The words you are searching are inside this book. To get more targeted content, please make full-text search by clicking here.
Discover the best professional documents and content resources in AnyFlip Document Base.
Search
Published by Huynh Pham, 2021-08-13 00:56:52

DanVaoThanHoc

DanVaoThanHoc

Phần lớn các dữ kiện hiện có cho việc nghiên cứu các
truyền thống bộ tộc đều dựa vào các tư liệu dân tộc học,
thường nằm trong lãnh vực của khoa nhân chủng học.
Nguồn tư liệu chủ yếu của một nền văn hóa bộ tộc nằm ở
các dữ kiện truyền khẩu hơn là các văn liệu ghi chép. Cơ cấu
và bản chất của thế giới được trình bày qua các câu chuyện
kể, bao gồm từ những câu chuyện sáng tạo đầy chi tiết liên
quan đến hai anh em sinh đôi trong các truyền thống của
những người thổ dân Mỹ Châu cho đến rất nhiều những câu
chuyện của người Phi Châu kể lại tại sao Thượng Đế là
Đấng Tạo Hóa không còn cư ngụ giữa loài người nữa.
Những người Ngombe ở Trung Phi kể với nhau rằng
Akongo, Đấng Tạo Hóa ngày xưa sống giữa họ, nhưng ngài
thường khó chịu vì những cãi vã lặt vặt giữa con người với
nhau. Một ngày nọ, xảy ra xung đột trầm trọng và Akongo
bỏ đi, lánh mặt trong rừng, không bao giờ trở lại nữa. Giờ
đây con người - vốn đã từng có thời kinh nghiệm được sự
hiện diện của ngài cách thân mật - không còn có thể nhớ
ngay cả mặt mũi ngài như thế nào nữa. Một câu chuyện khác
được truyền lại tại rất nhiều vùng ở Phi Châu rằng Thượng
Đế chính là bầu trời và rằng bầu trời ngày xưa rất gần mặt
đất, gần đến nỗi người ta có thể đưa tay lên đụng chạm được
trời; người ta có thể nói chuyện với trời và trời trả lời người
ta. Tuy nhiên, một bà lão nọ bỗng trở nên quá chí thú trong
công việc giã gạo. Bà thường dùng một cái chày. Mỗi lần bà
nhấc chày lên để giã xuống một nhịp khác, bà húc đầu chày
đụng vào trời thật mạnh; trời năn nỉ bà thương ngừng tay,
nhưng bà cứ giã liên hồi. Cuối cùng, chịu không nổi nữa,
trời rút lui, và người ta không còn có thể đụng chạm được
trời hay nói chuyện với trời nữa. Trong cả hai trường hợp,
những câu chuyện này là sự nhắc nhở tuyệt vời rằng con
người thường đánh mất cái nhìn toàn diện cuộc sống và mải
mê loay hoay với những ưu tư vặt vãnh trần tục.

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 301

Các nền văn hóa bộ tộc thường được biết đến nhiều
về những thực hành vật tổ (totem, nhận một mối quan hệ
tương ứng với một con vật đặc thù nào đó) và những điều
cấm kỵ (tabu, một hệ thống những cấm kỵ trong hành vi cư
xử), và sự tôn trọng của họ đối với trật tự tự nhiên. Trong
các nền văn hóa cổ sơ của thổ dân Úc và Mỹ Châu, tổ chức
cơ bản của người ta xúm quanh một nhóm người liên hệ với
nhau bởi mối ràng buộc gia đình và bởi sự đồng hóa của họ
cách riêng với một con vật nào đó. Con vật ấy được coi là
vật tổ của nhóm, nó thánh thiêng và không được phép giết.
Hơn nữa, trong tiến trình bước vào tuổi trưởng thành của
một thanh niên, có một mối quan hệ thường được phát triển
với một con vật vốn trở thành thánh thiêng đối với riêng một
cá nhân, hoặc xuyên qua một giấc mơ hay xuyên qua một
nghi thức kéo dài được coi là việc tìm thị kiến (vision quest).
Vào những thời kỳ bất ổn và rối rắm, vật tổ được coi là tác
nhân đem lại sự nâng đỡ và cứu giúp. Trong nghi thức tìm
thị kiến cho một người và trong lều tra khảo (sweat lodge)
theo truyền thống, đương sự chịu một sự thử thách rất gay
go - qua đó đương sự sẽ được thanh luyện và đạt được sức
mạnh.

Trong thời đại phóng thể này, do bởi tình trạng kiệt
quệ của môi trường, các truyền thống bộ tộc của Mỹ Châu
thường giúp đem lại cảm hứng cho chúng ta biết tôn trọng
trái đất, như trích đoạn sau đây từ bài phát biểu của Tù
Trưởng Seattle tại Medicine Creek, Washington, vào năm
1854: "Mỗi tấc đất này đều thiêng thánh trong tâm tưởng
của chúng tôi. Mỗi triền đồi, mỗi thung lũng, mỗi bình
nguyên và mỗi lùm cây, đã trở thành thiêng thánh in dấu ấn
của một biến cố vui buồn nào đó trong suốt giòng lịch sử đã
qua. Từng hạt bụi dưới mỗi bước chân chúng tôi đều thân
thương ... bởi vì mỗi hạt bụi đều đã thấm đẫm máu của tiền
nhân, và mỗi bước đi, khi bàn chân trần của chúng tôi chạm

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 302

mặt đất, nó ý thức được sự đụng chạm thiêng liêng này."58
5F

Tình yêu đối với đất và tính bất khả xâm phạm của đất trong

thế giới quan của những người thổ dân Mỹ Châu được nêu

bật trong tuyên bố sau đây của Smohalla, một thủ lãnh của

Dân Da Đỏ Nez Perce trong thế kỷ trước, người đã phản

kháng lại việc từ bỏ lề lối sinh sống của bản xứ để bắt chước

mẫu thức nông nghiệp của Âu Châu:

Các thanh niên của tôi sẽ không bao giờ làm việc.

Những kẻ làm việc thì không thể mơ, và khôn ngoan thì từ

những giấc mơ mà đến.

Bạn yêu cầu tôi cày xới đất. Chẳng lẽ tôi cắm lưỡi

dao xé toạc lồng ngực mẹ mình sao? Rồi khi tôi chết, mẹ sẽ

không đón nhận tôi vào yên nghỉ trong lòng mẹ.

Bạn bảo tôi đào hầm khai thác đá. Chẳng lẽ tôi khoét

vào trong da thịt mẹ tôi để rút xương? Rồi khi tôi chết, tôi

không thể trở vào lòng mẹ để được tái sinh.

Bạn bảo tôi cắt cỏ, phơi khô, rồi đem bán, để trở nên

giàu như những người da trắng? Nhưng lẽ nào tôi dám cắt

tóc mẹ tôi?

Thật là một thứ luật tồi tệ, và chúng tôi không thể

tuân theo. Tôi muốn những người của tôi ở lại với tôi tại

đây. Mọi người chết rồi sẽ sống lại. Chúng tôi phải đợi ở

đây trong ngôi nhà của cha chúng tôi và sẵn sàng hội ngộ tổ

tiên mình trong lòng đất mẹ .59
65F

Trong cả hai trường hợp, sự kính trọng đối với trái

đất được xây dựng thành nhãn quan tôn giáo của các bộ tộc

thổ dân. Hơn một nửa số thổ dân Mỹ tại đất nước này là

Công Giáo Rôma và, hưởng ứng tinh thần của Công Đồng

58 Vine Deloria, Jr., God is Red (NY: Grosset & Dunlap, 1973) 176.

59 Herbert J. Spindin, "The Nez Perce Indians," Memoirs 2 (The American
Antropological Association, 1908) 150.

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 303

Vatican II, họ đã được khích lệ gìn giữ nhiều nghi lễ và thực
hành truyền thống của họ.

CÁC TÔN GIÁO XUẤT PHÁT TỪ ẤN ĐỘ:
ẤN GIÁO, ĐẠO JAINA VÀ PHẬT GIÁO

Ấn Giáo

Truyền thống Ấn giáo là một hỗn hợp các giáo thuyết
và thực hành đã thành hình tại bán đảo Nam Á kể từ các thời
kỳ đồ đá mới. Lớp địa tầng cổ xưa nhất của khảo cổ học
được tìm thấy trong lòng chảo thung lũng sông Ấn Hà của
Pakistan hiện nay, nơi mà vào năm 1923, Mortimer Wheeler
đã khai quật và tìm thấy hai thành phố, Mohenjorado và
Harapa, có nguồn gốc từ ngàn năm thứ ba trước kỷ nguyên
Kitô giáo. Tại các khu vực này, các chứng cứ về sự thực
hành tôn giáo đã tìm thấy nơi những bức tượng nhỏ của nữ
thần sinh sản, những tranh totem của những con vật được
tôn thờ, những dấu ấn miêu tả các tư thế thiền yoga, và
những huy chương cho thấy trước việc tôn thờ sau này đối
với thần Siva của Ấn giáo. Nền văn minh này, vốn đã hoàn
thành việc xây dựng một trục lộ chính và một cơ sở hạ tầng
cống rãnh, đã liên tục tồn tại trong gần hai ngàn năm trước
khi rơi vào suy tàn do đất bị nhiễm mặn và do việc tưới tiêu
thái quá.

