (vốn chỉ thể hiện chính nó nơi
những cá thể nhất thời) sang sự nhấn mạnh đến cá vị tính
trong đó hiện hữu và hành vi độc đáo chuyên biệt của nó là
nền tảng cho mọi ý niệm khả tín về bản tính con người. Cuối
cùng, mối quan tâm đến cá vị trở thành một dòng suy tư
mạnh mẽ được nuôi dưỡng bởi những phong trào như chủ
nghĩa nhân bản, chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa dân tộc, và
cuối cùng là chủ nghĩa hiện sinh. Khi xu thế này tiếp tục
diễn ra, Giáo Hội Công Giáo hoàn toàn chống nghịch lại
việc « quay về chủ thể », như có thể ghi nhận trong thần
học. Thật vậy, Giáo Hoàng Piô X đã bao gồm chủ nghĩa
hiện sinh (với sự nhấn mạnh kinh nghiệm cá nhân) trong
danh sách những quan niệm sai lầm mà ngài lên án là duy
tân thuyết vào năm 1907.
Có lẽ ý niệm về một bản ngã có tính cá vị, tự thức, tự
trị dường như là một ý niệm nguy hiểm trong bối cảnh mà
hiệp nhất là mục tiêu trọng tâm của lịch sử và thần học Công
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 180
Giáo. Xét về phương diện lịch sử, một công việc chủ yếu
của Giáo Hội là hiệp nhất nhiều dân tộc khác hẳn nhau thành
một ekklesia, điều mà cuối cùng Giáo Hội đã làm khá thành
công xuyên qua một hệ thống chặt chẽ các biểu tượng, các
thực hành và các niềm tin. Trong triết học tân phái Platon
vốn hậu thuẫn cho các giáo thuyết của Giáo Hội, những cá
thể hồn-xác là thành phần của nhóm gồm nhiều thứ đã tách
ra khỏi sự hiệp nhất với Nhất Thể, hay Hữu Thể Tự Thân.
Vì thế, mục tiêu thiêng liêng của nhân vị là hành trình trở về
hiệp nhất với sự thiện. Trong khoa Giáo Hội học của mình,
Giáo Hội tự xem mình như một mối hiệp nhất hữu cơ của
giáo hoàng và các giám mục qua đó các Giáo Hội địa
phương được hiệp nhất thành một Giáo Hội phổ quát duy
nhất. Ngưỡng vọng sự hiệp nhất, song Giáo Hội đã không
ngừng đấu tranh chống lại những hục hặc của những người
ly giáo và thậm chí đã trải qua sự chia rẽ trong chính giáo
triều của mình. Tình trạng bạo lực thái quá và cuộc đấu
tranh giai cấp của phong trào Cải Cách Tin Lành và các
cuộc cách mạng dân tộc nối theo sau đó dường như càng xác
nhận mối nghi ngờ trong Giáo Hội rằng việc đề cao cá nhân
đã dẫn đến những hậu quả khốc liệt.
Một số ý tưởng hiện đại thật sự rất tai hại đối với ý
niệm về nhân vị, nhất là khi chúng ta ngày nay có thể nhìn
chúng sau nhiều thế kỷ. Chẳng hạn, sự suy tư có tính tiến bộ
hay cách mạng của thuở ban đầu hàm ý rằng không có
những ý niệm cố định tuyệt đối về chân lý nhưng chỉ có
những ý niệm tương đối thôi, và rằng nền tảng duy nhất của
luân lý chính là qui ước xã hội. Nhiều dạng khác nhau của
thuyết tất định cho thấy rằng hành vi ứng xử của con người
có thể được nhận hiểu một cách thích đáng trong qui chiếu
đến những động cơ kinh tế hay những qui luật sinh học. Tư
tưởng hiện sinh ban đầu đã khẳng quyết một cách bi quan
rằng nhân vị con người bị bỏ mặc để tự xoay xở lấy cách
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 181
giải quyết các tình trạng lưỡng nan của mình. Chủ nghĩa
nhân bản duy thực nghiệm chủ trương rằng con người đã
phát triển vượt qua khỏi tôn giáo và hoàn toàn có khả năng
tự giải quyết bất cứ vấn đề nào của mình, kể cả khả năng tạo
ra một trật tự thế giới mới.
Cuối cùng, Giáo Hội đã bắt đầu vận dụng các yếu tố
của thế giới quan hiện đại, gồm cả nhận thức về bản ngã.
Lập trường mới này là một phần của một cách tiếp cận đặc
sắc hơn đối với nền văn hóa thế tục được thực hiện bởi Giáo
Hội và bởi thần học Công Giáo. David Tracy, một nhà thần
học Công Giáo Mỹ tên tuổi, đã cho thấy rằng đôi khi Giáo
Hội đề kháng những ý tưởng tốt do bởi chính cách hiểu sai
lạc của Giáo Hội về sứ điệp Tin Mừng. Vì thế, Giáo Hội
phải phê phán chính quan điểm của mình nữa. Tuy nhiên,
việc tự phê ấy không hề có nghĩa rằng Giáo Hội sẽ chấp
nhận một cách tự động những ý niệm của thế tục. Các ý
niệm của thế tục cũng phải được đặt trong ánh sáng của Tin
Mừng và chịu sự phê phán nếu cần. Đây là công việc của
thần học.
Vì thế, trong Hiến Chế Mục Vụ về Giáo Hội Trong
Thế Giới Hôm Nay, Vatican II vừa xác nhận vừa bác bỏ
những ý niệm hiện đại về bản ngã. Công Đồng xác nhận tính
ham hiểu biết và những tài năng sáng tạo của con người.
Công Đồng khẳng định phẩm giá của lương tâm cá nhân và
tình yêu nhân loại. Những niềm hy vọng và những nỗi ưu tư
của chính con người, những vấn nạn của con người về chính
mình và về thế giới, đó thực sự là những dữ kiện làm khởi
điểm suy tư cho văn kiện này.
Truyền thống Công Giáo bác bỏ các ý niệm về bản
ngã như những ý niệm đã được đề cập trước đây. Một cách
chủ yếu, truyền thống Công Giáo bác bỏ bất cứ cách nhận
hiểu nào về nhân vị có bao hàm việc loại trừ Thiên Chúa xét
như một yếu tố thiết yếu trong một định nghĩa về nhân vị.
