The words you are searching are inside this book. To get more targeted content, please make full-text search by clicking here.
Discover the best professional documents and content resources in AnyFlip Document Base.
Search
Published by Huynh Pham, 2021-08-13 00:56:52

DanVaoThanHoc

DanVaoThanHoc

Giêsu đã kể. Tổng quát hơn, các ý hướng của một người có
liên hệ với những câu chuyện mà người ấy biết và là những
câu chuyện có khả năng hướng dẫn các hành động của người
ấy. Chính bằng cách này, chúng ta đạt được cách cụ thể
những ý hướng Kitô giáo, và do đó đạt được một tính cách
Kitô giáo. Một phần của đời sống Kitô giáo và của việc phát
triển một tính cách Kitô giáo, đó là mô tả các hành động của
mình bằng cách giải thích chúng trong ý nghĩa Kitô giáo.
Chính vì vậy, Martin Luther King, Jr. quả quyết rằng chúng
ta nên đánh giá một con người « không theo màu da của
người ấy, nhưng là theo tính cách của người ấy ». Chúng ta
thường nối kết tính cách của một con người với sự nhất
quán: một người có tính cách là một người nhất quán. Chúng
ta tin người này sẽ hành động một cách phù hợp với luân lý.

Trong việc suy nghĩ về tính cách có hàm chứa sự
nhìn nhận rằng tính cách không phải là một cái gì bẩm sinh
có tính sinh vật học và tự nhiên, như thể một người có mắt
xanh, đó cũng không phải là vấn đề thuộc qui định xã hội,
chẳng hạn một người có cung cách ứng xử lịch thiệp tại bàn
ăn. Đúng hơn, tính cách của một người là vấn đề do người
ấy tự quyết. Nó là hình thức mà người ấy trao cho các thuộc
tính của mình cả mặt tự nhiên lẫn mặt giáo dục. Nói cách
khác, tính cách không phải là cái gì đã được an bài sẵn,
nhưng đó là cách hiện hữu có sức tổ chức và đem lại sự
mạch lạc cho những yếu tố khác nhau dường như vốn có sẵn
bởi di truyền và bởi môi trường. Như vậy, tính cách là cái
định hình đời sống con người.

Những câu chuyện về cuộc đời các thánh giúp chúng
ta nhận biết những khả năng của tình yêu Thiên Chúa dành
cho chúng ta. Chẳng hạn, quyển Tự Thú của Thánh
Augustinô, cổ xưa nhất trong số các hồi ký của Kitô giáo,
ngày nay vẫn còn được đọc với đầy tâm tình cầu nguyện để
nhận ra Thiên Chúa và những gì Thiên Chúa có thể làm cho

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 201

con người. Hơn nữa, một số Kitôhữu còn đang sống hôm
nay, chẳng hạn Mẹ Têrêsa, vẫn được nhìn thấy như là những
vị thánh, vì câu chuyện của họ phản ảnh ân sủng của Thiên
Chúa và các khả năng của ân sủng ấy chuyển hóa đời sống
người ta.

Nhân Đức Và Các Nhân Đức

Sống một cuộc sống phù hợp với luân lý không phải
là điều dễ dàng. Giá phải trả cho việc « làm điều đúng » là
gì? Duy chỉ việc biết điều gì đúng để làm thì không đủ. Có
những lúc mà người Kitôhữu biết nên làm điều gì đó, song
vẫn không làm. Tông Đồ Phaolô, trong Thư Rôma, đã thốt
lên:

Tôi làm gì tôi cũng chẳng hiểu: vì điều tôi muốn, thì
tôi không làm, nhưng điều tôi ghét, thì tôi lại cứ làm. Nếu tôi
cứ làm điều tôi không muốn, thì tức là tôi đồng ý với Lề
Luật và nhận rằng Lề Luật là tốt. Vậy thật ra không còn phải
là chính tôi làm điều đó, nhưng là tội vẫn ở trong tôi. Tôi
biết rằng sự thiện không ở trong tôi, nghĩa là trong xác thịt
tôi. Thật vậy, muốn sự thiện thì tôi có thể muốn, nhưng làm
thì không. Sự thiện tôi muốn thì tôi không làm, nhưng sự ác
tôi không muốn, tôi lại cứ làm... Tôi thật là một người khốn
nạn! (Rm 7,15-19.24).

Vấn đề này được gọi là sự yếu đuối của ý chí: tôi biết
điều đúng, muốn làm nó, nhưng lại không làm nó. Đây là
một kinh nghiệm rất thông thường.

Một cách để hiểu vấn đề này là nói về các thói quen
hay các khuynh hướng. Chẳng hạn, Mary có thể chọn bỏ hút
thuốc lá, nhưng cô ta không thành công bởi vì thói quen của
cô quá mạnh. Sự kiện Mary đã hút thuốc trong nhiều năm đã
thiết lập một thói quen khó dứt bỏ. Như nhiều người nghiện
thuốc lá nhìn nhận, sức mạnh của ý chí vẫn không đủ. Vì

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 202

thế, việc lặp đi lặp lại một hành động nào đó bắt người ta
phải tiếp tục thực hiện hành động ấy. Dĩ nhiên, không phải
mọi thói quen đều tai hại cho sức khỏe của người ta như việc
hút thuốc lá. Đa số các khả năng căn bản của chúng ta, như
đi bộ và chạy, hay những hoạt động phức tạp hơn như cưỡi
xe đạp, đọc sách, tính toán, ... đều thực sự là những thói
quen. Chúng ta vẫn thường nói: « thực hành sẽ làm cho
thành thạo ». Rất nhiều tài năng của chúng ta được đặt nền
trên việc chúng ta phát triển các khả năng của mình thành
những thói quen tốt.

Trong lãnh vực đạo đức, tên gọi khác của một thói
quen tốt là một nhân đức. Một nhân đức là sự hoàn hảo của
một năng lực hay khả năng của con người. Sự hoàn hảo này
đòi hỏi hai khía cạnh. Một khía cạnh liên quan đến chất
lượng tuyệt vời của hành động, nghĩa là có thể làm nó cách
« ngon lành ». Hãy nhớ lại niềm tự hào mà mỗi chúng ta
cảm thấy khi cuối cùng chúng ta không những biết cưỡi xe
đạp mà còn biết cưỡi xe đạp « không cần đến hai tay ». Tuy
nhiên, ý nghĩa đầy đủ nhất của sự hoàn hảo đó là hành động
của thói quen cần được định hướng về một mục đích tốt. Ví
như có hai người tài xế đều lái xe rất thành thạo, nhưng một
người là kẻ cướp nhà băng và lái xe tẩu thoát, còn người kia
là nhân viên cảnh sát lái xe truy đuổi. Tâm hướng lái xe giỏi
để đi ăn cướp sẽ hủy hoại giá trị luân lý của hành vi lái xe.

Các nhân đức có rất nhiều, nhiều như những khả năng
mà con người có thể có được, nhưng một số nhân đức có
tầm quan trọng nhiều hơn đối với đời sống luân lý. Người Hi
Lạp nhận ra bốn nhân đức căn bản (nhân đức trụ), các nhân
đức khác đều xoay quanh bốn nhân đức này. Đó là khôn
ngoan, công bình, tiết độ và dũng cảm. Khôn ngoan, hay cẩn
trọng, là nhân đức nhờ đó người ta biết điều gì đúng để làm
trong bất cứ vấn đề thực tiễn nào. Công bình là nhân đức
nhờ đó người ta biết trao cho người khác những gì thuộc về

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 203

người khác. Tiết độ là nhân đức nhờ đó người ta biết điều
hòa các khao khát của mình. Dũng cảm, hay kiên cuờng, là
nhân đức nhờ đó người ta có thể vượt qua các khó khăn và
các trở ngại để thực hiện những hành động tốt. Nếu thiếu bất
cứ nhân đức nào trong bốn nhân đức nói trên thì đó sẽ là
hiểm họa cho chất lượng luân lý của người ta.

Cắm rễ trong Thánh Kinh, suy tư Kitô giáo thêm vào
ba nhân đức khác nữa, đó là các nhân đức đối thần: tin, cậy,
mến - như là tiêu chuẩn của đời sống Kitô giáo. Đức tin là
lòng tín nhiệm mà người tín hữu đặt để nơi Thiên Chúa và
nơi lời hứa ơn cứu độ xuyên qua Đức Giê-su Kitô. Đức cậy
là nhân đức chiến đấu với sự ngã lòng và mong đợi sự hoàn
thành các lời hứa trong tương lai. Đức mến, hay tình yêu, là
tất cả đời sống Kitô giáo: tình yêu đối với Thiên Chúa và
tình yêu đối với tha nhân.

Các nhân đức đối thần khác với các nhân đức căn bản
về một điểm cốt yếu. Tất cả các nhân đức đối thần đều là ơn
huệ của Thiên Chúa. Ở bình diện sâu xa nhất, chúng không
phải là kết quả đạt được của con người mà chính là kết quả
của ân sủng Thiên Chúa. Như vậy, các nhân đức đối thần
tin, cậy, mến không thể đạt được bằng cách lặp đi lặp lại
một số hành động theo kiểu những thói quen thông thường.
Tuy nhiên, chúng có thể định hướng toàn bộ bản ngã người
ta về phía Thiên Chúa. Nói cho cùng, đức ái, tức tình yêu
nồng nàn đối với Thiên Chúa, sẽ sắp đặt các phần khác nhau
của đời sống luân lý, sắp đặt các nhân đức khác nhau và các
hành động mà các nhân đức ấy thể hiện, thành một đời sống
hoàn toàn qui hướng về Thiên Chúa. Sự tốt đẹp đích thực
đòi hỏi phải qui hướng toàn bộ về sự thiện, về Thiên Chúa.

Một Khoa Đạo Đức Học Về Bản Chất
Và Một Khoa Đạo Đức Học Về Hành Động

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 204

Khi các nhà đạo đức học suy tư về bản chất của luân
lý, họ thường ghi nhận rằng có hai tiêu điểm khác nhau -
tương tranh nhau nhưng độc lập nhau - để suy nghĩ về luân
lý tính. Một là tập chú đến một khoa đạo đức học về bản
chất. Khoa đạo đức học về bản chất tập chú đến loại người
nào mà người ta nên trở thành. Giòng tư tưởng của chương
này cho đến đây đã sử dụng một khoa đạo đức học về bản
chất làm tiêu điểm. Các vấn đề như tính cách và các nhân
đức đối thần đã trở thành những chủ điểm chính yếu.

Trong khi đó việc tập chú đến hành động luân lý, tức
một khoa đạo đức học về hành động, là một cách suy nghĩ
khác về đời sống luân lý. Một khoa đạo đức học về hành
động tập chú đến hành động đúng đắn, đến việc đưa ra quyết
định. Một Kitôhữu nên làm gì về […]? Độc giả có thể điền
vào khoảng trống ấy bằng bất cứ vấn đề luân lý thông
thường nào vốn đang làm chúng ta bối rối hôm nay: sự phá
thai, chiến tranh và hòa bình, cái chết êm dịu, tội ác, lạm
dụng ma túy, li dị, bạo hành đối với phụ nữ, lạm dụng trẻ
em, nạn đói nghèo, những vấn đề tính dục, hiếp dâm, bất
trung, buôn lậu, chủ nghĩa apácthai, và bất cứ vấn đề gì
trong vô số những vấn đề ưu tư nóng bỏng của chúng ta.

Đối với cá nhân, một khoa đạo đức học về hành động
tập trung chú ý đến việc huấn luyện lương tâm. Tôi nên làm
gì? Tôi đưa ra quyết định luân lý của mình dựa trên cơ sở
nào? Để trả lời những câu hỏi này chúng ta phải chuyển
sang một phân tích về bản chất của lương tâm.

Lương Tâm

Hai tiếng « lương tâm » đã được sử dụng bởi nhiều
người khác nhau trong nhiều cách thế khác nhau, nhưng
trong truyền thống Công Giáo nó có một ý nghĩa rõ ràng.
Công Đồng Vatican II trong Hiến Chế Mục Vụ về Giáo Hội

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 205

Trong Thế Giới Hôm Nay (Gaudium et spes) trình bày giáo

huấn Công Giáo về lương tâm một cách cô đọng.

Con người khám phá ra tận đáy lương tâm một lề luật

mà chính con người không đặt ra cho mình, nhưng vẫn phải

tuân theo, và tiếng nói của lương tâm luôn luôn kêu gọi con

người phải yêu mến và thi hành điều thiện cũng như tránh

điều ác. Tiếng nói ấy âm vang đúng lúc trong tâm hồn của

chính con người: hãy làm điều này, hãy tránh điều kia. Quả

thật con người có lề luật được Chúa khắc ghi trong tâm hồn.

Tuân theo lề luật ấy chính là phẩm giá của con người và

chính con người cũng sẽ bị xét xử theo lề luật ấy nữa. (GS

16)

Những thảo luận gần đây về lương tâm, nhất là trong

ánh sáng của giáo huấn Công Đồng Vatican II, cho thấy

rằng từ ngữ lương tâm ngày nay được sử dụng trong ba

trường hợp khác nhau. Thứ nhất, lương tâm chỉ phương tiện

nhờ đó chúng ta biết các nguyên tắc đệ nhất của luân lý,

nghĩa là lề luật được ghi khắc trong tâm hồn người ta.

Nguyên tắc thứ nhất của luân lý là « hãy làm lành lánh dữ ».

Các nguyên tắc luân lý tổng quát bổ sung vào sẽ nêu rõ

những sự thiện phải theo đuổi và những sự dữ phải tránh.

Thứ hai, lương tâm là toàn bộ tiến trình phân tích và phản

tỉnh trước khi làm công việc phán đoán, đôi khi được gọi là

khoa học luân lý. Thứ ba, theo nghĩa hẹp nhất, lương tâm là

chính hành vi phán đoán .32 « Hãy làm điều này, hãy tránh
92F

điều kia! » Một cách chuyên biệt nhất, lương tâm được định

nghĩa là hành vi phán đoán về tính đúng đắn hay tính sai trái

của những điều đã được làm hay sẽ được làm.

32 Xem Timothy E. O'Connell, Các Nguyên Tắc Luân Lý Công Giáo (San
Francisco: Haper and Row, 1990) 109tt. Xin xem thêm A. Gula, Lý Chứng
Bởi Đức Tin (NY: Paulist Press) 130tt.