Cú tát cuối cùng giáng trên các thành phố lưu vực Ấn
Hà là sự kiện những người xâm lăng từ hướng đông bắc bắt
đầu tràn xuống khu vực này vào khoảng năm 1500 trước
công nguyên. Họ tự xưng là những người Aryan - hay
Những Người Cao Quí - và các học giả ngày nay gọi họ là
những người Ấn-Âu. Họ đưa tiếng Sankrit vào Nam Á, đây
là một ngôn ngữ giống với tiếng Hi Lạp, La Tinh, và giống

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 304

với các ngôn ngữ Romance và Germanic ngày nay, kể cả

Anh ngữ.

Qua vài trăm năm, những người Aryan đã biên soạn,

ghi nhớ và truyền đạt lại những bài hát hay những bản thánh

ca kể chi tiết các thành tựu của họ và ca tụng chư thần đã

phù hộ họ trong việc thăng tiến đời sống. Bộ sưu tuyển này,

được gọi là Rig Veda, thiết lập nền móng cho kiểu phụng tự

mà Max Muller gọi là đơn nhất thần (henotheism)60. Trong
57F

hệ thống này, nghi thức tôn giáo khởi đầu do con người cần

có một cơ cấu để hoàn thành một mục đích nhất định, được

biểu tượng bởi một đấng thượng đế nào đó. Chẳng hạn, nữ

thần Vac (cùng gốc từ với từ Anh ngữ "voice") được khẩn

cầu qua các hy lễ để xin ơn củng cố sức mạnh của lời nói.

Vào giai đoạn mà người ta cần đến sự giúp đỡ của nữ thần

này, nữ thần này trở thành tiêu điểm nổi bật nhất của lòng

sùng ngưỡng. Rồi vào giai đoạn sau đó, người ta xoay qua

Sarasvati, nữ thần học tập, để xin ơn thành công trong học

vấn. Indra, vị thần võ biền, được khẩn cầu để có sức mạnh

và thành công trong các cuộc chinh phục. Tổng cộng, Vedas

đề cập đến hơn 330 triệu vị thần cả nam lẫn nữ.

Không giống nhiều tôn giáo truyền thống, Ấn giáo

không khẳng định một quan niệm đường thẳng về thời gian;

không có một điểm khởi thủy cố định, cũng không nói về

cánh chung hay điểm cuối cùng. Theo một đặc điểm luận lý

của tư tưởng Ấn Độ cho tới hiện nay, "Kinh Sáng Tạo" của

Rig Veda (10.129) bắt đầu bằng việc phủ nhận khả năng

nhận biết chắc chắn những nguồn gốc thực sự của các sự

vật. Ngay đầu tiên, kinh này tuyên bố rằng "hiện hữu cũng

không mà phi hiện hữu cũng không" và rằng ngay cả "chư

thần cũng đến sau cuộc tạo dựng thế giới này". Tuy nhiên,

60 Henotheism: Đơn nhất thần giáo, loại tôn giáo chọn một thần để thờ, nhưng
không phủ nhận sự tồn tại của tất cả các thần khác. (c.t.c.n.d.)

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 305

kinh này khẳng định rằng dục vọng là mầm chủ yếu từ đó
hiện hữu được bộc lộ ra: dục vọng được kinh nghiệm trong
khoảnh khắc hiện tại thì có tính chất tương đương với cái
dục vọng vọt ra thường hằng, làm ra dòng chảy (rtu) các
thực tại mới. Theo một nghĩa nào đó, Vedas tuyên bố rằng
tiến trình sáng tạo lặp đi lặp lại hoài; mỗi khoảnh khắc đều
là khởi nguyên.

Cùng với các dân tộc của truyền thống Vedas, đã xuất
hiện một cơ cấu xã hội phẩm trật kể từ đó tiến hóa thành
đẳng cấp hay hệ thống varna trong Ấn giáo. Ở vị trí cao nhất
của cơ cấu này, được coi là đầu, là Brahman, tức giới tư tế,
đặc trách việc giáo dục, lễ nghi và y tế. Cấp cao thứ hai là
Ksatriya, giới võ biền, cai quản với sức mạnh của vũ khí.
Một số người thừa nhận rằng nhiều Ksatriyas thật sự là
những nhà cầm quyền bản xứ của những khu vực bên trong
tiểu lục địa này. Hàng thứ ba là Vaisya, giới buôn bán,
tương ứng với cẳng chân của thân thể con người.vận chuyển
hàng hóa từ nơi này đến nơi khác. Đẳng cấp thứ tư, thấp
nhất, được biểu tượng bởi bàn chân, là Sudra, là những
người lao động hay phục dịch, có lẽ ban đầu chỉ những
người bản xứ mới thuộc thành phần này. Bốn đẳng cấp này
hợp tác với nhau, giai cấp Brahman có thế giá cao do trình
độ giáo dục và sự thuần khiết của họ, các giai cấp khác được
đánh giá chủ yếu theo loại công việc mà họ đảm nhận.

Trong vài thế kỷ sau khi hệ thống đẳng cấp được thiết
lập, và khá lâu sau khi kinh cuối cùng của Vedas được biên
soạn, một ý niệm mới được thêm vào: rằng việc người ta đi
vào một gia đình là do bởi những hành động quá khứ của
người ta (sự tích lũy của nghiệp trước đây), và rằng sau khi
chết người ta được tái sinh tùy theo các hành động quá khứ
của mình. Nếu một người có quá khứ đáng khen thưởng,
người ấy sẽ có được một cuộc đầu thai cao cấp hơn; còn nếu
có một quá khứ xấu xa, đương sự sẽ đầu thai ở đẳng cấp

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 306

thấp hơn hay thậm chí có thể trở thành một con vật. Tuy
nhiên, nếu một người sống một đời sống hy sinh từ bỏ, thì
có thể có một khả năng thứ ba, đó là được giải phóng khỏi
vòng luân hồi và đi vào một tình trạng bất diệt của ý thức và
hạnh phúc thuần khiết.

Ý niệm này về giải thoát, hay moksa, được đề cập rõ
ràng lần đầu tiên trong Upanisads, một tuyển tập các bản
văn tôn giáo được thành hình vào khoảng giữa năm 600 và
năm 100 trước công nguyên. Trong những giáo huấn này,
bao gồm những bản văn xuôi mô tả và những mẩu đối thoại
giữa các vị thầy (guru) và các môn đệ, con đường giải phóng
(moksa) được dạy, qua đó người ta có thể được giải thoát
khỏi mọi ràng buộc. Những bản văn như Chandogya và
Maitri Upanisad nhắm phát triển khả năng biện phân sự
khác biệt giữa cái vô thường với cái thường hằng và siêu
việt. Bằng cách vượt thoát khỏi mọi ảo tưởng về bản tính
đích thực của mình, cuối cùng người ta sẽ đạt được Ngã hay
atman, một tình trạng ý thức đã được tinh luyện trong đó
không gì được thấy là khác với mình hay chống lại mình. Ý
thức này được coi là thực tại cao nhất hay Brahman (đừng
lẫn lộn với đẳng cấp tư tế của Ấn giáo), là khả năng thể hiện
cao nhất của con người.

Xuất phát từ cả Vedas và Upanisads, sáu trường phái
tư tưởng khác nhau trổi lên cùng dưới danh nghĩa Ấn giáo.
Trường phái cổ xưa nhất là Vedanta, nghĩa là "cứu cánh của
Vedas". Bản văn gốc gác của trường phái này là
Brahmasutra, một bản văn của Badarayana có nguồn gốc từ
thế kỷ 1 hay 2 trước công nguyên hệ thống hóa sự thảo luận
về thực tại tối hậu như được tìm thấy trong Vedas và
Upanisads. Công trình này được một số người cho là công
trình nghiên cứu thần học hệ thống đầu tiên. Mặc dù bản văn
này bỏ ngõ cho những diễn dịch khác nhau qua lịch sử tư
tưởng Ấn Độ, ý tưởng nòng cốt của Advaita hay trường phái

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 307

vô nhị (non-dual) của Vedanta là rằng mọi dáng vẻ bên
ngoài chỉ là ảo ảnh (maya) và được coi như chỉ là những cơ
duyên cho ký ức về thực tại tối hậu. Đàng khác, trường phái
Samkhya phủ nhận ý niệm về thuyết ảo tưởng và bênh vực
cho sự trau giồi một dạng ý thức (purusa) có tính phi liên kết
và được tinh luyện xuyên qua việc điều tra toàn bộ cách thế
mà thế giới vô thường (prakrti) đi vào trong sự biểu hiện
toàn bộ được đẩy tới bởi những tình trạng chế định và những
dục vọng không được khảo sát. Trường phái thứ ba là Yoga
- cung cấp nhiều kỹ thuật cho sự an định tâm trí và sự phát
triển ý thức. Ba trường phái còn lại là Nyaya, Purva
Mimamsa và Vaisesika, lần lượt liên quan tới luận lý, nghi
lễ và sự giả đoán khoa học.