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 182
Nói cách khác, truyền thống Công Giáo không nghĩ rằng bản
ngã có thể được mô tả thích đáng mà không qui chiếu đến
Thiên Chúa. Điều bạn thấy không hẳn là điều bạn có. Bản
ngã không ngừng phô bày những dấu hiệu cho thấy rằng nó
có một chiều kích siêu việt. Ý thức của bản ngã là một dấu
hiệu hùng hồn. Bản ngã không ngừng mở rộng ý thức của
mình ra bằng cách chất vấn thế giới và chính mình. Nói theo
ngôn ngữ của Augustinô, trái tim con người không bao giờ
nghỉ yên. Một dấu hiệu khác cho thấy tính siêu việt nói trên,
đó là bất chấp mọi nghịch chướng, ngã vị con người vẫn hy
vọng vào tương lai và vẫn không ngừng phấn đấu cho niềm
hy vọng ấy.
Thực vậy, con người không lầm lẫn khi họ nhận biết
mình cao cả hơn vũ trụ vật chất và không coi mình chỉ như
một mảnh vụn của thiên nhiên hay như một phần tử vô danh
trong xã hội loài nguời. Bởi vì nhờ có nội giới, con người
vượt trên mọi vật. Khi con người quay về với lòng mình tức
là họ trở về với nội giới thâm sâu này, ở đó Thiên Chúa,
Đấng thấu suốt tâm hồn, đang chờ đợi họ, và cũng nơi đó
chính con người tự định đoạt về vận mệnh riêng của mình
dưới con mắt của Thiên Chúa. Như vậy, con người không
phải là bị mê hoặc bởi một thứ ảo tưởng phát sinh do những
điều kiện vật lý và xã hội. Trái lại, nhìn nhận như thế là con
người đã đạt tới chính chân lý sâu xa. (GS 14)
Bản ngã không thể được định nghĩa thích đáng nếu
không qui chiếu đến Thiên Chúa! Nhiều nhà thần học ngày
nay tin rằng - đàng khác - một định nghĩa thích đáng về
Thiên Chúa cũng phải có bao hàm một qui chiếu đến bản
ngã con người. Chẳng hạn, Schubert Ogden, một nhà thần
học Tin Lành, định nghĩa Thiên Chúa là « nền tảng khách
quan trong chính thực tại của niềm tin bất tuyệt nơi chúng ta
về giá trị cuối cùng của cuộc hiện sinh của mình ».29 Đối với
26F
29 Schubert Ogden, Thực Tại Thiên Chúa (NY: Harper and Row, 1983) 37
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 183
Karl Rahner, một nhà thần học Công Giáo, thì Thiên Chúa là
chân trời vô giới hạn lùi mãi đến vô cùng trước tinh thần tra
vấn của chúng ta.30
7F2
Việc suy tư về bản ngã đã ảnh hưởng trên cách mà
các nhà thần học hệ thống làm việc ngày nay, cả bên Công
Giáo Rôma lẫn phía Tin Lành. Những vấn nạn mà bản ngã
đặt ra thường là khởi điểm cho suy tư thần học, và kinh
nghiệm nội tâm sẽ là một trắc nghiệm cho biết quan điểm
mà nhà thần học nêu ra có đáng tin hay không.8F231
Khoa nhân chủng thần học của Công Giáo sẽ luôn
luôn được tìm thấy vận hành bên trong những giới hạn của
nhận thức Công Giáo rằng nhân vị là một bản ngã trong
tương quan với Thiên Chúa. Trong khi khoa nhân học này
đặc biệt đánh giá cao tính nhất quán của lương tâm cá nhân
cũng như tất cả các yếu tố khác nữa đóng góp vào ý niệm
hiện đại về cá thể tâm lý, thì truyền thống Công Giáo dường
như đôi khi tỏ ra bảo thủ trong thế đứng của nó trong xã hội
hiện nay. Nhiều học giả đã ghi nhận rằng một đặc điểm của
giáo thuyết Công Giáo đó là khuynh hướng giữ thế trung lập
đối với các quan điểm đối kháng hơn là chọn quan điểm này
và bỏ quan điểm kia. Giáo thuyết Công Giáo thiên về một
khoa nhân học có tính khẳng định ngã vị trong khi đồng thời
vẫn khẳng định những yếu tố chung của các nhân vị, chẳng
hạn những yếu tố như lý trí, linh hồn và mối tương quan với
một vị Thiên Chúa Đấng quan hệ với mọi người mọi nơi.
Nếu không có sự trân trọng đối với nhân vị nói chung, sự
30 Karl Rahner, Các Nền Tảng của Đức Tin Kitô Giáo (NY: Crossroad, 1985)
20, 22-23. Đối với Rahner, suy tư về kinh nghiệm con người không phải là sự
chứng thực duy nhất về sự hiện hữu của Thiên Chúa. Rahner còn nghĩ rằng đặc
tính chính yếu của Thiên Chúa qua mạc khải là sự kiện Thiên Chúa liên lạc với
tạo vật và rằng sự siêu việt của con người là một khả năng được ban cho đặc
biệt để đón nhận mạc khải của Thiên Chúa.
31 Một trắc nghiệm khác nữa của thần học là phải chăng nó vẫn trung thành với
các mạc khải căn bản của một truyền thống.
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 184
nhấn mạnh hiện đại về bản ngã có thể trở thành một sự sùng
bái cái tôi ích kỷ của mình. Bấy giờ người ta mất khả năng
vượt qua các nhãn giới riêng của mình để đối thoại với tha
nhân và cùng với tha nhân tạo lập một thế giới trong đó
nhiều con người khác nhau có thể sống trong hòa điệu. Ngã
vị đạt được tối đa tiềm năng của nó xuyên qua các mối quan
hệ của nó - đó là chủ đề thứ tư khoa nhân học Công Giáo.
