The words you are searching are inside this book. To get more targeted content, please make full-text search by clicking here.
Discover the best professional documents and content resources in AnyFlip Document Base.
Search
Published by Huynh Pham, 2021-08-13 00:56:52

DanVaoThanHoc

DanVaoThanHoc

chăng các sấm ngôn cuối cùng cũng lụi tàn? Hay là nó tiến
hóa thành một cái gì đó khác? Gần đây các học giả đã
nghiên cứu những lý thuyết khác nhau nối kết những thay
đổi trong hoạt động cuối thời ngôn sứ với sự xuất hiện của
các thị kiến khải huyền.

Một cách đặc trưng, văn chương khải huyền chứa
đựng sự mô tả về một (hay những) thị kiến có tính biểu
tượng cao và có tầm vóc rộng. Các thị kiến thường được mô
tả một cách đầy hình ảnh, thường với những chi tiết kỳ dị và
được kèm theo bởi sự tường thuật của một thiên thần hay
một nhân vật đáng kính nào đó. Văn chương khải huyền trở
thành rất phổ biến vào giai đoạn của người Hi Lạp, và tiếp
tục có ảnh hưởng cả nơi người Do Thái giáo lẫn các Kitôhữu
sơ khai vào thời lệ thuộc Rôma. Mặc dù chúng ta chỉ có hai
minh họa chính về nền văn chương khải huyền trong Thánh
Kinh (Đn 7-12 trong Thánh Kinh Do Thái và Sách Khải
Huyền trong Thánh Kinh Tân Ước), song nhiều ví dụ khác
về các bản văn khải huyền phi Thánh Kinh của giai đoạn nói
trên vẫn còn được lưu giữ tới ngày nay. Dường như hoạt
động ngôn sứ được thay thế bởi các nhà thị kiến khải huyền,
đó là những người - bằng các thị kiến đầy tính biểu tượng -
mô tả những điều liên quan đến cuộc phán xử đang xảy đến
đối với các nhà cầm quyền áp bức và mô tả các biến cố của
thời đại mình.

Văn chương khải huyền vẫn còn liên quan sâu sắc với
các biến cố hiện nay. Qua việc mường tượng sự can thiệp
của Thiên Chúa nhằm ủng hộ những người bị áp bức, các
văn sĩ khải huyền Do Thái kêu gọi một hoạt động phản
kháng lại nền văn hóa và sự cai trị của Hi Lạp và Rôma. Đặc
biệt, các thị kiến của Đanien được gắn chặt với những câu
chuyện về các nhân vật Do Thái tại các tòa án ngoại quốc.
Những nhân vật này được làm chứng là đúng đắn trong sự
kiên trung - hay nói cách khác: trong sự phản kháng - của

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 51

mình. Thật vậy, sau ba tháng đọc Thánh Kinh trong một nhà
tù ở Nam Phi, Mahatma Gandhi đã tuyên bố rằng Đanien là
"một trong những người phản kháng vĩ đại nhất lịch sử bằng
con đường phi bạo lực". Vì thế, văn chương khải huyền
minh họa một mối quan tâm chủ yếu của đức tin Do Thái
thời hậu lưu đày, khẳng định đức tin và căn tính trong những
tình cảnh bất lực hay thậm chí bị đàn áp.

Các Sách Khác

Phần chủ yếu cuối cùng của Thánh Kinh Do Thái là
một phạm trù rộng bao hàm rất nhiều bản văn được xếp
thành các nhóm. Thường được gọi là "Các Sách Khác", phần
này có các bản văn thi ca tôn giáo, các câu chuyện, và các
bản văn thuộc nền văn chương khôn ngoan.
Thi ca

Phần thi ca tôn giáo lớn nhất trong Thánh Kinh là các
Thánh Vịnh. Trong tư cách là văn chương đạo đức, các
Thánh Vịnh đã được viết qua một giai đoạn dài trong lịch sử
Do Thái. Thi ca Do Thái là một vấn đề gây nhiều tranh cãi.
Chẳng hạn, người ta tranh cãi về vấn đề thi ca Do Thái có
hay không có qui cách rõ ràng, và nếu không có một qui
cách như vậy thì đâu là những yếu tố đặc trưng cho thể loại
và cơ cấu của nó. Dù sao, cũng có thể khái quát được vài
điều về thi ca Do Thái ngay cả qua bản văn Anh ngữ. Thi ca
Do Thái, giống như thi ca Canaan, được đặc trưng bởi yếu tố
song đối. Sự song đối chỉ có nghĩa rằng dòng thứ nhất của
bài thơ ("A") một cách nào đó được vọng lại nơi dòng thứ
hai ("B") và, đôi khi, cả nơi dòng thứ ba nữa ("C"). Người ta
đã cố gắng phân biệt các loại song đối khác nhau, khi các
phạm trù mô tả được tăng thêm. Nhưng giá trị của việc giải
thích phức tạp như thế là điều còn bị đặt vấn đề. Đối với
sinh viên ở giai đoạn nhập môn, chỉ cần chú ý đến mối liên

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 52

hệ giữa dòng thứ hai (hay đôi khi dòng thứ ba) với dòng thứ
nhất - để có một khái niệm về song đối.

Đối với nội dung của các Thánh Vịnh, cần ghi nhận
rằng có nhiều loại Thánh Vịnh khác nhau liên quan với
những chủ đề khác nhau. Thánh Vịnh 29 và các Thánh Vịnh
khác cho thấy rất nhiều những nét tương đồng về văn
chương và ngôn ngữ so với văn chương Canaan đến nỗi các
học giả tin rằng có vẻ như đó là một bài thánh thi Canaan
dâng lên thần Baal được vận dụng và thay đổi chút ít để trở
thành một bài thánh thi dâng Đức Giavê. Các Thánh Vịnh
khác có nguồn gốc nơi các nghi lễ phong vương và những
cử hành mừng năm mới (Tv 72, 89, 2, 100). Các Thánh
Vịnh khác nữa rõ ràng qui chiếu đến các biến cố lưu đày,
cho thấy một gốc tích muộn hơn nhiều (Tv 126, 137).

Đa số các học giả tin rằng các Thánh Vịnh vốn là 5
bộ sưu tập khác nhau, được biên tập lại với nhau. Điều này
sẽ không chỉ giải thích hiện tượng một Thánh Vịnh đôi khi
được lặp lại, nhưng cũng giúp giải thích cả sự kiện rằng ở
cuối mỗi trong năm quyển vốn được cho là rời nhau ấy đều
có một vinh tụng ca được cách điệu hóa: "Amen, Amen" (x.
phần kết của Tv 41, 72, 89, 106, 150).

Việc tìm hiểu các Thánh Vịnh - xét như một phần của
việc tìm hiểu tôn giáo It-ra-en - có một khía cạnh dễ gây
chán nản, đó là chúng ta chỉ có được một ý niệm mù mờ về
cách thức mà việc phụng tự đã thực tế diễn ra tại It-ra-en cổ.
Chẳng hạn, các học giả giả đoán rằng những sự thay đổi
giữa ngôi thứ nhất số ít và số nhiều trong các Thánh Vịnh có
thể cho thấy thể xướng đối trong phụng tự, hoặc giả các
Thánh Vịnh ấy là những lời cầu nguyện cá nhân và chủ yếu
được dùng bởi cá nhân; nhưng đây chỉ là giả đoán mà thôi.
Rất tiếc, không có "sách nghi thức" mô tả phụng tự trong
Đền Thờ cổ thời, và chúng ta chỉ có một chút ý niệm sơ sài
về việc phụng tự trong Đền Thờ thứ hai. Tuy nhiên, có một

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 53

điều thật rõ: việc áp dụng các Thánh Vịnh cho cả phụng tự
tập thể lẫn cá nhân là đặc điểm nổi bật nhất của quyển sách
này.

Văn Chương Khôn Ngoan

Văn chương khôn ngoan - gồm những sách như
Châm Ngôn, Gióp, Giảng Viên, Khôn Ngoan không phải là
nét độc đáo riêng của It-ra-en. Tại nhiều nơi ở Cận Đông cổ
thời, chúng ta có thể tìm thấy các ví dụ về những bộ sưu tập
các câu nói khôn ngoan thường được viết như thể một vị cha
già đang khuyên nhủ đứa con mình hay một vị thầy đang chỉ
dạy học trò mình. Thật vậy, một phần của Sách Châm Ngôn,
quyển chính yếu của chúng ta về nền văn chương khôn
ngoan, được lấy trực tiếp từ văn chương khôn ngoan Ai Cập
(Cn 22,17-24,12). Đây chắc hẳn do bởi các chủ đề chính của
văn chương khôn ngoan: các mối quan hệ, khiếu giao tiếp,
sự cẩn trọng trong lời ăn tiếng nói, tiền bạc và sự cần kiệm,
những mối nguy hiểm của việc ngoại tình hay việc ăn uống
say sưa, sự cần thiết của việc thu thập thêm kiến thức,... là
những vấn đề căn bản của con người. Thật vậy, người ta đã
lập luận rằng văn chương khôn ngoan, vốn đặt cơ sở trên cái
nhìn của con người, quả là một nền văn chương thế tục. Hầu
chắc đó là văn chương phát xuất từ giới thượng lưu trong xã
hội. Điều này càng được thấy rõ nơi cái nhìn của văn
chương khôn ngoan về của cải như một dấu hiệu cho thấy sự
chúc phúc của Thiên Chúa - trong khi đó văn chương ngôn
sứ lại lên án giới giàu có như là những người không được
Thiên Chúa chúc phúc.

Nhưng nền văn chương khôn ngoan, vốn đặt cơ sở
trên cái nhìn của con người, cũng là căn bản cho tư tưởng
duy lý và nhất là cho cách suy nghĩ của khoa học.Văn
chương khôn ngoan, chẳng hạn Sách Giảng Viên, cực lực

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 54

chốâng lại niềm hy vọng trống rỗng hay chủ nghĩa duy tâm
sai lầm, và nghiêng về cái thực tế vốn thường đáng buồn của
thế giới khả giác này và của con người trong đó. Vì thế, thật
đáng ghi nhận rằng văn chương khôn ngoan trong Thánh
Kinh Do Thái có lẽ cho thấy rằng tất cả suy tưởng của con
người đều nằm trong thực tại đức tin. Nhưng văn chương
khôn ngoan vẫn có lực kình chống nó ngay trong Thánh
Kinh. Quyển sách Gióp thường được mô tả như là văn
chương "phản khôn ngoan" bởi vì sự khôn ngoan không thể
cung cấp các câu trả lời cho những vấn nạn nhức nhối của
Gióp về lý do tại sao người công chính phải chịu đau khổ
(cũng như sự khôn ngoan nhân loại của chúng ta vẫn tiếp tục
bế tắc trước vấn nạn này!).

Cuối cùng, có những câu chuyện nhỏ có ý nghĩa quan
trọng trong Thánh Kinh, như Sách Eùt-te và Sách Giona.
Mỗi trong những sách này thể hiện một loại văn chương Do
Thái vốn cũng được nhận thấy trong các sách khác (Giuse
trong Sách Sáng Thế, Đn 1-6), ngày nay chúng ta gọi là
"những câu chuyện Diaspora". Đây là những câu chuyện
quan trọng phản ảnh hoàn cảnh của người Do Thái trong các
cộng đoàn sau thời lưu đày ở Palestine và bên ngoài
Palestine. Mục đích chính của chúng là dạy người ta trung
thành với đức tin trong những giai đoạn khó khăn và lệ
thuộc về chính trị.

Dĩ nhiên, còn có thể nói nhiều điều nữa về các sắc
thái đa dạng của văn chương Thánh Kinh Do Thái. Chúng ta
đã lược qua một số loại văn chương và các sách có tính tiêu
biểu, và đã ghi nhận một số vấn đề nổi bật nhất liên quan tới
mỗi loại. Nhưng việc nghiên cứu Thánh Kinh chỉ thật sự thú
vị khi các sinh viên bắt đầu học các công cụ, các phương
pháp và các kỹ năng phân tích để có thể tự mình đi vào
khám phá bản văn. Chúng ta hãy xem xét một số hình thức

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 55

căn bản phân tích Thánh Kinh Do Thái, đồng thời cũng ghi
nhận các loại vấn đề cần phải được đặt ra.

NGHIÊN CỨU THÁNH KINH

Sau khi đã tìm hiểu ba phần chính của Thánh Kinh,
chúng ta cần khảo sát một số vấn đề liên quan đến việc phân
tích Thánh Kinh. Một ví dụ tốt về việc phân tích Thánh Kinh
là việc tìm hiểu năm quyển sách đầu tiên của Thánh Kinh,
và lý thuyết được hình thành trong công cuộc nghiên cứu
này gọi là "Giả Thuyết Theo Chứng Liệu".

Giả Thuyết Theo Chứng Liệu

Đọc sách Sáng Thế, ngay cả những độc giả vô tình
nhất cũng cảm thấy lúng túng bởi một loạt những hiện tượng
văn chương thú vị. Chẳng hạn, có hai câu chuyện khác nhau
về sáng tạo, đáng kể là sự khác biệt trong mô tả về thứ tự
của tiến trình sáng tạo (cây cối, thú vật, rồi đến con người
trong 1,1-2,4a; con người, cây cỏ, rồi đến thú vật trong 2,4b-
3, 24). Có những câu chuyện khác, chẳng hạn câu chuyện
"Mối Đe Dọa Đối Với Vợ Của Tổ Phụ" được lặp lại không
dưới ba lần trong bản văn (12,10-20; 20; 26,1-11), và những
câu chuyện khác được kể hai lần (sự xua đuổi nàng Hagar
trong chương 16 và một lần nữa ở chương 21). Hồi thế kỷ
18, các học giả đã chú ý đến tính không nhất quán giữa
những cặp chuyện khác nhau này. Chẳng hạn, một trong hai
bản của các câu chuyện được lặp lại sử dụng từ "Elohim"
cho Thiên Chúa, trong khi bản kia cứ dùng từ "Yahweh".
Một trong hai bản sẽ trình bày Thiên Chúa có tính nhân cách
hóa hơn (nghĩa là Thiên Chúa trong dạng một con người,
Ngài đi lại và nói với con người), trong khi bản kia vẫn giữ
một cái nhìn về Thiên Chúa uy linh, tách biệt khỏi con

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 56

người và nói với con người từ trời hay từ trong những giấc
mơ.

Những ghi nhận ấy đã dẫn tới "Giả Thuyết Theo
Chứng Liệu". Những đặc điểm căn bản của giả thuyết này
thì khá đơn giản, và cho dù giả thuyết này thường xuyên bị
chất vấn, nó vẫn là một cơ sở nền tảng để phân tích năm
quyển sách đầu tiên của Thánh Kinh.