Giống như nhiều tiến trình phát triển triết học và thần
học khác, các giáo huấn căn bản của các hình thức khác
nhau của Ấn giáo đã được truyền đạt xuyên qua những câu
chuyện sử thi có tính anh hùng ca. Cổ xưa nhất trong số này
là Mahabharata và Ramayana, cả hai được hình thành từ thế
kỷ 6 trước công nguyên. Mahabharata, dài gấp bảy lần Iliad
và Odyssey gộp lại, tường thuật câu chuyện cuộc chiến đấu
giành chủ quyền giữa hai nhóm anh em họ. Bhagavad Gita,
một trong những sách tôn giáo được dịch ra nhiều thứ tiếng
trên thế giới, được bao gồm trong thiên sử thi này và mô tả
việc giáo dục tâm linh của Arjuna, một trong các anh em
chiến binh, người đã đến với thần Krishna để xin lời khuyên
bảo khi chàng bị nản chí vì cuộc chiến đang chờ chực.
Ramayana là thiên sử thi xoay quanh cuộc đời thần Rama,
một vị thần nhập thể đã chinh phục một người vợ đẹp, chiến
đấu thành công chống lại ma quỉ, và cai trị toàn cõi vương
quốc. Các Purana, một thể loại xuất hiện muộn hơn, kể các
cuộc phiêu lưu của vô số thần, trong đó có thần Devi hay
thần Nữ, Vishnu hay thần Bảo Tồn, và Silva hay thần Hủy
Diệt.

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 308

Ấn giáo đã rút ra từ các truyền thống văn chương và
triết học phong phú của nó những ứng dụng tuyệt vời. Có lẽ
một phần được cảm hứng từ tư tưởng độc thần được truyền
bá bởi những người Hồi giáo ở Ấn Độ bắt đầu từ thế kỷ 10,
và chắc chắn cắm rễ trong những truyền thống Vedas, triết
học và anh hùng ca, các làn sóng mộ đạo của Ấn giáo
(bhakti) bắt đầu tràn ngập khắp Ấn Độ kể từ thế kỷ 12 trở về
sau. Được biết đến nhiều nhất gần đây là phong trào Hare
Krishna, mặc dù bên trong chính Ấn Độ thì được biết đến
nhiều hơn có lẽ là các bài hát dâng lên thần Krishna được
hát bởi Mirabai, một phụ nữ từ bỏ của cải và gia đình để dấn
thân thờ phượng thần của mình.

Tiểu lục địa Nam Á, hầu như ngay từ ban đầu, đã
không ngừng mở cửa thênh thang đón nhận Kitô giáo. Theo
nhiều truyền thống cho biết, một cộng đoàn Kitôhữu đã
được Tông đồ Tôma thành lập ở vùng ngày nay là bang
Kerala miền nam Ấn Độ hồi thế kỷ1; cộng đoàn này tiếp tục
phát triển. Những người Bồ Đào Nha đã thiết lập một thuộc
địa buôn bán và làm cho nhiều người ở Goa cải giáo theo
Công Giáo Rôma hồi thế kỷ 15. Trong hơn 300 năm cai trị
về chính trị và kinh tế của Anh, Ấn giáo đã bỏ ngõ cho Kitô
giáo Tin Lành, bao gồm các Giáo Hội như Trưởng Lão, Anh
giáo và những người theo Phổ Quát thuyết (Universalism).
Trong thời kỳ Phục Hưng Ấn giáo vào cuối thế kỷ 19, nổi
bật nhất là tại thành phố Calcutta, phong trào Brahmo Samaj
đã được thành lập bởi Debendranath Tagore, thân sinh của
Rabindranath Tagore, nhà thơ đoạt giải Nobel. Phong trào
này chống lại hệ thống đẳng cấp, vận động cho quyền bình
đẳng của phụ nữ, và tạo điều kiện cho đại chúng rộng rãi dễ
dàng tiếp cận các bản văn thánh. Phong trào cũng giúp đặt
nền móng cho dòng tu Ramakrishna-Vivekananda, một dòng
tu theo đuổi các hoạt động trong lãnh vực giáo dục và y tế

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 309

trên khắp Ấn Độ, và các trung tâm thực hành thiền trên toàn
thế giới.

Ngày nay, hầu như tất cả các yếu tố trong lịch sử Ấn
giáo đều có thể được tìm thấy như trăm hoa đua nở ở Ấn Độ.
Các nghi thức có tính giản lược thuộc truyền thống Vedas
được thực hành mỗi buổi sáng tại đa số các gia đình. Hệ
thống đẳng cấp, dù đã suy yếu đi nhiều, vẫn còn chi phối
đến các thủ tục hôn lễ. Nhà nước khuyến khích việc thuê
mướn những người Ấn giáo thuộc đẳng cấp thấp là một sự
kiện được ghi nhận và đã gây ra sự phản ứng mạnh mẽ.
Mahabharata và Ramayana đã được trình bày theo hình thức
từng kỳ cho các chương trình truyền hình vào mỗi sáng Chủ
Nhật, thu hút sự chú ý của công chúng Ấn Độ trong nhiều
tháng liền. Mặc dù được tổnghợp từ vô số các quan điểm
thần học đôi khi đối kháng nhau, và bao gồm hàng trăm vị
thần khác nhau cho người ta chọn lựa tôn thờ, Ấn giáo vẫn
giữ địa vị trung tâm trong đời sống của hơn nửa tỉ người tại
đất nước đông dân hàng thứ hai trên thế giới này.

Đạo Jaina

Từ các thời kỳ ban sơ nhất của tôn giáo có tổ chức ở
Ấn Độ, một sự căng thẳng đã tồn tại giữa hai thể thức ứng
xử được chuẩn nhận. Một đàng, phương diện ý thức tinh
thuần (brahmanical) của tôn giáo Vedas đòi người ta phải
thực thi bổn phận (hay dharma) của mình trong khuôn khổ
của hệ thống đẳng cấp như là giá trị cao nhất của đời người.
Sự giải phóng phải được tìm kiếm nơi việc rút ra khỏi thế
giới sau khi đã hoàn thành vai trò xã hội của mình, và đó là
khả năng duy nhất để tiếp cận những đẳng cấp cao nhất. Cả
Kinh Bhagavad Gita và thiên sử thi Ramayana đều nhấn
mạnh tính thượng tôn của việc thực thi dharma của mình
như được qui định rõ bởi đẳng cấp. Đối ứng lại, có một

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 310

truyền thống song song đã phát triển ở Ấn Độ, có lẽ bắt
nguồn từ nền văn minh Thung Lũng Ấn Hà cách đây năm
ngàn năm. Truyền thống này, được gọi là Sramanic, bênh
vực cho sự từ bỏ thế giới ở bất cứ tuổi nào và bởi hầu như
bất cứ thành phần đẳng cấp nào - truyền thống này bao gồm
các truyền thống Jaina, Phật giáo và Yoga.

Cổ xưa nhất trong số này là đạo Jaina, xuất hiện từ
thế kỷ 9 trước công nguyên khi vị thầy thứ 23 là
Tirthankara, Parsvanatha, được kể là đã đạt được mục tiêu
giải phóng và đã cổ súy một con đường gồm bốn sự tinh
luyện. Những thực hành này bao gồm phi bạo lực (ahimsa),
thành thật, không trộm cắp, và không chiếm hữu. Vào một
thời kỳ sau đó, Mahavira (599-527 trước công nguyên), vị
thầy thứ 24, đã bổ sung sự tiết dục như sự tinh luyện thứ
năm và đã thiết lập một mạng lưới rộng rãi các hành giả
thuộc cả giới tu sĩ lẫn người thường.

Các giáo huấn chủ chốt của đạo Jaina được tìm thấy
trong Acaranga Sutra, kinh này tuyên bố rằng "mọi hữu thể
đều thích sống, thích khoái lạc và ghét đau đớn, tránh sự hủy
diệt và khát khao sinh tồn. Sự sống rất đáng yêu đối với mọi
hữu thể." Sự sống (jiva) có ý nghĩa đặc biệt trong truyền
thống Jaina. Mọi sự, từ một tảng đá, một giọt nước cho tới
một con người, đều thấm đẫm sự sống. Mỗi hình thái sự
sống, gồm cả núi non, sông hồ, cây cỏ, đều có ý thức, niềm
hoan lạc, và sức mạnh. Các hữu thể có sự sống được phân
loại theo một bậc thang căn cứ vào con số giác quan mà nó
có được. Đất, nước, lửa, không khí, rau cỏ... - những hình
thái đơn giản nhất của sự sống - chỉ có xúc giác. Giun lãi có
cả xúc giác và vị giác. Sâu bọ, chấy rận, kiến có xúc giác, vị
giác và khứu giác. Bướm, ong, ruồi có thêm thị giác nữa.
Rắn được cho là có tất cả các giác quan, trong đó có thính
giác. Các súc vật, các loài chim, cá và loài người thì có sáu

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 311

giác quan - với khả năng suy nghĩ được kể là giác quan thứ
sáu, bên cạnh năm giác quan kia.