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 206

Nhận hiểu của Công Giáo về lương tâm phải được
phân biệt rõ với những ý nghĩa khác có thể có. Một số người
có thể thiên về quan niệm lương tâm như cảm xúc dằn vặt
hay cảm thức tội lỗi. Mặc dù khía cạnh cảm xúc của đời
sống đóng một vai trò trong đời sống luân lý, lương tâm vẫn
chủ yếu là một khía cạnh của lý trí, không phải của tình cảm
chúng ta. Thường có thể xảy ra trường hợp một phán đoán
của lương tâm dẫn tới những cảm thức tội lỗi bởi vì người ta
đang hay đã đi ngược lại với phán đoán của lương tâm.
Những người khác, theo các nhãn quan của Sigmund Freud,
có thể thay thế lương tâm bằng thuật ngữ « siêu ngã ». Đối
với Freud, siêu ngã được hình thành trong năm hay sáu năm
đầu tiên của đời người, khi đứa trẻ nội tâm hóa những mệnh
lệnh của người lớn xung quanh nó. Mặc dù siêu ngã là một
phần quan trọng của tiến trình trưởng thành vì nó là phương
pháp kiểm soát xung lực, nó phải bị thay thế bởi sự kiểm
soát của lý trí đối với bản ngã. Cùng chia sẻ quan điểm này,
truyền thống Công Giáo xem lương tâm vừa thuộc lý trí vừa
có tính phát triển suốt cuộc sống khi các khả năng lý trí của
con người phát triển. Như vậy, lương tâm không phải là siêu
ngã, không phải chỉ là một vết tích nào đó của tuổi ấu thời
phải được vượt qua. Đúng hơn, lương tâm phải không ngừng
được hình thành trong suốt đời người.

Khi Công Đồng Vatican II dạy rằng mỗi người và
mọi người đều có bổn phận theo tiếng nói lương tâm của
mình, thì lương tâm mà người ta phải theo ấy là sự phán
đoán mà người ta thực hiện (« tôi có bổn phận làm điều này
»; « tôi sẽ sai nếu làm thế »). Sự phán đoán này hoàn toàn có
tính cá nhân. Nó được dùng để hướng dẫn các hành động
của mình, không phải của người khác. Có thể lấy một ví dụ
tốt về điều này trong vở kịch A Man for all Seasons của
Robert Bolt về Thomas More:

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 207

NORFOLK: Tôi không phải là một học giả, như
Cromwell vẫn luôn nghĩ thế, và thú thật tôi không biết cuộc
hôn nhân này có hợp pháp hay không. Nhưng này, Thomas,
đâu phải chỉ một mình tôi, còn biết bao người khác nữa cũng
làm thế! Bạn quá biết họ đấy chứ! Bạn không thể làm điều
chúng tôi đã làm, không thể theo chúng tôi, cho có bạn bè à?

MORE: (trầm ngâm) Ông nghĩ coi, khi chúng ta đứng
trước mặt Chúa, và ông được đưa vào thiên đàng vì đã làm
theo lương tâm của ông, còn tôi phải lãnh án phạt vì đã
không làm theo lương tâm của tôi, liệu ông có sẽ đi với tôi
cho có bạn bè hay không?

CRANMER: Thế thì ai trong chúng ta là những kẻ bị
nguyền rủa, hở Thomas?

MORE: Tôi không biết. Thưa ngài. Tôi không thể
nhìn thấy được lương tâm của một người khác. Tôi không
lên án ai33.

30F

More đã phán đoán rằng ông không thể đoan chắc về
điều mà ông không tin; song ông chấp nhận sự kiện rằng
người khác có thể tin tưởng khác với mình và do đó có thể
theo lương tâm ngay lành của họ để tuyên thệ một điều mà
ông không thể.

Công Đồng Vatican II dạy rằng

Lương tâm nhiều khi lầm lạc vì sự ngu dốt không thể
được vượt qua, nhưng cũng không vì thế mà mất hết phẩm
giá. Nhưng không thể nói như vậy khi con người thiếu quan
tâm đến việc tìm kiếm chân lý và sự thiện, hoặc khi lương

33 Robert Bolt, A Man For All Seasons (NY: Random House, Inc., Vintage
Books, 1962) 76-77.

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 208

tâm dần dần trở nên mù quáng do thói quen phạm tội (GS

16).

Công Đồng muốn nói gì khi nói "sự ngu dốt không
thể được vượt qua"? Nói về "sự ngu dốt không thể được
vượt qua" chính là nói về khả năng lương tâm người ta có
thể bị lung lạc. Phải chăng một người phải theo lương tâm
của mình, ngay cả khi lương tâm đó đang ở trong tình trạng
sai lầm?

Rõ ràng, khỏi bàn đến trường hợp mà một người biết
rằng lương tâm của mình sai lầm. Bấy giờ đương sự sẽ theo
sự phán đoán của lý trí sau khi đã cân nhắc một cách sáng
suốt. Nhưng trong trường hợp khác, khi lương tâm của một
người sai lầm nhưng đương sự không hề ý thức được sự sai
lầm này, thì sao? Ở đây mở ra vấn đề nên hay không nên
trách người ta vì họ đã không hiểu biết tốt hơn. Phải chăng
một người phải chịu trách nhiệm về sự nhầm lẫn? Hay, theo
truyền thống, câu hỏi được đặt ra là: sự ngu dốt này có thể
hay không thể được vượt qua?

« Sự ngu dốt có thể được vượt qua" là loại sai lầm mà
người ta không nên làm. Người ta đáng lẽ phải hiểu biết
hơn. Chẳng hạn, trường hợp một người lái xe khi say rượu.
Có phải là một lời bào chữa hợp lý cho hành động khi người
tài xế ấy nói rằng anh ta say quá không thể biết rằng mình
không nên lái xe? Hay phải chăng là có lý việc lập luận rằng
anh ta đã không biết việc lái xe trong khi say rượu là vi
phạm luật? Trong trường hợp thứ hai, để được cấp bằng lái
xe, mỗi người chắc chắn đã chứng tỏ mình hiểu biết căn bản
về luật cùng với kỹ năng lái xe căn bản. Việc không biết
trách nhiệm không phải là sự biện minh hợp lý. Còn trong
trường hợp thứ nhất, biện hộ cho việc say rượu là biện hộ
cho tội lỗi.

« Sự ngu dốt không thể được vượt qua" là tình huống
trong đó người ta không thể bị qui trách nhiệm vì lý do

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 209

không hiểu biết. Mặc dù đương sự làm điều sai trái, đương
sự đã không làm thế một cách hữu ý và vì thế được miễn
chấp. Hành động của đương sự ở đây không được đánh giá
là tốt; đúng hơn đương sự có lỗi nhưng không bị bắt lỗi.

Việc bàn luận về sự ngu dốt có thể được vượt qua và
sự ngu dốt không thể được vượt qua dẫn tới kết luận rằng
mỗi người có trách nhiệm phải biết đâu là điều đúng để làm.
Mỗi người chúng ta phải tích cực tìm hiểu mình nên làm gì
và nên không làm gì. Tiến trình này trong đời sống luân lý
được gọi là huấn luyện lương tâm. Huấn luyện lương tâm là
một tiến trình tiếp tục không ngừng suốt cuộc sống, vì chúng
ta không ngừng tiếp xúc với những tình huống mới yêu cầu
sự phân định về luân lý.

Theo Công Đồng, "lương tâm ngay thẳng càng thắng
thế thì những cá nhân và cộng đoàn càng tránh được độc
đoán mù quáng và càng nỗ lực tuân phục những tiêu chuẩn
khách quan của luân lý." (GS 16)

Trong một tình trạng thay đổi liên tục về luân lý như
nhiều người có thể cảm thấy hiện nay, ngày nay liệu có ai có
thể bị qui trách nhiệm phải biết các chuẩn mực khách quan
của luân lý hay không? Đứng trước những bất đồng sừng
sững về luân lý đang tràn ngập trong xã hội Mỹ hôm nay,
phải chăng chúng ta phải tự mình thiết định riêng cho mình
những nguyên tắc? Phải chăng luân lý là cái gì hoàn toàn có
tính tương đối?

Luật

Trong hai ngàn năm nay Kitô giáo đã dạy rằng luân
lý không duy chỉ có tính chủ quan, nhưng còn có những
chuẩn mực khách quan. Cách thông thường để nói về tính
khách quan của các chuẩn mực luân lý đó là sử dụng ý niệm
về luật. Nguồn tổng hợp truyền thống và các giáo huấn Công

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 210

Giáo về luật có thể được tìm thấy nơi Thánh Tôma Aquinô

(1224-1274).

Quan điểm của Tôma về luật cắm rễ nơi nhận thức

của ngài về tầm quan trọng của lý trí. Lý trí là nguyên tắc

hành động của con người; nó là qui tắc và là thước đo của

hành động con người. Vì luật cũng chi phối và đo lường

hành động của con người nên luật cũng đóng vai trò của lý

trí. Định nghĩa tổng quát về luật được Tôma nêu ra là "một

qui định của lý trí về điều tốt tổng quát, phát xuất từ người

có mối quan tâm đến cộng đoàn, và đã được ban bố" .34
13F

Phân tích trên đây về luật được Tôma áp dụng cho

giáo huấn Kitô giáo về Thiên Chúa. Thiên Chúa là Đấng

Tạo Hóa và là nguồn của mọi điều thiện hảo. Vì Thiên Chúa

là Nhà Cầm Quyền trên vũ trụ, nên các Kitôhữu nói về sự

quan phòng thần linh theo nghĩa Thiên Chúa cai quản sao

cho toàn thể được tốt đẹp. Lý Trí Thần Linh cung ứng một

kế hoạch cai quản mọi sự mang đặc tính của luật. Bởi vì

Thiên Chúa là Đấng tác tạo nên thời gian và Lý Trí Thần

Linh ở ngoài thời gian, nên qui tắc và thước đo của mọi sự

nơi Thiên Chúa được gọi là "luật vĩnh cửu". Luật vĩnh cửu là

kế hoạch của Thiên Chúa Thượng Trí.

Cách này hay cách khác, mọi sự đều có thông dự vào

luật vĩnh cửu. Con người được ban cho lý trí, và vì thế con

người thông dự vào luật vĩnh cửu một cách đặc biệt. Tôma

gọi sự thông dự của thụ tạo có lý trí vào luật vĩnh cửu là

"luật tự nhiên". Nội dung của luật tự nhiên bắt đầu với

nguyên tắc thứ nhất của luân lý: làm lành, lánh dữ. Con

người thiên về hướng làm điều lành. Bản năng tự tồn, duy trì

nòi giống loài người, sự hiểu biết Thiên Chúa và việc sống

34 Summa Theologiae I-II, Q. 90, A. 4.

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 211

trong xã hội, ... vì thế là nền tảng cho các nguyên tắc luân lý
đóng vai trò chuẩn mực và thước đo của hành động con
người. Những mối quan tâm luân lý như thế áp dụng cho
mọi người ở mọi nơi và mọi thời. Tuy nhiên, khi chúng ta đi
từ những vấn đề tổng quát tới những vấn đề chuyên biệt
hơn, Tôma nhận ra rằng các chuẩn mực luân lý cũng phải trở
thành chuyên biệt hơn một cách tương ứng. Ngài gọi những
chuẩn mực chuyên biệt này là "những qui tắc đệ nhị của luật
tự nhiên". Trong tư cách là những xác định của các qui tắc
đệ nhất có tính tổng quát hơn của luật tự nhiên, những qui
tắc đệ nhị này thay đổi theo với những sự khác biệt nơi
những vấn đề liên hệ.

Con người cũng còn có một nhu cầu tổ chức mình
trong xã hội. Như vậy một loại luật khác được cần đến để
thiết định các phán quyết khác nhau về một số vấn đề, Tôma
gọi đây là "luật của con người". Mặc dù các tập tục của một
dân tộc được bao gồm trong ý niệm của Tôma về "luật của
con người", nói chung những luật này được đưa ra bởi nhà
cầm quyền hợp pháp để phục vụ cho công ích của toàn thể
cộng đồng. Nếu các luật này đúng đắn, thì dân chúng có bổn
phận theo lương tâm phải tuân theo luật này. Nhưng cái gì sẽ
xác định tính đúng đắn của các luật này? Rốt cục, luật cao
nhất, luật vĩnh cửu là nguồn của công lý. Luật của con người
phải phù hợp với luật vĩnh cửu bằng cách thích nghi với luật
tự nhiên. Nếu luật của con người chà đạp luật vĩnh cửu, nó
sẽ không đúng đắn và sẽ không ràng buộc được lương tâm
của bất cứ ai.

Việc bàn luận về luật tới đây vẫn chưa hết, vì các
Kitôhữu cần hội nhập vấn đề Thánh Kinh nữa. Luật của
Thiên Chúa như được tìm thấy trong Thánh Kinh sẽ ăn khớp
với phân tích của Tôma như thế nào? Tôma sử dụng thuật
ngữ "luật thần linh" để qui chiếu đến luật được tìm thấy
trong các Sách Thánh. Như vậy, luật thần linh gồm hai phần:

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 212

Luật cũ được tìm thấy trong Cựu Ước và Luật mới được tìm
thấy trong Tân Ước. Tôma dạy rằng luật thần linh cần cho
con người hơn cả sự hướng dẫn của luật tự nhiên và luật của
con người - để cho người ta có thể biết chắc điều gì nên làm
và điều gì phải tránh.

Như giáo huấn của Tôma về luật cho thấy rõ, luật
vĩnh cửu, tức luật trong thượng trí của Thiên Chúa, được con
người biết đến qua hai nguồn: lý trí con người xét như luật
tự nhiên và mạc khải thần linh trong Thánh Kinh tức luật
thần linh. Trong tư tưởng Công Giáo, hai nguồn này phải
hòa hợp với nhau một cách cốt yếu. Thế nhưng suy tư của cả
Công Giáo lẫn Tin Lành đều không đồng hóa luân lý Kitô
giáo với luân lý Thánh Kinh. Kitô giáo nhìn nhận rằng Đức
Giêsu và Tân Ước nối tiếp với Giao Ước cũ nhưng đồng
thời cũng có những vấn đề thay đổi. Vì thế giáo huấn của
Cựu Ước phải được điều hợp vào đời sống Kitô giáo, mặc
dù Muời Điều Răn vẫn được áp dụng cho các Kitôhữu.

Các Nhân Vị Và Trách Nhiệm

Trong quá khứ, các Kitôhữu thường nghĩ về luân lý
Kitô giáo với một não trạng có tính pháp lý, nghĩa là đời
sống Kitô giáo được cho là tốt nhất khi tuân giữ luật. Theo
quan điểm này thì tất cả những gì chúng ta phải làm để nên
tốt, để trở thành dân mà Thiên Chúa mời gọi chúng ta trở
thành, đó là biết luật và giữ luật. Tuy nhiên, phần lớn đời
sống chúng ta, phần lớn bản chất và hành động của chúng ta
thì vượt quá phạm vi của những gì có thể được ấn định trong
các khoản luật thành văn.