CHIỀU KÍCH XÃ HỘI CỦA NHÂN VỊ
Điều phải được nhắm đến, đó là tính nhân bản trọn
vẹn. Và đó là gì nếu không phải là sự phát triển trọn vẹn đầy
đủ của toàn bộ con người và của hết mọi người? ... Không
thể đạt được sự tiến bộ nào trong việc phát triển trọn vẹn con
người nếu đồng thời không có sự phát triển của nhân loại
trong tinh thần liên đới. Phaolô VI, Về Sự Phát Triển Các
Dân Tộc (42,43)
Khía cạnh xã hội của nhân vị, tức sự nối kết giữa
nhân vị với các nhân vị khác và với mọi sự trong thế giới,
cắm rễ sâu xa trong truyền thống Công Giáo. Chúng ta đã
ghi nhận cách mà Thánh Augustinô đã nhận ra mối phụ
thuộc hỗ tương giữa hành vi ứng xử của các nhân vị và trật
tự của thế giới. Thánh Tôma Aquinô, mặc dù nói về lương
tâm cá nhân, đã không bao giờ phát triển một lý thuyết về
các quyền của cá nhân. Thay vào đó, ngài bàn về các bổn
phận xã hội của các nhân vị như được ấân định bởi « bậc
sống » và các mối tương quan của mỗi người, chẳng hạn,
người kết hôn, người độc thân, người tu sĩ, người giàu,
người nắm quyền cai trị, vv... Mệnh lệnh số một « hãy yêu
tha nhân như yêu chính mình » đã khơi lên trong Kitô giáo
một truyền thống rộng rãi về nghĩa vụ xoa dịu các nỗi khốn
khổ của con người. Cuối cùng, hệ thống bí tích của Kitô
giáo thiết lập một mối tương quan giữa nhân vị với các thực
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 185
tại vật chất vốn có thể làm trung gian chuyển trao ân sủng,
cũng như mối tương quan giữa nhân vị và cộng đoàn Giáo
Hội, chính mối tương quan này được thiết lập xuyên qua các
mối ràng buộc bí tích.
Bất chấp giáo huấn sâu xa và vững chắc này, bản tính
xã hội của nhân vị không phải luôn luôn được khẳng định
trong lịch sử Công Giáo. Thường thì việc theo đuổi sự thánh
thiện cá nhân mới là mối quan tâm chủ yếu của đời sống đạo
nơi người Công Giáo, và xem ra việc diễn tả tính xã hội
trong Kitô giáo được ký thác cho đời sống tu trì. Việc tham
gia vào các công việc trần thế được xem như là làm sút giảm
khả năng nên hoàn thiện về mặt thiêng liêng bởi vì thế giới
được coi như là hạ cấp trong một vũ trụ hai tầng. Có những
lúc niềm tin này đã biến thành nỗi nghi ngờ thẳng thừng
rằng trần thế là cái gì thù địch với các chiều kích tôn giáo
của con người. Từ nhãn quan bài xích trần thế này, người ta
thấy rằng sự hiện thực hóa duy nhất trong lịch sử của Vương
Quốc Thiên Chúa là chính Giáo Hội và cơ cấu của Giáo Hội.
Trong thế kỷ này, bản tính xã hội của nhân vị đã được
vãn hồi và nêu bật trong giáo huấn Công Giáo xuyên qua hai
chủ đề chính. Một hình ảnh cũ xưa hơn, đó là hình ảnh một
nhân vị nên thánh xuyên qua đời sống trong cộng đoàn
Kitôhữu, đã được phục hồi. Một chủ đề thứ hai và mới hơn
thì nói về bổn phận của các nhân vị phải tham gia vào xã hội
và làm chuyển hóa trật tự xã hội.
Các ví dụ về chủ đề nhân-vị-trong-cộng-đoàn được
thấy rất nhiều trong các văn kiện của Vatican II. Tình yêu
giữa vợ chồng được đề cập đến như là yếu tố nền tảng của
hôn nhân, và hôn nhân chính là cộng đoàn chủ chốt của Kitô
giáo. Các đôi vợ chồng nên thánh xuyên qua mối tương
quan với nhau và với con cái (LG 11, GS 48-51). Chính
Giáo Hội được mô tả bằng hạn từ có tính xã hội là Dân
Thiên Chúa (LG, chương 2), một hình ảnh có gốc rễ trong
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 186
Thánh Kinh và giáo phụ. Điều mới mẻ trong mô tả của Công
Đồng, đó là các hành vi ứng xử thích hợp với cộng đoàn
được gắn kết với hình ảnh này. Các mối tương quan trong
Dân Thiên Chúa phải có tính hỗ tương hơn là tính phẩm trật.
Vì thế, sự dấn thân của mọi thành viên được khích lệ, và các
giám mục phải liên hệ với nhau trong tập đoàn tính và phải
trở thành những tôi tớ phục vụ cho những người thuộc trách
nhiệm của mình.
Về chủ đề thứ hai, chủ đề chuyển hóa xã hội, Công
Đồng dạy rằng Giáo Hội phải làm thấm nhuần ánh sáng của
Tin Mừng vào trong trật tự xã hội (GS 41; 57-59). Tôma
Aquinô chủ trương rằng cả nhà nước và Giáo Hội – mỗi bên
theo cảnh vực riêng – đều là những cơ chế tạo điều kiện cho
mỗi người đạt được những mục đích thiêng liêng của họ.
Ngày nay những cảnh vực hoạt động của Giáo Hội và quốc
gia được hiểu là có tính phụ thuộc hỗ tương với nhau (GS
42). Giáo Hội của Vatican II hiểu rằng, dù sao đi nữa, giống
như một cuộc hôn nhân, chỗ ở của mình là ở trong thế giới,
vì thế sự tiến bộ của Giáo Hội và của thế giới có liên hệ chặt
chẽ với nhau. Cũng vậy, phẩm vị và phúc lợi của mỗi người
tùy thuộc vào các hoàn cảnh của trật tự xã hội. Sự đề cao
khá mới mẻ này về mối phụ thuộc hỗ tương giữa Giáo Hội,
xã hội, và cá nhân dẫn tới một sự lật ngược ngoạn mục nền
linh đạo trước đây về sự thánh thiện cá nhân và sự khinh thị
đối với thế giới, giờ đây được mô tả là « thuộc trong số
những sai lầm nghiêm trọng nhất của thời đại chúng ta! »
(GS 43).