Đạo Jaina chủ trương rằng các hữu thể có sự sống
không có khởi đầu nhưng do bởi các dục vọng bất khả
kháng nên các hữu thể này cứ tiếp tục lặp lại chu kỳ sinh
diệt. Trong tiến trình này, karma tích lũy, đạo Jaina mô tả
karma là một thực thể vật chất, một đống nhầy nhụa đủ màu
sắc dính chặt vào lực sống (jiva), gây ra chấp và khổ. Con
người trung bình thì đầy những karma, cái gây ách tắc
không cho con người đạt được bản tính đích thực của mình
là hiểu biết, hạnh phúc và mạnh mẽ vô hạn. Mục đích là giải
thoát chính mình một cách có hệ thống khỏi mọi karma
xuyên qua việc phát thệ tinh luyện, cho phép mình đi vào
một tình trạng giải phóng và ý thức thường hằng, không tiếp
tục vòng luân hồi nữa.

Điều phát thệ thứ nhất và quan trọng nhất mà việc
thực hành đạo Jaina đòi hỏi là phi bạo lực hay ashima, tuân
giữ điều này có nghĩa là giảm bớt sự tích lũy karma. Mọi
chiều kích của tôn giáo và triết học này đều phản ảnh một
mối quan tâm về ashima. Để giữ lời phát thệ này, có hai con
đường thực hành được đưa ra bởi Mahavira: một cho rộng
rãi đại chúng, một cho các tu sĩ. Tất cả các tín đồ Jaina đều
là những người ăn chay, chỉ sống dựa vào các hữu thể chỉ có
một giác quan (rau cỏ) và các sản phẩm từ sữa. Đại chúng
tín đồ chỉ làm những công việc không gây ra bạo lực, chẳng
hạn ngành buôn bán và nghệ thụât. Các tu sĩ cao cấp của
phái Digambara từ chối không mặc bất cứ thứ quần áo nào,
và tất cả mọi tu sĩ đều bị cấm đào đất, tắm rửa, châm lửa,
dập tắt lửa, quạt... để bảo vệ đất, nước, lửa, và không khí.

Các tín đồ Jaina trong suốt lịch sử Ấn Độ đã hô hào
các tín đồ thuộc các tôn giáo khác thực hành phi bạo lực,
thậm chí họ đã thuyết phục hoàng đế Akbar của Mogul
(1556-1605) từ bỏ việc săn bắn. Các tín đồ Jaina thời nay,

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 312

dù chỉ chiếm một thiểu số nhỏ, vẫn tỏ ra rất vượt trội trong
việc buôn bán và cố gắng áp dụng các nguyên tắc không gây
thương tích của họ trong thời hiện đại này.

Phật Giáo

Con đường từ bỏ cũng tìm thấy một hình thức diễn tả
khác trong đời sống và hoạt động của Đức Phật (563-483
trước công nguyên). Ngài sinh ra trong một gia đình võ biền
(Ksatriya) ở miền bắc Ấn Độ, được đặt tên là Siddartha
Gautama, nghĩa là "người đã đạt được mục đích của mình".
Tương truyền rằng lúc Đức Phật chào đời, một nhóm 8 tư tế
Brahman đã tuyên bố rằng sau này lớn lên ngài sẽ trở thành
hoặc là một nhà lãnh đạo vĩ đại của thế giới hoặc là ngài sẽ
từ bỏ thế giới để trở thành một tu sĩ. Thân phụ ngài lao động
vất vả để bảo đảm rằng con trai mình sẽ không có cơ hội dứt
bỏ chuyện đời lại sau lưng và cố tránh cho ngài khỏi mọi sự
thất vọng. Tuy nhiên, vào năm 29 tuổi, người đánh xe ngựa
của ngài đã đưa ngài đi ra khỏi phạm vi quen thuộc của lâu
đài mà gia đình cư ngụ. Ngài lần lượt gặp một ông lão, một
người bệnh, một xác chết và cuối cùng là một người nhà sư
khổ hạnh. Lần đầu tiên đối diện với đau khổ và sự chết, ngài
suy nghĩ rất nhiều; và phương thuốc tôn giáo đã gợi ra cho
ngài ý niệm về sự vượt thoát và về hạnh phúc không bị điều
kiện. Tối hôm đó ngài quyết định theo đuổi con đường của
nhà sư nọ và bỏ lại sau lưng người vợ và đứa con trai đang
say giấc trên giường. Ngài đi lang thang trong sáu năm.
Ngài theo thọ giáo với hai vị thầy nổi tiếng về thiền, và thực
hành khắc khổ đến nỗi suýt chết vì nhịn đói. Cuối cùng, ngài
từ bỏ con đường phủ nhận thân xác mình cách cực đoan,
khôi phục lại sức khỏe và vẻ rạng rỡ trên khuôn mặt. Cuối
cùng, ngài đã vượt qua mọi trở ngại trên con đường giải
thoát xuyên qua một giai đoạn thiền định lâu dài trong đó

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 313

ngài chiến đấu với Mara, hiện thân của sự dữ và sự bám víu
trần tục. Sự kiện này xảy ra dưới gốc cây Bồ Đề ở Bodh
Gaya, một thành phố miền Đông Bắc Ấn Độ đã trở thành
một địa điểm hành hương của các Phật tử trên khắp thế giới.

Sự giác ngộ hay nivarna (niết bàn) của Đức Phật bao
gồm một loạt những trạng thái xuất thần nhập định trong đó
đầu tiên ngài đi vào một tình trạng không còn những ý tưởng
lan man nữa, rồi đến một tình trạng khoan khoái, cuối cùng
ngài trở thành tự do khỏi tất cả những gì đối nghịch, một
tình trạng được đặc trưng bởi sự hoàn toàn ý thức và hoàn
toàn thanh thản. Từ sự thanh thản này, ngài phân định được
rằng các nguyên nhân của đau khổ con người cắm rễ trong
dục vọng và u minh, dẫn tới một căn tính uế tạp, bị ảnh
hưởng bởi nghiệp chướng, bởi cố chấp, bởi lòng tham, bởi
hiện hữu, sinh, lão, tử, và vòng luân hồi... Sau bốn mươi
chín năm suy tư, ngài quyết định chia sẻ sự giác ngộ của
mình với người khác, và tại thị trấn Sarnath, ngay phía bắc
Banaras, ngài đã công khai giảng dạy lần đầu tiên, đặt nền
móng cho Phật giáo. Ở đó ngài giảng dạy về Tứ Diệu Đế:
(1) đời là bể khổ, (2) nguyên nhân của đau khổ là dục vọng,
(3) chấm dứt dục vọng là chấm dứt đau khổ, và (4) sự giải
thoát được tìm thấy xuyên qua Bát Chánh Đạo, tức con
đường trau giồi cho đúng cái nhìn (chánh kiến), ý hướng
(chánh tư duy), lời nói (chánh ngữ), hành động (chánh
nghiệp), lối sống (chánh mệnh), sự nỗ lực (chánh tinh tiến),
sự quan tâm (chánh niệm), sự tập trung (chánh định). Chẳng
bao lâu, ngài qui tụ nhiều đệ tử và giảng dạy trong 45 năm,
truyền bá các giáo huấn của ngài (dharma, Phật pháp) trên
khắp Ấn Độ.

Trong ba trăm năm sau khi Đức Phật qua đời, các bài
giảng của ngài đã được bảo tồn và truyền bá nguyên vẹn
bằng truyền khẩu. Cuối cùng, các bài giảng ấy được ghi
chép ra bằng tiếng Pali (có liên hệ gần gũi với tiếng Phạn)

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 314

và được thêm vào bởi những bản văn bổ sung. Vào năm 230
trước công nguyên, Asoka, vị hoàng đế thứ ba của triều đại
Maurya ở Ấn Độ, đã theo đạo Phật và truyền bá tôn giáo này
trên khắp đế quốc của mình, khắc các giáo huấn của đạo
Phật lên các tảng đá và các cột đền mà ngày nay vẫn còn
được trông thấy trên khắp đất nước này. Khoảng thế kỷ 1
trước công nguyên, các nhà truyền bá Phật giáo đã tới Trung
Hoa. Đồng thời, những bản văn mới của Phật giáo được biên
soạn ở Bắc Ấn Độ theo chiều hướng không nhấn mạnh việc
tìm kiếm sự giác ngộ cá nhân và cổ võ việc đồng cảm với tất
cả chúng sanh.

Hình thức mới này của Phật giáo, bắt rễ ở Trung Hoa,
Nhật Bản, Triều Tiên, và Tây Tạng, được gọi là Mahayana
hay Đại Thừa. Hình thức cổ xưa hơn của đạo Phật, được gọi
là Theravada hay Con Đường của các Lão Trượng, duy trì
sự hiện diện của nó ở Sri Lanka và Đông Nam Á. Cả hai
trường phái đều nhấn mạnh sự trau giồi nhân đức và tuân
giữ các luật tu hành nghiêm ngặt. Khoảng thế kỷ 12, Phật
giáo biến mất khỏi Ấn Độ, với một số giáo huấn then chốt
của nó được hấp thụ bởi các hình thức tổng hợp hổ lốn của
Aán giáo; các tu viện, thư viện của nó thì bị tàn phá bởi
những người Hồi giáo xâm lăng. Ngày nay, Phật giáo đã lan
tràn ra khỏi chiếc nôi Á Châu, với vô số giáo phái trên khắp
thế giới chuyên về thiền định Zen, tụng kinh Nichiren, và
thực hành Tantric Tây Tạng.