Với sự hiệu chỉnh của thần học luân lý, đã có một
chuyển hướng sự nhấn mạnh sang các ý niệm về nhân vị và
trách nhiệm. Hình ảnh được quan tâm hàng đầu ngày nay,
đó là mỗi người chúng ta là những nhân vị phải hành động

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 213

một cách có trách nhiệm trong quan hệ với các nhân vị khác.
Các nhân vị là thịt và máu, tinh thần và con tim, với những
nhân đức và tính cách. Các nhân vị có quá khứ, hiện tại và
tương lai. Các nhân vị biết mình và biết người khác, biết
(theo các mức độ khác nhau) về các sắc thái riêng của cuộc
sống của nhau. Trong khi biết những con người cụ thể và
những hoàn cảnh trong đó mình sống, chúng ta kinh nghiệm
các bổn phận luân lý vượt quá những gì có thể được ấn định
bởi luật. Các thực tại khách quan của con người và các giá
trị nhân linh gợi lên nơi sâu thẳm của nhân vị những thái độ
đáp trả đầy tự do, sáng tạo và trung tín. Đây là ý nghĩa đích
thực của mệnh lệnh "hãy yêu thương tha nhân như chính
mình". Trái tim con người cảm thấy được thúc đẩy vượt quá
bất cứ những gì mà luật qui định để đáp ứng các nhu cầu của
người khác. Tình yêu năng động này của các Kitôhữu đối
với tha nhân chính là hình thức của cuộc sống mà tình yêu
Thiên Chúa đòi hỏi. Nó là sự thể hiện tích cực sự chọn lựa
nền tảng của người Kitôhữu: lựa chọn chính Thiên Chúa.

Luân Lý Cá Nhân / Luân Lý Xã Hội

Các Kitôhữu không được phép bỏ qua bản chất xã hội
của lối sống Kitô giáo. Nếu mở Thánh Kinh ra để tìm sự
hướng dẫn, chúng ta sẽ thấy rằng những ý niệm bao quát
nhất không mang tính cá nhân nhưng là mang tính cộng
đồng. Chẳng hạn, ý niệm về giao ước với Thiên Chúa tràn
ngập trong toàn bộ Thánh Kinh. Giao ước với Môsê được
thiết lập trên Núi Sinai đã tạo nên căn tính cho con cái It-ra-
en xét như một dân tộc, một dân được Thiên Chúa tuyển
chọn. Cũng vậy, giao ước mới được công bố bởi Đức Giêsu
tại Bữa Tiệc Ly đã tạo ra một căn tính mới cho các môn đệ
của Người, họ trở thành Hội Thánh. Trong cả hai giao ước
này, Thiên Chúa có sáng kiến mời gọi người ta hưởng ứng

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 214

một lối sống mới và người ta đáp trả bằng cách đi vào lối
sống mới này với Thiên Chúa bấy giờ là trung tâm của đời
sống họ.

Giáo huấn của Giáo Hội đã không bỏ qua chiều kích
xã hội của lối sống Kitô giáo. Trong một trăm năm vừa qua,
các giáo huấn giáo hoàng về các vấn đề xã hội hiện ra như
một ngọn hải đăng soi sáng cho những vấn đề nóng bỏng
của ngày nay. Để mừng kỷ niệm 100 năm các thông điệp xã
hội này, Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã soạn thảo
Centesimus Annus (1991) đề cập đến trật tự thế giới mới
xuất hiện sau sự sụp đổ của các chế độ cộng sản ở Đông Âu
và những sự cải cách trong chính Liên Bang Sô Viết.

Truyền thống hiện đại của giáo huấn xã hội Công
Giáo đã nhìn thấy các giáo hoàng đề cập đến các vấn đề xã
hội nổi cộm nhất của ngày nay. Truyền thống này bắt đầu từ
năm 1891với Đức Leo XIII qua thông điệp Rerum Novarum
của ngài, một sự bênh vực quyết liệt các quyền lợi của giới
thợ thuyền tại các quốc gia công nghiệp hóa. Giáo Hoàng
Piô XI trong Quadragesimo Anno, ban hành năm 1931, đã
nhìn chung nhu cầu phản kháng sự trỗi dậy của các nhà
nước chuyên chế và đề cập đến các vấn đề lương bổng công
bằng tại các nước tư bản. Vào năm 1963, Giáo Hoàng Gioan
XXIII công bố Pacem in Terris, trong đó ngài vạch ra trật tự
luân lý cần thiết cho hòa bình thế giới và đưa ra sự bênh vực
triệt để đối với các quyền của con người xét như một phần
của trật tự luân lý ấy. Gần đây hơn, năm 1967, Giáo Hoàng
Phaolô VI trong Populorum Progressio đã tập chú suy tư
Công Giáo trên nhu cầu phải phát triển các dân tộc xét như
là điểm tựa chủ yếu cho trật tự quốc tế.

Những vấn đề ấy của giáo huấn xã hội cũng là mối ưu
tư hàng đầu của các giám mục gặp gỡ tại Công Đồng
Vatican II. Các ngài soạn thảo và ban hành vào năm 1965
Hiến Chế Mục Vụ về Giáo Hội Trong Thế Giới Hôm Nay

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 215

(Gaudium et spes) để soi rọi ánh sáng của Đức Kitô trên
những vấn đề mà thế giới đang phải đương đầu. Các ngài
vận dụng các giáo huấn và các lý tưởng của Đức Kitô vào
năm vấn đề khẩn cấp: hôn nhân và gia đình, sự phát triển
của văn hóa con người, đời sống kinh tế, xã hội, và chính trị,
mối quan hệ giữa các quốc gia, hòa bình thế giới và vấn đề
chạy đua vũ trang.

Kể từ Công Đồng Vatican II, các đại hội cấp vùng
của các giám mục Công Giáo cũng đã suy tư về các vấn đề
xã hội. Đáng kể cách riêng đó là Hội Nghị Toàn Thể Các
Giám Mục Châu Mỹ Latinh lần thứ hai tại Medellin,
Columbia vào mùa hè năm 1968. Các giám mục tại hội nghị
này đã thảo luận các vấn đề về giải phóng, về hòa bình và
công lý tại Châu Mỹ Latinh. Các ngài đề cập đến các vấn đề
chính trị, kinh tế và xã hội nóng bỏng tại các quốc gia của
các ngài, cũng như nêu nhu cầu cải cách Giáo Hội. Từ ngữ
"tạo ý thức" - nói lên tiến trình giáo dục xã hội và phát triển
lương tri xã hội - đã trở thành một khẩu hiệu thường xuyên
được nhắc đến.

Các giám mục Hoa Kỳ đã công bố hai thư mục vụ
quan trọng vào thập niên 1980. Thách Đố Của Hòa Bình
(1983) đề cập đến những vấn đề ngăn chặn vũ khí hạt nhân
và chiến dịch tăng cường quân sự của chính phủ Reagan.
Công Bằng Trong Kinh Tế Cho Mọi Người (1986) thảo luận
về những thay đổi trong nền kinh tế Hoa Kỳ và nhu cầu phải
đánh giá cả những thay đổi đó lẫn những chính sách của
chính phủ trong ánh sáng của giáo huấn Công Giáo về xã
hội.

Bằng cách nào những nguyên tắc tổng quát này của
giáo huấn Công Giáo về xã hội có thể được sử dụng tốt nhất
để thông đạt cho các lương tâm Kitôhữu và giúp biến đổi đời
sống cá nhân của người ta? Sự tập chú cách chật hẹp vào
việc xưng thú các tội lỗi sẽ làm cằn cỗi các cảm thức bén

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 216

nhạy của người ta, làm cho người Kitôhữu suy nghĩ cách
tiêu cực rằng cố sao không vi phạm các điều luật như cấm
giết người, cấm ngoại tình, ... Một cách tiếp cận tốt hơn sẽ
sử dụng những giáo huấn này để đề xuất những đóng góp
tích cực mà các Kitôhữu có thể thực hiện cho xã hội.

KẾT LUẬN

Chương này vừa điểm qua một số trong những vấn đề
mà sự suy tư về đời sống luân lý Kitô giáo khơi lên. Tầm
quan trọng của lương tâm và của việc theo lề luật Thiên
Chúa đương nhiên phải được đề cập tới. Tuy nhiên, còn có
những vấn đề rộng hơn nữa cần được xem xét, trong đó
đáng kể là bản chất của người Kitôhữu, sự phát triển của
tính cách và sự đào luyện các khả năng người ta, và câu hỏi
quan trọng về việc quan hệ có trách nhiệm với các anh chị
em xung quanh mình. Những khía cạnh này của luân lý cá
nhân cũng phải được móc nối với các chiều kích xã hội của
Tin Mừng và chỗ đứng quan trọng của Thánh Kinh trong đời
sống Kitô giáo. Như vậy, thách đố của thần học luân lý vẫn
còn là thách đố soi rọi cho thấy cuộc sống, cái chết và sự
Phục Sinh của Đức Giêsu đã mở ra loại đời sống nào.

CÂU HỎI GIÚP TÌM HIỂU

1. Hãy thảo luận ý niệm về sự chọn lựa nền tảng.
Theo bạn, các hành động của một người sẽ bộc lộ hay trình
bày mối quan hệ nền tảng của người ấy với Thiên Chúa qua
những cách nào?

2. Hãy giải thích những cách thế trong đó lãnh vực
thần học luân lý đã được phát triển trong liên hệ tới sự thực
hành của Giáo Hội và hãy ghi nhận những loại thay đổi mà
thần học luân lý đã trải qua trong những năm gần đây.

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 217

3. Ngoài những nhân đức được đề cập đến trong bài
này, hãy ghi nhận những nhân đức khác có thể đặc trưng cho
loại người mà các Kitôhữu được mời gọi trở thành.

4. Lương tâm là gì? Tại sao các Kitôhữu luôn luôn
cần phải theo tiếng lương tâm của mình? Những gì gây khó
khăn cho người ta trong việc tuân theo tiếng lương tâm?

===

Chương 8: ĐỜI SỐNG KITÔ
GIÁO: CÁC BÍ TÍCH VÀ PHỤNG

VỤ

Michael Downey

Năm này qua năm khác, các sinh viên trong các
trường đại học Công Giáo tiếp tục ghi danh vào các khóa
thần học hay nghiên cứu tôn giáo, thường là bởi vì những
khóa ấy là bắt buộc đối với họ. Thật không đáng ngạc nhiên
khi các giáo sư phân vân về việc dùng những khóa này làm
diễn đàn để truyền bá những hiểu biết về đạo Công Giáo.
Con số ngày càng tăng các sinh viên không Công Giáo theo
học tại các trường đại học này làm cho các sinh viên và giáo
sư Công Giáo thuộc khoa thần học càng phải thận trọng khi
thảo luận một cách chuyên biệt đến các vấn đề quan tâm của

Công Giáo.

Thêm vào đó là mối nghi ngờ nơi nhiều người rằng
đức tin Kitô giáo không còn là cách sống có trách nhiệm và
đáng tin cậy trong thế giới ngày nay. Đức tin tôn giáo, bất
luận tôn giáo nào, thường bị gạt ra rìa và bị xem như là
chuyện sở thích cá nhân. Các sinh viên thường cho thấy họ
xác tín rằng mỗi và mọi người đều có quyền có quyết định
riêng, dù quan điểm ấy có thể lạ lẫm đến mấy đi nữa. Trong

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 218

vấn đề tôn giáo, nhiều người vẫn vô hình chung nghĩ rằng
tất cả các tôn giáo đều tốt như nhau. Theo quan điểm của họ,
điều quan trọng là mình phải là con người tốt. Nếu niềm tin
tôn giáo giúp người ta trở thành người tốt, thì niềm tin ấy
được đánh giá là có thể chấp nhận được, ngay cả được coi là
có giá trị cao. Các niềm tin đặc thù của tôn giáo này hoặc
tôn giáo khác, và những khác biệt thực sự giữa nhiều truyền
thống tôn giáo khác nhau sẽ được lấp liếm cách dễ dàng.

Dù các truyền thống tôn giáo khác nhau có những
điểm chung nào đi nữa, vẫn có những khác biệt thực sự giữa
chúng. Và người ta phải rất phân vân để nhìn nhận hay chấp
nhận những khác biệt này. Ví như người ta có được một
mức nhất trí nào đó do cùng chia sẻ xác tín tôn giáo, thì sự
nhất trí ấy cũng không tồn tại lâu nếu các yếu tố phân biệt
giữa các truyền thống tôn giáo khác nhau không được tôn
trọng.

Khi xem xét nét phân biệt của giáo thuyết Công Giáo,
hay Giáo Hội Công Giáo Rôma, người ta - dù thời nào -
cũng thường nghĩ về đức giáo hoàng, về tính bất khả ngộ
của giáo hoàng, về vai trò của Đức Trinh Nữ Maria, về giáo
huấn liên quan đến vấn đề kiểm soát sinh sản và phá thai,
hay về vai trò của các linh mục và nữ tu. Dù những yếu tố ấy
có tầm quan trọng thế nào trong giáo thuyết và đời sống
Công Giáo, chúng cũng phải được nhìn trong một bối cảnh
rộng lớn hơn nhiều. Trong nhãn quan rộng lớn hơn này,
người ta sẽ thấy sự nhấn mạnh đặc biệt về sự thể hiện của ân
sủng, sự hiện diện của Thiên Chúa và sự chuyển hóa mà sự
hiện diện này đem lại, trong và xuyên qua một cộng đoàn
đức tin, một cộng đoàn phụng tự bí tích - tức là Giáo Hội.

Trái lại, đức tin và phụng tự của một số truyền thống
Kitô giáo khác có thể được thấy là đặt nhiều sự chú ý hơn
đến tầm quan trọng của Lời Chúa trong Thánh Kinh và đến
niềm tin cá nhân của người ta đối với ơn cứu độ do đức tin

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 219

vào Đức Giê-su Kitô. Điều này cũng được diễn tả trong việc
qui tụ cầu nguyện và phụng tự. Nhưng trong truyền thống
Công Giáo, bên cạnh sự chú ý đặt nơi việc rao giảng và nghe
Lời Chúa, còn có sự nhấn mạnh đặc biệt đến tầm quan trọng
cách riêng của các bí tích xét như những diễn tả mối quan hệ
giữa con người và Thiên Chúa.