Phải chăng việc gia tăng dấn thân vào trật tự xã hội
có nghĩa là Giáo Hội sẽ cố gắng tái lập hình thức cũ của giáo
thuyết Công Giáo trong đó Giáo Hội cố gắng quản trị trật tự
xã hội, thường là bằng một cách thế độc đoán? Các văn kiện
của Công Đồng khẳng định rõ ràng tính tự trị của « các sự
vật », các xã hội, các ngành tri thức, và các giá trị thế tục
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 187
tương thích với Tin Mừng (GS 36; cf. 42, 57). Hơn nữa, các
phương tiện để tác động đến trật tự xã hội sẽ ít có tính phẩm
trật hơn so với trong quá khứ. Đối thoại, hội nhập, ảnh
hưởng hỗ tương, … là những mô hình tương tác được
Vatican II dự kiến. Chính người giáo dân chứ không phải
một chức sắc trong Giáo Hội sẽ đem ánh sáng của truyền
thống Công Giáo vào trong trật tự thế tục. Người giáo dân
làm công việc này bằng cách loan báo Tin Mừng, nhưng
nhất là xuyên qua công việc thường ngày vốn vừa có sức
chuyển hóa các vật chất hữu hình và nền văn hóa vừa cũng
có thể thể hiện năng lực sáng tạo và phẩm giá của nhân vị.
Ngay cả sau Công Đồng, một số câu hỏi và những
căng thẳng còn bỏ ngõ trong mối tương quan mới giữa trật
tự xã hội và nhân vị trong giáo thuyết Công Giáo cần phải
được giải quyết. Nên chăng Giáo Hội cổ võ các thành viên
của mình vận dụng các cơ chế pháp lý và chính trị của xã
hội đa nguyên như Hoa Kỳ? Một Kitôhữu tích cực có thể
dấn thân vào các nghề nghiệp đòi phải có những nhượng bộ
về đạo đức hay không? Phải chăng một giáo dân Công Giáo
có bổn phận phải triệt để kính cẩn lắng nghe hoặc cả vâng
phục nữa khi Giáo Hội nói về những vấn đề xã hội như vấn
đề kinh tế hay vấn đề hòa bình? Khi Giáo Hội vạch mặt
những vi phạm của những nơi mà phẩm giá con người bị chà
đạp bởi các chế độ chuyên chế, thì Giáo Hội đang sẵn sàng
đương đầu với nguy cơ gì? Những căng thẳng tiềm ẩn đằng
sau các vấn nạn này có sẽ dẫn đến một sự co rút để trở lại
với một nhận thức về nhân vị nặng tính riêng tư và thiêng
liêng không?
Rõ ràng việc tìm kiếm một modus vivendi phản ảnh
một khoa nhân học về sự phụ thuộc hỗ tương giữa nhân vị
Công Giáo và trật tự xã hội sẽ còn là một công cuộc tiếp tục
không ngừng. Tuy nhiên, trên khắp thế giới Công Giáo, đã
có những phát triển rất quan trọng. Ở Hoa Kỳ, mô hình này
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 188
có tính cơ chế nhiều hơn. Các giám mục Mỹ đã công bố hai
lá thư mục vụ, một về hòa bình và một về kinh tế, và đã tạo
được một ảnh hưởng tầm cỡ quốc tế. Việc đấu tranh cho
công bằng, tức cố gắng thay đổi các hệ thống xã hội, là công
việc được tiến hành song song với những công cuộc từ thiện
theo truyền thống. Ở Châu Mỹ Latinh có một phát triển rất
quan trọng, đó là sự thành lập các cộng đoàn cơ bản nhỏ
(CEBs). Những cộng đoàn này vừa nuôi dưỡng đức tin sâu
xa trong lòng người ta vừa thúc đẩy họ chuyển hóa trật tự xã
hội; những cộng đoàn này giới thiệu một cách thế mới để thể
hiện Giáo Hội, chúng nói lên cả chiều kích cộng đồng lẫn
chiều kích xã hội của khoa nhân học về sự phụ thuộc hỗ
tương.
Tiếng gọi chuyển hóa trật tự xã hội, được bao hàm
trong một nhận thức về bản tính xã hội của nhân vị, là một
chủ đề mới và có tầm quan trọng của khoa nhân học Công
Giáo. Nó có tiềm năng kết hợp người Công Giáo và những
người thuộc các truyền thống khác lại với nhau, những
người cùng chia sẻ thao thức muốn giải quyết các vấn đề xã
hội như sự nghèo đói, tình trạng vô gia cư, những tai họa về
sinh thái, chiến tranh, vv… Trong công cuộc chuyển hóa xã
hội, thế giới được nhìn một cách tích cực, như là một nơi mà
Vương quốc của Đức Kitô có thể trở thành hiện thực. Vì thế,
chủ đề này tạo ra một linh đạo mới trong đó công việc của
một con người, những trách nhiệm trần thế và các mối tương
quan xã hội của người ấy được xác nhận rõ ràng là những bí
tích của sự hiện diện của Thiên Chúa trong đời sống con
người.
KẾT LUẬN
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 189
Sinh học không trao cho nhân vị con người một môi
trường chuyên biệt để sống. Trái lại, con người phải tạo ra
một môi trường, một văn hóa. Văn hóa này chứa nhiều yếu
tố mà con người cần để sống, bao gồm các vai trò và các qui
tắc đạo đức cho hành vi ứng xử của con người. Nền móng
của những qui tắc đạo đức này là những niềm tin còn có tính
nền tảng hơn nữa có vai trò xác định ý nghĩa của nhân vị.
Định nghĩa này rất quan trọng, bởi vì nó định hình mọi nhân
vị mới được sinh vào trong văn hóa ấy và được hội nhập vào
xã hội ấy.
Khoa nhân học Kitô giáo có một đóng góp lớn lao
cho định nghĩa của văn hóa Tây phương về nhân vị. Sự đóng
góp này đã được tóm kết dưới bốn chủ điểm đặc trưng của
Kitô giáo Công Giáo: con người là hình ảnh của Thiên
Chúa, con người sa ngã và được cứu, con người là một bản
ngã trước mặt Thiên Chúa, và con người có tính xã hội.