Theo Giả Thuyết Theo Chứng Liệu, một sưu tập thuở
ban đầu về luật và những truyền thống truyền khẩu được tập
hợp lại vào thời Salômôn để cung cấp một căn bản lịch sử
cho đường lối cai trị. Những hệ thống này, vốn nhất quán sử
dụng tên "Yahweh", đã hình thành một sưu tập mạch lạc các
tư liệu từ khởi đầu sáng tạo cho tới thời quân chủ. Sưu tập
ban đầu này được gọi là truyền thống "J". Các học giả
chuyên về "phê bình văn loại" cố gắng nhận ra và tách riêng
những bản văn hay những mẩu chuyện nhỏ vốn có khả năng
phát xuất từ truyền thống truyền khẩu. Có lẽ một ít dòng thơ
ca, hay hình thức tiền văn tự của câu chuyện, có thể được
nhận ra, và từ đây, chúng ta có thể xác định bằng cách nào
truyền thống hay bản văn đó đã được sử dụng và trau chuốt
qua thời gian. Chẳng hạn, khi chú ý kỹ đến các hình thức
của truyền thống văn học dân gian, người ta có thể nhận
thấy bằng cách nào một số câu chuyện về các tổ phụ, vốn
nguyên thủy là những câu chuyện truyền khẩu, mãi sau này
mới được các ký lục của Salômôn tập hợp lại trong sưu tập
của họ. Hơn nữa, một ý niệm nào đó về hình thức nguyên
thủy của chúng có thể cho chúng ta thấy cách mà các ký lục
đã thay đổi những câu chuyện, hoặc cách mà họ sử dụng
những truyền thống truyền khẩu thời trước cho các mục đích
của họ.

Sau khi quốc gia quân chủ thống nhất bị phân chia
(922 trước công nguyên), vương quốc phía bắc có lẽ lập lịch
sử riêng cho mình, sử dụng từ "Eâlohim" cho Thiên Chúa,

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 57

và những tư liệu này vì thế được gọi tên là "E". Một lần nữa,
khoa phê bình văn loại có thể chỉ ra cho chúng ta "văn loại"
của những tư liệu mà các văn sĩ "E" đưa vào bản văn, và họ
nhắm mục đích gì qua bản văn của họ.

Rồi các văn liệu J và E được bổ sung thêm trong thời
của Những Cuộc Cải Cách Đệ Nhị Luật (sau 640 trước công
nguyên) bởi việc tăng cường quyển Đệ Nhị Luật (gọi là
"D"). Hơn nữa, các nhà biên tập này đã viết một phần chú
giải rộng rãi về lịch sử It-ra-en từ nhãn quan của các luật
thuộc Đệ Nhị Luật. Lịch sử này được viết từ thời chinh phục
(Giôsuê) cho đến thời lưu đày Babylon (cuối quyển 2 Các
Vua), và quan tâm chủ yếu đến các bài học luân lý của Đệ
Nhị Luật bằng cách minh họa các vua quái gở của It-ra-en
và Giuđa - là những vị vua bướng bỉnh phớt lơ Lề Luật của

Môsê.

Cuối cùng, trong và sau thời lưu đày, quyền lãnh đạo
dân Do Thái chuyển từ độc quyền của hoàng gia thành một
thể chế cai trị kết hợp giữa hoàng tộc và giới tư tế, để rồi rốt
cục quyền cai trị chỉ thuộc về tư tế mà thôi. Trong thời này,
giới lãnh đạo tư tế đã thực hiện một cuộc tập hợp và biên tập
lần cuối cùng các tư liệu Thánh Kinh. Những tư liệu mà họ
thêm vào năm quyển đầu tiên của Thánh Kinh vì thế được
đặt tên là "P". Tư liệu P có thể được tìm thấy rải rác trong
suốt năm quyển sách đầu tiên ấy, bắt đầu với câu chuyện
sáng tạo thứ nhất (là câu chuyện mang đặc điểm của truyền
thống tư tế, nêu bật tầm quan trọng của ngày Sabát, đến độ
nói rằng Thiên Chúa "nghỉ ngơi"). Các biên tập viên "P"
dường như muốn cố gắng làm sáng tỏ những vấn đề và
những chi tiết tôn giáo trong nhiều điểm khác nhau, và đưa
thêm vào rất nhiều tư liệu cho Sách Lêvi và Sách Dân Số.
Tuy nhiên, cuối cùng, chúng ta cũng cần phải nhận ra rằng
hiện nay chúng ta đọc năm quyển đầu tiên của Thánh Kinh
trong tư cách là một đơn vị là do bởi công việc của các tư tế.

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 58

Chẳng hạn, bằng cách tách Đệ Nhị Luật ra khỏi Giôsuê, các
biên tập viên tư tế đã đặt Môsê (ở chỗ ngưỡng cửa bước vào
Đất Hứa) vào cuối bộ sách sưu tập thánh thiêng nhất, tức bộ
Torah này. Phải chăng những điều này là do ảnh hưởng của
hoàn cảnh lưu đày, hoàn cảnh mà trong đó chính họ cũng
sống niềm hy vọng được nhìn thấy Đất Hứa một lần nữa?

Ghi nhận một phác họa tổng quát như thế về Giả
Thuyết Theo Chứng Liệu [(J + E + D) + P], chúng ta thấy rõ
rằng bất cứ sự phân tích nghiêm chỉnh nào đối với bất cứ
đoạn văn nào của Ngũ Thư, và thật ra là của sử gia Đệ Nhị
Luật, thì cũng đều phải bắt đầu với một sự định vị xem đoạn
văn ấy thuộc "nguồn" nào. Quá trình này gọi là "phê bình
nguồn văn".

Một khi chúng ta đã nhận ra "nguồn" của một bản
văn, thật là thú vị việc xem thử bằng cách nào các biên tập
viên đã kết hợp các nguồn lại với nhau. Hình thức phê bình
này được gọi là phê bình "biên soạn" (redaction trong tiếng
Đức). Hãy xem việc bổ sung câu chuyện sáng tạo thứ nhất
(bởi các văn sĩ P) ảnh hưởng như thế nào đến cách chúng ta
đọc bản thứ hai bắt đầu từ 2,4b. Ta có thể nhận ra rằng bấy
giờ câu chuyện thứ hai đóng vai trò như thể một chú giải cho
câu chuyện thứ nhất, đến nỗi nhiều sinh viên – khi chưa xem
xét kỹ lưỡng – thậm chí không hề nhận ra rằng đó là hai câu
chuyện khác nhau!

Nghiên cứu Thánh Kinh là một công việc thích thú ở
chỗ nó luôn luôn có tính mới mẻ, do bởi các câu hỏi mới
không ngừng được nêu ra. Mới đây, các sinh viên và các học
giả đã bắt đầu mượn các câu hỏi và các phương pháp từ các
môn khác để áp dụng vào việc nghiên cứu Thánh Kinh.
Chẳng hạn, phương pháp phân tích của khoa nhân học có thể
giúp chúng ta hiểu cấu trúc tương tự hàm chứa trong các câu
chuyện về các tổ phụ hay không? Nếu có, có lẽ chúng ta sẽ
học biết thêm nhiều điều về những người đã viết ra các câu

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 59

chuyện đó. Phương pháp phân tích của khoa xã hội học có

thể giúp chúng ta hiểu về hệ thống kinh tế xã hội được giả

định cho các câu chuyện tổ phụ hay không? (Đời sống du

cư? Đổi chác hàng hóa hay mua bán bằng tiền tệ? Tài sản

được tích lũy và được chuyển giao như thế nào?) Nếu có,

chúng ta có thể thậm chí có được nhiều manh mối hơn để

xác định thời gian mà những câu chuyện này được viết ra.

Cuối cùng, những hình thức phê bình văn chương mới có thể

giúp chúng ta hiểu hơn về kết cấu của những câu chuyện ấy

hay không? Và trong tư cách là độc giả chúng ta sẽ cảm

nhận gì về cách mà những câu chuyện ấy đã được viết? Nếu

câu trả lời là có, thì chúng ta sẽ càng có thêm lý do để trân

trọng các văn sĩ ấy và các sứ điệp của họ.

Để bắt đầu việc nghiên cứu, các sinh viên cần có một

bản dịch Thánh Kinh bằng tiếng Anh12 tương đối mới và
1F

chính xác. Không nên dùng bất cứ bản dịch nào trước năm

1950 (ít nhất bởi vì sự kiện rằng các Cuộn Biển Chết được

khám phá vào năm 1948). Tốt nhất là nên dùng một bản

New American Bible (NAB) hay một bản New Revised

Standard Version (NRSV) hoặc New Jerusalem Bible Study

Edition. Bản New International Version cũng được, nhưng

các sinh viên mới nhập môn nên tránh bất cứ bản quảng diễn

Thánh Kinh nào, chẳng hạn bản Phillips, bản Living Bible,

hay bản Good News Bible, vv…

Khi đọc qua một bản văn, các sinh viên nên chú ý sử

dụng các từ điển Thánh Kinh để nắm chắc rằng một thuật

ngữ Thánh Kinh có đúng ý nghĩa mà một độc giả hiện đại

giả định. Sau khi mọi thuật ngữ đã được nhận hiểu, mọi nơi

chốn đã được định vị trên bản đồ, thì điều quan trọng là bắt

đầu phân tích bản văn. Công việc này sẽ đòi phải liên hệ đến

nhiều sự chú giải hiện đại cho các sách khác nhau của Thánh

12 Dĩ nhiên, người Việt Nam chúng ta thì cần bản Thánh Kinh bằng tiếng Việt,
với những lưu ý tương ứng. (c.t.c.n.d.)

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 60

Kinh. Các sinh viên sẽ tìm thấy rằng trong những chú giải
này có nhiều phương pháp mà các học giả đã phát triển cho
công việc phân tích một bản văn, mỗi phương pháp sẽ nêu
những câu hỏi hơi khác nhau về bản văn. Với lòng kiên trì
bền bỉ, những câu hỏi và những hình thức phân tích này sẽ
trở nên vừa thích thú vừa đem lại nhiều ích lợi. Ở đây bật
lên điểm cuối cùng trong công việc dẫn nhập của chúng ta
vào Thánh Kinh Do Thái, đó là mối quan hệ của Thánh Kinh
Do Thái với đời sống tôn giáo hiện đại.
Đức Tin
Và Thánh Kinh Do Thái

Câu hỏi cuối cùng cần xem xét: đâu là mối quan hệ
giữa một bên là các vấn đề chú giải có tính lịch sử và phê
bình đối với các sách khác nhau, và bên kia là ý nghĩa của
Thánh Kinh Do Thái đối với đức tin thời hiện đại? Đây
không hề là một câu hỏi dễ dàng, vì chỉ cần nghĩ thêm một
chút, chúng ta có thể nhận ra rằng việc nghiên cứu bản văn
có thể không dính líu gì đến một thái độ dấn thân hay một
định hướng đặc biệt nào về tôn giáo cả. Tuy nhiên, từ một
quan điểm đức tin, ta sẽ thấy chính những phương pháp này
có thể hữu ích cho việc xây dựng thần học hiện đại. Khả
năng giải quyết những câu hỏi gay go được nêu lên bởi khoa
phân tích phê bình là một dấu cho thấy một niềm tin trưởng
thành vào Thiên Chúa, ngay cả dù nó có nghĩa rằng mình
phải sống với những câu hỏi còn bỏ ngỏ hay những vấn đề
phức tạp. Chẳng hạn, không nhất thiết phải tin vào một con
người lịch sử có tên là Abraham để có được một đức tin sâu
xa và vững vàng rằng Thiên Chúa không ngừng truyền đạt
cho chúng ta qua các câu chuyện về Abraham. Đó là lý do
tại sao việc nghiên cứu bản văn vẫn là việc rất quan trọng.

Một thần học đích thực Kitô giáo không thể được xây
dựng tách rời khỏi việc lắng nghe kỹ lưỡng những bản văn

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 61

này. Thánh Kinh Do Thái vẫn là nguồn chủ yếu cho đức tin
của con người hiện đại, và các Kitôhữu hiện đại có thể bắt
đầu xây dựng thần học của riêng mình bằng cách nghiêm túc
tham chiếu đến vị Thiên Chúa đã giải phóng các nô lệ, lật đổ
các vua chúa, ngỏ lời qua các ngôn sứ, và hành động trong
lịch sử.

Cuối cùng, vì quả thật việc phân tích Thánh Kinh
cách nghiêm túc sẽ thay đổi bản chất đức tin của bất cứ sinh
viên nào, nên có lẽ đây là lý do thuyết phục nhất mời gọi tất
cả chúng ta bắt đầu tìm hiểu Thánh Kinh một cách nghiêm
chỉnh. Sự cố gắng của chúng ta có thể giúp chúng ta nhận ra
rằng những lời ấy không bỏ mặc một mình chúng ta loay
hoay, và cùng với ngôn sứ Giêrêmia, chúng ta sẽ thú nhận:

Có lần con tự nhủ: “Tôi sẽ không nghĩ đến Người,
cũng chẳng nhân danh Người mà nói nữa.”
Nhưng lời Ngài cứ như ngọn lửa bừng cháy trong
tim,
âm ỉ trong xương cốt.
Con nén chịu đến phải hao mòn… (Gr 20).

CÂU HỎI GIÚP TÌM HIỂU

1.Vị trí của Canaan/Palestine ảnh hưởng thế nào đến
sự phát triển của tôn giáo theo Thánh Kinh Do Thái?

2.Thánh Kinh Do Thái có nhiều tính tôn giáo hơn là
lịch sử, nói vậy có nghĩa gì? Điều này ảnh hưởng thế nào
đến đức tin của chúng ta?

3.Bạn hãy đối chiếu giữa Ngôn sứ Amốt và Ngôn sứ
Hôsê.

4.Hãy trình bày một số chứng cứ chính yếu hậu thuẫn
cho giả thuyết theo chứng liệu.

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 62

Chương 3: DẪN VÀO TÌM HIỂU
TÂN ƯỚC

Jeffrey S. Siker

Các bản văn Tân Ước diễn tả sự dấn thân trong đức
tin của các cộng đoàn Kitôhữu sơ khai. Các bản văn ấy kể
cho chúng ta nhiều điều về cách thế và lý do các cộng đoàn
Kitô giáo được hình thành, về những thăng trầm được kinh
nghiệm bởi vài thế hệ Kitôhữu đầu tiên, về đặc điểm của đức
tin và của những thực hành nơi các Kitôhữu sơ khai. Điểm
thống nhất nhất của các bản văn này là ở chỗ các tác giả
khác nhau đã cố gắng diễn tả niềm tin của họ rằng Đức
Giêsu Nadarét là Đấng Kitô, là Mêsia, là Con Thiên Chúa, là
Đấng mà Thiên Chúa sai đến để đem ơn cứu độ cho dân của
Ngài. Các bản văn Tân Ước khác nhau đều xoay quanh kinh
nghiệm này, đức tin này và sự nhận hiểu này về Đức Giêsu
như chóp đỉnh và kiểu thức của hiện sinh con người trong
bối cảnh Do Thái giáo vào thế kỷ đầu tiên.