Không nên quá tô đậm lằn phân ranh ở đây. Dù sự
nhấn mạnh được đặt trên Lời Chúa hay bí tích, các thành
viên của các truyền thống Kitô giáo khác nhau cũng đồng ý
rằng việc phụng tự đóng một vai trò rất quan trọng trong
việc nâng đỡ đời sống đức tin và thực hành Kitô giáo. Và rõ
ràng là mọi Kitôhữu đều đồng ý rằng những gì được nói và
được làm trong phụng tự của một cộng đoàn phải có mối
liên hệ tới cách mà các tín hữu sống đời sống của họ từ ngày

này qua ngày khác.

Có một bối cảnh chung ở đây giữa các truyền thống
Kitô giáo khác nhau. Dù có những khác biệt nào đi nữa xét
về các "niềm tin" đặc thù của họ, các Kitôhữu thuộc các
Giáo Hội và các truyền thống khác nhau khó mà phủ nhận
điểm cốt yếu rằng có một mối nối kết thiết yếu giữa điều
được nói và làm "trong nhà thờ" với những gì được sống
trong đời sống hằng ngày. Đi xa hơn nữa, bối cảnh chung
này không chỉ được chia sẻ bởi các Kitôhữu mà thôi. Người
ta thuộc các niềm tin khác nhau sẽ không cãi rằng việc cầu
nguyện và phụng tự của họ phải sinh hoa trái trong cách mà
họ sống cuộc đời họ. Tuy nhiên, bằng cách nào điều này có
thể được thực hiện - đó sẽ là một vấn đề phức tạp hơn nhiều.

Mục đích của tôi trong bài này là đưa ra một giới
thiệu về bảy bí tích của Công Giáo Rôma, cắm rễ trong xác
tín rằng có những hàm ý về đaọ đức rút ra từ phụng tự bí
tích. Bằng cách nhìn vào đời sống bí tích của Giáo Hội,
chúng ta có thể nắm được một bí quyết nào đó, và nhờ đó có

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 220

thể ngày càng hiểu biết hơn việc trở thành Kitôhữu có nghĩa
gì.

Trước khi làm công việc định nghĩa bí tích, tưởng cần
phải đưa ra một mô tả tổng quát về một thế giới quan về bí
tích xét như bối cảnh cho việc nhận hiểu bí tích và tính bí
tích. Kế đó, sẽ cần phải định nghĩa một số thuật ngữ chủ
chốt liên quan tới bí tích như: nghi thức, lễ nghi, phụng tự,
phụng vụ, ân sủng, dấu hiệu, và biểu tượng. Bấy giờ chúng
ta sẽ xem xét đến bảy bí tích trong một cố gắng cho thấy
rằng có một mối nối kết chặt chẽ giữa những gì được nói và
làm trong phụng tự bí tích với cách mà các Kitôhữu phải
sống đời sống của họ. Nói cách khác, đời sống bí tích của
Giáo Hội là một diễn tả về chân trời đaọ đức vốn có thể giúp
các Kitôhữu trong việc đưa ra những chọn lựa cụ thể ảnh
hưởng đến cuộc sống của mình và của người khác. Bên cạnh
Lời Chúa trong Sách Thánh và các giáo huấn cũng như
truyền thống của Giáo Hội, cùng với vai trò của một lương
tâm sáng suốt và được đào luyện, chân trời đạo đức được
diễn tả trong phụng tự bí tích mở ra tầm nhìn cho thấy người
Kitôhữu phải sống thế nào trong liên hệ với người khác và
với Thiên Chúa.

MỘT THẾ GIỚI QUAN VỀ BÍ TÍCH

Đức tin và tôn giáo thường được hiểu như những
chuyện riêng của mỗi người, dựa trên kinh nghiệm tín
ngưỡng riêng tư của cá nhân, và được sống trong một mối
quan hệ riêng tư với Thiên Chúa. Trái lại, xem chừng hơi kỳ
cục khi nói về mối quan hệ giữa con người với Thiên Chúa
như một cái gì gắn liền với toàn thể đời sống người ta. Cảm
nhận này bắt rễ từ một thế giới quan có tính biểu tượng hay
cái mà một số người đã gọi là một nhãn quan bí tích. Nó tựa
trên đức tin rằng bất chấp sự bất tương đồng rộng rãi giữa

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 221

Thiên Chúa và thế giới, thực tại của Thiên Chúa vẫn được

phản chiếu trong thế giới. Như vậy, đời sống con người, các

lời nói, hành động, các sự vật, các biến cố đều có thể vén mở

hay bộc lộ chính sự hiện diện và hoạt động của vị Thiên

Chúa vô hình. Ân sủng, tức chính sự sống của Thiên Chúa,

đó vừa là sự hiện diện thần linh trong thế giới vừa là sự

chuyển hóa đời sống con người và thế giới vốn xuất phát từ

sự hiện diện này, thì có sẵn trong và xuyên qua đời sống con

người và thế giới. Tất cả những gì hiện hữu đều được cho

phép hiện hữu bởi sự sống và hơi thở của Thiên Chúa.35
23F

Như vậy, tất cả những gì hiện hữu đều có tính bí tích - ít

nhất là trong tiềm năng. Vì Thiên Chúa được phản chiếu

trong thế giới nên tất cả đời sống con người, hoạt động, lời

nói, cũng như các biến cố và lịch sử, đều có thể mở ra cho

thấy sự hiện diện và hành động của Thiên Chúa, Đấng mà

chính bản tính của Ngài là biểu lộ và thông truyền tình yêu

trong và xuyên qua thế giới.

Một cách chuyên biệt hơn, thế giới quan bí tích này

chủ trương rằng có một tính tương hợp giữa bản tính con

người và ân sủng Thiên Chúa, nhờ đó sự chuyển hóa mà

Thiên Chúa đem lại sẽ giúp làm hoàn hảo bản tính con

người vốn được Thiên Chúa tạo dựng. Xa hơn nữa, mọi tạo

vật, sự sống của con người và của mọi thứ khác, đều là nơi

cho sự hiện diện của Thiên Chúa và cho sự chuyển hóa mà

sự hiện diện này mang lại.

Nói vậy không có nghĩa rằng Thiên Chúa và con

người hoàn toàn giống nhau. Cũng không có ý rằng con

người trở thành thần linh trong tiến trình chuyển hóa bởi ân

sủng. Trong khi nhìn nhận những điểm nối kết trong mối

35 Để rõ hơn về thế giới quan có tính biểu tượng/bí tích đối ứng với các quan
điểm khác về mối liên hệ giữa Thiên Chúa với thế giới, xin xem Sallie
McFague, Thần học Ẩn Dụ: Các Mẫu Thức về Thiên Chúa trong Ngôn Ngữ
Tôn Giáo (Philadelphia: Fortress Press, 1982) chương 1

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 222

quan hệ giữa Thiên Chúa và thế giới, chúng ta cũng phải
chấp nhận rằng dù có thể có sự tương đồng nào giữa Thiên
Chúa và tạo vật thì ngay trong đó cũng đồng thời có sự khác
biệt mà ngôn ngữ chúng ta không thể diễn tả được khoảng
cách biệt giữa chúng ta và Thiên Chúa.

Bí Tích Và Tính Bí Tích

Đời sống bí tích tiên vàn là một diễn tả sự trao ban ân
sủng của Thiên Chúa. Đồng thời đó cũng là một diễn tả khát
vọng của con người muốn quan hệ với Thiên Chúa. Khát
vọng này được diễn tả trong cầu nguyện - cầu nguyện có thể
được mô tả là sự phấn đấu có ý thức để quan hệ với Thiên
Chúa, để chấp nhận sự đến của Thiên Chúa, thường qua
những con người và những biến cố có tính bất ngờ, không
dự liệu trước, và thật sự có sức xuyên phá. Đối với các
Kitôhữu, mầu nhiệm mà những người có tín ngưỡng gọi là
Thiên Chúa xảy đến nơi con người Đức Giê-su Nadarét.
Thập giá và sự Phục Sinh của Đức Giêsu - theo các Kitôhữu
- là sự vén mở trọn vẹn mầu nhiệm mà những người có tín
ngưỡng gọi là Thiên Chúa.

Việc nhận hiểu tầm quan trọng của bảy bí tích dựa
trên một sự trân trọng cái nhìn rằng con người có thể diễn tả
và truyền đạt sự đáp trả và mối liên hệ của mình đối với vị
Thiên Chúa từ bi vĩnh cửu và vô hình được biểu lộ nơi con
người lịch sử, cụ thể và độc đáo của Đức Giêsu Nadarét.
Trong nhãn quan này, ân sủng Thiên Chúa được thấy vẫn
luôn có sẵn xuyên qua toàn thể tạo vật và lịch sử. Nhưng
mầu nhiệm về tình yêu Thiên Chúa vốn ẩn chứa trong cốt lõi
của toàn thể tạo vật đã trở nên rõ ràng nơi Đức Giêsu - Đấng
là ân sủng của Thiên Chúa trở thành xác phàm. Vì thế, ân
sủng Thiên Chúa tự bản chất có tính nhập thể và tính bí tích.

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 223

Bí tích Kitô giáo là một sự đáp trả của con người đối
với bước đi trước của Thiên Chúa nơi Đức Kitô. Dĩ nhiên,
sự đáp trả này là có thể chỉ vì trước tiên Thiên Chúa đã mở
ra một mối quan hệ với các Kitôhữu trong và xuyên qua con
người Đức Giêsu. Như vậy, theo nghĩa này, thì đối với các
Kitôhữu, Đức Giêsu là bí tích đầu tiên và cao nhất của Thiên
Chúa. Chính nơi Đức Giêsu mà Thiên Chúa và con người
gặp nhau. Nghĩa là, nơi cuộc sống, sứ vụ, các lời nói, việc
làm của Đức Giêsu, vị Thiên Chúa vĩnh cửu và vô hình được
vén mở, được mạc khải hay được làm cho trở thành hữu
hình cụ thể. Và khi các môn đệ của Đức Giêsu diễn tả và
truyền đạt khát vọng của họ muốn ở trong mối quan hệ với
Thiên Chúa, họ làm thế nhờ Đức Kitô, với Đức Kitô và
trong Đức Kitô. Sự giao tiếp của họ với Thiên Chúa trở
thành có thể trong và xuyên qua các lời nói, hành động, các
sự vật và các biến cố qui chiếu đến cuộc đời Đức Kitô,
chẳng hạn việc bẻ bánh, chúc phúc và chia nhau bánh và
ruợu, việc xức dầu, việc đặt tay. Và ngoài những hành động
chủ yếu của Giáo Hội hình thành nên bảy bí tích, còn có
những hành động rửa chân cho những người "bé mọn", tha
thứ và yêu thương ngay cả kẻ thù, bố thí và chữa trị - tất cả
những hành động ấy có thể được hiểu là có tính bí tích theo
nghĩa rộng.

Lời nói và việc làm, ý nghĩa và sứ điệp của Đức
Giêsu đã không chấm dứt với cái chết của Người. Những ai
đi theo Người và tin rằng sự sung mãn của Thiên Chúa đã
được mạc khải nơi cuộc sống và sứ vụ của Người đều xác
nhận rằng Thiên Chúa đã tiếp tục đến nơi con người Đức
Giêsu ngay cả bên kia cái chết của Người. Những kẻ đặt để
đức tin nơi Người đã xác nhận rằng Người đã hiện ra với họ
vào ngày thứ ba. Đây là đức tin vào Chúa Phục Sinh mà
truyền thống Kitô giáo dựa vào: "Đấng chịu đóng đinh vẫn
đang sống!" Mầu nhiệm phúc ân được vén mở nơi con người

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 224

Đức Giêsu vẫn tiếp tục đến và sống giữa những ai qui tụ với
nhau trong đức tin và trong việc phụng tự tưởng niệm
Người. Và chính trong lời họ, hành động của họ, đời sống
cộng đoàn của họ mà sự hiện diện và hoạt động của mầu
nhiệm ân sủng vẫn tiếp tục đến. Đời sống và hoạt động cộng
đoàn của các môn đệ qui tụ lại nhân danh Đức Kitô đã trở
thành nơi chốn cho việc tự bày tỏ và tiếp xúc với Thiên
Chúa trong Đức Kitô.

Như vậy, bên cạnh cuộc đời của Đức Kitô, chính
Giáo Hội trong đời sống và thực hành chia sẻ của mình là
một bí tích của Thiên Chúa. Vì trong sự tưởng niệm Đức
Kitô, trong mối ràng buộc với lời nói và việc làm của Người,
trong nỗ lực theo đuổi ý nghĩa sứ điệp yêu thương đến hiến
mạng sống mình của Đức Kitô dưới ánh sáng của những
hoàn cảnh đã đổi thay và những cách cảm nhận và hiện hữu
không ngừng biến chuyển, các môn đệ của Đức Giêsu -
những người làm nên Hội Thánh - cho thấy sự đến không
ngừng của mầu nhiệm phúc ân nơi đời sống con người, nơi
lịch sử và thế giới.

Khi đời sống của Giáo Hội tiếp tục vượt qua giai
đoạn khởi đầu, khi các thành viên của Giáo Hội trở nên ngày
càng đông số hơn, và khi các thành viên này đảm nhận công
việc sống ý nghĩa và sứ điệp của Đức Giêsu trong những nền
văn hóa khác nhau và tại những vùng khác nhau của thế
giới, mối quan hệ giữa những người Kitôhữu với Thiên
Chúa được diễn tả bằng những cách ngày càng ít giống hơn
với những thực hành tôn giáo của các giai đoạn ban đầu. Nói
cách khác, những thực hành được mang vào Kitô giáo từ Do
Thái giáo bị gạt bỏ nếu được coi là không bắt kịp ý nghĩa và
sứ điệp của Đức Giêsu. Việc ấn định những thực hành nào
am hợp với tinh thần Đức Kitô đã không hề là một vấn đề dễ
dàng. Đã phải mất một thời gian lâu để minh định những
bản văn nào làm nên Thánh Kinh Kitô giáo đích thực, và

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 225

những thực hành Kitô giáo nào là cốt yếu. Nhưng qua giòng
lịch sử Kitô giáo, các bí tích của Giáo Hội đã hiện lộ ra
trong tư cách là những hoạt động lễ nghi của cộng đồng
xoáy vào cố gắng sống chính danh Kitôhữu. Trong các bí
tích của Giáo Hội, vì thế, chúng ta tìm thấy một cách diễn tả
khác, đặc thù hơn về tính bí tích. Vì chính trong bảy hoạt
động lễ nghi cộng đồng này của Giáo Hội mà cộng đoàn
Kitôhữu diễn tả và nhận lấy căn tính của mình là Nhiệm Thể

Chúa Kitô.