Khoa nhân học chứa đựng trong những chủ điểm nói
trên là một khoa nhân chủng thần học, bởi vì mỗi chủ điểm
đều mô tả nhân vị trong qui chiếu đến Thiên Chúa. Trong tư
cách là hình ảnh của Thiên Chúa, mỗi nhân vị đều có phẩm
giá, có những khả năng, có tự do và có trách nhiệm phát
xuất từ chính hành vi sáng tạo của Thiên Chúa. Tình trạng
ấy không thể bị xóa bỏ bởi chính đương sự cũng không thể
bị xâm lấn bởi xã hội.
Trong chủ điểm thứ hai, chủ điểm về con người sa
ngã và được cứu, Thiên Chúa hành động trong tư cách một
người cứu chuộc hay nhà giải phóng, giúp cho mỗi người trở
thành điều mà họ cần phải trở thành, đó là trở nên tốt lành
trong một lịch sử của riêng mình và của xã hội vốn thường
đầy dẫy những sự dữ.
Chủ điểm thứ ba, chủ điểm về con người là một bản
ngã trước mặt Thiên Chúa, nhìn nhận rằng không thể nhận
hiểu đúng đắn mỗi cá vị con người độc đáo và có khả năng
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 190
tự thức nếu không qui chiếu đến Thiên Chúa là một mục tiêu
phấn đấu của con người, là cơ sở của những tìm kiếm và hy
vọng của con người. Bản ngã siêu việt hướng ra ngoài, về
phía cái còn hơn cả chính mình. Vì thế, nó không thể bị
giảm trừ đến chỉ còn là tình trạng như hiện nay của nó hay là
những gì mà nó đã làm cho tới nay – bởi vì nó là một ngã vị
trong tương quan với Thiên Chúa, nguồn của mọi khả tính.
Bản tính xã hội của nhân vị đặt cơ sở trên thần học về
sáng tạo. Thần học này mô tả công cuộc sáng tạo con người
trong bối cảnh của công cuộc sáng tạo mọi sự và mô tả nhân
vị con người là imago Dei, hình ảnh của Thiên Chúa. Một
khoa nhân học về mối phụ thuộc hỗ tương và về các mối
tương quan quân bình trở thành là điều có thể được. Khoa
nhân học này trở thành một mệnh lệnh trong Tin Mừng Phúc
Âm. Ở đó các Kitôhữu nghe lệnh truyền phải « nên một như
Ta và Cha là một » (Ga 16,22) và phải cầu nguyện cho
Nước Trời được thể hiện trên mặt đất cũng như ở trên trời.
Một khi khoa nhân học Kitô giáo được mô tả ở đây
được nhận hiểu và được thể hiện, nó sẽ có tiềm năng trở
thành một cái nhìn đầy thuyết phục về ý nghĩa của cuộc
nhân sinh. Giáo Hoàng Gioan XXIII, người đã triệu tập
Công Đồng Vatican II, đã xác tín rằng Giáo Hội Công Giáo
có một ánh sáng quan trọng để chia sẻ cho mọi người, một
ánh sáng mà thế giới đang khẩn thiết cần có. Có lẽ chính
trong lãnh vực của khoa nhân học, hơn bất cứ lãnh vực nào
khác trong thần học của Giáo Hội, sự khôn ngoan của tri
thức Giáo Hội có thể được nhìn thấy rõ ràng hơn cả.
CÂU HỎI GIÚP TÌM HIỂU
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 191
1. Con người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa – ý
niệm Thánh Kinh này cung ứng điều gì cho khoa nhân học
Kitô giáo?
2. Ý niệm về tội nguyên tổ nên được hiểu như thế nào?
3. Ý niệm hiện đại về « bản ngã » khác biệt thế nào với ý
niệm truyền thống về « nhân vị »?
4. Bạn hãy tóm lược hai chủ điểm trên và cho thấy nền tảng
thần học của mỗi chủ điểm ấy: nhân vị trong cộng đồng và
sự chuyển hóa trật tự xã hội.
===
Chương 7: THẦN HỌC LUÂN LÝ:
ĐỨC TIN VÀ LỐI SỐNG KITÔ
GIÁO
John R. Popiden
Bạn còn nhớ điểm cao trào của bộ phim Bố Già nổi
tiếng không? Anh chàng Michael, con trai của Don Vito
Corleone, đã chính thức trở thành một Bố Già khi - tại lễ rửa
tội của đứa cháu trai mình - anh thề hứa từ bỏ Satan và tất cả
những công việc của Satan. Cũng chính trong những giây
phút đó, các thuộc hạ của Michael đang ám sát hàng loạt các
tay trùm găng-tơ là đối thủ cạnh tranh của anh. Trong số
nhiều ghi nhận có thể rút ra từ tình tiết đầy ấn tượng này của
bộ phim, người ta có thể tố giác rằng Michael là một kẻ đạo
đức giả. Michael tỏ ra là một người Công Giáo tốt; thế
nhưng, anh ta là kẻ đáng kinh tởm.
Cảnh phim ấy chỉ là một trò lừa khán giả, vì khán giả
biết rằng làm một Kitôhữu có nghĩa là phải sống theo lối
sống Kitô giáo. Kitô giáo hiện diện bất cứ nơi đâu mà người
ta được thúc đẩy sống cuộc sống của họ theo con đường
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 192
Kitô giáo. Ở đây chúng ta không chủ ý nhắm lên án những
loại người như Michael Corleone, thay vào đó, tiêu điểm tập
chú của chúng ta ở đây là các động lực sống của đời
Kitôhữu.