CÁC TÔN GIÁO XUẤT PHÁT TỪ TRUNG HOA:
KHỔNG GIÁO VÀ LÃO GIÁO

Khi Phật giáo lan tràn vào Trung Hoa, nó gặp một
nền văn minh cổ xưa chú trọng đến việc đạt được sự hòa
điệu và quân bình. Mặc dù một số giáo huấn được thấy là
tương hợp với thái độ từ bỏ sự ràng buộc trần tục của Phật

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 315

giáo, song các khía cạnh khác của xã hội Trung Hoa lại trực

tiếp đối ngược với khuynh hướng tu trì và thoát tục của Phật

giáo, nhất là sự kiện Khổng giáo đề cao gia đình và cộng

đồng. Vì thế, mặc dù Phật giáo vẫn giữ một căn tính khác

biệt trên đất Trung Hoa, nó đã tương tác với các truyền

thống bản xứ và được sửa đổi bởi các truyền thống này. Phật

giáo thường ở trong thế xung khắc với Khổng giáo và hòa

hợp với các ý niệm của Lão giáo, đây là hai trường phái triết

học và tôn giáo của nền văn minh kỳ cựu này.

Những tranh chấp không ngừng diễn ra tại Trung Hoa

trong suốt lịch sử của đất nước này bộc lộ rõ rệt trong bài

thơ khóc than về chiến tranh sau đây của Đỗ Phủ, một thi sĩ

của thế kỷ 8 sau công nguyên. Ông viết về việc lên đường đi

chinh chiến trong một cuộc chiến tranh tràn lan cơ hồ vô

phương kết thúc:

Ngay tại kinh đô cũng chẳng có yên bình. Thân già

này cũng không được nghỉ ngơi. Tất cả các con cháu tôi đã

ngã gục trong khỏi lửa chiến trường. Có nghĩa gì việc tôi

tiếp tục sống một mình tôi? Vất gậy, quay lưng, tôi bước ra

đường. Những người lính trên đường hành quân nhìn tôi xót

xa.

Khắp cả đất trời chìm trong binh đao. Khói lửa phủ

ngập mọi núi đồi. Những xác chết bỏ lại trong rừng đang

thối rữa, máu xương tung tóe khắp nơi. Không làng xóm nào

bình yên. Tôi phải đi thôi, không lần lữa. Vĩnh biệt túp lều

tranh đã bao năm đời tôi nương náu. Tôi nghe trong lòng

mình tất cả nát tan61.
F85

Từ rất xa xưa, nền văn minh Trung Hoa đã được đặc

trưng bởi một dân số khổng lồ vốn không ngừng đòi hỏi

61 Dịch ý một bài thơ của Đỗ Phủ.

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 316

phải mở rộng lãnh thổ, điều này đưa đến những sự lên ngôi
và sụp đổ của các triều đại nối tiếp nhau - thường liên can
tới những cuộc chinh phạt các nước lân bang.

Để làm đối trọng cho các xu hướng bạo lực, các thực
hành triết học và tôn giáo đã xuất hiện ở Trung Hoa để đề
cao sự hòa điệu với chính mình, với gia đình và làng xã, và
giữa các nhóm người với nhau. Khổng Tử (551-479 trước
công nguyên) đã kêu gọi người ta giữ đạo nhân và lễ, và đã
thiết lập một kỷ cương chặt chẽ trong đó con cái phục tùng
cha mẹ, em phục tùng anh chị, vợ phục tùng chồng, viên
chức cấp dưới phục tùng thượng cấp ở trên. Trong sách Đại
Học, Khổng Tử viết:

Vật hữu bổn, mạt; sự hữu chung, thủy. Tri sở tiên,
hậu, tắc cận đạo hỹ.

Cổ chi dục minh minh đức ư thiên hạ giả, tiên trị kỳ
quốc. Dục trị kỳ quốc giả, tiên tề kỳ gia. Dục tề kỳ gia giả,
tiên tu kỳ thân. Dục tu kỳ thân giả, tiên chính kỳ tâm. Dục
chính kỳ tâm giả, tiên thành kỳ ý. Dục thành kỳ ý giả, tiên trí
kỳ tri. Trí tri tại cách vật.

Vật cách, nhi hậu tri chí. Tri chí, nhi hậu ý thành. Ý
thành, nhi hậu tâm chính. Tâm chính, nhi hậu thân tu. Thân
tu, nhi hậu gia tề. Gia tề, nhi hậu quốc trị. Quốc trị, nhi hậu
thiên hạ bình.

Dịch nghĩa: Mỗi vật đều có gốc, ngọn; mỗi việc đều
có đầu, đuôi. Ai biết thi hành cho có thứ tự, phân biệt được
việc nào trước, việc nào sau, thì người ấy gần với đạo, tức là
mức trọn lành vậy.

Những vị vua thánh thuở xưa muốn làm cho cái đức
tánh mình tỏ sáng ra trong thiên hạ, trước phải lo sửa trị
nước mình, uốn sửa trị nước mình, trước phải sắp đặt nhà
cửa cho chỉnh tề. Muốn sắp đặt nhà cửa cho chỉnh tề, trước
phải tu tập lấy mình. Muốn tu tập lấy mình, trước phải giữ
lòng dạ mình cho ngay thẳng. Muốn giữ lòng dạ mình cho

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 317

ngay thẳng, trước làm cho cái ý mình thành thật. Muốn làm

cho cái ý mình thành thật, trước phải có cái trí tức chu đáo.

Muốn có cái trí thức chu đáo, ắt phải nghiên cứu sự vật.

Khi đã nghiên cứu sự vật, cái trí thức mới được chu

đáo. Cái trí thức đã được chu đáo, cái ý mình mới thành thật.

Cái ý mình đã thành thật, lòng dạ mình mới ngay thẳng.

Lòng dạ mình đã ngay thẳng, mới tu tập lấy mình được. Đã

tu tập lấy mình được, thì mới sắp đặt nhà cửa cho chỉnh tề.

Nhà cửa đã sắp đặt cho chỉnh tề, thì nước mới sửa trị được.

Nước đã sửa trị, thiên hạ mới bình an62.
5F9

Trong hệ thống Khổng giáo, việc tu thân là chìa khóa

của hòa điệu, đó là một tiến trình đòi hỏi phải có sự tập

trung và nỗ lực. Mỗi người được kỳ vọng chu toàn bổn phận

mình để duy trì và củng cố trật tự xã hội.

Lão Tử, người mà một số học giả cho là sống gần

như đồng thời với Khổng Tử, đã đề ra một con đường khác

để đạt được sự quân bình và hòa điệu - gọi là Lão giáo hay

Đạo giáo. Thay vì phấn đấu để trở nên đạo đức, Lão Tử kêu

gọi người ta đừng làm chi cả (vô vi), cứ để mặc mọi sự đi

con đường của chúng. Trong một tuyển tập gọi là Đạo Đức

Kinh, ông dùng nhiều hình ảnh khác nhau để chuyển tải giáo

huấn của ông về con đường bất can thiệp, trong đó có những

qui chiếu đến các hình ảnh như Huyền Tẫn (Mẹ nhiệm

mầu), nước, thung lũng, đứa trẻ, và khối gỗ chưa đẽo. Đối

với Lão Tử, nhu cuối cùng sẽ thắng cương. Đoạn văn sau

đây minh họa tính tinh tế của Đạo giáo và sự đề kháng của

nó đối với lối suy nghĩ dễ dãi, nhị nguyên:

Thiên hạ giai tri nữ chi vi mỹ, tư ác dĩ; giai tri thiện

chi vi thiện, tư bất thiện dĩ.

62 Đoàn Trung Còn, Tứ Thơ Đại Học Trung Dung, NXB. Thuận Hóa, 1996, tr.
6-7. (c.t.c.n.d.)

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 318

Cố hữu vô tương sinh, nan dị tương thành, trường

đoản tương hình, cao hạ tương khuynh, âm thanh tương hòa,

tiền hậu tương tùy.

Thị dĩ thánh nhân xử vô vi chi sự, hành bất ngôn chi

giáo; vạn vật tác yên nhi bất từ, sinh nhi bất hữu, vi nhi bất

thị, công thành nhi bất cư. Phù duy bất cư, thị dĩ bất khứ.

Dịch nghĩa: Ai cũng cho cái đẹp là đẹp, do đó mà

phát sinh ra quan niệm về cái xấu; ai cũng cho điều thiện là

thiện, do đó mà phát sinh ra quan niệm về cái ác. Là vì "có"

và "không" sinh lẫn nhau; dễ và khó tạo nên lẫn nhau; ngắn

và dài làm rõ lẫn nhau; cao và thấp dựa vào nhau; âm và

thanh hòa lẫn nhau; trước và sau theo nhau.