Vì thế, để có thể trân trọng các bí tích, cần phải nhìn
nhận rằng trong thế giới quan bí tích này của Kitô giáo có
bốn cấp độ của tính bí tích. Thứ nhất, Đức Kitô là bí tích của
Thiên Chúa. Trong Đức Giê-su Kitô, trong lời nói và việc
làm của Người, và quả thật trong chính ngã vị Người, mầu
nhiệm tối thượng mà những người có tín ngưỡng gọi là
Thiên Chúa được biểu hiện một cách rõ ràng, dứt khoát và
không thể rút lại được.

Thứ hai, sau cái chết của Đức Giêsu, các môn đệ của
Người qui tụ lại để tưởng nhớ Người. Trong đời sống đức
tin và phụng tự chung của họ, trong khi họ dấn thân yêu
thương phục vụ theo gương Đức Kitô, Thiên Chúa tiếp tục
đến. Nghĩa là, Giáo Hội là bí tích của Đức Kitô. Trong tư
cách là Nhiệm Thể của Đức Kitô trong thế giới, Giáo Hội
tham dự vào bí tích trường cửu của Đức Kitô.

Thứ ba, trong những hoạt động lễ nghi cộng đồng
nhằm xoáy vào việc cố gắng sống chính danh Kitôhữu, Giáo
Hội diễn tả mối quan hệ của mình với Thiên Chúa trong Đức
Kitô. Trong lời nói và bí tích, nhất là bí tích Thánh Thể,
Giáo Hội cử hành mầu nhiệm Thiên Chúa tự thông đạt qua
cuộc sống, cái chết và sự Phục Sinh của Đức Giêsu. Vì thế,
các bí tích của Giáo Hội tồn tại ở cấp độ thứ ba của tính bí

tích.

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 226

Cuối cùng là cấp độ thứ tư của tính bí tích. Bởi vì
thực tại của Thiên Chúa được phản chiếu trong thế giới, nên
tất cả đời sống và hoạt động của con người, các biến cố và
lịch sử, cũng như các sự sống khác, làm nên cảnh vực trong
đó sự hiện diện của Thiên Chúa có thể được nhận định. Ân
sủng của Thiên Chúa, sự hiện diện và hoạt động của Thiên
Chúa và sự chuyển hóa đời sống mà sự hiện diện này mang
lại, ... thì bàng bạc trong thế giới.

MỘT SỐ TỪ CHỦ CHỐT

Trước khi định nghĩa mỗi trong bảy bí tích, tưởng cần
đưa ra một mô tả vắn tắt về một số từ chủ chốt trong ngôn
ngữ của các bí tích: nghi thức, lễ nghi, phụng vụ, phụng tự,
ân sủng, dấu hiệu, biểu tượng, và bí tích.

Nghi thức và lễ nghi có liên hệ chặt chẽ với nhau.
Chúng qui chiếu đến một hình thức được qui định, được
chuẩn nhận về các lời nói, cử chỉ và các hoạt động tạo nên
qui cách cho một cuộc cử hành. Có lẽ cũng nên phân biệt
giữa nghi lễ và nghi thức. Một nghi lễ được truyền từ thời
này qua thời khác trong hình thức văn tự hay truyền khẩu,
trong khi một nghi thức là một sự ban hành của nghi lễ ấy.
Nhưng không nên quá tô đậm sự phân biệt này. Hai thuật
ngữ trên thường vẫn được sử dụng lẫn lộn với nhau.

Các nghi thức không chỉ được tiến hành trong lãnh
vực tôn giáo. Có những nghi thức cho Ngày Tạ Ơn
(Thanksgiving Day), cho các dịp mừng sinh nhật, cho đám
cuới, cho buổi chào cờ. Bên cạnh những nghi thức của đời
sống thường ngày, còn có những nghi thức qui định một
cuộc cử hành phụng tự. Phụng tự có thể được mô tả như là
một kết hợp các hành vi bao gồm các lời nói, các khúc ca,
các cử chỉ, và các hoạt động nhờ đó một người hay một
nhóm người ca ngợi và tạ ơn Thiên Chúa. Phụng tự Kitô

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 227

giáo qui chiếu đến tất cả các lời nói và hành động trọng thể

hay không trọng thể, được ghi ra hay không được ghi ra,

theo qui cách hay tự phát, nhờ đó các Kitôhữu gặp gỡ và

được gặp gỡ bởi Thiên Chúa trong các cuộc qui tụ của Giáo

Hội.3F36

Phụng vụ là một thuật ngữ có liên hệ chặt chẽ với

phụng tự. Nó mô tả công việc của dân chúng trong đó Thiên

Chúa được ca ngợi và tôn vinh. Thuật ngữ này thường được

dùng trong qui chiếu đến một nghi lễ hay một hệ thống nghi

lễ qua đó một cộng đoàn qui tụ tiến hành việc phụng tự công

cộng của mình. Nói về phụng vụ là nói về việc phụng tự tập

thể hay một nghi lễ tôn giáo tập thể, có tính công khai, có

mục đích được xác định rõ ràng, và có mẫu thức sẵn.37
43F

Phụng Vụ (viết hoa) thường qui chiếu đến lễ nghi bí tích

Thánh Thể, hay Thánh Lễ. Phụng vụ không phải là một cái

gì có tính thụ động, cũng không phải là nghi lễ hay nghi

thức. Ý nghĩa của phụng vụ, nghi lễ, nghi thức nằm ở chỗ

chúng được triển khai ra. Một nghi thức trong một quyển

sách các nghi lễ thì chỉ là một mớ chữ in trên giấy, cũng như

lời của các ngôn sứ sẽ là những chữ chết cứng nếu không

được công bố, không được nghe và không được thực hành.

Những chữ ghi chép trên giấy trở thành Lời Chúa nói qua

các ngôn sứ khi chúng được đọc, được nghe, được rao giảng

và được sống. Cũng vậy, nghi lễ, nghi thức và phụng vụ vẫn

chỉ là một mớ chữ chết cứng, vô hồn, nếu lòng trí người ta

không được nâng lên trong cầu nguyện, trong sự hoán cải

đời sống cách sâu sắc, và trong tâm tình chân thành thờ

phượng Thiên Chúa.

Một thuật ngữ quan trọng khác trong ngôn ngữ của

các bí tích là "ân sủng". Nhiều người nghĩ rằng ân sủng là

36 William H. Willimon, The service of God: Christian Work and Worship

(Nashville: Abingdon Press, 1983) 16-17.
37 Ibid., 17.

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 228

một thực tại có luợng tính - một cái gì đó vô hình được «đổ»

vào người ta. Chúng ta nhận được nó nếu chúng ta đi tới nhà

thờ vào ngày Chúa Nhật, bằng nếu không đi, chúng ta sẽ mất

một số ân sủng. Hiểu một cách đúng đắn, ân sủng là việc

Thiên Chúa tự ý truyền đạt chính Ngài cho các tạo vật. Từ

nhãn quan này chúng ta có thể nói rằng các bí tích không

chủ yếu là những phương tiện chuyên chở ân sủng cho bằng

chúng là những diễn tả cụ thể và độc đáo của món quà được

trao ban là chính Thiên Chúa và sự chuyển hóa của đời sống

con người xét như sự đáp trả đối với hành động Thiên Chúa

tự truyền đạt chính Ngài.

Việc định nghĩa dấu hiệu, biểu tượng và bí tích là một

khâu quan trọng trong cuộc khảo sát của chúng ta. Một số

độc giả có thể quen thuộc với một định nghĩa trước đây về bí

tích là "một dấu hiệu bề ngoài do Chúa Kitô thiết lập để trao

ban ân sủng."F5338 Mặc dù trong định nghĩa ấy có những ưu

điểm rõ ràng về tính sáng sủa, các nghiên cứu hiện đại đã lập

luận một cách rất thuyết phục để bênh vực cho cách hiểu các

bí tích là những thực tại có tính biểu tư ợng.39 "Biểu tượng" ở
63F

đây không qui chiếu đến một cái gì không thực sự là thực,

như khi người ta nói đến một cử chỉ thuần túy có tính biểu

tượng, hay như khi nói đến quyền hành của một ông vua hay

một nữ hoàng "chỉ có tính biểu tượng". Biểu tượng là một

thực tại phức tạp và phong phú, sâu xa hơn dấu hiệu.

Một dấu hiệu là một hành động, cử chỉ, lời nói hay sự

vật được dùng để truyền đạt thông tin chính xác hay sự chỉ

dẫn rõ ràng để người ta biết cách hành động. Các ý nghĩa

của dấu hiệu thì rõ ràng và chính xác, hay ít nhất chúng

được nhắm đến như thế. Dấu hiệu STOP có nghĩa là "Đừng

38 Đây là định nghĩa về bí tích được học bởi các thế hệ được giáo dục đức tin
Công Giáo theo Giáo lý Baltimore.
39 David N. Power, Những Kho Tàng Khôn Dò: Tính Biểu Tượng của Phụng
Vụ (NY: Pueblo Publishing Co., 1984).

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 229

đi!". Không có nhiều chỗ cho sự diễn dịch ở đây. Các biển
báo giao thông nhắm giúp cho các người lái xe và người đi
bộ biết hướng đi. Thông tin mà chúng cung cấp - chẳng hạn,
quyền ưu tiên đường thuộc về xe nào - cần phải rõ ràng và
dứt khoát để tránh nhập nhằng và chu toàn vai trò giúp ta
tìm ra đường đi.

Đàng khác, các biểu tượng là những lời nói, những cử
chỉ, những hoạt động, những sự vật thông truyền ý nghĩa và
giá trị. Các biểu tượng giúp đem lại sự truyền thông và liên
lạc có tính vô ngã. Việc tặng một đóa hoa hồng không bao
giờ chỉ có một ý nghĩa. Việc bắt tay cũng thế. Bắt tay có thể
là một cử chỉ hòa giải, nó cũng có thể là một diễn tả lời chào
đón hay tạm biệt, nó còn có thể là hành động đánh dấu một
sự nhất trí giữa hai phía. Một lời mời ăn tối có thể là bước
đầu tiên của một cuộc ve vãn, nó cũng có thể là sự kiện bắt
đầu hay kết thúc một vụ giao dịch làm ăn, hoặc cũng có thể
là sự kiện thắt chặt lại tình thân hữu. Các biểu tượng khác
với các dấu hiệu ở chỗ dấu hiệu liên quan tới thế giới thông
tin và chức năng, còn biểu tượng thì liên quan tới thế giới ý
nghĩa và giá trị. Sự khác biệt không luôn luôn rõ ràng như ta
có thể tưởng nghĩ, song xem ra hữu ích việc ta luôn luôn lưu
ý đến sự khác biệt này.

Biểu tượng (Hy ngữ: sym-ballein) mời gọi sự thông
dự vào các thực tại sâu hơn. Nó hướng chỉ mầu nhiệm. Các
biểu tượng là những sự vật, những cử chỉ và những hoạt
động thuộc về một bối cảnh văn hóa có sẵn, được nhắc đến
nhiều mà không bị hóa thành khuôn cứng ngắt, đáp ứng
những nhu cầu cảm xúc về ý nghĩa và sự thuộc về, diễn tả
căn tính của nhóm (dù một số biểu tượng có liên hệ trực tiếp
hơn đến nhóm và một số khác có liên hệ trực tiếp hơn đến cá
nhân), và phải chấp nhận những thay đổi xảy ra theo thời

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 230

gian, theo những nhãn quan và những giá trị không ngừng

biến dịch.40
37F

Với nhận hiểu như thế, chúng ta có thể nói về các

biểu tượng Kitô giáo - dù đó là hành vi bẻ bánh và chúc lành

cho chén ruợu, hay đổ nước hoặc dìm vào nước, thắp nến và

rước nến - tất cả đều là những sự vật, những hành động, cử

chỉ, lời nói cụ thể diễn tả ý nghĩa và sự thật của cộng đoàn

Kitô hữu xét như Nhiệm Thể Chúa Kitô. Qua các biểu tượng

ấy, cộng đoàn nhận và diễn tả căn tính của mình là Nhiệm

Thể Chúa Kitô.

Ở đây cần phải ghi nhớ rằng các biểu tượng Kitô giáo

giống với các biểu tượng khác ở chỗ các ý nghĩa của chúng

rất phong phú và có nhiều tầng. Chúng không bao giờ chỉ có

một nghĩa nào đó. Chẳng hạn, trong Phép Rửa, việc đổ nước

trên đầu hay, tốt hơn, việc dìm một em bé hay người lớn vào

trong nước "nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh

Thần" cho thấy sự tha thứ tội lỗi, song đồng thời cử chỉ ấy

cũng có ý nghĩa tháp nhập vào trong Nhiệm Thể Chúa Kitô,

thông dự vào lối sống của một cộng đoàn, và được tinh

luyện và soi sáng bởi lời nói và việc làm và Chúa Kitô.

Nhưng đó chưa phải là tất cả ý nghĩa của việc đổ nước hay

dìm trong nước.

Một đặc tính thứ hai của biểu tượng, đó là có một sự

phân biệt giữa biểu tượng và thực tại được biểu tượng. Việc

tặng một đóa hoa hồng để diễn tả tình yêu có mời gọi sự

nhìn nhận rằng tình yêu của người tặng hoa phong phú hơn

và trọn vẹn hơn nhiều so với chính đóa hoa hồng. Một bức

phù điêu của một nghệ sĩ là một diễn tả về chính nghệ sĩ ấy.

Việc chà đạp dã man bức tượng Pieta của Michelangelo

được nhiều người cảm nhận như sự xúc phạm thô bạo đến

cái thánh thiêng, và xúc phạm đến chính Michelangelo.

40 Ibid., 64-65. 231

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019

Nhưng Pieta không phải là Michelangelo, cũng không phải
là thần thánh.