ĐỨC TIN VÀ LUÂN LÝ KITÔ GIÁO
Cốt lõi của đời sống người Kitôhữu xét như là
Kitôhữu chính là đức tin vào Chúa Giêsu Kitô. Người
Kitôhữu biết Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, là Lời vĩnh cửu
phát xuất từ Chúa Cha. Đức Giêsu là trung gian giữa con
người và Thiên Chúa, là Đấng dạy các môn đệ mình gọi
Thiên Chúa là « Abba » (Cha ơi!) để mạc khải cho thấy sự
gần gũi của Thiên Chúa. Như vậy, đi theo Đức Giêsu, người
Kitôhữu tôn thờ Thiên Chúa đích thực và là Tạo Hóa của
mọi sự. Thiên Chúa là chính nguồn mạch của sự thiện và là
thước đo của mọi sự. Hơn nữa, như Đức Giêsu đã hứa, các
Kitôhữu có Chúa Thánh Thần hướng dẫn mình trong đường
lối của Thiên Chúa. Sự hiện diện của Chúa Thánh Thần sẽ
trao ban động lực và phương hướng cho đời sống tín hữu.
Nói tắt, đức tin của người Kitôhữu vào Thiên Chúa Ba Ngôi
làm cho đương sự trở thành một con người mới vì đương sự
có mối quan hệ cá nhân với Đấng là nguồn mạch và là thước
đo của mọi điều thiện hảo.
Một cách để phân tích các khía cạnh liên quan tới bản
ngã của đức tin Kitô giáo, đó là sử dụng ý niệm về sự lựa
chọn nền tảng vốn được quảng bá bởi Bernard Haring.
Bernard nối kết hai ý niệm Thánh Kinh, giao ước và tấm
lòng, để trình bày nền tảng cốt yếu của đời sống Kitô giáo.
Các Sách Tin Mừng làm chứng rằng Thiên Chúa đã ban cho
mọi người một giao ước mới qua Đức Giê-su Kitô. Vì thế
mọi người có thể trở thành Kitôhữu bằng cách đặt tấm lòng
mình đúng chỗ, nghĩa là bằng cách dấn thân trọn vẹn cho
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 193
Thiên Chúa. Sự lựa chọn nền tảng là hành vi hoàn toàn tự do
của đức tin - tự nguyện đưa tấm lòng mình vào giao ước với
Thiên Chúa vốn đã được ban cho sẵn nhờ Đức Giê-su Kitô.
Như Haring diễn tả, sự lựa chọn nền tảng không phải
là một sự lựa chọn nhất thời mà người ta thực hiện, chẳng
hạn, một người lớn quyết định nhận Phép Rửa. Đúng hơn,
nó liên quan đến định hướng căn bản của đời sống người ta -
đến nơi mà người ta đặt tấm lòng mình. Nó không phải là
một hành động nào đó, nhưng là chiều hướng tổng quát của
nhiều quyết định và hành động có tính khác biệt và xung
khắc làm nên đời sống người ta. Sự lựa chọn nền tảng của
người Kitôhữu được thực hiện một cách hoàn toàn tự do bởi
chính bản thân đương sự. Nó không thể được quyết định bởi
người khác. Như vậy, một sự lựa chọn nền tảng của người
Kitôhữu sẽ thiết lập đường ranh giới từ đó những hành vi
đặc thù trong đời sống của người Kitôhữu ấy có thể được
nhìn thấy và đo lường.
Việc lựa chọn nền tảng để tin vào Thiên Chúa, để đi
vào trong giao ước mà Thiên Chúa đã mở ra, cần đến tình
yêu đối với Thiên Chúa và đối với tha nhân như chính mình
để làm chuẩn mực hướng dẫn và đo lường những hành động
cụ thể trong đời sống con người. Trong tư cách là sự hướng
dẫn, các chuẩn mực tình yêu đối với Thiên Chúa và tình yêu
đối với tha nhân giúp người Kitôhữu đưa ra những quyết
định hệ trọng trong cuộc sống, chẳng hạn kết hôn hay sống
đời tu trì, chọn nghề này hay nghề khác, như là những thể
hiện của sự lựa chọn nền tảng của đương sự. Trong tư cách
là thước đo, tình yêu Thiên Chúa và tình yêu tha nhân thiết
lập chuẩn mực giúp người Kitôhữu phán đoán rằng một số
hành động nào đó là không đáp trả trọn vẹn tiếng gọi yêu
thương của Thiên Chúa, và do đó làm nảy sinh cảm thức tội
lỗi nơi đương sự.
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 194
Thần Học Luân Lý
Thần học trong tư cách là công việc học thuật rút chủ
đề của nó ra từ cuộc hiện sinh của các Kitôhữu xét như là
cộng đoàn của những người tin vào Đức Giê-su Kitô. Các
Kitôhữu thực hành việc cầu nguyện, đọc Thánh Kinh, cố
gắng trở thành những con người tốt hơn, và vật lộn với
những vấn đề trong đời sống thường ngày. Luân lý Kitô giáo
- tức là những niềm tin và những thực hành của các Kitôhữu
chiếu theo điều gì tốt và điều gì xấu, điều gì đúng và điều gì
sai trong đời sống hằng ngày của họ - đã trở thành một phần
của Kitô giáo kể từ các giáo huấn của Đức Kitô và của các
Tông Đồ. Cho tới thế kỷ 16, các giám mục và các nhà thần
học đề cập đến các vấn đề luân lý như là một phần của tổng
thể giáo huấn Kitô giáo. Không có lãnh vực thần học chuyên
biệt dành riêng cho luân lý.
Tuy nhiên, gần đây hơn, thần học đã phát triển một sự
chuyên môn hóa trong lãnh vực luân lý. Thần học luân lý là
ngành thần học lấy luân lý Kitô giáo làm chủ đề chính của
mình. Tính chuyên môn hóa này đã phát triển trong truyền
thống Công Giáo như một phần của nỗ lực của Giáo Hội
Công Giáo Rôma nhằm phản kháng lại phong trào Cải Cách
Tin Lành. Công Đồng Trentô (1545-1563) nhấn mạnh đến
tầm quan trọng của bảy bí tích, nhất là bí tích sám hối. Công
Đồng này đòi hỏi mỗi người Công Giáo phải xưng thú các
tội trọng rõ loại và rõ số lượng. Thần học luân lý là môn học
trong chủng viện được hoạch định để đào tạo cho người linh
mục biết trao ban bí tích sám hối.