Mặc dù nói chung những bản văn này chia sẻ một
nhãn giới chung về địa vị trung tâm và ý nghĩa của Đức
Giêsu, chúng cũng có những cái nhìn khác nhau về căn tính
của Đức Giêsu và về ý nghĩa của đức tin Kitô giáo. Xét như
một toàn thể, Tân Ước có thể được xem như một bức ảnh
ghép nghệ thuật, với những hình ảnh trùng khớp nhau nhưng
cũng phân biệt nhau. Vì thế, cũng như các Sách Thánh Do
Thái, Tân Ước được hiểu tốt nhất như một sưu tập các
"sách" khác nhau hơn là như một quyển sách độc nhất, ngay
cả dù các bản văn này đều có cùng mối quan tâm đến ý
nghĩa của niềm tin vào Đức Giêsu là Đấng Kitô, là Con
Thiên Chúa. Nói tóm, thật quan trọng cần phải nhớ rằng các
Sách Tân Ước đã được viết bởi những con người khác nhau

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 63

vào những thời gian khác nhau trong những hoàn cảnh rất đa
dạng của đời sống Giáo Hội sơ khai.

CÁC SÁCH CỦA TÂN ƯỚC

Chúng ta có thể bắt đầu với một cái nhìn toàn cục về
Tân Ước xét như một toàn thể. Trước khi đọc tiếp những
trang này, xin bạn lấy quyển Thánh Kinh của bạn ra và lật
tới chỗ bắt đầu phần Tân Ước. Nếu bạn chưa quen thuộc lắm
với các sách khác nhau của Tân Ước, và ngay cả dù bạn có
quen thuộc rồi, tôi vẫn tin rằng thật là hữu ích việc bạn lần
lượt lật tới những bản văn khác nhau mà chúng ta sẽ đề cập
đến cách vắn tắt ở đây. Tân Ước bao gồm 27 quyển sách.
Nói chung, những bản văn Tân Ước thuộc hoặc phạm trù
này hoặc phạm trù kia trong ba phạm trù sau đây:

Các Sách Phúc Âm

Có 4 sách Phúc Âm: Matthêu, Máccô, Luca, và

Gioan. Ba quyển Phúc Âm đầu tiên (Matthêu, Máccô, Luca)
thường được gọi là các "Phúc Âm nhất lãm". Từ "nhất lãm"
(synoptic) có gốc ở tiếng Hi Lạp, nghĩa là "cùng nhìn sự vật
theo một kiểu". Và ba quyển Phúc Âm này rất giống nhau
trong nhiều phương diện. Chúng có rất nhiều yếu tố trùng
hợp, chúng chứa nhiều lời nói giống nhau của Đức Giêsu và
kể nhiều câu chuyện giống nhau về Đức Giêsu, thường
giống nhau về cả từ ngữ. Như chúng ta sẽ thấy, những nét
tương đồng đầy ấn tượng ấy giữa ba quyển Phúc Âm này
biểu lộ một mối tương quan chặt chẽ với nhau về văn
chương.

Phúc Âm Gioan là quyển Phúc Âm thứ tư; nó hoàn
toàn khác với các Phúc Âm nhất lãm. Phúc Âm Gioan có rất
ít lời nói và câu chuyện mà chúng ta gặp thấy trong các Phúc

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 64

Âm nhất lãm. Thật vậy, trong Phúc Âm Gioan, chúng ta có
một hình ảnh hoàn toàn khác về Đức Giêsu.

Các Thư

Có 21 Thư trong Tân Ước, trong đó một số đọc nghe
giống "thư" hơn một số khác. Các Thư có thể được chia
thành hai nhóm chính: (1) các Thư của Phaolô, và (2) các
Thư khác, thường được gọi là "các thư chung" - ngoại trừ
Thư Do Thái.

Các Thư Phaolô

Có 13 Thư được gán cho Phaolô. Tuy nhiên, đa số
các học giả đồng ý rằng thật sự Phaolô đã không viết tất cả
các Thư này, và một số trong các Thư này đã được viết nhân
danh Phaolô vào thời gian Phaolô đã qua đời. Như vậy, có
một số Thư "không còn gây tranh cãi" (hầu như mọi người
đều đồng ý rằng Phaolô đã viết), và một số Thư khác vẫn
"còn gây tranh cãi" (nhiều học giả đồng ý rằng Phaolô đã
không viết chúng).

Có 7 Thư "không còn gây tranh cãi", đó là: Rôma, 1
và 2 Côrinthô, Galát, Philipphê, 1 Thêsalônica, và Philêmôn
(xin tham khảo bản đồ số 3 ở cuối sách). Đây là những Thư
chủ yếu được dùng để tìm hiểu đời sống và các nhãn quan
thần học của Phaolô.

Có 6 Thư gây tranh cãi: Êphêsô và Côlôsê (thường
được xem xét cùng với nhau), 1 và 2 Timôthê và Titô (3 Thư
này được gọi là các Thư Mục Vụ), và 2 Thêsalônica. Các lý
do chính yếu của sự tranh cãi về vai trò tác giả của Phaolô
đối với những Thư này là từ ngữ, phong cách rõ ràng khác
biệt của chúng, và nhất là các nhãn quan thần học của chúng
khi đối chiếu với các Thư không gây tranh cãi của Phaolô.

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 65

Đa số các học giả có khuynh hướng sử dụng những Thư này
để nhận hiểu những sự phát triển nơi Kitô giáo sơ khai sau
khi Phaolô qua đời. Việc tranh cãi về vai trò tác giả của
Phaolô đối với những Thư này không nhất thiết có nghĩa là
tranh cãi về thẩm quyền của những Thư này trong Tân Ước.

Thư Do Thái

Đầu tiên, nhiều Kitôhữu sơ khai gán Thư này cho
Phaolô, một phần bởi vì mục đích mà Thư này nhắm đến.
Nhưng rồi chẳng mấy chốc người ta nhận thấy rõ rằng
Phaolô đã không viết Thư Do Thái, bởi vì Thư này rất khác
so với bất cứ đặc điểm nào mà chúng ta ghi nhận được nơi
Phaolô. Thư Do Thái cũng không hoàn toàn là một lá thư
(dù nó có mục đích của một lá thư), nhưng nó có vẻ thuộc
loại một bài giảng được viết ra hơn - nhằm khích lệ một số
Kitôhữu đang trở nên chán nản trong đức tin của họ.

Các Thư Chung

Thuật ngữ "chung" ở đây có nghĩa là "phổ quát". So
sánh với các Thư khác trong Tân Ước, các Thư Chung
tương đối ngắn hơn. Có 7 Thư Chung: Giacôbê, 1 và 2
Phêrô, 1, 2 và 3 Gioan, và Giuđa. Chúng ta biết tương đối ít
về tác giả, thời gian và nơi biên soạn của các Thư này. Đa số
các học giả cho rằng các Thư Giacôbê, 1 Phêrô, 1 Gioan là
những Thư quan trọng nhất trong các Thư Chung.

Các Tác Phẩm Khác

Ngoài ra, còn hai văn liệu không thể xếp vào loại
Phúc Âm hay Thư. Đó là Sách Công Vụ Tông Đồ và Sách
Khải Huyền. Công Vụ Tông Đồ thường được xem là sử liệu

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 66

đầu tiên của Giáo Hội được viết ra, vì nó nói về câu chuyện
của Giáo Hội sơ khai sau cuộc Phục Sinh và lên trời của
Đức Giêsu. Thật vậy, không ngẫu nhiên việc Giáo Hội sơ
khai đặt quyển Công Vụ Tông Đồ ngay sau các sách Phúc
Âm. Công Vụ Tông Đồ được viết bởi cùng tác giả đã viết
Phúc Âm Luca. Nếu bạn so sánh phần mở đầu của Phúc Âm
Luca với phần mở đầu của Công Vụ Tông Đồ, bạn sẽ thấy
rằng cả hai đều được viết cho một người có tên là
"Thêôphilô", và rằng Công Vụ Tông Đồ gọi Phúc Âm Luca
là "quyển sách thứ nhất". Cái tựa "Công Vụ các Tông Đồ"
có thể gây hiểu nhầm, bởi vì sách này nói nhiều đến các lời
nói hơn là các hoạt động, và nó tập chú hầu như đặc biệt đến
Phêrô và nhất là Phaolô hơn so với các Tông Đồ khác. Phêrô
được mô tả là người mang sứ điệp Tin Mừng đến cho người
Do Thái trong Sách Công Vụ Tông Đồ từ chương 1-5, và là
người đã khởi đầu công cuộc truyền giáo cho các dân ngoại
ở chương 10-11. Phaolô, có thể được xem như nhân vật
chính của Luca trong sách Công Vụ Tông Đồ, được trao sứ
mạng, ở chương 9, để rao giảng cho các dân ngoại; bấy giờ
Luca đi theo các hành trình truyền giáo của Phaolô trong các
chương 13-28.

Cuối cùng, sách Khải Huyền được xếp vào loại "khải
huyền" hơn là Phúc Âm hay Thư. Một bản văn khải huyền là
một loại văn viết về một mạc khải các mầu nhiệm thiêng
liêng của Thiên Chúa, thường dưới dạng những thị kiến ly
kỳ kèm với những nhân vật lạ lùng trên trời hay dưới địa
ngục. Văn chương khải huyền thường phát triển vào các thời
kỳ bách hại gay gắt, những giai đoạn mà người tín hữu băn
khoăn không biết bằng cách nào mình có thể kiên vững cho
đến khi Thiên Chúa khải thắng. Văn chương khải huyền cố
gắng khích lệ các tín hữu bằng những thị kiến siêu phàm hứa
hẹn với họ về chiến thắng cuối cùng của Thiên Chúa trên
các quyền lực của sự dữ, và bảo đảm với các tín hữu rằng

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 67

chiến thắng này sẽ xảy ra sớm. Mặc dù sách Khải Huyền là
văn liệu duy nhất của Tân Ước thuộc văn chương khải
huyền, nhiều bản văn khác của Tân Ước cũng có những sắc
thái khải huyền, chẳng hạn Mc 13 và 1 Tx 4.

SỰ HÌNH THÀNH QUI ĐIỂN TÂN ƯỚC

Sau khi đã có một ý niệm nào đó về nội dung của Tân
Ước, chúng ta có thể tự hỏi tại sao Tân Ước mang dáng dấp
như thế. Tại sao lại 4 Sách Phúc Âm? Tại sao lại 13 Thư
được gán cho Phaolô? Tại sao lại là Sách Công Vụ Tông
Đồ, Sách Khải Huyền, và các Thư khác? Bộ sưu tập này đã
được hình thành như thế nào? Dù có muốn đơn giản hóa vấn
đề đến mấy, chúng ta cũng phải nhìn nhận rằng việc hình
thành qui điển Tân Ước đã diễn ra qua 4 giai đoạn chính.

Đầu tiên, một tác giả viết một văn liệu và một nhóm
người (không đông lắm) đọc văn liệu ấy. Chẳng hạn, Phaolô
đã viết lá thư mà chúng ta gọi là Thư 1 Thêsalônica cho các
Kitôhữu ở thành Thêsalônica; những người này đọc lá thư
của Phaolô và gìn giữ nó. Thật vậy, trong 1Tx 5,27, Phaolô
viết: "Nhân danh Chúa, tôi yêu cầu đọc thư này cho tất cả
các anh em".

Giai đoạn thứ hai, văn liệu sẽ được sao chép và lưu
hành. Bởi vì thời đó chưa có máy photocopy hay máy in,
nên tiến trình này có thể đòi một số thời gian. Như vậy,
chúng ta có thể hình dung rằng một số người nào đó ở
Thêsalônica đã sao chép lá thư của Phaolô, có lẽ sau khi
Phaolô đã qua đời, và đem đến cho một số Kitôhữu ở
Côrinthô, nhằm mục đích chia sẻ với họ những gì mà Phaolô
đã viết cho mình. Về phần mình, một số Kitôhữu ở Côrinthô
rất có thể cũng chia sẻ những bản sao các Thư mà Phaolô đã
viết cho họ. Tiến trình tương tự cũng đã diễn ra với các sách
Phúc Âm và các tác phẩm khác của Tân Ước.

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 68

Giai đoạn thứ ba, các cá nhân và các cộng đoàn
Kitôhữu khác nhau bắt đầu sưu tập và tuyển lựa giữa nhiều
văn liệu Kitô giáo đã được sao chép và lưu hành. Dường như
vào khoảng giữa năm 150 và 200, tức 100 năm sau khi phần
lớn các văn liệu Tân Ước được viết ra, một sưu tập 4 Sách
Phúc Âm đã xuất hiện, và phần lớn các Thư của Phaolô lúc
ấy đã được tập hợp vào một tuyển tập các Thư. Những văn
liệu có nhiều ảnh hưởng khác cũng thường được gộp theo
các tác phẩm nói trên. Chẳng hạn, các thư Barnaba và 1
Clement được phổ biến rất đáng kể vào thế kỷ thứ 2, cùng
với nhiều văn liệu khác nữa.

Vậy thì làm sao quyết định văn liệu nào là có thẩm
quyền đối với đức tin và thực hành Kitô giáo? Có được một
sưu tập các văn liệu chung mà mọi Kitôhữu đều có thể dùng,
đó là một nhu cầu được cảm thấy. Làm sao để tuyển chọn? Ít
ra chúng ta cũng có thể nêu một số tiêu chuẩn được vận
dụng vào công việc lựa chọn này. Tiêu chuẩn thứ nhất là
"tính tông đồ", nghĩa là phải chăng văn liệu đã được viết bởi
một trong các tông đồ, một người đã tham gia vào hoạt động
Kitô giáo ngay từ thuở ban sơ nhất? Như vậy, Phúc Âm
Matthêu - chẳng hạn - được xem là có thẩm quyền bởi vì
truyền thống cho rằng Matthêu là một trong nhóm 12 môn
đệ, tức một trong các tông đồ. Phúc Âm Máccô là văn liệu
có thẩm quyền vì truyền thống cho rằng Máccô là thư ký của
Phêrô, Máccô đã viết những gì Phêrô yêu cầu ông viết.

Dù Phaolô không phải là một trong 12 môn đệ và có
lẽ đã không bao giờ gặp Đức Giêsu, ông cũng được xem là
một tông đồ dựa vào tường thuật rằng ông đã có một thị kiến
về Đức Giêsu Phục Sinh. Một tiêu chuẩn khác, có tính thực
tiễn hơn, để tuyển chọn giữa nhiều văn liệu khác nhau - đó
là việc sử dụng: Văn liệu đó có được sử dụng rộng rãi hay
không? Một tiêu chuẩn khác nữa, đòi thẩm định tế nhị hơn,
đó là một văn liệu có củng cố và thăng tiến cộng đoàn đức

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 69

tin hay không, nó có diễn tả đích thực đức tin của cộng đoàn
hay không. Mặc dù những yếu tố khác nữa cũng đóng góp
vào quá trình tuyển chọn, song những tiêu chuẩn vừa kể trên
là quan trọng nhất.