Khi tổng thống Hoa Kỳ bị bắn, nhiều người coi đây là
một sự lăng nhục đối với quốc gia và đối với các ý nghĩa và
giá trị sâu xa nhất của quốc gia. Sở dĩ thế bởi vì các giá trị
của quốc gia được diễn tả, và thực sự được hiện thân, nơi vị
tổng thống. Quả thật đó là lý do tại sao người ta kỳ vọng rất
nhiều ở vị tổng thống. Nhưng không ai nói rằng John F.
Kennedy hay Bill Clinton hay Abraham Lincoln là Hoa Kỳ.
Đối với các biểu tượng tôn giáo, và nói riêng đối với các
biểu tượng Kitô giáo, cần phải nhận ra rằng có một sự khác
biệt giữa một bên là các sự vật, các hoạt động, cử chỉ, lời nói
truyền đạt mầu nhiệm cốt yếu, và bên kia là sự trọn vẹn của
chính mầu nhiệm ấy. Toàn thể hệ thống biểu tượng tôn giáo
bao gồm rất nhiều hình thức nhắm truyền đạt các thể thức
hiện diện khác nhau của Thiên Chúa. Ngay cả khi nhìn một
cách toàn thể, thì toàn thể các biểu tượng thánh cũng hoàn
toàn không có khả năng truyền đạt trọn vẹn thực tại của việc
Thiên Chúa hiện diện trong thế giới, và sự hiện hữu của con
người trong Thiên Chúa. Bất cứ cá nhân hay nhóm người
tôn giáo nào cũng phải nhìn nhận rằng những tuyên bố của
mình về chân lý và về ý nghĩa cuối cùng của đời sống cũng
chỉ là một phần và nhất thiết bị giới hạn.

Cũng phải nói tương tự như thế về hệ thống biểu
tượng của nhóm. Cộng đoàn Kitôhữu diễn tả đức tin vào
Chúa Kitô và Thánh Thần xuyên qua một hệ thống các sự
vật, các hoạt động, cử chỉ, lời nói; đồng thời các Kitôhữu
cũng phải ý thức rằng có một sự khác biệt giữa một bên là
các biểu tượng của sự hiện diện của Thiên Chúa trong đời
sống con người, trong lịch sử, trong thế giới và Giáo Hội, và
bên kia là sự trọn vẹn của sự hiện diện thần linh. Việc diễn
tả và truyền đạt đức tin vào Chúa Kitô và Chúa Thánh Thần
bằng lời nói và bí tích phải khơi lên trong chúng ta một nỗi

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 232

khao khát và niềm trân trọng sâu xa đối với điều vốn không
được trao ban, truyền đạt hay vén mở cách trọn vẹn qua lời
nói và bí tích.

Định Nghĩa Bí Tích

Trong ánh sáng của giải thích như trên về nghi lễ,
nghi thức, phụng tự, phụng vụ, ân sủng, dấu hiệu và biểu
tượng, chúng ta có thể đưa ra một định nghĩa rõ ràng và khả
dụng về bí tích trước khi khảo sát bảy bí tích đóng vai trò
trọng yếu trong tư tưởng và phụng tự Công Giáo. Hiểu rằng
biểu tượng là những sự vật, hoạt động, cử chỉ, lời nói được
sử dụng để đem lại sự truyền đạt và liên lạc liên ngã vị, và
hiểu rằng các biểu tượng mời gọi sự thông dự trọn vẹn hơn
vào những ý nghĩa cốt yếu và những giá trị cao nhất mà con
người cảm nhận và theo đuổi, thì các bí tích có thể được
định nghĩa như là những biểu tượng của sự hiện diện của
Thiên Chúa trong đời sống con người, trong lịch sử, trong
thế giới, và trong Giáo Hội. Nói rằng các bí tích được thiết
lập bởi Đức Kitô là nhìn nhận rằng những hoạt động, những
sự vật, cử chỉ, lời nói này (cấp độ thứ ba của tính bí tích) là
những hành động của Giáo Hội (cấp độ thứ hai của tính bí
tích) được cắm rễ hay được đặt nền trên ý nghĩa và sứ điệp,
lời nói và việc làm của Đức Giêsu (cấp độ thứ nhất của tính
bí tích).

Đời sống bí tích của Giáo Hội đã thay đổi và phát
triển trong giòng lịch sử Kitô giáo. Cũng như trong bất cứ
quá trình phát triển nào khác, đã có những sai lầm, những
lệch lạc. Và đôi khi thật có lý để đặt câu hỏi rằng phải chăng
những thực hành bí tích nào đó, trong quá khứ hay trong
hiện tại, là một diễn tả thích hợp về nỗ lực của Giáo Hội
nhằm diễn tả và đón nhận căn tính Nhiệm Thể Chúa Kitô
của mình, nhằm sống tương hợp với ý nghĩa và sứ điệp, lời

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 233

nói và việc làm của Đức Giêsu. Dù trả lời thế nào cho câu
hỏi ấy đi nữa, thực tế vẫn thường được ghi nhận là các bí
tích được người Kitôhữu hiểu như những sự biểu hiện của
ân sủng, qui hướng đến việc sống trọn vẹn hơn trong mầu
nhiệm sự chết và sự sống lại của Chúa Kitô.

CÁC BÍ TÍCH VÀ ĐỜI SỐNG KITÔ GIÁO

Một sự nhận hiểu hiện đại về các bí tích đòi hỏi phải
chú ý đến những gì được ghi nhận về nguồn gốc của các bí
tích dựa vào các nghiên cứu về Tân Ước và về các thế kỷ
đầu tiên của Kitô giáo. Cũng cần phải có một sự trân trọng
đối với khuôn mặt không ngừng thay đổi của phụng tự bí
tích qua giòng lịch sử Kitô giáo. Một cuộc khảo sát như thế
không thể được thực hiện trong dăm trang sách ngắn ngủi
này. Ngay cả một pho sách đồ sộ dành để trình bày lịch sử
phát triển của một bí tích nào đó cũng dễ có nguy cơ rơi vào
tình trạng quá đơn giản hóa. Điều tốt nhất chúng ta có thể
làm trong một khảo luận ngắn như thế này là trình bày một
sự nhận hiểu hiện đại về các bí tích dựa trên những cải cách
trong thực hành bí tích do Công Đồng Vatican II (1962-
1965) đề ra, xuất phát từ xác tín rằng những cải cách ấy có
tham chiếu đến các nghiên cứu về Tân Ước, cũng như có
hàm ẩn một ý thức về khuôn mặt phụng tự thay đổi không
ngừng trong giòng lịch sử Kitô giáo.

Nhìn từ góc nhìn của một thế giới quan về bí tích, bảy
bí tích ấy không phải là những khoảnh khắc cô lập có thể
được đóng kín trong những thời gian hay nơi chốn nào đó,
chẳng hạn trong nhà thờ và vào ngày Chúa Nhật! Cả Tân
Ước lẫn các văn kiện của Vatican II, cũng như lịch sử của bí
tích và phụng tự, đều nhấn mạnh mối nối kết giữa phụng vụ
và đời sống, giữa bí tích và việc sống bí tích. Những gì mà
các kẻ tin vào Chúa Kitô cảm nhận và theo đuổi xét như

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 234

những giá trị và mục đích cao nhất trong đời người được

diễn tả trong bí tích. Việc cử hành bí tích là một diễn tả về

cách sống mà các Kitôhữu nhắm đến trong mối quan hệ

đúng đắn với tha nhân và với Thiên Chúa. Nghĩa là, trong

các bí tích của Giáo Hội, các Kitôhữu có thể nhận ra một

chân trời đạo đức, nhận ra những khuôn thước ứng xử trong

mọi chiều kích của cuộc đời.

Những chỉ nam giúp các Kitôhữu biết sống trong

quan hệ với nhau, với người khác và với Thiên Chúa được

tìm thấy trong Thánh Kinh và trong các truyền thống của các

cộng đoàn Kitôhữu khác nhau. Những chỉ dẫn được tìm thấy

trong các giáo huấn của Giáo Hội. Đối với Giáo Hội Công

Giáo Rôma, rõ ràng là huấn quyền đóng một vai trò trọng

yếu. Như chúng ta đã thấy, lương tâm được huấn luyện là

một chiều kích quan trọng trong việc thực hành một đời

sống đạo đức. Nhưng đối với những ai mà truyền thống của

họ được đánh dấu bởi một thế giới quan bí tích sâu đậm, thì

những gì được nói và làm trong các bí tích diễn tả những

niềm xác tín sâu xa nhất của một đoàn dân đang tìm biết

cách quan hệ với nhau, với người khác và với Thiên Chúa.41
8F3

Các Bí Tích Khai Tâm:
Phép Rửa Và Phép Thêm Sức

Phép Rửa và Phép Thêm Sức là những bí tích qua đó
một người được đưa vào một cộng đoàn đức tin và phụng tự.
Được rửa tội nhân danh Đức Kitô là được tháp nhập vào một
nhóm người chia sẻ đời sống trong một cộng đoàn được gợi
hứng bởi sự chết và sự sống lại của Đức Kitô. Điều này đòi
hỏi sự hoán cải không ngừng trong Đức Kitô qua việc thông

41 Các hàm ý đạo đức học của phụng vụ và bí tích được Michael Downey bàn
kỹ hơn trong Clothed in Christ: The Sacraments and Christian Living (NY:

Crossroad, 1987).

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 235

dự vào đời sống và sứ mạng của Giáo Hội, qua việc đảm
nhận giáo huấn của Giáo Hội và qua việc không ngừng phấn
đấu để sống theo và để thăng tiến các giá trị của Giáo Hội.
Trong Phép Rửa, nước và lời nói đi kèm có ý chỉ rằng em bé
này hay người lớn này đã được mai táng với Đức Kitô và đã
được sống lại với Người trong một đời sống mới.

Người được rửa tội là một tạo vật mới, đã chết đi cho
tội lỗi và sống trong ánh sáng và sự sống của Đức Giê-su
Kitô. Những người lãnh nhận Phép Rửa trở thành phần tử
của Nhiệm Thể Đức Kitô, được sống nhờ sức sống của Chúa
Thánh Thần, và thông dự vào đời sống và sứ mạng của Giáo
Hội, sống trong ánh sáng của lời nói và việc làm của Đức
Giêsu. Việc tháp nhập vào Nhiệm Thể Đức Kitô, là Giáo
Hội, là một sự đáp trả trong đức tin đối với cái chết của Đức
Kitô và là một cam kết sống đời môn đệ của Người, nỗ lực
không ngừng chuyển hóa chính mình và thế giới nhờ ân
sủng của Thiên Chúa trong Đức Kitô.

Trong Bí Tích Thêm Sức, chúng ta được củng cố và
được đóng ấn trong Thánh Thần vốn đã được trao ban qua
nước và lời nói của Phép Rửa. Việc xức dầu thánh hiến,
thường bởi vị giám mục, là một dấu ấn qua đó Chúa Thánh
Thần củng cố và giúp người Kitôhữu sống đời sống hòa
bình, nhẫn nại, yêu thương, vui tuơi, hiền hòa, khiêm cung -
những dấu xác nhận đời sống Kitôhữu. Trong Bí Tích Thêm
Sức, việc cam kết không ngừng cải hóa để sống sâu sắc hơn
trong Đức Kitô được đóng ấn và được củng cố.

Và chính trong việc cử hành Thánh Thể mà sự cam
kết không ngừng cải hóa trong Đức Kitô được diễn tả và
củng cố một cách thường xuyên. Theo nghĩa này, cùng với
Phép Rửa và Phép Thêm Sức, chúng ta có thể nói rằng
Thánh Thể là một bí tích khai tâm trong mức độ mà với việc
cử hành Thánh Thể, người ta được đưa vào đầy đủ hơn - từ

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 236

tuần này qua tuần khác, hay ngày này qua ngày khác - trong
sự sung mãn của mầu nhiệm Vượt Qua của Đức Kitô.

Những Hàm Ý Đạo Đức Học

Trong bí tích Phép Rửa, người ta được đưa vào trong
một nền luân lý giao ước qua việc tháp nhập vào sự chết và
sự sống lại của Đức Kitô. Việc thông dự vào sự chết và sự
sống lại của Đức Kitô đòi hỏi người ta phải sống đời sống
mới dựa trên giao ước trong máu Người và được thúc đẩy
bởi giáo huấn của Người, nhất là giáo huấn về Các Mối
Phúc. Đây là một nền luân lý hay đạo đức cắm rễ trong tình
yêu và sự trung thành đúng hơn là trong lề luật và bổn phận.
Nền đạo đức này được định hình bởi cảm thức trách nhiệm
đối với người khác và đối với Thiên Chúa chứ không phải
bởi một mối ưu tư về các bổn phận và các đòi hỏi phải đáp
ứng. Đây là một trách nhiệm do tư cách thành viên của dân
Thiên Chúa qua Phép Rửa. Đây là một nền luân lý dựa trên
mối tương quan với người khác trong cộng đoàn, và mối
tương quan với Chúa Kitô. Đời sống luân lý đòi hỏi phải
không ngừng xem xét các hành động của mình, và các hành
động của người khác, đối chiếu với vai trò chủ tể của Đức
Giê-su Kitô, sao cho cuộc cải hóa không ngừng trong Đức
Kitô được bắt đầu với Phép Rửa có thể được mang tới chỗ
hoàn thành. Mọi sự và mọi người phải được nhìn trong ánh
sáng của quyền chủ tể này và trong qui chiếu đến sức mạnh
chuyển hóa của Thánh Thần Đức Kitô.

Việc xức dầu thánh hiến là hành động cốt yếu trong
bí tích Thêm Sức. Qua hành động này và trong lời nói kèm
theo, cá nhân người lãnh nhận và cả cộng đoàn đón nhận sự
lôi kéo và hướng dẫn của Chúa Thánh Thần và cầu xin thêm
ơn Chúa Thánh Thần. Thêm Sức không chủ yếu là bí tích
của sự chọn lựa hay cam kết như người ta vốn thường nghĩ.

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 237

Nó đánh dấu sự dứt bỏ và qui phục sức mạnh của Thánh
Thần và sự trợ lực có được do sự hiện diện của Thánh Thần.
Qui phục sức mạnh của Thánh Thần, người ta được dẫn dắt
để sống theo Thánh Thần, không phải theo xác thịt. Những
ai được thấm nhuần sự sống trong Đức Giê-su Kitô và trong
Thánh Thần sẽ được nhận ra qua hoa trái của họ. Đời sống
của họ được đánh dấu bởi sự bình an, nhẫn nại, nhân hậu,
chịu đựng, ôn hòa, trung thành, chân thành yêu thương
Thiên Chúa và tha nhân. Sự vắng mặt của Thánh Thần sẽ
được ghi nhận qua hận thù, ghen ghét, ganh tị, tham lam,
dục vọng, và chán chường.