Cho nên thánh nhân xử sự theo thái độ "vô vi", dùng

thuật "không nói" mà dạy dỗ, để cho vạn vật tự nhiên sinh

trưởng mà không can thiệp vào", khéo nuôi dưỡng vạn vật

mà không chiếm làm của mình, làm mà không cậy khéo,

việc thành mà không quan tâm tới. Vì không quan tâm tới

nên sự nghiệp mới còn hoài63.
60F

Trong cả hai truyền thống Khổng và Lão, điểm nhắm

là đi vào Đạo, một tình trạng hòa điệu mà theo Khổng Tử

người ta chỉ có thể đạt được xuyên qua khuôn phép khắt

khe; còn theo Lão Tử thì Đạo luôn luôn có mặt, dù người ta

thường bỏ qua không dùng nó do bởi những nỗ lực của họ.

Khi một người, bằng cách nào đó, giữ được sự hòa điệu, thì

người ấy trở thành một người quân tử, đáng kính và nên

gương mẫu cho kẻ khác.

KẾT LUẬN

63 Nguyễn Hiến Lê, Lão Tử Đạo Đức Kinh, NXB. Thuận Hóa,1994, tr. 165-
166. (c.t.c.n.d.)

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 319

Trong các phần trên chúng ta đã tìm hiểu nhiều con
đường khác nhau vốn đã được dùng trong lịch sử nhân loại
trên khắp mặt đất này để trả lời cho những câu hỏi nền tảng
mà con người đối diện trong cuộc sống mình. Mỗi trong các
con đường ấy nói với chúng ta bằng cách thế riêng của nó.
Từ nhãn giới pháp thuật, phần đông người ta có thể đồng
cảm với mối tương quan đầy ý nghĩa giữa con người và súc
vật, nhất là những ai có nuôi vật nuôi trong nhà. Con người
có xu hướng tìm thỏa mãn các dục vọng của mình, sự cảnh
giác ấy của truyền thống Vedas xem ra cũng là lời kêu gọi
cho hết mọi người, cũng như Upanisads thúc đẩy người ta từ
bỏ những sự phù du và tìm kiếm bản ngã đích thực của
mình. Định nghĩa của đạo Jaina về sự sống, dù khác xa với
định nghĩa được ghi nhận bên phương Tây, vẫn thách đố
chúng ta kiểm tra kỹ hơn tác động và các hệ quả của hành
động chúng ta trong đời sống hằng ngày đối với các hình
thái khác của sự sống. Sự nhấn mạnh của Phật giáo về bản
tính vô thường của vạn vật sẽ giúp nhắc nhở mọi người
đừng tìm kiếm những gì tuyệt đối trong thế giới biến dịch
này. Tính khuôn thước của Khổng giáo rõ ràng là một cái gì
không thể phủ nhận được, nhất là đối với những xã hội đầy
biến động và bất ổn. Còn sự từ bỏ tham vọng và từ bỏ tinh
thần qui ngã của Lão giáo dường như là phương thuốc rất
tốt, cách riêng đối với những ai mê mải đắm chìm trong hoạt
động, trong bon chen tích trữ.

Khi so sánh các tôn giáo của Á Châu với nhau và với
truyền thống tiên tri của các tôn giáo Do Thái-Kitô-Hồi giáo,
người ta dễ bị cám dỗ thiết lập một lý thuyết để giải thích cả
những điểm dị biệt và những điểm tương đồng. Các nhà thần
học của những năm gần đây đã nêu ra nhiều quan điểm khác
nhau: mọi tôn giáo đều tương đối (Troeltsch), mọi tôn giáo
đều chủ yếu giống như nhau (Toynbee), mọi tôn giáo đều
chia sẻ cùng một nguồn gốc siêu linh (Jung), Kitô giáo là tôn

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 320

giáo duy nhất đích thực (Barth), vẫn có mạc khải trong các
tôn giáo ngoài Kitô giáo, nhưng ơn cứu độ thì chỉ có trong
Kitô giáo mà thôi (Tillich), mọi tôn giáo đều là những con
đường cứu độ (Rahner).

Dù mỗi cách tiếp cận trên đây đều có một công trạng
nào đó, xem ra vẫn có một khuynh hướng cào bằng tất cả
các tôn giáo. Mỗi truyền thống đều đã xuất hiện trong một
giai đoạn nhất định của lịch sử, tại một nơi chốn nhất định
và trong một ngôn ngữ nhất định. Tính nhất quán của mỗi
truyền thống là điều đáng trân trọng: nếu chúng ta giảm trừ
đời sống và cái hồn trong lối sống của một dân tộc đến chỉ
còn là vài câu tuyên bố mô tả, thì đó là chúng ta đang xúc
phạm thô bạo đến tình cảm, tư tưởng và các công trình dày
công vun đắp mà chúng ta được kế thừa. Công Đồng
Vatican II cho rằng trong mỗi tôn giáo đều có chứa một tia
sáng, và chúng ta đừng quên rằng mỗi tia sáng có một sắc
màu riêng của nó.

Để kết thúc, tôi muốn đề nghị một phương pháp luận
để tiếp cận các truyền thống tôn giáo khác nhau theo một
cách thế vừa tôn trọng tính độc đáo của chúng vừa cố gắng
nhận ra bức phông chung đằng sau tiến trình tìm kiếm của
mỗi tôn giáo. Mọi truyền thống hầu như - cách này hay cách
khác - đều quan tâm tới cái mà Eliade gọi là "thánh thiêng"
và Otto gọi là "thánh thiện". Đa số các truyền thống đều có
chứa một hình dung về siêu việt, trong đó mục đích của việc
thực hành theo truyền thống ấy là để tiến lên, hướng thượng,
bỏ lại phía sau những gì hạ đẳng. Chẳng hạn, Ấn giáo
Vadantic tuyên bố rằng mọi sự trên thế giới này (hạ đẳng)
đều là maya hay ảo tướng. Con đường tôn giáo là phải tiến
lên trên maya để đạt tới ý thức tinh thuần hay Brahman. Các
tín đồ đạo Jaina cố gắng vượt lên trên các ràng buộc của
karma, để cuối cùng đạt tới chóp đỉnh của sự thuần khiết và
siêu thoát hoàn toàn. Đối với Phật giáo, thế giới của samsara

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 321

hay cái vòng luân hồi hóa kiếp bất tuyệt do bởi u minh sẽ
được vượt qua bằng cách chấm dứt dục vọng, dẫn tới
nivarna (Niết Bàn). Trong truyền thống Khổng giáo, con
người phải bảo đảm sự quân bình giữa thiên và địa. Đối với
Lão giáo, "đạo" được tìm thấy trong sự quân bình giữa
thượng và hạ, giữa âm và dương. Trong Do Thái giáo, giao
ước, mối kết nối giữa con người với Thiên Chúa trên cao,
được thể hiện trong đời sống hằng ngày của người giữ đạo.
Trong truyền thống Kitô giáo, đời sống đạo được thiết lập
bởi việc người ta nhìn nhận Thiên Chúa là Cha và là Đấng
siêu việt, đồng thời sống mối dây huynh đệ và tha nhân dưới
đất này. Đối với Hồi giáo, việc thường xuyên nhớ đến Thiên
Chúa giúp người ta tránh những ưu tư trần tục và hướng đến
nhận thức trọn vẹn rằng "chỉ có một Thiên Chúa".

Đặt các quan điểm khác nhau bên cạnh nhau mà
không cố gắng đưa ra một diễn dịch có tính bao quát theo
hướng đơn giản hóa, đó là người ta đang đi vào tiến trình đối
thoại liên tôn, một cố gắng nhận hiểu và học hỏi từ các
truyền thống khác với truyền thống của chính mình. Trong
cuộc đối thoại đích thực, không cần thiết phải cào bằng các
ý niệm tôn giáo. Nói rằng một tín đồ Ấn giáo phụng thờ
Thiên Chúa sẽ là không chính xác; nói tương tự như vậy về
một Phật tử hay một tín đồ Jaina cũng không đúng. Tuy
nhiên, có thể khảo sát một số điểm tương đồng trong tiến
trình tôn giáo và cái chung cuộc của thực hành tôn giáo bằng
một cách có thể bồi bổ cả cho chính mình lẫn cho truyền
thống đang được mình tìm hiểu.

Công cuộc tìm kiếm chân lý của các niềm tin khác
nhau là một tiến trình làm phong phú cả nhận thức của
chúng ta về bản thân mình lẫn nhận thức của chúng ta về các
con đường của người khác. Khi thế giới của chúng ta ngày
càng trở nên có tính đa văn hóa hơn, có lẽ để nhân loại có
thể sống còn được thì những người thuộc các niềm tin khác

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 322

nhau phải học hỏi về các niềm tin, các truyền thống, các
hành trình lịch sử của nhau. Sự hiểu biết giữa các tôn giáo
có thể đóng góp rất nhiều cho một trật tự thế giới bao dung
hơn và hòa bình hơn. Bằng cách học hỏi một điều gì đó từ
các chân lý trong các truyền thống tôn giáo khác, các
Kitôhữu có thể trau giồi một sự hiểu biết và tôn trọng các
nền văn hóa ngoài Kitô giáo.