Giai đoạn thứ tư và cuối cùng, đó là các sưu tập khác
nhau của các văn liệu Tân Ước nhận được sự chuẩn nhận
chính thức của các vị lãnh đạo Giáo Hội và của các Công
Đồng thời Giáo Hội sơ khai. Nghe có vẻ hơi lạ, nhưng lần
đầu tiên chúng ta tìm thấy một danh mục chính thức những
văn liệu thuộc về Tân Ước đúng y như bộ Tân Ước của
chúng ta hôm nay là mãi cho đến năm 367, khi một giám
mục quan trọng của thế kỷ thứ 4 có tên là Athanasiô, trong
một lá thư gửi cho các giáo đoàn của ngài, đã qui định rằng
chỉ những văn liệu này mới có thẩm quyền để được coi là
Sách Thánh. Ngay cả sau thời này, vẫn tiếp tục có những bất
đồng tại các miền khác nhau về vấn đề một số văn liệu nào
đó có thuộc về Tân Ước hay không, nhất là về Sách Khải
Huyền, Thư Do Thái, 2 Phêrô, 2 và 3 Gioan, và Giuđa. Như
vậy, mặc dù các văn liệu Tân Ước đã được viết trong một
thời gian tương đối ngắn, cũng đã mất vài thế kỷ để có thể đi
đến sự đồng ý rộng rãi về vấn đề một cách chính xác những
văn liệu nào thuộc về Tân Ước.

LỊCH SỬ CỦA TRUYỀN THỐNG

Một phần của công việc nghiên cứu Tân Ước chính là
việc tìm hiểu cách chung mỗi bản văn đã được hình thành
như thế nào. Có phải Matthêu chỉ đơn giản ngồi xuống và
viết sách Phúc Âm của mình ra? Hay ông có tham khảo các
nguồn? Tại sao trong Phúc Âm Máccô, Đức Giêsu nói: "Ai
rẫy vợ mà cưới vợ khác là phạm tội ngoại tình đối với vợ
mình" (Mc 10,11), còn trong Phúc Âm Matthêu thì Đức
Giêsu nói: "Ngoại trừ trường hợp hôn nhân bất hợp pháp, ai

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 70

rẫy vợ mà cưới vợ khác là phạm tội ngoại tình" (Mt 19,9)?
Thật sự câu nói nào là của Đức Giêsu? Hay là Người đã nói
cả hai câu đó? Hay Matthêu đã thêm mấy chữ "ngoại trừ
trường hợp hôn nhân bất hợp pháp"? Và nếu Matthêu đã
thêm như vậy, thì tại sao?

Có được một nhận hiểu về các giai đoạn khác nhau và
các tầng khác nhau trong quá trình chuyển tiếp các truyền
thống Kitô giáo sơ khai, điều đó có thể giúp ích rất nhiều
cho việc trả lời nhiều câu hỏi về Tân Ước, nhất là về các
Sách Phúc Âm. Có 7 giai đoạn chủ yếu trong lịch sử của
truyền thống, và nhiều công cụ phân tích khác nhau đã được
phát triển để làm việc với mỗi trong các giai đoạn đó. Xét
một cách toàn bộ, những công cụ này thường được gọi là
phương pháp luận "phê bình lịch sử", bởi vì những công cụ
này tập chú đến lịch sử của các truyền thống trong Tân Ước.
Chúng ta sẽ xem xét mỗi giai đoạn và mỗi công cụ phê bình
tương ứng.

Biến Cố Lịch Sử
và Khoa Phê Bình Lịch Sử

Điều đầu tiên xảy ra là một biến cố. Đức Giêsu,
Phaolô, một người nào đó,... nói gì đó hay làm gì đó. Mặc
dù thuật ngữ "phê bình lịch sử" được dùng để mô tả các
công cụ phân tích nói chung, nó cũng mô tả một trong
những công cụ chuyên biệt. Nói nôm na, theo ý nghĩa
chuyên biệt của nó, phê bình lịch sử là việc các học giả cố
gắng xác định chính xác hết sức có thể điều gì đã xảy ra.
Chẳng hạn, trong Phúc Âm Gioan, việc "thanh tẩy Đền Thờ"
(trong đó Đức Giêsu xua đuổi những người buôn bán ở sân
Đền Thờ) là một trong những việc đầu tiên mà Đức Giêsu đã
làm trong sứ vụ công khai của Người (Ga 2,13-17). Nhưng
trong các Phúc Âm nhất lãm, việc "thanh tẩy Đền Thờ" là

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 71

một trong những biến cố cuối cùng của sứ vụ công khai của
Đức Giêsu (Mt 21,10-17; Mc 11,15-17; Lc 19,45-46). Đàng
nào đúng? Như vậy, mục đích của phê bình lịch sử là đạt
được một bức tranh rõ nhất có thể về các biến cố.

Một trong những vấn đề được tranh cãi nhiều nhất là
vấn đề con người Giêsu lịch sử thật sự như thế nào. Nếu
chúng ta có một băng video ghi lại cuộc đời của Đức Giêsu,
thì cuốn phim ấy sẽ như thế nào? Trong mức độ nào các
Sách Phúc Âm kể cho chúng ta về Đức Giêsu của lịch sử,
nhất là vì các Sách Phúc Âm đã được viết ra để rao giảng
niềm tin rằng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa và Người đã
chết và đã được phục sinh từ cõi chết? Một sử gia có thể
hiểu các trình thuật trong sách Phúc Âm theo giá trị bề ngoài
của nó hay không? Các Sách Phúc Âm chuyên chở những
thông tin lịch sử nào và người ta phải đánh giá tính xác thực
của chúng như thế nào? Một điều mà đa số các học giả đồng
ý, đó là việc công bố về vương quốc của Thiên Chúa là
trọng tâm sứ vụ của Đức Giêsu lịch sử (và của Đức Giêsu
được khắc họa trong các Sách Phúc Âm; chẳng hạn, Mt
4,17; 13,24-33; Mc 1,14-15), mặc dù người ta tranh cãi
không ít về chuyện Đức Giêsu muốn nói gì khi nói vương
quốc Thiên Chúa. Như vậy, các học giả sử dụng phương
pháp phê bình lịch sử để cố gắng tái lập lại các biến cố lịch
sử, nhất là những biến cố liên quan tới đời sống của Đức

Giêsu.

Phương pháp phê bình lịch sử cũng đặc biệt chú ý tới
các bối cảnh lịch sử, xã hội và tôn giáo trong đó các văn liệu
khác nhau của Tân Ước đã được viết ra. Chúng ta thử nhìn
thoáng qua một số bối cảnh như thế. Hầu như tất cả các văn
liệu Tân Ước đã được viết vào thế kỷ thứ 1 sau công
nguyên, thời gian mà đế quốc Rôma tiến gần tới đỉnh cao
quyền lực của nó. Đây cũng là một thời gian căng thẳng
trầm trọng giữa người Do Thái ở Palestine và người Rôma -

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 72

là những người vừa mới chinh phục vùng đất này và cai trị
một cách khắt khe. Những căng thẳng này đã làm phát sinh
một cuộc nổi dậy của người Do Thái chống lại Rôma vào
năm 66 sau công nguyên, leo tới đỉnh điểm là năm 70, với
việc người Rôma thôn tính Giê-ru-sa-lem và tàn phá Đền
Thờ, biểu tượng chính yếu của căn tính Do Thái. Vì các
Kitôhữu sơ khai tự xem mình - cũng như được nhìn bởi
những người khác - chủ yếu là một nhóm nhỏ (có người gọi
là một giáo phái) của Do Thái giáo, nên các biến cố trong
lịch sử Do Thái vào thế kỷ thứ 1 cũng có một tác động quan
trọng đối với sự phát triển của Kitô giáo. Tất cả các Kitôhữu
đầu tiên đều là người Do Thái. Thật vậy, chúng ta không
được phép quên rằng Đức Giêsu là một người Do Thái giáo,
chứ không phải là một người Kitôgiáo gì cả!

Có hai yếu tố chính yếu góp phần tách biệt Kitô giáo
ra khỏi Do Thái giáo. Thứ nhất, người Kitôhữu tuyên nhận
rằng Đức Giêsu là Đấng Mêsia, là Đấng Kitô, và điều này là
cớ vấp phạm cho nhiều người Do Thái. Mối kỳ vọng của Do
Thái giáo là Đấng Kitô sẽ giải phóng dân Do Thái khỏi sự
thống trị của người Rôma, và mở ra vương quốc của Thiên
Chúa. Nhưng Đức Giêsu đã không đáp ứng những kỳ vọng
này. Người không chỉ đã không quật ngã người Rôma, mà
trái lại người Rôma đã xử tử Người! Và Người không chỉ đã
chết, mà đó còn là một cái chết đầy sỉ nhục trên thập giá!
Làm sao người ta có thể tin vào một Đấng Mêsia bị đóng
đinh thập giá? Và rồi các Kitôhữu đầu tiên đã nói rằng Thiên
Chúa đã phục sinh vị Mêsia thất bại này từ cõi chết, và rằng
Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, là Đấng đã chết cho mọi
người. Nhìn từ một nhãn quan Do Thái thì đây là những
khẳng định hết sức kỳ cục và phạm thượng.

Thứ hai, ngay từ khá sớm, làn sóng Kitô giáo đã lan
tràn tới các dân ngoại, tức những người không phải là Do
Thái. Một câu hỏi sừng sững được đặt ra, gây nên một sự

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 73

rạn nứt lớn trong Kitô giáo sơ khai, đó là phải chăng các
Kitôhữu dân ngoại cần phải tuân giữ luật Do Thái mà Thiên
Chúa đã mạc khải trong các sách thánh Do Thái giáo, gồm
cả những qui định nghiêm ngặt về kiêng khem, việc tuân giữ
ngày Sabát, và nhất là việc cắt bì. Nói nôm na, người ta có
phải trở thành một người Do Thái để có thể trở thành một
Kitôhữu hay không? Bạn có thể gặp thấy một số tranh cãi
quyết liệt về vấn đề này trong Cv 15 và trong Gl 1-2. Mặc
dù nhiều Kitôhữu vẫn tiếp tục giữ các thực hành theo nghi lễ
Do Thái, sự quyết định cuối cùng vẫn là những người gốc
dân ngọai không cần phải cắt bì để trở nên Kitôhữu - đây là
vấn đề tranh cãi nẩy lửa nhất (x. ghi nhận của Phaolô trong
Gl 5,11-12).

Quyết định này đã dàn xếp các căng thẳng giữa người
Do Thái và các Kitôhữu, nhất là với sự tàn phá Đền Thờ Do
Thái. Nhưng khi các Kitôhữu quay lưng lại không giữ luật
Do Thái nữa, thì đó là lúc người Do Thái đang nhấn mạnh
hơn đến việc tuân giữ Lề Luật nhằm cố gắng tái lập căn tính
Do Thái sau biến cố Đền Thờ bị hủy diệt. Những căng thẳng
gay gắt giữa Kitô giáo và Do Thái giáo thời ấy có thể được
ghi nhận rải rác trong toàn bộ Tân Ước, nhất là trong các
bản văn của Phaolô và trong các Phúc Âm Matthêu và
Gioan. Chúng ta đã thấy những gì mà khoa phê bình lịch sử
giúp chúng ta nhận thấy. Như vậy, khoa phê bình lịch sử
quan tâm tới những biến cố lịch sử và tầm quan trọng của
chúng trong việc giúp chúng ta nhận hiểu các bản văn Tân
Ước.

Truyền Thống Truyền Khẩu
Và Khoa Phê Bình Văn Loại

Sau khi biến cố xảy ra, người ta nói về biến cố.
Chẳng hạn, người ta đề cập đến những gì Đức Giêsu đã nói

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 74

và đã làm khi Người thanh tẩy Đền Thờ Giê-ru-sa-lem.
Những trình thuật này được lặp đi lặp lại. Nhưng chúng
không chỉ được lặp đi lặp lại, mà các câu chuyện còn được
gắn kết vào với các câu chuyện khác nữa, các truyền thống
được hình thành và mặc lấy nhiều thể loại khác nhau. Như
thế, cũng như chúng ta có nhiều thể loại chuyện truyền khẩu
khác nhau - chuyện trào phúng, thơ vè, ... thì cũng vậy trong
Kitô giáo sơ khai, các lời nói của Đức Giêsu và các câu
chuyện về Người được lặp đi lặp lại và được tổng hợp trong
nhiều thể loại khác nhau: những dụ ngôn, những lời nói
được nhớ lại, những câu chuyện phép lạ, vv... Công cụ phê
bình được lập ra để khám phá và phân tích những truyền
thống truyền khẩu khác nhau này chính là phương pháp phê
bình văn loại. Mục đích của khoa phê bình văn loại là dò tìm
đàng sau các văn liệu được ghi chép mà ta có trong tay để
khảo sát cách mà truyền thống truyền khẩu đã được hình
thành và được chuyển trao.

Cách riêng, phương pháp phê bình văn loại nhằm tìm
cách xác định những hoàn cảnh lịch sử đặc thù trong đó các
truyền thống truyền khẩu được phổ biến, để khám phá xem
các cộng đoàn Kitôhữu sơ khai đã sử dụng chúng như thế
nào. Một ví dụ rất rõ ràng về truyền thống truyền khẩu có
thể được tìm thấy trong một lá thư được viết bởi Phaolô, đó
là bản văn 1Cr 15,3-5. Ở đây, để mô tả sứ điệp cốt lõi của
Tin Mừng, Phaolô viết: "Tôi đã truyền lại cho anh em điều
mà chính tôi đã lãnh nhận, đó là: Đức Kitô đã chết vì tội lỗi
chúng ta, đúng như lời Kinh Thánh, rồi người đã được mai
táng, và ngày thứ ba đã chỗi dậy, đúng như lời Kinh Thánh.
Người đã hiện ra với ông Kêpha, rồi với Nhóm Muời Hai..."
Hãy ghi nhận công thức giới thiệu của Phaolô: "Tôi đã
truyền lại.... điều mà tôi đã lãnh nhận", qui chiếu đến một
truyền thống truyền khẩu về sứ điệp Tin Mừng.