Bí Tích Thân Thể Chúa Kitô: Thánh Thể

Trong việc cử hành Thánh Thể, Đức Kitô hiện diện
với cộng đoàn đang tưởng niệm sự chết của Người. Qua
hành vi bẻ bánh và chúc lành cho chén rượu, cộng đoàn
Kitôhữu diễn tả và đón nhận căn tính của mình là Nhiệm
Thể Chúa Kitô. Tại bàn tiệc của Chúa, người tín hữu qui tụ
lại để nghe câu chuyện về cuộc sống, sứ vụ, cuộc khổ nạn,
cái chết và sự Phục Sinh của Đức Giêsu. Nơi mà Phép Rửa
và Phép Thêm Sức dẫn tới chính là bàn tiệc này, chính là sự
sung mãn này của các mầu nhiệm Đức Kitô được cử hành ở
đây qua Lời Chúa và bí tích. Và các bí tích khác - hòa giải,
xức dầu bệnh nhân, hôn phối, truyền chức - sẽ được nhận
hiểu đúng đắn qua chính mối quan hệ của chúng với Bí Tích
Thánh Thể. Như vậy, phụng vụ Thánh Thể phải được hiểu là
nguồn và chóp đỉnh của đời sống bí tích Kitô giáo. (SC 10).

Thánh Thể là trung tâm của đời sống bí tích Kitô giáo
ở chỗ các bí tích khác rút ý nghĩa của chúng ra từ mối tương
quan với Thánh Thể và nhận mục đích của chúng nơi việc
làm cho các Kitôhữu cử hành Thánh Thể một cách trọn vẹn
hơn. Thánh Thể khác với các bí tích khác ở chỗ nó là sự qui

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 238

tụ và cử hành của Nhiệm Thể Chúa Kitô, nó là sự cử hành
sự hiện diện của Chúa Kitô với cộng đoàn đang tưởng niệm
cái chết của Người, nó là trung tâm diễn tả Giáo Hội cách
trọn vẹn. Trong Bí Tích Thánh Thể, cộng đoàn Kitôhữu tìm
thấy tiêu điểm để phối kết mọi biểu tượng về mầu nhiệm
Vượt Qua của Đức Kitô thành sự diễn tả đức tin và sự cử
hành của cộng đoàn.

Trong việc công bố và nghe Lời Chúa, và trong việc
bẻ bánh và chúc phúc cho chén rượu, sự hiện diện của Đức
Kitô được nhận ra. Trọng tâm của nhận thức về Bí Tích
Thánh Thể nằm ở chỗ rằng với các tặng phẩm đơn giản là
bánh và ruợu, Giáo Hội cử hành một bữa ăn tạ ơn trong đó
sự hiện diện và hoạt động của Thiên Chúa nơi Đức Kitô
được tưởng niệm và công bố vừa như là ân ban cho hiện tại
vừa như là cơ sở của niềm hy vọng tương lai. Đây là một
bữa ăn trong đó các Kitôhữu cử hành sự hiệp thông của họ
với Thiên Chúa trong Đức Kitô và với nhau , nhất là với
những người nghèo, những người yếu thế, những kẻ bị áp
bức và bị loại trừ ra bên lề các cơ chế xã hội và tôn giáo. Đó
là những người lớn nhất trong Vương Quốc của Thiên Chúa,
vương quốc mà Đức Giêsu đã rao giảng và đã chịu chết để
xây dựng nên.

Những Hàm Ý Đạo Đức Học

Trong tư cách là sự diễn tả cốt yếu về ơn gọi và về sự
dấn thân của Giáo Hội trong công cuộc xây dựng hiệp thông
và công bằng, Bí Tích Thánh Thể chứa đựng chính cốt lõi
của nền luân lý Kitô giáo. Những chia rẽ và những thất bại
trong việc chia sẻ sẽ là dấu hiệu cho thấy rằng chưa nhận
thức được Nhiệm Thể Chúa Kitô. Thiếu tinh thần quảng đại
chia sẻ trong đời sống cũng như trong cử hành Thánh Thể,
chỉ loay hoay bận tâm về mình, đắm chìm trong những đam

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 239

mê lạc thú, ... tất cả sẽ gây nên ách tắc không cho phép
người ta nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa như được
tưởng niệm và được hy vọng trong việc bẻ bánh và chúc
lành cho chén rượu. Những ai cử hành sự hiện diện của
Chúa Kitô với cộng đoàn qua việc tưởng niệm cái chết của
Người sẽ không ngừng cam kết sống phù hợp với một nền
luân lý của giao ước vốn phát xuất từ tư cách phần tử của
dân Thiên Chúa: sống theo Thánh Thần chứ không theo xác
thịt (Rm 8).

Sự sẵn sàng của các Kitôhữu để chia sẻ rộng ra vượt
quá phạm vi bàn ăn này, vượt quá cộng đoàn của giao ước
để đến với tất cả gia đình nhân loại, đặc biệt chú tâm đến
những người nghèo và những người thống khổ - những
người mà Đức Giêsu đã hứa sẽ có chỗ cao trọng trong nước
Thiên Chúa - sự sẵn sàng ấy được nói lên trong bữa ăn
Thánh Thể. Xét như sự thông dự vào một nghi lễ bữa ăn
hiệp thông và công bằng, Thánh Thể không cho phép phân
biệt con người: những sự chia rẽ, tách biệt giữa người với
người dựa trên chủng tộc, giai cấp, phái tính, sức khỏe, địa
vị, ... đều bị lên án; thay vào đó là sự sẵn sàng tìm cách vượt
qua những chia rẽ ấy để Đức Kitô có thể trở thành tất cả
trong mọi người (Gl 3,27-28). Cử hành Thánh Thể, điều đó
có nghĩa rằng chúng ta sống cuộc sống mình trong tác động
của một nhãn quan hiệp thông và công bằng. Bẻ bánh và
chúc lành chén rượu là tưởng niệm cuộc khổ nạn và cái chết
của Đức Kitô, là chết với Người. Chết với Đức Kitô có
nghĩa là sống cho Thiên Chúa và cho sự thể hiện của nước
Thiên Chúa - ở đó sức mạnh của tình yêu sẽ chế ngự mọi sự
dữ.

Các Bí Tích Tha Thứ Và Chữa Trị

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 240

Sự hiệp thông được cử hành trong bí tích Thân Thể
Chúa Kitô, tức Bí Tích Thánh Thể, thì vừa là ân ban của
Thiên Chúa vừa là sự đáp trả của con người. Như vậy, nó có
thể được ví như một món quà được trao tặng và được chấp
nhận. Cũng như bất cứ món qùa nào đáng gọi là món quà,
nó không thể bị coi thường, nhưng phải được hết sức trân
trọng. Sự sống của Đức Giê-su Kitô được cử hành trong các
bí tích khai tâm, và được tham dự trọn vẹn hơn trong Bí
Tích Thánh Thể, thường bị làm suy yếu đi do bởi thái độ thờ
ơ hay lạm dụng món quà ân sủng. Đời sống của các cá nhân
và cộng đoàn thường bị dính thương tích và bị gãy đổ do sự
hiện diện của sự dữ, tội lỗi và đau khổ.

Bí tích sám hối là một diễn tả lòng thương xót và thứ
tha vô giới hạn của Thiên Chúa. Đó là một tặng phẩm mở ra
cho cả các cá nhân lẫn các cộng đoàn chiếu theo nhu cầu
không ngừng cải hóa trong Đức Kitô, ngay cả (và nhất là)
khi sự hiện diện của sự dữ và tội lỗi gây ra một đổ vỡ
nghiêm trọng trong mối quan hệ giữa ta với Thiên Chúa, với
chính bản thân ta, và với cộng đoàn Giáo Hội. Nhìn từ quan
điểm hiện đại, bí tích sám hối không cần thiết phải được
hiểu như một sự đền bù về những xúc phạm mà mình đã gây
ra. Đúng hơn, nó là một cử hành niềm ca ngợi lòng thương
xót của Thiên Chúa, một lòng thương xót đem lại sự chữa
trị, sự cải hóa và hòa giải với Thiên Chúa, với lương tâm
mình và với cộng đoàn, bất kể sự sai phạm của ta nặng nề
đến mấy, tội lỗi của ta nhiều đến đâu và nghiệm trọng đến
đâu.42

F39

42 Để có một cách tiếp cận mục vụ tốt với Bí tích Sám Hối được cắm rễ trong
xác tín rằng bí tích này là một cử hành lòng thương xót, xin xem In Praise of
God’s Mercy: A Pastoral Letter on the Sacrament of Penance của Roger M.
Mahony, Tổng Giám mục Los Angeles (Los Angeles: Archdiocesan Office of

Worship, 1990).

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 241

Bí tích xức dầu và săn sóc mục vụ cho bệnh nhân và
người hấp hối là một diễn tả về sứ vụ không ngừng quan tâm
an ủi, chữa trị của Đức Kitô trước những hậu quả của sự dữ
và tội lỗi trong thế giới. Đó là một biểu hiện về sự hiện diện
và hành động của Đức Kitô trong Giáo Hội trước bệnh tật,
đau khổ, chết chóc của con người. Việc xức dầu đã được
làm phép cho bệnh nhân và người hấp hối là để nâng đỡ cho
những ai lâm trọng bệnh, già yếu, hay gần chết được hy
vọng có được nghị lực, sự an ủi và sự chữa trị trong tinh
thần và trong thể xác. Và nghị lực, sự an ủi, sự chữa trị vẫn
được hy vọng ngay cả và nhất là trong trường hợp trọng
bệnh sắp chết. Việc săn sóc mục vụ và xức dầu cho bệnh
nhân và người hấp hối là sự diễn tả có tính bí tích về sứ vụ
chữa trị rộng rãi hơn của Giáo Hội trong và xuyên qua nỗ
lực của Giáo Hội chống lại bệnh tật, đau khổ và tình trạng
coi rẻ phẩm giá con người.

Những Hàm Ý Đạo Đức Học

Trong việc cử hành bí tích sám hối, các Kitôhữu diễn
tả một nhãn quan rõ ràng về thực tại. Họ xác định rõ ràng ý
muốn sống trong nhãn giới của lòng thương xót và thứ tha
của Thiên Chúa. Chủ quyền của Đức Kitô và tác động của
Chúa Thánh Thần là các tiêu chuẩn được dựa vào để phán
đoán và đưa ra các quyết định. Tình thương là tiêu chuẩn
đạo đức ở đây. Các đánh giá về đời sống của mình và đời
sống của người khác được thực hiện trong ánh sáng của một
ý thức về tội lỗi và ân sủng trong các biến cố của đời sống
con người. Như vậy, đời sống của những người bị loại trừ,
những người bị khinh bỉ, những người bị lãng quên, những

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 242

người bị đánh giá là vô giá trị và vô dụng theo tiêu chuẩn
hiệu năng,... phải được nhìn từ nhãn giới lòng thương xót và
thứ tha của Thiên Chúa. Trong ánh sáng của ý thức về tội lỗi
và ân sủng, những người bị thương tích, những người yếu
ớt, hèn mọn, nghèo khổ được nhìn thấy như sự biểu lộ của
ân sủng và lòng thương xót của Thiên Chúa đụng chạm đến
chúng ta trong các nhu cầu khôn kể của chúng ta. Những ai
đáp trả lại tình yêu và sự lôi cuốn của Thiên Chúa trong tâm
hồn của tội nhân thống hối, nơi những người hèn mọn,
những người bị lãng quên, những người yếu đuối, ... sẽ trở
thành những dấu hiệu rõ ràng nhất của tình yêu giao hòa của
Thiên Chúa trong thế giới. Bản thân đời sống trở thành một
âm vang lời chứng của Phaolô: Sức mạnh của Thiên Chúa
được biểu lộ trong sự yếu đuối của chúng ta (2Cr 12,9-10).

Qua Bí Tích Xức Dầu Bệnh Nhân, cộng đoàn
Kitôhữu sống trong sự tưởng niệm sứ vụ chữa trị của Đức
Kitô. Nghĩa là, các Kitôhữu được mời gọi săn sóc các bệnh
nhân và những người hấp hối, đấu tranh chống lại bệnh tật,
đau khổ và tình trạng coi thường nhân phẩm con người. Qua
việc cử hành bí tích xức dầu cho bệnh nhân và những người
hấp hối, cộng đoàn diễn tả một viễn tượng mới về sự đau
khổ, bệnh hoạn và sự chết, giúp cho các Kitôhữu có thể sống
trong niềm hy vọng và niềm tin tưởng rằng không gì ở ngoài
tình thương và sự chữa trị của Thiên Chúa nơi Đức Giê-su
Kitô.

Thể Hiện Và Xây Dựng Nhiệm Thể Chúa Kitô:
Hôn Nhân, Các Sứ Vụ, Các Chức Thánh

Cả Hôn Phối lẫn Truyền Chức Thánh đều là những bí
tích diễn tả tầm quan trọng của tình yêu hiến thân, lòng
trung thành, và việc phụng sự cho Hội Thánh. Trong Bí Tích
Hôn Phối, hai người cam kết sống một đời sống yêu thương

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 243

hiến thân và trung thành với nhau cho đến chết. Sự cam kết
này phải được sống triệt để trước hết với niềm kính trọng sự
sống của người bạn mình, và bao gồm bất cứ con cái nào có
thể được sinh ra bởi mối kết hợp vợ chồng.

Nhưng có những hàm ý rộng hơn ở đây. Trong hôn
nhân Kitô giáo, đôi vợ chồng đáp lại tiếng gọi sống một đời
sống hiệp thông trọn vẹn. Và đời sống này được đóng ấn bí
tích trong Giáo Hội, trước mặt Giáo Hội, và cho Giáo Hội.
Như vậy hôn nhân Kitô giáo là một cách thể hiện và xây
dựng Nhiệm Thể Chúa Kitô. Trong lời cam kết trung thành
với nhau trọn đời, trong sự kết hợp thân xác, trong sự sống
mới được sinh ra từ sự thân mật và say mê của vợ chồng, đôi
bạn càng trở thành một bí tích của tình yêu của Đức Kitô -
tình yêu hiến mạng sống mình cho người mình yêu.

Sứ vụ là việc phục vụ để xây dựng Nhiệm Thể Chúa
Kitô, tức Hội Thánh. Tất cả những ai đã lãnh Phép Rửa đều
nhận được những ân huệ phải được sử dụng để phục vụ cho
sự sống và sự phát triển cộng đoàn Kitôhữu. Một số người
có thể nhận được ơn giảng dạy - trên bất cứ bục giảng nào,
việc giảng dạy phải được nhắm tới việc xây dựng Nhiệm
Thể Chúa Kitô. Một số người có thể nhận được ơn làm công
việc tư vấn. Ơn đó phải được sử dụng để phục vụ sao cho
những người khác có thể có được đời sống sung mãn hơn.
Và cũng có những người khác xem ra không có ơn gì khác
hơn là khả năng cầu nguyện, dù cầu nguyện hay dở thế nào.
Bất luận ơn nào mà người ta được Thánh Thần ban cho qua
Phép Rửa, được củng cố nơi Phép Thêm Sức, và được tái
xác nhận thường xuyên qua việc cử hành Thánh Thể, ... đều
phải được dùng sao cho qui hướng về việc xây dựng Nhiệm
Thể Chúa Kitô.