Phần lớn hình thức và nội dung riêng của thần học
luân lý vốn đã được xác định bởi một mối quan tâm thực
tiễn đối với việc cử hành bí tích này. Mỗi linh mục cần biết
không chỉ các quy cách của việc thực hành bí tích, mà còn
phải có đầy đủ khả năng để giải quyết bất cứ vấn đề nào liên
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 195
quan đến việc xác nhận một điều cụ thể nào đó là tội hay
không phải là tội. Ở đây sẽ rất hữu ích việc khảo sát việc
thực hành xưng thú tội lỗi từ nhãn quan của hối nhân. Hối
nhân đến với linh mục sau khi đã khảo sát lương tâm mình.
Đương sự ý thức rằng mình đã làm một số điều gì đó mà
đương sự biết là tội. Đương sự cũng có thể nghi ngờ về một
số hành vi khác của mình. Phải chăng chúng cũng là tội?
Cũng rất thường, đương sự cũng có thể phân vân về một
điều gì đó sắp xảy ra và đương sự tìm kiếm sự hướng dẫn
luân lý nơi cha giải tội của mình. Đương sự kỳ vọng vị linh
mục sẽ sẵn sàng và có thể cung ứng sự hướng dẫn này một
cách trực tiếp và chính xác.
Môn thần học luân lý nhằm để chuẩn bị cho người
linh mục đương đầu với tình huống này. Trong bốn trăm
năm giữa Công Đồng Trentô và Công Đồng Vatican II, môn
học này thường được chứa đựng trong một bộ sách gọi là «
giáo trình » thần học luân lý. Mỗi giáo trình thường được
chia thành hai phần: thần học luân lý tổng quát và thần học
luân lý chuyên biệt. Thần học luân lý tổng quát bao gồm
những chủ đề như bản chất của luân lý tính, một phân tích
về hành vi nhân linh, lương tâm, luật, vv... tất cả đều phù
hợp với tổng hợp của Thánh Tôma Aquinô trong bộ Tổng
Luận Thần Học của ngài. Tuy nhiên, phần lớn hơn của giáo
trình thì liên quan tới thần học luân lý chuyên biệt, một bàn
luận mở rộng về các loại tội khác nhau, đâu là tội trọng và
đâu là tội nhẹ. Một tội trọng liên quan tới một sự khước từ
Thiên Chúa cách trực tiếp và do đó đánh mất ơn cứu độ của
Thiên Chúa. Để thành một tội trọng cần có đủ ba điều kiện:
(1) phải liên quan tới một điều hệ trọng, (2) đương sự phải
suy xét đầy đủ về nó, và (3) nó phải được thi hành với sự
ưng thuận hoàn toàn của ý chí. Một tội nhẹ là bất cứ tội nào
không phải là tội trọng.
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 196
Để tổ chức nhiều vấn đề của đời sống luân lý, các
giáo trình đã hệ thống hóa các tội theo những sự vi phạm đối
với Thập Giới hay đối với các nhân đức đối thần và các
nhân đức căn bản. Trong mỗi chủ đề có giới thiệu một bảng
liệt kê dài các trường hợp đặc trưng để chỉ cho biết cách vận
dụng các chuẩn mực luân lý vào mỗi trường hợp. Tiến trình
hệ thống hóa hàng lố trường hợp luân lý đặc trưng này được
gọi là thuật giải nố (casuistry). Giải nố là thuật vận dụng các
chuẩn mực luân lý tổng quát vào các hành động luân lý
riêng biệt. Mỗi linh mục được kỳ vọng biết phân tích rành
mạch và có thể giải quyết một cách thích đáng cho nhiều
loại hối nhân khác nhau với đủ thứ khả năng phạm tội của
họ.
Thần học luân lý đã thay đổi rất nhiều kể từ Thế
Chiến II và nhất là sau Công Đồng Vatican II. Môn học này
trong các chủng viện nói chung đã bỏ không dùng các giáo
trình nữa. Thêm vào đó, có một thay đổi quan trọng khác
nữa trong thần học luân lý do bởi một sự thay đổi có tính xã
hội học của khung cảnh. Thần học luân lý hầu như không
còn chỉ giới hạn riêng cho việc đào tạo linh mục. Nhiều nhà
thần học luân lý giờ đây ở trong các đại học. Ngày nay họ bị
thách đố phải giáo dục cả các sinh viên lẫn các chủng sinh.
Hơn nữa, trong hàng ngũ các giáo sư thần học luân lý giờ
đây có bao gồm các giáo dân Công Giáo, cả nam lẫn nữ, với
các học vị đại học chứ không phải chỉ là những người đã trải
qua học trình chủng viện với chứng chỉ do Giáo Hội cấp.
Các mục tiêu của việc giáo dục ở đại học hoàn toàn khác
biệt với các mục tiêu ở chủng viện, nhất là vì bối cảnh đời
sống bí tích của Giáo Hội có thể không được tính đến ở đây.
Vì vậy, thần học luân lý đã trở thành rất giống như
lãnh vực đạo đức học Kitô giáo. Đạo đức học Kitô giáo, từ
ngữ thường được sử dụng bởi các học giả Tin Lành để qui
chiếu đến ngành thần học khảo sát các khía cạnh luân lý của
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 197
đời sống Kitô giáo, được phát triển trong tư cách là một lãnh
vực chuyên biệt trong thần học Tin Lành chỉ trong 100 năm
gần đây. Sự chuyên môn hóa này đã xảy ra khi các trường
cao đẳng và đại học của Tin Lành tập chú đến việc chuẩn bị
cho các sinh viên sống trong một xã hội ngày càng thế tục
hóa nhiều hơn. Nội dung luân lý của Kitô giáo, nhất là các
nguyên tắc và các lý tưởng, rất phù hợp để xây dựng một xã
hội công bằng. Một kết quả của các khuynh hướng gần đây
trong cả hai truyền thống, đó là các học giả Công Giáo và
Tin Lành giờ đây thường xuyên đọc và dựa vào các tác
phẩm của nhau. Trong quá trình này, các học giả Công Giáo
và Tin Lành đã đề ra thuật ngữ « đạo đức học thần học » để
nói đến ngành thần học chuyên môn về luân lý vốn đã được
gọi tên là thần học luân lý hay đạo đức học Kitô giáo.