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 75

Truyền Thống Ghi Chép
Và Khoa Phê Bình Nguồn Văn

Sau khi người ta truyền miệng cho nhau về các biến
cố, các câu chuyện được viết ra. Những lời nói của Đức
Giêsu trong Bài Giảng Trên Núi (Mt 5-7) xem ra là những
truyền thống truyền khẩu riêng rẽ được viết lại cùng với
nhau. Không chỉ một mình Matthêu biết về những lời nói
được ghi chép này; cả Luca cũng biết, chứng cứ là cùng
những chất liệu ấy được ghi lại phần nào trong Lc 6 và
những chỗ khác trong Phúc Âm của Luca. Nhưng Phúc Âm
Máccô không cho thấy chứng cứ gì về những truyền thống
được ghi chép này. Vì thế, câu hỏi được đặt ra: Bằng cách
nào Matthêu và Luca có trong tay cùng những tư liệu về các
lời nói như thế? Các sách Phúc Âm ấy đã dùng những nguồn
ghi chép nào? Mấy dòng mở đầu của Phúc Âm Luca cho
thấy rõ ràng rằng Luca đã sử dụng nhiều nguồn tư liệu khác
nhau: "Có nhiều người đã ra công biên soạn bản tường thuật
những điều đã được thực hiện giữa chúng ta... Tôi cũng vậy
... nên tuần tự viết ra" (Lc 1,1-3). Luca biết về những nguồn
tư liệu ghi chép khác nhau, và ông vận dụng những nguồn
này bằng cách kết hợp chúng với nhau thành bản trình thuật
Phúc Âm của riêng mình. Chúng ta có lý để giả đoán rằng
Matthêu cũng đã viết một cách tương tự. (Thật vậy, tất cả
các văn sĩ Tân Ước đều sử dụng các Sách Thánh Do Thái
như một nguồn tư liệu ghi chép, và chúng ta gặp thấy nhiều
trích dẫn từ các Sách Thánh Do Thái trong Tân Ước.)

Vậy chúng ta có thể đẩy câu hỏi trên xa thêm chút
nữa. Phải chăng tác giả Gioan đã sử dụng các nguồn tư liệu
khác? Phải chăng Phaolô đã sử dụng các truyền thống ghi
chép khi ông viết các Thư của mình? Đây là những câu hỏi
được nêu ra bởi khoa phê bình nguồn văn. Các học giả dùng
phương pháp phê bình nguồn văn để xác định vấn đề một tác

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 76

giả có sử dụng các truyền thống tư liệu ghi chép hay không,
và nếu có, thì có thể mô tả thế nào về các nguồn tư liệu ghi
chép ấy.

Một vấn đề đặc biệt đặt ra cho khoa phê bình nguồn
văn một câu hỏi, đó là vấn đề về mối quan hệ văn chương
giữa các Phúc Âm nhất lãm. Tại sao ba quyển Phúc Âm này
giống nhau đến thế nhưng đồng thời cũng khác nhau đến
thế? Ngày nay đại đa số các học giả đã đi đến chỗ nhất trí
rằng Phúc Âm Máccô là quyển Phúc Âm đầu tiên được viết
ra, và rằng Phúc Âm Máccô được hai tác giả Matthêu và
Luca sử dụng một cách độc lập như một nguồn tư liệu ghi
chép. Matthêu và Luca cũng sử dụng một "nguồn các lời
nói" gọi là nguồn "Q" (do từ "Quelle" trong tiếng Đức, có
nghĩa là "nguồn" - ta ghi nhận rằng nhiều học giả nghiên cứu
Tân Ước vào thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 là những người
Đức). Sự nhất trí này được gọi là "giả thuyết hai nguồn".
Như vậy, mối quan hệ văn chương giữa các Phúc Âm nhất
lãm có thể được minh họa như sau:

Cả Matthêu và Luca đều độc lập sử dụng nguồn
Máccô và nguồn "Q" để biên soạn sách Phúc Âm của mình.

Việc Hiệu Chỉnh Các Truyền Thống
Và Khoa Phê Bình Biên Soạn

Sau khi các truyền thống truyền khẩu và ghi chép đã
được sưu tập, một tiến trình biên tập diễn ra trong đó một tác
giả kết hợp các mảng truyền thống khác nhau (cả truyền
khẩu lẫn ghi chép) để hình thành một toàn thể gắn kết thống
nhất, một trình thuật được giãn rộng ra. Tác giả đang làm
công việc định hình cho các truyền thống. Thật đáng ghi
nhận, mỗi tác giả định hình các truyền thống nhằm để nói
với một nhóm người cụ thể với những mối quan tâm cụ thể
và vào thời gian và nơi chốn cụ thể. Như vậy, các mối quan

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 77

tâm và các khuynh hướng thần học của mỗi tác giả có thể
được nhận ra qua cách mà họ hiệu chỉnh các nguồn.

Phương pháp phê bình biên soạn tìm cách biện phân
cách thức mà mỗi tác giả đã hiệu chỉnh các truyền thống mà
họ sử dụng, nhất là các truyền thống tư liệu ghi chép. Các
học giả không chỉ sử dụng khoa phê bình biên soạn để tìm
hiểu những điểm nhấn mạnh đặc biệt trong quá trình hiệu
chỉnh, mà họ còn sử dụng phương pháp này để khám phá
hoàn cảnh cuộc sống riêng của tác giả và điểm quan tâm ưu
tiên của tác giả về mặt thần học. Nhưng luôn cần nhớ: khoa
phê bình biên soạn phục vụ tốt nhất khi chúng ta biết các
nguồn mà một tác giả đã sử dụng. Chẳng hạn, các học giả
chuyên về phân tích quá trình biên soạn của các Phúc Âm
nhất lãm nói chung giả định giá trị của "giả thuyết hai
nguồn". Điều này có nghĩa rằng việc phân tích quá trình biên
soạn của Matthêu và Luca tựa trên nền tảng tương đối chắc
chắn, vì phần đông các học giả đều đồng ý rằng Matthêu và
Luca đã sử dụng nguồn Máccô và nguồn "Q". Nhưng
phương pháp phê bình biên soạn sẽ trở nên rắc rối hơn khi
phân tích Sách Phúc Âm của Máccô và Gioan, vì người ta
vẫn còn tranh luận nhiều về vấn đề chính xác đâu là các
nguồn tư liệu ghi chép mà hai tác giả này đã sử dụng.

Một ví dụ tốt minh họa cách làm việc của khoa phê
bình biên soạn có thể được gặp thấy nơi câu chuyện Đức
Giêsu khải hoàn vào Giê-ru-sa-lem, được tường thuật ở Mt
21,1-9; Mc 11,1-10, và Lc 19,28-40. Ba bản văn được in
song song như sau:

Khi chúng ta so sánh bản văn của Matthêu với bản
văn Máccô, có thể thấy rõ một số nét. Trước hết, hãy chú ý
rằng trong Mc 11,2, Đức Giêsu bảo các môn đệ rằng họ sẽ
gặp thấy « một con lừa con chưa ai cỡi bao giờ, đang cột sẵn
đó. Các anh cởi dây ra và đem nó về đây. » Trái lại, trong
Mt 21,2, Đức Giêsu bảo các môn đệ rằng họ sẽ gặp thấy «

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 78

một con lừa mẹ đang cột sẵn đó, có con lừa con bên cạnh.
Các anh cởi dây ra và dắt về cho Thầy. » Trong khi Máccô
nhắc đến một con vật, thì Matthêu nhắc đến hai con. Hãy
đọc tiếp Mc 11,7: « Hai ông đem con lừa về cho Đức Giê-
su, lấy áo choàng của mình trải lên lưng nó, và Đức Giê-su
cỡi lên. » Hãy so sánh câu này với Mt 21,7: « Các ông dắt
lừa mẹ và lừa con về, trải áo choàng của mình trên lưng
chúng, và Đức Giê-su cỡi lên. » Đức Giêsu cỡi mấy con lừa
trong Máccô? Một con. Còn trong Matthêu ? Hai con!
Chúng ta hãy hình dung xem tại sao có chuyện lạ này!

Giả định rằng thuyết hai nguồn là đúng, vấn đề đặt ra
là tại sao Matthêu đã đổi câu của Máccô và thêm vào một
con vật nữa cho Đức Giêsu cỡi lên? Câu trả lời có thể được
tìm thấy nơi một sự khác biệt đáng ghi nhận nữa giữa
Matthêu và Máccô. Hãy ghi nhận rằng Mt 21,4-5 không có
yếu tố song song trong các bản văn của Máccô và Luca.
Matthêu đã thêm vào bản văn của mình những lời nói trích
từ Sách Thánh Do Thái, một cách chính xác là trích từ Isaia
và Dacaria. Hãy đọc kỹ câu trích dẫn ở Mt 21,5: « Kìa Đức
Vua của ngươi đang đến với ngươi hiền hậu ngồi trên lưng
lừa, lưng lừa con, là con của một con vật chở đồ. » Theo
nhãn quan của Matthêu, việc Đức Giêsu vào Giê-ru-sa-lem
làm ứng nghiệm lời ngôn sứ trong Sách Thánh Do Thái nói
về sự xuất hiện của một vị vua. Đối với Matthêu, Đức Giêsu
chính là vị vua ấy, và Matthêu thêm trích dẫn này từ Sách
Thánh Do Thái để nêu bật điều mình nhận định. Hơn thế
nữa, Matthêu thay đổi câu chuyện mà ông mượn từ Máccô
để cho Đức Giêsu cỡi trên hai con lừa chứ không phải chỉ
một con, để cho sự ứng nghiệm chính xác lời Sách Thánh
càng ấân tượng hơn. Tuy nhiên, Matthêu sử dụng bản dịch
Hi Lạp của Sách Thánh Do Thái (gọi là Bản Bảy Muơi), bản
dịch này - ở đây - bỏ nhỡ kỹ thuật song đối vốn rất phổ biến
trong tiếng Do Thái. Trong kỹ thuật song đối này, một câu

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 79

thường được diễn lại bằng một cách diễn đạt hơi khác -
nghĩa là trong bản văn tiếng Do Thái, rõ ràng ở đây chỉ nói
đến có một con vật mà thôi.

Như vậy, khoa phê bình biên soạn cho thấy mối quan
tâm thần học của Matthêu là nhằm trình bày sự kiện Đức
Giêsu hoàn thành một cách rõ rệt những điều Sách Thánh
Do Thái đã nói trước. Chúng ta cũng có thể nhận thấy qua
câu chuyện này sự nhấn mạnh của Matthêu về các gốc rễ Do
Thái của Đức Giêsu, như sự bổ sung ở Mt 21,9 giúp làm
sáng tỏ: « Hoan hô con Vua Đa-vít! » - trong khi Mc 11,9
chỉ nói: « Hoan hô! » mà thôi. Khoa phê bình biên soạn đôi
khi có thể đòi hỏi đầu tư nhiều công phu, nhưng đây là công
cụ rất có giá trị để làm lộ rõ những quan tâm thần học và
hoàn cảnh lịch sử của các tác giả và của các cộng đoàn ẩn
chứa đàng sau các bản văn Tân Ước.

Hình Thức Văn Chương Cuối Cùng
Và Khoa Phê Bình Văn Chương

Sau khi kết thúc tiến trình hiệu chỉnh thì văn liệu đã
đạt đến hình thức văn chương cuối cùng của nó. Mục đích
của khoa phê bình văn chương là nhận hiểu hình thức văn
chương cuối cùng của văn liệu. Để hiểu các đặc điểm riêng
của mỗi bản văn, rất cần phải chú ý đến cách kết cấu của
mỗi văn liệu. Bản văn được viết như thế nào? Nó dồn dập ở
đâu và chậm rãi ở đâu? Cái cốt của bản văn làm việc như thế
nào? Có những nhân vật nào và các nhân vật đó được phác
họa như thế nào? Có một đỉnh điểm không - nếu có, thì tác
giả trình bày cái đỉnh điểm ấy như thế nào? Các mảng khác
nhau của văn liệu liên hệ với nhau như thế nào? Đâu là bối
cảnh trực tiếp và đâu là bối cảnh văn chương rộng lớn hơn
của mỗi phần trong cái toàn thể? Nói một cách đơn giản,
khoa phê bình văn chương đặt ra những câu hỏi về văn

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 80

chương để tìm hiểu mỗi bản văn. Nó tùy thuộc vào một số
kết quả của các khoa phê bình lịch sử, văn loại, nguồn văn,
và biên soạn, nhưng tiêu điểm thật sự của nó là hình thức
văn chương cuối cùng của mỗi văn liệu. Một ví dụ từ Lc
4,16-30 sẽ minh họa cách mà phương pháp này làm việc.
Chúng ta hãy bắt đầu bằng việc đọc chính bản văn.

Như bạn có thể nhận thấy, Lc 4,16-30 giới thiệu Đức
Giêsu ở đầu sứ vụ công khai của Người. Đây quả là sự xuất
hiện công khai lần đầu tiên của Đức Giêsu trong sứ vụ của
Người, vì thế nó có một tầm quan trọng đặc biệt. Trước hết
hãy xem cách mà Luca dựng cảnh. Đức Giêsu ở quê nhà
Nadarét, tại hội đường vào ngày Sabát. Rồi Đức Giêsu đứng
lên đọc Sách Ngôn sứ Isaia. Hãy ghi nhận cách mà Luca
khoan thai mô tả hành động ở đây. Người đứng lên để đọc
sách, Người nhận sách, người mở sách và đọc. Rồi Người
gấp sách, trao lại quyển sách, rồi Người ngồi xuống. Luca đã
kỹ lưỡng tạo ra một cấu trúc song song ở đây nhằm giúp
nhấn mạnh bài đọc (= bài đọc Isaia). Có thể minh họa như

sau:

Người đứng lên để đọc sách ——
Người nhận sách ————
Người mở sách ra ———-
Bài đọc Isaia
Người gấp sách ———
Người trao sách lại cho người giúp việc hội đường -
Người ngồi xuống ———-

Bài đọc Isaia đứng ở vị trí trung tâm của song đối
này. Ở cuối câu 4,20, Luca tạm ngừng một lần nữa để bảo
với chúng ta rằng « Ai nấy trong hội đường đều chăm chú
nhìn Người ». Lời bình này tạo ra một cảm giác hồi hộp nôn
nao chờ đón một cái gì đó. Đức Giêsu sẽ nói gì? Rồi, bây
giờ mới đến những tiếng khá quen thuộc: « Hôm nay đã ứng
nghiệm lời Kinh Thánh quí vị vừa nghe! » Rồi chúng ta

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 81

được cho biết đám đông thính giả hết sức tán thành và thán
phục (c.22). Nhưng câu chuyện lại có một lắt léo ngay sau
đó. Trong câu 23 và 24, Đức Giêsu nói với họ: « Không một
ngôn sứ nào được chấp nhận tại quê hương mình ». (Rõ ràng
ở đây Luca coi Đức Giêsu là một ngôn sứ, một chủ đề
thường được đề cập đến trong Sách Phúc Âm Luca.) Rồi sau
đó, trong các câu 25-27, Đức Giêsu nhắc đến hai câu chuyện
xưa trong các sách ngôn sứ để giải thích bài đọc Isaia về
việc loan báo Tin Mừng cho người nghèo và giải phóng các

tù nhân.