Trong số những ơn huệ được trao ban này qua Phép
Rửa, có ơn giữ vai trò lãnh đạo trong cộng đoàn đức tin và
phụng tự. Trong truyền thống Công Giáo, nhà lãnh đạo và

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 244

nhà giáo dục trong cộng đoàn cũng là người chủ tọa và
giảng dạy trong khung cảnh cầu nguyện của cộng đoàn, nhất
là trong cử hành Thánh Thể. Qua Bí Tích Truyền Chức
Thánh, người linh mục tham dự một cách đặc biệt vào sứ vụ
của Đức Kitô người tôi tớ và nhà chữa trị, một cách đặc biệt
(dù không phải là một cách độc quyền) bằng việc rao giảng,
dạy bảo và cử hành các bí tích. Sứ vụ này được diễn tả cách
cốt yếu trong các hoạt động giảng thuyết và chủ tọa phụng
vụ Thánh Thể. Điểm đặc biệt đáng ghi nhận của sứ vụ có
chức thánh đó là người linh mục đảm nhận một vai trò lãnh
đạo công khai trong Giáo Hội. Theo một cách nói, linh mục
là một "công chức" của Giáo Hội, và theo một mức độ nào
đó thì linh mục là một người đại diện của Giáo Hội.

Khi chủ tọa tại buổi cử hành Thánh Thể, linh mục
làm nổi bật các đặc tính của đời sống Giáo Hội là duy nhất,
thánh thiện, công giáo, tông truyền. Xung quanh bàn ăn của
Chúa, được chủ tọa bởi thừa tác viên chức thánh, cộng đoàn
qui tụ lại như một dân tộc. Do bởi Phép Rửa của họ, và do
bởi sự cải hóa không ngừng trong Đức Kitô và phục vụ cho
sứ mạng của Người, họ là một dân thánh. Kinh nguyện
Thánh Thể của họ được nối kết với lời cầu nguyện của tất cả
mọi người trên khắp thế giới thuộc mọi ngôn ngữ làm nên
cộng đoàn Giáo Hội đích thực trong kinh nguyện này. Vì thế
họ là dân công giáo (phổ quát) qui tụ tại bàn ăn này. Và họ
hợp tiếng ca ngợi và tạ ơn Thiên Chúa trong niềm tưởng
niệm Đức Giê-su Kitô - một thực hành đã được ghi nhận từ
thời các Tông Đồ. Vì thế, họ là một dân tông đồ, không chỉ
vì phụng tự của họ phát xuất từ đức tin của các tông đồ,
nhưng vì - giống như các tông đồ - họ được sai đi như những
người phục vụ hòa bình và như những người rao giảng triều
đại Thiên Chúa.

Người lãnh nhận Bí Tích Truyền Chức Thánh được
ban ơn để phục vụ dân tộc này trong nhiều cách, nhưng nhất

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 245

là qua việc giảng dạy, cử hành bí tích, và chủ tọa bàn tiệc
Thánh Thể (hoạt động bí tích trọng yếu nhất của cộng đoàn).
Đời sống của người có chức thánh xét như là "đầy tớ" của
dân Thiên Chúa đòi một sự cam kết trọn đời trung thành
phục vụ cho sứ mạng này, để cho Đức Kitô có thể trở nên
mọi sự trong mọi người.

Những Hàm Ý Đạo Đức Học

Toàn thể cộng đoàn Kitôhữu, và nhất là hai người
được hiệp nhất trong hôn nhân, sống triệt để một nhãn quan
về sự trung thành có tính biệt vị và đầy yêu thương của
Thiên Chúa. Hôn nhân Kitô giáo vì thế là mô hình ưu việt
nhất của tình yêu và lòng trung thành và cung ứng một lối
sống mới từ nhãn giới tình yêu hiến thân của Thiên Chúa và
sự trung thành đối với lời hứa thần linh. Mối quan hệ giữa
đôi bạn kết hợp trong hôn nhân cùng với mối quan hệ giữa
họ với người khác, vì thế, được đảm nhận trong ánh sáng
của giá trị lòng trung thành của Thiên Chúa đối với đương
sự và đối với cộng đồng nhân lọai. Đôi bạn vì thế trở thành
một dấu hiệu của lòng trung thành đầy yêu thương của
Thiên Chúa xuyên qua mốâi hiệp nhất giữa họ, xuyên qua
cách sống của họ với người khác trong cộng đồng nhân lọai
và cộng đồng Kitô hữu. Đặc biệt qua việc sinh con và nuôi
dạy con cái là hoa trái của sự kết hợp trung thành và là lời
mời gọi chung thủy trọn vẹn hơn, đôi bạn diễn tả các giá trị
của tình yêu hiến thân và trung thành với lời hứa cũng như
với toàn bộ dự phóng của Giáo Hội sống theo những giá trị
này.

Giá trị phục vụ cho các cộng đoàn con người và
Kitôhữu theo gương phục vụ của Đức Kitô được diễn tả qua
sứ vụ. Nó được cắm rễ trong mối quan tâm của Giáo Hội đối
với các nhu cầu đa dạng của của cộng đoàn qua mọi thời đại

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 246

và trong niềm tưởng niệm chính đời sống và sứ vụ của Đức
Kitô. Dù người ta có thể chỉ ra những bất lợi nào đi nữa, thì
qui chế tiết dục và độc thân của giáo sĩ vẫn còn là một lời
mời gọi diễn tả sự phục vụ trung thành đối với cộng đoàn
nhân lọai và Kitôhữu. Tất cả các sứ vụ, của người có chức
thánh và của giáo dân – được đảm nhận bởi những con
người độc thân hay kết hôn – nhằm đưa ra sự diễn tả cụ thể
giá trị của tình yêu hiến thân được thúc đẩy bởi một nhãn
quan mới về thực tại được định hình bởi vai trò tôi tớ của
Đức Kitô và lòng trung thành của Người đối với lời hứa của
Thiên Chúa cho đến chết.

Các Bí Tích: Một Chân Trời Luân Lý

Các tiêu chuẩn đạo đức được diễn tả và được khắc
họa trong đời sống bí tích của Giáo Hội không phải là những
chỉ dẫn hay những câu trả lời chuyên biệt cho các vấn đề
luân lý phức tạp mà những người theo Đức Kitô có thể đối
diện. Chúng giúp các Kitôhữu “biết cách làm” (savoir-faire),
chúng cung cấp một bí quyết, một sự nắm vững nào đó để
sống đời sống người môn đệ Đức Kitô. Chúng không cung
ứng một lời giải đáp tiền chế để làm vơi bớt các nỗi đau và
các gánh nặng gắn liền với việc đưa ra những quyết định
luân lý. Đúng hơn, chúng là những lằn mức của một chân
trời luân lý, những yếu tố của một đặc tính định hình cách
nhận hiểu của Kitô giáo về mối liên hệ giữa Thiên Chúa và
thế giới, và cho thấy những cách thế thích hợp để con người
quan hệ với nhau và với Thiên Chúa.

Trong ánh sáng của chân trời đạo đức này, những
chọn lựa cụ thể (và thường rất gay go) mà các Kitôhữu phải
đưa ra sẽ được trợ giúp bởi các sách lược và các tiến trình
khác nhau của việc đưa ra các quyết định luân lý. Một sách
lược như thế phải xem xét đến những gì được ghi lại trong

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 247

Thánh Kinh sao cho Lời Chúa có thể soi sáng trên một vấn
đề đặc biệt khó khăn. Một cách tiếp cận khác là khai thác
kho tàng giáo huấn của Giáo Hội về một vấn đề cụ thể , hoặc
cố gắng lượm lặt từ truyền thống Kitô giáo một ánh sáng
nào đó liên quan tới thế lưỡng nan về luân lý trong đó mình
cảm thấy bị kẹt. Nhiều người cố gắng đạt tới một quyết định
tốt bằng cách xem xét những gì chính Đức Giêsu sẽ làm
trong một trường hợp cụ thể nào đó. Một tiến trình đưa ra
quyết định có tính Kitô giáo trưởng thành hơn đòi phải chú ý
sâu sát đến những gì mà hoạt động bên trong của Chúa
Thánh Thần thúc đẩy người ta làm trong một trường hợp cụ
thể nào đó. Một số người tìm thấy rằng các chọn lựa được
làm sáng tỏ bằng cách cân nhắc những giá trị mà người ta
đánh giá là quan trọng và người ta hy vọng trung thành với
những quyết định của mình dù lớn hay nhỏ. Nhưng ở đây
thật quan trọng phải nắm chắc rằng các giá trị mà mình nâng
niu phải thật sự tốt, đáng giá và cao thượng.

Bất cứ tiến trình đưa ra quyết định nào cũng đều có
cả những sức mạnh và những sự yếu đuối. Và tất cả đều phải
được đảm nhận với một quyết định trong tinh thần cầu
nguyện và trong tinh thần sẵn sàng tham vấn với những
người khác vốn có thể tiến xa hơn mình trong đời sống trong
Thánh Thần. Dù vận dụng chiến lược nào để đưa ra các
quyết định, thì chân trời đạo đức được mô tả trong phụng tự
bí tích cũng cung cấp nhãn quan theo đó các Kitôhữu có thể
định hình một đời sống đáp trả lại ân sủng và Thánh Thần.

Hai lãnh vực có ý nghĩa đặc biệt trong đời sống
Kitôhữu là lãnh vực tính dục và công bằng xã hội. Khi cân
nhắc các chọn lựa của chúng ta trong lãnh vực tính dục, sẽ
rất tốt nếu chúng ta xem xét chân trời đạo đức được mô tả
trong phụng tự bí tích. Khi đứng trước một chọn lựa nên tự
hỏi: Hành động như thế này sẽ liên hệ thế nào với nền luân
lý có tính giao ước mà tôi hy vọng sống với người khác và

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 248

với Thiên Chúa? Đâu là trách nhiệm của tôi đối với Thiên
Chúa, đối với người khác và đối với chính bản thân tôi? Sự
chọn lựa này diễn tả thế nào sự dấn thân và lòng trung thành
của tôi để sống bình an, nhẫn nại, ôn hòa, vui tuơi, tình yêu
trong sạch, và lòng chịu đựng? Sự chọn lựa này sẽ dẫn tới
một sự phát triển các hoa trái, hay nó dẫn tới một sự bộc
phát nỗi sân si, ghen tị, dục vọng, chán chường? Đâu là
những hệ quả của sự chọn lựa này đối với lời hứa trung
thành, tình yêu hiến thân, lòng quan tâm phục vụ của tôi?

Công bằng xã hội là hoạt động vun đắp và thăng tiến
“những mối quan hệ trật tự đúng đắn” với người khác. Khi
xem xét một sự chọn lựa nào đó liên quan tới những quan
hệ của ta với người khác, rất cần phải tự hỏi: Hành động này
có sẽ dẫn tới một mối hiệp thông và sự công bằng sâu xa
hơn với người khác? hay nó sẽ làm xa cách thêm và làm
nghèo nàn thêm người ta, nhất là những người yếu đuối,
những người hèn mọn nhất, những người là đối tượng ưu
tiên trong lời rao giảng và trong giáo huấn của Đức Giêsu?
Ý hướng nào hay hành động nào sẽ dẫn tới một sự thăng tiến
về công bằng, nhân ái và tha thứ trong chính cuộc đời tôi,
trong đời sống của người khác, của cộng đồng, và trong thế
giới?

KẾT LUẬN

Dù những dị biệt nào có thể tồn tại giữa các Kitôhữu,
chưa nói đến những dị biệt giữa các Kitôhữu và những
người thuộc các niềm tin khác, chắc chắn vẫn có một sự nhất
trí nào đó về tầm quan trọng của việc thực hành các hàm ý
trong những gì được nói và được làm trong cầu nguyện và
phụng tự. Thay vì bắt đầu với những vấn đề thuộc giáo
thuyết, chẳng hạn những khác biệt trong các các niềm tin và
các truyền thống khác nhau, hãy ghi nhận rằng cơ sở để

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 249

nhận hiểu truyền thống đức tin của chính mình cũng như của
người khác là đời sống phụng tự và cầu nguyện, và những
nỗ lực của người tín hữu trong việc thực hành những gì được
diễn tả trong phụng tự.

Trong khảo luận này, tôi đã đưa ra một giới thiệu về
tầm quan trọng của các bí tích và phụng tự trong truyền
thống Công Giáo, dựa trên xác tín rằng có một mối nối kết
chặt chẽ giữa các bí tích và đạo đức, giữa phụng tự và luân
lý, giữa phụng vụ và đời sống. Hy vọng rằng kết quả sẽ
không chỉ là một sự quen thuộc hơn với truyền thống bí tích
Công Giáo, mà còn là một niềm trân trọng sâu xa hơn đối
với sự thật rằng trong bất cứ đời sống tôn giáo đích thực nào
thì việc cầu nguyện và thực hành, việc phụng tự và cả cuộc
sống phải gắn bó với nhau. Sống trong sự hiện diện của mầu
nhiệm thần linh, các tín hữu mời gọi Thiên Chúa dính líu
cách hoàn toàn đến mọi chiều kích của cuộc sống mình.
Việc trân trọng những gì được nói và làm trong phụng tự bí
tích sẽ đem lại cho những người môn đệ Đức Kitô một
phương hướng rõ ràng để xác định đâu là sự đáp trả Kitô
giáo đích thực trước những vấn đề ngày càng phức tạp.

CÂU HỎI GIÚP TÌM HIỂU

1. Bạn hãy trình bày các yếu tố của một thế giới quan
có tính bí tích?

2. Từ một nhãn quan bí tích, bạn hãy giải thích mối
liên hệ giữa Thiên Chúa, Đức Giêsu, Giáo Hội, và các hành
động thuộc nghi lễ của Giáo Hội.

3. Ý niệm hiện đại về biểu tượng đóng góp thế nào
cho sự nhận hiểu của chúng ta về tính nhân quả của bí tích?

4. Bạn liên hệ thế nào bảy bí tích của Giáo Hội với
đời sống Kitôhữu?

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 250


Click to View FlipBook Version