Hơn nữa, khi Giáo Hội Kitô giáo tiến vào thế kỷ 21,
sẽ càng có nhiều thành phần trong Giáo Hội cho rằng các
gốc rễ của mình không phải là các chân lý rút ra từ những
nền văn hóa Hi Lạp và Do Thái, nhưng thực sự sẽ được cắm
rễ trong các truyền thống bộ tộc, các phong cách suy nghĩ và
hành động của Á Châu. Vì thế, Kitô giáo của tương lai tự
bản chất sẽ phản ảnh một tiến trình hội nhập văn hóa rộng
rãi trong đó chân lý của Tin Mừng sẽ được nâng đỡ và trở
thành phong phú hơn nhờ những tinh túy khôn ngoan kết
tinh qua bao ngàn năm tại những lục địa vạn dặm cách xa
khu vực Địa Trung Hải là chiếc nôi của Kitô giáo.

CÂU HỎI GIÚP TÌM HIỂU

1. Các văn kiện của Công Đồng Vatican II cho thấy
Giáo Hội Công Giáo Rôma nhìn các truyền thống tôn giáo
ngoài Kitô giáo bằng nhãn quan nào?

2. Các dân bản xứ Mỹ Châu tôn trọng và gìn giữ đất
của họ như thế nào?

3. Ấn giáo đã phản ứng thế nào trước sự kiện các tư
tưởng và các dân không ngừng tràn ngập vào tiểu lục địa
Nam Á?

4. Giữa đạo Jaina và đạo Phật có những điểm tương
đồng nào?

5. Hãy cho biết hai trường phái tư tưởng xuất hiện ở
Trung Hoa cổ xưa như một phản ứng đối với các cuộc xung

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 323

đột triền miên giữa con người với con người? Hai trường
phái ấy giống và khác nhau thế nào?

Lễ Thánh Giuse, Bạn Đức Trinh Nữ Maria - 2002
Lm. Lê Công Đức
dịch từ nguyên bản tiếng Anh
The College Student's Introduction to Theology
do Thomas P. Rausch, S.J. biên tập
The Liturgical Press / St.Pauls xuất bản, 1996

Chương 12: BÀI CHÚ GIẢI TỪ
VỰNG

- ÂN SỦNG: (grace), Ân sủng tối thượng là đời sống
yêu thương thâm sâu của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa
Thánh Thần. Trong mối tương quan giữa Thiên Chúa và con
người, ân sủng qui chiếu đến bản chất vô điều kiện, tự do và
nhưng không của tình yêu Thiên Chúa cũng như của ảnh
hưởng của Thiên Chúa trên con người qua việc chấp nhận
món quà tình yêu của Thiên Chúa và thái độ trung thành với
tình yêu ấy.

- CÔNG ĐỒNG THUYẾT: (conciliarism), một lý
thuyết thần học khẳng định rằng thẩm quyền cao nhất trong
Giáo Hội Kitô giáo là một công đồng chung. Lý thuyết này
rất thịnh hành trong giai đọan Đại Ly Giáo Tây phương
(1378-1417) và công thức cổ điển của nó xuất hiện trong sắc
lệnh Haec sancta của Công Đồng Constance (1415).

- CÔNG ĐỒNG: (council), một cuộc họp chính thức
của các giám mục và các đại diện của các giáo hội địa
phương được triệu tập nhằm mục đích chỉnh lý giáo thuyết
hay kỷ luật.

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 324

- CỨU ĐỘ LUẬN: (soteriology), ngành thần học
nghiên cứu ý nghĩa của việc nói rằng Đức Giêsu đem ơn cứu
độ hay ơn cứu chuộc cho con người và cho thế giới, và đem
lại sự hòa giải giữa con người và Thiên Chúa.

- ĐẠI KẾT: (ecumenism), một phong trào tìm cách
đưa các Giáo Hội Kitô giáo khác nhau về hiệp nhất.

- DHARMA: Bổn phận của người ta đối với xã hội;
sự chu toàn các nhiệm vụ theo đẳng cấp xã hội.

- ĐỨC TIN: (faith), sự chấp nhận tự do của con
người đối với sự tự biểu lộ của Thiên Chúa. Trong đức tin
Kitô giáo, điều này liên quan đến một sự chấp nhận và gắn
bó hoàn toàn với sự bày tỏ tình yêu của chính Thiên Chúa
như được mạc khải nơi Đức Giêsu Kitô trong Giáo Hội xét
như một cộng đoàn đức tin.

- ĐƯỜNG LỐI MỤC VỤ: (pastoral policy), một kế
hoạch gồm các biện pháp thực tiễn được thi hành để bồi
dưỡng và đào sâu sự sống của một cộng đoàn Kitôhữu.

- GIÁM MỤC: (bishop), từ này là một từ Anglo-
Saxon do chuyển âm sai từ Latinh episcopus, có gốc ở từ Hi
Lạp episkopos, nghĩa là "người giám sát". Một giám mục là
một người được truyền cho chức vụ cao nhất của sứ vụ trong
Giáo Hội. Giám mục Rôma thường được gọi là "giáo hoàng"
(pope), một tước hiệu có gốc ở từ Hi Lạp papas, và từ Latinh
papa, nghĩa là "cha".

- GIÁO THUYẾT: (doctrine), một giáo huấn chính
thức của Giáo Hội.

- KHỔ HẠNH: (asceticism), do chữ askesis của Hy
ngữ nhằm nói đến bất cứ công việc khổ chế nào liên quan
đến sự rèn luyện luân lý và thể lý của cá nhân người ta; qui
chiếu đến nỗ lực của con người nhằm cởi mở đón nhận ân
sủng của Thiên Chúa; thường có ý chỉ đặc biệt đến kỷ luật
bản thân, sự hành xác và sự từ bỏ.

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 325

- KITÔ HỌC: (christology), ngành thần học khơi lên
và trả lời câu hỏi: "Đức Giêsu là ai?" Ngành này nghiên cứu
"biến cố Đức Kitô", con người Giêsu, sứ vụ của Người, cuộc
Phục Sinh của Người. Một "thượng" Kitô học nhấn mạnh
đến thần tính của Đức Giêsu, một "hạ" Kitô học nhìn Người
qua nhân tính của Người.

- LECTIO DIVINA: Một thực hành truyền thống,
đặc biệt phổ biến trong các tu viện Trung cổ, bao gồm một
bài đọc Thánh Kinh cách năng động để khắc ghi bản văn
thánh ấy trong cả thân xác lẫn linh hồn. Các tu sĩ thường
phải đọc bản văn lớn tiếng, hay ít nhất là đọc ra tiếng, sao
cho đôi môi cử động và tai mình nghe được. Kinh Thần Vụ
là một hình thức ưu việt của Lectio divina, được coi như là
một hình thức suy niệm.

- LƯƠNG TÂM: (conscience), trước hết, lương tâm
là phương tiện qua đó chúng ta biết các nguyên tắc đệ nhất
của luân lý, đó là luật được viết trong lòng mỗi người.
Nguyên tắc thứ nhất của luân lý là "làm lành lánh dữ" Thứ
hai, lương tâm nhằm chỉ toàn bộ tiến trình phân tích và suy
tư trước khi thực hiện hành động phán đoán, đôi khi được
gọi là khoa học luân lý (moral science). Thứ ba, theo nghĩa
hẹp nhất, lương tâm có ý chỉ đến chính hành động phán
đoán. "Hãy làm điều này, hãy tránh điều kia!" Một cách
chuyên biệt hơn, lương tâm được định nghĩa là hành động
phán đoán về sự đúng sai của những việc đã được làm hay
phải được làm.

- LUÂN LÝ TÍNH KITÔ GIÁO: (Christian

morality), đạo đức Kitô giáo qui chiếu đến các niềm tin và
các thực hành của các Kitôhữu về điều gì tốt, đìều gì xấu, và
điều gì đúng, điều gì sai trong cuộc sống hằng ngày của

mình.

- LY GIÁO: (schism), thuật ngữ có gốc ở từ Hi Lạp
schisma, nghĩa là "xé ra". Trong thần học Kitô giáo, schism

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 326

là một sự phân rẽ trong cộng đoàn Kitô giáo do những vấn
đề kỷ luật Giáo Hội hơn là do giáo lý.