Cả hai câu chuyện đều qui chiếu đến các ngôn sứ Do
Thái đã từng đem lại sự chữa lành cho những người không
phải là Do Thái: Ngôn sứ Elia đối với bà góa ở Sarépta (vị
ngôn sứ đã chữa lành cho con trai bà), và Elisa đối với
Naaman người Syri (người được chữa lành khỏi bệnh phong
cùi). Như vậy, điều được nhấn mạnh ở đây là Tin Mừng
không đến với It-ra-en, nhưng là đến với dân ngoại; Tin
Mừng không đến với đồng bào ở quê nhà, nhưng là đến với
những người xa lạ. Bấy giờ, phản ứng của đám đông thay
đổi cách đột ngột, từ thái độ tán thành và thán phục ở 4,22
sang thái độ tức giận và tìm cách ném Đức Giêsu xuống vực
sâu! Chúng ta hãy chú ý đến sự mỉa mai ở đây. Ở đây Đức
Giêsu mở đầu sứ vụ của Người trong một khung cảnh Do
Thái: thị trấn Nadarét quê nhà của Người là một thị trấn của
người Do Thái, trong một hội đường Do Thái, vào ngày
Sabát của Do Thái, đọc Sách Thánh Do Thái. Và Luca khắc
họa Đức Giêsu trong khung cảnh như thế để làm gì? Ở đây,
chính xác trong khung cảnh Do Thái này, Luca giới thiệu
Đức Giêsu công bố sự bao gồm cả những người bị ruồng bỏ
và những người ngoại giáo, một chủ đề thường xuyên được
nhắc đến trong suốt Phúc Âm Luca và Sách Công Vụ Tông
Đồ.

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 82

Như vậy, từ một nhãn giới văn chương, chúng ta có
thể thấy cách mà Luca sử dụng bối cảnh, sự kết cấu và giòng
chảy của câu chuyện để thông đạt một cái gì đó về sự nhận
thức của mình đối với Đức Giêsu.

Những Bản Sao Thuộc Hình Thức Văn Chương Cuối Cùng
Và Khoa Phê Bình Văn Tự

Cuối cùng, sau khi một văn liệu đã đạt được hình
thức văn chương cuối cùng của nó, nó sẽ được sao đi chép
lại. Ngoài việc sản xuất ra hàng trăm bản sao, quá trình này
cũng sản xuất ra cả những sự khác biệt lớn nhỏ giữa các bản
sao nữa. Thật vậy, trong tất cả những bản sao Tân Ước mà
chúng ta có được, cả những bản đầy đủ lẫn những bản không
đầy đủ, không hề có hai bản sao nào hoàn toàn giống y nhau.
Khi chúng ta nói về văn bản Tân Ước, thì vấn đề đầu tiên
phải đặt ra: đó là văn bản nào?

Phương pháp phê bình văn bản nhằm cố gắng thiết
định bản văn nguyên thủy nhất và đáng tin cậy nhất của mỗi
văn liệu. Bao lâu chưa có thể đạt được sự đồng ý về những
gì mà bản văn thật sự nói, thì thật khó thảo luận về hình thức
văn chương cuối cùng, về quá trình biên soạn, về các nguồn,
các thể văn, và về các biến cố được nhấn mạnh. Vì thế, khoa
phê bình văn bản là một phương pháp hơi thiên về kỹ thuật
trong đó các học giả so sánh hàng ngàn bản sao viết tay khác
nhau của các văn liệu Tân Ước, và cố gắng đi đến một bản
văn được nhất trí chung. Một điều bạn cần biết: những bản
văn Tân Ước mà chúng ta dùng ngày nay là những bản văn
tổng hợp. Nghĩa là các học giả rút ra từ nhiều bản chép tay,
tổng hợp thành một bản văn khả dĩ chấp nhận được và
không hoàn toàn giống bất cứ bản thảo chép tay nào có sẵn.
Quả thật, đó là một bản văn tổng hợp.

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 83

Hai ví dụ sau đây cho thấy cách mà khoa phê bình
văn bản làm việc. Ví dụ thứ nhất là chương 22 của Phúc Âm
Luca. Trong bản New Revised Standard Version của Tân
Ước, Lc 22, 43-44 xuất hiện trong dấu ngoặc, ở cuối trang
người ta tìm thấy một ghi chú cho biết: « những tài liệu cổ
xưa khác thiếu hai câu 43 và 44 ». Ghi chú này cho chúng ta
biết rằng nhiều bản thảo cổ xưa không có những câu này, và
rằng có một sự tranh cãi nào đó về việc có nên bao gồm hai
câu này vào Tân Ước hay không. Ví dụ thứ hai có ý nghĩa
nhiều hơn, đó là chương 16 Phúc Âm Mác cô. Sau Mc 16,8
đa số các sách Tân Ước đều có một ghi chú về những phần
kết khác nhau của Phúc Âm Máccô. Một số bản thảo chép
tay tốt nhất và cổ xưa nhất của Phúc Âm Máccô chấm hết
ngay tại 16,8 - với những người phụ nữ bỏ chạy khỏi mồ
trống. Những bản thảo khác mở thêm một chút trước khi kết
thúc, với bản tường thuật rằng các phụ nữ kể với Phêrô
những gì mà họ đã kinh nghiệm được và rằng « Chính Đức
Giêsu sai họ ra đi, từ đông sang tây, rao giảng về ơn cứu độ
đời đời » (NRSV). Nhiều bảo thảo khác có một đoạn kết
thậm chí dài hơn, đó là 16,9-20 - kết thúc bằng những cuộc
hiện ra của Chúa Giêsu Phục Sinh (không có trong những
bản kết thúc chỗ 16,8). Đa số các học giả đồng ý rằng Phúc
Âm Máccô nguyên thủy kết thúc chỗ 16,8 - với sự kiện mồ
trống và không có tường thuật nào về những cuộc hiện ra
của Chúa Giêsu Phục Sinh. Tùy theo kiểu kết thúc nào trong
những kiểu trên, Phúc Âm Máccô sẽ có những khả năng hơi
khác nhau. Như vậy, khoa phê bình văn bản là một công cụ
quan trọng thiết định nên văn bản mà chúng ta sử dụng.

Để tóm tắt những gì vừa trình bày về lịch sử truyền
thống, chúng ta có thể dùng minh họa sau đây. Biểu đồ này
cho thấy những giai đoạn khác nhau của truyền thống mà
chúng ta đã lược qua với những công cụ mà các học giả
dùng để khảo sát mỗi tầng.

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 84

các bản sao của văn bản —— phê bình văn bản
hình thức cuối cùng của bản văn - phê bình văn chương
hiệu chỉnh các truyền thống — phê bình biên soạn
các truyền thống ghi chép —- phê bình nguồn văn
các truyền thống truyền khẩu — phê bình văn loại
biến cố ———————- phê bình lịch sử

Mỗi văn liệu Tân Ước đều có những tầng như trên
của truyền thống và của việc chuyển trao, mặc dù khoa phê
bình biên soạn và phê bình nguồn văn thường áp dụng cho
các sách Phúc Âm nhiều hơn so với các Thư. Giờ đây chúng
ta hãy có một khảo sát về các Sách Phúc Âm và các Thư của
Phaolô.

CÁC SÁCH PHÚC ÂM VÀ CÁC TÁC PHẨM CỦA
PHAOLÔ:
NHỮNG PHƯƠNG DIỆN KHÁC BIỆT

Các Sách Phúc Âm
Các Phúc Âm Nhất Lãm

Dù các Phúc Âm nhất lãm rất giống nhau, cũng có
một số khác biệt quan trọng giữa chúng. Sau đây là một toát
lược về một số đặc điểm của mỗi Sách Phúc Âm nhất lãm.

Phúc Âm Máccô

Chúng ta hãy bắt đầu bằng việc đọc các chương 1-3
và 11-16 trong Phúc Âm Máccô. Như chúng ta đã ghi nhận
trên kia khi nói về truyền thống ghi chép và khoa phê bình
nguồn văn, đa số các học giả đồng ý rằng Phúc Âm Máccô
là Sách Phúc Âm nhất lãm cổ xưa nhất, có lẽ được viết vào
khoảng cuối thập niên 60 hay đầu thập niên 70 của thế kỷ
thứ nhất. Điểm nổi bật nơi việc Máccô phác họa Đức Giêsu

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 85

là sự nhấn mạnh hai mặt: sức mạnh và đau khổ. Sức mạnh
và quyền bính của Đức Giêsu có thể được nhận thấy trong 3
chương đầu. Ở đây Đức Giêsu thực hiện một số việc chữa
trị: một người bị thần ô uế ám (1,1-28), nhạc mẫu của Phêrô
(1,29-31), một người phung cùi (1,40-45), một người bại liệt
(2,1-12), một người đàn ông bại tay (3,1-6), và một người bị
quỉ ám (3,20-27). Máccô không chỉ khắc họa Đức Giêsu như
Đấng có quyền lực trên bệnh tật, mà Người cũng có quyền
lực trên tội lỗi (2,10) và trên luật về ngày Sabát (2,28).
Thêm vào đó, Người giảng dạy với uy quyền và bẻ gãy các
lập luận của những người Pharisêu và các kinh sư (2,1-

12.23-28).

Nhưng Máccô còn nhấn mạnh hơn nữa về Đức Giêsu
trong tư cách người tôi tớ đau khổ của Thiên Chúa. Điều này
có thể được nhận thấy rõ ràng trong các chương 8-10. Điểm
quặt Phúc Âm Máccô là 8,27-33. Trong 8,27-30 Đức Giêsu
hỏi các môn đệ xem các ông nghĩ Người là ai, Phêrô trả lời:
« Thầy là Đấng Kitô ». Dường như Phêrô hiểu căn tính của
Đức Giêsu. Nhưng ngay lập tức sau lời tuyên tín của Phêrô,
Máccô giới thiệu « lời báo trước cuộc khổ nạn » lần thứ nhất
(tất cả gồm ba lần) - đồng thời Đức Giêsu dạy các môn đệ
rằng « Con Người phải chịu nhiều đau khổ, bị khước từ bởi
các kỳ lão, các thượng tế và các kinh sư, sẽ bị giết, và sau ba
ngày Người sẽ sống lại » (8, 31). Mặc dù Phêrô dường như
hiểu căn tính của Đức Giêsu, ông đã quở trách Người, và
điều này làm cho Đức Giêsu khiển trách ông: « Satan! Hãy
lui lại đàng sau Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư
tưởng của Thiên Chúa, nhưng là của người phàm » (8,33).
Phần này (8,27-33) rất quan trọng, bởi vì ở đây Máccô cho
thấy rằng sức mạnh đích thực của Đức Giêsu được thể hiện
tuyệt đỉnh nhất nơi cái chết đau khổ của Người.

Máccô còn cho thấy Đức Giêsu báo trước cuộc khổ
nạn của Người thêm hai lần nữa, trong 9,30-32 và 10,32-34 -

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 86

mỗi lần đều trong bối cảnh các môn đệ tỏ ra tối dạ không
hiểu. Chóp đỉnh xảy ra với cuộc khổ nạn và cái chết của Đức
Giêsu, mà tột điểm là lời tuyên xưng của viên đại đội trưởng
dưới chân thập giá (15,39): « Quả thật người này là Con
Thiên Chúa! ». Hãy chú ý tính mai mỉa ở đây. Một đại đội
trưởng, tượng trưng cho quyền lực Rôma, lại nhìn nhận rằng
con người Giêsu bị đóng đinh thập giá này (còn có tình cảnh
nào bất lực hơn!) chính là Con Thiên Chúa. Như vậy, Máccô
nhấn mạnh rằng sức mạnh đích thực được diễn tả nơi việc
đảm nhận đau khổ của con người, như Đức Giêsu đảm nhận
trên thập giá, và rằng làm môn đệ của Đức Giêsu có nghĩa là
đồng hóa với Người trong sứ vụ diễn tả sức mạnh và tình
yêu của Thiên Chúa bằng cách đảm nhận lấy đau khổ của
con người.

Phúc Âm Matthêu

Chúng ta hãy bắt đầu với Mt 5-7. Trong khi Matthêu
vận dụng rất nhiều chất liệu của Máccô và cũng nêu bật ý
nghĩa của sự đau khổ của Đức Giêsu, thì đồng thời Phúc Âm
Matthêu cũng đặc biệt nhấn mạnh về Đức Giêsu như Môsê
mới, như thầy dạy của luật mới, Đấng quan tâm đến thái độ
bên trong của cá nhân người ta hơn là những hành động bên
ngoài. Mối quan tâm này có thể được nhận thấy rõ ràng
trong Bài Giảng Trên Núi (5-7). Đây là « bài giảng » đầu
tiên của Đức Giêsu theo Phúc Âm Matthêu , và vì thế nó
chiếm một chỗ nổi bật trong sách Phúc Âm này. Chúng ta
hãy ghi nhận sự nhấn mạnh đối với động cơ bên trong của
mỗi cá nhân, sự nhấn mạnh đối với thái độ của người ta: «
Phúc cho ai có tâm hồn nghèo khó » (5,3), « Phúc cho ai
khát khao nên người công chính » (5,6). Hay ta có thể gặp
lại ở 5,21-22: « Anh em đã nghe Luật dạy người xưa rằng :
Chớ giết người ; ai giết người, thì đáng bị đưa ra toà. Còn

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 87

Thầy, Thầy bảo cho anh em biết : Ai giận anh em mình, thì
đáng bị đưa ra toà...»; và một lần nữa ở 5,27-28: « Anh em
đã nghe Luật dạy rằng : Chớ ngoại tình. Còn Thầy, Thầy bảo
cho anh em biết : ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì
trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi. » Lời lẽ thật mạnh
mẽ. Đối với Đức Giêsu của Matthêu, Thiên Chúa phán xét
không chỉ những hành động của người ta, mà Ngài còn phán
xét cả các thái độ và tâm hồn của người ta nữa.

Việc tập chú vào Đức Giêsu như một thầy dạy cũng
có thể được gặp thấy nơi những mảng giáo huấn khá rộng
lớn khác trong Matthêu : chương 10 (về sứ mạng), chương
13 (các dụ ngôn về Nước Trời), chương 18 (về Giáo Hội),
và các chương 24-25 (về hồi tận thời và cuộc phán xét cuối
cùng đang đến).

Một nét khác nữa của Phúc Âm Matthêu là đặc tính
Do Thái rất rõ của sách Phúc Âm này. Đặc tính này có thể
được ghi nhận ngay ở chương đầu, với bản gia phả của Đức
Giêsu (1,1-17). Matthêu nhấn mạnh rằng Đức Giêsu thuộc
dòng dõi Đavít (vua của It-ra-en) và Abraham (nhân vật nền
tảng của Do Thái giáo, qua ông Thiên Chúa đã thiết lập giao
ước, đã đóng ấn với dấu cắt bì). Lề Luật Do Thái giáo vẫn
rất quan trọng đối với Matthêu , như có thể thấy rõ ràng
trong 5,17-18: «Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ
Luật Mô-sê hoặc lời các ngôn sứ. Thầy đến không phải là để
bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn.» Vì, Thầy bảo thật anh em,
trước khi trời đất qua đi, thì một chấm một phết trong Lề
Luật cũng sẽ không qua đi, cho đến khi mọi sự được hoàn

thành."