CÁC VẤN ĐỀ TRONG
THẦN HỌC LUÂN LÝ/ĐẠO ĐỨC HỌC KITÔ GIÁO/
ĐẠO ĐỨC HỌC THẦN HỌC
Thánh Kinh Xét Như
Một Nguồn Của Luân Lý
Đối với cả người Công Giáo lẫn người Tin Lành, các
Sách Thánh là nguồn chính yếu cho đức tin và đời sống Kitô
giáo. Vấn đề đặt ra cho các nhà đạo đức học Kitô giáo và
các nhà thần học luân lý là phải hiểu nhiều cách thế trong đó
Thánh Kinh cho biết luân lý Kitô giáo và đời sống luân lý
của Kitôhữu.
Trong Sắc Lệnh về Đào Tạo Linh Mục, Công Đồng
Vatican II (1962-1965) đã nhấn mạnh điểm này khi kêu gọi
canh tân thần học luân lý, nhất là trong các giáo trình.
Phải đặc biệt chú ý cải thiện môn luân lý thần học,
với lối trình bày có khoa học và thấm nhuần giáo lý Thánh
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 198
Kinh nhiều hơn, sẽ minh giải vẻ cao đẹp của ơn gọi người
tín hữu Kitô, cũng như nhiệm vụ của họ phải mưu cầu lợi
ích cho đời sống thế giới trong đức ái. (OT 16)
Công Đồng tìm cách chỉnh đốn một số vấn đề vốn
gây nhũng nhiễu cho môn thần học luân lý liên quan đến
việc sử dụng Sách Thánh. Chúng ta hãy ghi nhận hai trong
số các vấn đề ấy. Trước hết, về những điều tổng quát, các
giáo trình thần học luân lý quá nhấn mạnh đến khía cạnh
luật trong các Sách Thánh, chẳng hạn Muời Điều Răn.
Nhưng các Sách Thánh không chỉ chứa đựng luật. Thứ hai,
về những điều chuyên biệt, các giáo trình thần học luân lý
nói chung đi theo các lập luận về luật tự nhiên và các chuẩn
mực của giáo luật. Sách Thánh xem ra rất thường xuyên
đóng vai trò văn bản dẫn chứng, nghĩa là sau khi đưa ra một
lập luận thì thấy xuất hiện một bản văn Thánh Kinh để cho
thấy lập luận ấy am hợp với Sách Thánh. Việc dẫn chứng
bằng bản văn như vậy có đặt ra nhiều vấn đề; trước hết, bản
văn trích dẫn có thể bị lấy ra khỏi bối cảnh, và thứ hai, các
Sách Thánh không được trực tiếp tham chiếu đến trong việc
xây dựng lập luận luân lý.
Theo tinh thần của Công Đồng Vatican II, việc đặt cơ
sở Thánh Kinh nhiều hơn cho đời sống luân lý Kitô giáo
phải được thực hiện trong sự soi sáng của khoa Thánh Kinh
tốt nhất. Như vậy bản văn Thánh Kinh phải được hiểu trong
khung cảnh nguyên thủy của nó và trong qui điển của nó,
sao cho các Kitôhữu có thể biết bản văn ấy muốn nói gì. Rồi
các Kitôhữu có thể làm công việc vận dụng bản văn ấy vào
hiện tại, để xác định xem nó muốn nói gì bây giờ.
Sách Thánh, Trình Thuật, Nhân Vật
Ngày nay một số nhà thần học đang nhấn mạnh đến
tầm quan trọng của các trình thuật đối với thần học. Các nhà
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 199
thần học này cho rằng trong các Sách Thánh có đầy những
câu chuyện trình bày sự thật về Thiên Chúa và con người.
Vai trò của các Sách Thánh đối với đời sống luân lý của
Kitôhữu, vì thế, không chỉ nằm ở các giới răn mà các Sách
Thánh ban bố. Toàn bộ những câu chuyện trong các Sách
Thánh nói với chúng ta về Thiên Chúa, về thế giới trong đó
chúng ta sống trong tư cách là thụ tạo của Thiên Chúa, và về
bản tính và các mục đích của loài người chúng ta trong liên
hệ với Thiên Chúa. Việc sử dụng những câu chuyện này sẽ
soi sáng cả thế giới là chiếc nôi sống của chúng ta lẫn những
khả năng để chúng ta sống trong đó.
Nhà thần học Stanley Hauerwas ghi nhận rằng không
phải là chuyện ngẫu nhiên việc các tác giả Sách Tin Mừng
đều ghi lại Tin Mừng của Đức Giê-su Kitô trong hình thức
một câu chuyện kể về cuộc sống, cái chết và sự Phục Sinh
của Người. Tự bản chất, sự hiểu biết của Giáo Hội về Đức
Giêsu là sự hiểu biết về một câu chuyện. Như vậy, nhờ biết
Đức Giêsu - nghĩa là biết những câu chuyện mà Giáo Hội kể
về Đức Giêsu và rồi sống câu chuyện đó - các cá nhân sẽ
được chuyển hóa thành những con người sống cuộc sống
mình trong mối quan hệ với Đức Giêsu, với Thiên Chúa Cha
của Đức Giêsu, và với Đấng Bàu Chữa tức Thánh Thần mà
Đức Giêsu sai đến. Thánh Thần này hoạt động sâu thẳm
trong lòng các Kitôhữu khi họ xem những câu chuyện này là
câu chuyện của chính họ, suy tư về chúng và dùng chúng
như những hướng dẫn cho đời sống.
Chẳng hạn, một người bị hành hung bởi một số kẻ
trấn lột hỏi người Kitôhữu đã đến cứu giúp mình: « Tại sao
anh cứu giúp tôi? » Câu trả lời sẽ đơn giản là: « Tôi muốn
hành động như người Samari nhân hậu ». Ở đây việc qui
chiếu đến người Samari nhân hậu cho thấy rằng người
Kitôhữu này đang hành động theo sự hướng dẫn của câu
chuyện Người Samari Nhân Hậu, một câu chuyện mà Đức
thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 200