- MAHABHARATA: một sử thi Ấn Độ.
- MAHAYANA: Phái "Đại Thừa" của Phật giáo,
được phát triển về sau này, ngày nay được thực hành chủ
yếu ở Đông Á.
- MẠC KHẢI: (revelation), việc Thiên Chúa tự biểu
lộ trong lịch sử xuyên qua các tạo vật, các biến cố và những
con người. Xét chủ yếu, mạc khải là việc Thiên Chúa biểu lộ
tình yêu của Ngài. Trong đức tin Kitô giáo, việc tự biểu lộ
này của Thiên Chúa được nhận biết qua các Sách Thánh,
Giáo Hội, và những biểu tượng cụ thể của đức tin.
- MOSKA: Sự giải phóng tâm linh.
- NHÂN: (ren), tấm lòng con người, chìa khóa cho
khuôn phép đạo Khổng.
- PHI BẠO LỰC: (ahisma), được thực hành bởi các
tín đồ Jaina, Ấn giáo và Phật giáo.
- PHÓ TẾ: từ Hi Lạp diakonos, có nghĩa là "đầy tớ,
người phục vụ". Diakonos (La Tinh: minister) được dùng để
chỉ những người thi hành các vai trò phục vụ hay sứ vụ
(diakonia) trong Giáo Hội. Chức vụ chuyên biệt của phó tế
được phát triển về sau.
- PHỤNG VỤ BÍ TÍCH: (sacrament liturgy), những
lời nói của con người và hành vi nghi thức có tính biểu
tượng kèm theo, được dâng lên Thiên Chúa để thờ phượng.
- RIG VEDA: Bản văn cổ xưa nhất của truyền thống
Aán giáo, được biên soạn bằng tiếng Sanskrit.
- SỰ CHỌN LỰA NỀN TẢNG: (fundamental
option), hành vi tự do cơ bản của đức tin, nhằm quyết tâm đi
vào trong giao ước với Thiên Chúa vốn đã sẵn được Đức
Giêsu mở ra.
- TABU: Hành vi cử chỉ bị cấm kỵ.

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 327

- THẦN HỌC NỮ QUYỀN: (feminist theology),
một luận điểm thần học đòi hỏi một sự cấu trúc lại triệt để
cách suy nghĩ và phân tích của Kitô giáo sao cho có thể bao
gồm cả những kinh nghiệm và những nhận thức của phụ nữ.

- TÍN ĐIỀU: (dogma), Anh ngữ mượn từ "dogma"
trực tiếp từ thuật ngữ của luật pháp Hi Lạp. Trong luật pháp
Hi Lạp, một "dogma" là một sắc lệnh của một thẩm quyền
công cộng. Theo ý nghĩa Kitô giáo, "dogma" có ý chỉ một
chân lý hay giáo lý tôn giáo dựa nền tảng trên mạc khải thần
linh và được phổ biến một cách có thẩm quyền bởi Giáo
Hội. Các "dogmas" không thể được sửa đổi, nghĩa là, chúng
không thể bị đảo ngược.

- TOTEM: Mối quan hệ tương ứng về tính chất với
một loài vật nào đó.

- TRUYỀN THỐNG VÔ NGÔN, VÔ TƯỢNG:
(apophatic tradition), qui chiếu đến một cách tiếp cận Thiên
Chúa bằng cách nhìn quá mọi phạm trù và hình ảnh thụ tạo.
Truyền thống này tập chú không phải trên những gì mà các
hình ảnh và biểu tượng biểu lộ về Thiên Chúa; đúng hơn nó
nhấn mạnh tính bất tương ứng của các hình ảnh và biểu
tượng ấy trong việc chuyên chở một sự nhận hiểu hay kinh
nghiệm về Thiên Chúa. Gregory ở Nyssa là một trong những
người đầu tiên thực hành truyền thống này qua hình thức cầu
nguyện.

- TRUYỀN THỐNG KYTAPHATIC (hay
CATAPHATIC): Là truyền thống qui chiếu đến một cách
nhận hiểu và tiếp cận Thiên Chúa xuyên qua các ý niệm và
các hình ảnh. Đặt nền trên một sự nhận hiểu về mầu nhiệm
Nhập Thể, truyền thống này thừa nhận bản tính mạc khải
của mọi vật thụ tạo.

- TRƯỞNG LÃO: (presbyter), từ Latinh presbyter
được đưa trực tiếp vào Anh ngữ, vốn được vay mượn từ
tiếng Hi Lạp "presbuteros", nghĩa là "kỳ lão". Từ linh mục

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 328

(priest), phổ thông hơn, cũng bắt nguồn từ presbyter. Trong
Tân Ước, những từ giám quản và trưởng lão có khi được
dùng thay cho nhau. Nhưng từ cuối thế kỷ IV trở về sau, từ
trưởng lão nhằm chỉ một người được phong chức vào hàng
thứ hai của sứ vụ, tùy thuộc vị giám quản trong vấn đề giảng
dạy và cai quản một bộ phận cộng đoàn Kitôhữu. Vị giám
quản hay giám mục luôn luôn là lãnh đạo hay chủ tịch của
một nhóm trưởng lão phục vụ các nhu cầu tôn giáo của một
cộng đoàn Kitôhữu địa phương.

- VÔ VI: (wu wei), không cưỡng chế, đường lối của
Đạo giáo (Lão giáo) cho phép mọi sự đi theo con đường của
chúng.

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT

Các văn kiện Công Đồng Vatican II được viết tắt theo
hai từ đầu tiên của bản văn La ngữ:
DH Dignitatis Humanae Tuyên Ngôn về Tự Do Tôn Giáo
DV Dei Verbum Hiến Chế Tín Lý về Mạc Khải
GS Gaudium et Spes Hiến Chế Mục Vụ về Giáo Hội trong
Thế Giới Ngày Nay
LG Lumen Gentium Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội
NA Nostra Aetate Tuyên Ngôn về Mối Quan Hệ của Giáo
Hội với Các Tôn Giáo Ngoài Kitô Giáo
OT Optatam Totius Sắc Lệnh về Đào Tạo Linh Mục
PC Perfectate Caritatis Sắc Lệnh về Canh Tân Đời Tu
SC Sacrosanctum Concilium Hiến Chế về Phụng Vụ
UR Unitatis Redintegratio Sắc Lệnh về Đại Kết

THAM GIA BIÊN SOẠN TẬP SÁCH NÀY:

- CHRISTOPHER KEY CHAPPLE (Ph.D., Fordham)
là một chuyên gia về các tôn giáo và các triết học Nam Á

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 329

Châu, đã viết hai tác phẩm, trong đó có quyển Karma và
Tính Sáng Tạo (Karma and Creativity), là khoa trưởng phân
khoa thần học, Đại Học Loyola Marymount, Los Angeles.

- JOHN R. CONNOLLY (Ph.D., Marquette) là nhà

thần học hệ thống chuyên về thần học mạc khải và đức tin,
đã viết quyển Các Chiều Kích của Tin và Bất Tín
(Dimensions of Beliefs and Unbeliefs).

- MICHAEL DOWNEY (Ph.D., Catholic University of

America) là giáo sư thần học tại Đại Học Bellarmine ở
Louisville và là người biên tập của Tân Từ Điển Linh Đạo
Công Giáo (The New Dictionary of Catholic Spirituality).

- MARY M. GARASCIA, C.Pp.S (Ph.D., Denver/Iliff

School of Theology) chuyên về nhân học Kitô giáo, là thành
viên hội đồng tỉnh dòng các Nữ Tu Bửu Huyết.

- MARIE ANNE MAYESKI (Ph.D., Fordham) giảng
dạy thần học nữ quyền và Trung Cổ, đã viết và biên tập hai
tác phẩm, trong đó có quyển Phụ Nữ: Các Mẫu Thức Giải
Phóng (Women: Models of Liberation).

- MARY MILLIGAN, R.S.H.M. (S.T.D., Gregorian

University) chuyên về linh đạo Kitô giáo, từng là bề trên
tổng quyền của dòng, đã viết tác phẩm: Để Cho Chúng
Được Sống: Linh Đạo Của John Gailhac (That they Might
Have Life: The Spirituality of John Gailhac).

- JOHN R. POPIDEN (Ph. D., Notre Dame) chuyên

nghiên cứu về cách thế các niềm tin Kitô giáo định hình đời
sống Kitôhữu, đã xuất bản về lý thuyết chiến tranh chính
đáng và đang tìm hiểu về các chiều kích luân lý của cuộc
chiến tranh vừa qua với Irắc.

- THOMAS P. RAUSCH, S.J. (Ph. D., Duke) chuyên

về các lãnh vực Giáo Hội học và đại kết, là tác giả của 4
quyển sách, trong đó có quyển Các Gốc Rễ Của Truyền
Thống Kitô Giáo (The Roots of the Catholic Tradition).

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 330

- HERBERT J. RYAN, S.J. (S.T.D., Gregorian
University) là một nhà thần học lịch sử chuyên nghiên cứu
về ảnh hưởng của Kitô giáo trên văn hóa Tây phương, đã
viết, tham gia viết và hiệu đính bảy tác phẩm, trong đó có
quyển Được Gọi Tới Hiệp Nhất Hoàn Toàn (Called to Full
Unity).

- JEFFREY S. SIKER (Ph.D., Princeton Theological
Seminary) chuyên về nghiên cứu Tân Ước, đã viết Tước
Quyền Thừa Kế Của Những Người Do Thái: Abraham
Trong Cuộc Tranh Luận Của Kitô Giáo Sơ Khai
(Disinheriting the Jews: Abraham in Early Christian

Controversy).

- DANIEL L. SMITH-CHRISTOPHER (Ph.D.,
Oxford) là một học giả Cựu Ước, chuyên về phân tích xã hội
học và đa văn hóa Thánh Kinh, là tác giả của Tôn Giáo Và
Những Người Không Có Đất Sống (The Religion of the
Landless).

===

thuvienconggiaovietnam.net - 05/2019 331


Click to View FlipBook Version