Phúc Âm Luca

Chúng ta hãy bắt đầu với Lc 4-7. Phúc Âm Luca là
Sách Phúc Âm nhất lãm cuối cùng. Luca cũng vận dụng rất

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 88

nhiều chất liệu từ Máccô, dù không nhiều bằng so với
Matthêu. Thật vậy, trong các Phúc Âm nhất lãm thì Phúc
Âm Luca có nhiều chất liệu riêng nhất, đáng kể là những câu
chuyện không thấy có trong các Sách Phúc Âm khác, chẳng
hạn dụ ngôn về Người Samari Nhân Hậu (10,25-37) và
Người Con Hoang Đàng (15,11-32). Phúc Âm Luca, cùng
với sách Công Vụ Tông Đồ, nhấn mạnh việc Thiên Chúa
đón nhận những người bị loại bỏ. Đức Giêsu của Luca có
một sứ vụ đặc biệt đối với những người thu thuế - là những
người được xem như rất xấu xa ở Palestine vào thế kỷ thứ
nhất (3,12; 5,27-30; 7,29; 18,9-14; 19,1-10), đối với các phụ
nữ (7,11-17. 36-50; 8,2-3; 10,38-42; 13,10-17; 15,8-10;
18,1-8; 23,27-31), và đối với những người nghèo túng về vật
chất (4,18; 6,20; 7,22; 14,13; 16,16-31; 18,22). Luca cũng
có một phê bình về của cải một cách đặc biệt hơn hẳn so với
các Phúc Âm khác (6,24-25; 12,16-21; 16,16-31). Và, như
chúng ta đã ghi nhận trước đây, Phúc Âm Luca cố gắng cho
thấy rằng nơi Đức Giêsu các dân ngoại cũng được bao hàm
vào các lời hứa giao ước của Thiên Chúa (2,32; 4,16-30;

24,27).

Luca có khuynh hướng không nhấn mạnh đến sự đau
khổ và sự chết của Đức Giêsu, đồng thời chú ý nhiều hơn
đến sự Phục Sinh và những lần hiện ra của Chúa Giêsu Phục
Sinh. Chẳng hạn, trong trình thuật về cuộc khổ nạn, Luca
trình bày một Giêsu điềm tĩnh. Trong vườn Ghiétsêmani,
Đức Giêsu cầu nguyện chỉ một lần xin Thiên Chúa cất chén
đắng khỏi Người (22,39-46), chứ không phải đến ba lần như

trong Phúc Âm Máccô (14,32-42) và Matthêu (26,36-46).

Chỉ trong Phúc Âm Luca Đức Giêsu mới hứa với người tử
tội bị đóng đinh bên cạnh Người rằng anh ta sẽ được vào
Thiên Đàng ngay hôm ấy (23,43). Chỉ trong Phúc Âm Luca
Đức Giêsu mới cầu nguyện xin Thiên Chúa tha thứ cho đám
đông, «vì họ không biết điều họ làm» (23,34). Chỉ Luca mới

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 89

loại bỏ cái mão gai. Chỉ trong Phúc Âm Luca Đức Giêsu
mới không kêu lên lời than trách tại sao Thiên Chúa đã bỏ
Người - một sự kiện được ghi nhận nơi Phúc Âm Máccô
(15,34) và Matthêu (27,46). Và chỉ trong Luca chúng ta mới
gặp thấy sự kiện Đức Giêsu hiện ra với hai môn đệ trên
đường đi Emmau (24,13-35). Đối với Luca, Đức Giêsu là
một vị tuẫn đạo công chính và vô tội, một ngôn sứ đến để
đem Tin Mừng cho những kẻ bị loại trừ.

Phúc Âm Gioan

Chúng ta hãy bắt đầu với các chương 1-3 và chương
9 của Phúc Âm Gioan. Câu hỏi đầu tiên khi bước sang Phúc
Âm Gioan, đó là Phúc Âm này có quan hệ thế nào với các
Phúc Âm nhất lãm. Đa số các học giả đồng ý rằng có lẽ
Gioan đã không biết đến các Phúc Âm nhất lãm trong dạng
văn bản ghi chép, nhưng có lẽ Gioan khá quen thuộc với các
truyền thống truyền khẩu về Đức Giêsu, nhất là các tư liệu
về cuộc khổ nạn của Người - các truyền thống này vốn là
tiền thân của các Phúc Âm nhất lãm. Điều này giải thích
phần nào lý do tại sao Phúc Âm Gioan rất khác biệt so với
các Phúc Âm nhất lãm.

Phúc Âm Gioan có lẽ dựa vào một nguồn ghi chép
chứa nhiều yếu tố mà Gioan gọi là các « dấu chỉ » của Đức
Giêsu (2,11; 4,54; 12,37; 20,30-31). Những dấu chỉ này
nhằm đem lại một niềm tin sơ khởi vào căn tính của Đức
Giêsu trong tư cách là Đấng được Thiên Chúa sai đến (cf.
2,11; 4,54). Nhưng căn tính của Đức Giêsu đã được khai
triển bởi Phúc Âm Gioan để Người không chỉ là Đấng Kitô
và là Con Thiên Chúa, mà Người còn tham dự vào thiên tính
của Thiên Chúa và thậm chí vào công cuộc sáng tạo vũ trụ
trong tư cách là logos của Thiên Chúa, là Ngôi Lời, là
nguyên lý thần linh của trật tự (1,1-5). Căn tính đặc biệt của

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 90

Đức Giêsu được nêu rõ ngay trong chương đầu của Phúc
Âm Gioan. Trong suốt quyển Phúc Âm này, Đức Giêsu còn
tiếp tục bộc lộ thần tính của Người bằng cách sử dụng
những câu tuyên bố theo công thức « Ta là » (ego eimi).
Những tuyên bố « Ta là » này đặc biệt có ý nghĩa bởi vì
thành ngữ « Ta là » là tên mà Thiên Chúa đã dùng để qui
chiếu đến chính bản thân Thiên Chúa trong câu chuyện về
Môsê và bụi gai bốc cháy ở chương 3 sách Xuất Hành.
Thính giả của Gioan, có lẽ là những Kitôhữu gốc Do Thái
cuối thế kỷ thứ nhất, rất ý thức về mối nối kết nói trên.

« Ta là Bánh hằng sống » (6,35.48.51), « Ta là ánh
sáng thế gian » (8,12), « Ta là mục tử tốt lành » (10,11.14),
« Ta là sự sống lại và là sự sống » (11,25; 14,6), « Ta là cây
nho thật » (15,1)! Qua những câu nói như vậy, Đức Giêsu
được Gioan trình bày như là Đấng tự nhìn nhận mình là
chính nguồn sự sống. Và trong 8,58 Đức Giêsu nói: « Trước
khi có Abraham, đã có Ta » - câu nói này rõ ràng cho thấy
sự tiền hữu (pre-existence) của Đức Giêsu. Như vậy, trong
Phúc Âm Gioan, Đức Giêsu là chính sự hiện diện của Thiên
Chúa: « Không ai đến được với Cha mà không qua Thầy »
(14,6); « Ai thấy Thầy là thấy Cha » (14,9).

Trong Phúc Âm Gioan, Đức Giêsu được giới thiệu
như một nhân vật từ trời xuống để đem lại cho người ta sự
sống mới qua cái chết và sự Phục Sinh của Người. Phúc Âm
Gioan trải qua nhiều sự hiệu chỉnh khác nhau bởi một cộng
đoàn Kitôhữu gốc Do Thái đang tranh cãi sôi nổi với giới
lãnh đạo Do Thái giáo (cf. 8,44; 9,22; 16,2).

Các Thư Của Phaolô

Cuối cùng, chúng ta hãy nhìn qua các Thư của
Phaolô, đặc biệt chú ý đến những Thư không gây tranh cãi.

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 91

Hãy bắt đầu với 1 Thêsalônica, Philêmôn, 1 Côrintô 4-7, và

Rôma 1-4; 9-11.

Phao-lô là vị tông đồ thừa sai đã thiết lập các giáo
đoàn khác nhau khắp thế giới Hy La, nhất là ở Hi Lạp
(Côrintô, Philipphê, Thêsalônica) và Tiểu Á (Ephêsô, Galát,
hầu như chính là vùng đất Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay). Phaolô
nói với chúng ta rất ít về chính ngài. Nhưng từ những gì ngài
viết trong Gl 1-2, có thể thấy rõ rằng Phaolô vốn là một kẻ
cuồng nhiệt bắt bớ các Kitôhữu trước khi chính ngài trở
thành Kitôhữu. Phaolô vốn là một thành viên thuộc nhóm
Pharisêu (cf. Pl 3,5) và ngài cho biết rằng ngài đã nhận được
một mạc khải của Đức Giêsu (Gl 1,12; cf. Cv 9). Phaolô hầu
như không liên hệ gì đến sứ vụ công khai của Đức Giêsu.
Đúng hơn, ngài tập trung vào ý nghĩa của cái chết và sự
Phục Sinh của Đức Giêsu, là chính trọng tâm thần học của
ngài (cf. Rm 3,6; 1Cr 15). Với mạc khải nhận được ấy,
Phaolô cảm thấy mình được mời gọi rao giảng Tin Mừng.
Hoạt động truyền giáo của Phaolô được định hướng đặc biệt
nhắm đến dân ngoại (cf. Gl 2,9), và ngài đã gặt hái nhiều
thành công trong việc thiết lập các giáo đoàn, mặc dù không
thiếu những cam go thử thách phải đương đầu. Trong các
Thư của Phaolô, chúng ta nghe một phía của cuộc đối thoại,
tức phía của ngài. Chúng ta phải cố gắng phục chế những
hoàn cảnh đã làm nên động cơ cho các Thư của Phaolô và
xác định điều gì đã xảy ra tại các cộng đoàn mà ngài viết
cho. Các Thư của Phao-lô đề cập đến những vấn đề có tính
thời sự tại những cộng đoàn khác nhau, đặc biệt tại Côrintô

và Galát.

Để có thể nắm hiểu được các Thư của Phaolô, rất cần
biết về sự kết cấu một lá thư. Thư 1 Thêsalônica là một minh
họa rất tốt về thế nào là bố cục một lá thư. Mỗi lá thư bắt
đầu bằng lời chào thăm của người gửi nói với người nhận: «
Chúng tôi là Phaolô, Silvanô và Timôthy, kính gửi Hội

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 92

Thánh Thêsalônica… » (1Tx 1,1). Phần này bao gồm một
lời chào : « Chúc anh em được ân sủng và bình an » (1Tx
1,1). Sau đó là « phần cám ơn » của lá thư, trong đó tác giả
tạ ơn Thiên Chúa cho những người nhận thư (1Tx 1,2-10).
Phần cám ơn thường có thể cung cấp những ám chỉ về các
vấn đề sẽ được đề cập trong lá thư. Sau đó sẽ đến phần chính
của thư (1Tx 2,1-5,11), ở phần này những mối quan tâm
chính yếu của lá thư sẽ được nêu ra. Phần này thường được
tiếp theo sau bởi một « phần khuyến thiện », trong đó tác giả
trao cho người nhận những chỉ bảo về đạo đức mà bức thư
nhắm đến: hãy làm điều này, đừng làm điều kia… 1Tx 5,12-
22 là một minh họa tốt cho phần khuyến thiện này. Cuối
cùng, mỗi thư có một phần kết thúc (cf. 1Tx 5,23-28).

Mỗi bức thư nhắm đến những hoàn cảnh khác nhau
với những vấn đề quan tâm khác nhau. Phaolô cố gắng bàn
luận về những hoàn cảnh phức tạp và đa dạng này từ một
nhận thức chắc chắn của ngài đối với sứ điệp Tin Mừng.
Thư 1Côrinthô cho chúng ta thấy rõ những vấn đề mà
Phaolô gặp phải khi làm việc với một cộng đoàn Kitôhữu
gốc dân ngoại. Ngài yêu cầu các tín hữu ở Côrinthô (những
người đang kinh nghiệm những vấn đề chia rẽ và vô luân)
hãy hiệp nhất trong Đức Kitô (1Cr 1-4) và hãy cư xử trong
ánh sáng của đức tin vào Chúa Kitô, không phải bằng cách
dung dưỡng những kẻ kiện cáo nhau ở tòa đời hay lui tới với
gái điếm (1Cr 5,6). Phao-lô cũng giải đáp các câu hỏi khác
nhau mà họ đã viết cho ngài (1Cr 7,1) – những câu hỏi về
các mối liên hệ hôn nhân (1Cr 7), về việc ăn thịt cúng (1Cr
8,10), về các ân huệ của Thánh Thần (1Cr 12-14), và về sự
đóng góp tài chánh mà Phaolô đang vận động (1Cr 16).

Thư Phaolô gửi các tín hữu Rôma cũng đặc biệt hữu
ích để minh họa ở đây, vì nó trao cho chúng ta nhận thức
đầy đủ nhất về các xác tín thần học của Phaolô. Thư Rôma
được viết cho cộng đoàn Kitôhữu ở Rôma, nơi mà Phaolô

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 93

chưa bao giờ đặt chân đến nhưng rất mong muốn ghé thăm
(cf. Rm 15,14-33). Phaolô biết rằng các Kitôhữu ở Rôma
(những người có gốc là các Kitôhữu Do Thái) đã nghe về
ngài, và những điều mà họ nghe không phải tất cả đều tốt
đẹp. Vì thế Phaolô cố gắng giải tỏa trước những khả năng họ
có thể chống đối ngài trước khi ngài đến, và do đó ngài liên
hệ tới nhận thức của ngài đối với Tin Mừng. Một cách thiết
yếu, Phaolô cố gắng cho thấy rằng mọi người – cả người Do
Thái và dân ngoại – đều phạm tội chống lại Thiên Chúa.
Mặc dù Thiên Chúa có lý khi lên án con người, Thiên Chúa
vẫn sai Con của Ngài đến để đem lại ơn cứu độ cho loài
người. Phaolô tổng lược nhận thức này về Đức Giêsu trong
một bản văn tương đối hàm súc ở Rm 3,21-26.

Đối với Phaolô, Đức Giêsu là một diễn tả về sự trung
thành của Thiên Chúa đối với những lời Ngài đã hứa với It-
ra-en xưa. Một phần trong giao ước của Thiên Chúa bao
gồm việc mở rộng ân phúc của Thiên Chúa ra cho các dân
ngoại mà Thiên Chúa đã thâu họp qua Đức Giêsu. Vấn đề
nằm ở chỗ đa số người Do Thái không tin. Phải chăng điều
đó có nghĩa rằng người Do Thái bị loại ra? Phaolô tuyên bố
trong Rm 11,1 và 11: « Không phải thế! » Người Do Thái
không tin nhưng các dân ngoại thì tin – Phaolô giải thích
như thế nào về cái nghịch lý đó? « Tôi không muốn anh em
chẳng hay biết mầu nhiệm này, đó là một phần dân It-ra-en
đã ra cứng lòng, cho đến khi các dân ngoại gia nhập đông đủ
» (Rm 11,25). Đối với Phaolô, điều đó phần nào có tính mầu
nhiệm. Nhưng Phaolô tin tưởng rằng Thiên Chúa sẽ mở
lượng từ bi của Ngài cho mọi người, như ngài nói với các
Kitôhữu dân ngoại ở Rôma (Rm 11,30-32): « Thật vậy,
trước kia anh em đã không vâng phục Thiên Chúa, nhưng
nay anh em đã được thương xót, vì họ không vâng phục; họ
cũng thế, nay họ không vâng phục Thiên Chúa, vì Người
thương xót anh em, nhưng đó là để chính họ cũng được

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 94

thương xót. Quả thế, Thiên Chúa đã giam hãm mọi người
trong tội không vâng phục, để thương xót mọi người! ».
Trong Rm 11,33-36 Phaolô trở lại với chủ đề mầu nhiệm
Thiên Chúa. Tuy nhiên, điều nổi bật trong những bàn luận
của ngài là một nhận định rất cảm kích. Mặc dù dân ngoại
và dân Do Thái vốn là kẻ thù của nhau (Rm 11,28), mỗi bên
đều được Thiên Chúa cứu độ nhờ bên kia. Thật bất ngờ!
Thiên Chúa đã làm cho người ta gặp thấy ơn cứu độ qua kẻ
thù của họ: dân ngoại qua sự cứng cỏi không tin của người
Do Thái, và dân Do Thái qua thái độ đón nhận đức tin của
dân ngoại. Những lời hứa trong giao ước của Thiên Chúa
nhằm phục vụ thiện ích cho hết mọi người.

KẾT LUẬN

Tới đây chúng ta đã rảo qua nhiều bản văn Tân Ước.
Chúng ta có thể thấy rằng có tồn tại rất nhiều những khác
biệt và ngay cả những căng thẳng được diễn tả trong cái toàn
thể thống nhất của những văn liệu này khi các tác giả cố
gắng phối kết kinh nghiệm và nhận thức của mình về Đức
Giêsu và về mối liên hệ giữa những kinh nghiệm và nhận
thức ấy với các giáo đoàn mà các ngài viết cho. Chúng ta đã
nhấn mạnh đến đặc điểm riêng của các văn liệu khác nhau,
và cùng với nhau chúng diễn tả những sắc dạng khác nhau
của khuôn mặt Đức Giêsu – là chính nhân tố đã làm nên đức
tin và thực hành của các Kitôhữu sơ khai.

CÂU HỎI GIÚP TÌM HIỂU

1. Bạn hãy phác họa tiến trình dẫn đến sự phát triển
của qui điển Tân Ước.

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 95

2. Bạn hãy cho biết lịch sử của các truyền thống làm
nên Tân Ước, và cho biết những công cụ được sử dụng để
khảo sát những tầng khác nhau của truyền thống.

3. Hãy nêu hai đặc điểm riêng của mỗi Sách Phúc

Âm.

4. Đâu là những khía cạnh chủ yếu trong nhận thức
của Phaolô về Tin Mừng?

Chương 4: GIÁO HỘI TRONG
LỊCH SỬ

Herbert J. Ryan S.J.

Ai trong chúng ta chưa từng đứng trước câu hỏi:
"Bạn là ai?" Chúng ta thường trả lời bằng cách nói tên của
mình ra. Song trả lời như vậy thường chỉ khơi thêm nhiều
câu hỏi khác. Tới khi chúng ta đã kết thúc việc trả lời tất cả
những câu hỏi mà người ta đặt ra cho mình về bản thân
mình, thì chúng ta đã có được một đại lược về lịch sử cá
nhân của chúng ta. Lịch sử, đó là một cách thức hữu hiệu để
người ta giải thích căn tính của họ.

Thần học là cố gắng nhận hiểu và diễn dịch kinh
nghiệm đức tin của một cộng đoàn - cộng đoàn Giáo Hội,
bao gồm những con người qui hướng kinh nghiệm đức tin
của mình vào Đức Giêsu Nadarét, Đấng Kitô. Cộng đoàn
này đã tồn tại gần hai ngàn năm nay. Lịch sử Giáo Hội kể
câu chuyện của cộng đoàn đức tin này khi nó cố gắng nhận
hiểu và diễn dịch kinh nghiệm đức tin của nó. Hiểu biết lịch
sử Giáo Hội, đó là một cách hữu hiệu để các Kitôhữu đào
sâu hiểu biết của mình về căn tính của chính mình.

Ngay cả các Kitôhữu sơ khai cũng tham khảo lịch sử
Giáo Hội để hiểu rõ hơn về chính họ. Quyển lịch sử đầu tiên

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 96

của Giáo Hội là Sách Công Vụ Tông Đồ. Sách này được viết
vào gần cuối thế kỷ thứ nhất bởi một Kitôhữu có trình độ
học vấn và xuất thân từ một cộng đoàn có liên hệ mật thiết
với Tông Đồ Phaolô. Các Kitôhữu sơ khai gán nhiều tầm
quan trọng cho sử liệu về nguồn gốc và sự phát triển của
Giáo Hội đến nỗi Sách Công Vụ Tông Đồ được bao gồm
vào trong bộ Tân Ước. Sách Công Vụ Tông Đồ mô tả Giáo
Hội đã bắt đầu như thế nào, các Kitôhữu là ai và họ được kỳ
vọng làm gì.

Kitô Giáo Sơ Khai

Theo Công Vụ Tông Đồ, sau khi chịu khổ nạn thập
giá, Đức Giêsu đã hiện ra với các môn đệ thân tín của Người
và trước khi về trời, Người đã bảo các ông rằng các ông phải
ở lại Giê-ru-sa-lem, tại đấy - trong ít hôm nữa - các ông sẽ
lãnh Phép Rửa bởi Chúa Thánh Thần (Cv 1,5). Điều này đã
xảy ra với các môn đệ vào sáng ngày Lễ Ngũ Tuần. Kết quả
là các môn đệ Đức Giêsu dũng cảm rao giảng đức tin của họ
nơi Người rằng Người là Đấng Mêsia. Phêrô rao giảng công
khai rằng "Chính Đức Giêsu đó, Thiên Chúa đã làm cho
sống lại, về điều này, tất cả chúng tôi xin làm chứng" (Cv
2,32). Sách Công Vụ cho biết có ba ngàn người đón nhận sứ
điệp của Phêrô, lãnh nhận Phép Rửa ngày hôm ấy, và trở
thành những thành viên của cộng đoàn môn đệ Đức Giêsu
(Cv 2,41). Sách Công Vụ cũng cho biết rằng các Kitôhữu
phải làm chứng cho Đức Kitô Phục Sinh và phải rao giảng
sứ điệp ơn cứu độ của Người cho cả những người Do Thái
lẫn dân ngoại.

Tác giả Sách Công Vụ Tông Đồ rất nhạy cảm với vấn
đề mà việc nghiên cứu về lịch sử Giáo Hội gặp phải. Giáo
Hội ở trong lịch sử, và ở trong lịch sử có nghĩa là ở trong
quá trình thay đổi. Giáo Hội là một cộng đoàn đức tin, và

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 97

các thành viên của Giáo Hội là những người sống tại một
thời gian và nơi chốn cụ thể, họ thuộc về thời đại và nền văn
hóa của họ. Khi thời gian trôi qua, văn hóa cũng đổi thay.
Khi Giáo Hội phát triển rộng ra về địa lý, các thành viên mới
đi vào cộng đoàn đức tin sẽ mang vào Giáo Hội các nền văn
hóa đặc thù của họ, những cách nghĩ và cách diễn tả khác
nhau của họ trong ngôn ngữ và nghệ thuật. Sách Công Vụ
Tông Đồ, qua việc ghi lại lịch sử Giáo Hội sơ khai, cho thấy
tính liên tục của Giáo Hội khi Giáo Hội thích nghi với
những thời đại và những nền văn hóa không ngừng thay đổi.
Giáo Hội bắt đầu ở Giuđêa và nhận Giê-ru-sa-lem làm trung
tâm của mình. Các thành viên của Giáo Hội tự coi mình như
những người Do Thái nhìn nhận Đức Giêsu là Đấng Mêsia.
Họ đã đón nhận Thánh Thần để đưa các anh chị em khác về
với con đường cứu độ của Đức Giêsu. Nhiều người trong
giới thẩm quyền tôn giáo Do Thái không chấp nhận Giáo
Hội. Họ bách hại những người nói tiếng Hi Lạp mới trở lại
và được Giáo Hội đưa vào trong Do Thái giáo. Do cuộc
bách hại này, những người mới trở lại đã rời bỏ Giê-ru-sa-
lem và đến định cư ở các thành phố khác trên khắp đế quốc
Rôma, tại những nơi đó, đến lượt họ làm cho nhiều người
khác nữa cũng trở lại như họ (Cv 9,2; 11,19).

Để làm tê liệt Giáo Hội, một số giới lãnh đạo Do Thái
phát động một cuộc bách hại khốc liệt tại Giê-ru-sa-lem vào
khoảng năm 50. Giacôbê, vị lãnh đạo của Giáo Hội Giê-ru-
sa-lem, bị hành quyết. Giáo Hội tan tác khỏi Giê-ru-sa-lem,
các thành viên Giáo Hội đến định cư tại những thị trấn mà
ngày nay là Jordan và Syria; và quyền lãnh đạo Giáo Hội
chuyển sang những người nói tiếng Hi Lạp mới trở lại và
sống ở Antiôkhia, tại đây lần đầu tiên họ được gọi là
Kitôhữu. Từ năm 66 đến 70, những người Do Thái của Đất
Thánh nổi loạn chống lại Hoàng Đế Rôma. Không có mấy
Kitôhữu hỗ trợ cho những người Do Thái trong cuộc nổi

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 98

loạn bất thành này, rốt cục Giê-ru-sa-lem và Đền Thờ bị tàn
phá. Sau cuộc nổi loạn ấy, người Do Thái cắt đứt mọi quan
hệ với các Kitôhữu và các Kitôhữu bắt đầu coi mình là thành
viên của một tôn giáo mới: Kitô giáo!

Bị cắt đứt hẳn khỏi Do Thái giáo, Giáo Hội phải xác
định căn tính của riêng mình. Trong quá trình làm điều này,
Giáo Hội giữ lại rất nhiều yếu tố mà Do Thái giáo trân
trọng; tư tưởng độc thần, chuẩn mực đạo đức được trình bày
trong Thập Giới, Thánh Kinh (nhưng có điều là Thánh Kinh
ở đây bằng tiếng Hi Lạp, Bản Bảy Mươi), tính tách biệt khỏi
đời sống dân sự của Đế Quốc Rôma, và cảm thức cộng đoàn
mạnh mẽ được tổ chức xung quanh những vị lãnh đạo có
trách nhiệm để giúp đỡ những thành viên có đời sống khó
khăn hơn trong cộng đoàn và để tổ chức những cuộc hội
nghị thường xuyên để chỉ bảo cộng đoàn và hướng dẫn cộng
đoàn trong phụng tự. Giáo Hội cũng nêu rõ những khác biệt
giữa mình với Do Thái giáo. Đấng Mêsia đã đến và đó chính
là Đức Giêsu. Ơn cứu độ đến qua Đức Giêsu và qua việc đi
theo con đường của Người. Kitô giáo thay thế các chuẩn
mực tôn giáo của Do Thái giáo. Nhiều bản văn làm nên bộ
Tân Ước, chẳng hạn Sách Công Vụ Tông Đồ, đã có được
hình thức cuối cùng của nó trong thời kỳ này của lịch sử
Giáo Hội.

Cuối thế kỷ thứ nhất, nhiều thành phố của Đế Quốc
Rôma (bao gồm các vùng đất xung quanh Địa Trung Hải) đã
có tồn tại các cộng đoàn Kitôhữu. Các Kitôhữu này thường
là những người buôn bán nhỏ, những thợ đóng giày và
những thợ thủ công. Mỗi thành phố có cộng đoàn Kitôhữu
riêng của mình nhưng xét chung thì các cộng đoàn đều
giống nhau về cơ cấu. Cho tới năm 150, hầu như mỗi cộng
đoàn đều được lãnh đạo bởi một giám mục và được phụ giúp
bởi các trưởng lão và các phó tế trong việc coi sóc đời sống
cộng đoàn. Các Kitôhữu nói tiếng Hi Lạp - là thứ ngôn ngữ

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 99

chung của Đế Quốc Rôma. Mỗi cộng đoàn Kitôhữu tự gọi
mình là một "Hội Thánh", và các Hội Thánh khác nhau vẫn
giữ mối liên kết chặt chẽ (hay hiệp thông) với nhau bằng
cách trao đổi thư từ. Con số các Kitôhữu ở các vùng đô thị
hóa phía đông Đế Quốc Rôma được ghi nhận là đông hơn,
nhưng cộng đoàn Kitôhữu lớn nhất lại ở phía tây, tại thủ đô
Rôma của Đế Quốc, nơi mà cả Phêrô và Phaolô đã chết tuẫn
đạo.

QUI ĐIỂN, KINH TIN KÍNH,
CÁC CÔNG ĐỒNG, VÀ CÁC GIÁO HOÀNG

Trong thế kỷ thứ hai, Giáo Hội đương đầu với ba
cuộc khủng hoảng thách đố căn tính của Giáo Hội; đó là ngộ
đạo thuyết, lạc thuyết Marcion và lạc thuyết Montanô. Giáo
Hội đã thành công trong việc đương đầu với những thách đố
này, nhưng trong quá trình đương đầu ấy, Giáo Hội đã thay
đổi rất nhiều. Cho đến cuối thế kỷ 2 thì Giáo Hội đã có một
phụng vụ bí tích chính thức, một bộ văn liệu có thẩm quyền
mà sau này sẽ được gọi là Tân Ước, và một cơ chế hay Công
Đồng các giám mục để đưa ra các quyết định mục vụ nhanh
chóng nhằm giúp cho đời sống Kitô giáo được đồng nhất
trong những vùng rộng lớn của Giáo Hội.

Ngộ đạo thuyết là một hình thức phổ thông của thần
nghiệm tôn giáo, xem thường thế giới vật chất và chủ trương
rằng tất cả những gì vật chất đều là sản phẩm của một vị
thần dữ. Những người thuộc phái ngộ đạo tự nhận rằng họ
nắm giữ bí quyết giúp con người có thể thoát ra khỏi thế giới
vật chất trở về với vị thần lành vốn thiêng liêng. Giáo Hội
trả lời cho ngộ đạo thuyết bằng cách khẳng định dứt khoát
rằng các Kitôhữu tin vào một Thiên Chúa duy nhất, Đấng
tạo thành trời đất, rằng thế giới vật chất mà Thiên Chúa sáng
tạo vốn tốt đẹp, và rằng Đức Giêsu Đấng trung gian ơn cứu

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 100


Click to View FlipBook Version